BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THANH HÀ

MÃ SINH VIÊN

: A16129

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM

Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Trịnh Trọng Anh

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Hà

Mã sinh viên

: A16129

Chuyên ngành

: Tài chính

HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo - ThS. Trịnh

Trọng Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này.

Em cũng xin gửi lời biết ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Thăng

Long, đặc biệt là các thầy cô khoa kinh tế quản lý đã truyền đạt những kiến thức quý

báu là nền tảng giúp em thực hiện đề tài này.

Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám đốc và cán

bộ nhân viên phòng Tài chính – Kế toán của Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thanh Hà

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Thanh Hà

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN

TRONG DOANH NGHIỆP .......................................................................................... 1

1.1. Khái quát về vốn của doanh nghiệp .................................................................... 1

1.1.1. Khái niệm vốn ...................................................................................................... 1

1.1.2. Phân loại vốn ....................................................................................................... 2

1.1.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp ................................................................. 6

1.2. Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp ................................................. 7

1.2.1. Huy động từ vốn chủ sở hữu ............................................................................... 7

1.2.2. Huy động nợ ....................................................................................................... 10

1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp ................ 13

1.3.1. Nhân tố khách quan .......................................................................................... 13

1.3.2. Nhân tố chủ quan .............................................................................................. 14

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM .................................................................... 16

2.1. Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ....................... 16

2.1.1. Thông tin chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ........................ 16

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM .... 16

2.1.3. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ......... 17

2.1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ........................ 19

2.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội

CPM trong ba năm từ 2010-2012 ............................................................................... 21

2.2.1. Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận ...................................................... 21

2.2.2. Tình hình tài sản – nguồn vốn .......................................................................... 25

2.2.3. Các chỉ tiêu tài chính ......................................................................................... 31

2.3. Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty CPXD HNCPM ..................... 34

2.3.1. Cơ cấu nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ................... 34

2.3.2. Các phương thức huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ....... 38

2.4. Đánh giá công tác huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ..... 42

2.4.1. Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn tại công ty

Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ................................................................................. 42

2.4.2. Đánh giá thực trạng huy động vốn tại công ty CP XD Hà Nội CPM ............. 43

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM ................................................. 46

3.1. Định hƣớng phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ........... 46

3.2. Giải pháp tăng cƣờng công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng

Hà Nội CPM ................................................................................................................. 46

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .......................................................... 46

3.2.2. Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có ........................................... 48

3.2.3. Giảm vốn bị chiếm dụng .................................................................................... 49

3.2.4. Tăng cường huy động nguồn vốn nội bộ ......................................................... 50

3.2.5. Phát hành trái phiếu .......................................................................................... 50

3.3. Kiến nghị đến cơ quan chức năng ..................................................................... 51

KẾT LUẬN

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCSXKD Báo cáo sản xuất kinh doanh

Cổ phần CP

Chủ sở hữu CSH

Dài hạn DH

Hợp đồng xây dựng HĐXD

Lợi nhuận LN

Ngắn hạn NH

Trách nhiệm hữu hạn TNHH

Tài sản cố định TSCĐ

Tài sản ngắn hạn TSNH

Xây dựng XD

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Trang

Bảng 2.1. Ngành nghề kinh doanh của công ty ............................................................. 18

Bảng 2.2. Báo cáo kết quả kinh doanh .......................................................................... 22

Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán ..................................................................................... 26

Bảng 2.4. Khả năng thanh toán của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM .................... 31

Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ........................ 32

Bảng 2.6. Khả năng sinh lời của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ......................... 33

Bảng 2.7. Tỷ trọng nguồn vốn của công ty ................................................................... 35

Bảng 2.8. Tỷ trọng TSCĐ và tỷ trọng nợ DH của công ty ............................................ 36

Bảng 2.9. Cơ cấu vốn nợ của công ty ............................................................................ 37

Bảng 2.10. Cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty ............................................................ 38

Bảng 2.11. Thuế và các khoản nộp Nhà nước của công ty ........................................... 41

Bảng 2.12. Tỷ trọng một số khoản phải trả khác trong tổng vốn .................................. 42

Bảng 3.1. Vốn bị chiếm dụng của công ty .................................................................... 49

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu vốn nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty...................................... 36

Biểu đồ 2.3. Vay nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty .................................................. 39

Biểu đồ 2.4. Tỷ trọng tín dụng thương mại trong cơ cấu tổng nguồn vốn .................... 40

Biểu đồ 2.5. Tỷ trọng phải trả người lao động trong tổng nguồn vốn........................... 41

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ..................... 19

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Theo quy định của pháp luật, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn thành lập cũng cần có một số vốn nhất định. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tiếp tục

đứng vững và phát triển, doanh nghiệp cũng cần có vốn. Vốn càng lớn thì quy mô và

tiềm lực của doanh nghiệp càng lớn. Có thể nói, vốn là nhân tố sản xuất quan trọng,

quyết định sự hình thành của doanh nghiệp, là điều kiện của sản xuất kinh doanh, là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp cạnh tranh và tồn tại. Chính vì vậy, huy động vốn trong

doanh nghiệp là vấn đề được các nhà quản lý ưu tiên hàng đầu.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt cùng với cơ chế quản lý

đổi mới, huy động vốn càng là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm hơn khi nhu

cầu vốn mà các doanh nghiệp cần cho phục vụ sản xuất kinh doanh vượt quá khả năng

đáp ứng từ nội bộ, bắt buộc phải tiến hành huy động từ các nguồn khác bên ngoài. Câu

hỏi được các nhà quản lý đặt ra là nên huy động vốn từ những nguồn nào? Kết hợp sử

dụng các nguồn với tỷ lệ như thế nào cho phù hợp và mang lại hiệu quả tối ưu?

Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, công ty Cổ phần Xây

dựng Hà Nội CPM cũng đang đứng trước vấn đề làm thế nào giải quyết tốt bài toán

huy động vốn nhằm giúp công ty phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, uy tín và

thương hiệu trên thị trường. Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác huy

động vốn, dưới sự giúp đỡ của Ban giám đốc và cán bộ, nhân viên công ty cùng với sự

hướng dẫn tận tình của thầy giáo - ThS. Trịnh Trọng Anh, em đã quyết định lựa chọn

đề tài: “Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM”

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Khóa luận “Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà

Nội CPM” được lựa chọn nhằm giải quyết các mục đích cơ bản sau:

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn của doanh nghiệp;

Đánh giá thực trạng tình hình công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng

Hà Nội CPM;

Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn cho doanh

nghiệp trong thời gian tới.

3. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả công tác huy động vốn của công

ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

4. Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Đánh giá công tác huy động vốn của công ty trong giai đoạn ba

năm từ năm 2010 đến năm 2012.

Về không gian: Tình hình tài chính, hiệu quả công tác huy động vốn của công ty

Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh,

kết hợp các số liệu tính toán, phân tích và rút ra kết luận.

6. Kết cấu khóa luận Bố cục bài khóa luận tốt nghiệp của em gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác huy động vốn trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng

Hà Nội CPM

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần

Xây dựng Hà Nội CPM

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát về vốn của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm vốn

Vốn là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư và hoạt động sản xuất kinh

doanh. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ở các hoàn cảnh kinh tế khác nhau

có nhiều quan niệm về vốn:

Theo nghĩa hẹp: “Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp,

mỗi quốc gia”.

Theo nghĩa rộng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản

xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ

thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp

của các cán bộ điều hành cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy

tín của doanh nghiệp”. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy

đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo

quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn

chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh.

Dưới góc độ các yếu tố sản suất, nhà triết học Karl Marx cho rằng: “Vốn (tư bản)

là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất”. Định nghĩa của

Marx về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn.

Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

như: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công… Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ

phát triển của nền kinh tế, Marx chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất

vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh

tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Marx.

David Begg đưa ra định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học” rằng: “Vốn hiện vật là

giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác. Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo”. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn.

Nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” Paul Samuelson cho rằng: “Vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho sản xuất của một doanh nghiệp”. Định nghĩa này đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Hạn chế của quan điểm này là mới chỉ bó hẹp vốn trong quá trình sản xuất riêng biệt, là một đầu vào của quá trình sản xuất.

1

Một số nhà kinh tế học khác đưa ra quan điểm: “Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư để đẩy mạnh sản xuất

tiêu dùng trong tương lai”. Định nghĩa này phản ánh về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn

và biểu hiện của nguồn vốn.

Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với

nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng.

Trên cơ sở phân tích các quan điểm ở trên, ta có thể khái quát: “Vốn là phần thu

nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính cá nhân, các doanh nghiệp

bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích”.

Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới

các hình thức khác nhau. Đó là nguồn nguyên vật liệu, tài sản cố định sản xuất, nhân

lực, thông tin, uy tín của doanh nghiệp, được sử dụng cho mục đích sinh lợ

. Vốn khác với tiền và các loại hàng hoá tiêu dùng khác. Tiền tiêu dùng trong

lưu thông dưới hình thức mua bán trao đổi, các vật phẩm tiêu dùng nên không được

gọi là vốn. Các hàng hoá được sử dụng cho tiêu dùng cũng không phải là vốn. Nói

cách khác, vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng phải là tiền vận động với mục đích

sinh lời.

1.1.2. Phân loại vốn

Phân loại vốn giúp doanh nghiệp thấy tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn để từ đó

xem xét, lựa chọn hình thức huy động, quản lý hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao

nhất, tránh rủi ro, nhằm bảo toàn và phát triển vốn. Vốn trong doanh nghiệp được phân

chia theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích, giác độ tiếp cận.

