BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ
VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN THU TRANG
MÃ SINH VIÊN
: A18712
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ
VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH
Giáo viên hƣớng dẫn
:PGS.TS Lƣu Thị Hƣơng
Sinh viên thực hiện
:Nguyễn Thu Trang
Mã sinh viên
:A18712
Chuyên ngành
:Tài chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình trong suốt khóa học cao học và trong thời gian nghiên cứu đề tài. Qua đây, tôi muốn
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới:
- Cô giáo hướng dẫn, PGS.TS Lưu Thị Hương.
- Các thầy cô giáo Đại Học Thăng Long
- Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh.
Tôi xin gửi tới thầy cô, bạn bè và gia đình lời chúc sức khỏe, thành công trong
cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2014
Sinh viên
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
CỦA DOANH NGHIỆP .................................................................................... 1
1.1. Khái quát về tài sản trong doanh nghiệp ............................................................ 1
1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp ................................................................ 1
1.1.2. Tài sản trong doanh nghiệp ............................................................... 3
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ....................................................... 9
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ............... 9
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ............................. 10
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ...... 13
1.3.1. Nguồn hình thành tài sản trong doanh nghiệp ............................... 13
1.3.2. Các nhân tố chủ quan ...................................................................... 14
1.3.3. Nhân tố khách quan ......................................................................... 21
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH ................. 24
2.1. Khái quát về Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh ................... 24
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 24
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây
dựng Thái Thịnh ............................................................................................. 24
2.1.3. Mô hình tổ chức ............................................................................... 25
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong ba năm
(2011 – 2013) ................................................................................................... 28
2.1.5. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty ........................................................ 29
2.1.6. Cơ cấu vốn đầu tƣ vào các loại tài sản ............................................ 30
2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu
tƣ và Xây dựng Thái Thịnh ........................................................................................ 32
2.2.1. Tình hình tài sản và sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tƣ
và Xây dựng Thái Thịnh ................................................................................ 32
2.2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ
Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh .......................................................... 37
2.3. Đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây
dựng Thái Thịnh .......................................................................................................... 46
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc .............................................................................. 46
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................. 47
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI
SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH . 52
3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh .. 52
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Cổ phần Đầu tƣ
và Xây dựng Thái Thịnh ............................................................................................. 52
3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ....... 52
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn .......... 56
3.2.3. Một số giải pháp khác ...................................................................... 58
3.3. Kiến nghị .............................................................................................................. 61
3.3.1. Kiến nghị với nhà nƣớc .................................................................... 61
KẾT LUẬN ................................................................................................ 64
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GTGT : Giá trị gia tăng
TSCĐ : Tài sản cố định
TSCĐHH : Tài sản cố định hữu hình
TSDH : Tài sản dài hạn
TSNH : Tài sản ngắn hạn
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh ...... 26
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013 .................. 28
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)......... 29
Bảng 2.3: Cơ cấu tài sản của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) .............................. 30
Bảng 2.4: Chi tiết cơ cấu nợ ngắn hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) ......... 31
Bảng 2.5: Cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) ............... 33
Bảng 2.6: Cơ cấu tài sản dài hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) .................. 35
Bảng 2.7: Cơ cấu tài sản cố định hữu hình của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) .. 36
Bảng 2.8: Hệ số hao mòn tài sản cố định hữu hình của Công ty qua ba năm (2011
- 2013) ........................................................................................................ 37
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty qua ba
năm (2011 - 2013) ...................................................................................... 37
Bảng 2.10: Cơ cấu tài sản của Công ty VIWASE qua ba năm (2011 - 2013) .............. 40
Bảng 2.12: Vốn lưu động ròng của Công ty qua ba năm (2011 - 2013) ...................... 40
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty
qua ba năm (2011 - 2013)........................................................................... 41
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty
Viwase qua ba năm (2011 - 2013) ............................................................. 42
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty qua
ba năm (2011 - 2013) ................................................................................. 44
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu
quả từng đồng tài sản nhằm làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp đạt mức tối đa. Nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí sản
xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Bên cạnh đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản còn giúp
cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất, kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ
thuật được cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng
rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt và
hiệu quả tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ làm giảm chi phí và như vậy gián
tiếp làm giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như là giúp giảm chi phí về lãi vay.
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
trong các doanh nghiệp. Đó là một trong các nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển và thành công của một doanh nghiệp.
Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh được thành lập từ năm 2003,
đến nay đã xây dựng được vị thế tương đối vững chắc trong lĩnh vực tư vấn cấp và
thoát nước, đánh giá tác động môi trường và tái định cư cho các dự án xây dựng. Công
ty đã ký được nhiều dự án lớn, thực hiện được nhiều hợp đồng, mở rộng kinh doanh
sang nhiều lĩnh vực khác như sản xuất vật liệu xây dựng, tư vấn về tăng cường năng
lực quản lý doanh nghiệp, …, tuy nhiên Công ty vẫn chưa chú trọng nhiều đến hiệu
quả sử dụng tài sản. Việc sử dụng tài sản còn nhiều bất cập, dẫn đến kết quả kinh
doanh chưa cao. Nhân viên phòng kế toán – tài chính mới chỉ dừng ở việc hoạch toán
kế toán, chưa chú ý tới công việc phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
nên chưa xây dựng được một chiến lược sử dụng tài sản hiệu quả.
Từ thực tế đó, đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần
Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh” đã được lựa chọn nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng tài sản.
Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh, trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét và đánh giá về hiệu quả sử
dụng tài sản tại Công ty.
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
của Công ty.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và
Xây dựng Thái Thịnh trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, …. Phương pháp thống kê nhằm
tổng hợp các số liệu thu thập được để phân tích. Phương pháp so sánh giúp so sánh những kết quả đạt được, từ đó đưa ra các đánh giá một cách khách quan nhất về tình hình hoạt
động của doanh nghiệp là hiệu quả hay không hiệu quả.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu được sử dụng chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, cụ thể là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn thu thập thêm các thông tin về tình
hình sản xuất kinh doanh, các quyết định đầu tư.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, khóa luận được
kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1. Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư
và Xây dựng Thái Thịnh
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần
Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI
SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp
Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Đặc điểm
- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định, có
tài sản,
- Đã được đăng ký kinh doanh,
- Hoạt động kinh doanh.
Phân loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước: Điều1 luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20.4.1995 đã nêu: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ
chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục
tiêu kinh tế xã hội Nhà nước quy định. Doanh nghiệp có tư cách hợp pháp có cách
pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động
kinh doanh.
Doanh nghiệp tư nhân: là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn
đăng ký, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty: Là một tổ chức kinh tế mà vốn được đầu tư do các thành viên tham gia góp vào và được gọi là công ty. Họ cùng chia lời và cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn đóng góp. Trách nhiệm pháp lý của từng hình thức có những đặc trưng
khác nhau. Theo Luật doanh nghiệp, loại hình công ty có các loại: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Công ty được hiểu là sự liên kết của 2 hoặc nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành để đạt được mục tiêu chung nào đó" (theo KUBLER).
1
Hợp tác xã: là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ
chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau
thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện
đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp
Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ và tuỳ thuộc vào hình thức
sở hữu doanh nghiệp mà quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng trong mức độ
cho phép. Trong bình diện tài chính, mỗi doanh nghiệp tự tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường và tự chủ trong việc sử dụng vốn. Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp được thể
hiện ở khâu thành lập doanh nghiệp, trong chu kì kinh doanh và khi phải đầu tư thêm.
Giai đoạn nào doanh nghiệp cũng có nhu cầu về vốn. Việc huy động vốn để sản xuất
kinh doanh thì tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Theo xu hướng hiện nay,
các công ty đều chuyển đổi mô hình hoạt động theo mô hình công ty Cổ phần. Việc
huy động vốn của các công ty Cổ phần thường bằng cách bán cổ phần ra công chúng
hay huy động vốn từ thị trường chứng khoán. Đây là hình thức huy động vốn chủ yếu
hiện nay. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc huy động vốn từ thị trường chứng khoán
cũng thuận lợi do vậy các doanh nghiệp cần phải có nhiều kênh huy động vốn khác như huy động vốn bằng cách vay từ ngân hàng, vay từ công ty bạn, vay từ cán bộ công
nhân viên trong công ty hay bằng hình thức liên doanh, liên kết với các công ty có
tiềm lực tài chính mạnh.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chủ yếu và xuyên suốt đối với các
doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằn tạo sản phẩm,
dịch vụ, tạo ra của cải, vật chất cho doanh nghiêp và cho xã hội. Đối với công ty Cổ
phần, hoạt động sản xuất và kinh doanh được công ty lên kế hoach và được đại hội cổ
đông thông qua. Hàng năm đều có đánh giá, nhận xét của Ban giám đốc, Hội đồng quản trị về hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Hội đồng quản trị và Ban giám đốc phải chịu trách nhiệm trước cổ đông nếu kế hoạch kinh doanh, sản xuất của công ty không đạt yêu cầu.
Các hoạt động khác của doanh nghiệp
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh sản xuất để tạo ra của cải, vật chất thì doanh nghiệp cũng tham gia vào các hoạt động xã hội để thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp đều tham gia vào các hoạt
động xã hội như ủng hộ người nghèo, giúp đỡ trẻ mồ côi, lang thang, cơ nhỡ. Ủng hộ
2
các phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ các gia đình bị thiên tai, lũ lụt để nâng cao uy
tín, thương hiệu của doanh nghiệp. Thực tế, doanh nghiệp nào nhiệt tình tham gia vào các hoạt động xã hội hiệu quả thì thương hiệu của doanh nghiệp đó sẽ được nâng cao,
sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng đến được tay người sử dụng.
1.1.2. Tài sản trong doanh nghiệp
Khái niệm
Tài sản là tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn
vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi
nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có
thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Tài sản có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo từng tiêu thức khác nhau.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản bao gồm: Tài sản hữu hình và Tài sản vô hình.
Căn cứ vào thời hạn sử dụng tài sản, tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành
hai loại: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Căn cứ vào tính chất tuần hoàn và luân
chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và Tài sản lưu động. Căn cứ vào nguồn
hình thành, tài sản bao gồm: Tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và Tài sản được tài
trợ bởi vốn nợ. Căn cứ vào quyền sở hữu tài sản, tài sản được chia thành: tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp và tài sản thuê ngoài.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả lựa chọn tiêu thức phân loại tài
sản căn cứ vào thời hạn sử dụng tài sản, kết hợp với hình thái vật chất của tài sản.
Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển
trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn gồm:
Tiền và các khoản tương đương tiền. Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng và tiền đang chuyển. Tiền mặt tại quỹ hình thành do doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Tiền gửi ngân hàng là tiền gửi không kỳ hạn tại các tài khoản thanh toán ở ngân hàng dùng cho mục đích thanh toán không dùng tiền mặt. Tiền đang chuyển: Quá trình chuyển tiền cần có thời gian nhất định chờ làm thủ tục nên tồn tại hình thức này. Chẳng hạn doanh nghiệp đã làm thủ tục chuyển một
khoản tiền từ tài khoản thanh toán tại ngân hàng để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo nợ hay bản sao kê của ngân hàng nên vẫn coi là tiền của doanh nghiệp. Tài sản bằng tiền có thể tồn tại dưới dạng nội tệ, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý. Chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời
điểm báo cáo, qua đó giúp cho việc đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh 3
nghiệp và có kế hoạch trả nợ kịp thời, đồng thời có kế hoạch đầu tư tài chính vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá ba tháng,
có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi
thành tiền.
Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ
phiếu ngân hàng, …) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm
lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc
thanh toán dưới một năm. Phải thu ngắn hạn của khách hàng là tiền bán hàng hóa, dịch
vụ chưa thu được nhưng đã được khách hàng chấp nhận thanh toán và tính vào doanh
thu bán hàng trong kỳ.
Phải thu nội bộ: xét từ góc độ hoạch toán kinh tế có hai dạng doanh nghiệp là
doanh nghiệp độc lập và doanh nghiệp liên hợp gồm tổng công ty, tập đoàn, liên hiệp
(gọi chung là tổng công ty). Trừ các doanh nghiệp nhỏ, mỗi doanh nghiệp này đều có
hai bộ phận là đơn vị (hay doanh nghiệp) cấp trên và đơn vị (hay doanh nghiệp) cấp
dưới. Đơn vị cấp dưới còn được gọi là đơn vị thành viên gồm các đơn vị trực thuộc hoặc phụ thuộc có tổ chức kế toán riêng. Đơn vị cấp trên và các đơn vị cấp dưới được
gọi là các đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp độc lập, tổng công ty. Các khoản phải thu
nội bộ hình thành do đơn vị cấp dưới có nghĩa vụ phải nộp lên đơn vị cấp trên hoặc
đơn vị cấp trên phải cấp cho đơn vị cấp dưới hoặc do các đơn vị nội bộ đã thu hộ chi
hộ cho nhau hoặc giữa các đơn vị cấp dưới với nhau về bán hàng nội bộ. Các khoản
phải thu nội bộ thường là: Đơn vị cấp dưới phải thu về số lỗ hoạt động sản xuất kinh
doanh đã được đơn vị cấp trên chấp nhận đền bù, phải thu bổ sung từ các quỹ bổ sung
từ đơn vị cấp trên (ở đơn vị phụ thuộc như viện nghiên cứu); đơn vị cấp trên phải thu
của các đơn vị cấp dưới để lập các quỹ là quỹ quản lý của đơn vị cấp trên (chỉ có ở đơn vị cấp trên và được tính vào chi phí của đơn vị cấp dưới); quỹ phát triển kinh doanh dự trữ, khen thưởng phúc lợi, thu một phần lãi kinh doanh và thu hồi vốn kinh doanh đã giao.
Các khoản phải thu ngắn hạn khác như là các khoản phải thu về bồi thường vật
chất đã có quyết định bồi thường, các khoản phải thu về lãi đầu tư tài chính, ….
Hàng tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hóa, sản phẩm dở dang.
Ở doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là hàng hóa mua về để bán
4
lại. Ở doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang và thành phẩm. Ngoài ra, hàng đã mua đang trên đường đi chưa về nhập kho và hàng đã xuất kho gửi đi bán, hàng để ở cửa hàng nhưng chưa bán cũng bao gồm trong
hàng tồn kho của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng
được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác. Chi phí trả trước ngắn hạn phản ánh số tiền đã trả trước cho người bán mà chưa nhận
được sản phẩm tại thời điểm báo cáo. Thường doanh nghiệp trả trước trong hai
trường hợp: (1) cần ổn định nguồn nguyên vật liệu hàng hóa; (2) doanh nghiệp đặt
mua máy móc, thiết bị sản xuất kinh doanh. Số tiền trả trước để đảm bảo thực hiện hợp đồng của bên mua.
Tài sản dài hạn
Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn.
Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu
tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.
Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải
thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh
toán trên một năm.
Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi
thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho
thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa,
dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông
thường.
Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai
điều kiện sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
- Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.
Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí hợp lý liên quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch có liên quan khác.
Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các
hoạt động của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong các
yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì:
5
- Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ
sản phẩm, dịch vụ đó làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh
tranh trên thị trường. Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
- Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mới tài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa lớn tài
sản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sản phẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện cách mạng
khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.
Tài sản cố định được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ
cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông thường có một số cách thức phân
loại chủ yếu sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện:
Theo phương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia
thành hai loại: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất - kinh doanh như: Nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, ….
Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác
định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất -
kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu
chuẩn tài sản cố định vô hình. Thông thường, tài sản cố định vô hình bao gồm: Quyền
sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính,
bản quyền, bằng sáng chế, ….
Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sản cố định.
- Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng:
Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm
hai loại:
Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố định đang
6
dùng trong hoạt động sản xuất - kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất - kinh doanh
phụ của doanh nghiệp.
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng:
Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý
và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an
ninh, quốc phòng.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu tài
sản cố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và
tính khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với
mỗi loại tài sản cố định.
- Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định, có thể chia toàn bộ tài sản cố định
của doanh nghiệp thành các loại sau:
+ Tài sản cố định đang dùng.
+ Tài sản cố định chưa cần dùng.
+ Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý.
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng
tài sản cố định trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa
các tài sản cố định hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn.
Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng
khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện
vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu
tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói, tài sản tài chính dài hạn là các
khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản
xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi
tức lâu dài cho doanh nghiệp.
Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:
+ Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua bán các cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất cứ lúc nào với mục đích kiếm lợi nhuận. Bao gồm:
+ Cổ phiếu doanh nghiệp: Là chứng chỉ xác nhận vốn góp của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đang hoạt động hoặc bắt đầu thành lập. Doanh nghiệp mua cổ phần được hưởng lợi tức (cổ tức) căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng đồng thời chủ sở hữu vốn cũng phải chịu rủi ro khi doanh nghiệp đó bị thua lỗ,
7
giải thể hoặc phá sản theo Điều lệ của doanh nghiệp và Luật phá sản của doanh
nghiệp. Cổ phiếu doanh nghiệp có hai loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
+ Trái phiếu: Là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn và có lãi do Nhà nước hoặc doanh
nghiệp hay các tổ chức, cá nhân phát hành nhằm huy động vốn cho việc đầu tư phát
triển. Có ba loại trái phiếu:
Trái phiếu chính phủ: Là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ tài chính phát
hành dưới các hình thức: Trái phiếu kho Bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu xây dựng
tổ quốc.
Trái phiếu địa phương: Là chứng chỉ vay nợ do các chính quyền tỉnh, Thành phố
phát hành.
Trái phiếu Công ty: Là chứng chỉ vay nợ do doanh nghiệp phát hành nhằm vay
vốn để mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh và đổi mới trang thiết bị, công nghệ của
doanh nghiệp. Giá trị chứng khoán đầu tư dài hạn được xác định là giá thực tế (giá
gốc) bằng giá mua + các chi phí thu mua (nếu có) như: Chi phí môi giới, giao dịch, lệ
phí, thuế và phí ngân hàng.
Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập
hoãn lại, tài sản dài hạn khác.
Vai trò của tài sản đối với quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, có ba yếu tố quan
trọng quyết định tới sự phát triển của doanh nghiệp là: lao động sống (L); công cụ máy
móc và nguyên nhiên vật liệu (vốn, K); trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng tổ chức
quản lý của doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung (các yếu tố tổng hợp, A).
