BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI

SINH VIÊN THỰC HIỆN : LÊ HOÀNG TÚ

MÃ SINH VIÊN

: A16072

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI

Giáo viên hướng dẫn

: Th.S Phạm Thị Bảo Oanh

Sinh viên thực hiện

: Lê Hoàng Tú

Mã sinh viên

: A16072

Chuyên ngành

: Tài chính – Ngân hàng

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện bài khóa luận này, ngoài những nỗ lực của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô giáo trong trường và cán bộ nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình chi nhánh Hà Nội.

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể thầy cô cùng ban giám hiệu nhà trường đã trang bị, rèn luyện kiến thức và tu dưỡng đạo đức trong suốt thời gian học tập tại trường.

Em xin cảm ơn Th.S Phạm Thị Bảo Oanh, người đã tận tình hướng dẫn em trong

quá trình thực tập và làm khóa luận này.

Em xin gửi lời cảm ơn đến toàn bộ cán bộ, nhân viên trong Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được thực tập và công tác thực tế tại ngân hàng, giúp em trang bị những kiến thức thực tế và hiểu biết để hoàn thành bài khóa luận này.

Do trình độ kiến thức còn hạn chế lên bài khóa luận không tránh được sai sót nhất định. Vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong trường và cán bộ trong chi nhánh để bài khóa luận của em hoàn thiện hơn nữa.

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, Ngày…tháng…năm 2014

Sinh Viên

LÊ HOÀNG TÚ

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân tôi thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận có nguồn gốc và trích rất rõ ràng.

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên LÊ HOÀNG TÚ

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG

VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. ............................................................. 3

1.1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại ........................................ 3

1.1.1. Khái niệm hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại...................... 3

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động huy động vốn ............................................................. 3

1.1.3. Vai trò của hoạt động huy động vốn ................................................................. 4

1.1.4. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại ................................ 6

1.2. Phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại ..................... 10

1.2.1. Khái niệm phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại ... 10

1.2.2. Vai trò của sự phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

.................................................................................................................................. 10

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phát triển hoạt động huy động vốn của ngân

hàng thương mại ...................................................................................................... 12

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động huy động vốn của ngân

hàng thương mại ...................................................................................................... 14

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI ........ 18

2.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội 18

2.1.1. Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại cổ phần An Bình ....................... 18

2.1.2. Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – chi nhánh Hà

Nội. ........................................................................................................................... 19

2.1.3. Các dịch vụ tiêu biểu của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - chi

nhánh Hà Nội: .......................................................................................................... 20

2.2. Một số quy định trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ

phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội ......................................................................... 24

2.3.1. Quy định về huy động vốn thông qua hoạt động nhận tiền gửi ...................... 24

2.3.2. Quy định về huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá ...................... 26

2.3. Thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ

phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 – 2013 ............................ 28

2.3.1. Khái quát tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An

Bình chi nhánh Hà Nội ............................................................................................ 28

2.3.2. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá ........................................................ 37

2.3.2.1 Chỉ tiêu hệ số sử dụng nguồn vốn huy động ................................................. 37

2.3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời .............................................................. 38

2.3.2. Đánh giá sự phát triển của hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương

mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội .............................................................. 40

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG

VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH

HÀ NỘI .................................................................................................................... 44

3.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi

nhánh Hà Nội ........................................................................................................... 44

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân

hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội ....................................... 45

3.2.1 Đẩy mạnh đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ...................................... 45

3.2.2. Tiếp tục thực hiện cải thiện cơ cấu nguồn vốn, tăng tỷ trọng vốn trung, dài

hạn ............................................................................................................................ 45

3.2.3. Xây dựng chính sách lãi suất huy động linh hoạt, hợp lý ............................... 46

3.2.4. Mở rộng các dịch vụ ngân hàng ..................................................................... 46

3.2.5. Củng cố, nâng cao uy tín, tạo lòng tin với khách hàng .................................. 47

3.2.6. Tăng cường chiến lược Marketing ngân hàng ............................................... 47

3.2.7. Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng .............................................. 48

3.2.8. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên

.................................................................................................................................. 48

3.3. Kiến nghị ........................................................................................................... 49

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ ................................................................................. 49

3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước ............................................................... 49

3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình ................................ 50

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 52

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của chi nhánh Hà Nội ..................................................... 21

Bảng 2.1: Khái quát tình hình huy động vốn của ABBank trong giai đoạn năm 2011- 2013........................................................................................................................... 29

Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn phân theo loại tiền ............................................... 30

Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn giai đoạn năm 2011-2013 ................. 32

Bảng 2.4: Tình hình huy động vốn theo ngắn hạn giai đoạn năm 2011-2013 ............. 33

Bảng 2.6: Chỉ tiêu hệ số sử dụng nguồn vốn huy động ............................................... 37

Bảng 2.7: Bảng chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời .................................................. 38

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Từ đầy đủ

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình ABBANK

TMCP Thương mại cổ phần

UBND Ủy ban nhân dân

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

PGD Phòng giao dịch

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết đề tài

Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế. Đối với các tổ chức này, huy động vốn là hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng, không huy động được lượng vốn đủ lớn, các ngân hàng rất khó mở rộng tín dụng cũng như phát triển các hoạt động khác.

Trong điều kiện kinh tế Việt nam đang hội nhập, các ngân hàng thương mại cần phải tiến hành hoạt động huy động vốn để duy trì và nâng cao vị thế trên thị trường. Trên thực tế lượng vốn các tổ chức tài chính này huy động được chưa đủ lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển, mặt khác không ít ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa các loại vốn. Hoạt động huy động vốn trở thành vấn đề rất cấp bách

với các ngân hàng thương mại hiện nay.

Chi nhánh Hà nội là một trong những chi nhánh thuộc miền Bắc của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình hoạt động trong môi trường cạnh tranh mới nên chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn. Hoạt động huy động vốn của chi nhánh dù đã có được

những thành công nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, tình hình huy động vốn của chi nhánh qua các năm không được ổn định do sự bất ổn của nền kinh tế gây ra, bên cạnh những hình thức huy động vốn của chi nhánh chưa thực sự đa đạng. Đây chính là lý do em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội ” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo bậc đại học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Thông qua quá trình nghiên cứu, khóa luận tập trung làm rõ ba mục tiêu:

 Hệ thống hóa lại cơ sở lí luận về hoạt động huy động vốn và phát triển hoạt động

huy động vốn của ngân hàng thương mại.

 Phân tích làm rõ thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng

thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội.

 Tìm ra được một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động huy động vốn tại

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động huy động vốn và sự phát triển hoạt động huy

1

động vốn của ngân hàng thương mại.

 Phạm vi nghiên cứu : Hoạt động huy động vốn và sự phát triển của hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 – 2013.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, song tập trung chủ yếu vào các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê,

phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp,….

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, bảng biểu, đồ thị, danh mục

tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận trình bày trong ba chương như sau :

Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động huy động vốn của ngân

hàng thương mại

Chương 2 : Thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân hàng

thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân

2

hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có những chính sách huy động hợp lý, nhằm từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng thương mại.

Bản thân thuật ngữ “huy động vốn” đã nêu lên tương đối công việc trong công tác này. Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn, có thể nói ngân hàng thương mại đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, các nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn tạm thời dư thừa,nhàn rỗi trong xã hội. Thực chất, hoạt động huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng nhận tiền

gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất.

Như vậy, có thể hiểu hoạt động huy động vốn của ngân hàng là việc ngân hàng

sử dụng những công cụ, cách thức, phương pháp, và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức và từ đó cho ngân hàng vay mượn trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức như: gửi tiền vào tài khoản tiền gửi của ngân hàng, mua giấy tờ có giá do ngân hàng trung ương phát hành, đi vay trên thị trường liên ngân hàng, vay ngân hàng trung ương.

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động huy động vốn

Tạo lập nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thương mại: Nguồn vốn từ hoạt động huy động vốn chiếm phần lớn tỉ trọng trong nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nó là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, song nguồn vốn tự có của ngân hàng chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ và không đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh của ngân hàng thương mại, chính vì thế ngân

3

hàng thương mại phải thông qua các hình thức huy động vốn để vay mượn nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trên thị trường để tạo lập nguồn vốn kinh doanh cho bản thân ngân hàng. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn này

và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn. Vốn này luôn biến động nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán.

Hình thức huy động vốn đa dạng, phong phú: Hoạt động huy động vốn của ngân hàng vô cùng đa dạng và phong phú. Các ngân hàng thương mại có thể thu hút vốn bằng cách vay ở các tổ chức tài chính tín dụng, ngân hàng trung ương, nhận tiền gửi của các cá nhân hộ gia đình, doanh nghiệp. Bên cạnh những hình thức huy động vốn nói trên, ngân hàng còn thực hiện việc huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ

có giá.

Hoạt động vay mượn, hoàn trả cho người gửi, nhà đầu tư, nhà tài trợ: Nguồn vốn ngân hàng huy động được trên thị trường là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các

chủ thể trong nền kinh tế thị trường đó. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn từ hoạt động huy động vốn và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.

Chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước: Hệ thống ngân hàng thương mại chịu sự

quản lý điều hành trực tiếp từ ngân hàng trung ương. Như vậy, các ngân hàng thương mại đều phải tuân thủ nghiên túc các quy định mà ngân hàng trung ương đưa ra. Trên cơ sở thực tế của tình hình kinh tế xã hội, các chính sách vĩ mô của Chính phủ mà ngân hàng trung ương sẽ có những điều tiết hoạt động, buộc các ngân hàng này phải tuân thủ. Trong các chính sách điều tiết đó thì việc huy động vốn luôn được quan tâm và có sự giám sát chặt chẽ từ ngân hàng trung ương và Chính phủ.

1.1.3. Vai trò của hoạt động huy động vốn

(1). Đối với ngân hàng thương mại:

Tạo lập cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.

Đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Ngân hành là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường đó là tiền tệ. Chính vì thế có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Do đó, thông qua các hoạt động huy động vốn, các ngân hàng tạo lập được nguồn vốn kinh doanh, phục vụ nhu cầu kinh doanh của bản thân ngân hàng.

Quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác

4

Tuỳ theo quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động được mà các ngân hàng sẽ quyết định quy mô và cơ cấu đầu tư. Nếu hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại tốt, ngân hàng có đủ khả năng mở rộng phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị trường trong nước mà còn cho vay vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia (cho

vay trên thị trường quốc tế). Ngược lại, nếu khả năng huy động vốn hạn hẹp thì các ngân hàng nhỏ không có những phản ứng nhanh nhạy trước sự biến động của lãi suất, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư. Nói chung, một ngân hàng có hoạt động huy động vốn phát triển, nguồn vốn dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu xin vay, dễ dàng

mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng.

Quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị

trường tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân

hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Để đảm bảo được các điều kiện trên, ngân hàng phải có một nguồn vốn thoả mãn đồng thời cả hai yêu cầu: chất lượng và khối lượng. Do đó, hoạt động huy động vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính.

(2). Đối với khách hàng:

Hoạt động huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Hoạt động huy động vốn cung cấp cho

khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Giúp khách hàng tăng thu nhập qua việc trả lãi của ngân hàng. Giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng.

(3). Đối với nền kinh tế

Hoạt động huy động vốn giúp điều tiết được lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh

5

tế, giúp ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát được lạm phát. Mặt khác, hoạt động huy động vốn còn giúp gia tăng nguồn vốn để phát triển kinh tế. Giúp phát triển thị trường tài chính, ví dụ như kỳ phiếu, trái phiếu trở thành hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Từ đó góp phần gia tăng, phát triền nền kinh tế quốc gia.

1.1.4. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.1.4.1. Huy động vốn thông qua hoạt động nhận tiền gửi

(1). Huy động vốn bằng tiền gửi không kỳ hạn

Huy động vốn từ tiền gửi không kỳ hạn là việc ngân hàng thương mại mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn để huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào ngân hàng song khách hàng không thoả thuận trước về thời gian rút tiền nên khách hàng có quyền rút ra bất cứ khi nào có nhu cầu và ngân hàng phải hoàn trả vô điều kiện.Do vậy, ngân hàng chỉ phải trả

một mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Song do đây là nguồn vốn có sự biến động tương đối cao nên gây khó khăn cho ngân hàng thương mại trong quá trình sử dụng vốn.

Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là thanh toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách thường xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố rất quan trọng, còn việc hưởng lãi với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu. Do đó, loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi thanh toán, nó không đem lại lợi tức cao cho người gửi. Ngược lại, đối với ngân hàng thương mại thì đây lại là một khoản vốn huy động với mức chi phí thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác. Ngân

hàng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì cũng rất nhỏ) bù lại là được sử dụng một phần lớn làm vốn kinh doanh.

Tuy nhiên, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất, số dư của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của

người gửi tiền. Do vậy, ngân hàng thương mại chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi và chỉ khi đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi này một cách chính xác.

(2). Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn

 Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi có kỳ hạn

Huy động vốn bằng tiền gửi có kì hạn là việc ngân hàng thương mại mở tài khoản tiền gửi có kì hạn cho khách hàng doanh nghiệp, tổ chức để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định. Tùy vào kế hoạch sử dụng vốn cụ thể của khách hàng, khách hàng sẽ cân đối và quyết định duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại trong thời gian bao lâu. Số tiền này tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn, do ngân hàng có kế hoạch sử dụng

6

vốn cụ thể nên ít khi khách hàng rút ra trước hạn. Do đó, ngân hàng có thể chủ động sử

dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Chính vì vậy mà tính ổn định của nguồn vốn này cao hơn nguồn vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn, do đó loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

(3). Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khách hàng cá nhân, hộ gia đình gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu tiền gửi vào ngân hàng.

Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà cá nhân, hộ gia

đình gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Số dư tiền gửi này thường không lớn.

Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời

gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao vì khách hàng gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn thường đã có kế hoạch sử dụng vốn cụ thể. Khi có yếu tố bất thường xảy ra, thường khách hàng sẽ cố gắng duy trì số dư tiền gửi đến ngày đáo hạn, chính vì thế nên nguồn vốn này có sự ổn định cao hơn so với các nguồn vốn huy động từ tiền gửi khác. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này, nó tạo cho ngân hàng có tính chủ động sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn.