1.1.2.1. Phân loại vốn theo nguồn hình thành

Theo cách thức này, vốn được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu:

Đây là nguồn vốn đầu tiên và cơ bản của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Đây là nguồn vốn có tính an toàn do doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán và trả lãi suất. Vốn chủ sở hữu bao gồm:

Vốn góp ban đầu: Là nguồn vốn hình thành ban đầu do các chủ sở hữu doanh

nghiệp đóng góp, tùy thuộc vào hình thức doanh nghiệp:

Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước: Vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước;

Doanh nghiệp tư nhân: Vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp;

2

Công ty TNHH, liên doanh: Vốn góp do một thành viên (công ty TNHH 1 thành viên) hoặc nhiều thành viên (công ty TNHH từ hai thành viên trở lên)

sáng lập cùng góp;

Công ty Cổ phần: Vốn cổ phần do các cổ đông sáng lập đầu tư;

Công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vốn do chủ đầu tư nước ngoài bỏ ra.

Ngoài ra vốn góp ban đầu cũng có thể được kết hợp bởi nhiều chủ sở hữu khác nhau, chẳng hạn như vừa có vốn cấp của Nhà nước vừa có vốn góp tư nhân hay vừa có

vốn của chủ đầu tư nước ngoài vừa có chủ đầu tư trong nước cùng đóng góp (công ty

liên doanh).

Tỷ lệ và quy mô vốn góp của từng bên theo quy định của pháp luật. Một số ngành nghề có quy định về mức vốn góp tối thiểu thì các doanh nghiệp thuộc ngành

nghề này muốn thành lập phải có vốn góp ban đầu của chủ sở hữu bằng hoặc lớn hơn

vốn tối thiểu đó.

Lợi nhuận để lại: Là phần lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã phân bổ hết cho các khoản cần thiết. Điều kiện để có lợi nhuận để lại là doanh nghiệp phải hoạt động

có hiệu quả và có lợi nhuận.

Chênh lệch đánh giá lại tài sản: Là phần chênh lệch giữa giá trị đánh giá lại với giá trị còn lại của tài sản ghi trên sổ sách kế toán. Tài sản được đánh giá lại chủ

yếu là tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư dài hạn...

Các quỹ của doanh nghiệp: Là các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi... Các quỹ được lập phụ thuộc

vào đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp do Hội đồng quản trị, giám đốc doanh

nghiệp quyết định. Nguồn hình thành các quỹ này là lợi nhuận sau thuế của doanh

nghiệp, tỷ lệ trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật đối với từng

doanh nghiệp.

Phát hành cổ phiếu mới: Hình thức này chỉ áp dụng tại Công ty cổ phần để huy động khối lượng vốn lớn. Các cổ phiếu sau khi được phát hành sẽ lưu thông trên

thị trường chứng khoán. Giá trị nguồn vốn được tính bằng thị giá một cổ phiếu được

bán ra lần đầu tiên trên thị trường nhân với số lượng cổ phiếu phát hành. Phát hành cổ phiếu ở đây có thể chia ra thành phát hành cổ phiếu thường và phát hành cổ phiếu ưu đãi. Tùy vào đặc điểm riêng biệt của mỗi loại cổ phiếu mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn

phát hành nguồn vốn phù hợp.

Nợ phải trả:

Nợ phải trả là phần vốn không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, được sử dụng với các điều kiện nhất định (thời gian, lãi suất, thế chấp...). Đây là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn

3

lãi sau một thời gian nhất định. Chi phí lãi vay là chi phí hợp lý do đó không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Nợ phải trả bao gồm:

Vay ngân hàng: Là nguồn vốn phổ biến nhất đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp. Vốn vay ngân hàng được chia theo thời gian vay: vay ngắn hạn (dưới 1

năm), vay trung hạn (1-3 năm) và vay dài hạn (3 năm trở lên). Doanh nghiệp phải trả lãi khoản vay theo hợp đồng đã cam kết trước và chịu sự kiểm soát của ngân hàng đối

với quá trình sử dụng phần vốn vay theo đúng mục đích ban đầu.

Tín dụng thương mại: Là nguồn vốn doanh nghiệp chiếm dụng của người bán, hay là khoản tín dụng thương mại người bán cung cấp cho doanh nghiệp, được hình thành trong hoạt động mua trả chậm hay trả góp. Tuy nhiên giá trị khoản vay này thường không lớn và chỉ chiếm dụng được trong thời gian ngắn.

Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền cụ thể (mệnh giá

của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Khi phát

hành trái phiếu, doanh nghiệp cần chú ý đến độ hấp dẫn của trái phiếu dựa trên: uy tín

của doanh nghiệp, lãi suất trái phiếu, mệnh giá trái phiếu…

Các khoản nợ khác: Các khoản nợ như: nợ vay tổ chức tín dụng, vay cá nhân v.v… và các khoản vốn chiếm dụng khác như: phải trả công nhân viên, phải trả phải

nộp ngân sách v.v… Khoản nợ này có thể được duy trì và bổ sung hằng năm, nhưng

giá trị thường không lớn, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.

Phân loại vốn theo vai trò và tính chất luân chuyển 1.1.2.2.

Theo vai trò và tính chất luân chuyển của vốn, ta chia vốn làm 2 loại là: Vốn cố

định và Vốn lưu động.

Vốn cố định:

Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc

điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành

một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Hiểu một cách đơn giản, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định trong doanh nghiệp. Đây là số vốn đầu tư ứng trước vì nếu được sử dụng hiệu quả, số vốn này sẽ không mất đi mà được thu hồi sau khi doanh nghiệp hoàn thành tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.

Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng đến trình độ trang bị kĩ thuật công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại, đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình

sử dụng lại có ảnh hưởng chi phối, quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định. Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản cố định

của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài. Vốn cố định được luân chuyển giá trị

4

dần dần từng phần. Khi tham gia vào quá trình sản xuất thì tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao

mòn cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng của nó cũng bị giảm đi. Vốn cố định

được tách làm hai phần sau:

Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản

phẩm, hàng hoá được tiêu thụ. Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất tài sản cố định

nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp;

Phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tương ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định. Kết thúc quá trình vận động

đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành

một vòng luân chuyển.

Vốn lƣu động:

Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của

doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên

tục. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động hay nguồn vốn mà doanh

nghiệp dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn

hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động tồn tại

dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ... ), sản

phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ,

tiền mặt... trong giai đoạn lưu thông. Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì

tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có

thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.

Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình

thái vật chất ban đầu. Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá

trị sản phẩm. Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu

chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất. Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành

một vòng luân chuyển.

1.1.2.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng

Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh

nghiệp thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.

5

Nguồn vốn thƣờng xuyên:

Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản

vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng

dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu

thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn tạm thời:

Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm), gồm các khoản vay ngắn hạn

ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác. Đây là nguồn vốn

giúp đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều có một nhu cầu vô cùng quan

trọng không thể thiếu chính là nhu cầu vốn. Nó là tiền đề cho quá trình hình thành và

phát triển của doanh nghiệp. Bởi thế, vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với

mỗi doanh nghiệp.

Trước tiên, vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp. Theo quy

định, một doanh nghiệp muốn có giấy phép sản xuất kinh doanh bắt buộc phải có số

vốn ban đầu không nhỏ hơn vốn pháp định – mức vốn tối thiểu pháp luật quy định

riêng cho mỗi ngành nghề. Không chỉ vậy, trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải đảm bảo lượng vốn theo điều kiện mà luật pháp quy định, nếu không

doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép hay phải giải thể, phá sản hoặc sáp nhập… Như

vậy, có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng đảm bảo sự tồn tại tư cách

pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật.

Thứ hai, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành. Xét hàm sản xuất cơ bản một doanh nghiệp sản xuất

kinh doanh có dạng:

Q= f(K,L,T)

Trong đó: Q: sản lượng đầu ra K: vốn

L: lao động T: công nghệ

Là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, bên cạnh yếu tố lao động và công nghệ, vốn được coi là điều kiện đầu tiên và quyết định của quá trình sản xuất. Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động và mua công nghệ. Đây là

tất cả những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục và duy trì các hoạt động cuả mình nhằm đạt được những

mục tiêu đã đặt ra.

6

Cuối cùng, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp có khả năng chủ

động trong hình thức kinh doanh, thay đổi nâng cấp máy móc, trang thiết bị hiện đại,

đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu thị trường, quảng cáo, mở rộng quy mô sản xuất

kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu. Điều này mang lại cho doanh nghiệp nhiều

lợi thế như: cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động… Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín

của doanh nghiệp giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Tóm lại, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để thành

lập, tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Bởi vậy, để đứng vững và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay,

doanh nghiệp cần có quy mô vốn đảm bảo khả năng tài chính vững mạnh. Trên cơ sở

tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, đúng mức đồng vốn bỏ ra, phải

làm sao phát huy được tối đa giá trị của đồng vốn bỏ ra. Hiệu quả sản xuất kinh doanh

và uy tín của doanh nghiệp sẽ là tiền đề để tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc huy

động vốn.

1.2. Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp

Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Để

có được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Mặc dù trên thực tế có nhiều cách phân loại nguồn vốn khác nhau nhưng khóa

luận này tập trung vào cách phân loại vốn theo nguồn hình thành để huy động.

1.2.1. Huy động từ vốn chủ sở hữu

1.2.1.1. Huy động từ vốn góp ban đầu

Khi thành lập, mỗi doanh nghiệp đều cần có một lượng vốn góp nhất định từ các

chủ sở hữu. Vốn góp ban đầu được hình thành thế nào là tùy thuộc vào tính chất sở

hữu của loại hình doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước vốn góp ban đầu

chính là vốn đầu tư của Nhà nước, đồng thời chủ sở hữu của doanh nghiệp Nhà nước chính là Nhà nước. Trong công ty tư nhân thì vốn góp ban đầu do chính chủ công ty bỏ ra. Đối với các công ty cổ phần là do cổ đông đóng góp và mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Vốn

góp ban đầu này được ghi trong điều lệ công ty do đó còn được gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ có thể tăng thêm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn điều lệ không nhất thiết phải góp đủ khi quyết định thành lập doanh nghiệp mà có thể góp sau

một thời gian. Nếu sau thời gian quy định mà không góp đủ thì phải ghi giảm vốn điều lệ hoặc thay đổi hình thức doanh nghiệp.

