BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THẾ ANH MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: A17413 : TÀI CHÍNH

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN

Giáo viên hƣớng dẫn : Th.s Ngô Thị Quyên Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành

: Nguyễn Thế Anh : A17413 : Tài chính

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo

trường Đại Học Thăng Long, đặc biệt là Cô giáo Th.s Ngô Thị Quyên cùng các bác, cô

chú và anh chị trong Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng xin cảm ơn các

thầy cô giáo giảng dạy trong nhà trường đã truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức bổ

ích để thực hiện khóa luận và cũng như có được hành trang vững chắc cho sự nghiệp

trong tương lai.

Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và

hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận của em

được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 28 Tháng 10 năm 2014

Sinh viên Nguyễn Thế Anh

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ

từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác.

Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Thế Anh

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 1

1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp ............................................................... 1

1.1.1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp ................................................................... 1

1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp .................................................................... 2

1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp ............................................................... 4

1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ........................................................ 5

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ..................................... 5

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ............... 6

1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ............... 6

1.3. Các nhân tố ảnh hƣớng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ... 18

1.3.1. Các nhân tố khách quan .................................................................................... 18

1.3.2. Các nhân tố chủ quan ........................................................................................ 20

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN ................... 21

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn

....................................................................................................................................... 21

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

Thương mại Việt – Hàn ............................................................................................... 21

2.1.2. Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt –

Hàn ................................................................................................................................ 21

2.1.3. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

Thương mại Việt – Hàn ............................................................................................... 23

2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn giai đoạn 2011 – 2013 ............................................. 23

2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn ................................................................................................ 27

2.2.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 27

2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 34

2.2.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

thương mại Việt – Hàn ................................................................................................. 49

2.3. Nhận xét hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn............................................................................................... 55

2.3.1. Kết quả đạt được ................................................................................................. 55

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ................................................................................... 56

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN

....................................................................................................................................... 58

3.1. Cơ hội phát triển của Công ty trong thời gian tới ............................................. 58

3.2. Định hƣớng phát triển trong thời gian tới của Công ty Cổ phần Xây dựng và

Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn ................................................................................... 59

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 60

3.3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty .............. 60

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty ................ 67

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt ĐHĐCĐ Tên đầy đủ Đại hội đồng cổ đông

HĐQT GVHB Hội đồng quản trị Giá vốn hàng bán

GTGT Giá trị gia tăng

TSCĐ Tài sản cố định

TSDN TSNH Tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

SXKD Sản xuất kinh doanh

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh ....................................................... 25

Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tổng tài sản Công ty CP Xây dựng ............................ 28

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 28

Bảng 2.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tổng tài sản ..................................................... 29

Bảng 2.4. Mức độ ảnh hƣởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA .... 32

Bảng 2.5. Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Xây dựng .............. 34

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 34

Bảng 2.6. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn .......................................... 38

Bảng 2.7. Thời gian một vòng quay TSNH ............................................................... 39

Bảng 2.8. Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH ................................................................. 40

Bảng 2.9. Ảnh hƣởng của ROS và hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA................ 42

Bảng 2.10. Bảng phân tích khả năng thanh toán tại Công ty Việt – Hàn .............. 43

Bảng 2.11. Hệ số thanh toán bằng tiền ...................................................................... 44

Bảng 2.12. Tình hình quản lý hàng tồn kho .............................................................. 45

Bảng 2.13. Tình hình khoản phải thu ........................................................................ 47

Bảng 2.14. Thời gian quay vòng tiền trung bình ...................................................... 48

Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty CP Xây dựng ............... 49

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn .............................................................................. 49

Bảng 2.16. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn ........................................... 51

Bảng 2.17. Thời gian một vòng quay TSDH ............................................................. 52

Bảng 2.18. Tình hình quản lý tài sản cố định ............................................................ 53

Bảng 3.1. Mô hình tính điểm tín dụng ....................................................................... 62

Bảng 3.2. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty Cổ phần Đâu tƣ và Xây lắp Sông Đà .................................................................................................................................. 62

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của VIETHAN.TRAINCO ............................................ 22

Biểu đồ 2.1. Tăng trƣờng doanh thu và lợi nhuận ................................................... 26

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Có thể nói rằng tài sản chính là biểu hiện sức mạnh hiện tại và trong tương lai

của doanh nghiệp, sẽ không thể có doanh nghiệp nếu chủ doanh nghiệp không có tài sản. Vấn đề dặt ra đối với doanh nghiệp là phải quản lý và sử dụng tài sản như thế nào

để phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, phù hợp với quy mô, điều kiện sản

xuất và nhu cầu thị trường để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, nước nước ta đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Từ nền kinh tế tập trung

quan liêu bao cấp chuyến sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

với những bước tiến khá vững chắc, chúng ta đang bắt đầu bước vào quá trình công

nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, trong cơ chế mới nhiều doanh nghiệp đã đứng vững và làm ăn phát triển song cũng có nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu

quả, đang đứng bên bờ vực của sự phá sản. Điều đó có thể do nhiều nguyên nhân,

nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý và sử dụng tài

sản không hợp lý và kém hiệu quả .

Trong những năm qua, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn đã và đang hết sức quan tâm đến công tác quản lý và sử dụng tài sản sao cho đạt

hiệu quả kinh tế nhất. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó,

với điều kiện cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển thì không những Công ty Cổ

phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn mà tất cả các doanh nghiệp khác

trên thị trường buộc phải luôn luôn năng động để tìm ra hướng đi riêng cho mình, tìm

ra con đường đến với thành công một cách hiệu quả nhất. Quản lý và sử dụng tài sản

chính là một trong những con đường dẫn đến thành công một cách chắc chắn nhất

Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng tài sản,

kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại

Việt – Hàn, đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn” đã được đưa vào nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

 Nghiên cứu một cách có hệ thống tình hình sử dụng tài sản của Công ty Cổ

phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn.

 Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn, tìm ra những ưu điểm và những hạn chế trong quá trình sử dụng. Từ đó có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây

dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn trong giai đoạn 2011 – 2013. Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm 2011, 2012 và 2013 của Công ty Cổ phần

Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn.

4. Phƣơng pháp phân tích Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ lệ,

phương pháp phân tích thống kê và phương pháp phân tích Dupont để đưa ra đánh giá

và kết luận từ cơ sở là các số liệu được cung cấp và thực trạng tình hình hoạt động của công ty.

5. Kết cấu khóa luận Ngoài mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và

Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn

Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây

dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp

Theo chuẩn mực số 1: Chuẩn mực chung trong “Chuẩn mực Kế toán Việt

Nam” được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31

tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đưa ra định nghĩa về tài sản như

sau:“Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai”.

Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền

và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền

mà doanh nghiệp phải chi ra. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thể hiện trong các trường hợp, như:

 Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất

sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng;

 Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác;

 Để thanh toán các khoản nợ phải trả;

 Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.

Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết

bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng

sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát

của doanh nghiệp.

Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế

trong tương lai, như tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm

soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có

thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế.

Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản.

Thông thường khi các khoản chi phí phát sinh sẽ tạo ra tài sản. Đối với các khoản chi phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai thì không tạo ra tài sản; Hoặc

có trường hợp không phát sinh chi phí nhưng vẫn tạo ra tài sản, như vốn góp, tài sản được cấp, được biếu tặng.

1

1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp

Căn cứ vào nguồn hình thành, tài sản (hay vốn kinh doanh của doanh

nghiệp) được hình thành từ 2 nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

Tài sản được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu biểu

hiện quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với các tài sản hiện có của doanh nghiệp. Vốn

chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn như: Số tiền đóng góp từ các nhà đầu tư – chủ

doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối – số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp…

Tài sản được hình thành từ các khoản nợ phải trả: Bao gồm các khoản vay ngắn

hạn, dài hạn, các khoản phải trả, phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như

phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp

cho Nhà nước. [1]

Căn cứ vào mục đích đầu tư của từng tài sản, tài sản của doanh nghiệp được

chia làm 2 loại: Tài sản tài chính và tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh. Tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tài sản trực tiếp tham gia vào quá

trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp như đất đai, nhà xưởng, máy móc

thiết bị,…

Tài sản tài chính: Là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình sản

xuất hàng hóa – dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá,… Các loại

tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể là những dữ liệu trong máy

tính, số sách. Cụ thể hơn, tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội

dung vật chất của nó (giống như đất đai, nhà xưởng,…), mà dựa vào các quan hệ trên

thị trường. Nó bao gồm các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân

hàng, tiền tệ và các giấy tờ có giá khác. Người chấp nhận thanh toán các tài sản tài

chính trong tương lai gọi là người phát hành (thường là chính phủ, các tổ chức và công

ty). Người sở hữu các tài sản tài chính gọi là nhà đầu tư. Giá trị của tài sản tài chính

gọi là vốn tài chính. Tài sản tài chính tạo thuận lợi cho việc chuyển vốn nhàn rỗi từ

người có vốn (nhà đầu tư) sang người không đủ vốn (người phát hành). [3]

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng tài sản (hay vốn kinh doanh), tài

sản của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có đến

thời điểm báo cáo, gồm:

2

Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân

hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn

không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.

Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán

có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu

kho Bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái

phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.

Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng,

phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc

thanh toán dưới một năm.

Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hoá, sản phẩm, sản phẩm dở dang. Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được

khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.

Tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị các loại tài sản không được phản

ánh trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn. Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản

phải thi dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến

thời điểm báo cáo, bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản

đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.

Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng,

phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc

thanh toán trên một năm.

Bất động sản đầu tư: Là những bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất, nhà

hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc

người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ

việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp

hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh

doanh thông thường.

Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho

các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau:

 Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.

 Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.

 Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên (hoặc lớn hơn 1 chu kỳ kinh doanh) và có

giá trị từ 30 triệu đồng trở lên.

Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền,

3

bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và

các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói tài sản tài chính dài

hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra

nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp. Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:

Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập

hoãn lại, tài sản dài hạn khác. [1]

Ngoài những cách phân loại trên còn có rất nhiều cách phân loại tài sản tuỳ theo hướng phân tích, mục đích của nhà phân tích như: Tài sản vô hình - Tài sản hữu hình;

Tài sản lưu động - Tài sản cố định,...

1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn luôn song hành trong cả qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tài sản ngắn hạn nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản ngắn hạn thường

chiếm một tỷ lệ khá cao thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của doanh

nghiệp. Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh,

sản xuất thuận lợi. Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi

phí phát sinh cần phải chi trả ngay. Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ

một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây

cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt

nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn.

Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian.

Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch có

diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu

trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán để

khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ.

Một vai trò nữa của tài sản ngắn hạn là trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật, chi phí gián tiếp trong quản lý. Những chi phí này

rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán kể cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn. Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng.

Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động

sản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác. Trong đó tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Có

4

thể nói tài sản cố định là một trong các yếu tố trực tiếp tạo ra sản phẩm cho doanh

nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo ra doanh thu và lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm.

Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng.

1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá giá trị tài

sản của chủ sở hữu, do vậy việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh

doanh dạt tỷ suất lợi nhuận cao.

Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình

độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất -

kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất.

Thứ nhất, trong năng lực tài sản của mình: Doanh nghiệp sử dụng tài sản hợp lý

để kiếm lời cao nhất.

Thứ hai, ngoài khả năng của mình: Doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn tài

trợ, tăng số tài sản hiện có để mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm

bảo được các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.

Xuyên suốt toàn bộ khóa luận, ta sẽ đi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản tại

Công ty mục tiêu để từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng tại công ty đó. Việc phân tích hiệu quả sử dụng tài sản là xem xét hiệu quả sử

dụng của các loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp giữa kỳ này so

với kỳ trước. Cụ thể phân tích các vấn đề sau:

Phân tích sử dụng tài sản để đáp ứng kịp thời, đầy đủ khả năng thanh toán và

tăng tốc độ luân chuyển tài sản. Nếu doanh nghiệp dự trữ tài sản đáp ứng kịp thời, đầy

đủ khả năng thanh toán đến hạn hoặc sắp đến hạn, dự trữ tài sản ở mức hợp lý chính tổ

việc sử dụng tài sản có hiệu quả và ngược lại.

Phân tích tốc độ luân chuyển của toàn bộ tài sản dựa trên các chỉ tiêu doanh thu

trên tổng tài sản và lợi nhuận trên tổng tài sản để thấy được một đồng tài sản doanh

nghiệp bỏ ra trong một thời kỳ nhất định sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc lợi nhuận.

Phân tích khả năng sinh lời của một một đồng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, vì hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản cao hay thấp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng của từng loại tài sản cấu thành nên tổng tài sản. Vì vậy, ta cần phân tích các chỉ tiêu như: hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn và hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn để thấy được một đồng tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sẽ thu

được bao nhiêu đồng doanh thu.

5

Khi phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn thì không thể bỏ qua việc

phân tích cái chỉ tiêu như: kỳ thu tiền bình quân và vòng quay hàng tồn kho. Vì đây là

2 chỉ tiêu nói lên khả năng quay vòng tài sản của các chỉ tiêu quan trọng trong tài sản ngắn hạn như hàng tồn kho và các khoản phải thu. Hai chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng lớn

trong tài sản ngắn hạn nên có ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của

doanh nghiệp.

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản. Sử dụng tài sản là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tính

hiệu quả của việc sử dụng tài sản nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi

nhuận nhưng không tăng vốn, hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng

quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng tài sản.

Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản có tác dụng đánh giá chất lượng công tác

quản lý tài sản và sử dụng tài sản của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra những biện

pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản. Vì vậy, công tác phân tích hiệu quả

sử dụng tài sản có ý nghĩa rất quan trọng.

Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cần phải nghiên cứu một cách toàn diện

cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối

quan hệ với sự biến động của các yếu tố sản xuất.

Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ

thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm

tài sản sử dụng trong doanh nghiệp, sau đó phải biết tận dụng phương pháp phân tích

thích hợp. Việc phân tích phải được tiến hành trên từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ

đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai thác hết công

suất của tài sản đã đầu tư.

1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản

Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, cần nghiên cứu một cách toàn diện về

cả thời gian, không gian, môi trường kinh doanh đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động của giá cả của các yếu tố sản xuất.

Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc thù của từng nhóm tài sản sử dụng trong các doanh nghiệp, sau đó phải biết vận dụng phương pháp phân tích

thích hợp. Việc phân tích phải được tiến hành trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu sau đó

6

tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai

thác hết công suất các tài sản đã đầu tư.

Dưới đây là các chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản:

 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (số vòng quay tổng tài sản)

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận

động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi

nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công thức như sau:

Tổng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Giá trị tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu

vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng

cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để

nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận

động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt động

hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi

phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài

sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý

để tăng tốc độ quay vòng của tài sản.

 Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần

Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự

kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ

tiêu này ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản, chỉ tiêu này được xác

định như sau:

Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài

sản để tạo ra một đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ.

 Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này được xác định như sau:

Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế

7

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, để tạo ra một đồng lợi nhuận sau thuế

doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử dụng tài

sản càng cao và càng hấp dẫn các nhà đầu tư và ngược lại.

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty

và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty.

Lợi nhuận sau thuế ROA Tổng giá trị tài sản

Hệ số này có ý nghĩa là với 100 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao

nhiêu đồng lợi nhuận. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Hệ số

ROA thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài

sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải,

xây dựng, sản xuất kim loại…, thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần

phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…

Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của thu nhập trên tổng tài sản là

khả năng phối hợp của các chỉ số tài chính để tính toán ROA. Một ứng dụng thường

được nhắc tới nhiều nhất là mô hình phân tích Dupont dưới đây.

Lợi nhuận sau thuế ROA Doanh thu thuần Tài sản bình quân Doanh thu thuần nh

ROA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng

sinh lời của tài sản đó là hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu.

Bên phải triển khai hiệu suất sử dụng tổng tài sản hay nói cách khác chính là số

vòng quay của toàn bộ tài sản: phần này trình bày tài sản ngắn hạn cộng với tài sản dài

hạn bàng tổng số tài sản doanh nghiệp sử dụng. Doanh thu thuần tiêu thụ chia cho toàn

bộ tài sản cho biết hiệu suất sử dụng tài sản trong một kỳ phân tích.

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao chứng tỏ sức sản xuất của tài sản càng

nhanh, đó là nhân tố để tăng sức sinh lời cho tài sản.

Nhìn vào bên phải ta thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản bị ảnh hưởng bởi

những nhân tố:

- Tổng doanh thu thuần càng lớn, số vòng quay càng nhiều. - Tổng tài sản càng nhỏ, hiệu suất sử dụng càng lớn.

Song tổng doanh thu thuần và tổng tài sản có quan hệ mật thiết với nhau, trong thực tế 2 chỉ tiêu này thường quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng.

8

Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng hiệu suất sử dụng tài sản thì cần

phải phân tích các nhân tố liên quan, phát hiện các mặt tích cực, tiêu cực của từng

nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản, góp phân nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.

Bên trái triển khai tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần: Phần này trình bày tổng

chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Doanh thu thuần trừ đi tổng

chi phí bằng lời nhuận thuần, lợi nhuận thuần chia cho doanh thu thuần bằng tỷ suất

sinh lời trên doanh thu thuần.

Bên trái cho biết những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của doanh thu

thuần. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp muốn tăng sức sinh lời của doanh thu thuần cần có

các biện pháp giảm chỉ phí bằng cách phân tích những nhân tố cấu thành đến tổng chi

phí để có biện pháp phù hợp. Đồng thời tìm mọi biện pháp để nâng cao doanh thu, giảm các khoản giảm trừ.

Khi nghiên cứu khả năng sinh lời của tài sản cũng cần phải quan tâm đến mức

tăng của vốn chủ sở hữu bởi hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu

thuần là 2 nhân tố không phải lúc nào cũng tăng ổn định. Mặt khác, để tăng lời nhuận

trong tương lai cũng cần phải đầu tư thêm. Việc tăng vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào lợi

nhuận sau thuế và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy, cần phải

kết hợp tăng vốn chủ sở hữu và tăng những nguồn tài trợ từ bên ngoài.

Tóm lại, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp dựa vào mô hình

tài chính Dupont đã đánh giá đầy đủ hiệu quả trên mọi phương diện. Đồng thời phát

hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản để từ đó có các biện pháp

nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. [2, tr.207-219]

1.2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản ánh tình hình

sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh

với chi phí thấp nhất.

Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản

ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và một số tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của TSNH bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh

nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của TSNH.

9

Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đ òi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng TSNH, làm cho mỗi đồng TSNH hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu

thụ được nhiều hơn. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao

tốc độ luân chuyển TSNH (số vòng quay TSNH trong một năm).

Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính

được đưa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu. Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể

đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục

khó khăn trong niên độ tiếp theo. Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH

chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như sau:

 Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSNH

+ Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng

TSNH, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao. Chỉ tiêu này

là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản ngắn hạn khi muốn có mức

độ lợi nhuận mong muốn.

Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế

+ Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets)

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần

nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.

Tỷ suất sinh lời của TSNH

Lợi nhuận sau thuế TSNH + Hiệu suất sử dụng TSNH (Số vòng quay của TSNH)

Tổng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH Tổng TSNH

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt. Hoặc cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản ngắn hạn trong một kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

10

+ Suất hao phí của TSNH so với doanh thu

Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với doanh thu Tổng doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng TSNH, đó chính là căn cứ để để đầu tư TSNH cho thích hợp. Chỉ tiêu này

càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao.