Doanh nghiệp phát triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng yếu tố lao
động, vốn và các yếu tố tổng hợp như thế nào.
Như vậy, có thể thấy tài sản của doanh nghiệp mà cụ thể là các công cụ, máy
móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, tiền, … có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Và để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp có cao hay không, doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường hay không thì bên cạnh việc đánh giá chất lượng, giá cả sản phẩm của doanh nghiệp, chắc chắn chúng ta phải xem xét đánh giá cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ
sản xuất của doanh nghiệp đó như thế nào?, .. thực chất của vấn đề là xem xét tài sản sản của doanh nghiệp đó.
Một doanh nghiệp khi mới được thành lập, phải tiến hành mua sắm tài sản để có
thể bắt đầu hoạt động sản xuất – kinh doanh. Trong quá trình sản xuất – kinh doanh, để
8
đảm bảo hoạt động ổn định, doanh nghiệp phải duy trì, đảm bảo các máy móc thiết bị
luôn ở trạng thái sử dụng được nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình, tránh
tình trạng máy móc ngừng hoạt động sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất hoặc làm
dừng sản xuất. Bên cạnh việc duy trì hoạt động của máy móc, thiết bị, doanh nghiệp
còn phải mua nguyên, nhiên vật liệu để đảm bảo vật liệu đầu vào cho sản xuất. Khi đã
hoạt động ổn định, các doanh nghiệp thường đầu tư mua sắm thêm máy móc, thiết bị
nhằm thay thế những máy móc thiết bị cũ không còn hoạt động hoặc đầu tư thêm để
mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình nhằm phát triển doanh nghiệp.
Tóm lại, trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp từ lúc mới hình thành
cho tới khi phát triển ổn định, tài sản là cơ sở vật chất luôn đóng vai trò quan trọng và
là một yếu tố không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện
các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong một điều
kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động
trong mối quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong một bối cảnh hay
điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ
thể nghiên cứu.
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay
đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế. Đó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tồn tại
và phát triển.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản
xuất – kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa
hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp, … song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm
nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, tất cả
các doanh nghiệp đều phải nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản
của mình.
Như vậy, nhìn chung hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình
độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho tối đa hóa giá trị
tài sản của chủ sở hữu.
9
1.2.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Công thức xác định:
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Trong đó:
Tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản có ở đầu kỳ
và cuồi kỳ.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị
doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng cao.
+ Hệ số sinh lợi tổng tài sản:
Công thức xác định:
Lợi nhuận sau thuế + lãi vay Hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) = Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Hệ số sinh lợi tổng tài sản phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra bao
nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế và lãi vay. Chỉ tiêu này được sử dụng để đo hiệu
quả của việc tài trợ cho các nhu cầu về tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở
1.2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
hữu và vốn vay.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (TSNH):
Công thức xác định:
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH = TSNH bình quân trong kỳ
Trong đó: TSNH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSNH có ở đầu kỳ
và cuối kỳ.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị TSNH sử dụng trong kỳ đem lại
bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng
TSNH càng cao.
10
+ Hệ số sinh lợi TSNH:
Công thức xác định:
Lợi nhuận sau thuế Hệ số sinh lợi TSNH = TSNH bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của TSNH. Nó cho biết mỗi
đơn vị giá trị TSNH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
+ Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành:
Công thức xác định:
TSNH Khả năng thanh toán hiện hành = Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Tỷ số này là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
và cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của khoản
nợ đó.
+ Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:
Công thức xác định:
Đây là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn.
TSNH – tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản
nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (hàng tồn kho).
+ Vòng quay tiền:
Công thức xác định:
Doanh thu thuần Vòng quay tiền = Tiền + chứng khoán dễ chuyển nhượng
Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết số vòng quay của tiền trong một năm. Nếu tỷ số này càng lớn, chứng tỏ trong một năm, TSNH của doanh nghiệp quay được nhiều vòng hơn và doanh nghiệp sử dụng TSNH có hiệu quả hơn.
11
+ Vòng quay dự trữ, tồn kho:
Công thức xác định:
Doanh thu thuần Vòng quay dự trữ = Giá trị dự trữ bình quân
1.2.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và ngược lại.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn (TSDH):
Công thức xác định:
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSDH = TSDH bình quân trong kỳ
Trong đó: TSDH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSDH có ở đầu kỳ
và cuối kỳ.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị giá trị TSDH trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đơn vị doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao.
+ Hệ số sinh lợi tài sản dài hạn:
Công thức xác định:
Lợi nhuận sau thuế Hệ số sinh lợi TSDH = TSDH bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của TSDH. Nó cho biết mỗi
đơn vị giá trị TSDH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (TSCĐ):
Công thức xác định:
Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử dụng TSCĐ = TSCĐ bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng TSCĐ càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao.
+ Hệ số sinh lợi tài sản cố định:
Công thức xác định:
Lợi nhuận sau thuế Hệ số sinh lợi TSCĐ = TSCĐ bình quân trong kỳ
12
Ý nghĩa: Hệ số sinh lợi TSCĐ cho biết một đồng TSCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Giá trị này càng lớn thì hiệu quả sử dụng TSCĐ càng tốt.
Qua các công thức xác định cũng như ý nghĩa của các chỉ tiêu nêu trên, có thể
thấy chỉ tiêu hiệu suất sử dụng phản ánh một đồng tài sản trong kỳ tạo ra được bao nhiêu
đồng doanh thu thuần, còn chỉ tiêu hệ số sinh lợi thì cho biết một đồng tài sản sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Vì vậy, khi đánh giá tình hình tài
chính của một doanh nghiệp, người ta thường xem xét đến lợi nhuận sau thuế hơn là
doanh thu vì doanh thu chưa phản ánh khoản lợi nhuận cuối cùng mà doanh nghiệp tạo
ra trong kỳ. Ngược lại, lợi nhuận sau thuế phản ánh số tiền mà doanh nghiệp có được sau khi đã khấu trừ hết các khoản chi phí. Xuất phát từ lý do đó, tác giả nhận thấy các
chỉ tiêu hệ số sinh lợi tài sản phản ánh rõ hơn và có tầm quan trọng hơn các chỉ tiêu hiệu
suất sử dụng tài sản khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của một doanh nghiệp.
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ
tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài
sản. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với
từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho
doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã được đề ra.
1.3.1. Nguồn hình thành tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành hay còn gọi là được tài trợ bằng
nguồn vốn chủ sở hữu hoặc bằng nợ phải trả hoặc bằng cả hai nguồn này. Tùy vào tình
hình tài chính của doanh nghiệp cũng như là chính sách đầu tư, mua sắm của từng
doanh nghiệp mà doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư tài sản bằng nguồn nào cho
phù hợp.
Trong đó, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn là các
khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong vòng một năm hoặc
trong một chu kỳ kinh doanh như vay ngắn hạn, phải trả người bán, phải trả công nhân viên, .... Nợ dài hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong thời gian hơn một năm như vay dài hạn, nợ dài hạn, ....
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, do
các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp hoặc hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: (1) nguồn vốn kinh doanh; (2) lợi nhuận chưa phân phối; và (3) nguồn vốn chủ sở hữu khác. Nguồn vốn kinh doanh là nguồn vốn dùng vào các hoạt động kinh tế chủ yếu của doanh nghiệp, đây là nguồn vốn chủ yếu
hình thành nên tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Lợi nhuận chưa
13
phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ.
Nguồn vốn chủ sở hữu khác bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận như quỹ đầu tư
phát triền, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản, chênh lệch tỉ giá hối đoái.
1.3.2.1 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
1.3.2. Các nhân tố chủ quan
Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào. Trong
hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình độ của
cán bộ quản lý và tay nghề của người công nhân.
Trình độ của cán bộ quản lý: Trình độ của cán bộ quản lý thể hiện ở trình độ
chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định. Nếu cán bộ quản lý
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổ chức, quản lý tốt đồng thời
đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp và thị
trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Nếu khả năng tổ chức, quản lý kém, quyết định sai lầm thì tài sản sẽ không được sử
dụng một cách hiệu quả dẫn đến doanh nghiệp có thể thua lỗ, thậm chí phá sản. Như
vậy, trình độ cán bộ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu đối với bộ phận này là rất cao,
cán bộ quản lý cần có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao,
năng động, sáng tạo nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời cho doanh nghiệp.
Trình độ tay nghề của công nhân: công nhân là những người trực tiếp tạo ra sản
phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với các công cụ sản xuất nên là nhân tố trực tiếp sử
dụng tài sản của doanh nghiệp. Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, có khả
năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có ý
thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu trình độ tay nghề người công nhân thấp, không nắm bắt được các thao tác kỹ thuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, giảm tuổi thọ của máy móc, làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm. Điều đó có thể làm
1.3.1.2 Tổ chức sản xuất – kinh doanh
giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản giảm.
Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất 14
lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp
thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của doanh nghiệp trong từng
thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao.
Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tiếp
cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽ
giảm được hao mòn vô hình của tài sản cố định, nâng cao chất lượng, đổi mới sản
phẩm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không chú trọng và xây dựng một quy trình sản
xuất – kinh doanh hợp lý cũng như không có chiến lược kinh doanh tốt thì sẽ làm giảm
năng suất lao động, tăng chi phí bất hợp lý, … dẫn tới giảm lợi nhuận giảm, và hiệu
1.3.1.3 Đặc điểm sản xuất – kinh doanh
quả sử dụng tài sản sẽ thấp.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào
tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài
hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau. Doanh nghiệp có đặc
điểm hàng hóa khác nhau và đối tượng khác hàng khác nhau nên chính sách tín dụng
thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau. Như vậy, đặc
điểm sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đến hiệu quả sử
dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, vòng quay và hệ số sinh lợi của
1.3.1.4 Chính sách quản lý tài sản của doanh nghiệp
tài sản.
Quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử
dụng tài sản của doanh nghiệp.
Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu trong các nội dung sau:
Quản lý tiền mặt:
Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn
đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả. Đồng thời doanh nghiệp có thể
15
đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận
như đầu tư chứng khoán ngắn hạn. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hinh trên thị trường tiền tệ, thực trạng tình hình tài chính của
doanh nghiệp, từ đó có sự lựa chọn để đưa ra các quyết định sử dụng ngân quỹ đúng
đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hóa việc đi vay
ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản.
Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp.
Quản lý dự trữ, tồn kho:
Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất – kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như
tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất – kinh doanh của
doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ. Hơn nữa, hàng hóa dự trữ,
tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường.
Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ
đọng vốn. Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, khả
năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị
trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.
Quản lý các khoản phải thu:
Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hay còn gọi là tín dụng thương
mại là một hoạt động không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp. Do đó, trong các
doanh nghiệp hình thành khoản phải thu.
Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm,
thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hàng hóa, góp
phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vô hình. Tuy
nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đến những rủi ro cho doanh nghiệp như làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp cho vốn thiếu hụt, làm tăng chi phí nếu khách hàng không trả được nợ.
Do vậy, các nhà quản lý cần so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm để quyết
định có nên cấp tín dụng thương mại không cũng như phải quản lý các khoản tín dụng này như thế nào để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất.
Nội dung chủ yếu của chính sách quản lý các khoản phải thu bao gồm: Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị,
theo dõi các khoản phải thu.
16
Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
Kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn chính là tổng mức lợi nhuận. Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng
chi phí hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Ngoài việc so sánh theo hướng
xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối chỉ tiêu tổng mức lợi
nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, còn phân tích sự biến động tổng mức lợi nhuân do ảnh hưởng của ba nhân tố:
Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.
Mức chi phí để tạo ra một đồng doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.
Mức lợi nhuận được tạo ra từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính
dài hạn.
Từ mối quan hệ trên, có thể xây dựng phương trình kinh tế sau:
Tổng mức lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính dài hạn = Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn * Mức chi phí cho một đồng doanh thu từ hoạt động đầu
tư tài chính dài hạn * Mức lợi nhuận được tạo ra từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư
tài chính dài hạn.
Vận dụng phương pháp loại trừ có thể phân tích sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân
tố đến chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn của
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đánh giá, phân tích và xem xét trong số
các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích kinh tế cao nhất, nhằm
lựa chọn hướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy mô đầu tư, danh mục đầu tư hợp lý nhất
và đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý tài sản cố định:
Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất – kinh doanh.
Đây là vấn đề thuộc đầu tư xây dựng có bản, đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ càng các quyết định về đầu tư dựa trên cơ sở các nguyên tắc và quy trình phân tích dự án đầu tư. Nếu mua nhiều tài sản cố định mà không sử dụng hết sẽ gây ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so với lực lượng lao động thì năng suất sẽ giảm.
Trên cơ sở một lượng tài sản cố định đã mua sắm, một mặt doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian và hiệu suất của máy, thực hiện an toàn, tiết kiệm trong vận hành
máy, cố gắng khấu hao nhanh để sớm đổi mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại. Điều đó sẽ tạo tiền đề cho doanh nghiệp luôn luôn được đổi
mới theo hướng tích cực, hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu
cầu của thị trường, mang tính cạnh tranh cao.
17
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định cho thấy khấu hao có tác động lớn
đến các chỉ tiêu. Do đó, doanh nghiệp cần xác định phương pháp tính khấu hao tài sản cố định cho thích hợp.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, do chịu nhiều tác
động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị giảm dần về giá trị, hay
còn gọi là hao mòn. Có hai loại hao mòn tài sản cố định là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình là loại hao mòn do quá trình sử dụng và do tác động của môi trường, hình thái vật chất của tài sản cố định bị mài mòn, biến dạng, gãy vỡ, hỏng,
….
Hao mòn vô hình là loại hao mòn do tiến bộ của khoa học công nghệ, một loại
máy móc, thiết bị mới ra đời ưu việt hơn làm tài sản cố định bị giảm giá hoặc lỗi thời.
Do tài sản cố định bị hao mòn như vậy, doanh nghiệp cần tạo lập quỹ để thu hồi,
tái đầu tư vào tài sản mới, doanh nghiệp cần trích khấu hao cho tài sản cố định. Trích
khấu hao tài sản cố định là việc tính chuyển một phần giá trị của tài sản cố định tương
ứng với phần hao mòn vào giá thành sản phẩm và sẽ thu hồi được phần giá trị đó thông
qua tiêu thụ sản phẩm.
Việc xác định mức trích khấu hao là công việc tương đối phức tạp. Trước tiên,
doanh nghiệp phải xác định tốc độ hao mòn của tài sản. Điều này rất khó khăn do xác
định hao mòn hữu hình đã khó, xác định hao mòn vô hình còn khó hơn, nó đòi hỏi sự
hiểu biết, khả năng dự đoán của doanh nghiệp. Khi đã xác định được mức độ hao mòn,
doanh nghiệp cần phải cân nhắc đến các yếu tố sau:
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm do tài sản cố định đó chế tạo trên thị trường. Do tình hình tiêu thụ tác động trực tiếp đến giá bán sản phẩm đồng thời cho biết lượng cầu sản
phẩm của doanh nghiệp là bao nhiêu và hoạt động của tài sản cố định sẽ ở mức công
suất nào và kéo theo nó hao mòn ở mức độ nào.
- Nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định là vốn chủ sở hữu hay vốn vay.
- Ảnh hưởng của thuế đến việc trích khấu hao. Do việc trích khấu hao ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp.
- Quy định của Nhà nước trong việc tính khấu hao: Nhà nước có quy định quản lý trong việc trích khấu hao tài sản cố định như phương pháp tình khấu hao, thời gian
sử dụng định mức của tài sản cố định, tác động trực tiếp đến mức trích khấu hao hàng
kỳ của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn được phương pháp tính khấu hao tài sản cố định thích hợp là biện
18
pháp quan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trọng để xác định
thời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài trợ dài hạn. Thông thường có các phương pháp khấu hao chủ yếu sau:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng:
Phương pháp này có ưu điểm là cách tính đơn giản, dễ hiểu. Mức khấu hao được
tính vào giá thành sản phẩm ổn định, tạo điều kiện ổn định giá thành sản phẩm. Nhưng phương pháp này không phản ánh chính xác mức độ hao mòn thực tế của tài sản cố
định vào giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử dụng tài sản cố định khác nhau, khả
năng thu hồi vốn đầu tư chậm, làm cho tài sản cố định của doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng bất lợi của hao mòn vô hình.
NG Mkh = T
Trong đó:
Mkh: Số khấu hao hàng năm
NG: Nguyên giá của TSCĐ
T: Thời gian sử dụng định mức của TSCĐ
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
Thực chất của phương pháp này là đẩy nhanh mức khấu hao TSCĐ trong những
năm đầu sử dụng và giảm dần mức khấu hao theo thời hạn sử dụng. Phương pháp này
có ưu điểm là phản ánh chính xác hơn mức độ hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm,
nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư mua sắm TSCĐ trong những năm đầu sử dụng, hạn
chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình. Phương pháp này phù hợp với doanh nghiệp có TSCĐ chịu ảnh hưởng nhiều của hao mòn vô hình như thiết bị tin học, thiết bị điện tử,
…
Mn = Tk * (NG - Mn-1)
Trong đó:
Mn: Số khấu hao năm n
Mn-1: Số khấu hao năm n-1
NG: Nguyên giá của TSCĐ
Tk: Tỷ lệ khấu hao năm.
Mục đích của việc tạo lập quỹ khấu hao là để tái đầu tư, thay thế, đổi mới TSCĐ.
Khi TSCĐ chưa được khấu hao hết, chưa được thay thế bằng TSCĐ mới thì khấu hao
được tích lũy và doanh nghiệp có quyền sử dụng số khấu hao lũy kế cho hoạt động sản
xuất - kinh doanh của mình. Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước, việc sử dụng số
19
khấu hao lũy kế cần tuân thủ đúng các quy định về chế độ quản lý tài chính hiện hành
của Nhà nước.
Đối với TSCĐ, bên cạnh việc xác định phương pháp khấu hao thích hợp thì để
nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, doanh nghiệp cũng cần thường xuyên tiến hành
đánh giá, kiểm kê TSCĐ. Điều này giúp cho nhà quản lý nắm được chính xác số
TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình sử dụng cũng như giá trị thực tế của tài sản đó.
Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của TSCĐ tại một thời điểm nhất định.
