---o0o---

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH

SINH VIÊN THỰC HIỆN :

NH

MÃ SINH VIÊN

: A11345

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH

– 2014O

---o0o---

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH

PGS.TS Lƣu Thị Hƣơng

Sinh viên thực hiện

:

nh

Mã sinh viên

: A11345

Chuyên ngành

: Tài Chính

– 2014

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Thị Hương đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận

tốt nghiệp.

Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Kinh tế- Quản lý, Trường Đại

Học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.

Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh đã

cho phép, tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Công ty và cung cấp số liệu để em

thực hiện khóa luận.

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công ty Cổ phần Công

nghệ Bình Minh luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong cuộc

sống và công việc.

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Tuấn Anh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ

giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích

dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Tuấn Anh

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 1

1.1. Khái quát chung về vốn và sử dụng vốn của Doanh nghiệp ............................................................ 1

1.1.1. Khái niệm vốn ............................................................................................................................ 1

1.1.2. Phân loại và các hình thức sử dụng vốn ............................................................................... 2

1.2. Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp .......................................................... 4

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ............................................................................................ 4

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ......................................................................... 5

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ................... 8

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH .......................................................................... 16

2.1. Giới thiệu về công ty ...................................................................................................................................... 16

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ...................................................................................... 16

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh ......................... 16

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh ......................................... 17

2.1.4. Chức năng nhiệm vụ từng bộ phận trong công ty ............................................................ 18

2.1.5. Nội dung về chính sách kế toán của công ty .................................................. 20

2.1.6. Khái quát kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2010- 2012 ................................... 21

2.2. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh .............. 23

2.2.1. Thực trạng về sử dụng vốn tại công ty ................................................................................. 23

2.2.2. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh .. 35

2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh ...................... 37

2.3.1. Những biện pháp công ty áp dụng ....................................................................................... 37

2.3.2. Kết quả đạt được ...................................................................................................................... 38

2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân ....................................................................................................... 39

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH .............................. 43

3.1. Phƣơng hƣớng hoạt động của Công ty trong thời gian tới .............................................................. 43

3.2. Một số giải pháp chủ yếu ............................................................................................................................. 44

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty .......................................................... 44

3.2.2 . Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty ...................................................... 45

3.2.3. Một số giải pháp chung cho công ty ....................................................................................................... 50

3.3. Một số kiến nghị .............................................................................................................................................. 50

3.3.1. Về phía nhà nước .................................................................................................................... 50

3.3.2. Về phía Ngân hàng ................................................................................................................. 51

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 54

DANH MỤC VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt BHXH Tên đầy đủ Bảo hiểm xã hội

BHYT CSH Bảo hiểm y tế Chủ sở hữu

CPBH Chi phí bán hàng

DTT Doanh thu thuần

ĐVT Đơn vị tính

HQSD HĐTC Hiệu quả sử dụng Hoạt động tài chính

LN QLDN Lợi nhuận Quản lý doanh nghiệp

SXKD Sản xuất kinh doanh

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TSCĐ Tài sản cố định

VNĐ Việt Nam đồng

VCĐ Vốn cố định

VLĐ Vốn lưu động

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh ....................... 17

Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh từ

năm 2010 đến năm 2012 ................................................................................................ 22

Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty ...................................................................... 24

Bảng 2.3: Cơ cấu tài sản của công ty ............................................................................ 26

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn cố định của công ty .................................................................... 29

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn lưu động Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh ................. 31

Biểu đồ 2.1. Tình hình "Tài sản lưu động khác" trong giai đoạn từ 2010 – 2012 ........ 33

Bảng 2.6: Nguồn tài trợ vốn lưu động của công ty ....................................................... 34

Bảng 2.7: Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động và sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần

Công Nghệ Bình Minh .................................................................................................. 35

LỜI MỞ ĐẦU

Vốn là yếu tố sản xuất đầu tiên của mỗi doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn là mục tiêu và nhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý tài chính ở mỗi doanh nghiệp. Việc hình thành một cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng tiết kiệm và đẩy nhanh

tốc độ luân chuyển của vốn là góp phần gia tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất

kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập của nền kinh tế. Đất nước ta đã đạt được

những thành tựu đáng kể và đang có những bước đột phá mạnh mẽ. Cơ chế hội nhập

kinh tế mới đã đem lại cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội mới cũng như nhiều thách

thức trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo. Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế

đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trong đó các vấn đề về vốn như: vốn huy động ở đâu, được sử dụng

như thế nào để có hiệu quả tối ưu là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Việc quản lý và

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát

triển của mỗi doanh nghiệp.

Xuất phát từ vai trò và nhận thức được tầm quan trọng của vốn đối với từng

doanh nghiệp. Qua thời gian được thực tập tại công ty, em quyết định chọn đề tài:

“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Công Ty Cổ Phần Công nghệ Bình Minh” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.

Em hy vọng rằng với bài viết này của mình có thể chỉ ra được những mặt tích

cực cũng như hạn chế của công ty, trên cơ sở đó nhằm đưa ra những ý kiến, kiến nghị

góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn tại công ty.

Ngoài phần mở đầu và kết luận. Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:

Chƣơng 1: Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp

Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Công

nghệ Bình Minh

Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công

ty Cổ Phần Công nghệ Bình Minh

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lưu Thị Hương cùng toàn thể thầy cô giáo trong khoa Kinh tế- Quản lý, Trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ hướng dẫn em tận tình trong thời gian thực tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp này. Xin cảm ơn

Ban lãnh đạo công ty cùng các cô, chú và các anh chị công tác tại công ty đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài viết này.

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP

1.1. 1.1.Khái quát chung về vốn và sử dụng vốn của Doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm vốn

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì đòi hỏi cần phải có vốn đầu tư. Có thể nói rằng vốn là tiền đề cho sự tồn tại và hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Vậy

vấn đề đặt ra ở đây – Vốn là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn để đảm bảo cho

hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Vốn trong các doanh nghiệp là một

quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích

lũy chứ không phải mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ khác trong doanh

nghiệp. Đứng trên các giác độ khác nhau ta có cách nhìn khác nhau về vốn.

Theo quan điểm của Mark - nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì

ông cho rằng: “Vốn chính là tƣ bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu

vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật

chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm

của Mark.

Còn Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá vốn

là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được

sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.

Trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo

hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài

sản của doanh nghiệp. Trong đó:

Vốn hiện vật: Là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất sử dụng để sản xuất ra các

hàng hoá khác.

Vốn tài chính: Là tiền và tài sản của doanh nghiệp.

- Từ những vấn đề trên ta thấy có thể rút ra đƣợc một số đặc điểm của vốn

+ Thứ nhất: Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt vì vốn có giá trị và giá trị sử dụng, có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sỡ hữu và vốn không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó.

+ Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng

vốn vô chủ.

+ Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời.

+ Thứ tư: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể

phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng

vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn tại công ty, ta cần phân loại vốn để có biện pháp quản lý tốt hơn.

1.1.2. Phân loại và các hình thức sử dụng vốn

Sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng

trưởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động này, doanh nghiệp bỏ vốn nhằm hình thành

và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của

mình. Điều đó được thể hiện thông qua cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn.

Mỗi loại hình doanh nghiệp có các hình thức sử dụng vốn khác nhau sao cho

phù hợp với loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực cũng như ngành nghề kinh doanh. Tiến

hành phân loại vốn nhằm mục đích quản lý, kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh các

loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.

1.1.1.1 1.1.2.1. Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển vốn

Nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định:

Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của một bộ phận của vốn

đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần

trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian

sử dụng.

- Đặc điểm của vốn cố định:

+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này do đặc

điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ SXKD quyết định.

+ Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần và cấu thành chi phí sản

phẩm trong các chu kỳ sản xuất.

+ Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân

chuyển.

Những đặc điểm luân chuyển trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn

cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của

doanh nghiệp.

Vốn lƣu động:

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông. Vốn

lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá.

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất

kinh doanh, nó phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn taị dưới nhiều hình

thức khác nhau để có được mức vốn lưu động hợp lý và đồng bộ.

Vốn lưu động là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động vật tư. Vốn

lưu động vận chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số vật tư sử dụng tiết kiệm hay

không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không. Bởi vậy,

thông qua tình hình luân chuyển vốn lưu động còn có thể kiểm tra việc cung cấp, sản

xuất và tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp.

1.1.1.2 1.1.2.2. Phân loại theo nguồn hình thành vốn

Theo cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp gồm: Vốn chủ sỡ hữu và

Nợ phải trả.

- Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các

thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Có ba

nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đó là: vốn kinh doanh, các quỹ

của doanh nghiệp và chênh lệch đánh giá lại tài sản.

- Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh

nghiệp có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ vay

của các chủ thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộp ngân

sách ...

1.1.1.3 1.1.2.3. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

- Nguồn vốn thƣờng xuyên: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho toàn bộ tài sản cố định của mình. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn của doanh nghiệp. Trong đó nợ dài hạn là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay.

- Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động

tạm thời của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người

mua vừa trả tiền...

Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về

vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách

thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản cố định.

1.1.1.4 1.1.2.4. Phân loại theo phạm vi huy động và sử dụng vốn

- Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt

động bản thân của doanh nghiệp như: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các

khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ...

- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể

huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD như: vay

ngân hàng, các tổ chức kinh tế khác, vay của cá nhân và nhân viên trong công ty...

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, lựa chọn trong việc sử

dụng nguồn vốn sao cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao, linh hoạt hơn và tránh

được rủi ro, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

Có thể nói, vốn không chỉ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn

ra liên tục, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - một nền kinh tế phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá, hội

nhập. Mà vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện

có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng, phát triển trên thị trường,

mở rộng lưu thông và tiêu thụ hàng hoá, là chất keo dính kết quá trình và quan hệ kinh

tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động. Như vậy có thể xem vốn là một trong

những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân, cũng như để doanh

nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tái sản xuất mở rộng kinh

doanh của mình.

1.2. 1.2. Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn

Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của bất kì nền sản xuất nói chung nào và là mối quan tâm của doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt nó đang là vấn đề cấp bách mang tính thời sự đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện

nay. Có thể nói, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vừa là câu hỏi vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp này.

Do vậy, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh

trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh

doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí bỏ ra là thấp nhất.

Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan đến tất cả các yếu tố

của quá trình sản xuất kinh doanh (đối tượng lao động, tư liệu lao động) cho nên doanh

nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình

này có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở

rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và doanh nghiệp phải đạt được các mục

tiêu đề ra trong quá trình sử dụng vốn của mình.

Trước đây trong cơ chế bao cấp, chi phí và doanh thu do nhà nước ấn định là chủ yếu. Quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc lãi nhà nước thu, lỗ

nhà nước bù. Nhà nước giao kế hoạch mang tính pháp định về mặt hàng trong kinh

doanh, nguồn hàng, nơi tiêu thụ và doanh thu. Vì vậy doanh nghiệp không thể và

không cần thiết phải phát huy tính sáng tạo, chủ động của mình trong sản xuất kinh

doanh. Việc hạch toán kinh doanh mang tính chất hình thức. Đa số các doanh nghiệp

lãi giả lỗ thật, nguy cơ ảnh hưởng đến nền kinh tế ngày càng tăng, nhiều doanh nghiệp

làm ăn kém hiệu quả vẫn được nhà nước bù lỗ để duy trì.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường thì điều đó không còn phù hợp nữa, đặc biệt là từ năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO thì sự cạnh tranh diễn ra gay gắt giữa các thành

phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện

cơ bản để một doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hơn thế nữa, điều đó sẽ giúp cho

doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, với các doanh

nghiệp nước ngoài, tạo uy tín trên thị trường.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Các doanh nghiệp Việt Nam với số vốn tự có hay vốn vay, vốn điều lệ đều

không phải là số vốn cho không, không phải trả lãi mà đều phải hoặc là trả cổ tức,

hoặc là nộp thuế vốn và hạch toán bảo toàn vốn. Vậy số vốn này lớn lên bao nhiêu là đủ, là hợp lý, là hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp? Mặt khác, trong quá trình kinh doanh, một doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có sức tiêu thụ lớn, thị trường ngày càng ổn định và mở rộng, nhu cầu của khách hàng ngày càng lớn thì đương nhiên là cần nhiều vốn để phát triển kinh doanh.

Do đó, nếu công tác quản trị và điều hành không tốt thì doanh nghiệp hoặc là phát hành thêm cổ phiếu để kêu gọi vốn đầu tư, đi vay các tổ chức tín dụng hoặc thậm chí là không biết xoay xở ra sao khiến doanh nghiệp rơi vào tính trạng thiếu vốn trầm

trọng... và có khả năng nguy cơ đưa doanh nghiệp đến chỗ phá sản. Để đánh giá chính

xác hơn hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, ta có thể dựa vào các nhóm chỉ tiêu

đo lường sau đây.

1.2.1.1 1.2.2.1. Nhóm các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh

nghiệp

- Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp

DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiệu quả sử dụng = toàn bộ vốn Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc doanh thu hay lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của bộ phận sản xuất

Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất

càng cao và ngược lại.

- Tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ vốn (ROI)

Tỷ suất doanh lợi tổng vốn (%) là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng

vốn. Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy

đồng lợi nhuận.

Tổng lợi nhuận sau thuế ROI (%) = Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

1.2.1.2 1.2.2.2. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn cố định

- Hiệu quả sử dụng vốn cố định:

DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiệu quả sử dụng = vốn cố định Vốn cố định bình quân

Hiệu quả sử dụng vốn cố định là chỉ tiêu phản ánh: một đồng vốn cố định bình quân của doanh nghiệp tham gia vào quá trình SXKD thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.

- Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định (%):

Tổng lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận = vốn cố định (%) Vốn cố định bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định bình quân của doanh nghiệp trong kỳ tham gia vào quá trình SXKD thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

1.2.1.3 1.2.2.3. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động:

DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiệu quả sử dụng = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh: một đồng vốn lưu động bình

quân của doanh nghiệp trong kỳ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra

được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Số doanh thu được tạo ra trên một đồng vốn lưu

động càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

- Tỷ suất lợi nhuận vốn lƣu động (%):

Tổng lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận = vốn lưu động (%) Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ tham gia vào

sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

- Một số chỉ tiêu khác:

+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động : Là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản

ánh trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng vốn của DN. Nó bao gồm các chỉ

tiêu sau:

Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ: Thể hiện số lần luân chuyển vốn ngắn

hạn được thực hiện trong một thời kỳ nhất định (thường tính trong 1 năm), được xác định theo công thức:

DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Vòng quay = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn lưu động càng rút

ngắn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

Số ngày luân chuyển vốn lưu động trong kỳ: Là số ngày bình quân cần thiết để

vốn lưu động thực hiện một vòng quay trong kỳ.

N Số ngày luân chuyển = vốn lưu động Vòng quay vốn lưu động

Với N: Số ngày trong kỳ (một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng

là 30 ngày).

+ Vòng quay các khoản phải thu:

DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Vòng quay = khoản phải thu Khoản phải thu bình quân

Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu

để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiêp, qua đó có thể đánh giá

hiệu quả của một chính sách đầu tư của doanh nghiệp.