+ Thời gian một vòng quay của TSNH

36 Thời gian 1 vòng quay TSNH Hiệu suất sử dụng TSNH

Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất bao nhiêu ngày.

Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ TSNH vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu

và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ đây có thể xác định được số tiền tiết kiệm hay lãng phí do số vòng luân

chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm. Nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được

một lượng tài sản có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác. Công thức xác

định số tiền tiết kiệm, lãng phí tuyệt đối do tốc độ luân chuyển của Tài sản ngắn hạn

thay đổi:

đ

Nếu quy mô kinh doanh được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản

ngắn hạn đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm tài sản ngắn hạn hoặc đầu tư tài sản ngắn hạn ít hơn so với trước. Công thức xác định số tiền tiết kiệm, lãng phí tương

đối do tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thay đổi:

Trong đó:

Vtktđ1: Số tiền tiết kiệm, lãng phí tuyệt đối

Vtktđ2: Số tiền tiết kiệm, lãng phí tương đối

M0, M1: Lần lượt là doanh thu một ngày T0, T1: Lần lượt là số vòng luân chuyển TSNH kỳ trước, kỳ này

 Phân tích hiệu quả sử dụng TSNH thông qua mô hình Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ. Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.

Mô hinh Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Trong

11

phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa

các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính,

chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.

Để phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH có thể xác định thông qua mô hình sau

ROCA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng TSNH

Qua công thức trên có thể thấy 2 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên TSNH là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dung TSNH, như vậy muốn

nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH nâng cao hai tỷ số trên. Về việc nâng cao tỷ suất

sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên, trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố

tốc độ luân chuyển TSNH.

Phân tích khả năng thanh toán

Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp

trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn. Khả năng thanh toán của

doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong

kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể

đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh

nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh

toán của doanh nghiệp.

 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng,

các khoản phải thu và hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn

hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản

phải trả khác...Cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một

năm. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ

ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác là 1 đồng nợ ngắn hạn được

đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn.

Hệ số này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. Nếu khả năng thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì doanh

nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu. Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận. Vì thế mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả. Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý.

Tài sản ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

12

 Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng

thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền.

Hệ số này nói lên việc công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì

công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển từ tài sản lưu động khác về tiền

mặt. Hệ số này > 2 (có nghĩa là hiệu suất giữa tài sản ngắn hạn và hàng tồn khó gấp 2 lần tổng nợ ngắn hạn) thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán toàn bộ tài sản ngắn hạn. Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện thời. Hệ số

này càng cao thì càng được đánh giá tốt.

 Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền là các tài sản mang tính thanh khoản cao

nhất của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt

và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi...) và khoản

nợ đến hạn phải trả. Hệ số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá

nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0,5. Khi hệ số này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán tức

thời của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh

nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ. [2, tr.115- 130]

 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá các thành phần của TSNH

- Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

+ Số vòng quay hàng tồn kho

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ

số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho.

Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho Hàng hoá tồn kho

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá

năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng 13

hàng tồn kho thấp. Nhưng cũng cân lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành

nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột

ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành

thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có

thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần

phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.

+ Thời gian quay vòng hàng tồn kho

Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng.

Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển tồn kho có quan hệ tỷ lệ

nghịch với nhau. Vòng quay tăng thì ngày chu chuyển giảm và ngược lại.

36 Thời gian quay vòng hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho

- Các chỉ tiêu đánh giá về tình hình các khoản phải thu

+ Số vòng quay các khoản phải thu

Doanh thu thuần Số vòng quay các = khoản phải thu Khoản phải thu khách hàng

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao

nhiêu. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát

số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh

nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp.

+ Kỳ thu tiền bình quân

Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên cơ

sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày. Nó phản ánh số ngày

cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì

kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục

tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Mặt khác khi chỉ tiêu này được đánh giá là khả quan, thì doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán che dấu đi các khuyết tật trong việc quản lý các khoản phải thu.

360 Kỳ thu tiền bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu

14

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng

để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của

doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phép các nhà quản lý tài chính của doanh nghiệp đề ra các biện pháp, các chính sách quyết

định đúng đắn, phù hợp để quản lý tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

ngày càng có hiệu quả trong tương lai, từ đó nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 Thời gian trả nợ trung bình

360 Thời gian trả nợ = trung bình Hệ số trả nợ

Giá vốn hàng bán + Chi phí chung bán hàng, quản lý Hệ số trả nợ = Phải trả ngƣời bán + Lƣơng, thƣởng, thuế phải trả

Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là

chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả

năng trả nợ của doanh nghiệp. Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho

có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì

càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả

thấp. Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công

ty rất có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm,

nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các

khoản nợ đến hạn.

 Thời gian quay vòng tiền trung bình

Thời gian quay vòng tiền = + - trung bình Kỳ thu tiền bình quân Thời gian quay vòng hàng tồn kho Thời gian trả nợ trung bình

Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Chỉ số này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra. Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý

hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, cũng tùy vào

15

đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đối với doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì thời gian quay vòng tiền sẽ

ngắn hơn nhiều so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. 1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn

Hiệu quả sử dụng TSDH phản ánh một đồng giá trị TSDH làm ra được bao

nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc lợi nhuận. Hiệu quả sử dụng TSDH được thể hiện

qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ

phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lượng này được thể hiện dưới hình thức giá trị về tình hình và sử dụng TSDH trong một thời gian nhất

định. Trong sản xuất kinh doanh thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa giá trị sản

lượng đã được tạo ra với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ, hoặc là

quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị TSDH sử dụng bình quân.

Như vậy hiệu quả sử dụng TSDH có thể là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình đầu tư, khai thác sử dụng TSDH vào sản xuất và số TSDH đă sử dụng

để đạt được kết quả đó. Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá sản xuất ra trên

một đơn vị TSDH tham gia vào sản xuất hay TSDH cần tham gia vào quá trình sản

xuất kinh doanh để đạt được một lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.

Sau đây là một chỉ tiêu mà các nhà quản trị thường quan tâm nhất. Đê phân

tích hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp, khóa luận tốt nghiệp xin được phân

tích theo các từng yếu tố như sau:

- Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSDH + Hiệu suất sử dụng TSDH

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSDH Tổng TSDH

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản dài hạn trong một

kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của

TSDH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSDH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

+ Suất hao phí của TSDH so với doanh thu

Tổng TSDH Suất hao phí của TSDH so với doanh thu Doanh thu thuần

Chỉ tiêu suất hao phí của TSDH so với doanh thu cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSDH, đó chính là căn cứ để để đầu tư TSDH cho thích hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn mức doanh thu như mong muốn

16

+ Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng

TSDH bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao, chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản dài hạn khi muốn

có mức độ lợi nhuận mong muốn.

TSDH Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế

+ Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSDH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.

Tỷ suất sinh lời của TSDH Lợi nhuận sau thuế TSDH

- Sức sản xuất của TSCĐ

Sức sản xuất của TSCĐ Doanh thu thuần GTCL TSCĐ

Trong đó:

+ Sức sản xuất của tài sản cố định là một trong những tỷ số tài chính đánh giá

khái quát hiệu quả sử dụng tài sản, ở đây là tài sản cố định của doanh nghiệp.

+ Nguyên giá TSCĐ sử dụng bình quân trong 1 kỳ là bình quân số học của

nguyên giá TSCĐ có ở đầu kỳ và cuối kỳ.

+ Doanh thu thuần của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động

của doanh nghiệp, nó là nguồn để doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản

xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị còn lại của tài sản cố định dùng vào hoạt

động sản xuất kinh doanh trong kỳ phân tích đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng tốt. Do đó, để

nâng cao chỉ tiêu này, đồng thời với việc tăng lượng sản phẩm bán ra, doanh nghiệp phải giảm tuyệt đối những TSCĐ thừa, không cần dùng vào sản xuất, bảo đảm tỷ lệ

cân đối giữ TSCĐ tích cực và không tích cực, phát huy và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của TSCĐ.

- Suất hao phí của TSCĐ

Là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu sức hao phí của TSCĐ. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSCĐ cho phù hợp nhằm đạt được doanh thu như mong muốn.

- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ

17

Chỉ tiêu này là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSCĐ

sử dụng trong kỳ.

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ Lợi nhuận sau thuế GTCL TSCĐ

Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập

doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị giá trị còn lại của TSCĐ tham gia

vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, tức là khả năng sinh lợi càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.

Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với các chính sách khuyến khích đầu tư

trong và ngoài nước cũng như việc hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã

tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vốn kinh doanh có hiệu quả, khơi thông các

vốn dư thừa. Trong bối cảnh đó, hoạt động đầu tư tài chính có khuynh hướng gia tăng

trong hoạt động kinh doanh nói chung ở doanh nghiệp. Trong phần tài sản dài hạn, còn có một khoản mục rất được quan tâm, đó chính là đầu tư tài chính dài hạn bao gồm:

đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết, đầu tư dài hạn khác và khoản dự

phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn.

+ Số vòng quay của TSDH

Doanh thu thuần Thời gian 1 vòng quay TSDH Tổng TSDH

Số vòng quay tài sản dài hạn là chỉ tiêu cho biết 1 đồng giá trị bình quân tài sản

dài hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ. [2, tr.219-230]

1.3. Các nhân tố ảnh hƣớng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ

tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài

sản. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với

từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho

doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.

1.3.1. Các nhân tố khách quan 1.3.1.1. Chính sách kinh tế của Nhà nước

Vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô. Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của DN trong các thành phần kinh tế. Thông qua luật pháp và các

chính sách kinh tế…, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các DN phát triển SXKD và hướng các hoạt động kinh tế của các DN đi theo quỹ đạo của kế hoạch kinh tế vĩ mô. Một chính sách kinh tế của nhà nước có thể tạo ra tác động nhiều chiều

18

đối với những DN thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau và tác động tới hiệu quả kinh

doanh hay hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của DN.

1.3.1.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung của xã hội nhưng trong nó vẫn có

những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới được một sự linh hoạt, nhạy bén

bao nhiêu thì mặt trái của nó lại là những thay đổi liên tục đến chóng mặt giá cả của

các loại đồng tiền vì thế mà đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn thường

xuyên xảy ra. Điều đó gây ra tình trạng với một lượng tiền như cũ thì không thể tái tạo lại (hay mua sắm lại) tài sản của doanh nghiệp với quy mô như ban đầu.

1.3.1.3. Tiến bộ khoa học công nghệ

Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ sẽ là yếu tố giúp DN cải thiện

hiệu quả sử dụng tài sản nếu DN biết quan tâm, chú trọng tới việc áp dụng chúng vào SXKD. Hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm là những vấn đề mà một DN cần chú trọng nếu muốn tạo dựng một vị thế ổn định trên thị

trường. Ngược lại, nếu DN không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công

nghệ để đổi mới trong thiết bị, sản phẩm thì có thể dẫn tới nguy cơ DN làm ăn thua lỗ

do sản phẩm làm ra không còn thích ứng, phù hợp với nhu cầu thị trường.

Thêm vào đó, khi khoa học kỹ thuật phát triển đến độ đỉnh cao trong thời đại

văn minh này như một sự kỳ diệu thì cũng chính điều này làm cho TSCĐ của doanh

nghiệp bị hao mòn vô hình rất lớn.

1.3.1.4. Rủi ro trong kinh doanh

Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay tính không chắc chắn trong EBIT của

một doanh nghiệp. Rủi ro kinh doanh do nhiều yếu tố hây ra, bao gồm cả tính khả biến

của doanh thu và việc sử dụng đòn bẩy kinh doanh. [4, tr.123]

Do những rủi ro trong kinh doanh mà doanh nghiệp thường gặp phải như: thị

trường không ổn định, sức mua của thị trường có hạn và một số rủi ro tự nhiên khác

như: thiên tai bão lụt hoả hoạn,...làm hư hỏng vật tư, mất mát tài sản của doanh

nghiệp. 1.3.1.5. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh (có ngành nghề thì sử dụng nhiều TSLĐ hơn trong cơ cấu tài sản ,nhưng có ngành nghề thì lại nhưng có ngành nghề lại sử dụng nhiều TSCĐ điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tổng tài sản vì tốc độ luân chuyển của TSLĐ khác với tốc độ luân chuyển của TSCĐ).

19

1.3.2. Các nhân tố chủ quan 1.3.2.1. Trình độ quản lý và sử dụng tài sản

Hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ dúng mức đến việc khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả, hoặc có quan tâm nhưng không có đủ năng lực để

quản lý, dẫn đến sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đem lại hiệu quả cho

doanh nghiệp.

1.3.2.2. Xác định cơ cấu tài sản

Tuỳ vào từng doanh nghiệp với những đặc điểm riêng của lĩnh vực kinh doanh mà phải có một cơ cấu tài sản hợp lý bởi nế không với một cơ cấu tài sản không phù

hợp thì không thể nào mà quản lý tài sản hiệu quả được.

1.3.2.3. Công tác lựa chọn dự án đầu tư

Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư khả thi thì doanh nghiệp sẽ không chỉ thu hồi được vốn mà còn có lãi, và sử dụng hiệu quả các tài sản của mình, nếu không lựa chọn đúng sẽ có kết quả ngược lại.

1.3.2.4. Nhân tố con người

Trong hoạt động SXKD của DN, con người đóng vai trò trung tâm và thành

công của một DN phụ thuộc phần lớn vào nhân tố con người. Đặc biệt trong giai đoạn

kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vai trò của nhân tố con người càng

trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hiệu quả sử dụng tài sản cũng chịu ảnh hưởng lớn

từ nhân tố này. Sự phối kết hợp giữa các thành viên, tinh thần làm việc, ý thức trách

nhiệm, khả năng chuyên môn...là những yếu tố thuộc về con người quyết định sự

thành bại của DN. Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động

nào. Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết

định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt

là trình độ cán bộ quản lý và tay nghề người công nhân.

1.3.2.5. Nhân tố cơ sở vật chất

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh

nghiệp. Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh thì năng suất lao động sẽ tăng dần đến hiệu

quả sử dụng tài sản cũng tăng theo, và ngược lại.

Thông tin đến nhà quản lý bị bóp méo , sai lệch cũng làm cho nhà quản lý ra các quyết định sai lầm, đặc biệt là công tác tổ chức kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý.

20

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ Thƣơng mại Việt – Hàn

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

Thương mại Việt – Hàn

Tên công ty: Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn

Tên viết tắt: VIETHAN.TRAINCO.,JSC

Địa chỉ trụ sở chính: Phú Mỹ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội

Công ty CP Xây dựng (XD) và Đầu tư Thương Mại (ĐTTM) Việt – Hàn được thành lập theo Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần số 01011957116 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp lần đầu ngày 16 tháng 06 năm

2006 và thay đổi lần thứ 10 ngày 07 tháng 03 năm 2011. Được thành lập từ năm 2006

đến nay, Công ty CP XD và ĐTTM Việt – Hàn đã có những bước phát triển vượt bậc

trong lĩnh vực sản xuất bê tông thương phẩm và sản xuất, mua bán nguyên vật liệu xây

dựng và kinh doanh một số ngành khác như: Mua bán, cho thuê máy móc thiết bị công

trình, cho thuê xe vận chuyển bê tông, bơm bê tổng, mua bán ô tô, phụ tùng ô tô, xe

máy,...

Sau hơn 7 năm thành lập, xây dựng và trưởng thành, Công ty đã có trong tay

một hệ thống dây truyền sản xuất khép kín đồng bộ từ khai thác nguyên vật liệu đầu vào: mỏ đá bazan, mỏ cát, đến hệ thống trạm trộn hiện đại với tổng công suất 510m3/h, 65 đầu xe trộn từ 10m3 – 12m3/đầu xe, 02 bơm cần 52m, 03 bơm cần 37m, 07 bơm tĩnh, cùng với 20 đầu xe ben, 8 đầu xe vận chuyển xi. Kết hợp đội ngũ cán bộ tri thức

trẻ, công nhân nhiệt huyết lành nghề, đã tạo nên một hệ thống mạng lưới khách hàng

rộng khắp trên toàn Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Với phương châm luôn lấy chữ “tín” làm đàu, xây dựng hoàn thiện hệ thống

chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001 : 2008, Cồng ty ty CP XD và ĐTTM Việt – Hàn không ngừng phấn đấu để trở thành một doanh nghiệp lớn góp phần tham gia vào công tác xây dựng nền kinh tế của Thủ đô.

2.1.2. Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn

Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn là một đơn vị hạch toán độc lập có tài khoản riêng và có tư cách pháp nhân. Bộ máy quản lý của Công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng nghĩa là Ban Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận phòng ban chức năng, các xưởng sản xuất trực thuộc hoạt động kinh

21

doanh, thực hiện các quyết định của Hội đồng Quản trị và chịu sự giám sát của Ban

kiểm soát.

Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của VIETHAN.TRAINCO

Đại Hội đồng cổ đông

Ban

Ban Giám đốc

kiểm Hội đồng quản trị soát

Phòng kinh doanh Phòng hành chính – nhân sự Phòng kế hoạch – đầu tư Phòng tài chính – kế toán

Xưởng vật tư – sản Bộ phận dịch vụ cho Các đội vận chuyển

xuất thuê

(Nguồn: Phòng hành chính – nhân sự)

Đại Hội đồng cổ đông bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có

thẩm quyền cao nhất trong Công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề thuộc về hoạt

động SXKD của Công ty. Đại Hội đồng cổ đông hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt

động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để

quyết định mọi vấn đề liên quan đến SXKD và quyền lợi của Công ty như quyết định

chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường,...trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo

điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc của Công ty là Ông Trần Văn Phố , hiện đang năm giữ 70% cổ phần trong Công ty.

Ban kiểm soát có chức năng giám sát HĐQT, Ban Tổng Giám đốc Công ty về việc quản lý và điều hành Công ty. Chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ đươc giao.

22

Ban Giám đốc đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và

trước cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của

Công ty, báo cáo HĐQT về các hoạt động của Công ty. Ban Tổng Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật

của Nhà nước.

Các xưởng vật tư - sản xuất trực thuộc, các đội vận chuyển và bộ phận dịch vụ

cho thuê có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Ban Tổng Giám đốc giao, hoàn thành

các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng. Bao gồm các phòng kinh doanh, phòng hành chính – nhân sự, phòng kế hoạch đầu tư, phòng tài chính – kế toán.

Hiện tại, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn có 3

địa điểm kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Đó là địa điểm kinh doanh số 1 Công ty Cổ

phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn có địa chỉ tại CX1, khu đô thị Mỗ Lao, phường Mỗ Lao, quận Hà Đông; địa điểm kinh doanh số 2 có địa chỉ tại tổ 21, phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai và địa chỉ kinh doanh số 3 tại khu đô thị mới

Phương Viên Bắc An Khánh, xã Song Phương, huyện Hoài Đức. Cả 3 địa chỉ này là 3

nhà máy, trạm trộn bê tông của công ty, đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu cho khách hàng,

riêng tại trụ sở chính của Công ty chủ yếu thực hiện hoạt động kinh doanh các dịch vụ

mua bán, cho thuê máy móc thiết bị công trình, cho thuê xe vận chuyển bê tông, bơm

bê tổng, mua bán ô tô, phụ tùng ô tô, xe máy,...

