BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THẾ ANH MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
: A17413 : TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN
Giáo viên hƣớng dẫn : Th.s Ngô Thị Quyên Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Nguyễn Thế Anh : A17413 : Tài chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo
trường Đại Học Thăng Long, đặc biệt là Cô giáo Th.s Ngô Thị Quyên cùng các bác, cô
chú và anh chị trong Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng xin cảm ơn các
thầy cô giáo giảng dạy trong nhà trường đã truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức bổ
ích để thực hiện khóa luận và cũng như có được hành trang vững chắc cho sự nghiệp
trong tương lai.
Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và
hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 28 Tháng 10 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thế Anh
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác.
Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Thế Anh
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 1
1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp ............................................................... 1
1.1.1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp ................................................................... 1
1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp .................................................................... 2
1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp ............................................................... 4
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ........................................................ 5
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ..................................... 5
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ............... 6
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ............... 6
1.3. Các nhân tố ảnh hƣớng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ... 18
1.3.1. Các nhân tố khách quan .................................................................................... 18
1.3.2. Các nhân tố chủ quan ........................................................................................ 20
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN ................... 21
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn
....................................................................................................................................... 21
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
Thương mại Việt – Hàn ............................................................................................... 21
2.1.2. Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt –
Hàn ................................................................................................................................ 21
2.1.3. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
Thương mại Việt – Hàn ............................................................................................... 23
2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn giai đoạn 2011 – 2013 ............................................. 23
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn ................................................................................................ 27
2.2.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 27
2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 34
2.2.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 49
2.3. Nhận xét hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn............................................................................................... 55
2.3.1. Kết quả đạt được ................................................................................................. 55
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ................................................................................... 56
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN
....................................................................................................................................... 58
3.1. Cơ hội phát triển của Công ty trong thời gian tới ............................................. 58
3.2. Định hƣớng phát triển trong thời gian tới của Công ty Cổ phần Xây dựng và
Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn ................................................................................... 59
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 60
3.3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty .............. 60
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty ................ 67
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt ĐHĐCĐ Tên đầy đủ Đại hội đồng cổ đông
HĐQT GVHB Hội đồng quản trị Giá vốn hàng bán
GTGT Giá trị gia tăng
TSCĐ Tài sản cố định
TSDN TSNH Tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh ....................................................... 25
Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tổng tài sản Công ty CP Xây dựng ............................ 28
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 28
Bảng 2.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tổng tài sản ..................................................... 29
Bảng 2.4. Mức độ ảnh hƣởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA .... 32
Bảng 2.5. Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Xây dựng .............. 34
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 34
Bảng 2.6. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn .......................................... 38
Bảng 2.7. Thời gian một vòng quay TSNH ............................................................... 39
Bảng 2.8. Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH ................................................................. 40
Bảng 2.9. Ảnh hƣởng của ROS và hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA................ 42
Bảng 2.10. Bảng phân tích khả năng thanh toán tại Công ty Việt – Hàn .............. 43
Bảng 2.11. Hệ số thanh toán bằng tiền ...................................................................... 44
Bảng 2.12. Tình hình quản lý hàng tồn kho .............................................................. 45
Bảng 2.13. Tình hình khoản phải thu ........................................................................ 47
Bảng 2.14. Thời gian quay vòng tiền trung bình ...................................................... 48
Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty CP Xây dựng ............... 49
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 49
Bảng 2.16. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn ........................................... 51
Bảng 2.17. Thời gian một vòng quay TSDH ............................................................. 52
Bảng 2.18. Tình hình quản lý tài sản cố định ............................................................ 53
Bảng 3.1. Mô hình tính điểm tín dụng ....................................................................... 62
Bảng 3.2. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty Cổ phần Đâu tƣ và Xây lắp Sông Đà .................................................................................................................................. 62
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của VIETHAN.TRAINCO ............................................ 22
Biểu đồ 2.1. Tăng trƣờng doanh thu và lợi nhuận ................................................... 26
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói rằng tài sản chính là biểu hiện sức mạnh hiện tại và trong tương lai
của doanh nghiệp, sẽ không thể có doanh nghiệp nếu chủ doanh nghiệp không có tài sản. Vấn đề dặt ra đối với doanh nghiệp là phải quản lý và sử dụng tài sản như thế nào
để phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, phù hợp với quy mô, điều kiện sản
xuất và nhu cầu thị trường để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, nước nước ta đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Từ nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp chuyến sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
với những bước tiến khá vững chắc, chúng ta đang bắt đầu bước vào quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, trong cơ chế mới nhiều doanh nghiệp đã đứng vững và làm ăn phát triển song cũng có nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu
quả, đang đứng bên bờ vực của sự phá sản. Điều đó có thể do nhiều nguyên nhân,
nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý và sử dụng tài
sản không hợp lý và kém hiệu quả .
Trong những năm qua, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn đã và đang hết sức quan tâm đến công tác quản lý và sử dụng tài sản sao cho đạt
hiệu quả kinh tế nhất. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó,
với điều kiện cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển thì không những Công ty Cổ
phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn mà tất cả các doanh nghiệp khác
trên thị trường buộc phải luôn luôn năng động để tìm ra hướng đi riêng cho mình, tìm
ra con đường đến với thành công một cách hiệu quả nhất. Quản lý và sử dụng tài sản
chính là một trong những con đường dẫn đến thành công một cách chắc chắn nhất
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng tài sản,
kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại
Việt – Hàn, đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn” đã được đưa vào nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách có hệ thống tình hình sử dụng tài sản của Công ty Cổ
phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn.
Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn, tìm ra những ưu điểm và những hạn chế trong quá trình sử dụng. Từ đó có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây
dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn trong giai đoạn 2011 – 2013. Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm 2011, 2012 và 2013 của Công ty Cổ phần
Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn.
4. Phƣơng pháp phân tích Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ lệ,
phương pháp phân tích thống kê và phương pháp phân tích Dupont để đưa ra đánh giá
và kết luận từ cơ sở là các số liệu được cung cấp và thực trạng tình hình hoạt động của công ty.
5. Kết cấu khóa luận Ngoài mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và
Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây
dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Theo chuẩn mực số 1: Chuẩn mực chung trong “Chuẩn mực Kế toán Việt
Nam” được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31
tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đưa ra định nghĩa về tài sản như
sau:“Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai”.
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền
và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền
mà doanh nghiệp phải chi ra. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thể hiện trong các trường hợp, như:
Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất
sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng;
Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác;
Để thanh toán các khoản nợ phải trả;
Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.
Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết
bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng
sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát
của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế
trong tương lai, như tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm
soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có
thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế.
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản.
Thông thường khi các khoản chi phí phát sinh sẽ tạo ra tài sản. Đối với các khoản chi phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai thì không tạo ra tài sản; Hoặc
có trường hợp không phát sinh chi phí nhưng vẫn tạo ra tài sản, như vốn góp, tài sản được cấp, được biếu tặng.
1
1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Căn cứ vào nguồn hình thành, tài sản (hay vốn kinh doanh của doanh
nghiệp) được hình thành từ 2 nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Tài sản được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu biểu
hiện quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với các tài sản hiện có của doanh nghiệp. Vốn
chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn như: Số tiền đóng góp từ các nhà đầu tư – chủ
doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối – số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp…
Tài sản được hình thành từ các khoản nợ phải trả: Bao gồm các khoản vay ngắn
hạn, dài hạn, các khoản phải trả, phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như
phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp
cho Nhà nước. [1]
Căn cứ vào mục đích đầu tư của từng tài sản, tài sản của doanh nghiệp được
chia làm 2 loại: Tài sản tài chính và tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh. Tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tài sản trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp như đất đai, nhà xưởng, máy móc
thiết bị,…
Tài sản tài chính: Là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất hàng hóa – dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá,… Các loại
tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể là những dữ liệu trong máy
tính, số sách. Cụ thể hơn, tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội
dung vật chất của nó (giống như đất đai, nhà xưởng,…), mà dựa vào các quan hệ trên
thị trường. Nó bao gồm các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân
hàng, tiền tệ và các giấy tờ có giá khác. Người chấp nhận thanh toán các tài sản tài
chính trong tương lai gọi là người phát hành (thường là chính phủ, các tổ chức và công
ty). Người sở hữu các tài sản tài chính gọi là nhà đầu tư. Giá trị của tài sản tài chính
gọi là vốn tài chính. Tài sản tài chính tạo thuận lợi cho việc chuyển vốn nhàn rỗi từ
người có vốn (nhà đầu tư) sang người không đủ vốn (người phát hành). [3]
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng tài sản (hay vốn kinh doanh), tài
sản của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có đến
thời điểm báo cáo, gồm:
2
Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn
không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán
có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu
kho Bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái
phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng,
phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc
thanh toán dưới một năm.
Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hoá, sản phẩm, sản phẩm dở dang. Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được
khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
Tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị các loại tài sản không được phản
ánh trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn. Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản
phải thi dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến
thời điểm báo cáo, bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản
đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.
Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng,
phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc
thanh toán trên một năm.
Bất động sản đầu tư: Là những bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất, nhà
hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc
người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ
việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp
hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh
doanh thông thường.
Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho
các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên (hoặc lớn hơn 1 chu kỳ kinh doanh) và có
giá trị từ 30 triệu đồng trở lên.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền,
3
bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và
các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói tài sản tài chính dài
hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra
nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp. Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:
Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập
hoãn lại, tài sản dài hạn khác. [1]
Ngoài những cách phân loại trên còn có rất nhiều cách phân loại tài sản tuỳ theo hướng phân tích, mục đích của nhà phân tích như: Tài sản vô hình - Tài sản hữu hình;
Tài sản lưu động - Tài sản cố định,...
1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn luôn song hành trong cả qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tài sản ngắn hạn nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản ngắn hạn thường
chiếm một tỷ lệ khá cao thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của doanh
nghiệp. Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh,
sản xuất thuận lợi. Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi
phí phát sinh cần phải chi trả ngay. Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ
một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây
cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt
nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian.
Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch có
diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu
trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán để
khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ.
Một vai trò nữa của tài sản ngắn hạn là trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật, chi phí gián tiếp trong quản lý. Những chi phí này
rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán kể cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn. Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng.
Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động
sản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác. Trong đó tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Có
4
thể nói tài sản cố định là một trong các yếu tố trực tiếp tạo ra sản phẩm cho doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo ra doanh thu và lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm.
Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng.
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá giá trị tài
sản của chủ sở hữu, do vậy việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh
doanh dạt tỷ suất lợi nhuận cao.
Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất -
kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất.
Thứ nhất, trong năng lực tài sản của mình: Doanh nghiệp sử dụng tài sản hợp lý
để kiếm lời cao nhất.
Thứ hai, ngoài khả năng của mình: Doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn tài
trợ, tăng số tài sản hiện có để mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm
bảo được các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Xuyên suốt toàn bộ khóa luận, ta sẽ đi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản tại
Công ty mục tiêu để từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng tại công ty đó. Việc phân tích hiệu quả sử dụng tài sản là xem xét hiệu quả sử
dụng của các loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp giữa kỳ này so
với kỳ trước. Cụ thể phân tích các vấn đề sau:
Phân tích sử dụng tài sản để đáp ứng kịp thời, đầy đủ khả năng thanh toán và
tăng tốc độ luân chuyển tài sản. Nếu doanh nghiệp dự trữ tài sản đáp ứng kịp thời, đầy
đủ khả năng thanh toán đến hạn hoặc sắp đến hạn, dự trữ tài sản ở mức hợp lý chính tổ
việc sử dụng tài sản có hiệu quả và ngược lại.
Phân tích tốc độ luân chuyển của toàn bộ tài sản dựa trên các chỉ tiêu doanh thu
trên tổng tài sản và lợi nhuận trên tổng tài sản để thấy được một đồng tài sản doanh
nghiệp bỏ ra trong một thời kỳ nhất định sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc lợi nhuận.
Phân tích khả năng sinh lời của một một đồng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, vì hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản cao hay thấp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng của từng loại tài sản cấu thành nên tổng tài sản. Vì vậy, ta cần phân tích các chỉ tiêu như: hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn và hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn để thấy được một đồng tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sẽ thu
được bao nhiêu đồng doanh thu.
5
Khi phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn thì không thể bỏ qua việc
phân tích cái chỉ tiêu như: kỳ thu tiền bình quân và vòng quay hàng tồn kho. Vì đây là
2 chỉ tiêu nói lên khả năng quay vòng tài sản của các chỉ tiêu quan trọng trong tài sản ngắn hạn như hàng tồn kho và các khoản phải thu. Hai chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng lớn
trong tài sản ngắn hạn nên có ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của
doanh nghiệp.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản. Sử dụng tài sản là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tính
hiệu quả của việc sử dụng tài sản nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi
nhuận nhưng không tăng vốn, hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng
quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng tài sản.
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản có tác dụng đánh giá chất lượng công tác
quản lý tài sản và sử dụng tài sản của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra những biện
pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản. Vì vậy, công tác phân tích hiệu quả
sử dụng tài sản có ý nghĩa rất quan trọng.
Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cần phải nghiên cứu một cách toàn diện
cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối
quan hệ với sự biến động của các yếu tố sản xuất.
Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ
thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm
tài sản sử dụng trong doanh nghiệp, sau đó phải biết tận dụng phương pháp phân tích
thích hợp. Việc phân tích phải được tiến hành trên từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ
đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai thác hết công
suất của tài sản đã đầu tư.
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, cần nghiên cứu một cách toàn diện về
cả thời gian, không gian, môi trường kinh doanh đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động của giá cả của các yếu tố sản xuất.
Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc thù của từng nhóm tài sản sử dụng trong các doanh nghiệp, sau đó phải biết vận dụng phương pháp phân tích
thích hợp. Việc phân tích phải được tiến hành trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu sau đó
6
tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai
thác hết công suất các tài sản đã đầu tư.
Dưới đây là các chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (số vòng quay tổng tài sản)
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận
động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công thức như sau:
Tổng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Giá trị tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu
vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng
cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để
nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận
động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt động
hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi
phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài
sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý
để tăng tốc độ quay vòng của tài sản.
Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần
Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự
kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ
tiêu này ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản, chỉ tiêu này được xác
định như sau:
Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài
sản để tạo ra một đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ.
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế
7
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, để tạo ra một đồng lợi nhuận sau thuế
doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử dụng tài
sản càng cao và càng hấp dẫn các nhà đầu tư và ngược lại.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty
và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty.
Lợi nhuận sau thuế ROA Tổng giá trị tài sản
Hệ số này có ý nghĩa là với 100 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Hệ số
ROA thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài
sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải,
xây dựng, sản xuất kim loại…, thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần
phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của thu nhập trên tổng tài sản là
khả năng phối hợp của các chỉ số tài chính để tính toán ROA. Một ứng dụng thường
được nhắc tới nhiều nhất là mô hình phân tích Dupont dưới đây.
Lợi nhuận sau thuế ROA Doanh thu thuần Tài sản bình quân Doanh thu thuần nh
ROA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời của tài sản đó là hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu.
Bên phải triển khai hiệu suất sử dụng tổng tài sản hay nói cách khác chính là số
vòng quay của toàn bộ tài sản: phần này trình bày tài sản ngắn hạn cộng với tài sản dài
hạn bàng tổng số tài sản doanh nghiệp sử dụng. Doanh thu thuần tiêu thụ chia cho toàn
bộ tài sản cho biết hiệu suất sử dụng tài sản trong một kỳ phân tích.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao chứng tỏ sức sản xuất của tài sản càng
nhanh, đó là nhân tố để tăng sức sinh lời cho tài sản.
Nhìn vào bên phải ta thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản bị ảnh hưởng bởi
những nhân tố:
- Tổng doanh thu thuần càng lớn, số vòng quay càng nhiều. - Tổng tài sản càng nhỏ, hiệu suất sử dụng càng lớn.
Song tổng doanh thu thuần và tổng tài sản có quan hệ mật thiết với nhau, trong thực tế 2 chỉ tiêu này thường quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng.
8
Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng hiệu suất sử dụng tài sản thì cần
phải phân tích các nhân tố liên quan, phát hiện các mặt tích cực, tiêu cực của từng
nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản, góp phân nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.
Bên trái triển khai tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần: Phần này trình bày tổng
chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Doanh thu thuần trừ đi tổng
chi phí bằng lời nhuận thuần, lợi nhuận thuần chia cho doanh thu thuần bằng tỷ suất
sinh lời trên doanh thu thuần.
Bên trái cho biết những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của doanh thu
thuần. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp muốn tăng sức sinh lời của doanh thu thuần cần có
các biện pháp giảm chỉ phí bằng cách phân tích những nhân tố cấu thành đến tổng chi
phí để có biện pháp phù hợp. Đồng thời tìm mọi biện pháp để nâng cao doanh thu, giảm các khoản giảm trừ.
Khi nghiên cứu khả năng sinh lời của tài sản cũng cần phải quan tâm đến mức
tăng của vốn chủ sở hữu bởi hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu
thuần là 2 nhân tố không phải lúc nào cũng tăng ổn định. Mặt khác, để tăng lời nhuận
trong tương lai cũng cần phải đầu tư thêm. Việc tăng vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào lợi
nhuận sau thuế và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy, cần phải
kết hợp tăng vốn chủ sở hữu và tăng những nguồn tài trợ từ bên ngoài.
Tóm lại, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp dựa vào mô hình
tài chính Dupont đã đánh giá đầy đủ hiệu quả trên mọi phương diện. Đồng thời phát
hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản để từ đó có các biện pháp
nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. [2, tr.207-219]
1.2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản ánh tình hình
sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh
với chi phí thấp nhất.
Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và một số tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của TSNH bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh
nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của TSNH.
9
Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đ òi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng TSNH, làm cho mỗi đồng TSNH hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu
thụ được nhiều hơn. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao
tốc độ luân chuyển TSNH (số vòng quay TSNH trong một năm).
Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính
được đưa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu. Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể
đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục
khó khăn trong niên độ tiếp theo. Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH
chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như sau:
Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSNH
+ Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng
TSNH, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao. Chỉ tiêu này
là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản ngắn hạn khi muốn có mức
độ lợi nhuận mong muốn.
Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
+ Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets)
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời của TSNH
Lợi nhuận sau thuế TSNH + Hiệu suất sử dụng TSNH (Số vòng quay của TSNH)
Tổng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH Tổng TSNH
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt. Hoặc cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản ngắn hạn trong một kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
10
+ Suất hao phí của TSNH so với doanh thu
Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với doanh thu Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng TSNH, đó chính là căn cứ để để đầu tư TSNH cho thích hợp. Chỉ tiêu này
càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao.
+ Thời gian một vòng quay của TSNH
36 Thời gian 1 vòng quay TSNH Hiệu suất sử dụng TSNH
Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất bao nhiêu ngày.
Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ TSNH vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu
và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ đây có thể xác định được số tiền tiết kiệm hay lãng phí do số vòng luân
chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm. Nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được
một lượng tài sản có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác. Công thức xác
định số tiền tiết kiệm, lãng phí tuyệt đối do tốc độ luân chuyển của Tài sản ngắn hạn
thay đổi:
đ
Nếu quy mô kinh doanh được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản
ngắn hạn đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm tài sản ngắn hạn hoặc đầu tư tài sản ngắn hạn ít hơn so với trước. Công thức xác định số tiền tiết kiệm, lãng phí tương
đối do tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thay đổi:
Trong đó:
Vtktđ1: Số tiền tiết kiệm, lãng phí tuyệt đối
Vtktđ2: Số tiền tiết kiệm, lãng phí tương đối
M0, M1: Lần lượt là doanh thu một ngày T0, T1: Lần lượt là số vòng luân chuyển TSNH kỳ trước, kỳ này
Phân tích hiệu quả sử dụng TSNH thông qua mô hình Dupont
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ. Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.
Mô hinh Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Trong
11
phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa
các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính,
chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.
Để phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH có thể xác định thông qua mô hình sau
ROCA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng TSNH
Qua công thức trên có thể thấy 2 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên TSNH là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dung TSNH, như vậy muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH nâng cao hai tỷ số trên. Về việc nâng cao tỷ suất
sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên, trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố
tốc độ luân chuyển TSNH.
Phân tích khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp
trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn. Khả năng thanh toán của
doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong
kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể
đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh
toán của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng,
các khoản phải thu và hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn
hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản
phải trả khác...Cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một
năm. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ
ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác là 1 đồng nợ ngắn hạn được
đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn.
Hệ số này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. Nếu khả năng thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì doanh
nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu. Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận. Vì thế mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả. Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý.
Tài sản ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
12
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng
thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền.
Hệ số này nói lên việc công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì
công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển từ tài sản lưu động khác về tiền
mặt. Hệ số này > 2 (có nghĩa là hiệu suất giữa tài sản ngắn hạn và hàng tồn khó gấp 2 lần tổng nợ ngắn hạn) thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán toàn bộ tài sản ngắn hạn. Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện thời. Hệ số
này càng cao thì càng được đánh giá tốt.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn
Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn
Tiền và các khoản tương đương tiền là các tài sản mang tính thanh khoản cao
nhất của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt
và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi...) và khoản
nợ đến hạn phải trả. Hệ số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá
nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0,5. Khi hệ số này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán tức
thời của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh
nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ. [2, tr.115- 130]
Phân tích các chỉ tiêu đánh giá các thành phần của TSNH
- Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho
+ Số vòng quay hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ
số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho.
Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho Hàng hoá tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá
năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng 13
hàng tồn kho thấp. Nhưng cũng cân lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành
nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột
ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành
thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có
thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần
phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
+ Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng.
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển tồn kho có quan hệ tỷ lệ
nghịch với nhau. Vòng quay tăng thì ngày chu chuyển giảm và ngược lại.
36 Thời gian quay vòng hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho
- Các chỉ tiêu đánh giá về tình hình các khoản phải thu
+ Số vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần Số vòng quay các = khoản phải thu Khoản phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao
nhiêu. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát
số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh
nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp.
+ Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên cơ
sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày. Nó phản ánh số ngày
cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì
kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục
tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Mặt khác khi chỉ tiêu này được đánh giá là khả quan, thì doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán che dấu đi các khuyết tật trong việc quản lý các khoản phải thu.
360 Kỳ thu tiền bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu
14
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng
để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của
doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phép các nhà quản lý tài chính của doanh nghiệp đề ra các biện pháp, các chính sách quyết
định đúng đắn, phù hợp để quản lý tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng
ngày càng có hiệu quả trong tương lai, từ đó nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thời gian trả nợ trung bình
360 Thời gian trả nợ = trung bình Hệ số trả nợ
Giá vốn hàng bán + Chi phí chung bán hàng, quản lý Hệ số trả nợ = Phải trả ngƣời bán + Lƣơng, thƣởng, thuế phải trả
Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là
chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả
năng trả nợ của doanh nghiệp. Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho
có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì
càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả
thấp. Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công
ty rất có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm,
nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các
khoản nợ đến hạn.
Thời gian quay vòng tiền trung bình
Thời gian quay vòng tiền = + - trung bình Kỳ thu tiền bình quân Thời gian quay vòng hàng tồn kho Thời gian trả nợ trung bình
Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Chỉ số này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra. Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý
hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, cũng tùy vào
15
đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đối với doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì thời gian quay vòng tiền sẽ
ngắn hơn nhiều so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. 1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu quả sử dụng TSDH phản ánh một đồng giá trị TSDH làm ra được bao
nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc lợi nhuận. Hiệu quả sử dụng TSDH được thể hiện
qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ
phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lượng này được thể hiện dưới hình thức giá trị về tình hình và sử dụng TSDH trong một thời gian nhất
định. Trong sản xuất kinh doanh thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa giá trị sản
lượng đã được tạo ra với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ, hoặc là
quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị TSDH sử dụng bình quân.
Như vậy hiệu quả sử dụng TSDH có thể là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình đầu tư, khai thác sử dụng TSDH vào sản xuất và số TSDH đă sử dụng
để đạt được kết quả đó. Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá sản xuất ra trên
một đơn vị TSDH tham gia vào sản xuất hay TSDH cần tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh để đạt được một lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Sau đây là một chỉ tiêu mà các nhà quản trị thường quan tâm nhất. Đê phân
tích hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp, khóa luận tốt nghiệp xin được phân
tích theo các từng yếu tố như sau:
- Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSDH + Hiệu suất sử dụng TSDH
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSDH Tổng TSDH
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản dài hạn trong một
kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của
TSDH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSDH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
+ Suất hao phí của TSDH so với doanh thu
Tổng TSDH Suất hao phí của TSDH so với doanh thu Doanh thu thuần
Chỉ tiêu suất hao phí của TSDH so với doanh thu cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSDH, đó chính là căn cứ để để đầu tư TSDH cho thích hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn mức doanh thu như mong muốn
16
+ Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng
TSDH bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao, chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản dài hạn khi muốn
có mức độ lợi nhuận mong muốn.
TSDH Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
+ Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSDH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời của TSDH Lợi nhuận sau thuế TSDH
- Sức sản xuất của TSCĐ
Sức sản xuất của TSCĐ Doanh thu thuần GTCL TSCĐ
Trong đó:
+ Sức sản xuất của tài sản cố định là một trong những tỷ số tài chính đánh giá
khái quát hiệu quả sử dụng tài sản, ở đây là tài sản cố định của doanh nghiệp.
+ Nguyên giá TSCĐ sử dụng bình quân trong 1 kỳ là bình quân số học của
nguyên giá TSCĐ có ở đầu kỳ và cuối kỳ.
+ Doanh thu thuần của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động
của doanh nghiệp, nó là nguồn để doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị còn lại của tài sản cố định dùng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh trong kỳ phân tích đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng tốt. Do đó, để
nâng cao chỉ tiêu này, đồng thời với việc tăng lượng sản phẩm bán ra, doanh nghiệp phải giảm tuyệt đối những TSCĐ thừa, không cần dùng vào sản xuất, bảo đảm tỷ lệ
cân đối giữ TSCĐ tích cực và không tích cực, phát huy và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của TSCĐ.
- Suất hao phí của TSCĐ
Là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu sức hao phí của TSCĐ. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSCĐ cho phù hợp nhằm đạt được doanh thu như mong muốn.
- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ
17
Chỉ tiêu này là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSCĐ
sử dụng trong kỳ.
Tỷ suất sinh lời của TSCĐ Lợi nhuận sau thuế GTCL TSCĐ
Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập
doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị giá trị còn lại của TSCĐ tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, tức là khả năng sinh lợi càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với các chính sách khuyến khích đầu tư
trong và ngoài nước cũng như việc hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vốn kinh doanh có hiệu quả, khơi thông các
vốn dư thừa. Trong bối cảnh đó, hoạt động đầu tư tài chính có khuynh hướng gia tăng
trong hoạt động kinh doanh nói chung ở doanh nghiệp. Trong phần tài sản dài hạn, còn có một khoản mục rất được quan tâm, đó chính là đầu tư tài chính dài hạn bao gồm:
đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết, đầu tư dài hạn khác và khoản dự
phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn.
+ Số vòng quay của TSDH
Doanh thu thuần Thời gian 1 vòng quay TSDH Tổng TSDH
Số vòng quay tài sản dài hạn là chỉ tiêu cho biết 1 đồng giá trị bình quân tài sản
dài hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ. [2, tr.219-230]
1.3. Các nhân tố ảnh hƣớng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ
tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài
sản. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với
từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho
doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.
1.3.1. Các nhân tố khách quan 1.3.1.1. Chính sách kinh tế của Nhà nước
Vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô. Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của DN trong các thành phần kinh tế. Thông qua luật pháp và các
chính sách kinh tế…, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các DN phát triển SXKD và hướng các hoạt động kinh tế của các DN đi theo quỹ đạo của kế hoạch kinh tế vĩ mô. Một chính sách kinh tế của nhà nước có thể tạo ra tác động nhiều chiều
18
đối với những DN thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau và tác động tới hiệu quả kinh
doanh hay hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của DN.
1.3.1.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung của xã hội nhưng trong nó vẫn có
những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới được một sự linh hoạt, nhạy bén
bao nhiêu thì mặt trái của nó lại là những thay đổi liên tục đến chóng mặt giá cả của
các loại đồng tiền vì thế mà đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn thường
xuyên xảy ra. Điều đó gây ra tình trạng với một lượng tiền như cũ thì không thể tái tạo lại (hay mua sắm lại) tài sản của doanh nghiệp với quy mô như ban đầu.
1.3.1.3. Tiến bộ khoa học công nghệ
Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ sẽ là yếu tố giúp DN cải thiện
hiệu quả sử dụng tài sản nếu DN biết quan tâm, chú trọng tới việc áp dụng chúng vào SXKD. Hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm là những vấn đề mà một DN cần chú trọng nếu muốn tạo dựng một vị thế ổn định trên thị
trường. Ngược lại, nếu DN không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công
nghệ để đổi mới trong thiết bị, sản phẩm thì có thể dẫn tới nguy cơ DN làm ăn thua lỗ
do sản phẩm làm ra không còn thích ứng, phù hợp với nhu cầu thị trường.
Thêm vào đó, khi khoa học kỹ thuật phát triển đến độ đỉnh cao trong thời đại
văn minh này như một sự kỳ diệu thì cũng chính điều này làm cho TSCĐ của doanh
nghiệp bị hao mòn vô hình rất lớn.
1.3.1.4. Rủi ro trong kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay tính không chắc chắn trong EBIT của
một doanh nghiệp. Rủi ro kinh doanh do nhiều yếu tố hây ra, bao gồm cả tính khả biến
của doanh thu và việc sử dụng đòn bẩy kinh doanh. [4, tr.123]
Do những rủi ro trong kinh doanh mà doanh nghiệp thường gặp phải như: thị
trường không ổn định, sức mua của thị trường có hạn và một số rủi ro tự nhiên khác
như: thiên tai bão lụt hoả hoạn,...làm hư hỏng vật tư, mất mát tài sản của doanh
nghiệp. 1.3.1.5. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh (có ngành nghề thì sử dụng nhiều TSLĐ hơn trong cơ cấu tài sản ,nhưng có ngành nghề thì lại nhưng có ngành nghề lại sử dụng nhiều TSCĐ điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tổng tài sản vì tốc độ luân chuyển của TSLĐ khác với tốc độ luân chuyển của TSCĐ).
19
1.3.2. Các nhân tố chủ quan 1.3.2.1. Trình độ quản lý và sử dụng tài sản
Hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ dúng mức đến việc khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả, hoặc có quan tâm nhưng không có đủ năng lực để
quản lý, dẫn đến sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đem lại hiệu quả cho
doanh nghiệp.
1.3.2.2. Xác định cơ cấu tài sản
Tuỳ vào từng doanh nghiệp với những đặc điểm riêng của lĩnh vực kinh doanh mà phải có một cơ cấu tài sản hợp lý bởi nế không với một cơ cấu tài sản không phù
hợp thì không thể nào mà quản lý tài sản hiệu quả được.
1.3.2.3. Công tác lựa chọn dự án đầu tư
Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư khả thi thì doanh nghiệp sẽ không chỉ thu hồi được vốn mà còn có lãi, và sử dụng hiệu quả các tài sản của mình, nếu không lựa chọn đúng sẽ có kết quả ngược lại.
1.3.2.4. Nhân tố con người
Trong hoạt động SXKD của DN, con người đóng vai trò trung tâm và thành
công của một DN phụ thuộc phần lớn vào nhân tố con người. Đặc biệt trong giai đoạn
kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vai trò của nhân tố con người càng
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hiệu quả sử dụng tài sản cũng chịu ảnh hưởng lớn
từ nhân tố này. Sự phối kết hợp giữa các thành viên, tinh thần làm việc, ý thức trách
nhiệm, khả năng chuyên môn...là những yếu tố thuộc về con người quyết định sự
thành bại của DN. Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động
nào. Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết
định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt
là trình độ cán bộ quản lý và tay nghề người công nhân.
1.3.2.5. Nhân tố cơ sở vật chất
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh thì năng suất lao động sẽ tăng dần đến hiệu
quả sử dụng tài sản cũng tăng theo, và ngược lại.
Thông tin đến nhà quản lý bị bóp méo , sai lệch cũng làm cho nhà quản lý ra các quyết định sai lầm, đặc biệt là công tác tổ chức kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý.
20
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
Thương mại Việt – Hàn
Tên công ty: Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn
Tên viết tắt: VIETHAN.TRAINCO.,JSC
Địa chỉ trụ sở chính: Phú Mỹ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
Công ty CP Xây dựng (XD) và Đầu tư Thương Mại (ĐTTM) Việt – Hàn được thành lập theo Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần số 01011957116 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp lần đầu ngày 16 tháng 06 năm
2006 và thay đổi lần thứ 10 ngày 07 tháng 03 năm 2011. Được thành lập từ năm 2006
đến nay, Công ty CP XD và ĐTTM Việt – Hàn đã có những bước phát triển vượt bậc
trong lĩnh vực sản xuất bê tông thương phẩm và sản xuất, mua bán nguyên vật liệu xây
dựng và kinh doanh một số ngành khác như: Mua bán, cho thuê máy móc thiết bị công
trình, cho thuê xe vận chuyển bê tông, bơm bê tổng, mua bán ô tô, phụ tùng ô tô, xe
máy,...
Sau hơn 7 năm thành lập, xây dựng và trưởng thành, Công ty đã có trong tay
một hệ thống dây truyền sản xuất khép kín đồng bộ từ khai thác nguyên vật liệu đầu vào: mỏ đá bazan, mỏ cát, đến hệ thống trạm trộn hiện đại với tổng công suất 510m3/h, 65 đầu xe trộn từ 10m3 – 12m3/đầu xe, 02 bơm cần 52m, 03 bơm cần 37m, 07 bơm tĩnh, cùng với 20 đầu xe ben, 8 đầu xe vận chuyển xi. Kết hợp đội ngũ cán bộ tri thức
trẻ, công nhân nhiệt huyết lành nghề, đã tạo nên một hệ thống mạng lưới khách hàng
rộng khắp trên toàn Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận.
Với phương châm luôn lấy chữ “tín” làm đàu, xây dựng hoàn thiện hệ thống
chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001 : 2008, Cồng ty ty CP XD và ĐTTM Việt – Hàn không ngừng phấn đấu để trở thành một doanh nghiệp lớn góp phần tham gia vào công tác xây dựng nền kinh tế của Thủ đô.
2.1.2. Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn
Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn là một đơn vị hạch toán độc lập có tài khoản riêng và có tư cách pháp nhân. Bộ máy quản lý của Công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng nghĩa là Ban Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận phòng ban chức năng, các xưởng sản xuất trực thuộc hoạt động kinh
21
doanh, thực hiện các quyết định của Hội đồng Quản trị và chịu sự giám sát của Ban
kiểm soát.
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của VIETHAN.TRAINCO
Đại Hội đồng cổ đông
Ban
Ban Giám đốc
kiểm Hội đồng quản trị soát
Phòng kinh doanh Phòng hành chính – nhân sự Phòng kế hoạch – đầu tư Phòng tài chính – kế toán
Xưởng vật tư – sản Bộ phận dịch vụ cho Các đội vận chuyển
xuất thuê
(Nguồn: Phòng hành chính – nhân sự)
Đại Hội đồng cổ đông bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có
thẩm quyền cao nhất trong Công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề thuộc về hoạt
động SXKD của Công ty. Đại Hội đồng cổ đông hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt
động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để
quyết định mọi vấn đề liên quan đến SXKD và quyền lợi của Công ty như quyết định
chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường,...trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo
điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc của Công ty là Ông Trần Văn Phố , hiện đang năm giữ 70% cổ phần trong Công ty.
Ban kiểm soát có chức năng giám sát HĐQT, Ban Tổng Giám đốc Công ty về việc quản lý và điều hành Công ty. Chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ đươc giao.
22
Ban Giám đốc đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và
trước cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của
Công ty, báo cáo HĐQT về các hoạt động của Công ty. Ban Tổng Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật
của Nhà nước.
Các xưởng vật tư - sản xuất trực thuộc, các đội vận chuyển và bộ phận dịch vụ
cho thuê có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Ban Tổng Giám đốc giao, hoàn thành
các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng. Bao gồm các phòng kinh doanh, phòng hành chính – nhân sự, phòng kế hoạch đầu tư, phòng tài chính – kế toán.
Hiện tại, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn có 3
địa điểm kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Đó là địa điểm kinh doanh số 1 Công ty Cổ
phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn có địa chỉ tại CX1, khu đô thị Mỗ Lao, phường Mỗ Lao, quận Hà Đông; địa điểm kinh doanh số 2 có địa chỉ tại tổ 21, phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai và địa chỉ kinh doanh số 3 tại khu đô thị mới
Phương Viên Bắc An Khánh, xã Song Phương, huyện Hoài Đức. Cả 3 địa chỉ này là 3
nhà máy, trạm trộn bê tông của công ty, đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu cho khách hàng,
riêng tại trụ sở chính của Công ty chủ yếu thực hiện hoạt động kinh doanh các dịch vụ
mua bán, cho thuê máy móc thiết bị công trình, cho thuê xe vận chuyển bê tông, bơm
bê tổng, mua bán ô tô, phụ tùng ô tô, xe máy,...
2.1.3. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
Thương mại Việt – Hàn
Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn là một đơn vị
sản xuất kinh doanh thương mại với lĩnh vực chính là sản xuất bê tông thương phẩm
và sản xuất, mua bán nguyên vật liệu xây dựng cung cấp cho các khách hàng là các
công ty xây dựng trên toàn thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Ngành vật liệu xây
dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn nhất cả nước, sản phẩm là
nguyên vật liệu phục vụ các công trình xây dựng nhằm thỏa mãn như cầu khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Sản xuất vật liệu xây dựng cũng là một dạng đặc thù của sản
xuất công nghiệp. Bởi vậy, nó cũng có đặc điểm chung của sản xuất công nghiệp: quá trình biến đổi, kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị sử dụng mới.