Thông thường, vòng quay các khoản phải thu cao nói lên rằng doanh nghiệp

đang quản lý các khoản phải thu hiệu quả, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn.

+ Kỳ thu tiền bình quân :

Khoản phải thu bình quân x N Kỳ thu tiền bình quân = DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Với N: Số ngày trong kỳ (một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng

là 30 ngày).

Kỳ thu tiền bình quân cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp

xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu được tiền về. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp quản lý tốt công tác phải thu của mình.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1.2.1.4 1.2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng

- Cơ cấu nguồn vốn và chi phí sử dụng vốn:

Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn

khác nhau với một tỷ lệ nào đó của mỗi nguồn để tài trợ cho tổng tài sản của nó. Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có cơ cấu vốn khác nhau, do đó chi phí vốn sẽ khác nhau.

Cơ cấu vốn có liên quan đến việc tính chi phí vốn. Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn

huy động thì ban quản lý phải tìm ra một cơ cấu vốn phù hợp với tình hình cụ thể của

từng doanh nghiệp.

Để có đủ vốn phục vụ cho SXKD, doanh nghiệp phải huy động từ nhiều nguồn (nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp), mỗi nguồn có chi phí

khác nhau và chi phí này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn, cụ thể:

Một cơ cấu vốn sử dụng vốn vay thì khoản chi phí sử dụng nợ sẽ được trừ ra trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp vì đó là chi phí hợp lý, sử dụng đòn bẩy tài

chính giúp doanh nghiệp tạo ra lá chắn thuế hiệu quả, giảm được số thuế phải nộp dẫn

đến tăng lợi nhuận, nâng cao khả năng sử dụng vốn hiệu quả. Tuy nhiên, công ty sẽ

chịu áp lực về nợ, nếu không sử dụng có hiệu quả khoản vốn vay đó sẽ dễ mắc vào

nguy cơ vỡ nợ, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Cơ cấu vốn sử dụng vốn chủ cũng vậy, nếu công ty lựa chọn huy động vốn chủ

thì chi phí phải trả là chia sẻ quyền kiểm soát của công ty, đồng thời giảm lợi nhuận

khi chia lợi nhuận sau thuế, lúc đó hiệu quả sử dụng vốn của nhà đầu tư sẽ có nguy cơ

giảm. Tuy nhiên, lựa chọn cơ cấu vốn này thì nguồn vốn của công ty sẽ an toàn, sẽ

không phải chịu áp lực nợ.

Vì cơ cấu và chi phí sử dụng vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp, nên trong hoạt động SXKD các doanh nghiệp phải tạo ra được

tỷ suất lợi nhuận lớn hơn hoặc bằng chi phí sử dụng vốn. Vì vậy doanh nghiệp sẽ phải xác định được cho mình một cơ cấu vốn tối ưu (là cơ cấu vốn làm cân bằng tối đa giữa

rủi ro và lãi suất, làm cho chi phí của vốn thấp nhất), khi đó hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp sẽ cao hơn.

- Thị trƣờng của doanh nghiệp:

Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong điều kiện hiện nay cũng đều chịu

tác động của thị trường. Nếu hoạt động của doanh nghiệp mà không được thị trường

chấp nhận thì doanh nghiệp đó coi như không tồn tại. Thị trường tác động đến cả “đầu

ra” và “đầu vào” của doanh nghiệp. Nếu thị trường ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và có nhiều cơ hội hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá. Ngược lại nếu thị trường biến động thường xuyên liên tục sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp như: sự biến động về giá cả, sự tiêu thụ hàng hoá, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng, sở thích của các tác nhân thị trường... cuối cùng là tác động đến chi phí của

doanh nghiệp, mà hiệu quả sử dụng vốn là yếu tố được xem xét và quan tâm hàng đầu

đối với nhà quản lý.

- Thị trƣờng vốn:

Nói đến hoạt động của doanh nghiệp ta nghĩ ngay đến vấn đề vốn nhiều hay ít

sẽ tạo ra mức doanh thu lớn hay nhỏ. Như vậy, với một mức doanh thu nào đó, đòi hỏi

phải có sự cân bằng tương ứng với một lượng vốn.

Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với nhau, điều

đó còn phụ thuộc vào hiệu quả quản lý, sử dụng vốn kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp có

một đặc điểm khác nhau, nhưng tóm lại nó thường bao gồm các khoản vốn sau: Vốn

vay Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vốn chủ sở hữu, vốn ngân sách cấp, vốn liên doanh - liên kết và nhiều nguồn vốn khác. Như vậy, vốn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử

dụng vốn như thế nào.

+ Đối với nguồn vốn vay Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác:

Để có được nguồn vốn sử dụng thì doanh nghiệp phải bỏ chi phí ra trả cho việc

sử dụng nó. Tỷ lệ này thường xuyên thay đổi tuỳ thuộc vào trạng thái của nền kinh tế

và số lượng vốn vay của doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp không thể vay bao

nhiêu tuỳ thích, mà nó phụ thuộc vào hạn mức tín dụng. Nếu vượt quá hạn mức thì

Ngân hàng sẽ không cho vay nữa.

Trước khi tiến hành huy động vốn thì doanh nghiệp phải tính đến yếu tố chi phí

mà mình phải bỏ ra để trả cho việc huy động đó. Chi phí này lại nằm trong công tác về

sử dụng vốn.

+ Đối với nguồn vốn chủ sở hữu:

Như chúng ta biết, đối với doanh nghiệp nhà nước phải làm ăn có hiệu quả, bảo

toàn và phát triển được vốn thì Nhà nước mới cấp phát vốn cho doanh nghiệp. Còn đối

với công ty cổ phần thì phải đảm bảo được tỷ suất doanh lợi cao hơn tỷ lệ lợi tức yêu

cầu của các nhà đầu tư... Để có được những nguồn vốn đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải

đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Để đạt được mục tiêu kinh doanh thì doanh

nghiệp phải đạt được hiệu quả sử dụng vốn.

+ Đối với các nguồn vốn khác:

Các nguồn vốn khác bao gồm: Vốn chiếm dụng của cá nhân, đơn vị khác trong và ngoài doanh nghiệp, vốn liên doanh - liên kết, vốn FDI, ODA...

Khi lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn của mình, các doanh nghiệp phải cân nhắc, so sánh lợi nhuận đem lại và chi phí bỏ ra để có được chúng, từ đó xác định cho mình một cơ cấu vốn tối ưu với chi phí thấp nhất. Nếu chi phí vốn cao sẽ làm

giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn.

- Thị trƣờng lao động và thị trƣờng nguyên vật liệu:

Thị trường lao động và nguyên vật liệu là các yếu tố đầu vào cơ bản để doanh

nghiệp có thể tiến hành SXKD. Vì vậy, lao động và nguyên vật liệu là vấn đề được các

nhà quản lý rất chú trọng quan tâm.

Khi thị trường lao động và nguyên vật liệu dồi dào, phong phú và phù hợp với

ngành nghề SXKD của công ty. Công ty sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn để có được những

yếu tố đầu vào tốt nhất cho quá trình SXKD với những đồng vốn bỏ ra sao cho tương

xứng nhất và ngược lại.

Có thể nói: Thị trường lao động và nguyên vật liệu là những nhân tố trực tiếp

tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, và cũng là những nhân tố mang

tính quyết định và không thể thiếu để xác định hiệu quả sử dụng vốn.

- Thị trƣờng tiêu thụ:

Nhu cầu thị trường là yếu tố quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp. Khi cầu về sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất trên thị trường tăng lên thì

doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh cung sản phẩm đó ra thị trường.

Sản lượng tiêu thụ và giá bán của sản phẩm là những yếu tố cơ bản quyết định

đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy tìm kiếm được thị trường và nắm

bắt được những nhu cầu của thị trường là nhân tố quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn

của doanh nghiêp.

- Rủi ro trong kinh doanh:

Rủi ro kinh doanh là rủi ro cố hữu trong tài sản của doanh nghiệp, trong trường

hợp doanh nghiệp không sử dụng nợ vay. Rủi ro kinh doanh càng lớn thì tỷ lệ nợ tối

ưu càng thấp.

Khi các rủi ro xảy ra dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất uy tín, mất bạn

hàng... cuối cùng là thất bại trong kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kém.

Muốn thành công trong kinh doanh các doanh nghiệp phải biết chấp nhận rủi

ro, phải biết đúng hướng đầu tư, xem rủi ro nào có thể chấp nhận được, rủi ro nào không thể chấp nhận được.

- Các nhân tố khác:

+ Nhân tố con người:

Là yếu tố quyết định nhất trong việc đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả trong doanh

nghiệp. Một doanh nghiệp có trong tay một đội ngũ cán bộ công nhân có năng lực, trình độ cao giàu kinh nghiệm làm việc, khả năng tiếp thu nhanh những công nghệ

hiện đại, có tính sáng tạo... sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp và ngược

lại.

Bên cạnh đó, với một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ năng lực, khả năng, sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vì với đội

ngũ này, doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình một phương án kinh doanh tốt nhất, biết

tận dụng triệt để nguồn lực sẵn có, xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng, bạn

hàng... tạo được một ê kíp làm việc từ trên xuống dưới đoàn kết, ăn ý và có hiệu quả.

Ngoài ra, trình độ quản lý về mặt tài chính hết sức quan trọng, quy trình hạch

toán của doanh nghiệp có phù hợp, số liệu kế toán có chính xác thì quyết định tài chính

của của người lãnh đạo của doanh nghiệp mới có cơ sở khoa học. Việc thu chi phải rõ

ràng, đúng tiến độ, kịp thời, tiết kiệm mới nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Việc quản lý hàng tồn kho, quản lý khâu sản xuất, tiêu thụ cũng hết sức

quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.

+ Cơ chế quản lý và các chính sách của Đảng, Nhà nước

Đây là một trong những nhân tố khách quan tác động đến hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp. Nhà nước tạo hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh cho doanh

nghiệp hoạt động, do đó doanh nghiệp phải chấp hành những chế độ, quy định của

Nhà nước. Bất kỳ sự thay đổi nào trong cơ chế quản lý của Nhà nước đều tác động

trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn ngày 1/1/1999 Nhà nước ban hành và áp dụng luật thuế giá trị gia tăng đã ảnh hưởng rất lớn

đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

Một cơ chế quản lý ổn định, thích hợp với các loại hình doanh nghiệp sẽ là điều

kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, giúp cho họ yên tâm khi tiến hành sản xuất

kinh doanh, dồn hết năng lực sẵn có của mình vào kinh doanh mà không sợ sự biến

động của thị trường.

1.2.1.5 1.2.3.2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

- Về vốn cố định:

+ Tiến hành nâng cấp và đổi mới TSCĐ

Đối với các doanh nghiệp việc mua sắm tài sản cố định đúng phương hướng,

đúng mục đích có ý nghĩa to lớn và cực kỳ quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn cố định nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Điều đó giúp cho việc tính

khấu hao của công ty được chính xác hơn và giảm được hao mòn vô hình. Nếu công ty

không chủ động đầu tư để đổi mới máy móc, thiết bị thì chắc chắn sẽ bị thua kém trong cạnh tranh.

+ Tiến hành quản lý chặt chẽ TSCĐ

Để thực hiện công tác quản lý TSCĐ tốt, các doanh nghiệp cần tiến hành các hình thức:

Tiến hành mở sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản cố định hiện có:

Nguyên giá, khấu hao, giá trị còn lại theo đúng chế độ kế toán thống kê hiện hành,

phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản trong quá trình kinh doanh.

Tiến hành kiểm kê lại TSCĐ theo đúng định kỳ và khi kết thúc năm tài chính.

Xác định được số tài sản thừa, thiếu, ứ đọng và nguyên nhân gây ra để kịp thời đưa ra

những giải pháp cụ thể.

Tiến hành phân cấp quản lý TSCĐ cho các bộ phận trong nội bộ công ty, quy

định rõ trách nhiệm, quyền hạn đồng thời kiểm kê, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản

cố định trong năm.

Chọn phương pháp khấu hao thích hợp.

Thực hiện đánh giá lại tài sản vào cuối mỗi kỳ hoặc niên độ kế toán. Việc

thường xuyên đánh giá và đánh giá lại TSCĐ giúp công ty lựa chọn cho mình được

phương pháp, khấu hao hợp lý nhằm thu hồi lại vốn hoặc có những biện pháp xử lý kịp

thời đối với tài sản mất giá, tránh tình trạng thất thoát vốn.

- Về vốn lƣu động:

+ Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu

Các khoản phải thu có tác dụng làm tăng doanh thu bán hàng, chi phí tồn kho

giảm, tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả song nó cũng làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ. Giảm mức vốn bị chiếm

dụng của công. Chính vì vậy, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu để công ty vừa tăng được doanh thu, tận dụng tối đa năng lực sản xuất hiện có vừa bảo đảm tính hiệu quả là điều hết sức quan trọng.

+ Quản lý chặt chẽ hàng tồn kho

Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu trữ để

sản suất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp hàng tồn kho thường ở 3 dạng:

nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm;

các sản phẩm chờ tiêu thụ. Tùy theo ngành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài

sản trên có dự trữ khác nhau. Trong các doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng hàng tồn kho dự trữ ở dang nguyên vật liệu, nhiên liệu thường có tỷ trọng lớn. Song trong các doanh

nghiệp thương mại tồn kho chủ yếu là sản phẩm, hàng hóa chờ tiêu thụ.

Việc quản lý chặt chẽ hàng tồn kho trong các doanh nghiệp là rất quan trọng,

không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp (thường là 15- 30%). Điều quan trọng hơn là nhờ

dự trữ đúng mức, hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị

thiếu sản phẩm hàng hóa để bán, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn ngắn hạn.

+ Giảm chu kỳ vận động của tiền mặt

Ta đã biết, chu trình vận động của tiền mặt là: T – H – T’, rút ngắn thời gian

vận động của tiền mặt cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn

lưu động, tăng nhanh số lần tạo ra T’ thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn của công ty.

- Các biện pháp chung:

+ Thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động

Để hoạt động SXKD của doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì doanh nghiệp

phải biết được đồng vốn mình bỏ ra sẽ đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Việc thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ giúp công ty có cái nhìn

đích thực và nắm bắt chính xác tình hình tài chính của mình, từ đó đưa ra các giải pháp

kịp thời và có hiệu quả để giải quyết các khó khăn cũng như các biện pháp phát huy

các mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong việc sử dụng vốn của mình.

+ Giảm thiểu chi phí quản lý của doanh nghiệp một cách tốt nhất

Việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp góp phần làm tăng

lợi nhuận của công ty, thì phải đề ra các giải pháp cụ thể cho việc quản lý chi phí này

như: Điều chỉnh lại quy trình kinh doanh, giảm thiểu số nhân viên quản lý ở các phòng ban sao cho phù hợp vừa đảm bảo được hiệu quả quản lý vừa không ngừng gia tăng doanh thu. Điều chỉnh hướng tới chi phí quản lý nhỏ nhất có thể được, công ty nên có giải pháp huy động vốn khác để giảm được chi phí vốn vay ngân hàng.