2.1.3. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

Thương mại Việt – Hàn

Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn là một đơn vị

sản xuất kinh doanh thương mại với lĩnh vực chính là sản xuất bê tông thương phẩm

và sản xuất, mua bán nguyên vật liệu xây dựng cung cấp cho các khách hàng là các

công ty xây dựng trên toàn thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Ngành vật liệu xây

dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn nhất cả nước, sản phẩm là

nguyên vật liệu phục vụ các công trình xây dựng nhằm thỏa mãn như cầu khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Sản xuất vật liệu xây dựng cũng là một dạng đặc thù của sản

xuất công nghiệp. Bởi vậy, nó cũng có đặc điểm chung của sản xuất công nghiệp: quá trình biến đổi, kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị sử dụng mới.

2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Thương mại Việt – Hàn giai đoạn 2011 – 2013

23

Bảng 2.1. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh

Đơn vị tính: Triệu đồng

Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Chênh lệch % Chênh lệch %

(1) (2) (3) (4) = (2) – (1) (4)/(1) (5) = (3) – (2) (5)/(2)

Doanh thu thuần về bán hàng 366.051 305.255 468.735 60.796 19,92 (163.480) (34,88) và cung cấp dịch vụ

Lợi nhuận gộp về bán hàng 24.366 20.395 47.014 3.971 19,47 (26.619) (56,62) và cung cấp dịch vụ

Lợi nhuận thuần từ hoạt 1.200 (3.132) 4.332 -138,31 (8.059) (163,57) 4.927 động kinh doanh

(439) 4.110 -4.549 -110,68 4.473 1232,23 (363) Lợi nhuận khác

Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc 761 978 -217 -22,19 (3.586) (78,57) 4.564 thuế

190 244 -54 -22,13 (897) (78,62) 1.141 Thuế TNDN

571 734 -163 -22,21 (2.689) (78,56) 3.423 Lợi nhuận sau thuế

(Nguồn: Số liệu được tính từ Báo cáo tài chính Công ty)

25

Biểu đồ 2.1. Tăng trƣờng doanh thu và lợi nhuận

468735,0

Đơn vị tính: Triệu đồng

366051,0

305255,0

2011

2012

2013

3423,0 734,0 571,0 500000,0 450000,0 400000,0 350000,0 300000,0 250000,0 200000,0 150000,0 100000,0 50000,0 ,0

Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)

Nhận xét:

Thông qua biểu đồ 2.1, ta thấy khoảng chênh lệch rất lớn giữa doanh thu và lợi

nhuận qua các năm. Điều này chứng tỏ Công ty đã duy trì những khoản chi phí dành

cho sản xuất kinh doanh quá cả khiến lợi nhuận ròng đạt được không tương xứng với

doanh thu bán hàng. Trong năm 2012, Doanh thu thuần về bán hàng của Công ty giảm

34,88% so với năm 2011, tương đương 163.480 triệu đồng. Năm 2011, Công ty không

có bất kỳ khoản giảm trừ doanh thu nào do bán hàng bị trả lại hay phải giám giá hàng

bán bán. Doanh thu thuần giảm kéo theo sự giảm xuống của GVHB, mức giảm tương

đương doanh thu bán hàng 34,88%. Lợi nhuận gộp hay lãi gộp của Công ty năm 2012

giảm tương đối mạnh từ 47.014 triệu đồng xuống 20.395 triệu đồng, tương đương tỷ lệ

giảm là 56,62%. Các khoản chi phí khác như chi phí tài chính, chi phí bán hàng và

quản lý doanh nghiệp cũng đang giảm dần do tình hình kinh doanh giảm sút, Công ty

cắt giảm công suất sản suất, cắt giảm công nhân viên và hạn chế vay mượn nhằm tiết

kiệm chi phí cũng như hạn chế rủi ro tài chính. Chi phí tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm 2012 đã giảm đáng kể cũng góp phần làm tăng lợi nhuận chung cho Công ty. Tuy nhiên, trong năm 2012, doanh thu của Công ty giảm sút khá mạnh trong khi các khoản chi phí dù được điều chỉnh giảm nhưng vẫn còn cao nên tác động chung đã làm cho lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2012 đã giảm từ 3.423 triệu đồng xuống còn 734 triệu đồng (giảm 2.689 triệu đồng tương đương với giảm 78,56%).

26

Sang năm 2013, doanh thu về bán hàng của Công ty đã tăng trở lại, tuy nhiên sự

thay đổi này vẫn còn khá chậm. Cụ thể, năm 2013, doanh thu thuần tăng từ 305.255

triệu đồng lên 366.051 triệu đồng, tương ứng với tốc độ tăng 19,92%. Có thể thấy tốc độ tăng của doanh thu năm 2013 khá thấp so với tốc độ giảm về doanh thu của Công

ty năm 2012. Năm 2013, tình hình bất động sản, xây dựng trong nước đã có sựu khởi

sắc hơn so với năm 2012 – được cho là năm đóng băng của thị trường bất động sản -

tuy nhiên sự thay đổi này đang diễn biến khá chậm chạp do sự ảnh hưởng của các công

trình xây dựng bất động sản của những năm trước đó vẫn chưa bán hết, các công ty xây dựng vẫn còn khá rụt rè trong việc tìm kiếm thêm địa điểm mới để xây dựng các

công trình nhà ở, văn phòng. Mặc dù vậy, các đơn hàng nhận được tăng lên đã giúp

tình hình kinh doanh của Công ty đã tốt hơn, kéo theo lợi nhuận gộp về bán hàng cũng

theo đà tăng lên khi tăng từ 20.395 triệu đồng trong năm 2012 lên mức 24.266 triệu đồng, tăng 19,47%. Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trong năm cũng tăng lên từ 11.136 triệu đồng năm 2012 lên 14.554 triệu đồng trong năm 2013, tăng

30,70%. Ta có thể thấy tốc độ tăng của chi phí quản lý và bán hàng cao hơn tốc độ

tăng của doanh thu và lợi nhuận gộp. Điều này đã làm cho lợi nhuận sau thuế của

Công ty trong năm 2013 vẫn tiếp tục giảm thêm 22,21% mặc dù doanh thu trong năm

đã tăng lên đáng kể.

Mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm có sự thay đổi

không đều nhưng nhìn vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy, mặc dù kinh

doanh có giảm sút nhưng Công ty vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà

nước. Việc đóng thuế đầy đủ giúp Công ty tránh khỏi những rắc rối trong hoạt động

kiểm toán, thanh tra của Nhà nước. Đồng thời, điều này còn giúp Công ty tạo được sự

tin tưởng đối với Nhà nước nói chung và Ngân hàng nói riêng khi có nhu cầu xin vay

vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh.

2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần xây dựng và Đầu tƣ

thƣơng mại Việt – Hàn

2.2.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

2.2.1.1. Quy mô cơ cấu tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

Kết hợp với so sánh các số liệu trong bảng cân đối kế toán qua ba năm 2011, 2012 và 2013, ta có thể thấy được một số nét nổi bật trong hoạt động kinh doanh của Công ty Việt – Hàn. Công ty có quy mô tổng tài sản đang tăng dần lên. Điều này được thể hiện rõ qua sự biến động của quy mô tổng tài sản và cơ cấu tổng tài sản như sau:

27

Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tổng tài sản Công ty CP Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2 13

Năm 2 12

Năm 2 11

Chỉ tiêu

Giá trị

Giá trị

Giá trị

Tỷ trọng

Tăng so với năm

Tỷ trọng

Tăng so với năm

Tỷ trọng

(%)

2012

(%)

2011

(%)

Tài sản ngắn hạn

270.364

65,64

(2,39) 276.973

71,37

4,51

265.014

64,12

Tài sản dài hạn

141.554

34,36

27,43 111.085

28,63

(25,10)

148.315

35,88

411.918

100

6,15 388.058

100

(6,11)

413.329

100

TỔNG TÀI SẢN

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Quy mô tổng tài sản: Qua bảng 2.2 ta thấy quy mô tổng tài sản của công ty

qua 3 năm phân tích tăng nhưng không đều và được chia làm 2 giai đoạn.

Giai đoạn năm 2011 – 2012: Đây là giai đoạn giảm của tổng tài sản khi sau một

năm tổng tài sản giảm 6,11%. Sự sụt giảm của tổng tài sản xuất phát từ nguyên nhân

đó là trong giai đoạn này trong khi tài sản ngắn hạn tăng 4,51% thì tài sản dài hạn lại

giảm 25,10%. Tài sản dài hạn giảm do hao mòn tài sản cố định cũng như trong giai

đoạn này công ty đã giảm một lượng tiền khá lớn trong hoạt động đầu tư tài chính dài hạn vào công ty liên doanh, liên kết.

Giai đoạn 2012 – 2013: Đây là giai đoạn tăng của tổng tài sản khi năm 2013,

tổng tài sản tăng 6,15% so với năm 2012. Ngược lại với xu hướng tăng tài sản ngắn

hạn vào năm 2012, sang năm 2013, tài sản ngắn hạn của công ty đã giảm 2,39% so vớ

năm 2011. Tài sản dài hạn tăng lên do công ty đầu tư thêm mua sắm thêm tài sản cố

định phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hoạt động đầu tư tài chính

dài hạn của công ty tăng lên cũng một phần tác động khiến tài sản dài hạn tăng 34,36%

so với năm 2012. Chính vì nguyên nhân tài sản dài hạn tăng mạnh trong khi tài sản ngắn hạn có sự giảm nhẹ vẫn làm cho tổng tài sản của công ty tăng trở lại.

Cơ cấu tổng tài sản: Việc xem xét kỹ lưỡng về tình hình tài sản tại một thời điểm cho phép ta đánh giá được quy mô kinh doanh của Công ty. Từ đó có thế thấy được tình hình tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Qua bảng cân đối kế toán của cả ba năm kết hợp với bảng 2.2, nhìn chung Công ty Việt - Hàn có cơ cấu tài sản ngắn hạn lớn hơn so với tài sản dài hạn. Về quy mô tổng tài sản tại ba năm có sự thay đổi theo chiều hướng tăng, từ 3.936.964.962 đồng năm 2011 lên 9.114.102.522 đồng năm 2012 và tiếp tục tăng nhanh hơn lên mức 28

32.496.866.562 đồng vào năm 2013. Sự gia tăng về quy mô tổng tài sản của Công ty

chứng tỏ quy mô kinh doanh của công ty không ngừng được mở rộng. Không nhưng

quy mô tài sản đang có sự thay đôi mà tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong tổng tài sản cũng đang có sự biến đổi theo chiều hướng tăng cả tài sản ngắn hạn

và tài sản dài hạn, tuy nhiên sự tăng giảm của hai loại tài sản này lại có sự khác nhau

dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổng tài sản. Cụ thể năm 2011, tỷ trọng tài sản ngắn

hạn là 64,12%, tài sản dài hạn là 35,38% trong tổng tài sản. Tuy nhiên sang năm 2012

và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn càng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản lần lượt là 71,37%

và 65,64%, tương ứng là tỷ trọng tài sản dài hạn lần lượt là 28,63% và 34,36%. Qua 3

năm phân tích ta thấy mặc dù tỷ trọng tài sản ngắn hạn đang tăng lên nhưng lại có một

giai đoạn bị giảm xuống do hoạt động mua sắm thêm tài sản cố định đã làm cho lượng tài sản dài hạn tăng lên đáng kể làm thay đổi tỷ trọng của cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

2.2.1.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng

và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

Bảng 2.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tổng tài sản

Chênh lệch

Năm

Năm

Năm

Chỉ tiêu

2013

2012

2011

2013/2012 2012/2011

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Lần)

Suất hao phí của TS so doanh thu thuần (Lần)

0,89 0,79 1,13 0,10 (0,35)

Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận (Lần)

1,13 1,27 0,88 (0,15) 0,39

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA (%)

721,40 529,41 120,72 191,99 408,70

0,14 0,19 0,83 (0,05) (0,64)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Nhìn vào bảng phân tích 2.9 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có

xu hướng giảm nhưng không đều qua các năm và được chia làm hai giai đoạn. Cụ thể

như sau:

Giai đoạn năm 2011 đến năm 2012: Năm 2011 hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 1,13 lần, sang năm 2012 chỉ tiêu giảm xuống còn 0,79 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh năm 2011 thì thu được 1,13 đồng doanh thu thuần trong năm 2011. Và sang đến năm 2012, một đồng tài sản đưa vào

hoạt động kinh doanh năm chỉ thu được 0,79 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,35 đồng. Chỉ số này giảm do năm 2012 doanh thu thuần giảm từ 468.735 triệu

29

đồng xuống còn 305.255 triệu đồng (giảm 34,88%) trong khi tổng tài sản chỉ giảm ít

hơn khi giảm từ 413.329 triệu đồng xuống còn 388.039 triệu đồng (giảm 6,11%)

Giai đoạn năm 2012 đến năm 2013: Công ty đã bắt đầu đầu tư thêm vào tài sản được thể hiện ở con số tăng trưởng dương 6,15% trong năm 2013. Trong năm, Công ty

kinh doanh tốt, doanh thu thuần năm 2013 tăng thêm 19,92% so với năm 2012. Có thể

thấy tốc độ tăng của tài sản thấp hơn so với tốc độ tăng của doanh thu đã làm cho hiệu

suất sử dụng tổng tài sản tăng lên mức 0,89 lần trong năm 2013, tức là năm 2013, một

đồng tài sản bỏ ra đầu tư thu được 0,89 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do trong năm 2013, công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng cung cấp bê tông thương

phẩm cho một số hạng mục công trình lớn như Royal City, Times City, Vincom

Village Sài Đồng, Chung cư cao tầng B4 Kim Liên,...của các đơn vị nhà thầu uy tín

như Công ty TNHH Xây dựng dân dụng và công nghiệp Delta, PCM, Công ty CP đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn,...đã thúc đẩy doanh thu trong năm 2013 tăng lên. Để đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu bê tông thương phẩm công ty đã mạnh dạn đầu tư

mua sắm, thuê ngoài các loại thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất bê tông tươi.

Dựa vào những con số trong bảng 2.9 ta dễ dàng nhận thấy việc đầu tư vào tài sản của

công ty trong năm 2013 đã mang lại được hiệu quả cao khi đầu tư vào tài sản ít nhưng

thu được doanh thu lớn. Hiệu suất sử dụng tài sản trong năm 2013 dù tăng nhưng vẫn

thấp hơn so với năm 2011 đã phản ánh đúng tình trạng sử dụng tài sản chưa hiệu quả

của công ty.

- Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần

Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu cơ bản để dự kiến

vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ tiêu này

ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Từ năm 2011 đến năm 2013, suất

hao phí của tài sản so với doanh thu thuần tăng nhưng biến động và chia làm hai giai

đoạn. Cụ thể:

Năm 2011-2012: Cùng với sự giảm của hiệu suất sử dụng tổng tài sản của năm 2012, suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần tăng từ 0,88 lần năm 2011 lên

đến 1,27 lần năm 2012. Điều này cho thấy việc sử dụng tài sản chưa có hiệu quả. Sang năm 2012, do doanh thu thuần giảm 34,88%, giảm nhanh hơn tốc độ giảm của tổng tài sản bình quân (giảm 6,11%) làm cho suất hao phí tiếp tục tăng lên đến 1,27 lần. Lúc này một đồng doanh thu thuần cần đến 1,27 đồng tài sản.

Năm 2012 – 2013: Sang năm 2013, doanh thu thuần đã tăng trở lại khi đạt mức tăng trưởng 19,92%, tổng tài sản trong giai đoạn này cũng tăng thêm 6,15%. Có thể

nhận thấy tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần lớn hơn tổng tài sản. Do đó, suất hao

30

phí của tài sản so với doanh thu thuần đã giảm xuống còn 1,13 lần. Lúc này, để tạo ra

một đồng doanh thu thuần, công ty chỉ cần bỏ ra 1,13 đồng tài sản. Mặc dù suất hao

phí của tài sản so với doanh thu đã giảm xuống nhưng vẫn còn khá cao và thể hiện rằng khả năng khai thác tài sản để tạo ra doanh thu còn chưa hiệu quả.

- Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận

Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau

thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Cũng

giống như suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần, suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận đang tăng mạnh liên tục từ năm 2011 đến năm 2013, điều này cũng cho

thấy hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao. Sự biến động của chỉ tiêu này được thể hiện

trong hai giai đoạn.

Năm 2011-2012: Đây là giai đoạn tăng mạnh của suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận khi tăng từ 120,72 lần trong năm 2011 lên mức 529,41 lần (tăng 338,56%) trong năm 2012. Điều này cũng cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản đã kém đi. Nguyên

nhân do lợi nhuận sau thuế năm 2012 giảm 78,59% so với năm trước trong khi tổng tài

sản có giảm nhưng chậm hơn với 6,11%. Năm 2012, do ảnh hưởng của khủng hoảng

kinh tế, hoạt động kinh doanh của công ty cũng bị ảnh hưởng, chi phí đầu vào tăng

trong khi sản lượng bán ra giảm và cùng với sự tăng của các khoản chi phí khác đã

làm cho lợi nhuận công ty giảm nhanh so với năm 2011. Suất hao phí của tài sản so

với lợi nhuận cũng theo đó mà tăng lên và ở mức 529,41 lần, tức là để được 1 đồng lợi

nhuận sau thuế doanh nghiệp cần phải chi tới 529,41 đồng tổng tài sản. Ta có thể thấy

đây là một con số lớn, nó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản rất thấp, điều này sẽ không

tạo được sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đối tác kinh doanh.

Năm 2012 – 2013: Tiếp tục là một giai đoạn tăng trưởng của suất hao phí của

tài sản so với lợi nhuận. Năm 2013, chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên đến 721,40 lần so với

mức 529,41 lần của năm 2012. Đây là thể coi là một tín xấu đối với công ty. Tổng tài

sản trong năm 2013 tiếp tục tăng nhẹ ở mức 6,15%. Các khoản mục chi phí giá vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng, thậm chi giá vốn hàng bán

còn tăng cao hơn tốc độ tăng của doanh thu khi tăng thêm 19,95%, các khoản chi phí quản lý cũng tăng thêm 30,69% do công ty tuyển dụng thêm nhân công để vận hành các thiết bị máy móc mới đầu tư. Tác động tổng hợp này đã khiến cho lợi nhuận sau thuế năm 2013 thu được giảm trong khi doanh thu thuần lại tăng, cho thấy sự không tương xướng với doanh thu của lợi nhuận sau thuế đã khiến cho chỉ tiêu suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận tăng lên.

31

- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài

sản trong hoạt động kinh doanh của Công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo Công ty. Từ năm 2011 đến năm 2013, tỷ suất sinh lời

trên tổng tài sản có xu hướng giảm nhanh.

Năm 2011, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của công ty là 0,83% nhưng đến năm

2012 thì tỷ suất này giảm nhanh còn 0,19% (giảm so với năm 2011 là 0,64%), tức là

cứ 100 đồng tài sản được đầu tư thì công ty chỉ thu về 0,19 đồng lợi nhuận sau thuế vào năm 2012, ít hơn năm 2011 là 0,64 đồng. Việc giảm khả năng sinh lời trên đã cho

thấy nhìn chung với số vốn công ty bỏ ra thì việc thu lại lợi nhuận chưa cao, hiệu quả

sử dụng vốn giảm và vẫn còn thấp. Nguyên nhân là do lợi nhuận ròng năm 2012 giảm

với tốc độ 78,59% trong khi tổng tài sản chỉ giảm 6,11% .

