BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH HÓA VẬT LIỆU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI

Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành

: Th.s Nguyễn Thị Vân Nga : Đặng Vũ Minh : A16943 :Tài chính

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN Trước tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn với toàn thể Quý Thầy Cô

trong Khoa Quản lý trường Đại học Thăng Long, những người đã hết lòng truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại

trường, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Cô Nguyễn Thị Vân Nga đã giúp em

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới đã tạo điều kiện cho em được thực tập, nghiên cứu tại Quý

Công ty. Em xin cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc phòng Kế toán cũng như tại các bộ phận khác tại Công ty, dù công việc bận rộn nhưng đã nhiệt tình cung cấp cho em số

liệu và giải thích vướng mắc giữa lý thuyết và thực tế về các quy trình hoạt động của

Công ty trong suốt thời gian thực tế lấy số liệu tại Công ty.

Do năng lực và kinh nghiệm có hạn nên bài khóa luận của em còn nhiều hạn chế,

em mong các thầy cô góp ý để bài viết có thể hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Đặng Vũ Minh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác.Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Đặng Vũ Minh

MỤC LỤC PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP ................. 1

1.1. Vốn lƣu động trong doanh nghiệp ........................................................................ 1

1.1.1. Khái niệm về vốn lưu động trong doanh nghiệp ................................................. 1

1.1.2. Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp .................................................... 2

1.1.3. Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp ...................................................... 2

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động trong doanh nghiệp ........................ 5

1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh nghiệp ......................................... 7

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động ......................................................... 7

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp ..... 9

1.3. Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh

nghiệp ............................................................................................................................ 13

1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp.

....................................................................................................................................... 13

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

trong doanh nghiệp ...................................................................................................... 14

1.3.3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp ... 16

PHẦN 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG

TY TNHH HÓA VẬT LIỆU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI ..................... 19

2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

....................................................................................................................................... 19

2.1.1. Sơ lược về Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới............. 19

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển ....................................................................... 19

2.1.3. Sơ đồ bộ máy tổ chức .......................................................................................... 20

2.1.4. Chức năng, nhiêm vụ của từng bộ phận ........................................................... 20

2.1.5. Ngành nghề sản xuất kinh doanh ..................................................................... 21

2.1.6. Quy trình sản xuất kinh doanh .......................................................................... 22

2.1.7. Tình hình lao động của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ

mới ................................................................................................................................. 23

2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Hoá vật liệu

và ứng dụng công nghệ mới giai đoạn 2010-2012 ..................................................... 25

2.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010-2012 .... 25

2.2.2. Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công

nghệ mới năm 2010-2012 ............................................................................................. 29

2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty Hoá vật liệu

và ứng dụng công nghệ mới ........................................................................................ 35

2.3.1. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới ............................................................................................................... 35

2.3.2. Các chỉ số đánh giá quản lý tài sản ................................................................... 36

2.3.3. Các chỉ số đánh giá khả năng thanh toán ......................................................... 38

2.3.4. Các chỉ tiêu về hiệu quả sinh lời ........................................................................ 39

2.4. Đánh giá chung về tình hình sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH Hoá

vật liệu và ứng dụng công nghệ mới ......................................................................... 42

2.4.1. Những kết quả đạt được ..................................................................................... 42

2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân. ......................................................................... 43

2.5. Thuận lợi và khó khăn của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công

nghệ mới ....................................................................................................................... 44

2.5.1. Thuận lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn hiện nay ................................................................................................................................. 44

2.5.2. Khó khăn ............................................................................................................. 45

PHẦN 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU

ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH HÓA VẬT LIỆU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

MỚI ............................................................................................................................... 47

3.1. Môi trƣờng kinh doanh ....................................................................................... 47

3.2. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới ....................................................................................................................... 49

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới .................................................... 50

3.3.1. Chủ động trong công tác huy động và sử dụng vốn lưu động. ........................ 50

3.3.2. Tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh. ......................................... 53

3.3.3. Tổ chức tốt công tác tiêu thụ, thanh toán tiền hàng và thu hồi công nợ. ....... 55

3.3.4. Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích kinh tế. .......................... 56

3.3.5. Chú trọng phát huy nhân tố con người, đào tạo bồi dưỡng cán bộ. ................ 57

3.3.6. Hoàn thiện các chính sách của Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng

công nghệ mới ............................................................................................................... 58

3.4. Một số kiến nghị với cấp quản lý ........................................................................ 59

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 62

PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 63

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.1:Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

....................................................................................................................................... 20

Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất kinh doanh chung trong Công ty TNHH Hoá vật liệu và

ứng dụng công nghệ mới ............................................................................................... 22

Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của Công ty trong năm 2011 - 2012 .................................. 23

Bảng 2.3:Bảng cân đối kế toán ngày 31-12 của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới năm 2010-2012 ............................................................................ 29

Bảng 2.4: Bảng tỷ trọng tài sản, nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2010-2012 ............ 35

Bảng 2.5: Bảng đánh giá các chỉ số về các khoản phải thu ........................................... 36

Bảng 2.6: Bảng đánh giá các chỉ số về các khoản phải thu ........................................... 37

Bảng 2.7: Bảng đánh giá về khả năng thanh toán ......................................................... 38

Biểu đồ 2.1: Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán trong giai đoạn 2010-2012.... 38

Bảng 2.8: Bảng đánh giá về tỷ suất sinh lời .................................................................. 40

Biểu đồ 2.2: Các chỉ tiêu đánh giá tỷ suất sinh lời giai đoạn 2010-2012 ...................... 40

LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế trong nước vẫn đang trong

quá trình hồi phục sau khi trải qua đợt khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đây là thời điểm khó khăn cho tất cả các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ

khi các doanh nghiệp này phải rất vất vả mới có thể duy trì lợi nhuận và mở rộng sản

xuất kinh doanh, thậm chí là duy trì hoạt động vì nguồn vốn kinh doanh bị ảnh hưởng

rất nhiều do khủng hoảng. Nền kinh tế nước ta là nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và còn đang trong quá trình hoàn thiện nên có rất nhiều khác biệt so với

các nền kinh tế khác. Thực hiện sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, vốn của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trong giúp doanh nghiệp đủ khả năng

canh tranh và thức đẩy phát triển. Công tác quản lý sử dụng hiệu quả nguồn vốn bao

gồm nhiều khâu, nhiều phần hành khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ gắn bó

tạo thành một hệ thống quản lý hiệu quả.

Trong số đó, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động là một mắt xích

quan trọng không thể thiếu được. Bởi nó phản ánh tình hình biến động của thành

phẩm, quá trình tiêu thụ và xác định kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh

doanh. Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng công nghệ mới có lĩnh vực kinh

doanh rất đa dạng. Hiện nay có rất nhiều Công ty kinh doanh những dịch vụ và hàng

hóa cùng chủng loại nên Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng công nghệ mới gặp

phải sự cạnh tranh rất lớn.

Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế và những tồn đọng trong doanh nghiệp

mà em nhận thấy trong quá trình thực tập, em quyết định lựa chọn đề tài “Thực trạng

và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng công nghệ mới” làm khóa luận tốt ngiệp của mình

1. Tình hình nghiên cứu: Cho đến nay, đã có nhiều bài viết và nghiên cứu về vấn đề sử dụng vốn lưu động: Bài viết : Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp. Tác giả: TS.Nguyễn Thị Thu, Hoàng Hải Hạnh – Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái

Nguyên, 2012

Bài viết: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Tác giả: Trần Tất Đại, 2009 Tuy nhiên mỗi công ty hoạt động trong một lĩnh vực khác nhau lại có cách sử

dụng vốn lưu động khác nhau.Vì vậy từ nghiên cứu đối tượng cụ thể là loại hình Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng công nghệ mới để có cái nhìn tổng quát về các Công ty hoạt động theo lĩnh vực trên.

2. Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu về những cơ sở lý thuyết cơ bản về vốn lưu động trong doanh

nghiệp.

- Đánh giá thực trạng nguồn vốn lưu động tại Công ty TNHH hoá vật liệu và ứng

dụng công nghệ mới trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012.

- Nêu ra những thành tựu và hạn chế về vấn đề sử dụng nguồn vốn lưu động tại

Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động

tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng: nguồn vốn lưu động tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng

công nghệ mới.

- Phạm vi: Nguồn vốn lưu động tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng

công nghệ mới từ năm 2010 đến năm 2012

4. Phƣơng pháp nghiên cứu: -Thu thập thông tin qua việc lấy số liệu bản cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh, các sổ chi tiết, các hợp đồng. . . và đặc điểm hoạt động tại

Công ty.

-Thống kê-Phân tích – tính toán-So sánh

5. Kết cấu của khoá luận tốt nghiệp: Ngoài lời mở đầu, khóa luận tốt nghiệp được chia thành ba phần

Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn lƣu động và hiệu quả sử dụng

vốn lƣu động tại doanh nghiệp

Phần 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH hoá

vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

Phần 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công

ty TNHH hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới.

PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Vốn lƣu động trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về vốn lưu động trong doanh nghiệp

Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào

quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái

sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh

nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ

sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển

dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.

Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các

tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu

động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh

nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất

và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang. . . đang trong

quá trình dự trữ sản xuất, chế biến. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản

phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán,

các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước. . . Trong quá trình sản xuất kinh

doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay

thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành

liên tục và thuận lợi.

Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ

sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn

lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các

hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông.

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm. Trong cùng một

lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và

1

tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó,

khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ

khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư,

cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản

ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu

thông sản phẩm có hợp lý không?

Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt trong sản xuất kinh doanh như mua sắm, dự trữ sản xuất

và tiêu thụ của doanh nghiệp.

1.1.2. Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp

Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của các doanh

nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ

sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên

lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động.

Nếu không có vốn lưu động thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị

đình trệ, từ đó có thể dẫn đến phá sản. Vốn lưu động có hai đặc điểm:

Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao

mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá

trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm.

Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên

thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư

hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi

chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển.

1.1.3. Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận trọng yếu của công tác quản lý hoạt

động tài chính của doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ. Do vốn lưu động có rất

nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất. Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

2

Phân loại Vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình

sản xuất kinh doanh:

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành ba

loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật

liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở

dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,

vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý. . . ); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn. . . ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ

ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng. . . )

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng

khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu

động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện: Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành các loại sau:

- Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ

thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm. . .

- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi

ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn.

- Các khoản phải thu, phải trả:

+ Các khoản phải thu: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách

hàng và các khoản phải thu khác.

+ Các khoản phải trả: là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho

khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước

hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.

- Vốn lưu động khác: bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố,

ký quỹ, ký cược. . .

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự

trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn: Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các

khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố định.

3

- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại

hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội

dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp

tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong Công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong

doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp. . .

- Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương

mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các

khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản

nợ này trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên với các khoản nợ sẽ còn được phân chia làm hai là: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

- Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình

thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết

định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài

chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Phân loại Vốn lưu động theo nguồn hình thành: Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi các nguồn

vốn sau:

- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá

trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên

doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng

tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.

- Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại hoặc tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.

Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó

doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.

4

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng

đến dòng vốn lưu động của đơn vị đó có thể kể đến như:

- Chu kỳ sản xuất: Đây là một trong những yếu tố đầu tiên gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn

của doanh nghiệp. Nếu như chu kỳ sản xuất ngắn, thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận, vòng quay của đồng vốn sẽ tạo ra nhiều

cơ hội cho doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngược lại nếu như chu kỳ sản xuất kinh doanh kéo dài dẫn tới việc đồng vốn sẽ bị ứ

đọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Kỹ thuật sản xuất: Cái đầu tiên mà người tiêu dùng có thể cảm nhận được về một đơn vị kinh doanh,

doanh nghiệp thì đó chính là sản phẩm hay công nghệ của doanh nghiệp. . . không phải

ngẫu nhiên mà họ quan tâm tới vấn đề này vì đây chính là chất lượng của sản phẩm,

dịch vụ mà khách hàng nhận được.

Nếu như kỹ thuật sản xuất giản đơn, thì doanh nghiệp có điều kiện để sử dụng

máy móc trang thiết bị đã lạc hậu tuy nhiên điều này khiến cho chất lượng công trình

cũng như các dự án tiềm năng sẽ là điều khiến cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn

trong kinh doanh. Tuy nhiên lợi thế của doanh nghiệp là tiết kiệm được vốn. . . nhưng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh cũng như các yêu cầu của khách hàng

càng cao do chất lượng công trình ngày càng phức tạp. Do vậy, doanh nghiệp dễ dàng

tăng các khoản thu, lợi nhuận trên vốn cố định nhưng khó thể duy trì được điều này lâu

dài.

Nếu như kỹ thuật cũng như trang thiết bị máy móc luôn được đầu tư đổi mới thì

doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn lớn. Tuy nhiên điều này sẽ tạo ra lợi thế

trong cạnh tranh trong tương lai nhưng đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân lành nghề,

chất lượng công trình sẽ được đảm bảo dẫn tới lợi nhuận trên vốn cố định tăng.

- Đặc điểm của sản phẩm: Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chứa đựng các chí phí cho sản phẩm. Có thể

thấy sản phẩm của Công ty là các công trình xây dựng cho nên khi công trình được hoàn thành được nghiệm thu thì sẽ mang lại doanh thu cho Công ty.

Nếu như sản phẩm là tư liệu tiêu dùng nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ như: rượu, bia, thuốc lá. . . thì vòng đời của nó thường ngắn, tiêu thụ nhanh và qua đó sẽ

mang lại nguồn vốn cho doanh nghiệp nhanh. Tuy nhiên ở đây sản phẩm của Công ty là những công trình có mức độ đầu tư cao cũng như chất lượng công trình lâu. Vậy đòi hỏi Công ty phải có những phương pháp thi công cũng như máy móc hiện đại nên việc

thu hồi vốn sẽ lâu hơn.

5

- Yếu tố thị trường: Yếu tố thị trường của Công ty là rất rộng và nó sẽ có tác động tới hiệu quả sử

dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu như các hợp đồng được liên tục ký kết thì đây sẽ là

một trong những yếu tố thuận lợi giúp Công ty mở rộng kinh doanh, huy động vốn để

đầu tư tốt hơn cũng như nâng cao được khả năng quay vòng vốn. Bên cạnh đó, với mỗi

doanh nghiệp thì lại có đặc điểm ngành khác nhau từ đó mà cùng một yếu tố có tính chất như nhau tại cùng thời điểm nhưng với từng Công ty lại có ảnh hưởng khác nhau,

đó gọi là môi trường kinh doanh từng ngành.

- Trình độ đội ngũ cán bộ và công nhân viên: Có thể nhận ra vai trò của ban lãnh đạo của Công ty trong việc điều hành và ra quyết định trong kinh doanh. Sự điều hành cũng như sử dụng có hiệu quả vốn thể hiện

nắm bắt các cơ hội và đưa ra biện pháp kịp thời nhằm đem lại sự tăng trưởng và phát

triển của Công ty.

Ngay từ đầu các Công ty cần phải coi trọng vấn đề nguồn nhân lực vậy nên việc

công nhân luôn được bồi dưỡng và đào tạo cho cán bộ công nhân viên trong Công ty

nhằm nắm bắt được với các công nghệ, trang thiết bị máy móc hiện đại được Công ty

thực hiện rất tốt. Điều này tạo ra sự đồng bộ giữa máy móc và nhân lực nó sẽ thúc đẩy

năng suất lao động cũng như hiệu quả trong kinh doanh. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo

Công ty cũng phải có các chính sách nhằm khuyến khích người lao động như: tăng lương, thưởng vượt năng suất. . . hay phạt nếu không hoàn thành kế hoạch được giao.

- Hoạt động tổ chức kinh doanh: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn cũng như hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp phải trải qua một số khâu cơ bản như:

Khâu chuẩn bị cho kinh doanh: có thể đây là khâu quyết định tới quá trình hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì tại khâu này các hợp đồng kinh doanh được

ký kết và tại khâu này mọi vật liệu hay thời hạn của hợp đồng đã được phê duyệt. Một

doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả là doanh nghiệp đã xác định được thời hạn cũng như lượng vốn phù hợp với hợp đồng. Ngoài ra để đảm bảo cho chu kỳ hoạt động kinh

doanh không bị gián đoạn thì doanh nghiệp phải đảm bảo cho mọi vật tư hàng hoá, lượng vốn cần thiết phải được đảm bảo.

Khâu sản xuất kinh doanh: Đây là khâu quyết định tới sản phẩm của Công ty vì trước khi thực hiện khâu này thì mọi thứ đã được chuẩn bị từ khâu trước. Tuy nhiên

đây là khâu mà mọi hoạt động của nó đều liên quan tới chất lượng công trình vì vậy cần có các biện pháp thích hợp để giám sát cho tốt công đoạn này.

6

Khâu cuối cùng là khâu hoàn thành và bàn giao sản phẩm: Đây là khâu mà chất lượng của sản phẩm đã được tính toán cụ thể và yêu cầu là phải đẩm bảo như cam kết

ban đầu. Nếu doanh nghiệp không đảm bảo được khâu này thì nó sẽ làm cho khả năng

thu hồi vốn của doanh nghiệp và tái sản xuất sẽ không theo kế hoạch đã đặt ra.

- Các nhân tố tác động vào hoạt động sản xuất kinh doanh: Ngoài các nhân tố trên thì còn rất nhiều nhân tố khác tác động tới hiệu quả sử

dụng vốn của doanh nghiệp.

- Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Có thể nhận thấy vai trò của nhà nước

trong việc điều tiết nền kinh tế bằng các chính sách vĩ mô, nó có một phần tác động

không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Cụ thể hơn là một số chính sách của nhà nước về vay vốn cũng như giải ngân vốn đối với các công trình cũng như

các dự án, các chính sách bảo hộ các loại nguyên liệu hay bảo hộ và khuyến khích đổi

mới các trang thiết bị máy móc, chính sách thuế, lãi suất. . . Bên cạnh đó một số quy

định của Nhà nước về các phương hướng phát triển cũng như định hướng phát triển

trong tương lai của một số ngành nghề hay các vấn đề liên quan đến kế hoạch kinh tế.

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: Trong điều kiện hiện nay, khoa học phát triển với

tốc độ chóng mặt, thị trường công nghệ biến động không ngừng. Điều này tạo ra sự

chênh lệch giữa các quốc gia là rất lớn, tuy nhiên đây có thể là điều kiện để các doanh

nghiệp áp dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh mặt khác nó tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt. Do vậy, doanh nghiệp khi đầu

tư vào các tiến bộ kỹ thuật cũng cần chú ý vào khả năng sử dụng của nó và phải tính

đến hao mòn vô hình do phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật.

- Môi trường tự nhiên: Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp

như khí hậu, sự thay đổi của môi trường. . . cũng như các điều kiện làm việc trong môi

trường tự nhiên phù hợp sẽ tạo ra năng suất và hiệu quả công việc.

1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất. Do vậy các

nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu

7

quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình

độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm

mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của vốn chủ sở hữu.

Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn … Nó phản ánh quan hệ

giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ

hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiên

nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điêù kiện

quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn rỗi

mà không sử dụng, không sinh lời.

- Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.

- Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai mục

đích, không để vốn bị thất thoát do buông lỏng quản lý.

Ngoài ra, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu

điểm của doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng vốn. Có hai phương pháp để phân

tích tài chính cũng như phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, đó là

phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ:

+ Phương pháp so sánh:

Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh được

của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và

đơn vị tính …) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được

chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số

bình quân, nội dung so sánh bao gồm:

a) So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong thời gian tới.

b) So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của

doanh nghiệp.

8

c) So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay

xấu, được hay chưa được.

d) So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,

so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và

số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.

+ Phương pháp phân tích tỷ lệ:

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính.

Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định

mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các

nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ

về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại

bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi

trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn những

nhóm chỉ tiêu khác nhau. Để phục vụ cho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp người ta thường dùng một số các chỉ tiêu mà ta sẽ trình bày cụ thể trong

phần sau.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu tài sản nguồn vốn

+ Tỷ trọng tài sản ngắn hạn (TSNH)

Tỷ trọng tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Tổng tài sản Là tỷ số đánh giá tỷ trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản của

doanh nghiệp

+ Tỷ trọng tài sản dài hạn

Tỷ trọng tài sản dài hạn = Tài sản dài hạn Tổng tài sản Tỷ số này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị tài sản cố

định (TSCĐ) hiện tại của doanh nghiệp, cho thấy tỷ trọng TSCĐ đơn vị đang quản lý sử dụng so với toàn bộ tài sản. Chỉ tiêu này càng cao, phản ánh quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp ngày càng được tăng cường, Năng lực sản xuất của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, đầu tư tài chính của doanh nghiệp ngày càng cao.

+ Tỷ trọng nợ phải trả

Tỷ trọng nợ phải trả = Nợ phải trả Tổng nguồn vốn

9

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ,

chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ

tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy

tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số

này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.

+ Tỷ trọng vốn chủ sở hữu

Tỷ trọng vốn chủ sở hữu= Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này thể hiện mức độ tự chủ của doanh nghiệp về mặt tài chính, là tỷ lệ

giữa vốn chủ sở hữu (VCSH) so với tổng vốn. Tỷ số này càng cao càng thể hiện khả

năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt.

Theo tổng kết, tùy theo quy mô của doanh nghiệp lớn hơn 55% nhỏ hơn 75% là hợp

lý.

- Nhóm chỉ tiêu quản lý tài sản

+ Hệ số liên quan đến các khoản phải thu

Tốc độ luân chuyển khoản phải thu vừa thể hiện khả năng luân chuyển khoản

phải thu, khả năng thu hồi nợ và dòng tiền thanh toán. Công thức tính:

Số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần Khoản phải thu bình quân

Kỳ thu tiền bình quân = Số ngày trong kỳ (360) Số vòng quay khoản phải thu Số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì số ngày một vòng quay càng nhỏ

thể hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ nhanh, hạn

chế bớt vốn bị chiếm dụng để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp

- có thuận lợi về nguồn tiền thanh toán. Ngược lại số vòng quay nợ phải thu càng nhỏ

và số ngày một vòng quay càng thì tốc độ luân chuyển khoản phải thu càng chậm, khả năng thu hồi vốn chậm, gây khó khăn trong thanh toán của doanh nghiệp và nó có thể

dẫn đến những rủi ro cao hơn về khả năng không thu hồi được nợ.

+ Hệ số liên quan đến luân chuyển hàng tồn kho Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản dự trữ ngắn hạn để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho được

thể hiện qua 2 chỉ tiêu sau:

Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Giá trị tồn kho bình quân

Thời gian tồn kho bình quân = Số ngày trong kỳ (360)

10

Số vòng quay hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần mà hàng tồn kho bình quân được bán

trong kỳ. Thời gian tồn kho bình quân đo lường số ngày hàng hóa nằm trong kho trước

khi bán ra.

+ Kỳ luân chuyển vốn lưu động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn lưu động không ngừng vận động nó lần lượt mang hình thái khác nhau, như: tiền, nguyên vật liệu, sản

phẩm dở dang, thành phẩm, và qua tiêu thụ sản phẩm nó trở thành hình thái tiền tệ

nhằm đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Khả

năng luân chuyển vốn lưu động chi phối trực tiếp đến vốn dự trữ và vốn trong thanh

toán của doanh nghiệp. Khả năng luân chuyển được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

Số vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần vốn lưu động bình quân

Thời gian tồn kho bình quân = Số ngày trong kỳ (360) Số vòng quay vốn lưu động

Số vòng quay vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá

chất lượng công tác sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn và trong cả quá trình sản

xuất kinh doanh. Số vòng quay vốn lưu động càng lớn hay số ngày của một vòng qua

càng nhỏ sẽ góp phần tiết kiệm tương đối vốn cho sản xuất.

- Nhóm chỉ tiêu quản lý nợ

+ Số lần thu nhập trên lãi vay

Số lần thu nhập trên lãi vay = Lợi nhuận ròng Chi phí lãi vay

Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh toán

trong vòng 1 năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao hay thấp nếu

chỉ tiêu này xấp xỉ =1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan.

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

+ Khả năng thanh toán ngắn hạn

Khả năng thanh toán ngắn hạn= Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh toán

trong vòng 1 năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao hay thấp nếu chỉ tiêu này xấp xỉ =1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan.

11

+ Khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán tức nhanh= Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh là tỷ số đánh giá khả năng thanh toán của một doanh

nghiệp bằng các tài sản ngắn hạn không kể đến hàng tồn kho hoặc là sự phụ thuộc của

doanh nghiệp đó vào hàng tồn kho để thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn.

+ Khả năng thanh toán tức thời

Khả năng thanh toán tức thời= Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn

Thực tế cho thấy, tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả

quan, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán công

nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh

toán. Tuy nhiên, nếu tỷ suất này quá cao lại phản ánh một tình trạng không tốt vì vốn

bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

- Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sinh lời

+ Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời trên tài sản = Lợi nhuận ròng Tổng Tài sản

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một

đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, nó cho biết một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.

+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng

vốn của người quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

+ Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS)

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần = Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng giữa lợi nhuận ròng và các chi phí trong hoạt động kinh doanh. Tỷ trọng này còn cho ta biết cứ 1 đồng doanh thu sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.

Nhận xét: Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác như tài sản cố định, tài sản lưu động. Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới đo lường hiệu quả sử

12

dụng của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp đó là vốn cố định và vốn lưu động.

1.3. Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh nghiệp

1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp.

Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp buộc phải có sự chuyển mình nhằm

đáp ứng được các vấn đề của xã hội đặt ra nếu muốn tồn tại và phát triển. Cạnh tranh

là quy luật tất yếu của thị trường, để tồn tại và phát triển nhằm đem lại sản phẩm, dịch

vụ tốt hơn với mức giá hợp lý đến với người tiêu dùng thì các doanh nghiệp cần có sứ ép cạnh tranh. Nếu một đơn vị không có sức ép cạnh tranh thì đơn vị đó sẽ không cần

đổi mới phương tiện, máy móc trang thiết bị cũng như phương pháp quản lý từ đó lâu

dài thì sẽ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Trong kinh doanh, sự

đổi mới về trang thiết bị và phương pháp quản lý sẽ là điều kiện thuận lợi để hạ giá

thành cũng như tăng chất lượng của sản phẩm và tăng giá trị tài sản chủ sở hữu. Bởi

vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng của doanh nghiệp.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp.

Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề cao tính an

toàn, đặc biệt là an toàn tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao

khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ cũng như khả năng thanh toán của doanh

nghiệp được đảm bảo. Điều này sẽ khiến cho doanh nghiệp có đủ năng lực để phục vụ

cho hoạt động kinh doanh.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là điều kiện để doanh nghiệp tham gia vào quá

trình cạnh tranh trên thị trường. Để đáp ứng các yêu cầu về sản lượng cũng như đổi

mới các trang thiết bị, máy móc hiện đại. . . doanh nghiệp cần có đủ vốn cũng như

tiềm lực của mình.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy

tín của Công ty trên thương trường. Bởi vì trong quá trình hoạt động kinh doanh thì việc doanh nghiệp có được chỗ đứng trên thị trường thì sẽ có nhiều khả năng mở rộng hoạt động sản suất kinh doanh cũng như tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Điều này sẽ làm cho năng suất của doanh nghiệp sẽ ngày càng được nâng cao và

đời sống của cán bộ công nhân viên sẽ được nâng cao. Điều này sẽ tạo ra động lực cho nền kinh tế cũng như đóng góp cho nhà nước một khoản ngân sách đáng kể.

Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những

mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà còn ảnh hưởng

13

tới nền kinh tế và xã hội. Do vậy doanh nghiệp luôn phải tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

- Các nhân tố có thể lượng hóa

Đó là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt lượng. Các nhân tố này chúng ta có thể dễ dàng

thấy qua các chỉ tiêu như: doanh thu thuần, hao mon vô hình, rủi ro, vốn lưu động bình

quân trong kỳ. Khi xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này tới hiệu quả sử dụng vốn

lưu động chúng ta giả sử các nhân tố khác không thay đổi

Để làm giảm tác động của các nhân tố này, đòi hỏi nhà quản trị tài chính doanh

nghiệp quản lý vốn lưu động một cách có hiệu quả. Vì vốn lưu động có ba thành phần

chính là: tiền mặt, dự trữ và các khoản phải thu nên phương pháp này tập trung vào

quản lý ba đối tượng trên:

- Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng. Việc

quản lý tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý chứng khoán thanh khoản cao

bởi vì việc chuyển từ tiền mặt sang chứng khoán thanh khoản cao hoặc ngược lại từ

chứng khoán thanh khoản cao sang tiền mặt là một việc dễ dàng, tốn kém ít chi phí.

Doanh nghiệp không nên giữ quá nhiều tiền mặt tại quỹ tài chính, vì vậy khi có nhu cầu đột xuất về tiền mặt thì doanh nghiệp có thể đi vay ngắn hạn tại các ngân

hàng. Việc này tốt hơn so với việc bán chứng khoán, vì nếu cần tiền trong thời gian

ngắn mà bán chứng khoán là không có lợi. Trong trườnghợp này để tối đa hoá doanh

lợi dự kiến, doanh nghiệp nên điều chỉnh việc giữ tiền

Tóm lại việc lựa chon quản lý tiền mặt như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào

trình độ quản lý, xem xét thực trạng hoạt động của doanh nghiệp của các nhà quản trị

tài chính

- Quản lý dự trữ: dự trữ là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là nhân tố

đầu tiên, cần thiết cho quan trọng sản xuất kinh doanh, vì thế việc quản lý dự trữ có hiệu quả là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Mức dự trữ vật tư hợp

lý sẽ quyết định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh gián đoạn gây ra nhiều hậu quả tiếp theo như mất thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

Có nhiều cách khác nhau để xác định mức dự trữ tối ưu. Theo phương pháp cổ điển (mô hình đặt hàng hiệu quả nhất) EQQ, mô hình này dựa trên giả định những lần đặt hàng hoá là bằng nhau.

14

Điểm đặt hàng lại: về lý thuyết ta giả định khi hết hàng mới nhập kho hàng mới. Nhưng thực tế hầu như không bao giờ như vậy, nếu đặt hàng quá sớm sẽ làm tăng chi

phí lưu kho vì thế cần xác định lại điểm đặt hàng mới

Thời điểm đặt hàng mới = Số lượng nguyên vật liệu sử dụng hàng ngày * Độ dài

thời gian giao hàng

- Quản lý các khoản phải thu: trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp muốn bán được hàng thì phải áp dụng nhiều chính sách, biện pháp để lôi kéo khách hàng đến

với mình. Chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu không thể thiếu

đối với doanh nghiệp. Vì chính sách tín dụng thương mại có những mặt tích cực và

tiêu cực nên nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải phân tích, nghiên cứu và ra những quyết định xem có nên cấp chính sách tín dụng thương mại cho những đối

tượng khách hàng hay không. Đó là việc quản lý các khoản phải thu. Nội dung của

công tác quản lý các khoản phải thu là:

Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng xem khách hàng có những điều kiện

cần thiết để được hưởng tín dụng thương mại hay không thì chúng ta còn phải tiến

hành phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Khi phân tích khả năng tín dụng của

khách hàng người ta thường dùng những chỉ tiêu tín dụng sau:

+ Phẩm chất, tư cách tín dụng nói nên tinh thần trách nhiệm của khách hàng

trong việc trả nợ.

+ Vốn: tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh tài chính của khách hàng.

+ Năng lực trả nợ: dựa trên việc đánh giá các chỉ tiêu thanh toán và bảng dự trữ

ngân quỹ của họ.

+ Thế chấp: các tài sản mà khách hàng sử dụng để đảm bảo cho các khoản nợ

- Các nhân tố phi lượng hóa

Là những nhân tố mang tính định tính và tác động của chúng đối với hiệu quả sử

dụng vốn là không thể tính toán được. Các nhân tố này bao gồm các nhân tố khách

quan và các nhân tố chủ quan

Các nhân tố khách quan là những nhân tố như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước đối với lĩnh vực

doanh nghiệp đang hoạt động, thị trường và sự tăng trưởng nền kinh tế. Các nhân tố này có một ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn như với chính sách tài chính kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp với vai trò tạo hành lang an toàn để các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo sự phát triển

cân đối giữa các ngành kinh tế của cả nước. Nhà nước có thể khuyến khích, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một số ngành kinh doanh bằng những công cụ kinh tế của mình. Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp.

15

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội bộ doanh nghiệp nó tác động trực tiếp đến việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và vốn

kinh doanh nói chung. Các nhân tố đó là trình độ quản lý vốn kinh doanh của những

nhà điều hành doanh nghiệp, trình độ tổ chức trình độ quản trị nhân sự và trình độ tổ

chức quá trình luân chuyển hàng hoá. Đó là các nhân tố quan trọng nhất đối với doanh

nghiệp. Nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải biết tổ chức, sắp xếp mọi thứ một cách hợp lý, chặt chẽ và khoa học để mọi công việc diễn ra nhịp nhàng, ăn khớp và

tránh được lãng phí. Có như vậy mới đảm bảo được hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu

động của doanh nghiệp, chúng ta có một cái nhìn khái quát hơn để đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.3.3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp

khác đều bình đẳng trước pháp luật, phải đối mặt với cạnh tranh, hoạt động vì mục tiêu

lợi nhuận, tự chủ về vốn. Do đó, việc nâng cao sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói

chung và vốn lưu động nói riêng là vấn đề quan trọng và cần thiết. Để sử dụng vốn lưu

động có hiệu quả các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Thứ nhất, phải xác định chính xác số vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn lưu động đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho hoạt

động sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đồng thời tránh tình trạng ứ đọng vốn, thúc

đẩy vốn lưu động luân chuyển nhanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ hai, lựa chon hình thức thu hút vốn lưu động. Tích cực tổ chức khai thác triệt

để các nguồn vốn lưu động bên trong doanh nghiệp, vừa đáp ứng kịp thời vốn cho nhu

cầu vốn lưu động tối thiểu cần thiết một cách chủ động, vừa giảm được một khoản chi

phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Tránh tình trạng vốn tồn tại dưới hình thái tài sản

không cần sử dụng, vật tư hàng hoá kém phẩm chất …. mà doanh nghiệp khác lại phải

đi vay để duy trì sản xuất với lãi suất cao, chịu sự giám sát của chủ nợ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ ba, trước khi quyết định đầu tư doanh nghiệp cấn phải cân nhắc kĩ nguồn tại trợ vốn đầu tư, quy trình công nghệ, tình hình cung ứng nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để đảm bảo chi phí sử dụng vốn đầu tư là thấp nhất doanh nghiệp phải xem xét sự quyết định đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến kết cấu vốn sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tốt hay xấu đến công tác tổ chức và sử vốn lưu động của doanh nghiệp.

Thứ tư, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

thể hiện bằng hai chỉ tiêu là số vòng quay vốn lưu động trong kỳ và kỳ luân chuyển

16

bình quân của vốn lưu động. Số vòng quay lưu động trong kỳ được tính toán trên cơ sở mức luân chuyển vốn lưu động và số vốn lưu động là trên cơ sở mở rộng quy mô sản

xuất kinh doanh tạo điều kiện tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm, sẽ dẫn tới tăng tổng

mức luân chuyển vốn lưu động.

Như đã phân tích ở phần trước, khi qui mô sản xuất kinh doanh tăng lên thì có

thể không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc có thể tăng thêm nhưng không nhất thiết tốc độ tăng vốn lưu động phải bằng với tốc độ tăng kinh doanh thu tiêu thụ. Điều đó có

nghĩa là lượng vốn lưu động tăng thêm không chỉ gắn liền với việc tănh doanh thu tiêu

thụ của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc đáng kể vào khả năng kinh doanh của doanh

nghiệp và tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp.

Để tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, sử dụng vốn tiết kiệm cần phải thực

hiện tốt những biện pháp về các mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

thanh toán với người mua người bán. Hay nói cách khác, doanh nghiệp cần phải sử

dụng hợp lý, tiết kiệm vốn lưu động ở tất cả các khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông.

Tác dụng của các thành phần vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh tuy

không giống nhau, nhưng có thể xác định một số phương pháp tăng tốc độ luân chuyển

vốn lưu động thông dụng nhất trong tất cả các doanh nghiệp.

+ Phương hướng chủ yếu để tăng tốc độ luân chuyển vốn trong lĩnh vực sản xuất

và rút ngắn chu kỳ sản xuất. Do đó những biện pháp nhằm rút ngắn chu kỳ sản xuất là những biện pháp đẩy nhanh việc luân chuyển vốn lưu động trong khâu sản xuất. Muốn

vậy doanh nghiệp phải có biện pháp rút ngắn thời gian làm việc trong quy trình công

nghệ ở các mức cho phép và hạn chế tới mức thấp nhất thời gian ngừng việc do các

nguyên nhân khác nhau.

+ Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong lĩnh vực lưu thông: Thời gian luân

chuyển vốn trong khâu lưu thông về cơ bản phụ thuộc vào cách tổ chức những hoạt

động tiêu thụ và mua sắm. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh

nghiệp phải luôn phấn đấu để rút ngắn thời gian luân chuyển tới mức tối thiểu. Khi xác

định vốn thành phẩm phải nghiên cứu kỹ thị trường và khả năng sản xuất tối đa của doanh nghiệp. Vốn thành phẩm nằm trong giai đoạn cuối cùng của quá trình luân

chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp, nếu quản lý không tốt khâu nào sẽ làm cho kết quả tăng tốc độ luân chuyển vốn và tiết kiệm vốn ở các khâu khác bị ảnh hưởng, từ đó ảnh hưởng tới kết quả tăng tốc độ luân chuyển chung của vốn lưu động của doanh nghiệp. Muốn cho công việc trong lưu thông theo đúng kế hoạch thì phải hoàn thành

kế hoãch về số lượng, chất lượng sản phẩm cũng như chủng loại sản phẩm. Không có được điều kiện ấy thì việc tiêu thụ sản phẩm không tiến hành được theo kế hoạch và dẫn đến hậu quả là vốn lưu động luân chuyển chậm. Vốn lưu động trong khâu lưu

thông luân chuyển được thể hiện ở chỗ nó chuyển sang hình thái tiền tệ rồi tiếp tục

17

luân chuyển phục vụ cho quá trình tái sản xuất. Vốn chuyển vào lưu thông phải trở về sản xuất càng nhanh càng tốt, đó là điều mỗi doanh nghiệp đều quan tâm.

Thứ năm, làm tốt công tác thanh toán công nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro trong

kinh doanh. Doanh nghiệp cần chủ động trong công thanh toán công nợ, thanh toán

tiền hàng, hạn chế tình trạng bán hàng không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng làm

phát sinh nhu cầu vốn cho sản xuất dẫn đến doanh nghiệp phải đi vay ngoài kế hoạch làm phát sinh chi phí sử dụng vốn lẽ ra không có(nếu như thanh toán tốt), đồng thời

vốn bị chiếm dụng còn là một rủi ro khi trở thành nợ khó đòi làm thất thoát vốn lưu

động của doanh nghiệp.

Thứ sáu, tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cán bộ quản lý tài chính. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp có hiệu quả cao, tình trạng sử dụng vốn hợp lý tiết kiệm thì bến cạnh

những điều kiện về trình độ công nghệ của máy móc thiết bị, về cơ cấu sản phẩm được

thị trường chấp nhận ……còn phải kể đến một vấn đề quan trọng là trình độ nghiệp vụ

của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý tài chính. Nếu có đủ các điều kiện khác

mà không làm tốt công tác quản lý thì việc sử dụng vốn lưu động cũng không mang lại

hiệu quả cao. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý tài chính phải năng động nhạy bén với

thị trường, huy động linh hoạt các nguồn vốn có lợi nhất.

Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp. Trong thực tế, do các doanh nghiệp thuộc những

ngành nghề kinh doanh khác nhau nên mỗi doanh nghiệp phải căn cứ vào những biện

pháp chung để từ đó đề ra cho doanh nghiệp mình những biện pháp cụ thể, có tính khả

thi nhằm nâng cao hiệu quả vốn lưu động của mình.

