BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH NHẰM HOÀN THIỆN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH HOÀNG ĐỨC

SINH VIÊN THỰC HIỆN MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: NGUYỄN ANH TUẤN : A16859 : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn

sâu sắc đến quý thầy, cô giáo khoa Kinh Tế - Quản Lý trường Đại Học Thăng Long đã

tận tình dạy dỗ, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô giáo Th.s Chu Thị Thu Thuỷ đã nhiệt tình giúp đỡ em trong

suốt thời gian làm khóa luận. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị, Ban giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Đức nói chung cũng như các anh, chị ở

phòng kế toán nói riêng đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ dẫn và tạo điều kiện cho em để hoàn

thành khóa luận này.

Trong quá trình viết khóa luận, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về mặt

thời gian cũng như kiến thức nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp của quý thầy cô để khóa luận của em được

Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2014

hoàn thiện hơn.

Sinh viên

Nguyễn Anh Tuấn

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Anh Tuấn

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI

CHÍNH DOANH NGHIỆP ........................................................................................... 1

1.1. Khái quát chung về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp .................................. 1

1.1.1. Khái niệm về cấu trúc tài chính doanh nghiệp ................................................... 1 1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp .......................... 1

1.2. Khái niệm, mục tiêu và vai trò của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

......................................................................................................................................... 2

1.2.1. Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp ....................................... 2 1.2.2. Mục tiêu phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp ......................................... 3

1.2.3. Vai trò của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp ...................................... 3

1.3. Thông tin sử dụng trong phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp .................... 4

1.3.1. Thông tin bên trong .............................................................................................. 4

1.3.2. Thông tin bên ngoài ............................................................................................. 5

1.4. Phƣơng pháp phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp .................................. 6

1.4.1. Phương pháp tỷ số ................................................................................................ 6

1.4.2. Phương pháp so sánh ........................................................................................... 6

1.4.3. Phương pháp loại trừ ........................................................................................... 7

1.4.4. Phương pháp phân tích tương quan ................................................................... 8 1.4.5. Phương pháp cân đối liên hệ ............................................................................... 8

1.4.6. Phương pháp phân tích Dupont .......................................................................... 8

1.5. Quy trình phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp......................................... 9

1.6. Nội dung phân tích cấu trúc tài chính ................................................................ 11

1.6.1. Phân tích cấu trúc tài sản doanh nghiệp .......................................................... 11

1.6.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp ............................................. 13

1.6.3. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn .................... 19

1.6.4. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của công ty ......................................................................................................... 21 CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH

HOÀNG ĐỨC .............................................................................................................. 27 2.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH Hoàng Đức ................................................ 27 2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Hoàng Đức .............................................. 27 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ................................................................... 27

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoàng Đức .............................................. 28 2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận ........................................................... 28 2.1.5. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Hoàng Đức ......... 30

2.1.6. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Hoàng Đức từ 2010-2012 ....................................................................................................................................... 30

2.2. Phân tích cấu trúc tài chính công ty TNHH Hoàng Đức .................................. 31

2.2.1. Phân tích cấu trúc tài sản .................................................................................. 31

2.2.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn ............................................................................ 35 2.2.3. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và cấu trúc tài sản .............. 42

2.2.4. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của công ty ......................................................................................................... 43

2.3. Đánh giá cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức ............................ 49 2.3.1. Đánh giá cấu trúc tài sản ................................................................................... 49

2.3.2. Đánh giá cấu trúc nguồn vốn ............................................................................ 50

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG

TY TNHH HOÀNG ĐỨC ........................................................................................... 52

3.1. Định hƣớng phát triển công ty TNHH Hoàng Đức ........................................... 52

3.2. Các giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức . 52

3.2.1. Lập dự toán tiền và cân bằng tài chính ngắn hạn ............................................ 53

3.2.2. Quản lý chặt chẽ khoản phải thu ....................................................................... 54

3.2.3. Giải pháp huy động thêm nợ để tài trợ cho tài sản ........................................... 55

3.2.4. Giải pháp xác định mức dự trữ tồn kho ............................................................ 56 3.2.5. Giải pháp tăng cường đầu tư tài sản cố định .................................................... 57

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BCDKT Bảng cân đối kế toán

DN Doanh nghiệp

GVHB Giá vốn hàng bán

NVTX Nguồn vốn thường xuyên

NVTT Nguồn vốn tạm thời

NXB Nhà xuất bản

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ Tài sản cố định

VCSH Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoàng Đức....................................... 28

Bảng 2.1. Các chỉ tiêu của công ty qua các năm ........................................................ 30

Bảng 2.2. Bảng phân tích cơ cấu tài sản của công ty ................................................. 32

Bảng 2.3. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty .................................................... 36

Bảng 2.4. Các chỉ tiêu phân tích cơ cấu nợ tại công ty TNHH Hoàng Đức............... 37

Bảng 2.5. Bảng phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ tại công ty ......................... 40

Bảng 2.6. Bảng phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn

............................................................................................................................................... 42

Bảng 2.7. Ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh ......................................................... 44

Bảng 2.8. Ảnh hưởng của khả năng tự chủ về tài chính ............................................ 45

Bảng 2.9. Ảnh hưởng riêng biệt của ROA, TSTTT lên tỷ suất sinh lời ROE ............ 46

Bảng 2.10. Ảnh hưởng riêng biêt của RE, D/E, rd, t lên ROE .................................... 47

Bảng 2.11. Ảnh hưởng của độ lớn đòn bẩy tài chính ................................................. 48

Bảng 3.1. Bảng báo cáo kế hoạch vốn bằng tiền năm 2013 ....................................... 54

Bảng 3.2. Bảng theo dõi tình hình công nợ khách hàng ............................................. 55

Bảng 3.3. Bảng định mức hàng tồn kho tối thiểu ....................................................... 56

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển khá vững chắc cùng với việc

gia nhập WTO là cơ hội lớn đối lớn với các doanh nghiệp nhưng cũng là thách thức rất

lớn. Trước sự thay đổi đó, doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng để có thể tồn tại và

phát triển. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và có những bước đi

đúng đắn riêng cho mình.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao, các doanh nghiệp đã có sự

quan tâm thích đáng đến công tác phân tích tình hình tài chính. Việc phân tích tình

hình tài chính giúp cho thông tin cung cấp trên các báo cáo tài chính thực sự có ý

nghĩa với người sử dụng. Qua phân tích họ có căn cứ để đánh giá tốt hơn tình hình sử dụng vốn cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác định được các nhân tố

ảnh hưởng, mức độ cũng như xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh

doanh, từ đó các đối tượng quan tâm có thể ra quyết định tối ưu nhất.

Ngoài ra việc phân tích cấu trúc tài chính còn giúp cho nhà quản lý nắm được tình

hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ của tài sản, biết được các nguyên nhân cũng

như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính. Những thông tin này sẽ là những

căn cứ quan trọng để các nhà quản trị ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn của mình, đảm bảo cho doanh nghiệp có được một cấu trúc tài

chính lành mạnh, hiệu quả, tránh được các rủi ro trong kinh doanh. Xuất phát từ ý

nghĩa cơ bản về lý luận cũng như tình hình thực tế của công ty, em nhận ra được tầm

quan trọng, sự cần thiết của việc phân tích cấu trúc tài chính đối với mỗi công ty.

Trong năm qua, những khó khăn của nền kinh tế thế giới và trong nước đã có ảnh

hưởng không nhỏ đến sự phát triển của báo chí. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ

thông tin điện tử và mạng internet đã khiến cho ngành phát hành báo giấy gặp rất

nhiều thách thức. Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty TNHH Hoàng Đức một

doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực in ấn và phát hành báo chí đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Điều này đòi hỏi công ty phải xem xét lại những yếu tố bên trong,

bên ngoài để tìm ra những giải pháp tốt nhất khắc phục tình trạng trên.

Với mong muốn vận dụng được những kiến thức thu được từ học tập, những kiến thức thu được qua đợt thực tập tốt nghiệp tại công ty TNHH Hoàng Đức nên em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Phân tích cấu trúc tài chính nhằm hoàn thiện cấu trúc tài chính tại công ty TNHH Hoàng Đức” để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về cấu trúc tài chính, luận văn sẽ tiến hành đánh giá thực trạng

cấu trúc tài chính của Công ty từ đó rút ra những điểm mạnh và điểm yếu trong chính sách tài trợ của Công ty nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp. Từ

công tác phân tích này, nhà quản trị sẽ biết được cân bằng tài chính hiện tại của Công

ty để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính nhằm cải thiện cân bằng

tài chính, giảm rủi ro liên quan đến hoạt động tài trợ. Đây cũng là cơ sở để Công ty

TNHH Hoàng Đức thu hút thêm các nguồn vốn để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu cấu trúc tài chính doanh nghiệp thông qua

nghiên cứu tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu: cấu trúc tài chính trong Công ty TNHH Hoàng Đức trong

giai đoạn 2010-2012.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính: nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn thông qua quá

trình điều tra, tổng hợp, thống kê, kế thừa phân tích số liệu, thu thập thông tin và so

sánh trên cơ sở sử dụng các số liệu, tài liệu, biểu đồ làm căn cứ để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu.

Ngoài ra để đi sâu vào phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp tác giả còn sử

dụng phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp

phân tích tương quan, phương pháp cân đối liên hệ và phương pháp Dupont.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương với kết cấu

như sau:

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Chƣơng 2: Phân tích cấu trúc tài chính tại công ty TNHH Hoàng Đức

Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát chung về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Cấu trúc tài chính được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để

tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp mình. Cấu trúc tài chính được đo lường thông qua

các chỉ tiêu như tỉ suất nợ (Nợ phải trả trên tổng tài sản), tỉ suất tự tài trợ (Vốn chủ sở hữu trên

tổng tài sản) hay tỉ suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. (Nguồn: PGS.TS Lê Công Hoa, TS. Nguyễn Thành Hiếu (2012), Giáo trình Nghiên cứu kinh doanh, Tr.6-7 )

Về lý thuyết, cấu trúc tài chính hiện đại dựa trên những giả định lần đầu tiên được

đưa ra bởi Modigliani và Miller (1958). Từ đó, một số lý thuyết về cấu trúc tài chính

giải thích cho sự khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được phát triển. Trong đó, đáng chú ý nhất là 2 lý thuyết lý giải thích mối quan hệ giữa

cấu trúc tài chính và giá trị doanh nghiệp, bao gồm: lý thuyết tĩnh về đánh đổi (static

trade-off theory (DeAngelo và Masulis, 1980)) và lý thuyết về trật tự phân hạng (the

pecking order theory (Myers và Majluf, 1984)).

Về thực nghiệm, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các nhân tố ảnh

hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: lợi nhuận, tăng trưởng của

doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, qui mô của doanh nghiệp… Tuy nhiên, chiều hướng tác động của các nhân tố này đến cấu trúc tài chính là không hoàn toàn giống nhau

trong các nghiên cứu trước đây. Trong phần tiếp theo, tác giả khái quát một số nhân tố

ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp.

1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp

a) Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (Return on Assets-

ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu). Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá trị

doanh nghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất cân xứng về thông tin này dẫn đến chi phí huy động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn. Vì thế, nhà quản trị có xu hướng ưu tiên dùng các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn vốn vay mượn bên ngoài. Theo các nghiên cứu thực nghiệm ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy cấu trúc tài chính có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả kinh doanh. Ở các nước đang phát triển nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, vấn đề bất cân xứng về thông tin càng trầm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ lại lợi nhuận để đầu tư hơn là đi vay nợ bên ngoài.

1

b) Sự tăng trưởng của doanh nghiệp

Sự tăng trưởng của doanh nghiệp được đo lường thông qua tốc độ tăng tài sản hay

doanh thu. Khi doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng, niềm tin của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp sẽ cao, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài càng

lớn, trong khi doanh nghiệp cần nguồn tài trợ cho tài sản của mình.

c) Qui mô của doanh nghiệp

Qui mô của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số lượng nhân viên, tổng tài

sản, hay tổng doanh thu. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp niêm yết có qui mô lớn thường là những doanh nghiệp do nhà nước nắm cổ phần chi phối, vì vậy những doanh

nghiệp này có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn từ bên ngoài hơn, nhất là các tổ

chức tín dụng thuộc sở hữu Nhà nước.

d) Rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh thường được đo lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận,

lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Khi rủi ro kinh doanh càng lớn, niềm tin của các nhà

đầu tư vào doanh nghiệp không cao, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên

ngoài thấp.

e) Cấu trúc tài sản

Cấu trúc tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ lệ TSCĐ trên tổng tài sản. Về

mặt lý thuyết, khi tỉ lệ tài sản cố định chiếm tỉ trọng lớn, doanh nghiệp có cơ hội thế chấp các tài sản này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên, khi các doanh

nghiệp có mối quan hệ thân thiết với các nhà tài trợ vốn thì có thể vay mượn mà không

cần phải cung cấp nhiều bằng chứng thế chấp. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong

điều kiện của Việt Nam.

1.2. Khái niệm, mục tiêu và vai trò của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Phân tích cấu trúc tài chính là phân tích khái quát tình hình đầu tư và huy động

vốn của doanh nghiệp, chỉ ra các phương thức tài trợ tài sản để làm rõ những dấu hiệu về cân bằng tài chính. Phân tích cấu trúc tài chính bao gồm phân tích cấu trúc tài sản,

phân tích cấu trúc nguồn vốn và phân tích cân bằng tài chính. (Nguồn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (2010), Phân tích hoạt động kinh tế, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, Tr. 98)

Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp: là khái niệm chỉ cơ cấu mỗi loại tài sản trong doanh nghiệp. Đó là thành phần, là tỷ trọng của mỗi loại tài sản trong tổng tài sản.

Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp: thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp, liên quan nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản lý tài chính.

2

Việc huy động vốn một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đảm

bảo sự an toàn trong tài chính, nhưng mặt khác liên quan đến hiệu quả và rộng hơn là

rủi ro của doanh nghiệp.

Phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp: xem xét mối quan hệ giữa nguồn

vốn với tài sản trên BCĐKT. Mối quan hệ này liên quan đến thời gian sử dụng nguồn vốn và thời gian quay vòng tài sản của doanh nghiệp.

1.2.2. Mục tiêu phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Mục đích của phân tích cấu trúc tài sản là nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp và giữ các doanh nghiệp với nhau. Qua đó, dự tính

khả năng luân chuyển vốn, phát hiện những dấu hiệu không tốt trong quản lý tổ chức.

Phân tích cấu trúc nguồn vốn phải cung cấp cho chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các

nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác về tính tự chủ về tài chính, tính ổn định của các nguồn tài trợ, cân bằng tài chính của công ty để đánh giá khả năng và tính

chắc chắn tình hình sử dụng có hiệu quả nhất nguồn vốn kinh doanh, tình hình và khả

năng thanh toán của công ty.

Phân tích cân bằng tài chính là nhằm phát hiện những nhân tố hiện tại hoặc tiềm

tàng của sự mất cân bằng tài chính, để từ đó có cơ sở cho các nhà quản trị doanh

nghiệp ra quyết định về việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả đảm bảo khả năng

thanh toán an toàn.

1.2.3. Vai trò của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp giúp cho các nhà phân tích thấy được xu

hướng, bản chất của chỉ tiêu tài chính mà nhà phân tích cần tìm hiểu. Từ đó nhà quản

trị có thể ra quyết định đúng đắn về việc hoàn thiện cấu trúc tài chính hoặc đầu tư huy

động vốn. Tùy theo mỗi chủ thể kinh tế mà phân tích cấu trúc tài chính có ý nghĩa

khác nhau.

- Đối với bản thân doanh nghiệp

Đối với bản thân doanh nghiệp thì việc phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiêp

nhằm giúp doanh nghiệp thấy được tình hình đầu tư và huy động vốn từ đó có thể dự

đoán được hiệu quả hoặc rủi ro tài chính có thể xảy ra. Vì vậy doanh nghiệp có thể giữ nguyên cấu trúc cũ hoặc thay đổi cho phù hợp với chiến lược phát triển của mình.

Khi phân tích cấu trúc tài sản nhà quản lý có thể điều chỉnh tỷ trọng từng loại tài sản. Tùy theo doanh nghiệp, tùy theo chính sách phát triển của doanh nghiệp mà có thể tăng hay cắt giảm hàng tồn kho, nên đầu tư vào loại tài sản nào, thời điểm nào là hợp lý,…

Phân tích cấu trúc nguồn vốn, nhà quản trị có thể thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định, tự chủ và cân bằng không từ đó có thể điều chính cấu trúc nguồn

3

vốn theo mong muốn của mình. Trong điều kiện kinh doanh thuận lợi nếu doanh nghiệp

muốn đạt hiệu quả tài chính cao thì tỷ suất nợ nhưng hiệu quả cao luôn gắn với rủi ro cao.

Ngược lại doanh nghiệp muốn đảm bảo an toàn thì tỷ suất nợ thấp. Khi tỷ suất nợ cao doanh nghiệp có hai cái lợi đó là: thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên lợi nhuận sau khi

trừ chi phí lãi vay và thường thì chi phí lãi vay doanh nghiệp phải trả cho các tổ chức tín

dụng nhỏ hơn cổ tức phải chia cho các cổ đông.

- Đối với chủ thể kinh tế khác

Một ngân hàng trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay hay không thì ngân hàng xem khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Cụ thể là các tỷ số của các chỉ tiêu tỷ

suất nợ, đòn bẩy tài chính, hệ số khả năng thanh toán. Do đó một doanh nghiệp muốn

huy động được vốn vay từ các tổ chức khác thì phải đảm bảo các yêu cầu về khả năng

thanh toán.

Cũng như các ngân hàng, các nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư vào doanh

nghiệp cũng phải xem tình hình tài chính của doanh nghiệp có đảm bảo an toàn cho

vốn đầu tư và có khả năng đem lại lợi nhuận không. Vì vậy các chỉ số của các chỉ tiêu

như tỷ suất đòn bẩy tài chính, hệ số khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời của tài sản,…

được các nhà đầu tư xem xét và so sánh trước khi có quyết định.