7

1.2.1.2. Huy động từ lợi nhuận để lại (RE)

Nguồn vốn góp từ lợi nhuận để lại chính là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu

tư. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có

hiệu quả thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Lợi nhuận không chia

đối với các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau:

Đối với doanh nghiệp tư nhân: RE = lợi nhuận sau thuế.

Đối với công ty cổ phần: RE = lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức.

Việc huy động vốn bằng nguồn lợi nhuận để lại có những lợi ích và hạn chế nhất

định. Đây là hình thức huy động vốn không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền

kiểm soát doanh nghiệp và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp doanh nghiệp không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn, ví dụ như

chi phí lãi vay. Vì nguồn lợi nhuận để lại thuộc vốn chủ sở hữu nên nó cũng giúp

doanh nghiệp gia tăng mức độ tự chủ. Tuy nhiên, việc huy động từ lợi nhuận để lại chỉ

áp dụng với các doanh nghiệp lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn, không thể áp

dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Hay nói cách

khác, việc doanh nghiệp có được bao nhiêu vốn bằng lợi nhuận để lại còn phụ thuộc

vào tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Công thức để tính tỷ lệ

lợi nhuận để lại và tỷ lệ chi trả cổ tức được trình bày như dưới đây:

Mức thu nhập giữ lại Tỷ lệ lợi nhuận để lại = Thu nhập sau thuế

Tổng giá trị cổ tức Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập sau thuế

Như vậy, tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn doanh

nghiệp sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản.

Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn

đến thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp bị giảm.

1.2.1.3. Huy động từ phát hành cổ phiếu mới

Hình thức huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu chỉ có ở công ty cổ phần. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích sở hữu hợp pháp của

người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp gọi là cổ đông, giá trị cổ phiếu người đó nắm giữ gọi là cổ phần và phần

thu nhập công ty trả cho cổ đông vào cuối mỗi năm theo cổ phần được gọi là cổ tức.

Tại Việt Nam, theo luật chứng khoán 2006 và luật sửa đổi bổ sung 2010, doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu phải có các điều kiện sau:

8

Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng kí phát hành

cổ phiếu tối thiểu 10 tỷ đồng Việt Nam tính trên giá trị ghi trên sổ kế toán;

Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí phải có lãi, đồng thời

không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán;

Có phương án phát hành và sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại

hội cổ đông thông qua.

Một công ty cổ phần có thể phát hành ra công chúng hai loại cổ phiếu, đó là: cổ

phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông):

Là loại cổ phiếu được phát hành bằng lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác và không có sự ưu tiên đặc biệt nào trong chi trả cổ tức hay thanh

lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản. Thời hạn của cổ phiếu là vĩnh viễn, cổ tức không

ổn định theo từng năm, phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách của công ty.

Cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu ra người điều hành, được quyền chuyển nhượng quyền

sở hữu cổ phần và là người cuối cùng nhận tài sản khi công ty phá sản.

Cổ phiếu ưu đãi:

Là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so

với cổ đông thường. Cổ phiếu phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phiếu ưu đãi,

trong khi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông theo quyết định

của Đại hội cổ đông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ

phiếu ưu đãi có cổ tức xác định trước, tức là dù lợi nhuận sau thuế là bao nhiêu thì cổ

đông vẫn nhận được một khoản cổ tức không đổi. Người sở hữu cổ phiếu này có

quyền thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Việc chi trả cho cổ đông thường chỉ

sau khi đã chi trả hết cho cổ đông năm giữ cổ phiếu ưu đãi, vì thế được ưu tiên chia vốn khi công ty phá sản hoặc hết thời gian hoạt động.. Cổ phiếu ưu đãi bao gồm: cổ

phiếu ưu đãi cổ tức (cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dự chia phần, cổ phiếu ưu

đãi tích lũy và không tích lũy, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi,…), cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi biểu quyết.

Nhìn chung, giống như lợi nhuận để lại, việc doanh nghiệp huy động vốn bằng

phát hành cổ phiếu cũng giúp gia tăng mức độ tự chủ cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó,

hình ảnh và uy tín của công ty được tăng lên do được quảng bá rộng rãi. Tuy nhiên, do cổ tức chi trả cho cổ đông không nằm trong chi phí để giảm thuế nên nó không tạo ra lá chắn thuế thu nhập cho doanh nghiệp. Đồng thời, khi phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải công khai thông tin và áp dụng chết độ kế toán, kiểm toán và báo cáo theo quy định; quy mô vốn và lượng cổ đông tăng lên làm cho việc quản lý, điều hành phức

9

tạp hơn; cơ cấu quyền sở hữu không ổn định bởi nhu cầu giao dịch cổ phiếu hàng ngày của các cổ động và có nguy cơ bị mất quyền kiểm soát công ty.

1.2.2. Huy động nợ

1.2.2.1. Huy động từ vay nợ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Đây là quan hệ giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, cá

nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp hiện nay. Trong quá trình hoạt động, vay ngân

hàng thường để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh (mua

sắm máy móc thiết bị, bổ sung vốn lưu động…) và đặc biệt là đảm bảo có đủ nguồn

vốn phục vụ cho các dự án của doanh nghiệp.

Đây là phương thức huy động vốn trong cả ngắn, trung và dài hạn. Vay nợ ngân

hàng giúp doanh nghiệp huy động nguồn vốn lớn nhanh chóng, mức độ rủi ro thấp hơn

(ngân hàng sẽ gia hạn nếu đến kỳ thanh toán chưa trả được nợ, sự giúp đỡ của phía

Nhà nước…). Tuy nhiên hình thức này cũng có nhược điểm nhất định. Đó là các hạn

chế về điều kiện tín dụng, quy mô nguồn vốn vay, kiểm soát của ngân hàng và chi phí

sử dụng vốn.

Doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng phải đảm bảo các điều kiện sau: có mục

đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ đúng hạn, có dự

án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp quy định pháp luật. Sau khi thẩm định hồ sơ, ngân hàng mới quyết định cho vay hay

không. Các doanh nghiệp nhỏ sẽ khó có ưu thế bởi hạn chế tài sản thế chấp. Các doanh

nghiệp lớn có uy tín lại thuận lợi khi huy động nguồn vốn này.

Quy mô vốn vay phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn. Quy mô này bị hạn chế

do quy định hạn mức tín dụng của ngân hàng, giá trị tài sản thế chấp, tính hiệu quả và

khả thi của dự án v.v… Đối với các doanh nghiệp lớn có thể sử dụng uy tín của mình

để vay tín chấp. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi tài sản thế chấp không đủ

có thể nhờ bên thứ ba bảo lãnh, tham gia vào quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng chịu sự giám sát trên hai phương diện: doanh nghiệp có sử dụng vốn đúng với mục đích ban đầu hay không và doanh nghiệp

có trả lãi và gốc đúng kỳ hạn hợp đồng không.

Lãi suất vay phụ thuộc tình hình nền kinh tế (lạm phát), kì hạn khoản vay (thời

gian vay càng dài thì lãi suất càng cao), phụ thuộc doanh nghiệp có phải đối tượng ưu

đãi hay không… Đây là mức lãi suất cố định vì thế doanh nghiệp phải trả lãi định kỳ cho ngân hàng ngay cả khi làm ăn không có lãi. Lãi suất vay vốn chính là chi phí huy

động vốn. Chẳng hạn doanh nghiệp vay tiền với lãi suất 10% thì chi phí vốn vay trước

10

thuế chính là 10%. Nếu lãi suất quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Huy động từ tín dụng thương mại

Đây là hình thức huy động nợ ngắn hạn. Tín dụng thương mại là quan hệ tín

dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả

chậm hay trả góp hàng hóa. Là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc

cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng

tiền. Khi doanh nghiệp mua hàng hóa chưa phải trả tiền ngay, mà được nhà cung cấp

cho vay. Đến thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ.

Chi phí của tín dụng thương mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả

tiền ngay. Thông thường các nhà cung cấp đưa ra điều khoản khuyến khích người mua

trả tiền sớm, ví dụ: “2/10 net 40” tức là người mua hàng sẽ được chiết khấu 2% nếu

thanh toán trong vòng 10 ngày, nếu không sẽ phải trả đầy đủ sau 10 ngày và được trả

chậm trong vòng 40 ngày. Khi đó chi phí của tín dụng thương mại là chi phí khi người

mua không thanh toán được trong thời hạn hưởng chiết khấu.

360 x i Tỷ lệ chi phí = (100-i) x (n-t)

Trong đó: i là tỷ lệ chiết khấu

n là số ngày mua chịu

t là số ngày hưởng chiết khấu

360 x 2 Tỷ lệ chi phí/ năm với điều khoản 2/10 net 40 = = 24,49% (100-2) x (40-10)

Như vậy, chi phí cho khoản tín dụng này khá cao. Đây là nguồn huy động dễ

dàng, đơn giản và tiện dụng, không phải chịu sự giám sát của ngân hàng nhưng chỉ chiếm dụng được trong thời gian ngắn, hạn chế về quy mô tín dụng và lãi suất ngầm ẩn cao hơn so với lãi suất có kỳ hạn tương đương của vốn vay từ ngân hàng.

Phát hành trái phiếu

1.2.2.3.

Đây là hình thức vay nợ trong trung và dài hạn. Trái phiếu là một công cụ nợ quy định nghĩa vụ chủ thế phát hành (người vay) phải trả cho trái chủ (người cho vay) một khoản tiền nhất định (lãi vay) trong một thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản vốn ban đầu khi đáo hạn. Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất định dưới sự cho phép của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Lãi suất trái phiếu thông thường

thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường. Khác với cổ

11

phiếu, người sở hữu trái phiếu (trái chủ) không có quyền tham gia và biểu quyết các vấn đề của doanh nghiệp. Hằng năm, doanh nghiệp thanh toán lãi theo phương thức trả

lãi trước hoặc trả sau theo kỳ hạn sáu tháng hoặc một năm và chỉ trả gốc vào cuối kỳ

nên nguồn vốn này rất “cuốn hút” doanh nghiệp. Chi phí nợ vay trước thuế được tính

như sau:

D Tỷ lệ chi phí = Po - F

Trong đó: D: Trái tức chia vào cuối năm

Po: Thị giá trái phiếu tại thời điểm phát hành

F: Chi phí phát hành

Ví dụ: Công ty phát hành trái phiếu với mệnh giá $100/trái phiếu. Lãi suất cố

định 10%/năm. Giá bán dự kiến trên thị trường là $110/trái phiếu. Chi phí phát hành

$1/trái phiếu.

