BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ

THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC

SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM VĂN VINH

MÃ SINH VIÊN : A19767

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH

Hà Nội – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ

THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC

Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Đỗ Trƣờng Sơn

Sinh viên thực hiện : Phạm Văn Vinh

Mã sinh viên : A19767

Chuyên ngành : Tài chính

Hà Nội – 2014

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thăng Long, để

hoàn thành chương trình học của mình, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân thì

điều không thể không nhắc đến đó là công lao của thầy cô. Quý thầy cô đã từng bước hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức quý báu là những hành trang vô giá giúp

tôi vững bước trong công việc thực tế sau này.

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường Đại học Thăng Long,

các thầy cô giáo khoa Kinh tế đã giảng dạy tôi trong bốn năm qua. Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy ThS Đỗ Trường Sơn, thầy đã dành nhiều thời gian quý báu để hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc, các anh chị ở phòng Kế toán đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cũng như

hướng dẫn thêm những kiến thức thực tế để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp trong suốt thời gian thực tập tại Công ty.

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Sinh viên

Phạm Văn Vinh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Phạm Văn Vinh

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ....... 1 1.1. Bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp ................................................. 1 1.1.1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp ................................................................ 1 1.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp .................................................................... 1 1.1.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp ............................................................. 2 1.2. Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp .............................. 3 1.2.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................ 3 1.2.2. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................ 4 1.2.3. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................... 4 1.2.4. Ý nghĩa của phân tính tài chính doanh nghiệp ................................................. 6 1.2.5. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp ............................. 7 1.2.5.1. Thông tin chung ................................................................................................. 7 1.2.5.2. Thông tin theo ngành kinh tế ............................................................................. 7 1.2.5.3. Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp ............................................... 7 1.2.6. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp ............................................... 8 1.2.6.1. Phương pháp so sánh ........................................................................................ 8 1.2.6.2. Phương pháp tỉ lệ .............................................................................................. 9 1.2.6.3. Phương pháp Dupont ....................................................................................... 10 1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp ...................................................... 12 1.3.1. Phân tích bảng cân đối kế toán ........................................................................ 12 1.3.1.1. Phân tích kết cấu và biến động tài sản ............................................................ 12 1.3.1.2. Phân tích biến động và kết cấu nguồn vốn ...................................................... 13 1.3.1.3. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn .......................................... 14 1.3.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ............................ 15 1.3.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ ............................................................... 17 1.3.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính ........................................................................ 17 1.3.4.1. Phân tích các chỉ tiêu thanh toán .................................................................... 17 1.3.4.2. Phân tích các hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư ........................... 19 1.3.4.3. Phân tích nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động .............................................. 21 1.3.4.4. Phân tích nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời ........................................... 23 1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc phân tích tài chính doanh nghiệp .............. 25 1.4.1. Các nhân tố chủ quan ....................................................................................... 25 1.4.2. Các nhân tố khách quan ................................................................................... 26 CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC ......................................... 29 2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc ............................................................................................................................... 29

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty ............................................. 29 2.1.1.1. Thông tin chung về Công ty ............................................................................. 29 2.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển ...................................................................... 29 2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ................................... 30 2.1.2.1. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty .......................................... 30 2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc ......................................................................................................................... 30 2.2. Phân tích tình hình tài chính Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc .................................................................................................................... 32 2.2.1. Phân tích bảng cân đối kế toán ........................................................................ 32 2.2.1.1. Phân tích biến động tài sản ............................................................................. 32 2.2.1.2. Phân tích kết cấu và biến động nguồn vốn ...................................................... 38 2.2.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ........................................... 42 2.2.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ ............................................................... 48 2.2.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính ........................................................................ 51 2.2.4.1. Phân tích chỉ tiêu thanh toán ........................................................................... 51 2.2.4.2. Phân tích hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư .................................. 53 2.2.4.3. Phân tích nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động .............................................. 55 2.2.4.4. Phân tích nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời ........................................... 58 2.3. Đánh giá chung về tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc ............................................................................................ 60 2.3.1. Ưu điểm .............................................................................................................. 60 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................................. 61 CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC ............ 63 3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc .................................................................................................................... 63 3.1.1. Mục tiêu phát triển ............................................................................................ 63 3.1.2. Định hướng phát triển....................................................................................... 63 3.2. Các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc ............................................................................................. 64 3.2.1. Giảm khoản phải thu bằng cách tăng thu hồi nợ ............................................ 64 3.2.2. Gia tăng hiệu quả kinh doanh .......................................................................... 65 3.2.3. Giải pháp thiện hiệu quả sử dụng vốn ............................................................. 66 3.3. Một số đề xuất, kiến nghị .................................................................................... 67

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Bảng 2.1. Cơ cấu và biến động tổng tài sản .................................................................. 33

Bảng 2.2. Tài sản ngắn hạn khác ................................................................................... 36

Bảng 2.3. Cơ cấu và biến động tổng nguồn vốn............................................................ 39

Bảng 2.4. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 2011 - 2013 ............................................. 43

Bảng 2.5. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh .......................................... 48

Bảng 2.6. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính .............................................. 50

Bảng 2.7. Khả năng thanh toán ngắn hạn ...................................................................... 51

Bảng 2.8. Khả năng thanh toán nhanh ........................................................................... 52

Bảng 2.9. Khả năng thanh toán tức thời ........................................................................ 53

Bảng 2.10. Tỷ số nợ ....................................................................................................... 53

Bảng 2.11. Tỷ số tự tài trợ ............................................................................................. 54

Bảng 2.12. Tỷ suất đầu tư TSCĐ................................................................................... 55

Bảng 2.13. Luân chuyển hàng tồn kho .......................................................................... 55

Bảng 2.14. Luân chuyển các khoản phải thu ................................................................. 56

Bảng 2.15. Luân chuyển vốn lưu động .......................................................................... 57

Bảng 2.16. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ..................................................... 58

Bảng 2.17. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) .................................................. 59

Bảng 2.18. Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH (ROE) ......................................................... 60

Bảng 3.1. Chiết khấu theo thời gian thanh toán ............................................................ 65

DANH MỤC VIẾT TẮT

CSH Chủ sở hữu

DH Dài hạn

ĐVT Đơn vị tính

HTK Hàng tồn kho

KCS Kiểm định chất lượng sản phẩm

NH Ngắn hạn

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ Tài sản cố định

TSDH Tài sản dài hạn

TSNH Tài sản ngắn hạn

TTS Tổng tài sản

VLĐR Vốn lưu động ròng

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việc gia nhập WTO đã làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa với những quy luật khắc nghiệt của nó đã có những

tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp

muốn đứng vững được trong quy luật cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường thì

doanh nghiệp phải làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thực sự mang lại hiệu quả và thu được lợi nhuận cao.

Để đáp ứng được nhu cầu đó thì công việc phân tích tình hình tài chính ngày

càng trở nên quan trọng. Tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp các nhà quản trị thấy rõ

được thực trạng hoạt động tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh

nghiệp cũng như xác định nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, thông tin,

từ đó đánh giá tiềm năng hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng

trong tương lại của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị đưa ra những giải pháp hữu hiệu,

kịp thời, chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, thực tế cho thấy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thường là các

doanh nghiệp có công tác phân tích tài chính doanh nghiệp nề nếp và thường xuyên.

Ngày nay ở Việt Nam, công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp dần trở nên quan

trọng, đóng vai trò lớn trong sự phát triển bền vững, lâu dài và toàn diện của doanh

nghiệp.

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính

đối với sự phát triển của doanh nghiệp, cùng với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy

cô trong khoa, đặc biệt là thầy ThS. Đỗ Trường Sơn và toàn thể các cô chú, anh chị

trong Công ty, em đã đưa ra lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính của Công

ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc” cho luận văn tốt nghiệp của

mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trước hết, khóa luận nhằm mục đích hoàn thiện những vấn đề lý luận về phân

tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Cụ thể nêu ra những nội dung, chỉ tiêu, phương pháp sử dụng khi phân tích.

Thứ hai, khóa luận nêu ra những nội dung phân tích về thực trạng của doanh nghiệp, bộ máy quản lý, công tác phân tích tài chính. Xem xét sự biến động của các chỉ tiêu tài chính, nhân tố khách quan, chủ quan có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp.

Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân tồn tại của công tác phân

tích tài chính.

Cuối cùng là đề xuất những giải pháp giúp Công ty cải thiện tình hình tài chính

trong năm 2014.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứ

Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính của Công ty TNHH Dịch vụ Thương

mại tổng hợp Hồng Phúc.

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng tài chính của Công ty TNHH Dịch vụ

Thương mại tổng hợp Hồng Phúc trong giai đoạn 2011 – 2013 và đề xuất định hướng

và giải pháp nâng cao khả năng tài chính trong năm 2014.

Phạm vi không gian: Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Dùng các phương pháp phân tích khác nhau như phương pháp so sánh, liên hệ

cân đối, tỷ lệ để phân tích tình hình tài chính theo các tiêu chí: hiệu quả tài chính, rủi

ro tài chính,…từ đó xác định được điểm yếu, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất biện

pháp cải thiện.

5. Kết cấu khóa luận

Đề tài có kết cấu 3 chương:

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp.

Chƣơng 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ

Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc.

Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty

TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc.

CHƢƠNG 1.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1. Bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp

1.1.1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái

giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh

nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu

chung của xã hội. Hay còn có thể nói tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn

trong quá trình kinh doanh.

Những quan hệ thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp gồm:

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước: Mối quan hệ này

được thể hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp phải có nghĩa

vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và ngược lại, nhà nước cũng có sự tài trợ về

mặt tài chính cho các doanh nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của mình.

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường: Kinh tế thị trường có đặc

trưng cơ bản là mối quan hệ kinh tế đều được thực thi thông qua hệ thống thị trường.

Thị trường hàng hóa tiêu dùng, thị trường hàng hóa tư liệu sản xuất, thị trường tài

chính,…và do đó, với tư các là người kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp không

thể tách rời hoạt động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố

đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh, bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đồng

thời vừa là người tham gia huy động và mua bán các nguồn tài chính nhàn rỗi của xã

hội.

Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp

với các phòng ban, phân xưởng, tổ sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán. Quan hệ

kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu

nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần,…

1.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu

vốn cho đầu tƣ kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao,...đã trở thành động lực và là một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế

1

thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn. Trong điều

kiện đó, các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác thu

hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình.

Tạo lập các đòn bẩy tài chính để kích thích, điều tiết các hoạt động kinh tế

trong doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn cần có sự phối hợp đồng bộ của

nhiều người, nhiều bộ phận với nhau, đặt trong các mối quan hệ kinh tế. Vì vây, nếu sử dụng linh hoạt, sáng tạo các quan hệ phân phối của tài chính để tác động đến các

chính sách lương, tiền thưởng và các chính sách khuyến khích vật chất khác sẽ có tác

động tích cực đến việc tăng năng suất, kích thích tiêu dùng, tăng vòng quay vốn và

cuối cùng là tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu người quản lý phạm phải những sai lần trong việc sử dụng các đòn bẩy tài chính và tạo nên cơ chế quản lý tài chính kém hiệu quả thì lại kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu tài chính như:

hệ số nợ, hiệu quả sử dụng vốn,…có thể dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt,

xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Để sử dụng có hiệu quả công cụ

kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán

kế toán, hạch toán thống kê, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy

trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

1.1.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp có ba chức năng chính là: Huy động và phân phối

nguồn vốn; phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; chức năng giám đốc.

Huy động và phân phối nguồn vốn

Mọi doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu

thông, dịch vụ đều có thể huy động vốn từ các nguồn sau:

Vốn do nhân sách nhà nước (đối với các doanh nghiệp nhà nước): được xác

định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó. Khi mới thành lập, số vốn được giao này bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định. Sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp vốn bổ sung cho doanh nghiệp để phục vụ việc phát triển sản xuất kinh doanh.

2

Vốn tự bổ sung: Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp, phần lợi nhuận

sau khi đã nộp thuế và phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có).

Vốn liên doanh, liên kết: là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp

khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Ngoài ra

còn có thể huy động vốn của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và trả lãi theo

lãi suất ngân hàng.

Phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Sau khi huy động và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả là việc tiêu

thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp cần tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Sau mỗi kì kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm giá vốn và

các chi phí phát sinh, nên các doanh nghiệp thường phân phối theo dạng sau:

Bước 1: Bù đắp cho phí phân bổ cho hàng hóa đã tiêu thụ. Gồm có trị giá vốn

hàng hóa, chi phí lưu thông và các chi phí khác, khấu hao máy móc.

Bước 2: Sau khi bù đắp các chi phí, phần còn lại được gọi là lợi nhuận. Phần lợi

nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế, phần còn

lại tùy thuộc vào chính sách của doanh nghiệp mà tiến hàng chia lãi liên doanh, trả lợi

tức cổ tức hoặc giữ lại đầu tư tiếp.

Chức năng giám đốc

Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính là công cụ kiểm tra, giám đốc

bằng đồng tiền với việc sử dụng chắc năng thước đo giá trị và phương tiện thanh toán

của tiền tệ. Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện thức năng phân

phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy mô của việc

phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹ tiền tệ.

Nội dung của giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn; giám đốc việc lập và chấp hàng các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính; giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính

sách về tài chính.

1.2. Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất 3

lượng hiệu quả hoạt đông của Công ty đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp,

giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù

hợp.

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp về thực chất là sử dụng các công cụ

và phương pháp phân tích thích hợp để làm rõ tình hình huy động và sử dụng vốn cũng

như sự biến động của từng nguồn vốn trong kì ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh

nghiệp. Qua đó tìm ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tình

hình huy động và sử dụng vốn, giúp nhà quản lí doanh nghiệp lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích huy động đảm bảo an ninh tài chính

Ngày nay, phân tích tài chính có xu hướng trở thành hệ thống xử lý thông tin

nhằm cung cấp dữ liệu cho những người ra quyết định tài chính. Phân tích tài chính là

cơ sở dự báo ngắn, trung và dài hạn. Phân tích tài chính giúp chúng ta đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc phân tích báo cáo tài chính.

1.2.2. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính giúp người sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sức

mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp. Vì vậy, phân tích tài

chính là mối quan tâm của nhiều đối tượng trong Công ty như: Hội đồng quản trị, ban

giám đốc, các trưởng phòng, các cổ đông… và đối tượng ngoài Công ty như: các nhà

đầu tư, các nhà cho vay, nhà bảo hiểm,…Trong đó, mỗi nhóm đối tượng lại có nhu cầu

sử dụng thông tin khác nhau nên có xu hướng tập trung vào nhưng khía cạnh khác

nhau của báo cáo tài chính. Tóm lại, phân tích tài chính cần đạt được những mục tiêu

cơ bản như sau:

Đầu tiên, phân tích tài chính phải cung cấp cho nhà quản trị và các đối tượng

quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp những thông tin chính xác, rõ ràng,

dễ hiểu đối với những người có trình độ tương đối về lĩnh vực này.

Thêm vào đó, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng cần cung cấp cho các nhà

đầu tư, chủ nợ và những đối tượng khác những đánh giá về rủi ro, cơ hội, lợi nhuận, thặng dư giá trị của vốn. Đồng thời cũng cũng cấp thông tin về nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả hoạt động kinh doanh các kì gần đây và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực.

1.2.3. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh 4

nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng,…kể cả cơ quan nhà nước và người làm

công, mối đối tượng lại quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp ở các khía cạnh

khác nhau.

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp

Để đạt được mục tiêu gia tăng giá trị doanh nghiệp, nhà quản trị tài chính phải

đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng thanh toán. Để duy trì khả

năng kinh doanh, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ chi phí cũng như quản lý sử

dụng tài sản hợp lý, tiết kiệm. Để duy trì khả năng thanh toán, Công ty phải có một cơ cấu tài chính hợp lý, phải quản lý tốt quá trình thu chi trong hoạt động kinh doanh. Vì

vậy, vai trò của phân tích tài chính đối với những người quản trị doanh nghiệp là phải phát hiện ra những tồn tại trong quá trình quản lý tài chính của mình để có những giải

pháp cụ thể trong kế hoạch tài chính nhằm đạt được mục tiêu tăng giá trị doanh

nghiệp.

Đối với các nhà đầu tƣ

Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý.

Vì vậy, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro

nên họ cần các thông tin chính xác về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả

kinh doanh và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh,

các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lời và triển vọng phát triển, từ đó đưa ra

các quyết định phù hợp. Các nhà đầu tư chỉ chấp nhận đầu tư vào một dự án được coi

là an toàn, tức là ít nhất phải có giá trị hiện tại ròng dương. Có nghĩa là lượng tiền mà

doanh nghiệp tạo ra đủ khả năng trả nợ và các khoản lãi cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó,

chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề

được quan tâm vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập của họ.

Đối với chủ nợ của doanh nghiệp

Việc phân tích chủ yếu tập trung vào khả năng thanh toán của doanh nghiệp, được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là khoản vay ngắn hạn thì người cho vay thường quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh, tức là khả năng trả nợ đối với các khoản nợ đến hạn. Nếu là khoản vay dài hạn thì người cho vay phải tin vào

khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì việc hoàn trả vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời này.

Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng thương mại, mối quan tâm của họ là khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản có khả năng thanh khoản nhanh, so sánh với nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số vốn 5

của chủ sở hữu, do số vốn này là khoản đảm bảo cho họ khi doanh nghiệp kinh doanh

thua lỗ. Các chủ nợ dài hạn thì sẽ tập trung vào vào cơ cấu tài chính và khả năng sinh

lời của vốn để đánh giá xem doanh nghiệp có sử dụng vốn hiệu quả không, vì hiệu quả sử dụng vốn có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong dài hạn.

Đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp

Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người

lao động của doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến các thông tin tài chính của doanh

nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến tiền lương của người lao động. Ngoài ra trong một số doanh

nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định. Như

vậy, họ cũng là những người chủ của doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm

gắn với doanh nghiệp.

Đối với cơ quan quản lý nhà nƣớc

Trong vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế, đưa ra những chính sách quản lý kinh

tế tài chính. Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà

nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá được những tác động của cơ chế và

chính sách quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, phân tích tài chính

còn giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính

tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp luật, tình

hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với khách hàng,…Từ

đó, có cơ sở điều chỉnh và hoàn thiện, không ngừng nâng cao hiệu quả của cơ chế

quản lý.

1.2.4. Ý nghĩa của phân tính tài chính doanh nghiệp

Hoạt động tài chính có mỗi liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài

chính doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác dụng thúc

đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, cần phải thường xuyên theo dõi kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó, công tác phân tích tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau:

- Qua phân tích tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

- Là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp, là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra quyết định trong tổ chức quản lý.

6

- Phân tích tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính

sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn,…

1.2.5. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.5.1. Thông tin chung

Là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp trong năm. Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tố đầu

vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và kết quả kinh doanh trong năm là khả quan. Tuy nhiên, những biến động bất lợi của tình hình kinh tế cũng tác động

không tốt đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.5.2. Thông tin theo ngành kinh tế

Là các thông tin về việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ

với các hoạt động chung của ngành kinh tế.

Đặc điểm của ngành kinh tế liên quan tới: tính chất của sản phẩm, quy trình kĩ

thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, nhịp độ phát triển của ngành kinh tế.

Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và các

thông tin khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về tình hình tài

chính của doanh nghiệp. Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu

trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận

chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp.

1.2.5.3. Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp

 Bảng cân đối kế toán

Là báo cáo tổng hợp, phản ánh toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định theo kết cấu: vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh. Kết cấu của bảng được chia làm 2 phần: Tài sản và nguồn vốn.

Phần tài sản: Thể hiện phần tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh. Được chia thành: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn; tài sản dài hạn và đầu tư dài hạn.

Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn vốn hình thành tài sản hiện có của doanh

nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Được chinh thành: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Bảng cân đối kế toán là nguồn thông tin quan trọng trong việc phân tích tài

chính, giúp đánh giá sự cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, cơ cấu vốn,…

7

 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh

tình hình kết cấu hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước. Nó bao gồm doanh thu bán

hàng và các khoản chi phí của Công ty trong thời gian hạch toán.

Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể

kiểm tra, phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tình hình tiêu thụ sản phẩm

của một kì kế toán.

Báo cáo kết quả kinh doanh được đánh giá cao hơn bảng cân đối kế toán trong

việc kiểm soát các mặt hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo kết quả kinh doanh

cung cấp nhưng thông tin tổng hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng

về vốn, quy mô dòng tiền,…

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong ba báo cáo bắt buộc mà bất kỳ doanh

nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp.

Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực tài sản và nguồn gốc của những tài

sản đó; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để

tính được kết quả lãi, lỗ trong kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập

ra để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào trong doanh nghiệp, tình hình thu,

chi ngắn hạn của doanh nghiệp. Những luồng vào ra của tiền và các khoản tương

đương tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất

kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt

động đầu tư…

1.2.6. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.6.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong phân tích

tài chính, là phương pháp xem xét một chỉ tiêu bằng cách dựa trên so sánh với một chỉ tiêu gốc để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích. Khi vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần chú ý đến 4 yếu tố: tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh, kỹ thuật so sánh và phương pháp so sánh.

- Điều kiện so sánh: Phải tồn tại ít nhất 2 chỉ tiêu và các chỉ tiêu phải đảm bảo tính so sánh được (tức là có sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường).

- Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh. Việc xác định

gốc so sánh phải tùy thuộc vào mục đích của phân tích.

8

- Thông thường trong phân tích hay sử dụng 2 kỹ thuật so sánh là kỹ thuật so sánh

bằng số tuyệt đối và kỹ thuật so sánh bằng số tương đối.

+ So sánh bằng số tuyệt đối cho thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu

phân tích. Công thức của kỹ thuật này như sau:

Y = Y1 – Y0

(Trong đó, Y: Trị số so sánh; Y0: Trị số gốc; Y1: Trị số phân tích)

+ So sánh bằng số tương đối cho thấy thực tế so với kỳ gốc chỉ tiêu tăng hay giảm bao nhiêu , phản ánh tốc độ tăng trưởng trong từng giai đoạn của chỉ tiêu. Công

thức của kỹ thuật này như sau:

Y1 – Y0 Y = x 100 Y0

(Trong đó, Y: Trị số so sánh; Y0: Trị số gốc; Y1: Trị số phân tích)

- Phương pháp so sánh thường được sử dụng dưới 2 dạng: So sánh theo chiều

ngang và so sánh theo chiều dọc.

+ So sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động về cả số tuyệt đối, tương đối của từng chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Qua đó,

xác định mức biến động về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của

từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.

+ So sánh dọc là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính của doanh

nghiệp. Thực chất việc phân tích theo chiều dọc trên các báo cáo tài chính là phân

tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống

báo cáo tài chính doanh nghiệp.

1.2.6.2. Phương pháp tỉ lệ

Nguồn thông tin kinh tế tài chính đã và đang được cải tiến, cung cấp đầy đủ

hơn, đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán. Phương pháp phân tích tỉ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỉ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Phương pháp phân

tích này giúp cho việc khai thác, sử dụng các số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc gián đoạn. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.

9

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các

nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động

của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả

năng sinh lời.

Mỗi nhóm tỉ lệ lại bao gồm nhiều tỉ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phân của hoạt

động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo góc độ phân tích, người phân

tích lựa chọn các nhóm, các chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình. Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng, ta sẽ thu được thông tin về

tình hình tài chính. Phân tích tỉ lệ cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vì một số

dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng nghiên cứu

riêng lẻ.

1.2.6.3. Phương pháp Dupont

Là kĩ thuật phân tích bằng cách phân tích các yếu tố cấu thành tỉ số ROA và

ROE để đánh giá tác động của từng bộ phân lên kết quả sau cùng. Với phương pháp

này, các nhà phân tích có thể nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng

tốt, xấu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ra quyết định cải thiện tình

hình tài chính của Công ty.

Mô hình Dupond có kĩ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của

một Công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupond tích

hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài

chính, người ta vận dụng mô hình Dupond để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu

tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân

tích theo một trình tự nhất định.

Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh

lợi của doanh nghiệp như là thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn

chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp.

ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay tài sản). ROA đối với các Công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và

phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Tài sản của một doanh nghiệp được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của Công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuân được thẻ hiện qua ROA, ROA càng cao thì càng tốt vì Công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

10

EBIT EBIT Doanh thu thuần ROA = = x TTS bình quân Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân

Từ công thức trên ta có thế thấy chỉ tiêu này được cấu thành từ hai yếu tố chính là tỷ suất lợi nhuận biên và vòng quay tổng tài sản. Doanh nghiệp có thể làm tăng tỷ

suất lợi nhuận biên bằng cách tăng doanh thu và giảm các chi phí quản lý, bán hàng.

Nhưng trển thực tế, hệ số lợi nhuận biên thường giảm do tốc độ tăng trưởng doanh thu

quá thâp so với tốc độ tăng chi phí, do các chi phí liên quan đến thuế như doanh nghiệp phải đóng thuế sau một năm được miễn giảm khiến hệ số lợi nhuận biên giảm.

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tăng số vòng quay tổng tài sản bằng cách sử dụng hiệu

quả hơn các tài sản sẵn có. Nói cách khác là hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, mang

lại doanh thu cao hơn từ những tài sản sẵn có.

Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mối đồng vốn cổ đông

thường. Là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao

nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ

phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của Công ty nào.

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ Công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn cổ

đông, có nghĩa là Công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi

vay để khải thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng

quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư.

EBT Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân ROE = x x Doanh thu thuần TTS bình quân Vốn chủ sở hữu

= Lợi nhuận ròng biên x Vòng quay TTS x Đòn bẩy tài chính

Qua khai triển công thức, ta thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố

chính là lợi nhuận ròng biên, vòng quay tổng tài sản và đòn bẩy tài chính có nghĩa là để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (tăng ROE) thì doanh nghiệp có ba sự lựa chọn

cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên. Thứ nhất, doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên. Thứ hai, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao số vòng quay tổng tài sản. Hay nói một cách dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ

11

những tài sản sẵn có. Thứ ba, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng

cách nâng cao đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư. Nếu

mức lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay vốn để đầu tư là hiệu quả.

Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích, các nhà phân tích nên tiến hành

so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng

trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số này bắt nguồn từ nguyên nhân nào trong ba nguyên

nhân kể trên, từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau.

Phương pháp phân tích Dupond có ưu điểm lớn giúp cho nhà phân tích phát

hiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp. Dùng phương pháp phân tích tài

chính Dupond có thể giúp doanh nghiệp xác định xu hướng hoạt động trong một thời

kỳ để có thể phát hiện ra những khó khăn và thuận lợi mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lai.

1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

1.3.1. Phân tích bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh giá trị của tài sản

và nguồn vốn của một tổ chức tại một thời điểm nào đó, thường là ngày cuối cùng của

kì kế toán.

1.3.1.1. Phân tích kết cấu và biến động tài sản

 Phân tích kết cấu tài sản

Có thể thực hiện phân tích bằng cách lập bảng phân tích tình hình phân bổ vốn,

trong đó lấy từng khoản vốn chia cho tổng số tài sản để biết được tỉ trọng của từng loại

vốn chiếm trong tổng số vốn là cao hay thấp. Tùy theo từng loại hình kinh doanh để

chúng ta xem xét. Nếu là doanh nghiệp sản xuất phải có lượng dự trữ về nguyên liệu

đầy đủ để đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nếu là doanh nghiệp thương mại thì phải có

lượng hàng đầy đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ kì tiếp theo,…

Tài sản lƣu động và đầu tƣ ngắn hạn

Trong bảng cân đối kế toán thì tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn bao gồm:

Vốn bằng tiền; Đầu tư tài chính ngắn hạn; Các khoản phải thu; Hàng tồn kho.

Tiền là một bộ phận của tài sản lưu động nhưng có tính thanh khoản cao nhất, dễ chuyển đổi thành tài sản khác nhất. Sự luân chuyển của nó liên quan đến hầu hết các giai đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp.

Đầu tư tài chính ngắn hạn là hoạt động tài chính dùng vốn để mua chứng khoán với mục đích hưởng lãi hoặc mua vào, bán ra chứng khoán để kiếm lời, hoặc bỏ vốn vào doanh nghiệp khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, mua cổ phần, góp vốn với

12

tư cách là một thành viên tham gia quản lý và điều hành Công ty liên doanh, Công ty

cổ phần nhằm chia sẽ lợi ích và trác nhiệm với doanh nghiệp khác.

Các khoản phải thu là các khoản cần phải thu do doanh nghiệp bán chịu hàng hóa, thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Trong điều kiện sản xuất thị trường và lưu

thông hàng hóa càng phát triển thì việc bán chịu ngày càng tăng để đẩy mạnh bán ra,

do vậy mà các khoản phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản phải

thu và có xu hướng tăng lên.

Hàng tồn kho là danh mục nguyên vật liệu và sản phẩm hoặc chính bản thân

nguyên vật liệu và sản phẩm đang được một doanh nghiệp giữ trong kho.

Các khoản mục trên được hình thành từ các nguồn chủ yếu sau: Ngân sách Nhà

nước cấp phát ban đầu, vốn doanh nghiệp tự bổ sung từ quỹ phát triển, vốn đi vay,…

Tài sản cố định và đầu tƣ dài hạn

Tài sản cố định là tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định thì tài sản cố định là tài sản phải có giá trị lớn (trên

30 triệu đồng) và có thời gian sử dụng trên một năm. Trong quá trình sử dụng thì tài

sản cố định bị hao mòn dần, giá trị hao mòn được chuyển hóa dần vào giá trị sản phẩm

sản xuất trong kì.

Các khoản đầu tư dài hạn là các khoản doanh nghiệp đầu tư vốn vào các doanh

nghiệp khác có thời gian đầu tư trên một năm.

Trong bảng cân đối kế toán thì tài sản cố định và đầu tư dài hạn bao gồm: Tài

sản cố định; Các khoản đầu tư dài hạn; Chi phí xây dựng cơ bản dở dang; các khoản kí

quỹ, kí cược dở dang. Các khoản mục này được hình thành từ vốn tự bổ sung, vốn vay

bên ngoài, vốn liên doanh, vốn góp từ cổ đông,…

 Phân tích biến động tài sản

Phân tích biến động theo thời gian được thực hiện bằng cách so sánh giá trị của

các chỉ tiêu ở các kì khác nhau với nhau. Việc so sánh được thực hiện cả về số tuyệt

đối và tương đối. Kết quả tính theo số tuyệt đối thể hiện mức tăng (giảm) của chỉ tiêu:

Mức tăng (giảm) = Số kì sau – Số kì trước

Kết quả tính theo số tương đối phản ánh tỷ lệ tăng giảm của chỉ tiêu:

Tỷ lệ tăng (giảm) = Mức độ tăng (giảm)/Mức độ kì trước

1.3.1.2. Phân tích biến động và kết cấu nguồn vốn

 Phân tích kết cấu nguồn vốn

Ngoài việc phân tích tình hình phân bổ vốn, các chủ doanh nghiệp, kế toán trưởng và các nhà đầu tư, các đối tượng quan tâm khác cần phân tích cơ cấu nguồn

13

vốn nhằm đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng

như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn và doanh nghiệp

phải đương đầu.

Phân tích kết cấu nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn và từng loại nguồn vốn

giữa cuối kì và đầu năm. Đối chiếu giữa cuối kì và đầu kì của từng loại nguồn vốn, qua

đó đánh giá xu hướng thay đổi của nguồn vốn. Trong bản cân đối kế toán, nguồn vốn

gồm có hai phần là: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Nợ phải trả là một phần vốn để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh. Nợ

phải trả bao gồm: vốn tín dụng và vốn chiếm dụng.

Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành

viên trong Công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong Công ty cổ phần. Được hình

thành từ ba nguồn là: vốn kinh doanh, tổng số tiền tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chêch lệch đánh giá lại tài sản.

 Phân tích biến động nguồn vốn

Nợ phải trả: Có tác động rất lớn đến việc bố trí cơ cấu nguồn vốn đảm bảo cho

hoạt động sản xuất kinh doanh và luôn có xu hướng tăng do doanh nghiệp muốn chiếm

dụng vốn của khách hàng, nhà cung cấp, chủ nợ,…Tỷ lệ nợ phải trả của doanh nghiệp

cao chứng tỏ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh chịu tác động của các nguồn lực bên

ngoài, phụ thuộc rất lớn vào chủ nợ, doanh nghiệp không chủ động được các nguồn

vốn sản xuất kinh doanh, điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng thanh toán

của doanh nghiệp.

Vốn chủ sở hữu: phản ánh số liệu về tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn

thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, các thành viên góp vốn trong Công ty. Vốn chủ sở

hữu có thể tăng do sự thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá;

các khoản biếu, tặng, tài trợ; vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp,…

1.3.1.3. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp được chia ra làm hai phần theo thời gian sử dụng là ngắn hạn và dài hạn. Mỗi loại tài sản có nguồn vốn hình thành tương ứng, tài sản ngắn hạn được hình thành từ nguồn vốn ngắn hạn, còn tài sản dài hạn

được hình thành từ nguồn vốn dài hạn.

Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi ngắn, trong vòng 12 tháng. Gồm có các chỉ tiêu: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nguyên vật liệu trong kho, các khoản phải thu ngắn hạn. Tương tự có tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 12 tháng.

14

Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử

dụng trong thời gian dài hơn một năm, bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu vào các khoản

nợ dài hạn khác. Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dưới một năm, gồm các nguồn huy động vốn dưới 12 tháng, các khoản nợ

ngắn hạn, các khoản chiếm dụng vốn,…

Việc phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn chính là phân tích chỉ số

vốn lưu động ròng. Vốn lưu động ròng là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và

nguồn vốn ngắn hạn.

Vốn lưu động ròng = TSNH – Nợ NH

Nếu VLĐR dương thể hiện nguồn tài trợ từ các nguồn vốn là tốt. Toàn bộ tài

sản cố định được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn một cách rất ổn định. Doanh nghiệp

không những đủ vốn dài hạn tài trợ cho các tài sản cố định của mình mà còn thừa để tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn. Đồng thời, khi VLĐR dương có nghĩa là tổng tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán

tốt, có thể trang trải được các khoản nợ ngắn hạn với vòng quay nhanh.

Nếu VLĐR âm, trong trường hợp này TSCĐ lớn hơn NVDH. Điều này có

nghĩa là doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho đầu tư dài hạn. Điều

này là khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay thì phải tìm ra nguồn khác để thay thế. Đây

chỉ là một giải pháp tình thế. Nếu điều này xảy ra liên tục thì sự tồn tại của doanh

nghiệp bị đe dọa, doanh nghiệp có thể bị đẩy tới giải pháp bán TSCĐ. Khả năng thanh

toán của doanh nghiệp không tốt và khả năng rủi ro cao do TSCĐ phải tài trợ bằng nợ

NH.

Nếu VLĐR bằng 0 chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng chiến lược quản lý vốn

dung hòa. Nguồn vốn dài hạn đủ để tài trợ cho tài sản cố định. Còn tài sản lưu động đủ

để trang trải cho nợ ngắn hạn. Đây là một chiến lược khá an toàn, vừa đảm bảo khả

năng sinh lời và khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.

1.3.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước trong một kỳ kế toán. Qua các chỉ tiêu bên BCKQHĐKD có

thể kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi tiêu sản xuất, giá vốn, doanh thu sản phẩm,…Ngoài ra, số liệu trên BCKQHĐKD có thể giúp đánh giá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kì khác nhau.

15

Doanh thu

Doanh thu được tạo ra từ dòng tiền vào xuất phát từ các hoạt động sản xuất

kinh doanh đang diễn ra trong doanh nghiệp.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ

doanh thu của doanh nghiệp. Nó phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất, phản ánh

trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, nó còn là

nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các chi phí về tư liệu lao động, đối

tượng lao động,…

Doanh thu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, để có thể khai thác

tiềm năng nhằm tăng doanh thu, cần phải tiến hành phân tích thường xuyên, đều đặn.

Chi phí

Chi phí là dòng tiền ra hoặc phân bổ dòng tiền ra trong quá khứ xuất phát từ các

hoạt động kinh doanh đang diễn ra trong doanh nghiệp.

Giá vốn hàng bán: là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị mua hàng hóa,

giá thành sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Giá vốn là yếu tố quyết định khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp.

Chi phí bán hàng: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản

phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động

quản lý doanh nghiệp, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung của toàn doanh

nghiệp.

Chi phí tài chính: bao gồm tiền lãi vay phải trả, chi phí bản quyền, chi phí hoạt

động liên doanh,… phát sinh trong kì báo cáo của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận trước hết phải quan tâm đến doanh thu. Tuy

nhiên, nếu chỉ quan tâm đến doanh thu mà bỏ qua chi phí thì sẽ là một thiếu sót lớn.

Nếu chi phí bỏ ra quá lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn lực không hiệu quả.

Lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp,

phản ánh kết quả việc sử dụng các nguồn lực.

Mục đích cuối cùng của tất cả các doanh nghiệp là tạo ra sản phẩm với giá thành thấp nhất và mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, tăng tích lũy và mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống cho người lao động. Ngược lại, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ sẽ dẫn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khó khăn, thiếu khả năng thanh toán, tình hình này kéo dài doanh nghiệp sẽ bị phá sản.

16

1.3.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính cung cấp thông tin về

những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của doanh nghiệp. Được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát

sinh trong kì báo cáo của doanh nghiệp. Lượng tiền phát sinh trong kì bao gồm vốn

bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền.

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua báo cáo lưu chuyển

tiền tệ, trước hết cần so sánh lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động kinh doanh với các hoạt động khác. Đồng thời so sánh từng khoản tiền vào và chi ra của các hoạt động để

thấy được tiền được tạo ra chủ yếu từ hoạt động nào, hoạt động nào thu được nhiều

tiền nhất, hoạt động nào sử dụng ít nhất. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc

đánh giá khả năng tạo tiền cũng như sức mạnh tài chính của doanh nghiệp.

Sức mạnh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải tiền tạo ra từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Vì

lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư dương thể thiện quy mô đầu tư của doanh

nghiệp là thu hẹp do số tiền thu được từ việc bán tài sản cố định và thu hồi vốn đầu tư

tài chính nhiều hơn số tiền chi ra để mở rộng đầu tư, mua sắm tài sản cố định và tăng

đầu tư tài chính.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính dương thể hiện lượng vốn cung

ứng từ bên ngoài tăng. Điều này cho thấy tiền tạo ra từ hoạt động tài chính là do sự tài

trợ từ bên ngoài và như vậy, doanh nghiệp có thể bị phụ thuộc vào nguồn cung ứng

tiền ở bên ngoài. Sau đó tiến hành so sánh cả số tuyệt đối và tương đối giữa kì này với

kì trước của từng khoản mục, từng chỉ tiêu để thấy được sự biến động về khả năng tạo

tiền của từng hoạt động từ sự biến động của từng khoản thu, chi. Điều này có ý nghĩa

quan trọng trong việc xác định xu hướng tạo tiền của các hoạt động trong doanh

nghiệp, dự toán khả năng tạo tiền của doanh nghiệp trong tương lai.

1.3.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính

1.3.4.1. Phân tích các chỉ tiêu thanh toán

 Khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số thanh toán ngắn hạn phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn

thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán ngắn hạn được thể hiện qua công thức sau:

TSLĐ = Khả năng thanh toán ngắn hạn Nợ NH

17

Ý nghĩa của hệ số này là cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ,

thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán. Hệ

số này lớn hơn hoặc bằng 1 chứng tỏ sự bình thường trong hoạt động tài chính doanh nghiệp.

Nếu hệ số này có giá trị lớn hơn 1 chứng tỏ TSNH của doanh nghiệp đã được

tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn, điều này có nghĩa là doanh nghiệp đang có một tình hình

tài chính tốt, vững mạnh. Còn nếu hệ số này có giá trị nhỏ hơn 1 chứng tỏ tình hình tài

chính không tốt, tình trạng này kéo dài còn dẫn đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.