2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn giai đoạn 2011 – 2013
23
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Chênh lệch % Chênh lệch %
(1) (2) (3) (4) = (2) – (1) (4)/(1) (5) = (3) – (2) (5)/(2)
Doanh thu thuần về bán hàng 366.051 305.255 468.735 60.796 19,92 (163.480) (34,88) và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận gộp về bán hàng 24.366 20.395 47.014 3.971 19,47 (26.619) (56,62) và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận thuần từ hoạt 1.200 (3.132) 4.332 -138,31 (8.059) (163,57) 4.927 động kinh doanh
(439) 4.110 -4.549 -110,68 4.473 1232,23 (363) Lợi nhuận khác
Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc 761 978 -217 -22,19 (3.586) (78,57) 4.564 thuế
190 244 -54 -22,13 (897) (78,62) 1.141 Thuế TNDN
571 734 -163 -22,21 (2.689) (78,56) 3.423 Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Số liệu được tính từ Báo cáo tài chính Công ty)
25
Biểu đồ 2.1. Tăng trƣờng doanh thu và lợi nhuận
468735,0
Đơn vị tính: Triệu đồng
366051,0
305255,0
2011
2012
2013
3423,0 734,0 571,0 500000,0 450000,0 400000,0 350000,0 300000,0 250000,0 200000,0 150000,0 100000,0 50000,0 ,0
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)
Nhận xét:
Thông qua biểu đồ 2.1, ta thấy khoảng chênh lệch rất lớn giữa doanh thu và lợi
nhuận qua các năm. Điều này chứng tỏ Công ty đã duy trì những khoản chi phí dành
cho sản xuất kinh doanh quá cả khiến lợi nhuận ròng đạt được không tương xứng với
doanh thu bán hàng. Trong năm 2012, Doanh thu thuần về bán hàng của Công ty giảm
34,88% so với năm 2011, tương đương 163.480 triệu đồng. Năm 2011, Công ty không
có bất kỳ khoản giảm trừ doanh thu nào do bán hàng bị trả lại hay phải giám giá hàng
bán bán. Doanh thu thuần giảm kéo theo sự giảm xuống của GVHB, mức giảm tương
đương doanh thu bán hàng 34,88%. Lợi nhuận gộp hay lãi gộp của Công ty năm 2012
giảm tương đối mạnh từ 47.014 triệu đồng xuống 20.395 triệu đồng, tương đương tỷ lệ
giảm là 56,62%. Các khoản chi phí khác như chi phí tài chính, chi phí bán hàng và
quản lý doanh nghiệp cũng đang giảm dần do tình hình kinh doanh giảm sút, Công ty
cắt giảm công suất sản suất, cắt giảm công nhân viên và hạn chế vay mượn nhằm tiết
kiệm chi phí cũng như hạn chế rủi ro tài chính. Chi phí tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm 2012 đã giảm đáng kể cũng góp phần làm tăng lợi nhuận chung cho Công ty. Tuy nhiên, trong năm 2012, doanh thu của Công ty giảm sút khá mạnh trong khi các khoản chi phí dù được điều chỉnh giảm nhưng vẫn còn cao nên tác động chung đã làm cho lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2012 đã giảm từ 3.423 triệu đồng xuống còn 734 triệu đồng (giảm 2.689 triệu đồng tương đương với giảm 78,56%).
26
Sang năm 2013, doanh thu về bán hàng của Công ty đã tăng trở lại, tuy nhiên sự
thay đổi này vẫn còn khá chậm. Cụ thể, năm 2013, doanh thu thuần tăng từ 305.255
triệu đồng lên 366.051 triệu đồng, tương ứng với tốc độ tăng 19,92%. Có thể thấy tốc độ tăng của doanh thu năm 2013 khá thấp so với tốc độ giảm về doanh thu của Công
ty năm 2012. Năm 2013, tình hình bất động sản, xây dựng trong nước đã có sựu khởi
sắc hơn so với năm 2012 – được cho là năm đóng băng của thị trường bất động sản -
tuy nhiên sự thay đổi này đang diễn biến khá chậm chạp do sự ảnh hưởng của các công
trình xây dựng bất động sản của những năm trước đó vẫn chưa bán hết, các công ty xây dựng vẫn còn khá rụt rè trong việc tìm kiếm thêm địa điểm mới để xây dựng các
công trình nhà ở, văn phòng. Mặc dù vậy, các đơn hàng nhận được tăng lên đã giúp
tình hình kinh doanh của Công ty đã tốt hơn, kéo theo lợi nhuận gộp về bán hàng cũng
theo đà tăng lên khi tăng từ 20.395 triệu đồng trong năm 2012 lên mức 24.266 triệu đồng, tăng 19,47%. Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trong năm cũng tăng lên từ 11.136 triệu đồng năm 2012 lên 14.554 triệu đồng trong năm 2013, tăng
30,70%. Ta có thể thấy tốc độ tăng của chi phí quản lý và bán hàng cao hơn tốc độ
tăng của doanh thu và lợi nhuận gộp. Điều này đã làm cho lợi nhuận sau thuế của
Công ty trong năm 2013 vẫn tiếp tục giảm thêm 22,21% mặc dù doanh thu trong năm
đã tăng lên đáng kể.
Mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm có sự thay đổi
không đều nhưng nhìn vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy, mặc dù kinh
doanh có giảm sút nhưng Công ty vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà
nước. Việc đóng thuế đầy đủ giúp Công ty tránh khỏi những rắc rối trong hoạt động
kiểm toán, thanh tra của Nhà nước. Đồng thời, điều này còn giúp Công ty tạo được sự
tin tưởng đối với Nhà nước nói chung và Ngân hàng nói riêng khi có nhu cầu xin vay
vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần xây dựng và Đầu tƣ
thƣơng mại Việt – Hàn
2.2.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
2.2.1.1. Quy mô cơ cấu tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
Kết hợp với so sánh các số liệu trong bảng cân đối kế toán qua ba năm 2011, 2012 và 2013, ta có thể thấy được một số nét nổi bật trong hoạt động kinh doanh của Công ty Việt – Hàn. Công ty có quy mô tổng tài sản đang tăng dần lên. Điều này được thể hiện rõ qua sự biến động của quy mô tổng tài sản và cơ cấu tổng tài sản như sau:
27
Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tổng tài sản Công ty CP Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2 13
Năm 2 12
Năm 2 11
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tỷ trọng
Tăng so với năm
Tỷ trọng
Tăng so với năm
Tỷ trọng
(%)
2012
(%)
2011
(%)
Tài sản ngắn hạn
270.364
65,64
(2,39) 276.973
71,37
4,51
265.014
64,12
Tài sản dài hạn
141.554
34,36
27,43 111.085
28,63
(25,10)
148.315
35,88
411.918
100
6,15 388.058
100
(6,11)
413.329
100
TỔNG TÀI SẢN
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Quy mô tổng tài sản: Qua bảng 2.2 ta thấy quy mô tổng tài sản của công ty
qua 3 năm phân tích tăng nhưng không đều và được chia làm 2 giai đoạn.
Giai đoạn năm 2011 – 2012: Đây là giai đoạn giảm của tổng tài sản khi sau một
năm tổng tài sản giảm 6,11%. Sự sụt giảm của tổng tài sản xuất phát từ nguyên nhân
đó là trong giai đoạn này trong khi tài sản ngắn hạn tăng 4,51% thì tài sản dài hạn lại
giảm 25,10%. Tài sản dài hạn giảm do hao mòn tài sản cố định cũng như trong giai
đoạn này công ty đã giảm một lượng tiền khá lớn trong hoạt động đầu tư tài chính dài hạn vào công ty liên doanh, liên kết.
Giai đoạn 2012 – 2013: Đây là giai đoạn tăng của tổng tài sản khi năm 2013,
tổng tài sản tăng 6,15% so với năm 2012. Ngược lại với xu hướng tăng tài sản ngắn
hạn vào năm 2012, sang năm 2013, tài sản ngắn hạn của công ty đã giảm 2,39% so vớ
năm 2011. Tài sản dài hạn tăng lên do công ty đầu tư thêm mua sắm thêm tài sản cố
định phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hoạt động đầu tư tài chính
dài hạn của công ty tăng lên cũng một phần tác động khiến tài sản dài hạn tăng 34,36%
so với năm 2012. Chính vì nguyên nhân tài sản dài hạn tăng mạnh trong khi tài sản ngắn hạn có sự giảm nhẹ vẫn làm cho tổng tài sản của công ty tăng trở lại.
Cơ cấu tổng tài sản: Việc xem xét kỹ lưỡng về tình hình tài sản tại một thời điểm cho phép ta đánh giá được quy mô kinh doanh của Công ty. Từ đó có thế thấy được tình hình tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua bảng cân đối kế toán của cả ba năm kết hợp với bảng 2.2, nhìn chung Công ty Việt - Hàn có cơ cấu tài sản ngắn hạn lớn hơn so với tài sản dài hạn. Về quy mô tổng tài sản tại ba năm có sự thay đổi theo chiều hướng tăng, từ 3.936.964.962 đồng năm 2011 lên 9.114.102.522 đồng năm 2012 và tiếp tục tăng nhanh hơn lên mức 28
32.496.866.562 đồng vào năm 2013. Sự gia tăng về quy mô tổng tài sản của Công ty
chứng tỏ quy mô kinh doanh của công ty không ngừng được mở rộng. Không nhưng
quy mô tài sản đang có sự thay đôi mà tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong tổng tài sản cũng đang có sự biến đổi theo chiều hướng tăng cả tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn, tuy nhiên sự tăng giảm của hai loại tài sản này lại có sự khác nhau
dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổng tài sản. Cụ thể năm 2011, tỷ trọng tài sản ngắn
hạn là 64,12%, tài sản dài hạn là 35,38% trong tổng tài sản. Tuy nhiên sang năm 2012
và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn càng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản lần lượt là 71,37%
và 65,64%, tương ứng là tỷ trọng tài sản dài hạn lần lượt là 28,63% và 34,36%. Qua 3
năm phân tích ta thấy mặc dù tỷ trọng tài sản ngắn hạn đang tăng lên nhưng lại có một
giai đoạn bị giảm xuống do hoạt động mua sắm thêm tài sản cố định đã làm cho lượng tài sản dài hạn tăng lên đáng kể làm thay đổi tỷ trọng của cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
2.2.1.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng
và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
Bảng 2.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Chênh lệch
Năm
Năm
Năm
Chỉ tiêu
2013
2012
2011
2013/2012 2012/2011
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Lần)
Suất hao phí của TS so doanh thu thuần (Lần)
0,89 0,79 1,13 0,10 (0,35)
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận (Lần)
1,13 1,27 0,88 (0,15) 0,39
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA (%)
721,40 529,41 120,72 191,99 408,70
0,14 0,19 0,83 (0,05) (0,64)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Nhìn vào bảng phân tích 2.9 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có
xu hướng giảm nhưng không đều qua các năm và được chia làm hai giai đoạn. Cụ thể
như sau:
Giai đoạn năm 2011 đến năm 2012: Năm 2011 hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 1,13 lần, sang năm 2012 chỉ tiêu giảm xuống còn 0,79 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh năm 2011 thì thu được 1,13 đồng doanh thu thuần trong năm 2011. Và sang đến năm 2012, một đồng tài sản đưa vào
hoạt động kinh doanh năm chỉ thu được 0,79 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,35 đồng. Chỉ số này giảm do năm 2012 doanh thu thuần giảm từ 468.735 triệu
29
đồng xuống còn 305.255 triệu đồng (giảm 34,88%) trong khi tổng tài sản chỉ giảm ít
hơn khi giảm từ 413.329 triệu đồng xuống còn 388.039 triệu đồng (giảm 6,11%)
Giai đoạn năm 2012 đến năm 2013: Công ty đã bắt đầu đầu tư thêm vào tài sản được thể hiện ở con số tăng trưởng dương 6,15% trong năm 2013. Trong năm, Công ty
kinh doanh tốt, doanh thu thuần năm 2013 tăng thêm 19,92% so với năm 2012. Có thể
thấy tốc độ tăng của tài sản thấp hơn so với tốc độ tăng của doanh thu đã làm cho hiệu
suất sử dụng tổng tài sản tăng lên mức 0,89 lần trong năm 2013, tức là năm 2013, một
đồng tài sản bỏ ra đầu tư thu được 0,89 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do trong năm 2013, công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng cung cấp bê tông thương
phẩm cho một số hạng mục công trình lớn như Royal City, Times City, Vincom
Village Sài Đồng, Chung cư cao tầng B4 Kim Liên,...của các đơn vị nhà thầu uy tín
như Công ty TNHH Xây dựng dân dụng và công nghiệp Delta, PCM, Công ty CP đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn,...đã thúc đẩy doanh thu trong năm 2013 tăng lên. Để đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu bê tông thương phẩm công ty đã mạnh dạn đầu tư
mua sắm, thuê ngoài các loại thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất bê tông tươi.
Dựa vào những con số trong bảng 2.9 ta dễ dàng nhận thấy việc đầu tư vào tài sản của
công ty trong năm 2013 đã mang lại được hiệu quả cao khi đầu tư vào tài sản ít nhưng
thu được doanh thu lớn. Hiệu suất sử dụng tài sản trong năm 2013 dù tăng nhưng vẫn
thấp hơn so với năm 2011 đã phản ánh đúng tình trạng sử dụng tài sản chưa hiệu quả
của công ty.
- Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần
Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu cơ bản để dự kiến
vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ tiêu này
ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Từ năm 2011 đến năm 2013, suất
hao phí của tài sản so với doanh thu thuần tăng nhưng biến động và chia làm hai giai
đoạn. Cụ thể:
Năm 2011-2012: Cùng với sự giảm của hiệu suất sử dụng tổng tài sản của năm 2012, suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần tăng từ 0,88 lần năm 2011 lên
đến 1,27 lần năm 2012. Điều này cho thấy việc sử dụng tài sản chưa có hiệu quả. Sang năm 2012, do doanh thu thuần giảm 34,88%, giảm nhanh hơn tốc độ giảm của tổng tài sản bình quân (giảm 6,11%) làm cho suất hao phí tiếp tục tăng lên đến 1,27 lần. Lúc này một đồng doanh thu thuần cần đến 1,27 đồng tài sản.
Năm 2012 – 2013: Sang năm 2013, doanh thu thuần đã tăng trở lại khi đạt mức tăng trưởng 19,92%, tổng tài sản trong giai đoạn này cũng tăng thêm 6,15%. Có thể
nhận thấy tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần lớn hơn tổng tài sản. Do đó, suất hao
30
phí của tài sản so với doanh thu thuần đã giảm xuống còn 1,13 lần. Lúc này, để tạo ra
một đồng doanh thu thuần, công ty chỉ cần bỏ ra 1,13 đồng tài sản. Mặc dù suất hao
phí của tài sản so với doanh thu đã giảm xuống nhưng vẫn còn khá cao và thể hiện rằng khả năng khai thác tài sản để tạo ra doanh thu còn chưa hiệu quả.
- Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau
thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Cũng
giống như suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần, suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận đang tăng mạnh liên tục từ năm 2011 đến năm 2013, điều này cũng cho
thấy hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao. Sự biến động của chỉ tiêu này được thể hiện
trong hai giai đoạn.
Năm 2011-2012: Đây là giai đoạn tăng mạnh của suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận khi tăng từ 120,72 lần trong năm 2011 lên mức 529,41 lần (tăng 338,56%) trong năm 2012. Điều này cũng cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản đã kém đi. Nguyên
nhân do lợi nhuận sau thuế năm 2012 giảm 78,59% so với năm trước trong khi tổng tài
sản có giảm nhưng chậm hơn với 6,11%. Năm 2012, do ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế, hoạt động kinh doanh của công ty cũng bị ảnh hưởng, chi phí đầu vào tăng
trong khi sản lượng bán ra giảm và cùng với sự tăng của các khoản chi phí khác đã
làm cho lợi nhuận công ty giảm nhanh so với năm 2011. Suất hao phí của tài sản so
với lợi nhuận cũng theo đó mà tăng lên và ở mức 529,41 lần, tức là để được 1 đồng lợi
nhuận sau thuế doanh nghiệp cần phải chi tới 529,41 đồng tổng tài sản. Ta có thể thấy
đây là một con số lớn, nó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản rất thấp, điều này sẽ không
tạo được sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đối tác kinh doanh.
Năm 2012 – 2013: Tiếp tục là một giai đoạn tăng trưởng của suất hao phí của
tài sản so với lợi nhuận. Năm 2013, chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên đến 721,40 lần so với
mức 529,41 lần của năm 2012. Đây là thể coi là một tín xấu đối với công ty. Tổng tài
sản trong năm 2013 tiếp tục tăng nhẹ ở mức 6,15%. Các khoản mục chi phí giá vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng, thậm chi giá vốn hàng bán
còn tăng cao hơn tốc độ tăng của doanh thu khi tăng thêm 19,95%, các khoản chi phí quản lý cũng tăng thêm 30,69% do công ty tuyển dụng thêm nhân công để vận hành các thiết bị máy móc mới đầu tư. Tác động tổng hợp này đã khiến cho lợi nhuận sau thuế năm 2013 thu được giảm trong khi doanh thu thuần lại tăng, cho thấy sự không tương xướng với doanh thu của lợi nhuận sau thuế đã khiến cho chỉ tiêu suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận tăng lên.
31
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài
sản trong hoạt động kinh doanh của Công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo Công ty. Từ năm 2011 đến năm 2013, tỷ suất sinh lời
trên tổng tài sản có xu hướng giảm nhanh.
Năm 2011, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của công ty là 0,83% nhưng đến năm
2012 thì tỷ suất này giảm nhanh còn 0,19% (giảm so với năm 2011 là 0,64%), tức là
cứ 100 đồng tài sản được đầu tư thì công ty chỉ thu về 0,19 đồng lợi nhuận sau thuế vào năm 2012, ít hơn năm 2011 là 0,64 đồng. Việc giảm khả năng sinh lời trên đã cho
thấy nhìn chung với số vốn công ty bỏ ra thì việc thu lại lợi nhuận chưa cao, hiệu quả
sử dụng vốn giảm và vẫn còn thấp. Nguyên nhân là do lợi nhuận ròng năm 2012 giảm
với tốc độ 78,59% trong khi tổng tài sản chỉ giảm 6,11% .
Năm 2013, tỷ suất này lại giảm xuống mức 0,14%. Đây có thể coi là một con số vo cùng thấp khi 100 đồng tài sản được đem ra đầu tư chỉ thu về 0,14 đồng lợi nhuận
sau thuế. Do đó, trong thời gian tới, công ty cần có những biện pháp khai thác năng
lực sản xuất của tài sản. Những phân tích trên về khả năng sinh lời của tài sản còn chịu
tác động bởi cấu trúc nguồn vốn. Mà cấu trúc nguồn vốn của công ty qua các năm lại
không giống nhau và chi phí sử dụng vốn vay cũng khác nhau.
- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thông qua mô hình phân tích Dupont
Muốn lý giải diễn biến quá khứ của ROA của công ty, hay dự báo giá trị tương
lai của ROA phải cẩn thận lưu ý đến tổ hợp lợi nhuận ròng, doanh thu và tổng tài sản
của công ty. Đi phân tích cụ thể sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ lý do.
Bảng 2.4. Mức độ ảnh hƣởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
ROS (%) 0,16 0,24 0,73
HS SỬ DỤNG TỔNG TS (Lần) 0,89 0,79 1,13
ROA(%) 0,14 0,19 0,83
DELTA ROA (%) (0,05) (0,64)
Ảnh hưởng ROS (%) (0,07) (0,39)
Ảnh hưởng của HS sử dụng tổng TS (%) 0,02 (0,25)
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Năm 2011-2012: ROA giảm từ 0,83% năm 2011 xuống còn 0,19% vào năm 2012. Năm 2012, do tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) và số vòng quay tổng tài sản
32
giảm đã kéo theo hậu quả là với 100 đồng tài sản đầu tư tại công ty chỉ đem lại 0,19
đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ ảnh hưởng đến nền
kinh tế trên toàn thế giới, thêm vào đó thị trường xây dựng, bất động sản trong nước đang trong tình thế bị đóng băng, các bất động sản không bán được trên thị trường do
nhu cầu giảm, các nhà thầu không thể bán được các công trình đã xây dựng nên không
có vồn để quay vòng đầu tư xây dựng thêm đã làm giảm một lượng đáng kể các đơn
đặt hàng cung cấp bê tổng thương phẩm. Sự ảnh hưởng tổng hợp trên tầm vĩ mô và
ngành nghề đã ảnh hưởng không nhỏ tới Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn trong giai đoạn này. Trước tình hình đó, công ty hầu như không có
nhiều động thái đầu tư vào tài sản, lợi nhuận lúc này mang lại không cao. Để giảm
thiểu tối đa thất thoát, công ty đã có những biện pháp giảm các khoản chi phí quản lý
đặc biệt là cắt giảm các chi phí liên quan đến hoạt động bán hàng, cắt giảm nguồn nhân lực thuê ngoài và nguồn nhân lực không đem lại lợi ích cho công ty đã phần nào hạn chế sự suy giảm mạnh mẽ của lợi nhuận. Mặc dù vậy, ROS trong năm 2012 vẫn
giảm 0,49% khiến cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giảm 0,39%, mặt khác cũng
trong năm 2012, khả năng quản lý tài sản của Công ty cũng giảm, hiệu suất sử dụng
tổng tài sản giảm 0,35 vòng khiến cho ROA giảm 0,25%. Tác động tổng hợp của cả
ROS giảm và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm khiến cho hiệu quả sinh lời tài sản
của Công ty giảm với mức giảm 0,64% hay 100 đồng tài sản năm 2012 đã tạo ra ít hơn
năm 2011 là 0,64 đồng lợi nhuận sau thuế.
Năm 2013, gói kích thích kinh tế 30.000 tỷ đồng của chính phủ đã đóng góp
một phần không nhỏ cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp ngành xây dựng, trong
đó có Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn. Bên cạnh đó, nhu
cầu cung cấp bê tổng tươi thương phẩm được cải thiện rõ rệt. Tác động của gói kích
thích kinh tế cũng đã thúc đẩy các nhà thầu xây dựng thực hiện thi công thêm nhiều
hạng mục công trình lớn đặc biệt là các công trình nhà ở trung cư giá hợp lý nhằm kích
cầu tiêu dùng của người dân. Tuy nhiên, trong năm 2013, do sự mất kiểm soát các
khoản chi phí hoạt động như chi phí giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng cao hơn so với doanh thu đã làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty vẫn giảm so với
năm 2012. ROS giảm từ 0,24% xuống còn 0,16%, tác động của ROS giảm khiến cho ROA giảm 0,07%, hay 100 đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư năm 2013 đã tạo ra ít hơn năm 2012 là 0,07 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, tình hình quản lý tài sản của công ty đã khả quan hơn khi hiệu suất sử dụng tài sản tăng từ 0,79 lần lên 0,89 lần, điều này đã tác động làm ROS tăng 0,02%, lúc này 100 đồng tài sản bỏ ra, thu được
nhiều đồng doanh thu thuần hơn. Tác động đối nghịch của ROS và Hiệu suất sử dụng
33
tổng tài sản khiến cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2013 giảm nhẹ 0,05% so
với năm 2012.
Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài sản của công ty có xu hướng giảm nhanh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả
hai nhân tố là ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai
yếu tố trên có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên
trong doanh nghiệp, cụ thể : Do tình trạng kinh tế bất ổn, giá nguyên vật liệu đầu vào
có xu hướng tăng mạnh khiến cho chi phí giá vốn tăng nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu, mặt khác công ty có xu hướng mở rộng quy mô khiến cho chi phí khấu hao
TSCĐ cùng chi phí quản lý kinh doanh tăng mạnh, trong khi đó để giữ vững thị trường
của mình, công ty tăng giá bán không nhiều, điều này khiến cho doanh thu tăng chậm
hơn chi phí và ROS của công ty có xu hướng giảm qua các năm.
2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
2.2.2.1. Quy mô cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư
thương mại Việt – Hàn
Cơ cấu TSNH là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản mục trong tài sản ngắn hạn, thể
hiện mức độ đầu tư, phân bổ tài sản ngắn hạn trong DN. Qua đó, ta có thể nhận định
được loại hình DN và các chính sách đầu tư ngắn hạn của DN. Bên cạnh đó, thông qua
sự biến đổi trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, ta có thể nhìn thấy sự thay đổi tích cực hay
không của công tác quản lý, sử dụng tài sản ngắn hạn tại một DN.
Bảng 2.5. Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Xây dựng
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2 11
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Năm 2 13 Tỷ trọng (%)
Tăng so với năm 2012
Năm 2 12 Tỷ trọng (%)
Tăng so với năm 2011
Tỷ trọng (%)
254
0,09
(65,21)
730
0,26
(77,70)
3274
1,24
255.442
94,48
(3,94) 265.931
96,01
3,82 256.141
96,65
1. Tiền và các khoản tương đương tiền 2. Các khoản phải thu ngắn hạn - Phải thu khách hàng - Trả trước cho người bán - Các khoản phải thu khác 3. Hàng tồn kho 4. Tài sản ngắn hạn khác
214.390 6.520 34.532 12.027 2.642
79,30 2,41 12,77 4,45 0,98
(10,69) 240.042 5.711 20.177 8.761 1.551
14,17 71,15 37,28 70,34
86,67 2,06 7,28 3,16 0,56
3,40 232.155 8.411 15.566 3.662 1.936
(32,10) 29,62 139,24 (19,89)
87,60 3,17 5,87 1,38 0,73
TÀI SẢN NGẮN HẠN
270.364
100
(2,39) 276.973
100
4,51 265.014
64,12
34
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Năm 2011, quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty qua 3 năm phân tích đang có
xu hướng tăng nhưng không đều. Năm 2012, tài sản ngắn hạn tăng từ 165.014 triệu đồng lên mức 276.973 triệu đồng (tăng 11.959 triệu đồng, tương ứng vơi tốc độ tăng
4,51%) so với năm 2011. Sang đến năm 2013, quy mô tài sản ngắn hạn lại có xu
hướng giảm 2,39% so với năm 2012, tuy nhiên mức giảm này vẫn thấp hơn so với
mức tăng năm 2012. Nguyên nhân của sự thay đổi này vừa do sự điều chỉnh của Công
ty, vừa do sự thay đổi tự phát của các khoản mục trong quá trình kinh doanh. Trong đó khoản phải thu luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, kế đến là
hàng tồn kho, TSNH khác và cuối cùng là tiền và các khoản tương đương tiền.
Tiền và các khoản tương đương tiền: năm 2011, khoản mục này chiếm tỷ trọng
1,24% trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng giảm về những năm tiếp theo. Năm 2012 tiền và các khoản tương đương tiền giảm còn 0,26%, năm 2013 thì chỉ còn 0,99% trong tổng tài sản ngắn hạn. Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, dự trữ
tiền mặt giảm trong khi dự trữ tài sản ngắn hạn của Công ty lại có xu hướng tăng, cho
đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tỷ trọng này. Việc Công ty điều
chỉnh giảm lượng dự trữ tiền mặt là biện pháp tích cực và nên tiếp tục thực hiện trong
tương lai và chỉ nên dự trữ một lượng tiền tối thiểu đủ để đảm bảo các chi phí giao
dịch thường xuyên.
Đầu tư tài chính ngắn hạn: Trong cả 3 năm phân tích, công ty hoàn toàn không
có hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn do năm bắt được thị trường bất động sản đang
có dấu hiệu đi xuống, việc đầu tư tài chính ngắn hạn vào các công ty thuộc ngành trên
hầu như không đem lại tính khả thi và đảm bảo khả năng tạo ra lợi nhuận cho công ty.
Các khoản phải thu: Các khoản phải thu luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao
nhất trong tổng tài sản ngắn hạn, năm 2011 là 96,65%, năm 2012 là 96,02% và năm
2013 là 94,48%. Như vậy có nghĩa là một tỷ lệ rất lớn tài sản ngắn hạn của Công ty
đang tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu, bị khách hàng chiếm dụng. Và mặc dù nhìn vào con số cụ thể, nhìn chung ta thấy trong 3 năm phân tích, các khoản phải thu
ngắn hạn có xu hướng chung là tăng nhưng đi vào sâu hơn ta thấy, năm 2013 quy mô các khoản phải thu năm 2013 đã giảm đi so với năm 2012 cho thấy Công ty đang có những biện pháp tích cực trong việc thu hồi công nợ.
Khoản phải thu ngắn hạn hiện nay của công ty bao gồm khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán và các khoản phải thu khác, trong đó khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất (năm 2013 chiếm 79,30% tổng tài sản ngắn hạn). Khoản phải thu khách hàng của công ty từ năm 2011 đến năm 2013 đang có xu hướng
35
giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khoản phải thu ngắn hạn nói riêng
và trong tài sản ngắn hạn nói chung. Khoản phải thu khách hàng giảm cho thấy công
tác thu hồi công nợ đang hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên có thể thấy tốc độ giảm khá chậm và không ổn định. Tỷ trọng phải thu khách hàng măc dù giảm nhưng vẫn còn rất
lớn khiến cho công ty gặp khó khăn trong công tác thu hồi vốn kinh doanh, nguồn vốn
bị chiếm dụng này hàng năm vẫn gây ra cho công ty những chi phí cơ hội lớn.
Khoản trả trước cho người bán chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng các khoản
phải thu ngắn hạn. Từ năm 2011 đến năm 2013, khoản trả trước cho người bán đang có xu hướng giảm dần và biến động tương đương với doanh thu hàng năm của công ty.
Cụ thể, năm 2012, doanh thu thuần của công ty giảm do hoạt động bán hàng chậm, vì
thế công ty cũng ít nhập hàng hóa hơn hẳn, biểu hiện ở số tiền đặt trước cho người bán
giảm từ 8.411 triệu đồng xuồng còn 5.711 triệu đồng, giảm 32,10% so với năm 2011. Năm 2013, tình hình kinh doanh của công ty đã có sự phục hồi, doanh thu thuần tăng, công ty mạnh dạn đặt mua hàng nhiều hơn, lượng tiền đặt trước cho khách hàng đã
tăng thêm 809 triệu đồng, tương ứng tăng 14,17%. Việc công ty đặt cọc trước tiền
hàng cho người bán đem lại cho công ty một khoản tiền chiết khấu thanh toán lớn. Tuy
nhiên, việc ứng trước quá nhiều cũng gây nên khoản chi phí cơ hội sử dụng số tiền vào
các hoạt động sinh lời khác. Do đó, trước khi quyết định ứng trước tiền hàng cho
người bán, công ty cần xác định trước những lợi ích và chi phí của khoản tiền đó đem
lại.
Các khoản phải thu khác trong công ty chủ yếu là những khoản tiền phải thu về
cổ phần hóa, cũng như phải thu về cổ tức và lợi nhuận được chia. Khoản phải thu này
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, năm 2013, khoản
phải thu khác chiếm 12,77% tổng tài sản ngắn hạn trong công ty.
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng tài sản ngắn
hạn (năm 2011 là 1,38%, năm 2012 là 3,16% và năm 2013 là 4,45%). Ta thấy mặc dù
hàng tồn kho đang tăng lên nhưng so với tài sản ngắn hạn thì chiếm một tỷ trọng rất
nhỏ. Nguyên nhân là do đặc thù là DN chuyên cung cấp bê tông tươi thương phẩm, phải sử dụng ngay khi vừa sản xuất xong nên việc dự trữ hàng hóa phục vụ cho hoạt
động kinh doanh bán hàng, xây dựng dân dụng là điều không cần thiết, công ty nên chủ yếu dự trữ các nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất để có thể đáp ứng như cầu sản xuất ngay khi có đơn hàng đến. Tuy nhiện, việc tăng dự trữ tồn kho có thể gây ra các chi phí không cần thiết như chi phí bảo quản và không giúp DN sinh lời. Do vậy, đơn vị cần có kế hoạch cụ thể về lượng đặt hàng tối ưu, tránh dự trữ quá nhiều,
36
đồng thời đẩy nhanh tốc độ bán hàng và hoàn thành hợp đồng nhằm giảm đến mức tối
thiểu khoản mục hàng tồn kho.
Tài sản ngắn hạn khác: Các tài sản ngắn hạn còn lại trong Công ty chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn, trong đó chủ yếu là thuế giá trị gia tăng
được khấu trừ và một phần chi phí trả trước ngắn hạn khác. Sự tăng lên của khoản mục
trong 3 năm phân tích cho thấy các khoản thuế GTGT cần được thu hồi đang tăng lên,
đồng thời các khoản chi phí trả trước ngắn cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn
trong khoản mục tài sản ngắn hạn khác. Cụ thể là tỷ trọng tài sản ngắn hạn khác đã tăng từ 0,73% ở năm 2011 lên 0,98% vào năm 2013, cho thấy công ty vẫn chưa thu
hồi được khoản thuế giá trị gia tăng được khấu trừ trong hoạt động nhập khẩu, bán
nguyên vật liệu xây dựng hàng năm.
Như vậy, qua phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty, ta có thể nhận thấy xu hướng chung của Công ty là giảm lượng tiền mặt, hạn chế đầu tư tài chính ngắn hạn, và tăng các khoản phải thu cũng như tăng lượng dự trữ hàng tồn kho. Có thể thấy
một số chuyển biến tích cực tuy nhiên vẫn còn những điểm chưa hợp lý như: Dự trữ
tăng hàng tồn kho gây chi phí không cần thiết; các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn
gây giảm khả năng thanh toán bằng tiền, lượng tiền mặt thấp... Để đạt được hiệu quả
tối đa từ sử dụng tài sản ngắn hạn, Công ty cần có các biện pháp khắc phục những hạn
chế này, đồng thời theo dõi chặt chẽ và đánh giá thường xuyên các bộ phận cấu thành
của tài sản ngắn hạn.
2.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây
dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luân chuyển
không ngừng. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp
dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung
của doanh nghiệp. Do cấu tạo phức tạp nếu để đánh giá chính xác hơn tính hợp lý của
các khoản mục trong tài sản ngắn hạn, khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn, khóa luận sẽ phân tích các chỉ tiêu chung về tài sản ngắn hạn theo như bảng 2.6.
37
Bảng 2.6. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Chênh lệch
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 2013/2012 2012/2011
Hiệu suất sử dụng TSNH (Lần) 1,35 1,10 1,77 0,25 (0,67)
0,74 0,91 0,57 (0,17) 0,34 Suất hao phí TSNH so với doanh thu (Lần)
Suất hao phí của TSNH so với LNST
1,68 2,49 0,46 (0,81) 2,03 (Lần)
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (%) 0,21 0,26 1,29 (0,05) (1,03)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Hiệu suất sử dụng TSNH
Qua bảng 2.3 ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng
giảm nhưng không đều. Cụ thể:
Giai đoạn năm 2011 đến năm 2012: Đây là giai đoạn giảm của hiệu suất sử
dụng TSNH. Năm 2011 hiệu suất sử dụng TSNH là 1,77 lần, sang năm 2012 chỉ tiêu giảm xuống còn 1,10 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng TSNH đưa vào hoạt động
kinh doanh năm 2011 thì thu được 1,77 đồng doanh thu thuần trong năm 2011. Và
sang đến năm 2012, một đồng TSNH đưa vào hoạt động kinh doanh năm chỉ thu được
1,10 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,67 đồng. Chỉ số này giảm do năm
2012 doanh thu thuần giảm từ 468.735 triệu đồng xuống còn 305.255 triệu đồng (giảm
34,88%) trong khi TSNH năm 2012 vẫn tăng thêm 4,51% so với năm 2011.
Giai đoạn năm 2012 đến năm 2013: Ngược lại với giai đoạn trên, đây là giai đoạn tăng của hiệu suất sử dụng tổng tài sản. TSNH trong năm 2013 đã giảm 2,39% so với năm 2012 do trong giai đoạn này, một phần khoản phải thu đã được thu hồi, công
ty cũng thực hiện chi trả một số khoản chi phí phát sinh bằng tiền mặt. Trong năm, Công ty kinh doanh tốt, doanh thu thuần năm 2013 tăng thêm 19,92% so với năm 2012. Sự thay đổi theo hướng tích cực đã làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng
lên mức 1,35 lần trong năm 2013, tức là năm 2013, một đồng tài sản bỏ ra đầu tư thu được 1,35 đồng doanh thu thuần. Doanh thu tăng do trong năm 2013, công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng cung cấp bê tông thương phẩm cho một số hạng mục công trình lớn của các đơn vị nhà thầu uy tín không những giúp công ty có thêm nhiều doanh thu
38
mà còn giảm thiểu các khoản phải thu do các đơn vị nhà thầu đã thực hiện thanh toán
đầy đủ.
- Suất hao phí của TSNH so với doanh thu
Năm 2011-2012: Cùng với sự giảm của hiệu suất sử dụng TSNH của năm 2012,
suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần tăng từ 0,57 lần năm 2011 lên đến 0,91
lần năm 2012. Điều này cho thấy việc sử dụng TSNH chưa có hiệu quả. Sang năm
2012, do doanh thu thuần giảm 34,88%, giảm nhanh hơn tốc độ giảm của tổng tài sản
bình quân (giảm 6,11%) làm cho suất hao phí tiếp tục tăng lên đến 0,91 lần. Lúc này một đồng doanh thu thuần cần đến 0,91 đồng tài sản.
Năm 2012 – 2013: Sang năm 2013, doanh thu thuần đã tăng trở lại khi đạt mức
tăng trưởng 19,92%, tổng tài sản trong giai đoạn này cũng tăng thêm 2,39%. Có thể
nhận thấy tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần lớn hơn tổng tài sản. Do đó, suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần đã giảm xuống còn 0,74 lần. Lúc này, để tạo ra một đồng doanh thu thuần, công ty chỉ cần bỏ ra 0,74 đồng TSNH. Mặc dù suất hao
phí của TSNH so với doanh thu đã giảm xuống nhưng vẫn còn khá cao và thể hiện
rằng khả năng khai thác tài sản để tạo ra doanh thu còn chưa hiệu quả.