+ Chủ động xây dựng kế hoạch huy động vốn sản xuất kinh doanh

Kế hoạch huy động và sử dụng vốn là hoạt động hình thành nên các dự định về tổ chức các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn của công ty và tổ chức sử dụng vốn nhằm

đạt hiệu quả cao nhất.

Trên cơ sở nhu cầu vốn đã lập, công ty có thể xây dựng kế hoạch huy động bao

gồm việc lựa chọn nguồn tài trợ tích cực nhất, xác định khả năng vốn có, hiệu quả của

doanh nghiệp, số vốn thiếu cần tìm nguồn tài trợ thích hợp đảm bảo cung ứng vốn đầy đủ cho sản xuất, với chi phí sử dụng vốn thấp nhất, hạn chế tối đa rủi ro xảy ra và tạo

cho công ty có cơ cấu vốn linh hoạt.

Kế hoạch huy động và sử dụng vốn là một bộ phận quan trọng của kế hoạch

kinh doanh. Cũng như đối với các kế hoạch khác, khi kế hoạch huy động và sử dụng vốn được lập sát, đúng, toàn diện đồng bộ thì có thể được coi là cơ sở tin cậy cho việc

tổ chức và sử dụng vốn của công ty được hiệu quả hơn.

+ Chú trọng tìm kiếm thị trường ổn định, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm

Tăng cường công tác nghiên cứu và dự báo thị trường để nắm bắt kịp thời nhu

cầu của thị trường, tổ chức mạng lưới tiêu thụ có hiệu quả. Đây là biện pháp tốt nhất

để tăng số lượng, doanh số bán hàng trong cả hiện tại và tương lai, tạo điều kiện cho

việc định hướng đầu tư trong những năm tiếp theo. Tiêu thụ sản phẩm nhanh, nhiều là

biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Do vậy, thị

trường tiêu thụ là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.

Để tiến hành được một cách tốt hơn về thị trường tiêu thụ ta cần chú trọng:

Tăng cường công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường, Marketing, nắm bắt những

yêu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm.

Tìm kiếm khách hàng có nhu cầu lớn và sử dụng có tính chất thường xuyên, lâu

dài để ký kết các hợp kinh doanh tạo cho công ty một thị trường lâu dài ổn định.

CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH

1.3. 2.1.Giới thiệu về công ty

1.4. 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Tên công ty : Công ty Cổ phần Công Nghệ Bình Minh

Trụ sở chính : 456 Trần Khát Chân, Phường Phố Huế, Quận Hai Bà Trưng,

Số điện thoại : Thành phố Hà Nội (043) 27152380

Fax : (043) 27152339

Số tài khoản : 138228107367 tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Hình thức sở hữu : Công ty Cổ phần

0101078404 :

Mã số thuế Lĩnh vực kinh doanh : Kinh doanh thương mại

Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh là một đơn vị kinh doanh hoạch toán độc

lập với ngành nghề kinh doanh chính là buôn bán, dịch vụ sữa chữa, tư vấn và chuyển

giao công nghệ về các máy móc, thiết bị mới, sản xuất phần mềm. Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyền hạn nghĩa vụ được qui định,

có điều lệ tổ chức hoạt động, có bộ máy quản lý và điều hành, có tài khoản tại ngân

hàng, có tài sản và chịu trách nhiệm về tài sản đó.

Kể từ khi thành lập cho đến nay, công ty đã và đang không ngừng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Từ một công ty mới thành lập gặp nhiều khó khăn về

nhiều mặt như vốn kinh doanh, cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc trang thiết bị... để

phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, công ty đã từng bước ổn định và phát triển.

Đến nay công ty đã vươn lên và trở thành một trong những công ty mạnh và phát triển

ổn định trong lĩnh cung cấp và chuyển giao công nghệ thiết bị mới. Đồng thời hàng

năm, Công ty đã đóng góp cho Ngân sách nhà nước một lượng lớn tài chính từ lợi

nhuận của mình. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình có trình độ cao, bộ máy tổ chức

năng động và chuyên nghiệp, nguồn tài chính lành mạnh, công ty luôn được khách hàng và đối tác nước ngoài tin tưởng và đánh giá cao.

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh

Buôn bán trang thiết bị, dụng cụ Y tế;

Buôn bán hoá chất, phân bón (trừ hoá chất do nhà nước cấm);

Buôn bán thiết bị, vật tư khoa học kỹ thuật;

Buôn bán máy móc, thiết bị phục vụ cho ngành công nghiệp;

Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành các sản phẩm kinh doanh của công ty;

Buôn bán trang thiết bị trường học;

Tư vấn và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường, tin học, trang thiết bị y tế, thực phẩm và khoa học kỹ thuật; sản xuất phần mềm;

Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá;

Dịch vụ giao nhận hàng hoá;

Buôn bán thiết bị, vật tư, máy móc phục vụ ngành sản xuất thiết bị điện, điện

tử, điện lạnh,viễn thông, đo lường, thiết bị ngoại vi, âm thanh, ánh sáng…

1.5. 2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh

Công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh là một doanh nghiệp cổ phần hoá, bộ máy

quản lý của Công ty được áp dụng theo cơ cấu trực tuyến tham mưu. Dựa vào những ưu

điểm vốn có của nó mà ban lãnh đạo Công ty đã xây dựng một cơ cấu rất phù hợp với

tình hình sản xuất cho Công ty như hiện nay.

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Công nghệ Bình Minh

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình tập trung bao gồm: Ban

giám đốc, các phòng chức năng. Biểu hiện thì đây là một cơ cấu tinh giảm gọn nhẹ cho

bộ máy quản lý, tiếp cận và xử lý thông tin nhanh. Bên cạnh đó nó còn cho phép phát

huy tốt công tác quản lý và điều hành tập trung được trí tuệ, sức mạnh tập thể và sự sáng

tạo của các cá nhân, công việc của các phòng ban được phân định rõ ràng. Còn tận dụng

được sự chỉ đạo của ban lãnh đạo cấp trên, đồng thời tham khảo ý kiến đóng góp của

cấp dưới một cách xác thực hơn để giải quyết công việc.

Qua sơ đồ trên cho thấy bộ máy quản lý của Công ty đã xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban và mối quan hệ công tác giữa các phòng ban, từ đó đảm bảo cho việc cung cấp các thông tin, xử lý thông tin một cách chính xác và ra quyết định kịp thời tạo ra sự thông suốt trong công việc.

1.6. 2.1.4. Chức năng nhiệm vụ từng bộ phận trong Công ty

2.1.4.1. Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là những người đề ra các chiến lược phát triển dài hạn của Công

ty, họ có thể bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối

với Giám đốc và người quản lý quan trọng khác theo Điều lệ Công ty cụ thể như:

Quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Phó giám đốc và người quản lý khác trong điều hành

công việc kinh doanh hằng ngày của Công ty;

Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ Công ty, quyết định thành lập Công ty

con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp

khác.

2.1.4.2. Ban kiểm soát

Chức năng nhiệm vụ chính của Ban kiểm soát là:

- Ban kiểm soát có nhiệm vụ thay mặt Đại hội đồng Cổ đông giám sát, đánh giá công tác

điều hành, quản lí của Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc theo đúng các qui định

trong Điều lệ Công ty, các Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng quản trị;

- Có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc cung cấp mọi hồ sơ và thông

tin cần thiết liên quan đến công tác điều hành quản lí Công ty;

- Mọi Thông báo, Báo cáo, Phiếu xin ý kiến đều phải được gửi đến Ban kiểm soát cùng thời điểm gửi đến các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban giám đốc;

- Kiểm tra, thẩm định tính trung thực, chính xác, hợp lí và sự cẩn trọng từ các số liệu trong

Báo cáo tài chính cũng như các Báo cáo cần thiết khác…

2.1.4.3. Ban giám đốc

Ban giám đốc gồm Tổng giám đốc và Phó giám đốc. Ban giám đốc có nhiệm vụ:

- Điều hành các chiến lược đã được Hội đồng quản trị đề ra; - Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hằng ngày của Công ty;

- Trực tiếp giao dịch và kí kết các hợp đồng của Công ty; - Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của Công ty; - Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của Công ty; - Quản lý, giám sát các phòng ban, cung cấp các nguồn lực cần thiết cho các công trình và thường xuyên báo cáo kết quả cho Hội đồng quản trị;

- Tư vấn, xét duyệt, theo dõi, kiểm tra kỹ thuật, tiến độ và chất lượng của thành phẩm nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa thỏa mãn yêu cầu với chất lượng và hợp đồng.

2.1.4.4. Phòng tài chính – kế toán

Phòng tài chính – kế toán có chức năng đề xuất với Ban giám đốc về công tác quản

lý tài chính, kế toán, thống kê trong Công ty, đồng thời tiến hành lập, lưu trữ, kiểm tra, kiểm soát toàn bộ các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực tài chính - kế toán theo quy

định của pháp luật hiện hành, cụ thể:

- Tham mưu cho Giám đốc thực hiện chức năng quản lý tài chính, tổ chức thực hiện các

chỉ tiêu về tài chính – kế toán, thi hành kịp thời các qui định về tài chính – kế toán của Nhà nước và cấp trên. Quan hệ với ngân hàng, cơ quan thuế và các cơ quan hữu quan để

thực hiện công tác tài chính – kế toán theo qui định của pháp luật;

- Quản lý tài sản, tiền vốn, hàng hóa, kinh phí và các quỹ, tổng kết thu – chi tài chính, báo

cáo quyết toán, từ đó lập kế hoạch tài chính và cung cấp thông tin cho các bộ phận trong và ngoài Công ty;

- Tổ chức thanh toán mua bán hàng hóa nhanh chóng và thu hồi công nợ, tăng nhanh vòng

quay vốn. Tổ chức bảo quản, lưu trữ các tài liệu kế toán, bảo mật các số liệu.

2.1.4.5. Phòng hành chính – nhân sự

Phòng hành chính – nhân sự là một bộ phận nghiệp vụ của Công ty, có chức năng

chính là đề xuất, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra các công tác quản lý nhân sự,

quản trị hành chính – văn phòng. Cụ thể là:

- Xác định và xây dựng nội quy, thể chế, chế độ công tác của các bộ phận trong Công ty, các định mức lao động, nghiên cứu chế độ tiền lương, tiền thưởng, bồi dưỡng độc hại, lập

kế hoạch nâng lương, tiền thưởng cho Công ty;

- Lập kế hoạch duy tu, bảo trì, bảo dưỡng, kiểm tra, sửa chữa định kỳ cũng như dự trù

kinh phí để bảo trì, bảo dưỡng, kiểm tra, sửa chữa và mua sắm các loại phương tiện, thiết

bị dụng cụ và tài sản cố định thuộc khối văn phòng;

- Quản lý nhân sự như lập hồ sơ theo hợp đồng lao động, xây dựng quy chế tuyển dụng,

thực hiện chế độ BHXH, BHYT, chế độ phép, thôi việc, kỷ luật…hồ sơ lý lịch và giấy tờ

văn thư;

- Tổ chức thực hiện công tác lễ tân, tổ chức hội nghị, liên hoan của công ty...

2.1.4.6. Phòng Marketing

Phòng Marketing làm nhiệm vụ phối hợp với bộ phận kinh doanh để theo dõi hiện trạng từng nhãn hiệu của Công ty. Lên kế hoạch các hoạt động PR và lập ngân sách theo chiến lược ngắn hạn và dài hạn của Công ty. Xây dựng duy trì và phát triển các mối quan hệ với các công ty truyền thông. Tổ chức các hoạt động trong nội bộ công ty nhằm tạo tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong Công ty… Cập nhật và đưa ra các phản

hồi về thị trường và thông tin đối thủ cạnh tranh, đề xuất những hoạt động phản ứng với

đối thủ cạnh tranh nhằm chiếm ưu thế trên thị trường. Phối hợp với bộ phận kinh doanh

đưa ra chiến lược phát triển kênh phân phối mới.

2.1.4.7. Phòng kinh doanh

Phòng kinh doanh là nơi thực hiện các công việc về thương mại nhằm tiêu thụ tối đa

lượng hàng hóa mà Công ty nhập về.

- Chủ động tìm kiếm đối tác để phát triển, mạng lưới phân phối, từng bước mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Nghiên cứu và tham mưu cho Ban giám đốc trong công tác

định hướng kinh doanh. Đây là chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của phòng kinh doanh.

- Làm việc với khách hàng, nhà cung cấp về kế hoạch sản xuất, kế hoạch giao hàng và

hiệp thương với khách hàng khi có sự cố xảy ra liên quan đến tiến độ giao hàng, thực hiện

hợp đồng. - Soạn thảo các hợp đồng kinh tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty, tổ

chức thực hiện đúng quy định các hợp đồng kinh doanh đã được ký kết.

Phối hợp với Phòng Tài chính - Kế toán công ty trong các nghiệp vụ thu tiền bán hàng

hóa, thanh toán tiền mua hàng hóa - dịch vụ có liên quan đến hoạt động kinh doanh trên

cơ sở các cam kết và quy định của pháp luật hiện hành.

Thiết lập và quản lý mạng lưới phân phối, đề xuất các phương án, mạng lưới bán hàng,

các hình thức quảng cáo, khuyến mại do đẩy mạnh lượng tiêu thụ.

- Xây dựng và triển khai thực hiện phương án kinh doanh sau khi được Ban giám đốc công ty phê duyệt. Thống kê, báo cáo hoạt động kinh doanh theo đúng tiến độ và quy

định.

Phòng kinh doanh tổ chức tiếp nhận và thu thập xử lý thông tin sản phẩm, thị trường

giá cả trong và ngoài nước để xác định phương án kinh doanh cho từng mặt hàng, từng thị

trường, chịu trách nhiệm giải quyết xung đột với khách hàng khi xảy ra tranh chấp.

2.1.5. Nội dung về chính sách kế toán của công ty

Niên độ kế toán mà công ty áp dụng: 1 năm bắt đầu từ ngày 01/01/N, kết thúc

ngày 31/12/N.

Phương pháp kế toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên.

Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: theo giá trị thực tế.

Phương pháp tính giá xuất kho: bình quân gia quyền cố định cuối kỳ.

Phương pháp tính giá thành: phương pháp trực tiếp.

Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: phương pháp khấu trừ thuế.

Phương pháp ghi nhận tài sản cố định: theo giá mua thực tế

Phương pháp khấu hao tài sản cố định: phương pháp tuyến tính cố định.

- Hệ thống sổ sách bao gồm:

+ Sổ, thẻ kế toán chi tiết.

+ Chứng từ ghi sổ.

+ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.

+Sổ cái.

+ Bảng cân đối số phát sinh và các báo cáo tài chính.