18

PHẦN 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG

TY TNHH HÓA VẬT LIỆU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI

2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới 2.1.1. Sơ lược về Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

Tên Công ty : Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới.

: 213 Phố Kim ngưu, Phường Thanh Lương-Quận Hai Bà Trưng

Trụ sở chính – Thành phố Hà Nội.

Điện thoại : 04-22821863

Xưởng SX : Cụm Công nghiệp Hà Bình – Thường Tín – Hà Nội.

Điện thoại Fax : 04-33760493 : 04-36412654

Mã số thuế : 0101164004

Giấy phép kinh doanh số 0103036373 ngày 08/4/2009 do Sở kế hoạch đầu tư

thành phố Hà Nội cấp (cấp lần thứ 5).

Vốn điều lệ của Công ty khi thành lập là 800.000.000 VNĐ (tám trăm triệu

đồng). Tính đến 31-12- 2012 vốn điều lệ của công đã là 57.029.400.000 đồng (năm

mươi bảy tỷ hai mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng)

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

Giai đoạn 2001-2006: Công ty bắt đầu được hình thành Công ty, ban lãnh đạo chú trọng vào công tác đầu tư nhà xưởng tìm hướng đi cho các sản phẩm mà Công ty

sản xuất. Trong giai đoạn này Công ty chú trọng đến thương mại dịch vụ chiếm 60%,

sản xuất chỉ chiếm 40%. Do việc cung cung cấp dịch vụ lắp đặt, trang trí nội ngoại

thất, lắp đặt điện nước, chống thấm, chống gỉ đòi hỏi Công ty phải có uy tín và có sự

tin cậy từ khách hàng nên đây là thời gian Công ty gặp rất nhiều khó khăn trong công

tác tiêu thụ sản phẩm. Ban lãnh đạo Công ty vừa phải tìm kiếm khách hàng, vừa phải

tranh thủ tìm kiếm nguồn vốn để đảm bảo duy trì sản xuất và hoạt động của Công ty.

Giai đoạn2007-2009: Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ và sản xuất các sản

phẩm sẵn có, Công ty còn đầu tư sản xuất, phát triển thương hiệu sản phẩm phụ kiện kẹp cáp. Công ty đã ổn định bộ máy tổ chức và trong giai đoạn này tập vào thương mại

và sảnxuất (thương mại chiếm 50% và sản xuất chiếm 50%) từ đó sản xuất tập trung vào sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao và phấn đấu đạt tiêu chuẩn ISO, các sản phẩm của Công ty đã được người tiêu dùng tin tưởng, sản lượng ngày càng tăng cao.

Từ 2010 đến nay: Công ty đã gặt hái được nhiều thành quả và tạo được lòng tin với khách hàng. Công ty tập trung vào việc phát triển sản xuất các thiết bị cơ khí, kim khí, mạnh dạn đấu thầu cung cấp phụ tùng xây dựng, thiết bị cơ khí cho các dự án của

nhà nước. Bên cạnh đó, Công ty vẫn duy trì việc cung cấp dịch vụ của mình, giữ mối

19

quan hệ với các khách hàng gắn bó lâu năm . Nhờ được sự tin tưởng của các khách hàng nên Công ty đã ổn định đầu ra cho các sản phẩm nhờ vậy mà tỷ trọng sản xuất đã

được nâng lên chiếm 70% và thương mại dịch vụ chiếm 30%.

2.1.3. Sơ đồ bộ máy tổ chức

Để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì bộ máy quản lý phải được tổ

chức một cách hợp lý, gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty. Là Công ty cổ phần cùng với việc tuân thủ các quy định về pháp luật của nhà nước và

thực hiện theo các điều khoản trong điều lệ của Công ty, Công ty TNHH Hoá vật liệu

và ứng dụng công nghệ mớihiện nay có các phòng ban, bộ phận quản lý và điều hành

như sau:

Sơ đồ 2.1:Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ

mới

Giám Đốc

Phó Giám Đốc Sản Xuất Phó Giám Đốc Tài Chính

P. Kinh Doanh Phân P. Kế Toán Thị Trường xưởng SX

(Nguồn: Phòng kế toán)

2.1.4. Chức năng, nhiêm vụ của từng bộ phận

2.1.4.1. Giám đốc

Là người đại diện theo pháp luật của Công ty và là người điều hành cao nhất mọi

hoạt động kinh doanh hang ngày của Công ty.

2.1.4.2. Phó giám đốc sản xuất

Giúp việc cho giám đốc và là người đại diện lãnh đạo, điều hành các công việc thuộc lĩnh vực sản xuất của Công ty tại phân xưởng sản xuất. Xây dựng kế hoạch sản xuất hàng tháng, tiến độ hàng tuần đảm bảo hoàn thành kế hoạch; giao kế hoạch cho

phân xưởng, phòng ban liên quan tại Công ty. Ngoài ra, phó giám đốc sản xuất còn có trách nhiệm đào tào các kỹ sư, nhân viên dưới phân xưởng nhằm đạt hiệu quả làm việc tốt nhất.

20

2.1.4.3. Phó giám đốc tài chính

Giúp việc cho giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các vấn đề có liên

quan tới lĩnh vực tài chính như: đảm bảo nguồn tài chính cho quá trình sản xuất, kinh

doanh của Công ty. Theo dõi tiến độ sản xuất, đảm bảo phân xưởng thực hiện đúng

tiến độ, kế hoạch được giao; phối hợp với phó giám đốc sản xuất chủ động giải quyết mọi vướng mắc trong dây chuyền sản xuất liên quan đến tài chính. Tổng hợp, phân

tích số liệu báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất hàng ngày, hàng tuần của phân xưởng.

2.1.4.4. Phòng kế toán

Phòng kế toán tài chính tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về công tác Tài chính, kế toán. Đối với phân xưởng sản xuất

phòng còn có nhiệm vụ quản lý kho thành phẩm, bán thành phẩm, tổng hợp báo cáo

kiểm kê hàng tháng của xưởng sản xuất. Kiểm kê kho hàng tháng đúng thời gian, đề

xuất giải quyết những sản phẩm không phù hợp theo quy định của hệ thống quản lý

chất lượng

2.1.4.5. Phòng kinh doanh thị trường

Phòng này có nhiều chức năng được sát nhập bởi phòng kế hoạch và phòng kinh

doanh tổng hợp. Hiện nay phòng có nhiệm vụ xay dựng kế hoạch kinh doanh, kế

hoạch tiêu thụ, kế hoạch marketing xúc tiến bán hàng, tìm kiếm các hợp đồng kinh tế. Xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn của Công ty. Lập kế hoạch tiêu thụ

sản phẩm hàng tháng.

2.1.4.6. Phân xưởng sản xuất

Phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất từ khâu sơ chế vật liệu đến khi hoàn thiện sản

phẩm đưa ra thị trường. Tổ chức và báo cáo số liệu trong các buổi họp điều độ sản

xuất hàng tuần. Điều chỉnh kế hoạch kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi của

khách hàng và phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế của Công ty. Đánh giá tình hình

thực hiện kế hoạch sản xuất hàng tháng của Công ty. Kiến nghị lãnh đạo Công ty giải

quyết những vấn đề vướng mắc lớn trong sản xuất, đề xuất phương án giải quyết, biện pháp khắc phục. Tổ chức giao hàng cho khách hàng nội bộ và khách hàng ngoài đảm

bảo đúng số lượng, chủng loại theo chứng từ; đảm bảo bốc xếp, vận chuyển an toàn. . Ký báo cáo các sản phẩm nhập kho theo kế hoạch được giao.

2.1.5. Ngành nghề sản xuất kinh doanh

Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp: Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo

Giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội. Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới có nhiệm vụ kinh doanh theo giấy phép kinh doanh như sau:

21

Sản xuất, mua bán vật tư thiêt bị ngành cơ khí, kim khí, điện máy, thiết bị tin

học, viễn thông, trang thiết bị trang trí ngoại thất, đồ gia dụng.

Buôn bán tư liệu sản suất, tư liệu tiêu dùng

Dịch vụ chuyển giao công nghệ, trang trí nội ngoại thất, lắp đặt điện nước, chống

thấm, chống gỉ

Hiện nay, Công ty đang tập trung vào sản xuất và mua bán các thiết bị phụ tùng xây dựng và nội thất. Đây là nguồn lợi nhuận chủ yếu của Công ty trong những năm

qua.

2.1.6. Quy trình sản xuất kinh doanh

Quy trình hoạt động của Công ty được chia làm 6 bước rõ ràng.

Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất kinh doanh chung trong Công ty TNHH Hoá vật

liệu và ứng dụng công nghệ mới

B1: Nhận đơn đặt B2: Ban giám đốc B3: Sản xuất theo

hàng của khách kiểm tra đơn hàng

hàng

B6: Thanh toán thu B5: Xuất kho cho B4: Nhập kho thành

hồi công nợ khách hàng phẩm

(Nguồn: Phòng kinh doanh thị trường)

Bƣớc 1: Phòng kinh doanh thị trường sau khi tiến hành tìm kiếm khách hàng,

nếu có khách hàng đặt hàng các sản phẩm của Công ty thì sẽ chuyển đơn đặt hàng của

khách hàng về cho Công ty. Tùy theo yêu cầu của đơn đăt hàng về số lượng, quy cách,

chất lượng, chất liệu… của sản phẩm. Đồng thời kết hợp với phòng kế toán để tính

toán đưa lại cho khách hàng bảng giá của đơn hàng.

Bƣớc 2: Phó giám đốc sản xuất và giám đốc sẽ có cùng bàn bạc để đưa ra các

quyết định nhằm ký kết hợp đồng với khách hàng và triển khai việc sản xuất theo yêu cầu của đơn hàng mà phòng kinh doanh thị trường trình lên. Bên cạnh đó, phó giám

đốc tài chính theo sự phân công của giám đốc sẽ tiến hành cân đối lại nguồn nguyên liệu có tại khó, có cần bổ sung thêm hay không? Và có sự phân bổ nhân công hợp lý. Nhằm giảm các chi phí phát sinh không cần thiết.

Bƣớc 3: Phân xưởng sản xuất sẽ tiến hành sản xuất theo các yêu cầu mà giám

đốc sản xuất đưa xuống. Đây là giai đoạn thể hiện khả năng kỹ thuật cũng như kinh nghiệm của các cá nhân trong Công ty. Bên cạnh đó, phòng kế toán sẽ hỗ trợ việc xuất nhập kho các nguyên liệu phục vụ sản xuất, tránh thất thoát. Đồng thời từng bước tính

giá thành của sản phẩm.

22

Bƣớc 4: Sau khi tiến hành sản xuất xong, phân xưởng sẽ nhập kho thành phầm các sản phẩm của khách hàng. Phòng kế toán sẽ cử thủ kho xuống nhập kho thành

phẩm vào cuối ngày, để kiểm tra số lượng, chất lượng, mẫu mã của từng sản phẩm

trước khi tiến hành nhập kho.

Bƣớc 5: Sau khi các sản phẩm được nhập kho và đầy đủ về số lượng, chất lượng

theo yêu cầu của đơn đặt hàng, thì Công ty tiến hành giao hàng cho khách hàng. Tùy theo quy định trên hợp đồng mà Công ty có thể thuê xe vận chuyển từ phân xưởng đến

địa chỉ khách hàng hoăc khách hàng sẽ cho xe xuống lấy hàng. Nhiệm vụ ở kho lúc

này là hỗ trợ khách hàng bốc hàng hóa lên xe.

Bƣớc 6: Sau khi giao hàng cho khách hàng, Công ty sẽ tiến hành thu hồi công nợ của khách hàng. Ngoài ra, phòng kế toán sẽ xác định giá trị của lô hàng, ghi nhận bút

toán doanh thu, chi phí nhằm xác định chính xác số lỗ lãi trong đơn hàng của khách

hàng.

2.1.7. Tình hình lao động của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ

mới

Do tính chất hoạt động của Công ty chủ yếu về kỹ thuật sản xuất nên cơ cấu của

Công ty cũng phải có sự điều chính hợp lý nhằm đạt được những thành công trong

hoạt động kinh doanh

Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của Công ty trong năm 2011 - 2012

STT Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Trên đại học 8 9,3

2 Đại học 13 15,15

3 Cao đẳng 11 12,85

4 Trung cấp 9 10,47

5 Lao động khác 45 52,23

Tổng số 86 100%

(Nguồn: Phòng kế toán) Ban lãnh đạo chú trọng đến chất lượng nhân lực, đặc biệt là cán bộ làm công tác

quản lý nên các cán bộ cấp cao của Công ty từ cấp trưởng phòng trở lên đều có trình độ trên đại học. Tuy nhiên, hầu như chỉ có những nhân viên quản lý cấp cao và kĩ sư trưởng thì ban lãnh đạo mới yêu cầu trình độ trên đại học nên thành phần của những người có trình độ này chỉ là 8 người chiếm tỷ lệ 9,3%. Nhân viên ở trình độ đại học và cao đẳng có số lượng lần lượt là 13 (người tương đương 15,15%) và 11 (người tương

đương 12,85%) là những kĩ sư và các nhân viên văn phòng của Công ty. Số lượng người lao động ở trình độ trung cấp là 9 người tương đương 10,47% là những đốc công ở các phân xưởng sản xuất. Công ty tập trung vào sản xuất nên cần số lượng

23

công nhân lớn. Số lượng công nhân là 45 người, chiếm tới 52,23% cơ cấu lao động của Công ty.

2.1.7.1. Chế độ tiền lương

Cùng một công việc nhưng trình độ khác nhau, trách nhiệm đối với công việc

khác nhau thì có hệ số lương khác nhau. Thời gian làm việc tại công ty khác nhau thì

hệ số lương cũng khác nhau

Về mức thu nhập: thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên trong Công ty

là 4.300.000 đồng/người/tháng vào năm 2011 và 4.950.000 đồng/người/tháng vào năm

2012. Sự thay đổi này cho thấy Công ty có những chính sách nhằm khuyến khích và

đánh giá đúng năng lực làm việc cho công nhân viên trong quá trình hoạt động của mình.

Chế độ thưởng khuyến khích cho người lao động

Thưởng cho việc tiết kiệm vật tư

Thưởng cho việc tiết kiệm thời gian

Thưởng cho thâm niên công tác

Thưởng cho sáng kiến, ý tưởng

Việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội: Công ty thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội

(BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định của pháp luật hiện hành. Ngoài ra,

BHXH, BHYT ưu tiên và thực hiện các chế độ trong các trường hợp: trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí, phụ cấp độc hại, phụ cấp thợ giỏi, phụ cấp thêm giờ

2.1.7.2. Đào tạo lao động

Để nâng cao chất lượng kĩ thuật cho công trình, Công ty còn cử nhân viên kĩ

thuật đi học các khóa học về ứng dụng kĩ thuật cao trong và ngoài nước. Ngoài ra,

Công ty còn tổ chức các chương trình thi tay nghề nhằm nâng cao tay nghề cho lao

động. Bên cạnh đó, Công ty cũng đào tạo, bổ sung kiến thức cho công nhân của Công

ty.

24

2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới giai đoạn 2010-2012

2.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010-2012

Bảng 2.2:Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công tyTNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới giai đoạn 2010-2012 ĐVT: đồng

Chênh lệch 2012-2011

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Tuyệt đối Tuyệt đối Tƣơng đối% Chênh lệch 2011-2010 Tƣơng đối%

46.892.694.992 50.800.392.142 42.496.492.903 (3.907.697.150) (7,69) 8.303.899.239 19,54

- -

(7,69)

64.365.158 64.365.158 2.718.848.296 9.187.795.407 28.134.871 28.134.871 2.090.661.851 8.205.054.553 (21,88) (82,65) (99,51) (99,51) (23,23) 5,30

4.861.317.565 2.499.798.222 774.184.382 2.361.519.343 4.247.705.001 2.883.673.880 1.364.031.121

4.930.232.173 7.170.985.256

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản giảm trừ doanh thu Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp Doanh thu hoạt động tài chính Chi phí tài chính - Chi phí lãi vay Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận thuần Thu nhập khác Chi phí khác Lợi nhuận khác Lợi nhuận trƣớc thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế - (3.907.697.150) 46.892.694.992 50.800.392.142 42.496.492.903 1.351.399.010 28.114.020.033 26.762.621.023 23.871.338.859 18.778.674.959 24.037.771.119 18.625.154.044 (5.259.096.160) 3.417.164.397 19.699.145.498 10.055.594.804 (16.281.981.101) (64.052.450) 312.708 (64.052.450) 312.708 (631.577.393) 2.087.270.903 9.674.398.968 486.603.561 10.433.856.777 31.765.907.756 18.356.897.573 (21.332.050.979) 42.203.953 4.903.521.518 1.629.538.914 4.129.337.136 (1.587.334.961) 11.208.041.159 34.127.427.099 19.720.928.694 (22.919.385.940) 2.976.333.533 (4.194.651.723) 8.231.707.626 26.956.441.843 14.790.696.521 (18.724.734.217)

19,54 8.303.899.239 5,05 2.891.282.164 12,112 5.412.617.075 29,061 9.643.550.694 95,902 36.230.287 128,77 36.230.287 128,77 628.186.445 30,047 982.740.854 11,977 (67,15) 13.409.010.183 73,046 613.612.564 14,446 0,87 (383.875.658) (13,312) 65,19 (67,22) 997.488.222 73,128 (67,16) 14.406.498.405 73,052 (58,49) 2.240.753.083 45,449 (69,46) 12.165.745.322 82,253 (Nguồn: Phòng kế toán)

25

Về doanh thu thuần: Doanh thu thuần của Công ty trong giai đoạn năm 2010–2012 đã có biến động

như sau: năm 2011 doanh thu thuần là 50.800.392.142 đồng tăng 8.303.899.239 đồng

tương đương với 19,54% so với năm 2010 tuy nhiên doanh thu thuần năm 2012 lại

giảm 3.907.697.150 đồng về chỉ còn 46.892.694.992 đồng tương đương với 7,69%.

Nguyên nhân dẫn đến việc doanh thu thuần tăng lên là do trong năm 2011 Công ty đã tích cực tham gia các dự án của nhà nước, cùng với đó các khách hàng truyền thống

của Công ty cũng có nhu cầu lớn hơn trong năm 2011 từ đó đã làm tăng doanh thu

thuần. Tuy nhiên, đến năm 2012 doanh thu thuần bị sụt giảm là do các cơ quan nhà

nước hạn chế mở mua mới các thiệt bị nội thất theo chủ trương tiết kiệm của chính phủ, hơn nữa, sản phẩm của Công ty có thời gian sử dụng lâu dài nên khách hàng

không thường xuyên phải mua sản phẩm mới, điều đó đã làm giảm doanh thu thuần

của Công ty. Đây là một nhược điểm trong kinh doanh của Công ty khi phụ thuộc vào

một số khách hàng thì khi khách hàng đó giảm nhu cầu sẽ làm giảm doanh thu của

Công ty.

Về giá vốn hàng bán:

Giá vốn hàng bán của Công ty trong năm 2012 là 28.114.020.033 đồng cao hơn

so với năm 2011 là 1.351.399.010 đồng tương đương với 5,05%. Năm 2011 giá vốn

hàng bán chỉ là 26.762.621.023 đồng , và năm 2011 cao hơn so với năm 2010 là 2.891.282.164 đồng tương đương với 12,112%.

Khi mà giá vốn hàng bán năm 2010 là 23.871.338.859 đồng. Tuy các năm qua

doanh thu có sự biến động tăng giảm khác nhau nhưng giá vốn hàng bán lại liên tục

tăng, đặc biệt là từ năm 2012 khi mà doanh thu thuần sụt giảm nhưng giá vốn hàng bán

vẫn tăng so với năm trước. Nguyên nhân thứ nhất là do ảnh hưởng lạm phát của Việt

Nam trong giai đoạn 2010 -2012 đã làm tăng chi phí đầu vào sản xuất, bên cạnh đó để

giữ lại những nhân viên có chất lượng thì ban lãnh đạo đã tăng lương cho các công

nhân có tay nghề cao đặc biệt là những nhân công gắn bó với Công ty từ những ngày

thành lập. Điều đó đã giúp Công ty ổn định về mặt nhân sự cũng như nâng cao chất lượng các sản phẩm mà Công ty sản xuất. Nguyên nhân thứ 2 dẫn đến việc Công ty có

giá vốn hàng bán tăng là do các sản phẩm Công ty cung cấp đều là sản phẩm phải đi nhập từ một đối tác từ nước ngoài, dẫn đến bị phụ thuộc vào đối tác đó, từ đó ảnh hưởng đến chi phí của Công ty trong các năm qua.