1.1.4.2. Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá

Phát hành giấy tờ có giá là loại hình huy động vốn khá thông dụng của các tổ chức tín dụng và thường được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng từ công chúng. Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thi trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời gian nhất định.

Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành có thể thể hiện dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có thể là loại có ghi danh hoặc không ghi danh. Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối với người mua là cá nhân. Hình thức chứng chỉ vô danh áp

7

dụng đối với người mua là cá nhân và tổ chức. Hình thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là tổ chức có tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá đó. Trường hợp phát hành giấy tờ có giá bằng hình thức ghi sổ, tổ chức tín dụng phát hành phải cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua. Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành được chuyển nhượng quyền sỏ hữu dưới hình thức

mua bán, tặng cho, trao đổi hoặc thừa kế, hoặc người sở hữu giấy tờ có giá cũng có thể làm vật thế chấp

Về cơ bản, huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá gồm có hai hình thức

chính, phát hành kì phiếu ngân hàng và trái phiếu.

Kì phiếu ngân hàng là giấy nợ ngắn hạn mà ngân hàng thương mại phát hành để huy động vốn ngắn hạn (thời hạn dưới 1 năm). Loại công cụ này có khả năng tạo cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn ổn định trong một thời gian ngắn. Kì phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao, chủ thể sở hữu nó có thể dễ dàng chuyển đổi nó thành tiền mặt thông qua các giao dịch trên thị trường tiền tệ. Loại chứng khoán này khá thông dụng, rất dễ chuyển đổi, tính rủi ro thấp vì chủ thể phát hành nó là các ngân hàng thương mại, những chủ thể có tiềm lực về tài chính khá ổn định. Tuy

nhiên, lãi suất khá thấp chính vì vậy lợi nhuận không cao so với các loại chứng khoán khác. Đây thường là lựa chọn đầu tư mang tính bền vững. Nhờ vào tính thanh khoản này mà loại hình huy động vốn này thu hút được một lượng lớn nguồn vốn đầu tư. Có thể nói, đây là một công cụ tương đối chủ động và linh hoạt của các ngân hàng thương mại và phương thức phát hành có thể nói là không quá phức tạp.

Trái phiếu là giấy nợ mà ngân hàng thương mại phát hành để huy động nguồn vốn ở trung và dài hạn. Nếu căn cứ vào đối tượng khách hàng, có thể tạm chia loại hình trái phiếu thành hai nhóm, trái phiếu thuộc vốn huy động và trái phiếu thuộc vốn tự có. Trái phiếu thuộc vốn huy động là trái phiếu có thời hạn linh hoạt, người mua là chủ nợ thường (được ưu tiên thanh toán nợ trước). Trái phiếu thuộc vốn tự có là trái phiếu có thời hạn từ 10 năm trở lên, người mua là chủ nợ thứ cấp. Loại hình trái phiếu thường

có hai phương thức phát hành, hoặc là phát hành theo mệnh giá (tức hình thức trả lãi sau) hoặc phát hành theo hình thức chiết khấu (tức trả lãi trước). Nhìn chung, đối với các ngân hàng thương mại, đây là nguồn vốn có tính ổn định cao nhất và đặc biệt với hình thức huy động này, ngân hàng luôn ở vị thế chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, quy mô vốn, thời gian,…tuy nhiên, điểm hạn chế của loại hình huy động này là chi phí huy động cao hơn các loại hình khác, cụ thể đó là lãi suất huy động, đây cũng chính là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư lựa chọn loại chứng khoán này, ít rủi ro và

cũng có một lợi nhuận đáng kể.

1.1.4.3. Huy động vốn qua đi vay

8

Đây là nguồn vốn mà ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua quan hệ vay mượn giữa ngân hàng thương mại với ngân hàng trung ương hoặc các ngân hàng thương mại khác.

 Vay các tổ chức tín dụng khác

Khi mà vốn huy động từ tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá không thể đáp ứng

được nhu cầu kinh doanh của ngân hàng, thì ngân hàng sẽ phải đi vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn.

Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động từ tiền gửi vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn thì

ngân hàng mới tìm đến các ngân hàng thương mại khác và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác trên thị trường để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách.

Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng cũng có thể vay các tổ chức tín dụng hay

các ngân hàng thương mại khác vì có thể cùng một thời điểm các tổ chức tín dụng khác, các ngân hàng thương mại khác cũng đang gặp vấn đề về thanh khoản.

 Vay từ ngân hàng trung ương

Khi mà vốn huy động từ tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá không thể đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của ngân hàng, bên cạnh đó ngân hàng cũng không thể vay các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại khác, thì ngân hàng sẽ phải tìm đến ngân hàng trung ương để vay. Ngân hàng trung ương có thể cho ngân hàng thương mại vay vốn ngắn hạn khi cần thiết dưới hình thức tái cấp vốn như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu, thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác,

cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù trừ, cho vay đặc biệt khi ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống.

1.1.4.4. Các hình thức huy động vốn khác

Ngoài các hình thức huy động vốn trên, ngân hàng thương mại cũng có thể sử dụng những hình thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi dân cư, từ nền kinh tế thông qua các hoạt động ủy thác về dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ, hoặc

9

đứng ra làm dịch vụ đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán, qua đó ngân hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng.

1.2. Phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.1. Khái niệm phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh

vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có những chính sách phát triển hoạt động huy động vốn hợp lý, nhằm từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng thương mại.

Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi

lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn....

Như vậy phát triển hoạt động huy động vốn có thể hiểu là việc ngân hàng thương

mại nâng cao hiệu quả của huy động vốn nhờ vào những công cụ, cách thức và

phương pháp, và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức gửi tiền vào ngân hàng, từ đó giúp gia tăng nguồn vốn của ngân hàng, đồng thời góp phần làm phát triển tính ổn định của nguồn vốn, tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo cho ngân hàng thương mại phát triển bền vững. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại là điều mà các ngân hàng đang cố gắng

phát huy để có thể thu hút được một nguồn vốn huy động lớn, tuy nhiên thì nó luôn được quan tâm và chịu sự giám sát chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo ngân hàng. Phát triển hoạt động huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.

1.2.2. Vai trò của sự phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Giúp gia tăng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại: Nguồn vốn từ hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại luôn là một nguồn vốn quan

trọng đối với chính các ngân hàng thương mại. Xét về bản chất, hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại trực tiếp làm cho qui mô tích luỹ trong nước ngày càng tăng chuyển tối đa nguồn vốn đang nhàn rỗi thành nguồn vốn hữu ích có khả năng sinh lời. Việc phát triển hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại giúp gia tăng chính nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại đó. Hoạt động huy động vốn phải là bước khởi đầu quan trọng nhất để có được bước khởi động

10

tiếp theo trong quá trình thực hiện hoạt động tín dụng. Quá trình huy động vốn càng phát triển, ngân hàng sẽ càng có nhiều vốn kinh doanh để cho vay và thu lợi nhuận, góp phần thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

Nâng cao tính ổn định của nguồn vốn: Hoạt động huy động vốn góp phần thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ quốc gia. Hoạt động huy động vốn qua ngân hàng góp phần kiềm chế và kiểm soát mức lạm phát thông qua việc điều chỉnh lượng tiền tham gia vào quá trình lưu thông, ổn định giá trị đồng tiền. Chẳng hạn:

Ngân hàng luôn là nơi cung cấp một lượng vốn tín dụng lớn, đáp ứng các khoản chi têu và đầu tư của chính phủ cho các dự án về sản xuất kinh doanh và những dự án thực hiện chính sách xã hội, bù đắp những sự thiếu hụt tạm thời của ngân sách thông qua hình thức vay nợ ngân hàng trung ương, vay mượn các tổ chức tín dụng.

Đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng: Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại là đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ. Một ngân hàng thương mại được xem là có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý và đúng lúc cần thiết. Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng ngân quỹ dự trữ trong tay hoặc có thể tăng thêm bằng cách vay mượn hoặc bán bớt một số tài sản mà ngân hàng đang có.

Ngày nay, sự đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng trở nên quan trọng hơn so với trước đây rất nhiều, bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù về kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ. Hơn nữa, năng lực quản trị thanh khoản của một ngân hàng là thước đo quan trọng về tính hiệu

quả tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng. Chính bởi thế, nếu hoạt động huy động vốn phát triển mạnh mẽ sẽ kéo theo nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng tăng cao. Điều này cũng góp phần đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng một cách vững chắc.

Đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các chủ thể trong nền kinh tế: Quá trình phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng chính là quá trình tích tụ và tập trung các nguồn vốn trong xã hội, sau đó cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất, đầu tư và phát triển kinh tế. Như vậy, hoạt động huy động vốn là kịp thời đã tiết kiệm thời gian, chi phí nguồn lực, đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, tăng hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, những người tiết kiệm thu thêm được một phần lãi từ tiền gửi của mình, tức đồng tiền của họ từ chỗ dư thừa đã có khả năng sinh lời. Ngược lại,

11

những người thiếu vốn thì có vốn kịp thời cho sản xuất, tăng lợi nhuận.

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động huy động vốn có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, mở rộng phạm vi kinh doanh. Phát triển nguồn vốn và đạt được mục tiêu lợi nhuận là nhiệm vụ của ngân hàng đó. Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn, việc đánh giá hiệu quả của hoạt động này được phân tích qua các chỉ tiêu cơ bản sau :

Tỷ lệ vốn huy động trên tổng dư nợ = Vốn huy động x 100%

Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của các chi nhánh để phục vụ cho vay, chỉ tiêu này còn đánh giá ngân hàng có sử dụng hiệu quả vốn huy động để cho vay hay không. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng cho thấy ngân hàng đã có những biện pháp hiệu quả trong hoạt động huy động vốn, để từ đó thu hút một nguồn vốn huy động lớn nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Nếu hệ số này >1 thì

vốn huy động đủ để đáp ứng nhu cầu cho vay và phục vụ hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Nếu hệ số này = 1 tức là vốn huy động chỉ vừa đủ để cho vay, hoạt động huy động vốn chưa hiệu quả và kém phát triển. Nếu chỉ số này <1 thì tức là vốn huy động không đủ để cho vay, hoạt động huy động vốn không hiệu quả, đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng, đặc biệt là rủi ro thanh khoản, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản cho bản thân ngân hàng và kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống.

Hệ số sử dụng vốn = Số dư nợ cho vay

Tổng số vốn huy động

Chỉ tiêu thể hiện khả năng xử lý nguồn vốn huy động đảm bảo khả năng lợi nhuận đồng thời bảo đảm nhu cầu thanh toán. Hệ số này càng cao, khả năng cho vay của ngân hàng càng lớn. Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì ngân hàng chưa xử lý hiệu quả số vốn huy động được. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là ngân hàng sẽ gặp khó khăn vì có rất nhiều

12

cách để huy động thêm vốn, sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý. Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của ngân hàng xem có hiệu quả không. Nếu ngân hàng gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu, cho vay, thì ngân hàng rất dễ gặp phải khó khăn trong thanh toán.

Hệ số sử dụng vốn ngắn hạn = Dư nợ của vốn ngắn hạn

Vốn huy động ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sử dụng vốn trong ngắn hạn của ngân hàng,chỉ số này càng thấp thì chứng tỏ ngân hàng huy động vốn càng có hiệu quả.. Chỉ tiêu này

phản ánh hoạt động huy động vốn là hiệu quả nếu nó nhỏ hơn 1. Ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn trong ngắn hạn khá là hiệu quả, vốn huy động không những đáp ứng được hoạt động cho vay mà còn có thể đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh khác. Nếu chỉ số này bằng 1 tức là số vốn huy động được của ngân hàng chỉ đáp ứng vừa đủ nhu cầu sử dụng vốn trong ngắn hạn. Nếu chỉ số này lớn hơn 1 tức là số vốn từ hoạt động huy động vốn của ngân hàng chưa đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong ngắn hạn, ngân hàng cần có những biện phát phát triển hoạt động huy động vốn để thu

hút thêm lượng nguồn vốn trong ngắn hạn.

Hệ số sử dụng vốn dài hạn = Dư nợ của vốn trung và dài hạn

Vốn huy động trung và dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sử dụng vốn trong trung và dài hạn của ngân hàng,chỉ số này càng thấp thì chứng tỏ ngân hàng huy động vốn càng có hiệu quả. Chỉ tiêu này phản ánh hoạt động huy động vốn là hiệu quả nếu nó nhỏ hơn 1. Ngân hàng

đã sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn khá là hiệu quả. Nếu chỉ số này bằng 1 tức là số vốn huy động được của ngân hàng chỉ đáp ứng vừa đủ nhu cầu sử dụng vốn trong trung và dài hạn. Nếu chỉ số này lớn hơn 1 tức là số vốn từ hoạt động huy động vốn của ngân hàng chưa đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong trung và dài hạn, ngân hàng cần có những biện phát phát triển hoạt động huy động vốn để thu hút thêm lượng nguồn vốn trong trung và dài hạn.

Tỉ lệ chi phí huy động vốn = Tổng chi phí huy động vốn

Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của ngân hàng cũng như chi phí của một đồng vốn huy động là bao nhiêu. Tỉ lệ này càng nhỏ thì hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả, tức là chi phí huy động vốn nhỏ hơn số vốn huy động càng nhiều thì ngân hàng càng có lợi nhuận cao. Đồng thời chỉ tiêu này cũng cho thấy một đồng vốn huy động thì ngân hàng sẽ phải bỏ ra chi phí bao nhiêu. Từ đó ngân hàng sẽ

13

có những biện pháp, chính sách hiệu quả để phát triển hoạt động huy động vốn.