1.3. Thông tin sử dụng trong phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

1.3.1. Thông tin bên trong

a) Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn

bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời

điểm nhất định (thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm).

Về mặt kinh tế: Số liệu phần tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát qui mô

và kết cấu tài sản của doanh nghiệp. Số liệu phần nguồn vốn phản ánh các nguồn tài

trợ cho tài sản của doanh nghiệp

Về mặt pháp lý: Số liệu phần tài sản thể hiện giá trị các loại tài sản hiện có mà doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng lâu dài để sinh lời. Phần nguồn vốn thể

hiện phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh với chủ nợ và chủ sở hữu.

b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh

tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) theo các loại hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà

nước về thuế và các khoản phải nộp khác.

4

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá

hiệu quả kinh doanh và công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra tình hình thực hiện

kế hoạch về thu nhập, chi phí và kết quả từng loại hoạt động cũng như kết quả chung của toàn doanh nghiệp; có thể đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lời của doanh

nghiệp, đồng thời đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác, qua đó đánh giá phần nào tình hình thanh toán của doanh nghiệp.

c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử

dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh

nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền có tác dụng quan trọng trong việc phân tích và đánh

giá khả năng thanh toán, khả năng đầu tư, khả năng tạo ra tiền cũng như việc giải quyết các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp.

d) Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hệ thống báo cáo tài chính của

doanh nghiệp được lập để bổ sung chi tiết cho các báo cáo tài chính về đặc điểm hoạt động, chế độ kế toán áp dụng, giải thích một số vấn đề về hoạt động sản xuất kinh

doanh và tình hình sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, phân tích một số chỉ

tiêu tài chính chủ yếu, đồng thời khắc phục tính tổng hợp của số liệu thể hiện trên bảng

cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

1.3.2. Thông tin bên ngoài

a) Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc

môi trường vĩ mô nên phân tích cấu trúc tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của

nền kinh tế trong nước và nền kinh tế trong khu vực. Kết hợp những thông tin này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và những dự báo nguy cơ, cơ hội đối với hoạt

động của doanh nghiệp.

b) Thông tin theo ngành

Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến ngành,

liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cũng được chú trọng. Đó là:

+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành + Tính chất của các sản phẩm + Quy trình kĩ thuật áp dụng + Mức độ cạnh tranh và qui mô của thị trường + Cơ cấu sản xuất 5

+ Nhịp độ và xu hướng của ngành

Những thông tin trên sẽ làm rõ nội dung của các chỉ tiêu tài chính trong từng

ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

c) Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp

Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh

và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, nhà phân

tích cần nghiên cứu kĩ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.

1.4. Phƣơng pháp phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

1.4.1. Phương pháp tỷ số

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số của các đại lượng tài chính

trong quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này đòi hỏi phải xác định các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu và tỷ số tài chính của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu.

Hầu hết các tỉ số tài chính đều có những cái tên mô tả cho người sử dụng nhận biết

được làm thế nào để tính toán các tỷ số ấy hoặc làm thế nào để có thể hiểu được lượng

giá trị của nó.

Các tỷ số tài chính quan được chia làm bốn loại:

Các tỷ số về khả năng thanh toán: phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh

nghiệp.

Các tỷ số về cơ cấu tài chính: phản ánh mức độ mà doanh nghiệp dùng nợ vay để

sinh lời hay phản ánh mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.

Các tỷ số về hoạt động: phản ánh tình hình sử dụng tài sản, hay phản ánh công tác

tổ chức điều hành và hoạt động của doanh nghiệp.

Các tỷ số về doanh lợi: phản ánh hiệu quả sử dụng các tài nguyên của doanh

nghiệp, hay phản ánh hiệu năng quản trị của doanh nghiệp.

1.4.2. Phương pháp so sánh

Là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích kinh tế nói chung,

phân tích cấu trúc tài chính nói riêng, để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so sánh, phải giải quyết ba vấn đề cơ bản sau: xác định tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh, kỹ thuật so sánh.

Thứ nhất, các tiêu chuẩn so sánh bao gồm số liệu tài chính trong nhiều năm, số

liệu trung bình ngành, số kế hoạch của tổ chức.

Số liệu tài chính nhiều năm trước để đánh giá và dự báo xu hướng của các chỉ tiêu

tài chính của doanh nghiệp.

6

Số liệu trung bình ngành để đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp so với

mức trung bình của ngành.

Số kế hoạch của tổ chức để đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu tài chính

trong năm của doanh nghiệp.

Thứ hai, điều kiện so sánh cần thống nhất chỉ tiêu trên các phương diện: phương pháp tính toán các chỉ tiêu và nội dung kinh tế của các yếu tố hình thành nên các chỉ

tiêu. Sự tác động của các yếu tố hình thành nên các chỉ tiêu thường do ảnh hưởng của việc lựa chọn chính sách kế toán giữa các kỳ.

Thứ 3, kỹ thuật so sánh: để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu khác nhau, trong

phân tích người ta thường dùng các ba kĩ thuật cơ bản: so sánh bằng số tuyệt đối, so

sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân.

So sánh bằng số tuyệt đối: Sử dụng hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Việc phân tích này cho thấy mức độ đạt được về số lượng, quy

mô của chỉ tiêu phân tích.

So sánh bằng số tương đối: Sử dụng thương số giữa trị số kì phân tích và trị số kì

gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Việc phân tích này biểu hiên mối quan hệ, tốc độ phát

triển… của các chỉ tiêu phân tích.

So sánh bằng số bình quân: Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện

tượng, bỏ qua sự phát triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó.

Hay nói một cách khác, số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu.

1.4.3. Phương pháp loại trừ

Phương pháp loại trừ là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng

nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của nhân tố này

thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Có 2 phương pháp thể hiện như sau:

Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp xác định mức ảnh hưởng của

từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi giả định các chỉ tiêu còn lại không thay đổi bằng cách lần lượt thay thế từng nhân tố từ kỳ gốc đến kỳ phân tích. Trên cơ sở đó

tổng hợp mức độ ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đối với đối tượng nghiên cứu.

Trình tự thay thế các nhân tố ảnh hưởng như sau:

Đầu tiên xác định các nhân tố tác động đối với các chỉ tiêu và sắp xếp chúng thành một công thức toán học theo nguyên tắc nhân tố số lượng trước rồi mới tới nhân tố chất lượng.

Tiếp theo lần lượt thay thế từng nhân tố từ kỳ gốc sang kỳ phân tích theo trình tự từ nhân tố số lượng tới nhân tố kết cấu (nếu có) và cuối cùng là các nhân tố chất lượng.

7

Trường hợp có nhiều nhân tố số lượng và chất lượng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu

thay thế trước, nhân tố thứ yếu thay thế sau. Sau mỗi lần thay thế thì tính lại chỉ tiêu

phân tích rồi so sánh với lần so sánh trước để tính mức độ ảnh hưởng.

Và cuối cùng tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích.

Phương pháp chênh lệch

Phương pháp chênh lệch là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên

hoàn, áp dụng khi các nhân tố có quan hệ tích số với các chỉ tiêu phân tích.

Trình tự và nguyên tắc của phương pháp chênh lệch cũng giống phương pháp thay

thế liên hoàn.

Với việc áp dụng phương pháp loại trừ vào công tác phân tích sẽ giúp cho các nhà

phân tích phát hiện nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến đối tượng nghiên cứu. Từ đấy thấy

được bất lợi hay lợi thế hiện tại của doanh nghiệp mà có định hướng phát triển trong tương lai.

1.4.4. Phương pháp phân tích tương quan

Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với

nhau. Chẳng hạn, mối tương quan giữa doanh thu (trên báo cáo lãi lỗ) với các khoản

nợ phải thu khách hàng, với hàng tồn kho (trên BCĐKT). Thông thường, khi doanh

thu tăng thì số dư các khoản nợ phải thu cũng gia tăng, hoặc doanh thu tăng dẫn đến

yêu cầu về dự trữ hàng tồn kho cho kinh doanh gia tăng… Phân tích tương quan sẽ đánh giá tính hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỉ số tài

chính được phù hợp hơn và phục vụ công tác dự báo tài chính ở DN.

1.4.5. Phương pháp cân đối liên hệ

Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu

phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ dưới dạng tổng, hiệu số Các báo cáo tài

chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối giữa tài sản và nguồn

vốn; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả; cân đối giữa dòng tiền vào và dòng

tiền ra; cân đối giữa tăng và giảm… Dựa vào những cân đối này, trong phân tích cấu

trúc tài chính thường vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem xét ảnh hưởng

của từng nhân tố đến biến động của chỉ tiêu phân tích. Như vậy, dựa vào biến động

của từng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy đủ hơn.

1.4.6. Phương pháp phân tích Dupont

Phương pháp Dupont giúp cho các nhà phân tích cấu trúc tài chính nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt hay xấu trong doanh nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp

8

như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành

tích số các chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân

tích các ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số hợp.

1.5. Quy trình phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

a) Thu thập thông tin

Phân tích cấu trúc tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và

thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự

đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng

và giá trị... trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài

chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích

cấu trúc tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.

b) Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích cấu trúc tài chính là quá trình xử lý thông tin đã

thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu,

ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu

phân tích đã đặt ra: Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục

tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của

các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.

c) Dự đoán và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để

người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính. Có thể

nói mục tiêu của phân tích cấu trúc tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với

chủ doanh nghiệp, phân tích cấu trúc tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên

quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi

nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.

9

d) Trình tự phân tích cấu trúc tài chính

Trình tự tiến hành phân tích cấu trúc tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tích

thích ứng với từng giai đoạn dự đoán tài chính theo bảng sau :

Giai đoạn dự đoán Nghiệp vụ phân tích

Áp dụng các công cụ phân tích

Giai đoạn 1: Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin

- Thông tin kế toán nội bộ - Thông tin khác từ bên ngoài - Xử lý thông tin kế toán - Tính toán các chỉ số - Tập hợp các bảng biểu

Giai đoạn 2: Xác định các biểu hiện đặc trưng Giải thích và đánh giá các chỉ số, bảng biểu

- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn - Điểm mạnh và điểm yếu

- Cân bằng tài chính - Năng lực hoạt động tài chính - Cơ cấu vốn và chi phí vốn - Cơ cấu đầu từ và doanh lợi

Giai đoạn 3: Phân tích thuyết minh Tổng hợp quan sát

- Nguyên nhân khó khăn - Phương tiện thành công và điều kiên

bất lợi

Giai đoạn 4: Tiên lượng và chỉ dẫn Xác định:

- Hướng phát triển - Giải pháp tài chính hoặc giải pháp khác

Tuy nhiên, trình tự phân tích và một số tiểu tiết cũng có thể thay đổi hoặc bỏ qua

một số bước tuỳ thuộc vào từng điều kiện của từng doanh nghiệp.

10

1.6. Nội dung phân tích cấu trúc tài chính

1.6.1. Phân tích cấu trúc tài sản doanh nghiệp

1.6.1. 1. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc tài sản của doanh nghiệp

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản tùy thuộc vào mục tiêu của nhà phân

tích. Nguyên tắc chung khi thiết lập chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản thể hiện qua

công thức sau:

Loại tài sản i K = x 100% Tổng tài sản

1) Phân tích tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền

Tỷ trọng tiền và các khoản Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền = x 100% tƣơng đƣơng tiền Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết giá trị của tiền và các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn sẽ đáp ứng

được chi tiêu của doanh nghiệp (mua sắm), thuận lợi trong hoạt động đầu tư, chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cao. Tuy nhiên khi khoản mục này

lớn thì khả năng xảy ra gian lận, rủi ro, mất mát cũng lớn.

Ngược lại chỉ tiêu này càng nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp hạn chế trong hoạt động

sản xuất kinh doanh của mình, khả năng thanh toán gặp khó khăn nhưng khả năng xảy ra mất mát sẽ ít hơn. Do đó, mục tiêu của chỉ tiêu này là nhằm xách định khoản mục

tiền và tương đương tiền hợp lý.

2) Phân tích tỷ trọng đầu tư tài chính

Đầu tư tài chính bao gồm đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư

bất động sản và các khoản đầu tư khác. Khi doanh nghiệp có tiền nhàn rỗi (đã đáp ứng

cho hoạt động kinh doanh mà vẫn còn thừa tiền) sẽ đem đi đầu tư để thu lời. Chỉ tiêu

tổng quát phản ánh khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp:

Giá trị đầu tƣ tài chính = x 100% Tỷ trọng giá trị đầu tƣ tài chính Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này lớn khi vốn nhàn rỗi nhiều, thể hiện

sự liên kết về mặt tài chính của doanh nghiệp đối với bên ngoài là rất chặt chẽ và

ngược lại.

11

3) Phân tích tỉ trọng các khoản phải thu

Khoản phải thu khách hàng = Tỷ trọng khoản phải thu x 100% Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong

tổng tài sản của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này thấp thể hiện doanh nghiệp quản lý tốt nợ phải thu, có chính sách thu

hồi nợ hợp lý. Ngược lại chỉ tiêu này càng cao thể hiện vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng càng nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Vì vậy, khi phân tích chỉ tiêu này cần chú ý đến ba đặc điểm chính đó là:

Thứ nhất, phương thức bán hàng của doanh nghiệp.

Thứ hai, chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp, thể hiện qua thời hạn tín

dụng và mức tín dụng cho phép đối với từng khách hàng.

Thứ ba, khả năng quản lí nợ và khả năng thanh toán của khách hàng.

4) Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho

Hàng tồn kho Tỷ trọng hàng tồn kho = x 100% Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết giá trị của hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong

tổng tài sản của doanh nghiệp.

Giá trị chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của

từng loại hình doanh nghiệp. Thông thường, tỷ trọng này cũng cao đối với những sản xuất có chu kỳ sản xuất dài.

Giá trị của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào chính sách dự trữ và tính thời vụ trong

hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp. Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét

trong mối tương quan với tăng trưởng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động

ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu của doanh nghiệp tăng liên tục trong nhiều năm

có thể dẫn đến gia tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngược lại, trong giai

đoạn kinh doanh suy thoái thì tỷ trọng hàng tồn kho có khuynh hướng giảm.

Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong mối tương quan với tăng

trưởng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu của doanh nghiệp tăng liên tục trong nhiều năm có thể dẫn đến gia tăng dự

trữ để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngược lại, trong giai đoạn kinh doanh suy

thoái thì tỷ trọng hàng tồn kho có khuynh hướng giảm.

12

5) Phân tích tỷ trọng TSCĐ

Giá trị còn lại của TSCĐ = Tỷ trọng TSCĐ x 100% Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết giá trị của TSCĐ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài

sản, phản ánh mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ qui mô của doanh nghiệp ngày càng được mở

rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, năng lực sản xuất càng được nâng cao. Giá trị chỉ tiêu này tùy thuộc vào đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh nên khi phân tích

cần chú ý: Chính sách và chu kì hoạt động của doanh nghiệp; do được tính toán theo

giá trị còn lại của TSCĐ nên phương pháp khấu hao có thể ảnh hưởng đến giá trị của

chỉ tiêu này; TSCĐ được phản ánh theo giá lịch sử và việc đánh giá lại TSCĐ thường

phải theo qui định của nhà nước, chỉ tiêu này có thể không phản ánh đúng giá trị thực

của TSCĐ; TSCĐ trong chỉ tiêu trên bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và

TSCĐ thuê tài chính, ta có thể tách biệt riêng từng loại TSCĐ nêu trên để có những đánh giá chính xác hơn.

1.6.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài sản của doanh nghiệp

Có sáu nhân tố chính ảnh hưởng tới cấu trúc tài sản của doanh nghiệp đó là: ngành

nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất của doanh nghiệp; chu kì phát triển của doanh

nghiệp; Chi phí sản xuất kinh doanh; Sản lượng tiêu thụ; Giá cả đầu vào, đầu ra của

doanh nghiệp; Quy mô sản xuất kinh doanh.

1.6.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp

1.6.2.1. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp

Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp thể hiện chính sách tài trợ của doanh

nghiệp, liên quan đến các khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Việc

huy động vốn một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn, đảm bảo sự an toàn trong tài chính, mặt khác liên quan đến hiệu quả và rộng hơn là rủi ro của doanh nghiệp. Do vậy, phân tích cấu trúc nguồn vốn cần xem đến nhiều mặt và cả mục tiêu của doanh nghiệp để có

đánh giá đầy đủ nhất về tình hình tài chính.

Chỉ tiêu đo lường khả năng tự chủ tài chính

Đối với mỗi doanh nghiệp, cấu trúc nguồn vốn thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp, liên quan tới nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài

chính. Nguồn vốn bao gồm vốn vay nợ và vốn chủ sở hữu. Vốn vay nợ là phần mà doanh nghiệp đi chiếm dụng của đơn vị, doanh nghiệp khác và có trách nhiệm phải

thanh toán cho chủ nợ số gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định.

13

Ngược lại, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán đối với người góp vốn với tư

cách là chủ sở hữu. Như vậy nguồn vay nợ là phần tài trợ của người chủ sở hữu đối

với toàn bộ tài sản.

Tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp phản ánh năng lực vốn có của người

chủ trong tài trợ cho hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp. Cụ thể, khi

phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp ta sử dụng các chỉ tiêu sau:

a. Tỷ suất nợ

Nợ phải trả = Tỷ suất nợ x 100% Tổng tài sản

Hệ số này phản ánh trong 100 đồng kinh doanh bình quân mà DN đang sử dụng có

mấy đồng được hình thành từ các khoản nợ. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác.