Việc đánh giá chính xác giá trị của TSCĐ là căn cứ để tính khấu hao nhằm thu hồi
vốn. Qua đánh giá và đánh giá lại TSCĐ còn giúp cho người quản lý nắm được tình
hình biến động về vốn của doanh nghiệp để có biện pháp điều chỉnh thích hợp như: chọn hình thức khấu hao phù hợp, thanh lý, nhượng bán tài sản để giải phóng vốn, ….
Đánh giá TSCĐ gồm những nội dung sau:
Xác định giá ban đầu của TSCĐ: giá ban đầu của TSCĐ là giá mua và những chi
phí hợp lý khác kèm theo.
Cách đánh giá này giúp cho doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư mua sắm
TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền phải khấu hao để tái sản xuất
giản đơn TSCĐ.
Xác định giá đánh giá lại TSCĐ: giá đánh giá lại TSCĐ là giá của tài sản tại thời
điểm kiểm kê đánh giá. Giá đánh giá lại của TSCĐ có thể cao hơn hoặc có thể thấp hơn giá ban đầu của nó.
Căn cứ vào kết quả phân tích tình hình cụ thể như: Tình hình biến động giá trên
thị trường, quan hệ cung cầu trên thị trường về loại tài sản đó, xu hướng về tiến bộ kỹ
thuật trong ngành, … người quản lý đưa ra quyết định xử lý tài sản một cách chuẩn
xác như điều chỉnh mức khấu hao hoặc phương pháp khấu hao, thanh lý, nhượng bán
1.3.1.5 Công tác thẩm định dự án
để đổi mới TSCĐ, hiện đại hóa TSCĐ thông qua sửa chữa lớn, ….
Công tác thẩm định dự án và đặc biệt là thẩm định tài chính dự án có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Nếu công tác thẩm định tài chính dự án được thực hiện theo một quy trình chặt
chẽ đối với đội ngũ cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn vững vàng thì dự án sẽ
được đánh giá một cách chính xác về mức độ cần thiết của dự án đối với doanh
nghiệp, quy mô của dự án, chi phí, lợi ích của dự án mang lại và cả những rủi ro có thể
gặp phải trong tương lai. Điều này giúp cho doanh nghiệp có những quyết định đầu tư
đúng đắn góp phần nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh
20
thu và tăng lợi nhuận làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hệ số sinh lợi tổng tài
sản tăng. Ngược lại, công tác thẩm định tài chính dự án không hiệu quả sẽ dẫn đến
những quyết định đầu tư sai lầm hoặc doanh nghiệp có thể bỏ qua các cơ hội đầu tư do
dự án bị đánh giá sai. Quyết định đầu tư sai lầm sẽ dấn đến hiệu quả nghiêm trọng.
Nếu đầu tư quá nhiều, không đúng hướng, hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến tình
trạng lãng phí vốn. làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu đầu tư quá ít
không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, từ đó có thể mất thị trường, giảm khả năng cạnh
tranh. Tất cả các điều này đều dẫn đến tài sản không được khai thác một cách triệt để
1.3.1.6. Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và
tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Vốn là nguồn hình thành nên tài sản.
Vì vậy, khả năng huy đông vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớn đến
hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô
sản xuất – kinh doanh, đa dạng hóa các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho
doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng tổng tài sản. Bên cạnh đó, nếu doanh
nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làm giảm chi
phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng.
1.3.2.1. Môi trường kinh tế
1.3.3. Nhân tố khách quan
Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanh
nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như: chu kỳ phát triển kinh tế, tăng
trưởng kinh tế, hệ thống tài chính – tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các
chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nước.
Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng
kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt
động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hệ thống tài chính – tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khóa của
chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất – kinh doanh và kết quả
hoạt động của doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản thực
của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền. Ngoài ra, chính
sách tài chính – tiền tệ cũng tác động lớn đến hoạt động huy động vốn cũng như hiệu
quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
21
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường
quốc tế. Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các
nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.
Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh
đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp
những thuận lợi đồng thời cả những khó khăn. Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh
giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm
tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi
1.3.2.2. Chính trị - pháp luật
trường kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng, sự can
thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh
nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: duy trì sự ổn định kinh tế, chính
trị; định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp
1.3.2.3. Khoa học công nghệ
luật; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Khoa học – công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao
động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng.
Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao
năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, tiến bộ khoa
học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình
nhanh hơn. Có những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, … mới chỉ nằm trên các
dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó.
Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa học – công nghệ là hết sức
cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạt được hiệu
1.3.2.4. Thị trường
quả cao nhất trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình.
Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thị trường
tài chính.
Khi thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thị trường
tài chính.
22
Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng chi
phí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán, gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm. Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tăng của
giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự sụt giảm về số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ
làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường
thì sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu. Thị
trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn. Thị trường tiền là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán còn thị trường vốn là thị trường
cung cấp vốn trung hạn và dài hạn. Thị trường chứng khoán bao gồm cả thị trường tiền,
là nơi mua bán các chứng khoán ngắn hạn và thị trường vốn, nơi mua bán các chứng
khoán trung và dài hạn. Như vậy thị trường tài chính và đặc biệt là thị trường chứng
khoán có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả sẽ là kênh huy
động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp tập trung
quá nhiều vào đầu tư chứng khoán thì sẽ dẫn đến tình trạng cơ cấu tài sản mất cân đối,
1.3.2.5. Đối thủ cạnh tranh
gián tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản.
Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của doanh
nghiệp. Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản
xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như khách
hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế, …. Các yếu tố
này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi
nhuận của doanh nghiệp.
23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH
2.1. Khái quát về Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh (Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh) có trụ sở chính tại Căn 1001, tòa 101, Láng Hạ, Đống Đa, Hà
Nội. Tên giao dịch quốc tế của Công ty là THAITINH JS Infrastructure
Development (viết tắt là Infra-TT).
Công ty được thành lập từ ngày 02/7/2001 với tên gọi ban đầu là Công ty Cổ
Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh. Công ty hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực tư
vấn và đầu tư phát triển đô thị và hạ tầng. Đến nay, Công ty đã cung cấp các dịch vụ tư
vấn trọn gói cho các dự án về xóa đói giảm nghèo, phát triển đô thị và hạ tầng tại hơn
40 tỉnh thành trong cả nước. Hầu hết trong số đó là những dự án ODA được tài trợ bởi
Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan hợp tác
quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ Ngoại giao Phần Lan…
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái
Thịnh
Ngành nghề đăng ký kinh doanh của Công ty bao gồm:
- Tư vấn đầu tư trong và ngoài nước (không bao gồm tư vấn pháp luật, tài chính,
thuế, kiểm toán, kế toán, chứng khoán);
- Tư vấn khảo sát, giám sát thi công: công trình cấp thoát nước, môi trường;
- Xây dựng công trình cấp, thoát nước, hạ tầng kỹ thuật;
- Buôn bán thiết bị cấp, thoát nước và thiết bị phục vụ môi trường, vật liệu
xây dựng;
- Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ ngành nước và môi trường;
- Lập dự án, quy hoạch các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng;
- Tư vấn, khảo sát, giám sát thi công và tổ chức thi công các công trình điện dưới
35KV;
- Thiết kế kiến trúc công trình, thiết kế kết cấu đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, thiết kế điện đối với công trình cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, thiết kế giao thông đường bộ, san nền đối với công trình xây dựng, thiết kế cấp thoát nước, vệ sinh môi trường đối với công trình cấp thoát nước, công trình xử lý chất thải rắn;
24
- Đầu tư phát triển các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng;
- Xây dựng, quản lý, khai thác và cung cấp nước sạch;
- Khảo sát, điều tra xã hội học, lập kế hoạch đền bù tái định cư và đánh giá tác
động môi trường các dự án;
- Tư vấn về tăng cường năng lực quản lý doanh nghiệp (không bao gồm tư vấn
pháp luật, tài chính, thuế, kiểm toán, kế toán, chứng khoán);
- Thẩm tra thiết kế kỹ thuật và lập dự án đầu tư xây dựng;
- Lập kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và đánh giá thầu (chấm thầu) cho các dự
án đầu tư xây dựng;
- Thiết kế quy hoạch xây dựng;
- Sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét;
2.1.3. Mô hình tổ chức
Ngoài trụ sở chính tại Hà Nội, Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh có chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, và hai công ty con là Công ty trách nhiệm
hữu hạn nước Thuận Thành (thành lập năm 2007) tại thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh và Công ty cổ phần Hòa Long tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
(thành lập năm 2011).
Chi nhánh và các công ty con của Công ty cùng có nội dung hoạt động và ngành
nghề kinh doanh như Công ty mẹ tại Hà Nội.
25
Sơ đồ tổ chức của Công ty như sau:
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh
26
Hội đồng quản trị: Là cơ quan điều hành Công ty, có đầy đủ quyền hạn để
thay mặt Công ty quyết định những vấn đề liên quan đến mục tiêu và lợi ích của
Công ty.
Ban tổng giám đốc: Gồm tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc do Hội đồng
quản trị bổ nhiệm. Ban tổng giám đốc có nhiệm vụ tổ chức điều hành, quản lý mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo nghị quyết, quyết định của Hội đồng
quản trị, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, điều lệ tổ chức và hoạt động của Công
ty và tuân thủ pháp luật.
Phòng kế toán có nhiệm vụ thực hiện và quản lý toàn bộ công tác hoạch toán kế
toán tại Công ty, theo dõi, quản lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản hiện có của
Công ty.
Phòng kế hoạch là nơi chuẩn bị hồ sơ dự thầu, chuẩn bị, thương thảo và ký kết
hợp đồng. Đây cũng là Phòng có chức năng theo dõi tình hình hoạt động, tiến độ của
các dự án trong toàn Công ty.
Các Trung tâm trực thuộc như Trung tâm quy hoạch và kiến trúc, Trung tâm Phát
triển Hạ tầng, Trung tâm Tư vấn Tái định cư và Phát triển xã hội, Trung tâm Tư vấn và
Kỹ thuật Môi trường, … là những trung tâm trực tiếp thực hiện các dự án thiết kế, xây
dựng, giám sát tái định cư, giám sát và đánh giá tác động môi trường.
27
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong ba năm (2011 – 2013)
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Năm 2012
Năm 2013
2011
STT
Chỉ tiêu
Tăng so
Tăng so
Giá trị
Giá trị
Giá trị
2011
2011
Doanh thu thuần bán hàng
30.554
29.362
-4%
28.795
-2%
1
và cung cấp dịch vụ
2 Giá vốn hàng bán
18.988
16.727
-12%
15.642
-6%
Lợi nhuận gộp về bán hàng
3
11.566
12.634
9%
13.153
4%
và cung cấp dịch vụ
4 Doanh thu hoạt động tài chính
67
239
259%
315
32%
Chi phí tài chính
5
393
692
76%
756
9%
Chi phí bán hàng
6
0
0
-
0
-
Chi phí quản lý doanh
7
7.782
9.614
24%
9.156
-5%
nghiệp
Lợi nhuận thuần từ hoạt
8
3.458
2.567
-26%
3.556
39%
động kinh doanh
Thu nhập khác
9
4
2.120
54867%
84
-96%
10 Chi phí khác
0
618
-
25
-96%
11 Lợi nhuận khác
4
1.502
38851%
59
-96%
Tổng lợi nhuận kế toán
12
3.462
4.069
18%
3.615
-11%
trước thuế
Tổng chi phí thuế thu nhập
13
865
843
-3%
904
7%
hiện hành
Lợi nhuận sau thuế thu nhập
14
2.596
3.226
24%
2.711
-16%
doanh nghiệp
15 Lãi cơ bản trên cổ phiếu
1.959
1.869
-5%
1.986
6%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh)
Qua Bảng 2.1 trên có thể thấy rằng sự tăng trưởng của Công ty không ổn định,
đặc biệt là năm 2012 và năm 2013. Năm 2012 và năm 2013, doanh thu thuần đều giảm so với năm trước liền kề. Điều này cũng phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn vì vậy việc doanh thu của Công ty trong hai năm gần đây bị giảm so với năm trước là điều khó
28
tránh khỏi. Điều đáng lưu ý là trong tình hình doanh thu suy giảm, nhưng trong năm
2012, chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng cao (tăng 24% so với năm 2011), và đến năm 2013, Công ty cũng đã chú trọng tới việc cắt giảm chi phí nên chi phí quản lý
doanh nghiệp năm 2013 đã giảm 5% so với năm 2012.
2.1.5. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2011
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2012
Tổng nguồn vốn
38.914
100 39.019
100
0,27 42.898
100
9,94
A. Nợ phải trả
19.685
50,59 16.470
42,21 (16,33) 17.447
40,67
5,93
1. Nợ ngắn hạn
19.685
50,59 15.519
39,77 (21,16) 16.496
38,45
6,29
2. Nợ dài hạn
0,00
0,00
951
2,44
-
951
2,22
0,00
B. Vốn chủ sở hữu
19.228
49,41 22.548
57,79
17,26 25.451
59,33
12,87
1. Vốn chủ sở hữu
19.228
49,41 22.548
57,79
17,26 25.451
59,33
12,87
2. Nguồn kinh phí và quỹ khác
0,00
0,00
0,00
0,00
-
0
0,00
-
(Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh )
Dữ liệu từ Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua ba năm (2011 –
2013) và Biểu đồ 2.1: Cơ cấu và tăng trưởng nguồn vốn của Công ty qua ba năm
29
(2011 – 2013) cho thấy công ty có tổng nguồn vốn tương đối và có sự tăng trưởng
qua các năm, đặc biệt tăng mạnh vào năm 2013. Cụ thể, giá trị tổng nguồn vốn năm 2011 đạt 38.914 triệu đồng, năm 2012 tổng giá trị nguồn vốn là 39.019 tỷ đồng,
tăng 0,27% so với năm 2011, và năm 2013 tổng giá trị nguồn vốn tiếp tục tăng
nhưng tăng với tốc độ cao hơn (tăng 9,94%) đạt 42.898 tỷ đồng. Đặc biệt, năm
2011 Công ty không có nợ dài hạn, nhưng đến năm 2012 bắt đầu xuất hiện nợ dài hạn là 951 triệu đồng (chiếm 2,44% tổng nguồn vốn) và nợ dài hạn tiếp tục được
duy trì vào năm 2013, điều này cho thấy Công ty đã có sự thay đổi về cơ cấu nợ.
Tuy nhiên, nợ dài hạn chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ từ 2,22 - 2,44% trong tổng
nguồn vốn, và có giá trị rất nhỏ (951 triệu đồng), điều này cho thấy phần lớn nợ phải trả của Công ty là nợ ngắn hạn với giá trị rất lớn từ 15 - 19 tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng từ 40 – 51% tổng nguồn vốn. Với giá trị cũng như tỷ trọng lớn như vậy cho
thấy Công ty luôn phải duy trì một nguồn tiền tương đối lớn để trả nợ ngắn hạn,
đây là một rủi ro về thanh khoản mà Công ty phải đối mặt.
Vốn chủ sở hữu cũng tăng đều qua các năm và chiếm tỷ lệ từ 49 – 60% tổng
nguồn vốn. Vốn chủ sở hữu tăng mạnh vào năm 2012 (tăng 17,26%) sau đó mức tăng
giảm dần vào năm 2013 (tăng 12,87%).
2.1.6. Cơ cấu vốn đầu tư vào các loại tài sản
Bảng 2.3: Cơ cấu tài sản của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tỷ
Tăng
Tỷ
Tăng
Tỷ
Chỉ tiêu
Giá trị
trọng
Giá trị
trọng
so
Giá trị
trọng
so
(%)
2011
(%)
2012
(%)
Tổng tài sản
38.914
100 39.019
100
0,27
42.898
100
9,94
1. Tài sản ngắn
hạn
23.127
59,43 23.713
60,77
2,53
24.158
56,31
1,88
2. Tài sản dài
hạn
15.787
40,57 15.306
39,23
-3,05
18.740
43,69
22,44
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Thái Thịnh
30
Bảng 2.4: Chi tiết cơ cấu nợ ngắn hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2011
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2012
Tổng nguồn vốn
38.914
100 39.019
100
0,27 42.898
100
9,94
A. Nợ phải trả
19.685 50,59 16.470 42,21 (16,33) 17.447 40,67
5,93
I. Nợ ngắn hạn
19.685 50,59 15.519 39,77 (21,16) 16.597 38,69
6,94
1. Vay và nợ ngắn hạn
832
2,14 3.548
9,09 326,47 3.987
9,29
12,37
2. Phải trả người bán
1.086
874
1.250
2,79
2,24 (19,52)
2,91
42,98
2.784
3. Người mua trả tiền trước
7,15 5.367 13,75
92,78 4.870 11,35
(9,25)
1.989
4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
5,11 2.362
6,05
18,76 2.160
5,04
(8,55)
2.250
1.580
5. Phải trả người lao đồng
5,78 1.281
3,28 (43,06)
3,68
23,35
6. Chi phí phải trả
2.954
2.687
7,59 2.414
6,19 (18,30)
6,26
11,33
309
813
7. Các khoản phải trả, phải nộp khác
7.934 20,39
0,79 (96,11)
1,90 163,41
(144)
(635)
(750)
8. Quỹ khen thưởng, phúc lợi
(0,37)
(1,63) 342,05
(1,75)
18,16
2. Nợ dài hạn
0,00
951
850
0,00
2,44 -
1,98 (10,62)
B. Vốn chủ sở hữu
19.228 49,41 22.548 57,79
17,26 25.451 59,33
12,87
1. Vốn chủ sở hữu
19.228 49,41 22.548 57,79
17,26 25.451 59,33
12,87
2. Nguồn kinh phí và quỹ khác
0,00
0,00
0
0,00
0,00
-
0,00
-
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
Bảng số liệu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản và chi tiết nợ ngắn hạn của Công ty
cho thấy, tài sản của Công ty được đầu tư chủ yếu bằng nguồn vốn chủ sở hữu, trong
đó vay và nợ ngắn hạn chiếm một tỷ trọng nhỏ, đặc biệt nợ dài hạn chiếm một tỷ trọng
rất nhỏ. Điều này thể hiện tình hình tài chính lành mạnh của Công ty.