Hệ số này càng cao, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng

tốt. Tuy nhiên, nếu giá trị của hệ số quá cao thì điều này lại không tốt vì nó phản ánh

Công ty đã đầu tư quá mức vào TSLĐ so với nhu cầu của doanh nghiệp và hiệu quả sử

dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không cao. Tùy thuộc vào từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh mà ta có thể xác định được một mức hợp lý, thường là ở mức 2 – 3 là tốt nhất.

 Khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một tỷ số tài chính nhằm đo khả năng huy

động tài sản lưu động của một doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn

của doanh nghiệp này. Hàng tồn kho là hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán, vật tư

chưa thể bán ngay nên chưa thể chuyển thành tiền ngày được nên bị loại trừ ra khỏi

TSNH.

TSNH – Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Nợ NH

Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết liệu doanh nghiệp có đủ các tài sản

ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay

không.

Giá trị của hệ số này lớn hơn 0,5 là chấp nhận được, doanh nghiệp đã cân đối

một cách hợp lý vốn lưu động. Còn nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 chứng tỏ doanh nghiệp đang đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho và sẽ khó có khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn. Giống như hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số này càng cao càng chứng tỏ

khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt. Tuy nhiên, hệ số này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung quá nhiều vào vốn bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể sẽ không hiệu quả.

 Khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền và được thể hiện qua công thức sau: 18

Tiền và các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời = Nợ NH

Thực tế cho thấy, hệ số này lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì tình hình thanh toán

tương đối khả quan, doanh nghiệp đang giữ lượng tiền mặt và chứng khoán khả thị ở

mức hợp lý. Còn nếu giá trị này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có khả năng gặp khó

khăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn. Tuy nhiên, hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt là vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền

chậm, đồng nghĩa với việc sử dụng không hiệu quả quỹ tiền mặt, doanh nghiệp luôn

sẵn tiền để trả nợ, nhưng thời điểm trả nợ không liên tục khiến nguồn tiền sẽ bị đứng

im, không vận động và lãng phí.

 Khả năng thanh toán lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay là một tỷ số tài chính đo lường khả năng sử

dụng lợi nhuận thu được từ quá trình kinh doanh để trả lãi các khoản mà doanh nghiệp

đã vay.

EBIT Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi vay

Ý nghĩa: doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế để thanh

toán cho 1 đồng lãi vay.

Nếu tỷ số này lớn hơn 1 chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao, lợi nhuận tạo ra

được sử dụng để thanh toán nợ vay và tạo phần tích lũy cho quá trình hoạt động sản

xuất của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 cho thấy một tình trạng không tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả làm giảm lợi nhuận

xuống dưới mức lãi vay mà doanh nghiệp phải trả dẫn tới mất khả năng thanh toán và

có thể phá sản. Vì vậy, hệ số này càng cao càng tốt.

Cần lưu ý là hệ số khả năng thanh toán lãi vay chỉ cho biết khả năng trả phần lãi

của khoản đi vay chứ không cho biết khả năng trả phần gốc của khoản lãi ra sao.

1.3.4.2. Phân tích các hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

Nhà phân tích báo cáo tài chính luôn quan tâm đến phần tài sản của doanh nghiệp có được là do nguồn vốn chủ sở hữu hay có được do đi vay. Vì vậy, việc phân

tích tỷ số nợ, tỷ suất tự tài trợ và tỷ suất đầu tư là vô cùng quan trọng.

 Tỷ số nợ

Tỷ số nợ là một chỉ số tài chính đo lường khả năng sử dụng và quản lý nợ của

doanh nghiệp.

19

Nợ phải trả Tỷ số nợ = x 100% Tổng tài sản

Ý nghĩa: tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh

nghiệp là đi vay.

Tỷ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp đang chiếm dụng nhiều vốn của chủ nợ

để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ số này thấp đồng nghĩa với việc

doanh nghiệp ít đi vay và chiếm dụng vốn của nhà cung cấp, doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao, các khoản nợ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp

phá sản. Trên thực tế, nợ phải trả thường chiếm tỷ trọng khá cao, doanh nghiệp đi vay

mượn nhiều nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là khi lãi

suất ngân hàng ngày càng tăng. Nhưng việc sử dụng nợ cũng có ưu điểm đó là chi phí

lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp, nên doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lí nhất.

 Tỷ suất tự tài trợ

Tỷ suất tự tài trợ ngược lại với tỷ số nợ và được tính theo công thức:

Vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ = x 100% Tổng tài sản

Tỷ số này phản ánh tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của doanh

nghiệp.

Nếu tỷ số này lớn thể hiện nguồn vốn được tài trợ từ nguồn vốn chủ sở hữu và

vốn thực góp của các cổ đông hay có nghĩa là doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính

độc lâp cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc sức ép từ các khoản nợ

vay. Còn nếu chỉ số này nhỏ thể hiện nguồn vốn của doanh được tài trợ từ nguồn vốn

vay, khi sử dụng nguồn vốn vay doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính

cũng như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường,…

Để xác định mức độ phù hợp về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và chính sách của từng doanh nghiệp cũng như từng ngành.

 Tỷ suất đầu tư

Tỷ suất đầu tư thể hiện kết cấu tài sản (kết cấu vốn) của doanh nghiệp.

Tài sản cố định + đầu tư dài hạn Tỷ suất đầu tư = tổng quát Tổng tài sản

20

Tỷ suất này cao chứng tỏ quy mô cơ sở vật chất của doanh nghiệp ngày càng

được tăng cường, năng lực sản suất kinh doanh ngày càng được cải thiện, đầu tư tài

chính của doanh nghiệp ngày càng cao. Tỷ suất này thấp chứng tỏ doanh nghiệp không đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất.

Tỷ suất này cao hay thấp được coi là hợp lý phụ thuộc vào đặc điểm của từng

ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, chính sách của doanh nghiệp (có doanh

nghiệp đầu tư vào tài sản cố định, có doanh nghiệp không đầu tư mà đi thuê ngoài,…).

Tỷ lệ này thường cao ở các ngành khai thác, chế biến dầu khí (hơn 90 ), ngành công nghiệp nặng (khoảng 70%), còn ở các ngành thương mại dịch vụ thì thấp hơn (khoảng

20%).

1.3.4.3. Phân tích nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động

 Vòng quay hàng tồn kho

Hệ số vòng quay hàng tồn là một tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp, được tính theo công thức sau:

GVHB Hệ số vòng quay = hàng tồn kho Trung bình HTK trong kỳ

Hệ số này lớn chứng tỏ doanh nghiệp đang bán hàng nhanh, hàng tồn kho

không bị ứ đọng. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít gặp rủi ro hơn nếu khoản mục hàng

tồn kho trong báo cáo tài chính giảm qua các năm. Nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay

vòng hàng tồn kho thấp đồng nghĩa hàng hóa sẽ bán chậm doanh nghiệp sẽ mất nhiều

chi phí.

Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì lúc này, lượng dự trữ trong kho

không nhiều, mà thị trường thì luôn luôn chuyển động, doanh nghiệp không đáp ứng

được nhu cầu của thị trường sẽ mất khách hàng và thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh.

Thêm vào đó, việc dự trữ không đủ nguyên vật liệu sản xuất có thể khiến quá trình sản

xuất bị ngưng trệ nên việc xác định hệ số quay vòng hàng tồn kho để vừa đáp ứng nhu

cầu thị trường, vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất là vô cùng cần thiết.

Cần lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề nên không phải mức

tồn kho cao là tốt và mức tồn kho thấp là xấu.

 Vòng quay các khoản phải thu

Hệ số vòng quay các khoản phải thu là một tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay được bao nhiêu

vòng trong một kì báo cáo để đạt được doanh thu trong kì đó, được tính như công thức sau:

21

Doanh thu Vòng quay các khoản = phải thu Bình quân các khoản phải thu

Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn càng chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền

mặt cao, điều này giúp luồng tiền mặt của doanh nghiệp tăng lên, tạo sự chủ động

trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng

thấp thì số tiền của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm. giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu

động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm

cho nguồn vốn lưu động.

Trong mỗi một ngành nghề khác nhau thì hệ số này cũng khác nhau vì thế

không thể nhận định được cao là tốt, thấp là không tốt hoặc ngược lại.

 Kì thu tiền bình quân

Kì thu tiền bình quân là một tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết Công ty mất bình quân bao nhiêu ngày để thu hồi

các khoản phải thu của mình.

360 Kì thu tiền bình quân = (ngày) Vòng quay các khoản phải thu

Kì thu tiền bình quân quá cao thương không tốt nhưng kỳ thu tiền bình quân quá thấp cũng không phải là tốt. Kì thu tiền bình quân thấp có thể là biểu hiện của

chính sách tín dụng quá chặt chẽ. Lúc này, khoản phải thu có thể có chất lượng nhưng

doanh số có thể bị giả mạnh và lợi nhuận có thể thấp hơn mức đáng ra phải được do

chính sách tín dụng quá chặt chẽ. Trong tình huống này, Công ty nên nới lỏng các tiêu

chuẩn tín dụng.

Nếu kì thu tiền bình quân lớn hơn thời hạn bán tín dụng cho phép của Công ty

thì đó là một dấu hiệu không tốt, nó chứng tỏ tỷ lệ khách hàng tín dụng đang chiếm tỷ trọng lớn hoặc doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng vốn.

 Vòng quay vốn lưu động

Vòng quay vốn lưu động là chỉ số được tính bằng tỷ lệ giữa doanh thu thuần

trong một kì chia cho vốn lưu động bình quân trong kì của doanh nghiệp.

Doanh thu thuần Vòng quay vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân

22

Hệ số vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kì vốn lưu động quay được mấy

vòng hay đơn giản hơn là đầu tư 1 đồng vào vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh

thu.

Vòng quay vốn lưu động cao chứng tỏ nguồn vốn lưu động luân chuyển nhanh,

hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tùy thuộc vào các lĩnh vực kinh doanh mà

vòng quay vốn lưu động khác nhau. Vòng quay vốn lưu động thấp chứng tỏ khả năng

thu hồi tiền không tốt, khả năng luân chuyển hàng hóa kém, luân chuyển vốn chậm

nên chi phí vốn tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Ở các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại thì vòng quay vốn

lưu động luôn cao hơn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất.

 Hiệu suất sử dụng tài sản

Hiệu suất sử dụng tài sản là một chỉ tiêu đánh giá tổng hợp khả năng quản lý

TSCĐ và TSLĐ của doanh nghiệp.

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản = Giá trị tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng, hay 1 đồng giá trị tài sản bình quân tạo được ra bao nhiêu đồng doanh thu trong

kỳ.

Hiệu suất sử dụng tài sản cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng hiệu quả

nguồn tài sản của mình, thực hiện tốt việc giảm chi phí trong các khâu sản xuất, quản

lý bán hàng,…Nếu tỷ số này thấp chứng tỏ chính sách của doanh nghiệp trong việc sử

dụng và quản lý tài sản là chưa tốt.

1.3.4.4. Phân tích nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Mục đích của kinh doanh chính là tìm kiếm lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng

khẳng định được vị thế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá qua chỉ tiêu lợi

nhuận thì sẽ có các kết luận khập khiễng vì thiếu đi sự so sánh với các khoản chi phí

bỏ ra. Vì thế, các nhà phân tích đã sử dụng các chỉ tiêu để đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu, vốn chủ sở hữu.

 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của Công ty cổ phần. Nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuân ròng của cổ đông và doanh thu của doanh nghiệp.

23

Lợi nhuận ròng ROS = x 100 Doanh thu thuần

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu hay dễ hiểu hơn là với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra

bao nhiều đồng lợi nhuận ròng.

Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là Công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn

có nghĩa là hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, lãi càng lớn. Ngược lại, tỷ số âm có nghĩa là Công ty kinh doanh thua lỗ. Trong nhiều trường hợp thì tỷ số này cao chưa

hẳn đã tốt. Nếu tỷ số này tăng do chi phí giảm thì tốt, còn tăng do tăng giá bán trong

môi trường cạnh tranh thì chưa hẳn đã tốt.

Giá trị của tỷ số còn phụ thuộc vào từng ngành nghề khác nhau nên khi theo dõi

tình hình sinh lợi của doanh nghiệp, người ta thường so sánh tỷ số này của doanh nghiệp với tỷ số bình quân của toàn ngành mà doanh nghiệp tham gia.

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ số tổng hợp nhất dùng để đánh giá khả

năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư.

Lợi nhuận ròng ROA = x 100 Tổng tài sản

Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng tài sản thì doanh nghiệp tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này được dùng để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh

nghiệp mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính.

Chỉ số này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp càng lớn; doanh nghiệp đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng

đầu tư ít hơn. Nếu chỉ tiêu này thấp, doanh nghiệp cần xem xét lại cơ cấu tài sản để tìm

ra điểm bất hợp lý, tránh gây lãng phí cũng như cải thiện chỉ tiêu này trong tương lai.

Chỉ số này cao hay thấp không phản ánh được tình hình hoạt động của Công ty

là tốt hay xấu do nó còn phụ thuộc vào quy mô và chính sách của từng doanh nghiệp.

 Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên VCSH là một chỉ tiêu được nhiều nhà đầu tư quan tâm vì

nó cho thấy khả năng tạo lợi nhuận của một đồng vốn bỏ ra đầu tư vào Công ty.

Lợi nhuận ròng ROE = x 100 VCSH

24

Tỷ số này cho biết bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào hoạt động sản

xuất kinh doanh có thể tạo sao bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế.

Chỉ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời càng cao, doanh nghiệp đang sử

dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu, góp phần nâng cao khả năng đầu tư cho doanh nghiệp.

Khi phân tích chỉ số này, các nhà phân tích thường áp dụng công thức Dupont.

Đây là công cụ đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả, cho phép nhà phân tích có thể nhìn

được toàn bộ các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng

đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công thức Dupont được triển khai dưới dạng:

EBT Doanh thu thuần TTS bình quân ROE = x x Doanh thu thuần TTS bình quân Vốn chủ sở hữu

1

= Lợi nhuận ròng biên x Vòng quay TTS x

1 – Hệ số nợ

1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng

khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần

phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác phân tích tài

chính doanh nghiệp trên cả hai phương diện là chủ quan và khách quan.

1.4.1. Các nhân tố chủ quan

 Con người

Nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng đến việc phân tích tài chính là nhân tố con người. Trong quá trình phân tích tài chính, cán bộ thực hiện luôn đóng vai trò quan

trọng, họ chính là những người trực tiếp tiến hành hoạt động phân tích tài chính doanh

nghiệp. Công việc này không phải là một công việc đơn giản, nó đòi hỏi cán bộ phân

tích không những phải có kiến thức chuyển sâu về nghiệp vụ, am hiểu các lĩnh vực tài chính mà còn phải hiểu biết các vấn đề liên quan như thuế, môi trường, thị trường,… Do vậy, phần nào hiệu quả của công tác phân tích tài chính phụ thuộc vào nhân tố con người.

Sự hiểu biết toàn bộ nhưng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội mà người phân tích có được thông qua đào tạo hay tự bồi dưỡng kiến thức mà có. Kinh nghiệm, kỹ

năng là những thứ được tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn, năng lực là khả năng

nắm bắt, xử lý các công việc trên cơ sở các kiến thức đã được tích lũy. Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Ngược

25

lại, người phân tích không có tính kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc,

không đánh giá được đúng tình hình.

Để đạt được chất lượng tốt trong phân tích tài chính doanh nghiệp, yêu cầu quan trọng nhất đối với các cán bộ phân tích là phải nắm vững chuyên môn nghề

nghiệp.

 Công tác kiểm toán, kế toán, thống kê

Công tác kế toán, thống kê mang lại những số liệu, thông tin cần thiết phục vụ

cho quá trình phân tích (báo cáo tài chính, chính sách kế toán, các số liệu liên quan đến kế hoạch sản xuất kinh doanh,…). Vì vậy, việc hoàn thiện công tác kế toán, kiểm toán,

thông kế cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phân tích.

 Sự quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp

Đây là một nhân tốt ảnh hưởng đến chất lượng của phân tích tài chính vì nếu lãnh đạo hiểu được tầm quan trọng của công tác phân tích thì mới đầu tư kinh phí, mua sắm các phần mềm phân tích tài chính, bố trí công cụ để đội ngũ nhân viên phân tích,

xây dựng các quy trình phân tích khoa học cho nhân viên thực hiện, chỉ đao sự phối

hợp giữa các phòng ban trong việc cung cấp thông tin, hồi âm kết quả, áp dụng các

giải pháp mà việc phân tích tài chính đưa ra để thực hiên tốt hơn quá trình phân tích.

1.4.2. Các nhân tố khách quan

 Kỹ thuật, công nghệ

Ứng dụng tốt kỹ thuật, công nghệ vào phân tích tài chính sẽ đem lại kết quả

chính xác, khoa học, tiết kiệm được thời gian, công sức. Việc ứng dụng này không

những đảm bảo tính chính xác, khoa học, tiết kiệm mà còn đảm bảo tính hoàn thiện,

phong phú, phù hợp với xu hướng phát triển của công tác phân tích tài chính.

 Hệ thống thông tin

Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.

Chính vì thế, chỉ cần một thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì sẽ đem lại kết quả phân tích không có ý nghĩa. Những thông tin bên trong doanh nghiệp trực tiếp phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và xu hướng phát triển tương lai. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp cung cấp thông tin về

đối thủ cạnh tranh, thông tin về nền kinh tế,…và nó luôn không ngừng biến động. Hơn thế nữa, tiền lại có giá trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác với đồng tiền của ngày mai. Do đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin. Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.

26

 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành

Phân tích tài chính sẽ trở nên có ý nghĩ hơn nếu có sự tồn tại của hệ thống chỉ

tiêu trung bình ngành. Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích. Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt

hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác có đặc điểm

và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình

ngành. Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý tài

chính biết được vị thế của doanh nghiệp mình, từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

 Môi trường kinh tế

Một vài yếu tố kinh tế có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp như lãi suất ngân

hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, biến động của tỷ giá hối đoái, lạm phát,…

Lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết

kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp.

Sự biến động của tỷ giá sẽ làm thay đổi những điều kiện kinh doanh, tạo ra những cơ

hội hoặc thách thức khác nhau đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp

xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, mức độ lạm phát cũng ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào

nền kinh tế.

 Môi trường chính trị và pháp luật

Các yếu tố chính trị và pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động

của doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với các

hoạt động kinh doanh và đảm bảo an toàn về quyền sở hữu các tài sản của nhà đầu tư.

Về pháp luật, bên cạnh những quy định, ràng buộc đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ,

cũng có một số chương trình của chính phủ như biểu thuế hàng ngoại nhập cạnh tranh

hay chính sách miễn giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp.

Chính sự can thiệp nhiều hay ít của chính phủ vào nền kinh tế đã tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau cho từng doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần sớm phát hiện ra những cơ hội hoặc thách thức mới trong kinh doanh, từ đó điều chỉnh các hoạt động nhằm tránh những đảo lộn lớn trong

quá trình vận hành, duy trì và đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong kinh doanh.

 Đối thủ cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng doanh nghiệp hoạt động cùng ngành, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu

27

quả kinh doanh là rất khó khăn. Đòi hỏi doanh nghiệp cần phải đẩy mạnh tốc độ tiêu

thụ, tăng doanh thu, tổ chức bộ máy lao động phù hợp để nâng cao khả năng cạnh

tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại,…từ đó nâng cao hiệu quả SXKD. Như vậy, đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến động lực phát triển của doanh nghiệp.

Ngoài ra, các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập ngành cũng có thể là yếu tố làm

giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Và sức ép từ các sản phẩm thay thế sẽ làm hạn chế

tiềm năng sinh lợi của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Vì vậy, các doanh

nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới, có tính khác biệt.

28

CHƢƠNG 2.