Hệ số nợ càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của DN vào chỉ nợ ngày càng lớn và

khả năng huy động, tiếp nhận các khoản nợ vay sẽ khó khăn hơn khi DN hoạt động

không hiệu quả, không có khả năng thanh toán kịp thời cho các khoản nợ.

b. Tỷ suất tự tài trợ

Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ = x 100% Tổng tài sản

Tỷ suất tự tài trợ = 1 – Tỷ suất nợ

Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tự chủ của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng

lớn chứng tỏ tính độc lập về tài chính càng cao, khả năng thanh toán được các khoản

nợ vay cũng cao.

Đối với các chủ nợ, họ thường dễ dàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có tỷ lệ

này cao (Điều kiện khác không đổi) vì khi đó khả năng thu hồi nợ là lớn. Nhưng đối

với các doanh nghiệp thì việc sử dụng nợ lại làm tăng hiệu quả kinh doanh nhiều hơn so với vốn chủ. Như vậy cần phải cân đối giữa hai tỷ lệ này sao cho hợp lý và thích

hợp nhất đối với cụ thể từng doanh nghiệp.

c. Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu:

Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp còn

sử dụng thêm chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu.

Tỷ suất Nợ trên VCSH Nợ phải trả = x 100% (Đòn bẩy tài chính) Nguồn vốn chủ sở hữu

14

Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đảm bảo nợ bằng vốn chủ sở hữu. Nó cho thấy một

đồng nợ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng vốn chủ. Nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là

khả năng thanh toán của doanh nghiệp thấp, các chủ nợ có thể gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ và ngược lại. Tuy nhiên, khi phân tích tính tự chủ về tài chính cần sử dụng thêm

số liệu trung bình ngành hoặc số liệu định mức của các ngân hàng để đánh giá tính tự

chủ về tài chính.

Trên đây là ba chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích tính tự chủ về tài

chính doanh nghiệp. Những số liệu này sẽ là cơ sở để cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý có thể lựa chọn một tỷ lệ hợp lý giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay nợ

nhằm đảm bảo chi phí sử dụng vốn thấp nhất.

Chỉ tiêu đo lường tính ổn định của nguồn tài trợ

Trong công tác quản trị tài chính, mỗi nghiệp vụ đều có liên quan tới thời hạn và chi phí sử dụng vốn. Sự ổn định về nguồn tài trợ là mối quan tâm khi đánh giá cấu trúc

nguồn vốn của các doanh nghiệp. Để xem xét tính ổn định của nguồn tài trợ, về mặt số

liệu ta cần xem xét đền nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn) và nguồn vốn

tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn).

Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà các doanh nghiệp được sử dụng

thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh (có thời gian sử dụng trên 1 năm) bao

gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vay trung và dài hạn của doanh nghiệp.

Nguồn vốn thƣờng xuyên = Vốn CSH + Nợ dài hạn

Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà DN sử dụng tổng thời gian dưới 1 năm, bao

gồm các khoản phải trả tạm thời, nợ người bán, các khoản vay ngắn hạn ngân hàng,...

Đây là nguồn vốn có thời hạn tín dụng ngắn, nên doanh nghiệp luôn phải đối mặt với

áp lực thanh toán khi sử dụng nguồn vốn này.

Nguồn vốn tạm thời = Nợ ngắn hạn

Để tiến hành phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ nhà phân tích thường sử

dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:

a. Tỷ suất nguồn vốn thƣờng xuyên

NVTX Tỷ suất NVTX = x 100% Tổng nguồn vốn

15

Tỷ suất này càng cao chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp ổn định trong thời

gian dài và doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán nguồn tài trợ này trong

ngắn hạn. Doanh nghiệp có thể dùng nguồn vốn này để đầu tư vào các tài sản dài hạn, các dự án kinh doanh cần nhiều thời gian mới thu hồi được vốn.

b. Tỷ suất nguồn vốn tạm thời

NVTT Tỷ suất NVTT = x 100% Tổng nguồn vốn

Ngược lại với tỷ suất trên, tỷ suất NVTT càng cao thể hiện doanh nghiệp mất ổn

định về nguồn tài trợ. Doanh nghiệp sử dụng quá nhiều nợ ngắn hạn cho hoạt động sản

xuất kinh doanh nên luôn phải đối mặt với áp lực thanh toán khiến rủi ro hoạt động cao.

Nguồn vốn tạm thời gồm: các khoản phải trả tạm thời, các khoản nợ vay ngắn hạn

ngân hàng.

Để đánh giá chính xác về tính ổn định nguồn tài trợ ta còn sử dụng thêm chỉ tiêu:

tỷ suất giữa nguồn vốn chủ sở hữu với nguồn vốn thường xuyên.

c. Tỷ suất giữa nguồn vốn CSH với nguồn vốn thƣờng xuyên

NVCSH Tỷ suất NVCSH/NVTX = x 100% NVTX

Tỷ suất này thể hiện trong 100 đồng nguồn vốn thường xuyên thì được tài trợ bởi

bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ năng lực tự chủ về tài

chính của doanh nghiệp càng tốt.

1.6.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp

Thứ nhất, rủi ro doanh nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp: rủi ro phát sinh đối với tài sản của công ty ngay cả khi công ty không sử dụng nợ. Công ty nào có rủi

ro doanh nghiệp càng lớn thì càng hạ thấp tỉ lệ nợ tối ưu. Do lãi vay là yếu tố chi phí

trước thuế nên sử dụng nợ giúp công ty tiết kiệm thuế. Tuy nhiên điều này sẽ không còn ý nghĩa nữa đối với những công ty nào được ưu đãi hay vì lý do gì đó mà thuế thu

nhập ở mức thấp.

Thứ hai, sự chủ động về tài chính: sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài chính đồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối tài sản khiến cho những nhà cung cấp vốn ngần ngại cho vay hay đầu tư vốn vào công ty.

16

Thứ ba, các tiêu chuẩn ngành: cấu trúc vốn giữa các ngành công nghiệp khác

nhau rất nhiều. Các nhà phân tích tài chính, các Ngân Hàng đầu tư, các cơ quan xếp

hạng trái phiếu, các nhà đầu tư cổ phần thường và các Ngân Hàng thương mại thường so sánh rủi ro tài chính của doanh nghiệp, đo lường bởi các tỷ số khả năng thanh toán

lãi vay, khả năng thanh toán chi phí tài chính cố định và tỷ lệ đòn bẩy với các tiêu

chuẩn hay định mức của ngành hoạt động. Tóm lại các nghiên cứu về tác động của

ngành hoạt động đối với cấu trúc vốn thường đi tới kết luận là có một cấu trúc vốn tối

ưu cho các doanh nghiệp cá thể.

Thứ tư, tác động của tín hiệu: khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự

kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn

cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các Giám đốc của

doanh nghiệp hoạch định. Những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng tin cậy vì nếu các dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp phải chịu số

tiền phạt tức chi phí phá sản có thể có. Nói chung, các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc

vốn đều cho rằng các cung ứng chứng khoán mới đưa tới các đáp ứng giá chứng khoán giảm.

Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn từ cổ

phần thường của doanh nghiệp. Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn

với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính gắn với thu

nhập cổ phần âm. Vì vậy khi một doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi về cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về các viễn cảnh thu nhập

tương lai và hiện tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giám đốc mà giao

dịch đề xuất sẽ chuyển đến thị trường.

Thứ năm, tác động của ưu tiên quản trị: lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng có

thể không có một cấu trúc vốn mục tiêu riêng và hàm ý rằng các doanh nghiệp thích tài

trợ nội bộ hơn. Các giám đốc điều chỉnh tỉ lệ chi trả cổ tức để tránh việc bán cổ phần

thường ra bên ngoài trong khi tránh các thay đổi lớn trong số lượng cổ phần. Nếu cần

phải có tài trợ từ bên ngoài, các chứng khoán an toàn nhất nên được phát hành trước.

Cụ thể nợ thường là chứng khoán đầu tiên được phát hành và vốn cổ phần bán ra bên ngoài là giải pháp cuối cùng. Ưu tiên cho tài trợ nội bộ dựa trên ước muốn tránh các

biện pháp kỷ luật và giám sát sẽ xảy ra khi bán chứng khoán mới ra công chúng.

Thứ sáu, các hàm ý về quản trị của lý thuyết cấu trúc vốn: quyết định cấu trúc vốn là một trong những quyết định trọng tâm quan trọng mà các giám đốc tài chính phải quan tâm. Trước hết, hầu như chắc chắn rằng các thay đổi trong cấu trúc vốn sẽ đưa đến các thay đổi trong giá trị thị trường của doanh nghiệp. Thứ hai, lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ đưa đến giá trị doanh nghiệp gia tăng, ít nhất là đến điểm mà chi phí đại lý và chi phí phá sản gia tăng làm bù trừ lợi thế về thuế của nợ. Thứ ba, cấu trúc vốn tối ưu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ tư,

17

khi các giám đốc thực hiện các thay đổi thể hiện trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp,

các hành động này sẽ chuyển các thông tin quan trọng đến các nhà đầu tư.

Thứ bảy, các vấn đề đạo đức: tác động của mua lại bằng vốn vay (LBO) đối với cổ đông, mua lại bằng vốn vay đặt ra các vấn đề đạo đức quan trọng. Các quyền lợi có

tính cạnh tranh của cổ đông sẽ được giải quyết như thế nào trong các mua lại bằng vốn

vay và trong các giao dịch tài chính quan trọng khác? Tuy nhiên, các câu hỏi này ít khi

có được câu trả lời đơn giản. Một vài vấn đề cần xem xét khi thảo luận về tính đạo đức

của các mua lại bằng vốn vay:

Có phải việc duy trì số lượng nhân viên và các cơ sở hoạt động không hiệu quả

làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác vì lợi ích

lâu dài của nhân viên hay không?

Trong các giao dịch mua lại bằng vốn vay, các trái chủ có thực sự bị thiệt hại khi tính đến các điều khoản bảo vệ trong hợp đồng ký kết lúc họ mua trái phiếu với mối

liên hệ giữa lợi tức trái phiếu và thỏa hiệp bảo vệ không?

Thứ tám, các đòi hỏi của nhà cho vay và các cơ quan xếp hạng trái phiếu: các

đòi hỏi này thường định ra các giới hạn cho việc chọn lựa cấu trúc vốn của doanh

nghiệp như là một điều kiện để cung cấp tín dụng hay duy trì xếp hạng của trái phiếu

hoặc cổ phần ưu đãi.

18

1.6.3. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn

Để phân tích được mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn ta dùng các

chỉ tiêu sau:

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: dùng để đo lường khả năng trả các khoản

nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả (bằng các tài sản ngắn hạn

của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho).

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được tính theo công thức sau:

Tài sản lƣu động và đầu tƣ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn= Nợ ngắn hạn

Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ

số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ

của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình

hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất

nhiều cách để huy động thêm vốn.

Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả

không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không. Nếu công ty gặp

phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo

dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản.

Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản

lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn

chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng

tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng

của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm

của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn.

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư của doanh nghiệp bằng vốn CSH và nợ phải trả để tài trợ cho tài sản. Chỉ tiêu này càng lớn bao nhiêu thì mức độ sử dụng nợ phải trả để tài trợ cho tài sản càng cao bấy nhiêu và

ngược lại. Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng để bù lỗ và vừa để trang trải cho tài sản hoạt động.

Tài sản Hệ số tài trợ cho tài sản so với vốn CSH =

Vốn chủ sở hữu

19

Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn sẽ cho nhà phân tích thấy được những nét đặc

trưng trong chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như xác định

tính hợp lý và an toàn trong việc huy động vốn của doanh nghiệp.

Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản: được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ

doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức tính tỷ số tổng nợ trên

tổng tài sản như sau:

Tổng nợ Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản = Tổng tài sản

Trong đó tổng nợ và tổng tài sản được lấy từ quý hoặc năm gần nhất, tùy theo bạn

định tính tỷ số này cho quý hay năm.

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay.

Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ,

chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ

tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy

tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số

này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để

có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.

Thông thường các chủ nợ muốn tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản.

Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn lợi

nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số này cao thể

hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được

sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản quá

cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Để có nhận xét đúng đắn về tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cần phải kết hợp với

các tỷ số khác, nhưng nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, chúng ta có thể kết luận trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động tiền vay để tiến hành kinh doanh, sản xuất.

20

1.6.4. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

Ta sử dụng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là tỷ suất sinh lời

trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE) để phân tích mối quan hệ này:

Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này thể hiện một trăm đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế (EAT). Hiệu quả của toàn bộ các nguồn lực tài chính suy cho cùng thể hiện qua chỉ tiêu khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu.

Trong điều kiện doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn, nhất là trong thị

trường tài chính, chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có cơ hội tìm được nguồn vốn mới. Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp dưới mức sinh lời cần thiết của thị

trường thì khả năng thu hút vốn đầu tư vào doanh nghiệp càng khó.

Có thể nhận thấy rằng, chỉ tiêu ROE chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố.

Nó phụ thuộc trực tiếp vào các quyết định của các nhà quản lý thong qua nhiều chính

sách như: chính sách tiêu thụ, chính sách sản xuất và chính sách tài chính. Chúng ta sẽ

xem xét các nhân tố sau:

a) Hiệu quả kinh doanh: Dĩ nhiên ảnh hưởng trước tiên đến hiệu quả tài chính phải là hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp. Ảnh hưởng này có thể nhận diện qua các chi tiết chỉ tiêu ROE qua

công thức sau :

Tổng tài sản Lợi nhuận ròng Doanh thu ROE = x x Vốn chủ sở hữu Doanh thu Tổng tài sản

Trong công thức trên, ROE có mối liên hệ với chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh

thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Rõ ràng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cao sẽ dẫn đến khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu lớn và ngược lại. Hiệu quả kinh doanh là

nguồn gốc chủ yếu tạo nên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên không phải lúc nào hiệu quả kinh doanh tăng sẽ dẫn đến hiệu quả tài chính tăng, điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác.

b) Khả năng tự chủ về tài chính Khả năng tự chủ tài chính được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ. Xét công

thức: EAT Tài sản x x 100% ROE = Tài sản

Vốn chủ sở hữu 21

Vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ = x 100% Tổng tài sản

Nên có thể thấy rằng, ứng với hiệu quả kinh doanh cho trước nếu tỷ suất tự tài trợ

càng lớn thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ càng nhỏ.

c) Độ lớn đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính:

Có hai quan điểm về đòn bẩy tài chính( Debt Financial Leverage- DFL) được sử

dụng trong phân tích tài chính. Theo quan điểm thứ nhất, DFL được định nghĩa là việc doanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ cho phần lớn tài sản. Ở đây chúng ta chấp nhận

một khái niệm cấu trúc nguồn vốn theo nghĩa rộng trong đó các khoản nợ phải trả cho

các đối tác như nhà cung cấp, khoản ứng trước của người mua... cũng được tính trong

khoản này.

Mức độ sử dụng DFL của doanh nghiệp thể hiện ở hệ số nợ. Doanh nghiệp có hệ

số nợ càng cao thể hiện doanh nghiệp có mức sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn.

Doanh nghiệp có DFL càng cao thì mức độ rủi ro trong hoạt động tài chính sẽ càng

cao nhưng cơ hội gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng sẽ càng lớn.

Gọi: D là vốn vay

E là vốn chủ sở hữu

A là tổng tài sản

EBIT: thu nhập trước thuế và lãi vay

RE là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản, với:

EBIT RE = A

rd là lãi suất vay, t là thuế thu nhập doanh nghiệp

Từ công thức:

Lợi nhuận sau thuế = ROE x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân

22

Suy ra:

EBIT – (D x rd) ROE = x (1 - t) E

EBIT (D x rd) = ROE x (1 - t) E E

EBIT A (D x rd) = ROE x x (1 - t) A E E

D + E ROE x rd x (1 - t) D = RE x E E

D D x rd x (1 - t) ROE = RE x 1+ E E

D D x rd x (1 - t) ROE = RE + RE E x E

Từ đây ta có công thức:

D x (RE – rd ) x (1 - t) ROE = RE + E

Vây khi RE > rd : doanh nghiệp tăng vạy nợ thì ROE càng được khuyếch đại, đồng

thời gia tăng rủi ro tài chính.

Khi RE < rd : doanh nghiệp tăng vay nợ thì ROE giảm, đồng thời gia tăng rủi ro tài chính.

Khi RE = rd: doanh nghiệp tăng vay nợ nhưng ROE không đổi, đồng thời gia tăng

rủi ro tài chính. Đây chính là giới hạn của hệ số nợ trong tổng vốn của doanh nghiệp

và điều này cần được đặc biệt lưu ý trước khi ra quyết định huy động vốn.

Quan điểm thứ hai định nghĩa DFL như là mức độ theo đó các chứng khoán có thu

nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công

ty. Công ty sử dụng DFL với hy vọng sẽ gia tăng được lợi nhuận của cổ đông thường. Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định bằng cách phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí phải trả cho việc huy động vốn có lợi tức cố định. Phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ đông thường.

DFL là một chỉ tiêu định lượng dùng để đo lường mức độ biến động của EPS( Earnings Per Share) khi EBIT thay đổi. DFL ở một mức độ EBIT nào đó được xác định như là % thay đổi của EPS khi EBIT thay đổi 1%.

23

Ta có :

% EPS DLF = % EBIT

EPS/ EPS DLF = EBIT / EBIT

EBIT x (1 - t) DLF = (EBIT – I) x (1 - t) - PD

EBIT DLF = (EBIT – I) - [ PD / (1 - t) ]

Trong đó: PD là lợi tức trả cho cổ đông ưu đãi, nếu doanh nghiệp không có cổ

phần ưu đãi thì:

EBIT DLF = EBIT – I

Khi đánh giá mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, trong khuôn khổ bài khoá

luận tốt nghiệp này ta thống nhất sử dụng quan điểm thứ nhất.