31
2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần
Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh
2.2.1. Tình hình tài sản và sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây
dựng Thái Thịnh
Để đánh giá được thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty, trước hết ta cần tìm hiểu
tình hình tài sản và sử dụng tài sản của Công ty trong những năm qua. Trong quá trình sản xuất – kinh doanh, Công ty đã có những thay đổi về quy mô và tỷ trọng tài sản và
được thể hiện qua số liệu ở bảng 2.3 trên.
Số liệu từ Bảng 2.3 cho thấy tổng tài sản có sự thay đổi qua ba năm. Năm 2011, tổng
tài sản là 38.914 triệu đồng, năm 2012 tổng tài sản tương ứng là 39.019 triệu đồng (với
mức tăng 0,27% so với năm 2011) , sang năm 2013 tổng tài sản đã tăng lên đáng kể, đạt
giá trị 42.898 triệu đồng, tăng tương ứng 9,94% so với năm 2013.
Cùng với sự thay đổi về quy mô tài sản, cơ cấu tài sản cũng có sự thay đổi. Năm
2011, tỷ trọng tài sản dài hạn so với tổng tài sản là 40,57%, năm 2012 giảm xuống còn 39,23%, và sang năm 2013 tăng lên ở mức 43,69%. Điều này cho thấy, trong năm 2013, Công ty đã đầu tư thêm vào tài sản dài hạn. Tuy nhiên, tài sản ngắn hạn vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản.
Để đánh giá đầy đủ và chính xác hiệu quả sử dụng tài sản, chúng ta cần đi sâu
phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn cũng như tài sản dài hạn của Công ty. Việc phân tích này sẽ giúp ta hiểu rõ hơn tác động của từng yếu tố đến hiệu quả chung, đồng thời sẽ là cơ sở để đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản thông qua điều chỉnh cơ cấu đầu tư.
32
2.2.1.1. Thực trạng tài sản ngắn hạn của Công ty
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn là
hết sức cần thiết. Tài sản ngắn hạn là một bộ phận quan trọng và có sự biến đổi nhanh chóng trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Quy mô và cơ cấu trong tài sản ngắn hạn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố và nó sẽ tác động lớn đến kết quả kinh doanh nói chung và
hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng của doanh nghiệp.
Riêng đối với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh, trong ba năm qua (2011 – 2013), quy mô và cơ cấu của tài sản ngắn hạn đã có sự thay đổi, phụ thuộc
vào chiến lược phát triển của Công ty và sự tác động của môi trường kinh doanh.
Bảng 2.5: Cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Năm 2011
Năm 2012
Đơn vị: Triệu đồng Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2011 (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2012 (%)
I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền
5.151
22,27
3.446
14,53
(33,09)
4.452
18,43
29,17
1. Tiền
3.493
15,10
3.446
14,53
(1,33)
3.561
14,74
3,32
2. Các khoản tương đương tiền
1.658
7,17
0
0,00
(100,00)
891
3,69
-
II. Các khoản phải thu ngắn hạn
11.198
48,42
5.943
25,06
(46,92)
5.466
22,63
(8,03)
1. Phải thu khách hàng
3.204
13,86
2.532
10,68
(21,00)
2.761
11,43
9,06
2. Trả trước cho người bán
496
2,15
329
1,39
(33,70)
450
1,86
36,81
3. Các khoản phải thu khác
7.821
33,82
3.407
14,37
(56,44)
2.579
10,68
(24,30)
4. Dự phòng phải thu ngắn hạn
khó đòi
(324)
(1,40)
(324)
(1,37)
0,00
(324)
(1,34)
0,00
III. Hàng tồn kho
4.232
18,30 11.112
46,86
162,55 12.590
52,12
13,30
Hàng tồn kho
4.232
18,30 11.112
46,86
162,55 12.590
52,12
13,30
IV. Tài sản ngắn hạn khác
2.546
11,01
3.212
13,54
26,13
1.650
6,83
(48,62)
1. Chi phí trả trước ngắn hạn
611
2,64
2.048
8,64
235,36
980
4,06
(52,16)
2. Thuế GTGT được khấu trừ
0
0,00
2
0,01
-
5
0,02 125,21
3. Tài sản ngắn hạn khác
1.935
8,37
1.161
4,90
(40,01)
665
2,75
(42,71)
Tổng tài sản ngắn hạn
23.127
100 23.713
100
2,53 24.158
100
1,88
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
33
Tiền và các khoản tương đương tiền giảm mạnh vào năm 2012, với giá trị 5.151
triệu đồng năm 2011 giảm xuống còn 3.446 triệu đồng năm 2012, và được duy trì ở mức 4.452 triệu đồng vào năm 2013. Sự biến động của khoản mục tiền và các khoản
tương đương tiền chủ yếu là do sự biến động của các khoản tương đương tiền. Cụ thể,
các khoản tương đương tiền giảm từ 1.658 triệu đồng xuống 0 đồng vào năm 2012, sau
đó tăng trở lại đạt 891 triệu đồng vào năm 2013. Bản thuyết minh Báo cáo tài chính của Công ty năm 2011 cho thấy, các khoản tương đương tiền là tiền gửi có kỳ hạn tại
ngân hàng (giá trị đạt 1.658 triệu đồng vào cuối năm 2011) nhưng vào năm 2012 đã
được rút ra.
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 2012 và 2013 cho thấy sự thay đổi đột biến về tiền mặt, từ 573 triệu đồng năm 2011 tăng lên đạt 3.357 triệu đồng năm 2013
và 3.460 triệu đồng năm 2013. Điều này cho thấy, Công ty đã duy trì một lượng tiền
mặt tương đối lớn để đảm bảo công tác chi trả. Tuy nhiên, đây cũng là một điểm bất
lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, vì khi luôn duy trì một lượng
tiền khá lớn dưới dạng tiền mặt tại quỹ thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc Công ty
đã mất đi cơ hội sinh lời từ chính các khoản tiền này.
Trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty trong ba năm (2011-2013), các khoản
phải thu ngắn hạn năm 2011 chiếm một tỷ trọng lớn (48.42%) trong tổng tài sản ngắn
hạn, thì sang năm 2012 và 2013 đã giảm xuống tương ứng còn 25.06% và 22.63%. Các khoản phải thu ngắn hạn giảm mạnh vào năm 2012 được ghi nhận là do sự thay
đổi của khoản mục phải thu khách hàng (từ 3.204 triệu đồng vào năm 2011 xuống
2.531 triệu đồng năm 2012) và đặc biệt là khoản mục các khoản phải thu khác (từ
7.821 triệu đồng năm 2011 xuống còn 3.406 triệu đồng vào năm 2012). Như vậy, các
khoản phải thu này tuy đã giảm mạnh vào năm 2012, nhưng vẫn chiếm một tỷ trọng
lớn, đặc biệt là phải thu khách hàng và các khoản phải thu khác. Qua tìm hiểu cho
thấy, lý do các khoản phải thu vẫn ở mức cao xuất phát từ sự biến động của môi
trường kinh doanh trong những năm gần đây. Do suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp
đều gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, dẫn tới việc các doanh nghiệp nợ đọng lẫn nhau. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác thu nợ khách hàng tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh cần phải chú trọng hơn nhằm tăng thanh khoản cho Công ty cũng như tránh cho các khoản phải thu trở thành các khoản nợ khó đòi.
Hàng tồn kho tăng lên qua các năm, từ mức 4.232 triệu đồng vào năm 2011 lên tương ứng là 11.112 triệu đồng năm 2012 và 12.590 triệu đồng năm 2013. Hàng tồn kho năm 2012 tăng đột biến với mức tăng 162,55% so với năm 2012. Điều này được
giải thích là do chi phí sản xuất – kinh doanh dở dang tăng lên đáng kể.
34
Tài sản ngắn hạn khác cũng có sự giảm mạnh từ 1.935 triệu đồng năm 2011 xuống
còn 1.161 triệu đồng năm 2012 và tương ứng là 665 triệu đồng vào năm 2013. 2.2.1.2. Thực trạng tài sản dài hạn của Công ty
Đối với mỗi doanh nghiệp, ngoài việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp
còn tập trung đầu tư tài sản dài hạn bởi tài sản dài hạn luôn chiếm vị trí hết sức quan
trọng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Nó thể hiện quy mô, năng lực sản xuất -
kinh doanh của doanh nghiệp.
Tỷ trọng của tài sản dài hạn trong tổng tài sản của doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ
trọng các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
Dưới đây là cơ cấu tài sản dài hạn của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Thái Thịnh:
Bảng 2.6: Cơ cấu tài sản dài hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tăng so 2012 (%)
Năm 2011 Tỷ trọng (%)
Năm 2012 Tỷ trọng (%)
Tăng so 2011 (%)
Tỷ trọng (%)
I. Các khoản phải thu dài hạn
10
0,06
0
0,00 (100,00)
0
0,00
-
1. Phải thu dài hạn khách hàng
10
0,06
0
0,00 (100,00)
0
0,00
-
II. Tài sản cố định
5.689
36,03
3.103
20,28
(45,45)
5.869
31,32
89,12
1. Tài sản cố định hữu hình
5.689
36,03
3.103
20,28
(45,45)
5.869
31,32
89,12
- Nguyên giá
7.619
-
6.329
-
- 10.391
-
-
- Giá trị hao mòn lũy kế
(1.930)
-
(3.226)
-
-
(4.521)
-
-
10.071
63,80 12.044
78,69
19,58 12.563
67,04
4,31
III. Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn 1. Đầu tư vào công ty con
5.071
32,12
7.044
46,02
38,89
7.563
40,36
7,37
2. Đầu tư dài hạn khác
5.000
31,67
5.000
32,67
0,00
5.000
26,68
0,00
IV. Tài sản dài hạn khác
17
0,11
159
1,04
839,55
308
1,64
94,01
1. Chi phí trả trước dài hạn
17
0,11
101
0,66
496,28
250
1,33
148,14
2. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại
0
0,00
0
0,00
-
0
0,00
-
3. Tài sản dài hạn khác
0
0,00
58
0,38
-
58
0,31
0,00
Tổng tài sản dài hạn
100
15.787
100 15.306
(3,05) 18.740
100
22,44 Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh Bảng trên cho thấy, tỷ trọng các loại tài sản dài hạn thay đổi qua các năm. Trong đó, các khoản đầu tư tài chính dài hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo đó là tài sản cố định. Tài sản dài hạn khác chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Đặc biệt là các khoản phải thu dài hạn hầu như không có.
35
Thứ nhất, về tài sản cố định: Tài sản cố định có sự thay đổi cả về giá trị lẫn tỷ
trọng. Năm 2011, giá trị tài sản cố định ở mức 5.689 triệu đồng; năm 2012, giảm xuống còn 3.103 triệu đồng; và năm 2013, giá trị này đã tăng trở lại đạt mức 5.869
triệu đồng. Vào năm 2013, Công ty có sự đầu tư vào tài sản cố định, làm giá trị tài sản
cố định tăng 89,12% so với năm 2012. Có thể thấy ở đây sự mở rộng quy mô năng lực
sản xuất, đổi mới trang thiết bị của Công ty. Điều đáng chú ý là Công ty chỉ có tài sản cố định hữu hình (chiếm 100%), không có tài sản cố định vô hình. Do đó, cơ cấu tài
sản cố định hữu hình là một yếu tố quan trọng cần được xem xét.
Bảng 2.7: Cơ cấu tài sản cố định hữu hình của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2011 (%)
Tỷ trọng (%)
Tăng so 2012 (%)
Nhà cửa, vật kiến trúc
2.914 51,22
0
0,00 (100,00)
0
0,00
-
Máy móc, thiết bị
0
0,00
391 12,58
-
1.774 30,23 354,33
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
1.704 29,95 2.528 81,47
48,40 3.245 55,29 28,35
Thiết bị, dụng cụ quản lý
1.071 18,83
185
5,95
(82,76)
850 14,48 360,37
Tổng tài sản cố định hữu hình
5.689
100 3.103
100
(45,45)
5.869
100 89,12
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
Như vậy, trong tổng giá trị tài sản cố định hữu hình, phương tiện vận tải, thiết bị
truyền dẫn luôn chiếm một tỷ trọng cao nhất từ 29 – 56%. Trong năm 2013, Công ty đã chú trọng đầu tư mạnh vào máy móc, thiết bị với giá trị tăng từ 391 triệu đồng (năm 2012) lên 1.774 triệu đồng (năm 2013) nhằm mở rộng quy mô hoạt động sản xuất.
Qua phân tích ở trên, có thể thấy quy mô tài sản cố định hữu hình đã tăng lên đáng kể. Để có thể biết được rõ hơn về tình trạng tài sản cố định hữu hình, ta cần đánh
giá chính xác hệ số hao mòn của chúng.
Số tiền khấu hao lũy kế đã trích Hệ số hao mòn TSCĐHH = Nguyên giá TSCĐHH tại thời điểm đánh giá
36
Hệ số hao mòn này càng lớn (càng tiến về 1) thì chứng tỏ TSCĐHH càng cũ, lạc
hậu và cần được đổi mới, thay thế.
Bảng 2.8: Hệ số hao mòn tài sản cố định hữu hình của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tr. đồng Tr. đồng
6.329 3.226 0,51
7.619 1.930 0,25
Nguyên giá TSCĐHH 10.391 Số tiền khấu hao lũy kế 4.521 Hệ số hao mòn TSCĐHH 0,44 Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh Qua các năm, hệ số hao mòn TSCĐHH có sự thay đổi, tăng từ 0,25 năm 2011 đến
0,51 năm 2012, sau đó giảm đi còn 0,44 năm 2013. Điều này chứng tỏ gần đây, Công ty đã quan tâm đến việc đầu tư, đổi mới TSCĐHH, đặc biệt là máy móc, thiết bị.
Thứ hai, về các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị tài sản dài hạn của Công ty. Giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng
qua các năm, từ 10.071 triệu đồng năm 2011 lên tương ứng đạt 12.044 triệu đồng năm
2012 và 12.563 triệu đồng năm 2013. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn của Công ty
bao gồm: đầu tư vào Công ty con và đầu tư dài hạn khác. Điều này chứng tỏ Công ty
chú trọng tới việc mở rộng mạng lưới hoạt động, đầu tư phát triển Công ty con nhằm
tạo ra nguồn lợi tức lâu dài.
2.2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và
Xây dựng Thái Thịnh
Việc phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty sẽ cho
thấy tình hình sử dụng tài sản tại Công ty, những thành tựu đã đạt được cũng như những
hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế này. Trên cơ sở đó, những giải
2.2.2.1. Phân tích hiệu quả sử dụng tổng tài sản
pháp thích hợp sẽ được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Chỉ tiêu
Đơn vị tính Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Doanh thu thuần
30.554
29.362
28.795
Tr. Đồng
Lợi nhuận sau thuế + lãi vay
3.671
4.737
4.256
Tr. Đồng
Tổng tài sản bình quân
29.793
38.966
40.958
Tr. Đồng
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (lần)
1,03
0,75
0,70
Hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) (lần)
0,12
0,12
0,10
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2009 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
37
+ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Bảng trên cho thấy, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm qua các năm,
giảm mạnh từ 1,03 năm 2011 xuống còn 0,75 năm 2012. Chỉ tiêu này cho biết một
đồng tài sản sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Nguyên nhân của sự
thay đổi này là do trong các năm 2012 và 2013 tổng tài sản bình quân tăng lên trong
khi doanh thu lại giảm.
+ Chỉ tiêu hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) được duy trì ở mức 0,12 trong hai năm
2011 và 2012, sang năm 2013 chỉ số này giảm xuống còn 0,10. Chỉ tiêu này cho biết
một đồng tài sản sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế và lãi vay.
Như vậy, trong năm 2012, tốc độ tăng tổng tài sản bình quân bằng tốc độ tăng của lợi
nhuận sau thuế và lãi vay. Tuy nhiên, sang năm 2013, tổng tài sản bình quân tăng
(9,94%) nhưng lợi nhuận sau thuế và lãi vay lại giảm so với năm trước đó. Điều này
chứng tỏ việc sử dụng tài sản chưa được quan tâm và một đồng tài sản đã tạo ra ít
đồng lợi nhuận sau thuế và lãi vay hơn trước.
Thông qua một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh có thể thấy giá trị tài sản của Công ty có xu hướng tăng, tuy nhiên doanh thu thuần và lợi nhuận thu được sau thuế lại giảm dần, nguyên nhân là do giá vốn bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu, cộng với chi phí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh dẫn đến lợi nhuận sau thuế chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ doanh thu và có xu hướng giảm dần. Điều này chứng tỏ vấn đề sử dụng tài sản vẫn còn chưa hợp lý và cần phải được Công ty quan tâm nhiều hơn để cân đối giữa doanh thu và lợi nhuận.
38
Để có cái nhìn khách quan khi xem xét hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ
Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh, cần xem xét lựa chọn một vài doanh nghiệp
hoạt động cùng ngành để làm cơ sở so sánh. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận
này, tác giả chỉ lựa chọn một doanh nghiệp làm cơ sở so sánh là Công ty Cổ Phần
Nước và Môi trường Việt Nam (Viwase). Công ty Cổ Phần Nước và Môi trường Việt
Nam được thành lập từ năm 1954, trực thuộc Cục thiết kế điện nước, đến năm 2006
Công ty chính thức được chuyển thành công ty cổ phần. Hai Công ty có đặc điểm
chung đều là doanh nghiệp cổ phần và cùng hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và đầu tư
phát triển đô thị và hạ tầng.
Từ số liệu của các Bảng 2.3; 2.10 cho thấy tổng tài sản của cả hai doanh nghiệp
có xu thế tăng dần qua các năm. Nhìn chung tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất
trong cơ cấu tài sản của cả hai doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn và dài hạn của Công
ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh đều có xu hướng tăng dần, đáng chú ý là
năm 2013, tài sản dài hạn đã tăng đột biến về mặt giá trị. Tại Công ty Viwase, tài sản
ngắn hạn có xu hướng tăng mạnh về giá trị, tài sản dài hạn có giảm nhẹ vào năm
2012, sau đó tăng trở lại vào năm 2013 nhưng vẫn chiếm một tỷ trọng nhỏ (từ 17 –
32%) trong tổng tài sản. Điều đó thể hiện chiến lược kinh doanh của hai doanh
nghiệp có khác nhau: Năm 2013, Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
đã tiến hành đầu tư mua sắm thêm một số máy móc thiết bị nhằm đẩy nhanh tiến độ
thi công xây dựng một số công trình do Công ty đang thực hiện và mở rộng hoạt
động hơn nữa sang lĩnh vực xây dựng công trình. Ngược lại, Công ty Viwase chú
trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, so sánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
của hai Công ty qua Bảng 2.11 có thể thấy Công ty Viwase có các chỉ tiêu sử dụng
tổng tài sản cao hơn và ổn định hơn so với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Thái Thịnh. Có thể kết luận việc sử dụng tổng tài sản tại Công ty Viwase đạt hiệu
quả cao hơn so với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh. Như vậy, một
lần nữa khẳng định, công tác quản lý và sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tư
và Xây dựng Thái Thịnh còn nhiều vấn đề cần quan tâm và hoàn thiện để cải thiện
cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty nói chung và hiệu quả sử dụng
tổng tài sản nói riêng.