Bảng 2.7. Thời gian một vòng quay TSNH
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Hiệu suất sử dụng TSNH (Lần) 1,35 1,10 1,77
Thời gian 1 vòng quay TSNH (Ngày) 266 327 204
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Từ năm 2011 đến năm 2012 hiệu suất sử dụng TSNH giảm từ 1,77 lần xuống
mức 1,10 lần (giảm 0,67 lần) đồng nghĩa với việc thời gian 1 vòng quay TSNH tăng
lên từ 204 ngày lên 151 ngày. Điều đó cho thấy TSNH vận động ngày càng chậm, hiệu
suất sử dụng tài sản ngắn hạn thấp, hạn chế việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho công ty.
Năm 2013, trong khi khoản phải thu đang giảm xuống thì hàng tồn kho lại tăng khá nhanh chủ yếu là do sự gia tăng mạnh của nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất bê tông tươi thương phẩm. Mặc dù vậy, trong năm này, công ty chỉ phải mất 266 ngày để quay hết một vòng quay tài sản ngắn hạn.
Tóm lại, thời gian vòng quay của TSNH nhìn chung càng về những năm sau thì càng tăng, trung bình mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất 266 ngày. Điều này
39
chứng tỏ TSNH của công ty vận động chậm. Nguyên nhân xuất phát từ loại hình
doanh nghiệp của công ty là một công ty chuyên phục vụ cung cấp bê tông thương
phẩm cho các công trình xây dựng có thời gian thi công tương đối dài. Nguyên nhân thức hai là việc tăng nhanh của hàng tồn kho đã đẩy TSNH tăng lên và tốc độ tăng lại
cao hơn so với doanh thu và lợi nhuận khiến kho diệu suất sử dụng tài sản giảm xuống,
số ngày vận động ngày càng tăng lên.
- Mức tiết kiệm (lãng phí) tài sản ngắn hạn
Bảng 2.8. Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2 13 Năm 2 12
Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH tuyệt đối (69.744) 176.660
Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH tương đối (68.080) 184.632
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)
Mức tiết kiệm tuyệt đối: Thông qua bảng trên ta thấy năm 2012 để đạt được
mức doanh thu bằng năm 2011, công ty phải bỏ ra nhiều hơn năm 2011 là 176.660
triệu đồng. Trong khi đó, năm 2013 công ty muốn đạt được mức doanh thu bằng năm
2012 thì phải bỏ ra ít hơn năm 2012 là 69.744 triệu đồng. Điều đó cho thấy, khi quy
mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn đã giúp
cho công ty tiết kiệm được một lượng tài sản có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào
việc khác.
Mức tiết kiệm tương đối: Chỉ tiêu này có nghĩa là năm 2012, Công ty cần phải
bỏ thêm 184.632 triệu đồng TSNH lẽ ra phải bỏ ra để mở rộng doanh thu. Điều này có
nghĩa là Công ty đã lãng phí tương đối 184.632 triệu đồng. Một lượng TSNH bị lãng
phí và đáng lẽ sẽ được sử dụng để đầu tư mua sắm hàng hóa phục vụ cho hoạt động
kinh doanh sẽ ảnh hưởng lớn tới doanh thu cũng lợi nhuận của công ty, công ty có thể rơi vào tình trạng thiếu vốn để đầu tư. Nhưng sang năm 2013 do tốc độ luân chuyển
vốn lưu động tăng nên năm 2013, công ty đã tiết kiệm được 68.080 triệu đồng TSNH để mở rộng doanh thu. Việc tiết kiệm được TSNH hay nói cách khác việc bỏ ra lượng
TSNH ít hơn nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận sẽ đem lại nhiều lợi ích tích cực trong hoạt động đầu tư mở rộng kinh doanh cho những kì tiếp theo. Như vậy, trong cả 3 năm, chúng ta có thể thấy nhờ tăng hoặc giảm tốc độ luân chuyển vốn lưu động mà Công ty đã tiết kiệm hoặc phải bỏ thêm một phần TSNH để đạt được mức doanh thu như cũ hay mở rộng doanh thu.
40
- Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận
Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau
thuế của các TSNH mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Cũng giống như suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần, suất hao phí của TSNH so
với lợi nhuận đang tăng nhưng biến động từ năm 2011 đến năm 2013, điều này cũng
cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH chưa cao. Sự biến động của chỉ tiêu này được thể
hiện trong hai giai đoạn.
Năm 2011-2012: Đây là giai đoạn tăng mạnh của suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận khi tăng từ 0,46 lần trong năm 2011 lên mức 2,49 lần trong năm 2012. Điều
này cũng cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH đã kém đi. Nguyên nhân do lợi nhuận sau
thuế năm 2012 giảm 78,59% so với năm trước trong khi tổng tài sản lại tăng thêm
4,51%, trong đó chủ yếu là tăng các khoản mục phải thu và hàng tồn kho. Năm 2012, hoạt động kinh doanh của công ty bị ảnh hưởng từ các yếu tố liên quan đến thị trường ngành xây dựng và bất động sản, chi phí đầu vào tăng do tăng các khoản chi phí vận
chuyển nội địa trong khi sản lượng bán ra giảm và cùng với sự tăng của các khoản chi
phí khác đã làm cho lợi nhuận công ty giảm nhanh so với năm 2011. Suất hao phí của
TSNH so với lợi nhuận cũng theo đó mà tăng lên và ở mức 2,49 lần, tức là để được 1
đồng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp cần phải chi tới 2,49 đồng TSNH. Ta có thể
thấy đây là một con sô lớn, nó thể hiện hiệu quả sử dụng TSNH rất thấp, điều này sẽ
không tạo được sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đối tác kinh doanh.
Năm 2012 – 2013: Ngược lại với giai đoạn trước thì giai đoạn này lại là giai
đoạn giảm của chi tiêu suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận. Năm 2013, chỉ tiêu
này giảm xuống còn 1,68 lần so với mức 2,49 lần của năm 2012. Đây là thể coi là một
tín hiệu khả quan. TSNH trong năm 2013 đã giảm 2,39%. Các khoản mục chi phí giá
vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng, thậm chi giá vốn hàng
bán còn tăng cao hơn tốc độ tăng của doanh thu khi tăng thêm 19,95%, các khoản chi
phí quản lý cũng tăng thêm 30,69% do công ty tuyển dụng thêm nhân công để vận
hành các thiết bị máy móc mới đầu tư. Tác động tổng hợp này đã khiến cho lợi nhuận sau thuế năm 2013 giảm 22,10%, giảm nhanh hơn tôc độ giảm của TSNH đã khiến
cho chỉ tiêu suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận tăng lên.
- Tỷ suất sinh lời của TSNH (ROCA)
Trong năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh trong khi TSNH bình quân tăng. Điều này dẫn tới tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn cũng đã giảm 1,03% so với năm 2011. Có nghĩa là so với năm 2011, trong năm 2012, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra 0,26 đồng lợi nhuận sau thuế, trong khi năm 2011 tạo
41
ra tới 1,29 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời giảm đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn kém hiệu quả hơn so với năm 2011, góp phần làm
giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn giảm nhẹ và ở mức
0,21%. Đó là do lợi nhuận sau thuế vẫn tiếp tục giảm sâu 22,10% trong khi tài sản
ngắn hạn giảm nhẹ 2,39% so với năm 2012. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài
sản ngắn hạn của công ty trong năm 2013 không những không được cải thiện mà còn
tiếp tục có dấu hiệu đi xuống.
Nhìn chung trong 3 năm, tỷ suất sinh lời của TSNH đạt trung bình khoảng
0,59% và có xu hướng giảm. Năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh và đột biến với
tốc độ giảm lên tới 78,59% so với năm 2011 và tốc độ giảmg cao hơn tốc độ tăng của
TSNH nên tỷ suất sinh lời của TSNH năm 2012 chỉ đạt 0,26% so với mức 1,29% của năm 2011. Tuy nhiên đến năm 2013, thị trường xây dựng đã có sự khởi sắc hơn do tác động của gói kích thích tăng trưởng của Nhà nước, các hợp đồng cung ứng của công ty
đã tăng trở lại, tuy nhiên sự kiểm soát không hiệu quả các khoản chi phí quản lý vẫn
khiến cho lợi nhuận sau thuế giảm 22,10% so với năm 2012, TSNH năm 2013 mặc dù
đã giảm 2,39% nhưng không thể bù đắp cho tốc độ giảm sâu của lợi nhuận sau thuế.
- Phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH thông qua mô hình phân tích Dupont
ROCA = ROS * Hiệu suất sử dụng TSNH
Cũng giống như mô hình phân tích với tổng tài sản, ta sẽ đi phân tích cụ thể hai
yếu tố trên. Về việc nâng cao tỷ suất sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên,
trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố tốc độ luân chuyển TSNH.
Bảng 2.9. Ảnh hƣởng của ROS và hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
1,35 1,10 1,77 Hiệu suất sử dụng TSNH (lần)
0,16 0,24 0,73 ROS (%)
0,21 0,26 1,29 ROCA (%)
(0,11) (0,54) Ảnh hưởng ROS (%)
0,06 (0,49) Ảnh hưởng HSSDTSNH (%)
(0,05) (1,03) Delta ROCA (%)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính)
42
Năm 2011-2012: ROCA giảm 1,03% từ 1,29% năm 2011 xuống chỉ còn 0,26%
năm 2012. Năm 2012, do ROS và hiệu suất sử dụng TSNH giảm làm cho với 100
đồng TSNH đầu tư tại công ty chỉ đem lại 0,26 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty tăng lên rất nhiều làm cho khoản đầu tư
vào tài sản ngắn hạn nhiều nhưng do tác động của nền kinh tế, doanh thu, lợi nhuận
mang lại không cao. Tác động tổng hợp của việc ROS giảm 0,49% và hiệu suất sử
dụng TSNH giảm 0,67 lần khiến cho hiệu quả sinh lời TSNH của công ty giảm 1,03%
hay 100 đồng tài sản năm 2012 đã tạo ra ít hơn năm 2011 là 1,03 đồng lợi nhuận.
Năm 2013, nhờ vào gói kích thích tăng trưởng của chính phủ, nhu cầu của về
hoạt động xây dựng bất động sản cũng tăng đáng kể. Tác động của hiệu suất sử dụng
TSNH tăng lên làm cho ROCA tăng 0,06%, hay một đồng TSNH doanh nghiệp đầu tư
đã tạo ra nhiều hơn năm 2012 là 0,06 đồng lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên đây vẫn là một con số quá nhỏ. Ngược lại với hiệu suất sử dụng TSNH, ROS vẫn tiếp tục giảm từ 0,24% xuống còn 0,16%, nguyên nhân vẫn là do sự gia tăng của các khoản chi phí
hoạt động như chi phí giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiêp. Tác động của ROS đã
làm cho ROCA giảm 0,11%. Tác động tổng hợp của ROS và Hiệu suất sử dụng TSNH
khiến cho ROCA giảm 0,05%, tức là với 100 đồng TSNH bỏ ra đầu tư năm 2013 tạo ít
hơn năm 2012 là 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế.
Tóm lại, qua phân tích Dupont có thể thấy khả năng sinh lời TSNH của công ty
có xu hướng giảm mạnh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là
ROS và hiệu suất sử dụng TSNH.
- Phân tích khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp
trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn. Khả năng thanh toán của
doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong
kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể
đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Bảng 2.1 . Bảng phân tích khả năng thanh toán tại Công ty Việt – Hàn
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn 0,91 1,08 0,93
Hệ số khả năng thanh toán nhanh 0,87 1,05 0,92
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)
43
Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi
trong ngắn hạn các tài sản ngắn hạn thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn. Theo
số liệu tính toán ở trên, chỉ tiêu này năm 2012 tăng 0,15 lần so với năm 2011, đến năm 2013 lại giảm 0,17 lần. Hệ số này của cả 3 năm đều xấp xỉ 1, do đó có thể thấy dự trữ
tài sản lưu động của đơn vị đủ khả năng đảm bảo cho các khoản nợ ngắn hạn. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này đang có xu hướng giảm, trong tương lai nếu vẫn tiếp tục giảm có
thể gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty. Do vậy, Công ty
nên quản lý chặt chẽ chỉ tiêu này để đảm bảo dung hòa giữa khả năng thanh khoản với tính hiệu quả đầu tư.
Tuy nhiên, khả năng thanh toán ngắn hạn thường không phản ánh chính xác khả
năng thanh toán của một DN, do trữ lượng hàng tồn kho trong tài sản lưu động là
khoản mục có tính thanh khoản rất thấp. Bởi vậy, khả năng thanh toán nhanh được quan tâm hơn.
Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi tức
thời tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Vì vậy mà hàng
tồn kho được loại trừ vì đây là khoản mục có tính thanh khoản thấp nhất trong số các
tài sản lưu động. Có thể thấy, khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty bị giảm
nhưng biến động qua 3 năm, tuy nhiên cả 3 năm đều cho con số xấp xỉ 1, trên lý thuyết
có thể cho rằng đây là một con số khả quan. Cùng với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này cho
thấy khả năng sẵn sàng thanh toán của Công ty khá tốt đối với nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thành phần của tài sản ngắn hạn
Trong cơ cấu TSNH của công ty thì khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm một tỷ lệ lớn. Để có thể thấy rõ hơn hiệu quả sử dụng TSNH ta có thể đi vào xem xét chi
tiết việc phân bổ vốn trong khâu thanh toán và dự trữ thông qua số vòng quay phải thu
khách hàng và số vòng quay hàng tồn kho của công ty.
- Chỉ tiêu đánh giá tiền và các khoản tương đương tiền
Bảng 2.11. Hệ số thanh toán bằng tiền
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
Tiền các khoản tương đương tiền 254 730 3274 (VND)
Nợ ngắn hạn (VND) 296169 255581 284210
Hệ số thanh toán bằng tiền (Lần) 0,001 0,003 0,012
( Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Hệ số thanh toán bằng tiền của công ty đang có xu hướng giảm nhanh thể hiện
mức độ chi trả bằng tiền trước các khoản nợ đang kém dần. Cụ thể:
44
Năm 2011-2012: Năm 2012, hệ số này giảm xuống chỉ còn 0,003 lần. Điều này
là do cả khoản tiền và các khoản tương đương tiền cùng với nợ ngắn hạn của công ty
đều giảm nhưng không giảm bằng nhau. Lượng tiền trong công ty giảm mạnh 77,70% trong khi nợ ngắn hạn giảm với tốc độ thấp hơn là 10,07%. Nợ ngắn hạn giảm là do
trong năm công ty đã trả được một phần lớn khoản phải trả người bán. Cũng trong
năm 2012, công ty đã rút một lượng tiền gửi ngân hàng dùng để chi trả lãi vay các
khoản nợ ngắn hạn khiến cho lượng tiền trong công ty giảm.
Năm 2012-2013: Lượng tiền và các khoản tương đương tiền giảm 65,21% trong khi nợ ngắn hạn tăng thêm 15,88%. Nguyên nhân là do tình hình kinh doanh đã ổn
định hơn, công ty đi vay ngắn hạn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm
thêm dây chuyền sản xuất kinh doanh phục vụ cho các đơn hàng lớn trong năm. Mặc
dù đi vay thêm ngân hàng nhưng công ty vẫn thực hiện thanh toán một khoản lớn phải trả người bán để tạo uy tín cho đối tác. Mặc dù một khoản tiền lớn nợ người bán đã giảm những sự gia tăng mạnh của khoản nợ ngắn hạn vẫn khiến cho hệ số thanh toán
bằng tiền giảm xuống còn 0.001 lần. Lúc này, với 1 đồng nợ ngắn hạn đi vay chỉ có
thể được đảm bảo bởi 0,001 đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Đây có thể là
một con số đáng bao động tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ nhằm đánh giá tình trang thanh
toán tức thời khác khoản nợ đến hạn. Ngoài vốn bằng tiền, khả năng thanh toán của
công ty còn được đảm bảo bởi chính những tài sản ngắn hạn khác như hàng tồn kho
hay các khoản phải thu.
Nhìn chung, hệ số thanh toán bằng tiền của công ty đang ở mức thấp và có xu
hướng giảm nhanh. Hệ số này quá nhỏ khiến công ty gặp khó khăn trong việc thanh
toán công nợ, nhất là các khoản nợ đến hạn vì không đủ lượng tiền và tương đương
tiền trong công ty. Nguyên nhân là do khoản tiền trong công ty là không nhiều và có
xu hướng giảm trong khi khoản nợ ngắn hạn lại gia tăng. Công ty cần chú trọng đến
quá trình thu nợ trong khoản phải thu để đủ tiền mặt đáp ứng cho nhu cầu của công ty.
- Chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho
Bảng 2.12. Tình hình quản lý hàng tồn kho
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Số vòng quay hàng tồn kho (Vòng) 28,41 32,51 115,16
Thời gian quay vòng hàng tồn kho (Ngày) 12,67 11,07 3,13
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Dự trữ là khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của công ty, dự trữ nhằm
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được liên tục, đáp ứng yêu cầu kịp thời
45
của khách hàng, nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn,
giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh
khá quan trọng bởi vì sản xuất dự trữ hàng hóa để tiêu thụ nhằm đạt mục đích doanh số và lợi nhuận như mong muốn trên cơ sở đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường
Theo kết quả phân tích như trên ta thấy số vòng quay hàng tồn kho năm 2013 là
thấp nhất trong 3 năm, thời gian hàng hóa ở trong kho trước khi bán ra trung bình kéo
dài 8,96 ngày (do sản phẩm của công ty là bê tổng tươi, một loại nguyên vật liệu phải
sử dụng ngay sau khi sản xuất để đảm bảo chất lượng).
Năm 2012 so với năm 2011 đã giảm 82,65 vòng, và số ngày quay vòng hàng tồn
kho cũng tăng tương ứng 7,94 ngày. Đây là biểu hiện không tốt vì khả năng chuyển
thành tiền của hàng tồn kho đang giảm xuống. Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán
giảm 32,45% trong khi hàng tồn kho liên tục tăng và tăng thêm 139,24% trong năm 2012, điều này cho ta thấy bê tông tươi sau khi được sản xuất chưa được tiêu thụ ngay mà phải sau hơn 10 ngày mới tiêu thụ hết để quay vòng vốn. Nguyên do xuất phát từ
lượng đơn hàng giảm, các hạng mục công trình lại lớn, đòi hỏi thời gian bơm bê tông
mất nhiều thời gian hơn. Năm 2013, vòng quay hàng tồn kho vẫn tiếp tục giảm xuống
so với năm 2012 khi chỉ còn 28,41 vòng năm 2013 so với 32,51 vòng năm 2012. Năm
2012, một đồng hàng tồn kho tại ra 32,51 đồng giá vốn hàng bán, nhung năm 2013 chỉ
còn 28,41 đồng giá vốn hàng bán. Hệ số này giảm cho thấy doanh nghiệp bán hàng
chậm và hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, chủ yếu bị ứ đọng nguyên liệu, vật liệu, nếu
như cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng công ty sẽ bị mất khách hàng và bị
các đổi thủ khác tranh giành thị phần.
