
GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cơ chế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, đặc biệt trong
giai đoạn Việt Nam gia nhập AFTA, WTO, …Các hoạt động dịch vụ được coi là
một trong những yếu tố cạnh tranh của bất cứ một doanh nghiệp nào. Xu hướng
toàn cầu hoá nền kinh tế hàng hoá được chuyển đưa ra các quốc gia, Logistics
trở thành ngành có vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu
dùng ở bất cứ nơi đâu. Mục đích của Logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụ
cho khách hàng với tổng chi phí là nhỏ nhất. Điều này liên quan đến việc hạ giá
thành sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, nâng cao khả năng cạnh
tranh cuỉa các doanh nghiệp. Qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan
trọng của hoạt động Logistics trong hoạt động kinh tế dịch vụ của nền kinh tế.
Vì vậy, hoạt động này hiện nay cần có sự chú trọng đầu tư, tìm cách nâng cao
hiệu quả hoạt động hơn nữa để có thể cạnh tranh với các Công ty Logistics của
nước ngoài đang mở rộng hoạt động tại các nước đang phát triển và ngay cả tại
ViệtNam.
Vậy thì với vị trí vô cùng quan trọng trong chuỗi chung ứng dịch vụ
Logistics, kho bãi đang đóng góp một phần không nhỏ tới doanh thu, lợi nhuận
cũng như sự phát triển của Logistics. Không có kho hàng, hoạt động Logistics
không thể diễn ra hoặc có hiệu quả. Nó không chỉ đóng vai trò quan trọng cho
chính doanh nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng cho bạn. hàng, các tổ chức,
nền kinh tế của quốc gia do tiết kiệm được chi phí sản xuất, bảo quản và dự trữ,
giá thành vận chuyển. Nói cách khác, kho bãi vận tải góp phần làm tăng giá trị
hàng húa, tăng chất lượng dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy, hoạt động này ở nước ta còn khá manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu.
Điều này làm hạn chế khả năng phát huy tiềm lực của logistics tại Việt Nam.
Ngày nay, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao hơn về chất lượng dịch
vụ nói riêng và hàng hóa nói chung. Do vậy, việc phát triển hoạt động kho bãi,
vận tải đang là vấn đề được các doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước quan
tâm.
Với góc độ là sinh viên kinh tế, tôi nhận thấy được tính cấp thiết của việc
phát triển hoạt đông kho bãi trong chuỗi cung ứng dịch vụ. Tôi đã mạnh dạn

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc
2
chọn đề tài: “Hoạt động logistics trong dịch vụ kho tại công ty TNHH một
thành viên ICD Tân Cảng – Sóng Thần“ làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung của đề tài hệ thống hoá lại lý thuyết, thực trạng của logistics Việt Nam
đặc biệt là trong lĩnh vực kho bãi. Đồng thời, nghiên cứu cụ thể ở công ty đang
hoạt động trong lĩnh vực này. Từ đó chỉ ra hướng phát triển hiệu quả cho hoạt
động kho vận nhằm tận dụng những điểm mạnh của doanh nghiệp để nắm bắt
các cơ hội, cũng như có giải pháp cho những khó khăn, thách thức.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: là các vấn đề liên quan đến hoạt động logistics trong dịch vụ kho
Phạm vi: Hệ thống kho hàng tại Công ty TNHH MTV ICD Tân Cảng - Sóng
Thần
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thu thập thông tin để nghiên cứu
và trình bày các nội dung của đề tài
5. Kết cấu khoá luận tốt nghiệp
Chương 1: Cơ sở lí luận về logistics và dịch vụ kho trong logistics
Chương 2: Thực trạng hoạt động logistics trong dịch vụ kho tại công ty TNHH
MTV ICD Tân Cảng – Sóng Thần
Chương 3: Giải pháp – kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kho tại công
ty TNHH MTV ICD Tân Cảng – Sóng Thần

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc
3
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG QUẢN TRỊ
KHO
1.1 Logistics là gì?
1.1.1 Khái niệm về logistics:
Logistics là một trong số ít những thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ
“Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả các ngôn ngữ khác. Vì
bao hàm nghĩa của từ quá rộng nên không một đơn ngữ nào có thể truyền tải
được hết ý nghĩa của nó.
Trên thế giới thuật ngữ này đã xuất hiện từ lâu. Logistics lần đầu tiên được
phát minh và ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, được các quốc gia ứng dụng rất
rộng rãi trong hai cuộc Đại chiến thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng
với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.
Napoleon đã từng nói: “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp
bàn về logistics” vì ông cho rằng “Logistics là một chuỗi hoạt động để duy trì
lực lượng quân đội”.
Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội
đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu
chiến và lần đầu tiên được triển khai, ứng dụng trong thương mại sau khi chiến
tranh thế giới lần thứ hai kết thúc.
Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ về
logistics hay hệ thống logistics. Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nghiên
cứu logistics và dưới những giác độ của những nhà nghiên cứu khác nhau, mà
hiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics.
- Theo từ điển “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, US
Fifth Edition, Hornby, Oxford University Press, 1995”:
“Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt
động phức hợp nào đó (Logistics – the organization of supplies and
service for any complex operation)”.
- Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics quốc tế (CLM – The Council of
Logistics Management):
“Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc
4
giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung
cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách
hàng”.
- Theo PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn “Quản trị Logistics”:
“Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự
trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến
tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh
tế”.
- Theo PGS.TS Nguyễn Như Tiến trong cuốn “Logistics - khả năng ứng dụng
và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam”:
“Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật
liệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho
đến khi đưa đến tay người tiêu dùng”.
Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng trong
nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng Logistics chính là hoạt động quản lý
dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho,
sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích giảm tối đa
chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình
vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá
một cách kịp thời (Just-in-Time). Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của
“nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển
“dịch vụ, thông tin”. Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên
quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ,
người bán buôn…
1.1.2 Vai trò của logistics
Vai trò của logistics đối với nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế
Logistics ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại và ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia và hơn nữa là nền kinh
tế toàn cầu.

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc
5
* Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC –
Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị
trường cho các hoạt động kinh tế.
Logistics đóng góp một phần quan trọng trong GDP, hiệu quả của nó ảnh hưởng
đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Ở Việt
Nam, dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính GDP năm 2006
khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6 – 11,1 tỷ
USD. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ
40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.
Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10%
GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Sự phát
triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh
doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát
triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ.
* Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu chuyển
của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện… tới sản
phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng.
Từ thập niên 70 của thế kỉ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc
các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển.
Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cao khiến khiến các doanh nghiệp có
nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng
tồn kho. Chính trong gia đoạn này, cách thức tối ưu hoá quá trình sản xuất, lưu
khó, vận chuyển hàng hoá được đặt lên hàng đầu. Và với sự trợ giúp của công
nghệ thông tin, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này.
* Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời
gian - địa điểm (just in time)
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã làm cho hàng hoá và sự vận động của chúng
phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lí chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối
với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp
phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động lưu