Tỉ lệ vốn huy động bình quân = Số vốn huy động tham gia hoạt động kinh doanh

Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả trong việc sử dụng vốn huy động của ngân hàng. Tỉ lệ vốn huy động bình quân càng thấp thì cho thấy hoạt động sử dụng vốn huy động của

ngân hàng chưa thực sự hiệu quả cho lắm. Số vốn huy động được tham gia vào hoạt động kinh doanh vẫn còn ít, ngân hàng cần có những biện pháp, chính sách phù hợp để đưa số vốn còn lại sớm vào các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngược lại nếu tỉ lệ này tăng cao thì chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động được từ các hoạt động huy động vốn.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.4.1. Các nhân tố khách quan

Chu kỳ phát triển kinh tế

Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của các ngân hàng thương mại nên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập dân cư được đảm bảo và ổn định thì nguồn tiền vào ra của các ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy động được của ngân hàng ngày càng tăng lên và cơ hội đầu tư cho vay của ngân hàng cũng được

mở rộng do lòng tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế. Nếu nền kinh tế suy thoái, thu nhập dân cư biến động thì lòng tin về đồng tiền của dân chúng bị giảm sút. Khi đó khả năng huy động vốn của ngân hàng không những bị giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký gửi vào ngân hàng cũng có nguy cơ bị rút ra. Và như vậy ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản lý dự trữ và củng cố niềm tin cho khách hàng. Bởi thế nên chu kì phát triển kinh tế đóng một vai trò khá quan trọng trong việc phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.

Môi trường luật pháp

14

Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Các hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển của hoạt động huy động vốn.

Điều kiện về môi trường cạnh tranh

Khi định ra chiến lược phát triển cho ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến điều kiện về môi trường kinh doanh. Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Để có thể tồn tại và phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với ngân hàng khác. Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốt công tác marketing. Ngân hàng phải bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để

có thể làm tốt công việc của mình. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huy động vốn.

Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng

Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó. Về môi trường xã hội ở các nước phát triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài khoản của họ. Nhưng

ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn. ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của mọi ngân

hàng. Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mức độ sử dụng càng cao, ngân hàng càng có điều kiện phát triển việc huy động vốn.

1.2.4.2. Các nhân tố chủ quan

Các hình thức huy động vốn mà ngân hàng sử dụng

Để thực hiện tốt công tác huy động vốn, các ngân hàng thường đưa ra nhiều hình thức huy động vốn đa dạng. Khối lượng vốn mà ngân hàng huy động được phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động vốn mà ngân hàng áp dụng. Khi áp dụng nhiều hình thức huy động vốn sẽ tạo những cơ hội để người gửi lựa chọn, đáp ứng được các nhu cầu của người gửi. Mỗi ngân hàng đều tìm cho mình những hình thức huy động

15

vốn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tâm lý dân cư vùng mà ngân hàng đặt địa điểm, đồng thời phù hợp với yêu cầu sử dụng cũng như dễ dàng quản lý có hiệu quả nguồn vốn của mình. Khi hình thức huy động vốn đa dạng nghĩa là số lượng vốn huy

động được tăng lên và chi phí huy động có xu hướng giảm xuống. Khi hình thức huy động vốn đa dạng và hấp dẫn thì sẽ làm cho số lượng người gửi tiền tăng lên và khi dó chi phí huy động sẽ giảm xuống. Hơn nữa, hình thức huy động vốn phong phú cũng là điều kiện để thu hút những khoản vốn đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau với những

tính chất khác nhau về số lượng, chất lượng và kỳ hạn... Từ đó sẽ giúp ngân hàng phát triển nguồn vốn linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn.

Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Trong một ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các hoạt động về sử dụng vốn. Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân ngân hàng và điều kiện môi trường kinh doanh. Từ đó ngân hàng có thể đưa ra chiến lược huy động vốn là thu

hẹp hay mở rộng cho phù hợp với chính sách thu hẹp hay mở rộng tín dụng của ngân hàng trong thời kỳ đó. Cơ cấu nguồn vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động có thể tăng hay giảm. Nếu chiến lược kinh doanh được xây dựng đúng đắn phù hợp với điều kiện bản thân ngân hàng, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì công tác huy động vốn phát huy hiệu quả.

Ảnh hưởng của lãi suất huy động

Lãi suất huy động vốn thường là mối quan tâm hàng đầu của cá nhân và tổ chức

muốn gửi tiền vào ngân hàng. Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh tế lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút được nhiều người tham gia đầu tư hơn. Tuy nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cao mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán, uy tín, địa điểm ... của ngân hàng nhưng với lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý thì luôn luôn có tác dụng kích thích người gửi tiền. Nhưng lãi suất có ảnh hưởng lớn nhất đến lượng tiền gửi tiết kiệm vì khách hàng chọn gửi tiền theo phương thức này thường có mục đích hưởng lãi. Lãi suất càng cao thì càng hấp dẫn người gửi tiền nhưng lãi suất huy động cao cũng có

16

nghĩ là lãi suất cho vay cũng phải cao tương ứng thì ngân hàng kinh doanh mới có lãi. Mức lãi suất đủ cao để thu hút khách hàng nhưng cũng không được cao quá để vẫn có thể thu hút được khách đi vay mà không làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Hơn nữa ngân hàng phải tính đến chi phí huy động vốn của mình và mặt bằng lãi suất huy động của ngân hàng mình so với các ngân hàng khác. Từ đó ngân hàng mới có thể quyết định tiếp tục phát triển hoạt động huy động vốn một cách mạnh mẽ hay không.

Uy tín của ngân hàng

Trên thực tế, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được một hình ảnh riêng của mình trong lòng khách hàng. Một ngân hàng lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong hoạt động huy động vốn. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động. Từ đó ngân hàng có thể đề ra chiến lược dự trữ dễ dàng hơn. Thậm chí trong điều kiện lãi suất gửi tiền tại ngân hàng có uy tín thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn lựa chọn ngân hàng đó để gửi mà không tìm những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của

17

mình sẽ tuyệt đối an toàn. Do đó, uy tín của ngân hàng càng cao, thì ngân hàng càng dễ dàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể kinh tế. Từ đó đẩy mạnh phát triển hoạt động huy động vốn.

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

2.1.1. Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

Với bề dày kinh nghiệm 21 năm họat động trên thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) được đánh giá là một trong những ngân hàng có sự phát triển bền vững.

Ngày 13/05/1993. Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình (ABBANK) được

thành lập theo giấy phép số 535/GP-UB do UBND TP.HCM cấp ngày 13 tháng 5 năm 1993, với tên gọi ban đầu là Ngân hàng TMCP nông thôn An Bình. Từ khi được nâng cấp thành ngân hàng quy mô đô thị (giai đoạn 2002 – 2004), ABBANK đã có những bước tiến khá dài với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Giai đoạn 2005 – 2011 là giai đoạn ABBANK có sự bứt phá mạnh mẽ nhất với sự thay đổi cả về chất và lượng.

Năm 2002 - 2004: Từ một ngân hàng nông thôn, ABBANK được nâng cấp thành ngân hàng quy mô đô thị và đã có những bước tiến khá dài. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, ABBANK đã tiến hành cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và nhân sự để tập trung vào chuyên ngành kinh doanh ngân hàng thương mại. Từ vốn điều lệ 5 tỷ đồng năm 2002, đến năm 2004 ABBANK đã có vốn điều lệ 70,04 tỷ đồng.2005:

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược trong nước lớn nhất của ABBANK. Các cổ đông lớn khác gồm: Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội (Geleximco), Tổng công ty tài chính Dầu khí (PVFC). Vốn điều lệ ABBANK đạt 165 tỷ đồng.

Năm 2006: ABBANK tăng vốn điều lệ tăng lên 1.131 tỷ đồng.

Năm 2007: ABBANK tăng vốn điều lệ lên 2.300 tỷ đồng, tổng tài sản vượt ngưỡng

1 tỷ USD (hơn 16.000 tỷ đồng).

Năm 2008: ABBANK triển khai thành công phần mềm ngân hàng lõi (Core Banking) đi vào hoạt động trên toàn hệ thống. Maybank chính thức trở thành Cổ đông chiến lược nước ngoài của ABBANK với tỷ lệ sở hữu cổ phần là 15%. ABBANK tăng vốn điều lệ lên 2.705 tỷ đồng.

Năm 2009: ABBANK chính thức khai trương Hội sở mới tại 170 Hai Bà Trưng, P.Đa Kao, Q.1, TP.HCM.Vốn điều lệ của ABBANK tăng lên 2.850 tỷ đồng vào tháng 7/2009 và đạt 482 tỷ đồng vào cuối năm 2009.

Từ 2009 đến nay: ABBANK thu hút thêm Cổ đông lớn nước ngoài là Tổ chức Tài

18

chính Quốc tế (IFC), nâng vốn điều lệ từ gần 4.200 tỷ đồng lên gần 4.800 tỷ đồng.

Định hướng kinh doanh theo quan điểm thận trọng, bởi vậy các chỉ tiêu tài chính của ABBANK luôn tăng trưởng ổn định, các chỉ tiêu đảm bảo an toàn đều được giữ vững. Bên cạnh đó, cùng sự sát cánh và hỗ trợ của các cổ đông là các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN, Công ty cổ phần

xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội – Geleximco, Maybank - ngân hàng lớn nhất Malaysia, và Tổ chức tài chính quốc tế - IFC (trực thuộc Ngân hàng Thế giới), ABBANK có nguồn lực tài chính vững mạnh và cơ cấu quản trị theo những thông lệ quốc tế tốt nhất, và phát triển mạnh mẽ như một ngân hàng bán lẻ đa năng.

Với vốn điều lệ gần 4.800 tỷ đồng và mạng lưới lên tới 146 điểm giao dịch, ABBANK tự tin phục vụ hơn 450.000 khách hàng cá nhân và gần 18.500 khách hàng doanh nghiệp tại 29 tỉnh thành trên toàn quốc.

2.1.2. Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà

Nội.

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội là một trong những chi nhánh trực thuộc miền bắc của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình. Chi

nhánh được thành lập vào ngày 23/02/2006, điều này đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.

Với mục tiêu phát triển toàn diện, ổn định, cùng với yêu cầu mở rộng mạng lưới

hoạt động, tháng 2 năm 2006, chi nhánh ABBANK Hà Nội đã được thành lập và ABBANK Hà Nội là chi nhánh cấp 1 của ngân hàng. Hiện nay, trụ sở ABBANK Hà Nội đặt tại tầng 1 và 4 tòa nhà 101 Láng Hạ với 357 cán bộ công nhân viên và 17 phòng giao dịch trên toàn Hà Nội.

Năm 2006: Khai trương phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng tại số 69 Đinh Tiên

Hoàng, 126 Lò Đúc và số 288 Trần Khát Chân.

Năm 2007: ABBANK Hà Nội khai trương một loạt các phòng giao dịch mới đó là các phòng giao dịch tại số 453 Nguyễn Văn Cừ; số 141 Tôn Đức Thắng; 109 Trần

Đăng Ninh; 188 Quán Thánh, 30 Lê Trọng Tấn, số1 Trần Phú - Hà Đông, 48-50 Phố Huế.

Năm 2008: Một năm kinh tế khó khăn, ABBANK Hà nội chỉ mở thêm 3 phòng

giao dịch nữa là phòng giao dịch số 279A Đội Cấn, số 02 Hàng Nón và PGD Đông Anh.

Năm 2009: Sự cố gắng nỗ lực của ngân hàng và chi nhánh cũng như sự phục hồi

19

của nền kinh tế thế giới, ABBANK Hà Nội khai trương thêm một số phòng giao dịch nữa tại số 33 Đào Tấn; phòng giao dịch Đại Kim A5, khu C8 khu đô thị Đại Kim và số 42 Hồ Tùng Mậu.

Năm 2009 đến nay: Chi nhánh Hà Nội đã có 21 cơ sở, gồm: Hội sở (Chi nhánh cấp 1), 20 phòng giao dịch với tổng số hơn 700 cán bộ nhân viên (không kể các nhân viên hợp đồng ngắn hạn). Vừa qua trong năm 2013, chi nhánh cũng đã tổ chức kỉ niệm 7 năm thành lập vào ngày 23/02/2013.

Tuân thủ và thực hiện những nhiệm vụ, chức năng trong quyết định thành lập, ngân hàng thương mại cổ phần An Bình –Chi nhánh Hà Nội - một ngân hàng thương mại đa năng đã và đang tiến hành các hoạt động nhằm phục vụ khách hàng trong và ngoài nước.

2.1.3. Các dịch vụ tiêu biểu của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội:

Dịch vụ tiền gửi:

- Chi nhánh Hà Nội thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ theo quy định của hội sở chính.

- Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước dưới nhiều hình thức, kỳ hạn phong phú, lãi suất hấp dẫn.

Dịch vụ cho vay:

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội có dịch vụ cho vay

với các sản phẩm như sau:

- Cho vay vốn theo dự án, đồng tài trợ, nhận làm dịch vụ uỷ thác - đầu tư các dự án

trong nước.

- Cho vay cầm cố đối với các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư

nhân, sản xuất kinh doanh dịch vụ.

- Cho vay tiêu dùng bằng đồng Việt Nam phục vụ nhu cầu đời sống đối với cán bộ,

công nhân viên và các đối tượng khác.

Dịch vụ thanh toán trong nước:

- Nhận thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ (USD & EUR) cho các cá nhân

và tổ chức kinh tế.

- Chuyển tiền điện tử, thanh toán trong nước.

- Ngân hàng phục vụ giải ngân các dự án. Thu, chi hộ đơn vị.

20

- Chi trả lương qua tài khoản,...

Dịch vụ kinh doanh đối ngoại:

- Mua bán ngoại tệ, thanh toán phi thương mại.

- Chi trả kiều hối và Western Union, chi trả cho người lao động xuất khẩu.

- Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh trong nước và quốc tế.

- Thu đổi ngoại tệ.

Các sản phẩm dịch vụ khác:

- Dịch vụ gửi, rút tiền nhiều nơi. Thu tiền tận nơi theo yêu cầu của khách hàng khi

số dư tiền gửi đạt 100 triệu đồng.

- Cung cấp dịch vụ chi trả lương cho cán bộ công nhân viên chức của các doanh

nghiệp, đơn vị tổ chức.

- Phát hành, chấp nhận thanh toán các loại thẻ nội địa SUCCESS, MASTER

CARD.

- Các dịch vụ ngân hàng hiện đại khác....