Tóm lại, thông qua những điều phân tích ở trên ta thấy giá trị tồn kho cuối kỳ
thấp hơn nhiều so với giá vốn hàng bán ra trong năm cho thấy tình hình tiêu thụ trong
công ty tương đối tốt. Tuy nhiên số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm xuống,
vì tiêu thụ chưa tương xứng với quy mô hoạt động, quy mô sản xuất đang ngày càng
gia tăng. Số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm trung bình đạt 58,69 vòng,
đồng thời làm thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng với giá trị trung bình xoay quanh 8,96 ngày. Nguyên nhân cũng đã được đề cập ở trên do năm các năm này tốc độ tăng
của hàng tồn kho luôn lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán. Do đó công ty cần đẩy mạnh tiêu thụ hơn nữa để đẩy nhanh quá trình chuyển thành tiền của hàng hóa đảm bảo cho nhu cầu thanh toán.
- Chỉ tiêu quản lý các khoản phải thu
46
Để nhìn nhận rõ hơn về tính hiệu quả trong chính sách quản lý các khoản phải
thu tại Công ty, chúng ta còn cần xem xét vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền
bình quân.
Bảng 2.13. Tình hình khoản phải thu
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Doanh thu thuần (VND) 366.051 305.255 468.735
Khoản phải thu KH (VND) 214.390 240.042 232.155
Số vòng quay các khoản phải thu 1,71 1,27 2,02 (Vòng)
Kỳ thu tiền bình quân (Ngày) 210,85 283,09 178,30
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Vòng quay các khoản phải thu từ năm 2011 đến năm 2013 đang có xu hướng
giảm nhưng không đều giữa các năm. Cụ thể:
Năm 2012 giảm so với năm 2011 từ 2,02 vòng xuống còn 1,27 vòng trong năm
2012. Điều đó cho thấy tốc độ quay vòng vốn bị chiếm dụng của Công ty đang kém
hiệu quả hơn. Do đặc thù là đơn vị chuyên cung cấp bên tông tươi thương phẩm cho
các công trình có chu kỳ thi công khá dài nên vòng quay các khoản phải thu của Công
ty khá thấp. Tuy nhiên, đến năm 2013 một lượng khoản phải thu lớn đã được thanh
toán làm cho vòng quay các khoản phải thu đã tăng lên 1,71 vòng và kỳ thu tiền trung
bình giảm xuống còn 210,85 ngày trong năm 2013 so với 283,09 ngày của năm 2012.
Điều này cho thấy trong chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty những
năm 2012 không tốt mặc dù năm 2013 chính sách quản lý khoản phải thu đã tốt hơn do
công ty đã thực hiện nhiều chính sách tín dụng cho khách hàng nhằm kích thích khách
hàng trả nợ, giúp rút ngắn số ngày thu tiền bình quân và tăng tốc độ quay vòng của các
khoản phải thu. Tuy nhiên, nếu so với năm 2011 thì năm 2013 mặc dù tăng nhưng số
vòng quay các khoản phải thu vẫn thấp hơn.
Các khoản phải thu của doanh nghiệp luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng TSNH, không giúp doanh nghiệp sinh lời mà doanh nghiệp còn phải chịu thêm
chi phí quản lý nợ, chi phí thu nợ và chi phí lãi tiền vay do phải huy động từ vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng để tiến hành sản xuất kịp thời bê tông thương phẩm đáp ứng đơn hàng. Như vậy, doanh nghiệp đã để cho một lượng vốn lớn bị chiếm dụng gây ảnh hưởng tới tình hình tài chính cụ thể là TSNH quay vòng chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không cao. Quy mô các khoản phải thu của doanh
nghiệp mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn còn rất lớn, chiếm hơn 90% tổng TSNH của công ty. Vì vậy, doanh nghiệp nên cần có các biện pháp để khắc phục tình trạng
47
này như: biện pháp quản lý nợ chặt chẽ, thẩm định khách hàng, nhanh chóng đề nghị
các bên chủ đầu tư thanh toán công trình, không để phát sinh các khoản nợ xấu, nợ khó
đòi.
- Thời gian quay vòng tiền trung bình
Bảng 2.14. Thời gian quay vòng tiền trung bình
Đơn vị tính: Ngày
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Thời gian quay vòng hàng tồn kho 12,67 11,07 3,13
Kỳ thu tiền bình quân 210,85 283,09 178,30
Thời gian trả nợ trung bình 146,28 180,06 163,54
Thời gian quay vòng tiền trung bình 77,24 114,10 17,89
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)
Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Từ năm 2011 đến năm 2013,
thời gian quay vòng tiền trung bình tăng nhưng biến động. Cụ thể:
Năm 2011 – 2012: Đây là giai đoạn thời gian quay vòng tiền trung bình tăng
mạnh. Chỉ trong một năm, chỉ tiêu này tăng thêm 96,21 ngày. Chỉ tiêu này tăng lên
cho thấy doanh thu thu hồi tiền chậm để quay vòng hoạt động sản xuất kinh doanh,
quản lý kém hiệu quả khi thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở
mức cao.
Sang năm 2013, chỉ số này bắt đầu có xu hướng giảm xuống, khi chỉ đạt mức
77,24 ngày so với 114,10 ngày của năm 2012. Chỉ tiêu này cho biết sau 77,24 ngày thì
số vốn của công ty được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ
khi công ty bỏ vốn ra. Thời gian quay vòng tiền giảm, chứng tỏ công ty sớm thu hồi
được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời
gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời
gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khá cao so với mặt bằng chung các doanh nghiệp khác. Nguyên nhân cũng đến từ loại hình kinh doanh của
công ty là cung cấp bê tông thương phẩm cho các công trình xây dựng với thời gian thi công lâu có thời gian thu hồi vốn chậm.
48
2.2.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
2.2.3.1. Quy mô cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
Cơ cấu TSDH là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản mục trong tài sản dài hạn, thể
hiện mức độ đầu tư, phân bổ tài sản dài hạn trong DN. Qua đó, ta có thể nhận định
được loại hình DN và các chính sách đầu tư dài hạnn của DN. Bên cạnh đó, thông qua
sự biến đổi trong cơ cấu tài sản dài hạn, ta có thể nhìn thấy sự thay đổi tích cực hay không của công tác quản lý, sử dụng tài sản dài hạn tại một DN.
Năm 2011, quy mô tài sản dài hạn của Công ty qua 3 năm phân tích đang có xu
hướng giảm nhưng không đều. Năm 2012, tài sản ngắn hạn giảm từ 148.315 triệu đồng
xuống còn 111.085 triệu đồng (giảm 37.230 triệu đồng, tương ứng vơi tốc độ giảm 25,10%) so với năm 2011. Sang đến năm 2013, quy mô tài sản ngắn hạn lại có xu hướng tăng 27,43% so với năm 2012, tuy nhiên mức tăng này vẫn thấp hơn so với mức giảm vào
năm 2012. Nguyên nhân của sự thay đổi này vừa do sự điều chỉnh của Công ty, vừa do sự
thay đổi tự phát của các khoản mục trong quá trình kinh doanh. Trong đó tài sản cố định
luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản dài hạn, kế đến là các khoản đầu tư tài
chính dài hạn, TSDH khác và công ty không có hoạt động đầu tư vào bất động sản.
Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty CP Xây dựng
và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2 13
Năm 2 12
Năm 2 11
Chỉ tiêu
Giá trị
Tỷ trọng
Tăng so với năm
Giá trị
Tỷ trọng
Tăng so với năm
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
(%)
1. Tài sản cố định
2012 32,33 83.508 75,18
2011 (%) (21,19) 105.956 71,44
- Tài sản cố định hữu hình 105.748 74,71
110.505 78,07
37,31 77.015 69,33 (21,61) 98.244 66,24
- Tài sản cố định thuê tài chính
- Chi phí XDCB dở dang
(22,64) 5.295 (31,34) 7.712 4.096 2,89 4,78 5,20
2. Bất động sản đầu tư
661 0,47 (44,82) 1.198 - 1,08 0,00 0
3. Các khoản đầu tư tài
0 0,00 0,00 0 0,00 0,00 0,00 0
chính dài hạn
4. Tài sản dài hạn khác
26.159 18,48 2,19 25.599 23,04 (35,15) 39.472 26,61
4.890 3,45 147,22 1.978 1,78 (31,51) 2.888 1,95
TÀI SẢN DÀI HẠN
141.554 100,00 27,43 111.085 100,00 (25,10) 148.315 100,00
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
49
Tài sản cố định: năm 2011, khoản mục này chiếm tỷ trọng 71,44% trong tổng
tài sản dài hạn và có xu hướng tăng về những năm tiếp theo. Năm 2012 tài sản cố định
tăng lên mức 75,18%, năm 2013 tiếp tục tăng lên mức 78,07% trong tổng tài sản dài hạn. Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, tài sản cố định của công ty luôn luôn
tăng lên do công ty tích cực mua sắm thêm và thuê tài chính tài sản cố định phục vụ
cho quá trình sản xuất cũng như chủ trương mở rộng quy mô của công ty.
Tài sản cố định của công ty hiện có bao gồm lượng tài sản cố định hữu hình, tài
sản cố định thuê tài chính và chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Tài sản cố định hữu hình qua 3 năm phân tích cũng có sự thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tăng. Chính điều
này đã làm cho tài sản cố định của công ty qua 3 năm tăng lên. Năm 2010, tài sản cố
định hữu hình tài công ty có trị giá 98.244 triệu đồng nhưng đến năm 2013, trị giá của
tài sản cố định hữu hình đã tăng lên tới 105.748 triệu đồng (tăng 37,31% so với năm 2012), chiếm 74,71% trong cơ cấu tài sản dài hạn. Có thể thấy lượng tài sản cố định hữu hình có một vai trò hết sức quan trọng đối với công ty được thể hiện qua trị giá
lớn trên 70% tài sản dài hạn. Tài sản cố định hữu hình tăng cho thấy công ty đã tích
cực đầu tư vào quy mô dây chuyền, các thiết bị, công nghệ hỗ trợ để mở rộng quy mô,
mở rộng thị trường kinh doanh. Tài sản cố định hữu hình của công ty đang sở hữu bao
gồm là hệ thống trạm trộn hiện đại với tổng công suất lớn, 65 đầu xe trộn, 2 bơm cần,
5 bơm cần và 7 bơm tĩnh.
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của công ty giảm cho thấy tình hình xây dựng
mới, sửa chữa, nâng cấp hệ thống trạm bơm bê tông của công ty đang đươc gấp rút
hoàn thành để đưa vào hoạt động để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô, thị trường của
công ty cũng như nhu cầu bê tông thương mại ngày càng tăng trong thời gian tới.
Tài sản cố định thuê tài chính của công ty đang có xu hướng giảm dần qua 3
năm phân tích cho thấy công ty đang có động thái hạn chế sự lệ thuộc vào các nguồn
tài sản bên ngoài công ty và tăng cường chủ động trong việc sử dụng tài sản bằng việc
mua sắm thêm tài sản riêng. Tài sản cố định thuê tài chính của công ty chủ yếu là các
loại phương tiện vận tải truyền dẫn và mặt bằng đất cho thuê.
Đầu tư tài chính dài hạn: Có thể thấy công ty rất chú trọng hoạt động đầu tư tài chính dài hạn vào các công ty liên doanh liên kết. Tuy nhiên do tình hình kinh doanh không hiệu quả cũng, lợi nhuận đem về từ hoạt động đầu tư tài chính không ổn định, thêm vào đó nhu cầu sử dụng vốn tại công ty lớn nên công ty đã rút một phần vốn đầu tư liên kết về để bổ sung vốn kinh doanh. Chính điều này đã làm cho tỷ trọng khoản mục đầu tư tài chính dài hạn giảm trong 3 năm phân tích. Cụ thể, năm 2011 tỷ trọng
khoản mục đầu tư tài chính dài hạn ở mức 26,61%, tuy nhiên sang đến năm 2012 tỷ
50
trọng giảm xuống còn 23,04%. Tình trạng giảm vẫn tiếp tục tiếp diễn trong năm 2103
khi tỷ trọng khoản mục đầu tư tài chính chỉ còn 18,48% trong tài sản dài hạn. Như
vậy, sau 3 năm phân tích, khoản mục đầu tư tài chính dài hạn đã giảm 13.313 triệu đồng, tương ứng với tốc độ giảm 33,72%.
Tài sản dài hạn khác: Các tài sản dài hạn còn lại trong Công ty chiếm tỷ trọng
khá nhỏ trong tổng tài sản dài hạn, trong đó chủ yếu là t chi phí trả trước dài hạn. Sự
tăng lên của khoản mục trong 3 năm phân tích cho thấy các khoản chi phí trả trước dài
hạn (chủ yếu là khoản tiền chi thuê mặt bằng và thuê tài sản cố định) cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong khoản mục tài sản dài hạn hạn khác. Cụ thể là tỷ trọng tài
sản ngắn hạn khác đã tăng từ 1,95% ở năm 2011 lên 3,45% vào năm 2013.
2.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng
và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp về tài sản dài hạn
Bảng 2.16. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Chênh lệch Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2013 2012 2011 2013/2012 2012/2011
Hiệu suất sử dụng TSDH (Lần) 2,59 2,75 3,16 (0,16) (0,41)
Suất hao phí TSDH so với 0,39 0,36 0,32 0,02 0,05 doanh thu (Lần)
Suất hao phí của TSDH so với 247,91 151,55 43,32 96,36 108,23 LNST (Lần)
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài 0,40 0,66 2,31 (0,26) (1,65) hạn (%)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
- Hiệu suất sử dụng TSDH và Suất hao phí của TSDH so với doanh thu
thuần
Qua bảng 2.6 ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm
từ năm 2011 đến 2013. Cụ thể:
Năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản đạt 2,75 lần, thấp hơn so với năm 2011 là 0,41 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng tài sản dài hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh năm 2012 thì sẽ thu được 2,75 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,41 đồng doanh thu thuần. Ngược lại với hiệu suất sử dụng tài sản, suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu hầu chỉ tăng thêm 0.05 lần từ năm 2011 đến 2012 và ở mức
51
0,36 lần. Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra
0,36 đồng TSDH năm 2012. Hệ số này khá ổn định trong 2 năm này.
Năm 2012 - 2013: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn trong thời gian này vẫn tiếp tục giảm và giảm xuống mức 2,59 lần, tức là một đồng tài sản dài bỏ ra chỉ thu được
2,59 đồng doanh thu thuần vào năm 2013. Và suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với
doanh thu tăng lên đến 0,39 lần, tức là để có 1 đồng doanh thu thì công ty phải bỏ ra
0,39 đồng tài sản dài hạn trong năm 2013.
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức khá cao, trung bình ở mức 2,83 lần. Năm 2013, Công ty bắt đầu mở rộng thêm dây chuyền sản
xuất bê tông tươi bước đầu đã đem lại tín hiệu khả quan khi doanh thu thuần năm 2013
đã tăng trở lại. Năm 2013, doanh thu thuần tăng với tốc độ 19,92%, trong khi lợi
nhuận sau thuế lại giảm 22,10%, tài sản dài hạn tăng 27,43%. Do đó, việc sử dụng tài sản dài hạn chưa thực sự hiệu quả là vấn đề mà công ty cần xem xét.
Bảng 2.17. Thời gian một vòng quay TSDH
Chỉ tiêu
Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11 3,16 2,59 2,75 Số vòng quay TSDH (Vòng)
139 131 114 Thời gian 1 vòng quay TSNDH (Ngày)
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Thời gian vòng quay của TSDH ở mức khá cao, trung bình mỗi vòng quay của
TSDH bình quân mất từ 114 ngày đến 139 ngày. Điều này chứng tỏ TSDH của công ty
vận tương đối chậm.
Từ năm 2011 đến năm 2012 số vòng quay TSDH giảm từ 3,16 vòng xuống còn
2,75 vòng (giảm 0,41 vòng) đồng nghĩa với việc thời gian 1 vòng quay TSDH tăng lên
từ 114 ngày lên 131 ngày. Điều đó cho thấy TSDH vận động ngày càng chậm, hiệu
suất sử dụng tài sản dài hạn giảm, hạn chế việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho
công ty.
Năm 2013, tài sản dài hạn tiếp tục tăng thêm 27,43% trong khi doanh thu thuần
chỉ tăng 19,92%. Vì vậy, trong năm này, phải mất tới 139 ngày mới hết một vòng quay tài sản dài hạn.
- Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận
Nhìn chung, suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế đều tăng qua các năm. Riêng năm 2012, khi nền kinh tế vẫn đang chịu dư âm ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, khủng hoảng nợ, giá trị tài sản dài hạn bình quân giảm 25,10% trong khi lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn với tốc độ giảm 78,59% đã làm cho suất hao
52
phí TSNH so với lợi nhuận sau thuế tăng đột ngột từ 43,32 lần lên 151,55 lần chỉ trong
1 năm. Đây thực sự là một con số đáng kể. Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi
nhuận sau thuế thì cần tới 151,55 đồng TSDH năm 2012. Sang đến đến năm 2013 chỉ tiêu này ở mức cao nhất trong 3 năm ở mức 247,91 lần chứng tỏ việc sử dụng TSDH
chưa đạt hiệu quả cao. Qua bảng cân đối kế toán có thể thấy các khoản mục TSDH của
năm sau cao hơn so với năm trước trong khi lợi nhuận sau thuế của công ty giảm mạnh
so với năm trước khiến cho để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế, cần tới chiều đồng tài sản
dài hạn hơn.
- Tỷ suất sinh lời của TSDH
Trong năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn TSDH. Điều này dẫn tới tỷ
suất sinh lời của tài sản dài hạn năm 2012 giảm thêm 1,65% so với năm 2011 và đạt
mức 0,66%. Có nghĩa là so với năm 2011, trong năm 2012, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản dài hạn thì tạo ra 0,66 đồng lợi nhuận sau thuế, trong khi năm 2011 tạo ra 2,31 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời trên TSDH giảm mạnh đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp sử dụng tài sản dài hạn kém hiệu quả hơn so với năm 2011.
Sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn tiếp lục giảm nhẹ 0,26%
và ở mức 0,40%. Đó là do tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế là 21,10% trong khi tài
sản dài hạn trong năm tăng thêm 27,43. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài
hạn của công ty trong năm 2013 không được cải thiện.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bộ phận của tài sản dài hạn
Bảng 2.18. Tình hình quản lý tài sản cố định
Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11
Sức sản suất của TSCĐ (Lần) 3,31 3,66 4,42
Suất hao phí của TSCĐ (Lần) 0,30 0,27 0,23
Tỷ suất sinh lời của TSCĐ (%) 0,52 0,88 3,23
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
- Sức sản xuất của TSCĐ
Sức sản xuất của tài sản cố định là một trong những tỷ số tài chính đánh giá khái quát hiệu quả sử dụng tài sản, ở đây là tài sản cố định của doanh nghiệp. Nhìn chung,
sức sản xuất của TSCĐ của công ty trong 3 năm qua luôn có biến động và hiện tại có khuynh hướng giảm. Năm 2011, một đồng tài sản cố định tạo ra 4,42 đồng doanh thu thuần. Sang đến năm 2012, sức sản suất của TSCĐ đã giảm xuống chỉ còn 3,66 lần, tương ứng với một đồng tài sản cố định lúc này chỉ tạo ra được 3,66 đồng doanh thu thuần. Năm 2013 doanh thu thuần tăng từ 305.255 triệu đồng lên tới 366.051 triệu
53
đồng (tăng 19,92%) trong khi tốc độ tăng của nguyên giá bình quân TSCĐ cao hơn tốc
độ tăng của doanh thu thuần với tốc độ tăng là 32,33% nên sức sản xuất của TSCĐ
giảm so với năm 2012, xuống còn 3,31 lần.