39
Bảng 2.10: Cơ cấu tài sản của Công ty VIWASE qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị (VND)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (VND)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (VND)
Tỷ trọng (%)
Tổng tài sản
49.695
100
58.212
100
78.946
100
1. Tài sản ngắn hạn
33.349
67,11
42.417
72,87
65.224
82,62
2. Tài sản dài hạn
16.346
32,89
15.795
27,13
13.722
17,38
(Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của VIWASE)
2.2.2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận quan trọng trong tổng tài sản, có ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản.
Trước khi đi vào phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp,
ta cần xem xét chỉ tiêu vốn ngắn hạn ròng vì đây là một chỉ số tài chính dùng để đo
lường hiệu quả hoạt động cũng như năng lực tài chính trong ngắn hạn của một doanh
nghiệp. Vốn ngắn hạn ròng của một doanh nghiệp được tính toán theo công thức sau:
Vốn ngắn hạn ròng = Tổng tài sản ngắn hạn – Tổng nợ ngắn hạn.
Vốn ngắn hạn ròng dương có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng chi trả được các
nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình. Ngược lại, nếu vốn ngắn hạn ròng âm tức là hiện tại
doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tài sản hiện có của
mình (bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, tồn kho). Bảng 2.12 bên dưới cho thấy, vốn
lưu động ròng của Công ty luôn là số dương phản ánh Công ty có khả năng chi trả tốt
các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình. Nguyên nhân là do Công ty có chính sách kiểm
soát nợ ngắn hạn, giúp cho các khoản nợ ngắn hạn có xu hướng giảm dần, đặc biệt giảm mạnh vào năm 2012.
Bảng 2.12: Vốn lƣu động ròng của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2011 Năm 2012
Năm 2013
Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Tài sản ngắn hạn
23.127
23.713
24.158
Nợ ngắn hạn
19.685
15.519
16.496
Vốn lƣu động ròng
3.441
8.193
7.662
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2011 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
40
Để đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty, ta
cần nghiên cứu cụ thể thực trạng sử dụng từng loại tài sản thuộc tài sản ngắn hạn.
Thứ nhất, tiền và các khoản tương đương tiền thay đổi qua các năm. Năm 2011 là
năm lượng tiền dự trữ lớn nhất trong vòng ba năm qua, đây cũng là năm tiền và các
khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của
Công ty. Năm 2012, tiền và các khoản tương đương tiền giảm nhưng có xu hướng tăng trở lại vào năm 2013. Cùng với xu hướng đó, các khoản nợ ngắn hạn của Công ty cũng
sụt giảm mạnh vào năm 2012, và tăng trở lại vào năm 2013. Tuy nhiên, tốc độ giảm
của nợ ngắn hạn năm 2012 và tốc độ tăng của nợ ngắn hạn năm 2013 đều thấp hơn tốc
độ giảm và tăng tương ứng của tiền và các khoản tương đương tiền trong các năm 2012 và 2013 dẫn tới khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh của
Công ty đều có xu hướng giảm.
So sánh số liệu về khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh giữa
Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh và Công ty Viwase ở các Bảng bên dưới
cho thấy khả năng thanh toán hiện hành của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái
Thịnh thấp hơn một chút so với Công ty Viwase nhưng khả năng thanh toán nhanh của
Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh tốt hơn Công ty Viwase. Điều này có thể
lý giải là do Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh luôn duy trì một khoản tiền
và tương đương tiền chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng tài sản và nợ ngắn hạn có xu hướng giảm năm 2012 và tăng nhẹ trở lại vào năm 2013 trong khi đó tại Công ty Viwase,
nợ ngắn hạn có xu hướng tăng mạnh nhất là năm 2013. Điều này cho thấy tính thanh khoản
của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh là tốt, tuy nhiên việc luôn duy trì một
lượng tiền mặt lớn cũng làm cho Công ty mất đi những cơ hội đầu tư sinh lời.
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty qua ba năm (2011 - 2013)
Chỉ tiêu
Năm 2011 Năm 2012
Năm 2013
Đơn vị tính
Tr. Đồng Tr. Đồng Tr. Đồng Tr. Đồng
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ Nợ ngắn hạn Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán nhanh Vòng quay tiền Vòng quay dự trữ, tồn kho
Lần Lần Lần Lần Vòng/năm Vòng/năm
29.362 3.226 23.420 15.519 1,25 0,14 1,53 0,81 0,12 3,83
30.554 2.596 16.130 19.685 1,89 0,16 1,17 0,96 0,17 9,91
28.795 2.986 23.935 17.447 1,20 0,12 1,38 0,66 0,15 2,43 (Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2009 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh )
41
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Năm 2013
Năm 2011
Năm 2012
Doanh thu thuần
Tr. Đồng
89.256
99.092
104.867
Lợi nhuận sau thuế
Tr. Đồng
6.504
7.070
7.100
Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ
Tr. Đồng
Tr. Đồng
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Viwase qua ba năm (2011 - 2013)
Nợ ngắn hạn Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán nhanh Vòng quay tiền Vòng quay dự trữ, tồn kho
Lần Lần Lần Lần Vòng/năm Vòng/năm
50.511 39.221 1,96 0,14 1,44 0,47 0,19 5,16
39.048 35.207 2,29 0,17 1,26 0,33 0,13 5,05
78.451 55.560 1,34 0,09 1,81 0,69 0,36 3,47 (Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2009 - 2013 của Công ty Viwase) Chỉ số vòng quay tiền của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh
trong các năm trong kỳ phân tích cũng rất thấp (chưa được một vòng quay) dẫn tới
thời gian vòng quay tiền của Công ty cũng vô cùng lớn. Điều này được lý giải là do
công tác thi công, xây dựng và thực hiện các dự án của Công ty không được đẩy mạnh
dẫn tới chậm tiến độ, chậm thu hồi vốn.
Thứ hai, về thực trạng hiệu quả sử dụng hàng tồn kho thì đối với đặc thù các
doanh nghiệp trong ngành xây dựng nói chung và với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây
dựng Thái Thịnh nói riêng thì số lượng hàng tồn kho có thể ít nhưng giá trị hàng tồn
kho là khá lớn. Thực tế, hàng tồn kho của Công ty tăng dần lên qua các năm. Nguyên
nhân, là do khó khăn của ngành xây dựng trong những năm gần đây dẫn tới sụt giảm
doanh số bán hàng, làm hàng tồn kho tăng. Khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
hàng tồn kho của Công ty là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và chi phí này tăng
theo các năm. Biểu hiện của chi phí sản xuất kinh doanh dở dang của Công ty là
các công trình xây dựng dở dang, dự án chưa hoàn thiện. Điều này cho thấy tiến độ
thi công công trình, hoàn thiện dự án của Công ty là khá chậm, dẫn tới chưa quyết
toán, bàn giao được công trình, dự án. Một nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng
này là do trong những năm gần đây kinh tế suy thoái dẫn tới việc Chính Phủ thu
hẹp lại các dự án xây dựng, cũng như là nguồn tiền cho các dự án bị cắt giảm, nên
tốc độ giải ngân cho các dự án chậm, và khả năng huy động vốn cho các dự án gặp
rất nhiều khó khăn.
42
Vòng quay dự trữ, tồn kho của Công ty có xu hướng giảm, đặc biệt là giảm mạnh
vào năm 2012. Chỉ số này của Công ty trong hai năm 2012 và 2013 cũng thấp hơn
nhiều so với Viwase. Điều này được lý giải là do khả năng tìm đầu ra của Công ty còn
tương đối hạn chế. Số lượng nguyên vật liệu sắt thép, xi măng, … của Công ty được
nhập dựa theo định mức khối lượng và tiến độ thi công của các công trình, tuy nhiên,
do tiến độ thi công công trình bị chậm nhiều so với kế hoạch dẫn đến thời gian số
nguyên vật liệu này nằm trong kho tăng lên. Ngoài ra, Công ty cũng không thường
xuyên kiểm kê hàng tồn kho, chỉ tiến hành kiểm kê hàng tồn kho sáu tháng một lần
hoặc đột xuất cũng cho thấy công tác quản lý hàng dự trữ, tồn kho chưa được tốt.
Thứ ba, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, chỉ tiêu số vòng quay tài
sản ngắn hạn của Công ty có xu hướng giảm, đặc biệt giảm mạnh vào năm 2012. So
sánh về chỉ tiêu giữa hai Công ty cho thấy, chỉ tiêu số vòng quay tài sản ngắn hạn
của Công ty đều thấp hơn nhiều so với Viwase. Cụ thể, một đồng tài sản ngắn hạn
của Công ty đầu tư năm 2011 tạo ra 1,89 đồng doanh thu thuần, nhưng sang năm
2012 giảm xuống còn 1,25 đồng doanh thu thuần và năm 2013 là 1,20 đồng doanh
thu thuần. Nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm của chỉ tiêu này là do doanh thu thuần
trong năm 2012 và 2013 đều giảm trong khi tài sản ngắn hạn bình quân tăng. Điều này
cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty có xu hướng ngày càng giảm.
Thứ tư, về hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng
tài sản ngắn hạn được sử dụng trong kỳ sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Trong ba năm qua, chỉ tiêu này có xu hướng giảm dần, giảm nhiều nhất là năm 2012.
Năm 2011, nếu sử dụng một đồng tài sản ngắn hạn đem lại 1,89 đồng doanh thu thuần,
43
thì sang năm 2012 giảm xuống còn 1,25 đồng và năm 2013 là 1,20 đồng. Nguyên nhân
là tài sản ngắn hạn có xu hướng tăng qua ba năm, trong khi đó doanh thu thuần lại có xu hướng giảm.
Thứ năm, hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm nhẹ, từ 0,16 năm 2011
giảm xuống mức 0,14 năm 2012 và 0,12 năm 2013. Điều này chứng tỏ một đồng tài
sản ngắn hạn bình quân trong kỳ tạo ra ít lợi nhuận sau thuế hơn trước.
Qua phân tích một số chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty
Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh trong ba năm, nhận định chung là hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty là chưa ổn định, có xu hướng giảm và chưa hiệu
2.2.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
quả. Việc quản lý các khoản phải thu, hàng tồn kho còn bộc lộ những điểm chưa phù hợp. Đây là một biểu hiện của năng lực quản lý tài sản của Công ty còn yếu kém.
Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây
dựng Thái Thịnh được phản ánh qua một số chỉ tiêu trong Bảng sau:
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty qua ba
năm (2011 - 2013)
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Doanh thu thuần
Tr. Đồng
30.554
29.362
28.795
Lợi nhuận sau thuế
Tr. Đồng
2.596
3.226
2.986
Tài sản dài hạn bình quân trong kỳ
Tr. Đồng
13.663
15.546
17.023
TSCĐ bình quân trong kỳ
Tr. Đồng
5.896
4.396
4.486
Lần
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
2,24
1,89
1,69
Lần
Hệ số sinh lợi tài sản dài hạn
0,19
0,21
0,18
Lần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ
5,18
6,68
6,42
Lần
Hệ số sinh lợi TSCĐ
44%
73%
67%
(Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2009 - 2013 của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh )
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cho biết một đồng tài sản dài hạn được sử dụng
thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ. Trong ba năm qua, chỉ tiêu này có xu hướng giảm. Năm 2011, một đồng tài sản dài hạn sử dụng đã tạo ra 2,24 đồng doanh thu thuần; sang năm 2012 và 2013 tạo ra tương ứng là 1,89 và 1,69 đồng doanh thu thuần.
Nguyên nhân là do tài sản dài hạn tăng trong khi doanh thu thuần giảm qua các năm.
44
Hệ số sinh lợi tài sản dài hạn cho biết cứ một đồng tài sản dài hạn bình quân
trong kỳ được sử dụng thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2011, một đồng tài sản dài hạn bình quân trong kỳ tạo ra 0,19 đồng lợi nhuận sau thuế; sang năm
2012 tăng lên đạt 0,21 đồng và đến năm 2013 giảm xuống mức 0,18 đồng lợi nhuận
sau thuế. Nguyên nhân là do năm 2012, cả lợi nhuận sau thuế và tài sản dài hạn bình
quân đều tăng nhưng tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của tài sản (lợi nhuận
sau thuế tăng 24,25% còn tài sản dài hạn bình quân tăng 13,78%). Sang năm 2013, lợi
nhuận sau thuế giảm trong khi tài sản dài hạn bình quân tăng dẫn tới hệ số sinh lợi tài
sản dài hạn năm này bị sụt giảm xuống còn 0,18 đồng.
Qua phân tích các chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn và hệ số sinh lợi tài
sản dài hạn cho thấy chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm trong
khi đó hệ số sinh lợi tài sản dài hạn không ổn định, lúc tăng lúc giảm. Nguyên nhân
bước đầu có thể chỉ ra là do quy mô tài sản dài hạn ngày càng tăng, nhưng việc tăng tài
sản dài hạn chủ yếu là do tăng các khoản đầu tư tài chính dài hạn mà việc đầu tư này
có tính rủi ro cao đặc biệt trong môi trường kinh tế đầy biến động như hiện nay.
Để có cách nhìn sâu hơn về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn, ta sẽ xem xét thực trạng sử dụng tài sản cố định của Công ty trong ba năm 2011 – 2013 qua các chỉ tiêu: Hiệu suất sử dụng TSCĐ, lợi nhuận ròng trên TSCĐ và tỷ suất đầu tư TSCĐ.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ phản ánh cứ một đồng TSCĐ được sử dụng thì tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ. Trong ba năm qua (từ 2011 – 2013), chỉ tiêu này có xu hướng tăng nhưng không ổn định (Hiệu suất sử dụng TSCĐ năm 2011 là 5,18, năm 2012 là 6,68 và năm 2013 giảm xuống còn 6,42). Nguyên nhân là do năm 2012, cả doanh thu thuần và TSCĐ bình quân đều giảm nhưng tốc độ giảm doanh thu
45
thuần nhỏ hơn tốc độ giảm TSCĐ bình quân (Doanh thu thuần giảm 3,9%, TSCĐ bình
quân giảm 25,44%) là do Công ty có chính sách nhượng bán và thanh lý một số tài sản. Sang năm 2013, hiệu suất sử dụng TSCĐ giảm là do doanh thu thuần giảm nhưng
TSCĐ bình quân lại tang lên phản ánh việc Công ty có chính sách mua sắm mới một
số TSCĐ nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng cũng như là thực
hiện chiến lược mở rộng lĩnh vực xây dựng công trình.
Hệ số sinh lợi TSCĐ cho biết một đồng TSCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đối với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái
Thịnh , chỉ tiêu này tăng mạnh năm 2012 (từ 44% năm 2011 lên 73% năm 2012), sau
đó giảm xuống đạt 67% năm 2013. Điều này có thể lý giải là do năm 2012 lợi nhuận sau thuế tăng trong khi TSCĐ bình quân lại giảm, nhưng đến năm 2013 thì ngược lại,
lợi nhuận sau thuế giảm trong khi TSCĐ bình quân lại tăng.
Qua phân tích ở trên có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty
là chưa ổn định. Công ty cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản này.
2.3. Đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và
Xây dựng Thái Thịnh
2.3.1. Kết quả đạt được
Qua ba năm, tổng tài sản có xu hướng tăng, trong đó tài sản dài hạn mà cụ thể là
tài sản cố định tăng lên nhiều thể hiện sự đầu tư hợp lý của Công ty. Mặt khác, trong
cơ cấu hình thành tài sản, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu ngày càng tăng, tỷ trọng các
khoản nợ ngắn và dài hạn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ cho thấy Công ty hoàn toàn làm
chủ tình hình tài chính, và không phụ thuộc nhiều vào các chủ nợ bên ngoài để đầu tư,
mở rộng quy mô hoạt động.
Bên cạnh đó, trong những năm qua, tài sản ngắn hạn của Công ty luôn đảm bảo
tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn thể hiện ở vốn lưu động ròng luôn lớn hơn 0. Điều
này chứng tỏ khả năng thanh toán của Công ty khá tốt.
Đối với tài sản cố định, Công ty đã không ngừng tăng cường khai thác năng lực của máy móc, thiết bị. Đồng thời tiến hành trích khấu hao tài sản cố định theo quy định của Bộ Tài chính nhằm chuyển dịch từng phần giá trị của tài sản cố định vào chi phí và tạo lập quỹ để bù đắp hao mòn. Ngoài ra, Công ty còn thực hiện thanh lý một số
tài sản cố định lạc hậu, đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại nhằm mở rộng quy mô hoạt động sản xuất.
Về hiệu quả sử dụng tài sản, hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh tuy có xuy hướng giảm qua các năm nhưng vẫn
46
cao hơn chỉ tiêu hệ số sinh lợi tổng tài sản trung bình của ngành xây dựng (hệ số sinh
lợi tổng tài sản trung bình của ngành xây dựng là 1%, nguồn www.cophieu68.vn).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, Công ty vẫn còn những
hạn chế cần khắc phục nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất –
kinh doanh của mình.
2.3.2.1. Hạn chế
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Qua việc phân tích các số liệu về tình hình sử dụng tài sản của Công ty trong thời
gian qua cho thấy nhình chung các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty đều có xu hướng giảm.
Thứ nhất, hiệu suất sử dụng tổng tài sản có xu hướng giảm và không đạt mục tiêu
đặt ra (xem Bảng 2.16 bên dưới để biết chi tiết về kế hoạch và thực tế thực hiện các chỉ
tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty trong ba năm (2011 - 2013)).