100*10% Tỷ lệ chi phí = = 9,17% 110-1

Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:

Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu phiếu phổ biến nhất. Để cạnh tranh với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của các công ty khác, doanh nghiệp phải

đưa ra một mức lãi suât hấp dẫn. Lãi suất cao sẽ thu hút người đầu tư nhưng chi phí trả

lãi lớn;

Trái phiếu có lãi suất thả nổi: loại trái phiếu mà doanh nghiệp trả lãi suất thả nổi

theo lãi suất thị trường;

Trái phiếu có thể thu hồi: loại trái phiếu doanh nghiệp được phép thu hồi sớm

hơn thời hạn;

Trái phiếu chuyển đổi: chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành. Đây là loại trái phiếu cho phép trái chủ chuyển đổi sang cổ phiếu phổ thông ở một mức giá xác định trong một thời gian xác định. Việc chuyển từ trái phiếu sang cổ phiếu làm giảm vốn nợ, tăng vốn chủ sở hữu, có thể khiến doanh nghiệp khó kiểm soát cấu trúc vốn do quyền lựa chọn chuyển đổi thuộc về trái chủ;

Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: cho phép trái chủ được mua thêm một số

lượng cổ phiếu thường với mức giá xác định trong thời gian xác định;

Trái phiếu có tài sản đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc của bên thứ ba. Các tài sản đảm bảo này thường là bất động sản, nhà

xưởng, máy móc… Tổng giá trị trái phiếu phát hành không được vượt quá giá trị tài

sản đảm bảo;

12

Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: đây là loại trái phiếu doanh nghiệp phát hành khá phổ biến, có lãi suất huy động cao. Thường chỉ các doanh nghiệp lớn, có uy

tín mới phát hành thành công loại trái phiếu này.

Như vậy, trái phiếu, dù không phải vô thời hạn như cổ phiếu nhưng thường có

thời gian đáo hạn dài hơn vay ngân hàng, lãi suất cũng thường được cố định trong suốt quá trình vay. Đây chính là ưu điểm quan trọng cho những doanh nghiệp cần vốn đầu

tư vào những dự án dài hạn và có dòng tiền ổn định. Ngoài ra, vì là công cụ nợ nên các

chi phí liên quan đến trái phiếu (lãi suất, chi phí phát hành, bảo hiểm) đều được trừ

thuế như chi phí vốn vay ngân hàng. Điều này giúp doanh nghiệp có thể giảm bớt gánh nặng về thuế.

1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp

Tùy thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn của doanh nghiệp có thể

được tiến hành thuận lợi hay không. Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng

huy động vốn của doanh nghiệp.

1.3.1. Nhân tố khách quan

1.3.1.1. Môi trường chính trị - pháp luật

Một môi trường chính trị ổn định sẽ đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững giúp

thu hút các nguồn vốn đầu tư. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh

nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật

và khả năng của mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho

doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp

đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy,

chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng

đến hoạt động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các

quỹ, các văn bản chính sách về thuế... Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của

nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh

nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chính sách, bộ luật Nhà nước ban hành như luật đầu tư, luật xây dựng, luật

đất đai, luật thuế, … sẽ là công cụ giúp khuyến khích, đảm bảo thu hút vốn đầu tư vào các dự án, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.

1.3.1.2. Môi trường kinh tế

Hoạt động huy động và sử dụng vốn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… Khi huy động vốn, doanh nghiệp cần phân tích kỹ các chỉ tiêu đó và tính đến các rủi ro liên quan như

13

rủi ro về mệnh giá, tỷ suất, hối đoái… Khi tình hình nền kinh tế ổn định, các nhà đầu tư sẽ mở rộng đầu tư, quan tâm đến nhiều lĩnh vực. Từ đó doanh nghiệp dễ dàng kêu

gọi đầu tư, vay vốn của các đối tác. Ngược lại nếu thị trường diễn biến theo chiều

hướng xấu, đầu tư cũng bị thu hẹp, các doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc vay vốn

bên ngoài, đồng thời thị trường tiêu thụ hẹp đi cũng làm doanh thu và lợi nhuận của

doanh nghiệp giảm sút đồng nghĩa nguồn vốn nội bộ giảm khiến khả năng huy động vốn bị ảnh hưởng.

Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường tài chính và các tổ chức tài chính cũng

góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế. Hiện nay, các phương thức huy động

vốn mới từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu ra thị trường nước ngoài hay thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư nước

ngoài chưa được các doanh nghiệp xem xét sử dụng một cách phù hợp. Do đó, việc

huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn, quy mô

vốn chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng phát triển của doanh nghiệp. Ở nước ta hiện

nay thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh, các chính sách công cụ nợ trung và

dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà chủ

yếu là giá áp đặt. Đây là điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy

động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường

hợp có vốn nhàn rỗi.

1.3.2. Nhân tố chủ quan

Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp 1.3.2.1.

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị trường

lớn và ổn định sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, từ đó dẫn đến khả năng

huy động vốn cũng sẽ cao hơn. Thêm vào đó, hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh

mới là một ưu thế cho các doanh nghiệp khi thu hút đầu tư. Khi một ngành mới xuất

hiện, doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường. Đến khi các công ty khác bắt đầu

quan tâm vào lĩnh vưc này thì doanh nghiệp đã có chỗ đứng trên thị trường, có ưu thế thu hút các nhà đầu tư.

1.3.2.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ảnh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác

định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, từ đó quyết định khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Đánh giá tình trạng tài chính doanh nghiệp tại thời điểm cần huy động bằng việc tính toán các chỉ căn bản như: khả năng thanh toán, chỉ số nợ,

chỉ số hoạt động, chỉ số doanh lợi. Đồng thời tính toán lại các chỉ tiêu theo phương án huy động khác nhau. Trên cơ sở đó lựa chọn mục tiêu, phương án huy động cụ thể.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng thu hút được nhiều nhà

14

đầu tư quan tâm chú ý. Trái lại, khi sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn vì không tạo

được niềm tin về khả năng thanh toán đối với những người cho vay.

1.3.2.3. Mối quan hệ của doanh nghiệp với ngân hàng và các tổ chức tài chính

Doanh nghiệp có uy tín và mối quan hệ tốt với các ngân hàng và các tổ chức tài

chính thì việc vay vốn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn như được hưởng ưu tiên trong lãi suất, không cần tài sản thế chấp khi vay vốn… Điều này sẽ giúp giảm thiểu các chi phí

trong việc huy động vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa toàn nguồn lực, tăng

cường hiệu quả sản xuất kinh doanh.

1.3.2.4. Trình độ quản lý của doanh nghiệp

Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Một bộ máy quản lý tốt có trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh

nghiệp đạt kết quả cao và ngược lại. Do đó doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản

lý đặc biệt là đối với cán bộ quản lý tài chính về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần

trách nhiệm để đảm bảo an toàn về tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh. Từ

đó tạo uy tín trên thị trường cũng như là nền tảng cho công tác huy động vốn.

15

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM

2.1. Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

2.1.1. Thông tin chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM

Tên tiếng Anh: HANOI CPM CONSTRUCTION CORPORATION

Tên viết tắt: HA NOI CPM CORP

Địa chỉ trụ sở chính: P1106 - Nhà 17T5 - Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính,

Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Địa chỉ giao dịch: VP 8B - Tầng 8 Tòa Nhà Sông Đà, Km 10 Đường Nguyễn Trãi,

Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

Điện thoại: 0433543354

Fax: 0433120615

Email: hanoicpm@gmail.com

Website: hanoicpm.com

Mã số thuế: 0101557196

Vốn điều lệ: 30.000.000.000 đồng

Mệnh giá cổ phần: 100.000 đồng

Tổng số cổ phần: 300.000

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM (tên gọi cũ là công ty Cổ phần Xây

dựng và Tư vấn quản lý dự án Hà Nội) là doanh nghiệp trẻ, kinh doanh độc lập được

thành lập ngày 02/10/2004 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103005609

do Sở kế hoạch Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 12/10/2004. Ngày 05/08/2013 công ty chính thức đổi tên thành công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

Trong thời buổi kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển bền vững là một việc làm khó khăn và là thử thách lớn cho các doanh nghiệp, không ít

doanh nghiệp đã phải đóng cửa vì không thể phát triển được. Tuy nhiên, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM không những đã tồn tại mà còn phát huy được thế mạnh của mình, tạo được chỗ đứng vững chắc, thương hiệu uy tín trong lĩnh vực cung cấp, lắp đặt khung nhôm kính, kính tấm lớn, tấm ốp hợp kim nhôm, lan can cầu thang, vách dùng Spider, buồng tắm kính…, tư vấn giám sát công trình xây dựng, tư vấn quản lý

dự án xây dựng, xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh… Với đội ngũ quản

16

lý nhiều kinh nghiệm, các chuyên gia ngành nhôm kính và các cán bộ kỹ sư được đào tạo lâu năm, công ty đang từng bước khẳng định thương hiệu của mình và trở thành

đối tác tin cậy và uy tín đối với các chủ đầu tư, nhà tư vấn thiết kế, các đối tác Việt

Nam và quốc tế.