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ

THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC

2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp Hồng Phúc

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

2.1.1.1. Thông tin chung về Công ty

- Tên Công ty: Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc; - Trụ sở chính: Số 100, đường Quang Trung, phường Quang Trung, thành phố

Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;

- Số điện thoại: 0333 663 066; - Mã số thuế: 5700498125; - Loại hình doanh nghiệp: vừa và nhỏ; - Vốn điều lệ: 7.500.000.000 đồng ( bảy tỷ năm trăm triệu đồng); - Người đại diện: Giám đốc – Nguyễn Hải Sơn.

2.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc là nhà cung cấp các

máy móc, thiết bị, phụ tùng máy và các dịch vụ đi kèm. Công ty TNHH Dịch vụ

Thương mại Hồng Phúc được bắt đầu từ một cửa hàng nhỏ kinh doanh các thiết bị và

phụ tùng máy vào năm 2000. Sau một khoảng thời gian hoạt động kinh doanh, với

nhiều kinh nghiệm được tích lũy và trình độ kĩ thuật ngày càng được nâng cao, tạo được sự uy tín và sự tin cậy đối với khách hàng, cửa hàng đã quyết định mở rộng quy

mô và Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc được thành lập vào

ngày 14 tháng 6 năm 2004.

Năm 2005, Công ty không dừng lại ở việc kinh doanh thiết bị và phụ tùng máy

mà còn mở rộng quy mô, thị trường, cung cấp thêm rất nhiều dịch vụ cho khách hàng

như: dịch vụ lưu trú ngắn ngày; kinh doanh hàng may mặc, giày dép da, giả da; kinh

doanh đồ nội thất; dịch vụ vận tải,…

Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển, từ một cơ sở là Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc, trụ sở chính đặt tại số 100 - đường Quang Trung

- phường Quang Trung - thành phố Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh, đến nay Công ty đã mở thêm được 1 chi nhánh mới, được đặt tại số 38 Yết Kiêu – phường Cửa Nam – quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.

29

2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

2.1.2.1. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty

Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc dù chỉ là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại là một trong những doanh nghiệp có uy tín ở thị trường

phía Bắc. Công ty tập trung và các sản phẩm đòi hỏi phải luôn cập nhật công nghệ,

đảm bảo về chất lượng và năng suất,…Công ty hoạt động ở một số lĩnh vực sau:

- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác: thiết bị, phụ tùng máy khai

khoáng, xây dựng; máy móc, thiết bị và phụ tùng máy văn phòng;

- Dịch vụ lưu trú ngắn ngày; - Vận tải hành khách đường bộ; - Bán lẻ đồ điện gia dụng, giường, tủ, bàn ghế và đồ nội thất tương tự, đèn và bộ

đèn điện, đồ dùng gia đình khác;

- Bán lẻ đồ ngũ kim, sơn, kính và thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng trong các

cửa hàng chuyên doanh;

- Bán lẻ hàng may mặc, giày dép, hàng da, giả da trong các cửa hàng chuyên

doanh;

2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc

Ban lãnh đạo

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty

Phòng tổ chức Phòng KCS hành chính

Phòng

Phòng kĩ thuật

Bộ phận cơ điện Phòng kế toán

kinh doanh

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

Ban lãnh đạo: Gồm có giám đốc và phó giám đốc. Giám đốc là người đứng đầu Công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật. Giám đốc quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty, là người có quyền quyết định cao nhất trong Công

30

ty. Phó giám đốc là người chịu trách nhiệm trước giám đốc về hoạt động kinh doanh

tại Công ty.

Phòng tổ chức hành chính: Là đơn vị tổng hợp vừa có chức năng giải quyết về nghiệp vụ quản lý kinh doanh, vừa phục vụ về hành chính xã hội, tham mưu, giúp việc

có giám đốc về công tác cán bộ và tiền lương. Nhiệm vụ của phòng tổ chức hàng chính

là tổ chức cán bộ, tổ chức lao động và tiền lương; tổ chức nhân sự, giải quyết các

chính sách; công tác kê báo cáo, công tác hành chính, công tác y tế; công tác bảo vệ và

công tác chống cháy nổ.

Phòng kế toán: Có chức năng tham mưu, giúp việc cho giám đốc về công tác kế

toán tài chính của Công ty nhằm sử dụng vốn đúng mức, đúng quy định một cách

chính xác, hợp lý, kịp thời, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Nhiệm

vụ của phòng kế toán: Thực hiện chế độ hạch toán kế toán, chế độ báo cáo và chứng từ

ghi sổ theo hệ thống tài khoản kế toán, quy định hiện hành của nhà nước; tham gia xây dựng kế hoạch giá thành, kế hoạch thu chi tài chính giá tiêu thụ sản phẩm, kế toán tiền

vốn các quy định của Nhà nước; quản lý, theo dõi số liệu và tình hình luân chuyển, sử

dụng các loại tài sản, vật tư tiền vốn và hiệu quả sử dụng vốn.

Phòng kinh doanh: Là bộ phận tham mưu cho giám đốc trong việc quản lý kế

hoạch nhập – xuất kho, tham mưu đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế, soạn thảo và

thanh toán các hợp đồng có liên quan đến các đối tác nước ngoài,…Nhiệm vụ của

phòng kinh doanh là: Trực tiếp đàm phán, giao dịch, tiếp thị các hợp đồng kinh doanh

trong lĩnh vực kinh doanh; làm thủ tục giao nhận hàng hóa theo hợp đồng kinh tế; xây

dựng kế hoạch, kí kết hợp đồng về hàng hóa sản phẩm; hàng kì đưa ra báo cáo kết quả

kinh doanh và các kế hoạch mới cho Công ty.

Phòng KCS: Tham mưu, giúp việc và chịu sự chỉ đạo của ban giám đốc trong

công tác quản lý toán bộ hệ thống chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn đã đề ra, duy

trì và đảm bảo hệ thống chất lượng sản phẩm. Nhiệm vụ: Xây dựng, áp dụng hệ thống

kiểm soát chất lượng của sản phẩm; kiểm soát tài liệu, dữ liệu hồ sơ chất lượng các

quy trình chung về tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm của Công ty.

Bộ phận cơ điện: là bộ phận kiểm soát toàn bộ các trang thiết bị máy móc đang sử dụng trong Công ty, tổ chức phân bổ thiết bị phù hợp để điều chỉnh sản xuât kịp thời, quản lý và chịu trách nhiệm về mạng lưới điện, điện thoại trong Công ty, tiến hành sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn các máy móc, thiết bị đảm bảo cho sản xuất kinh doanh diễn ra không bị gián đoạn.

Phòng kĩ thuật: Tham mưu giúp việc và chịu sự quản lý trực tiếp của ban lãnh

đạo trong việc quản lý công tác kỹ thuật, công nghệ, công tác tổ chức sản xuất nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm. Có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện về công nghệ,

31

kỹ thuật, máy móc, thiết bị; xây dựng các văn bản kỹ thuật, các hướng dẫn vận hành

máy móc thiết bị cho các tổ đội sản xuất.

2.2. Phân tích tình hình tài chính Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp

Hồng Phúc

2.2.1. Phân tích bảng cân đối kế toán

2.2.1.1. Phân tích biến động tài sản

Tài sản của Công ty được ghi trong bảng cân đối kế toán thể hiện tiềm lực kinh

tế Công ty dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích biến động tài sản cung cấp cho nhà quản trị cái nhìn về quá khứ sự biến động của tài sản Công ty nhằm tìm

kiếm một xu hướng, bản chất của tài sản của Công ty.

 Đánh giá khái quát về tài sản

Tài sản là của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng.

Tổng tài sản năm 2011 là 16.802 triệu đồng, trong đó có TSNH là 16.568 triệu

đồng chiếm 98,61% tổng tài sản, TSDH là 234 triệu đồng chiếm 1,39% tổng tài sản.

Đến năm 2012, tổng tài sản giảm xuống còn 15.449 triệu đồng, thấp hơn năm 2011

1.353 triệu đồng với 15.193 triệu đồng tương đương 98,35 tổng tài sản là TSNH và

255 triệu đồng ứng với 1,65% tổng tài sản là TSDH. Trong giai đoạn này, TSNH giảm

1.375 triệu đồng tương ứng với mức giảm là 8,3% còn TSDH lại tăng 22 triệu đồng

tương ứng với tỷ lệ tăng là 9,26 . Qua các số liệu trên, ta có thể thấy tổng tài sản của

Công ty được cấu thành từ TSNH là chủ yếu (chiếm trên 98%) và một phần nhỏ là

TSDH (dưới 2%).

Đến năm 2013, tổng tài sản tiếp tục giảm 1.012 triệu đồng xuống còn 14.437

triệu đồng với 14.230 triệu đồng là TSNH chiếm 98,57% tổng tài sản và 207 triệu

đồng ứng với 1,43 là TSDH. Trong đó, TSNH giảm 964 triệu đồng ứng với mức

giảm là 6,34%, còn TSDH giảm 48 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 18,92%. Mặc

dù TSNH giảm 964 triệu đồng nhưng TSNH vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản (98,57%), còn TSDH chiếm tỷ trọng nhỏ (1,43%) nên sự suy giảm là không đáng kể.

TSNH luôn chiếm một tỷ trọng lớn là khá phù hợp với đặc trưng của một Công ty dịch vụ thương mại. Đồng thời, đây cũng là kết quả của chính sách quản lý tài sản ngắn hạn theo trường phái thận trọng (TSNH > TSDH) mà ban giám đốc Công ty đang

thực hiện.

Trong giai đoạn 2011 – 2013 còn có một số biến động về cơ cấu tổng tài sản nhưng tỷ trọng TSNH vẫn giữ ổn định ở mức trên 98%, cho thấy Công ty đang thực hiện tốt công tác quản lý cơ cấu tài sản cho dù có một số biến động về quy mô tổng tài sản.

32

Bảng 2.1. Cơ cấu và biến động tổng tài sản

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2012 - 2011 2013 – 2012 CHỈ TIÊU

Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền % Số tiền %

(1) (2) (3) (4)=(2)-(1) (4)/(1) (5)=(3)-(2) (5)/(2)

A. Tài sản ngắn hạn 16.568 98,61 15.193 98,35 14.230 (1.375) (8,3) (964) (6,34) 98,57

I – Tiền và các khoản tương đương tiền 9.832 58,52 8.430 54,56 6.489 (1.402) (14,26) (1.941) (23,02) 44,95

II – Đầu tư tài chính ngắn hạn - - - - - -

III – Các khoản phải thu ngắn hạn 6.428 38,25 6.434 41,65 6.873 47,61 0,09 439 6,83 6

IV – Hàng tồn kho 258 1,53 204 1,32 684 4,74 (53) (20,62) 480 234,78

V – Tài sản ngắn hạn khác 51 0,3 125 0,81 182 1,26 74 144,21 58 46,01

B. Tài sản dài hạn 234 1,39 255 1,65 207 1,43 22 9,26 (48) (18,92)

I – Tài sản cố định 208 1,24 198 1,28 133 0,92 (10) (4,59) (65) (32,77)

II – Bất động sản đầu tư - - - - - -

III – Các khoản đầu tư tài chính dài hạn - - - - - -

26 IV – Tài sản dài hạn khác 0,16 57 0,37 74 31 119,36 17 29 0,51

TỔNG CỘNG TÀI SẢN 16.802 100 15.449 100 14.437 (1.353) (8,05) (1.012) (6,55) 100

(Nguồn: số liệu xử lý từ bảng cân đối kế toán 2011 – 2013)

33

 Phân tích biến động tài sản

Tài sản ngắn hạn

Trong giai đoạn 2011 – 2013, TSNH có sự biến động giảm về mặt giá trị, tuy nhiên về mặt tỷ trọng lại khá ổn định. Năm 2011, TSNH đạt 16.568 triệu đồng. Đến

năm 2012 chỉ còn 15.193 triệu đồng, giảm 1.375 triệu đồng tương ứng với mức giảm

8,3 . Đến năm 2013, TSNH tiếp tục giảm 964 triệu đồng xuống còn 14.230 triệu

đồng. Sở dĩ có sự biến động này là do thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, xuất

hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới khiến Công ty phải thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và do sự biến động của các khoản mục thành phần sau:

Tiền và các khoản tương đương tiền

Khoản mục này giảm 1.402 triệu đồng trong giai đoạn 2011 – 2012, từ 9.832

triệu đồng xuống còn 8.430 triệu đồng và tiếp tục giảm trong giai đoạn 2012 – 2013, giảm 1.941 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 19,74 . Điều này được đánh giá không tốt làm cho tính thanh khoản của Công ty giảm xuống vì tiền trong quỹ giảm.

Lượng tiền bị giảm là do Công ty chi một lượng lớn tiền mặt để thanh toán các

khoản nợ đến hạn. Đồng thời, Công ty cũng dùng tiền mặt để mua hàng hóa làm tăng

hàng tồn kho, nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường đang tăng cao. Sự suy giảm

này đã làm cho tỷ trọng của khoản mục giảm, cụ thể là 58,52% tổng tài sản vào năm

2011, đến 2012 là 54,56% và chỉ còn 44,95% vào năm 2013. Điều này sẽ làm giảm

khả năng thanh toán tức thời của Công ty. Mặc dù lượng tiền mặt giảm nhưng mức dự

trữ vẫn còn khá lớn, điều này sẽ giúp Công ty giảm được các chi phí nguyên vật liệu

đầu vào do đầu cơ. Tuy nhiên, việc dự trữ lượng tiền mặt quá lớn khiến lượng tiền bị ứ

đọng, không thể sinh lời, gây lãng phí.

Đầu tư tài chính ngắn hạn

Công ty chỉ tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh nên không có các

khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.

Các khoản phải thu

Trong giai đoạn 2011 – 2013, các khoản phải thu tăng cả về giá trị và tỷ trọng. Năm 2011, các khoản phải thu là 6.428 triệu đồng, chiếm 38,25% tổng tài sản. Đến năm 2012, các khoản mục này tăng nhẹ thành 6.434 triệu đồng, tăng 6 triệu đồng

tương ứng với mức tăng 0,09 , tỷ trọng tăng lên thành 41,65% so với tổng tài sản. Năm 2013, các khoản phải thu tăng lên thành 6.873 triệu đồng, tăng 439 triệu đồng so với năm 2012, tốc độ tăng cao hơn so với năm 2012 là 6,74 , tỷ trọng tiếp tục tăng lên thành 47,61% so với tổng tài sản. Các khoản phải thu giảm mạnh trong năm 2011 – 2013 là do Công ty đã nới lỏng chính sách tín dụng. Cụ thể là mở rộng phạm vi các

34

loại khách hàng được mua chịu, cho khách hàng mua trả chậm với lãi suất thấp. Ngoài

ra còn áp dụng chiết khấu thương mại để khuyến khích khách hàng mua nhiều. Các

khoản phải thu có xu hướng ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn chứng tỏ Công ty đang ngày càng bị khách hàng chiếm dụng nhiều vốn. Bên cạnh đó, việc nới

lỏng chính sách tín dụng cũng sẽ đem đến một số rủi ro tín dụng cho Công ty.

Hàng tồn kho

Trong giai đoạn 2011 – 2012 thì hàng tồn kho có xu hướng giảm cả về tỷ trọng

và giá trị. Cụ thể năm 2012 là 204 triệu đồng giảm 53 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 20,62% so với năm 2011, tỷ trọng giảm 0,21% xuống còn 1,32% so với tổng tài

sản. Sự suy giảm về giá trị và tỷ trọng hàng tồn kho là do sự xuất hiện của ngày càng

nhiều các đối thủ cạnh tranh mới khiến hàng hóa của Công ty khó bán hơn. Thêm vào

đó, phương thức bán của Công ty là bán buôn không qua kho, vì thế, Công ty giảm lượng hàng tồn kho để cắt giảm chi phí lưu kho, tiền thuê kho bãi,…

Năm 2013, hàng tồn kho tăng 480 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 234,78

so với năm 2012, đạt 684 triệu đồng. Tỷ trọng hàng tồn kho so với tổng tài sản cũng

tăng từ 1,32% lên 4,74%. Mức tăng đột biến này là do nhu cầu của các khách hàng lớn

trong năm tăng. Điều này cho thấy chính sách nới lỏng tín dụng của Công ty bắt đầu

đầu đem lại hiệu quả. Đồng thời, do giá nguyên vật liệu đầu vào tại thời điểm này thấp

hơn giá bình quân nên Công ty đã nhập một lượng hàng lớn để tận dụng sự chênh lệch

về giá cả.

Tài sản ngắn hạn khác

Trong giai đoạn 2011 – 2013, quy mô của TSNH khác không ngừng gia tăng, từ

51 triệu đồng ở năm 2011, tăng 74 triệu đồng tương ứng mức tăng 144,21 lên thành

125 triệu đồng ở năm 2012, tỷ trọng TSNH khác so với tổng tài sản cũng tăng từ 0,3%

lên thành 0,81 . Đến năm 2013, khoản mục này là 182 triệu đồng, tăng 58 triệu đồng

tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,01 , tỷ trọng tăng 0,35 lên thành 1,26 . Cụ thể như

sau:

35

Bảng 2.2. Tài sản ngắn hạn khác

ĐVT: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2012 - 2011 Chênh lệch 2013 - 2012

(1) (2) (3) (4)=(2)–(1) (4)/(1) (5)=(3)–(2) (5)/(2)

11 25 20 14 127,27 (5) (20) 1- Chi phí trả trước ngắn hạn

- - - - - - - 2- Thuế GTGT được khấu trừ

17 3 (17) (100) 3 - 3- Thuế và các khoản phải thu Nhà nước

23 99 159 76 330.43 60 61,61 4- Tài sản ngắn hạn khác

(Nguồn: số liệu xử lý từ bảng cân đối kế toán)

Chi phí trả trước ngắn hạn

Khoản mục này bao gồm: Chi phí xuất dùng một lần của công cụ, dụng cụ có

giá trị lớn hoặc có thời gian sử dụng dưới 1 năm; chi phí mua các loại bảo hiểm cháy

nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ phương tiện, bảo hiểm thân xe và các loại lệ phí

mua và trả 1 lần trong năm.

Năm 2012, chi phí này tăng 127,27 từ 11 triệu đồng lên 25 triệu đồng, tăng

14 triệu đồng. Nguyên nhân do Công ty xuất một số công cụ dụng cụ để phục vụ cho

hoạt động bảo hành sản phẩm. Năm 2013, chi phí trả trước ngắn hạn giảm 5 triệu đồng

xuống còn 20 triệu đồng do chất lượng của sản phẩm tốt hơn năm trước nên không có

nhiều lỗi cũng như hỏng hóc xảy ra.

Thuế GTGT được khấu trừ

Trong giai đoạn 2011 – 2013, Công ty không có các khoản thuế GTGT được

khấu trừ.

Thuế và các khoản phải thu Nhà nước

Đây là khoản thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân mà Công ty

nộp thừa trong năm tài chính cần phải thu lại từ Nhà nước. Năm 2011 là 17 triệu đồng. Khoản mục này không phát sinh ở năm 2012 và năm 2013 là 3 triệu đồng.

Tài sản ngắn hạn khác

TSNH khác có xu hướng tăng mạnh trong giai đoạn 2011 – 2013. Năm 2012 tăng 330,43 so với năm 2011, tức tăng 76 triệu đồng lên thành 99 triệu đồng. Năm

36

2013, TSNH khác tiếp tục tăng lên thành 159 triệu đồng, tăng 60 triệu đồng tương ứng

với tỷ lệ tăng 61,61% so với năm 2012. Lượng tăng đột biến trong giai đoạn này là do

Công ty mua sắm trang thiết bị, công cụ dụng cụ để trang trí, cải tạo cửa hàng.

Tài sản dài hạn

Chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, dưới 2%, cao nhất là năm 2012 với 1,65 . Năm 2012

là 255 triệu đồng, tăng 22 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 9,26 . Đến năm 2013,

TSDH giảm 48 triệu đồng xuống còn 207 triệu đồng. Nguyên nhân của sự biến động

này là do:

Tài sản cố định

Là những tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên và thời giản sử dụng trên 1

năm. Bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.

Tài sản cố định hữu hình

Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, có thể nhìn thấy được, cảm nhận

được.