Năm 2013, tỷ suất này lại giảm xuống mức 0,14%. Đây có thể coi là một con số vo cùng thấp khi 100 đồng tài sản được đem ra đầu tư chỉ thu về 0,14 đồng lợi nhuận

sau thuế. Do đó, trong thời gian tới, công ty cần có những biện pháp khai thác năng

lực sản xuất của tài sản. Những phân tích trên về khả năng sinh lời của tài sản còn chịu

tác động bởi cấu trúc nguồn vốn. Mà cấu trúc nguồn vốn của công ty qua các năm lại

không giống nhau và chi phí sử dụng vốn vay cũng khác nhau.

- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thông qua mô hình phân tích Dupont

Muốn lý giải diễn biến quá khứ của ROA của công ty, hay dự báo giá trị tương

lai của ROA phải cẩn thận lưu ý đến tổ hợp lợi nhuận ròng, doanh thu và tổng tài sản

của công ty. Đi phân tích cụ thể sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ lý do.

Bảng 2.4. Mức độ ảnh hƣởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

ROS (%) 0,16 0,24 0,73

HS SỬ DỤNG TỔNG TS (Lần) 0,89 0,79 1,13

ROA(%) 0,14 0,19 0,83

DELTA ROA (%) (0,05) (0,64)

Ảnh hưởng ROS (%) (0,07) (0,39)

Ảnh hưởng của HS sử dụng tổng TS (%) 0,02 (0,25)

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Năm 2011-2012: ROA giảm từ 0,83% năm 2011 xuống còn 0,19% vào năm 2012. Năm 2012, do tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) và số vòng quay tổng tài sản

32

giảm đã kéo theo hậu quả là với 100 đồng tài sản đầu tư tại công ty chỉ đem lại 0,19

đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ ảnh hưởng đến nền

kinh tế trên toàn thế giới, thêm vào đó thị trường xây dựng, bất động sản trong nước đang trong tình thế bị đóng băng, các bất động sản không bán được trên thị trường do

nhu cầu giảm, các nhà thầu không thể bán được các công trình đã xây dựng nên không

có vồn để quay vòng đầu tư xây dựng thêm đã làm giảm một lượng đáng kể các đơn

đặt hàng cung cấp bê tổng thương phẩm. Sự ảnh hưởng tổng hợp trên tầm vĩ mô và

ngành nghề đã ảnh hưởng không nhỏ tới Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn trong giai đoạn này. Trước tình hình đó, công ty hầu như không có

nhiều động thái đầu tư vào tài sản, lợi nhuận lúc này mang lại không cao. Để giảm

thiểu tối đa thất thoát, công ty đã có những biện pháp giảm các khoản chi phí quản lý

đặc biệt là cắt giảm các chi phí liên quan đến hoạt động bán hàng, cắt giảm nguồn nhân lực thuê ngoài và nguồn nhân lực không đem lại lợi ích cho công ty đã phần nào hạn chế sự suy giảm mạnh mẽ của lợi nhuận. Mặc dù vậy, ROS trong năm 2012 vẫn

giảm 0,49% khiến cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giảm 0,39%, mặt khác cũng

trong năm 2012, khả năng quản lý tài sản của Công ty cũng giảm, hiệu suất sử dụng

tổng tài sản giảm 0,35 vòng khiến cho ROA giảm 0,25%. Tác động tổng hợp của cả

ROS giảm và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm khiến cho hiệu quả sinh lời tài sản

của Công ty giảm với mức giảm 0,64% hay 100 đồng tài sản năm 2012 đã tạo ra ít hơn

năm 2011 là 0,64 đồng lợi nhuận sau thuế.

Năm 2013, gói kích thích kinh tế 30.000 tỷ đồng của chính phủ đã đóng góp

một phần không nhỏ cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp ngành xây dựng, trong

đó có Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn. Bên cạnh đó, nhu

cầu cung cấp bê tổng tươi thương phẩm được cải thiện rõ rệt. Tác động của gói kích

thích kinh tế cũng đã thúc đẩy các nhà thầu xây dựng thực hiện thi công thêm nhiều

hạng mục công trình lớn đặc biệt là các công trình nhà ở trung cư giá hợp lý nhằm kích

cầu tiêu dùng của người dân. Tuy nhiên, trong năm 2013, do sự mất kiểm soát các

khoản chi phí hoạt động như chi phí giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng cao hơn so với doanh thu đã làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty vẫn giảm so với

năm 2012. ROS giảm từ 0,24% xuống còn 0,16%, tác động của ROS giảm khiến cho ROA giảm 0,07%, hay 100 đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư năm 2013 đã tạo ra ít hơn năm 2012 là 0,07 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, tình hình quản lý tài sản của công ty đã khả quan hơn khi hiệu suất sử dụng tài sản tăng từ 0,79 lần lên 0,89 lần, điều này đã tác động làm ROS tăng 0,02%, lúc này 100 đồng tài sản bỏ ra, thu được

nhiều đồng doanh thu thuần hơn. Tác động đối nghịch của ROS và Hiệu suất sử dụng

33

tổng tài sản khiến cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2013 giảm nhẹ 0,05% so

với năm 2012.

Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài sản của công ty có xu hướng giảm nhanh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả

hai nhân tố là ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai

yếu tố trên có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên

trong doanh nghiệp, cụ thể : Do tình trạng kinh tế bất ổn, giá nguyên vật liệu đầu vào

có xu hướng tăng mạnh khiến cho chi phí giá vốn tăng nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu, mặt khác công ty có xu hướng mở rộng quy mô khiến cho chi phí khấu hao

TSCĐ cùng chi phí quản lý kinh doanh tăng mạnh, trong khi đó để giữ vững thị trường

của mình, công ty tăng giá bán không nhiều, điều này khiến cho doanh thu tăng chậm

hơn chi phí và ROS của công ty có xu hướng giảm qua các năm.

2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

2.2.2.1. Quy mô cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư

thương mại Việt – Hàn

Cơ cấu TSNH là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản mục trong tài sản ngắn hạn, thể

hiện mức độ đầu tư, phân bổ tài sản ngắn hạn trong DN. Qua đó, ta có thể nhận định

được loại hình DN và các chính sách đầu tư ngắn hạn của DN. Bên cạnh đó, thông qua

sự biến đổi trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, ta có thể nhìn thấy sự thay đổi tích cực hay

không của công tác quản lý, sử dụng tài sản ngắn hạn tại một DN.

Bảng 2.5. Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Xây dựng

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2 11

Chỉ tiêu

Giá trị

Giá trị

Giá trị

Năm 2 13 Tỷ trọng (%)

Tăng so với năm 2012

Năm 2 12 Tỷ trọng (%)

Tăng so với năm 2011

Tỷ trọng (%)

254

0,09

(65,21)

730

0,26

(77,70)

3274

1,24

255.442

94,48

(3,94) 265.931

96,01

3,82 256.141

96,65

1. Tiền và các khoản tương đương tiền 2. Các khoản phải thu ngắn hạn - Phải thu khách hàng - Trả trước cho người bán - Các khoản phải thu khác 3. Hàng tồn kho 4. Tài sản ngắn hạn khác

214.390 6.520 34.532 12.027 2.642

79,30 2,41 12,77 4,45 0,98

(10,69) 240.042 5.711 20.177 8.761 1.551

14,17 71,15 37,28 70,34

86,67 2,06 7,28 3,16 0,56

3,40 232.155 8.411 15.566 3.662 1.936

(32,10) 29,62 139,24 (19,89)

87,60 3,17 5,87 1,38 0,73

TÀI SẢN NGẮN HẠN

270.364

100

(2,39) 276.973

100

4,51 265.014

64,12

34

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Năm 2011, quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty qua 3 năm phân tích đang có

xu hướng tăng nhưng không đều. Năm 2012, tài sản ngắn hạn tăng từ 165.014 triệu đồng lên mức 276.973 triệu đồng (tăng 11.959 triệu đồng, tương ứng vơi tốc độ tăng

4,51%) so với năm 2011. Sang đến năm 2013, quy mô tài sản ngắn hạn lại có xu

hướng giảm 2,39% so với năm 2012, tuy nhiên mức giảm này vẫn thấp hơn so với

mức tăng năm 2012. Nguyên nhân của sự thay đổi này vừa do sự điều chỉnh của Công

ty, vừa do sự thay đổi tự phát của các khoản mục trong quá trình kinh doanh. Trong đó khoản phải thu luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, kế đến là

hàng tồn kho, TSNH khác và cuối cùng là tiền và các khoản tương đương tiền.

Tiền và các khoản tương đương tiền: năm 2011, khoản mục này chiếm tỷ trọng

1,24% trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng giảm về những năm tiếp theo. Năm 2012 tiền và các khoản tương đương tiền giảm còn 0,26%, năm 2013 thì chỉ còn 0,99% trong tổng tài sản ngắn hạn. Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, dự trữ

tiền mặt giảm trong khi dự trữ tài sản ngắn hạn của Công ty lại có xu hướng tăng, cho

đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tỷ trọng này. Việc Công ty điều

chỉnh giảm lượng dự trữ tiền mặt là biện pháp tích cực và nên tiếp tục thực hiện trong

tương lai và chỉ nên dự trữ một lượng tiền tối thiểu đủ để đảm bảo các chi phí giao

dịch thường xuyên.

Đầu tư tài chính ngắn hạn: Trong cả 3 năm phân tích, công ty hoàn toàn không

có hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn do năm bắt được thị trường bất động sản đang

có dấu hiệu đi xuống, việc đầu tư tài chính ngắn hạn vào các công ty thuộc ngành trên

hầu như không đem lại tính khả thi và đảm bảo khả năng tạo ra lợi nhuận cho công ty.

Các khoản phải thu: Các khoản phải thu luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao

nhất trong tổng tài sản ngắn hạn, năm 2011 là 96,65%, năm 2012 là 96,02% và năm

2013 là 94,48%. Như vậy có nghĩa là một tỷ lệ rất lớn tài sản ngắn hạn của Công ty

đang tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu, bị khách hàng chiếm dụng. Và mặc dù nhìn vào con số cụ thể, nhìn chung ta thấy trong 3 năm phân tích, các khoản phải thu

ngắn hạn có xu hướng chung là tăng nhưng đi vào sâu hơn ta thấy, năm 2013 quy mô các khoản phải thu năm 2013 đã giảm đi so với năm 2012 cho thấy Công ty đang có những biện pháp tích cực trong việc thu hồi công nợ.

Khoản phải thu ngắn hạn hiện nay của công ty bao gồm khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán và các khoản phải thu khác, trong đó khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất (năm 2013 chiếm 79,30% tổng tài sản ngắn hạn). Khoản phải thu khách hàng của công ty từ năm 2011 đến năm 2013 đang có xu hướng

35

giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khoản phải thu ngắn hạn nói riêng

và trong tài sản ngắn hạn nói chung. Khoản phải thu khách hàng giảm cho thấy công

tác thu hồi công nợ đang hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên có thể thấy tốc độ giảm khá chậm và không ổn định. Tỷ trọng phải thu khách hàng măc dù giảm nhưng vẫn còn rất

lớn khiến cho công ty gặp khó khăn trong công tác thu hồi vốn kinh doanh, nguồn vốn

bị chiếm dụng này hàng năm vẫn gây ra cho công ty những chi phí cơ hội lớn.

Khoản trả trước cho người bán chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng các khoản

phải thu ngắn hạn. Từ năm 2011 đến năm 2013, khoản trả trước cho người bán đang có xu hướng giảm dần và biến động tương đương với doanh thu hàng năm của công ty.

Cụ thể, năm 2012, doanh thu thuần của công ty giảm do hoạt động bán hàng chậm, vì

thế công ty cũng ít nhập hàng hóa hơn hẳn, biểu hiện ở số tiền đặt trước cho người bán

giảm từ 8.411 triệu đồng xuồng còn 5.711 triệu đồng, giảm 32,10% so với năm 2011. Năm 2013, tình hình kinh doanh của công ty đã có sự phục hồi, doanh thu thuần tăng, công ty mạnh dạn đặt mua hàng nhiều hơn, lượng tiền đặt trước cho khách hàng đã

tăng thêm 809 triệu đồng, tương ứng tăng 14,17%. Việc công ty đặt cọc trước tiền

hàng cho người bán đem lại cho công ty một khoản tiền chiết khấu thanh toán lớn. Tuy

nhiên, việc ứng trước quá nhiều cũng gây nên khoản chi phí cơ hội sử dụng số tiền vào

các hoạt động sinh lời khác. Do đó, trước khi quyết định ứng trước tiền hàng cho

người bán, công ty cần xác định trước những lợi ích và chi phí của khoản tiền đó đem

lại.

Các khoản phải thu khác trong công ty chủ yếu là những khoản tiền phải thu về

cổ phần hóa, cũng như phải thu về cổ tức và lợi nhuận được chia. Khoản phải thu này

chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, năm 2013, khoản

phải thu khác chiếm 12,77% tổng tài sản ngắn hạn trong công ty.

Hàng tồn kho: Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng tài sản ngắn

hạn (năm 2011 là 1,38%, năm 2012 là 3,16% và năm 2013 là 4,45%). Ta thấy mặc dù

hàng tồn kho đang tăng lên nhưng so với tài sản ngắn hạn thì chiếm một tỷ trọng rất

nhỏ. Nguyên nhân là do đặc thù là DN chuyên cung cấp bê tông tươi thương phẩm, phải sử dụng ngay khi vừa sản xuất xong nên việc dự trữ hàng hóa phục vụ cho hoạt

động kinh doanh bán hàng, xây dựng dân dụng là điều không cần thiết, công ty nên chủ yếu dự trữ các nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất để có thể đáp ứng như cầu sản xuất ngay khi có đơn hàng đến. Tuy nhiện, việc tăng dự trữ tồn kho có thể gây ra các chi phí không cần thiết như chi phí bảo quản và không giúp DN sinh lời. Do vậy, đơn vị cần có kế hoạch cụ thể về lượng đặt hàng tối ưu, tránh dự trữ quá nhiều,

36

đồng thời đẩy nhanh tốc độ bán hàng và hoàn thành hợp đồng nhằm giảm đến mức tối

thiểu khoản mục hàng tồn kho.

Tài sản ngắn hạn khác: Các tài sản ngắn hạn còn lại trong Công ty chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn, trong đó chủ yếu là thuế giá trị gia tăng

được khấu trừ và một phần chi phí trả trước ngắn hạn khác. Sự tăng lên của khoản mục

trong 3 năm phân tích cho thấy các khoản thuế GTGT cần được thu hồi đang tăng lên,

đồng thời các khoản chi phí trả trước ngắn cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn

trong khoản mục tài sản ngắn hạn khác. Cụ thể là tỷ trọng tài sản ngắn hạn khác đã tăng từ 0,73% ở năm 2011 lên 0,98% vào năm 2013, cho thấy công ty vẫn chưa thu

hồi được khoản thuế giá trị gia tăng được khấu trừ trong hoạt động nhập khẩu, bán

nguyên vật liệu xây dựng hàng năm.

Như vậy, qua phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty, ta có thể nhận thấy xu hướng chung của Công ty là giảm lượng tiền mặt, hạn chế đầu tư tài chính ngắn hạn, và tăng các khoản phải thu cũng như tăng lượng dự trữ hàng tồn kho. Có thể thấy

một số chuyển biến tích cực tuy nhiên vẫn còn những điểm chưa hợp lý như: Dự trữ

tăng hàng tồn kho gây chi phí không cần thiết; các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn

gây giảm khả năng thanh toán bằng tiền, lượng tiền mặt thấp... Để đạt được hiệu quả

tối đa từ sử dụng tài sản ngắn hạn, Công ty cần có các biện pháp khắc phục những hạn

chế này, đồng thời theo dõi chặt chẽ và đánh giá thường xuyên các bộ phận cấu thành

của tài sản ngắn hạn.

2.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xây

dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luân chuyển

không ngừng. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp

dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung

của doanh nghiệp. Do cấu tạo phức tạp nếu để đánh giá chính xác hơn tính hợp lý của

các khoản mục trong tài sản ngắn hạn, khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn, khóa luận sẽ phân tích các chỉ tiêu chung về tài sản ngắn hạn theo như bảng 2.6.

37

Bảng 2.6. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Chênh lệch

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 2013/2012 2012/2011

Hiệu suất sử dụng TSNH (Lần) 1,35 1,10 1,77 0,25 (0,67)

0,74 0,91 0,57 (0,17) 0,34 Suất hao phí TSNH so với doanh thu (Lần)

Suất hao phí của TSNH so với LNST

1,68 2,49 0,46 (0,81) 2,03 (Lần)

Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (%) 0,21 0,26 1,29 (0,05) (1,03)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

- Hiệu suất sử dụng TSNH

Qua bảng 2.3 ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng

giảm nhưng không đều. Cụ thể:

Giai đoạn năm 2011 đến năm 2012: Đây là giai đoạn giảm của hiệu suất sử

dụng TSNH. Năm 2011 hiệu suất sử dụng TSNH là 1,77 lần, sang năm 2012 chỉ tiêu giảm xuống còn 1,10 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng TSNH đưa vào hoạt động

kinh doanh năm 2011 thì thu được 1,77 đồng doanh thu thuần trong năm 2011. Và

sang đến năm 2012, một đồng TSNH đưa vào hoạt động kinh doanh năm chỉ thu được

1,10 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,67 đồng. Chỉ số này giảm do năm

2012 doanh thu thuần giảm từ 468.735 triệu đồng xuống còn 305.255 triệu đồng (giảm

34,88%) trong khi TSNH năm 2012 vẫn tăng thêm 4,51% so với năm 2011.

Giai đoạn năm 2012 đến năm 2013: Ngược lại với giai đoạn trên, đây là giai đoạn tăng của hiệu suất sử dụng tổng tài sản. TSNH trong năm 2013 đã giảm 2,39% so với năm 2012 do trong giai đoạn này, một phần khoản phải thu đã được thu hồi, công

ty cũng thực hiện chi trả một số khoản chi phí phát sinh bằng tiền mặt. Trong năm, Công ty kinh doanh tốt, doanh thu thuần năm 2013 tăng thêm 19,92% so với năm 2012. Sự thay đổi theo hướng tích cực đã làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng

lên mức 1,35 lần trong năm 2013, tức là năm 2013, một đồng tài sản bỏ ra đầu tư thu được 1,35 đồng doanh thu thuần. Doanh thu tăng do trong năm 2013, công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng cung cấp bê tông thương phẩm cho một số hạng mục công trình lớn của các đơn vị nhà thầu uy tín không những giúp công ty có thêm nhiều doanh thu

38

mà còn giảm thiểu các khoản phải thu do các đơn vị nhà thầu đã thực hiện thanh toán

đầy đủ.

- Suất hao phí của TSNH so với doanh thu

Năm 2011-2012: Cùng với sự giảm của hiệu suất sử dụng TSNH của năm 2012,

suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần tăng từ 0,57 lần năm 2011 lên đến 0,91

lần năm 2012. Điều này cho thấy việc sử dụng TSNH chưa có hiệu quả. Sang năm

2012, do doanh thu thuần giảm 34,88%, giảm nhanh hơn tốc độ giảm của tổng tài sản

bình quân (giảm 6,11%) làm cho suất hao phí tiếp tục tăng lên đến 0,91 lần. Lúc này một đồng doanh thu thuần cần đến 0,91 đồng tài sản.