Về doanh thu hoạt động tài chính:

Doanh thu hoạt động tài chính sụt giảm mạnh về giá trị trong năm 2012 chỉ đạt 3.417.164.397 đồng giảm 16.281.981.101 đồng tương đương với 82,65%, so với 19.699.145.498 đồng của năm 2011. Doanh thu hoạt động tài chính năm 2010 là

10.055.594.804 đồng đến năm 2011 thì đã tăng 9.643.550.694 đồng tương đương

26

95,902%. Doanh thu hoạt động tài chính của Công ty phần lớn đến từ chiết khấu thanh toán và lãi của tiền đầu tư vào các trái phiếu ngắn hạn của Công ty. Trong những năm

2010 và 2011 đây là nguồn doanh thu lớn và ổn định giúp Công ty có được nguồn

doanh thu lớn trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là trong

công tác tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên đến năm 2012, do Công ty không còn nhận

được các khoản lãi từ việc đầu tư vào trái phiếu ngắn hạn nên đã ảnh hưởng đến doanh thu hoạt động tài chính của Công ty, nguyên nhân là do trong năm 2012 Công ty cần

lượng tiền mặt lớn để thực hiện các hợp đồng nên đã làm không đầu tư vào các trái

phiếu ngắn hạn nữa, từ đó làm giảm giá trị của doanh thu hoạt động tài chính.

Chi phí lãi vay: Chi phí lãi vay năm 2011 là 64.365.158 đồng tăng 36.230.287 đồng so với năm 2010 tương đương với 128,77%, tuy nhiên đến năm 2012 chi phí lãi

vay chỉ còn là 312.708 đồng giảm 64.052.450 đồng tương đương với 99,51%. Nguyên

nhân là do trong giải đoạn 2010 – 2012 Công ty có sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn

để thanh toán trước cho các nhà cung cấp, đặc biệt là trong năm 2011. Tuy nhiên đến

năm 2012 Công ty không còn sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn để thanh toán nữa mà

chủ yếu sử dụng lượng tiền mặt dự trữ của mình để thanh toán cho các đối tác từ đó đã

làm giảm chi phí lãi vay trong năm 2012.

Về chi phí bán hàng:

Giai đoạn 2010 – 2012 vừa qua, cùng với sự gia tăng liên tục của giá vốn hàng bán thì chi phí bán hàng cũng tăng đáng kể từ 2.090.661.851 đồng năm 2010, tăng lên

2.718.848.296 đồng năm 2011 (tăng 628.186.445 đồng tương đương với 30,047%),

tuy nhiên đến năm 2012 thì đã giảm chỉ còn 2.087.270.903đồng giảm 631.577.393

đồng tương đương với giảm 23,23%. Sự biến động của chi phí bán hàng xuất phát từ

sự biến động của số lượng hàng tiêu thụ. Do các chi phí bán hàng phần lớn là hoa hồng

cho các nhân viên kinh doanh khi bán được các sản phẩm cùng với đó là chi phí cho

tiếp khách, ký kết hợp đồng... từ đó đã tạo nên chi phí bán hàng. Từ đây có thể thấy

mối liên hệ giữa doanh thu thuần và chi phí bán hàng là tỷ lệ thuận, nếu như doanh thu

tăng thì chi phí này cũng tăng, nên Công ty không thể điểu chỉnh giảm chi phí bán hàng nếu vẫn muốn đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu trong những năm tiếp theo.

Về chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí về nhân sự trong bộ máy quản lý cùng với đó là các chi phí hoạt động kinh doanh. Chi phí quản lý doanh nghiệp đã có mức tăng trong giai đoạn 2010 – 2012 do ảnh hưởng của lạm phát từ đó đã làm gia tăng các chi phí về điện, nước,

thiết bị văn phòng. . . cũng như các chi phí đầu vào khác. Cùng với đó Công ty đã bổ sung thêm nhân viên cho phòng kinh doanh nhằm tìm kiếm thêm nhiều khách hàng hơn trong bối cảnh kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Năm 2010 chi phí quản lý doanh

nghiệp là 8.205.054.553 đồng nhưng đến năm 2011 đã lên tới 9.187.795.407 đồng tăng

27

982.740.854 đồng tương đương với 11,97% so với năm 2010 và năm 2012 chi phí quản lý doanh nghiệp lên tới 9.674.398.968 đồng tăng 486.603.561 đồng tương đương

với 5,30% so với năm 2011. Tuy nhiên, trong khi chi phí quản lý doanh nghiệp tăng

cao nhưng doanh thu thuần lại giảm trong năm 2012 nên có thể thấy các biện pháp

nhằm tăng thêm doanh thu của Công ty không đem lại hiệu quả mà còn tăng thêm

gánh nặng cho Công ty như việc tăng thêm nhân sự và chi phí quảng cáo cho phòng kinh doanh. Vì vậy, trong những năm tới Công ty cần thay đổi trong điều hành để có

thể đạt được mức doanh thu tương xứng với các chi phí bỏ ra.

Về lợi nhuận sau thuế:

Trong năm 2011 do có sự chỉ đạo sát xao của các cấp lãnh đạo từ đó Công ty đã ổn định được các chi phí trong khi gia tăng được các doanh thu của Công ty làm cho

lợi nhuận ròng năm 2011 tăng thêm 12.165.745.322 đồng (tăng 82,253%) so với năm

2010 dù cho tỷ lệ lạm phát năm 2011 lên tới 18,6%. Năm 2011 Công ty đạt được mức tăng lợi nhuận lớn cũng do những hợp đồng được kí kết vào cuối năm 20101 (năm mà doanh nghiệp này đã tạo được dấu ấn trên thị trường) và được thực hiện vào đầu năm

2011. Năm 2012 có lợi nhuận ròng thấp nhất chỉ đạt 8.231.707.626 đồng giảm

18.724.734.217 đồng tương đương với 69,46% mặc dù tỷ lệ lạm phát chỉ có 6,8%,

giảm mạnh so với năm 2011. Điều này có vẻ vô lý nhưng thực tế đây là giai đoạn nhà

nước đang thực hành chính sách kiềm chế lạm phát, thắt chặt tiền tệ nên không có dự án lớn để Công ty có thể tham gia đấu thầu, đồng thời các khách hàng khác vẫn còn e

dè sau một năm 2011 đầy biến động nên họ không còn chi tiêu mạnh tay. Một phần vì

các sản phẩm của Công ty có thời gian sử dung dài nên khách hàng không phải thường

xuyên mua sản phẩm mới. Đây là những nguyên nhân bên ngoài ảnh hưởng đến tình

hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong năm qua. Vì vậy để có được những chiến

lược đúng đắn và chính xác nhất thì ban lãnh đạo Công ty cần phải ổn định các chi phí

trong hoạt động kinh doanh và tìm kiếm đầu ra cho các sản phẩm của Công ty trong

thời gian tới

1 Nguồn: Tổng cục thống kê, niên giám thống kê 2011

28

2.2.2. Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới năm 2010-2012

Bảng 2.3:Bảng cân đối kế toán ngày 31-12 của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới năm 2010-2012

ĐVT: đồng

Chênh lệch 2012-2011

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Tuyệt đối Tuyệt đối

Tƣơng đối% Chênh lệch 2011-2010 Tƣơng đối%

22.393.151.698 41.150.061.805 27.641.297.870 (18.756.910.107) (45,58) 13.508.763.935 48,87

18.005.490.451 11.908.879.632 13.012.750.986 6.096.610.819 51,19 (1.103.871.354) (8,48)

1.845.061.133 26.858.972.517 12.486.254.636 (25.013.911.384) (93,13) 14.372.717.881 115,11

2.322.742.580 219.857.534 153.981.361

94.514.285 4,24 65.876.173 42,78 (3,57) (2.219.253.556)

248.555.965 12,56 2.228.228.295 1.979.672.330 (5,31) (8.638.557) 162.619.918 7.057.917.275 12,80 59.987.661.143 62.206.914.699 55.148.997.424 82.380.812.841 103.356.976.504 82.790.295.294 (20.976.163.663) (20,29) 20.566.681.210 24,84

0 0

(4.239.246.290) (26,91) (4.063.458.769) (26,12) 3.987.944.697 33,90 3.789.738.994 32,21

0

11.513.839.613 15.753.085.903 11.765.141.206 11.491.421.431 15.554.880.200 11.765.141.206 0 1.669.566.931 326.818.403 0 1.467.243.509 52.734.118 0 2.370.841.391 698.572.556 0 42 701.274.460 371.754.153 113,75 (903.597.882) (38,11) (645.838.438) (92,45)

5.741.337.280 7.345.386.175 5.692.724.702 1.652.661.473 29,03 (1.604.048.895) (21,84)

Tài sản A-Tài sản ngắn hạn I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền III. Các khoản phải thu ngắn hạn IV. Hàng tồn kho V. Tài sản ngắn hạn khác B- Tài sản dài hạn Tổng tài sản Nguồn vốn A- Nợ phải trả I. Nợ ngắn hạn 1. Vay và nợ ngắn hạn 2. Phải trả cho người bán 3. Người mua trả tiền trước 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 5. Phải trả người lao động 6. Chi phí phải trả 949.243.636 196.126.005 2.721.033.922 286.332.749 1.596.570.737 209.869.557 1.124.463.185 70,43 76.463.192 36,43 (1.771.790.286) (65,11) (90.206.744) (31,50)

29

Chênh lệch 2012-2011

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Tuyệt đối Tuyệt đối Tƣơng đối% Chênh lệch 2011-2010 Tƣơng đối%

2.410.479.508 2.132.713.407 1.976.288.918 156.424.489 7,92 277.766.101 13,02

(100) 674.257.375

674.257.375 22.418.182 0 198.205.703 293.301.958 0 100 (175.787.521) (88,69) (293.301.958) 198.205.703

0 198.205.703 86.219.480 (100) 111.986.223 129,89 (198.205.703)

0 9.751.909 22.418.182 (9.751.909) 22.418.182

0 (2.762.901)

(100) 70.866.973.228 87.603.890.601 71.025.154.088 (16.736.917.373) (19,11) 16.578.736.513 23,34 70.866.973.228 87.603.890.601 71.025.154.088 (16.736.917.373) (19,11) 16.578.736.513 23,34 0 17.029.400.000 42,57 57.029.400.000 2.762.901 - 3.472.018.600 2.642.580.909 57.029.400.000 40.000.000.000 - 1.203.186.248 887.142.077 921.010.260 76,55 596.519.236 67,24 2.762.901 2.124.196.508 1.483.661.313 100 1.347.822.092 63,45 1.158.919.596 78,11

7.722.973.719 (6,81) 26.963.869.879 28.934.825.763 (19.240.896.160) (71,36) (1.970.955.884)

9. Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác 11. Quỹ khen thưởng, phúc lợi II. Nợ dài hạn 6. Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm 8. Doanh thu chưa thực hiện B- Vốn chủ sở hữu I. Vốn chủ sở hữu 1. Vốn đầu tưu của chủ sở hữu 3. Vốn khác của chủ sở hữu 7. Quỹ đầu tư phát triển 8. Quỹ dự phòng tài chính 10. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Tổng nguồn vốn 82.380.812.841 103.356.976.504 82.790.295.294 (20.976.163.663) (20,29) 20.566.681.210 24,84

(Nguồn: Phòng kế toán)

30

Từ bảng cân đối kế toán ta có nhận xét sau - Về tiền và các khoản tương đương tiền, năm 2010 đạt 13.012.750.986 đồng,

năm 2011, tiền và tương đương tiền của Công ty giảm 1.103.871.354 đồng tương

đương với 8,48% còn 11.908.879.632 đồng nhưng đến năm 2012 thì đã đạt giá trị là

18.005.490.451 đồng tăng 6.096.610.819 đồng tương đương với 51,19%. Trong năm

2012, mức dự trữ tiền và tương đương tiền của Công ty là khá lớn và có thể là không hiệu quả vì không có khả năng sinh lời. Tuy nhiên, lượng tiền và tương đương tiền lớn

lại là điều kiện giúp Công ty luôn duy trì được khả năng thanh toán, đặc biệt là khả

năng thanh toán nhanh. Cùng với đó ban lãnh đạo Công ty cũng cần phải điều chỉnh

các khoản mục tiền do các chi phí phát sinh khi dự trữ tiền lớn tăng cao như các chi phí cơ hội cùng các chi phí bảo quản, kiểm kê. Hơn nữa, khi Công ty chủ động dự trữ

một lượng tiền lớn nhưng lại không đầu tư vào trái phiếu ngắn hạn cũng như thanh

toán sớm cho các nhà cung cấp dẫn đến làm giảm doanh thu tài chính một cách trầm

trọng trong năm 2012, vì vậy càng có cơ sở để ban lãnh đạo Công ty nên xem xét lại

hiệu quả của việc dự trữ tiền mặt của mình.

- Về các khoản phải thu, năm 2011 là năm có giá trị các khoản phải thu ngắn hạn

cao nhất trong giai đoạn 2010 – 2012 với 26.858.972.517 đồng. Đây chính là chính

sách tín dụng thương mại mà Công ty áp dụng, nhằm tạo điều kiện cho khách hàng,

nâng cao doanh thu bán hàng của Công ty, từ đó làm gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, bên cạnh việc nâng cao doanh số thì Công ty cũng phải đối mặt với tình trạng vốn bị ứ

đọng lâu trong khâu thanh toán, khả năng quay vòng vốn kém, ảnh hưởng đến tình

hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó mà sau khi đạt mức tăng đỉnh điểm

trong năm 2011 thì phải thu khách hàng đã giảm mạnh trong năm 2012 chỉ còn

1.845.061.133 đồng. Từ đây có thể thấy Công ty đang thực hiện chính sách ổn định

trong kinh doanh của Công ty đặc biệt là đối với các khoản phải thu từ đó giúp Công

ty không bị hao hụt nguồn vốn kinh doanh.

- Về hàng tồn kho, mặc dù tỷ trọng hàng tồn kho của Công ty chỉ chiếm giá trị rất

nhỏ trong nguồn vốn lưu động nhưng đây là thành phần quan trọng trong cơ cấu vốn lưu động. Năm 2010 khoản mục này chỉ đạt 1.979.672.330 đồng nhưng đến năm 2011

giá trị hàng tồn kho đã tăng thêm 248.555.965 đồng tương đương với 12,56% đạt giá trị là 2.228.228.295 đồng và tiếp tục tăng thêm 94.514.285 đồng tương đương với 4,24% trong năm 2012 để đạt giá trị 2.322.742.580 đồng. Nguyên nhân là do, cuối năm 2011, nhận thấy nhu cầu của thị trường tăng cao trong cả năm 2011 nên ban lãnh

đạo Công ty đã quyết định tăng giá trị hàng tồn kho để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Đến năm 2012 tuy tình hình kinh doanh không đạt được kết quả như mong muốn nhưng do ban lãnh đạo Công ty nhận định tình hình kinh tế đã dần khởi

sắc, và kinh tế sẽ khôi phục nhanh trong tương lai không xa, nhu cầu của các khách

31

hàng ở lĩnh vực tư nhân và nhà nước đều sẽ tăng lên. Hơn nữa, trong giai đoạn này, Công ty đang chuẩn bị giao một số đơn hàng trong quý I năm 2013 vì vậy ban lãnh

đạo Công ty tiếp tục nâng cao giá trị hàng tồn kho vào cuối năm 2012 để chuẩn bị đáp

ứng nhu cầu của các khách hàng trong năm 2013. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Công ty

cũng cần phải xem xét hiệu quả của việc tăng dự trữ hàng tồn kho, vì khi lượng hàng

tồn kho tăng lên sẽ kéo theo các chi phí như bảo quản, kiểm kê, kho bãi... chưa kể đến là các chi phí cơ hội phát sinh khi mà một phần vốn của Công ty bị ứ đọng, làm giảm

hiệu quả trong kinh doanh.

Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn của Công ty đều là tài sản cố định, tài sản dài

hạn của Công ty năm 2010 là 55.148.997.424 đồng và tăng thêm 7.057.917.275 đồng trong năm 2011 tương đương với 12,80%, trái ngược với đó thì tài sản dài hạn của

Công ty năm 2012 là 59.987.661.143 đồng so với 62.206.914.699 đồng của năm 2011

thì đã giảm 2.219.253.556 đồng tương đương với 3,57%. Nguyên nhân là do trong

năm 2011, Công ty đã tiến hành đầu tư thêm một số xe ô tô vận tải và xe ô tô 4 chỗ

cho lãnh đạo Công ty để phục vụ công tác kinh doanh cũng như quản lý của Công ty

nhờ vậy mà đã làm tăng tài sản cố định trong năm 2011, tuy nhiên đến năm 2012,

Công ty không tiến hành bổ sung thêm tài sản cố định nên không có sự thay đổi nào về

nguyên giá tài sản cố định mà chỉ có mức giảm của khấu hao tài sản cố định.

Về nguồn vốn: Tổng nguồn vốn năm 2011 là cao nhất trong cả 3 năm từ năm 2010 đến năm 2012, đạt giá trị 103.356.976.504 đồng tăng 20.566.681.210 đồng,

tương đương với 19,89% so với năm 2010, tuy nhiên đến năm 2012 thì tổng nguồn

vốn của Công ty đã giảm xuống chỉ còn 82.380.812.841 đồng giảm 20.976.163.663

đồng tương đương với 20,29%. Nguyên nhân là do sự biến động của các khoản mục

sau:

- Vay và nợ ngắn hạn: trong 3 năm 2010-2012 Công ty rất ít sử dụng nguồn vốn

vay ngắn hạn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh Công ty thực hiện luân chuyển một

khối lượng hàng hóa lớn, vì vậy nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho Công ty là rất lớn

nhưng Công ty đã thanh toán hết ngay trong kỳ các khoản vay ngắn hạn chứng tỏ Công ty vẫn chủ động trong vệc đáp ứng nhu cầu vốn lưu động do lượng tiền dự trữ

của Công ty là lớn. Điều này cũng giúp Công ty nâng cao uy tín với các ngân hàng, các tổ chức tài chính và nâng cao hạn mức tín dụng của Công ty. Bên cạnh đó, Công ty cũng tiết kiệm được phần chi phí lãi vay đáng kể trong giai đoạn lãi suất có nhiều biến động như hiện nay. Tuy nhiên, trong nhưng năm tiếp theo Công ty cũng nên cân nhắc

sử dụng các khoản vay ngắn hạn nhiều hơn khi lãi suất cho các khoản vay ngắn hạn đang giảm.

- Phải trả người bán của Công ty: Khoản mục này trong giai đoạn 2010-2011

tăng 701.274.460 đồng tương đương 29,57%, tuy nhiên trong năm 2012 khoản mục

32

này giảm mạnh từ 2.370.841.391 đồng năm 2011 xuống còn 1.467.243.509 đồng, giảm 903.597.882 đồng tương đương 38,1%. Điều này cho thấy Công ty đang cố gắng

giảm hệ số nợ nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính. Bên cạnh đó, cũng giúp Công

ty nâng cao uy tín và lòng tin với nhà cung cấp.