Cơ cấu tổ chức

Ban Tổng Giám Đốc

Giám Đốc

Phó Giám Đốc Kế Toán

Phó Giám Đốc Kinh Doanh

Phòng tín dụng

Phòng kế toán

Các phòng giao Các phòng dịch giao dịch

Phòng khách hàng cá nhân

Hành chính nhân sự

Phòng khách hàng doanh nghiệp

Kế toán kho quỹ

Dịch vụ khách hàng

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của chi nhánh Hà Nội

21

Nguồn: Phòng kế toán

Chức năng của các bộ phận

Ban tổng giám đốc

Điều hành chỉ huy giám đốc cũng như phó giám đốc, đưa ra các ý kiến chỉ đạo,

đồng thời cũng theo dõi và tìm các hướng phát triển cho chi nhánh.

Giám đốc

Phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo phó giám đốc cùng với các phòng hành chính

nhân sự, phòng tín dụng, chịu trách nhiệm trước ban tổng giám đốc.

Phó giám đốc kế toán

Được sự uỷ quyền hàng năm của giám đốc, phụ trách các phòng ban và các phòng giao dịch trực thuộc về một số công tác. Phản ánh các hoạt động cho vay và huy động vốn của ngân hàng, theo dõi sự biến động nguồn vốn, hạch toán kinh tế theo pháp lệnh

kế toán và thống kê, tư vấn cho giám đốc các biện pháp hiệu quả nâng cao công tác kế toán và chất lượng dịch vụ thanh toán

Phó giám đốc kinh doanh

Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc, phụ trách các phòng khách hàng cá nhân, phòng khách hàng doanh nghiệp, các phòng giao dịch và một số công tác khác. Tham mưu cho Giám đốc trong việc lập kế hoạch kiểm soát việc chấp hành các kế hoạch kinh doanh chi nhánh. Kiểm tra kết quả thực hiện các kế hoạch của các phòng chức

năng trong toàn chi nhánh để báo cáo cho giám đốc.

Các phòng chức năng

Phòng tín dụng: Nhiệm vụ chủ yếu của phòng là :

+ Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng để mở rộng cho vay, đảm nhiệm các nghiệp vụ tín

dụng phát sinh, thực hiện các chủ trương, cơ chế về công tác tín dụng.

+ Liên kết để mở rộng thị phần tín dụng đồng thời triển khai các hợp đồng này cho

toàn hệ thống thực hiện.

+ Trực tiếp đi thẩm định các dự án có quy mô vừa và lớn, thu thập thông tin.

+ Thực hiện các nghiệp vụ khác như: Bảo lãnh, thanh toán quốc tế …

Phòng hành chính nhân sự:

+ Xây dựng và triển khai thực hiện các nội quy, quy chế của ngân hàng.

+ Thực hiện các vấn đề nhân sự như chi trả lương, bảo hiểm xã hội, nghỉ phép…

+ Tham mưu cho Ban điều hành trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyển

22

dụng đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nguồn nhân lực toàn hệ thống.

+ Tổ chức thực hiện các công tác hành chính quản trị phục vụ cho hoạt động

nghiệp vụ của ngân hàng.

+ Trực tiếp thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng theo đúng quy định.

+ Thực hiện công tác hậu cần và chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho hoạt động

của chi nhánh, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn lao động cho cán bộ nhân viên.

Phòng kế toán: Chỉ đạo trực tiếp hai phòng kho quỹ và phòng dịch vụ khách hàng

để từ đó báo cáo với giám đốc phụ trách kế toán.

Phòng kho quỹ

+ Thống kê báo cáo nguồn vốn kế hoạch

+ Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiêu nội bộ như chi trả lương cho cán

bộ nhân viên…

+ Báo cáo tổng hợp thu chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc.

Phòng dịch vụ khách hàng

+ Thanh toán xuất nhập khẩu bằng các phương thức: thư tín dụng chứng từ (L/C),

các hình thức thanh toán nhờ thu, chuyển tiền bằng điện.

+ Mua bán thu đổi các loại ngoại tệ: USD, EUR…

+ Thanh toán phi thương mại: chuyển tiền đến, chuyển tiền đi

+ Cầm cố, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu.

+ Tài trợ ủy thác.

Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân

+ Xử lý các giao dịch như: nhận tiền gửi của cá nhân, khai thác vốn bằng tiền Việt

Nam đồng và ngoại tệ…

+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu, ủy

nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…

+ Tổ chức ghi chép một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ kinh tế

phát sinh về các nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn.

+ Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên ngân hàng.

+ Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp

23

trên.

Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

+ Xử lý các giao dịch như: nhận tiền gửi của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã

hội…

+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu, ủy

nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…

+ Tổ chức ghi chép một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ kinh tế

phát sinh về các nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn.

+ Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên ngân hàng.

+ Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp

trên.

Các phòng giao dịch

+ Xử lí các hoạt động nhận tiền gửi

+ Thanh toán xuất nhập khẩu bằng các phương thức: thư tín dụng chứng từ (L/C),

các hình thức thanh toán nhờ thu, chuyển tiền bằng điện.

+ Mua bán thu đổi các loại ngoại tệ: USD, EUR…

+ Thanh toán phi thương mại: chuyển tiền đến, chuyển tiền đi

+ Cầm cố, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu.

2.2. Một số quy định trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

2.3.1. Quy định về huy động vốn thông qua hoạt động nhận tiền gửi

Các quy định của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

về việc huy động vốn qua hoạt động nhận tiền gửi :

Đối tượng khách hàng gửi tiền:

Hiện nay thì đối tượng khách hàng của ngân hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các

doanh nghiệp, tổ chức kinh tế

Loại tiền dùng trong huy động vốn:

Hiện nay, ngân hàng đang huy động vốn bằng đồng Việt Nam (VNĐ), Đô la Mỹ

(USD), Ơ rô (EUR), ...

Quyền lợi của khách hàng gửi tiền:

24

- Được hưởng lãi suất theo quy định của Ngân hàng nơi giao dịch.

- Được ngân hàng bảo hiểm tiền gửi bằng Đồng Việt Nam theo quy định của Nhà

nước (trừ giấy tờ có giá vô danh).

- Được cấp sổ tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá và toàn quyền sử dụng tiền gửi,

giấy tờ có giá của mình để thực hiện quyền tài sản theo luật định.

- Được rút tiền theo yêu cầu trong phạm vi nguồn tiền gửi của mình (kể cả bằng

tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt).

- Được hoàn trả cả gốc và lãi theo từng thể thức gửi đã thoả thuận với ngân hàng.

- Được giữ bí mật và bảo vệ quyền lợi theo qui định của pháp luật.

- Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, sổ tiền gửi, giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành được chiết khấu, cầm cố vay vốn theo chế độ hiện hành của ngân hàng.

- Được ngân hàng nơi giao dịch xác nhận quyền sở hữu miễn phí khi khách hàng

có yêu cầu.

- Khách hàng gửi bằng ngoại tệ nào được lĩnh cả gốc và lãi bằng ngoại tệ đó.

Trách nhiệm của Ngân hàng:

- Tạo điều kiện cho khách hàng gửi vào thuận lợi, lĩnh ra dễ dàng.

- Giữ bí mật theo qui định của pháp luật và bảo đảm an toàn tiền gửi của khách

hàng.

- Tham gia mua bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng có tiền gửi bằng đồng Việt

Nam theo đúng qui định của Nhà nước (trừ giấy tờ có giá vô danh).

- Chịu trách nhiệm bồi thường theo qui định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình cho khách hàng trong trường hợp do chủ quan chi nhánh gây ra.

- Niêm yết công khai lãi suất, thời hạn và phương thức huy động tại nơi giao dịch.

Lãi suất huy động:

Phù hợp với thị trường từng thời gian và khu vực, theo qui định của ban tổng

giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.

Khi có thay đổi lãi suất, Ngân hàng sẽ áp dụng chế độ như sau:

- Với tiền gửi không kỳ hạn: thực hiện theo mức lãi suất mới kể từ ngày có hiệu

lực thi hành.

- Với tiền gửi có kỳ hạn, kể cả kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi: Giữ nguyên mức lãi

25

suất đã thoả thuận ghi trên giấy tờ có giá từ ngày gửi cho đến hết kỳ hạn.

Qui định trả lãi:

Tiền gửi không kỳ hạn (bao gồm tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm không kỳ hạn): Lãi được tính trả hàng tháng, nếu khách hàng không lĩnh ra, được ngân hàng nhập lãi vào gốc.

Tiền gửi có kỳ hạn (bao gồm tiền gửi trên tài khoản và tiết kiệm có kỳ hạn, trừ tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời hạn gửi, tiết kiệm dự thưởng có qui định riêng):

- Rút vốn đúng hạn:

Ngân hàng trả lãi theo đúng mức lãi suất ghi trên giấy tờ có giá.

- Rút vốn trước hạn:

Được ngân hàng trả lãi bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

Riêng đối với thể thức tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời hạn gửi, khách hàng có thể rút một phần hoặc toàn bộ vốn trước thời hạn, được trả lãi bằng lãi suất tương ứng với thời gian thực gửi.

- Rút vốn sau hạn:

Ngân hàng sẽ nhập lãi vào gốc và chuyển sang kỳ hạn mới tương ứng, áp dụng lãi suất hiện hành cho kỳ hạn mới. Nếu tại thời điểm chuyển, ngân hàng không qui định loại kỳ hạn tương ứng thì giữ nguyên kỳ hạn chuyển tiếp và được hưởng lải suất cao nhất của loại tiền gửi có kỳ hạn ngắn hơn liền kề mà ngân hàng đang huy động.

Trường hợp hết kỳ hạn khách hàng chỉ rút lãi thì ngân hàng chỉ trả lãi cho khách

hàng, số tiền gốc chuyển sang kỳ hạn mới tương ứng theo nội dung trên.

2.3.2. Quy định về huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội tuân thủ các quy định

phát hành có giá của Chính phủ cũng như ngân hàng trung ương đề ra.

Đối với người mua giấy tờ có giá là cá nhân trong nước, tổ chức kinh tế trong nước, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh.

Đối với người mua giấy tờ có giá là tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội chỉ được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh.

26

Trường hợp phát hành giấy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội phát hành cấp cho người mua giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá.

Phát hành và thanh toán giấy tờ có giá bằng VNĐ

Giấy tờ có giá được phát hành và thanh toán bằng đồng Việt Nam. Mệnh giá của

giấy tờ có giá tối thiểu là 100.000 đồng, các mệnh giá lớn hơn phải là bội số của mệnh giá tối thiểu.

Lãi suất giấy tờ có giá do Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà

Nội phát hành quyết định phù hợp với lãi suất thị trường và quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động cho Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội.

Trong thời hạn phát hành giấy tờ có giá, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình -

chi nhánh Hà Nội chủ động điều chỉnh lãi suất này cho phù hợp với quy định về điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.

Nội dung giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá phải bao gồm các nội dung sau: Tên tổ chức phát hành, tên gọi giấy tờ có giá, mệnh giá, thời hạn, ngày phát hành, ngày đến hạn thanh toán, lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm trả lãi, địa điểm thanh toán gốc và lãi, ghi rõ giấy tờ có giá ghi danh, vô danh, ký hiệu, số seri phát hành, chữ ký của người đại diện theo pháp

luật của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội phát hành hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật và các chữ ký khác do Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội quy định…

Bên cạnh đó, đối với giấy tờ có giá ghi danh phải ghi rõ tên tổ chức, số giấy phép

thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức), tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).

Đối với trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu; đối với trái phiếu kèm chứng quyền phải ghi rõ điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm của người nắm giữ chứng quyền.

Phiếu trả lãi kèm theo giấy tờ có giá phải có các chi tiết liên quan đến giấy

27

tờ có giá (số seri, mệnh giá), lãi suất, số tiền được lĩnh, kỳ hạn lĩnh lãi.

Thanh toán giấy tờ có giá

- Nếu thanh toán trước hạn: Ngân hàng trả lãi theo mức lãi suất tiết kiệm không

kỳ hạn hiện hành.

Với kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi trả lãi trước, khách hàng được hưởng lãi suất tiết

kiệm không kỳ hạn tính trên số tiền thực nộp khi mua kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi.

- Nếu thanh toán đúng hạn: Khách hàng được thanh toán gọn một lần cả gốc và

lãi (đúng với mức lãi suất đã ghi trên kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi khi phát hành).

- Nếu thanh toán sau hạn: Ngân hàng không chuyển sang kỳ hạn tiếp theo mà

phải theo dõi riêng để thanh toán kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi quá hạn.

Kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi quá hạn được hưởng thêm lãi suất theo mức lãi suất không kỳ hạn hiện hành đối với thời gian quá hạn và chỉ tính trên số tiền gốc của kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi.

- Với phương thức thanh toán lãi định kỳ: Nếu khách hàng không đến lĩnh lãi

đúng định kỳ quy định thì sẽ được trả vào kỳ kế tiếp theo (không tính lãi nhập gốc)

Đối với trái phiếu:

Ngân hàng chỉ thanh toán trái phiếu khi đến hạn, khi khách hàng có nhu cầu thanh toán trước hạn, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố, mua bán trên thị trường chứng khoán (nếu trái phiếu đó được niêm yết trên thị trường chứng khoán)

để đáp ứng vốn cho khách hàng.