2.1.6. Khái quát kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010 – 2012:

Để thấy rõ hơn được quá trình phát triển và hiệu quả hoạt động của công ty,

chúng ta xem xét một số chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty:

Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Cổ phần Công nghệ Bình

Minh từ năm 2010 đến năm 2012

ĐVT : 1.000 VNĐ

Chênh lệch Chênh lệch

(2011/2010) (2012/2011)

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

(A)

(1)

(2)

(3)

(4)=(2)-(1) (5)=(4)/(2) (6)=(3)-(2) (7)=(6)/(3)

12.178.500

12.746.064

26.370.988

567.564

4,6 13.624.924

106,8

1. Doanh

8.367.468

7.233.856

18.460.216 (1.133.612)

(13,5) 11.226.360

155,2

thu thuần

2. Giá vốn

3.811.032

5.512.208

7.910.772

1.701.176

44,6

2.398.564

43,5

3. Lợi

nhuận gộp

86.245

58.482

52.383

(27.7623)

32,2

(6.099)

(10,4)

4. Doanh

thu HĐTC

45.254

36.134

116.773

(9.111)

(20,1)

80.639

223,1

5. Chi phí

tài chính

2.025.321

2.869.257

3.906.355

843.936

41,6

1.037.098

36,1

6. CPBH

và QLDN

1.826.702

2.665.299

3.940.482

838.597

45,9

1.275.183

47,8

7. LN

trước thuế

8. Thuế

456.675,5

666.324,8

985.120,5

209.649,3

45,9

318.795,7

47,8

TNDN

(25%)

1.370.026,5 1.998.974,2 2.955.361,5

628.947,7

45,9

956.387,3

47,8

9. LN

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

sau thuế

Qua bảng số liệu số liệu ta thấy: Tổng lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2011 so với năm 2010 tăng 628.947,7 nghìn đồng, với tỷ lệ tăng 45,9%. Năm 2012 so với

năm 2011 có mức tăng tuyệt đối là 956.387,3 nghìn đồng với tỷ lệ bằng 47,8%. Kết

quả này là do:

Doanh thu thuần năm sau so với năm trước trong 3 năm đều tăng, đặc biệt là

năm 2012 so với 2011 có tỷ lệ tăng vượt bậc bằng 106,8%.

Với việc tăng doanh thu sẽ kéo theo chi phí sản xuất cũng gia tăng, tuy nhiên với

sự nỗ lực trong tiết kiệm chi phí đã giúp tăng lợi nhuận của công ty lên đáng kể. Năm 2011, tốc độ tăng lợi nhuận 45,9% trong khi giá vốn hàng bán lại giảm 13,5%. Đặc

biệt sang năm 2012 mức lợi nhuận của công ty đã tăng 47,8 % so với năm 2011, đạt

được kết quả như trên là cả một sự nỗ lực rất lớn của cả tập thể cán bộ công nhân viên

trong công ty.

Lợi nhuận trước thuế năm 2010, 2011 và năm 2012 đều tăng lên so với năm

trước. Do doanh thu và lợi nhuận tăng cao nên thuế TNDN mà công ty đóng góp cho

ngân sách tăng cao. Tóm lại trong 3 năm qua công ty đã kinh doanh đạt nhiều kết quả

mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Đây là một tín hiệu cho thấy hoạt động của

công ty đang gặt hái được những thành công nhất định.

Những kết quả khả quan về tài chính giúp công ty có thể thực hiện được các

mục tiêu của mình đề ra trong thời gian tới và chứng tỏ công ty đang có chiều hướng

phát triển ổn định và ngày càng lớn mạnh.

1.7. 2.2. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ Phần Công Nghệ Bình

Minh

2.2.1. Thực trạng về sử dụng vốn tại công ty

Hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành với phương châm lấy uy tín chất lượng

làm đầu thì Công ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh đã có bước phát triển đáng kể,

ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực. Cụ thể đến năm 2012, quy

mô công ty đã được phát triển và mở rộng, nguồn vốn kinh doanh của công ty tăng lên 20.755.390.195 đồng. Để thấy rõ hơn, ta xem xét bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty

trong thời gian gần đây như sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty

ĐVT: Triệu VNĐ

Chênh lệch

Chênh lệch

(2011/2010)

(2012/2011)

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Nguồn vốn

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tỷ lệ

Tỷ lệ

(%)

(%)

(%)

Số tiền

Số tiền

(%)

(%)

3.648,097

26,7

3.960,980

25,3

5.855,337

28,2

312,883

8,57

1.894,357

47,8

A.Nợ Phải Trả

I.Nợ ngắn

2.948,097

80,8

2.760,980

69,7

2.271,191

38,8

(187,117)

(6,34)

(489,789)

(17,7)

hạn

700

19,2

1.200

30,3

3.584,146

61,2

500

71,42

2.384,146

198,6

II.Nợ dài hạn

B.Vốn Chủ Sở

10.000,537

73,3 11.687,685

74,7 14.900,052

71,8

1.687,148

16,87

3.212,367

27,48

Hữu

Tổng Nguồn

13.648,635

100 15.648,665

100 20.755,390

100

2.000,030

14,65

5.106,725

32,63

Vốn

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Qua bảng cơ cấu nguồn vốn của Công ty, ta nhận thấy: Nguồn vốn của công ty

được hình thành từ 2 nguồn: Vốn vay và vốn chủ sỡ hữu. Trong đó Vốn chủ sỡ hữu

tuy có biến động nhưng mức độ không nhiều và vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao trong

tổng cơ cấu nguồn vốn.

Vốn chủ sở hữu cuối năm 2012 tăng 3.212,367 triệu đồng, với tỷ lệ tăng bằng 27,48 %. Mặc dù tỷ trọng cuối năm có giảm so với đầu năm nhưng về mức độ tăng

tuyệt đối thì đều lớn hơn so với đầu năm (năm 2012 so với năm 2011). Điều này là do tổng nguồn vốn của công ty tăng nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng SXKD. Vì vậy, bên

cạnh việc huy động thêm nguồn vốn từ chủ sỡ hữu của công ty, Ban Giám Đốc quyết định huy động thêm vốn vay, dẫn đến tỷ trọng nguồn vốn chủ sỡ hữu giảm so với đầu năm. Tuy nhiên tỷ trọng của nguồn vốn này vẫn chiếm giữ một con số khá cao và ổn định bằng 71,8 %.

Nguồn vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có mức vốn chủ sỡ hữu cao sẽ chủ động về năng lực

hoạt động của mình, không bị phụ thuộc vào các đối tác bên ngoài cũng như áp lực

nhiều từ việc sử dụng nợ. Điều đó cho thấy chính sách tài trợ của công ty là chú ý đến

tổ chức, khai thác, huy động và sử dụng nguồn vốn của bản thân.

Về nợ phải trả: Do nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh nên doanh nghiệp chủ động tăng tỷ trọng nợ so với năm 2011. Nhưng chỉ tăng ở khoản nợ vay trung và

dài hạn (tăng 5,25 %), còn ở khoản nợ vay ngắn hạn doanh nghiệp vẫn có xu hướng

giảm. Điều này chứng tỏ công ty đã chú ý đến đầu tư vào tài sản cố định nhằm đổi mới

thiết bị công nghệ, sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn vay của mình.

Để đánh giá chính xác hơn tình hình nguồn vốn của công ty, ta đi vào phân tích bảng

biểu sau:

Bảng 2.3: Cơ cấu tài sản của công ty

ĐVT : Triệu VNĐ

Chênh lệch

Chênh lệch

(2011/2010)

(2012/2011)

Nguồn

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

vốn

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tỷ lệ

Tỷ lệ

(%)

(%)

(%)

Số tiền

Số tiền

(%)

(%)

9.529,450

69,8 11.715,028

74,8 16.338,298

78,7

2.185,578

22,9

4.623,270

39,4

A.Tài Sản Ngắn Hạn

4.137,766

43,4

3.912,655

33,4

5.609,942

34,3

(225,111)

(5,4)

1.697,287

43,3

I.Tiền và tương đương tiền

225,055

2,4

275,050

2,3

335,123

2,1

49,995

22,2

60,073

21,8

II. Đầu tư TC ngắn hạn

1.973,040

20,7

3.340,571

28,5

6.070,013

37,2

1.367,531

69,3

2.729,442

81,7

III.Các khoản phải thu ngắn hạn

2.685,475

28,2

2.368,154

20,2

2.287,855

13,9

(317,321)

11,8

(80,229)

(3,3)

IV.Hàng tồn kho

508,113

5,3

1.818,597

15,6

2.035,363

12,5

1.310,484

257,9

216,766

11,9

V. Tài sản ngắn hạn khác

4.119,184

30,2

3.933,636

25,2

4.417,091

21,3

(185,548)

(4,5)

483,455

12,2

B. Tài Sản dài Hạn

2.700,018

65,5

2.546,866

64,7

3.317,139

75,1

(153,152)

(5,6)

770,273

30,2

I. Tài sản cố định

951,002

903,397

21,9

24,1

sản

952,111

21,6

47,605

5.2

1,109

0,1

II.Bất động đầu tư

515,768

12,6

435,768

11,2

148,840

3,3

(80)

(15,5)

(286,928)

(65,8)

III. TSDH khác

13.648,635

100 15.648,665

100 20.755,390

100

2.000,030

14,65

5.106,725

32,63

Tổng Tài Sản

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Qua bảng số liệu trên ta thấy:

Tổng tài sản của công ty năm 2012 tăng 5.106,725 triệu đồng so với năm 2011

với tỷ lệ tăng bằng 32,6 %. Tài sản tăng là do công ty đầu tư thêm nguồn vốn vào mở

rộng kinh doanh và tăng lượng lưu thông hàng hóa trên thị trường, dẫn đến tài sản biến động ở cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty:

- Về tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn năm sau đều có xu hướng biến động

tăng lên so với năm trước. Đến năm 2012 đã tăng lên chiếm tỷ trọng 78,7% so với

tổng tài sản. Kết quả này là do công ty tăng nguồn vốn kinh doanh làm tài sản ngắn hạn tăng ở tất cả các bộ phận, cụ thể là:

+ Tiền và các khoản tương đương tiền: Với phương châm lấy chữ tín hàng đầu

nên Công ty khá quan tâm đến khoản mục thanh toán nhanh này, tuy có biến động

không ổn định, là do đặc điểm ngành nghề kinh doanh thương mại là chủ yếu của mình nhưng công ty luôn duy trì một tỷ lệ khá cao và an toàn cho khoản mục này để

có thể đảm bảo đáp ứng nhu cầu thanh toán của mình, đây được coi là một dấu hiệu tốt

cho công ty.

+ Hàng tồn kho của công ty là khoản mục duy nhất giảm trong tài sản ngắn hạn

qua 3 năm gần đây. Năm 2010, số liệu hàng tồn kho chiếm 28,2% trong tổng tài sản

nhưng đến năm 2012 chỉ còn chiếm 13,9%. Điều này chứng tỏ khả năng lưu thông

hàng hóa của công ty tương đối tốt và khá ổn định.

+ Các khoản phải thu là khoản mục đáng quan tâm ở mục tài sản ngắn hạn, nó chiếm tỷ trọng cao và không ngừng tăng lên qua các năm. Chứng tỏ Công ty đang gặp

khó khăn trong quá trình thu hồi nợ, đây là dấu hiệu không tốt cho khả năng thu hồi

vốn và gây khó khăn trong việc quay vòng kinh doanh.

Bên cạnh đó,các bộ phận khác của tài sản ngắn hạn các năm sau đều tăng so với

năm trước mặc dù tỷ trọng của các bộ phận này có xu hướng giảm như: Đầu tư tài

chính ngắn hạn tăng với tỷ lệ bằng 21,8 % (Năm 2012 / 2011) và tài sản ngắn hạn khác

tăng với tỷ lệ bằng 11,9%.

- Về tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn năm trong 3 năm gần đây có biến động không ổn đinh, mặc dù có xu hướng giảm về tỷ trọng nhưng lại có xu hướng gia tăng về số tuyết đối, đặc biệt là năm 2012 khi ban lãnh đạo công ty quyết định bổ sung thêm nguồn vốn kinh doanh đầu tư vào nâng cấp và bổ sung thêm một số tài sản cố định mới để phục vụ cho công tác điều hành quản lý cũng như phục vụ quá trình kinh

doanh của mình. Còn nguyên nhân của việc giảm tài sản dài hạn ở năm 2011 là do

công ty tiến hành thanh lý một số tài sản cố định đã hết thời gian sử dụng.

Bên cạnh tài sản cố định, thì khoản mục tài sản dài hạn khác của công ty cũng

có sự thay đổi theo xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2011 khoản mục này giảm

còn 11,2 % và giảm mạnh trong năm 2012, cụ thể là chỉ chiếm 3,3% trong tổng tài sản

dài hạn của công ty.

Như vậy, qua việc phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh ta nhận thấy: Cơ cấu nguồn vốn và tài sản của công ty đang có

xu hướng tăng lên, điều này chứng tỏ công ty đang sử dụng vốn tốt, hoạt động sản xuất

kinh doanh có hiệu quả và đang có nhu cầu mở rộng quy mô của mình. Tuy nhiên, do

đặc điểm của công ty chủ yếu thương mại, dịch vụ hàng hóa của mình nên cơ cấu nguồn vốn của công ty có những nét riêng mà những doanh nghiệp khác không có, tỷ

trọng giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn có chênh lệch nhau rõ rệt để đáp ứng cho

nhu cầu thương mại của mình. Nhưng công ty vẫn chấp hành khá tốt nguyên tắc cân

bằng tài chính trong kinh doanh. Tuy nhiên, để hiểu chính xác hơn ta cần đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu về hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là vốn cố định và vốn lưu động

của doanh nghiệp, từ đó giúp ta có được cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng sử dụng

vốn tại Công ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh.

1.7.1.1 2.2.1.1. Thực trạng sử dụng vốn cố định tại Công ty

Vốn cố định là một phần của vốn kinh doanh để tạo nên nguồn vốn của doanh

nghiệp. Việc sử dụng VCĐ hợp lý có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả

kinh doanh, nó cho phép giảm tỷ suất chi phí lưu thông và tăng doanh lợi kinh doanh

của doanh nghiệp. Qua phân tích ở trên ta thấy VCĐ của công ty chiếm tỷ trọng không cao nhưng khá ổn định trong cơ cấu tổng nguồn vốn của công ty, để đánh giá được

tình hình sử dụng VCĐ của công ty, chúng ta nghiên cứu bảng biểu sau:

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn cố định của công ty

ĐVT: Triệu VNĐ

Chênh lêch

Chênh lệch

(2011/2010)

(2012/2011)

Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tỷ lệ

Tỷ lệ

Số tiền

Số tiền

(%)

(%)

2.700,018 2.546,866 3.317,139 (153,152) (5,6) 770,273 30,2 I. Tài sản cố định

Nguyên giá 3.701,169 3.638,831 4.738,770 (62,338) (1,6) 1.099,939 30,22

Khấu hao 1.001,188 1.091,965 1.421,631 90,777 9,06 329,666 30,19

Hệ số 0,25 0,28 0,21 0.03 12 (0,07) (25) hao mòn

II. Bất động 2.700,018 2.546,866 3.317,139 47,605 5.2 1,109 0,1 sản đầu tư

III. Tài sản 515,768 435,768 148,840 (80) (15,5) (286,928) (65,8) dài hạn khác

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Tổng Cộng 4.119,184 3.933,636 4.417,091 (185,548) (4,5) 483,455 12,2

Qua bảng số liệu trên ta thấy:

TSCĐ hữu hình của công ty chiếm phần lớn trong tổng tài sản dài hạn và đầu tư dài hạn của công ty. TSCĐ hữu hình này bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc,

thiết bị, máy vi tính, hệ thống quạt thông gió, hệ thống điều hòa, phương tiện vận tải... và nhiều máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Năm 2010,

tỷ trọng này đạt 65,5%, năm 2011 đạt 64,7%, đến năm 2012 đạt 75,1%. Như vậy, tỷ trọng tài sản cố định của công ty đã có những thay đổi nhất định. Năm 2011 khoản mục này giảm, nguyên nhân là do Công ty đã khấu hao một số tài sản cố định và tiến hành thanh lý. Sang năm 2012, khoản mục này đã tăng lên do được đầu tư thêm một số TSCĐ ở bộ phận quản lý và vận chuyển của công ty.