- Người mua trả tiền trước: Trong năm 2010 và 2011, Công ty vẫn duy trì khoản

mục này ở mức cao. Tuy nhiên sang đến năm 2012, khoản mục này đã giảm đột ngột khi chỉ còn 52.734.118 đồng (so với 698.572.556 đồng của năm 2011 và 326.818.403

đồng của năm 2010 thì mức giảm này là rất lớn). Có thể thấy rằng các năm trước Công

ty đã chiếm dụng nguồn vốn của khách hàng, tuy nhiên đã tạo ra một áp lực không nhỏ

trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong năm 2012, ban lãnh đạo Công ty đã quyết định giảm áp lực cho Công ty bằng cách giảm giá trị khoản mục người mua trả

tiền trước, tuy nhiên việc giảm áp lực này đã dẫn đến việc doanh thu của Công ty bị

sụt giảm cùng các chi phí tăng thêm, vì vậy ban lãnh đạo cần phải xem xét để nâng cao

hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Thuế và các khoản phải nộp Nhà Nước: Do tình hình hoạt động kinh tế của

Công ty trong những năm gần đây có nhiều khó khăn hơn so với giai đoạn trước nên

Công ty vẫn chưa hoàn trả thuế cho nhà nước trong giai đoạn 2010-2012. Năm 2010,

thuế và các khoản phải nộp Nhà Nước là 5.692.724.702 đồng, thì đến năm 2011 đã lên

đến 7.345.386.175 đồng và năm 2012 là 5.741.337.280 đồng, đây hầu hết là số thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế VAT mà Công ty chưa đóng góp cho nhà nước. Điều

này chứng tỏ rằng Công ty chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà Nước mà sử dụng

nguồn vốn này để bổ sung nguồn vốn cho vốn lưu động. Vì vậy trong những năm tiếp

theo Công ty cần phải nhanh chóng hoàn thành các nghĩa vụ với nhà nước, từ đó sẽ

giúp Công ty nâng cao uy tín trong các doanh nghiệp cùng ngành và tạo được thiện

cảm với các khách hàng.

- Phải trả người lao động: Khoản mục này trong 3 năm 2010 – 2012 có biến động

rõ rệt, năm 2010 đã tăng từ 1.596.570.737 đồng lên 2.721.033.922 đồng của năm 2011

tăng 1.124.463.185 đồng tương đương với 70,43%, nhưng đến năm 2012 khoản mục này đã giảm chỉ còn 949.243.636 đồng giảm 1.771.790.286 đồng tương đương với

65,11%. Công ty có chính sách hạch toán và thanh toán các khoản lương, thưởng, phụ cấp cho nhân viên đầy đủ, đúng hạn. Tuy nhiên, cuối năm 2011, Công ty tăng cường lượng hàng hóa lưu kho, điều này làm cho Công ty phải tăng cường sản xuất nên có một khoản rất tiền lớn trợ cấp cho những nhân viên làm thêm giờ. Tại thời điểm tháng

12 năm 2012, Công ty chưa xuất kho bán hàng hóa mới nên chưa có doanh thu để trả lương và cũng đang nợ thưởng của vài tháng trước. Hơn nữa, đây còn là nguồn vốn mà Công ty có thể tận dụng trong thời gian ngắn để đầu tư làm tăng lượng hàng hóa. Tất

cả những lý do trên khiến cho số liệu phải trả người lao động trong năm 2011 của

33

Công ty tăng rất mạnh so với năm 2010. Trong năm 2012, Công ty không tăng đột ngột lượng hàng lưu kho nên dù doanh thu có giảm so với năm 2011 thì Công ty vẫn

giảm được việc nợ lương nhân viên. Điều này giúp cho nhân viên, người lao động

trong Công ty thêm hứng khởi và tăng động lực hoàn thành công việc.

- Các khoản phải trả, phải nộp khác: Các khoản phải trả, phải nộp khác tại Công

ty bao gồm tài sản thừa chờ giải quyết, kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí hoạt động công tác Đảng, phải trả về cổ phần hóa, trợ cấp lao động dôi dư,

nhận kí quỹ, kí cược dài hạn, doanh thu chưa thực hiện, chi phí môi trường tại đơn vị,

quỹ phát triển khoa học công nghệ…Ta thấy, từ năm 2010 đến năm 2012 khoản mục

này tăng liên tục từ 1.976.288.918 đồng lên 2.132.713.407 đồng năm 2011 và đến năm 2012 đạt giá trị là 2.410.479.508 đồng. Đây cũng là nguồn vốn có chi phí thấp mà

Công ty có thể sử dụng để đầu tư cho vốn lưu động.

- Vốn đầu tư của chủ sở hữu: với lợi thế của mình có nguồn vốn chủ sở hữu lớn

nên đây chính là nguồn vốn chính tài trợ cho các tài sản của Công ty. Giá trị của vốn

đầu tư chủ sở hữu năm 2010 chỉ là 40.000.000.000 đồng nhưng đến năm 2011 Công ty

đã tăng vốn điều lệ lên 57.029.400.000 và giữ nguyên trong năm 2012. Nhờ kết quả

kinh doanh tốt trong giai đoạn 2010 – 2011 Công ty đã tiếp tục tăng vốn chủ sở hữu

bằng nguồn vốn từ lợi nhuận để lại và một phần từ các chủ sở hữu góp thêm.

Lợi nhuận chưa phân phối: bên cạnh vốn đầu tư của chủ sở hữu thì lợi nhuận chưa phân phối cũng là một trong những nguồn chính tài trợ cho vốn lưu động của

Công ty. Năm 2010 giá trị của lợi nhuận chưa phân phối là 28.934.825.763 đồng thì

đến năm 2010 đã tăng lên thành 26.963.869.879 đồng, đến năm 2012 do Công ty tiến

hành phần chia lợi nhuận để lại cho các thành viên sáng lập Công ty từ đó đã làm giảm

lợi nhuận để lại xuống còn 7.722.973.719 đồng. Đây là những bước đi giúp Công ty

lấy được niềm tin với các chủ sở hữu, tạo tiền đề thuận lợi để giúp Công ty ổn định từ

bên trong.

Qua phân tích trên ta thấy nguồn vốn lưu động của Công ty được huy động chủ

yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và có một phần nhỏ được tài trợ bằng khoản nợ phải trả. Từ đây có thể thấy Công ty có thể đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động bằng nguồn

vốn chủ sở hữu cũng như tác động đến hoạch định chiến lược kinh doanh trong dài hạn của Công ty. Trong những năm gần đây, nguồn vốn từ nợ ngắn hạn mà Công ty có thể chiếm dụng từ các khách hàng, nhà cung cấp ... đều có xu hướng giảm, vì Công ty đang dần độc lập hơn về mặt tài chính nên từ đó đã giảm sự phụ thuộc nhiều vào

nguồn phải trả, phải nộp trong ngắn hạn.

Nhìn chung, với chiến lược quản lý vốn theo trường phái cấp tiến Công ty phải

đối mặt với rất nhiều rủi ro, cụ thể ở đây là sự sụt giảm lượng khách hàng.

34

2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty Hoá vật liệu

và ứng dụng công nghệ mới

2.3.1. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

Bảng 2.4: Bảng tỷ trọng tài sản, nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: %

Chênh lệch

Chỉ tiêu Công thức Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 2012- 2011 2011- 2010

Tài sản ngắn hạn x 100% 27,18 39,81 33,39 (12,63) 6,43 1. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn Tổng tài sản

Tài sản dài hạn x 100% 72,82 60,19 66,61 12,63 (6,43) 2. Tỷ trọng tài sản dài hạn Tổng tài sản

Nợ phải trả x100% 13,98 15,24 14,21 (1,27) 1,03 3. Tỷ trọng nợ phải trả Tổng nguồn vốn

Vốn chủ sở hữu x 100% 86,02 84,76 85,79 1,27 (1,03) 4. Tỷ trọng VCSH Tổng nguồn vốn

Về tài sản:

Qua bảng trên có thể thấy hiện nay Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng

công nghệ mới đang sử dụng nguồn tài sản dài hạn lớn hơn so với tài sản ngắn hạn (luôn trên 60% trong cả 3 năm). Do đặc thù kinh doanh của Công ty là đơn vị sản xuất,

nhu cầu về các máy móc trang thiết bị là cao hơn so với những đơn vị thương mại.

Năm 2012, tỷ trọng tài sản dài hạn của Công ty đã tăng mạnh đạt 72,82% là do tài sản

ngắn hạn của Công ty đã sụt giảm 45,58% trong khi tài sản dài hạn chỉ giảm 3,57%,

trái ngược với năm 2012 là năm 2011 khi mà tài sản ngắn hạn tăng 48,87% và tài sản

dài hạn chỉ tăng 12,8%, lý giải cho điều này là do trong năm 2012 Công ty nhận thấy

cần phải cắt giảm các khoản phải phải thu từ đó đã làm giảm tài sản ngắn hạn nhằm

đạt được hiệu quả hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về nguồn vốn:

Tuy là một đơn vị sản xuất, nhu cầu về vốn cao nhưng Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới lại có khả năng tự chủ về nguồn vốn rất cao. Năm 2012 tỷ trọng nợ phải trả chỉ là 13,98% là mức thấp nhất trong các năm 2010 và 2011 chứng tỏ rằng Công ty hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu về vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó với nguồn lợi nhuận để lại cũng giúp Công ty có thêm được nguồn vốn để tái đầu tư. Dù vậy, Công ty cần phải sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn trong những năm tiếp theo đặc biệt là sử dụng nguồn vốn vay từ bên ngoài vừa

35

giúp Công ty có được áp lực trong kinh doanh vừa có được nguồn vốn dồi dào để sản xuất kinh doanh cùng với đó là lá chắn thuế mà nguồn vốn này đem lại.

2.3.2. Các chỉ số đánh giá quản lý tài sản

- Hệ số liên quan đến các khoản phải thu

Bảng 2.5: Bảng đánh giá các chỉ số về các khoản phải thu

ĐVT: lần

Chỉ tiêu Công thức Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Chênh lệch 2011- 2010 2012- 2011

1,63 1,29 3,40 0,34 (2,11)

220,36 278,82 105,77 (58,46) 173,05 Doanh thu thuần Khoản phải thu bình quân Số ngày trong kỳ Số vòng quay KPT

1. Số vòng quay khoản phải thu 2. Kỳ thu tiền bình quân

Số vòng quay khoản phải thu: đây là một trong những tỷ số tài chính để đánh giá

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao

nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó. Trong

năm 2012 số vòng quay là 1,63 lần năm 2011 là 1,29 lần và năm 2010 là 3,40 lần, qua

các năm tài chính vừa qua có thể thấy ban lãnh đạo Công ty giữ cho số vòng quay

khoản phải thu là thấp đặc biệt với lĩnh vực mà Công ty đang kinh doanh thì đây là

một tín hiệu không khả quan do tỷ số này càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản

phải thu là thấp. Nguyên nhân là do trong năm 2011 Công ty đã phát sinh giá trị của

phải thu là lớn lên đến 26.858.972.517 đồng tuy trong năm 2012 đã giảm chỉ còn

1.845.061.133 đồng nhưng do công thức tính là lấy bình quân khoản phải thu nên đã ảnh hưởng đến số vòng quay khoản phải thu. Số vòng quay khoản phải thu là thấp nên

Công ty cần phải khắc phục bằng cách nâng cao doanh thu thuần, mặt khác cũng cần

phải tăng cường công tác thu hồi nợ có như vậy mới giúp Công ty nâng cao được số

vòng quay phải thu.

Kỳ thu tiền bình quân: Tỷ số này cho biết doanh nghiệp mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình. Trong năm 2010 Công ty mất 105

ngày để thu hồi các khoản nợ đến năm 2011 đã tăng mạnh lên 278 ngày và chỉ giảm nhẹ xuống còn 220 ngày trong năm 2012. Nguyên nhân là do năm 2011 Công ty đã để các khách hàng nợ tiền với giá trị lớn cùng với việc các khoản phải thu tăng từ đó đã ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân. Năm 2012, do Công ty đã thu hồi được phần lớn các khoản phải thu nên đã giúp Công ty giảm số ngày thu tiền bình quân xuống còn 220 ngày. Đây là sự cố gắng không chỉ của cán bộ thu hồi công nợ phòng kế toán mà còn có sự phân tích các tình hình tài chính dành cho khách hàng của các nhân sự phòng kinh doanh đã giúp Công ty không phát sinh nợ xấu trong năm 2012. Từ công

36

thức của kỳ thu tiền bình quân có thể thấy để giảm giá trị kỳ thu tiền bình quân thì cần phải tăng cao số vòng quay khoản phải thu có như vậy mới giúp dòng tiền của Công ty

nhanh chóng quay trở về để tiếp tục tái đầu tư.

- Hệ số liên quan đến luân chuyển hàng tồn kho

Bảng 2.6: Bảng đánh giá các chỉ số về các khoản phải thu

ĐVT: lần

Chỉ tiêu Công thức Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Chênh lệch 2011- 2012- 2010 2011

6,18 6,36 12,06 (0,18) (5,70)

58,28 56,60 29,86 1,67 26,75 Giá vốn hàng bán Giá trị tồn kho bình quân Số ngày trong kỳ Số vòng quay HTK

1. Số vòng quay HTK 2. Thời gian tồn kho bình quân

Số vòng quay hàng tồn kho trong năm 2012 là 6,18 lần thấp hơn 0,18 lần so với

năm 2011 và của năm 2010 là 12,06 lần. Nguyên nhân cho sự biến động này là do

trong các năm giá vốn hàng bán đã tăng theo cả tuyệt đối và tương đối trong khi đó thì

hàng tồn kho lại không có biến động mạnh do chính sách của Công ty là tăng giá trị

hàng tồn kho 1 cách từ từ, vì vậy đã làm cho giá trị hàng tồn kho bình quân là thấp.Từ

đó đã làm cho số vòng quay của hàng tồn kho giảm qua các năm, đây là một trong

những tín hiệu không khả quan khi hàng tồn kho cần ít thời gian để quay vòng. Vì vậy,

để có thể nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn lưu động tại Công ty thì ban lãnh

đạo cần phải tăng số vòng quay của hàng tồn kho bằng cách giảm giá trị hàng tồn kho

và tiếp tục tăng giá vốn hàng bán. Từ đó mới giúp Công ty đạt được hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh

Thời gian tồn kho bình quân: Là số ngày trung bình mà hàng tồn kho bị lưu kho.

Trong năm 2012 thời gian hàng tồn kho bình quân tồn tại kho là 58,28 ngày cao nhất

trong cả 3 năm (năm 2011 là 56,60 ngày và năm 2010 chỉ là 29,86 ngày). Từ đây có

thể thấy các sản phẩm của Công ty cần mất nhiều thời gian hơn để được tiêu thụ chứng tỏ Công ty cần có một chiến lược cụ thể để tránh việc hàng tồn kho quá lâu dẫn đến

gây ứ đọng vốn cũng như phát sinh các chi phí trong kiểm kê và bảo quản. Vì vậy càng có thể khẳng định Công ty nên giảm giá trị các sản phẩm tồn kho, vừa tiết kiệm các chi phí trong việc bảo quản kiểm kê, vừa giúp Công ty giảm thời gian tồn kho bình quân giúp các sản phẩm được đưa ra thị trường nhanh hơn và giúp Công ty không bị tồn đọng vốn.

37

2.3.3. Các chỉ số đánh giá khả năng thanh toán

Bảng 2.7: Bảng đánh giá về khả năng thanh toán

ĐVT: lần

Chỉ tiêu Công thức Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 2012- 2011 2011- 2010

Tổng TSNH 1,95 2,65 2,35 (0,70) 0,30 1. Khả năng thanh toán NH Tổng nợ ngắn hạn

(Tổng TSNH – Hàng lưu kho) 1,75 2,50 2,18 (0,76) 0,32 Tổng nợ ngắn hạn

Tiền + Các khoản tương đương 1,57 0,77 1,11 0,80 (0,34) Tổng nợ ngắn hạn

2. Khả năng thanh toán nhanh 3. Khả năng thanh toán tức thời

3

2,65

2,5

2,35

2,5

2,18

1,95

2

1,75

1,57

1,5

1,11

1

0,77

0,5

0

Biểu đồ 2.1: Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán trong giai đoạn 2010-2012

2012

2011

2010

Khả năng thanh toán NH Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán tức thời

Khả năng thanh toán ngắn hạn: Qua biểu đồ, ta thấy khả năng thanh toán ngắn

hạn của Công ty trong giai đoạn 2010-1012 là lớn và không biến động đáng kể Năm 2011 cứ 1 đồng nợ sẽ được đảm bảo bằng 2,65 đồng TSNH, nhưng đến năm 2012 chỉ

còn 1,95 đồng giảm 0,36 đồng. Do năm 2012 nợ ngắn hạn giảm 4.063.458.769 đồng

tương đương với 26,12%, thì tài sản ngắn hạn giảm 18.756.910.107 đồng với mức giảm tương đối là 45,58% đã làm khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty trong

năm 2012 giảm đi. Tuy mức giảm có nhỏ nhưng cả 3 năm 2010, 2011, 2012 tỷ số này

38

vẫn lớn hơn 1 nên vẫn có thể thấy Công ty vẫn có khả năng dùng TSNH để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn của mình. Công ty nên duy trì khả năng thanh toán ngắn

hạn tốt như vậy trong các năm kế tiếp.

Khả năng thanh toán nhanh: Qua biểu đồ, ta thấy khả năng thanh toán nhanh

của Công ty qua các năm đều lớn, tuy nhiên lại có sự sụt giảm mạnh trong năm 2012.

Do đặc thù ngành nghề, nên sau khi trừ hàng tồn kho thì khả năng thanh toán của Công ty chỉ còn 1,75 lần năm 2012 và 2,50 lần trong năm 2011 và 2,18 lần trong năm

2010. Điều này có nghĩa là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì chỉ được đảm bảo bằng 1,75

đồng TSNH không có hàng tồn kho trong năm 2012 thấp hơn so với 0,76 đồng của

năm 2011 và 2,18 đồng của năm 2010. Có thể thấy khả năng thanh toán nhanh của Công ty trong cả 3 năm đều lớn 1 chứng tỏ Công ty không cần dựa vào hàng tồn kho

thì vẫn có đủ khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của mình, vì vậy sự

phụ thuộc của Công ty vào hàng tồn kho để thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn là

không cao. Công ty cần cố gắng duy trì khả năng thanh khoản tốt của mình trong các

năm tiếp theo và không nên dựa vào hàng tồn kho để thanh toán nhanh các khoản nợ

ngắn hạn vì việc phụ thuộc vào hàng tồn kho trong việc thanh toán ngắn hạn sẽ làm

Công ty giảm tính thanh khoản.

Khả năng thanh toán tức thời: Biểu đồ cho ta thấy khả năng thanh toán tức thời

của Công ty trong giai đoạn 2010-2012 có sự biến động mạnh. Chỉ tiêu thanh toán tức thời của Công ty năm 2012 tăng 0,80 lần so với năm 2011. Trong cả 3 năm thì chỉ có

năm 2011 là khả năng thanh toán tức thời của Công ty là bằng 0,77 lần và nhỏ hơn 1

nên có thể thấy trong năm 2011, Công ty phải sử dụng các TSNH khác để có được tính

thanh khoản trong ngắn hạn. Trong những năm qua, Công ty đã tiếp tục duy trì việc

giữ ổn định giá trị của lượng tiền dự trữ ở mức cao hơn so với nợ ngắn hạn, tuy nhiên,

khả năng thanh toán tức thời lên tới 1,57 lần trong năm 2012 là khá cao trong khi thực

tế cho thấy chỉ tiêu này cần lớn 0,5 lần là tình hình thanh toán đã khả quan . Công ty

nên đầu tư tài chính vì việc dự trữ lượng tiền lớn sẽ làm Công ty mất đi các chi phí cơ

hội lớn từ đó làm giảm hiệu quả trong kinh doanh.