2.3. Thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 – 2013

2.3.1. Khái quát tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội

28

Với phương châm vì sự thịnh vượng, bền vững của khách hàng và ngân hàng, mục tiêu của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình là tiếp tục giữ vững uy tín, vị trí ngân hàng thương mại cổ phần. Là chi nhánh cấp 1, đứng trong hàng ngũ các ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội đã nỗ lực và cố gắng hết mình thực hiện mục tiêu chung và phấn đấu một cách độc lập để ngày một nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

Đơn vị: tỷ đồng

Bảng 2.1: Khái quát tình hình huy động vốn của ABBank trong giai đoạn năm 2011-2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-2013 Chỉ tiêu

Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

1. Theo loại

tiền

- VND 3.550 77,83 4.216 71,91 4.635 66,69 666 18,76 419 9.94

- Ngoại tệ 1.011 22,17 1.647 28,09 2.315 33,31 636 71,73 668 39,24

2. Theo kỳ hạn

- Ngắn hạn 3.666 81,18 4.853 82,77 4.915 70,72 1.187 32.38 62 1,27

3.006 65,91 3.452 58,88 3.665 52,73 446 14,84 213 6,17 + Dưới 6 tháng

+ Trên 6 tháng 660 14,47 1.401 23,89 1.250 17,99 741 122,27 (151) 10,77

850 18,82 1.010 17,23 2.035 29,28 160 18,82 1.025 101,49 - Trung dài hạn

3.Theo hình

thức huy động

3.786 83,01 5.017 85,57 6.058 87,17 1.231 32,51 1.041 20,75 -Tiền gửi tiết kiệm

775 16,99 846 14,43 892 12,83 71 9,16 46 5,44 -Phát hành giấy tờ có giá

(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2011-2013)

4.561 100,00 5.863 100,00 6.950 100,00 1.302 25,55 1.087 18,54 Tổng nguồn vốn

Từ bảng trên có thể thấy hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội khá phát triển. Năm 2011, ngành ngân hàng hoạt động mạnh mẽ cũng với sự tăng đồng đều của lãi suất. Đây là nguyên nhân khiến vốn huy động năm 2012 tăng so với năm 2011, từ 4.561 tỷ năm 2011 lên 5.863 tỷ năm 2012, tăng 25,55%. Đến năm 2013 khi nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng

29

trưởng GDP ấn tượng đã góp phần làm tăng đáng kể vốn huy động của chi nhánh, lên 6.950 tỷ, tăng 52,37% so với năm 2011 và tăng 18,54% so với năm 2012.

Chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn huy động là tiền gửi từ dân cư, tiếp theo là từ các tổ chức kinh tế xã hội. Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng của chi nhánh chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ là do chi nhánh đảm bảo tốt tính thanh khoản, thu hút được lượng vốn lớn từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội.

Dưới đây là thực trạng huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

– Chi nhánh Hà Nội theo loại hình tiền gửi, theo kỳ hạn và theo nguồn huy động.

Theo loại hình tiền gửi

Là ngân hàng hoạt động chủ yếu trong nước nên nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn nội tệ. Vốn nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn huy động của ngân hàng, là nguồn vốn chủ đạo đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đầu tư trong nước, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và mở rộng sang cho

vay cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Cơ cấu huy động vốn theo đồng tiền được xác định cụ thể dưới bảng sau:

Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn phân theo loại tiền

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-2013

Chỉ tiêu Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền (%) (%) (%) (%) (%)

1. Theo loại tiền

- VND 3.550 77,83 4.216 71,91 4.635 666 18,76 419 9.94 66,69

- Ngoại tệ 1.011 22,17 1.647 28,09 2.315 636 71,73 668 39,24 33,31

4.561 100,00 5.863 100,00 6.950 100,00 1.302 25,55 1.087 18,54 Tổng nguồn vốn

(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2011-2013)

Trong giai đoạn này vốn VND và vốn ngoại tệ tăng trưởng khá đều. Về qui mô, cả hai nguồn này đều tăng liên tục trong những năm 2011, 2012, 2013. Nguyên nhân là do chi nhánh đã có những chính sách phù hợp với nền kinh tế, những chiến lược phù hợp để phát triển hoạt động huy động vốn một cách mạnh mẽ. Ngân hàng thương mại

30

cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội có những chiến lược phát triển hợp lý bằng việc đưa ra những chiến lược quảng cáo, theo sát biến động thị trường, làm tốt công tác dịch vụ, đảm bảo uy tín cũng như chất lượng mà chi nhánh đã xây dựng trong suốt thời gian qua. Đồng thời chi nhánh đã áp dụng mức lãi suất hấp dẫn cùng với nhiều khuyến

mại, ưu đãi cho khách hàng, từ đó tạo tâm lý an toàn trong việc gửi tiền tiết kiệm của khách hàng, góp phần làm tăng nguồn vốn huy động được. Cụ thể năm 2012 vốn VND tăng 18,76% so với năm 2011, từ 3.550 tỷ đồng vào năm 2011 lên 4.216 tỷ đồng vào năm 2012. Năm 2013 tăng 9,94% so với năm 2012, vốn VND năm 2012 là 4,217 tỉ

tăng lên thành 4.635 tỉ vào năm 2013. Năm 2012 vốn ngoại tệ tăng từ 1.011 tỉ đồng lên 1.647 tỉ đồng, tương ứng 71,73% so với năm 2011. Năm 2013 tăng 39,24% so với năm 2012, lên 668 tỉ đồng.

Về tỷ trọng, vốn VND có biến động khá đều và vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

vốn huy động của chi nhánh, luôn ở mức trên 65% tổng vốn huy động. Năm 2013 trong khi vốn VND giảm cả về tỷ trọng và quy mô và vốn ngoại tệ tăng về quy mô và tỷ trọng nhưng cũng không quá chênh lệch, và cũng không gây nhiều biến động lắm cho chi nhánh. Năm 2011 và năm 2012, quy mô vốn ngoại tệ và vốn VND đều tăng về tỷ trọng cũng như quy mô vốn. Có được điều này là bởi Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội có nhiều uy tín. Thêm vào đó, nhờ có nhiều phòng giao dịch và nhiều điểm ATM trên địa bàn đã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút tiền

gửi thanh toán cá nhân, tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, hộ gia đình. Điều này ít nhiều làm tăng được nguồn vốn VNĐ của ngân hàng.

Có thể thấy nguồn vốn ngoại tệ cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ khác

của ngân hàng khá phát triển. Trong những năm qua, nhằm đáp ứng và theo kịp tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, ngân hàng đã mở rộng hoạt động, dịch vụ kinh doanh đối ngoại của mình như: chi trả kiều hối, dịch vụ Western Union, chi trả cho người lao động xuất khẩu, thu đổi ngoại tệ,…kết quả là ngân hàng đã thu hút được một khối lượng ngoại tệ tương đối lớn. Nguồn ngoại tệ của ngân hàng cũng tăng trưởng khá do ngân hàng huy động thêm được từ nguồn gửi của dân cư và mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng mới, trong đó có nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên đã giúp ngân hàng đáp ứng được những nhu cầu về ngoại tệ. Nhìn chung,

nguồn vốn ngoại tệ tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng vốn huy động nhưng cả quy mô và tỷ trọng đều tăng dần. Tuy nhiên vì chỉ thu hút qua dân cư là chính, tiền gửi thanh toán chỉ chiếm tỷ lệ thấp nên trong thời gian tới ngân hàng cần tìm kiếm khai thác thêm các khách hàng có nguồn ngoại tệ thanh toán nhằm tăng trưởng vốn ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu tín dụng ngoại tệ và tạo thuận lợi cho ngân hàng.

Theo kỳ hạn

31

Ngoài việc xác định cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền thì không thể bỏ qua tiêu chí kỳ hạn của nguồn vốn huy động. Từ việc xác định chính xác lượng tiền huy động trong các kỳ hạn, ngân hàng sẽ có những chính sách hoạt động hợp lý, nhất là

xây dựng được các nguồn vốn tài trợ cho các dự án có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn lâu vốn lâu. Cơ cấu theo kỳ hạn huy động được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn giai đoạn năm 2011-2013

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-2013

Chỉ tiêu

Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

. Theo kỳ hạn

3.666 81,18 4.853 82,77 4.915 70,72 1.187 32.38 62 1,27 - Ngắn hạn

+ Dưới 6 3.006 65,91 3.452 58,88 3.665 52,73 446 14,84 213 6,17 tháng

660 14,47 1.401 23,89 1.250 17,99 741 122,27 (151) 10,77 + Trên 6 tháng

850 18,82 1.010 17,23 2.035 29,28 160 18,82 1.025 101,49 - Trung dài hạn

4.561 100,00 5.863 100,00 6.950 100,00 1.302 25,55 1.087 18,54

Tổng nguồn vốn

(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2011-2013)

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng ngân hàng đã và đang hoàn thành rất tốt mục tiêu đã đề ra. Trong tổng nguồn vốn huy động thì nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm ưu thế (>70%). Quy mô vốn ngắn hạn biến động tương tự tổng vốn huy động, trong

khi đó tỷ trọng trong tổng vốn huy động tăng vào năm 2012 và giảm vào năm 2013. Cụ thể vốn ngắn hạn năm 2012 tăng 24,46% so với năm 2011, tương ứng 1,187 tỷ đồng, năm 2013 tăng 1,27% so với năm 2012, từ 4,853 tỷ đồng lên 4,915 tỷ đồng. Có sự tăng lên không ngừng về quy mô vốn ngắn hạn là do chi nhánh có chính sách ưu đãi đối với khách hàng: khi khách hàng gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn, nhưng chưa đến hạn khách hàng muốn rút trước kỳ hạn ngân hàng đã ưu tiên cho họ rút và lãi suất thấp hơn hoặc lãi suất không kỳ hạn. Đây là một điểm mới để thu hút khách hàng gửi tiền vào

32

chi nhánh đặc biệt là tiền gửi có kỳ hạn. Để khuyến khích nhiều người gửi tiết kiệm thì lãi suất tiền gửi của ngân hàng cũng phải đảm bảo mang lại một khoản thu nhập hợp lý

cho người gửi. Công tác chi trả các khoản phải thuận tiện, đúng thời gian hết hạn quy định, phải đảm bảo bí mật an toàn cho khách hàng. Chính điều này đã giúp quy mô nguồn vốn ngắn hạn không ngừng tăng lên.

Cũng như các chi nhánh khác của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, chi nhánh Hà Nội thu hút một lượng lớn nguồn vốn trung và dài hạn bởi đây là nguồn vốn ổn định, đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng, do đó ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng, đầu tư, tài trợ cho các dự án phát triển trung và dài hạn, đem lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng. Có thể thấy nguồn vốn trung và dài hạn chiếm tỷ

trọng nhỏ hơn nhiều so với vốn ngắn hạn nhưng tỷ trọng qua các năm lại tăng mạnh vào năm 2013. Qua các năm, tuy quy mô biến đổi không đều, nhưng nhìn chung cơ cấu tiền gửi trung và dài hạn trong tổng vốn huy động có xu hướng biến động không đồng đều, từ 18,82% năm 2011 giảm xuống 17,23% năm 2012,rồi tăng vọt lên 29,28% năm 2013. Có sự biến động tăng về tỷ trọng so với tổng nguồn vốn huy động là do nguồn vốn này chủ yếu là nguồn vốn huy động được từ các trái phiếu, kì phiếu mà chi nhánh phát hành theo quy định của hội sở chính và. Các loại phiếu trên được chi nhánh

phát hành từng đợt với mục đích, số lượng cụ thể và chỉ phát hành khi được sự cho phép của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.

Bảng 2.4: Tình hình huy động vốn theo ngắn hạn giai đoạn năm 2011-2013

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-2013 Chỉ tiêu

Số Số Số Số dư Số dư dư dư dư Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

3.666 81,18 4.853 82,77 4.915 70,72 1.187 32.38 62 1,27 - Ngắn hạn

3.006 65,91 3.452 58,88 3.665 52,73 446 14,84 213 6,17 + Dưới 6 tháng

660 14,47 1.401 23,89 1.250 17,99 741 122,27 (151) 10,77 + Trên 6 tháng

4.561 100,00 5.863 100,00 6.950 100,00 1.302 25,55 1.087 18,54

Tổng nguồn vốn

33

(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2011-2013)

Nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức và cá nhân, tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư và các công cụ nợ (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi). Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mặc dù việc thu hút nguồn vốn có kỳ hạn đòi hỏi chi phí lớn nhưng nguồn vốn này

giúp cho ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh, kế hoạch hóa được nguồn vốn và sử dụng vốn.

Trong nguồn vốn có kỳ hạn, nguồn có thời hạn dưới 6 tháng tăng liên tục về quy mô và tỷ trọng trong giai đoạn 2011 - 2013. Nguồn này cũng có mức biến động cao

nhưng ổn định hơn nguồn tiền không kỳ hạn và luôn tăng qua các năm. Đến năm 2011 vốn này chiếm gần 75% nguồn vốn có kỳ hạn. Đối tượng chủ yếu của nguồn tiền này là các khách hàng có thu nhập ổn định và thường xuyên, gửi tiền vì mục đích an toàn, sinh lợi.

Lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút đối tượng này, vì vậy chi nhánh đã có những biện pháp điều chỉnh lãi suất phù hợp, các chương trình dự thưởng nhằm thu hút khách hàng. Ngoài ra, lãi suất huy động của ngân hàng cũng thay đổi theo kỳ hạn tăng dần, có nhiều kỳ hạn và hình thức khác nhau nhằm giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn.

Trong khi đó, nguồn vốn ngắn hạn trên 6 tháng có biến động mạnh về quy mô và tỷ trọng. Cụ thể năm 2012 tăng thêm 741 tỷ đồng so với năm 2011, tương ứng 122,27%. Đến năm 2013 vốn này chỉ chiếm 25,42% vốn ngắn hạn, con số này là tương đối thấp. Trong thời gian tới ngân hàng cần có những giải pháp để thu hút thêm nguồn vốn này. Nguyên nhân chủ yếu khiến quy mô và tỷ trọng nguồn vốn huy động ngắn hạn trên 6

tháng giảm liên tục là do người dân tập trung chủ yếu vào gửi tiền từ 3 đến 6 tháng, đôi khi là chỉ 1 tháng. Lãi suất hiện tại của chi nhánh chưa thực sự hấp dẫn đối với họ. Thêm vào đó, khác với nguồn huy động ngắn hạn với tính chất không ổn định, ngân hàng phải lập một khoản dự trữ thanh khoản cao dự phòng khách hàng rút tiền. Còn với nguồn vốn trung và dài hạn, thời gian đáo hạn dài, tương đối ổn định nên khoản phải lập dự phòng tương đối thấp, ngân hàng có thêm một khoản đầu tư đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Ví dụ: Đối với nguồn huy động ngắn hạn, nếu huy động 10 đồng thì ngân hàng phải trích lập dự phòng 4 đồng và đem đầu tư 6 đồng. Còn với nguồn trung và dài hạn, huy động 10 đồng thì ngân hàng chỉ phải trích lập dự phòng 2 đồng và đem đầu tư 8

đồng.