Từ khi thành lập đến nay, công ty đã không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh

doanh, xây dựng và hoàn thiện dần bộ máy tổ chức quản lý; trang bị thêm máy móc, thiết bị trong dây chuyền thi công xây dựng, đảm bảo năng lực và chất lượng thi công

công trình. Vì vậy công ty đã trúng thầu và được chỉ định thầu nhiều công trình xây

dựng. Địa bàn hoạt động của công ty rất rộng, rải rác từ các tỉnh miền Bắc như Lai

Châu, Lào Cai, Tuyên Quang đến các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An… Với mong muốn công ty ngày càng phát triển lớn mạnh, cán bộ nhân viên không

ngừng phấn đấu, hoàn thành tốt các chỉ tiêu đề ra, mạnh dạn đưa ra ý kiến cải thiện,

khắc phục khó khăn, sáng tạo trong thi công nhằm phát triển công ty.

Hiện nay, công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM đang là đơn vị cung cấp thi

công lắp đặt và nhà phân phối độc quyền sản phẩm nhôm JMA tại Việt Nam. Một số

công trình tiêu biểu mà công ty đã thi công thực hiện như: khách sạn Mường Thanh –

Hạ Long (hạng mục: kính mặt dựng, tấm ốp, kính tấm lớn); khách sạn Hà Nội Plaza

(hạng mục: mái sảnh tấm ốp, mái xuống tầng hầm); trung tâm thương mại Grand Plaza

(hạng mục: kính tấm lớn); tòa nhà văn phòng công ty Vinaconex 2 (hạng mục: nhôm kính, vách kính tấm lớn, mái sảnh, lam chắn nắng, tấm ốp nhôm); khách sạn Siwiss

Attixs 5 Stars (hạng mục: kính phản quang, tấm ốp nhôm), nhà máy Honda Vĩnh Phúc

(hạng mục: vách kính tấm lớn, cửa thủy lực)… cùng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên

toàn quốc. Một số dự án công ty đã tham gia tư vấn và quản lý như: chung cư Nàng

Hương – Hà Đông, Khu đô thị Xa La, trung tâm kinh doanh đồng bộ 3 chức năng

Toyota Mỹ Đình, chợ Thái – thành phố Thái Nguyên…

2.1.3. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Với nhiều năm kinh nghiệm, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM là một trong những công ty hàng đầu về lĩnh vực tư vấn, quản lý dự án, thiết kế, cung cấp giải pháp tổng thể và lắp đặt hoàn thiện hệ thống nhôm kính kiến trúc, hệ thống tấm ốp trang trí nội ngoại thất cho các tòa nhà, văn phòng và trụ sở làm việc. Từ khi thành lập

đến nay, công ty đã mở rộng kinh doanh, đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM được trình bày trong bảng sau đây:

17

Bảng 2.1. Ngành nghề kinh doanh của công ty

STT Tên ngành Mã ngành

1 7120 Kiểm tra và phân tích kỹ thuật: nén tĩnh cọc, PDA, PIT, siêu âm và các loại thí nghiệm nền móng khác

2 7410

Hoạt động thiết kế chuyên dụng: thiết kế kiến trúc và kết cấu công trình công nghiệp (nhà, xưởng sản xuất, nhà kho,…), công trình dân dụng (nhà ở và công trình công cộng)

3 4330 Hoàn thiện công trình xây dựng: lắp đặt, hoàn thiện và trang trí nội ngoại thất cho các công trình xây dựng

4 6810 Kinh doanh bất động sản: cho thuê văn phòng, nhà ở, nhà xưởng, kho bãi

5 4220 Xây dựng công trình công ích: thi công các công trình điện, trạm biến thế, đường dây đến 35KV và 110KV

6 2592

Gia công cơ khí, xử lý, tráng phủ kim loại: sản xuất, gia công, lắp đặt các sản phẩm từ gỗ, nhựa, kim loại; sản xuất, gia công, mua bán, sửa chữa các sản phẩm cơ khí xây dựng; gia công, lắp đặt khung nhôm kính, tấm ốp trang trí ngoài nhà, lợp mái, hệ thống cách âm, cách nhiệt, hệ thống kết cấu mái

7 2824 Sản xuất máy khai thác mỏ và xây dựng: mua bán, sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu ngành xây dựng

8 4290

Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác: xây dựng công trình dân dụng, công nghiêp, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, khu du lịch sinh thái, các công trình văn hóa, thể thao, công trình thương mại (siêu thị, chợ, khu triển lãm), hạ tầng cơ sở, san lấp mặt bằng

9 4392 Lắp đặt hệ thống xây dựng: thi công chống thấm, sàn công nghiệp

10 4610 Đại lý, môi giới, đấu giá: đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa

11 4933 Vận tải hàng hóa bằng đường bộ

12 8299

Hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh: lập dự toán và tổng dự toán các công trình dân dụng, công nghiệp, cầu , đường bộ, thông tin liên lạc, hạ tầng kỹ thuật, văn hóa, tôn giáo; lập và đánh giá hồ sơ mời thầu; tư vấn lập dự án đầu tư, tư vẫn quy hoạch và quản lý các dự án (không bao gồm tư vấn pháp luật và tài chính); tư vấn thẩm tra thiết kế trong phạm vi chứng chỉ đã đăng ký kinh doanh; dịch vụ quản lý nhà chung cư, công trình dân dụng và công nghiệp; xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh; tư vấn giám sát công trình xây dựng; tư vấn xây dưng không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình

(Nguồn: Phòng Kế toán)

18

2.1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Hội Đồng Quản Trị

Chủ Tịch HĐQT Tổng Giám Đốc Phó Tổng Giám Đốc

Ban Quản Lý Dự Án

Phòng Kinh Doanh Phòng Kỹ Thuật Phòng Vật Tư Phòng Kế Toán Phòng Thiết Kế Phòng Hành Chính Nhân sự

Xưởng Sản Xuất Đội Thi Công

(Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự)

Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công

ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những

vấn đề thuộc quyền của Đại Hội đồng cổ đông. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản

trị: quyết định các chiến lược phát triển công ty; quyết định phương án đầu tư; giải pháp phát triển thị trường; kiến nghị loại cổ phần và cổ phiếu được chào bán; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc và những cán bộ quản lý khác, quyết định

lương và lợi ích khác.

Chủ tịch Hội đồng quản trị: Là người lập trình kế hoạch hoạt động của Hội

đồng quản trị, triệu tập và chủ toạ cuộc họp Hội đồng quản trị, tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị, giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị.

Tổng giám đốc: Là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh

doanh; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong công ty; quyết định

19

lương, phụ cấp đối với người lao động trong công ty...Tổng giám đốc chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật

về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

Phó tổng giám đốc: Là người quản lý tổ chức và chỉ đạo công tác kinh doanh

của công ty, là người giúp đỡ Tổng giám đốc về giao dịch ký kết hợp đồng với khách

hàng, tuyển dụng lao động và các giao dịch khác khi Tổng giám đốc đi vắng.

Ban quản lý dự án: Tìm hiểu, tiếp cận và giao dịch với các ngành, các tổ chức,

cá nhân có kế hoạch đầu tư mới; xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể trình lên Chủ

tịch Hội đồng quản trị duyệt; duy trì quan hệ với các đối tác truyền thống tạo cơ hội có

thêm hợp đồng mới để ổn định và gia tăng doanh số; phối hợp với phòng kỹ thuật triển khai hợp đồng, tổ chức bàn giao thanh lý hợp đồng.

Phòng thiết kế: Nhận các công trình từ phòng kinh doanh và tiến hành thiết kế

bản vẽ, bóc tách sơ bộ bản vẽ thi công; cập nhật những thông tin mới về bóc tách dự

toán để có thiết kế tiết kiệm nhất; thiết kế bản vẽ đảm bảo hợp lý, đảm bảo tiết kiệm

nguyên vật liệu.

Phòng kỹ thuật: Kiểm tra thực tế công trường, kiểm tra bản vẽ thi công; thi

công nhanh gọn, đảm bảo tính kỹ thuật, thẩm mỹ cao; báo cáo Tổng giám đốc khi có

yêu cầu từ chủ đầu tư như thay đổi thiết kế, phát sinh thêm…

Phòng vật tƣ: Cung ứng vật tư kịp thời, đầy đủ cho các công trình; tìm kiếm thị trường vật tư, những vật tư thay thế, vật tư cùng chức năng có giá thành hạ; báo cáo

Tổng giám đốc các thông tin có liên quan tới thị trường giá cả.

Phòng kế toán: Căn cứ nhiệm vụ sản xuất lập kế hoạch tài chính của công ty kể

cả kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn; quản lý sử dụng vốn và tài sản công ty chặt

chẽ, an toàn và có hiệu quả; hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ công tác kế toán cho các

đội công trình; thực hiện đôn đốc thanh toán, đối chiếu công nợ, vay trả trong và ngoài

công ty; thực hiện báo cáo tài chính năm, quý, tháng một cách chính xác và đầy đủ,

kịp thời; thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

Phòng hành chính - nhân sự: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc bố trí cán bộ công nhân, đảm bảo cho bộ máy quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật quản lý, tay nghề cho các cán bộ nhân

viên; tổ chức công tác bảo vệ trị an công ty, quản lý xe con và sắp xếp bố trí việc đi công tác cho cán bộ trong công ty; bố trí sắp xếp nơi làm việc và trang thiết bị văn phòng; quản lý con dấu và thực hiện các nhiệm vụ văn thư.

20

Phòng kinh doanh: Là bộ phận quan trọng nhất, chịu trách nhiệm về hoạt động

của công ty, bao gồm:

Nghiên cứu thị trường, cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả các loại sản

phẩm và dịch vụ công ty đang kinh doanh;

Tìm hiểu đối tác kinh doanh và đề xuất các biện pháp để chăm sóc khách hàng duy trì quan hệ với khách hàng hiện tại, phát triển mở rộng khách hàng mới tìm kiếm

khách hàng tiềm năng, đề xuất các giải pháp để khuyếch trương hình ảnh của công ty

trên thương trường, đề xuất các chính sách thương mại để khuyến khích bán hàng gia

tăng doanh số;

Tìm hiểu một số thông tin về đối thủ cạnh tranh;

Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng tháng hàng năm và các giải pháp cụ thể;

Tiếp nhận, xử lý thực hiện các đơn đặt hàng của các tổ chức;

Tìm hiểu khai thác nguồn hàng đáp ứng nhu cầu của khách, tham gia đàm phán ký

kết các hợp đồng kinh tế.