Đặc trưng cơ bản của tài sản cố định là trong quá trình sử dụng bị hao mòn dần, đánh giá đúng mức độ hao mòn, xem xét tài sản còn mới hay cũ nhằm đưa ra những

biện pháp nhằm để tái sản xuất. Từ bảng phân tích trên ta thấy hệ số hao mòn của công

ty có xu hướng giảm dần. Có thể là do Công ty thanh lý gần như hết các tài sản đã hết

giá trị khấu hao và bổ sung thay thế luôn các tài sản mới, chính điều này càng làm cho

hệ số hao mòn tài sản cố định giảm đi 0,07 so với năm 2011 chỉ còn 0,21.

Qua phân tích hệ số hao mòn tài sản cố định của công ty cho thấy tài sản cố

định mà công ty đang sử dụng tương đối còn mới, đó là nỗ lực lớn của công ty trong

việc cải tiến máy móc thiết bị, đưa những máy móc hiện đại vào sản xuất nhằm nâng

cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên với việc áp dụng khấu hao tài sản cố định theo phương pháp tuyến tính cố định như vậy thì giá trị khấu hao tài sản quá thấp

làm cho tài sản cố định của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình,

có những tài sản đầu tư với giá trị lớn nhưng thời gian thu hồi lại quá lâu như vậy khả

năng quay vòng vốn để tái sản xuất rất chậm, doanh nghiệp cần nghiên cứu để tìm ra phương pháp khấu hao hiệu quả hơn.

Như vậy, với sự nỗ lực của mình, công ty đang từng bước cải tiến, đổi mới

TSCĐ đưa vào phục vụ quá trình hoạt động kinh doanh của mình nhằm ngày càng sử

dụng vốn cố định tốt hơn, mang lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp. Mặc dù vậy, khoản

tài sản cố định dùng để đầu tư dài hạn vào bất động sản không thay đổi qua các năm,

điều này chứng tỏ kết quả kinh doanh của khoản mục này chưa được tốt, lợi nhuận giữ

lại không cao nên công ty không muốn đầu tư thêm vào khoản mục này. Điều này cho

thấy công ty đã từng bước sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn của mình.

1.7.1.2 2.2.1.2. Thực trạng về sử dụng vốn lưu động tại Công ty

Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh là một doanh nghiệp tư nhân chuyên

về buôn bán, dịch vụ sữa chữa, tư vấn và chuyển giao công nghệ về các máy móc. Vì

thế, nguồn tài trợ cho hoạt hoạt động thương mại, dịch vụ tư vấn chuyển giao công

nghệ của công ty được chú trọng rất lớn. Cho nên nguồn vốn lưu động của công ty

chiếm tỷ trọng không hề nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp. Để

hiểu sâu hơn về thực trạng vốn lưu động của công ty, ta nghiên cứu các vấn đề sau:

- Cơ cấu vốn lƣu động

Nghiên cứu cơ cấu vốn lưu động để thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tình trạng của từng khoản trong các giai đoạn luân chuyển, từ đó phát hiện những tồn tại hay trọng điểm cần quản lý và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty. Để đánh giá cơ cấu vốn này ta phân tích bảng số liệu sau:

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn lƣu động Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh

ĐVT: Triệu VNĐ

Chênh lệch

Chênh lệch

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

(2011/2010)

(2012/2011)

Chỉ tiêu

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tỷ lệ

Tỷ lệ

trọng

trọng

trọng

Số tiền

Số tiền

Số tiền

Số tiền

Số tiền

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

I.Tiền và

tương

4.137,766

43,4

3.912,655

33,4

5.609,942

34,3

(225,111)

(5,4)

1.697,287

43,3

đương tiền

1.Tiền mặt

2.524

61

2.000,655

51,1

2.000,6

35,6

(523,345)

(20,7)

(55)

(0,02)

2.Tiền gửi

1.613,766

39

1.912

48,9

3.609,342

64,4

298,234

18,4

1.697,342

88,7

NH

II.Đầu

TC ngắn

225,055

2,36

275,050

2,3

335,123

2,1

49,995

22,2

60,073

21,8

hạn

III.Các

1.973,040

20,7

3.340,571

28,5

6.070,013

37,2

1.367,531

69,3

2.729,442

81,7

khoản phải thu

1.Phải thu

của khách

1.835,040

93,01

2.114,571

63,3

4.232,900

69,73

279,531

15,2

2.118,329

100,1

hàng

2.Trả

110

5,57

1.140

34,12

1.770,013

29,16

1.030

936,3

630,013

55,2

trước cho người bán

3.VAT được khấu

-

- 58.000,801

1,75 67.100,036

1,11

58.000,80

0

9.099,235

15,6

trừ

4.Phải thu

28

1,42

28

0,83

-

-

0

0

(28)

(100)

khác

IV.Hàng

2.685,475

28,2

2.368,154

20,2

2.287,855

13,9

(317,321)

11,8

(80,229)

(3,3)

tồn kho

1.Hàng

2.000,375

74,48

1.815

76,64

1.767,155

77,3

(185,375)

(9,2)

(47,845)

(2,63)

tồn kho

2.Công

685,100

25,52

553,154

23,36

420,700

22,7

(131,946)

(19,2)

(132,454)

(23,9)

cụ,dụng cụ tồn kho

508,113

5,3

1.818,597

15,6

2.035,363

12,5

1.310,484

257,9

216,766

11,9

V.Tài sản lưu động

khác

1.Tạm ứng

470

92,5

900

49,5

2.035,363

100

430

91,4

1.135,36

126,15

2.Chi phí

38,113

7,5

918,597

50.5

-

-

880,484

2310,2

(918,579)

(100)

trả trước

Tổng cộng

9.529,450

100 11.715,028

100 16.338,298

100

2.185,578

22,9

4.623,270

39,4

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Qua bảng số liệu trên ta thấy: Cơ cấu vốn lưu động của công ty có xu hướng ngày càng tăng qua các năm. Sở dĩ vốn lưu động tăng lên như vậy chủ yếu từ sự tăng

lên của các khoản mục tiền và tương đương tiền, hàng tồn kho và các khoản phải thu

của doanh nghiệp. Các khoản mục này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động cụ

thể như sau:

- Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền:

Là một trong những nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn

lưu động của công ty, vốn bằng tiền qua các năm gần đây đang có xu hướng tăng. Tuy

so với năm 2010, năm 2011 vốn bằng tiền có giảm nhưng chỉ là mức giảm nhẹ. Sang

năm 2012 khoản mục này đã gia tăng trở lại. Đây là dấu hiệu tốt về quá trình tiêu thụ

hàng hóa trong chu kỳ kinh doanh. Lượng tiền tồn quỹ trong năm của công ty chiếm tỷ

trọng cao và ngày càng tăng lên là do công ty tiến hành mở rộng mạng lưới kinh doanh

và khoản mục này được đầu tư thêm từ nguồn vốn chủ bổ sung mỗi năm để đáp ứng

khả năng thanh toán của mình tốt hơn.

- Đối với các khoản phải thu

Khoản mục phải thu là khoản mục có biến động mạnh nhất trong các khoản mục

của tài sản lưu động. Phải thu năm sau đều cao hơn năm trước và tỷ trọng của các

khoản mục này đều tăng so với tổng nguồn vốn lưu động so với các năm trước. Các

khoản phải thu của khách hàng tăng mạnh qua các năm cả về số tuyệt đối lẫn số tương

đối. Đây là một điều bất lợi cho công ty, nó chứng tỏ công ty đã và đang ngày càng bị chiếm dụng vốn nhiều hơn. Điều này là do nguyên nhân sau:

+ Bị chiếm dụng vốn nhiều, điều này sẽ làm cho công ty tạm thời bị giảm sút nguồn vốn lưu động để tiến hành hoạt động kinh doanh, muốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình được liên tục, đòi hỏi công ty phải đi vay vốn, phải trả lãi trong khi đó số tiền khách hàng chịu thì công ty lại không thu được lãi. Đây là một

trong những vấn đề đòi hỏi công ty cần quan tâm và quản lý chặt hơn tránh tình trạng không tốt như: Nợ khó đòi, nợ không có khả năng trả, rủi ro trong kinh doanh, rủi ro về tài chính... của công ty.

+ Khoản trả trước cho người bán: Có xu hướng này càng tăng lên, về số tuyệt

đối cũng như tương đối. Điều này cho thấy khả năng chiếm dụng vốn của công ty với

các doanh nghiệp khác là chưa cao, góp phần làm tăng khoản phải thu của công ty.

- Đối với hàng tồn kho

Hàng tồn kho của công ty là khoản mục có duy nhất có xu hướng giảm trong

những năm gần đây trong nguồn vốn ngắn hạn. Hàng tồn kho giảm cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối và giảm ở cả 2 khoản mục khoản mục hàng hóa tồn kho, và công cụ,

dụng cụ tồn kho.

Đối với hàng tồn kho dự trữ tài sản lưu động là nhu cầu thường xuyên đối với

các đơn vị sản xuất, kinh doanh nhưng dự trữ ở mức nào là hợp lý đó mới là quan trọng. Đối với các doanh nghiệp hoạt động bên lĩnh vực thương mại như công ty thì tỷ

lệ hàng tồn kho giảm có thể được xem là dấu hiệu đáng mừng, điều đó chứng tỏ khả

năng tiêu thụ, lưu thông hàng hóa của công ty là tốt, tuy nhiên khoản phải thu của công

ty lại tăng lên. Điều này chứng tỏ chính sách thu nợ của khách hàng chưa được tốt và

đây là vấn đề lớn mà các nhà lãnh đạo công ty cần quan tâm hơn.

- Đối với tài sản lƣu động khác

Biểu đồ 2.1. Tình hình “Tài sản lƣu động khác” trong giai đoạn từ 2010 – 2012

ĐVT: 1.000 VNĐ

Đây là khoản mục thứ 3 có sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu vốn lưu động, (sau khoản phải thu của khách hàng và khoản mục tiền và tương đương tiền). Khoản mục này có xu hướng tăng dần qua các năm, cụ thể: năm 2011 so với 2010 tăng vượt trội với mức tăng tuyệt đối 1.310.484.142 đồng với tỷ lệ tăng bằng 257,91%, nguyên nhân là do sự gia tăng mạnh ở cả hai khoản mục là tạm ứng và chi phí trả trước. Năm 2012 so với 2011 tăng 216.766.343 đồng với tỷ lệ tăng bằng 11,91%, tuy nhiên mức tăng

không đáng kể, điều đó đã làm cho tỷ trọng của nguồn vốn này so với năm 2011 lại

giảm.

Để đánh giá chính xác hơn tình hình nguồn vốn của công ty, ta đi vào phân tích bảng biểu sau:

Bảng 2.6: Nguồn tài trợ vốn lƣu động của công ty

ĐVT: VNĐ

Vốn Lƣu Động Vay Ngắn Hạn

9.529.450.951 2.948.097.882 Năm 2010

11.715.028.793 2.760.980.355 Năm 2011

16.338.298.339 2.271.191.011 Năm 2012

Chênh lệch Số tiền 2.185.577.842 (187.117.527)

(2011/2010) Tỷ lệ (%) 22,93 (6,34)

Chênh lệch Số tiền 4.623.269.546 (489.789.344)

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

(2012/2011) Tỷ lệ (%) 39,46 (17,73)

Qua bảng phân tích ta thấy năm 2010, nhu cầu vốn lưu động là hơn 9,5 tỷ

đồng, công ty đã đi vay ngắn hạn gần 3 tỷ đồng để đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh

doanh, phần còn lại công ty tài trợ bằng nguồn vốn chủ sỡ hữu và vốn vay dài hạn.

Năm 2011 nhu cầu vốn lưu động tăng lên hơn 11,7 tỷ đồng, công ty tài trợ bằng khoản

vay ngắn hạn là hơn 2,76 tỷ đồng, phần thiếu hụt công ty tiếp tục bổ sung bằng nguồn

vốn chủ sỡ hữu và vay dài hạn. Sang tới năm 2012 vốn lưu động tăng 39,46% so với

năm 2011 và để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được hoạt động liên tục doanh

nghiệp đã tăng cường mở rộng bằng nguồn vốn vay nhưng là tăng khoản vay dài hạn của mình, vì thế tỷ lệ vay ngắn hạn năm này so với năm 2011 cũng giảm. Tuy nhiên do chi phí sử dụng vốn vay hiện nay trên thị trường với tỷ lệ khá cao, đã trở thành một yếu tố bất lợi trong quá trình huy động vốn bằng nguồn vốn vay. Trong khi công ty lại có năng lực tự chủ về vốn khá cao và ổn định, cho nên việc công ty quyết định bổ sung nguồn vốn lưu động còn thiếu bằng nguồn vốn chủ sỡ hữu là điều cũng dễ hiểu.

Việc sử dụng vốn vay như trên sẽ làm cho khả năng tự chủ về tài chính của công ty được nâng cao, công ty không phải thường xuyên đối mặt với việc thanh toán lãi

vay. Điều đó giúp tạo điều kiện cho công ty nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và

tăng tích lũy từ nội bộ.

2.2.2. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ

Bình Minh

Vốn đóng vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Song

cũng cần thấy rõ những tác động tiêu cực của nó cũng không hề nhỏ nếu công ty không biết quản lý và sử dụng nó một cách có hiệu quả. Để đánh giá hiệu quả sử dụng

vốn của công ty, ta dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản sau:

Bảng 2.7: Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động và sử dụng vốn tại

Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh

Chênh lệch

Chênh lệch

(2011/2010)

(2012/2011)

Năm

Năm

Chỉ Tiêu

Năm 2010

2011

2012

Tỷ lệ

Tỷ lệ

Tƣơng đối

Tƣơng đối

(%)

(%)

HQSD tổng vốn 0,89 0,81 1,27 (0,08) (8,9) 0,46 56,7 (lần) Tổng

vốn Tỷ suất lợi nhuận 10,03 12,77 14,23 2,74 27,3 1,46 11,4 tổng vốn (%)

HQSD VCĐ (lần) 2,95 3,24 5,97 0,29 9,83 2,73 84,2 Vốn cố

định Tỷ suất lợi nhuận 33,25 50,81 66,9 17,56 52,8 16,09 31,6 (VCĐ) VCĐ (%)

HQSD VLĐ (lần) 1,27 1,08 1,61 (0,19) (14,9) 0,53 49,1

14,37 17,06 18,08 2,69 18,7 1,02 5,97 Tỷ suất lợi nhuận VLĐ (%)

1,27 1,08 1,61 (0,19) (14,9) 0,53 49,1 Vòng quay VLĐ (vòng) Vốn lưu động

(VLĐ) ngày 284 333 224 49 17,2 (109) (32,7) Số chuyển luân VLĐ

(ngày)

Vòng quay khoản 6,17 3,81 4,34 (2,36) (38,2) 0,53 13,9 phải thu (vòng)

Kỳ thu tiền bình 58 94 83 36 62,06 (11) (11,7) quân (ngày)

Nhìn một cách khái quát, trong cả ba năm gần đây, năng lực hoạt động của các

tài sản trong Công ty đã tăng lên. Cứ 100 đồng tài sản của Công ty trong năm 2012 đã

tạo thêm so với năm 2011 được 0,46 đồng doanh thu. Nếu xem xét những chỉ tiêu chủ

yếu và theo xu hướng của năm sau so với năm trước, ta có thể thấy:

- Hiệu quả sử dụng tổng vốn của Công ty có biến động không ổn định trong 3

năm qua, nguyên nhân là do ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế mà khó có

doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi. Mặc dù vậy, dưới sự nỗ lực của Ban lãnh đạo công ty đã sử dụng nhiều biện pháp thiết thực để nâng hiệu quả sử dụng vốn của công

ty lên mức tối đa nhất có thể. Chính vì thế năm 2012 hiệu quả sử dụng vốn đã tăng trở

lại, làm cho hiệu quả sử dụng vốn cố định và lưu động năm đều tăng so với năm trước,

dẫn đến hiệu quả sử dụng tổng vốn tăng.