Khả năng gia tăng lợi nhuận là điều mong muốn của mọi chủ sở hữu, trong đó đòn

bẩy tài chính là công cụ thường được nhà quản lý sử dụng. Đòn bẩy tài chính có tác

dụng khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hay gia tăng thu nhập trên vốn

cổ phần, đồng thời cũng gia tăng rủi ro tiềm ẩn cho chủ sở hữu. Sự thành công hay thất

bại này tuỳ thuộc vào chiến lược của chủ sở hữu doanh nghiệp khi lựa chọn cơ cấu tài chính.

Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là sự đánh giá chính sách vay nợ được sử dụng trong việc điều hành doanh nghiệp. Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay đổi, do đó đòn

bẩy tài chính sẽ rất lớn khi doanh nghiệp có hệ số nợ cao và ngược lại. Những doanh nghiệp có hệ số nợ bằng 0 sẽ không có đòn bẩy tài chính. Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm vào hệ số nợ, khi đòn bẩy tài chính cao thì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ sẽ về EBIT sẽ làm thay đổi một tỷ lệ cao hơn về ROE, nghĩa là ROE rất nhạy cảm với EBIT.

Tóm lại, mức độ ảnh hưởng của độ lớn đòn bẩy tài chính phản ánh: Nếu EBIT

thay đổi 1% thì ROE sẽ thay đổi bao nhiêu %.

24

Ta có:

Tỷ lệ thay đổi ROE DLF = Tỷ lệ thay đổi EBIT

Suy ra:

Q x (p - v) - F DLF = Q x (p - v) - F - I

Với p: giá bán

v: chi phí biến đổi đơn vị

F: chi phí cố định

I: lãi vay

Q: doanh số

Hoặc: EBIT DLF = EBIT – I

Xem xét DFL ta rút ra 2 nhận xét:

Thứ nhất ở mỗi mức EBIT khác nhau thì mức ảnh hưởng của DFL cũng khác nhau

Thứ hai mức độ ảnh hưởng của DLF cũng là một trong những thước đo rủi ro tài

chính của doanh nghiêp.

Ngoài ra để đo lường sự thay tác động của DLF đến ROE ta sử dụng:

Tỷ lệ thay đổi ROE = DLF x Tỷ lệ thay đổi EBIT

Như vậy, DLF thể hiện cách thức sử dụng nguồn tài trợ của doanh nghiệp.

d) Khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay là hệ số được xem xét trong mối quan hệ giữa lợi

nhuận trước thuế và lãi vay với lãi vay:

EBIT Khả năng thanh toán lãi vay = I

Khả năng thanh toán lãi vay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, lợi nhuận tạo ra được sử dụng để trả nợ vay và tạo ra phần tích luỹ cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này nhỏ hơn hoặc bằng 1 chứng tỏ vốn sử dụng không có hiệu quả, và doanh

nghiệp phải sử dụng vốn chủ sở hữu để trả lãi vay.

25

Đối với những doanh nghiệp hoạt động dựa vào vốn vay, việc thanh toán lãi vay

cũng là một trong những căn cứ đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tuy

nhiên, khả năng này có nguồn gốc từ hiệu quả sử dụng vốn vay vào hoạt động kinh doanh. Nguồn gốc để thanh toán lãi chính là lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy, khả

năng thanh toán lãi vay có thể dùng để đánh giá khả năng sinh lời của hoạt động kinh

doanh và đây cũng là một nhân tố khá quan trọng để xem xét hiệu quả tài chính của

doanh nghiệp. Một số phân tích đã cho kết quả: khi khả năng thanh toán lãi vay lớn

hơn 1 thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ tăng lên và ngược lại.

Để phân tích hiệu quả tài chính, nhà phân tích thường so sánh cá chỉ tiêu hiệu quả

tài chính kỳ này so với kỳ trước, thực tế so kế hoạch hoăc so sánh giữa các doanh

nghiệp có cùng điều kiện, so với trung bình ngành để đánh giá mức độ tăng giảm, mức

độ hoàn thành kế hoạch, xu hướng phát triển hiệu quả, và biết được vị trí của doanh

nghiệp so với trung bình ngành.

Ngoài ra có thể thiếp lập các công thức thể hiện mối liên quan với các nhân tố ảnh

hưởng, qua đó vận dụng phương pháp thế để làm rõ mức độ tác động của từng nhân tố

này đối với khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Và trên cơ sở đó, nhà phân tích sẽ

tìm hiều các nguyên nhân, dự đoán các biện pháp để cải thiện thành công hiệu quả tài

chính doanh nghiệp.

26

CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH HOÀNG ĐỨC

2.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH Hoàng Đức

2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Hoàng Đức

: Công ty TNHH Hoàng Đức

: Số 300, Phố Minh Khai, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

: (04) 35117235

: hoahoangduc@gmail.com

- Tên công ty - Trụ sở chính - Điện thoại - Email - Mã số thuế : 0100946898 - Ngày thành lập : 03/11/1999 - Đại diện pháp luật : Ông Nguyễn Mạnh Hòa là giám đốc công ty và đại diện

công ty khi tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế.

- Loại hình doanh nghiệp : Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

ngoài Nhà nước.

- Vốn điều lệ : Tại thời điểm 31/12/2012 là 2.000.000.000 đồng.

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

Công ty TNHH Hoàng Đức được thành lập và hoạt động theo quyết định số 4657

ngày 05 tháng 10 năm 1999 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội. Số giấy phép

kinh doanh của công ty là 100946898 được cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

Ngày 09 tháng 11 năm 1999 công ty chính thức đi vào hoạt động.

Công ty có trụ sở chính tại số 300, phố Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Cuối năm 1999, công ty mới thành lập nhưng đã có chỗ đứng trên thị trường thuộc

quận Hai Bà Trưng và quận Hoàn Kiếm do sự nắm bắt thị trường một cách nhanh nhạy và chính xác của lãnh đạo công ty.

Năm 2003, 2004 công ty đã mở rộng thị trường của mình trên toàn thành phố Hà

Nội và uy tín cũng như tên tuổi của công ty ngày càng được nhiều người biết đến.

Công ty có đội ngũ cán bộ, nhân viên lành nghề, có kinh nghiệm trong tổ chức và quản lý. Đây là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao giá trị sản xuất kinh doanh cho công

ty. Trải qua một thời gian hoạt động và phát triển, công ty đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng cả về quy mô tổ chức, cơ cấu ngành nghề sản phẩm. Công ty TNHH Hoàng Đức là một đơn vị kinh doanh đa ngành nghề đặc biệt chú trọng vào công tác in ấn và phát hành báo chí.

Từ đó cho đến nay, với hơn 13 năm phấn đấu và trưởng thành, mặc dù thời gian chưa dài nhưng công ty đã có những đóng góp đáng kể tạo công ăn việc làm ổn định

27

cho nhiều người, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ nhu cầu về thông tin, giải trí...

của mọi tầng lớp nhân nhân.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoàng Đức

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoàng Đức

Giám đốc

Phó giám đốc

Phòng sản Phòng Phòng tổ Phòng kế xuất và nghiệp vụ chức hành hoạch tài xuất bán kinh chính vụ phẩm doanh

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận

Giám đốc: Trực tiếp quản trị công ty và phụ trách công tác cán bộ; chịu trách

nhiệm về hoạt động hàng ngày của công ty, điều hành chung mọi hoạt động của các

phòng ban trong công ty; đại diện pháp nhân duy nhất của công ty trong việc khởi kiện các vụ án có liên quan đến quyền lợi của công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của công ty; kết hợp với các phòng ban chức năng và nghiệp vụ của công ty

tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể hoạt động theo đúng quy chế.

Phó giám đốc: Là người trợ giúp cho giám đốc, thay mặt giám đốc điều hành các hoạt động của công ty khi giám đốc vắng mặt hoặc khi được uỷ quyền của giám đốc; hoạch định các chiến lược điều hành và phát triển của công ty; chỉ đạo và phân công nhiệm vụ nhân sự cấp dưới hợp lý và hiệu quả; phụ trách theo dõi, đôn đốc cán bộ, nhân viên hoàn thành các nhiệm vụ được giao; thực hiện các kế hoạch doanh thu, báo cáo định kỳ cho giám đốc.

28

Phòng tổ chức hành chính: Nghiên cứu, xây dựng quy trình quản lý nội bộ; quản

lý hồ sơ thông tin của nhân viên, thực hiện các chính sách về Bảo hiểm xã hội, Bảo

hiểm y tế, lao động tiền lương, kỉ luật...; hướng dẫn và tổng hợp tình hình hoạt động của công ty, làm các báo cáo và công văn phục vụ cho hoạt động có liên quan đến

chức năng, nhiệm vụ của phòng; theo dõi, kiểm tra công tác bảo vệ nội bộ, quản lý con

dấu của công ty, thực hiện các hoạt động dịch vụ; thực hiện tuyển dụng nhân viên,

chấm dứt hợp đồng lao động, bố trí nhân viên vào các vị trí công việc theo đúng năng

lực và trình độ sao cho việc sử dụng lao động đạt hiệu quả cao nhất.

Phòng kế toán tài vụ: Hướng dẫn tổ chức và kiểm tra giám sát thực hiện công tác

kế toán, tài chính và thống kê trong công ty theo đúng quy định và pháp luật của Nhà

nước. Tham mưu trong công tác tài chính nhằm sử dụng vốn hợp lý, đảm bảo hoạt

động kinh doanh của công ty diễn ra thông suốt và đạt hiệu quả cao; tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của công ty phản ánh thường xuyên hoặc định kì cho giám

đốc có biện pháp, phương hướng chỉ đạo kịp thời. Tham gia xét duyệt hoàn thành kế

hoạch, quyết toán tài chính, phân tích hoạt động kinh tế của công ty.

Phòng nghiệp vụ kinh doanh: Nắm rõ phương hướng, kế hoạch kinh doanh của

công ty đã đề ra, tìm hiểu nắm bắt nhu cầu của thị trường và xã hội. Đề xuất với giám

đốc kí các hợp đồng mua bán với số lượng, giá cả thích hợp và hình thức thanh toán

phù hợp giữa các bên đối tác; chịu trách nhiệm về quản lý, tổ chức vận hành kho thành phẩm, lập và lưu trữ phiếu nhập, phiếu xuất, kiểm kể hàng tồn kho cuối tháng theo quy

trình luân chuyển chứng từ của công ty; dự thảo và theo dõi quá trình thực hiện các

hợp đồng kinh tế, phát hiện và báo cáo kịp thời với giám đốc những vướng mắc cần

giải quyết; thực hiện công tác tuyên truyền quảng cáo, giới thiệu hoạt động, mặt hàng

của công ty trên các phương tiện đại chúng.

Phòng sản xuất và xuất bán phẩm: sản xuất bán phẩm cho công ty; quản lý, kiểm

tra, theo dõi việc xuất nhập, xuất nguyên vật liệu và bán phẩm nhanh chóng, chính xác,

kịp thời; bảo quản, giữ gìn tốt và phân loại xuất bán phẩm một cách khoa học để đảm

bảo chất lượng, dễ lấy, dễ kiểm tra; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy về xuất nhập hàng, đảm bảo an toàn trong việc bốc dỡ, vận chuyển. Làm tốt công tác phòng cháy nổ

và vệ sinh công nghiệp, có kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị phục vụ kinh doanh.

Nhận xét chung: Cơ cấu tổ chức bộ máy có vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Mô hình của công ty TNHH Hoàng Đức là mô hình phù hợp với hoạt động kinh doanh, với cơ cấu này giám đốc và các phòng ban có thể trực tiếp trao đổi với nhau, tạo ra sự nhịp nhàng trong công việc, sự trao đổi thông tin được nhanh chóng. Các phòng chuyên môn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo chức năng, nhiệm vụ được giao để phục vụ cho mục tiêu hiệu quả kinh doanh của công ty.

29

2.1.5. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Hoàng Đức

Công ty TNHH Hoàng Đức đăng ký kinh doanh những lĩnh vực như sau:

- Quảng cáo ( trừ quảng cáo thuốc lá) - Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại - Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế - Chuyển phát - Kinh doanh vận tải - Đặc biệt in ấn và phát hành báo chí là ngành kinh doanh chính của công ty TNHH Hoàng Đức. Đây cũng là lĩnh vực kinh doanh hiện giờ mang lại doanh thu chủ yếu cho công ty.

Công ty TNHH Hoàng Đức chủ yếu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực in ấn và

phát hành báo chí trong địa bàn Hà Nội và đang có xu hướng mở rộng mạng lưới ra

khắp khu vực miền Bắc.

2.1.6. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Hoàng Đức từ 2010-2012

Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1. Các chỉ tiêu của công ty qua các năm

Đơn vị tính: Đồng

Năm Doanh thu Tổng chi phí Lợi nhuận sau thuế

2010 6.464.565.768 6.391.779.006 63.125.329

2011 7.234.046.395 7.152.541.089 66.086.120

2012 8.572.740.623 8.499.074.873 18.817.162

(Nguồn: phòng kế toán tài vụ)

Qua quá trình phân tích kết quả kinh doanh của công ty giúp cho doanh nghiệp có

được những thông tin chính xác và kịp thời giúp công ty có những định hướng cho những bước đi tiếp theo của doanh nghiệp trong chặng đường phát triển của công ty. Những thông tin của quá trình này mang lại có nghĩa rất quan trọng đối với các nhà

quản trị vì họ là những người quản lý vĩ mô của công ty, từ những số liệu được phân tích các nhà quản trị sẽ nhận thấy được những vấn đề khó khăn cũng như thuận lợi cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm ra được những khâu xung yếu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Qua bảng số liệu về tình hình kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm qua của

công ty TNHH Hoàng Đức ta thấy:

30

Tình hình tài chính của công ty qua mỗi năm ổn định và đều có lợi nhuận nhất

định. Mặc dù, trong nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn song bằng nỗ lực của toàn bộ

ban lãnh đạo công ty và nhân viên công ty và sự đổi mới về máy móc thiết bị cũng như có nhiều chế độ ưu đãi cho công nhân viên thúc đẩy sự hăng say làm việc của họ làm

cho doanh thu của công ty mỗi năm đều tăng lên cụ thể năm 2011 tăng 769.480.627

đồng so với năm 2010, năm 2012 tăng 1.338.694.228 đồng so với năm 2011.

Lợi nhuận trước thuế của công ty tăng đều hàng năm, năm 2010 là 81.124.370

đồng tới năm 2011 tăng lên 88.114.826 đồng. Nhưng trong năm 2012 phát sinh một khoản chi phí khác là 42.000.000 đồng. Khoản chi phí này phát sinh do doanh nghiệp

thực hiện thanh lý một số TSDH với giá trị thanh lý nhỏ hơn giá trị còn lại của tài sản.

Bên cạnh đó là việc giá vốn hàng bán năm 2012 là 7.098.717.064 đồng, lớn hơn so với

năm 2011 là 1.347.014.488 đồng, tỷ lệ gia tăng tương ứng 23,42%. Nguyên nhân của vấn đề này là do năm 2012, giá cả các vật tư hàng hóa phục vụ cho quá trình sản xuất

kinh doanh của công ty có nhiều biến động tăng đã có những ảnh hưởng nhất định đến

giá vốn hàng bán (ví dụ: mực, giấy, máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh,...). Đã

khiến cho lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2012 giảm 59% xuống còn 35.993.496

đồng so với năm 2011.

Việc kinh doanh của công ty còn gặp nhiều khó khăn, công ty gặp một số vấn đề

như chưa quản lý tốt GVHB, nhiều khoản lợi nhuận bị giảm mạnh. Công ty cần có các chính sách quản lý giá vốn hàng bán sao cho hợp lý và hạn chế các khoản chi phí phát

sinh ở mức thấp nhất để ngày càng đạt được thành công và từng bước phát triển vững

chắc. Tuy nhiên nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh có thể thấy rằng công ty làm

ăn vẫn có lãi. Khi mà tình hình kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói

riêng luôn có những biến động, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới

như hiện nay thì việc vẫn kinh doanh có lãi như vậy đã thể hiện được năng lực, sự nỗ

lực và những chiến lược kinh doanh đúng đắn của công ty.

2.2. Phân tích cấu trúc tài chính công ty TNHH Hoàng Đức

2.2.1. Phân tích cấu trúc tài sản

Phân tích cấu trúc tài sản tức là phân tích và đánh giá sự biến động các bộ phận cấu thành tổng số vốn của doanh nghiệp. Qua đó ta sẽ thấy được trình độ sử dụng vốn cũng như tính hợp lý của việc phân bổ các loại vốn… Từ đó đề ra các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Từ bảng CĐKT của công ty qua 3 năm 2010, 2011 và 2012 ta có thể lập được

bảng phân tích sau:

31

Bảng 2.2. Bảng phân tích cơ cấu tài sản của công ty

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ tiêu 2010 2011 2012

1. Giá trị tiền 476.464.764 156.259.895 648.017.440

2. Giá trị nợ phải thu khách hàng 1.000.050.400 1.263.510.724 1.547.181.824

3. Giá trị HTK 0 0 0

4. Giá trị TSLĐ khác 0 0 0

5. Giá trị các khoản ĐTTC 37.300.000 37.300.000 37.300.000

6. Giá trị TSCĐ 1.452.572.546 1.327.572.546 2.002.766.182

2.966.387.710 2.784.643.165 4.235.265.446 7. Tổng tài sản

8. Tỷ trọng tiền 16% 5,6% 15,3%

9. Tỷ trọng NPT 34% 45,4% 36,5%

10. Tỷ trọng HTK 0% 0% 0%

11. Tỷ trọng TSLĐ khác 0% 0% 0%

12. Tỷ trọng giá trị ĐTTC 1% 1.3% 0.8%

13. Tỷ trọng TSCĐ 49% 47,7% 47,4%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán từ năm 2010-2012 phòng kế toán tài vụ)

Từ bảng phân tích cơ cấu tài sản 2.1 cho thấy toàn bộ tài sản của công ty chủ yếu

sử dụng cho quá trình luân chuyển vốn ở đơn vị, phần đầu tư bên ngoài là rất ít. Nhìn

vào các tỷ số về cấu trúc tài sản của công ty ta thấy được tổng giá trị tài sản của công

ty qua các năm có sự thay đổi không đồng đều từ năm 2010 tới năm 2012. Cụ thể giá

trị tổng tài sản của công ty năm 2010 đạt 2.966.387.710 đồng, giảm xuống

2.784.643.165 đồng ở năm 2011 và tăng đến 4.235.265.446 đồng vào năm 2012. Để hiểu rõ hơn tình hình biến động ta đi sâu vào phân tích cụ thể từng khoản mục sau:

Thứ nhất, đối với khoản mục tiền và tƣơng đƣơng tiền, khoản mục tiền của của

công ty có sự tăng giảm qua các năm cụ thể:

Từ năm 2010 tới năm 2011: năm 2010 là 476.464.764 đồng chiếm tỷ trọng 16% trong tổng tài sản tới năm 2011 chỉ còn 156.259.895 đồng chiếm 5,6% trong tổng tài sản. Nguyên nhân khiến khoản mục này giảm xuống do công ty chủ động dùng nguồn

tiền và các khoản tương đương đó đầu tư vào các tài sản sinh lời nhằm nâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn kinh doanh.