Thứ hai, hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) có xu hướng giảm nhẹ từ 0,12 trong
hai năm 2011 và 2012 xuống còn 0,10 vào năm 2013, là do sang năm 2013, tổng tài
sản bình quân tăng nhưng lợi nhuận sau thuế và lãi vay lại giảm.
Thứ ba, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm, đặc biệt giảm
mạnh vào năm 2012, từ 1,89 xuống còn 1,25.
Thứ tư, hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm nhẹ, từ 0,16 năm 2011
thì sang năm 2012 và 2013 giảm xuống tương ứng còn 0,14 và 0,12.
Thứ năm, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng giảm mạnh, từ 2,24 năm
2011 giảm xuống còn 1,89 năm 2012 và 1,69 năm 2013.
Thứ sáu, hệ số sinh lợi tài sản dài hạn không ổn định. Năm 2011, chỉ số này là
0,19 thì đến năm 2012 tăng lên đạt 0,21 và sang năm 2013 thì giảm xuống còn 0,18.
Thứ bảy, từ những mục tiêu về doanh thu và lợi nhuận sau thuế được đề ra hàng
năm, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty theo kế hoạch được
tính ra và được so sánh với các chỉ tiêu thực hiện thực tế trong bảng sau:
Mặt khác, các chỉ tiêu này cũng thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng
ngành, điển hình như Công ty Cổ phần Nước và Môi trường Việt Nam (Viwase) có
chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động tương tự như Công ty Cổ Phần Đầu tư và
Xây dựng Thái Thịnh nhưng các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty
Viwase đều cao hơn nhiều so với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Nhìn chung, tất cả các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ Phần
Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh đều có xu hướng giảm và không đạt kế hoạch, trong
47
đó, các chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng có xu hướng giảm mạnh hơn các chỉ tiêu về hệ số
sinh lợi và được lý giải là do trong ba năm qua cả doanh thu thuần và lợi nhuận sau
thuế của Công ty đều có xu hướng giảm mạnh. Điều đó phản ánh Công ty chưa chú
trọng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, việc tìm ra nguyên nhân cũng như những
hạn chế trên nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục là hết sức cần thiết. Đó cũng chính
2.3.2.2.
Nguyên nhân
là cơ sở để Công ty tăng khả năng cạnh tranh, tạo vị thế trên thị trường.
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, năng lực quản lý tài sản còn yếu kém
Tiền mặt dự trữ chưa hợp lý
Công ty chưa áp dụng mô hình quản lý tiền mặt giúp cho hoạt động này có hiệu quả hơn. Tiền luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản ( từ 8,3% đến 8,9% trong tổng tài sản). Việc duy trì một lượng tiền mặt lớn giúp đảm bảo tính thanh khoản của Công ty. Tuy nhiên, việc dự trữ quá nhiều tiền đã làm giảm lợi nhuận có thể thu được từ hoạt động đầu tư ngắn hạn dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động, giảm lợi nhuận của Công ty. Công ty nên duy trì một lượng tiền mặt hợp lý đủ để thanh toán, số còn lại nên lập kế hoạch sử dụng như đầu tư vào trái phiếu để số tiền này mang lại lợi ích cao hơn so với việc luôn duy trì số dư tiền mặt lớn trong quỹ và trong tài khoản ngân hàng.
Hàng tồn kho còn quá nhiều
Hàng tồn kho có xu hướng tăng về mặt giá trị và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của Công ty (đạt mức từ 46 - 53% tổng tài sản). Công ty chưa có định mức dự trữ và tiêu hao khiến việc quản lý hàng tồn kho chưa khoa học. Bên cạnh đó, những khó khăn về kinh tế trong nước và thế giới trong thời gian gần đây làm cho việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trở nên khó khăn. Điều này góp phần làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tổng tài sản nói chung.
Công tác quản lý, đầu tư tài sản cố định hữu hình chưa hiệu quả
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, tài sản cố định hữu hình là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, trong cơ cấu tài sản, tài sản cố định hữu hình chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (từ 7,9% - 14,6% tổng tài sản). Năm 2012 và 2013 , Công ty đã có chiến lược thanh lý và nhượng bán một số tài sản cũ nhưng nhìn chung máy móc, thiết bị của Công ty phần nhiều còn cũ và lạc hậu dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả, làm tăng chi phí nhiên vật liệu, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng trong quá trình hoạt động, làm tăng chi phí đầu vào, tăng giá vốn. Mặt khác, Công ty chưa có chính sách quản lý tài sản
48
phù hợp, chưa có quy định rõ ràng trong việc phân cấp tài sản để quản lý góp phần làm cho hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty không cao.
Các khoản phải thu vẫn còn nhiều
Các khoản phải thu ngắn hạn tuy có giảm về giá trị trong ba năm 2011 - 2013, nhưng vẫn có giá trị lớn và có tỷ trọng tương đối cao trong tổng tài sản (chiếm từ 22 - 49% tổng tài sản). Các khoản phải thu khách hàng tuy có giảm nhẹ vào năm 2012, nhưng lại tăng trở lại vào năm 2013. Nguyên nhân là do bộ phận kế toán của Công ty chưa nỗ lực trong công tác đòi nợ khách hàng, Công ty chưa có các biện pháp khuyến khích về vật chất đối với khách hàng thanh toán đúng hạn và do tình hình suy thoái kinh tế hiện nay dẫn tới việc các doanh nghiệp nợ lẫn nhau, chây ỳ trong việc thanh toán cho đối tác.
Do năng lực quản lý tài sản của Công ty còn yếu kém dẫn tới chi phí quản lý tăng
cao. Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty qua các năm 2011 – 2013 cho thấy chi phí quản lý doanh nghiệp tăng, đáng chú ý là tăng mạnh vào năm 2012 (từ 7.782
triệu đồng năm 2011 tăng lên 9.614 triệu đồng vào năm 2012, và sang năm 2013 là
9.156 triệu đồng) trong khi doanh thu thuần có xu hướng giảm. Đây là nguyên nhân
chính làm giảm lợi nhuận của Công ty và là vấn đề cần quan tâm và giải quyết triệt
để nhằm tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận cho Công ty nhất là trong bối cảnh các
doanh nghiệp xây dựng ngày càng gặp nhiều khó khăn và chịu sức ép cạnh tranh gay
gắt như hiện nay.
Thứ hai, công tác thẩm định dự án chưa hiệu quả
Trong những năm qua, công tác thẩm định dự án của Công ty chưa đạt hiệu quả
cao dẫn đến tình trạng đầu tư vào một số dự án có giá trị cao nhưng chưa thu hồi được vốn, làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, gây ứ đọng vốn và ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Điền hình là dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp
nước Từ Sơn, dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước đô thị huyện Văn Lâm và khu
công nghiệp Như Quỳnh. Do công tác thẩm định dự án chưa hiệu quả, không đánh giá
được những rủi ro của dự án, Công ty đã thực hiện đầu tư dự án. Trong quá trình thi công, Công ty đã gặp nhiều rủi ro như giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, khó huy động vốn cho dự án, … dẫn đến việc thi công kéo dài, chi phí tăng cao. Qua nhiều năm, công tác thi công dự án vẫn chưa hoàn thành, nước sạch vẫn chưa được bán cho dân, dẫn tới làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của Công ty so với dự kiến.
Thứ ba, khả năng huy động vốn còn hạn chế, chưa thiết lập và duy trì cơ cấu
vốn tối ưu
Đây là vấn đề mà hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều gặp phải. Qua ba năm, nguồn vốn tăng lên đáng kế, từ 38.914 triệu đồng năm 2011 lên 42.898 triệu
49
đồng năm 2013. Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữu huy động bằng cách phát hành cổ
phiếu mới chỉ đạt 21.741 triệu đồng. Thêm vào đó, các khoản vay và nợ dài hạn rất nhỏ (ở mức 951 triệu đồng). Hạn chế về vốn dẫn đến khó khăn trong việc mở rộng quy
mô sản xuất - kinh doanh cũng như tăng cường doanh thu, tăng lợi nhuận của Công ty.
Bên cạnh đó, Công ty chưa quan tâm đến vấn đề xác lập và duy trì cơ cấu
vốn tối ưu, quá phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu, không mạnh dạn sử dụng nợ thường xuyên gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của Công ty và làm
giảm hiệu quả sử dụng tài sản.
Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ nội tại bản thân của Công ty
thì những nguyên nhân khách quan bên ngoài cũng là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến những mặt hạn chế về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty
trong thời gian quan.
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nền kinh tế biến động bất lợi dẫn tới thị trường xây dựng bị co hẹp
Trong những năm gần đây, kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói
riêng rơi vào suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp tới các ngành sản xuất - kinh doanh trong
nước, đặc biệt là ngành xây dựng. Các dự án bị cắt giảm dẫn tới nhu cầu thuê dịch vụ
tư vấn cho các dự án cũng bị suy giảm theo. Bên cạnh đó, do thị trường bất động sản
trong nước bị suy giảm mạnh nên các công trình xây dựng dân dụng của Công ty cũng chịu thiệt hại lớn. Do phải kéo dài tiến độ thi công đã làm tăng chi phí đầu vào ảnh
hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Ngoài ra, nền kinh tế hội nhập
và mở cửa, ngoài việc đem lại những cơ hội phát triển, học hỏi kinh nghiệm từ các đối
tác nước ngoài, thì cũng tạo ra rất nhiều thách thức trong cạnh tranh với sự xuất hiện
của nhiều Công ty tư vấn nước ngoài với kinh nghiệm và tiềm lực mạnh. Điều đó dẫn
tới việc Công ty phải tăng chi phí cho công tác tìm kiếm và giao dịch với đối tác,
khách hàng, làm giảm lợi nhuận cũng như hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
Thứ hai, chính sách quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều hạn chế
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng, hệ thống cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng, các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, xác định chủ đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, cấp giấy phép
xây dựng, cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam, … chưa được hoàn thiện và thiếu đồng bộ. Điều này gây khó khăn cho Công ty trong việc triển khai, thực hiện các công trình cũng như cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng, dẫn tới tình trạng các dự án do Công ty thực
hiện bị kéo dài, làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận.
50
Thứ ba, thị trường chứng khoán biến động
Trong giai đoạn vừa qua, thị trường chứng khoán nhiều biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá cả nhiều loại cổ phiếu bị sụt giảm, không phản ánh thực chất giá trị nên việc
phát hành cổ phiểu để huy động vốn của Công ty cũng gặp phải khó khăn do số lượng
cổ phiếu không bán được nhiều như mong muốn. Do đó, việc huy động vốn cho các dự
án đầu tư bị hạn chế. Thêm vào đó, việc vay vốn từ các ngân hàng hiện nay có mức lãi suất cao, thủ tục phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai các dự án của Công
ty cũng như ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Công ty.
Trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của
Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh , do đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Công ty trong thời gian tới cần có những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản hơn nữa, nâng cao lợi nhuận cũng như là tính cạnh tranh trên thị trưởng
để ngày càng lớn mạnh.
51
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG THÁI THỊNH
3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty Cổ Phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh
Định hướng trong hoạt động và phát triển đến năm 2020 của Công ty được Hội đồng
quản trị đầu năm 2013 đề ra như sau:
Tiếp tục đầu tư và phát triển nguồn nhân lực nhằm phát huy nhân tố con người thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do các tổ chức đào tạo nhân lực
uy tín tổ chức, đồng thời khuyến khích cán bộ công nhân viên chủ động tiếp cận những
kiến thức, kỹ năng mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc. Tiến hành tinh
giảm lại bộ máy nhân sự gọn nhẹ, tăng cường năng lực giám sát điều hành trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Tăng cường liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp uy tín trong và ngoài nước
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty với các đối thủ trong ngành, phấn đấu
trúng thầu và thực hiện các dự án lớn trong thời gian toái.
Phấn đấu nâng cao uy tín của Công ty không chỉ ở thị trường ODA mà sẽ lan dần
sang các thị trường khối tư nhân và FDI cho các dự án phát triển hạ tầng đô thị và nông thôn; hướng tới thị trường các nước trong khu vực.
Tận dụng uy tín và các mối quan hệ sẵn có trong hoạt động tư vấn, linh hoạt nắm
bắt các cơ hội để đầu tư, không ngừng tích lũy vốn, và tìm kiếm các kênh huy động
vốn từ bên ngoài.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Cổ phần Đầu tƣ và Xây dựng Thái Thịnh
3.2.1.1. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu
3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Quản lý khoản phải thu là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp của tất cả các doanh nghiệp. Đối với Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh, các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản ngắn hạn (từ 22 - 48%). Việc tăng khoản phải thu kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí trả lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn thiếu do vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng. Hơn nữa, tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi
52
hoặc không thu hồi được do khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp. Các khoản phải thu ngắn hạn của Công ty chủ yếu từ Chủ đầu tư và các nhà thầu, tư vấn chính. Để giải quyết vấn đề này, trước khi tiến hành đấu thầu, Công ty cần nghiên cứu về các Chủ đầu tư, về nguồn vốn đầu tư cũng như là các nhà thầu, nhà Tư vấn liên quan. Đồng thời trong giai đoạn đàm phán và ký kết hợp đồng, Công ty cần đặc biệt quan tâm đến các điều khoản thanh toán, phạt do thanh toán chậm, … để có cơ sở và điều kiện nhanh chóng thu tiền. Đối với các khoản nợ sắp đến kỳ hạn thanh toán, Công ty phải chuẩn bị các chứng từ cần thiết đồng thời thực hiện kịp thời các thủ tục thanh toán, nhắc nhở, đôn đốc khách hàng. Đối với các khoản nợ quá hạn, Công ty phải chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp để thu hồi. Công ty cũng nên thành lập một bộ phân chuyên thu hồi nợ gồm các cán bộ công nhân viên các phòng ban nghiệp vụ kiêm nhiệm, tiến hành phân loại các khoản nợ đến hạn, quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để có biện pháp xử lý như quyết liệt bám sát Chủ đầu tư, nhà thầu, Tư vấn chính để đòi nợ, trường hợp khó khăn thì đưa ra tòa án kinh tế để xử lý.
Ngoài ra, việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi để chủ động bảo toàn vốn ngắn hạn phải dựa trên cơ sở là thời gian quá hạn trả nợ và tổng mức nợ của khách hàng. Công ty cần chia thời gian quá hạn trả nợ và tổng nợ ra các mức khác nhau, tương ứng với mỗi mức sẽ có một tỷ lệ trích lập dự phòng phù hợp. Mặt khác, việc thường xuyên nhận định, đánh giá về khoản phải thu sẽ nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động thu nợ.
3.2.1.2. Thiết lập kế hoạch ngân quỹ tối ưu
Tóm lại, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, thúc đẩy công tác thanh toán nợ là một trong những biện pháp tháo gỡ khó khăn về vốn, giảm lượng vốn ứ đọng ở khâu thanh toán, nhanh chóng thu hồi và quay vòng vốn, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
Tiền mặt là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, bởi nó đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, tạo lợi thế cho việc mua hàng của Công ty.
Quản lý tiền mặt là quản lý tiền giấy, tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản gắn với tiền mặt như các loại chứng khoản có khả năng thanh khoản cao. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều Công ty có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó, căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền mặt, Công ty cần cân nhắc lượng tiền mặt dự trữ và lượng tiền đầu tư cho các chứng khoán này một cách hợp lý nhằm tối ưu hóa lượng tiền mặt nắm giữ.
53
Phòng kế toán – tài chính của Công ty nên lập kế hoạch thu chi để xác định nhu
cầu chi tiêu và nguồn thu tiền tương ứng. Khi lập kế hoạch nên có sự tham gia của các bộ phận, phòng ban có liên quan để tăng độ chính xác và khách quan. Kế hoạch thu chi
nên chi tiết cho từng ngày, tuần, tháng, quý và năm; càng chi tiết thì lượng tiền mặt
được xác định có độ chính xác càng cao, phục vụ càng hiệu quả cho hoạt động kinh
doanh của Công ty, tráng tình trạng lượng tiền mặt luôn được duy trì quá mức như hiện nay.
Trong trường hợp có lượng tiền mặt nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng, Công ty nên
sử dụng để đầu tư kiếm lời bằng cách mua các chứng khoán ngắn hạn hoặc gửi tiền
nhàn rỗi vào ngân hàng. Tuy nhiên, việc gửi tiền nhà rỗi vào ngân hàng thường có lãi suất thấp, vì vậy, việc đa dạng hóa đầu tư, tìm kiếm và đầu tư vào những chứng khoán
tốt, có thanh khoản cao bằng lượng tiền mặt nhàn rỗi dư thừa sẽ giúp Công ty tăng lợi
3.2.1.3. Tăng cường quản lý hàng tồn kho
nhuận, cũng như là nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung.
Hàng tồn kho là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất kinh
doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Vì vậy, việc dự trữ nguyên vật liệu là hết sức
cần thiết. Lượng hàng tồn kho này liên quan đến các chi phí như: chi phí bốc xếp, bảo
hiểm, chi phí do giảm giá trị hàng hoá trong quá trình dữ trữ, chi phí hao hụt, mất mát,
chi phí bảo quản, chi phí trả lãi tiền vay,…
Chính vì thế, quản lý hàng tồn kho là một vấn đề quan trọng đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào. Hiện nay, tại Công ty, hàng tồn kho đang chiếm tỷ trọng tương
đối trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng tăng, đặc biệt tăng mạnh vào năm
2012 (từ 11,11% năm 2011 tăng lên 46,86% năm 2012), giảm lượng hàng tồn kho
sẽ giúp tăng vòng quay tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tổng tài sản nói chung.
Để quản lý chặt chẽ được hàng tồn kho, Công ty nên thực hiện một số biện
pháp sau:
Tiến hành và đẩy nhanh tiến độ thanh quyết toán các công trình, các hạng mục công trình nhằm thu hồi vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty, từ đó giảm lượng hàng tồn kho, tăng tốc độ luân chuyển, làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
Theo dõi thường xuyên sự biến động của thị trường vật tư, hàng hóa để đưa ra các dự báo kịp thời về biến động của thị trường. Trên cơ sở đó xác định lượng tồn kho phù hợp cho từng chủng loại nguyên vật liệu nhằm cung ứng kịp thời cho các
công trình, tránh trường hợp bị thiếu hụt hay dư thừa gây lãng phí.