34

Như vậy có thể thấy, lợi nhuận mà nguồn vốn trung và dài hạn đem lại là rất cao. Vì vậy, chi nhánh đã có những chính sách, biện pháp và hình thức khác nhau như mở

loại hình dự thưởng với tiền gửi trung và dài hạn, tiết kiệm bậc thang, phát hành kỳ phiếu nhằm làm tăng lượng vốn trung và dài hạn trong thời gian tới.

Theo hình thức huy động

Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định một cách chính xác, đầy đủ và

trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn là vô cùng quan trọng, bởi vì nó liên quan đến hàng loạt các yếu tố, nội dung của việc hoạch định chính sách huy động vốn, kế hoạch hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xác định được nguồn vào từ đó sẽ điều tiết được luồng tiền sao cho hợp lý, đảm bảo được tính thanh khoản ở mức cao nhất. Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 2.5: Tình hình huy động vốn theo hình thức huy động giai đoạn năm 2011-2013

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-2013

Chỉ tiêu

Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

Theo hình thức huy động

-Tiền gửi 3.786 83,01 5.017 85,57 6.058 87,17 1.231 32,51 1.041 20,75 tiết kiệm

775 16,99 846 14,43 892 12,83 71 9,16 46 5,44

-Phát hành giấy tờ có giá

(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2011-2013)

4.561 100,00 5.863 100,00 6.950 100,00 1.302 25,55 1.087 18,54 Tổng nguồn vốn

Tiền gửi tiết kiệm: Là kênh huy động vốn chủ yếu của ngân hàng, luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động, luôn chiếm trên 80% tổng vốn huy động. Qua

bảng trên ta thấy nguồn vốn huy động từ dân cư mà chi nhánh huy động được tương đối ổn định và ngày càng tăng về quy mô. Năm 2012 vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm tăng thêm 1.231 tỷ đồng so với năm 2011, tương đương 32,51%. Năm 2013 tăng 1.041 tỷ đồng so với năm 2012, lên 6.015 tỷ đồng, tương đương 20,75%.

35

Trong nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thì lượng tiền gửi giao dịch thường chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu là huy động thông qua phát hành thẻ ATM

cho các cá nhân có nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt hoặc gửi vào tài khoản một số tiền nhỏ rồi rút dần cho chi tiêu và thông qua việc mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ để nhận tiền từ nước ngoài gửi về. Chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động từ dân cư thường là tiền gửi tiết kiệm. Vì tính ổn định của nguồn tiền này rất cao nên

trong những năm qua, ngân hàng đã liên tục đưa ra các chính sách gia tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm và các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức phong phú nhằm khuyến khích dân cư gửi tiền vào ngân hàng. Các sản phẩm tiết kiệm mới có thể kể đến như: tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang…

Phát hành giấy tờ có giá: Hoạt động phát hành giấy tờ có giá là một trong những hoạt động quan trọng của ngân hàng cũng như chi nhánh. Chi nhánh luôn tuân thủ theo các quy định, và chỉ khi được sự cho phép từ Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình mới được phép phát hành. Quy mô và tỷ trọng của hoạt động này luôn biến động qua các năm, tỷ trọng cao nhất vào năm 2011, chiếm 16,99% tổng vốn huy động, nhưng đến năm 2011 lại giảm cả về quy mô và tỷ trọng, giảm 2,56% và tỷ trọng chỉ còn 14,43% tổng vốn huy động. Trong những năm tới chi nhánh cần có những giải pháp để

thu hút được nhiều doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội thông qua hoạt động phát hành giấy tờ có giá.

Như vậy có thể thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh Hà Nội được hình thành từ

nhiều nguồn khác nhau, có cơ cấu đa dạng và không ngừng tăng trưởng. Điều này đã cho thấy được chi nhánh đã có những chính sách và biện pháp hiệu quả trong việc huy động vốn của mình. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn huy động từ các hoạt động phát hành giấy tờ có giá vẫn còn thấp, chưa tương xứng với vị thế của chi nhánh. Việc xác định cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng là rất quan trọng, nó vừa giúp chi nhánh ổn định hoạt động của mình, xây dựng được chính xác chiến lược phát triển lâu dài, đặc biệt là xác định được đúng đối tượng khách hàng, từ đó có những chính sách hợp lý, tạo điều kiện để nâng cao hoạt động kinh doanh, cũng như việc hoạch định chính sách

36

huy động vốn sao cho có hiệu quả.

2.3.2. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá

2.3.2.1 Chỉ tiêu hệ số sử dụng nguồn vốn huy động

Bảng 2.6: Chỉ tiêu hệ số sử dụng nguồn vốn huy động

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chênh lệch 2011- 2012 Chênh lệch 2012- 2013

Tổng dư nợ x100%

58,68 49,72 50,36 (8,96) 0,64 Tổng nguồn vốn huy động Hệ số sử dụng nguồn vốn huy động

Dư nợ của vốn ngắn hạn 34,10 29,57 27,05 (4,53) (2,52) Hệ số sử dụng vốn ngắn hạn Vốn huy động ngắn hạn

Dư nợ của vốn trung và dài hạn

31,00 25,24 27,31 (5,76) (1,93) Vốn huy động trung và dài hạn Hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn

Hệ số sử dụng nguồn vốn huy động này phản ánh tỷ lệ số tiền chi nhánh đã sử dụng trong tổng nguồn vốn đã huy động được. Chỉ tiêu này đánh giá khả năng cấp tín dụng của chi nhánh cũng như hiệu quả một đồng vốn huy động được là bao nhiêu. Mặt khác, phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc khai thác nguồn vốn huy động thông qua hoạt động huy động vốn. Được tính bằng tổng dư nợ x100% /tổng nguồn vốn huy động được tại đơn vị.

Năm 2011 hệ số sử dụng vốn là 58,68%; năm 2012 con số này là 49,72%. Điều

này, cho thấy chi nhánh đã sử dụng nguồn vốn huy động chưa thực sự hiệu quả hơn năm 2011 (giảm 8,96%). Năm 2013 thì hệ số sử dụng vốn đã tăng hơn 0,64% so với năm 2012 nhưng con số này cũng chưa đủ lớn để có thể thấy rằng chi nhánh thực sự sử dụng nguồn vốn huy động một cách hiệu quả. Chi nhánh cần có những biện pháp để khắc phục tình trạng này, đồng thời phát triển và có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp hơn.

37

Hệ số sử dụng vốn ngắn hạn phản ánh khả năng sử dụng vốn ngắn hạn từ hoạt động huy động vốn của chi nhánh. Từ bảng trên ta thấy hệ số này liên tục giảm qua các năm, năm 2011 hệ số này là 34,10%, đến năm 2012 hệ số này là 29,57% và xuống

còn 27,05% vào năm 2013. Điều này cho thấy chi nhánh chưa thực sự sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động huy động vốn. Nguyên nhân là do các chính sách về lãi suất cho vay chưa thu hút được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và hoạt động quảng bá các chương trình của ngân hàng chưa thực sự rộng rãi.

Tương tự như hệ số sử dụng vốn ngắn hạn thì hệ số sử dụng vốn trong trung và dài hạn của chi nhánh cũng liên tục giảm từ 31,00% vào năm 2011 xuống còn 25,34% vào năm 2012 và còn 23,31% vào năm 2013. Điều này là do vốn huy động chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn, các ngân hàng tập trung chủ yếu vào việc cho vay cá nhân, thường bỏ qua, không chú trọng vào các mục cho vay dài như cho vay bất động sản, cho vay tài trợ dự án,…..

Nguồn vốn huy động được qua 3 năm luôn lớn hơn tổng dư nợ, cho thấy chi nhánh luôn có thể chủ động được nguồn vốn, chi nhánh luôn có khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân… đây là do Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn của Việt Nam, Ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng, là một ngân hàng có

độ tin cậy cao, từ đó sẽ có khả năng thu hút được nhiều nguồn vốn. Nguồn vốn dư thừa sẽ được Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội điều chuyển về Hội Sở chính và tiếp tục thực hiện, phát triển việc huy động vốn.

2.3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời

Bảng 2.7: Bảng chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Đơn vị tính: Lần

Công thức tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu

Chênh lệch 2011- 2012 Chênh lệch 2012- 2013

Tổng thu nhập

1,23 1,24 1,14 0.01 (0,1) Tổng chi phí

Hệ số thu nhập trên chi phí

Thu nhập từ lãi

Tổng chi phí trả lãi 1,25 1,26 1,19 0,01 (0.07)

Hệ số thu nhập từ lãi trên tổng chi phí trả lãi

Thu nhập từ cho vay

Hệ số hiệu quả sử dụng 0,34 0,27 0,21 (0,07) (0,06) Tổng dư nợ cho vay

38

vốn vay

Hoạt động kinh doanh có lãi mới tạo được cơ sở cho ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội tồn tại và phát triển. Khả năng sinh lời và kết quả tài chính là thể hiện kết quả cụ thể trong kinh doanh của chi nhánh. Trong cơ chế thị trường, chi nhánh chỉ có thể tồn tại và phát triển khi kinh doanh có lãi.

Hệ số thu nhập trên chi phí cho biết một đồng chi phí đem lại bao nhiêu đồng thu nhập. Hệ số này tại chi nhánh tăng nhẹ 0,01 lần từ 1,23 năm 2011 lên 1,24 ở năm 2012, và giảm 0,1 lần từ 1,24 của năm 2012 xuống 1,14 vào năm 2013. Điều này cho thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh có khả năng sinh lời giảm, do việc chi nhánh

mới thành lập được 7 năm và phải cạnh tranh gắt gao với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn, tăng lãi suất để huy động, và giảm lãi suất cho vay nhằm thu hút khách hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội cần phải đưa ra các sản phẩm huy động, sản phẩm cho vay tốt, cùng với đó là các dịch vụ thanh toán thuận tiện… nhằm thu hút khách hàng hơn nữa.

Chi phí trả lãi là tiền chi nhánh phải chi trả cho việc huy động vốn. Thu nhập từ lãi là tiền mà chi nhánh nhận được từ hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng. Hệ số thu nhập từ lãi trên tổng chi phí trả lãi cho biết cứ mỗi đồng tiền bỏ ra để huy động vốn đã thu về được bao nhiêu đồng lãi do cấp tín dụng. Chỉ tiêu này năm 2012 tăng 0,01 lần so với năm 2011. Và đến năm 2013 thì nó lại giảm xuống còn 1,19 lần. Điều này là do

cuối năm 2012 khủng hoảng kinh tế xảy ra, những diễn biến về lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường xuyên bị điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo ổn định nền kinh tế khiến các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy các ngân hàng, trong đó có Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình phải bỏ ra lượng chi phí lớn để có thể thu hút nguồn vốn huy động.

Hệ số hiệu quả sử dụng vốn vay cho biết bình quân một đồng dư nợ cho vay đem lại bao nhiêu đồng thu nhập. Hệ số này năm 2011 là 0,34 lần và năm 2012 là 0,27 lần. Hiệu quả sử dụng vốn vay năm 2012 giảm so với năm 2011 là 0,07 lần. Năm 2013 hệ số này chỉ còn 0,21 lần. Do mức độ gia tăng của dư nợ cho vay lớn hơn nhiều so với mức độ lãi từ hoạt động tín dụng thu về. Trong thời gian tới, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – chi nhánh Hà Nội cần cải thiện tích cực hơn chỉ tiêu hệ số hiệu quả sử

39

dụng vốn vay.

2.3.2. Đánh giá sự phát triển của hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

2.3.2.1. Kết quả đạt được

Trong giai đoạn 2011 – 2013 Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh

Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực:

Về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động: Quy mô và tốc độ

tăng trưởng của nguồn vốn huy động liên tục tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Chi nhánh đã đổi mới căn bản cơ chế huy động vốn đi liền với phương thức quản lý vốn, chủ động đưa ra các biện pháp thu hút vốn hấp dẫn khiến lượng vốn huy động không ngừng tăng, trở thành một trong những chi nhánh cấp I hoạt động hiệu quả trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

Về cơ cấu: Trong thời gian qua, vốn nội tệ luôn giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn vốn, phát huy được thế mạnh của ngân hàng. Vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động đã khẳng định được uy tín và danh tiếng của mình trong lòng công chúng.

Có được những thành công ấy là do chi nhánh không ngừng mở rộng các dịch vụ, sản phẩm chất lượng, nắm bắt tốt thời cơ, phản ứng nhanh nhạy với những biến động của thị trường, tích cực khai thác các thế mạnh truyền thống của ngân hàng.

2.3.2.2. Hạn chế tồn tại

Bên cạnh những thành công lớn đó, trong thời gian vừa qua, trong quá trình thực

hiện hoạt động huy động vốn của mình, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội vẫn có một số vấn đề còn tồn tại như sau:

Cơ cấu nguồn vốn vẫn chưa thực sự hợp lý: Nguồn tiền gửi không kỳ hạn mới chiếm một tỷ lệ thấp và chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, nguồn tiền gửi

không kỳ hạn của dân cư còn thấp. Theo thực tế hiện nay nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân còn rất nhiều mà ngân hàng chưa khai thác hết được, theo điều tra của Bộ Kế hoạch đầu tư và Tổng cục thống kê thì phần lớn người dân cất giữ tiền nhàn rỗi của mình bằng cách mua vàng, ngoại tệ cất trữ tại nhà hay họ đầu tư vào bất động sản, với tình hình như vậy thì một bộ phận vốn đã không sử dụng hiệu quả trong khi xã hội rất cần nguồn vốn này.

40

Không thu hút được nhiều tiền gửi không kỳ hạn : Nguồn tiền mà ngân hàng chỉ phải chịu chi phí thấp đặt ra nhiệm vụ tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn trong những năm tiếp theo. Trong cơ cấu nguồn vốn thì tỷ lệ huy động vốn từ các tổ chức kinh tế xã hội có tiến bộ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng vốn huy động, chưa tương

xứng với tiềm năng và vị thế của chi nhánh thuộc một thủ đô có nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp và các tổ chức xã hội đóng trên địa bàn.