Xƣởng sản xuất và Đội thi công: Công ty hiện có một phân xưởng gia công với

nhiệm vụ cơ bản là gia công sản phẩm theo thiết kế bản vẽ phục vụ cho đội thi công tại

công trình, gia công nguyên vật liệu đảm bảo đúng chất lượng, số lượng, chủng loại,

thẩm mỹ sao cho phù hợp với thiết kế bản vẽ và yêu cầu thực tế tại công trình.

2.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội

CPM trong ba năm từ 2010-2012

Để nắm rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng

Hà Nội CPM, chúng ta có thể xem xét một cách tổng quát kết quả kinh doanh của

công ty thông qua các báo cáo tài chính trong một vài năm trở lại đây.

2.2.1. Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công ty được phản ánh

trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Các số liệu trên báo cáo cho biết thông tin tổng hợp về kết quả sử dụng vốn, lao động kỹ thuật và kinh nghiệm của công ty. Sau

đây là báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM trong ba năm 2010-2011-2012

21

Bảng 2.2. Báo cáo kết quả kinh doanh

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

50.519.863.712 29.113.893.813 46.355.000.373 1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

2. Các khoản giảm trừ doanh thu 0 0 602.134.940

3. Doanh thu thuần 50.519.863.712 29.113.893.813 45.752.865.433

4. Giá vốn hàng bán 46.784.405.548 24.059.492.098 40.322.761.938

5. Lợi nhuận gộp 3.735.458.164 5.054.401.715 5.430.103.495

6. Doanh thu hoạt động tài chính 14.808.524 20.774.065 10.625.894

7. Chi phí tài chính 929.684.396 1.847.952.749 2.189.644.209

Trong đó: Chi phí lãi vay 819.375.779 1.836.187.426 2.180.416.427

8. Chi phí bán hàng 479.625.530 500.680.033 674.096.725

9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 2.417.236.174 2.615.293.833 2.629.529.230

10. Lợi nhuận thuần (76.306.412) 111.249.165 (52.540.775)

11. Thu nhập khác 227.738.775 392.185.480 908.768.695

12. Chi phí khác 401.195.074 1.319.309.216 1.186.797.776

13. Lợi nhuận khác (173.456.229) (927.123.736) (278.029.081)

(249.762.711) (815.874.571) (330.569.856) 14. Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế

15. Lợi nhuận sau thuế (249.762.711) (815.874.571) (330.569.856)

(Nguồn: Phòng Kế toán)

22

Qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong ba năm 2010-2011-2012, ta nhận thấy rằng lợi nhuận trong ba năm của công ty đều bị thua lỗ, đặc biệt là trong

năm 2011, tuy nhiên nhưng mức lỗ của năm 2012 đã giảm đáng kể so với năm 2011,

cùng với đó là sự tăng trưởng mạnh ở doanh thu. Điều đó chứng tỏ công ty đã hoạt

động kinh doanh hiệu quả lên.

Về doanh thu:

Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty trong ba năm có sự

biến động đáng kể, năm 2011 doanh thu chỉ còn 29.113.893.813 đồng, tương ứng tỉ lệ

giảm 42,37% so với năm 2010. Tuy nhiên sang năm 2012 đã có sự khởi sắc khi tổng

doanh thu lại tăng gấp 59,22% so với năm trước. Lý giải cho sự thay đổi đột ngột này là sự suy thoái kinh tế kéo dài và đặc biệt năm 2011 với sự sụp đổ của thị trường bất

động sản, ngành xây dựng nói chung và công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM nói

riêng đã rơi vào cảnh khó khăn khi mà ba nhóm ngành thuộc ngành vật liệu xây dựng

chịu ảnh hưởng nặng nề của suy giảm kinh tế đó là gạch ốp lát, sắt thép và kính xây

dựng – những ngành chủ đạo mà công ty đang kinh doanh. Thế nhưng sự phục hồi của

doanh thu trong năm 2012 là tín hiệu cho thấy công ty đã biết kiểm soát tình hình và

thực hiện tốt chiến lược kinh doanh. Doanh thu năm 2012 phần lớn đến từ các hợp

đồng xây dựng do sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của các công trình đô thị. Qua

đó chứng tỏ công ty có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường, thu hút được sự quan tâm của các khách hàng.

Giảm trừ doanh thu phát sinh trong năm 2012 trong khi năm 2010 và 2011 là 0

đồng. Con số 602.134.940 đồng giảm trừ doanh thu năm 2012 khiến cho doanh thu

thuần chỉ còn 45.752.865.433 đồng. Khoản giảm trừ này xuất phát từ việc thanh lý hợp

đồng tư vấn và chiết khấu thương mại để thu hút khách hàng đến với công ty.

Doanh thu tài chính của công ty đến từ lãi tiền gửi, tiền cho vay. Hiện tại, công ty

chưa thực hiện đầu tư cổ phiếu, trái phiếu… trên thị trường tài chính vì vậy doanh thu

hoạt động tài chính mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với doanh thu bán hàng. Như vậy, công ty hiện chưa chú trọng vào hoạt động này.

Về chi phí:

Một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng lớn nhất quyết định đến tổng chi phí là giá

vốn hàng bán. Tương ứng với sự thay đổi của doanh thu, giá vốn hàng bán năm 2011 cũng sụt giảm 48,57% so với năm 2010, và trong năm 2012 đã tăng 67,59% so với năm 2011 lên tới con số 40.322.761.938 đồng. Đây là những con số rất lớn so với

doanh thu và tỉ lệ tăng của giá vốn cao hơn doanh thu, cho thấy nguyên nhân xuất phát từ yếu tố lạm phát, giá cả tăng mạnh và đặc biệt là công tác quản lý chi phí của công ty

23

còn nhiều yếu kém. Chính vì việc giá vốn hàng bán quá cao đã là nguyên nhân dẫn đến con số âm trong lợi nhuận của công ty ở cả ba năm.

Bên cạnh đó, chi phí tài chính tăng liên tục tăng trong ba năm, đặc biệt so với

năm 2010 chi phí này tăng vọt lên tới 98,77% trong năm 2011. Chiếm 99% chi phí này

là lãi tiền vay, còn lại là các khoản dự phòng. Chi phí lãi vay là chi phí công ty phải trả

do vay ngân hàng ngắn hạn và dài hạn, trong đó chủ yếu là lãi vay ngắn hạn. Từ năm 2010 đến năm 2012, ta thấy chi phí lãi vay tăng lên mặc dù theo số liệu bảng cân đối

kế toán khoản mục vay ngắn hạn lại giảm đi. Giải thích điều này là do từ năm 2010 trở

về trước, công ty được hưởng lãi suất ưu đãi từ ngân hàng nên chi phí lãi vay ko đáng

kể. Tuy nhiên từ năm 2011 trở đi, công ty phải chịu lãi suất theo hiện hành tương đối cao, cộng với khoản vay thêm dài hạn nên làm cho chi phí lãi vay tăng mạnh. Sang

đến năm 2012, mặc dù cả gốc vay ngắn hạn và dài hạn đều giảm nhưng trong năm

công ty có thực hiện các khoản vay ngắn ngày lãi suất cao nên chi phí lãi vay tiếp tục

tăng lên. Như vậy, trong những năm tới công ty cần phải cân nhắc lựa chọn nguồn vay

với chi phí phù hợp hơn.

Chi phí bán hàng năm 2011 tăng nhẹ 4,39% so với năm 2010 sau đó tăng 34,64%

từ 500.680.033 đồng trong năm 2011 lên 674.096.725 đồng ở năm 2012. Sự tăng lên

này nằm ở chi phí nhân viên và chi phí dịch vụ mua ngoài. Điều này hoàn toàn phù

hợp với việc công ty mở rộng quy mô và thi công nhiều công trình hơn ở năm 2012.

Nhìn vào số liệu của công ty trong ba năm, ta thấy một trong những lý do chính

dẫn tới việc lợi nhuận âm là chi phí quản lý doanh nghiệp. Từ năm 2010 tới năm 2012,

chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên và đều ở mức trên 2 tỷ. Đây là các khoản chi phí

dành cho việc chi trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn

của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động,

khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài;

khoản lập dự phòng; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản,

cháy nổ…) và các chi phí bằng tiền khác. Nếu so sánh với chi phí bán hàng sẽ thấy

công ty hiện đang không quản lý tốt chi phí này, loại bỏ yếu tố lạm phát thì nguyên nhân là do trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Khi dòng chi phí quản lý doanh nghiệp lớn và đang liên tục tăng thì đây là vấn đề nghiêm trọng công ty cần giải

quyết trong những năm tiếp theo.

Về lợi nhuận:

Lợi nhuận gộp của công ty trong ba năm lần lượt tăng đặc biệt năm 2011 tỷ lệ

tăng 35,31% so với năm 2010. Sau đó năm 2012 tiếp tục tăng thêm 7,43%. Mặc dù doanh thu năm 2011 sụt giảm đáng kể so với năm 2010 nhưng chi phí giá vốn lại được

kiểm soát tốt hơn. Năm 2012, mặc dù doanh thu tăng tới 57,17% so với năm 2011 tuy

24

nhiên tỷ lệ gia tăng của giá vốn lại tới 67,60%. Như vậy giá vốn là nguyên nhân khiến lợi nhuận gộp của công ty không đạt kết quả tăng như mong đợi. Tuy vẫn thu được lợi

nhuận nhưng sự ảnh hưởng của việc giá vốn hàng bán làm giảm khá nhiều chỉ tiêu lợi

nhuận gộp.