54
Theo dõi và thường xuyên cập nhật tiến độ thi công các công trình để có thể
lên kế hoạch mua nguyên vật liệu đúng số lượng và kịp thời tránh tình trạng mua quá sớm dẫn tới việc nguyên vật liệu bị tồn trong kho quá lâu.
Hiện tại, Công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc
cung cấp hay dự trữ nguyên vật liệu cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm,
việc đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, Công ty cần nghiên cứu, lựa
chọn phương pháp quản lý tồn kho một cách thích hợp.
Để quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu, Công ty cần quản lý thông qua định mức
tiêu hao nguyên vật liệu, định mức tồn kho nguyên vật liệu và công tác mua sắm nguyên vật liệu.
Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vât liệu
Công ty cần xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của Công ty, từ đó xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho
toàn Công ty nhằm kiểm soát được định mức tiêu hao một cách toàn diện, đồng thời
kiểm soát được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Việc đưa ra
định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần đi kèm với cơ chế tiền lương phù hợp để thúc
đẩy cán bộ công nhân viên trong Công ty tăng cường tiết kiệm, nỗ lực tìm tòi và phát
huy sáng kiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý.
Định mức tiêu hao nguyên vât liệu cần được thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh
cho phù hợp đảm bảo vừa tiết kiệm chi phí mà vẫn cung cấp cho khách hàng sản
phẩm, dịch vụ chất lượng.
Xác định mức tồn kho nguyên vật liệu
Đây là việc xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu để đảm bảo hoạt động kinh
doanh diễn ra liên tục và không gây tồn đọng vốn cho Công ty. Công ty cần xác định
rõ danh mục các loại nguyên vật liệu cần dự trữ, nhu cầu số lượng, thời gian cung cấp.
Công tác mua sắm nguyên vật liệu
Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, phòng kế hoạch sẽ nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp và kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm nguyên vật liệu này là phải tăng cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn cung ứng ngày
càng đa dạng, Công ty cần luôn cập nhật thông tin về thị trường để lựa chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
55
Kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu
Để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý hàng tồn kho, hoạt động kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Công ty cần quan tâm hơn trong hoạt động
này đồng thời theo dõi tình hình nguyên vật liệu tồn kho không sử dụng, nguyên vật
liệu kém chất lượng, từ đó đưa ra quyết định xử lý vật tư một cách phù hợp nhằm thu
hồi vốn và tăng hiệu quả sử dụng tài sản.
Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá nguyên vật liệu
khi kiểm kê và giá cả thực tế trên thị trường.
Để hoạt động quản lý nguyên vật liệu đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trọng Công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải
sát với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng
phải cung cấp, đúng, đủ và kịp thời đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên.
Như vậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý nguyên
vật liệu sẽ giúp Công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng vốn, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
3.2.2.1. Tăng cường công tác quản lý TSCĐ
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Quản lý TSCĐ là một việc hết sức quan trọng. Trước hết, hàng năm Công ty phải
tiến hành công tác kiểm kê TSCĐ, phân loại TSCĐ theo tiêu chí TSCĐ đang sử dụng,
không cần dùng, chờ thanh lý, nhượng bán, đang cho thuê, cho mượn, TSCĐ đi thuê,
đi mượn. Cách phân loại này hết sức cần thiết để Công ty theo dõi được tình trạng tài
sản một cách thường xuyên, có hệ thống, từ đó Công ty có thể đưa ra các quyết định
thanh lý, nhượng bán những TSCĐ có hiệu quả sử dụng thấp, không cần dùng để tránh
ứ đọng vốn, đó có thể là quyết định sửa chữa để tiếp tục đưa phương tiện, máy móc
thiết bị vào sử dụng hay là quyết định đầu tư mới TSCĐ.
Đối với quản lý tài sản, Công ty đã mở sổ theo dõi tổng hợp và chi tiết cho từng
TSCĐ, theo dõi nguyên giá, giá trị còn lại của TSCĐ, theo dõi những biến động tăng,
giảm giá trị tài sản theo đúng quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, việc theo dõi này cần
kết hợp với việc kiểm kê thực tế, phân loại đánh giá TSCĐ hàng năm sẽ đảm bảo công
tác quản lý tài sản được toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
Công ty nên xây dựng quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ, phân cấp quản lý TSCĐ
một cách hợp lý, rõ ràng nhằm nâng cao trách nhiệm cho từng bộ phận trong quá trình
sử dụng. Việc ban hành quy chế quản lý TSCĐ phải đi kèm với việc thường xuyên
kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chấp hành quy chế quản lý TSCĐ của các bộ phận.
56
Khi đưa TSCĐ vào sử dụng, Công ty cần lựa chọn phương pháp khấu hao với mức khấu hao hợp lý làm cơ sở cho việc thu hồi kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư ứng trước vào TSCĐ. Từ đó tạo điều kiện cho Công ty tập trung vốn nhanh để đầu tư đổi mới TSCĐ.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản đòi hỏi Công ty phải sử dụng máy móc thiết bị hết công suất, duy trì được năng lực sản xuất và kéo dài thời gian hoạt động. Vì vậy, Công ty phải lập ra kế hoạch sử dụng TSCĐ hợp lý dựa trên kế hoạch hoạt động kinh doanh và thực trạng tài sản của Công ty.
Mặt khác, hiệu quả sử dụng tài sản hiện nay của Công ty còn ở mức thấp, nguyên nhân là do trình độ cán bộ quản lý của Công ty còn yếu kém. Vì vậy, Công ty cần có kế hoạch đào tạo phù hợp nhằm nâng cao trình độ của các cán bộ quản lý, nên thường xuyên cử cán bộ quản lý chủ chốt đi học các khóa học đào tạo ngắn hạn về chuyên ngành để nâng cao kiến thức chuyên môn, phục vụ công việc quản lý được tốt hơn, hoặc cử cán bộ đi học hỏi kinh nghiệm tại các đơn vị bạn.
3.2.2.2. Tăng cường sửa chữa, nâng cấp TSCĐ đi kèm với đầu tư đúng hướng
Bên cạnh đó, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề của công nhân cũng là hết sức cần thiết. Điều này giúp cho người công nhân có thêm kiến thức mới và khả năng làm việc, sử dụng máy móc thiết bị hiệu quả hơn.
Trước hết, Công ty cần thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ, xây dựng kế hoạch nâng cấp TSCĐ để khai thác hết công suất của máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, duy trì năng lực hoạt động, kéo dài tuổi thọ của TSCĐ, tránh tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn hoặc hư hỏng bất thường làm tăng chi phí sử dụng TSCĐ cũng như thiệt hại do ngừng hoạt động.
Đối với các công trình xây dựng cơ bản dở dang, Công ty cần có biện pháp thích hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian thi công, nhanh chóng hoàn thành, đưa công trình vào sử dụng.
Đối với hoạt động đầu tư mua sắm đổi mới TSCĐ, Công ty cần phân tích, đánh giá đúng thực trạng số lượng, chất lượng và tính đồng bộ của TSCĐ. Từ đó, Công ty xác định được nhu cầu về số lượng, năng lực và tính đồng bộ của TSCĐ trong những năm tiếp theo. Trên cơ sở kết hợp của kết quả phân tích và dự báo khả năng vốn của Công ty, Công ty cần tiến hành xây dựng chiến lược đầu tư TSCĐ. Chiến lược đầu tư ngoài việc xác định số lượng TSCĐ cần mua sắm còn phải xác định được trình độ công nghệ mà các TSCĐ đó phải đáp ứng. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng dịch vụ, sản phẩm. Đầu tư TSCĐ một cách hợp lý, đúng hướng có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho Công ty đồng thời tăng cường lợi nhuận.
57
Tóm lại, làm tốt công tác mua sắm, đầu tư xây dựng cơ bản kết hợp với việc tăng cường quản lý, sử dụng, sửa chữa, bảo dưỡng và nâng cấp phương tiện, máy móc thiết bị có ý nghĩa rất quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí đầu vào, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty.
3.2.3.1. Tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường
3.2.3. Một số giải pháp khác
Tuy Công ty là một trong những doanh nghiệp khá mạnh trong lĩnh vực tư vấn cấp, thoát nước, giám sát môi trường và tái định cư, nhưng chủ yếu là thị trường các dự án ODA trong nước. Đây là một thị trường nhỏ nhưng cạnh tranh hết sức gay gắt nên lợi nhuận thu được bị hạn chế. Do đó, để nâng cao hiệu quả kinh doanh, Công ty cần tích cực khai thác, tìm kiếm và mở rộng thị trường sang các dự án phát triển hạ tầng đô thị của khối tư nhân, FDI không chỉ ở đô thị mà cả ở khu vực nông thôn cũng như hướng tới thị trường các nước trong khu vực như Lào, Campuchia, bằng cách nâng cao uy tín chất lượng dịch vụ nhằm mang lại nguồn lợi nhuận vững chắc hơn. Để đạt được mục đích đó, Công ty cần phải nâng cao sức cạnh tranh của mình hơn nữa trước những yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế và khu vực. Trước hết, Công ty cần nhanh chóng tìm các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của mình. Để thực hiện điều này, Công ty cần bám sát các nội dung sau đây:
- Nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm.
- Xây dựng cơ sở vật chất tốt, đầu tư các trang thiết bị, phương tiện hiện đại
nhằm phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh.
- Nâng cao năng lực quản trị kinh doanh để có khả năng cạnh tranh với các doanh
nghiệp các nước trong khu vực và quốc tế; giữ vững thị trường các dự án ODA.
- Chủ động hội nhập quốc tế, sẵn sàng nắm bắt các cơ hội và thích ứng với những
thay đổi khi Việt Nam tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, Công ty cần thành lập bộ phận nghiên cứu phát triển với chức năng
chịu trách nhiệm nghiên cứu các nhu cầu của khách hàng, triển khai các dịch vụ và dự
3.2.3.2. Đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh quyết toán công trình
án mới. Bộ phận này cần luôn theo dõi các thông tin tổng thể về kinh tế cũng như trong ngành, thường xuyên cung cấp các báo cáo thị trường và dự án tiềm năng cần điều tra nghiên cứu sâu, điều tra thị trường và tính tương thích dịch vụ, đánh giá tính khả thi và phối hợp triển khai dự án mới. Bên cạnh đó, Công ty cần quan tâm hơn tới hoạt động quảng cáo nhằm mở rộng thị trường
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hiện tượng chiếm
dụng vốn lẫn nhau giữa Chủ đầu tư với nhà thầu, giữa nhà thầu với các nhà cung cấp
nguyên vật liệu diễn ra rất phổ biến. Việc chiếm dụng vốn có thể đem lại những lợi ích
58
nhất định cho các nhà thầu xây lắp, tuy nhiên khi quá trình nghiệm thu, quyết toán,
giải ngân vốn đầu tư cần nhiều thời gian thì tiềm ẩn nhiều rủi ro về khả năng thanh toán của nhà thầu. Do vậy, Công ty cần đẩy nhanh tiến độ thi công hoàn thiện bàn giao
các công trình, đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu, thanh quyết toán công trình. Công ty
nên bám sát Chủ đầu tư, nhà thầu chính, Tư vấn chính hơn nữa để giải quyết dứt điểm
3.2.3.3. Tăng cường huy động vốn
việc thanh quyết toán công trình, nhằm sớm thu hồi vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty.
Để mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh cũng như khẳng định vị thế của mình trên thị trường thì nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là
rất lớn. Do đó, để có thể huy động được vốn với chi phí thấp nhất, trước hết, Công ty
cần phải đa dạng hóa phương thức huy động vốn, cụ thể:
- Mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng để có nhiều cơ hội lựa chọn nguồn tài trợ với chi phí thấp nhất. Đồng thời tùy từng thời điểm, từng mục đích sử dụng và nhu
cầu vốn khác nhau, Công ty có thể sử dụng linh hoạt hình thức vay dài hạn, ngắn hạn,
vay theo hợp đồng, vay theo hạn mức tín dụng, ….
- Tiếp tục thu hút các nguồn vốn liên doanh thông qua việc góp vốn thành lập
liên doanh với các đối tác trong và ngoài nước.
- Khai thác tối đa nguồn vốn tín dụng thương mại. Đây là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh. Tín dụng thương mại cung cấp cho
Công ty cả nguồn tài trợ dài hạn thông qua mua chịu máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu. Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác đang gặp khó khăn, khai thác triệt để
nguồn tín dụng thương mại giúp cho Công ty có thêm nguồn tài trợ không nhỏ.
Ngoài ra, bên cạnh việc phát hành cổ phiếu như đã thực hiện, Công ty có thể
nghiên cứu phát hành trái phiếu hoặc các chứng chỉ nhận nợ dài hạn để huy động vốn
phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Tuy nhiên, để có thể phát hành trái
phiếu, Công ty cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường, các thủ tục pháp lý và loại trái phiếu phát hành có lợi nhất.
Bên cạnh việc tăng cường huy động vốn, Công ty nên chú trọng tới cơ cấu vốn. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối tương quan tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu.
Khi đề cập đến cơ cấu vốn chỉ xem xét đến nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu mà không xem xét đến nợ ngắn hạn, vì nợ ngắn hạn mang tính ngắn, tạm thời, không ảnh hưởng nhiều đến sự chia sẻ quyền quản lý và giám sát hoạt động của doanh nghiệp.
Các khoản nợ ngắn hạn hầu như chỉ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn
59
ngắn hạn của doanh nghiệp, không bị tác động nhiều bởi các nhân tố bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa, chi phí để tiếp cận vốn ngắn hạn thấp hơn vốn dài hạn. Do vậy, khi thiết lập kế hoạch huy động vốn, doanh nghiệp chỉ xem xét đến các nguồn
vốn dài hạn.
Một cơ cấu vốn được coi là tối ưu khi chi phí vốn thấp nhất, đồng thời khi đó,
giá trị thị trường của cổ phiếu của doanh nghiệp cũng là cao nhất.
Như vậy, có hai căn cứ để xác định cơ cấu vốn tối ưu của Công ty, đó là chi phí
vốn và giá trị thị trường của cổ phiếu. Tuy nhiên, giá trị thị trường của cổ phiếu là tiêu
chí mang tính khách quan, không phải chỉ do những nhân tố nội tại của chính sách
quản lý vốn của Công ty quyết định. Giá cổ phiếu trên thị trường có thể là cao nhất nhưng không phải vì cơ cấu vốn tối ưu mà vì một nhân tố khách quan nào đó tác động.
Chi phí vốn thấp nhất sẽ dẫn đến giá cổ phiếu trên thị trường là cao nhất.
Do vậy, thiết lập cơ cấu vốn tối ưu, Công ty cần dựa trên cơ sở xác định chi phí
vốn thấp nhất. Chi phí vốn được hiểu là chi phí bỏ ra để sử dụng một nguồn vốn nào
đó. Tương ứng với hai bộ phận chính của cơ cấu vốn là Nợ và Vốn chủ sở hữu thì
cũng có hai loại chi phí vốn, đó là chi phí Nợ và chi phí Vốn chủ sở hữu. Chi phí Nợ
được hiểu là chi phí Công ty phải bỏ ra để huy động nợ. Chi phí Vốn chủ sở hữu bao
gồm chi phí của cổ phiếu ưu tiên, chi phí cổ phiếu thường mới và chi phí của lợi nhuận
3.2.3.4. Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định dự án
không chia.
Trong thời gian qua, một số dự án đầu tư của Công ty như dự án xây dựng nhà
máy nước Thuận thành tại tỉnh Bắc Ninh được đầu tư với lượng vốn và thời gian khá
lớn song không mang lại hiệu quả do khả năng thẩm định dự án còn hạn chế và một số
rủi ro khách quan mà Công ty không lường trước được. Vì thế, nâng cao hiệu quả công
tác thẩm định dự án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cũng như hiệu quả
kinh doanh cho Công ty.
Trước hết, Công ty cần xây dựng đội ngũ cán bộ thẩm định có năng lực chuyên
môn tốt. Cán bộ thẩm định là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng thẩm định dự
án. Nếu họ có chuyên môn tốt, thực hiện tốt quy trình thẩm định thì kết quả thẩm định
mới đáng tin cậy. Do tính chất phức tạp và phạm vi liên quan của dự án, cán bộ thẩm
định không những phải có kiến thức chuyên môn sâu mà còn cần phải hiểu biết rộng,
có phẩm chất đạo đức tốt.
Thứ hai, Công ty cần trang bị thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá trình
thẩm định dự án. Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ chính xác của kết quả
thẩm định dự án. Với trang thiết bị hiện đại, việc thu thập và xử lý các thông tin sẽ
60
được tiến hành một cách nhanh chóng và chính xác, các cơ hội đầu tư sẽ được nắm bắt
kịp thời.
Thứ ba, nguồn thông tin sử dụng trong thẩm định phải đáng tin cậy. Bởi thẩm
định dự án được tiến hành trên cơ sở phân tích các thông tin trực tiếp và gián tiếp liên
quan đến dự án. Nếu những thông tin này không được thu thập một cách chính xác và
đầy đủ thì kết quả thẩm định dự án sẽ bị hạn chế, quyết định đầu tư sai.
Thứ tư, công tác tổ chức thẩm định phải khoa học. Do thẩm định được tiến hành
theo nhiều giai đoạnh nên tổ chức công tác thẩm định có ảnh hưởng không nhỏ đến
thẩm định dự án. Nếu công tác này được tổ chức tốt, hợp lý trên cơ sở phân công trách
nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định dự án
sẽ cao.
Ngoài ra, khi thẩm định dự án, Công ty cần kết hợp thẩm định tài chính với thẩm
định kỹ thuật và thẩm định kinh tế xã hội. Trong đó, thẩm định tài chính dự án là quan
trọng nhất.
3.3. Kiến nghị
Để có thể đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả
sử dụng tài sản nói riêng thì bên cạnh nỗ lực của Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Thái Thịnh trong việc tổ chức thực hiện các giải pháp trên còn rất cần sự hỗ trợ của
Nhà nước, các cơ quan ban ngành.
3.3.1.1. Hoàn thiện đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật xây dựng
3.3.1. Kiến nghị với nhà nước
Nhà nước cần hoàn thành việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ
luật xây dựng, đồng thời tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung những văn bản không
còn phù hợp.