- Ngược lại với hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thì tỷ suất lợi nhuận vốn kinh

doanh đang có xu hướng biến động khá ổn đinh và tăng đều qua các năm, mặc dù tốc

độ tăng không cao nhưng đây là dấu hiệu đáng mừng cho hiệu quả SXKD của công ty.

Qua phân tích ta nhận thấy các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng vốn kinh

doanh của công ty đều dương, chứng tỏ công ty hoạt động SXKD có hiệu quả. Tuy

nhiên để hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng vốn của công ty, ta có thể đi sâu hơn vào

phân tích hiệu quả sử dụng của các thành phần vốn trong doanh nghiệp.

1.7.1.3 2.2.2.1. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty

Qua bảng 2.7 về chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn của Công ty, ta nhận thấy:

- Hiệu quả sử dụng vốn cố định cuả công ty có xu hướng tăng dần và mức tăng tương đối lớn, nguyên nhân là do tốc độ tăng của tài sản cố định nhỏ hơn tốc độ tăng của Doanh thu thuần, đây là hệ quả dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng mạnh, đặc biệt là năm 2012.

- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định của công ty cho ta thấy tỷ suất lợi nhuận của công ty đang có xu hướng tăng mạnh qua các năm. Chỉ tiêu này của công ty tăng

là do công ty đã chú trọng vào đầu tư mới thêm máy móc thiết bị để mở rộng mạng

lưới kinh doanh, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, tăng được doanh thu cho

công ty làm tăng lợi nhuận.

- Mặc dù chiếm tỷ trọng không cao như những doanh nghiệp sản xuất, nhưng nguồn vốn cố định của Công ty đã được đầu tư và sử dụng khá hợp lý, chỉ đầu tư mua

sắm mới thêm vốn cố định khi thật sự cần thiết và quản lý sát sao quá trình sử dụng,

giúp có vốn hoạt động có hiệu quả đồng thời tránh được tình trạng lãng phí vốn không

đáng có.

Từ những kết quả đạt được ở trên, ta thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định của

công ty giai đoạn 2010-2012 là khá ổn định và có chiều hướng biến động tốt cho hoạt

động của doanh nghiệp. Đây là điều dễ thấy vì lĩnh vực hoạt động của công ty ngày

càng được mở rộng và tự chủ hơn về khả năng tài chính của mình.

1.7.1.4 2.2.2.2. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty

Giai đoạn 2010 - 2012, hiệu suất sử dụng vốn lưu động tại công ty có xu hướng

biến động không ổn định, năm 2011 giảm so với năm 2010, tuy nhiên mức giảm chưa

đáng kể, đặc biệt sang năm 2012 hiệu suất này đã tăng ngược trở lại. Chứng tỏ ban

quản trị công ty đã tìm hiểu và tiến hành quản lý chặt chẽ hơn sử dụng vốn lưu động

của công ty mình, làm cho hiệu suất sử dụng đang có xu hướng tăng trưởng tốt lên.

- Tỷ suất lợi nhuận

Cùng với sự tăng lên của doanh thu qua các năm thì tỷ suất lợi nhuận vốn lưu

động của công ty cũng tăng lên tương ứng. Sức sinh lời của vốn lưu động tăng lên qua

các năm, và ở mức cao so tỷ lệ chung của ngành. Đây là điều đáng khích lệ cho công

ty, chứng tỏ doanh nghiệp đã hạ thấp được chi phí quản lý của mình. Trong thời gian

tới, công ty nên cố gắng phát huy hơn nữa khả năng của mình trong việc sử dụng vốn

lưu động để gia tăng lợi nhuận cho công ty.

- Tốc độ luân chuyển của vốn lƣu động

+ Số vòng quay của vốn lưu động: Năm 2010, số vòng quay của vốn lưu động là 1,27 vòng. Năm 2011, số vòng quay của vốn lưu động là 1,08 vòng. Đến năm 2012, con số này là 1,61vòng, tăng lên so với năm 2011 là 0,53 vòng.

+ Số ngày luân chuyển của vốn lưu động: Tương ứng với sự giảm đi của vòng quay vốn lưu động là sự tăng lên của số ngày luân chuyển của một vòng quay vốn lưu động và ngược lại.

Sự tăng lên của vòng quay vốn lưu động đã làm cho tốc độ luân chuyển vốn lưu

động của công ty nhanh hơn, có tác động tốt đến hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp.

1.8. 2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh

2.3.1. Những biện pháp công ty áp dụng

Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2012, công ty đã dẩy mạnh tiêu thụ

mạng lưới thương mại của mình trên địa bàn cũ và xâm nhập thêm vào thị trường máy

móc thiết bị của hai tỉnh Hưng Yên và Quảng Ninh. Chính vì thế, chính sách huy động

và sử dụng nguồn vốn đã có một số sự thay đổi cụ thể như:

Để có thêm nguồn vốn mở rộng kinh doanh và đảm bảo là nguồn tài trợ cho

vốn lưu động và cố định của công ty luôn được thường xuyên và liên tục. Ban Giám

Đốc công ty quyết định bổ sung bằng vốn chủ để giữ vững năng lực tự chủ tài chính

của mình (bổ sung bằng cả lợi nhuận để lại và các cổ đông đóng góp thêm). Bên cạnh

đó, công ty quyết định vay thêm ngân hàng để tận dùng đòn bẩy tài chính trong kinh

doanh, cũng như tạo ra tính linh hoạt hơn cho đồng vốn của công ty mình. Kết quả

cuối đến cuối năm đã nâng quy mô nguồn vốn lên 20.755.390.195 đồng.

Do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế và do mới mở rộng thị trường,

lãnh đạo công ty quyết định thực hiện phương thức bán chịu, điều này đã giúp cho

Công ty có thêm nhiều bạn hàng, mở rộng được mạng lưới kinh doanh. Đặc biệt với các sản phẩm máy móc công nghệ là chủ yếu, việc giải phóng được hàng tồn kho, ứ

đọng để nhập về những thiết bị tiên tiến đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách

hàng là một trong những chiến lược kinh doanh mang tính chiến lược của công ty, tuy

nhiên phải đối mặt với khoản thu khổng lồ cũng là điều đáng lo ngại của doanh

nghiệp.

Bên cạnh đó, với khả năng tự chủ tốt về tài chính, công ty luôn đáp ứng đủ các

khoản nợ đến hạn cũng như thanh toán nhanh tiền hàng cho người bán, vì thế công ty

giữ được chữ tín khá tốt với bạn hàng cũng như ngân hàng, tuy nhiên công ty lại không sử dụng tốt khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác.

2.3.2. Kết quả đạt đƣợc

Từ những chính sách và chiến lược kinh doanh trên, công ty đã đạt được những

kết quả khả quan về hiệu quả sử dụng vốn của mình, đó là:

1.8.1.1 2.3.2.1. Về vốn cố định

Công ty đã chú trọng đầu tư vào máy móc, thiết bị, dụng cụ quản lý, tiến hành

nhượng bán số máy móc thiết bị cũ, lạc hậu. Sử dụng hợp lý nguồn vốn tự có để đầu tư thay mới, đảm bảo cho công ty có được một cơ cấu tài sản cố định hợp lý với máy

móc, phương tiện hiện đại phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh của mình.

Cuối năm 2011 đầu năm 2012, công ty đã đầu tư mua mới thêm một lượng tài sản cố định bằng nguồn vốn chủ sỡ hữu của mình. Làm tăng giá trị nguồn vốn cố định

của công ty trong tỷ trọng nguồn vốn, nâng cao được khả năng độc lập về tài chính của

mình so với các doanh nghiệp cùng ngành.

Công ty đã tiến hành lập kế hoạch khấu hao cho từng năm. Việc lập kế hoạch cụ thể cho từng năm giúp công ty kế hoạch hoá được nguồn vốn khấu hao, sử dụng hợp lý

và có hiệu quả nguồn vốn này.

Công ty đã quy định rõ trách nhiệm vật chất đối với từng cá nhân, phòng ban

trong việc sử dụng tài sản của mình, đảm bảo tài sản được sử dụng đúng mục đích có

hiệu quả.

Những biện pháp mà công ty áp dụng cho mình đã giúp cho hiệu quả sử dụng

vốn cố định của công ty ngày càng tăng qua các năm kể từ năm 2010 đến năm 2012.

Tỷ suất lợi nhuận đạt được ngày càng cao, công ty đã tiết kiệm được số vốn cố định

của mình trong việc sử dụng.

1.8.1.2 2.3.2.2. Về vốn lưu động

Công ty ngày càng sử dụng hợp lý, có hiệu quả hơn vốn lưu động của mình.

Điều này đã được đánh giá qua các chỉ tiêu phân tích ở trên. Những kết quả đó là:

- Thứ nhất: Khả năng thanh toán của công ty ngày càng tăng, có nghĩa là công ty

có khả năng đáp ứng những khoản nợ ngắn hạn trong mỗi năm một tốt hơn.

- Thứ hai: Tình hình cho thấy doanh thu tăng nhanh qua các năm, khắc phục

được tình trạng khó khăn trong năm trước và hiệu quả trong kinh doanh ngày càng được nâng cao.

- Thứ ba: Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động của công ty tăng đều qua các năm và ở mức khá cao là một trong những dấu hiệu đáng mừng của công ty về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty, hứa hẹn một mức lợi nhuận tốt cho doanh nghiệp trong những năm tiếp theo.

- Thứ tư: Từ kết quả đã đạt được trong năm 2010- 2012, giúp công ty tạo thêm được mối quan hệ với nhiều bạn hàng, có uy tín hơn trên thương trường. Điều này

giúp công ty thuận lợi hơn nhiều trong việc huy động nguồn vốn để tài trợ cho sử dụng

vốn của mình.

2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân

Song song với những thành tựu đạt được ở trên thì hiệu quả sử dụng vốn của

công ty còn những hạn chế sau:

1.8.1.3 2.3.3.1. Về vốn cố định

- Thứ nhất: Vốn cố định mặc dù chiếm tỷ trọng không cao trong tổng vốn của

công ty. Nhưng phần lớn máy móc thiết bị của công ty hầu hết đều cũ, đã sử dụng một thời gian dài. Công ty chỉ mua máy móc, thiết bị mới khi máy móc cũ hoặc hỏng hóc

sử dụng với hiệu suất quá kém.

- Thứ hai: Quá trình bảo trì, bão dưỡng tài sản cố định của Công ty chưa được

tiến hành thường xuyên và liên tục, quá trình kiểm tra, giám sát còn chưa chặt chẽ.

- Thứ ba: Trong kỳ doanh nghiệp đã chú ý tới việc đầu tư máy móc thiết bị phù

hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm

đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng nên làm vốn kinh doanh của công ty

tăng nhanh, nhưng sự đầu tư đó mang lại hiệu quả chưa cao, tốc độ tăng của doanh thu

còn thấp do đó làm tốc độ luân chuyển vốn giảm đi.

- Thứ tư: Công ty áp dụng cách tính khấu hao theo đường thẳng để lập kế hoạch khấu hao cho tài sản của mình trong năm. Đây là một hạn chế vì trong những năm đầu

hiệu suất làm việc của máy móc cao hơn nhiều so với những năm cuối, đem lại hiệu

quả cao kinh doanh cao hơn nhiều trong giai đoạn cuối.

1.8.1.4 2.3.3.2. Về vốn lưu động

- Thứ nhất: Hàng tồn kho của công ty tuy có giảm, nhưng mức hàng hóa tồn kho

vẫn còn cao. Doanh nghiệp cần nghiên cứu giải phóng bớt hàng tồn kho.

- Thứ hai: Khoản phải thu là khoản mục phải quan tâm hàng đầu, trong 3 năm

gần đây, khoản mục này có chiều hướng gia tăng và tăng mạnh vào năm 2012 khi doanh nghiệp quyết định chính sách bán chịu, cho phép trả chậm đối với người mua

của mình. Số lượng các khoản phải thu nhiều và thời gian chiếm dụng của khách hàng là tương đối lâu gây khó khăn trong việc thu hồi vốn và quay vòng kinh doanh của mình làm cho vòng quay nguồn vốn chậm lại, giảm khả năng sinh lời của đồng vốn, dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty.

- Thứ ba: Hiệu suất sử dụng vốn lưu động có thể tạm chấp nhận được nhưng hiệu suất này lại biến động không đều qua các năm gần đây và lại có xu hướng giảm. Điều

này có thể là do chi phí quản lý còn quá cao, doanh nghiệp cần có giải pháp giảm chi

phí này đặc biệt trong năm 2011.

- Thứ tư: Tỷ suất sinh lời vốn lưu động cao nhưng số ngày luân chuyển vốn lưu động vẫn còn cao, gây bất lợi cho công ty trong quá trình thu hồi vốn để bắt đầu chu

kỳ kinh doanh mới.

- Thứ năm: Công ty đã không sử dụng chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác, trong khi vốn của mình bị chiếm dụng khá nhiều, đây là một chính sách được coi

là kém linh hoạt của công ty.

Những nguyên nhân:

- Thứ nhất: Do sự gia tăng liên tục với tốc độ cao các khoản phải thu. Vấn đề

này làm đau đầu các nhà quản trị trong công tác quản lý và sử dụng vốn của công ty.

Các khoản phải thu tăng lên trong đó chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng mà

thời gian chiếm dụng vốn khá dài. Nguyên nhân là do công ty mới chú trọng đến tiêu

thụ và tìm kiếm bạn hàng mà chưa chú trọng đến việc thẩm định khả năng trả nợ của

khách hàng. Hơn nữa, hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy đã phát triển hơn trước nhưng

vẫn còn yếu kém so với hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới. Việc thanh

toán của người Việt hầu như là bằng tiền mặt, không quen thanh toán bằng các hình

thức khác như: chuyển khoản, thẻ tín dụng... mặc dù đã có nhưng chưa được phổ biến.