Năm 2012 – 2013: Sang năm 2013, doanh thu thuần đã tăng trở lại khi đạt mức

tăng trưởng 19,92%, tổng tài sản trong giai đoạn này cũng tăng thêm 2,39%. Có thể

nhận thấy tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần lớn hơn tổng tài sản. Do đó, suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần đã giảm xuống còn 0,74 lần. Lúc này, để tạo ra một đồng doanh thu thuần, công ty chỉ cần bỏ ra 0,74 đồng TSNH. Mặc dù suất hao

phí của TSNH so với doanh thu đã giảm xuống nhưng vẫn còn khá cao và thể hiện

rằng khả năng khai thác tài sản để tạo ra doanh thu còn chưa hiệu quả.

Bảng 2.7. Thời gian một vòng quay TSNH

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Hiệu suất sử dụng TSNH (Lần) 1,35 1,10 1,77

Thời gian 1 vòng quay TSNH (Ngày) 266 327 204

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Từ năm 2011 đến năm 2012 hiệu suất sử dụng TSNH giảm từ 1,77 lần xuống

mức 1,10 lần (giảm 0,67 lần) đồng nghĩa với việc thời gian 1 vòng quay TSNH tăng

lên từ 204 ngày lên 151 ngày. Điều đó cho thấy TSNH vận động ngày càng chậm, hiệu

suất sử dụng tài sản ngắn hạn thấp, hạn chế việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho công ty.

Năm 2013, trong khi khoản phải thu đang giảm xuống thì hàng tồn kho lại tăng khá nhanh chủ yếu là do sự gia tăng mạnh của nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất bê tông tươi thương phẩm. Mặc dù vậy, trong năm này, công ty chỉ phải mất 266 ngày để quay hết một vòng quay tài sản ngắn hạn.

Tóm lại, thời gian vòng quay của TSNH nhìn chung càng về những năm sau thì càng tăng, trung bình mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất 266 ngày. Điều này

39

chứng tỏ TSNH của công ty vận động chậm. Nguyên nhân xuất phát từ loại hình

doanh nghiệp của công ty là một công ty chuyên phục vụ cung cấp bê tông thương

phẩm cho các công trình xây dựng có thời gian thi công tương đối dài. Nguyên nhân thức hai là việc tăng nhanh của hàng tồn kho đã đẩy TSNH tăng lên và tốc độ tăng lại

cao hơn so với doanh thu và lợi nhuận khiến kho diệu suất sử dụng tài sản giảm xuống,

số ngày vận động ngày càng tăng lên.

- Mức tiết kiệm (lãng phí) tài sản ngắn hạn

Bảng 2.8. Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2 13 Năm 2 12

Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH tuyệt đối (69.744) 176.660

Mức tiết kiệm (lãng phí) TSNH tương đối (68.080) 184.632

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)

Mức tiết kiệm tuyệt đối: Thông qua bảng trên ta thấy năm 2012 để đạt được

mức doanh thu bằng năm 2011, công ty phải bỏ ra nhiều hơn năm 2011 là 176.660

triệu đồng. Trong khi đó, năm 2013 công ty muốn đạt được mức doanh thu bằng năm

2012 thì phải bỏ ra ít hơn năm 2012 là 69.744 triệu đồng. Điều đó cho thấy, khi quy

mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn đã giúp

cho công ty tiết kiệm được một lượng tài sản có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào

việc khác.

Mức tiết kiệm tương đối: Chỉ tiêu này có nghĩa là năm 2012, Công ty cần phải

bỏ thêm 184.632 triệu đồng TSNH lẽ ra phải bỏ ra để mở rộng doanh thu. Điều này có

nghĩa là Công ty đã lãng phí tương đối 184.632 triệu đồng. Một lượng TSNH bị lãng

phí và đáng lẽ sẽ được sử dụng để đầu tư mua sắm hàng hóa phục vụ cho hoạt động

kinh doanh sẽ ảnh hưởng lớn tới doanh thu cũng lợi nhuận của công ty, công ty có thể rơi vào tình trạng thiếu vốn để đầu tư. Nhưng sang năm 2013 do tốc độ luân chuyển

vốn lưu động tăng nên năm 2013, công ty đã tiết kiệm được 68.080 triệu đồng TSNH để mở rộng doanh thu. Việc tiết kiệm được TSNH hay nói cách khác việc bỏ ra lượng

TSNH ít hơn nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận sẽ đem lại nhiều lợi ích tích cực trong hoạt động đầu tư mở rộng kinh doanh cho những kì tiếp theo. Như vậy, trong cả 3 năm, chúng ta có thể thấy nhờ tăng hoặc giảm tốc độ luân chuyển vốn lưu động mà Công ty đã tiết kiệm hoặc phải bỏ thêm một phần TSNH để đạt được mức doanh thu như cũ hay mở rộng doanh thu.

40

- Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận

Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau

thuế của các TSNH mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Cũng giống như suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần, suất hao phí của TSNH so

với lợi nhuận đang tăng nhưng biến động từ năm 2011 đến năm 2013, điều này cũng

cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH chưa cao. Sự biến động của chỉ tiêu này được thể

hiện trong hai giai đoạn.

Năm 2011-2012: Đây là giai đoạn tăng mạnh của suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận khi tăng từ 0,46 lần trong năm 2011 lên mức 2,49 lần trong năm 2012. Điều

này cũng cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH đã kém đi. Nguyên nhân do lợi nhuận sau

thuế năm 2012 giảm 78,59% so với năm trước trong khi tổng tài sản lại tăng thêm

4,51%, trong đó chủ yếu là tăng các khoản mục phải thu và hàng tồn kho. Năm 2012, hoạt động kinh doanh của công ty bị ảnh hưởng từ các yếu tố liên quan đến thị trường ngành xây dựng và bất động sản, chi phí đầu vào tăng do tăng các khoản chi phí vận

chuyển nội địa trong khi sản lượng bán ra giảm và cùng với sự tăng của các khoản chi

phí khác đã làm cho lợi nhuận công ty giảm nhanh so với năm 2011. Suất hao phí của

TSNH so với lợi nhuận cũng theo đó mà tăng lên và ở mức 2,49 lần, tức là để được 1

đồng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp cần phải chi tới 2,49 đồng TSNH. Ta có thể

thấy đây là một con sô lớn, nó thể hiện hiệu quả sử dụng TSNH rất thấp, điều này sẽ

không tạo được sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đối tác kinh doanh.

Năm 2012 – 2013: Ngược lại với giai đoạn trước thì giai đoạn này lại là giai

đoạn giảm của chi tiêu suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận. Năm 2013, chỉ tiêu

này giảm xuống còn 1,68 lần so với mức 2,49 lần của năm 2012. Đây là thể coi là một

tín hiệu khả quan. TSNH trong năm 2013 đã giảm 2,39%. Các khoản mục chi phí giá

vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng, thậm chi giá vốn hàng

bán còn tăng cao hơn tốc độ tăng của doanh thu khi tăng thêm 19,95%, các khoản chi

phí quản lý cũng tăng thêm 30,69% do công ty tuyển dụng thêm nhân công để vận

hành các thiết bị máy móc mới đầu tư. Tác động tổng hợp này đã khiến cho lợi nhuận sau thuế năm 2013 giảm 22,10%, giảm nhanh hơn tôc độ giảm của TSNH đã khiến

cho chỉ tiêu suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận tăng lên.

- Tỷ suất sinh lời của TSNH (ROCA)

Trong năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh trong khi TSNH bình quân tăng. Điều này dẫn tới tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn cũng đã giảm 1,03% so với năm 2011. Có nghĩa là so với năm 2011, trong năm 2012, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra 0,26 đồng lợi nhuận sau thuế, trong khi năm 2011 tạo

41

ra tới 1,29 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời giảm đồng nghĩa với việc doanh

nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn kém hiệu quả hơn so với năm 2011, góp phần làm

giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn giảm nhẹ và ở mức

0,21%. Đó là do lợi nhuận sau thuế vẫn tiếp tục giảm sâu 22,10% trong khi tài sản

ngắn hạn giảm nhẹ 2,39% so với năm 2012. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài

sản ngắn hạn của công ty trong năm 2013 không những không được cải thiện mà còn

tiếp tục có dấu hiệu đi xuống.

Nhìn chung trong 3 năm, tỷ suất sinh lời của TSNH đạt trung bình khoảng

0,59% và có xu hướng giảm. Năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh và đột biến với

tốc độ giảm lên tới 78,59% so với năm 2011 và tốc độ giảmg cao hơn tốc độ tăng của

TSNH nên tỷ suất sinh lời của TSNH năm 2012 chỉ đạt 0,26% so với mức 1,29% của năm 2011. Tuy nhiên đến năm 2013, thị trường xây dựng đã có sự khởi sắc hơn do tác động của gói kích thích tăng trưởng của Nhà nước, các hợp đồng cung ứng của công ty

đã tăng trở lại, tuy nhiên sự kiểm soát không hiệu quả các khoản chi phí quản lý vẫn

khiến cho lợi nhuận sau thuế giảm 22,10% so với năm 2012, TSNH năm 2013 mặc dù

đã giảm 2,39% nhưng không thể bù đắp cho tốc độ giảm sâu của lợi nhuận sau thuế.

- Phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH thông qua mô hình phân tích Dupont

ROCA = ROS * Hiệu suất sử dụng TSNH

Cũng giống như mô hình phân tích với tổng tài sản, ta sẽ đi phân tích cụ thể hai

yếu tố trên. Về việc nâng cao tỷ suất sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên,

trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố tốc độ luân chuyển TSNH.

Bảng 2.9. Ảnh hƣởng của ROS và hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

1,35 1,10 1,77 Hiệu suất sử dụng TSNH (lần)

0,16 0,24 0,73 ROS (%)

0,21 0,26 1,29 ROCA (%)

(0,11) (0,54) Ảnh hưởng ROS (%)

0,06 (0,49) Ảnh hưởng HSSDTSNH (%)

(0,05) (1,03) Delta ROCA (%)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính)

42

Năm 2011-2012: ROCA giảm 1,03% từ 1,29% năm 2011 xuống chỉ còn 0,26%

năm 2012. Năm 2012, do ROS và hiệu suất sử dụng TSNH giảm làm cho với 100

đồng TSNH đầu tư tại công ty chỉ đem lại 0,26 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty tăng lên rất nhiều làm cho khoản đầu tư

vào tài sản ngắn hạn nhiều nhưng do tác động của nền kinh tế, doanh thu, lợi nhuận

mang lại không cao. Tác động tổng hợp của việc ROS giảm 0,49% và hiệu suất sử

dụng TSNH giảm 0,67 lần khiến cho hiệu quả sinh lời TSNH của công ty giảm 1,03%

hay 100 đồng tài sản năm 2012 đã tạo ra ít hơn năm 2011 là 1,03 đồng lợi nhuận.

Năm 2013, nhờ vào gói kích thích tăng trưởng của chính phủ, nhu cầu của về

hoạt động xây dựng bất động sản cũng tăng đáng kể. Tác động của hiệu suất sử dụng

TSNH tăng lên làm cho ROCA tăng 0,06%, hay một đồng TSNH doanh nghiệp đầu tư

đã tạo ra nhiều hơn năm 2012 là 0,06 đồng lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên đây vẫn là một con số quá nhỏ. Ngược lại với hiệu suất sử dụng TSNH, ROS vẫn tiếp tục giảm từ 0,24% xuống còn 0,16%, nguyên nhân vẫn là do sự gia tăng của các khoản chi phí

hoạt động như chi phí giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiêp. Tác động của ROS đã

làm cho ROCA giảm 0,11%. Tác động tổng hợp của ROS và Hiệu suất sử dụng TSNH

khiến cho ROCA giảm 0,05%, tức là với 100 đồng TSNH bỏ ra đầu tư năm 2013 tạo ít

hơn năm 2012 là 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế.

Tóm lại, qua phân tích Dupont có thể thấy khả năng sinh lời TSNH của công ty

có xu hướng giảm mạnh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là

ROS và hiệu suất sử dụng TSNH.

- Phân tích khả năng thanh toán

Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp

trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn. Khả năng thanh toán của

doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong

kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể

đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh

nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Bảng 2.1 . Bảng phân tích khả năng thanh toán tại Công ty Việt – Hàn

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn 0,91 1,08 0,93

Hệ số khả năng thanh toán nhanh 0,87 1,05 0,92

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)

43

Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi

trong ngắn hạn các tài sản ngắn hạn thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn. Theo

số liệu tính toán ở trên, chỉ tiêu này năm 2012 tăng 0,15 lần so với năm 2011, đến năm 2013 lại giảm 0,17 lần. Hệ số này của cả 3 năm đều xấp xỉ 1, do đó có thể thấy dự trữ

tài sản lưu động của đơn vị đủ khả năng đảm bảo cho các khoản nợ ngắn hạn. Tuy

nhiên, chỉ tiêu này đang có xu hướng giảm, trong tương lai nếu vẫn tiếp tục giảm có

thể gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty. Do vậy, Công ty

nên quản lý chặt chẽ chỉ tiêu này để đảm bảo dung hòa giữa khả năng thanh khoản với tính hiệu quả đầu tư.

Tuy nhiên, khả năng thanh toán ngắn hạn thường không phản ánh chính xác khả

năng thanh toán của một DN, do trữ lượng hàng tồn kho trong tài sản lưu động là

khoản mục có tính thanh khoản rất thấp. Bởi vậy, khả năng thanh toán nhanh được quan tâm hơn.

Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi tức

thời tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Vì vậy mà hàng

tồn kho được loại trừ vì đây là khoản mục có tính thanh khoản thấp nhất trong số các

tài sản lưu động. Có thể thấy, khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty bị giảm

nhưng biến động qua 3 năm, tuy nhiên cả 3 năm đều cho con số xấp xỉ 1, trên lý thuyết

có thể cho rằng đây là một con số khả quan. Cùng với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này cho

thấy khả năng sẵn sàng thanh toán của Công ty khá tốt đối với nợ ngắn hạn.

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thành phần của tài sản ngắn hạn

Trong cơ cấu TSNH của công ty thì khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm một tỷ lệ lớn. Để có thể thấy rõ hơn hiệu quả sử dụng TSNH ta có thể đi vào xem xét chi

tiết việc phân bổ vốn trong khâu thanh toán và dự trữ thông qua số vòng quay phải thu

khách hàng và số vòng quay hàng tồn kho của công ty.

- Chỉ tiêu đánh giá tiền và các khoản tương đương tiền

Bảng 2.11. Hệ số thanh toán bằng tiền

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

Tiền các khoản tương đương tiền 254 730 3274 (VND)

Nợ ngắn hạn (VND) 296169 255581 284210

Hệ số thanh toán bằng tiền (Lần) 0,001 0,003 0,012

( Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Hệ số thanh toán bằng tiền của công ty đang có xu hướng giảm nhanh thể hiện

mức độ chi trả bằng tiền trước các khoản nợ đang kém dần. Cụ thể:

44

Năm 2011-2012: Năm 2012, hệ số này giảm xuống chỉ còn 0,003 lần. Điều này

là do cả khoản tiền và các khoản tương đương tiền cùng với nợ ngắn hạn của công ty

đều giảm nhưng không giảm bằng nhau. Lượng tiền trong công ty giảm mạnh 77,70% trong khi nợ ngắn hạn giảm với tốc độ thấp hơn là 10,07%. Nợ ngắn hạn giảm là do

trong năm công ty đã trả được một phần lớn khoản phải trả người bán. Cũng trong

năm 2012, công ty đã rút một lượng tiền gửi ngân hàng dùng để chi trả lãi vay các

khoản nợ ngắn hạn khiến cho lượng tiền trong công ty giảm.

Năm 2012-2013: Lượng tiền và các khoản tương đương tiền giảm 65,21% trong khi nợ ngắn hạn tăng thêm 15,88%. Nguyên nhân là do tình hình kinh doanh đã ổn

định hơn, công ty đi vay ngắn hạn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm

thêm dây chuyền sản xuất kinh doanh phục vụ cho các đơn hàng lớn trong năm. Mặc

dù đi vay thêm ngân hàng nhưng công ty vẫn thực hiện thanh toán một khoản lớn phải trả người bán để tạo uy tín cho đối tác. Mặc dù một khoản tiền lớn nợ người bán đã giảm những sự gia tăng mạnh của khoản nợ ngắn hạn vẫn khiến cho hệ số thanh toán

bằng tiền giảm xuống còn 0.001 lần. Lúc này, với 1 đồng nợ ngắn hạn đi vay chỉ có

thể được đảm bảo bởi 0,001 đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Đây có thể là

một con số đáng bao động tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ nhằm đánh giá tình trang thanh

toán tức thời khác khoản nợ đến hạn. Ngoài vốn bằng tiền, khả năng thanh toán của

công ty còn được đảm bảo bởi chính những tài sản ngắn hạn khác như hàng tồn kho

hay các khoản phải thu.

Nhìn chung, hệ số thanh toán bằng tiền của công ty đang ở mức thấp và có xu

hướng giảm nhanh. Hệ số này quá nhỏ khiến công ty gặp khó khăn trong việc thanh

toán công nợ, nhất là các khoản nợ đến hạn vì không đủ lượng tiền và tương đương

tiền trong công ty. Nguyên nhân là do khoản tiền trong công ty là không nhiều và có

xu hướng giảm trong khi khoản nợ ngắn hạn lại gia tăng. Công ty cần chú trọng đến

quá trình thu nợ trong khoản phải thu để đủ tiền mặt đáp ứng cho nhu cầu của công ty.

- Chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho

Bảng 2.12. Tình hình quản lý hàng tồn kho

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Số vòng quay hàng tồn kho (Vòng) 28,41 32,51 115,16

Thời gian quay vòng hàng tồn kho (Ngày) 12,67 11,07 3,13

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Dự trữ là khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của công ty, dự trữ nhằm

đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được liên tục, đáp ứng yêu cầu kịp thời

45

của khách hàng, nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn,

giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh

khá quan trọng bởi vì sản xuất dự trữ hàng hóa để tiêu thụ nhằm đạt mục đích doanh số và lợi nhuận như mong muốn trên cơ sở đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Theo kết quả phân tích như trên ta thấy số vòng quay hàng tồn kho năm 2013 là

thấp nhất trong 3 năm, thời gian hàng hóa ở trong kho trước khi bán ra trung bình kéo

dài 8,96 ngày (do sản phẩm của công ty là bê tổng tươi, một loại nguyên vật liệu phải

sử dụng ngay sau khi sản xuất để đảm bảo chất lượng).

Năm 2012 so với năm 2011 đã giảm 82,65 vòng, và số ngày quay vòng hàng tồn

kho cũng tăng tương ứng 7,94 ngày. Đây là biểu hiện không tốt vì khả năng chuyển

thành tiền của hàng tồn kho đang giảm xuống. Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán

giảm 32,45% trong khi hàng tồn kho liên tục tăng và tăng thêm 139,24% trong năm 2012, điều này cho ta thấy bê tông tươi sau khi được sản xuất chưa được tiêu thụ ngay mà phải sau hơn 10 ngày mới tiêu thụ hết để quay vòng vốn. Nguyên do xuất phát từ

lượng đơn hàng giảm, các hạng mục công trình lại lớn, đòi hỏi thời gian bơm bê tông

mất nhiều thời gian hơn. Năm 2013, vòng quay hàng tồn kho vẫn tiếp tục giảm xuống

so với năm 2012 khi chỉ còn 28,41 vòng năm 2013 so với 32,51 vòng năm 2012. Năm

2012, một đồng hàng tồn kho tại ra 32,51 đồng giá vốn hàng bán, nhung năm 2013 chỉ

còn 28,41 đồng giá vốn hàng bán. Hệ số này giảm cho thấy doanh nghiệp bán hàng

chậm và hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, chủ yếu bị ứ đọng nguyên liệu, vật liệu, nếu

như cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng công ty sẽ bị mất khách hàng và bị

các đổi thủ khác tranh giành thị phần.