TSCĐ hữu hình của Công ty năm 2011 là 208 triệu đồng, trong quá trình sử

dụng, Công ty trích khấu hao TSCĐ làm nguyên giá TSCĐ giảm xuống còn 198 triệu

đồng năm 2012 tương ứng giảm 4,59% và 133 triệu đồng năm 2013 tương ứng giảm

32,77%. Tuy TSCĐ hữu hình giảm về giá trị trong cả 3 năm nhưng tỷ trọng của TSCĐ

hữu hình của năm 2012 lại tăng 0,04 so với năm 2011 và giảm xuống còn 0,92% vào

năm 2013. Điều này cho thấy hoạt động trích khấu hao của Công ty vẫn diễn ra bình

thường. Nguyên nhân của sự suy giảm cả về quy mô và tỷ trọng của TSCĐ hữu hình là

do Công ty không có hoạt động mua mới trang thiết bị và có hoạt động thanh lý ở năm

2013 nên TSCĐ hữu hình giảm mạnh hơn các năm trước (giảm 65 triệu đồng).

Tài sản cố định vô hình

Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, không thể cảm nhận đc.

Trong giai đoạn này, Công ty không có các TSCĐ vô hình.

Bất động sản đầu tư và đầu tư tài chính dài hạn

Công ty không có các khoản bất động sản đầu tư và đầu tư tài chính dài hạn.

Tài sản dài hạn khác

TSDH khác của Công ty 100% là chi phí trả trước dài hạn. Năm 2012 là 57 triệu đồng, tăng 31 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 119,36 so với năm 2011. Còn năm 2013 là 74 triệu đồng, tăng 17 triệu đồng so với năm 2012. Khoản mục này tăng là do sự phát sinh chi phí của việc xuất các công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình bán sản phẩm, hàng hóa.

37

Nhận xét

Sự chênh lệch giữa tỷ trong TSNH và tỷ trọng TSDH so với tổng tài sản là quá

lớn. Hoạt động quản lý tài sản, hoạt động kinh doanh chưa được đa dạng, còn quá phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có hoạt động tài chính cũng như

đầu tư. Đặc biệt trong tình hình kinh tế đầy biến động như hiện nay, Công ty lại càng

chịu nhiều ảnh hưởng.

2.2.1.2. Phân tích kết cấu và biến động nguồn vốn

 Đánh giá khái quát về nguồn vốn

Tổng nguồn vốn năm 2011 là 16.802 triệu đồng trong đó có 9.392 triệu đồng là

nợ phải trả ứng với 55,9% và 7.409 triệu đồng là vốn CSH tương ứng 44,1% so với

tổng nguồn vốn. Đến năm 2012. Tổng nguồn vốn giảm 1.353 triệu đồng xuống còn

15.448 triệu đồng; với 7.904 triệu đồng là nợ phải trả chiếm 51,4% tổng nguồn vốn, 7.509 triệu đồng là vốn CSH ứng với 48,6%. Trong giai đoạn này, nợ phải trả giảm 1.452 triệu đồng tương ứng với mức giảm 15,46%, còn vốn CSH lại tăng 100 triệu,

ứng với tỷ lệ tăng 1,34 .

Đến năm 2013, tổng nguồn vốn giảm 1.012 triệu đồng xuống còn 14.436 triệu

đồng với 48,2 tương ứng với 6.958 triệu đồng là nợ phải trả; còn lại 7.478 triệu đồng

là vốn CSH. Trong đó, nợ phải trả giảm 982 triệu đồng tương ứng với mức giảm

12,37%; vốn CSH giảm 31 triệu đồng tương ứng giảm 0,4%.

Xét về cơ cấu vốn, tỷ trọng của nợ phải trả và vốn CSH không có sự chênh lệch

lớn. Điều này chứng tỏ Công ty có khả năng đảm bảo tài chính tốt, chủ động trong

hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, các chủ

nợ hay ngân hàng sẽ nới lỏng các điều kiện cho vay đối với Công ty. Tuy việc giảm tỷ

trọng nợ phải trả làm Công ty chủ động hơn về vốn trong hoạt động sản xuất kinh

doanh nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc bỏ qua cơ hội huy động một lượng

vốn khá lớn từ bên ngoài, không khai thác được tối đa hiệu quả của đòn bẩy tài chính

cũng như lá chắn thuế từ chi phí lãi vay.

38

Bảng 2.3. Cơ cấu và biến động tổng nguồn vốn

ĐVT: Triệu đồng

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Chênh lệch 2012 - 2011

Chênh lệch 2013 – 2012

CHỈ TIÊU

Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng

Số tiền

%

Số tiền

%

(2)

(3)

(4)=(2)-(1)

(4)/(1)

(5)=(3)-(2)

(5)/(2)

(1)

A. Nợ phải trả

55,9

7.940

51,4

6.958

(1.452)

(15,46)

(982)

(12,37)

48,2

9.392

I – Nợ ngắn hạn

55,9

7.940

51,4

6.958

(1.452)

(15,46)

(982)

(12,37)

48,2

9.392

1. Vay ngắn hạn

3,86

-

-

-

(649)

(100)

-

-

-

649

2. Phải trả người bán

39,13

5.064

32,78

3.271

(1.511)

(22,98)

(1.793)

(34,28)

22,66

6.575

3. Người mua trả tiền trước

11,77

2.704

17,5

3.631

726

36,7

927

34,28

25,15

1.978

4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

1,14

170

(21)

(10,99)

(128)

(75,29)

1,1

42

0,29

191

5. Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác

-

2

0,01

15

2

-

13

650

0,1

-

II – Nợ dài hạn

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

B. Vốn chủ sở hữu

44,1

7.509

48,6

7.478

99

1,34

(31)

(0,4)

51,8

7.409

I – Vốn chủ sở hữu

44,1

7.509

48,6

7.478

99

1,34

(31)

(0,4)

51,8

7.409

1. Vốn đầu tư của CSH

44,64

7.500

48,55

7.500

-

-

-

-

51,95

7.500

2. Lợi nhuận chưa phân phối

(90)

(0,54)

9

0,05

(22)

99

110

(31)

(344,44)

(0,15)

II – Nguồn kinh phí và quỹ khác

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

TỔNG NGUỒN VỐN

16.802

100

15.448

100

14.436

(1.353)

(8,05)

(1.012)

(7,01)

100

(Nguồn: số liệu xử lý từ bảng cân đối kế toán 2011 – 2013)

39

 Phân tích biến động nguồn vốn

Qua bảng trên, ta có thể thấy tổng nguồn vốn của Công ty có xu hướng giảm

trong giai đoạn 2011 – 2013. Năm 2012 là 15.448 triệu đồng, giảm 1.353 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 8,05% so với năm 2011. Năm 2013, tổng nguồn vốn tiếp tục

giảm xuống còn 14.436 triệu đồng, giảm 7,01% so với năm 2012. Do hoạt động sản

xuất kinh doanh không hiệu quả nên Công ty đang muốn thu hẹp hoạt động sản xuất

kinh doanh. Để hiểu rõ hơn chiến lược của Công ty, ta cần phân tích sâu hơn vào từng

khoản mục của nguồn vốn.

Nợ phải trả

Nợ phải trả của Công ty hoàn toàn là nợ ngắn hạn. Việc phát sinh các khoản nợ

ngắn hạn là điều khá phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của Công ty. Với đặc trưng là

TSNH chiếm tỷ trọng lớn cùng với chu kì kinh doanh ngắn, khả năng thu hồi vốn nhanh; nên chính sách của Công ty là vay nợ, chiếm dụng vốn trong ngắn hạn để đầu tư cho TSNH. Hơn thế nữa, chi phí lãi vay dài hạn thường cao hơn rất nhiều so với chi

phí vay ngắn hạn. Do vậy, để tiết kiệm chi phí cũng như để phù hợp với đặc điểm của

ngành nghề kinh doanh, Công ty quyết định chỉ vay nợ trong ngắn hạn.

Nợ phải trả năm 2012 là 7.940 triệu đồng chiếm 51,4% tổng nguồn vốn, giảm

thêm 1.452 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 15,46% so với năm 2011. Đến năm

2013, chỉ tiêu này là 6.958 triệu đồng tương ứng 48,2% tổng nguồn vốn, giảm tiếp 982

triệu đồng với tỷ lệ giảm 12,37%, trong đó:

Vay ngắn hạn

Để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty đã thực hiện các khoản

vay ngắn hạn ngân hàng bằng cách thực hiện các khoản vay cấp vốn bằng các hợp

đồng kinh mà Công ty đã kí kết với khách hàng, bên cạnh đó, dựa theo uy tín của

mình, Công ty đã đứng ra vay. Với các khoản vay này, Công ty phải trả lãi suất theo

mức lãi suất cơ bản của thị trường qua từng năm. Do ảnh hưởng của lạm phát mức lãi

suất của khoản vay trung bình là 18,2 /năm.

Ở năm 2011, Công ty có khoản vay ngắn hạn là 649 triệu đồng, chiếm 3,86% tổng nguồn vốn. Đến năm 2012, các khoản nợ ngắn hạn đều bằng 0. Điều này cho thấy Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi vay đối với chủ nợ trước khi kết

thúc năm tài chính. Nguyên nhân là do Công ty muốn đảm bảo các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của mình luôn ở mức an toàn.

Phải trả người bán

Khoản mục này giảm trong giai đoạn 2011 – 2013. Năm 2011 là 6.575 triệu đồng, chiếm 39,13% tổng nguồn vốn. Đến năm 2012 chỉ còn 5.064 triệu đồng, giảm

40

1.511 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 22,98% so với năm 2011; tỷ trọng cũng

giảm 6,53% xuống còn 32,78%. Việc Công ty thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh

doanh đã tác động và làm khoản mục này giảm. Đến năm 2013, một số nhà cung cấp áp dụng mức chiết khấu thanh toán hấp dẫn đối với Công ty và với lượng tiền mặt khá

dồi dào của mình, Công ty đã thanh toán sớm cho một số nhà cung cấp để hưởng chiết

khấu khiến khoản phải trả người bán giảm xuống còn 3.271 triệu đồng tương ứng giảm

34,27% so với năm 2012, tỷ trọng cũng giảm xuống còn 22,66% so với tổng nguồn

vốn. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ phải trả nhà cung cấp được hạ xuống mức khá thấp, uy tín của Công ty ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng

mối quan hệ đối tác tin cậy, vững bền, lâu dài đối với các nhà cung cấp.

Người mua trả tiền trước

Khoản người mua trả tiền trước có xu hướng tăng trong giai đoạn 2011 – 2013. Cụ thể, năm 2011 chỉ có 1.978 triệu đồng tương ứng với 11,77% tổng nguồn vốn. Đến năm 2012, khoản tiền này tăng lên thành 2.704 triệu đồng, tăng 726 triệu đồng tương

ứng với tỷ lệ tăng là 36,7 so với năm 2011; tỷ trọng cũng tăng từ 11,77% lên thành

17,5%. Năm 2013 khoản mục này tiếp tục tăng 927 triệu đồng lên thành 3.631 triệu

đồng ứng với 25,15% so với tổng nguồn vốn. Sự gia tăng đột biến của khoản mục này

cả về giá trị và tỷ trọng là do Công ty hoạt động trong lĩnh vực buôn bán máy móc,

thiết bị, phụ tùng máy móc một thời gian dài nên đã tạo được uy tín đối với một lượng

lớn khách hàng, vì thế khách hàng thường trả trước tiền hàng hoặc thanh toán sớm cho

Công ty

Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

Khoản mục này có xu hướng giảm trong các năm 2011 – 2013. Bắt đầu là 191

triệu đồng ở năm 2011, giảm xuống còn 170 triệu đồng, tức giảm 21 triệu đồng ở năm

2012. Đến năm 2013, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tiếp tục giảm 128 triệu

đồng xuống còn 42 triệu đồng. Khoản mục này bao gồm các loại thuế doanh nghiệp

phải nộp như thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước liên tục giảm trong giai đoạn 2011 – 2013 là do hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty không đạt hiệu quả và bị thua lỗ trong năm 2013.

Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác

Khoản mục này gồm có: kinh phí công đoàn, tiền kí quỹ phải trả, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,… Giá trị của khoản mục này ở năm 2011 là bằng 0 và ở năm 2012 là 2 triệu đồng. Đến năm 2013, khoản mục này tăng khá mạnh so với năm 2012, tăng 13 triệu đồng lên thành 15 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 650 . Sở dĩ có sự gia tăng

41

khá mạnh của khoản mục này là do có sự chênh lệch khi đánh giá lại giá trị tài sản

thanh lý.

Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu của Công ty biến động không quá lớn. Lớn nhất là trong năm

2012, VCSH tăng 99 triệu đồng lên thành 7.509 triệu đồng, chiếm 48,6% tổng nguồn

vốn. Sau đó, khoản mục này giảm xuống 7.478 triệu đồng, giảm 31 triệu đồng tương

ứng với tỷ lệ giảm 0,4% so với năm 2012; tuy nhiên, tỷ trọng lại tăng 3,2 lên thành

51,8% so với tổng nguồn vốn. Về giá trị thì vốn CSH giảm nhưng về tỷ trọng thì vốn CSH lại tăng, điều này cho thấy Công ty đang ngày càng chủ động hơn trong nguồn

vốn của mình, loại bỏ dần các tác động và sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Các

yếu tố ảnh hưởng đến vốn CSH:

Vốn đầu tư của CSH

Trong suốt quá trình hoạt động, Công ty luôn giữ số vốn đầu tư của CSH là 7.500 triệu đồng. Về mặt tỷ trọng, tỷ trọng vốn đầu tư của CSH có xu hướng tăng

trong giai đoạn 2011 – 2013. Cụ thể là chiếm 44,62% tổng nguồn vốn ở năm 2011.

Sau đó tăng lên thành 48,55 ở năm 2012. Đến năm 2013 lại tiếp tục tăng 3,4 lên

thành 51,95%. Sự gia tăng về mặt tỷ trọng trong khi giá trị của khoản mục này thay

đổi cho thấy Công ty ngày càng sử dụng nhiều nguồn vốn CSH đầu tư cho hoạt động

sản xuất kinh doanh.

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2011 là -90 triệu đồng. Đến năm 2012,

hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có nhiều khởi sắc hơn năm 2011 nên

khoản mục này tăng lên thành 9 triệu đồng, tức tăng 99 triệu đồng. Khoản lợi nhuận

này lại bắt đầu giảm trong giai đoạn 2012 – 2013, lúc này là -22 triệu đồng, giảm 31

triệu đồng so với năm 2012. Đây là kết quả của việc kiểm soát chi phí không tốt và

hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giảm.

Nguồn kinh phí và các quỹ khác

Giá trị nguồn kinh phí và các quỹ khác của Công ty trong giai đoạn 2011 –

2013 là bằng 0.

2.2.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp nhà quản trị kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch về thu nhập, chi phí và kết quả từng loại hoạt động cũng như kết quả chung của doanh nghiệp; có thể đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác.

42

Bảng 2.4. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 2011 - 2013

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch tuyệt đối

Chênh lệch tƣơng đối (%)

Chỉ tiêu

Năm 2011 Năm 2012

Năm 2013

STT

2012 - 2011

2013 - 2012

2012 - 2011

2013 - 2012

(1)

(2)

(3)

(4) = (2)-(1)

(5) = (3)-(2)

(4)/(1)

(5)/(2)

45.196

31.314

27.951

(13.882)

(3.363)

(30,71)

(10,74)

1.

Doanh thu BH&CCDV

-

-

-

-

-

-

-

2.

Giảm trừ doanh thu

3.

45.196

31.314

27.951

(13.882)

(3.363)

(30,71)

(10,74)

Doanh thu thuần về BH&CCDV

42.798

29.570

26.596

(13.228)

(2.974)

(30,91)

(10,06)

4.

Giá vốn hàng bán

5.

2.398

1.744

1.355

(654)

(389)

(27,27)

(22,31)

Lợi nhuận gộp về BH&CCDV

4

3

2

(1)

(1)

(25)

(33,33)

6.

Doanh thu hoạt động tài chính

140

36

(104)

(36)

(74,29)

(100)

7.

Chi phí tài chính

140

-

-

(140)

-

(100)

-

Trong đó: - Lãi vay

334

919

786

585

(133)

175,15

(14,47)

8.

Chi phí bán hàng

1.880

674

584

(1.206)

(90)

(64,15)

(13,35)

9.

Chi phí quản lý doanh nghiệp

10.

48

118

(12)

70

(130)

145,83

(110,17)

Lợi nhuận thuần từ HĐKD

118

4

13

(114)

9

(96,61)

225

11.

Thu nhập khác

130

2

31

(128)

29

(98,46)

1450

12.

Chi phí khác

13.

(12)

1

(18)

13

(19)

108,33

(1900)

Lợi nhuận khác

14.

37

120

(30)

83

(150)

224,32

(125)

Lợi nhuận trƣớc thuế

7

21

14

(21)

200

(100)

15.

Chi phí thuế TNDN

16.

30

99

(30)

69

(129)

230

(130,3)

Lợi nhuận sau thuế

(Nguồn: Số liệu xử lý từ báo cáo kết quả kinh doanh)

43

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có xu hướng giảm dần trong năm

2011 – 2013. Năm 2011 là 45.196 triệu đồng, năm 2012 chỉ còn 31.314 triệu đồng, giảm 13.882 triệu đồng tương ứng với mức giảm 30,71% so với năm 2011. Sản lượng

hàng hóa được tiêu thụ của Công ty liên tục giảm, thị phần giảm sút do vấp phải sự

cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ. Thêm vào đó, chỉ số lạm phát luôn ở mức cao

(khoảng 19,81 ) đã tác động không nhỏ vào hoạt động bán hàng của Công ty. Đây là

nguyên nhân khiến doanh thu năm 2012 giảm đáng kể.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2013 tiếp tục giảm 3.363

triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 10,74% xuống còn 27.951 triệu đồng. Nền kinh tế

thế giới đang ở trong chu kỳ suy thoái do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc khủng

hoảng nợ ở châu Âu và chỉ số lạm phát vẫn duy trì ở mức cao là nguyên nhân chính cho sự suy giảm của khoản mục này ở năm 2013. Tuy nhiên, nhờ sự hiệu quả của chính sách nới lỏng tín dụng mà doanh thu năm 2013 của Công ty giảm nhẹ hơn các

Công ty khác cùng ngành.

Các khoản giảm trừ doanh thu

Nhờ có sự kiểm soát, quản lý tốt về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cũng như

việc quản lý dòng tiền nên trong cả giai đoạn 2011 -2013 đều không phát sinh các

khoản làm giảm trừ doanh thu.

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Năm 2012 là 31.314 triệu đồng, giảm 13.882 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ

giảm 30,72% so với năm 2011 và tiếp tục giảm 3.363 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ

giảm 10,74% ở năm 2013. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ chính

bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ do Công ty không có các khoản giảm trừ

doanh thu.

Giá vốn hàng bán

Tình hình giá vốn qua các năm có sự biến động đáng kể. Giá vốn hàng bán ở năm 2011 là 42.798 triệu đồng. Sang năm 2012 thì giá vốn bắt đầu giảm 13.228 triệu đồng xuống còn 29.570 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 30,91% so với năm 2011. Để đối mặt với tình hình kinh tế đầy khó khăn, Công ty chỉ mua về một lượng hàng

hóa vừa đủ để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì thế mà giá vốn trong năm 2012 suy giảm một cách đáng kể. Đến năm 2013, giá vốn lại tiếp tục giảm xuống còn 26.596 triệu đồng, giảm 2.974 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 10,06% so với năm 2012. Có thể dễ dàng thấy tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty đang tốt dần lên, tốc độ giảm ở năm 2013 chỉ bằng 1/3 tốc độ giảm của giá vốn ở năm 2012; về giá trị thì năm 2013 chỉ giảm 2.974 triệu đồng trong khi năm 2012 giảm tới 13.228 triệu đồng. 44

Kết quả này là một số chính sách mà Công ty áp dụng như: nới lỏng tín dụng, đa dạng

hóa sản phẩm,… bước đầu đạt hiệu quả.