2.3.4. Các chỉ tiêu về hiệu quả sinh lời

39

Bảng 2.8: Bảng đánh giá về tỷ suất sinh lời

ĐVT: %

Chỉ tiêu Công thức Năm 2012 Năm 2011 Năm 2010 Chênh lệch 2011- 2010 2012- 2011

Lợi nhuận ròng x 100% 9,99 26,08 17,87 (16,09) 8,22 1. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tổng tài sản

Lợi nhuận ròng x 100% 17,55 53,06 34,80 (35,51) 18,26 2. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Doanh Thu

Lợi nhuận ròng x 100% 11,62 30,77 20,82 (19,16) 9,95 Vốn Chủ sở hữu

3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

60

53,06

50

40

34,8

30,77

30

26,08

20,28

17,87

17,55

20

11,62

9,99

10

0

Biểu đồ 2.2: Các chỉ tiêu đánh giá tỷ suất sinh lời giai đoạn 2010-2012

2012

2011

20112

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: Quan sát biểu đồ ta thấy tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản biến động mạnh. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Công ty trong năm 2012 là 9,99% giảm 16,09% so với 26,08% của năm 2011, và 8,22% của năm 2010. Tỷ số này cho ta biết cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra được 9,99 đồng lợi

nhuận vào năm 2012,26,08 đồng năm 2011 và 17,87 đồng trong năm 2010. Năm 2012 thì mức lợi nhuận này đã giảm 16,09 đồng so với năm 2011 do trong năm 2012 tài sản

của Công ty giảm 20.976.163.663 đồng nhưng lợi nhuận ròng lại giảm mạnh hơn với

40

giá trị là 18.724.734.217 đồng. Nguyên nhân dẫn tới việc giảm mạnh của tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là do nhà nước muốn kiềm chế lạm phát nên thắt chặt chi tiêu,

công ty không có cơ hội đấu thầu vào các công trình của nhà nước. Hơn nữa, sản phẩm

của công ty có tính chất sử dụng lâu dài nên khách hàng lẻ không mua thường xuyên

trong khi các khách hàng lớn chưa muốn đầu tư nhiều trong tình cảnh nền kinh tế đầy

biến động. Những điều đó dẫn tới việc lợi nhuận ròng bị giảm mạnh. Có thể thấy rằng hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty trong năm 2012 đang giảm và kém hơn so với

năm 2011, vì vậy Công ty cần phải tìm cách nâng cao hiệu suất này khi để lợi nhuận

tăng cao hơn với mức đầu tư vào tài sản. Công ty cần tìm thêm các khách hàng mới,

tăng cường hoạt động quảng cáo tiếp thị để có thêm đầu ra mới cho sản phẩm nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận.

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu: Biểu đồ thể cho ta thấy tỷ suất sinh lời trên

doanh thu trong giai đoạn 2010-2012 của Công ty biến động rất mạnh. Tỷ suất sinh lời

trên doanh thu của Công ty trong năm 2012 là 17,55% giảm 35,51% so với 53,06%

của năm 2011. Trong năm 2012 thì các chỉ tiêu đánh giá cần quan tâm đều giảm do lợi

nhuận ròng giảm mạnh. Năm 2011 cứ 100 đồng doanh thu thì có 53,06 đồng lợi nhuận

thì đến năm 2012 chỉ còn 17,55 đồng lợi nhuận thấp hơn cả 34,80 đồng của năm 2010.

Do mức biến động chi phí đầu vào đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty trong năm

vừa qua. Từ đó có thể đánh giá rằng tuy Công ty đang có được nguồn doanh thu tốt và ổn định trong những năm 2010-2012, nhưng khả năng quản lý các chi phí cũng chưa

tốt nên đã làm giảm khả năng sinh lời trên doanh thu của Công ty. Vì vậy, Công ty

cũng cần có sự quản lý chi phí tốt hơn đặc biệt là các chi phí trong quản lý kinh doanh

và trong kinh doanh để từ đó làm giảm giá vốn hàng bán, cùng với đó là nâng cao

doanh thu thuần của Công ty đạt giá trị cao hơn nữa từ đó mới có thể giúp Công ty đạt

lợi nhuận ròng cao hơn so với năm trước.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu: Biểu đồ thể hiện sự tăng giảm rõ rệt của

tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của Công ty trong ba năm từ 2010 đến 2012. Tỷ

suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của Công ty trong năm 2012 là 11,62% giảm 19,16% so với 30,77% của năm 2011, tỷ suất này năm 2011 tăng 9.95% so với 20,82% năm

2010. Chỉ số này chứng minh tính hiệu quả của đồng vốn chủ sở hữu góp vào Công ty, năm 2011 trên 100 đồng vốn bỏ ra thì thu được 30,77 đồng lợi nhuận năm 2010 thì thu được 20,82 đồng lợi nhuận và năm 2012 là thấp nhất chỉ đạt 11,62 đồng. Tuy nhiên do vốn chủ sở hữu không tăng (giữ nguyên trong năm 2012) mà lợi nhuận ròng lại giảm

mạnh nên đã khiến chỉ số này giảm trong năm 2012. Tuy nhiên, đây lại là chỉ số mà các chủ sở hữu Công ty lại rất quan tâm vì vậy trong tương lai, ban lãnh đạo Công ty cần phải nâng cao chỉ số này bằng cách tăng cao doanh thu và cắt giảm các chi phí như

41

chi phí quản lí và các phụ phí, có như vậy thì mới giúp lợi nhuận ròng tăng cao từ đấy sẽ giúp tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng cao trong năm tiếp theo.

2.4. Đánh giá chung về tình hình sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

2.4.1. Những kết quả đạt được

Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn thách thức, Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới đã có nhiều cố

gắng vươn lên trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đã đạt được một số thành tựu

nhất định. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng phát triển thể hiện ở

mức ổn định hàng năm của sản lượng, doanh thu vàlợi nhuận.

Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, Ban Giám đốc Công ty luôn quan tâm

coi trọng vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Sự phát triển

lành mạnh và bền vững của Công ty trong thời gian qua phần nào phản ánh hiệu quả

sử dụng vốn lưu động. Cụ thể trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động,

Công ty đã làm được một số việc đáng biểu dương như:

Thứ nhất: Tình hình quản trị các khoản phải thu đã có nhiều chuyển biến tích

cực. Công ty đã đề ra chính sách tín dụng thương mại đúng đắn và linh hoạt. Điều này

thể hiện ở chỗ các khoản phải thu của Công ty năm 2012 so với năm 2011 giảm

93,13% nhưng vẫn không ảnh hưởng nhiều đến việc tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm năm 2012 chỉ giảm 7,69%.

Hiện nay, Công ty vẫn áp dụng hình thức bán hàng trả chậm để thúc đẩy việc tiêu

thụ sản phẩm. Tuy nhiên Công ty chỉ cho thanh toán chậm đối với những bạn hàng

quen biết, có uy tín và khả năng tài chính lành mạnh.

Trước khi bán chịu cho khách hàng Công ty cũng có những biện pháp phòng

ngừa rủi ro hữu hiệu. Trước tiên Công ty xem xét tìm hiểu kỹ khách hàng. Khi chấp

nhận bán chịu, Công ty yêu cầu khách hàng đặt cọc hoặc có sự ràng buộc chặt chẽ

trong hợp đồng bán hàng về thời hạn thanh toán, hình thức xử phạt khi không trả nợ

đúng hạn.

Với những biện pháp như trên, trong năm 2012 các khoản phải thu của Công ty

đã giảm được 25.013.911.384 đồng. Trong khi vốn của Công ty còn thiếu và phần lớn phải đi chiếm dụng từ đơn vị khác thì việc giảm được số vốn bị chiếm dụng là điều rất có ý nghĩa và nó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty.

Thứ hai: Tài sản lưu động luôn đảm bảo cho hoạt động sản xuất được diễn ra liên

tục. Trong năm qua, Công ty không để xảy ra tình trạng phải thiết vật tư hàng hoá dự trữ kể cả khi tình hình sản xuất có biến động lớn. Vào những tháng sản phẩm được tiêu thụ mạnh hoặc khi có những đơn đặt hàng lớn thì sản lượng của Công ty có thể tăng

gấp đôi so với mức bình thường. Khi đó công tác tổ chức cung ứng vật tư hàng hoá

42

vẫn đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu kinh doanh. Việc đảm bảo cho quá trình cung ứng hàng hoá, vật tư không bị gián đoạn đã giúp Công ty hoàn thành kế hoạch kinh

doanh hàng năm, là cơ sở để tăng doanh thu và lợi nhuận.

Thứ ba: Tình hình quản lý vốn bằng tiền có nhiều chuyển biến tích cực:Năm

2012, giá trị vốn bằng tiền của Công ty đã tăng được 6.096.610.819 đồng, tỉ lệ tăng

51,19% so với năm 2011. Nhận thức đúng đắn được tầm quan trọngcủa việc lưu giữ tối ưu một lượng tiền mặt dùng để trang trải các khoản nợ lương, mua nguyên vật liệu,

nợ thuế. . . hay dùng để trả các khoản nợ vay ngắn hạn ngân hàng Công ty đã cố gắng

duy trì và phát triển thêm một lượng vốn bằng tiền nhất định. Ngoài ra, trong những

năm qua, Công ty đã tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các ngân hàng. Điều này đã giúp Công ty gặp nhiều thuận lợi hơn trongviệc vay vốn và thanh toán. Đồng thời

Công ty cũng tổ chức tốt mối quan hệ với nguồn cung ứng, giữ vững và mở rộng

nguồn tiêu thụ sản phẩm.

2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân.

Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên, tình hình sử dụng vốn lưu động ở Công

ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới còn tồn tại nhiều bất cập. Điều này

đã và đang làm cho tình hình tài chính ở Công ty trở nên căng thẳng. Đây chính là

nguyên nhân kìm hãm quá trình hoạt động kinh doanh và trực tiếp làm giảm hiệu quả

sử dụng vốn lưu động trong Công ty. Những tồn tại đó biểu hiện trên các mặt như:

Thứ nhất: Vốn lưu động của Công ty còn tồn đọng dưới dạng tiền và các khoản

tương đương tiền quá lớn (chiếm 80% vốn lưu động năm 2012), làm giảm tốc độ luân

chuyển của vốn. Trong điều kiện tình hình kinh tế đang có nhiều thuận lợi thì việc để

tồn lượng tiền lớn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cũng

như không giúp Công ty tạo ra được nguồn lợi nhuận trong những năm tới.

Thứ hai: Kỳ thu tiền bình quân còn quá cao (220 ngày năm 2012) chứng tỏ Công

ty vẫn bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, có quá nhiều các khoản nợ khó đòi. Kỳ

thu tiền bình quân lớn làm giảm khả năng thu hồi và phát triển lượng vốn lưu động cần

thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Thứ ba: Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh không

tốt. Công ty đang mất cân đối giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn, giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh toán của Công ty.

Thứ tư: Tuy công tác quản trị hàng tồn kho đã có nhiều chuyển biến tích cực

nhưng giá trị hàng tồn kho còn ít, không đảm bảo khả năng cung cấp cho các khách hàng khi có nhu cầu lớn. Giá trị hàng tồn kho của Công ty tại thời điểm 31/12/2012 là 2.322.742.580 đồng, ngày 31/12/2011 là 2.228.228.295 đồng và 31/12/2010 chỉ là

1.979.672.330 đồng. Dẫu biết rằng mục tiêu trong quản lý hàng tồn kho là tối thiểu

43

hóa giá trị hàng tồn kho phải giữ nhưng vẫn phải đảm bảo khả năng cung ứng sản phẩm ra thị trường

Thứ năm: Công tác lập dự phòng không được quan tâm đúng mức. Trong kinh

doanh không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió” do đó không phải khi nào Công

ty cũng thu hồi được tất cả các khoản phải thu của khách hàng. Mặt khác, trong nền

kinh tế thị trường giá cả vật tư hàng hoá cũng luôn biến động dù ít hay nhiều. Do vậy, việc xác định và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải thu khó đòi là

việc rất cần thiết. Nó sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho Công ty trên cả khía cạnh tài

chính và thuế. Việc Công ty đã không lập các khoản dự phòng là một thiếu sót và nó

đã ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty.

Nói tóm lại, trong những năm qua, tuy Công ty đã có nhiều cố gắng tìm mọi biện

pháp tháo gỡ khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh song trong công tác

quản lý sử dụng vốn lưu động vẫn còn một số vấn đề tồn tại. Do vậy, Công ty cần

nhanh chóng đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những tồn tại trên để nâng

cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Trên cơ sở phân tích tình hình quản lý và

sử dụng vốn lưu động, phân tích các đặc diểm chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử

dụng vốn lưu động cùng vớinhững tồn tại và hạn chế của Công ty TNHH Hoá vật liệu

và ứng dụng công nghệ mới. Việc tiếp cận, nghiên cứu và tìm ra biện pháp nhằm nâng

cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty là điều hết sức cần thiết.

2.5. Thuận lợi và khó khăn của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công

nghệ mới

2.5.1. Thuận lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn hiện

nay

Chính sách của nhà nước là nâng cấp, hiện sửa chữa và thay thế thiết bị hư hỏng

bằng những thiết bị mới chất lượng cao giá cả phù hợp đặc biệt là chủ trương đại hóa,

công nghiệp hóa vì thế mà Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới có

thể tận dụng cơ hội này để tiếp cận những đơn hàng này có giá trị vô cùng lớn

Bên cạnh đó nhà nước còn có một số dự án lớn nhằm phụ vụ đời sống ở các vùng sâu vùng xa như đưa điện về nông thôn đây cũng là thị trường vô cùng tiềm năng của

doanh nghiệp do đây là một thị trường tuy nhỏ nhưng đang bị bỏ ngỏ khi thị trường chính đã bão hòa

Nhà nước còn có chính sách kích cầu bằng việc cho các doanh nghiệp với lãi xuất thấp và đây cũng là cơ hội cho doanh nghiệp vay vốn để mở rộng quy mô doanh

nghiệp trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp cận với các nguồn vốn đã dễ dàng hơn so với trước kia.

Nhà nước có một số chính sách như tuyên truyền người Việt dùng hàng Việt,

giảm thuế cho các sản phẩm công nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao như ô tô. . . từ đó

44

giúp cho các sản phẩm của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới có thể dễ dàng tìm kiếm được những khách hàng lớn như các Công ty sản xuất ô tô.

Công ty có những sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ làm hài lòng khách hàng,

tạo được uy tín trên thị trường . Ngoài ra, Công ty còn có đội ngũ cán bộ công nhân

viên có trình độ cao, nhiệt huyết và tận tâm trong công việc. Công ty còn có khả năng

đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt, ít khi lâm vào tình trạng hết hàng, tạo ra ưu thế cạnh tranh lớn so với các đối thủ. Hơn nữa, khách hàng có xu hướng dùng hàng Việt chất

lượng cao giá cả phù hợp nên các sản phẩm của Công ty rất phù hợp ở thị trường trong

nước.

Trong thời đại toàn cầu hóa, với khả năng của mình, Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới không chỉ có khả năng cạnh tranh song phẳng ở thị trường

Việt Nam mà còn có cơ hội đưa sản phẩm của mình tới thị trường quốc tế. Dù là một

doanh nghiệp thuộc dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng nếu tìm được đối tác nước

ngoài đáng tin cậy, Công ty hoàn toàn có thể đưa các sản phẩm của mình ra thị trường

quốc tế. Với lợi thế về giá cả và chất lượng, Công ty hoàn toàn có khả năng thâm nhập

vào thị trường Trung Quốc cũng như các thị trường khác trong khu vực Đông Nam Á.

2.5.2. Khó khăn Điểm yếu: Điểm yếu chính của Công ty là vấn đề sử dụng vốn lưu động. Ban lãnh đạo cần

phải sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả hơn để tăng doanh thu cho Công ty

hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh để tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Giải pháp

cho vấn đề này sẽ được nêu rõ ở phần 3. Ngoài ra Công ty chưa chú trọng tìm thêm

đầu ra mới cho các sản phẩm và dịch vụ của mình tạo ra sự khó khăn trong việc tang

doanh thu. Công ty cần phải đầu tư thêm cho quảng cáo, marketing, thăm dò thị trường

để tìm liếm thêm khách hàng.

Thách thức:

Bên cạnh thuận lợi và các cơ hội đang mở ra trước mắt thì cũng tồn tại không ít thách thức cho Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới. Vì Công ty

này là doanh nghiệp còn trẻ kinh nghiệm còn chưa nhiều và chịu sự cạnh tranh rất mạnh từ các đối thủ cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn có các doanh nghiệp nước ngoài và yêu cầu từ phía khách hàng ngày cao về mặt chất lượng và mẫu mã, giá cả và cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính chất toàn cầu cũng tác động không nhỏ tới

doanh nghiệp. Ngày nay, khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn cho mình ở những mặt hàng thiết bị điện do có sự cạnh tranh của cơ chế thị trường nên Công Ty đang gặp phải sự cạnh tranh vô cùng gay gắt.

45

Đối thủ cạnh tranh chính của Công ty là: Công ty TNHH máy và thiết bị điện Đồng An Xin, Tập Đoàn Knill Gruppe, Công ty cổ phần HAMATRA Công nghiệp

(đại lý độc quyền của loruenser tại việt nam), Công ty thiết bị điện công nghiệp Cát

Vạn Lợi đây là những Công ty có tiềm lực tài chính rất mạnh và chiếm một thị phần

không nhỏ về thiết bị điện tại thị trường Việt Nam

46

PHẦN 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU

ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH HÓA VẬT LIỆU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

MỚI

3.1. Môi trƣờng kinh doanh

Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới hoạt động kinh doanh

trong ngành nghề kinh doanh phụ trợ, nên gặp rất nhiều khó khăn cũng như cơ hội trong ngành nghề kinh doanh hiện tại.

Bước sang thế kỷ 21 thế kỷ của công nghệ, và nhà nước có rất nhiều dự án phát

triển ngành điện và thiết bị, phụ kiện cho ngành điện doanh nghiệp với sức trẻ và có

những bước đi táo bạo và chiến lược phát triển đúng đắn sẽ tạo tiền đề phát triển cho Công ty và doanh nghiệp phải tích cực áp dụng những thành quả của sự phát triển của

khoa học công nghệ vào trong sản xuất.

Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế

Trong năm 2008, do tình hình đóng băng của thị trường bất động sản và chính

sách thắt chặt tiền tệ, các ngành nghề đều bị ảnh hưởng đặc biệt là những ngành nghề

phụ trợ. Các Công ty trong nền kinh tế gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản

phẩm, dẫn đến nguồn vốn bị ứ đọng. Hầu hết các doanh nghiệp đều kinh doanh thua lỗ

hoặc hòa vốn từ đó ảnh hưởng đến đời sống của công nhân viên từ đó đã gián tiếp ảnh

hưởng đến chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà Công ty đang cung cấp.

Lãi suất ngân hàng trong giai đoạn 2010-2011 liên tục tăng cao, từ đó ảnh hưởng

đến việc huy động vốn từ các ngân hàng của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn.

Đặc biệt là sau thời điểm các ngân hàng siết mạnh việc cho vay đã làm một số doanh

nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn sản xuất.

Yếu tố chính trị -luật pháp:

Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị

trường, vì vậy pháp luật và các chính sách của Việt Nam thường xuyên có những thay

đổi để phù hợp với thực tiễn, phù hợp với thông lệ quốc tế. Là một doanh nghiệp hoạt

động tại Việt Nam, các Công ty đều phải chịu sự chi phối của đồng thời Luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp cổ phần còn chịu ảnh hưởng của Luật Chứng khoán. Hơn

nữa, khi thực hiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thì hoạt động của các Công ty sẽ còn chịu sự điều chỉnh của các quy định niêm yết của Sở giao dịch chứngkhoán, chính sự điều chỉnh này sẽ làm cho hoạt động của Công ty ngày càng minh bạch, nâng cao năng lực quản trị Công ty. Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn là

một thị trường khá mới mẻ, tính ổn định chưa cao, do đó các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán có thể sẽ gây lúng túng cho các doanh nghiệp. Với tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, đời sống

của người dân được nâng cao nhiều, do đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ cũng tăng, các

47

ngành phụ trợ cho sản xuất nhờ đó cũng được thúc đẩy tại Việt Nam, tuy nhiên một số ngành phụ trợ chưa thực sự phát triển và tạo được uy tín trong các nhà sản xuất.

Yếu tố nhân khẩu học:

Hiện nay, dân số Việt Nam hơn 90 triệu người, đứng thứ 3 Đông Nam Á, thứ 13

thế giới.

Giai đoạn 2000 –2013, tốc độ tăng dân số bình quân 1,2%/năm. Dự báo Việt Nam có nguy cơ bùng nổ dân số rất cao. Dân số Việt Nam đông và lực lượng lao động

đồi dào nhưng số lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn còn thấp, chưa đáp ứng

được yêu cầu của các doanh nghiệp, Sự mất cân đối giữa nhu cầu về lao động trình độ

chuyên môn cao và số lượng đáp ứng được nhu cầu này còn rất thấp, khiến cho nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp bị hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng phát triển.