Tóm lại, thông qua những điều phân tích ở trên ta thấy giá trị tồn kho cuối kỳ

thấp hơn nhiều so với giá vốn hàng bán ra trong năm cho thấy tình hình tiêu thụ trong

công ty tương đối tốt. Tuy nhiên số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm xuống,

vì tiêu thụ chưa tương xứng với quy mô hoạt động, quy mô sản xuất đang ngày càng

gia tăng. Số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm trung bình đạt 58,69 vòng,

đồng thời làm thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng với giá trị trung bình xoay quanh 8,96 ngày. Nguyên nhân cũng đã được đề cập ở trên do năm các năm này tốc độ tăng

của hàng tồn kho luôn lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán. Do đó công ty cần đẩy mạnh tiêu thụ hơn nữa để đẩy nhanh quá trình chuyển thành tiền của hàng hóa đảm bảo cho nhu cầu thanh toán.

- Chỉ tiêu quản lý các khoản phải thu

46

Để nhìn nhận rõ hơn về tính hiệu quả trong chính sách quản lý các khoản phải

thu tại Công ty, chúng ta còn cần xem xét vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền

bình quân.

Bảng 2.13. Tình hình khoản phải thu

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Doanh thu thuần (VND) 366.051 305.255 468.735

Khoản phải thu KH (VND) 214.390 240.042 232.155

Số vòng quay các khoản phải thu 1,71 1,27 2,02 (Vòng)

Kỳ thu tiền bình quân (Ngày) 210,85 283,09 178,30

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Vòng quay các khoản phải thu từ năm 2011 đến năm 2013 đang có xu hướng

giảm nhưng không đều giữa các năm. Cụ thể:

Năm 2012 giảm so với năm 2011 từ 2,02 vòng xuống còn 1,27 vòng trong năm

2012. Điều đó cho thấy tốc độ quay vòng vốn bị chiếm dụng của Công ty đang kém

hiệu quả hơn. Do đặc thù là đơn vị chuyên cung cấp bên tông tươi thương phẩm cho

các công trình có chu kỳ thi công khá dài nên vòng quay các khoản phải thu của Công

ty khá thấp. Tuy nhiên, đến năm 2013 một lượng khoản phải thu lớn đã được thanh

toán làm cho vòng quay các khoản phải thu đã tăng lên 1,71 vòng và kỳ thu tiền trung

bình giảm xuống còn 210,85 ngày trong năm 2013 so với 283,09 ngày của năm 2012.

Điều này cho thấy trong chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty những

năm 2012 không tốt mặc dù năm 2013 chính sách quản lý khoản phải thu đã tốt hơn do

công ty đã thực hiện nhiều chính sách tín dụng cho khách hàng nhằm kích thích khách

hàng trả nợ, giúp rút ngắn số ngày thu tiền bình quân và tăng tốc độ quay vòng của các

khoản phải thu. Tuy nhiên, nếu so với năm 2011 thì năm 2013 mặc dù tăng nhưng số

vòng quay các khoản phải thu vẫn thấp hơn.

Các khoản phải thu của doanh nghiệp luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng TSNH, không giúp doanh nghiệp sinh lời mà doanh nghiệp còn phải chịu thêm

chi phí quản lý nợ, chi phí thu nợ và chi phí lãi tiền vay do phải huy động từ vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng để tiến hành sản xuất kịp thời bê tông thương phẩm đáp ứng đơn hàng. Như vậy, doanh nghiệp đã để cho một lượng vốn lớn bị chiếm dụng gây ảnh hưởng tới tình hình tài chính cụ thể là TSNH quay vòng chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không cao. Quy mô các khoản phải thu của doanh

nghiệp mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn còn rất lớn, chiếm hơn 90% tổng TSNH của công ty. Vì vậy, doanh nghiệp nên cần có các biện pháp để khắc phục tình trạng

47

này như: biện pháp quản lý nợ chặt chẽ, thẩm định khách hàng, nhanh chóng đề nghị

các bên chủ đầu tư thanh toán công trình, không để phát sinh các khoản nợ xấu, nợ khó

đòi.

- Thời gian quay vòng tiền trung bình

Bảng 2.14. Thời gian quay vòng tiền trung bình

Đơn vị tính: Ngày

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Thời gian quay vòng hàng tồn kho 12,67 11,07 3,13

Kỳ thu tiền bình quân 210,85 283,09 178,30

Thời gian trả nợ trung bình 146,28 180,06 163,54

Thời gian quay vòng tiền trung bình 77,24 114,10 17,89

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo tài chính Công ty)

Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Từ năm 2011 đến năm 2013,

thời gian quay vòng tiền trung bình tăng nhưng biến động. Cụ thể:

Năm 2011 – 2012: Đây là giai đoạn thời gian quay vòng tiền trung bình tăng

mạnh. Chỉ trong một năm, chỉ tiêu này tăng thêm 96,21 ngày. Chỉ tiêu này tăng lên

cho thấy doanh thu thu hồi tiền chậm để quay vòng hoạt động sản xuất kinh doanh,

quản lý kém hiệu quả khi thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở

mức cao.

Sang năm 2013, chỉ số này bắt đầu có xu hướng giảm xuống, khi chỉ đạt mức

77,24 ngày so với 114,10 ngày của năm 2012. Chỉ tiêu này cho biết sau 77,24 ngày thì

số vốn của công ty được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ

khi công ty bỏ vốn ra. Thời gian quay vòng tiền giảm, chứng tỏ công ty sớm thu hồi

được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời

gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời

gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khá cao so với mặt bằng chung các doanh nghiệp khác. Nguyên nhân cũng đến từ loại hình kinh doanh của

công ty là cung cấp bê tông thương phẩm cho các công trình xây dựng với thời gian thi công lâu có thời gian thu hồi vốn chậm.

48

2.2.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

2.2.3.1. Quy mô cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

Cơ cấu TSDH là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản mục trong tài sản dài hạn, thể

hiện mức độ đầu tư, phân bổ tài sản dài hạn trong DN. Qua đó, ta có thể nhận định

được loại hình DN và các chính sách đầu tư dài hạnn của DN. Bên cạnh đó, thông qua

sự biến đổi trong cơ cấu tài sản dài hạn, ta có thể nhìn thấy sự thay đổi tích cực hay không của công tác quản lý, sử dụng tài sản dài hạn tại một DN.

Năm 2011, quy mô tài sản dài hạn của Công ty qua 3 năm phân tích đang có xu

hướng giảm nhưng không đều. Năm 2012, tài sản ngắn hạn giảm từ 148.315 triệu đồng

xuống còn 111.085 triệu đồng (giảm 37.230 triệu đồng, tương ứng vơi tốc độ giảm 25,10%) so với năm 2011. Sang đến năm 2013, quy mô tài sản ngắn hạn lại có xu hướng tăng 27,43% so với năm 2012, tuy nhiên mức tăng này vẫn thấp hơn so với mức giảm vào

năm 2012. Nguyên nhân của sự thay đổi này vừa do sự điều chỉnh của Công ty, vừa do sự

thay đổi tự phát của các khoản mục trong quá trình kinh doanh. Trong đó tài sản cố định

luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản dài hạn, kế đến là các khoản đầu tư tài

chính dài hạn, TSDH khác và công ty không có hoạt động đầu tư vào bất động sản.

Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu tài sản dài hạn tại Công ty CP Xây dựng

và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2 13

Năm 2 12

Năm 2 11

Chỉ tiêu

Giá trị

Tỷ trọng

Tăng so với năm

Giá trị

Tỷ trọng

Tăng so với năm

Giá trị

Tỷ trọng

(%)

(%)

1. Tài sản cố định

2012 32,33 83.508 75,18

2011 (%) (21,19) 105.956 71,44

- Tài sản cố định hữu hình 105.748 74,71

110.505 78,07

37,31 77.015 69,33 (21,61) 98.244 66,24

- Tài sản cố định thuê tài chính

- Chi phí XDCB dở dang

(22,64) 5.295 (31,34) 7.712 4.096 2,89 4,78 5,20

2. Bất động sản đầu tư

661 0,47 (44,82) 1.198 - 1,08 0,00 0

3. Các khoản đầu tư tài

0 0,00 0,00 0 0,00 0,00 0,00 0

chính dài hạn

4. Tài sản dài hạn khác

26.159 18,48 2,19 25.599 23,04 (35,15) 39.472 26,61

4.890 3,45 147,22 1.978 1,78 (31,51) 2.888 1,95

TÀI SẢN DÀI HẠN

141.554 100,00 27,43 111.085 100,00 (25,10) 148.315 100,00

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

49

Tài sản cố định: năm 2011, khoản mục này chiếm tỷ trọng 71,44% trong tổng

tài sản dài hạn và có xu hướng tăng về những năm tiếp theo. Năm 2012 tài sản cố định

tăng lên mức 75,18%, năm 2013 tiếp tục tăng lên mức 78,07% trong tổng tài sản dài hạn. Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, tài sản cố định của công ty luôn luôn

tăng lên do công ty tích cực mua sắm thêm và thuê tài chính tài sản cố định phục vụ

cho quá trình sản xuất cũng như chủ trương mở rộng quy mô của công ty.

Tài sản cố định của công ty hiện có bao gồm lượng tài sản cố định hữu hình, tài

sản cố định thuê tài chính và chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Tài sản cố định hữu hình qua 3 năm phân tích cũng có sự thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tăng. Chính điều

này đã làm cho tài sản cố định của công ty qua 3 năm tăng lên. Năm 2010, tài sản cố

định hữu hình tài công ty có trị giá 98.244 triệu đồng nhưng đến năm 2013, trị giá của

tài sản cố định hữu hình đã tăng lên tới 105.748 triệu đồng (tăng 37,31% so với năm 2012), chiếm 74,71% trong cơ cấu tài sản dài hạn. Có thể thấy lượng tài sản cố định hữu hình có một vai trò hết sức quan trọng đối với công ty được thể hiện qua trị giá

lớn trên 70% tài sản dài hạn. Tài sản cố định hữu hình tăng cho thấy công ty đã tích

cực đầu tư vào quy mô dây chuyền, các thiết bị, công nghệ hỗ trợ để mở rộng quy mô,

mở rộng thị trường kinh doanh. Tài sản cố định hữu hình của công ty đang sở hữu bao

gồm là hệ thống trạm trộn hiện đại với tổng công suất lớn, 65 đầu xe trộn, 2 bơm cần,

5 bơm cần và 7 bơm tĩnh.

Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của công ty giảm cho thấy tình hình xây dựng

mới, sửa chữa, nâng cấp hệ thống trạm bơm bê tông của công ty đang đươc gấp rút

hoàn thành để đưa vào hoạt động để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô, thị trường của

công ty cũng như nhu cầu bê tông thương mại ngày càng tăng trong thời gian tới.

Tài sản cố định thuê tài chính của công ty đang có xu hướng giảm dần qua 3

năm phân tích cho thấy công ty đang có động thái hạn chế sự lệ thuộc vào các nguồn

tài sản bên ngoài công ty và tăng cường chủ động trong việc sử dụng tài sản bằng việc

mua sắm thêm tài sản riêng. Tài sản cố định thuê tài chính của công ty chủ yếu là các

loại phương tiện vận tải truyền dẫn và mặt bằng đất cho thuê.

Đầu tư tài chính dài hạn: Có thể thấy công ty rất chú trọng hoạt động đầu tư tài chính dài hạn vào các công ty liên doanh liên kết. Tuy nhiên do tình hình kinh doanh không hiệu quả cũng, lợi nhuận đem về từ hoạt động đầu tư tài chính không ổn định, thêm vào đó nhu cầu sử dụng vốn tại công ty lớn nên công ty đã rút một phần vốn đầu tư liên kết về để bổ sung vốn kinh doanh. Chính điều này đã làm cho tỷ trọng khoản mục đầu tư tài chính dài hạn giảm trong 3 năm phân tích. Cụ thể, năm 2011 tỷ trọng

khoản mục đầu tư tài chính dài hạn ở mức 26,61%, tuy nhiên sang đến năm 2012 tỷ

50

trọng giảm xuống còn 23,04%. Tình trạng giảm vẫn tiếp tục tiếp diễn trong năm 2103

khi tỷ trọng khoản mục đầu tư tài chính chỉ còn 18,48% trong tài sản dài hạn. Như

vậy, sau 3 năm phân tích, khoản mục đầu tư tài chính dài hạn đã giảm 13.313 triệu đồng, tương ứng với tốc độ giảm 33,72%.

Tài sản dài hạn khác: Các tài sản dài hạn còn lại trong Công ty chiếm tỷ trọng

khá nhỏ trong tổng tài sản dài hạn, trong đó chủ yếu là t chi phí trả trước dài hạn. Sự

tăng lên của khoản mục trong 3 năm phân tích cho thấy các khoản chi phí trả trước dài

hạn (chủ yếu là khoản tiền chi thuê mặt bằng và thuê tài sản cố định) cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong khoản mục tài sản dài hạn hạn khác. Cụ thể là tỷ trọng tài

sản ngắn hạn khác đã tăng từ 1,95% ở năm 2011 lên 3,45% vào năm 2013.

2.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài dài hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng

và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp về tài sản dài hạn

Bảng 2.16. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn

Chênh lệch Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2013 2012 2011 2013/2012 2012/2011

Hiệu suất sử dụng TSDH (Lần) 2,59 2,75 3,16 (0,16) (0,41)

Suất hao phí TSDH so với 0,39 0,36 0,32 0,02 0,05 doanh thu (Lần)

Suất hao phí của TSDH so với 247,91 151,55 43,32 96,36 108,23 LNST (Lần)

Tỷ suất sinh lời của tài sản dài 0,40 0,66 2,31 (0,26) (1,65) hạn (%)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

- Hiệu suất sử dụng TSDH và Suất hao phí của TSDH so với doanh thu

thuần

Qua bảng 2.6 ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm

từ năm 2011 đến 2013. Cụ thể:

Năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản đạt 2,75 lần, thấp hơn so với năm 2011 là 0,41 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng tài sản dài hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh năm 2012 thì sẽ thu được 2,75 đồng doanh thu thuần, ít hơn năm 2011 là 0,41 đồng doanh thu thuần. Ngược lại với hiệu suất sử dụng tài sản, suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu hầu chỉ tăng thêm 0.05 lần từ năm 2011 đến 2012 và ở mức

51

0,36 lần. Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra

0,36 đồng TSDH năm 2012. Hệ số này khá ổn định trong 2 năm này.

Năm 2012 - 2013: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn trong thời gian này vẫn tiếp tục giảm và giảm xuống mức 2,59 lần, tức là một đồng tài sản dài bỏ ra chỉ thu được

2,59 đồng doanh thu thuần vào năm 2013. Và suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với

doanh thu tăng lên đến 0,39 lần, tức là để có 1 đồng doanh thu thì công ty phải bỏ ra

0,39 đồng tài sản dài hạn trong năm 2013.

Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức khá cao, trung bình ở mức 2,83 lần. Năm 2013, Công ty bắt đầu mở rộng thêm dây chuyền sản

xuất bê tông tươi bước đầu đã đem lại tín hiệu khả quan khi doanh thu thuần năm 2013

đã tăng trở lại. Năm 2013, doanh thu thuần tăng với tốc độ 19,92%, trong khi lợi

nhuận sau thuế lại giảm 22,10%, tài sản dài hạn tăng 27,43%. Do đó, việc sử dụng tài sản dài hạn chưa thực sự hiệu quả là vấn đề mà công ty cần xem xét.

Bảng 2.17. Thời gian một vòng quay TSDH

Chỉ tiêu

Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11 3,16 2,59 2,75 Số vòng quay TSDH (Vòng)

139 131 114 Thời gian 1 vòng quay TSNDH (Ngày)

(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)

Thời gian vòng quay của TSDH ở mức khá cao, trung bình mỗi vòng quay của

TSDH bình quân mất từ 114 ngày đến 139 ngày. Điều này chứng tỏ TSDH của công ty

vận tương đối chậm.

Từ năm 2011 đến năm 2012 số vòng quay TSDH giảm từ 3,16 vòng xuống còn

2,75 vòng (giảm 0,41 vòng) đồng nghĩa với việc thời gian 1 vòng quay TSDH tăng lên

từ 114 ngày lên 131 ngày. Điều đó cho thấy TSDH vận động ngày càng chậm, hiệu

suất sử dụng tài sản dài hạn giảm, hạn chế việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho

công ty.

Năm 2013, tài sản dài hạn tiếp tục tăng thêm 27,43% trong khi doanh thu thuần

chỉ tăng 19,92%. Vì vậy, trong năm này, phải mất tới 139 ngày mới hết một vòng quay tài sản dài hạn.

- Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận

Nhìn chung, suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế đều tăng qua các năm. Riêng năm 2012, khi nền kinh tế vẫn đang chịu dư âm ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, khủng hoảng nợ, giá trị tài sản dài hạn bình quân giảm 25,10% trong khi lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn với tốc độ giảm 78,59% đã làm cho suất hao

52

phí TSNH so với lợi nhuận sau thuế tăng đột ngột từ 43,32 lần lên 151,55 lần chỉ trong

1 năm. Đây thực sự là một con số đáng kể. Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi

nhuận sau thuế thì cần tới 151,55 đồng TSDH năm 2012. Sang đến đến năm 2013 chỉ tiêu này ở mức cao nhất trong 3 năm ở mức 247,91 lần chứng tỏ việc sử dụng TSDH

chưa đạt hiệu quả cao. Qua bảng cân đối kế toán có thể thấy các khoản mục TSDH của

năm sau cao hơn so với năm trước trong khi lợi nhuận sau thuế của công ty giảm mạnh

so với năm trước khiến cho để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế, cần tới chiều đồng tài sản

dài hạn hơn.

- Tỷ suất sinh lời của TSDH

Trong năm 2012, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn TSDH. Điều này dẫn tới tỷ

suất sinh lời của tài sản dài hạn năm 2012 giảm thêm 1,65% so với năm 2011 và đạt

mức 0,66%. Có nghĩa là so với năm 2011, trong năm 2012, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản dài hạn thì tạo ra 0,66 đồng lợi nhuận sau thuế, trong khi năm 2011 tạo ra 2,31 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời trên TSDH giảm mạnh đồng nghĩa với

việc doanh nghiệp sử dụng tài sản dài hạn kém hiệu quả hơn so với năm 2011.

Sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn tiếp lục giảm nhẹ 0,26%

và ở mức 0,40%. Đó là do tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế là 21,10% trong khi tài

sản dài hạn trong năm tăng thêm 27,43. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài

hạn của công ty trong năm 2013 không được cải thiện.