Lợi nhuận gộp

Năm 2012 là 1.744 triệu đồng, giảm 654 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm

27,27% so với năm 2011. Đến năm 2013 chỉ còn là 1.355 triệu đồng, giảm 389 triệu

đồng tương ứng giảm 22,31% so với năm 2012. Nguyên nhân khiến lợi nhuận gộp

giảm là do doanh thu thuần vào giá vốn hàng bán. Năm 2013, doanh thu thuần và giá

vốn hàng bán giảm với tốc độ nhỏ hơn năm 2012 nên lợi nhuận gộp cũng giảm chậm hơn năm 2012. Lợi nhuận gộp liên tục giảm trong giai đoạn 2011 – 2013 cho thấy dù

có nhiều khởi sắc nhưng Công ty vẫn đang trong tình trạng hoạt động kinh doanh

không hiệu quả.

Doanh thu hoạt động tài chính

Năm 2012 là 3 triệu đồng, chiếm 0,01% tổng doanh thu; giảm 1 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 25% so với năm 2011. So với năm 2012, doanh thu hoạt

động tài chính tiếp tục giảm 1 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 33,33% ở năm

2013. Nguyên nhân của tình trạng này là do giá trị của cả ba nguồn thu chính của hoạt

động tài chính (lãi tiền gửi ngân hàng, chêch lệch tỉ giá hối đoái, doanh thu hoạt động

tài chính khác) đều rất thấp. Thêm vào đó, Công ty không cho tổ chức khác vay, không

tham gia thị trường bất động sản, không đầu tư vào chứng khoán cũng không góp vốn

liên doanh, liên kết với Công ty khác,…nên doanh thu hoạt động tài chính giảm dần

trong năm 2011 - 2013.

Doanh thu hoạt động tài chính liên tục giảm trong giai đoạn 2011 – 2013 nhưng

do tỷ lệ của doanh thu hoạt động tài chính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ là rất nhỏ (cả 3 năm đều nhỏ hơn 0,01 ) nên không gây ra những tác động lớn

trong hoạt động tạo doanh thu của doanh nghiệp.

Chi phí tài chính

Năm 2011, chi phí tài chính là 140 triệu đồng, chiếm 0,31% tổng chi phí; năm 2012 giảm xuống còn 36 triệu đồng, tức giảm 104 triệu đồng tương ứng với mức giảm 74,29% so với năm 2011. Chi phí tài chính của Công ty trong năm được cấu thành chủ yếu từ lãi vay nên sự suy giảm của khoản mục này ở năm 2012 là do Công ty đã thanh

toán được một phần gốc và lãi vay tại ngân hàng. Cuối năm 2012, Công ty hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Do đó, chi phí tài chính ở năm 2013 bằng 0.

Chi phí bán hàng

Năm 2012, chi phí bán hàng là 919 triệu đồng, tăng 585 triệu đồng tương ứng với mức tăng là 175,15 so với năm 2011. Với mục đích tăng lượng sẩn phẩm tiêu

45

thụ trong năm 2012, Công ty đã tăng các khoản chi tiêu liên quan đến hoạt động tiêu

thụ như khoản phụ cấp cho nhân viên bán hàng, hoa đồng đại lý, hoa hồng môi giới,

quảng cáo, khuyến mại,... Đến năm 2013, chi phí bán hàng giảm 133 triệu đồng (giảm 14,47%) xuống còn 768 triệu đồng. Đây là sự cắt giảm chi phí để duy trì lợi nhuận, đối

phó với sự giảm sút trầm trọng của tình hình tiêu thụ sản phẩm.

Chi phí quản lý doanh nghiệp

Từ các số liệu thu được, ta có thể thấy xu hướng của chi phí quản lý là giảm

trong giai đoạn 2011 – 2013. Cụ thể ở năm 2011, chi phí này là 1.880 triệu đồng, chiếm 4,15% tổng chi phí. Sang năm 2012, giảm xuống còn còn 674 triệu đồng, giảm

1.206 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 64,15%. Đến năm 2013, chi phí quản lý

doanh nghiệp tiếp tục giảm 90 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 13,35% so với năm 2012

xuống còn 584 triệu đồng. Do thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời chỉ số lạm phát luôn ở mức cao và doanh thu có xu hướng giảm nên Công ty đã cắt giảm một số chi phí như chi phí tiếp khách, tổ chức hội nghị, chi phí cho các dịch vụ mua

ngoài,…để có thể đảm bảo lợi nhuận cuối kì theo đúng kế hoạch.

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

Năm 2012, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 118,58 triệu đồng, tăng

145,83 tương ứng với 70 triệu đồng. Dù lợi nhuận gộp và doanh thu hoạt động tài

chính đều giảm nhưng do chính sách cắt giảm chi phí quản lý, bán hàng, chi phí tài

chính của Công ty mà lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh có thể tăng một cách

đáng kể. Năm 2013, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh bắt đầu giảm xuống,

giảm 130 triệu đồng xuống -12 triệu đồng. Khoản mục này giảm là do sự suy giảm khá

mạnh của lợi nhuận gộp (giảm 398 triệu đồng) trong khi các chi phí giảm ít hơn (giảm

386 triệu đồng)

Thu nhập khác

Thu nhập khác ở năm 2012 giảm 114 triệu đồng xuống còn 4 triệu đồng. Thu

nhập khác của Công ty trong giai đoạn 2011 – 2012 chủ yếu là tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng; vì số lượng khách hàng vị phạm hợp đồng giảm nên thu nhập khác cũng giảm theo. Năm 2013 là 13 triệu đồng, tăng 9 triệu đồng so với năm 2012 do Công ty nhận được khoản tiền chênh lệch khi đánh giá lại tài sản thanh lý.

Chi phí khác

Chi phí khác năm 2011 là 130 triệu đồng. Đến năm 2012 chỉ còn là 2 triệu đồng, giảm 128 triệu đồng so với năm 2011. Đây là kết quả của việc Công ty tuân thủ đúng các điều khoản của hợp đồng với khách hàng. Năm 2013, chi phí khác tăng 29 triệu đồng lên thành 31 triệu đồng. Sở dĩ có sự gia tăng này là do năm 2013, Công ty

46

nhập kho một lượng lớn nguyên vật liệu và điều kiện kho bãi không được tốt nên chi

phí hao hụt nguyên vật liệu tăng lên.

Lợi nhuận khác

Lợi nhuận khác là khoản chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác. Năm

2011, lợi nhuận khác là -12 triệu đồng. Đến năm 2012 tăng lên thành 1 triệu đồng do

mức độ suy giảm của chi phí khác (98,46%) lớn hơn mức giảm của thu nhập khác

(96,61 ). Đến năm 2013, tốc độ tăng của chi phí khác (1450%) lại lớn hơn gấp nhiều

lần tốc độ tăng của thu nhập khác (225%) kéo theo lợi nhuận khác của Công ty trong năm 2013 bị âm (-18 triệu đồng).

Lợi nhuận trước thuế

Lợi nhuận trước thuế của Công ty năm 2012 là 120 triệu đồng, tăng 83 triệu

đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 224,32% so với năm 2011. Mặc dù doanh thu giảm khá mạnh trong năm 2012 nhưng nhờ thực hiện tốt công tác quản lý chi phí, chính sách cắt giảm chi phí quản lý, chi phí bán hàng, chỉ phí tài chính và các khoản thu đáng kể từ

chiết khấu thanh toán mà Công ty được hưởng đã kéo theo lợi nhuận trước thuế của

Công ty tăng mạnh. Năm 2013, khoản mục này là -30 triệu đồng, giảm 150 triệu đồng

tương ứng giảm 125% so với năm 2012, nguyên nhân chủ yếu là do mức suy giảm của

các khoản thu nhập lớn hơn mức suy giảm của các khoản chi phí.

Chi phí thuế TNDN

Ngoài năm 2013 Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ nên không

phải đóng thuế, hai năm còn lại Công ty đều nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ

đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Cụ thể là 7 triệu đồng vào năm 2011 và 21 triệu

đồng vào năm 2012.

Lợi nhuận sau thuế

Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của Công ty. Lợi nhuận sau thuế

năm 2011 là 30 triệu đồng; ở năm 2012 là 99 triệu đồng, tăng 69 triệu đồng, tương ứng

với mức tăng 230 so với năm 2011. Nhưng sang năm 2013, lợi nhuận sau thuế giảm 129 triệu đồng, xuống -30 triệu đồng.

Đánh giá chung

Doanh thu liên tục giảm trong giai đoạn 2011 - 2013 là kết quả tất yếu do ảnh hưởng của nền kinh tế cũng như sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Việc áp dụng các chính sách cắt giảm chi phí đã giúp Công ty có lãi trong năm 2011 và 2012; tuy nhiên, đến năm 2013 thì Công ty bắt đầu thua lỗ. Điều này cho thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đang thực sự không tốt. Vì vậy, Công ty cần tìm ra các

47

biện pháp để nhanh chóng khắc phục, cải thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động sản

xuất kinh doanh.

2.2.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm giải thích quỹ tiền mặt trên bảng cân

đối kế toán thay đổi do những nguyên nhân gì. Vì lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu từ

cộng lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh cộng lưu chuyển tiền từ hoạt động tài

chính đúng bằng chênh lệch quỹ tiền mặt cuối kì so với đầu kì trên bảng cân đối kế

toán. Việc phân tích này giúp nhà quản trị dự đoán được các dòng tiền ra, vào của Công ty, đánh giá thời cơ kinh doanh để đưa ra các quyết định kịp thời.

Bảng 2.5. Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch

Chênh lệch

2012 - 2011

2013 - 2012

Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Tuyệt đối

Tƣơng đối

Tuyệt đối

Tƣơng đối

50.956

35.334

31.610

(15.622)

(30,66)

(3.724)

(10,54)

từ bán thu I. Tiền hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác

(40.021)

(33.696)

(30.348)

6.325

15,8

3.348

9,94

II. Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ

(1.484)

(928)

(722)

556

37,47

206

22,2

III. Tiền chi trả cho người lao động

IV. Tiền chi trả lãi vay

(139)

(36)

-

103

74,1

36

100

(7)

(1)

(5)

6

85,71

(4)

(400)

V. Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

247

245

359

(2)

(0,81)

114

46,53

VI. Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh

(2.530)

(1.604)

(2.834)

926

36,61

(1230)

(76,68)

VII. Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh

Lƣu chuyển tiền

7.020

(687)

(1.940)

(7.707)

(109,79)

(1253)

(182,39)

thuần từ hoạt động

kinh doanh

(Nguồn: báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2011 - 2013)

48

Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào

và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là phần quan trọng nhất trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ vì dòng tiền ra vào của Công ty chủ

yếu từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh giảm mạnh trong giai đoạn

2011 – 2013. Bắt đầu ở năm 2011 với 7.020 triệu đồng, sau đó giảm 7.707 triệu đồng

tương ứng với tỷ lệ giảm 109,79 vào năm 2012. Năm 2013, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh tiếp tục giảm xuống còn -1.940 triệu đồng, tức giảm 1253 triệu

đồng. Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là do xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh

trên thị trường khiến cho doanh số bán hàng của Công ty giảm mạnh.

Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác: Ta có thể dễ dàng thấy sự suy giảm mạnh của dòng tiền này. Năm 2011 là 50.956 triệu đồng. Đến năm 2012 chỉ còn 35.334 triệu đồng, giảm 15.622 triệu đồng so với năm 2011. Dòng tiền

này tiếp tục giảm 3.724 triệu tương ứng tỷ lệ giảm 10,54% xuống còn 31.610 triệu

đồng. Sự suy giảm của dòng tiền vào này là do Công ty áp dụng chính sách nới lỏng

tín dụng.

Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ: Năm 2012, dòng tiền này là

33.696 triệu đồng, giảm 6.325 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 15,8% so với năm

2011 và tiếp tục giảm ở năm 2013, giảm 3.348 triệu đồng xuống còn 30.348 triệu

đồng. Việc càng ngày càng bán được ít hàng hóa hơn và chính sách thu hẹp quy mô

sản xuất kinh doanh chính là nguyên nhân của sự suy giảm của dòng tiền ra này.

Tiền chi trả cho người lao động: Đây là một khoản chi cố định nên Công ty

không có cách nào tác động được vào ngoài cắt giảm số lao động của mình. Năm

2011, số tiền trả lương cho lao động là 1.484 triệu đồng. Đến năm 2012 giảm xuống

còn 928 triệu đồng, giảm 556 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 37,47%. Và tiếp tục

giảm 206 triệu đồng xuống còn 722 triệu đồng ở năm 2013.

Tiền chi trả lãi vay: Đến năm 2013, Công ty đã thanh toán toàn bộ khoản vay ngắn hạn. Ở năm 2011, số tiền Công ty phải chi ra để thanh toán lãi vay là 139 triệu đồng. Số tiền này giảm dần ở năm 2012, giảm 103 triệu đồng xuống còn 36 triệu đồng.

Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp: Đây là một khoản cố định được tính bằng 25% lợi nhuận của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào tình hình kinh doanh tốt hoặc xấu mà Công ty phải nộp thuế hoặc được khấu trừ vào kì sau.

Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh: Đấy chính là khoản tiền Công ty có được do thanh lý hoặc nhượng bán TSCĐ. Năm 2012, khoản tiền này là 245 triệu

49

đồng, giảm 2 triệu đồng so với năm 2011. Đến năm 2013 thì khoản thu nhập khác này

tăng khá nhanh, tăng 114 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 46,53% so với năm 2012.

Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh: Đây là khoản tiền chi cho hoạt động mua bán, thanh lý TSCĐ. Cụ thể ở năm 2011 là 2.530 triệu đồng. Khoản chi khác này

giảm xuống còn 1.604 triệu đồng ở năm 2012, tức giảm 926 triệu đồng tương ứng với

tỷ lệ giảm là 36,61% so với năm 2011. Đến năm 2013 thì toàn tiền này lại tăng 1.230

triệu đồng lên thành 2834 triệu đồng.

Bảng 2.6. Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính

ĐVT: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

1. Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, 7.500 - - nhận góp vốn của chủ sở hữu

2. Tiền vay ngắn hạn, dài hạn - 1.582 - nhận được

3. Tiền chi trả nợ gốc vay (5.321) (2.230) -

Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt 2.179 (649) - động tài chính

(Nguồn: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2011 – 2013)

Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính

Dòng tiền thuần từ hoạt động tài chính năm 2011 là 2.179 triệu đồng. Năm

2012 là -649 triệu đồng, giảm 2.827 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 129,78%.

Nguyên nhân của sự suy giảm dòng tiền thuần từ hoạt động tài chính là do tiền thu từ

phát hành cổ phiếu, nhận góp vốn của CSH giảm mạnh (7.500 triệu đồng xuống 0

đồng) dù cho tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được tăng và khoản tiền chi trả nợ gốc vay giảm.

Đến năm 2013 thì các khoản mục này đều bằng 0, chứng tỏ công đã hoàn thành

nghĩa vụ trả nợ của mình và không có các khoản thu chi từ hoạt động tài chính khác; Công ty chỉ tập trung vào hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tƣ

Dòng tiền duy nhất đến từ hoạt động đầu tư chính là khoản tiền chi ra để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác. Năm 2011, Công ty đã chi ra 17 triệu đồng. Khoản chi này tăng lên thành 65 triệu đồng ở năm 2012, tức tăng 48 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 386,01 . Sự gia tăng này là do trong năm, Công ty chi

50

ra một khoản tiền để mua một số phương tiện đi lại, cụ thể là xe máy để phục vụ cho

sự di chuyển của nhân viên.

Sang năm 2013, Công ty tập trung toàn bộ nguồn vốn vào hoạt động sản xuất

kinh doanh nên lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư bằng 0.

Nhận xét

Qua phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ta thấy khả năng tạo tiền từ hoạt động

kinh doanh là lớn nhất và đóng vai trò chủ đạo trong Công ty. Tuy nhiên, xu hướng

của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2011 – 2013 lại là giảm, vì thế Công ty cần phải sớm tìm ra biện pháp nhằm tăng cường dòng tiền vào đặc biệt là

khoản thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ và hạn chế dòng tiền ra bằng cách tiết kiệm

chi phí nhân công một cách hợp lý, cắt giảm các khoản chi phí khác,… Có như vậy thì

dòng tiền thuần mới dương và ngày càng tăng, Công ty sẽ vững vàng hơn về việc sử dụng vốn.

2.2.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính

2.2.4.1. Phân tích chỉ tiêu thanh toán

 Khả năng thanh toán ngắn hạn

Đối với một doanh nghiệp kinh doanh ở lĩnh vực thương mại dịch vụ thì đây là

một chỉ tiêu vô cùng cần thiết.

Bảng 2.7. Khả năng thanh toán ngắn hạn

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch

Chênh lệch

Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

2012 – 2011 (%)

2013 – 2012 (%)

Tài sản lưu động và

16.568

15.193

14.230

(8,3)

(6,34)

đầu tư ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

9.392

7.940

6.958

(15,46)

(12,37)

Khả năng thanh

1,76

1,91

2,04

8,52

6,81

toán ngắn hạn (lần)

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013)

Khả năng thanh toán ngắn hạn ở cả 3 năm đều khá cao (lớn hơn 1) và được duy trì khá ổn định qua các năm. Năm 2011, chỉ tiêu là này 1,76 lần, tức cứ mỗi 1 đồng nợ

ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,76 đồng TSNH. Đến năm 2012, chỉ tiêu này tăng 0,15 lần lên thành 1,91 lần, điều này có nghĩa là khoản tiền đảm bảo cho 1 đồng nợ ngắn hạn tăng lên thành 1,91 đồng. Năm 2013, khoản mục này tiếp tục tăng lên thành 2,04

lần. Đây là kết quả của sự suy giảm về quy mô của cả 2 khoản mục tài sản lưu động,

51

đầu tư ngắn hạn và nợ ngắn hạn với tốc độ suy giảm của nợ ngắn hạn lớn hơn tốc độ

suy giảm tài sản lưu động, đầu tư ngắn hạn. Mặc dù các yếu tố cấu thành đều giảm

nhưng chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty liên tục tăng, chứng tỏ rủi ro thanh toán rất thấp và sức hấp dẫn của Công ty ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc duy trì

một lượng TSNH lớn chứng tỏ việc sử dụng tài sản không hiệu quả, ảnh hưởng đến

khả năng sinh lời của Công ty.

 Khả năng thanh toán nhanh

Bảng 2.8. Khả năng thanh toán nhanh

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

TSNH 16.568 15.193 14.230 (8,3) (6,34)

Hàng tồn kho 258 204 684 (20,93) 235,29

Nợ ngắn hạn 9.392 7.940 6.958 (15,46) (12,37)

Khả năng thanh 1,74 1,89 1,95 8,62 3,17 toán nhanh

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013)

Khả năng thanh toán nhanh của Công ty trong giai đoạn 2011 – 2013 khá cao.

Cụ thể, năm 2011, chỉ tiêu này là 1,74 lần, tức cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn được Công ty

chi trả bằng 1,74 đồng TSNH mà không cần bán hàng tồn kho. Đến năm 2012, chỉ tiêu

này tăng 0,15 lần lên thành 1,89 lần. Năm 2013, chỉ tiêu này là 1,95 lần, tăng 0,06 lần

so với năm 2012.

Chỉ tiêu này luôn duy trì ở mức cao và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng nhỏ cho

thấy tiềm lực rất lớn của Công ty về quy mô tiền dự trữ cũng như khả năng cấp tín dụng thương mại cho khách hàng. Công ty thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, kéo theo hầu hết các khoản mục đều giảm nhưng tốc độ giảm của TSNH (8,3%

năm 2012; 6,34 năm 2013) nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn (15,46 năm 2012 và 12,37 năm 2013), thêm vào đó, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng không đáng kể nên

chỉ tiêu này liên tục tăng trong giai đoạn 2011 – 2013.