Hiện nay, các quy định về xây dựng chưa đầy đủ, như chưa phân rõ trách nhiệm,
quyền hạn của các cơ quan chức năng trong thẩm định dự án đầu tư xây dựng, trong quản lý các dự án xây dựng, …. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế này là hết sức cần thiết. Ngoài ra, việc ban hành các cơ chế, chính sách thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng cạnh tranh lành mạnh, hoạt động bình đẳng cũng là hết sức cần thiết.
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước cũng cần giảm thiểu các thủ tục hành chính trong việc xét duyệt các dự án đầu tư vì hiện nay các thủ tục hành chính quá rườm rà, phức tạp, thời gian cấp phép cho các dự án lâu sẽ làm mất cơ hội
kinh doanh cũng như là làm giảm tiến độ thực hiện các dự án của Công ty.
61
3.3.1.2. Ổn định kinh tế, kiểm soát lạm phát
Nhà nước cần có chính sách tiền tệ hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định nền
kinh tế tạo cho các doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh tốt, cạnh tranh lành mạnh góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả
sử dụng tài sản của các doanh nghiệp.
Khi lạm phát được kiểm soát, tỷ giá hối đoái được ổn định thì các chi phí đầu vào
của Công ty như chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí đầu tư tài sản cố định, … cũng sẽ ổn định theo giúp Công ty đạt được mục tiêu kinh doanh như đã định, giảm
chi phí, tăng lợi nhuận.
Một chính sách tiền tệ hợp lý còn giúp cho lãi suất tín dụng được ổn định, hợp lý
tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng
Thái Thịnh nói riêng đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt
3.3.1.3. Bình ổn, phát triển thị trường chứng khoán
động và ngày càng phát triển.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận rất quan trọng của thị trường tài chính.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán là điều kiện tiên quyết để thị trường tài chính
phát triển. Để các doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng và hiệu quả bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu chắc chắn phải có nền tảng hỗ trợ của một thị
trường chứng khoán phát triển. Trong đó tính thanh khoản của chứng khoán lưu hành
trên thị trường là hết sức quan trọng. Nếu như các doanh nghiệp huy động vốn ban đầu
trên thị trường sơ cấp thì trên thị trường thứ cấp, nơi các chứng khoán được mua bán
lại, sẽ tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán. Thị trường thứ cấp sôi động sẽ thúc
đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp. Do đó, các doanh nghiệp có thể dễ dàng phát
hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn.
Thực tế, trong thời gian qua, thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã có sự phát
triển nhất định, trở thành tâm điểm chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Lượng chứng khoán niêm yết, giao dịch tăng mạnh, số lượng các nhà đầu tư cũng như
các công ty chứng khoán tăng mạnh. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa thực sự trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp bởi nó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro kinh doanh và rủi ro kinh tế. Các công ty chứng khoán chưa đóng vai trò nhà tạo lập thị trường quan
trọng trên thị trường, các nhà đầu tư phần lớn là cá nhân nhìn chung chưa có tính chuyên nghiệp, hành vi đầu tư thường mang tính ngắn hạn, “bầy đàn”, gây biến động mạnh về giá và làm giảm độ tin cậy đối với thị trường, nhất là trong bối cảnh mức độ công khai, minh bạch của thị trường còn thấp như hiện nay.
62
Ngoài ra, thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới chủ yếu phát triển thị trường cổ
phiếu. Thị trường trái phiếu chưa phát triển. Hiện nay còn thiếu nhiều điều kiện nền tảng để phát triển thị trường trái phiếu công ty. Hệ thống tư pháp, các chuẩn mực về công bố
thông tin kế toán, hệ thống thanh toán, … cần được cải thiện nhiều.
Do đó, để bình ổn và phát triển thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh
huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp, Nhà nước cần có các biện pháp nhằm tăng cường minh bạch hóa thông tin, hoàn thiện vấn đề quản trị điều hành, hoàn thiện
hệ thống luật pháp, cải thiện điều kiện giao dịch, …. Từ đó, các doanh nghiệp có thể
tăng cường vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động
của mình.
63
KẾT LUẬN
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp đang là mối quan tâm hàng
đầu của các doanh nghiệp. Nó có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp từ giai đoạn đầu mới được thành lập cho tới khi doanh
nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công
ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh, có thể thấy rằng tổng tài sản của Công ty có xu hướng tăng, trong đó tài sản dài hạn mà cụ thể là tài sản cố định tăng lên nhiều
thể hiện sự đầu tư hợp lý của Công ty. Công ty đã không ngừng tăng cường khai thác năng lực của máy móc, thiết bị cũng như là đã thực hiện thanh lý một số tài sản cũ, lạc
hậu, đầu tư thêm máy móc thiết bị mới nhằm mở rộng quy mô hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế, như các chỉ
tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty còn thấp so với các doanh nghiệp cùng
ngành. Nguyên nhân là do năng lực quản lý tài sản còn yếu kém, các khoản phải thu
còn nhiều.
Ngoài việc phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản cũng như là đề xuất các
giải phải, khóa luận cũng đã đề cập tới cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của
doanh nghiệp, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và các yếu tố có thể ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản.
Hy vọng khóa luận đóng góp phần nào giúp Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây
dựng Thái Thịnh sử dụng tài sản ngày càng hiệu quả hơn, mang lại kết quả kinh doanh
tốt hơn và Công ty ngày càng lớn mạnh.
Hiệu quả sử dụng tài sản luôn là một vấn đề rộng và phức tạp, tuy đã cố gắng
song do trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận không thể
tránh khỏi việc thiếu sót, tác giả mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo.
64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh , Báo cáo tài chính, năm 2011. 2- Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh , Báo cáo tài chính, năm 2012.
3- Công ty Cổ Phần Đầu tư và Xây dựng Thái Thịnh , Báo cáo tài chính, năm 2013.
5- PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
6- PGS.TS Lưu Thị Hương & PGS.TS Vũ Duy Hào (2010), Tài Chính Doanh
Nghiệp, Nxb ĐH Kinh Tế Quốc Dân, Trang 5-9, Trang 127-138, Trang 159-
176.
7- PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiền (2007), Giáo trình Tài
chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.
8- Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
9- Nguyễn Hải Sản (2005), Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Tài
Chính, Hà Nội.
10- Đại học kinh tế TP HCM (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Hà
Nội.
11- Trường đại học kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình pháp luật kinh tế, Nxb
Thống kê.
12- Nguyễn Thế Khải (1997), Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, Nxb
Tài chính, Hà Nội.
13- Luật Doanh nghiệp (2005)
14- Thông tin trên: Tạp chí kinh tế các năm 2011, 2012, 2013.
15- http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/mot-nam-nhin-1ai-nganh-xay-dung-
chua-the-khoi-sac-a15198.html.
16- http://www.vietnamplus.vn/kien-dinh-kiem-che-lam-phat-on-dinh-kinh-te-vi-
mo/218083.vnp.
17- http://batdongsan.vietnamnet.vn/fms/doanh-nghiep-du-an/54741/mot-nam--
song-gio--voi-dn-xay-dung--bat-dong-san.html
18- http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/154893/lam-phat-thap-nhat-10-nam-van-cao-
hon-tang-truong.html
65
PHỤ LỤC
Mẫu số B 02 – DNN
(Ban hành theo QĐ số 48/2006 /QĐ-BTC
ngày 14/ 9/2006 của Bộ trưởng BTC)
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Năm 2012
Đơn vị tính: Đồng
Năm
Năm
CHỈ TIÊU
Mã số
Thuyết minh
Nay
Trƣớc
A
C
2
1
B
29.362.014.681
30.554.015.277
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
IV.08
01
0
0
2. Các khoản giảm trừ doanh thu
02
3. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (10 = 01
10
29.362.014.681
30.554.015.277
– 02)
16.727.008.364
18.988.009.494
4. Giá vốn hàng bán
11
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
20
12.634.006.317
11.566.005.783
(20 = 10 – 11)
239011950
67.000.034
6. Doanh thu hoạt động tài chính
21
692.034.600
393.000.197
7. Chi phí tài chính
22
692.034.600
393.000.197
– Trong đó: Chi phí lãi vay
23
9.614.004.807
7.782.003.891
8. Chi phí quản lý kinh doanh
24
9. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
30
2.567.001.284
3.458.001.729
(30 = 20 + 21 – 22 – 24)
2.120.106.000
4.000.002
10. Thu nhập khác
31
618.030.900
0
11. Chi phí khác
32
12. Lợi nhuận khác
40
1.502.751.000
4.000.002
(40 = 31 – 32)
IV.09
13. Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế
50
4.069.002.035
3.462.001.731
(50 = 30 + 40)
843.000.421
865.000.433
14. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
51
15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
60
3.226.001.613
2.596.001.298
(60 = 50 – 51)
Mẫu số B 02 – DNN
(Ban hành theo QĐ số 48/2006 /QĐ-BTC
ngày 14/ 9/2006 của Bộ trưởng BTC)
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Năm 2013
Đơn vị tính: Đồng
Năm
Năm
Thuyết
CHỈ TIÊU
Mã số
minh
Nay
Trƣớc
A
C
1
2
B
28.795.014.398
29.362.014.681
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
IV.08
01
0
0
2. Các khoản giảm trừ doanh thu
02
28.795.014.398
29.362.014.681
3. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (10 = 01 – 02)
10
15.642.007.821
16.727.008.364
4. Giá vốn hàng bán
11
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
20
13.153.006.577
12.634.006.317
(20 = 10 – 11)
315.015.750
239011950
6. Doanh thu hoạt động tài chính
21
756.037.800
692.034.600
7. Chi phí tài chính
22
756.037.800
692.034.600
– Trong đó: Chi phí lãi vay
23
9.156.004.578
9.614.004.807
8. Chi phí quản lý kinh doanh
24
9. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
30
3.556.001.778
2.567.001.284
(30 = 20 + 21 – 22 – 24)
84.004.200
2.120.106.000
10. Thu nhập khác
31
25.001.250
618.030.900
11. Chi phí khác
32
12. Lợi nhuận khác
40
59.029.500
1.502.751.000
(40 = 31 – 32)
IV.09
13. Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế
50
3.615.001.808
4.069.002.035
(50 = 30 + 40)
904.000.452
843.000.421
14. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
51
15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
60
2.711.001.356
3.226.001.613
(60 = 50 – 51)
Đơn vị báo cáo: Công ty Cổ Phần Đầu
Mẫu số B 01 – DN (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC, Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
tƣ và Xây dựng Thái Thịnh Địa chỉ:Đống Đa – Hà Nội
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Bắc Ninh, ngày 31 tháng 12 năm 2013
Đơn vị tính: đồng
TÀI SẢN
Mãsố
Số năm nay
Số năm trƣớc
Thuyết minh
1
5
5
3
2
- TÀI SẢN NGẮN HẠN
100
23.713.011.857 23.713.011.857
A (100=110+120+130+140+150)
I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng
110
3.446.001.723 3.446.001.723
tiền
1.Tiền
V.01
111
2. Các khoản tương đương tiền
112
3.446.001.723 3.446.001.723
V.02
0 0
120
0
0
II. Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn
1. Đầu tư ngắn hạn
121
2. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn (*) (2)
129
III. Các khoản phải thu ngắn hạn
130
1. Phải thu khách hàng
131
5.943.002.972 5.943.002.972
2. Trả trước cho người bán
132
2.532.001.266 2.532.001.266
4. Các khoản phải thu khác
V.03
135
329.000.165 329.000.165
5. Dự phòng phải thu ngắn hạn khác
136
3.407.001.704 3.407.001.704
-324.000.162 -324.000.162
IV. Hàng tồn kho
140
1. Hàng tồn kho
V.04
141
11.112.005.556 11.112.005.556
2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*)
149
11.112.005.556 11.112.005.556
V. Tài sản ngắn hạn khác
150
3.212.001.606 3.212.001.606
1. Chi phí trả trước ngắn hạn
151
2. Thuế GTGT được khấu trừ
152
2.048.001.024 2.048.001.024
3. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước
V.05
154
5. Tài sản ngắn hạn khác
158
2.000.001 2.000.001
1.161.000.581 1.161.000.581
- TÀI
SẢN DÀI HẠN
200
15.147.007.574 15.147.007.574
B (200 = 210 + 220 + 240 + 250 + 260)
I- Các khoản phải thu dài hạn
210
II. Tài sản cố định
220
1. Tài sản cố định hữu hình
V.08
221
3.103.001.552 3.103.001.552
- Nguyên giá
222
3.103.001.552 3.103.001.552
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
223
6.329.003.165 6.329.003.165
2. Tài sản cố định thuê tài chính
V.09
224
- Nguyên giá
225
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
226
4. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
230
V.11
-3.226.001.613 -3.226.001.613
III. Bất động sản đầu tƣ
240
V.12
250
12.044.006.022 12.044.006.022
IV. Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn
V. Tài sản dài hạn khác
260
1. Chi phí trả trước dài hạn
261
V.14
159.000.080 159.000.080
2. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại
262
V.21
3. Tài sản dài hạn khác
268
101.000.051 101.000.051
58.000.029 58.000.029
TỔNG CỘNG TÀI SẢN (270 = 100 + 200)
270
38.860.019.430 38.860.019.430
NGUỒN VỐN
A. NỢ PHẢI TRẢ (300 = 310 + 330)
300
16.470.008.235 16.470.008.235
I. Nợ ngắn hạn
310
1. Vay và nợ ngắn hạn
V.15
311
15.519.007.760 15.519.007.760
2. Phải trả người bán
312
3.548.001.774 3.548.001.774
874.000.437 874.000.437
3. Người mua trả tiền trước
313
4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
V.16
314
5.367.002.684 5.367.002.684
5. Phải trả người lao động
315
2.362.001.181 2.362.001.181
6. Chi phí phải trả
V.17
316
1.281.000.641 1.281.000.641
7. Phải trả nội bộ
317
2.414.001.207 2.414.001.207
II. Nợ dài hạn
330
B - VỐN CHỦ SỞ HỮU (400 = 410 + 430)
400
22.548.011.274 22.548.011.274
I. Vốn chủ sở hữu
V.22
410
1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu
411
22.548.011.274 22.548.011.274
22.548.011.274 22.548.011.274
Đơn vị báo cáo: Công ty Cổ Phần Đầu
Mẫu số B 01 – DN (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC, Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
tƣ và Xây dựng Thái Thịnh Địa chỉ:Đống Đa – Hà Nội
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Bắc Ninh, ngày 31 tháng 12 năm 2013
Đơn vị tính: đồng
Thuyết
TÀI SẢN
Mãsố
Số năm nay
Số năm trƣớc
minh
1
3
5
5
2
A
- TÀI SẢN NGẮN HẠN
100
23.713.011.857
23.127.011.564
(100=110+120+130+140+150)
3.446.001.723
5.151.002.576
I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền
110
1.Tiền
V.01
3.446.001.723
3.493.001.747
111
1.658.000.829
112
0
2. Các khoản tương đương tiền
V.02
120
0
0
II. Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn
121
1. Đầu tư ngắn hạn
129
2. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn (*) (2)
5.943.002.972
11.198.005.599
III. Các khoản phải thu ngắn hạn
130
131
2.532.001.266
3.204.001.602
1. Phải thu khách hàng
132
329.000.165
496.000.248
2. Trả trước cho người bán
135
V.03
3.407.001.704
7.821.003.911
4. Các khoản phải thu khác
5. Dự phòng phải thu ngắn hạn khác
-324.000.162
-324.000.162
136
11.112.005.556
4.232.002.116
140
IV. Hàng tồn kho
141
V.04
11.112.005.556
4.232.002.116
1. Hàng tồn kho
149
2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*)
3.212.001.606
2.546.001.273
150
V. Tài sản ngắn hạn khác
151
2.048.001.024
611.000.306
1. Chi phí trả trước ngắn hạn
152
0
2.000.001
2. Thuế GTGT được khấu trừ
154
3. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước
V.05
158
5. Tài sản ngắn hạn khác
1.161.000.581
1.935.000.968
- TÀI
SẢN DÀI HẠN
200
15.147.007.574
15.760.007.880
B (200 = 210 + 220 + 240 + 250 + 260)
I- Các khoản phải thu dài hạn
210
3.103.001.552
5.689.002.845
II. Tài sản cố định
220
1. Tài sản cố định hữu hình
V.08
3.103.001.552
5.689.002.845
221
- Nguyên giá
6.329.003.165
7.619.003.810
222
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
-3.226.001.613
-1.930.000.965
223
2. Tài sản cố định thuê tài chính
V.09
224
- Nguyên giá
225
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
226
4. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
230
V.11
III. Bất động sản đầu tƣ
240
V.12
12.044.006.022
10.071.005.036
IV. Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn
250
159.000.080
17.000.009
V. Tài sản dài hạn khác
260
1. Chi phí trả trước dài hạn
101.000.051
17.000.009
261
V.14
2. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại
262
V.21
3. Tài sản dài hạn khác
58.000.029
268
0
TỔNG CỘNG TÀI SẢN (270 = 100 + 200)
270
38.860.019.430
38.887.019.444
NGUỒN VỐN
16.470.008.235
19.685.009.843
A. NỢ PHẢI TRẢ (300 = 310 + 330)
300
15.519.007.760
19.685.009.843
I. Nợ ngắn hạn
310
1. Vay và nợ ngắn hạn
V.15
3.548.001.774
832.000.416
311
2. Phải trả người bán
874.000.437
1.086.000.543
312
3. Người mua trả tiền trước
5.367.002.684
2.784.001.392
313
4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
V.16
2.362.001.181
1.989.000.995
314
5. Phải trả người lao động
1.281.000.641
2.250.001.125
315
6. Chi phí phải trả
V.17
2.414.001.207
2.954.001.477
316
7. Phải trả nội bộ
317
II. Nợ dài hạn
330
22.548.011.274
19.228.009.614
B - VỐN CHỦ SỞ HỮU (400 = 410 + 430)
400
22.548.011.274
19.228.009.614
I. Vốn chủ sở hữu
V.22
410
1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu
411
22.548.011.274
19.228.009.614
2. Thặng dư vốn cổ phần
412
3. Vốn khác của chủ sở hữu
413
4. Cổ phiếu quỹ (*)
414
5. Quỹ đầu tư phát triển
417
6. Quỹ dự phòng tài chính
418
7. Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu
419
8. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
420
9. Nguồn vốn đầu tư XDCB
421
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN (440 =
440
38.860.019.430
38.887.019.444