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bộ phận của tài sản dài hạn

Bảng 2.18. Tình hình quản lý tài sản cố định

Chỉ tiêu Năm 2 13 Năm 2 12 Năm 2 11

Sức sản suất của TSCĐ (Lần) 3,31 3,66 4,42

Suất hao phí của TSCĐ (Lần) 0,30 0,27 0,23

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ (%) 0,52 0,88 3,23

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

- Sức sản xuất của TSCĐ

Sức sản xuất của tài sản cố định là một trong những tỷ số tài chính đánh giá khái quát hiệu quả sử dụng tài sản, ở đây là tài sản cố định của doanh nghiệp. Nhìn chung,

sức sản xuất của TSCĐ của công ty trong 3 năm qua luôn có biến động và hiện tại có khuynh hướng giảm. Năm 2011, một đồng tài sản cố định tạo ra 4,42 đồng doanh thu thuần. Sang đến năm 2012, sức sản suất của TSCĐ đã giảm xuống chỉ còn 3,66 lần, tương ứng với một đồng tài sản cố định lúc này chỉ tạo ra được 3,66 đồng doanh thu thuần. Năm 2013 doanh thu thuần tăng từ 305.255 triệu đồng lên tới 366.051 triệu

53

đồng (tăng 19,92%) trong khi tốc độ tăng của nguyên giá bình quân TSCĐ cao hơn tốc

độ tăng của doanh thu thuần với tốc độ tăng là 32,33% nên sức sản xuất của TSCĐ

giảm so với năm 2012, xuống còn 3,31 lần.

Sở dĩ sức sản xuất của TSCĐ giảm từ năm 2011 đến năm 2013 nguyên nhân là

do nguyên giá bình quân TSCĐ tăng mạnh: Công ty mở thêm 4 trạm bê tông tự động, đó là trạm Thanh Trì với công suất 240m3/h, trạm Mỹ Đình với công suất 120m3/h, tramh Láng hòa lạc công suất 60m3/h và trạm Mỹ Đình với công suất 90m3/h, đồng thời thuê tài chính thêm 03 xe bơm cần và 01 xe bơm tĩnh nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất, tiết kiệm thời gian đi lại cho đội vận chuyển. Mục tiêu đầu tư của công ty nhằm

đáp ứng cho chiến lược phát triển cao về quy mô và sản lượng sản xuất, tăng sức cạnh

tranh trên thị trường. Tuy vậy, sự đầu tư mới này đã chưa thể góp phần gia tăng doanh

thu thuần một cách hiệu quả nhất, làm cho sức sản xuất của TSCĐ thấp đi. Tuy nhiên sẽ hứa hẹn một tiềm lực lớn trong những năm sắp tới.

- Suất hao phí của TSCĐ

Cùng với sự biến động của sức sản xuất TSCĐ qua các năm trên, sức hao phí

TSCĐ tăng từ năm 2011 tới năm 2013, từ 0,23 lần năm 2011 lên 0,30 lần vào năm

2013. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải hao phí bao

nhiêu đồng giá trị còn lại của TSCĐ. Chỉ tiêu này tăng lên cho thấy công ty chưa có

biện pháp khai thác TSCĐ một cách hợp lý hơn năm trước khiến chi phí đầu tư TSCĐ

tăng lên.

Suất hao phí TSCĐ tuy có tăng nhưng tăng không nhiều qua các năm quay

xung quanh giá trị 0,27 lần. Ngược với chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ, hệ số này có

xu hướng tăng do tốc độ tăng của giá trị còn lại của TSCĐ lớn hơn rất nhiều so với tốc

độ tăng của doanh thu thuần. Việc đầu tư trong thiết bị có thể giúp công ty tăng doanh

thu nhưng nhu cầu thị trường cũng là một yếu tố quan trọng. Thị trường xây dựng chịu

tác động trước những khó khăn của nền kinh tế ảm đạm khiến sản lượng sản xuất ra

không nhiều do không có đơn hàng.

- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSCĐ sử dụng trong kỳ. Trong năm 2011, cứ 100 đồng TSCĐ thì tạo ra 3,23 đồng lợi nhuận, đến năm 2012 thì chỉ tạo ra 0,88 đồng lợi nhuận, giảm 2,35 đồng so với năm 2011.

Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời của TSCĐ tiếp tục giảm xuống còn 0,52%, tức là cứ 100 đồng TSCĐ thì chỉ tạo được 0,52 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do lợi nhuận sau thuế thấp và giảm qua mỗi năm mặc dù năm 2013

54

Công ty đầu tư mua thêm trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất bê

tổng tươi.

2.3. Nhận xét hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ

Thƣơng mại Việt – Hàn

2.3.1. Kết quả đạt được

Mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm có sự thay đổi

không đều nhưng nhìn vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy, mặc dù kinh

doanh có giảm sút nhưng Công ty vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước. Việc đóng thuế đầy đủ giúp Công ty tránh khỏi những rắc rối trong hoạt động

kiểm toán, thanh tra của Nhà nước. Đồng thời, điều này còn giúp Công ty tạo được sự

tin tưởng đối với Nhà nước nói chung và Ngân hàng nói riêng khi có nhu cầu xin vay

vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh.

Nguồn cung bê tông luôn được đảm bảo từ hệ thống 3 địa điểm kinh doanh, 04 trạm bê tông tự động và hàng loạt xe vận chuyển bê tông, hệ thống bơm đẩyhiện đại

theo tiêu chuẩn của viện đo lường Việt Nam. Doanh thu thuần từ hoạt động kinh

doanh đã tăng trở lại, vì vậy Công ty luôn đảm bảo có lợi nhuận sau thuế qua các năm.

Điều này cho thấy công ty đã có chính sách quản lý các khoản đầu tư hợp lý. Công ty

luôn đảm đảm lợi nhuận kinh doanh hàng năm khi mức lợi nhuận sau thuế luôn dương

qua mỗi năm.

Quy mô tài sản qua 3 năm tăng lên cho thấy công ty cũng đang chú trọng đầu tư

cho tài sản không những giúp công ty tăng quy mô công ty và còn giúp tạo nên tính

cạnh tranh với các đơn vị khác trong ngành. Công ty luôn duy trì tài sản ngắn hạn ở

mức cao để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, điều này giúp công ty

có thể hoạt động kinh doanh ổn định mà không phải chịu sức ép lớn từ các khoản nợ.

Tuy nhiên công ty cần chú ý tới lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền để

đảm bảo cho các giao dịch thanh toán nhanh. Các khoản phải thu khách hàng của công

ty nhìn chung đã giảm xuống cho thấy công tác thu hồi nợ từ phía khách hàng đang ngày một hiệu quả, tuy nhiên mức giảm còn khá thấp, vì vậy công ty cần đẩy mạnh

hơn nữa hoạt động thu hồi vốn từ phía khách hàng đểm đảm bảo tính thanh khoản của nguồn vốn, bổ sung thêm vốn vào hoạt động kinh doanh.

Nhìn chung công ty đã chấp hành đầy đủ các quy định về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp khi cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế, đảm bảo sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả.

55

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Tổng tài sản đang có xu hướng tăng trong các năm gần đây. Trong đó, tài sản

dài hạn đang tăng dần tỷ trọng và năm 2013 chiếm khoảng 34,36% tổng tài sản, do các khoản đầu tư vào việc xây dựng thêm trạm bê tông phục vụ cho quá trình sản xuất.

Cùng với đó, hệ thống thiết bị cũng được đầu tư thêm đáp ứng quy mô sản xuất tăng

lên. Tài sản ngắn hạn vẫn chiếm một tỷ trọng rất cao ( năm 2013 là 65,64%) và trong

đó chủ yếu là khoản phải thu (khoảng 94,48% TSNH, 62,01% tổng tài sản năm 2013).

Khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sản có nghĩa là một tỷ lệ khá lớn tài sản ngắn hạn của Công ty đã tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu bị khách

hàng chiếm dụng. Điều này sẽ ảnh hướng đến công tác thu hồi vốn kinh doanh cũng

như khả năng thanh toán của Công ty. Việc này là rất nguy hiểm, bởi nó sẽ gây ra tình

trạng ứ đọng vốn khi trong thời điểm hiện nay, Công ty luôn trong tình trạng cần vốn đề đầu tư. Bên cạnh đó nếu Công ty vẫn không giảm thêm được các khoản phải thu thì một số khoản trở thành nợ khó đòi đối với Công ty, ảnh hưởng không nhỏ đến việc kế

hoạch hoá ngân quỹ Công ty cũng như tốc độ luân chuyển và hiệu quả sử dụng tài sản.

Hệ số thanh toán bằng tiền nhỏ khiến công ty gặp khó khăn trong việc thanh

toán công nợ, nhất là các khoản nợ đến hạn vì không đủ lượng tiền và tương đương

tiền trong công ty. Nguyên nhân là do khoản tiền trong công ty là quá nhỏ và có trong

khi khoản nợ ngắn hạn và dài hạn thì lại rất lớn và cần phải chi trả. Lượng tiền giảm

mạnh là do năm 2013 công ty đầu tư tiền mặt vào mua máy móc, trạm bê tông, thực

hiện thanh toán các chi phí phát sinh. Do đó, công ty cần chú trọng đến quá trình thu

nợ trong khoản phải thu để có đủ tiền mặt đáp ứng cho nhu cầu của công ty đồng thời

có những biện pháp sản xuất phù hợp. Ngoài ra, cũng cần có kế hoạch dự báo dòng

tiền trong tương lai để nhanh chóng tìm ra những biện pháp bổ sung thêm lượng tiền

mặt ở mức vừa phải đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định,

liên tục.

Với đặc thù của ngành vật liệu xây dựng việc dự trữ hàng tồn kho của doanh

nghiệp cũng có những đặc điểm riêng như: vật tư, vật liệu xây dựng thường có khối lượng lớn (sỏi, cát, chất keo...). Tuy nhiên việc dự trữ quá nhiều và ngày càng tăng

cũng có thể gây ra các khoản chi phí lưu kho rất lớn đòi hỏi doanh nghiệp vẫn cần phải có mức dự trữ hợp lý tránh trường hợp thị trường nguyên vật liệu có biến động bất lợi làm gián đoạn sản xuất gây ảnh hưởng tới tiến độ thi công cũng như giảm thiểu tối đa chi phí lưu kho.

Trong 3 năm, các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng giảm theo chiều

hướng kém hiệu quả hơn. Chỉ số này của công ty luôn giữ ở mức trung bình khoảng

56

1,67 vòng tương ứng với kỳ thu tiền trung bình là 224 ngày chứng tỏ công tác thu hồi

nợ của doanh nghiệp được đánh giá là chưa tốt. Các khoản phải thu của doanh nghiệp

luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng TSNH, không giúp doanh nghiệp sinh lời mà doanh nghiệp còn phải chịu thêm chi phí quản lý nợ, chi phí thu nợ và chi phí lãi

tiền vay do phải huy động từ vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng để tiến

hành sản xuất kịp thời bê tông thương phẩm đáp ứng đơn hàng. Như vậy, doanh

nghiệp đã để cho một lượng vốn lớn bị chiếm dụng gây ảnh hưởng tới tình hình tài

chính cụ thể là TSNH quay vòng chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không cao.

Tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm một phần khá lớn trong tổng tài sản của công

ty (khoảng 34,36% tổng tài sản năm 2013). Tài sản dài hạn của công ty gia tăng hàng

năm (giá trị tuyệt đối) chứng tỏ cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty ngày càng được

tăng cường và quy mô năng lực sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên sự đầu tư mới này đã chưa thể góp phần gia tăng doanh thu thuần năm 2013 một cách hiệu quả nhất, lợi nhuận sau thuế của công ty còn thấp hơn so với năm

2012 làm cho sức sản xuất của TSCĐ và tỷ suất sinh lời của TSCĐ giảm và thấp hơn

so với năm 2012. Nhưng sẽ hứa hẹn một tiềm lực lớn trong những năm sắp tới. Công

ty cần phát huy hơn nữa trong việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm cạnh tranh

tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay và trong tương lai.

57

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI VIỆT – HÀN

3.1. Cơ hội phát triển của Công ty trong thời gian tới

Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, trong năm 2014, ngành Xây

dựng sẽ tập trung vào 12 nhiệm vụ trong tâm của Ngành. Trong đó, Bộ Xây dựng sẽ

tiếp tục tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực của Ngành,

trọng tâm là hoàn thiện để trình Quốc hội, Chính phủ thông qua Luật Xây dựng (sửa

đổi) và các Nghị định hướng dẫn thực hiện, Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); nghiên cứu các cơ chế, chính sách để thu hút, huy động các

nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị…

Đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, rà soát

điều chỉnh bổ sung các quy hoạch vùng, quy hoạch chung trên phạm vi cả nước, đẩy

nhanh tốc độ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết...; Tiếp tục triển khai

thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát

trong đầu tư xây dựng và thực hiện Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, tăng cường quản lý

và kiểm soát chặt chẽ các dự án phát triển đô thị theo quy hoạch, kế hoạch...

Năm 2014 cũng là năm ngành Xây dựng sẽ tập trung đẩy mạnh thực hiện Chiến

lược phát triển nhà ở quốc gia; hoàn thành việc phê duyệt các chương trình phát triển

nhà ở của các địa phương; triển khai thực hiện Nghị định số 188/2013/NĐ-CP về quản

lý và phát triển nhà ở xã hội (NOXH); tích cực thực hiện các chương trình phát triển

NOXH, nhà ở cho người thu nhập thấp khu vực đô thị, các chương trình hỗ trợ nhà ở

cho người có công, các hộ nghèo khu vực nông thôn, khu vực thường xuyên chịu ảnh

hưởng của bão, lũ.

Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho

thị trường BĐS gắn với thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia; Tăng cường

quản lý vật liệu xây dựng theo quy hoạch; Tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành Xây dựng.

Như vậy, trước sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Xây dựng đối với ngành Xây

dựng thì thị trường nguyên vật liệu xây dựng sẽ có xu hướng tốt lên trong thời gian tới. Công ty CP Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn nên tận dụng những mối quan hệ thân thiết với các công ty xây dựng, các nhà mời thầu có liên quan, đồng thời tích cực đấu thầu để dành cho mình những gói thầu xây dựng hay những gói thầu cung cấp bê tông thương mại cho các công trình xây dựng có giá trị cao, nhằm tìm kiếm và tăng nguồn doanh thu cho công ty trong thời gian tới. [6]

58

3.2. Định hƣớng phát triển trong thời gian tới của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn

Kể từ khi thành lập cho tới nay, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển. Ý

thức sâu sắc được những cơ hội, thách thức trong giai đoạn hiện nay, Công ty đã đề ra

định hướng phát triển và mục tiêu chiến lược trong thời gian tới như sau:

Định hƣớng phát triển: Sự phát triển của Công ty phải gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước.

Mở rộng và đa dạng hóa quan hệ hợp tác kinh doanh với các đối tác trong nước

và đối tác nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tăng cường tìm kiếm những nhà phân

phối mới để chủ động về nguồn nguyên liệu, mua với giá tốt hơn, đồng thời công ty cần phải có chính sách quản lý chi phí bán hàng, nhờ vậy mới giảm được các chi phí và giá vốn hàng bán. Tuy nhiên, để công ty phát triển một cách bền vững và ổn định,

công ty cũng cần phải thiết lập mối quan hệ tốt với những nhà cung cấp đã có.

Tăng cường khẳng định vị trí, uy tín của mình đối với khách hàng, bạn hàng

thông qua cải tiến chất lượng dịch vụ, hợp tác cùng có lợi.

Dựa vào các ưu thế sẵn có để tăng cường phát huy tiềm lực. Coi trọng yếu tố

con người, công nghệ trong sự phát triển bền vững của Công ty. Tăng cường hoạt

động của vốn, khai thác triệt để nguồn vốn tín dụng ưu đãi với mức lãi suất thấp. Về

vấn đề quay vòng vốn, quản lý tốt các khoản phải thu, khoản đến hạn hoặc quá hạn để

kịp thời có biện pháp thích hợp, tránh tình trạng vốn của công ty bị chiếm dụng bởi

các khách hàng quá lâu.

Công ty cần quan tâm tới các khoản phải trả, lập kế hoạch trả nợ để giữ uy tín

với nhà cung cấp. Đồng thời, công ty cũng cần quản lý các khoản phải thu thật tốt để

thu đúng hạn, tránh tình trạng chiếm dụng vốn quá lâu hay mất vốn gây ảnh hưởng đến

tình hình tài chính của công ty.

Mục tiêu chiến lƣợc:

- Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết bị,

máy móc, phương tiện vận chuyển.

- Về thị phần: Giữ vững và phát triển thị phần hiện có, tham gia thị trường khi có

điều kiện thuận lợi và đạt hiệu quả.

- Tiếp tục duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

9001: 2000 trong các đơn vị phục vụ. [5]

59

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt – Hàn

Qua phần phân tích chi tiết thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn từ năm 2011 đến năm 2013, tuy

công ty có những bước phát triển nhất định nhưng trong tình hình tài chính của công ty

còn khá nhiều bất cập, đòi hỏi quản trị công ty cần có những giải pháp tức thời cũng

như lâu dài cho vấn đề quản lý tài sản của công ty cho năm tài chính tiếp theo. Muốn

nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản thì bản thân doanh nghiệp phải chủ động sáng tạo, hạn chế những khó khăn, phát triển những thuận lợi để tạo ra môi trường hoạt động có

lợi cho mình. Vai trò quyết định của doanh nghiệp được thể hiện qua hai mặt; thứ

nhất, biết khai thác và tận dụng những điều kiện và yếu tố thuận lợi của môi trường

bên ngoài và thứ hai, doanh nghiệp phải chủ động tạo ra những điều kiện, những yếu tố cho chính bản thân mình để phát triển. Cả hai mặt này cần được phối hợp đồng bộ thì mới tận dụng được tối đa các nguồn lực, kinh doanh mới đạt hiệu quả tối ưu. Dưới

đây là những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng tài sản của của Công ty Cổ

phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn.

3.3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty

3.3.1.1. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu

Quản lý khoản phải thu khách hàng là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp

trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp của tất cả các doanh nghiệp. Đặc biệt

với Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn khi các khoản phải

thu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn (trên 30%). Việc tăng khoản

phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu

hồi nợ, chi phí trả lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn thiếu do vốn của doanh nghiệp

bị khách hàng chiếm dụng. Hơn nữa, tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với

doanh nghiệp dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu hồi được do

khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu có một chính sách tín dụng hợp lý doanh nghiệp sẽ thu hút được khách hàng, làm tăng doanh thu và lợi

nhuận. Vì vậy, để quản lý khoản phải thu từ khách hàng, Công ty cần thực hiện một số biện pháp sau:

Đối với công tác thu hồi nợ: Thường xuyên theo dõi khoản phải thu và đôn đốc, ghi nhận thời hạn trả nợ của khách hàng, gửi thư thông báo thời hạn trả nợ hoặc điện thoại với khách hàng xác nhận thời hạn trả nợ. Muốn thế, công ty nên chủ động liên hệ với khách hàng sớm, thay vì chờ đến ngày hoá đơn hết hạn thanh toán. Điều này

không chỉ giúp công ty quản lý tốt các khoản phải thu, mà còn giúp công ty giữ được

60

mối quan hệ tốt với khách hàng. Công ty có thể đầu tư phần mềm quản lý công nợ,

giúp việc theo dõi khoản nợ nhanh chóng, chính xác, hiệu quả và giảm bớt nhân sự

trong công tác quản lý công nợ.

Đối với công tác quản trị các khoản phải thu: Công ty cần xác định xác đáng tỷ

lệ các khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của

chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách,

công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, từ đó nắm bắt những thông

tin tín dụng tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho phù hợp. Để làm được điều này, cần phải theo dõi các khoản phải thu sắp tới hạn

có chính sách thu tiền thích ứng.