Tỷ trọng nguồn vốn ngoại tệ trong tổng vốn huy động còn thấp (<30%): Chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư khép kín của ngân hàng, chưa phát huy được chính sách khách hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình. Ngân hàng tăng cường chính sách ưu đãi cũng như có các dịch vụ chăm sóc khách hàng sau khi họ đến giao dịch vơí ngân hàng. Hiện nay sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn, ngoài sự cạnh tranh bằng công cụ lãi suất ra các ngân hàng sẽ dùng chính sách ưu

đãi khách hàng để giành khách hàng về mình. Từ đó sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng nguồn vốn ngoại tệ cũng như nội tệ, góp phần nâng cao tổng nguồn vốn huy động.

2.3.2.3. Nguyên nhân còn tồn tại

(1). Nguyên nhân khách quan

Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt : Trong hệ thống ngân hàng hiện nay khi có sự xuất hiện ngày càng nhiều của các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài… Các ngân hàng không chỉ quan tâm đến lãi suất huy động mà còn chú ý hơn đến việc đa dạng hóa sản phẩm huy động vốn (chứng chỉ tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá có lãi bậc thang…), huy động vốn được tặng quà, nhận mã số dự thưởng…

Sự tham gia ngày càng mạnh mẽ và hiệu quả vào nền kinh tế của các trung gian tài chính như các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm, tiết kiệm bưu điện… Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh để giành ưu thế với nhau mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính khác.

Môi trường kinh tế xã hội chưa thực sự thuận lợi: Đây là yếu tố khách quan đối với ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng chung đến việc huy động và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế trong đó có nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Cụ thể trong một nền kinh tế phát triển nguồn tiền gửi, tiền tiết kiệm gửi vào các ngân hàng thương

mại ngày càng nhiều… Ngoài ra với một nền kinh tế phát triển thì công nghệ ngân hàng được hiện đại hoá, người dân có thói quen sử dụng những lợi do các ngân hàng thương mại cung ứng, các nghiệp vụ thanh toán chủ yếu qua ngân hàng, ngân hàng thu được càng nhiều khoản vốn, chiếm dụng được vốn trong thanh toán. lạm phát là một yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Người dân gửi tiền vào ngân hàng hy vọng rằng họ sẽ thu được khoản tiền lãi nhất định, lạm phát

41

cao hoặc biến động có thể làm trượt giá đồng tiền và họ sẽ chuyển các tài khoản của họ sang hình thái khác có tính ổn định hơn về giá trị. Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Để có thể tồn

tại và phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với ngân hàng khác. Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốt công tác marketing. Ngân hàng phải

bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để có thể làm tốt công việc của mình. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huy động vốn.

Môi trường pháp lý nước ta còn chưa đồng bộ và thống nhất: Mặc dù luật các tổ

chức tín dụng đã ra đời song còn nhiều bất cập cần chỉnh lý, ngoài ra các hệ thống luật liên quan hầu như chưa hoàn chỉnh do vậy rất khó cho công tác kinh doanh nói chung và công tác huy động vốn nói riêng của chi nhánh. Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Các hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước. Mặt khác, hiện nay các ngân hàng thương mại được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh ngân hàng trong

hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà ngân hàng mẹ ban hành trong từng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay....Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng của hoạt động huy động vốn.

(2). Nguyên nhân chủ quan

Chưa chú trọng công tác phát triển sản phẩm: Các hình thức huy động tuy đã đa

dạng hóa nhưng chưa thực sự hấp dẫn với khách hàng và bên cạnh đó các chi nhánh của các ngân hàng thương mại cổ phẩn khác phát triển mạnh và luôn áp dụng lãi suất huy động cao hơn. Hiện nay chi nhánh ngân hàng mới chỉ phát hành giấy tờ có giá là chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và trái phiếu kỳ hạn 5 năm với số lượng còn hạn chế theo quy định từ hội sở chính. Đây là một khó khăn của Ngân hàng khi các ngân hàng thương mại khác khác trên địa bàn đã phát hành đa dạng các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…Trong thời gian tới ngân hàng cần phát hành thêm các loại giấy tờ có

giá khác với nhiều kỳ hạn khác nhau nhằm có được kênh huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Lãi suất chưa thực sự linh hoạt: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng

42

huy động vốn của ngân hàng thương mại. Việc duy trì lãi suất cạnh trạnh huy động, đặc biệt cần thiết khi lãi suất thị trường đã ở mức tương đối cao. Một lãi suất hợp lý đối với ngân hàng và hấp dẫn đối với kỳ phiếu và trái phiếu mới chỉ có lãi suất cố định, chưa có đảm bảo trượt giá nên hạn chế sức hấp dẫn với người gửi tiền gửi tiền sẽ

thu hút được càng nhiều những khoản tiền nhàn rỗi. Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ với nhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau của thị trường vốn. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiết kiệm và

nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ có sang tổ chức tiết kiệm khác.. Mặc dù chi nhánh đã áp dụng các đợt phát hành kỳ phiếu, trái phiếu nhưng do lãi suất chưa linh hoạt nên cũng chưa thu được nhiều kết quả khả quan từ hoạt động phát hàng giấy tờ có giá. Sự phát triển của thị trường đòi hỏi ngân hàng phải cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ liên quan.

Các phần mềm ứng dụng chưa hoàn thiện: Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh trạnh phi lãi suất vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch

vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.

Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các nghiệp vụ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản lý tốt nguồn

vốn, thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất lượng huy động vốn .

Tuy đã có các phần mềm ứng dụng trong công tác huy động vốn và quản lý luồn tiền vào – ra hàng ngày nhưng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để phần mềm vận hành tốt nên đôi lúc vẫn xảy ra lỗi hệ thống, mạng bị treo gây ảnh hưởng đến các

nghiệp vụ đang thao tác, khiến khách hàng phải chờ đợi…

Nghiệp vụ Marketing tiến hành chưa đạt hiệu quả cao: Các hình thức quảng cáo cũng như tìm hiểu tâm lý khách hàng chưa được chú trọng. Công tác Marketing đã được đặt ra nhưng chưa được quan tâm đúng mực nhất là quảng bá sản phẩm tại các

địa phương. Chưa có sự chủ động giao dịch giữa ngân hàng với công chúng, ngân hàng thiếu một lực lượng chuyên đảm trách công việc tư vấn truyền thông về ngân hàng đến với công chúng, vì thế mà ngân hàng vẫn chưa khai thác một cách triệt để nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư. Làm tốt hoạt động này, ngân hàng sẽ tạo hình ảnh tốt trong lòng khách hàng, nâng cao vị thế thương hiệu, tạo dựng lòng tin đến khách hàng, phát triển hoạt động kinh doanh nói chung và phát triển hoạt động huy động vốn nói

43

riêng.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI

3.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh

Hà Nội trong thời gian tới được xác định như sau:

Tập trung huy động nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư, các tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội khác. Chú trọng huy động nguồn vốn trung và dài hạn cả nội và ngoại tệ.

Mở rộng cho vay các thành phần kinh tế làm ăn có hiệu quả, dự án khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng đầy đủ quy định… Tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung thu hồi nợ xấu.

Tập trung triển khai nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, sản phẩm dịch vụ

toàn diện có hiệu quả nhanh chóng, chính xác và thuận lợi trong cơ chế thị trường.

Tập trung triển khai toàn diện có hiệu quả, chất lượng cao công tác quảng cáo, quảng bá toàn diện kịp thời các loại hình dịch vụ, sản phẩm công nghệ hiện đại có hiệu quả, thị hiếu nhằm nâng cao thương hiệu uy tín của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội.

Giữ vững và củng cố vị thế chủ đạo và chủ lực trong vai trò cung cấp tín dụng cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với chính sách, mục tiêu của Đảng, Nhà nước, mở rộng hoạt động một cách vững chắc, an toàn, bền vững về tài chính; áp dụng công nghệ hiện đại, cung cấp các dịch vụ và tiện ích thuận lợi, thông thoáng đến từng người dân và doanh nghiệp ở thành phố, thị xã… nâng cao và duy trì khả năng sinh lời; phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực để có sức cạnh tranh và thích ứng nhanh chóng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Kiện toàn và ổn định bộ máy tổ chức, tiếp tục đào tạo, đào tạo lại toàn diện các mặt nghiệp vụ tín dụng, kế toán, thanh toán quốc tế… đặc biệt là nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học. Bên cạnh đó, công tác thi đua, phát động phong trào thi đua của cơ quan,

44

các đoàn thể, công đoàn, đoàn thanh niên cần thường xuyên gắn liền với từng đợt, kỳ hoạt động kinh doanh quý năm. Song phải đánh giá kết quả thông báo đến toàn thể cán bộ nhân viên từ đó nhân điển hình tốt trong toàn chi nhánh.

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội

Để đạt được những định hướng đã đề ra, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội cần triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục những khó khăn tồn tại nêu trên, trong đó cần tập trung hơn vào việc triển khai các giải pháp sau:

3.2.1 Đẩy mạnh đa dạng hóa các hình thức huy động vốn

Hiện đại hóa, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ đang là xu thế phát triển tất yếu của các ngân hàng thương mại hiện nay nhằm duy trì quan hệ với các khách hàng

truyền thống và tiếp cận khách hàng tiềm năng. Việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua áp dụng các tiến bộ công nghệ hiện đại sẽ thu hút được nhiều khách hàng, tăng được nguồn vốn huy động, giúp ngân hàng có khả năng phân tán, hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Cụ thể, ngân hàng có thể đưa ra các hình thức nhận lãi khác nhau như nhận lãi trước, nhận lãi sau và nhận lãi mang tính định kỳ nhằm tăng sự lựa chọn cho khách hàng. Trong đó nhận lãi định kỳ có ý nghĩa thiết thực đối với đa số khách hàng gửi tiền lấy lãi để sử dụng như một

phần thu nhập.

Ngân hàng cần tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như mở sổ tiết kiệm với nhiều kỳ hạn, gửi tiết kiệm hưởng lãi bậc thang, tiền gửi tiết kiệm có khuyến

mại bảo hiểm, tiền gửi tiết kiệm trả lãi trước, tiền gửi tiết kiệm gửi góp, đồng thời ngân hàng chú trọng phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… để tăng cường vốn dân cư và vốn trung, dài hạn, đồng thời tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng. Tùy theo nhu cầu mà khách hàng lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mình.

3.2.2. Tiếp tục thực hiện cải thiện cơ cấu nguồn vốn, tăng tỷ trọng vốn trung, dài hạn.

Để tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn, giải pháp tốt nhất là ngân hàng nên thiết kế

những sản phẩm tiết kiệm dài hạn mới hay những sản phẩm tương tư như trái phiếu, kỳ phiếu VND hay ngoại tệ, các giấy tờ có giá dài hạn nhằm gia tăng sự lựa chọn cho khách hàng. Để nguồn vốn này đảm bảo tương đối tính ổn định về thời gian khai thác sử dụng thì ngân hàng nên quy định thời gian duy trì trước khi khách hàng được quyền thanh toán trước hạn, có thể ít nhất là nửa kỳ hạn. Nguồn vốn này giúp ngân hàng chủ động trong việc sử dụng vốn nhưng hiện tại lãi suất ngân hàng áp dụng cho các khoản

45

tiền gửi trên 12 tháng thấp hơn lãi suất áp dụng với các kỳ hạn ngắn hơn, thêm vào đó kỳ hạn quá dài làm cho người dân có tâm lý lo ngại về những biến động bất lợi không thể lường trước được, nên khách hàng sẽ lựa chọn những kỳ hạn ngắn hơn nhưng có

được sự chủ động hơn, lại được hưởng lãi cao hơn…Vì vậy, ngân hàng cần lưu ý không nên đưa ra các sản phẩm có kỳ hạn quá dài và ngân hàng nên đưa ra mức lãi suất hấp dẫn hơn và áp dụng tính lãi theo quý hay tháng cho vốn huy động dài hạn để khách hàng có thể yên tâm lựa chọn hình thức này.

Ngoài ra, chi nhánh cần khai thác tối đa tiềm năng huy động vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, bằng cách duy trì và mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội, nâng cao độ an toàn và nhanh chóng trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi để thu hút các tổ chức này

mở tài khoản tại chi nhánh.

3.2.3. Xây dựng chính sách lãi suất huy động linh hoạt, hợp lý

Lãi suất là một công cụ rất quan trọng để đẩy mạnh hay hạn chế nguồn vốn huy động và cũng là một trong những yếu tố rất khó khăn đặt ra cho ngân hàng trong việc xác định mức lãi suất hợp lý, vừa không quá cao vượt mức trần quy định cũng không quá thấp sẽ làm mất tính cạnh tranh. Mặc dù tại mỗi thời kỳ khác nhau thì mức lãi suất của ngân hàng đưa ra là khác nhau nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố hấp dẫn với khách

hàng, vừa giữ chân khách hàng truyền thống đồng thời vừa tìm kiếm thêm khách hàng mới. Khi hoạch định chính sách, ngân hàng cần đưa ra công cụ lãi suất thật hợp lý sao cho những đồng vốn huy động được sử dụng hiệu quả, đem lại kết quả cuối cùng là “có lời”. Ngân hàng không thể theo đuổi mục tiêu huy động thật nhiều vốn nhưng không có kế hoạch về một đầu ra ổn định, có khả năng sinh lời.

3.2.4. Mở rộng các dịch vụ ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng là một công cụ để chi nhánh khuyến khích khách hàng mở và

sử dụng tài khoản tại chi nhánh. Để thực hiện được chi nhánh cần cho các khách hàng hưởng các dịch vụ ưu đãi, thuận tiện như:

Đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, chi nhánh cần có chính sáh ưu đãi với họ trong quá trình sử dụng tài khoản như: khi khách hàng rút ngoại tệ ra

khỏi tài khoản, nếu muốn chuyển thành VND thì ngân hàng sẽ mua ngoại tệ với giá cao hơn giá Ngân hàng mua của khách hàng bên ngoài hoặc mua bằng giá bán ra, nhưng khách hàng phải trả phí (mức phí thấp). Với tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, Ngân hàng nên có chính sách ưu đãi với khách hàng về lãi suất.