Điều này gây khó khăn trong việc nắm bắt tình hình tài chính của khách hàng. Khi khách hàng ký kết hợp đồng với công ty cần có các chỉ tiêu về tài chính của khách

hàng nhưng liệu số liệu trên báo cáo tài chính liệu có đáng tin cậy được không. Do

vậy, vấn đề xảy ra nợ quá hạn hay nợ khó đòi là điều khó tránh khỏi đối với công ty.

- Thứ hai: Hàng tồn kho tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao. Điều này làm giảm

hiệu quả sử dụng vốn tại công ty, lãng phí vốn, sẽ làm cho công ty gặp nhiều khó khăn

trong công tác quản trị vốn của mình. Thời gian tới, công ty nên tìm biện pháp nhằm

giảm thiểu hàng tồn kho này một cách tốt nhất góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh

của mình.

- Thứ ba: Doanh nghiệp áp dụng hình thức khấu hao theo đường thẳng, do đó giá trị TSCĐ đã được khấu hao hết nhưng lượng TSCĐ này lại chưa được đầu tư mới hoặc chỉ đầu tư khi máy móc đó không còn sử dụng được, hiệu quả kém. Thực tế công ty đã chưa thực sự chú trọng đến đầu tư TSCĐ của mình nên chất lượng, sản phẩm của công

ty chưa được như mong muốn, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của mình, gây khó

khăn trong cạnh tranh với các các doanh nghiệp khác cùng ngành. Việc chưa chú trọng đầu tư vào thiết bị, máy móc mới sẽ làm cho công ty khó khăn hơn trong sản phẩm cạnh tranh của mình.

- Thứ tư: Việc bố trí cơ cấu vốn của doanh nghiệp được xem là phù hợp với

ngành nghề kinh doanh. Nhưng vấn đề không hợp lý ở đây chính là vấn đề phân bổ cơ

cấu vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đem nguồn vốn dài hạn của mình đi đầu tư vào nguồn vốn lưu động mà hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty chưa thật sự

cao mà lại còn có xu hướng không ổn định. Trong khi đó, nguồn vốn cố định cần đầu

tư nâng cấp thì công ty chưa thật sự chú trọng.

- Thứ năm: Trình độ cán bộ quản lý của công ty nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. Chi phí quản lý của doanh nghiệp còn quá cao làm giá thành sản phẩm của công

ty cao lên, khó khăn trong lĩnh vực cạnh tranh. Là do công ty chưa quản lý chặt chẽ

chi phí của Doanh nghiệp mình. Điều này đòi hỏi công ty phải chú trọng hơn nữa

nhằm quản lý tốt các chi phí đã bỏ ra cho kinh doanh của mình.

- Thứ sáu: Do tình trạng thiếu vốn, công ty phải đi vay ngân hàng để tài trợ cho

kinh doanh của mình, bao gồm cả vay ngắn hạn và vay dài hạn. Việc đi vay ngân hàng

công ty phải mất một khoản tiền lãi khá lớn, nó làm giảm lợi nhuận của công ty làm

cho công ty ít có cơ hội đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác.

- Thứ bảy: Về thị trường và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, có

nhiều bất lợi và hạn chế... Kết quả là từ khi gia nhập WTO, cùng với sự cạnh tranh

khốc liệt của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, thị trường của công ty đang bị chiếm với tốc độ chóng mặt.

Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác nữa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu

quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như: Hành lang pháp lý của đất nước, định hướng

phát triển kinh tế đất nước và nhiều nhân tố khác.

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ BÌNH MINH

1.9. 3.1. Phƣơng hƣớng hoạt động của Công ty trong thời gian tới

Nhìn vào nền kinh tế Việt Nam có thể thấy rõ, dù chỉ chiếm chưa cao trong

tổng số các doanh nghiệp Việt Nam nhưng thành phần kinh tế tư nhân vẫn giữ vai trò

đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Trong đó, các doanh nghiệp tư nhân ngày càng khẳng định vị trí của mình đối với sự phát triển, làm đẹp cho bộ mặt của đất nước, đưa

đất nước hoà vào xu thế hội nhập hiện nay.

Để đạt được điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải khẳng định được mình trong

xã hội. Thời gian qua Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh đã và đang tự khẳng định mình trong xã hội để từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình đối với

các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và các doanh nghiệp nước ngoài.

Vì khả năng cạnh tranh là nguồn năng lượng thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục dấn

bước trên con đường hội nhập kinh tế.

Công ty đã nhìn nhận và đánh giá chính xác, kịp thời xuất phát điểm của mình

thực tế như thế nào. Từ đó, lựa chọn cho mình chiến lược chặn đà tụt hậu - đuổi kịp -

vượt lên, hợp lý nhất.

Trên cơ sở đó, Công ty đã bước vào thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2013

với thuận lợi sẵn có đã đạt được trong năm 2012 với một tiềm lực kinh tế tài chính ngày càng đạt hiệu quả. Trong thời gian tới công ty quyết tâm phấn đấu thực hiện bằng

được nghị quyết của ban lãnh đạo công ty đề ra những mục tiêu kinh tế như sau:

- Đảm bảo hài hoà lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao

động trong doanh nghiệp

- Phát triển nguồn nhân lực.

- Mở rộng qui mô, mạng lưới kinh doanh, phát triển sản phẩm mới.

- Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, thi đua khen thưởng, tăng cường

công tác quản lý tài chính, kiểm toán.

- Đẩy mạnh hoạt động marketing – nghiên cứu và phát triển, nghiên cứu và tìm đối tác liên doanh để khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp mình. Cải tiến phương thức và kế hoạch hoạt động của các đơn vị kinh doanh.

Trên cở sở đó công ty đặt ra nhiệm vụ kinh tế chung cho toàn công ty như sau:

- Doanh thu: tăng 20 – 30% so với năm trước.

- Lợi nhuận trước thuế: tăng 10 – 15%.

- Hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước.

- Thu nhập bình quân đạt 4.500.000 đồng/người / tháng trở lên.

1.10. 3.2. Một số giải pháp chủ yếu

Qua việc xem xét tình hình tổ chức và sử dụng vốn sản xuất ở trên ta thấy rằng

hiệu quả SXKD của công ty chưa được tốt, công tác sử dụng vốn của công ty còn

nhiều tồn tại cần khắc phục. Nếu công ty khắc phục được những nguyên nhân gây ra

những tồn tại đó thì quá trình kinh doanh sẽ có hiệu quả hơn. Với thời gian thực tập có hạn và kiến thức của mình còn hạn chế nên em mạnh dạn nêu một số giải pháp nhằm

góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của công ty trong thời gian tới.

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty

- Tiến hành nâng cấp và đổi mới TSCĐ trong thời gian tới

Đối với các doanh nghiệp việc mua sắm tài sản cố định đúng phương hướng,

đúng mục đích có ý nghĩa to lớn và cực kỳ quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn cố định nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Điều đó giúp cho việc tính

khấu hao của công ty được chính xác hơn và giảm được hao mòn vô hình. Nếu công ty

không chủ động đầu tư để đổi mới máy móc, thiết bị thì chắc chắn sẽ bị thua kém

trong cạnh tranh.

Đây là vấn đề chiến lược lâu dài mà công ty cần có phương hướng đầu tư đúng

đắn, tuy nhiên cần phải xem xét hiệu quả của sự đầu tư mang lại, công ty mua sắm tài

sản cố định phải dựa trên khả năng hiện có của mình về lao động, khả năng tiêu thụ về

sản phẩm, nghiên cứu kỹ lưỡng các tài sản cố định đầu tư về mặt tiến bộ khoa học kỹ

thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh của

sản phẩm trên thị trường. Trong hoạt động kinh doanh việc tăng cường đổi mới trang

thiết bị máy móc là một lợi thế để chiếm lĩnh không chỉ thị trường hàng hoá mà cả thị

trường vốn tạo uy tín của khách hàng và sự tin cậy của các chủ nợ.

- Tiến hành quản lý chặt chẽ TSCĐ

Để thực hiện tốt công tác trên, công ty cần phải tiến hành quản lý chặt chẽ tài sản cố định của mình bằng các hình thức dưới đây:

+ Thứ nhất: Tiến hành mở sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản cố định hiện có: Nguyên giá, khấu hao, giá trị còn lại theo đúng chế độ kế toán thống kê hiện hành, phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản trong quá trình kinh doanh.

+ Thứ hai: Công ty phải tiến hành kiểm kê lại tài sản cố định theo đúng định kỳ

và khi kết thúc năm tài chính. Xác định được số tài sản thừa, thiếu, ứ đọng và nguyên

nhân gây ra tình hình trên để kịp thời đưa ra những giải pháp cụ thể cho tình hình trên.

+ Thứ ba: Tiến hành phân cấp quản lý tài sản cố định cho các bộ phận trong nội

bộ công ty, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn đồng thời kiểm kê, đánh giá hiệu quả

sử dụng tài sản cố định trong năm. Đối với tài sản cố định thuộc loại thanh lý hay

nhượng bán thì công ty phải tiến hành lập hội đồng đánh giá thực trạng về mặt kỹ thuật, thẩm định về giá trị tài sản.

Tài sản đem nhượng bán phải tổ chức đấu giá, thông báo công khai.

Tài sản thanh lý dưới hình thức huỷ, dỡ bỏ, hỏng hóc phải tổ chức hội đồng

thanh lý do giám đốc công ty quyết định.

Tài sản cố định của công ty là tài sản có hao mòn vô hình nhanh, nên trong quá

trình sử dụng công ty chọn ra cho mình phương pháp khấu hao thích hợp. Theo em,

công ty nên chọn cho mình phương pháp khấu hao nhanh, nó vừa giảm bớt hao mòn

vô hình, vừa giúp công ty có thể đổi mới, nâng cấp và thay mới tài sản, đáp ứng đầy đủ

cho hoạt động kinh doanh của mình.

+ Thứ tư: Thực hiện đánh giá lại tài sản vào cuối mỗi kỳ hoặc niên độ kế toán.

Trong nền kinh tế thị trường giá cả thường xuyên biến động, hiện tượng hao mòn vô

hình xảy ra rất nhanh chóng. Điều này làm cho nguyên giá và giá trị còn lại của tài sản cố định không còn chính xác, phản ánh sai lệch so với giá trị hiện tại của chúng. Việc

thường xuyên đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định giúp công ty lựa chọn cho mình

được phương pháp, khấu hao hợp lý nhằm thu hồi lại vốn hoặc có những biện pháp xử

lý kịp thời đối với tài sản mất giá, tránh tình trạng thất thoát vốn.

3.2.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại công ty

- Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu

Các khoản phải thu có tác dụng làm tăng doanh thu bán hàng, chi phí tồn kho giảm, tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả song nó cũng làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ. Tình trạng thực tế của Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh là: khoản phải thu ngày một gia tăng và ở mức cao. Như vậy, vốn lưu động của công ty bị chiếm dụng khá lớn. Chính vì vậy, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu để công ty vừa tăng được doanh thu, tận dụng tối đa năng lực kinh doanh hiện có vừa bảo đảm tính hiệu quả là điều hết sức quan trọng. Biện pháp để giảm thiểu các khoản phải thu tốt nhất là:

+ Thứ nhất: Không chấp nhận bán chịu với mọi giá để giải phóng hàng tồn kho

mà trước khi quyết định bán chịu hay không công ty nên phân tích khả năng tín dụng

của khách hàng và đánh giá khoản tín dụng được đề nghị. Đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng nhằm xác định liệu khoản tín dụng này sẽ được khách hàng thanh toán

đúng thời hạn hay không. Để làm được điều này công ty phải xây dựng được một hệ

thống các chỉ tiêu tín dụng như: Phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ, vốn của

khách hàng, tài sản thế chấp, điều kiện của khách hàng. Công ty chỉ nên bán chịu cho

khách hàng khi thu về cái lớn hơn cái đã mất.

+ Thứ hai: Công ty phải theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu bằng cách sắp

xếp chúng theo độ dài thời gian để theo dõi và có biện pháp giải quyết các khoản phải

thu khi đến hạn, theo dõi kỳ thu tiền bình quân … để có biện pháp kịp thời để giải quyết.

Ngoài ra, Công ty nên áp dụng biện pháp tài chính thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

và hạn chế vốn bị chiếm dụng như chiết khấu thanh toán và phạt vi phạm quá thời hạn

thanh toán.

- Quản lý chặt hơn nữa hàng tồn kho

Hàng tồn kho của công ty năm 2010 chiếm 28,2 % trong tổng tài sản lưu động,

năm 2011 chiếm 20,2% và đến năm 2010 giảm còn 13,9%. Mặc dù hàng tồn kho của

công ty giảm dần trong các năm gần đây nhưng hàng tồn kho này ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty, do đó công ty phải quản lý tốt hàng tồn kho của

mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Trước mắt, công ty phải giải phóng bớt hàng tồn kho này bằng cách điều

chuyển hàng hoá cũng như nguyên vật liệu ứ đọng, cố gắng đưa vào sử dụng hết các

nguyên vật liệu cũ ở các xưởng, tạm ngưng nhập và dự trữ các nguyên vật liệu đang

còn dư thừa, tiến hành bán với giá thấp hơn giá hiện tại trên thị trường nhưng phải đảm

bảo hoà vốn để thu hồi vốn nhằm tái đầu tư sang lĩnh vực kinh doanh khác, cụ thể cần tiến hành:

+ Lập kế hoạch cho hoạt động kinh doanh trên cơ sở tình hình năm báo cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng, quý. Kiểm tra chất lượng số hàng hóa khi nhập về. Nếu hàng kém phẩm chất thì phải đề nghị người bán đền bù tránh thiệt hại cho công ty. + Bảo quản tốt hàng tồn kho. Hàng tháng, kế toán hàng hóa cần đối chiếu sổ sách, phát hiện số hàng tồn đọng để xử lý, tìm biện pháp để giải phóng số hàng hóa tồn đọng để nhanh chóng thu hồi vốn. + Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường hàng hóa. Từ đó dự đoán

và quyết định điều chỉnh kịp thời việc nhập khẩu và lượng hàng hóa trong kho trước

sự biến động của thị trường. Đây là biện pháp quan trọng để bảo toàn vốn của công ty.

- Chú trọng tìm kiếm thị trƣờng ổn định, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm

Tăng cường công tác nghiên cứu và dự báo thị trường để nắm bắt kịp thời nhu

cầu của thị trường, tổ chức mạng lưới tiêu thụ có hiệu quả. Đây là biện pháp tốt nhất

để tăng số lượng, doanh số bán hàng trong cả hiện tại và tương lai, tạo điều kiện cho việc định hướng đầu tư trong những năm tiếp theo.