52

 Khả năng thanh toán tức thời

Bảng 2.9. Khả năng thanh toán tức thời

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

Tiền và các khoản 9.832 8.430 6.489 (14,26) (23,02) tương đương tiền

Nợ ngắn hạn 9.392 7.940 6.958 (15,46) (12,37)

Khả năng thanh 1,05 1,06 0,93 0,95 (12,26) toán tức thời

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 - 2013)

Chỉ tiêu thanh toán tức thời của Công ty trong giai đoạn này được duy trì khá

ổn định. Năm 2011 là 1,05 lần, tức Công ty có thể dùng 1,05 đồng tiền và các khoản

tương đương tiền để chi trả cho 1 đồng nợ ngắn hạn. Đến năm 2012, chỉ tiêu này tăng

0,01 lần lên thành 1,06 lần và giảm xuống còn 0,93 lần ở năm 2013. Nguyên nhân về

sự biến động của khả năng thanh toán tức thời là do sự suy giảm của cả tiền, các khoản

tương đương tiền (14,26 năm 2012 và 23,02 năm 2013) và nợ ngắn hạn (15,46%

năm 2012 và 12,37 năm 2013). Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời được duy trì ở

mức khá cao cho thấy quy mô dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty

là khá lớn chủ yếu nhằm mục đích thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Điều này sẽ đảm

bảo khả năng thanh khoản cho Công ty, phòng tránh các rủi ro, tăng sức hấp dẫn đối

với các nhà đầu tư nhưng duy trì một lượng tiền dự trữ khá lớn sẽ làm nguồn tiền bị

đứng yên, không vận động, gây lãng phí và ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của Công ty.

2.2.4.2. Phân tích hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

 Tỷ số nợ

Bảng 2.10. Tỷ số nợ

ĐVT: Triệu đồng

Khoản mục Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng nợ phải trả 9.392 7.940 6.958

Tổng tài sản 16.802 15.449 14.437

Tỷ số nợ trên tổng tài sản 56% 51% 48%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 - 2013)

53

Năm 2011, tỷ số nợ của Công ty là 56 , có nghĩa là cứ 100 đồng tài sản hiện

có của Công ty được tài trợ bằng 56 đồng nợ phải trả. Tỷ số này giảm ở năm 2012,

giảm xuống còn 51% và tiếp tục giảm 3% xuống 48% ở năm 2013. Có được kết quả này là do Công ty đã thanh toán được một phần nợ phải trả làm cho khoản mục này

giảm xuống và tốc độ giảm của khoản nợ phải trả lớn hơn tốc độ giảm của tổng tài sản

trong các năm 2011 – 2013. Chỉ tiêu này có xu hướng giảm xuống cho thấy Công ty

đang muốn hạn chế tầm ảnh hưởng của nguồn vốn bên ngoài, tăng khả năng tự chủ tài

chính của mình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cũng ít nhạy cảm hơn với những biến động của nền kinh tế do giảm được tỷ lệ đòn bẩy tài chính.

 Tỷ suất tự tài trợ

Chỉ tiêu này thể hiện mức độ tự chủ của doanh nghiệp về mặt tài chính, là tỷ lệ

giữa vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản.

Bảng 2.11. Tỷ số tự tài trợ

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch Chênh lệch Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

Vốn chủ sở hữu 7.409 7.508 7.478 1,33 (0,4)

Tổng tài sản 16.802 15.449 14.437 (8,05) (6,55)

Tỷ số tự tài trợ (%) 44 49 52 11,36 6,12

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 - 2013)

Năm 2011, tỷ số tự tài trợ là 44%. Điều này có nghĩa là cứ 100 đồng tài sản

hiện có của Công ty được tài trợ bởi 44 đồng vốn CSH. Đến năm 2012 tỷ số này là

49%, tăng 5 tương ứng với tỷ lệ tăng là 11,36 so với năm 2011; năm 2013 tỷ số tự

tài trợ tiếp tục tăng 3 so với năm 2012 lên thành 52%. Nguyên nhân dẫn đến tình

trạng này là do vốn chủ sở hữu biến động không đáng kể trong khi tổng tài sản giảm khá nhiều (8,05 vào năm 2012 và 6,55 vào năm 2013). Tỷ suất tự tài trợ của Công ty có xu hướng tăng chứng tỏ Công ty đang nâng dần tỷ trọng của vốn CSH trong tổng tài sản, điều này đồng nghĩa với việc Công ty đủ sức để tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm được các khoản chi phí lãi vay từ nợ phải trả.

 Tỷ suất đầu tư

Tỷ suất đầu tư nói lên kết cấu tài sản. Chỉ tiêu này càng cao, phản ánh quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp ngày càng được tăng cường, năng lực sản xuất của doanh nghiệp ngày càng mở rộng.

54

Do doanh nghiệp không có các khoản đầu tư tài chính dài hạn nên ta chỉ phân

tích tỷ suất đầu tư TSCĐ.

Bảng 2.12. Tỷ suất đầu tƣ TSCĐ

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệch

Chênh lệch

Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

2012 – 2011 (%)

2013 – 2012 (%)

TSCĐ

208

198

133

(4,81)

(32,83)

Tổng tài sản

16.802 15.449 14.437

(8,05)

(6,55)

Tỷ suất đầu tƣ TSCĐ (%)

1,24

1,28

0,92

3,53

(28,12)

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 - 2013)

Qua bảng trên, ta có thể thấy tỷ suất đầu tư tài sản cố định năm 2012 tăng

0,04% so với năm 2011; điều này có nghĩa là TSCĐ chỉ chiếm 1,28% trong tổng tài sản, thấp hơn hẳn so với các Công ty khác cùng ngành. Nguyên nhân của sự gia tăng

này là do sự suy giảm khá mạnh của tổng tài sản (giảm 1.353 triệu đồng) trong khi

TSCĐ chỉ giảm nhẹ (giảm 10 triệu đồng).

Sang năm 2013, tỷ số này giảm xuống còn 0,92%, giảm 0,36% tương ứng với

tỷ lệ giảm là 28,12% so với năm 2012 do chênh lệnh giữa tốc độ giảm của TSCĐ

(32,83%) và tốc độ giảm của tổng tài sản (6,55%) quá lớn. Qua quá trình phân tích, ta

thấy tỷ suất đầu tư TSCĐ có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2012 và giảm xuống ở năm

2013, điều ngày chứng tỏ cơ sở vật chất của Công ty không được chú trọng đầu tư,

thay vào đó là các khoản đầu tư vào tài sản ngắn hạn, đúng với bản chất của Công ty

dịch vụ thương mại.

2.2.4.3. Phân tích nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động

 Luân chuyển hàng tồn kho

Bảng 2.13. Luân chuyển hàng tồn kho

ĐVT: Triệu đồng

Khoản mục

Giá vốn hàng bán HTK đầu kì HTK cuối kì Trị giá HTK bình quân Số vòng quay HTK Thời gian tồn kho Năm Năm Năm 2011 2013 2012 42.798 29.570 26.596 204 684 444 60 6 59 258 158,5 270 1,33 258 204 231 128 2,81 Chênh lệnh 2012 – 2011 (%) (30,91) 337,29 (20,93) 45,74 (52,59) 110,94 Chênh lệnh 2013 – 2012 (%) (10,06) (20,93) 235,29 92,21 (53,21) 113,7

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 – 2013)

55

Số vòng quay HTK năm 2011 là 270 vòng, mỗi vòng là 1,33 ngày. Điều này

chứng tỏ mức dự trữ hàng tồn kho của Công ty còn quá ít trong khi nhu cầu của thị

trường lại cao. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho trong hai năm 2012 và 2013 giảm so với năm 2011. Năm 2012, tốc độ luân chuyển hàng tồn kho là 128 vòng, mỗi vòng là

2,81 ngày, giảm 142 vòng tương ứng với tỷ lệ giảm 52,59% so với năm 2011. Nguyên

nhân là do hoạt động tiêu thụ không tốt, sản lượng bán giảm, hàng hóa bị tồn trong

kho.

Đến năm 2013, số vòng quay hàng tồn kho lại tiếp tục giảm 68 vòng tương ứng với mức giảm 53,21% so với năm 2012 xuống còn 60 vòng, mỗi vòng tăng thêm 3,19

ngày lên thành 6 ngày. Trong năm 2013, giá trị hàng tồn kho trung bình của Công ty

đã được tăng lên để có thể sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thêm vào đó, sự

cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh khiến lượng hàng hóa bán ra của Công ty giảm mạnh, kéo theo khoản mục giá vốn hàng bán cũng giảm. Điều này đã tác động và làm số vòng quay hàng tồn kho giảm, đồng nghĩa với việc thời gian tồn kho lại tăng.

 Luân chuyển các khoản phải thu

Số vòng quay các khoản phải thu phản ánh khả năng thu hồi nợ của Công ty và

được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.14. Luân chuyển các khoản phải thu

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh

Chênh lệnh

Khoản mục

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

2012 – 2011 (%)

2013 – 2012 (%)

Doanh thu thuần

45.196 31.314

27.951

(30,72)

(10,74)

Phải thu đầu kì

5.371

6.428

6.434

19,68

0,09

Phải thu cuối kì

6.428

6.434

6.873

0,09

6,82

Phải thu bình quân

5.899,5

6.431 6.653,5

9,01

3,46

Số vòng quay khoản PT

8

5

4

(36,44)

(13,72)

Kì thu tiền bình quân

47

74

86

57,33

15,91

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 – 2013)

Trong năm 2012, số vòng quay các khoản phải thu là 5 vòng giảm 3 vòng và kì thu tiền bình quân tăng là 74 ngày, tăng 27 ngày so với năm 2011. Đến năm 2013, số

vòng quay tiếp tục giảm 1 vòng xuống còn 4 vòng và số ngày thu tiền bình quân tăng 12 ngày thành 86 ngày. Nguyên nhân chính là do doanh thu thuần giảm 30,72% ở năm 2012; 10,74% ở năm 2013, trong khi đó các khoản phải thu bình quân lại tăng. Như

vậy, trong giai đoạn này, việc thu hồi nợ của Công ty gặp nhiều khó khăn.

56

 Luân chuyển vốn lưu động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động không ngừng vận động. Nó

lần lượt mang nhiều hình thái khác nhau như: tiền, nguyên vật liệu,… và qua tiêu thụ sản phẩm, nó trở lại hình thái tiền tệ nhằm đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh hàng

ngày của Công ty. Khả năng luân chuyển vốn lưu động chi phối trực tiếp đến vốn dự

trữ và vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng luân chuyển được thể hiện

trong bảng sau:

Bảng 2.15. Luân chuyển vốn lƣu động

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

Doanh thu thuần 45.196 31.314 27.951 (30,72) (10,74)

VLĐ đầu kì 6.115 16.568 15.193 170,94 (8,3)

VLĐ cuối kì 16.568 15.193 14.230 (8,3) (6,34)

VLĐ bình quân 11.342 15.881 14.712 40,02 (7,36)

Số vòng quay VLĐ 4 2 1,9 (50) (3,65)

Số ngày/ vòng 90 183 189 102,09 3,78

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 – 2013)

Năm 2011, số vòng quay vốn lưu động bình quân là 4 vòng. Thời gian cho mỗi vòng quay vốn lưu động là 90 ngày. Điều này có nghĩa là cứ 1 đồng vốn lưu động thì

Công ty sẽ thu về 4 đồng doanh thu và để tạo được 4 đồng doanh thu thì Công ty sẽ

phải mất 90 ngày. Năm 2012, một đồng vốn lưu động chỉ tạo ra 2 đồng doanh thu,

giảm 2 đồng so với năm 2011, và mỗi vòng quay vốn lưu động mất thêm 93 ngày

thành 183 ngày so với năm 2011. Đây là kết quả của hoạt động tiêu thụ không được

tốt, thêm vào đó, vốn lưu động bình quân tăng cũng tác động làm giảm vòng quay vốn lưu động.

Sang năm 2013, một đồng vốn lưu động tạo ra 1,9 đồng doanh thu, giảm 0,1

đồng so với năm 2012, mỗi vòng lại kéo dài thêm 6 ngày thành 189 ngày. Nguyên nhân là do hoạt động tiêu thụ hàng hóa của Công ty không được cải thiện. Mặc dù vốn lưu động bình quân có giảm (7,36 ) nhưng cũng không cải thiện được vòng quay vốn

lưu động.

57

2.2.4.4. Phân tích nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Lợi nhuận là yếu tố hàng đầu mà một doanh nghiệp quan tâm khi hoạt động sản

xuất kinh doanh. Vì vậy, nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời có ý nghĩa rất quan trọng, nó sẽ đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ số trong

nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các

yếu tố đầu vào trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Đây là mối quan hệ giữa lợi nhuận với doanh thu, hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết, doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường; lợi nhuận

cho biết chất lượng, hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp. Như vậy, tỷ suất lợi nhuận

trên doanh thu cho ta biết vai trò và hiệu quả của doanh nghiệp.

Bảng 2.16. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

Doanh thu thuần 45.196 31.314 27.951 (30,72) (10,74)

Lợi nhuận ròng 2.398 1.744 1.355 (27,27) (22,31)

Tỷ suất sinh lợi 5,31% 5,57% 4,85% 4,97 (12,96) trên doanh thu

(Nguồn: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2011 - 2013)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2011 là 5,31 , có nghĩa là cứ 100 đồng

doanh thu thuần sẽ tạo ra được 5,31 đồng lợi nhuận ròng. Đến năm 2012, chỉ tiêu này

là 5,57 , tăng 0,26 so với năm 2011. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của nền kinh tế,

sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường làm cho doanh thu thuần của Công ty giảm khá

mạnh trong năm 2012 (30,72 ) và những nỗ lực của Công ty nhằm cắt giảm các chi phí để có thể kiểm soát được tốc độ giảm của lợi nhuận ròng (27,27%) đã làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.

Sang năm 2013, Công ty chỉ còn tạo được 4,85 đồng lợi nhuận ròng trên 100 đồng doanh thu, giảm 0,72 đồng so với giảm năm 2012. Điều này cho thấy tình hình

lợi nhuận trong năm 2013 không được tốt, nguyên nhân do lạm phát tăng cao nên các chi phí hoạt động của Công ty đều tăng. Mặc dù có dấu hiệu khả quan về việc kiểm soát tốc độ giảm của doanh thu thuần nhưng tốc độ giảm của lợi nhuận ròng vẫn còn quá cao khiến ROS giảm xuống.

58

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Bảng 2.17. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

TTS 16.802 15.449 14.437 (8,05) (6,55)

Lợi nhuận ròng 2.398 1.744 1.355 (27,27) (22,31)

14,2% 11,29% 9,39% (20,9) (16,86) Tỷ suất sinh lợi trên TTS

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 – 2013)

Tỷ số này thể hiện mức tương quan giữa mức sinh lợi của Công ty so với tổng tài sản của nó. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết hiệu quả của việc sử dụng tài

sản để kiếm lời.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2011 là 14,2 , tức là cứ 100 đồng tài sản

sẽ tạo ra 14,2 đồng lợi nhuận ròng. Năm 2012, tỷ suất này giảm 2,91% xuống còn

11,29 . Đây là kết quả của sự suy giảm của lợi nhuận ròng do các chi phí hoạt động

liên tục tăng cao khiến lợi nhuận ròng giảm khá mạnh (27,27%) trong khi tổng tài sản

giảm không đáng kể (8,05%).

Sang năm 2013, ROA lại tiếp tục giảm 1,9% xuống còn 9,39 , nghĩa là cứ mỗi

100 đồng tài sản bây giờ chỉ có thể tạo ra 9,39 đồng doanh thu do lợi nhuận ròng giảm

22,31% trong khi tổng tài sản chỉ giảm 6,55%. ROA liên tục giảm trong giai đoạn

2011 – 2013 cho thấy hiệu quả kinh doanh có xu hướng không tốt lắm, Công ty có cơ

cấu tài sản chưa hợp lý. Tuy nhiên, chỉ số ROA thấp không có nghĩa là hoạt động kinh

doanh của Công ty xấu đi vì ROA càng lớn thì hoạt động kinh doanh càng gặp nhiều

rủi ro. Vậy nên chính sách của Công ty là không chấp nhận rủi ro mặc dù lợi nhuận mang lại từ hoạt động kinh doanh là không cao.

59

 Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH

Bảng 2.18. Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH (ROE)

ĐVT: Triệu đồng

Chênh lệnh Chênh lệnh Năm Năm Năm Khoản mục 2011 2012 2013 2012 – 2011 (%) 2013 – 2012 (%)

Vốn CSH 7.410 7.509 7.478 1,34 (0,41)

Lợi nhuận ròng 2.398 1.744 1.355 (27,27) (22,31)

32,36% 23,23% 18,12% (28,23) (21,98) Tỷ suất sinh lợi trên vốn CSH

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 – 2013)

Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH năm 2011 là 32,36 , cho thấy cứ 100 đồng vốn Công ty bỏ ra sẽ thu lại được 32,36 đồng lợi nhuận. Năm 2012 là 23,23 , giảm 9,13%

so với năm 2011, chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn CSH là không được tốt so với

năm 2011. Vốn CSH bỏ ra trong năm 2012 nhiều hơn so với năm 2011 nhưng lợi

nhuận ròng lại giảm làm cho hiệu quả sử dụng vốn CSH giảm. Sang năm 2013, ROE

chỉ còn 18,12%, giảm 5,11% so với năm 2012. Sự suy giảm của ROE là do lợi nhuận

ròng vẫn tiếp tục giảm khá mạnh (22,31%) trong khi vốn CSH giảm không đáng kể

(0,41%). Chỉ số ROE liên tục giảm trong giai đoạn 2011 – 2013 cho thấy chiến lược

kinh doanh của Công ty là chưa hợp lý, chưa sáng tạo và chưa thích nghi với sự thay

đổi của nền kinh tế. Vì vậy, Công ty cần nhanh chóng tìm ra chiến lược kinh doanh

hợp lý hơn để có thể cải thiện tình hình kinh doanh trong thời gian tới.

2.3. Đánh giá chung về tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại

tổng hợp Hồng Phúc

2.3.1. Ưu điểm

- Lượng vốn bằng tiền cao cho phép Công ty chủ động trong việc mua hàng trả tiền ngay để hưởng chiết khấu thanh toán và đảm bảo khả năng tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn. Nếu lượng vốn bằng tiền cao hơn nhu cầu sử dụng thường xuyên thì Công ty nên nhanh chóng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh để tăng vòng quay

vốn, tạo lợi nhuận và tránh tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí.

- Trong giai đoạn 2011 – 2013, nguồn vốn CSH của Công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn trên tổng tài sản, hơn nữa lại có chiều hướng tăng lên về tỷ trọng qua các năm, cho thấy khả năng tự chủ về tài chính rất cao của Công ty. Khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn luôn được đảm bảo, loại bỏ những rủi ro thanh toán mà Công ty có thể gặp phải. Bên cạnh đó, nguồn vốn luôn được sẵn sàng để sử dụng, đối phó với những biến

60

cố bất ngờ có thể xảy đến với Công ty. Tiềm lực tài chính vững mạnh đã tạo nền tản,

bước đệm vững chắc cho việc hoạt động kinh doanh được ổn định và ngày càng phát

triển, đem đến nhiều lợi nhuận hơn cho Công ty, thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư cũng như tạo được lòng tin đối với các nhà cung cấp.

- Chính sách quản lý chi phí của Công ty phát huy hiệu quả rất tốt khi liên tục cắt giảm được chi phí qua các năm, cụ thể là chi phí quản lý doanh nghiệp giảm mạnh

trong giai đoạn 2011 – 2013, chi phí bán hàng có tăng lên ở năm 2012 nhưng sang năm 2013, Công ty đã làm cắt giảm các hoạt động bán hàng không cần thiết hoặc

không hiệu quả để giảm khoản chi phí này, đồng thời chi phí tài chính và chi phí khác

cũng giảm tương đối mạnh. Ngoài ra, Công ty không phải tốn 1 đồng chi phí lãi vay

nào do huy động từ các nguồn vay nợ bên ngoài để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2012 và năm 2013. Điều này giúp Công ty cải thiện một phần lợi

nhuận trong khi doanh thu suy giảm mạnh.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Hạn chế

- Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả. Công ty duy trì một số dư ngân quỹ hàng năm với tỷ trọng khá lớn nên lượng vốn này sẽ bị ứ đọng, chậm luân

chuyển và lãng phí. Bên cạnh đó, khoản mục phải thu khách hàng cũng chiếm tỷ trọng

khá lớn. Đây là những khoản vốn mà Công ty bị khách hàng chiếm dụng, dù chỉ trong

thời gian ngắn nhưng cũng gây ra sự lãng phí lớn về chi phí cơ hội và tăng rủi ro tín

dụng cho Công ty.