32

Việc đầu tư là rất cần thiết phù hợp với xu thế phát triển hiện tại. Tuy nhiên, khi

mức dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền quá thấp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt

động kinh doanh của công ty, giảm khả năng thanh toán tức thời, khả năng rủi ro tài chính cao.

Từ năm 2011 tới năm 2012 tăng mạnh lên 648.017.440 đồng chiếm 15,3% tổng

tài sản. Với sự thay đổi của cơ cấu, chính sách, biện pháp kinh doanh mà ban lãnh đạo

đề ra đã mang lại thành quả đáng kể. Công ty đã đạt mức doanh thu kinh doanh tương

đối lớn trong năm 2012 là 8.572.740.623 đồng, khách hàng đã dùng một lượng tiền mặt tương đối lớn để thanh toán cũng như là ứng trước. Doanh nghiệp quan tâm hơn

đến khả năng thanh toán nhanh của mình. Lượng tiền mặt tăng sẽ giúp công ty tăng

khả năng thanh toán các khoản nợ cao và tránh rơi vào tình trạng mất khả năng thanh

toán, tạo được niềm tin với nhà cung cấp và khách hàng.

Giữ lại một khoản tiền mặt giúp công ty có thể đáp ứng ngay được nhu cầu thanh

toán với nhà cung ứng, như vậy sẽ dễ dàng đặt được hàng hơn cũng như có thể tận

dụng các cơ hội kinh doanh (ví dụ: như hưởng chiết khấu thanh toán, đảm bảo vốn để

mua sắm nguyên vật liệu…). Nhưng với sự gia tăng tiền lớn như thế này sẽ làm gia

tăng chi phí quản lý, mất cơ hội sinh lời. Công ty nên đem tiền đi đầu tư vào các tài

sản sinh lời, và phải đưa ra chiến lược hợp lí để đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận.

Thứ hai, đối với khoản mục nợ phải thu, tỷ trọng khoản mục nợ phải thu cũng có những sự thay đổi đáng kể từ năm 2010 tới 2012. Chiếm tỷ trọng thứ hai sau

TSCĐ trên tổng tài sản. Mặc dù nhìn vào bảng số liệu ta thấy tỷ trọng của nó tăng

giảm thất thường. Cụ thể 34% vào năm 2010 tăng lên 45,4% năm 2011 và giảm xuống

36,5% năm 2012. Nhưng về mặt giá trị thì khoản mục nợ phải thu tăng đều qua các

năm, năm 2010 là 1.000.050.400 đồng tăng lên 1.263.510.724 đồng năm 2011 và tới

năm 2012 là 1.547.181.824 đồng. Điều này thể hiện số vốn của công ty bị các tổ chức

và cá nhân khác chiếm dụng ngày càng nhiều, thể hiện khả năng quản lý nợ của công

ty cần ổn định hơn. Có thể nói, các khoản phải thu ngắn hạn cũng chính là các khoản

phải thu khách hàng của doanh nghiệp. Công ty cung cấp dịch vụ dưới hình thức thu tiền ngay nên khả năng thu hồi vốn nhanh hơn và giảm khoản nợ xấu nhưng trong

tương lai công ty nên thực hiện chính sách thắt chặt với các khoản phải thu để phải thu khách hàng giảm, tránh ứ đọng vốn.

Việc công ty nới lỏng chính sách tín dụng như khách hàng được hưởng 2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hóa đơn được phát hành và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng được trả chậm trong thời gian 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn đã làm tăng khoản phải thu khách hàng. Nới lỏng chính sách bán chịu giúp công ty tăng doanh thu, mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm.

33

Nhưng điều này cũng là một bất lợi đối với công ty. Việc khách hàng chiếm dụng vốn

tăng như vậy dễ dẫn đến khả năng khách hàng không thanh toán được nợ, gây rủi ro

cho công ty. Ngoài ra, tỉ lệ lạm phát đạt ngưỡng cao trong năm 2012, như vậy việc cho khách hàng nợ quá nhiều sẽ ảnh hưởng nhiều đến giá trị của khoản phải thu.

Thứ ba, đối với khoản mục hàng tồn kho, hàng tồn kho của công ty trong các

năm 2010, 2011 và 2012 đều bằng 0. Một điểm riêng khác với hầu hết các công ty

trong lĩnh vực in ấn và phát hành báo chí đó là công ty chỉ đi vào hoạt động và làm

việc khi có các đơn đặt hàng, yêu cầu hay theo các hợp đồng đã kí từ các đối tác của mình. Do đó công ty chỉ nhập, in ấn và phát hành báo chí với số lượng được yêu cầu

theo hợp đồng và các đơn đặt hàng của công ty.

Ưu điểm của việc làm này là tiết kiệm diện tích lưu kho, chi phí quản lý và bảo

quản lưu kho của công ty. Tuy phương thức này khá an toàn, nhưng các nhà quản lý tài chính của công ty phải cân nhắc vì luôn có sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập

yêu cầu, lượng hàng tồn kho không đủ cũng có thể khiến công ty mất đi doanh thu.

Các nhà quản trị có thể gặp rủi ro mất đi khách hàng hoặc không thể đáp ứng kịp thời

những đơn hàng bổ sung từ phía khách hàng từ đó có thể ảnh hưởng đến doanh số và

lợi nhuận, có thể còn gây ra sự không hài lòng đối với khách hàng, làm mất uy tín

công ty.

Thứ tƣ, đối với khoản đầu tƣ tài chính, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trong 3 năm 2010, năm 2011 và 2012 không có một sự biến động nào mà vẫn giữ

nguyên ở mức 37.300.000 đồng. Công ty không có đầu tư nhiều mà chủ yếu là mua tín

phiếu kho bạc.

Tỷ trọng đầu tư tài chính hàng năm trong tổng tài sản là rất thấp chỉ chiếm sấp sỉ

1% thể hiện sự liên kết của công ty với bên ngoài rất lỏng lẻo. Công ty có thể bỏ vốn

đầu tư thêm vào kỳ phiếu ngân hàng hoặc mua vào, bán ra chứng khoán (cổ phiếu,

trái phiếu) vừa để kiếm lời vừa làm tăng sự liên kết của công ty với bên ngoài.

Thứ năm, đối với khoản mục tài sản cố định, dựa vào bảng phân tích và đồ thị ta thấy tình hình TSCĐ của Công ty chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và đang có

sự giảm nhẹ qua các năm. Cụ thể, năm 2010 TSCĐ chiếm tỷ trọng 49%, năm 2011 chiếm 47,7% và giảm 0,3% còn 47,4% vào năm 2012. Có sự giảm này là do giá trị hao mòn luỹ kế tăng qua các năm. Bên cạnh đó sản phẩm in của doanh nghiệp là các sản phẩm in mang tính thương mại như bao bì, tem nhãn, sản phẩm quảng cáo vẫn có chiều hướng gia tăng nhưng không nhiều, nhất là bao bì, hộp giấy, nhãn hàng hoá. Mảng sản phẩm này có lợi nhuận tốt hơn so với in xuất bản phẩm, nhưng phải đầu tư công nghệ tốt hơn, phức tạp hơn và đa dạng hơn để đáp ứng những tiêu chí khắt khe về chất lượng của từng loại bao bì, nhãn hàng hoá. Do đó doanh nghiệp đã phải đầu tư

34

mua sắm một số máy móc hiện đại phục vụ công tác in và xuất bản như: máy vô lò xo,

máy dán bao thư, máy cắt tay, máy gập giấy, máy ghép màn, máy ép nhưa,…. ngoài ra

còn thay mới một số thiết bị đã lạc hậu. Điều này làm khoản mục TSCĐ luôn chiếm tỷ trọng lớn.

Đầu tư cho tài sản cố định giúp công ty nâng cao hiệu quả làm việc, nâng cao

năng lực tài chính, tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng

ngành trên thị trường. Cho thấy doanh nghiệp đã quan tâm đến việc tăng năng lực

công ty, đầu tư theo chiều sâu và theo chiến lược dài hạn.

Trong cơ cấu tài sản của công ty, tỷ trọng tài sản ngắn hạn và dài hạn không quá

chênh lệch, trong cơ cấu 2 khoản mục này chủ yếu và chiếm đa số là TSCĐ và các

khoản phải thu. Sự phân bổ tài sản của công ty trong 3 năm qua là tương đối hợp lý

phù hợp với đặc thù của các công ty trong lĩnh vực in ấn. Để hoạt động hiệu quả hơn nữa công ty cần quản lý tốt hơn công tác thu hồi nợ. Như vậy tình hình cấu trúc tài

sản của công ty qua 3 năm 2010, 2011 và 2012 có biến động nhưng không quá nhiều

tài sản tập chung vào nợ phải thu, TSCĐ và khoản mục tiền.

2.2.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn

2.2.2.1. Phân tích tính tự chủ về mặt tài chính của công ty

Cấu trúc nguồn vốn thể hiện tính tự chủ của doanh nghiệp, liên quan đến nhiều

khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn đánh giá sự biến động các loại nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm

thấy được tình hình huy động, tình hình sử dụng các loại nguồn vốn đáp ứng yêu cầu

sản xuất kinh doanh, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác thấy được

doanh nghiệp có khả năng mở rộng hay đang có xu hướng khủng hoảng, rủi ro trong

tương lai.

Nguồn vốn chủ sở hữu về cơ bản có hai bộ phận lớn: nguồn vốn vay và nguồn vốn

chủ sở hữu. Mỗi cơ sở kinh doanh, đơn vị sản xuất khác nhau có một cơ cấu nguồn

vốn khác nhau. Sự khác nhau đó tuỳ thuộc vào tiềm lực tài chính, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quan điểm và chiến lược của nhà quản trị trong từng giai đoạn, thời

kì,… từ đó dẫn đến tỷ trọng nợ phải trả và tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn khác nhau. Đối với công ty TNHH Hoàng Đức, cơ cấu tỷ trọng hai bộ phận này được thể hiện ở bảng phân tích sau:

35

Bảng 2.3. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ Tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1.Nợ phải trả 2.700.632.024 523.003.559 946.808.678

2.Nguồn vốn chủ sơ hữu 265.755.686 2.261.639.606 3.288.456.768

3.Tổng nguồn vốn 2.966.387.710 2.784.643.165 4.235.265.446

91% 18,7% 22,3% 4.Tỷ suất nợ (%)

(4) = (1) : (3)

5.Tỷ suất tự tài trợ (%) 9% 81,3% 77,7%

(5) = (2) : (3)

6.Tỷ suất Nợ/VCSH (lần) 10,16 0,23 0,28

(6) = (1) : (2)

( Nguồn: bảng cân đối kế toán từ năm 2010 đến năm 2012-phòng Kế toán Tài vụ)

Từ số liệu trên bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty cho thấy tổng nguồn

vốn có biến động tăng giảm không đều cụ thể năm 2010 đạt 2.966.387.710 đồng đến

năm 2011 giảm xuống 2.784.643.165 đồng và tăng lên 4.235.265.446 đồng năm 2012.

Ta thấy tổng số vốn của công ty tập trung ở hai nguồn đó là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Nguồn thứ nhất, nợ phải trả, chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng rất cao 91% trong năm

2010 thể hiện trong năm 2010 mức độ phụ thuộc của công ty vào chủ nợ nhiều, khả

năng tiếp cận các khoản nợ vay càng khó. Do tính bất ổn trong nhu cầu của thị trường

cũng như sự cạnh tranh rất mạnh từ nhiều đối thủ nên công ty đã cân nhắc, thay đổi

trong việc sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn. Dẫn tới năm 2011 và 2012 tỷ trọng nợ

giảm mạnh xuống còn 17,8% năm 2011 và 22,3% năm 2012 chứng tỏ những điều

chỉnh của ban lãnh đạo công ty đã và đang đi đúng hướng đề ra thể hiện tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp đang được cải thiện không bị phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên tỷ trọng nợ thấp như vậy sẽ dẫn tới công ty bị mất chi phí cơ hội, không tận dụng được đòn bẩy tài chính, kinh doanh sẽ kém hiệu quả vì thế bên cạnh những điều đã đạt được công ty vẫn cần phải xem xét lại các chính sách của mình để có sự cân bằng và ổn định nguồn vốn vay để đạt được kết quả tối ưu nhất.

Để có nhận xét hợp lý hơn về tính tự chủ về tài chính và sự phù hợp của chính

sách tài trợ ta sẽ đi sâu xem xét cơ cấu nợ phải trả của công ty TNHH Hoàng Đức.

Sau đây là cơ cấu nợ phải trả của công ty.

36

Bảng 2.4. Các chỉ tiêu phân tích cơ cấu nợ tại công ty TNHH Hoàng Đức

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Nợ phải trả 2.700.632.024 523.003.559 946.808.678

I. Nợ ngắn hạn 2.700.632.024 523.003.559 946.808.678

Vay và nợ ngắn hạn 1.930.000.000 0 0

Phải trả cho người bán 163.516.414 222.785.169 602.708.079

Người mua trả tiền trước 517.593.111 150.714.387 199.934.181

Thuế và các khoản phải nộp (35.719.938) 25.509.566 (14.058.019) Nhà nước

Phải trả người lao động 112.168.000 111.060.000 145.290.000

Phải trả nội bộ 2.830.000 2.830.000 2.830.000

Quỹ khen thưởng, phúc lợi 10.104.437 10.104.437 10.104.437

II. Nợ dài hạn 0 0 0

Tỷ lệ nợ ngắn hạn 100% 100% 100%

Tỷ lệ nợ dài hạn 0% 0% 0%

( Nguồn: bảng cân đối kế toán từ năm 2010 đến năm 2012-phòng Kế toán Tài vụ)

Từ năm 2010 tới năm 2011, tổng nguồn vốn năm 2011 của công ty là

2.784.643.165 đồng, giảm 181.744.545 đồng tương ứng với 6,1% so với năm 2010.

Nợ ngắn hạn: Năm 2011 là 523.003.559 đồng giảm 2.648.331.665 đồng tương

ứng với mức giảm 98% so với năm 2010. Tới năm 2012 là 946.808.678 đồng tăng

81% tương ứng với 423.805.119 đồng so với năm 2011 cụ thể:

Vay và nợ ngắn hạn: đây nguyên nhân chính dẫn tới sự biến động lớn của nợ ngắn hạn từ năm 2010 tới năm 2011. Trong năm 2010 vay và nợ ngắn hạn là

1.930.000.000 đồng chiếm tỷ trọng rất lớn 71,5% trong nợ ngắn hạn nhưng tới năm 2011 và 2012 con số là 0 đồng. Nguyên nhân khiến khoản mục giảm mạnh là do nhu cầu đặt hàng, sử dụng dịch vụ của công ty giảm mạnh do sự biến động của nền kinh tế cũng như sự bất ổn trong nhu cầu của thị trường, dẫn đến việc công ty đưa ra quyết định không huy động thêm tiền mặt từ nguồn vốn vay để mua hàng hoá nguyên vật

liệu đầu vào và nâng cấp hệ thống cửa hàng nhà xưởng như mọi năm để giảm thiểu thua lỗ và thay đổi phương thức hoạt động của công ty, hoạt động khi có hợp đồng hay

đơn đặt hàng từ phía đối tác và khách hàng.

37

Phải trả người bán Từ năm 2010 tới năm 2012 năm 2011 đạt 222.785.169 đồng tăng 59.268.755

đồng ứng với 36,2% so với năm 2010. Năm 2011 là năm có nhiều thay đổi về các sách, đường lối hoạt động của công ty nhưng vẫn là năm việc kinh doanh khởi sắc nên

công ty vẫn có thể chi trả các khoản nợ đọng từ năm trước. Việc trả nợ khiến uy tín

công ty được nâng cao với nhà cung cấp. Nhà cung cấp có thể đồng ý cho công ty nợ

thêm với một số đơn đặt nguyên vật liệu nhờ các khoản nợ trước đã được thanh toán

và tin tưởng tiềm lực tài chính, chiến lược kinh doanh của công ty.

Từ năm 2011 tới năm 2012: năm 2012 đạt mức 602.708.079 đồng, tăng

170,53% so với năm 2011. Công ty đã tận dụng triệt để việc cấp tín dụng của nhà cung

cấp đã làm cho khoản phải trả người bán tăng 379.922.910 đồng. Một mặt, sự gia tăng

này cũng do lượng doanh thu và GVHB tăng. Ngoài ra, điều này còn cho thấy mối quan hệ của công ty với nhà cung cấp đang phát triển rất tốt. Được hưởng nhiều khoản

tín dụng từ người bán sẽ rất tốt cho doanh nghiệp để có thể mở rộng quy mô hoạt động

kinh doanh, điều này sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho công ty, hưởng tín dụng thương

mại nghĩa là công ty đang gián tiếp sử dụng vốn của người bán mà không phải chi trả

lãi nếu , công ty có thể tận dụng thời hạn tín dụng không mất phí.