Các khoản thu khác và chi khác đến từ việc thanh lý, nhượng bán nhà cửa, vật

liệu kiến trúc và phương tiện truyền dẫn, truyền tải. Mặc dù thu nhập khác có tăng lên đáng kể trong ba năm qua nhưng chi khác lại luôn lớn hơn khoản thu. Nguyên nhân là

do tài sản cố định vẫn còn giá trị khi thanh lý. Điều này cho thấy công tác quản lý còn

khá yếu kém của nhà quản trị doanh nghiệp.

Chênh lệch giữa các khoản doanh thu và các khoản chi phí là lợi nhuận trước thuế. Trong cả ba năm 2010, 2011 và 2012, lợi nhuận trước thuế của công ty đều âm.

Nguyên nhân chính là do chi phí giá vốn quá cao, mức tăng chi phí giá vốn cao hơn

mức tăng của doanh thu. Bên cạnh đó, công ty lại tiếp tục sử dụng nợ nhiều hơn để tài

trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến chi phí lãi vay lớn nên lợi nhuận sau

thuế giảm là điều dễ hiểu. Sự thua lỗ một phần cũng được lí giải bởi sự khủng hoảng,

khó khăn của nền kinh tế nói chung và đặc biệt trong ngành xây dựng nói riêng vì sự

đóng băng của địa ốc. Tuy nhiên nhìn vào các con số có thể dễ dàng nhìn thấy sự thua

lỗ về lợi nhuận đã giảm đáng kể trong năm 2012 với tỉ lệ giảm 59,48% so với 2011.

Với sự cố gắng nhiều hơn nữa, đặc biệt là sự chú ý đến công tác quản lý giá vốn hàng bán và chi phí tài chính, công ty có khả năng sẽ có lãi trong năm tới.

Tóm lại, thông qua các phân tích trên tình hình sản xuất kinh doanh của công ty

mặc dù nhìn chung khá ảm đạm nhưng sang năm 2012 đang có dấu hiệu tích cực hơn.

Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp

khó tránh khỏi làm ăn thua lỗ. Trong thời gian tới, công ty cần tiếp tục nỗ lực, có

những biện pháp chính sách quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đắn, cắt giảm chi phí không

cần thiết để nâng cao lợi nhuận.

2.2.2. Tình hình tài sản – nguồn vốn

Để nghiên cứu, đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty, chúng ta sẽ xem xét bảng cân đối kế toán. Đây là một báo cáo cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của công ty theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành của các tài

sản đó. Từ đó ta có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Dưới đây là tình hình tài sản - nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM trong ba năm 2010-2011-2012

25

Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

TÀI SẢN

A - TÀI SẢN NGẮN HẠN 34.080.432.480 31.981.441.479 47.158.850.129

88.339.299 415.032.182 62.105.161 I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền

1. Tiền 88.339.299 415.032.182 62.105.161

0 2. Các khoản tương đương tiền 0 0

II. Khoản phải thu ngắn hạn 10.424.223.995 7.074.612.101 16.317.466.291

1. Phải thu khách hàng 8.992.008.139 6.429.836.960 12.430.919.166

2. Trả trước cho người bán 381.001.345 209.461.557 3.832.695.857

0 1.041.801.811 0 3. Phải thu theo tiến độ kế hoạch xây dựng hợp đồng

4. Các khoản phải thu khác 9.412.700 435.313.584 53.851.268

III. Hàng tồn kho 23.442.572.317 24.096.458.642 30.564.804.046

IV. Tài sản ngắn hạn khác 125.296.869 395.338.554 214.474.631

0 1. Thuế GTGT được khấu trừ 0 192.672.288

125.296.869 202.666.266 214.474.631 2. Thuế và các khoản phải thu Nhà nước

B - TÀI SẢN DÀI HẠN 12.422.163.890 15.191.994.743 13.401.522.102

I. Tài sản cố định 12.120.608.784 14.934.256.992 13.158.853.060

1. Tài sản cố định hữu hình 4.377.493.753 14.446.241.932 12.670.838.000

Nguyên giá 5.437.260.010 15.972.629.646 14.762.339.100

Giá trị hao mòn lũy kế (1.059.766.257) (1.526.387.714) (2.091.501.100)

2. Tài sản cố định vô hình 0 488.015.060 488.015.060

Nguyên giá 13.117.200 501.132.260 501.132.260

Giá trị hao mòn lũy kế (13.117.200) (13.117.200) (13.117.200)

3. Chi phí XD cơ bản dở dang 7.743.115.031 0 0

II. Tài sản dài hạn khác 301.555.106 257.737.751 242.669.042

Chi phí trả trước dài hạn 301.555.106 257.737.751 242.669.042

TỔNG TÀI SẢN 46.502.596.370 47.173.436.222 60.560.372.231

26

NGUỒN VỐN

A- NỢ PHẢI TRẢ 37.012.331.076 38.499.045.499 33.416.551.364

I. Nợ ngắn hạn 35.844.304.409 35.361.405.613 31.231.879.705

1. Vay và nợ ngắn hạn 20.959.000.000 18.250.000.000 13.784.219.360

2. Phải trả người bán 8.038.923.542 6.552.593.627 6.624.697.737

3. Người mua trả tiền trước 4.719.189.600 8.955.703.919 8.137.473.973

548.910.398 842.824.946 1.718.322.650 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

5. Phải trả người lao động 1.403.344.092 574.376.421 691.003.901

6. Chi phí phải trả 115.406.465 69.441.499 114.672.670

0 9.000.000 0 7. Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng

59.530.312 107.465.201 161.489.414 8. Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác

II. Nợ dài hạn 1.168.026.667 3.137.639.886 2.184.671.659

1. Vay và nợ dài hạn 1.168.026.667 3.137.639.886 2.184.671.659

B - VỐN CHỦ SỞ HỮU 9.490.265.294 8.674.390.723 27.143.820.867

1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 10.000.000.000 10.000.000.000 28.800.000.000

(509.734.706) (1.325.609.277) (1.656.179.133) 2. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

TỔNG NGUỒN VỐN 46.502.596.370 47.173.436.222 60.560.372.231

(Nguồn: Phòng Kế toán)

27

Qua bảng cân đối kế toán, ta thấy tổng tài sản và tổng nguồn vốn của công ty tăng dần trong ba năm. Cụ thể thể tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty như sau:

TÀI SẢN:

Tài sản ngắn hạn

Tiền mặt của công ty tăng từ 88.339.299 đồng năm 2010 lên tới 415.032.182

đồng trong năm 2011, tương ứng mức tăng 369,82%. Nhận thấy trong năm 2010 lượng tiền mặt chiếm tỷ trọng quá thấp trong tổng tài sản của công ty (chỉ chiếm 0,19%), có

nguy cơ dẫn tới rủi ro trong việc thanh toán và chi trả các khoản chi phí phát sinh hàng

ngày, nên công ty đã tăng lượng tiền đáng kể trong năm 2011. Ngoài ra, với lượng tiền

có sẵn nhiều công ty có thể tận dụng những cơ hội mua đặc biệt như sụt giá tạm thời hay dự đoán có tăng giá mạnh trong tương lai. Tuy nhiên dự trữ quá nhiều tiền khiến

công ty không tận dụng được cơ hội đầu tư vào những tài sản sinh lời khác, gây tình

trạng ứ đọng vốn và tăng chi phí quản lý tiền. Có lẽ vì điều này nên trong năm 2012,

công ty quyết định thay đổi chính sách khi cắt giảm tới 85,04% tiền mặt so với năm

2011, tức là dự trữ ít hơn cả năm 2010. Điều này lại dẫn đến rủi ro công ty không đủ

tiền thanh toán các khoản nợ, không chủ động khi có những biến cố bất ngờ xảy ra.

Đồng thời làm cho công ty khó tạo niềm tin, uy tín với nhà cung cấp và các ngân hàng.

Như vậy có thể thấy được chính sách quản lý tiền của công ty chưa thực sự nhất quán

khi mức dự trữ tiền biến động rất mạnh qua từng năm.

Tương tự như khoản mục tiền mặt, phải thu khách hàng của công ty cũng có sự

biến động qua từng năm, xuất phát từ việc thay đổi chính sách tín dụng. Đầu tiên là

trong năm 2010, công ty nhận thấy khoản vốn khách hàng chiếm dụng lớn nên sang

2011 đã thực hiện viêc thắt chặt chính sách tín dụng, ví dụ như chỉ những khách hàng

lâu năm mới được mua hàng trả chậm. Việc điều chỉnh này đã làm cho khoản phải thu

2011 giảm đi tương đối. Tuy nhiên, chính sách thắt chặt tín dụng có nhược điểm là hạ

thấp khả năng cạnh tranh của công ty. Từ đó, để nâng cao cạnh tranh trong bối cảnh

nền kinh tế khó khăn, công ty quay trờ lại vs chính sách nới lỏng tín dụng, làm cho khoản phải thu tăng lên đáng kể. Việc tăng mạnh khoản phải thu này giúp công ty thu hút được nhiều khách hàng hơn, tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh từ đó tăng doanh thu. Tuy nhiên quyết định này cũng đầy mạo hiểm vì

công ty có thể không thu hồi được vốn và mất chi phí cơ hội của việc bị chiếm dụng vốn cũng như các chi phí quản lý nợ.

Tài sản dài hạn

Tình hình tài sản dài hạn của công ty không có biến động gì lớn bởi công ty đã thành lập được nhiều năm vì thế hoạt động dựa trên tài sản dài cố định có từ trước.

Trong tương lai, nếu quy mô sản xuất của công ty tiếp tục mở rộng thì cần đầu tư thêm

28

vào trang thiết bị, tài sản cố định và các tài sản khác, hướng tới mục tiêu đảm bảo chất lượng, lợi nhuận lâu dài.

NGUỒN VỐN

Nợ phải trả

Nợ ngắn hạn: Trong ba năm từ 2010 đến 2012, nợ ngắn hạn của công ty có xu hướng giảm dần. So với năm 2010, nợ ngắn hạn trong năm 2011 và 2012 lần lượt

giảm 12,93% và 34,23%. Phân tích sâu vào từng chỉ tiêu dưới đây sẽ cho ta cái nhìn rõ

ràng hơn về nợ ngắn hạn của công ty.