Yếu tố văn hóa xã hội:

Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí hóa tăng cao, nền kinh tế đất nước

hội nhập nhiều hơn với nền kinh tế thế giới. Các Công ty có khả năng mở rộng phát

triển thị trường.

Quá trình đô thị hóa nông thôn ngày càng được các cấp bậc nhà nước triển khai

nhiều hơn, từ đó dẫn đến các công trình, kiến trúc thuộc về cơ sở hạ tầng phục vụ phát

triển kinh tế nông thôn sẽ được mở rộng phát triển nhiều ở nơi này, làm tăng nhu cầu

mở rộng, xây dựng cũng như các thiết bị máy móc công nghiệp.

Yếu tố công nghệ:

Công nghiệp phụ trợ tuy là một mới phát triển tại Việt Nam nhưng đã đóng vai

trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đến nay, đã có nhiều

công nghệ mới, thiết bị hiện đại đã đi vào sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao. Có thể

thấy hiệu quả do áp dụng công nghệ mới, thiết bị hiện đại thể hiện trên từng công đoạn

của dây chuyền sản xuất:

Sự phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng sâu rộng trong ngành

công nghiệp đã tạo ra những cơ hội thuận lợi cho đầu tư nâng công suất để đáp ứng

nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của thị trường và hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường. Bên cạnh đó, quá trình này cũng đem đến những khó khăn nhất định đối

với các Công ty vừa và nhỏ trong ngành trong việc cải tiến công nghệ, quản lí chất lượng sản phẩm và vấn đề môi trường để theo kịp các Công ty dẫn đầu ngành.

Yếu tố tự nhiên: Sự phát triển của ngành công nghiệp nói chung và các ngành phụ trợ nói riêng

chịu sự chi phối nhiều từ nguồn nguyên liệu sẳn có trong tự nhiên cũng như mức độ dồi dào của các nguồn nguyên liệu này. Những doanh nghiệp không có lợi thế nằm gần nguồn nguyên liệu sẽ gặp những khó khăn nhất định về các chi phí liên quan đặc

biệt là chi phí vận chuyển. Các Công ty bố trí gần các khu kinh tế các thành phố lớn

48

của quốc gia sẽ có lợi thế hơn hẳn trong quá trình tiếp cận thị trường tiêu thụ rộng lớn và giảm thiểu chi phí vận chuyển trong giao nhận hàng.

3.2. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

Đẩy nhanh quá trình tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp bằng cách lựa chon

những kênh phân phối phù hợp với doanh nghiêp nhằm đem lại hiệu quả cao trong tiêu thụ. Do mô hình Công ty nhỏ vì thế viêc tìm kiếm thị trường là hết sức cần thiết.

Cần nghiên cứu tìm hiểu thị trường, khách hàng đế có thể hoạch định những

chiến lược rõ ràng cho Công ty trong tương lai. Để làm được điều này thì ban giám

đốc cần hoạch định kế hoạch cụ thể chi tiết. Vì khách hàng của doanh nghiệp chủ yếu là các đơn vị xây lắp dân dụng hay các cửa hàng buôn bán đồ điện, vật liệu xây dựng.

v. v. . Doanh nghiệp cần chú trọng tìm hiểu về các khách hàng tiềm năng, việc tìm

hiểu về khách hàng về những yếu tố như năng lực tài chính, lĩnh vực kinh doanh, thái

độ chính tri sẽ giúp cho Công ty nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng để có kế hoạch

sản xuất phù hợp, ngoài ra doanh nghiệp cũng cần phải tìm hiểu đối thủ cạnh tranh

nhằm tránh được những rủi ro đáng tiếc.

Tăng cường kiểm tra kiểm soát nguyên vật liệu và xây dựng chính sách dự trữ

hiệu quả để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục

Do Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới có cơ sở sản xuất riêng nhưng Phòng kế toán chuyên kiểm tra nguyên vật liệu lại làm việc chưa hiệu quả

vẫn để xảy ra tình trạng lãng phí nguyên vật liệu. Công ty phải đưa ra định mức phù

hợp về nguyên vật liệu. Hơn nữa, việc kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào là

cực kỳ quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm của Công ty. Chất lượng

nguyên vật liệu tốt sẽ sản xuất ra sản phẩm tốt, giảm tỷ lệ sai hỏng tăng tỷ lệ thành

phẩm chất lượng cao.

Như vậy, ta thấy Công ty có xu hướng tập trung vào chuyên môn hoá việc buôn

bán sản phẩm vật liệu thiết bị điện, và làm trung gian phân phối cho những nhà sản

xuất trong nước, đồng thời có xu hướng bán sản phẩm cả gói, tức là kinh doanh tất cả những sản phẩm phục vụ cho lắp đặt hệ thống điện sinh hoạt và sản xuất, nhưng vẫn

có sự tập trung vào những sản phẩm có chất lượng và giá trị cao.

Trước mắt Công ty tập trung vào nghiên cứu mở rộng thị trường cho sản phẩm chính của Công ty bằng cánh tìm hiểu và đưa ra những kênh phân phù hợp có thể nhanh chóng hay dễ dàng đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến với các cá nhân hay tổ

chức nhằm mục đích xác lập vị trí của mình trên thị trường, tích tụ tập trung vốn để mở rộng qui mô kinh doanh và nâng cao trình độ quản lý và sẵn sàng liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty.

49

Công ty luôn chú trọng vào nguồn nhân lực của Công ty và coi đó là tài sản quý giá nhất mang lại thành công cho Công ty. Việc xây dựng chính sách tốt để phát triển

nguồn nhân lực là một trong những ưu tiên hàng đầu.

Luôn chú trọng vào nguồn nhân lực của Công ty và coi đó là tài sản quý giá nhất

mang lại thành công cho Công ty. Việc xây dựng chính sách tốt để phát triển nguồn

nhân lực là một trong những ưu tiên hàng đầu.

Trong những năm tới, Công ty sẽ thực hiện việc tuyển dụng nhân viên có trình độ

và kinh nghiệm giỏi và tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên Công ty,

cung cấp các điều kiện làm việc tốt và chế độ khen thưởng kịp thời đối với các nhân

viên, tập thể ph òng ban có thành tích xuất sắc, có sáng kiến tạo lợi nhuận cho Công ty nhằm khuyến khích người lao động phát huy tối đa năng lực của mình

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ mới

Qua xem xét tình hình tổ chức, huy động và sử dụng vốn lưu động của Công ty

trong những năm vừa qua cho thấy: Mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp

nhiều khó khăn. Song với sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng uỷ, Ban Giám đốc

cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty đã chứng tỏ sự nỗ lực vươn

lên, quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra.

Nhìn lại, các năm 2010-2012 là một năm có nhiều khó khăn thử thách với Công ty: Chưa có nhiều kinh nghiệm khi cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, cạnh

tranh giữa các đơn vị cùng ngành diễn ra một cách gay gắt, giá cả nguyên vật liệu có

nhiều biến động. Điều này đã tác động không nhỏ tới quá trình kinh doanh, hiệu quả

kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty.

Ngày nay nhu cầu, thị hiếu của khách hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày

càng cao. Để có thể tồn tại và phát triển được một cách vững chắc, nhận biết điều đó,

Công ty đã không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình, đầu tư đổi

mới dây chuyền sản xuất, hiện đại hoá máy móc thiết bị, xây dựng mới nhà cửa, kho

hàng. . . Nhờ thế có thể ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, Công ty còn bộc lộ một số tồn tại

cần khắc phục trong quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh nói chung vốn lưu động nói riêng. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, qua tìm hiểu thực tế em xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp sau:

3.3.1. Chủ động trong công tác huy động và sử dụng vốn lưu động.

- Giải pháp tạo lập vốn cho Công ty. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển hoạt động

sản xuất kinh doanh của mình, Công ty có thể huy động một lượng vốn tiền tệ nhất

50

định. Do đó việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn lưu động là một trong những biện pháp tài chính hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

doanh của toàn Công ty.

Với ba nhiệm vụ chính là: Sản xuất, thương mại, vốn lưu động của Công ty cần

phải chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Hàng năm để quá

trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, Công ty thường phải dự trữ một lượng nguyên vật liệu khá lớn. Nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo việc tổ chức và sử dụng

vốn lưu động mang lại hiệu quả cao, theo em khi lập kế hoạch huy động và sử dụng

vốn lưu động Công ty cần chú trọng một số vấn đề sau:

- Trước hết phải xác định một cách chính xác nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là nhu cầu thu mua nguyên vật liệu, đảm bảo tính liên

tục cho quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn cần thiết phục vụ cho tái đầu tư

trong các lĩnh vực: Đổi mới trang thiết bị, đào tạo cán bộ công nhân viên. . . Từ đó đề

ra các biện pháp huy động nhằm cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời, tránh tình trạng

thiếu vốn như hiện nay, gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

- Trên cơ sở xác định vốn lưu động như kế hoạch đã lập, Công ty cần xây dựng

kế hoạch huy động bao gồm: Việc lựa chọn nguồn tài trợ tích cực nhất, xác định số

vốn hiện có, số vốn cần bổ sung. Theo em để đảm bảo cho nhu cầu vốn lưu động,

trước hết Công ty cần phải tìm cách huy động tối đa nội lực từ bên trong, tăng cường huy động các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn trước mắt, tận dụng các

khoản nợ ngắn hạn chưa đến thời hạn thanh toán như các khoản phải trả công nhân

viên, thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước nhưng chưa đến kỳ nộp, áp

dụng hình thức tín dụng thương mại (Mua chịu đối với người cung cấp), bởi khi sử

dụng các khoản vốn này giúp Công ty không phải bỏ ra chi phí, Công ty càng có nhiều

điều kiện nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.

Thực tế đã cho thấy số vốn bị chiếm dụng của Công ty hiện nay là nhỏ, tuy

nhiên trong từng thời điểm gì số vốn bị chiếm dụng lại rất lớn, buộc Công ty phải đi

vay ngắn hạn để có vốn sản xuất. Như vậy nếu Công ty nhanh chóng thu hồi được các khoản phải thu thì sẽ có vốn để bổ sung cho nhu cầu vốn lưu động, từ đó giảm được

chi phí cho các khoản vay ngắn hạn từ Ngân hàng. Để làm được điều này theo em, Công ty nên áp dụng các biện pháp như: Chiết khấu, giảm giá ở một mức độ hợp lý đối với khách hàng quen thuộc và thanh toán trước thời hạn, đồng thời có biện pháp đôn đốc khách hàng thanh toán tiền hàng, tránh tình trạng vốn bị chiếm dụng quá

nhiều như năm vừa qua.

Công ty cũng có thể vay của cán bộ công nhân viên, đây là một nguồn vốn rất hữu ích vì tiềm năng của nó nhiều khi là rất lớn. Trong những năm gần đây, cùng với

sự phát triển của Công ty, thu nhập của cán bộ công nhân viên cũng tăng theo, họ có

51

điều kiện bỏ ra những khoản tiền tích luỹ, đầu tư. Công ty nên khai thác tập trung nguồn vốn này sẽ giúp cho Công ty có thêm vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh

doanh mà không phải thông qua các thủ tục phức tạp, những đòi hỏi khắt khe của

Ngân hàng khi muốn vay vốn. Hơn nữa, về phía cán bộ công nhân viên trong Công ty,

việc cho Công ty vay vốn trước hết là họ sẽ được hưởng lãi suất thích đáng, đồng thời

tăng thêm sự gắn bó của mình với Công ty, thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn bởi vì trong đó có cả số vốn mà họ đã đầu tư vào Công ty.

Khi đã huy động tối đa nội lực từ bên trong mà vẫn chưa đủ vốn cho hoạt động

kinh doanh, lúc này Công ty có thể huy động thêm vốn từ nguồn bên ngoài bằng cách

vay Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Trong những năm vừa qua số vốn vay Ngân hàng của Công ty chiếm tỷ trọng không đáng kể, dokhi sử dụng nguồn vốn này

Công ty phải trả một khoản lãi suất nhất định nên ban lãnh đạo Công ty không chú

trọng sử dụng nguồn vốn đi vay từ bên ngoài, nhưng để tạo áp lực trong kinh doanh thì

Công ty cần sử dụng đòng bẩy tài chính và có chính sách hiệu quả nhất cho các khoản

vay như tất cả các khoản vốn mà Công ty huy động được cần phải đưa vào sử dụng

ngay, sử dụng có hiệu quả để tránh các chi phí phát sinh gây lãng phí, nếu không tình

hình tài chính của Công ty sẽ gặp phải không ít khó khăn. Đồng thời trong thời gian tới

Công ty cần xây dựng được những dự án kinh doanh mới có hiệu quả và thuyết phục

các tổ chức tín dụng để có thể vay thêm vốn cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên để có thể khai thác tốt nguồn vốn này đòi hỏi Công ty phải hoạt động

có hiệu quả và tình hình tài chính của Công ty phải ổn định, rõ ràng nhờ đó mới có thể

nâng cao uy tín của Công ty đối với cán bộ công nhân viên, Ngân hàng, tổ chức tín

dụng, cơ quan quản lý cấp trên, tạo niềm tin của họ và hoạt động kinh doanh của Công

ty. Song song với kế hoạch tổ chức huy động vốn, Công ty cần chủ động lập kế hoạch

về phân phối và sử dụng số vốn đã tạo lập được sao cho có hiệu quả nhất.

-Về chiến lược sử dụng vốn của Công ty.

Khi đưa các nguồn vốn huy động được vào sử dụng, Công ty cần căn cứ vào kế

hoạch huy động và sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh đã lập, làm cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tế của Công ty. Nếu trong trường hợp có phát sinh thêm nhu

cầu vốn lưu động, Công ty cần chủ động đáp ứng kịp thời nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục, không gián đoạn. Ngược lại, nếu thừa vốn lưu động Công ty phải có biện pháp xử lý linh hoạt như đầu tư mở rộng sản xuất, cho các đơn vị khác vay. . . làm cho đồng vốn luôn vận động và không ngừng sinh sôi nảy nở.

Kế hoạch huy động và sử dụng vốn kinh doanh là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng như đối với các kế hoạch khác, do đó việc lập các kế hoạch này nhất thiết phải dựa vào sự phân tích tính toán và các chỉ tiêu kinh tế tài

chính của các kỳ trước làm cơ sở, kế hoạch phải được lập sát, đúng, toàn diện và đồng

52

bộ làm cơ sở tin cậy cho việc tổ chức và sử dụng vốn lưu động mang lại hiệu quả cao nhất cho Công ty. Sau khi xây dựng kế hoạch huy động vốn, việc lựa chọn nguồn vốn

nào phải dựa trên nguyên tắc hiệu quả kinh tế, nhưng tốt hơn là nên huy động nguồn

vốn Công ty tự bổ sung từ các quỹ, nếu vẫn thiếu mới vay Ngân hàng và các tổ chức

tín dụng khác. Khi vay vốn cần tránh để tình trạng vốn vay chiếm tỷ lệ lớn hơn tài sản

lưu động. Nếu Công ty có nguồn vốn tự bổ sung lớn thì sẽ có sức hút mạnh đối với các nhà cho vay, các chủ nợ vì như vậy Công ty sẽ có khả năng trả các khoản nợ hơn.

Công ty sẽ mạnh dạn trong việc ra quyết định đầu tư, khẳng định tiềm năng của mình.

Tuy nhiên cần phải biết bảo quản, mở rộng vốn đi vay bằng cách khi bỏ ra một lượng

vốn đầu tư phải làm sao cho vòng luân chuyển vốn lại thấp nhất. Ngoài ra Công ty nên tận dụng bộ phận tiền chưa sử dụng trong qũy để kinh doanh như vậy sẽ làm giảm bớt

gánh nặng về lãi suất vay, từ đó có điều kiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu

động.

3.3.2. Tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh.

Điều hành và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh là một công tác quan

trọng nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao. Tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh

tức là đảm bảo cho quá trình này được tiến hành thông suốt, đều đặn, nhịp nhàng giữa

các khâu sản xuất, kinh doanh, dự trữ, tiêu thụ sản phẩm; Đảm bảo sự phối hợp ăn

khớp, chặt chẽ giữa từng khâu cũng như các bộ phận trong Công ty nhằm tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt nhất.

Muốn đạt được điều đó, công tác điều hành quản lý kinh doanh, hạn chế tối đa

thời gian ngừng hoạt động của máy móc, đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời nguyên

vật liệu cho quá trình sản xuất, hạn chế tối đa các sản phẩm sai quy cách, dự trữ hàng

tồn kho hợp lý, tránh lãng phí các yếu tố sản xuất, làm chậm tốc độ luân chuyển vốn.

Để đạt được mục tiêu trên, Công ty cần phải quản lý tốt từng yếu tố sản xuất.

Một trong các yếu tố có ý nghĩa quan trọng đó là: Việc quản lý tài sản lưu động, vốn

lưu động.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng phụ thuộc vào việc sử dụng tiết kiệm và tăng cường tốc độ luân chuyển vốn

lưu động. Do vậy Công ty cần phải tăng cường biện pháp quản lý vốn lưu động bằng cách:

-Xác định đúng nhu cầu vốn cần thiết cho từng thời kỳ sản xuất kinh doanh từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn lưu động đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của Doanh nghiệp. Đây là việc làm hết sức quan trọng bởi nếu không xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hoặc thừa vốn gây những tác động không tốt tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nếu xác định nhu cầu vốn lưu

động quá thấp dẫn tới thiếu vốn lưu động, Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn, khả năng

53

thanh toán giảm, sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, thiệt hại do ngừng sản xuất, không thực hiện đúng được các hợp đồng đã ký với khách hàng, uy tín Công ty sẽ bị giảm

sút. Ngược lại nếu xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ dẫn đến tình trạng thừa

vốn lưu động, gây lãng phí, ứ đọng vật tư hàng hoá, giảm tốc độ luân chuyển vốn và

phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành của sản phẩm, dịch vụ, ảnh

hưởng tới sức cạnh tranh của Công ty trên thị trường.

Vì vậy cần phải làm tốt công tác này để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh

doanh được tiến hành thuận lợi mang lại hiệu quả sử dụng vốn lưu động là tốt nhất.

Tuy nhiên nhu cầu vốn lưu động lại là một đại lượng không cố định, chịu ảnh hưởng

của nhiều nhân tố như: Quy mô sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ; sự biến động của giá cả vật tư, hàng hoá mà Công ty sử dụng trong sản xuất; chính sách, chế độ về

lao động và tiền lương đối với người lao động; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn

lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất cũng như sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Vì

vậy muốn xác định vốn lưu động được chính xác, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn

lưu động Công ty cần tìm các biện pháp phù hợp tác động đến các nhân tố ảnh hưởng

trên theo hướng có lợi mang lại hiệu quả cao nhất.

- Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ nguyên vật liệu. Tìm các biện pháp hạ giá

thu mua tới mức tối thiểu, hạn chế ứ đọng vật tư hàng hoá tránh tình trạng vật tư hàng

hoá bị kém hoặc mất phẩm chất.

- Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, tiêu dùng vật tư theo định mức, tránh lãng phí

nhằm giảm chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm.

- Đưa ra các biện pháp thay đổi phương thức thanh toán, khuyến khích khách

hàng. . . Để các khoản phải thu không bị chậm hơn so với thời gian quy định, tránh

tình trạng bị chiếm dụng vốn quá lâu.

- Tổ chức hợp lý quá trình lao động, tăng cường kỷ luật, nâng cao năng suất, chất

lượng và hiệu quả lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất bằng các hình thức khuyến

khích tinh thần lao động tiết kiệm sáng tạo như khen thưởng.

- Để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh một trong các biện pháp quan trọng là Công ty cần phải đa dạng hoá các sản phẩm của mình mà nên mở rộng hơn nữa thị

trường, tìm kiếm các khách hàng ngoài ngành có nhu cầu. mở rộng hoạt động quảng cáo nhằm tăng doanh thu. Bên cạnh đó Công ty còn cần tìm những nhà cung ứng nguyên vật liệu ổn định, tin cậy, giá cả hợp lý, mở rộng hơn nữa hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

- Xây dựng quan hệ bạn hàng đối với khách hàng, nhằm củng cố uy tín trên thương trường. Trong các giao dịch kinh tế tài chính đối với khách hàng phải tổ chức tốt quá trình thanh toán, tránh và giảm các khoản nợ đến hạn mà chưa đòi được. Đồng

thời cũng không để tình trạng công nợ dây dưa không có khả năng thanh toán.