Người mua trả tiền trước Từ năm 2010 tới năm 2011: năm 2011 là 150.714.387 đồng giảm 70,9% ứng với 3667878.724 đồng so với năm 2010 chứng tỏ trong thời kỳ kinh tế gặp khó khăn, tiêu

chuẩn của khách hàng ngày càng khắt khe về hình thức cũng như chất lượng sản phẩm

hàng hoá và việc công ty đồng ý giảm các khoản tiền đặt cọc của khách hàng để thể

hiện niềm tin vào khách hàng, lôi kéo khách hàng về phía mình. Tuy nhiên cách thức

này cũng gặp nhiều rủi ro khi việc thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn bên cạnh đó việc

thiếu vốn sản xuất cũng là một vấn đề cấp bách.

Từ năm 2011 tới năm 2012: năm 2012 là 199.934.181 đồng, tăng 32,66% so với

năm 2011, mức tăng là 49.219.794 đồng. Việc này đã tạo điều kiện cho công ty có đủ

nguồn vốn để kinh doanh, giúp công ty không phải huy động vốn nhiều từ bên ngoài, điều này lý giải cho khoản chi phí sử dụng vốn của công ty chỉ giao động trong khoảng

hơn 10%, mức gia tăng tuyệt đối không đáng kể.

Thuế và các khoản phải nộp nhà nước Năm 2010 tới năm 2011: năm 2011 là 25.509.566 đồng tăng 61.229.504 đồng so với năm 2010 điều đó cho thấy công ty đã thanh toán được các khoản thuế cho Nhà nước. Năm 2011 tới năm 2012: Kế toán ghi âm 14.058.019 đồng trong khoản mục thuế và các khoản phải nộp nhà nước năm 2012 là sai nguyên tắc. Thực chất đây là khoản

38

tiền mà doanh nghiệp đã nộp thừa cho Nhà nước, như vậy nếu làm đúng, kế toán sẽ

phải ghi có vào chỉ tiêu Thuế và các khoản phải thu Nhà nước trong danh mục tài sản.

Phải trả người lao động Năm 2010 tới năm 2011: năm 2011 là 111.060.000 đồng giảm nhẹ 1% tương

ứng với 1.108.000 so với năm 2010 công ty đang cố gắng hạn chế việc gia tăng khoản

nợ này để tạo động lực cho nhân viên làm việc.

Năm 2011 tới năm 2012: năm 2012 là 145.290.000 đồng, tăng 34.230.000 đồng

so với năm 2011, tương ứng tăng 30,82%. Doanh nghiệp cần hạn chế gia tăng khoản nợ này, cần chi trả sớm và đầy đủ nhằm tạo động lực để nhân viên yên tâm làm việc

Phải trả nội bộ và quỹ khen thưởng phúc lợi không có sự biến động qua ba năm.

Nợ ngắn hạn chính bằng tổng nợ phải trả. Năm 2011 là 523.003.559 đồng và

946.808.678 đồng năm 2012, do nợ dài hạn hàng năm của công ty bằng 0. Công ty không sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. Ưu điểm của cách

làm này là nguồn vốn ngắn hạn có chi phí sử dụng vốn thấp hơn, quay vòng vốn

nhanh. Nhược điểm là nợ ngắn hạn có độ ổn định thấp, thời gian chi trả gốc ngắn,

khiến doanh nghiệp không có được sự đầu tư về lâu dài.

Nguồn thứ hai, vốn chủ sở hữu, trái ngược với tỷ suất nợ là tỷ suất tự tài trợ.

Cụ thể trong năm 2010 tỷ suất tự tài trợ của công ty ở mức thấp chỉ 9% nhưng tới năm

2011 đã tăng lên tới 83,1% và giảm đôi chút ở năm 2012 ở mức 77,7% và đang có xu hướng giảm dần trong tương lai do công ty đã sử dụng nguồn nợ vay nhiều hơn để gia

tăng khả năng sinh lời, giảm chi phí cơ hội kinh doanh dựa trên VCSH. Và để có thể

trả nợ vay công ty đã sử dụng các hình thức huy động vốn chủ sở hữu như: sử dụng

vốn của đối tác khách hàng kéo dài thời hạn thanh toán với bạn hàng để tạo nguồn

vốn; huy động vốn từ người thân, gia đình, bạn bè,..; huy động vốn trong nội bộ doanh

nghiệp phát hành tín phiếu nội bộ, huy động vốn nhàn rỗi của nhân viên với mức lãi

suất hợp lý đươc thoả thuận giữa hai bên; tạo vốn bằng nguồn tự có như tạo tính thanh

khoản cao cho hàng hoá, bán tài sản, mức thu nợ cao nhất và trong thời gian sớm

nhất,... Tuy vậy tỷ trọng vẫn ở mức cao công ty sẽ không phải chịu quá nhiều áp lực chi trả gốc và lãi quá lớn, đây là nguồn vốn có độ ổn định cao, giúp công ty gia tăng

tính tự chủ về mặt tài chính, vẫn có sự phụ thuộc nhưng không nhiều vào các chủ nợ.

Nguồn thứ ba, nợ trên vốn chủ sở hữu, bên cạnh tỷ suất nợ và tỷ suất tự tài trợ ta cũng cần phải nói tới một tỷ suất nữa trong quá trình phân tích cơ cấu nguồn vốn đó là tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu. Trong năm 2010 tỷ suất này là rất lớn, gấp 10,16 lần điều đó cho thấy khả năng đảm bảo nợ của nguồn vốn chủ sở hữu của công ty trong năm 2010 là rất thấp, đây chính là thiệt thòi lớn cho công ty trong việc thu hút tín dụng từ bên ngoài và cũng chính là nguyên nhân dẫn tới một loạt thay đổi và điều

39

chỉnh của công ty. Và kết quả đạt được đó là trong năm 2011 và năm 2012 tỷ suất nợ

trên vốn chủ sở hữu tương ứng chỉ là 0,23 lần và 0,28 lần.

Nhìn vào số liệu ra có thể nhận thấy tính tự chủ tài chính của công ty đã được cải thiện đồng thời khả năng đảm bảo nợ của nguồn vốn chủ sở hữu của công ty đang rất

tốt, thay đổi từ yếu điểm của công ty thành lợi thế lớn trong việc thu hút tín dụng từ

bên ngoài.

Tóm lại qua nội dung phân tích tính tự chủ về tài chính của công ty cho thấy tổng

nguồn vốn có khuynh hướng tăng đó là kết quả của sự tăng lên cả về nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả chiếm tỷ trọng nhỏ chứng tỏ tính tự chủ về tài

chính của công ty là rất tốt không còn phụ thuộc nhiều vào chủ nợ hứa hẹn sự phát

triển mạnh mẽ của công ty trong thời gian tới.

2.2.2.2. Phân tích tính ổn định về nguồn tài trợ của công ty

Phân tích tính tự chủ về tài chính đã thể hiện mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và

vốn vay nợ. Tuy nhiên, trong công tác quản trị tài chính, mỗi nguồn vốn đều có liên

quan đến thời gian sử dụng và chi phí sử dụng vốn. Vì thế sự ổn định về nguồn tài trợ

cần được quan tâm khi đánh giá cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp.

Để phân tích tính ổn định về nguồn tài trợ của công ty, ta có bảng sau:

Bảng 2.5. Bảng phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ tại công ty Đơn vị tính: Đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chỉ tiêu

Tổng nguồn vốn 2.966.387.710 2.784.643.165 4.235.265.446

Nợ ngắn hạn 2.700.632.024 523.003.559 946.808.678

Nợ dài hạn 0 0 0

Nguồn vốn CSH 265.755.686 2.261.639.606 3.288.456.768

Nguồn vốn thường xuyên 265.755.686 2.261.639.606 3.288.456.768

Nguồn vốn tạm thời 2.700.632.024 523.003.559 946.808.678

Tỷ trọng NVTX 9% 81,3% 77,7%

Tỷ trọng NVTT 91% 18,7% 22,3%

100% 100% 100% Tỷ trọng NVCSH/NVTX

( Nguồn: Bảng cân đối kế từ năm 2010 đến 2012- phòng kế toán tài vụ)

Dựa vào bảng phân tích trên ta thấy vào cuối năm 2012 toàn bộ tài sản của công ty

được tài trợ 77,7% bằng nguồn vốn chủ sở hữu và 22,3% bằng nguồn vốn vay nợ.

40

Tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên tăng giảm không đồng đều qua 3 năm gần đây:

năm 2010 tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên chỉ là 9% đến 2011 là 81,3% như vậy đã

tăng 72,3%, sang năm 2012 tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên là 77,7% lại giảm 3,6% so với năm 2011. Qua bảng phân tích trên ta thấy nguồn vốn thường xuyên tăng qua

các năm: năm 2010 VNTX là 265.755.686 đồng sang năm 2011 là 2.261.639.606

đồng, tăng 1.995.883.920 đồng tương ứng với 751%, đến năm 2012 NVTX là

3.288.456.768 đồng so với năm 2011 tăng 1.036.921.599 đồng tương ứng với 45,86%.

Sở dĩ NVTX tăng qua các năm là do nguồn vốn chủ sở hữu được chú trọng và đầu tư rất mạnh từ năm 2011 đến nay. Tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên tại công ty TNHH

Hoàng Đức trong 2 năm gần đây ở mức cao nên đảm bảo được sự ổn định trong thời

gian tới đối với nguồn vốn đang sử dụng và công ty không còn phải chịu áp lực thanh

toán nguồn tài trợ trong ngắn hạn.

Về tỷ trọng nguồn vốn tạm thời, trong năm 2010 là rất cao lên tới 91% nhưng lại

giảm mạnh chỉ còn 18,7% năm 2011 và có tăng đôi chút vào năm 2012 lên 22,3%.

Cũng với giải thích tương tư như cách giải thích như cách giải thích về sự tăng giảm

của tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên ở trên ta thấy nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn

mà công ty vay mượn trong thời gian tương đối ngắn nên không gây áp lực thanh toán

cho công ty. Để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán ta cần quan tâm tới tỷ

trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thường xuyên.

Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thường xuyên cho biết một

đồng NVTX có bao nhiều đồng được tài trợ bởi NVCSH. Do nợ dài hạn của công ty

hàng năm là 0 đồng do đó nguồn vốn thường xuyên lấy hoàn toàn từ nguồn vốn chủ sở

hữu hay nói một cách khác một đồng NVCSH của công ty được tài trợ bằng 1 đồng

NVTX qua các năm. Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thường xuyên

luôn là 100% trong mỗi năm. Như vậy áp lực thanh toán nợ hầu như không có, tỷ

trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thường xuyên rất cao thể hiện tính ổn định

của nguồn tài trợ.

Qua phân tích trên ta thấy công ty TNHH Hoàng Đức trong 2 năm trở lại đây đã là một đơn vị có tính độc lập về tài chính và có tính ổn định về nguồn tài trợ, tỷ trọng

nợ phải trả rất nhỏ và hầu như tất cả tài sản đều được tài trợ bằng nguồn vốn an toàn đó là nguồn vốn chủ sở hữu, công ty không phải chịu áp lực về khả năng thanh toán do có nguồn vốn chủ sở hữu lớn. Thể hiện tình hình tài chính của công ty rất lành mạnh tuy nhiên điều đó lại đồng nghĩa với việc hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.

41

2.2.3. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và cấu trúc tài sản

Bất kì một chủ thể kinh tế nào muốn tiến hành hoạt động phải có một lượng vốn

nhất định. Một mặt, lượng vốn đó được thể hiện dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất, được đo lường bằng thước đo tiền tệ được gọi là tài sản. Mặt khác lượng vốn đó lại

được hình thành từ một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau gọi là nguồn vốn. Một tài sản

có thể do một hay nhiều nguồn vốn hình thành ngược lại một nguồn vốn có thể tham

gia hình thành nên một hay nhiều loại tài sản khác nhau. Và để phân tích được mối

quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn ta có bảng sau:

Bảng 2.6. Bảng phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn

Đơn vị tính: Lần

Công thức tính Năm Năm Năm Chỉ tiêu

2010 2011 2012

Hệ số khả năng thanh toán Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 0,56 2,36 2,79 ngắn hạn Nợ ngắn hạn

Tài sản Hệ số tài trợ cho tài sản so 1,3 11,1 1,2 với vốn CSH Vốn chủ sở hữu

Tỷ số tổng nợ trên tổng tài Tổng nợ 0,9 0,2 0,22 sản Tổng tài sản

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bảo

bằng bao nhiêu đồng TSNH. Chỉ tiêu này trong năm 2010 chỉ là 0,56 lần có nghĩa

doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn và không đạt được tình hình tài chính tốt nhưng không có nghĩa công ty bị vỡ nợ

hay phá sản bởi có rất nhiều cách để huy động thêm vốn. Tới năm 2011 hệ số này đã tăng mạnh lên 2,36 lần và tiếp tục tăng ở năm 2012 ở mức 2,79 lần. Điều đó cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn qua 2 năm gần đây đều lớn hơn 1, giúp doanh nghiệp có đủ khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bằng TSNH. Và với mức tăng liên tục qua các năm gần đây cho phép ta hình dung ra công ty đang làm ăn có hiệu quả, khả

năng biến sản phẩm thành tiền mặt tại thời điểm hiện tại là rất tốt.

42

Hệ số tài trợ cho tài sản so với vốn CSH phản ánh mức độ đầu tư của doanh

nghiệp bằng vốn CSH và nợ phải trả để tài trợ cho tài sản. Trong 3 năm từ 2010 tới

2012 hệ số này có sự biến động lớn và không đồng đều. Cụ thể năm 2010 hệ số là 11,1 lần điều này thể hiện mức độ sử dụng nợ phải trả để tài trợ cho tài sản là rất lớn tương

ứng là 11,1 lần, cần có sự thay đổi các chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh

nghiệp. Tới năm 2011 hệ số giảm mạnh chỉ còn 1,2 lần và tăng 0,1 vào năm 2012 ứng

với 1,3 lần, mức độ sử dụng nợ phải trả cho tài sản năm 2011 là 1,2 lần và năm 2012 là

1,3 lần. Những sự thay đổi trong chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp đã và đang có kết quả khả quan, tính hợp lý và an toàn trong việc huy động vốn

của doanh nghiệp đã được cải thiện theo chiều hướng tốt.

Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản được dùng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh

nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn đồng thời cho biết bao nhiêu phần tram tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đó biết được khả năng tự chủ tài chính của

doanh nghiệp. Trong năm 2010 tỷ số này khá cao là 0,9 hàm ý doanh nghiệp đang có

khả năng tự chủ về tài chính là thấp, chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh thể hiện

mức độ rủi ro của doanh nghiệp khá cao, trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy

động tiền vay đề kinh doanh, sản xuất. Điều đó đã khiến công ty có nhưng điều chỉnh

cần thiết và kịp thời dẫn tới nhưng thay đổi theo hướng tích cực cụ thể năm 2011 tỷ sô

này hạ xuống còn 0,2 và tăng đôi chút lên 0,22 lần ở năm 2012. Thể hiện trong 2 năm gần đây doanh nghiệp vay ít hơn, có khả năng tự chủ về tài chính và mức độ rủi ro của

doanh nghiệp luôn ở mức thấp.

2.2.4. Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của công ty

2.2.4.1. Hiệu quả kinh doanh

Từ công thức:

Lợi nhuận ròng Doanh thu Tổng tài sản ROE = x x x 100% Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Ta tính được 3 chỉ tiêu liên hệ với ROE là ROS (tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu – Return On Sales), Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (HSSDTTS) và mức độ sử dụng nợ

(TS/VCSH), thể hiện trong bảng sau:

43

Bảng 2.7. Ảnh hƣởng của hiệu quả kinh doanh

Năm Chênh lệch Chỉ tiêu 2010 2012 2010-2011 2011-2012 2011

ROS 0,97% 0,91% 0,22% -0,06% -0,69%

HSSDTTS 2,18 lần 2,6 lần 2,02 lần 0,42 -0,58

TS/VCSH 11,1 lần 1,2 lần 1,3 lần -9,9 0,1

ROE 23,8% 2,92% 0,57% - 20,88% - 2,25%

Từ năm 2010 tới 2011: tỷ suất ROE năm 2011 giảm so với năm 2010 là 20,88%

có nghĩa 100 đồng vốn chủ sở hữu năm 2011 đã tạo ra ít hơn 20,88 đồng lợi nhuận

ròng, điều này là do mức độ ảnh hưởng giảm của 2 yếu tố ROE và TS/VCHS lớn hơn

sự tăng lên của HSSDTTS, cụ thể:

- Ảnh hưởng của ROS (nếu các yếu tố khác không đổi):

ROE giảm = (ROS2011-ROS2010) x HSSDTTS2010 x (TS/VCSH)2010

= -0,06% x 2,18 x 11,1 = -1,45%

- Ảnh hưởng của HSSDTTS (nếu các yếu tố khác không đổi)

ROE tăng = ROS2010 x (HSSDTTS2011 – HSSDTTS2010) x (TS/VCSH)2010

= 0,97% x 0,42 x 11,1 = 4,5%

- Ảnh hưởng của việc gia tăng nợ (nếu các yếu tố khác không đổi)

ROE giảm = ROS2010 x HSSDTTS2010 x (TS/VCSH2011 - TS/VCSH2010)

= 0,97 % x 2,18 x (-9,9) = - 20,9%

Từ năm 2011 tới năm 2012: tỷ suất ROE năm 2012 giảm so với năm 2011 giảm

2,25% có nghĩa 100 đồng vốn chủ sở hữu năm 2012 đã tạo ra ít hơn 2,25 đồng lợi

nhuận ròng, điều này là do ảnh hưởng giảm của 2 yếu tố ROS và HSSDTTS lớn hơn

sự tăng lên của mức độ sử dụng nợ trong doanh nghiệp, cụ thể:

- Ảnh hưởng của ROS (nếu các yếu tố khác không đổi):

ROE giảm = (ROS2012-ROS2011) x HSSDTTS2011 x (TS/VCSH)2011

= -0,69% x 2,6 x 1,2 = -2,15%

- Ảnh hưởng của HSSDTTS (nếu các yếu tố khác không đổi)

ROE giảm = ROS2011 x (HSSDTTS2012 – HSSDTTS2011) x (TS/VCSH)2011 = 0,91% x (-0,58) x 1,2 = -0,63%

- Ảnh hưởng của việc gia tăng nợ (nếu các yếu tố khác không đổi)

ROE tăng = ROS2011 x HSSDTTS2011 x (TS/VCSH2012 - TS/VCSH2011)

= 0,91% x 2,6 x 0,1 = 0,24%

44

Qua phân tích ảnh hưởng của các yếu tố ROS, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và tỷ

số TS/VCSH qua các năm ta có thể thấy rằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu giảm

dân qua các năm từ 2010 tới 2012. Giảm mạnh nhất trong năm 2011, từ 23,8% năm 2010 xuống còn 2,92% năm 2011 do tỷ suất TS/VCSH giảm mạnh cùng với việc giảm

của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có tăng nhưng

không đáng kể. Còn năm 2012, tỷ suất TS/VCSH được cải thiện xong tăng rất nhỏ

trong khi đó tỷ suất sinh lời theo doanh thu ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản

cùng giảm điều đó làm cho tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu trong năm 2012 chỉ còn 0,57%. Như vậy, có thể thấy rằng ROE của công ty bị tác động mạnh nhất bởi đòn

bẩy tài chính. Đòn bẩy tài chính giảm hay việc sử dụng nợ giảm làm cho ROE suy

giảm mạnh lên tới -20,9% năm 2011.