Đánh giá hiệu quả quản trị khoản phải thu: Nhằm xác định xác đáng tỷ lệ các

khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách, công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, từ đó nắm bắt những thông tin tín

dụng tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho

phù hợp. Để làm được điều này, cần phải theo dõi các khoản phải thu sắp tới hạn có

chính sách thu tiền thích ứng.

Một chính sách tín dụng thương mại được xây dựng cẩn thận dựa trên việc so

sánh lợi ích tăng thêm từ doanh thu tăng, giá bán cao với các chi phí liên quan đến

thực hiện chính sách tín dụng tăng tương ứng, sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

Sử dụng mô hình điểm tín dụng cũng là một các quản trị tốt các khoản phải thu, để

doanh nghiệp có cơ hội xoay nhanh đồng vốn hiện có và giảm áp lực vốn vay.

Dựa vào các tiêu chí thu thập và tổng hợp lại trong hệ thống thông tin về tín

dụng của khách hàng để Công ty đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay chính sách

thương mại cho khách hàng hay không. Để thực hiện được điều này, Công ty nên sử

dụng phương pháp phân nhóm khách hàng theo mức độ rủi ro.

Để phân nhóm rủi ro, doanh nghiệp có thể sử dụng mô hình cho điểm tín dụng

như sau:

Điểm tín dụng = 4 * Khả năng thanh toán lãi + 11 * Khả năng thanh toán

nhanh + 1 * Số năm hoạt động

Trong công thức trên, với số năm hoạt động càng lâu thì khả năng quản lý tài

chính càng cao và theo đó, công ty cũng có khả năng trả nợ nhanh hơn.

Sau khi tính được điểm tín dụng như trên, ta có thể xếp loại theo các nhóm rủi

ro như sau:

61

Bảng 3.1. Mô hình tính điểm tín dụng

Biến số Trọng số Điểm tín dụng Nhóm rủi ro

Khả năng thanh toán lãi 4 >47 1

Khả năng thanh toán nhanh 11 40-47 2

Số năm hoạt động 1 32-39 3

24-31 4

<24 5

Như vậy, các khách hàng thuộc nhóm 1 có thể được mở tín dụng mà không cần

phải xem xét nhiều, gần như tự động và vị thế của các khách hàng này có thể được

xem xét lại mỗi năm một lần. Các khách hàng thuộc nhóm 2 có thể được cung cấp tín

dụng trong một thời hạn nhất định và vị thế của các khách hàng này có thể được xem

xét lại mỗi năm hai lần. Và cứ tương tự như vậy, Công ty xem xét đến các nhóm khách

hàng 3, 4, 5. Để giảm tiểu tổn thất có thể xảy ra, có thể Công ty sẽ phải yêu cầu khách

hàng nhóm 5 thanh toán tiền ngay khi nhận hàng hóa, dịch vụ. Yêu cầu tín dụng khác

nhau đối với các khách hàng ở những nhóm rủi ro khác nhau là hoàn toàn hợp lý. Tuy

nhiên, phải làm thế nào đó để việc phân nhóm là chính xác, không bị nhầm lẫn khi

phân nhóm.

Ví dụ cụ thể cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà, là một trong

những khách hàng của Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn.

Năm 2013, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn có cung cấp

bê tông tươi cho công trình nhà ở cho cán bộ công nhân viên viện bỏng Lê Hữu Trác

do Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà làm chủ thầu. Dựa trên báo cáo tài

chính quý 2/2014 của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà, áp dụng phương

pháp tính điểm tín dụng ta có bảng số liệu sau đây:

Bảng 3.2. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty Cổ phần Đâu tƣ và Xây lắp Sông Đà

Chỉ tiêu Công thức ĐVT Trọng số Giá trị

Tài sản ngắn hạn Triệu đồng 154.697

Hàng tồn kho Triệu đồng 17.352

Nợ ngắn hạn Triệu đồng 93.695

EBT Triệu đồng 130

Chi phí lãi vay Triệu đồng 754

EBIT Triệu đồng 822

62

Khả năng trả lãi Lần 4 1,09 EBIT Chi phí lãi vay

Lần 11 1,47 TSNH - Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh

Số năm hoạt động Năm 1 18

Điểm tín dụng 38,53

(Nguồn: Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà (SDD) - S.Cafef.vn)

Với số điểm tín dụng đạt 38,53 điểm thì khách hàng này được xếp vào nhóm rủi ro số 3. Tức là mức độ rủi ro trung bình. Với khách hàng này, Công ty có thể yêu cầu thanh toán trả ngay hoặc mở tín dụng với điều khoản tín dụng “2/15 net30”.

Định kỳ công ty nên xem xét, đánh giá hiệu quả quản trị các khoản phải thu qua

các chỉ tiêu sau:

Doanh thu thuần được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, khoản phải thu bình

quân là số bình quân đầu kỳ và cuối kỳ được lấy từ bảng cân đối kế toán của công ty.

Kết quả là, số lần trong năm doanh thu tồn tại dưới khoản phải thu. Vòng quay khoản

phải thu cao là một điều tốt, có nghĩa là khách hàng thanh toán tiền đúng hoặc ngắn

hơn thời hạn của chính sách tín dụng thương mại. Tuy nhiên, nếu vòng quay khoản

phải thu quá cao, có nghĩa là công ty có chính sách tín dụng thương mại thắt chặt (thời

hạn bán chịu ngắn) và không mở rộng đủ tín dụng cho khách hàng. Do đó, công ty cần

đánh giá mức độ hợp lý vòng quay các khoản phải thu của mình qua việc so sánh với

vòng quay các khoản phải thu của các công ty cùng ngành hoặc trung bình của ngành.

Kỳ thu tiền bình quân cho biết trung bình mất bao nhiêu ngày để một khoản

phải thu được thanh toán. Để có thể đánh giá hiệu quả thu tiền qua kỳ thu tiền bình

quân, công ty có thể so sánh với kỳ thu tiền bình quân của các năm trong quá khứ. Nếu

kỳ thu tiền ngày càng tăng, có nghĩa là các khoản phải thu không được chuyển đổi

thành tiền mặt nhanh chóng; ngược lại kỳ thu tiền bình quân có xu hướng giảm, cho

thấy hiệu quả của công tác quản trị khoản phải thu mà công ty đang thực hiện là khả quan. Ngoài ra, công ty cũng cần so sánh kỳ thu tiền bình quân với thời hạn của chính sách tin dụng thương mại. Nếu kỳ thu tiền bình quân, ví dụ là 50 ngày, nhưng chính

sách tín dụng của công ty cho phép thời hạn nợ 30 ngày (net 30). Điều này cho thấy, công ty cần xem lại công tác quản trị khoản phải thu của mình.

3.3.1.2. Quản lý chặt chẽ hàng tồn kho

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Công ty được diễn ra liên tục, việc dự trữ nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Lượng hàng tồn kho này liên quan đến các

chi phí như: chi phí bốc xếp, bảo hiểm, chi phí do giảm giá trị hàng hoá trong quá trình dữ trữ, chi phí hao hụt, mất mát, chi phí bảo quản, chi phí trả lãi tiền vay,…

63

Hiện tại, Công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc

cung cấp hay dự trữ nguyên vật liệu cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm,

việc đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, Công ty cần nghiên cứu, lựa

chọn phương pháp quản lý tồn kho một cách thích hợp.

Để quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu, Công ty cần quản lý thông qua định mức

tiêu hao nguyên vật liệu, định mức tồn kho nguyên vật liệu và công tác mua sắm

nguyên vật liệu.

- Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu

Công ty cần xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng lĩnh vực hoạt

động kinh doanh của Công ty, từ đó xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho

toàn Công ty nhằm kiểm soát được định mức tiêu hao một cách toàn diện, đồng thời kiểm soát được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Việc đưa ra định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần đi kèm với cơ chế tiền lương phù hợp để thúc

đẩy cán bộ công nhân viên trong Công ty tăng cường tiết kiệm, nỗ lực tìm tòi và phát

huy sáng kiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý.

Định mức tiêu hao nguyên vât liệu cần được thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh

cho phù hợp đảm bảo vừa tiết kiệm chi phí mà vẫn cung cấp cho khách hàng sản

phẩm, dịch vụ chất lượng.

- Xác định mức tồn kho nguyên vật liệu

Đây là việc xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu để đảm bảo hoạt động kinh

doanh diễn ra liên tục và không gây tồn đọng vốn cho Công ty. Công ty cần xác định

rõ danh mục các loại nguyên vật liệu cần dự trữ, nhu cầu số lượng, thời gian cung cấp.

Mỗi một doanh nghiệp khi đi vào sản xuất kinh doanh cũng cố gắng tìm cho

mình một mô hình quản lý hàng tồn kho phù hợp. Với một doanh nghiệp sản xuất

trong ngành vật liệu xây dựng như Việt - Hàn, điều này lại càng quan trọng vì nguyên

vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm...đều đóng những vai trò nhất định trong hoạt

động sản xuất. Tuy nhiên, không phải loại hàng tồn kho nào cũng áp dụng mô hình EOQ hay mô hình JIT một cách cứng nhắc mà tùy vào đặc điểm của loại hàng tồn kho

đó, mối quan hệ của doanh nghiệp với bên ngoài, nhu cầu của thị trường mà doanh nghiệp tìm những mô hình phù hợp cho riêng mình. - Công tác mua sắm nguyên vật liệu Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, phòng kế hoạch đầu tư sẽ nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp và

kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm nguyên vật liệu này là phải tăng cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn

64

cung ứng ngày càng đa dạng, Công ty cần luôn cập nhật thông tin về thị trường để lựa

chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng tài sản của Công ty.

- Kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu

Để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý hàng tồn kho, hoạt động kiểm kê, phân

loại nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Công ty cần quan tâm hơn trong hoạt động

này. Cụ thể, công ty cần có sự phân loại nguyên vật liệu thành nguyên vật liệu chính,

nguyên vật liệu phụ, các chất phụ gia để tiện bảo quản và kiểm soát số lượng. Những nguyên vật liệu nào thì để ở đâu, số lượng bao nhiêu, quy chuẩn, quy cách nguyên vật

liệu ra sao. Năm được những thông tin này sẽ giúp công ty quản lý hàng tồn kho một

cách linh hoạt hơn.

- Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá nguyên vật

liệu khi kiểm kê và giá cả thực tế trên thị trường.

Để hoạt động quản lý nguyên vật liệu đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp

chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trọng Công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải

sát với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng

phải cung cấp, đúng, đủ và kịp thời đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên.

Như vậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý

nguyên vật liệu sẽ giúp Công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng

vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

3.3.1.3. Xây dựng mô hình quản lý tiền mặt

Tiền mặt là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối

thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc giữ tiền

mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, bởi nó đảm bảo giao dịch kinh doanh

hàng ngày, tạo lợi thế cho việc mua hàng của công ty.

Quản lý tiền mặt là quản lý tiền giấy, tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản gắn

với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư

tiền mặt nhiều Công ty có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó, căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền mặt, Công ty cần cân nhắc lượng tiền mặt dự trữ và lượng tiền đầu tư cho các chứng khoán này một cách hợp lý nhằm tối ưu hoá lượng tiền nắm giữ.

65

Ngoài mô hình EOQ, để xác định lượng tiền tồn quỹ tối ưu, Công ty có thể áp

dụng mô hình quản lý tiền mặt của Miller Orr:

Mô hình không xác định điểm dự trữ tiền mặt tối ưu mà xác định khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của dự trữ tiền mặt. Nếu lượng tiền mặt

nhỏ hơn giới hạn dưới thì Công ty phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở

mức dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên Công ty sử dụng số tiền vượt quá mức

giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến.

Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:

D = 3

Trong đó:

D: Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ Cb: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán Vb: Phương sai của thu chi ngân quỹ i: Lãi suất Ví dụ cụ thể với công ty Việt – Hàn: Công ty có mức dư tối thiểu của tiền là

200 triệu đồng; phương sai luồng tiền hàng ngày trung bình 470 triệu đồng (ứng dụng

với độ lệch chuẩn 22 triệu đồng một ngày), lãi suất 0,25%/ngày, chi phí giao dịch mỗi

lần bán chứng khoán là 0,4 triệu đồng. Từ đó, ta tính được khoảng cách giữa các

đường giới hạn là:

D = 3

Giới hạn trên = 200 + 82,6 = 282,6 (triệu đồng)

Giới hạn dưới = 200 + 82,6/3 = 227,5 (triệu đồng)

Như vậy, nếu lượng tiền mặt nhỏ hơn 227,5 triệu đồng thì Công ty phải bán

chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, ngược lại tại mức 282,6 triệu

đồng, Công ty sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến.

Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu. Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của một quỹ trước đó để tính toán.

66

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty

3.3.2.1. Nâng cao công tác quản lý TSCĐ

Quản lý TSCĐ là một việc hết sức quan trọng. Trước hết, hàng năm Công ty phải tiến hành công tác kiểm kê TSCĐ, phân loại TSCĐ theo tiêu chí TSCĐ đang sử

dụng, không cần dùng, chờ thanh lý, nhượng bán, đang cho thuê, cho mượn, TSCĐ đi

thuê, đi mượn. Cách phân loại này là hết sức cần thiết để Công ty theo dõi được tình

trạng tài sản một cách thường xuyên, có hệ thống từ đó Công ty có thể đưa ra các

quyết định phù hợp cho từng loại tài sản. Các quyết định đó có thể là quyết định thanh lý, nhượng bán những TSCĐ có hiệu quả sử dụng thấp, không cần dùng để tránh ứ

đọng vốn, đó có thể là quyết định sửa chữa để tiếp tục đưa phương tiện, máy móc thiết

bị vào sử dụng hay là quyết định đầu tư mới TSCĐ.

Đối với quản lý cụ thể tài sản, Công ty đã mở sổ theo dõi tổng hợp và chi tiết cho từng TSCĐ, theo dõi nguyên giá, giá trị còn lại của TSCĐ, theo dõi những biến động tăng, giảm giá trị tài sản theo đúng quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, việc theo

dõi này cần kết hợp với việc kiểm kê thực tế, phân loại đánh giá TSCĐ hàng năm sẽ

đảm bảo công tác quản lý tài sản được toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản

của Công ty.

Công ty nên xây dựng quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ, phân cấp quản lý TSCĐ

một cách hợp lý, rõ ràng nhằm nâng cao trách nhiệm cho từng bộ phận trong qúa trình

sử dụng. Việc ban hành quy chế quản lý TSCĐ phải đi kèm với việc thường xuyên

kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chấp hành quy chế của các bộ phận.

Khi đưa TSCĐ vào sử dụng, Công ty cần lựa chọn phương pháp khấu hao và

mức khấu hao hợp lý làm cơ sở cho việc thu hồi kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư ứng trước

vào TSCĐ. Từ đó tạo điều kiện cho Công ty tập trung vốn nhanh để đầu tư đổi mới

TSCĐ.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản đòi hỏi Công ty phải sử dụng máy móc

thiết bị hết công suất, duy trì được năng lực sản xuất và kéo dài thời gian hoạt động.

Vì vậy, Công ty phải lập ra kế hoạch sử dụng TSCĐ hợp lý dựa trên kế hoạch hoạt động kinh doanh và thực trạng tài sản của Công ty.

3.3.2.2. Tăng cường sửa chữa, nâng cấp TSCĐ đi kèm với đầu tư đúng hướng

Trước hết, Công ty cần thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ, xây dựng kế hoạch nâng cấp TSCĐ để khai thác hết công suất của máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, duy trì năng lực hoạt động, kéo dài tuổi thọ của TSCĐ, tránh tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn hoặc hư hỏng bất thường làm tăng chi phí sử dụng

TSCĐ cũng như thiệt hại do ngừng hoạt động.

67

Đối với các công trình xây dựng cơ bản dở dang, Công ty cần có biện pháp

thích hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian thi công, nhanh chóng hoàn

thành, đưa công trình vào sử dụng.

Đối với hoạt động đầu tư mua sắm đổi mới TSCĐ, Công ty cần phân tích, đánh

giá đúng thực trạng số lượng, chất lượng và tính đồng bộ của TSCĐ. Từ đó, Công ty

xác định được nhu cầu về số lượng, năng lực và tính đồng bộ của TSCĐ trong những

năm tiếp theo. Trên cơ sở kết hợp của kết quả phân tích và dự báo khả năng vốn của

Công ty, Công ty cần tiến hành xây dựng chiến lược đầu tư TSCĐ. Chiến lược đầu tư ngoài việc xác định số lượng TSCĐ cần mua sắm còn phải xác định được trình độ

công nghệ mà các TSCĐ đó phải đáp ứng. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng,

quyết định đến năng suất, chất lượng dịch vụ, sản phẩm. Đầu tư TSCĐ một cách hợp

lý, đúng hướng có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho Công ty đồng thời tăng cường lợi nhuận.

Tóm lại, làm tốt công tác mua sắm, đầu tư xây dựng cơ bản kết hợp với việc

tăng cường quản lý, sử dụng, sửa chữa, bảo dưỡng và nâng cấp phương tiện, máy móc

thiết bị có ý nghĩa rất quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí đầu vào, từ

đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.

68

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh chóng, các doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, xác lập vị thế trên thị trường đòi hỏi phải nỗ lực

trong mọi hoạt động, đặc biệt trong quản lý và sử dụng tài sản. Hoạt động quản lý và

sử dụng tài sản hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Vì vậy, để

hoà nhập với xu thế phát triển kinh tế của đất nước, công tác quản lý và sử dụng tài

sản không ngừng được đổi mới và hoàn thiện về phương pháp cũng như nội dung.

Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công

ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn, khóa luận: “Nâng cao hiệu

quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tƣ thƣơng mại Việt - Hàn” đã được hoàn thành.

Với sự cố gắng nỗ lực trong nghiên cứu lý luận và tìm hiểu tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, đề tài đã thể hiện được nội

dung và yêu cầu đặt ra.

Những nội dung cơ bản đƣợc để cập trong đề tài: + Những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản trong nền

kinh tế thị trường.

+ Đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Xây

dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn trong ba năm qua, từ đó tìm ra những nguyên

nhân gây ra hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng tài sản của Công ty để tìm ra

giải pháp hoàn thiện.

+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại

Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt - Hàn.

Hy vọng khóa luận đóng góp phần nào giúp Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu

tư thương mại Việt - Hàn sử dụng tài sản ngày càng hiệu quả hơn, mang lại kết quả

kinh doanh tốt hơn và Công ty ngày càng lớn mạnh.

Hiệu quả sử dụng tài sản luôn là một vấn đề rộng và phức tạp, tuy đã cố gắng song do trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận không thể

tránh khỏi việc thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và những ai quan tâm đến vấn đề này.

PHỤ LỤC

1. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm

2012 của Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

2. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013 của Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư thương mại Việt – Hàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 2. Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính – PSG.TS. Nguyễn Năng Phúc – Nhà

xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – năm 2011

3. Tài sản thực và tài sản tài chính – Báo đầu tư chứng khoán – Bộ Kế hoạch và

Đầu tư

4. Tài chính doanh nghiệp hiện đại – PGS.TS. Trần Ngọc Thơ – Nhà xuất bản

Thống Kê – năm 2003

5. Hồ sơ năng lực Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại Viêt – Hàn 6. Vật liệu xây dựng – Cổng thông tin điện tử Bộ xây dựng – xaydung.gov.vn