Thị trường liên quan đến cả “đầu vào” và “đầu ra” của quá trình tiêu thụ hàng

hóa. Việc nghiên cứu thị trường giúp doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm tốt hơn, tạo

doanh thu nhiều hơn, từ đó doanh nghiệp mới xây dựng kết quả của từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như từng mặt hàng sản xuất và tiêu thụ. Tiêu thụ sản

phẩm nhanh, nhiều là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp. Do vậy, thị trường tiêu thụ là một trong những vấn đề quan tâm

hàng đầu của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Để tiến

hành được một cách tốt hơn về thị trường tiêu thụ ta thực hiện các biện pháp sau:

+ Thứ nhất: Tăng cường công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường, Marketing,

nắm bắt những yêu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm. Từ

đó có những biện pháp khắc phục kịp thời những mặt tồn tại, hạn chế của sản phẩm,

phát huy những thế mạnh hiện có.

+ Thứ hai: Công ty cần tìm kiếm khách hàng có nhu cầu lớn và sử dụng có tính

chất thường xuyên, lâu dài để ký kết các hợp đồng sản xuất và tiêu thụ tạo cho công ty

một thị trường lâu dài ổn định.

+ Thứ ba: Giải quyết mọi yêu cầu của khách hàng như: Đáp ứng phương tiện

vận chuyển ở mọi điều kiện giao thông, nhiều phương thức thanh toán nhằm thúc đẩy

mạnh việc tiêu thụ sản phẩm nhanh.

+ Thứ tư: Xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ ở những thị trường đang có

nhu cầu. Thông qua hệ thống tổ chức công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng. Đây chính là cầu nối giữa công ty với khách hàng. Qua đó, công ty có thể thu nhập thêm những thông tin cần thiết và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phục vụ

tốt hơn nhu cầu của khách hàng, củng cố niềm tin của khách hàng với công ty.

+ Thứ năm: Thực hiện phương châm khách hàng là thượng đế, áp dụng chính sách ưu tiên về giá cả, điều kiện thanh toán và phương tiện vận chuyển với những đơn vị mua hàng nhiều, thường xuyên hay có khoảng cách vận chuyển xa.

Có tìm được một thị trường lâu dài ổn định cho sản phẩm thì công ty mới đẩy

mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, tăng tốc độ luân chuyển lớn làm cho hiệu quả sử dụng

vốn không ngừng tăng lên, từ đó cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên, mở rộng phát triển quy mô sản xuất kinh doanh của công ty.

- Giảm chu kỳ vận động của tiền mặt

Ta đã biết, chu trình vận động của tiền mặt là: T – H – T’, rút ngắn thời gian vận động của tiền mặt cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn

lưu động, tăng nhanh số lần tạo ra T’ thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn của công ty.

Giảm chu kỳ vận động của tiền mặt đồng nghĩa với việc công ty phải:

+ Giảm thời gian thu hồi các khoản phải thu.

+ Giảm thời gian vận động của hàng tồn kho.

+ Tăng thời gian chậm trả các khoản phải trả.

Giảm thời gian vận động của hàng tồn kho bằng cách tăng mức bán mỗi ngày.

Muốn tăng mức bán mỗi ngày, công ty phải tiến hành các biện pháp đồng bộ như: Kết

hợp Marketting với nghiên cứu thị trường để tìm hiểu nhu cầu thị trường, từ đó xây

dựng chiến lược tạo nguồn hàng, tiến hành dự trữ, nhập hàng nhằm đáp ứng nhu cầu

khách hàng.

- Kéo dài thời gian chậm trả

Đây là biện pháp mang tính tiêu cực song nó đem lại lợi ích rất lớn. Nhờ vào đó,

công ty có thể chiếm dụng được số vốn trong ngắn hạn để bổ sung vào vốn lưu động

của mình mà công ty không phải trả chi phí. Nếu công việc này kéo dài quá thì sẽ ảnh

hưởng đến uy tín của công ty, điều này lại là bất lợi cho công ty trong việc giao tiếp

với bạn hàng. Để tiến hành tốt biện pháp này, công ty có thể áp dụng biện pháp như:

Thỏa thuận với bạn hàng về thời gian thanh toán, có thể thanh toán nhiều lần, sao cho

thời gian hợp lý và luôn cố gắng giữ đúng chữ tín.

- Giảm thiểu chi phí quản lý kinh doanh của doanh nghiệp

Việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp góp phần làm tăng lợi nhuận của công ty, công ty muốn hoạt động của mình có hiệu quả hơn nữa thì phải đề ra các giải pháp cụ thể cho việc quản lý chi phí này, đó là:

+ Thứ nhất: Điều chỉnh lại quy trình hoạt động kinh doanh, giảm thiểu số nhân

viên quản lý ở các phòng ban sao cho phù hợp vừa đảm bảo được hiệu quả quản lý vừa không ngừng gia tăng doanh thu.

+ Thứ hai: Điều chỉnh hướng tới chi phí quản lý nhỏ nhất có thể được, công ty

nên có giải pháp huy động vốn khác để giảm được chi phí vốn vay ngân hàng như huy

động từ vốn chủ hay phát hành trái phiếu.

+ Thứ ba: Áp dụng vận chuyển sản phẩm trực tiếp từ nhà sản xuất tới khách

hàng để công ty không còn lo lắng về các chi phí lưu kho, chi phí bảo hiểm và thuê địa

điểm. Những khoản chi phí này luôn làm giảm đáng kể vào lợi nhuận của công ty, vì

vậy hãy tiết kiệm thời gian và chi phí bằng việc vận chuyển trực tiếp tới khách hàng.

- Có biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra Khi đã kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, công ty luôn luôn phải nhận

thức được rằng mình phải sẵn sàng đối phó với mọi sự thay đổi, biến động phức tạp có

thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Những rủi ro bất thường trong kinh doanh như: nền kinh tế lạm phát, giá cả thị trường tăng lên,… mà nhiều khi nhà quản lý không lường hết

được. Vì vậy, để hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy ra, công ty cần phải thực

hiện các biện pháp phòng ngừa để khi vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói

riêng bị hao hụt, công ty có thể có ngay nguồn bù đắp, đảm bảo cho quá trình hoạt

động kinh doanh diễn ra liên tục. Cụ thể, các biện pháp mà công ty có thể áp dụng là:

+ Mua bảo hiểm hàng hóa đối với những hàng hóa đang đi đường cũng như

hàng hóa nằm trong kho.

+ Trích lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng

giảm giá hàng bán tồn kho.

+ Việc công ty tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững chắc, một tấm lá

chắn tin cậy về kinh tế, giúp công ty có điều kiện về tài chính để chống đỡ có hiệu quả

mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến vốn lưu động.

- Thƣờng xuyên tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn

lƣu động của công ty

Cuối kỳ, công ty cần kiểm tra, rà soát, đánh giá lại vật tư hàng hóa, vốn bằng tiền, đối chiếu sổ sách kế toán để xử lý chênh lệch. Để hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì doanh nghiệp phải biết được đồng vốn mình bỏ ra sẽ đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Việc thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ giúp công ty có cái nhìn đích thực và nắm bắt chính xác tình hình tài chính của mình, từ đó đưa ra các giải pháp kịp thời và có hiệu quả để giải quyết các khó khăn cũng như các biện pháp phát huy các mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong việc sử dụng vốn của mình. Công ty nên tránh việc đánh giá mang tính

chất hình thức như các doanh nghiệp hiện nay.

Đó là các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Ngoài các giải pháp trên ta còn

sử dụng một số giải pháp như: Có chế độ thưởng phạt rõ ràng đối với các bộ phận phòng ban thực hiện tốt công tác sử dụng vốn, hoàn thiện hơn nữa công tác phân tích

tài chính doanh nghiệp, tìm nơi đầu tư có lợi nhất...

1.11. 3.2.3. Một số giải pháp chung cho công ty

Để đảm bảo các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân tiếp tục phát

triển bền vững, đóng vai trò quan trọng trong việc cùng đất nước- xã hội tiến hành

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bước vào xu thế hội nhập toàn cầu hóa, theo em thời

gian tới cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Thứ nhất: Cần thực hiện tốt công tác tinh giảm biên chế theo hướng gọn nhẹ,

hiệu quả, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, xử lý nghiêm các cán bộ vi phạm kỷ

luật, vi phạm quy chế tài chính.

- Thứ hai: Tăng cường công tác tự kiểm tra giám sát, kết hợp chặt chẽ giữa đảm

bảo chế độ tài chính của Nhà nước và thực hiện cơ chế khoán chỉ tiêu nội bộ nhằm

giảm tối đa giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tăng cường công

tác thu hồi nợ giải quyết dứt điểm các khoản nợ đến hạn và nợ quá hạn.

- Thứ ba: Đối với các doanh nghiệp cùng nghành nghề, cùng địa bàn hoạt động,

nếu xét đủ điều kiện để thành lập Tổng công ty và tự nguyện thì nên trình Bộ và Chính phủ thành lập Tổng công ty hoặc sáp nhập, tiến tới thành lập các tập đoàn kinh doanh

mạnh trên các lĩnh vực dịch vụ, thương mại.

- Thứ tư: Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao nhận thức và chuyên môn của cán

bộ, công nhân viên cho các doanh nghiệp, đảm bảo nguồn nhân lực thực sự trở thành

một lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp.

1.12. 3.3. Một số kiến nghị

1.13. 3.3.1. Về phía nhà nước

- Một là: Hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận tiện cho các doanh nghiệp nói chung, và đối với

các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân nói riêng.

- Hai là: Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng một thị trường tài chính, thị trường vốn ổn định. Thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính, các quỹ đầu tư…để hoà nhập thị trường vốn trong nước với khu vực, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tự

động huy động vốn thông qua các hình thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu, góp vốn

liên doanh để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Ba là: Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới, các chính sách ngoại thương như thuế xuất nhập khẩu, chính sách bảo hộ, tỷ giá phải có

những nghiên cứu kỹ lưỡng để điều chỉnh cho phù hợp. Trong thời gian tới, Nhà nước

cần có biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho các

doanh nghiệp Việt Nam.

- Thứ tư: Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao nhận thức và chuyên môn của

cán bộ, công nhân viên cho các doanh nghiệp, đảm bảo nguồn nhân lực thực sự trở

thành một lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp.

3.3.2. Về phía Ngân hàng

Các ngân hàng nên tiến hành xắp sếp các doanh nghiệp theo trình tự A, B, C để

từ đó có biện pháp quản lý phù hợp. Đối với các doanh nghiệp thuộc loại A việc xem

xét mức dư nợ bao nhiêu là phù hợp nên giao cho các ngân hàng thương mại tự quyết

định và chịu trách nhiệm. Vì tình hình hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp ở

mức độ nào chỉ có các doanh nghiệp và ngân hàng là người biết rõ nhất.

Đối với các doanh nghiệp thuộc loại B, các ngân hàng thương mại có thể chủ

động cùng các nghành liên quan hỗ trợ doanh nghiệp vươn lên, sau thời gian khoảng 6

tháng có thể đánh giá, phân tích nếu lên được hạng A sẽ được xử lý nợ như doanh nghiệp hạng A. Còn sau thời gian 6 tháng vẫn thấy tình hình sản xuất kinh doanh bị

cầm chừng thì các ngân hàng thương mại chủ động thoả thuận với khách hàng rút dư

nợ theo chu kỳ, giải phóng vốn của doanh nghiệp xuống một tỷ lệ thích hợp.

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ thì

vay ngân hàng chiếm một tỷ trọng lớn, thường xuyên và thường là nhu cầu vay ngắn

hạn do liên tục có các hợp đồng kinh tế, nhu cầu mở tài khoản thanh toán, bảo lãnh của

doanh nghiệp xuất hiện thường xuyên. Hiện nay, mỗi lần đến xin vay thì công ty lại

phải có đơn xin vay, các giấy tờ, hồ sơ phức tạp và đôi khi khó khăn. Tuy việc có các giấy tờ, hồ sơ, đơn xin vay là cần thiết đảm bảo cho các hoạt động của ngân hàng được an toàn nhưng ngân hàng cũng nên tuỳ vào trường hợp cụ thể mà có những quy định cho phù hợp. Nên chăng, các ngân hàng thương mại cho phép các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên, lâu dài, uy tín được đăng ký một hạn mức tín dụng đầu năm tức

là vào đầu mỗi năm công ty sẽ xác định một hạn mức tín dụng đầu năm, tức là vào đầu

mỗi năm công ty sẽ xác định một hạn mức bảo lãnh cho cả năm tại ngân hàng. Trên cơ sở đó, khi nào cần vốn công ty chỉ cần trình hồ sơ xin vay, hợp đồng mua bán hàng hoá chứng tỏ có khoản vào ra đầy đủ, giảm bớt phiền hà, phức tạp như hiện nay.

Ngân hàng nên tăng cường kiểm soát nền kinh tế thông qua khả năng kiểm soát

tài chính của công ty có tài khoản tại ngân hàng. Làm được điều này không những

giúp công ty quản lý được khoản phải thu từ phía khách hàng, giảm rủi ro nợ khó đòi mà còn giúp ngân hàng giảm rủi ro cho chính mình.

KẾT LUẬN

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tạo ra sự cạnh tranh và luôn

đứng vững trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải quan tâm đúng mức tới

việc đổi mới dây chuyền công nghệ, thay thế bằng máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cũng như hạ giá thành sản phẩm.

Mặt khác, doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, sức cạnh tranh kinh tế của

mỗi nước được quyết định bởi hoạt động và tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Để tham gia hội nhập và hội nhập được với nền kinh tế khu vực

và quốc tế thì doanh nghiệp phải có đủ sức cạnh tranh và quy mô vốn lớn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, uy tín trên thị trường. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải

làm tốt công tác quản lý và điều hành vốn của mình một cách có hiệu quả nhất.

Qua phân tích tình hình thực tế hiệu quả sử dụng vốn tại Công Ty Cổ Phần Công

Nghệ Bình Minh, em đã phần nào thấy được những thành tựu mà công ty đã đạt được

trong những năm qua và những hạn chế còn tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới

để công ty có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của mình nhằm góp phần đưa

đất nước tiến vào xu thế hội nhập và quốc tế hoá trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, do trình độ lý luận và thời gian thực tập tại công ty có hạn nên bài

viết này chắc chắn còn nhiều hạn chế, em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của

các thầy cô giáo trong khoa và các cô chú cùng toàn thể các anh, chị trong công ty để

em có thể hoàn thiện bài viết này.

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng các anh chị trong Công ty Cổ

phần Công nghệ Bình Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập này.

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế - Quản

lý và PGS.TS Lưu Thị Hương đã nhiệt tình hướng dẫn suốt thời gian thực tập để em có

một kỳ thực tập hiệu quả và hoàn thành bản báo cáo khóa luận tốt nghiệp.

Hà Nội, ngày 01 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Tuấn Anh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. PGS.TS Lưu Thị Hương- PGS.TS Vũ Duy Hào, Giáo trình: Tài chính doanh nghiệp,

Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân, năm 2004.

2. Giáo trình: Phân Tích Tài Chính Doanh Nghiệp- Trường Học Viện Ngân Hàng, năm 2012.

3. Nguyễn Minh Kiều (2011), Giáo trình: Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nxb Lao

Động- Xã hội.

4. Tạp Chí Thời Báo Kinh Tế Năm 2012.

5. Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Bình Minh, Báo cái tài chính năm 2010, 2011, 2012.

Website

6. http://www.saga.vn

7. http://ub.com.vn

8. http://dankinhte.vn

9. http://svnhforum.com