2.2.4.2. Khả năng tự chủ về tài chính

Được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

(ROA – Return On Assets) tính toán được qua các năm sau:

Bảng 2.8. Ảnh hƣởng của khả năng tự chủ về tài chính

Năm Chênh lệch Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2010-2011 2011-2012

2,13% 0,44% 2,37% -1,69% 1,93% ROA

9% 81,3% 77,7% 72,3% -3,6% Tỷ suất tự tài trợ

23,8% 2,92% 0,57% - 20,88% - 2,25% ROE

ROA tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng là một chỉ tiêu cho biết hiệu quả kinh

doanh. Ta có công thức sau:

1 ROE = ROA x x 100% Tỷ suất tự tài trợ

Ta thấy độ lớn của tỷ suất ROE tỷ lệ thuận với độ lớn và tỷ lệ nghịch với tỷ suất tự

tài trợ (TSTTT), ảnh hưởng cụ thể từng yếu tố như sau:

Khi ROAt+1 tăng a% ROEt+1 tăng (a/TSTTTt)% so với ROEt và ngƣợc lại. Tƣơng tự khi TSTTTt+1 tăng b% thì ROEt+1 giảm [-(ROA x b%) / (TSTTTt x TSTTTt+1)] và ngƣợc lại. Do đó ta tính được ảnh hưởng riêng biệt của yếu tố ROA lên tỷ suất ROE trong trường hợp yếu tố TSTTT không đổi và ngược lại, thống kê

trong bảng sau:

45

Bảng 2.9. Ảnh hƣởng riêng biệt của ROA, TSTTT lên tỷ suất sinh lời ROE

Năm Biến động của chỉ tiêu 2010-2011 2011-2012

-18,7% 2,37% ROA lên ROE

-21% 0,025% TSTTT lên ROE

Bảng trên ta suy ra:

Từ năm 2010-2011: tác động riêng biệt cả của ROA làm giảm ROE 18,7% nhỏ

hơn ảnh hưởng làm giảm ROE 21% của TSTTT, kết quả ROE giảm 20,88%.

Từ năm 2011-2012: tác động riêng biệt của ROA là ROE tăng 2,37% lớn hơn tác

động làm tăng ROE 0,025% của TSTTT khiến ROE chỉ giảm 2,25%.

Qua phân tích trên ta thấy rằng trong năm 2011, tỷ suất ROE giảm rất mạnh

20,88% khi chịu tác động giảm của ROA nhỏ hơn tác động của tác động giảm của

TSTTT. Sang năm 2012, tác động tăng của ROA lớn hơn tác động tăng của TSTTT

cũng làm tỷ suất ROE giảm nhưng giảm nhẹ hơn nhiều chỉ ở mức 2,25%. Như vậy có

thể thấy với việc tăng tự chủ về mặt tài chính khiến cho rủi ro của công ty giảm, tăng năng lực tài chính của công ty, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả nhưng kéo

theo hệ quả là hiệu suất sử dụng tài sản của công ty sụt giảm.

2.2.4.3. Độ lớn đòn bẩy tài chính

Từ công thức:

D x (RE – rd ) x (1 - t) ROE = RE + E

Ta có bảng sau:

46

Bảng 2.10. Ảnh hƣởng riêng biêt của RE, D/E, rd, t lên ROE

Năm Chênh lệch

Chỉ tiêu 2010 2011 2012 ROE 2011-2012 ROE 2010-

2011

EBIT (tỷ) 0,073 0,082 0,074

A (tỷ) 2,97 2,78 4,24

D (tỷ) 2,7 0,51 0,94

E (tỷ) 0,27 2,27 3,3

I (tỷ) 0,059 0 0

EAT (tỷ) 0,063 0,066 0,019

D/E (lần) 10 0,2 0,3 -9,8 0,1 -0,33% 2,4%

RE 2,5% 2,9% 1,7% 0,4% -1,2% 2,55% -1,08%

rd (*) 2,2% 0% 0% 0% -2,2% 37,13% 2,61%

t 25% 25% 25% 0% 0% 5.5% 3,48%

23,8% 2,92% 0,57% ROE (**) (***)

(*) lãi suất vay trung bình rd: được tính dựa trên toàn bộ số nợ phải trả.

Xét ảnh hưởng riêng biệt của 4 yếu tố lên ROE (trong điều kiện các yếu tố khác

không đổi) ta rút ra kết luận:

(**) Từ năm 2010-2011: tỷ số D/E giảm 9,8 làm ảnh hưởng giảm tới ROE 0,33%.

Các yếu tố còn lại RE tăng 0,4%, rd giảm 2,2% và thuế thu nhập doanh nghiệp không

đổi 25% đều làm tăng ROE trong đó rd giảm làm ROE tăng mạnh nhất tới 37,13%. Các ảnh hưởng làm tăng ROE lớn hơn ảnh hưởng giảm của tỷ số D/E do đó hiệu quả tài

chính của công ty năm 2011 tăng so với năm 2010.

(***) Từ năm 2011-2012: RE giảm 1,2% xuống còn 1,7% gây ảnh hưởng giảm tới ROE. Còn các yếu tố khác như: tỷ số D/E tăng, lãi suất vay trung bình là 0%, thuế thu nhập doanh nghiệp không đổi 25% đều làm tăng ROE. Hiệu quả tài chính năm 2012 ở mức tốt do ảnh hưởng làm giảm ROE nhỏ hơn ảnh hưởng tăng.

Tóm lại: Do trong năm 2011-2012 công ty không sử dụng các khoản vay ngắn hạn và dài hạn mà chỉ tận dụng các khoản phải trả người bán dẫn tới lãi suất vay trung

47

bình bằng 0. Với mức RE > rd ta thấy rằng công ty nên tăng sử dụng nợ vì cùng với

việc sử dụng nợ gia tăng cũng làm tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu.

Bảng 2.11. Ảnh hƣởng của độ lớn đòn bẩy tài chính

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

5,21 1 1 DFL

12,3% -9,8% Delta EBIT

12,3% -9,8%

Delta ROE (các yếu tố khác không đổi)

Từ công thức:

DLF = EBIT

EBIT – I

Ta tính được độ lớn DLF trong bảng rồi dùng công thức:

Tỷ lệ thay đổi ROE = DLF x Tỷ lệ thay đổi EBIT

Để tính tỷ lệ thay đổi ROE năm sau so với năm trước. Từ kết quả tính được trong

bảng ta có nhận xét:

Từ năm 2010-2011: huy động vốn trong năm giảm do công ty không còn sử dụng

nguồn vốn vay nên lãi vay bằng 0. Bên cạnh đó EBIT tăng 12,3% đã làm độ lớn của

đòn bẩy tài chính tăng 1 lần. Kết quả là tỷ lệ thay đổi ROE > 0 có nghĩa trong điều

kiện các yếu tố khác không đổi một đồng vốn chủ sở hữu năm 2011 tạo ra nhiều lợi

nhuận hơn.

Từ năm 2011-2012: với lãi vay bằng 0 và EBIT giảm 9,8% đã làm giảm độ lớn

độ lớn của đòn bẩy tài chính xuống 1 lần, kết quả là tỷ lệ thay đổi của ROE trong năm < 0, có nghĩa là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, một đồng vốn chủ sở hữu

năm 2012 tạo ra ít lợi nhuận hơn dẫn hiệu quả tài chính giảm xuống.

Tóm lại, việc công ty thực hiện chính sách không huy động nguồn vốn vay đang làm đòn bẩy tài chính giảm dẫn đến hiệu quả tài chính giảm theo hay kết cấu nguồn vốn của công ty không cân xứng nên cho dù rủi ro tài chính giảm nhưng hiệu quả sinh lời vẫn giảm.

48

2.3. Đánh giá cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức

Sau khi đánh giá tình hình tài chính của công ty trong năm 2012, cùng với những

tìm hiểu thực tế về tình hình hoạt động của công ty và kiến thức cá nhân. Em xin đưa ra một số đánh giá về cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức trong năm qua.

2.3.1. Đánh giá cấu trúc tài sản

a. Tài sản ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền: Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty

ổn định và vẫn đang ở mức an toàn với việc tăng lượng tiền mặt cất trữ tại công ty trong năm 2012 giúp công ty có thể đáp ứng ngay được nhu cầu thanh toán với nhà

cung ứng, giúp nhà cung cấp và khách hàng tăng niềm tin đối với công ty như vậy sẽ

dễ dàng đặt được hàng hơn cũng như có thể tận dụng các cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên

nếu dự trữ quá nhiều sẽ gây lãng phí vốn, có thể bị mất giá do lạm phát. Công ty cần xem xét tính toán mức dự trữ hợp lý, tái đầu tư vào dây chuyền sản xuất, nâng cao chất

lượng sản phẩm hoặc có thể đầu tư vào các dự án ngắn hạn, trung hạn mang lại lợi

nhuận cho công ty.

Phải thu ngắn hạn: Giá trị khoản phải thu khách hàng trong giai đoạn từ năm

2010-2012 đều tăng cụ thể năm 2010 là 1.000.050.400 đồng tăng lên 1.263.510.724

đồng năm 2011 và tới năm 2012 là 1.547.181.824 đồng. Nguyên nhân chính là do

công ty nới lỏng chính sách tín dụng và không tích cực đôn đốc thu hồi nợ đã làm tăng khoản phải thu khách hàng. Việc khách hàng chiếm dụng vốn tăng như vậy dễ dẫn đến

khả năng khách hàng không thanh toán được nợ, gây rủi ro cho công ty. Công ty cần

có các chính sách như tăng chiết khấu thanh toán cho khách hàng để khuyến khích

thanh toán sớm.

Hàng tồn kho: Hàng tồn kho của công ty cần có những thay đổi bởi với chính

sách hiện nay của công ty là không dự trữ hàng tồn kho điều đó có thể đem lại rủi ro

rất lớn cho công ty như có thể mất đi khách hàng do không thể đáp ứng kịp thời những

đơn hàng bổ sung từ phía khách hàng từ đó có thể ảnh hưởng đến doanh số và lợi nhuận, có thể còn gây ra sự không hài lòng đối với khách hàng, làm mất uy tín công ty.

Tóm lại, trong kết cấu của tài sản ngắn hạn công ty đang có sự mất cân đối về tỷ trọng đầu tư. Công ty tập trung quá nhiều vào dự trữ tiền và phải thu khách hàng, trong khi đó không quan tâm đến đầu tư vào hàng tồn kho. Điều này khiến cho chi phí quản lý phải thu khách hàng cũng như chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng, mặt khác rủi ro về mặt doanh thu khi không có hàng tồn kho lớn. Những điều này tác động làm giảm khả năng sinh lời của công ty (ROA giảm).

49

b. Tài sản dài hạn

Tài sản cố định: do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần

vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm. Nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày cành mở rộng đòi hỏi phải tiến hành

đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm dự trữ tài sản lưu động. Tức

là, thực hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sản xuất. Trong thời đại của tiến bộ công

nghệ diễn ra rất mạng mẽ, nhiều máy móc, thiết bị… nhanh chóng bị rời vào trạng thái

lạc hậu công nghệ nên phải tiến hành đầu tư mới, nhằm thay thế các tài sản sản xuất đã bị hao mòn vô hình. Do đó được doanh nghiệp chú trọng và luôn chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng tài sản.

2.3.2. Đánh giá cấu trúc nguồn vốn

a. Nợ phải trả Nợ phải trả: Tính tự chủ về mặt tài chính của công ty là rất tốt không phải phụ

thuộc vào chủ nợ như từ năm 2010 về trước. Sự thay đổi về chính sách chiến lược kinh

doanh khiến tỷ trọng nợ phải trả trong 2 năm gần nhất luôn ở mức thấp hơn 25% và sẽ

được duy trì trong những năm tiếp theo.

Phải trả người bán tăng cao do sự tăng về mặt giá trị của giá vốn hàng bán từ

5.751.702.576 đồng năm 2011 lên 7.098.717.064 đồng năm 2012, mặt khác uy tín của

công ty là rất tốt được sự tin tưởng cao nên đươc hưởng nhiều quyền lợi, chế độ ưu đãi từ tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp giúp công ty tạo nguồn vốn mà không hề

phải trả lãi suất mà đã có ngay trong quỹ của công ty.

Người mua trả tiền trước ngày càng tăng về mặt giá trị giúp công ty có thêm vốn

để phục vụ sản xuất kinh doanh.

Thành tích trong việc hạn chế sự gia tăng của các chi phí như chi phí tài chính đặc

biệt là chi phí lãi vay không còn trong 2 năm trở lại đây. Khoản mục thuế và các

khoản phải nộp nhà nước chưa ổn định do sự thay đổi của doanh thu và chi phí sản

suất kinh doanh.

Phải trả người lao động không ngừng tăng cho thấy sự chậm trễ trong việc trả lương thưởng cho nhân viên trong công ty. Chính vì vậy công ty đã và đang làm hết

sức có thể để hạn chế sự gia tăng của khoản mục này, đồng thời tăng mức thưởng hàng tháng cho các cá nhân suất sắc, có kết quả lao động tốt giúp tạo tâm lý, động lực cho nhân viên làm việc và phát huy sở trường của mình.

Phải trả nội bộ và quỹ khen thưởng phúc lợi hàng năm không có biến động với

giá trị 10.104.437 đồng.

Tóm lại, trong kết cấu nợ phải trả, công ty chủ yếu sử dụng phải trả người bán cho thấy công ty đang chịu tác động không nhỏ của các điều kiện xung quanh khoản

50

mục này như chi phí lãi vay, thời gian đáo hạn,… dễ dẫn tới tăng rủi ro và mất cân

bằng tài chính. Công ty có thể cân nhắc sử dụng hợp lý nguồn vay nợ từ ngân hàng để

giảm thiểu rủ ro và cân bằng tài chính.

b. Nguồn vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu: Công ty duy trì mức độ tự chủ ổn định về mặt tài chính cao

trong hai năm gần nhất 2011 và 2012, hệ số vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao, năm

2012 tỷ trọng là 77,7%. Công tác xây dựng nguồn vốn đạt được một số thành tích.

Trong 3 năm công ty đã thay đổi cơ cấu nguồn vốn bằng việc tăng dần tỷ trọng vốn CSH bên cạnh đó là việc nợ phải trả giảm mạnh trong năm 2011 tới 98% và tăng nhẹ

vào năm 2012. Chính sự thay đổi này giúp cho công ty giảm thiểu rủi ro, không phụ

thuộc vào chủ nợ, tăng tính tự chủ tài chính đảm bảo tình hình tài chính công ty nhất

khi kinh tế có nhiều biến động trong thời điểm hiện nay.

Mô hình tài trợ vốn rất an toàn và thận trọng vời nguồn tài trợ có tính ổn định cao

tỷ trọng nợ phải trả rất nhỏ và hầu như tất cả tài sản đều được tài trợ bằng nguồn vốn

an toàn đó là nguồn vốn chủ sở hữu, công ty không phải chịu áp lực về khả năng thanh

toán do có nguồn vốn chủ sở hữu lớn.

Nhận xét:

Thông qua việc phân tích thực trạng cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng

Đức ta đã phần nào thấy được những thành quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế trong hoạt động tài chính công ty. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì ý nghĩa

của công tác phân tích không phát huy tác dụng. Do đó, đề tài sẽ đi tiếp để đưa ra một

số đề xuất, kiến nghị nhăm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty từ

những công tác phân tích cấu trúc tài chính đã thực hiện.

51

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA

CÔNG TY TNHH HOÀNG ĐỨC

3.1. Định hƣớng phát triển công ty TNHH Hoàng Đức

Một công ty muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì trước tiên cần phải có một định

hướng phát triển đúng đắn. Nhận thức được vấn đề này Công ty TNHH Hoàng Đức đã

xây dựng cho mình định hướng phát triển trong thời gian tới như sau:

Chuyển một phần sang kinh doanh báo online.

Xác định thị trường mục tiêu (Báo giấy thường được những người trung niên,

những người có tuổi ưa thích vì dễ dàng đọc và lưu trữ).