Chi nhánh cần triển khai các hoạt động sau để đáp ứng được nhu cầu của khách

hàng:

Thứ nhất là bố trí bộ phận giao dịch viên phục vụ trả tiền cho khách hàng ngoài giờ

46

làm việc (dịch vụ trả tiền ngoài giờ).

Hiện nay, khách hàng muốn rút tiền tại chi nhánh phải đến trước 16h. Vì vậy khách hàng muốn rút tiền ngoài giờ sẽ không được thực hiện. Do đó chi nhánh nên bố chí bộ phận thanh toán việc làm ngoài giờ để khách hàng đến ngân hàng thấy thuận tiện hơn.

Thứ hai là lắp đặt thêm một số cây ATM ở những địa điểm công cộng, nơi có đông cán bộ công nhân viên, học sinh sinh viên…, Hiện tại trên địa bàn mới chỉ có 5 cây ATM. Việc lắp đặt thêm cây ATM đem lại sự tiện lợi, tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Ngân hàng cũng cần nghiên cứu để phát hành thêm thẻ ATM cho các đối tượng được trả lương qua thẻ, học sinh sinh viên sống xa gia đình…, đây là nguồn vốn huy

động từ tiền gửi không kỳ hạn với chi phí thấp, giúp tăng tỷ trọng của nguồn vốn này.

Bên cạnh các dịch vụ trên, chi nhánh nên mở các dịch vụ tư vấn như: Tư vấn mở, thanh toán L/C, tư vấn về các hoạt động đầu tư tài chính. Các hoạt động này một mặt

tạo cho ngân hàng nguồn thu nhập mặt khác, ngân hàng sẽ tìm kiếm được các khách hàng mới.

3.2.5. Củng cố, nâng cao uy tín, tạo lòng tin với khách hàng

Là chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, chi nhánh Hà Nội cũng đã khẳng định được vị thế nhất định trong lòng khách hàng. Trong bối cảnh trên địa bàn có ngày càng nhiều tổ chức tín dụng hoạt động, mức độ cạnh tranh để thu hút khách hàng là rất mạnh mẽ. Ngoài việc cạnh tranh về lãi suất huy động, đa dạng hóa

các hình thức huy động, mở rộng các dịch vụ ngân hàng thì chất lượng phục vụ khách hàng cũng là một yếu tố rất quan trọng để thu hút khách hàng đến với ngân hàng. Ngoài phương châm “nhanh chóng - chính xác - an toàn - hiệu quả”, ngân hàng phải đảm bảo tốt cơ sở vật chất để khách hàng có thể thoải mái khi đến ngân hàng, khi thực hiện yêu cầu hoặc trong thời gian chờ. Đặc biệt cần tổ chức bộ phận chăm sóc khách hàng, tạo cho khách hàng cảm giác được tôn trọng khi đến chi nhánh. Xây dựng văn hóa giao dịch riêng cho chi nhánh như: phong cách, thái độ văn minh, lịch sự của đội ngũ cán bộ nhân viên, có đồng phục riêng, mang nét đặc trưng của ngân hàng, để lại ấn

tượng tốt với khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng cũng chính là một cách quảng bá hiệu quả hình ảnh của ngân hàng, từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng mới.

3.2.6. Tăng cường chiến lược Marketing ngân hàng

Nhiệm vụ của hoạt động ngân hàng là thu hút được một khối lượng khách hàng lớn thuộc mỗi tầng lớp dân cư với thu nhập, tâm lý và sở thích khác nhau, nên việc ứng dụng các nguyên tắc của marketing trong quản lý quan hệ khách hàng có một ý nghĩa

47

quan trọng. Đó là chiến lược nhằm cân bằng được 2 lợi ích: lợi nhuận thu được và sự hài lòng tối đa của khách hàng. Vì vậy, để công tác marketing có hiệu quả chi nhánh cần thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi về các dịch vụ ngân hàng, các hình thức và chính sách huy động vốn, thu hút tiền gửi,…Tại một số điểm giao dịch, khách hàng sử dụng sản phẩm huy động vốn nhưng hầu hết đều chưa biết hết tiện ích của sản phẩm đó. Như vậy, trước hết cần đa dạng các loại tờ rơi, sách giới thiệu để

sẵn phía ngoài quầy giao dịch để khách hàng có thể đọc khi đến giao dịch.

Thứ hai, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, Internet…để khách hàng

biết đến các sản phẩm, dịch vụ mới của ngân hàng.

Thứ ba, ngân hàng có thể áp dụng phương pháp thuyết trình ở các doanh nghiệp, trường học… bằng việc thành lập các đội đặc biệt về giới thiệu sản phẩm của Ngân hàng, họ đi đến các doanh nghiệp, các trường đại học, cao đẳng… liên hệ, xin phép được thuyết trình về tiện ích của dịch vụ mà Ngân hàng đưa ra. Với phương pháp tiếp

cận trực tiếp khách hàng, Ngân hàng sẽ thu thập được thông tin về nhu cầu của khách hàng qua việc lấy ý kiến trực tiếp của họ về dịch vụ Ngân hàng. Từ đó, Ngân hàng sẽ có giải pháp cải tiến dịch vụ, mở rộng thị trường khách hàng.

3.2.7. Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Để chất lượng dịch vụ huy động vốn của chi nhánh có thể đáp ứng được các yêu cầu, chuẩn mực quốc tế, đòi hỏi chi nhánh phải không ngừng cải tiến, nâng cấp công nghệ, để thực sự trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhân viên ngân hàng. Lựa

chọn đúng công nghệ để ứng dụng trong hoạt động quản lý, hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển các hoạt động dịch vụ, tăng quy mô vốn huy động một cách vững chắc, quyết định hiệu quả vốn đầu tư.

Về hệ thống mạng thông tin, ngân hàng tiếp tục hoàn chỉnh mạng diện rộng, kết nối

trực tuyến mạng nội bộ của tất cả các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình. Mạng nội bộ cần được tiêu chuẩn hóa, thống nhất trong toàn bộ hệ thống và đảm bảo giao diện tốt với hệ thống thanh toán quốc gia.

Tiếp tục triển khai nối mạng thanh toán điện tử trực tiếp với khách hàng lớn nhằm

thu hút tiền gửi vãng lai và phát triển các dịch vụ, tiện ích đi kèm với các sản phẩm huy động vốn.

3.2.8. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên

Ngân hàng cần tiếp tục thực hiện tốt công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là đào tạo về nghiệp vụ và trình độ tin học nhằm khai thác tốt các chương trình hiện đại hóa, ứng dụng trong mảng nghiệp vụ huy động vốn. Ngoài ra ngân hàng cũng nên bổ sung và

48

thay thế số cán bộ có trình độ yếu kém, hoạt động thiếu hiệu quả. Đồng thời có kế hoạch bổi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý giỏi, đáp ứng được yêu cầu quản lý điều hành chặt chẽ của ngân hàng đã đề ra.

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

Từng bước hoàn thiện củng cố môi trường pháp lý lành mạnh; xây dựng đồng bộ các luật, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người đầu tư, cho các doanh nghiệp và

ngân hàng, đồng thời kiểm soát quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép thành lập và đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp đó, tránh gây ra tình trạng nợ quá hạn của các Ngân hàng thương mại do phía các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng; tạo môi trường tâm lý ổn định, thay đổi quan điểm của người dân đối với việc giữ tiền trong nhà, xoá bỏ tâm lý e ngại, thích tiêu dùng hơn tích luỹ của người dân, khuyến khích người dân thanh toán không dùng tiền mặt.

Cần quan tâm đến lợi ích của các ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng thương mại huy động nguồn vốn trung và dài hạn vì đây là nguồn rất quan trọng, tạo cơ sở vật chất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện giảm thuế lợi tức cho các ngân hàng.

Bảo đảm môi trường kinh tế ổn định, Chính phủ và Nhà nước cần có những biện pháp nhằm đảm bảo một môi trường kinh tế ổn định cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Nên có những bước đệm hoặc những giải pháp

thiết thực tháo gỡ những khó khăn gây ra khi có sự chuyển đổi, điều chỉnh cơ chế, chính sách liên quan đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách ngăn chặn hàng nhập lậu...

3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

Có chính sách hỗ trợ các ngân hàng tháo gỡ khó khăn trong vấn đề xử lý nợ xấu, đặc biệt có các giải pháp tháo gỡ, giải tỏa vốn vay ngân hàng; tạo điều kiện cho ngân hàng huy động được thêm nhiều nguồn vốn mới thông qua bảo lãnh của nhà nước khi

vay vốn.

Có chính sách khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, tạo điều kiện cho các khách hàng lĩnh vực này tiếp cận được nguồn vốn lãi suất thấp,

với thời gian phù hợp..

Hoàn thiện khung pháp lý đối với các hoạt động mua bán nợ, mua bán tài sản đảm bảo, huy động vốn, phát hành giấy tờ có giá đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng theo chủ

49

trương, định hướng của Chính phủ, lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại.

Có chính sách kích cầu tiêu dùng để khuyến khuyến người dân dùng hàng nội trên cơ sở thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm; Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, thu hồi được vốn tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Có chính sách trợ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực huy động vốn, xây dựng các phương pháp, hình thức huy động vốn khả thi - cơ sở cho các ngân hàng tiếp cận nguồn vốn mới được dễ dàng.

Phát triển các hình thức huy động vốn, tạo điều kiện giảm thiểu rủi ro cho các khách hàng khi vay vốn ngân hàng; Tăng cường công tác, phát triển các dịch vụ hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực có hiệu quả, gia tăng lợi nhuận.

3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình là cơ quan quản lý trực tiếp đối với chi nhánh Hà Nội. Do vậy, để giúp cho chi nhánh có thể tăng cường được nguồn vốn trung và dài hạn, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình cần có những chính sách cụ thể:

Ngân hàng cần cập nhật nhanh nhất mọi nguồn tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng để từ đó chắt lọc và có sự chỉ đạo kịp thời với các chi nhánh. Tuỳ vào tình hình hoạt động của mỗi chi nhánh mà ngân hàng có thể giao chỉ tiêu hoạt động.

Hỗ trợ công tác huy động vốn và các nghiệp vụ kinh doanh cho các chi nhánh cấp dưới, kịp thời có các văn bản làm căn cứ pháp lý và cơ sở nghiệp vụ để mở rộng các sản phẩm, dịch vụ.

Bổ sung lao động đảm bảo đủ biên chế để hoàn thành công việc, hạn chế tình trạng

quá tải, tạo thời gian cho cán bộ nhân viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn.

Tăng cường cơ sở vật chất cho các chi nhánh, hiện đại hóa trang thiết bị phục vụ

cho hoạt động kinh doanh của các chi nhánh.

Thường xuyên tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa các chi nhánh, thu thập ý kiến đóng góp, kiến nghị của các chi nhánh cấp dưới, từ đó đề ra các văn bản phù hợp thực tế hiện nay.

Hoàn thiện cơ chế khoán tài chính cho các chi nhánh thành viên, đây là động lực

quan trọng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các chi nhánh phát triển.

50

Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội cần căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể của chi nhánh về năng lực tài chính, về địa bàn hoạt động và con người để xác định, xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển kinh doanh hợp lý.

Đối với chiến lược huy động vốn, được xem là một trong những chiến lược quan trọng cấu thành nguồn vốn của Ngân hàng. Khi xây dựng, điều chỉnh chiến lược này, cần xác định những chỉ tiêu cụ thể, khoa học, cần đề ra những biện pháp thực hiện chặt chẽ, hữu hiệu, năng động và đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc trên, tức là phải

bám sát vào tình hình của Ngân hàng, của từng chi nhánh, các yếu tố thị trường…

Cùng với việc xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý mang tính lâu dài dựa trên nền tảng về khả năng tài chính, năng lực cán bộ công nhân viên… trong thời gian tới, chi nhánh cần thiết phải có những biện pháp đẩy mạnh và phát triển mạng luới các chi

51

nhánh, các đơn vị thành viên của mình nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý trên toàn hệ thống.

KẾT LUẬN

Là một chi nhánh lớn trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực tài trợ đầu tư, trong những năm qua chi nhánh Hà Nội đã từng bước làm tốt công tác huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, góp phần

đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thành công đó bước đầu khẳng định sự đúng đắn trong các chính sách chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình và Ban giám đốc chi nhánh Hà Nội.

Trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và nền kinh tế nói chung, ngoài những nỗ lực tìm tòi và phát triển các hình thức huy động mới có hiệu quả, chi nhánh cũng rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng trong việc tạo lập môi trường vĩ mô thuận lợi để chi nhánh thực hiện tốt nhiệm vụ cung ứng vốn cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh…

Trong bài báo cáo em đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết, thực trạng huy động vốn của chi nhánh để chỉ ra những thành công và hạn chế trong công tác huy động vốn, từ đó đưa ra một số đề xuất để nâng cao chất lượng huy động vốn hơn nữa cho chi nhánh.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của tập thể cán bộ nhân viên phòng Kế toán ngân quỹ và các phòng ban có liên quan tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội, đặc biệt em xin cảm ơn ThS Phạm Thị Bảo Oanh đã dành thời gian hướng dẫn em trong quá trình viết khóa luận. Dù đã rất cố gắng học hỏi và tìm hiểu nhưng do kiến thức còn hạn chế nên bài viết không thể tránh

52

khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đánh giá góp ý của cô.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Giáo trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê.

[2]. PGS.TS Phan Thị Cúc (12/2009), Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê. [3]. PGS.TS Mai Văn Bạn (2009), Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Đại học Thăng Long, NXB Tài chính. [4]. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2007), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân. [5]. Tài liệu tại Ngân hàng thương mại cổ phần - chi nhánh Hà Nội. [6]. Tài liệu tại thư viện trường Đại học Thăng Long. [7]. Website: www.abbank.com.vn trang web của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình. [8]. Website: www.vnexpress.net trang web Tin nhanh Việt Nam. [9].Website: www.vneconomy.vn trang web Thời báo kinh tế Việt Nam. [10]. Website: www.sbc.gov.vn trang web Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

53

[11].Website : www.banking.org.vn trang web Ngân hàng thương mại Việt Nam.