Sở dĩ sức sản xuất của TSCĐ giảm từ năm 2011 đến năm 2013 nguyên nhân là
do nguyên giá bình quân TSCĐ tăng mạnh: Công ty mở thêm 4 trạm bê tông tự động, đó là trạm Thanh Trì với công suất 240m3/h, trạm Mỹ Đình với công suất 120m3/h, tramh Láng hòa lạc công suất 60m3/h và trạm Mỹ Đình với công suất 90m3/h, đồng thời thuê tài chính thêm 03 xe bơm cần và 01 xe bơm tĩnh nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất, tiết kiệm thời gian đi lại cho đội vận chuyển. Mục tiêu đầu tư của công ty nhằm
đáp ứng cho chiến lược phát triển cao về quy mô và sản lượng sản xuất, tăng sức cạnh
tranh trên thị trường. Tuy vậy, sự đầu tư mới này đã chưa thể góp phần gia tăng doanh
thu thuần một cách hiệu quả nhất, làm cho sức sản xuất của TSCĐ thấp đi. Tuy nhiên sẽ hứa hẹn một tiềm lực lớn trong những năm sắp tới.
- Suất hao phí của TSCĐ
Cùng với sự biến động của sức sản xuất TSCĐ qua các năm trên, sức hao phí
TSCĐ tăng từ năm 2011 tới năm 2013, từ 0,23 lần năm 2011 lên 0,30 lần vào năm
2013. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải hao phí bao
nhiêu đồng giá trị còn lại của TSCĐ. Chỉ tiêu này tăng lên cho thấy công ty chưa có
biện pháp khai thác TSCĐ một cách hợp lý hơn năm trước khiến chi phí đầu tư TSCĐ
tăng lên.
Suất hao phí TSCĐ tuy có tăng nhưng tăng không nhiều qua các năm quay
xung quanh giá trị 0,27 lần. Ngược với chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ, hệ số này có
xu hướng tăng do tốc độ tăng của giá trị còn lại của TSCĐ lớn hơn rất nhiều so với tốc
độ tăng của doanh thu thuần. Việc đầu tư trong thiết bị có thể giúp công ty tăng doanh
thu nhưng nhu cầu thị trường cũng là một yếu tố quan trọng. Thị trường xây dựng chịu
tác động trước những khó khăn của nền kinh tế ảm đạm khiến sản lượng sản xuất ra
không nhiều do không có đơn hàng.
- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ
Tỷ suất sinh lời của TSCĐ là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSCĐ sử dụng trong kỳ. Trong năm 2011, cứ 100 đồng TSCĐ thì tạo ra 3,23 đồng lợi nhuận, đến năm 2012 thì chỉ tạo ra 0,88 đồng lợi nhuận, giảm 2,35 đồng so với năm 2011.
Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của TSCĐ tiếp tục giảm xuống còn 0,52%, tức là cứ 100 đồng TSCĐ thì chỉ tạo được 0,52 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do lợi nhuận sau thuế thấp và giảm qua mỗi năm mặc dù năm 2013
54
Công ty đầu tư mua thêm trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất bê
tổng tươi.
2.3. Nhận xét hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ
Thƣơng mại Việt – Hàn
2.3.1. Kết quả đạt được
Mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm có sự thay đổi
không đều nhưng nhìn vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy, mặc dù kinh
doanh có giảm sút nhưng Công ty vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước. Việc đóng thuế đầy đủ giúp Công ty tránh khỏi những rắc rối trong hoạt động
kiểm toán, thanh tra của Nhà nước. Đồng thời, điều này còn giúp Công ty tạo được sự
tin tưởng đối với Nhà nước nói chung và Ngân hàng nói riêng khi có nhu cầu xin vay
vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
Nguồn cung bê tông luôn được đảm bảo từ hệ thống 3 địa điểm kinh doanh, 04 trạm bê tông tự động và hàng loạt xe vận chuyển bê tông, hệ thống bơm đẩyhiện đại
theo tiêu chuẩn của viện đo lường Việt Nam. Doanh thu thuần từ hoạt động kinh
doanh đã tăng trở lại, vì vậy Công ty luôn đảm bảo có lợi nhuận sau thuế qua các năm.
Điều này cho thấy công ty đã có chính sách quản lý các khoản đầu tư hợp lý. Công ty
luôn đảm đảm lợi nhuận kinh doanh hàng năm khi mức lợi nhuận sau thuế luôn dương
qua mỗi năm.
Quy mô tài sản qua 3 năm tăng lên cho thấy công ty cũng đang chú trọng đầu tư
cho tài sản không những giúp công ty tăng quy mô công ty và còn giúp tạo nên tính
cạnh tranh với các đơn vị khác trong ngành. Công ty luôn duy trì tài sản ngắn hạn ở
mức cao để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, điều này giúp công ty
có thể hoạt động kinh doanh ổn định mà không phải chịu sức ép lớn từ các khoản nợ.
Tuy nhiên công ty cần chú ý tới lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền để
đảm bảo cho các giao dịch thanh toán nhanh. Các khoản phải thu khách hàng của công
ty nhìn chung đã giảm xuống cho thấy công tác thu hồi nợ từ phía khách hàng đang ngày một hiệu quả, tuy nhiên mức giảm còn khá thấp, vì vậy công ty cần đẩy mạnh
hơn nữa hoạt động thu hồi vốn từ phía khách hàng đểm đảm bảo tính thanh khoản của nguồn vốn, bổ sung thêm vốn vào hoạt động kinh doanh.
Nhìn chung công ty đã chấp hành đầy đủ các quy định về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp khi cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế, đảm bảo sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả.
55
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Tổng tài sản đang có xu hướng tăng trong các năm gần đây. Trong đó, tài sản
dài hạn đang tăng dần tỷ trọng và năm 2013 chiếm khoảng 34,36% tổng tài sản, do các khoản đầu tư vào việc xây dựng thêm trạm bê tông phục vụ cho quá trình sản xuất.
Cùng với đó, hệ thống thiết bị cũng được đầu tư thêm đáp ứng quy mô sản xuất tăng
lên. Tài sản ngắn hạn vẫn chiếm một tỷ trọng rất cao ( năm 2013 là 65,64%) và trong
đó chủ yếu là khoản phải thu (khoảng 94,48% TSNH, 62,01% tổng tài sản năm 2013).
Khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sản có nghĩa là một tỷ lệ khá lớn tài sản ngắn hạn của Công ty đã tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu bị khách
hàng chiếm dụng. Điều này sẽ ảnh hướng đến công tác thu hồi vốn kinh doanh cũng
như khả năng thanh toán của Công ty. Việc này là rất nguy hiểm, bởi nó sẽ gây ra tình
trạng ứ đọng vốn khi trong thời điểm hiện nay, Công ty luôn trong tình trạng cần vốn đề đầu tư. Bên cạnh đó nếu Công ty vẫn không giảm thêm được các khoản phải thu thì một số khoản trở thành nợ khó đòi đối với Công ty, ảnh hưởng không nhỏ đến việc kế
hoạch hoá ngân quỹ Công ty cũng như tốc độ luân chuyển và hiệu quả sử dụng tài sản.
Hệ số thanh toán bằng tiền nhỏ khiến công ty gặp khó khăn trong việc thanh
toán công nợ, nhất là các khoản nợ đến hạn vì không đủ lượng tiền và tương đương
tiền trong công ty. Nguyên nhân là do khoản tiền trong công ty là quá nhỏ và có trong
khi khoản nợ ngắn hạn và dài hạn thì lại rất lớn và cần phải chi trả. Lượng tiền giảm
mạnh là do năm 2013 công ty đầu tư tiền mặt vào mua máy móc, trạm bê tông, thực
hiện thanh toán các chi phí phát sinh. Do đó, công ty cần chú trọng đến quá trình thu
nợ trong khoản phải thu để có đủ tiền mặt đáp ứng cho nhu cầu của công ty đồng thời
có những biện pháp sản xuất phù hợp. Ngoài ra, cũng cần có kế hoạch dự báo dòng
tiền trong tương lai để nhanh chóng tìm ra những biện pháp bổ sung thêm lượng tiền
mặt ở mức vừa phải đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định,
liên tục.
Với đặc thù của ngành vật liệu xây dựng việc dự trữ hàng tồn kho của doanh
nghiệp cũng có những đặc điểm riêng như: vật tư, vật liệu xây dựng thường có khối lượng lớn (sỏi, cát, chất keo...). Tuy nhiên việc dự trữ quá nhiều và ngày càng tăng
cũng có thể gây ra các khoản chi phí lưu kho rất lớn đòi hỏi doanh nghiệp vẫn cần phải có mức dự trữ hợp lý tránh trường hợp thị trường nguyên vật liệu có biến động bất lợi làm gián đoạn sản xuất gây ảnh hưởng tới tiến độ thi công cũng như giảm thiểu tối đa chi phí lưu kho.
Trong 3 năm, các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng giảm theo chiều
hướng kém hiệu quả hơn. Chỉ số này của công ty luôn giữ ở mức trung bình khoảng
56
1,67 vòng tương ứng với kỳ thu tiền trung bình là 224 ngày chứng tỏ công tác thu hồi
nợ của doanh nghiệp được đánh giá là chưa tốt. Các khoản phải thu của doanh nghiệp
luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng TSNH, không giúp doanh nghiệp sinh lời mà doanh nghiệp còn phải chịu thêm chi phí quản lý nợ, chi phí thu nợ và chi phí lãi
tiền vay do phải huy động từ vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng để tiến
hành sản xuất kịp thời bê tông thương phẩm đáp ứng đơn hàng. Như vậy, doanh
nghiệp đã để cho một lượng vốn lớn bị chiếm dụng gây ảnh hưởng tới tình hình tài
chính cụ thể là TSNH quay vòng chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không cao.
Tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm một phần khá lớn trong tổng tài sản của công
ty (khoảng 34,36% tổng tài sản năm 2013). Tài sản dài hạn của công ty gia tăng hàng
năm (giá trị tuyệt đối) chứng tỏ cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty ngày càng được
tăng cường và quy mô năng lực sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên sự đầu tư mới này đã chưa thể góp phần gia tăng doanh thu thuần năm 2013 một cách hiệu quả nhất, lợi nhuận sau thuế của công ty còn thấp hơn so với năm
2012 làm cho sức sản xuất của TSCĐ và tỷ suất sinh lời của TSCĐ giảm và thấp hơn
so với năm 2012. Nhưng sẽ hứa hẹn một tiềm lực lớn trong những năm sắp tới. Công
ty cần phát huy hơn nữa trong việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm cạnh tranh
tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay và trong tương lai.
57
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN
3.1. Cơ hội phát triển của Công ty trong thời gian tới
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, trong năm 2014, ngành Xây
dựng sẽ tập trung vào 12 nhiệm vụ trong tâm của Ngành. Trong đó, Bộ Xây dựng sẽ
tiếp tục tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực của Ngành,
trọng tâm là hoàn thiện để trình Quốc hội, Chính phủ thông qua Luật Xây dựng (sửa
đổi) và các Nghị định hướng dẫn thực hiện, Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); nghiên cứu các cơ chế, chính sách để thu hút, huy động các
nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị…
Đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, rà soát
điều chỉnh bổ sung các quy hoạch vùng, quy hoạch chung trên phạm vi cả nước, đẩy
nhanh tốc độ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết...; Tiếp tục triển khai
thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát
trong đầu tư xây dựng và thực hiện Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, tăng cường quản lý
và kiểm soát chặt chẽ các dự án phát triển đô thị theo quy hoạch, kế hoạch...
Năm 2014 cũng là năm ngành Xây dựng sẽ tập trung đẩy mạnh thực hiện Chiến
lược phát triển nhà ở quốc gia; hoàn thành việc phê duyệt các chương trình phát triển
nhà ở của các địa phương; triển khai thực hiện Nghị định số 188/2013/NĐ-CP về quản
lý và phát triển nhà ở xã hội (NOXH); tích cực thực hiện các chương trình phát triển
NOXH, nhà ở cho người thu nhập thấp khu vực đô thị, các chương trình hỗ trợ nhà ở
cho người có công, các hộ nghèo khu vực nông thôn, khu vực thường xuyên chịu ảnh
hưởng của bão, lũ.
Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
thị trường BĐS gắn với thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia; Tăng cường
quản lý vật liệu xây dựng theo quy hoạch; Tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành Xây dựng.
Như vậy, trước sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Xây dựng đối với ngành Xây
dựng thì thị trường nguyên vật liệu xây dựng sẽ có xu hướng tốt lên trong thời gian tới. Công ty CP Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn nên tận dụng những mối quan hệ thân thiết với các công ty xây dựng, các nhà mời thầu có liên quan, đồng thời tích cực đấu thầu để dành cho mình những gói thầu xây dựng hay những gói thầu cung cấp bê tông thương mại cho các công trình xây dựng có giá trị cao, nhằm tìm kiếm và tăng nguồn doanh thu cho công ty trong thời gian tới. [6]
58
3.2. Định hƣớng phát triển trong thời gian tới của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn
Kể từ khi thành lập cho tới nay, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển. Ý
thức sâu sắc được những cơ hội, thách thức trong giai đoạn hiện nay, Công ty đã đề ra
định hướng phát triển và mục tiêu chiến lược trong thời gian tới như sau:
Định hƣớng phát triển: Sự phát triển của Công ty phải gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Mở rộng và đa dạng hóa quan hệ hợp tác kinh doanh với các đối tác trong nước
và đối tác nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tăng cường tìm kiếm những nhà phân
phối mới để chủ động về nguồn nguyên liệu, mua với giá tốt hơn, đồng thời công ty cần phải có chính sách quản lý chi phí bán hàng, nhờ vậy mới giảm được các chi phí và giá vốn hàng bán. Tuy nhiên, để công ty phát triển một cách bền vững và ổn định,
công ty cũng cần phải thiết lập mối quan hệ tốt với những nhà cung cấp đã có.
Tăng cường khẳng định vị trí, uy tín của mình đối với khách hàng, bạn hàng
thông qua cải tiến chất lượng dịch vụ, hợp tác cùng có lợi.
Dựa vào các ưu thế sẵn có để tăng cường phát huy tiềm lực. Coi trọng yếu tố
con người, công nghệ trong sự phát triển bền vững của Công ty. Tăng cường hoạt
động của vốn, khai thác triệt để nguồn vốn tín dụng ưu đãi với mức lãi suất thấp. Về
vấn đề quay vòng vốn, quản lý tốt các khoản phải thu, khoản đến hạn hoặc quá hạn để
kịp thời có biện pháp thích hợp, tránh tình trạng vốn của công ty bị chiếm dụng bởi
các khách hàng quá lâu.
Công ty cần quan tâm tới các khoản phải trả, lập kế hoạch trả nợ để giữ uy tín
với nhà cung cấp. Đồng thời, công ty cũng cần quản lý các khoản phải thu thật tốt để
thu đúng hạn, tránh tình trạng chiếm dụng vốn quá lâu hay mất vốn gây ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của công ty.
Mục tiêu chiến lƣợc:
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết bị,
máy móc, phương tiện vận chuyển.
- Về thị phần: Giữ vững và phát triển thị phần hiện có, tham gia thị trường khi có
điều kiện thuận lợi và đạt hiệu quả.
- Tiếp tục duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001: 2000 trong các đơn vị phục vụ. [5]
59
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn
Qua phần phân tích chi tiết thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn từ năm 2011 đến năm 2013, tuy
công ty có những bước phát triển nhất định nhưng trong tình hình tài chính của công ty
còn khá nhiều bất cập, đòi hỏi quản trị công ty cần có những giải pháp tức thời cũng
như lâu dài cho vấn đề quản lý tài sản của công ty cho năm tài chính tiếp theo. Muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản thì bản thân doanh nghiệp phải chủ động sáng tạo, hạn chế những khó khăn, phát triển những thuận lợi để tạo ra môi trường hoạt động có
lợi cho mình. Vai trò quyết định của doanh nghiệp được thể hiện qua hai mặt; thứ
nhất, biết khai thác và tận dụng những điều kiện và yếu tố thuận lợi của môi trường
bên ngoài và thứ hai, doanh nghiệp phải chủ động tạo ra những điều kiện, những yếu tố cho chính bản thân mình để phát triển. Cả hai mặt này cần được phối hợp đồng bộ thì mới tận dụng được tối đa các nguồn lực, kinh doanh mới đạt hiệu quả tối ưu. Dưới
đây là những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng tài sản của của Công ty Cổ
phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn.
3.3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty
3.3.1.1. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu
Quản lý khoản phải thu khách hàng là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp
trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp của tất cả các doanh nghiệp. Đặc biệt
với Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn khi các khoản phải
thu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn (trên 30%). Việc tăng khoản
phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu
hồi nợ, chi phí trả lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn thiếu do vốn của doanh nghiệp
bị khách hàng chiếm dụng. Hơn nữa, tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với
doanh nghiệp dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu hồi được do
khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu có một chính sách tín dụng hợp lý doanh nghiệp sẽ thu hút được khách hàng, làm tăng doanh thu và lợi
nhuận. Vì vậy, để quản lý khoản phải thu từ khách hàng, Công ty cần thực hiện một số biện pháp sau:
Đối với công tác thu hồi nợ: Thường xuyên theo dõi khoản phải thu và đôn đốc, ghi nhận thời hạn trả nợ của khách hàng, gửi thư thông báo thời hạn trả nợ hoặc điện thoại với khách hàng xác nhận thời hạn trả nợ. Muốn thế, công ty nên chủ động liên hệ với khách hàng sớm, thay vì chờ đến ngày hoá đơn hết hạn thanh toán. Điều này
không chỉ giúp công ty quản lý tốt các khoản phải thu, mà còn giúp công ty giữ được
60
mối quan hệ tốt với khách hàng. Công ty có thể đầu tư phần mềm quản lý công nợ,
giúp việc theo dõi khoản nợ nhanh chóng, chính xác, hiệu quả và giảm bớt nhân sự
trong công tác quản lý công nợ.
Đối với công tác quản trị các khoản phải thu: Công ty cần xác định xác đáng tỷ
lệ các khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của
chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách,
công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, từ đó nắm bắt những thông
tin tín dụng tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho phù hợp. Để làm được điều này, cần phải theo dõi các khoản phải thu sắp tới hạn
có chính sách thu tiền thích ứng.