54

3.3.3. Tổ chức tốt công tác tiêu thụ, thanh toán tiền hàng và thu hồi công nợ.

Thực tế qua các năm vừa qua, công tác thanh toán tiền hàng và thu hồi công nợ

của Công ty đã hoàn thành một số chỉ tiêu đề ra nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn và

đã bộc lộ một số hạn chế. Do hoạt động mua bán kinh doanh hàng hoá của Công ty

diễn ra hết sức đơn điệu, hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ diễn ra khi có đơn đặt

hàng của khách hàng mà chưa có tiền đặt cọc, nhiều khi sản phẩm đã hoàn thành nhưng khách hàng chưa muốn đến nhận, Công ty phải xếp vào kho gây ra tình trạng ứ

đọng vốn. Khi khách hàng đến lấy hàng đúng thời gian thì lại chậm trễ trong khâu

thanh toán. Chính vì vậy đã làm cho hàng tồn kho và số vốn mà Công ty bị khách hàng

chiếm dụng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Kỳ thu tiền bình quân kéo dài ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của Công ty.

Để phát huy vai trò tự chủ về tài chính, đảm bảo tăng nhanh vòng quay của vốn

lưu động, Công ty cần phải có các biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tình trạng vốn bị

chiếm dụng quá nhiều làm giảm thấp hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của Công ty nói riêng. Theo em để giải quyết vấn đề này

trong thời gian tới Công ty có thể áp dụng một trong các biện pháp sau:

- Trong công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm, Công ty phải quy định rõ thời hạn

thanh toán và hình thức thanh toán tiền hàng trên hoá đơn, chứng từ và các bên phải có

trách nhiệm tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm túc các điều khoản đã quy định, đồng thời Công ty cũng nên đề ra các hình thức bồi thường nếu một trong các bên vi phạm

điều khoản trên.

- Tăng cường các biện pháp khách hàng thanh toán tiền hàng như sử dụng chiết

khấu bán hàng, giảm giá, chiết khấu cho những khách hàng quen thuộc, mua và đặt

hàng với số lượng lớn, thanh toán sớm thời hạn. Nếu thực hiện được điều này chắc

chắn công tác thu hồi tiền hàng của Công ty sẽ nhanh chóng hơn, hạn chế được tình

trạng thanh toán chậm, dây dưa khó đòi. Tuy nhiên để làm được điều này, Công ty

cũng phải nghiên cứu kỹ để đề ra một tỷ lệ chiết khấu hợp lý nhất vẫn phải đảm bảo

phát huy được hiệu quả. Theo em để định ra một tỷ lệ chiết khấu này, Công ty cần phải dựa vào lãi suất ngân hàng về vốn vay, vì thực tế cho thấy trong thời gian vốn bị khách

hàng chiếm dụng sẽ buộc Công ty phải đi vay vốn Ngân hàng cho sản xuất kinh doanh và tất nhiên Công ty phải trả một khoản lãi nhất định, hơn nữa khi vay vốn ngân hàng lại đòi hỏi các thủ tục phức tạp. Để tránh tình trạng này và chủ động trong việc sử dụng vốn, Công ty có thể đưa ra một tỷ lệ chiết khấu thấp hơn và thậm chí tương

đương với lãi suất Ngân hàng trong trường hợp cần thiết để có thể thu hồi tiền hàng ngay vì chắc chắn điều này còn có lợi hơn là đợi khách hàng thanh toán toàn bộ tiền hàng sau một thời gian nhất định, những khoảng thời gian đó Công ty lại phải đi vay

để có vốn sản xuất.

55

- Đối với các khoản phải trả cho người bán, Công ty phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi giao tiền. Vì nguyên vật liệu của Công ty bị hạn chế về nguồn cung ứng, giá

cả không ổn định, vì thế Công ty phải trả tiền trước cho nhà cung ứng để mua nguyên

vật liệu. Song thực tế cho thấy, khi đã nhận được tiền rồi người bán có thể giao cho

Công ty những mặt hàng không đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng về chủng

loại. Công ty cần phải lựa chọn phía đối tác có uy tín cao, tránh hiện tượng giao tiền nhưng không nhận được hàng, vốn bị chiếm dụng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng

vốn của Công ty.

- Trong thời gian tới để tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả kinh doanh của

Công ty, một mặt Công ty nên đẩy mạnh hoạt động kinh doanh hiện có, mặt khác Công ty có thể nghiên cứu nhu cầu thị trường để tiến hành kinh doanh các mặt hàng

mới phải xây dựng nhiều dự án đầu tư mới. Mạnh dạn khai thác, đầu tư, kinh doanh

mặt hàng mới, mở rộng thị trường. Chú trọng hơn nữa hoạt động kinh doanh xuất

khẩu, thu ngoại tệ, mở rộng liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước để

củng cố thêm vốn, giải quyết nhanh chóng lượng hàng tồn kho để thu hồi vốn lưu

động. Xây dựng bộ máy maketting theo dõi, nắm bắt nhanh nhu cầu về sản phẩm dịch

vụ của khách hàng. Phân loại khách hàng vào khu vực thị trường, tìm những sản phẩm

có khả năng tiêu thụ lớn, tiến hành lập dự kiến về giá cả, mạng lưới tiêu thụ, tăng

cường công tác quảng cáo, giới thiệu sản phẩm.

3.3.4. Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích kinh tế.

Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các số liệu

kế toán, báo cáo tài chính, tổng kết kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán. . . và so

sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua việc phân tích tình hình tài

chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng

như rủi ro trong tương lai, triển vọng của doanh nghiệp, khả năng thanh toán. . . Nhờ

đó, tìm ra các giải pháp đúng đắn để kịp thời xử lý các vấn đề về tài chính nhằm đảm

bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi đúng theo kế hoạch đã đề ra,

nhằm giải quyết các mối quan tâm của nhiều người như: Ban Giám đốc Công ty, các nhà đầu tư, các chủ nợ, các nhân viên ngân hàng, các nhà Bảo hiểm. . . Mỗi nhóm

người này có những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính doanh nghiệp, nhưng thường liên quan tới nhau:

- Đối với các nhà doanh nghiệp và các nhà quản trị, mối quan tâm hàng đầu của

họ là lợi nhuận và khả năng trả nợ. Ngoài ra các nhà quản trị còn quan tâm tới các mục tiêu khác như: Tạo công ăn việc làm cho nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí. . . Tuy nhiên, một doanh nghiệp có thể thực hiện các mục tiêu này nếu

đáp ứng được hai thử thách sống còn là kinh doanh có lãi và thanh toán công nợ.

56

- Đối với các chủ Ngân hàng và các nhà cho vay: Mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy họ đặc biệt quan tâm tới số

lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh. Từ đó so sánh với

số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Đồng thời

họ cũng quan tâm tới số vốn chủ sở hữu vì số vốn này chính là khoản bảo hiểm cho họ

trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro.

- Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá: Họ phải quyết định xem có cho phép

khách hàng mua chịu hay không. Để đưa ra được quyết định họ cần phải biết được khả

năng thanh toán của khách hàng hiện tại và trong thời gian tới.

- Đối với các nhà đầu tư mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như: Các rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lời, khả năng thanh toán. . . Vì vậy họ cần những

thông tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và khả năng tăng

trưởng của doanh nghiệp. Những điều đó bảo đảm sự an toàn và tính hiệu quả cho các

nhà đầu tư.

- Bên cạnh những nhóm người đó còn có những nhóm người khác cũng quan tâm

tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp như: Cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ

quan thống kê, các nhà phân tích tài chính. . .

- Công ty cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm toán nội bộ tình

hình tài chính của các đơn vị trực thuộc nhằm lành mạnh hoá công tác tài chính doanh nghiệp.

Tóm lại tổ chức tốt công tác kế toán là một trong những giải pháp quan trọng

nhằm tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh doanh, sử dụng hợp lý

các nguồn vốn nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.

3.3.5. Chú trọng phát huy nhân tố con người, đào tạo bồi dưỡng cán bộ.

Nhân tố con người được xem là một nhân tố vô cùng quan trọng và có ý nghĩa

quyết định trong bất cứ môi trường nào. Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh thì mọi

thành công hay thất bại phần lớn đều do con người đem lại. Trong điều kiện canh tranh

gay gắt của cơ chế thị trường ngày nay, người ta không chỉ cần có vốn, công nghệ là quan trọng hơn cả là phải có những con người sáng tạo dám nghĩ dám làm.

Thực tế trong nhiều năm qua cũng giống như các doanh nghiệp khác, Công ty vẫn chưa khai thác hết được sức sáng tạo, trí tuệ của cán bộ công nhân viên trong Công ty, chưa phát huy hết tiềm năng trong mỗi cá nhân. Đây là một vấn đề tồn tại cần phải có những biện pháp khắc phục. Để huy động được sức mạnh của nhân tố con

người, tạo nên một khối thống nhất thật sự vững mạnh, tạo nên sự lành mạnh của văn hoá doanh nghiệp theo em trong thời gian tới Công ty cần giải quyết một số vấn đề sau.

57

- Thường xuyên đánh giá tổng kết về cơ cấu tổ chức, về trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, từ đó có các khoá học chuyên sâu nâng cao

trình độ chuyên môn. Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ là một việc làm quan trọng, việc

đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Công ty phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu mới, luôn

thay đổi của nền kinh tế, phải dựa trên cơ sở phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá -

hiện đại hoá của đất nước. Trước hết phải rà soát lại cán bộ hiện có để sắp xếp, bố trí lại cho phù hợp với yêu cầu của từng đơn vị và trình độ của từng cá nhân, tìm ra

những bất hợp lý để kịp thời điều chỉnh. Nói chung từ cán bộ quản lý đến công nhân

trực tiếp sản xuất phải được đào tạo và đào tạo lại nhằm đáp ứng được yêu cầu công

tác trong giai đoạn mới. Trong đào tạo cần ưu tiên đúng mức đội ngũ những người trực tiếp làm công tác quản lý tài chính.

- Quản lý công tác cán bộ một cách nghiêm khắc, công minh, nhìn nhận đánh giá

đúng đắn những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình hoạt động của đội ngũ lao

động trong Công ty để từ đó phát huy những điểm tích cực và hạn chế những tiêu cực.

Cần có những khuyến khích vật chất đối với tập thể cũng như cá nhân có những thành

tích, phát minh, sáng kiến, đóng góp cho sự phát triển chung của Công ty; Đồng thời

cũng phải nghiêm khắc phê bình, kiểm điểm những hành vi sai trái làm cản trở sự phát

triển của Công ty.

- Bên cạnh việc quan tâm tới đời sống vật chất Công ty cũng cần quan tâm tới đời sống tinh thần của cán bộ công nhân viên thường xuyên có các hoạt động văn hoá văn

nghệ, nghỉ mát để từ đó tạo nên sự đoàn kết, không khí làm việc tập thể thoải mái,

tương trợ và thật sự hiệu quả.

Làm tốt công tác nhân sự là một nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng. Do vậy Công ty

cần quan tâm nhìn nhận vấn đề này một cách đúng đắn, coi đây là một trong những

chiến lược phát triển của Công ty.

3.3.6. Hoàn thiện các chính sách của Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng

công nghệ mới

Là một doanh nghiệp quản lý trực tiếp nhiều đơn vị trực thuộc, do đó Công ty

phải bổ sung, hoàn thiện các chính sách nói chung và chính sách về vốn lưu động nói riêng. Cụ thể như:

- Chính sách giá cả: Phải xây dựng một chính sách giá hợp lý, coi giá cả là một

công cụ trong cạnh tranh.

- Chính sách tiết kiệm chi phí: Cần phải xây dựng các chính sách về tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông. . . , có các quy định khen thưởng, xử phạt trong việc sử dụng chi phí tiết kiệm hiệu quả hay lãng phí.

- Chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ.

58

- Chính sách phân phối vốn, phân phối các quỹ trong Công ty phải được lập cụ

thể và hợp lý.

Muốn quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải thực hiện chính

sách tiết kiệm một cách đồng bộ và thường xuyên. Xây dựng các định mức chi phí

phải sát, đúng, hợp lý, phải thường xuyên kiểm tra quá trình thực hiện để kịp thời uốn

nắn chung cho toàn Công ty.

Với khối lượng hàng hoá mua bán trong năm là tương đối lớn vì vậy việc hạ thấp

tỷ lệ hao hụt hàng hoá cũng là một biện pháp tiết kiệm vốn quan trọng. Đây được coi

là nguồn hình thành vốn tự có đáng kể hàng năm của Công ty.

3.4. Một số kiến nghị với cấp quản lý

Xuất phát từ việc xây dựng đề tài tổ chức quản lý sử dụng vốn lưu động cũng

như qua nghiên cứu thực tiễn tại Công ty TNHH Hoá vật liệu và ứng dụng công nghệ

mới, em có một số kiến nghị, đề xuất về phía Nhà nước như sau:

Trong điều kiện Nhà nước còn nhiều khó khăn về tài chính, chưa có điều kiện hỗ

trợ phần nào về vốn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, thì Nhà nước cần phải tạo

môi trường, hành lang pháp lý an toàn hiệu quả để doanh nghiệp chủ động bổ sung

vốn cho mình bằng nhiều hình thức.

Thời gian qua tuy chính phủ đã có nhiều cố gắng trong sửa đổi luật pháp, tạo môi

trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hơn trước. Nhưng vấn đề vẫn còn tồn tại là luật còn thiếu rõ ràng, chậm trong hướng dẫn thực hiện, hay thay đổi dẫn đến không đồng

bộ, gây khó khăn trong định hướng, xác định chiến lược kinh doanh cho mỗi doanh

nghiệp.

- Về luật thuế GTGT, khoảng hơn 40% các doanh nghiệp đánh giá rằng việc áp

dụng luật thuế GTGT vẫn làm tăng mức đóng góp của doanh nghiệp đối với Nhà nước.

Loại thuế này vẫn chưa phát huy hết được các mặt tích cực.

Về công tác triển khai thu thuế: Số lượng lớn các văn bản hướng dẫn về thuế

GTGT, các doanh nghiệp thấy rất khó khăn trong quá trình hoạt động của mình. Việc

hoàn thuế GTGT còn chậm trễ, chưa kịp thời làm cho vốn của Doanh nghiệp bị chiếm dụng.

Thời gian tới Nhà nước nên có chính sách thuế ổn định để doanh nghiệp chủ động tính toán hiệu quả kinh doanh. Khi có thay đổi đề nghị Nhà nước có thông báo trước với một thời gian phù hợp để doanh nghiệp thay đổi, tránh tổn thất do việc đột ngột thay đổi chính sách thuế gây ra.

- Các doanh nghiệp cũng đánh giá những yếu tố khác như: Những hạn chế trong hoạt động xúc tiến, thiếu thông tin cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt những yếu tố như: Buôn lậu, hàng giả, chi phí phụ trợ cao (vận

59

tải, điện, thông tin. . . ) và nhu cầu tiêu dùng trong nước chưa cao trong khi phụ trợ cao đã làm tăng thêm chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Đáng chú ý là vấn đề khó khăn trong việc vay vốn. Việc vay vốn với nhiều thủ

tục phức tạp không thuận lợi cho các doanh nghiệp. Ngân hàng cần có cơ chế thông

thoáng hơn đối với các doanh nghiệp trong việc vay vốn (thủ tục thế chấp, xem xét

tính khả thi của dự án).

Các doanh nghiệp mới thành lập gặp nhiều khó khăn trong vay vốn bởi ngân

hàng chỉ cho doanh nghiệp vay vốn sau hai năm hoạt động có lãi và phải thế chấp.

Doanh nghiệp mới thành lập sẽ lấy gì để thế chấp, để có đủ điều kiện vay đủ nhu cầu

sản xuất kinh doanh. Nên tạo ra sự bình đẳng trong việc vay vốn ngân hàng giữa các doanh nghiệp, đề nghị ngân hàng cho vay bằng tín chấp qua hợp đồng kinh tế mà

doanh nghiệp đã ký với khách hàng. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mới

thành lập có cơ hội phát triển.

- Ngân hàng quản lý ngoại hối cung không đủ cầu gây nên các biến động về tỷ

giá hối đoái, khó khăn cho doanh nghiệp.

- Các thủ tục thanh tra, kiểm tra xin thuê đất hoặc cấp đất của doanh nghiệp chưa

có nhiều tiến bộ thậm chí còn khó khăn hơn. Các doanh nghiệp mong muốn có được

sự cải thiện, giảm bớt phiền hà trong thủ tục hành chính.

Trong thời gian tới nếu Nhà nước giải quyết tốt các vấn đề trên sẽ là điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh

cũng như hiệu quả sử dụng vốn.

60

KẾT LUẬN Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế và xu thế hội nhập mạnh mẽ

hiện nay, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ngày càng là mục tiêu trước mắt và

lâu dài cần đạt tới của tất cả các doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, việc nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động giúp các nhà phân tích tài chính có cái nhìn toàn

diện về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động ở công ty từ đó có thể đưa ra các quyết định, chính sách đúng đắn nhằm nâng cao lợi nhuận. Không nằm ngoài mục đích

trên, bằng việc phân tích tình hình hiệu quả sử dụng vốn lưu động, bài khóa luận đã

đưa ra một số giải pháp để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty trong

các năm tới.

Công ty TNHH Hóa vật liệu và ứng dụng công nghệ mới đã hoạt động trên 10

năm và là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dù có nhiều thuận lợi, ưu điểm trong

việc sử dụng nguồn vốn lưu động nhưng trong những năm gần đây lợi nhuận có phần

giảm sút, hiệu quả hoạt động không được cao. Vì vậy Công ty cần chú trọng hơn vào

nguồn vốn lưu động và áp dụng các giải pháp kiến nghị trên là hoàn toàn khả thi đối

với công ty nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Tuy nhiên do sự hạn chế hiểu biết, thiếu kinh nghiệm thực tế và thời gian có

hạn nên chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được

nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn và có đủ căn cứ khoa học góp phần giúp ích cho công việc sắp tới.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Đặng Vũ Minh

61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GS.TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ - Học viên tài chính, Giáo

trình phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản (Nxb) Tài Chính.

2. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp,

Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Khoa Ngân Hàng-Tài Chính, Nhà xuất bản Lao Động

nămm 2004.

3. TS. Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất ban

Tài Chính.

4. Phan Trọng Phức (2006), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

vừa và nhỏ ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Hải Sản (2010), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống Kê, Hà

Nội

6. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính-tiền tệ, Nxb

Đại học Kinh Tế Quốc Dân

7. PGS.TS. Phạm Quang Trung (2009), Tăng cường năng lực cạnh tranh của các

DN vừa và nhỏ, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

8. Nguyễn Kế Tuấn (2013), Kinh tế Việt Nam 2012: Ổn định kinh tế vĩ mô và

thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế

9. Trâm Anh, Ngân hàng nhà nước, lãi suất cho vay ở 12-15% một năm, Báo

vnexpress.net, (26/9/2012)

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/ebank/ngan-hang/ngan-hang-nha-nuoc-lai-

suat-cho-vay-o-12-15-mot-nam-2722771.html

62

PHỤ LỤC

Báo cáo kết quả kinh doanh 2011

Bảng cân đối kế toán 2011

Báo cáo kết quả kinh doanh 2012

Bảng cân đối kế toán 2012 1. 2. 3. 4.

63

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÖC

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP Đơn vị thực tập:

Xác nhận

Sinh viên:

Ngày sinh:

Mã sinh viên:…..

Lớp:

Chuyên ngành: ….

Trường:

Địa chỉ:

Đã có thời gian thực tập tại đơn vị từ ngày tháng tới ngày tháng

năm 20

Hà Nội, ngày tháng năm 20

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ

THỰC TẬP

(Ký tên, đóng dấu)