- Hoạt động tiêu thụ trì trệ dẫn đến doanh thu suy giảm. Đây là điều tất yếu phải xảy ra do Công ty gặp khó khăn khi phải đương đầu với nhiều biến động về mặt thị

trường, môi trường kinh doanh, đối tác khách hàng,… Ngoài ra, áp lực từ sự bành

trướng về quy mô và cả chính sách trong việc tranh giành thị phần cũng có tác động

không nhỏ vào hoạt động tiêu thụ của Công ty.

- Sai lầm trong việc sử dụng chính sách ưu đãi tín dụng thương mại. Vì muốn nhanh chóng thu hút được một lượng lớn khách hàng, Ban giám đốc đã áp dụng chính sách nới lỏng tín dụng. Việc Công ty chấp nhận giao kết các hợp đồng có những điều khoản ưu đãi như trả trước ít, thời hạn thanh toán dài, chiết khấu lớn,… Việc này đã

gây ra một hệ lụy không nhỏ cho Công ty ở các năm sau. Đặc biệt là các khách hàng không có ý định hợp tác lâu dài với Công ty, họ nhanh chóng chuyển qua nhà cung cấp khác với lời chào giá hấp dẫn hơn.

61

Nguyên nhân

- Nhận thức của lãnh đạo Công ty về công tác quản lý TSNH chưa thật tốt, từ đó làm cho công tác tổ chức quản lý mang tính khoa học chưa cao, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH.

- Hệ thống quản lý thông tin chưa đảm bảo yếu tố cập nhật thường xuyên, chưa đảm bảo tính hệ thống và chính xác. Những hạn chế trên đây cho thấy trình độ quản lý của Công ty là không tốt. Hiện nay, các nghiệp vụ tài chính đều do phòng Kế toán thực

hiện mà họ lại không có chuyên môn sâu về lĩnh vực tài chính nên gây ra sự quá tải

trong công việc và giảm chất lượng công tác tài chính.

- Công ty không có đội ngũ cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực thẩm định tài chính và kiểm soát khách hàng nên không theo dõi các khoản phải thu dẫn đến khoản mục

này chiếm tỷ trọng khá lớn trong tài sản lưu động, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó thu hồi cao.

- Hệ thống kênh phân phối sản phẩm còn yếu kém, chưa có bộ phân Marketing nên các hoạt động Marketing và các hình thức xúc tiến bán hàng chưa phát triển, hiệu quả

hoạt động bán hàng của Công ty còn yếu.

- Cơ chế chính sách của Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động, các doanh nghiệp phải tuân theo những quy định mà pháp luật ban hàng. Tuy nhiên,

luật ban hành của Nhà nước còn chưa hoàn chỉnh, thường xuyên sửa đổi, tác động lớn

đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

62

CHƢƠNG 3.

CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH

DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI TỔNG HỢP HỒNG PHÚC

3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại tổng hợp

Hồng Phúc

3.1.1. Mục tiêu phát triển

- Nâng cao tốc độ tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận. - Tiếp tục thực hiện chính sách tiết kiệm và tiết giảm chi phí hoạt động. - Nâng cao uy tín và lợi thế của Công ty nhằm tạo lợi thế trong công tác mở rộng thị trường, mở rộng hoạt động liên doanh, liên kết, đầu tư đổi mới công nghệ để nâng

cao năng lực sản xuất kinh doanh, tạo niềm tin cho khách hàng và đối tác.

- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời đẩy mạnh tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm với mục tiêu chiếm lĩnh, giữ vững và mở rộng thị phần trên

thị trường.

- Xây dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết công việc. Đảm bảo an toàn lao động, phòng chống cháy nổ,…xây dựng các chương trình phát triển tài năng cho nhân sự của Công ty, đảm bảo công việc ổn định, lâu dài với nhiều chính

sách đãi ngộ cho người lao động.

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý và tăng cường công tác quản trị và kiểm soát

nội bộ.

3.1.2. Định hướng phát triển

Trong thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, đối với bất kì một doanh

nghiệp hay một tổ chức nào thì chiến lược phát triển, quản lý và kế toán có vai trò vô

cùng quan trọng. Là một công ty kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại thì

mục tiêu lớn nhất là lợi nhuận. Vì vậy, việc không ngừng hoàn thiện các công tác như

kế toán, kinh doanh là những việc làm cần thiết để nâng cao thế mạnh, khắc phục

những điểm yếu làm tăng lợi nhuận cho Công ty cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Công ty luôn chú trọng vào nguồn nhân lực của mình và coi đó là tài sản quý giá nhất mang lại thành công. Việc xây dựng chính sách tốt để phát triển nguồn nhân

lực là một trong những ưu tiên hàng đầu. Công ty sẽ tuyển dụng những người thực sự có năng lực, đam mê công việc để nâng cao chất lượng đầu vào đồng thời tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ, cung cấp môi trường làm việc tốt và chế độ khen thưởng

hợp lí cho nhân viên.

63

Tăng cường hoạt động marketing, quảng cáo thương hiệu, củng cố và phát triển

thị trường nội địa một cách sâu rộng và vững chắc. Không ngừng nâng cao chất lượng

và đa dạng hóa dịch vụ, ngành nghề kinh doanh, phân đoạn thị trường một cách rõ ràng để có thể xác định được khách hàng mục tiêu để có những chiến lược bán hàng cụ

thể.

Củng cố mối quan hệ, hợp tác và phát triển hơn nữa đối với các đối tác lớn, tối

đa hóa hiệu quả hoạt động của Công ty. Bảm đảm cân đối thu chi, sử dụng và đầu tư

có hiệu quả. Từ đây tạo lập niềm tin nơi khách hàng, đối tác và tạo lợi thế trong việc huy động vốn phục vụ theo yêu cầu kinh doanh.

Quản lý tốt hàng tồn kho, các khoản phải thu, khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn

để kịp thời có biện pháp khắc phục, tránh tình trạng vốn của Công ty bị khách hàng

chiếm dụng quá lớn. Duy trì hoạt động tài chính lành mạnh và phù hợp là yếu tố quan trọng để giảm rủi ro tài chính cho Công ty cũng như đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, Công ty cần xem xét các hoạt động động huy động vốn hiệu

quả và ít chi phí như huy động từ nhân viên, vay ngân hàng,…

3.2. Các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng

mại tổng hợp Hồng Phúc

3.2.1. Giảm khoản phải thu bằng cách tăng thu hồi nợ

Với tình hình kinh tế hiện nay, việc thu hồi tất cả các khoản nợ của khách hàng

là bài toàn khó, không chỉ xảy ra với riêng Công ty mà còn là tình trạng chung của các

doanh nghiệp trong nền kinh tế. Để có thể giảm thiểu các khoản nợ này, Công ty cần

có một chính sách bán chịu với mức chiết khấu và lãi trả chậm chia theo thời gian trả

nợ, từ đó khuyến khích khách hàng thanh toán sớm.

Trước tiên là biện pháp chiết khấu cho khách hàng thanh toán sớm. Kỳ thu tiền

bình quân năm 2013 là 86 ngày, và cần rút ngắn kỳ thu tiền bình quân hơn nưa, do đó

Công ty nên áp dụng hình thức chiết khấu cho những khách hàng thanh toán trước 60 ngày. Chi phí chiết khấu cho khách hàng phải nhỏ hơn mức lợi ích mà việc chiết khấu đem lại cho Công ty, để đảm bảo việc áp dụng chiết khấu không khiến Công ty phải chịu nhiều thiệt hại hơn là không áp dụng, ta có công thức:

A A(1 - i%) >= 1 + nR

Trong đó:

A là số tiền cần thanh toán;

i% là tỷ lệ chiết khấu cho khách hàng;

n là tháng thanh toán trước hạn; 64

R là lãi suất tiền gửi ngân hàng hiện tại (kì hạn 1 tháng – 7 /năm).

Vậy nếu khách hàng thanh toán ngay, công thức sẽ là:

1 1 - i% >= Hay i < 1,82% 1 + 3x0,07/12

Trường hợp khách hàng thanh toán trong vòng 1 tháng (1 – 30 ngày)

1 1 - i% >= Hay i < 1,15% 1 + 2x0,07/12

Trường hợp khách hàng thanh toán trong vòng 2 tháng (31 – 60 ngày)

1 1 - i% >= Hay i < 0,58% 1 + 1x0,07/12

Bảng 3.1. Chiết khấu theo thời gian thanh toán

Trƣờng hợp

Thời gian thanh toán

Chiết khấu đƣợc hƣởng

1

Ngay lập tức

1,8%

2

1 – 30 ngày

1,1%

3

31 – 60 ngày

0,55%

4

Trên 60 ngày

0%

Thứ hai là biện pháp áp dụng lãi suất phạt cho các khách hàng thanh toán sau

90 ngày. Để tránh cảm giác bị lừa của khách hàng, điều này cần được ghi rõ trong hợp

đồng mua bán, rằng Công ty sẽ tính % lãi suất cho số tiền bị chiếm dụng nếu khách

hàng không thanh toán sau 3 tháng, đồng thời cũng cần nêu rõ tỉ lệ % lãi suất là bao

nhiêu và nên để ở mức bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng trong thời

điểm hiện tại, đảm bảo khách hàng không coi việc trả chậm như một kênh huy động

vốn của họ.

3.2.2. Gia tăng hiệu quả kinh doanh

Nâng cao doanh thu

- Áp dụng chiết khấu thanh toán cho các khách hàng thanh toán trước kì hạn vừa là một cách để giảm thiểu các khoản phải thu, vừa gia tăng được doanh thu trong kì do thu về được các khoản nợ quá hạn. Biện pháp này đã được nêu cụ thể ở mục 3.2.1.

- Đẩy mạnh quảng cáo, giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Công ty và chất lượng sản phẩm, bắt đầu với việc thiết kế lại trang web của Công ty. Hiện tại trang web

65

không tạo được ấn tượng với người dùng, chức năng tẻ nhạt và bất tiện, ảnh hưởng đến

hình ảnh và uy ín của Công ty.

- Áp dụng chiết khấu thương mại, tặng kèm sản phẩm cho khách hàng đặt mua với số lượng lớn các sản phẩm của Công ty. Chính sách này kích cầu thị trường, giảm

hàng tồn kho, giảm chi phí so với việc bán lẻ và tăng doanh thu cho Công ty. Chính

sách tặng kèm sản phẩm cũng chính là một chương trình liên kết sản phẩm.

- Đào tạo khả năng chuyên môn của nhân viên, nhằm xây dựng lực lượng nhân sự có khả năng, am hiểu sản phẩm của Công ty để có thể tư vấn cho khách hàng về chất

lượng của sản phẩm, cũng như sự phù hợp của mỗi dòng sản phẩm đối với nhu cầu của

khách hàng,… Sự chuyên nghiệp và tận tình của nhân viên bán hàng, giới thiệu sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng.

- Tăng giá bán là chính sách cuối cùng được áp dụng, do thương đem lại sự sụt giảm về lượng hàng bán ra. Nhưng nếu áp dụng linh hoạt cùng các biện pháp khác,

như chương trình liên kết sản phẩm,…thì việc tăng giá bán sẽ dễ dàng được khách

hàng chấp nhận hơn.

Giảm thiểu chi phí

- Cần tuyển mộ, xây dựng một đội ngũ chuyên nghiên cứu thị trường và theo dõi thị trường. Giá các của các sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu tiêu thụ của thị

trường. Do đó, nếu nắm bắt, đoán trước được nhu cầu, từ đó có sự điều chỉnh về chính

sách giá cả, Công ty có thể bán được sản phẩm ở mức giá cao, trong khi chi phí sản

xuất tại thời điểm trước đó thấp, lợi nhuận thu được sẽ gia tăng một cách đáng kể.

- Đề cao chính sách tiết kiệm, giảm chi phí mua ngoài như điện, nước,…chi phí công tác, đi lại, ăn ở cũng ảnh hưởng đến chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty.

Cụ thể một số chính sách như là: phổ biến, nâng cao ý thức của công nhân viên trong

việc sử dụng điện, tắt những thiết bị không cần thiết hoặc đang không sử dụng, hạn chế sử dụng internet phục vụ mục đích ngoài công việc, giúp giảm chi phí điện và

internet. Về chi phí công tác, cần tránh sự lãng phí tiền trong quá trình công tác, di

chuyển, gặp mặt đối tác, nhưng không làm giảm hiệu quả kinh doanh của Công ty. Có thể xác định đủ số tiền cần thiết cho chuyến đi công tác, tránh chi thừa hay giao trách

nhiệm cho phòng Tổ chức hành chính quản lý và duyệt chi phí cho các chuyến công tác của nhân viên cũng như của giám đốc. Ngoài ra cũng cần nâng cao ý thức của nhân

viên trong quá trình đi lại, ăn ở,…của các chuyến công tác hay gặp mặt khách hàng.

3.2.3. Giải pháp thiện hiệu quả sử dụng vốn

Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc đang là nguyên nhân kìm hãm khả năng sinh lời của Công ty, với việc có nguồn vốn CSH lớn, tuy nhiên doanh thu lại khong tăng một cách tương xứng, dẫn

66

đến tỷ lệ lợi nhuận của Công ty không được cao. Lý do chủ yếu cho vấn đề này là do

Công ty chưa chú trọng đầu tư vào TSCĐ, cả tỉ trọng và giá trị TSCĐ đều đang liên

tục giảm trong các năm. Mặc dù là một công ty dịch vụ thương mại nhưng TSCĐ lại đóng một vai trò khá quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Lơ là việc

đầu tư vào trang thiết bị là nguyên nhân làm cho doanh thu không hề tăng trong 3 năm.

Giải pháp duy nhất để cải thiện vấn đề này là Công ty cần tiến hành bảo dưỡng, thay

mới TSCĐ của mình, gia tăng tỷ trọng TSCĐ trong cơ cấu tổng tài sản:

- Tiến hành phân loại và đánh giá tại TSCĐ. Hành động này sẽ chỉ ra những TSCĐ nào có thể sửa chữa, bảo dưỡng và tiếp tục sử dụng, TSCĐ nào cần phải thay

mới, từ đó đưa ra quyết định cuối cùng.

- Tiến hành đầu tư về chiều sâu cho tài sản cố định, tăng tỷ trọng TSCĐ của Công ty. Đầu tư về chiều sâu của TSCĐ nghĩa là Công ty cần nâng cấp, đổi mới các loại

trang thiết bị, máy móc tiên tiến nhằm mục tiêu hiện đại hóa cơ sở vật chất. Lợi ích của việc đổi mới công nghệ là gia tăng năng suất hoạt động, giúp tiết kiệm thời gian và

nhân lực cho Công ty, từ đó giảm chi phí theo thời gian, chi phí lao động. Đồng thời,

hạn chế được việc sản phẩm bị hỏng, bị lỗi, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Điều

này sẽ làm giảm chi phí sản xuất, chi phí giá vốn hàng bán,…và làm tăng lợi nhuận

của Công ty.

- Phân chia trách nhiệm quản lý tài sản cố định cho các bộ phận nội bộ của Công ty. Chỉ có người trực tiếp sử dụng TSCĐ, vận hành máy mới có thể nắm bắt nhanh

chóng và hiểu rõ những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động. Do đó, việc giao

trách nhiệm quản lý TSCĐ cho các bộ phận liên hệ trực tiếp với TSCĐ đó sẽ giảm

được chi phí phát sinh nếu như máy móc hư hỏng, cũng như việc bảo dưỡng sẽ được

thực hiện thường xuyên hơn.

3.3. Một số đề xuất, kiến nghị

Qua những nghiên cứu về tình hình tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ

Thương mại tổng hợp Hồng Phúc, em xin đưa ra một số kiến nghị, mặc dù chúng chỉ mang tính chất tham khảo do tầm nhìn, kiến thức cũng như khả năng của em còn hạn chế.

Đối với Nhà nƣớc

Hoàn thiện chế độ kế toán, tạo một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả. Các công ty công khai báo cáo tài chính của mình. Tăng cường vai trò của công tác kiểm toán. Tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp có thể tiết kiệm được thời gian và

tiền bạc trong các khâu thủ tục hành chính.

Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành và công khai các chỉ tiêu này để các chủ thể trong nền kinh tế có cái nhìn so sánh khách quan. Đặc biệt hữu ích với 67

các nhà quản lý và nhà đầu tư, có cơ sở đánh giá chất lượng của doanh nghiệp. Thông

qua đó, Nhà nước cũng có thể nắm được thực trạng phát triển kinh tế ngành và đưa ra

những chính sách kịp thời, đúng đắn để định hướng phát triển nền kinh tế theo những mục tiêu đề ra.

Tiếp tục giữ vững, ổn định nền kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Trên cơ sở

luật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các doanh

nghiệp trong và ngoài nước có thể phát triển sản xuất kinh doanh. Hỗ trợ các doanh

nghiệp khi chính sách hiện hành thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp.

Đối với Công ty

Tình hình kinh doanh qua các năm của Công ty không tốt, không tương xứng

với tiền năng cũng như khả năng và nguồn lực của Công ty. Công ty cần phải áp dụng đồng thời những biện pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng thị trường, áp dụng các chiến thuật kinh doanh mới nhằm thay đổi

để phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế, trong đó:

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp được đề ra để nhanh chóng khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong công tác quản lý, dự trữ hàng tồn kho, thu hồi các khoản phải

thu nhằm nâng cao khả năng tài chính, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho

và vốn trong thời gian tới.

- Thực hiện việc xây dựng chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, từ đó xác định phương án sản xuất, xác định nhu cầu về vốn, về lao động, về máy móc

thiết bị và lựa chọn công nghệ sản xuất. Nhờ vậy, Công ty có thể kiểm soát mức giá

vốn hàng bán, xác định có nên tiếp tục, hay mở rộng sản xuất kinh doanh sản phẩm đó

hay không.

- Cần tiếp tục kế hoạch tuyển dụng, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ để xây dựng nguồn nhân lực có trình độ và năng lực làm nền móng vững chắc cho sự phát

triển của Công ty.

68

KẾT LUẬN

Cũng như bất kỳ một Công ty nào, tình hình tài chính của Công ty TNHH Dịch

vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc là vấn đề đáng quan tâm của ban lãnh đạo Công ty cũng như các đối tượng khác có liên quan. Tình hình tài chính, quy mô tài sản,

nguồn vốn, hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh và khả năng sinh lời cũng như tình

hình công nợ và khả năng thanh toán của Công ty đã có những bước tăng trưởng, song

bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề tồn đọng cần phải khắc phục để từng bước đứng vững trên thương trường.

Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp

Hồng Phúc và đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính tại Công ty, tôi càng

nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp trong việc

điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cân đối thu chi, cân đối nguồn tài trợ và định

hướng hoạt động trong tương lai.

Do giới hạn về thời gian nghiên cứu, cũng như kiến thức và khả năng phân tích,

lập luận của bản thân còn hạn chế nên việc phân tích, đánh giá trong Khóa luận này sẽ

không tránh khỏi những thiếu sót, những nhận định mang tính chủ quan,…Vì vậy, tôi

rất mong sự giúp đỡ, góp ý, phê bình của thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên để bài

Khóa luận được hoàn thiện hơn. Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn

và chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đặc biệt là sự giúp đỡ của Thầy giáo ThS.

Đỗ Trường Sơn và các cô chú, anh chị tài phòng kế toán Công ty TNHH Dịch vụ

Thương mại tổng hợp Hồng Phúc đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành Khóa luận này.

PHỤ LỤC

Báo cáo tài chính năm 2011 – 2013:

- Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013. - Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2011 – 2013. - Bảng báo báo lưu chuyển tiền tệ 2011 – 2013.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GS. TS. Ngô Thế Chi, PGS. TS. Nguyễn Trọng Cơ (2008), Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Hà Nội. 2. GS. TS. Đặng Đình Đào (2012), Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân. 3. TS. Lưu Thị Hương (2002), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Giáo dục. 4. PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm (2008), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính. 5. Nguyễn Hải Sản (2005), Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Tài chính. 6. GS. TS. Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống kê. 7. Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại tổng hợp Hồng Phúc (2011, 2012, 2013), Báo cáo tài chính.