Đánh giá hiệu quả quản trị khoản phải thu: Nhằm xác định xác đáng tỷ lệ các
khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách, công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, từ đó nắm bắt những thông tin tín
dụng tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho
phù hợp. Để làm được điều này, cần phải theo dõi các khoản phải thu sắp tới hạn có
chính sách thu tiền thích ứng.
Một chính sách tín dụng thương mại được xây dựng cẩn thận dựa trên việc so
sánh lợi ích tăng thêm từ doanh thu tăng, giá bán cao với các chi phí liên quan đến
thực hiện chính sách tín dụng tăng tương ứng, sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Sử dụng mô hình điểm tín dụng cũng là một các quản trị tốt các khoản phải thu, để
doanh nghiệp có cơ hội xoay nhanh đồng vốn hiện có và giảm áp lực vốn vay.
Dựa vào các tiêu chí thu thập và tổng hợp lại trong hệ thống thông tin về tín
dụng của khách hàng để Công ty đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay chính sách
thương mại cho khách hàng hay không. Để thực hiện được điều này, Công ty nên sử
dụng phương pháp phân nhóm khách hàng theo mức độ rủi ro.
Để phân nhóm rủi ro, doanh nghiệp có thể sử dụng mô hình cho điểm tín dụng
như sau:
Điểm tín dụng = 4 * Khả năng thanh toán lãi + 11 * Khả năng thanh toán
nhanh + 1 * Số năm hoạt động
Trong công thức trên, với số năm hoạt động càng lâu thì khả năng quản lý tài
chính càng cao và theo đó, công ty cũng có khả năng trả nợ nhanh hơn.
Sau khi tính được điểm tín dụng như trên, ta có thể xếp loại theo các nhóm rủi
ro như sau:
61
Bảng 3.1. Mô hình tính điểm tín dụng
Biến số Trọng số Điểm tín dụng Nhóm rủi ro
Khả năng thanh toán lãi 4 >47 1
Khả năng thanh toán nhanh 11 40-47 2
Số năm hoạt động 1 32-39 3
24-31 4
<24 5
Như vậy, các khách hàng thuộc nhóm 1 có thể được mở tín dụng mà không cần
phải xem xét nhiều, gần như tự động và vị thế của các khách hàng này có thể được
xem xét lại mỗi năm một lần. Các khách hàng thuộc nhóm 2 có thể được cung cấp tín
dụng trong một thời hạn nhất định và vị thế của các khách hàng này có thể được xem
xét lại mỗi năm hai lần. Và cứ tương tự như vậy, Công ty xem xét đến các nhóm khách
hàng 3, 4, 5. Để giảm tiểu tổn thất có thể xảy ra, có thể Công ty sẽ phải yêu cầu khách
hàng nhóm 5 thanh toán tiền ngay khi nhận hàng hóa, dịch vụ. Yêu cầu tín dụng khác
nhau đối với các khách hàng ở những nhóm rủi ro khác nhau là hoàn toàn hợp lý. Tuy
nhiên, phải làm thế nào đó để việc phân nhóm là chính xác, không bị nhầm lẫn khi
phân nhóm.
Ví dụ cụ thể cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà, là một trong
những khách hàng của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn.
Năm 2013, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn có cung cấp
bê tông tươi cho công trình nhà ở cho cán bộ công nhân viên viện bỏng Lê Hữu Trác
do Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà làm chủ thầu. Dựa trên báo cáo tài
chính quý 2/2014 của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà, áp dụng phương
pháp tính điểm tín dụng ta có bảng số liệu sau đây:
Bảng 3.2. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty Cổ phần Đâu tƣ và Xây lắp Sông Đà
Chỉ tiêu Công thức ĐVT Trọng số Giá trị
Tài sản ngắn hạn Triệu đồng 154.697
Hàng tồn kho Triệu đồng 17.352
Nợ ngắn hạn Triệu đồng 93.695
EBT Triệu đồng 130
Chi phí lãi vay Triệu đồng 754
EBIT Triệu đồng 822
62
Khả năng trả lãi Lần 4 1,09 EBIT Chi phí lãi vay
Lần 11 1,47 TSNH - Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh
Số năm hoạt động Năm 1 18
Điểm tín dụng 38,53
(Nguồn: Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà (SDD) - S.Cafef.vn)
Với số điểm tín dụng đạt 38,53 điểm thì khách hàng này được xếp vào nhóm rủi ro số 3. Tức là mức độ rủi ro trung bình. Với khách hàng này, Công ty có thể yêu cầu thanh toán trả ngay hoặc mở tín dụng với điều khoản tín dụng “2/15 net30”.
Định kỳ công ty nên xem xét, đánh giá hiệu quả quản trị các khoản phải thu qua
các chỉ tiêu sau:
Doanh thu thuần được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, khoản phải thu bình
quân là số bình quân đầu kỳ và cuối kỳ được lấy từ bảng cân đối kế toán của công ty.
Kết quả là, số lần trong năm doanh thu tồn tại dưới khoản phải thu. Vòng quay khoản
phải thu cao là một điều tốt, có nghĩa là khách hàng thanh toán tiền đúng hoặc ngắn
hơn thời hạn của chính sách tín dụng thương mại. Tuy nhiên, nếu vòng quay khoản
phải thu quá cao, có nghĩa là công ty có chính sách tín dụng thương mại thắt chặt (thời
hạn bán chịu ngắn) và không mở rộng đủ tín dụng cho khách hàng. Do đó, công ty cần
đánh giá mức độ hợp lý vòng quay các khoản phải thu của mình qua việc so sánh với
vòng quay các khoản phải thu của các công ty cùng ngành hoặc trung bình của ngành.
Kỳ thu tiền bình quân cho biết trung bình mất bao nhiêu ngày để một khoản
phải thu được thanh toán. Để có thể đánh giá hiệu quả thu tiền qua kỳ thu tiền bình
quân, công ty có thể so sánh với kỳ thu tiền bình quân của các năm trong quá khứ. Nếu
kỳ thu tiền ngày càng tăng, có nghĩa là các khoản phải thu không được chuyển đổi
thành tiền mặt nhanh chóng; ngược lại kỳ thu tiền bình quân có xu hướng giảm, cho
thấy hiệu quả của công tác quản trị khoản phải thu mà công ty đang thực hiện là khả quan. Ngoài ra, công ty cũng cần so sánh kỳ thu tiền bình quân với thời hạn của chính sách tin dụng thương mại. Nếu kỳ thu tiền bình quân, ví dụ là 50 ngày, nhưng chính
sách tín dụng của công ty cho phép thời hạn nợ 30 ngày (net 30). Điều này cho thấy, công ty cần xem lại công tác quản trị khoản phải thu của mình.
3.3.1.2. Quản lý chặt chẽ hàng tồn kho
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Công ty được diễn ra liên tục, việc dự trữ nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Lượng hàng tồn kho này liên quan đến các
chi phí như: chi phí bốc xếp, bảo hiểm, chi phí do giảm giá trị hàng hoá trong quá trình dữ trữ, chi phí hao hụt, mất mát, chi phí bảo quản, chi phí trả lãi tiền vay,…
63
Hiện tại, Công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc
cung cấp hay dự trữ nguyên vật liệu cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm,
việc đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, Công ty cần nghiên cứu, lựa
chọn phương pháp quản lý tồn kho một cách thích hợp.
Để quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu, Công ty cần quản lý thông qua định mức
tiêu hao nguyên vật liệu, định mức tồn kho nguyên vật liệu và công tác mua sắm
nguyên vật liệu.
- Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu
Công ty cần xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của Công ty, từ đó xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho
toàn Công ty nhằm kiểm soát được định mức tiêu hao một cách toàn diện, đồng thời kiểm soát được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Việc đưa ra định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần đi kèm với cơ chế tiền lương phù hợp để thúc
đẩy cán bộ công nhân viên trong Công ty tăng cường tiết kiệm, nỗ lực tìm tòi và phát
huy sáng kiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý.
Định mức tiêu hao nguyên vât liệu cần được thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh
cho phù hợp đảm bảo vừa tiết kiệm chi phí mà vẫn cung cấp cho khách hàng sản
phẩm, dịch vụ chất lượng.
- Xác định mức tồn kho nguyên vật liệu
Đây là việc xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu để đảm bảo hoạt động kinh
doanh diễn ra liên tục và không gây tồn đọng vốn cho Công ty. Công ty cần xác định
rõ danh mục các loại nguyên vật liệu cần dự trữ, nhu cầu số lượng, thời gian cung cấp.
Mỗi một doanh nghiệp khi đi vào sản xuất kinh doanh cũng cố gắng tìm cho
mình một mô hình quản lý hàng tồn kho phù hợp. Với một doanh nghiệp sản xuất
trong ngành vật liệu xây dựng như Việt - Hàn, điều này lại càng quan trọng vì nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm...đều đóng những vai trò nhất định trong hoạt
động sản xuất. Tuy nhiên, không phải loại hàng tồn kho nào cũng áp dụng mô hình EOQ hay mô hình JIT một cách cứng nhắc mà tùy vào đặc điểm của loại hàng tồn kho
đó, mối quan hệ của doanh nghiệp với bên ngoài, nhu cầu của thị trường mà doanh nghiệp tìm những mô hình phù hợp cho riêng mình. - Công tác mua sắm nguyên vật liệu Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, phòng kế hoạch đầu tư sẽ nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp và
kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm nguyên vật liệu này là phải tăng cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn
64
cung ứng ngày càng đa dạng, Công ty cần luôn cập nhật thông tin về thị trường để lựa
chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản của Công ty.
- Kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu
Để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý hàng tồn kho, hoạt động kiểm kê, phân
loại nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Công ty cần quan tâm hơn trong hoạt động
này. Cụ thể, công ty cần có sự phân loại nguyên vật liệu thành nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, các chất phụ gia để tiện bảo quản và kiểm soát số lượng. Những nguyên vật liệu nào thì để ở đâu, số lượng bao nhiêu, quy chuẩn, quy cách nguyên vật
liệu ra sao. Năm được những thông tin này sẽ giúp công ty quản lý hàng tồn kho một
cách linh hoạt hơn.
- Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá nguyên vật
liệu khi kiểm kê và giá cả thực tế trên thị trường.
Để hoạt động quản lý nguyên vật liệu đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trọng Công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải
sát với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng
phải cung cấp, đúng, đủ và kịp thời đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên.
Như vậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý
nguyên vật liệu sẽ giúp Công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng
vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
3.3.1.3. Xây dựng mô hình quản lý tiền mặt
Tiền mặt là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối
thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc giữ tiền
mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, bởi nó đảm bảo giao dịch kinh doanh
hàng ngày, tạo lợi thế cho việc mua hàng của công ty.
Quản lý tiền mặt là quản lý tiền giấy, tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản gắn
với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư
tiền mặt nhiều Công ty có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó, căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền mặt, Công ty cần cân nhắc lượng tiền mặt dự trữ và lượng tiền đầu tư cho các chứng khoán này một cách hợp lý nhằm tối ưu hoá lượng tiền nắm giữ.
65
Ngoài mô hình EOQ, để xác định lượng tiền tồn quỹ tối ưu, Công ty có thể áp
dụng mô hình quản lý tiền mặt của Miller Orr:
Mô hình không xác định điểm dự trữ tiền mặt tối ưu mà xác định khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của dự trữ tiền mặt. Nếu lượng tiền mặt
nhỏ hơn giới hạn dưới thì Công ty phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở
mức dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên Công ty sử dụng số tiền vượt quá mức
giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến.
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
D = 3
Trong đó:
D: Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ Cb: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán Vb: Phương sai của thu chi ngân quỹ i: Lãi suất Ví dụ cụ thể với công ty Việt – Hàn: Công ty có mức dư tối thiểu của tiền là
200 triệu đồng; phương sai luồng tiền hàng ngày trung bình 470 triệu đồng (ứng dụng
với độ lệch chuẩn 22 triệu đồng một ngày), lãi suất 0,25%/ngày, chi phí giao dịch mỗi
lần bán chứng khoán là 0,4 triệu đồng. Từ đó, ta tính được khoảng cách giữa các
đường giới hạn là:
D = 3
Giới hạn trên = 200 + 82,6 = 282,6 (triệu đồng)
Giới hạn dưới = 200 + 82,6/3 = 227,5 (triệu đồng)
Như vậy, nếu lượng tiền mặt nhỏ hơn 227,5 triệu đồng thì Công ty phải bán
chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, ngược lại tại mức 282,6 triệu
đồng, Công ty sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến.
Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu. Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của một quỹ trước đó để tính toán.
66
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty
3.3.2.1. Nâng cao công tác quản lý TSCĐ
Quản lý TSCĐ là một việc hết sức quan trọng. Trước hết, hàng năm Công ty phải tiến hành công tác kiểm kê TSCĐ, phân loại TSCĐ theo tiêu chí TSCĐ đang sử
dụng, không cần dùng, chờ thanh lý, nhượng bán, đang cho thuê, cho mượn, TSCĐ đi
thuê, đi mượn. Cách phân loại này là hết sức cần thiết để Công ty theo dõi được tình
trạng tài sản một cách thường xuyên, có hệ thống từ đó Công ty có thể đưa ra các
quyết định phù hợp cho từng loại tài sản. Các quyết định đó có thể là quyết định thanh lý, nhượng bán những TSCĐ có hiệu quả sử dụng thấp, không cần dùng để tránh ứ
đọng vốn, đó có thể là quyết định sửa chữa để tiếp tục đưa phương tiện, máy móc thiết
bị vào sử dụng hay là quyết định đầu tư mới TSCĐ.
Đối với quản lý cụ thể tài sản, Công ty đã mở sổ theo dõi tổng hợp và chi tiết cho từng TSCĐ, theo dõi nguyên giá, giá trị còn lại của TSCĐ, theo dõi những biến động tăng, giảm giá trị tài sản theo đúng quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, việc theo
dõi này cần kết hợp với việc kiểm kê thực tế, phân loại đánh giá TSCĐ hàng năm sẽ
đảm bảo công tác quản lý tài sản được toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
của Công ty.
Công ty nên xây dựng quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ, phân cấp quản lý TSCĐ
một cách hợp lý, rõ ràng nhằm nâng cao trách nhiệm cho từng bộ phận trong qúa trình
sử dụng. Việc ban hành quy chế quản lý TSCĐ phải đi kèm với việc thường xuyên
kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chấp hành quy chế của các bộ phận.
Khi đưa TSCĐ vào sử dụng, Công ty cần lựa chọn phương pháp khấu hao và
mức khấu hao hợp lý làm cơ sở cho việc thu hồi kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư ứng trước
vào TSCĐ. Từ đó tạo điều kiện cho Công ty tập trung vốn nhanh để đầu tư đổi mới
TSCĐ.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản đòi hỏi Công ty phải sử dụng máy móc
thiết bị hết công suất, duy trì được năng lực sản xuất và kéo dài thời gian hoạt động.
Vì vậy, Công ty phải lập ra kế hoạch sử dụng TSCĐ hợp lý dựa trên kế hoạch hoạt động kinh doanh và thực trạng tài sản của Công ty.
3.3.2.2. Tăng cường sửa chữa, nâng cấp TSCĐ đi kèm với đầu tư đúng hướng
Trước hết, Công ty cần thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ, xây dựng kế hoạch nâng cấp TSCĐ để khai thác hết công suất của máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, duy trì năng lực hoạt động, kéo dài tuổi thọ của TSCĐ, tránh tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn hoặc hư hỏng bất thường làm tăng chi phí sử dụng
TSCĐ cũng như thiệt hại do ngừng hoạt động.
67
Đối với các công trình xây dựng cơ bản dở dang, Công ty cần có biện pháp
thích hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian thi công, nhanh chóng hoàn
thành, đưa công trình vào sử dụng.
Đối với hoạt động đầu tư mua sắm đổi mới TSCĐ, Công ty cần phân tích, đánh
giá đúng thực trạng số lượng, chất lượng và tính đồng bộ của TSCĐ. Từ đó, Công ty
xác định được nhu cầu về số lượng, năng lực và tính đồng bộ của TSCĐ trong những
năm tiếp theo. Trên cơ sở kết hợp của kết quả phân tích và dự báo khả năng vốn của
Công ty, Công ty cần tiến hành xây dựng chiến lược đầu tư TSCĐ. Chiến lược đầu tư ngoài việc xác định số lượng TSCĐ cần mua sắm còn phải xác định được trình độ
công nghệ mà các TSCĐ đó phải đáp ứng. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng,
quyết định đến năng suất, chất lượng dịch vụ, sản phẩm. Đầu tư TSCĐ một cách hợp
lý, đúng hướng có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho Công ty đồng thời tăng cường lợi nhuận.
Tóm lại, làm tốt công tác mua sắm, đầu tư xây dựng cơ bản kết hợp với việc
tăng cường quản lý, sử dụng, sửa chữa, bảo dưỡng và nâng cấp phương tiện, máy móc
thiết bị có ý nghĩa rất quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí đầu vào, từ
đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
68
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh chóng, các doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, xác lập vị thế trên thị trường đòi hỏi phải nỗ lực
trong mọi hoạt động, đặc biệt trong quản lý và sử dụng tài sản. Hoạt động quản lý và
sử dụng tài sản hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Vì vậy, để
hoà nhập với xu thế phát triển kinh tế của đất nước, công tác quản lý và sử dụng tài
sản không ngừng được đổi mới và hoàn thiện về phương pháp cũng như nội dung.
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công
ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn, khóa luận: “Nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt - Hàn” đã được hoàn thành.
Với sự cố gắng nỗ lực trong nghiên cứu lý luận và tìm hiểu tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, đề tài đã thể hiện được nội
dung và yêu cầu đặt ra.
Những nội dung cơ bản đƣợc để cập trong đề tài: + Những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản trong nền
kinh tế thị trường.
+ Đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây
dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn trong ba năm qua, từ đó tìm ra những nguyên
nhân gây ra hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng tài sản của Công ty để tìm ra
giải pháp hoàn thiện.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại
Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn.
Hy vọng khóa luận đóng góp phần nào giúp Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu
tư thương mại Việt - Hàn sử dụng tài sản ngày càng hiệu quả hơn, mang lại kết quả
kinh doanh tốt hơn và Công ty ngày càng lớn mạnh.
Hiệu quả sử dụng tài sản luôn là một vấn đề rộng và phức tạp, tuy đã cố gắng song do trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận không thể
tránh khỏi việc thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và những ai quan tâm đến vấn đề này.
PHỤ LỤC
1. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm
2012 của Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
2. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013 của Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 2. Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính – PSG.TS. Nguyễn Năng Phúc – Nhà
xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – năm 2011
3. Tài sản thực và tài sản tài chính – Báo đầu tư chứng khoán – Bộ Kế hoạch và
Đầu tư
4. Tài chính doanh nghiệp hiện đại – PGS.TS. Trần Ngọc Thơ – Nhà xuất bản
Thống Kê – năm 2003
5. Hồ sơ năng lực Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại Viêt – Hàn 6. Vật liệu xây dựng – Cổng thông tin điện tử Bộ xây dựng – xaydung.gov.vn