Thực hiên liên kết, hợp tác với đối tác là các tòa soạn, tác giả để tìm ra và đáp ứng

nhu cầu của khách hàng. Tiếp tục tìm kiếm các đối tác mới để tạo đầu ra phong phú

đáp ứng nhu đa dạng cầu thị trường.

Đầu tư trang thiết bị, máy móc, công nghệ mới cho công ty.

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Nâng cao năng lực bộ máy quản lý. Quan tâm

nhiều hơn tới người lao động giúp họ nâng cao khả năng làm việc, tính ổn định nhân

sự luôn được đặt lên hàng đầu.

Có thể thông qua các phương tiện truyền thông nhằm quảng bá thương hiệu của

công ty rộng rãi hơn nữa, để nhiều khách hàng và nhà đầu tư biết đến hơn nữa.

Bảo đảm cân đối thu, chi, sử dụng và đầu tư có hiệu quả. Từ đó tạo niềm tin cho khách hàng, cho đối tác và tạo lợi thế trong việc huy động vốn phục vụ theo yêu cầu

kinh doanh. Cân nhắc các chính sách về tài chính để tìm ra phương án quản lý tài

chính tốt nhất trong thời kì khó khăn này.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức

Để ngày càng phát triển nhanh và bền vững; mở rộng kinh doanh ra ngoài phạm vi thành phố Hà Nội; phát huy hết công suất nguồn lực tránh lãng phí nguồn đồng tư đồng thời sử dụng hiểu quả nguồn vốn và tài sản;… thì việc đầu tiên công ty cần chú

trọng tới đó là xây dựng cho mình một cấu trúc tài chính hợp lý và an toàn. Điều đó

đòi hỏi công ty cần phải phát huy hơn nữa những cái đã đạt được đồng thời khắc phục những hạn chế về đặc điểm cấu trúc tài chính của mình. Sau đây là một số giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính của công ty TNHH Hoàng Đức.

52

3.2.1. Lập dự toán tiền và cân bằng tài chính ngắn hạn

Vì trong những năm gần đây lượng tiền của doanh nghiệp còn rất ít nên mỗi lần

cần đến tiền công ty thường phải đi vay hoặc nợ người bán một thời gian mới trả. Vì vây, cần phải xây dựng kế hoạch cho việc dự trữ tiền đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh

doanh của công ty và thường thì ta lên kế hoạch trong tháng.

Phần thu: ta phải liệt kê tính toán tất cả các khoản mục có thể thu được trong tháng

của doanh nghiệp như: thu do khách hàng nợ, thu do lãi tiền gửi, thu do bán hàng,

cung cấp dịch vụ…

Phần chi: bên cạnh việc dự toán phần thu thì ta cũng xác định trong tháng ta cần

chi những khoản mục nào và tổng khoản chi trong tháng cho các khoản mục đó là bao

nhiêu. Chẳng hạn như: chi trả lương công nhận viên, mua nguyên vật liệu, công cụ

dụng cụ. Do đó, ta cần phải tính cho nó một lượng tiền dự trữ thích hợp.

Từ việc tính toán liệt kê trên thì ta thấy phần thu bù cho phần chi nếu thấy còn

thiếu thì ta nên dự trữ một lượng tiền để đáp ứng nhu cầu kinh doanh trong tháng. Mặt

khác ta cũng cần phải lên được kế hoạch chi tiết là sẽ thu và chi tiền vào ngày nào

trong tháng để có thể cung ứng lượng tiền đúng và kịp thời tránh tình trạng lãng phí

vốn hay là không có tiền để chi trả đúng hẹn.

Vì lý do trên đây mà công ty cũng cần phải có một chính sách dự trữ tiền hợp lý,

vừa đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng ngày, không dư thừa quá mức dễ dẫn đến số vốn nhàn rỗi quá nhiều, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.

Muốn như vậy theo em công ty cần phải quản lý từng khâu trong quá trình thu, chi tiền

mặt để trên cơ sở đó công ty có thể năm bắt kịp thời số lượng vốn bằng tiền hiện có để

kịp thời có những chính sách, biện pháp điều chỉnh phù hợp hơn. Đồng thời để duy trì

một lượng vốn bằng tiền phù hợp, công ty cần phải lập kế hoạch vốn bằng tiền thông

qua đó có thể phân tích được dòng tiền thu, dòng tiền chi và nợ tới hạn của công ty. Từ

đó công ty có thể dự toán được nguồn thu, chi trong tháng để có kế hoạch huy động

vốn phù hợp.

Nội dung thực hiện biện pháp:

53

Bảng 3.1. Bảng báo cáo kế hoạch vốn bằng tiền năm 2013

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ Tiêu Quý I Quý II Quý III Quý IV Tổng cộng

I. Dòng tiền thu

1. Thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ

2. Tiền thu từ hoạt động khác

II. Dòng tiền chi

1. Tiền trả nhà cung cấp

2. Tiền trả công nhân viên

3. Nộp thuế nhà nước

4. Các khoản chi khác

III. Chênh lệch thu chi

1. Tiền tồn đầu kỳ

2. Tiền tồn cuối kỳ

3. Tồn tối thiểu

4. Số tiền thừa

5. Số tiền thiếu

Với tình hình cải thiện trên sẽ giúp công ty dự trữ một lượng tiền phù hợp để đảm

bảo khả năng thanh toán cho các nhà cung cấp nhằm được hưởng những khoản chiết

khấu theo giá bán buôn, những điều kiện thuận lợi như mua nguyên vật liệu với giá

hấp dẫn, bên cạnh đó công ty cần phải xem xét giữa chi phí nhận được và chi phí khi

đi vay tiền thì khoản nào lợi ích hơn.

Bên cạnh đó việc sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi của công ty cũng cần đề cấp tới,

nhàn rỗi ở đây là các khoản tiền chưa được huy động vào hoạt động kinh doanh. Công

ty có thể sử dụng để tái đầu tư vào dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm

hoặc có thể đầu tư vào các dự án ngắn hạn, trung hạn với mục đích sinh lời và có thể mở rộng quy mô vốn của công ty. Song song với việc đầu tư kinh doanh trên công ty

cần chú trọng công tác thu hồi vốn tránh tình trạng ứ đọng vốn.

3.2.2. Quản lý chặt chẽ khoản phải thu

Qua phân tích tình hình phải thu trong ba năm 2010-2012 ta nhận thấy giá trị

khoản mục phải thu khách hàng đang tăng dần qua các năm, do đó ta cần có những

chính sách để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hồi nợ. Cách thức thực hiện biện pháp này như sau: thiết lập báo cáo theo dõi tình hình khách hàng. Từ đó ta có thể quan sát được khoản nợ nào đã trả, khoản nợ nào chưa trả, khoản nợ nào quá hạn và quá hạn

54

bao nhiều ngày. Để căn cứ vào đó lập kế hoạch xử lý đối với các khoản nợ quá hạn

như: gửi thông báo tới khách hàng, nhắc nhở khách hàng về khoản nợ thông qua các

phương tiện thông tin, đưa ra những hậu quả nếu khách hàng không thanh toán, kiện cáo nhờ trợ giúp từ pháp luật,…

Bảng 3.2. Bảng theo dõi tình hình công nợ khách hàng

Tháng…Năm…

Tên

khách Phát sinh nợ Phần thanh toán Theo dõi nợ quá hạn

hàng

Ngày Hạn Giá trị Ngày Giá trị Còn Thời Giá trị Thanh

chứng thanh nợ trả trả lại quá gian toán

từ toán hạn

quá hạn nợ quá hạn

Tổng

Song song với việc thiết lập báo cáo theo dõi tình hình khách hàng công ty cũng

cần thiết lập các khoản dự phòng. Do hiện nay công ty chưa tiến hành lập các khoản

dự phòng đặc biệt là dự phòng phải thu khó đòi. Bởi khoản mục nợ phải thu chiếm tỷ

trọng khá lớn, lớn thứ 2 sau TSCĐ trên tổng tài sản. Vì vậy công ty cần tiến hành trích

lập các khoản phải thu khó đòi. Đồng thời dự phòng làm tăng thêm tính thận trọng

trong sản xuất kinh doanh, giúp đơn vị tránh những rủi ro đáng tiếc.

3.2.3. Giải pháp huy động thêm nợ để tài trợ cho tài sản

Trong những năm tới công ty cần đặc biệt quan tâm đẩy mạnh công tác huy động

thêm nợ để tài trợ cho tài sản: cố gắng duy trì và tăng trưởng tài sản hiện có, chủ động nghiên cứu thị trường để có phương án mới hợp lý hơn. Thực hiện xây dựng chiến lược huy động nợ phải luôn đi đôi với chiến lược sử dụng nó như thế nào để không

phải chịu áp lực lớn về chi phí và làm giảm hiệu quả hoạt động huy động của công ty. Em xin mạnh dạn đưa ra đưa ra một số giải pháp cho công ty trong công tác huy động nợ để tài trợ cho tài sản như sau:

Thứ nhất, tham gia vào thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán luôn là

nơi huy động hiệu quả nhất, lượng tiền này dài hạn và đủ sức phục vụ cho kế hoạch đầu tư lâu dài. Trước tiên hãy bán cổ phiếu cho cổ đông tuỳ ý theo số tiền cần có.

Những lần sau khi cần huy động thêm thì lại bán nốt số cổ phiếu còn lại hoặc là đăng

55

ký mới. Sau đó mỗi khi muốn tăng vốn, công ty sẽ bán nốt số cổ phiếu còn giữ lại lúc

đầu, hay phát hành một đợt cổ phiếu mới.

Thứ hai, chủ doanh nghiêp vay vốn bằng chữ “Tín”. Chưa bao giờ chữ “Tín” đối với doanh nhân lại quan trọng như thời kỳ thắt chặt tiền tệ ngân hàng thế này. Dùng

chữ “Tín” để sử dụng vốn của khách hàng đối tác và tận dụng vay vốn từ gia đình, bạn

bè là cách phổ biến của các doanh nghiệp hiện nay.

Sử dụng vốn của đối tác khách hàng: kéo dài thời hạn thanh toán với bạn hàng là

cách mà nhiều doanh nghiệp làm để tạo nguồn vốn. Khoản này không phải trả lãi suất mà đã có ngay trong quỹ của chính doanh nghiệp. Các bạn hàng thường nể nang sẽ

thông cảm và không vì thế mà gây khó dễ cho công ty. Bên cạnh đó là việc huy động

vốn từ các bạn hàng với thoả thuận đặt tiền trước lấy hàng sau. Cả công ty và khách

hàng đều có lời vì công ty huy động được vốn rẻ hơn còn khách cũng có được cái mình muốn.

Vay vốn từ người thân: những người thân như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…

chính là một nguồn vốn rất dồi dào. Có thể họ là những người thành công trong kinh

doanh và chưa có ý định đầu tư gì hay đó là các khoản họ tích góp được, khoản thừa

hưởng hay ngoại hối. Huy động nguồn vốn này không khó khăn nếu bạn trả cho họ

mức lãi suất cao hơn mức lãi suất của ngân hàng huy động (nhưng thấp hơn mức lãi

suất ngân hàng cho doanh nghiệp vay). Nên thoả thuận ngày từ đầu đây là khoản vay chứ không phải khoản góp vốn và nên trả ngay khi có thể vì công việc kinh doanh thì

mạo hiểm và có khi không được như ý muốn.

3.2.4. Giải pháp xác định mức dự trữ tồn kho

Với mục đích đảm bảo trong kho luôn có một lượng hàng “tối thiểu”, phục vụ yêu

cầu khách hàng. Định mức hàng tồn kho tối thiểu vừa phải đáp ứng yêu cầu của khách

hàng về số lượng hàng hoá, vừa phải hạn chế mức thấp nhất chi phí hàng tồn kho cho

công ty.

Định mức tồn kho tối thiểu được xem xét hàng quý. Trước ngày 5 của quý sau, trưởng phòng lập báo cáo của mức tồn kho của các tháng trong quý trước, so sánh định

mức tồn kho của các kỳ trước. Lý giải nguyên nhân tăng, giảm của định mức tồn kho trình giám đốc xem xét.

Việc xây dựng định mức dự trữ tồn kho được thực hiện theo các bước sau:

Bƣớc 1: Lập báo cáo bán hàng qua từng tuần, theo từng tháng, theo quý.

Bƣớc 2: So sánh mức bán hàng theo từng quý, từng tháng khác nhau.

Bƣớc 3: Phát hiện các chu kì bán hàng trong năm.

Bƣớc4: Các tuần, tháng, quý số lượng bán hàng gần giống nhau được gom lại.

56

Bƣớc 5: Xác định số lượng bán hàng trung bình của các khoảng thời gian giống

nhau trung bình tháng, trung bình quý.

Bƣớc 6: So sánh mức độ chênh lệch giữa các khoảng thời gian giống nhau vào

trung bình tháng, trung bình quý.

Bƣớc 7: Nếu chênh lệch không quá 10% tức là không có bán hàng theo mùa, công

ty sử dụng định mức bán hàng trung bình theo năm, chênh lệch quá 10% thì phải tính

định mức theo mùa.

Bảng 3.3. Bảng định mức hàng tồn kho tối thiểu

Khách hàng: Mã hàng:

Mặt hàng: Thời gian sản xuất:

STT Tên hàng hoá, nguyên Số lƣợng tồn kho Đơn vị Ghi chú Quy

phụ liệu tối thiểu cách

3.2.5. Giải pháp tăng cường đầu tư tài sản cố định

Qua quá trình phân tích trên ta thấy được tình hình về TSCĐ của công ty mặc dù

chiếm tỷ trọng lớn nhưng đang giảm dần, vì vậy ta cần có một chính sách đầu tư nâng

cấp TSCĐ. Trong tình hình hiện tại của công ty thì rất khó để mua sắm hay thay mới hàng loạt được. Do đó công ty có thể mua một số máy móc thiết bị chủ đạo để phục vụ

cho việc sản xuất. Hoặc công ty có thể sử dụng biện pháp là đi thuê tài chính vì với phương thức này công ty không bỏ vốn đầu tư mà phải trả tiền thuê hàng tháng, phải

chịu trách nhiệm bảo dưỡng,… Sau thời gian ký hợp đồng công ty có thể mua lại với giá trị thấp. Đặc điểm của các sản phẩm in hiện tại của công ty đòi hỏi các tiêu chí khắt khe về chất lượng lẫn hình thức đòi hỏi các máy móc phải hiện đại có thích ứng với công nghệ cao do đó công ty cần cân nhắc thật sự kỹ lưỡng trước khi lựa chọn, mua và sử dụng một máy móc để đạt đúng tiêu chuẩn sản phẩm đặt ra và việc đầu tư này cũng phù hợp với những chính sách của công ty.

57

KẾT LUẬN

Trong điều kiện cạnh trang gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề

hoàn thiện và nâng cao cấu trúc tài chính có vai trò hết sức quan trọng của các doanh

nghiệp nói chung và công ty TNHH Hoàng Đức nói riêng. Giúp doanh nghiệp không những giải quyết được những khó khăn hiện tại mà còn có thể giải quyết được những

khó khăn trong tương lai, việc phân tích cấu trúc tài chính là một hoạt động rất quan

trọng đối với mỗi đơn vị kinh doanh. Qua phân tích chúng ta đánh giá được hiệu quả

của việc sử dụng vốn, tình hình phân bổ tài sản trong doanh nghiệp. Phân tích cấu trúc

tài chính giúp doanh nghiệp thấy được tình hình tài chính của mình ở hiện tại và cả trong tương lai để từ đó có kế hoạch tài chính tốt hơn.

Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Hoàng Đức, em đã tìm hiểu và nghiên cứu tình hình tài chính tại công ty trong ba năm qua. Qua tìm hiểu, em nhận thấy được

tình hình tài chính của công ty, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế gây bất lợi đối với

công ty trong tương lai. Do tính phức tạp của vấn đề, trình độ năng lực còn nhiều hạn

chế nên khóa luận còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo từ các thầy

cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn để có thể hoàn thiện hơn về đề tài của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) GS.TS. Ngô Thế Chi, PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ, “Phân tích tài chính doanh

nghiệp”, Nhà xuất bản tài chính Hà Nội, năm 2008, tr 10-11.

2) TS. Phan Đức Dũng, “Phân tích và dự báo kinh doanh”, NXB lao động xã hội, năm

2011, Chương I, tr7-8.

3) PGS.TS Lê Công Hoa, TS. Nguyễn Thành Hiếu, “Giáo trình Nghiên cứu kinh doanh”,

NXB Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012, tr 6-7.

4) PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm – TS. Bạch Đức Hiền, “Tài chính doanh nghiệp”, NXB

học viện tài chính, năm 2008, Chương I, tr 6-7.

5) TS. Nguyễn Thanh Liêm, “Quản trị tài chính”, Nhà xuất bản thống kê Đà Nẵng,

năm 2007, phần III, tr78-80.

6) PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang, “Phân tích hoạt động kinh tế”, NXB giáo dục Việt Nam,

năm 2012, trang 98.

7) TS. Trương Bá Thanh (Chủ biên), Th.s Trần Đình Khôi Nguyên, “Phân tích tình hình

kinh doanh”, NXB giáo dục, năm 2001, Phần II, tr 20.

8) “Giáo trình phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiêp”, NBX xây dựng, Chương

VII, tr 104

9) Arnol Glen, 2008, “Corporate financial management”, 4th ed, Pearson education

limited, pg 25-35.

10) Fabozzi Frank, j. and Peterson Pamela P., 2003, “Financial management and analysis”,

2nd ed, John Wiley and Sons, Inc., publisher, New Jersey Canada.

11) Paramasivan, C. and Subramanian, T. 2009, „Financial management., Published by New

Age International (P) Ltd., Publishers 4835/24, New Delhi-10002.

PHỤ LỤC

Báo cáo tài chính năm 2010-2012:

- Bảng cân đối kế toán 2010-2012 - Báo cáo kết quả kinh doanh 2010-2012