Chỉ tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong nợ ngắn hạn là vay và nợ ngắn hạn giảm đều đặn trong ba năm gần đây, trong đó toàn bộ là khoản vay ngắn hạn ngân hàng Thương

mại Cổ phần Công thương Việt Nam - VietinBank. Nguyên nhân khoản vay ngắn hạn

giảm dần là năm 2010 công ty đc ngân hàng cho hưởng lãi suất ưu đãi, tuy nhiên sang

các năm sau đó do phải chịu lãi vay hiện hành tương đối cao nên công ty đã chủ động

thanh toán gốc vay một phần để giảm thiểu chi phí. Điều này cũng tạo ra lợi thế cho công ty khi hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu giảm, uy tín về tín dụng của công ty được

tăng lên. Nhìn chung, trong cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty, nguồn vay ngắn hạn là

khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất và chủ yếu.

Phải trả người bán năm 2011 giảm 18,49% so với năm 2010. Khoản phải trả

người bán giảm xuống do công ty thanh toán cho nhà cung cấp đúng thời hạn. Để tận

dụng được nguồn nguyên vật liệu giá rẻ do người bán cung cấp, công ty đã tăng dự trữ

tiền mặt để thanh toán toàn bộ giá trị các đơn đặt hàng nguyên vật liệu đầu vào. Mặc

dù không chiếm dụng vốn được nhưng bù lại công ty nhận được nguồn nguyên liệu

đầu vào giá rẻ do thanh toán ngay và tăng được uy tín của công ty với các nhà cung

cấp. Điều này góp phần tạo dựng niềm tin, tăng thêm uy tín cho công ty tới các đối tác

kinh doanh trong những dự án hợp tác sau này. Năm 2012, phải trả người bán không

có biến động lớn, tăng nhẹ lên 6.624.697.737 đồng, chênh lệch tăng chỉ 1,1%. Điều

này cho thấy mối quan hệ và uy tín của công ty với các nhà cung cấp vẫn tốt, công ty có thể chiếm dụng vốn của người bán để sử dụng mà không phải chi trả một đồng lãi nào và không phải chịu sự giám sát của ngân hàng. Tuy vậy, khoản tín dụng này cũng có chi phí cơ hội đó chính là sự đánh đổi bằng uy tín của chính công ty.

Người mua trả tiền trước tăng vọt lên 89,77% trong năm 2011. Đây là khoản nợ mà công ty không phải trả lãi vì thế việc tận dụng nguồn vốn chiếm dụng từ khách hàng tạo ra thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty. Tuy nhiên năm 2012 khoản chiếm dụng này lại giảm 818.229.946 đồng tương ứng giảm 9,14% so với năm 2011. Điều này là phù hợp và dễ hiểu vì trong bối cảnh khó khăn, không nhiều khách hàng muốn trả trước. Trong những năm tới công ty nên làm tăng sự hài lòng của khách

29

hàng bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo đúng thời hạn hợp đồng để tăng được khoản chiếm dụng vốn từ khách hàng.

Phải trả người lao động năm 2011 giảm tới 59,07% so với năm 2010 chỉ còn

574.376.421 đồng, trong khi năm 2012 con số này là 691.003.901 đồng, chênh lệch

tăng 116.627.480 đồng tương ứng tỉ lệ tăng 20,31%. Đây cũng là một nguồn vốn

chiếm dụng của cán bộ nhân viên trong công ty có lợi thế về tính thuận tiện, đơn giản và chi phí thấp. Năm 2011 công ty quyết định thanh toán bớt các khoản nợ này, giúp

tạo sự tin tưởng của người lao động đối với doanh nghiệp. Nhưng do tình hình khó

khăn chung, công ty phải tăng khoản nợ người lao động trong năm 2012. Biện pháp

này không nên duy trì kéo dài trong các năm tới vì sẽ làm giảm tinh thần của cán bộ, nhân viên dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả công việc.

Chi phí phải trả có biến động tăng giảm khi năm 2011 giảm 39,83% sau đó lại

tăng 65,14% trong năm 2012. Chỉ tiêu này là những khoản chi phí thực tế chưa phát

sinh, nhưng được tính trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh cho các đối tượng chịu

chi phí để đảm bảo khi các khoản chi trả phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi

phí sản xuất, kinh doanh. Do đó, chi phí phải trả thay đổi cùng với quy mô sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp.

Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng đã giảm 100%, năm 2012 là 0

đồng trong khi năm 2011 là 9.000.000 đồng. Công ty đã hoàn thành thanh toán theo tiến độ, giúp tăng cường uy tín của công ty với các đối tác.

Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác mặc dù tăng nhưng chiếm tỉ trọng

nhỏ trong cơ cấu nợ phải trả, bao gồm bảo hiểm xã hội, bao hiểm y tế và bảo hiểm thất

nghiệp. Đây là nguồn vốn công ty có thể tạm thời chiếm dụng trong thời gian ngắn

giúp bổ sung nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nợ dài hạn: Toàn bộ nợ dài hạn của công ty là khoản vay dài hạn, mặc dù có biến động tăng giảm khá mạnh trong ba năm qua nhưng nhìn chung nợ dài hạn chiếm

tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn. Toàn bộ khoản nợ dài hạn của công ty là vay dài hạn ngân hàng Công thương Vietinbank. Vay dài hạn có phi phí cao hơn nhưng rủi ro lại thấp hơn vay ngắn hạn. Tuy nhiên, công ty vẫn chưa quan tâm nhiều đến vay nợ dài hạn bởi để được vay dài hạn, công ty sẽ phải thực hiện nhiều thủ tục

phức tạp hơn vay ngắn hạn. Trong năm 2011 công ty chủ động giảm các khoản vay ngắn hạn, nên đã vay thêm dài hạn để đảm bảo nhu cầu vốn. Tuy nhiên sang 2012, sau khi ổn định được nhu vầu vốn, công ty đã thanh toán một phần khoản vay dài hạn để giảm thiểu chi phí lãi vay cao.

30

Vốn chủ sở hữu

Trước tình trạng kết quả kinh doanh năm 2011 giảm sút trầm trọng, năm 2012,

công ty quyết định bổ sung vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu trong năm 2012 tăng gấp

186,02% so với năm 2010 và gấp 212,92% so với năm 2011. Việc tăng nguồn vốn

bằng cách tăng vốn chủ sở hữu giúp công ty chủ động trong đầu tư, không mất chi phí

lãi vay vì thế giảm chi phí kinh doanh. Tuy nhiên khi có rủi ro về kinh doanh chủ sở hữu sẽ phải chịu toàn bộ thiệt hại. Còn lại, sự thay đổi của vốn chủ sở hữu là do phần

lợi nhuận để lại. Khoản mục này đều mang giá trị âm trong cả ba năm, cho thấy hoạt

động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài trong nhiều năm. Đây là thách thức rất lớn

cho công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM trong những năm tiếp theo.

Tóm lại, qua bảng cân đối kế toán, ta thấy tổng tài sản và tổng nguồn vốn trong

ba năm đều tăng nhưng sự gia tăng này không đem lại hiệu quả lớn, khi mà chỉ tiêu lợi

nhuận sau thuế trong báo cáo kết quả kinh doanh đều mang dấu âm. Trong những năm

tiếp theo, công ty cần phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như theo dõi

và điều chỉnh các khoản mục như phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, nợ

ngắn hạn… để chủ động được nguồn vốn sản xuất kinh doanh, giảm thiểu được các rủi

ro từ các khoản nợ của mình.

2.2.3. Các chỉ tiêu tài chính

Khi doanh nghiệp thực hiện huy động vốn thì các chủ tài chính như ngân hàng, các chủ đầu tư thường cân nhắc và xem xét một số chỉ tiêu tài chính về khả năng thanh

toán, cơ cấu tài chính và khả năng sinh lợi vốn của doanh nghiệp.

2.2.3.1. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

Bảng 2.4. Khả năng thanh toán của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Đơn vị tính: Lần

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng TSNH 0,95 0,90 1,51 1. Khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

Tổng TSNH – Kho 0,30 0,22 0,53 2. Khả năng thanh toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền 0,00 0,01 0,00 3. Khả năng thanh toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Năm 2012 khả năng thanh toán ngắn hạn là 1,51 lần

31

trong khi năm 2010 và 2011 chỉ là 0,95 và 0,9 lần; tăng khoảng 0,6; có nghĩa là năm 2012, 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo trả nợ bằng 1,51 đồng tài sản lưu động trong

khi con số này là 0,95 đồng ở năm 2010 và 0,9 đồng trong năm 2011. Đây là tín hiệu

tốt đối với công ty khi năm 2012 chỉ số này lớn hơn 1, cho thấy công ty có khả năng

đảm bảo việc thanh toán nợ mặc dù ở các doanh nghiệp tình hình kinh tế chung đang

gặp khó khăn. Tùy thuộc vào từng thời kì kinh doanh song thông thường các chủ nợ sẽ tin tưởng hơn nếu chỉ số này lớn hơn 2.

Khả năng thanh toán nhanh nếu lớn hơn hoặc bằng 1 có nghĩa là doanh nghiệp

không có nguy cơ vỡ nợ và các chủ nợ ngắn hạn sẽ ưa thích hơn. Như vậy chỉ tiêu này

của công ty không đáp ứng được kỳ vọng nhưng đang có sự biến động tăng lên đạt 0,53 lần vào năm 2012, như vậy chênh lệch tăng 0,31 so với năm 2011; tức là 1 đồng

nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,3 đồng (năm 2010) - 0,22 đồng (năm 2011) và 0,53

đồng (năm 2012) tài sản lưu động mà công ty không cần phải giảm kho. Khả năng

thanh toán nhanh năm 2012 tăng so với năm trước bởi vì hàng tồn kho của công ty

tăng nhưng nợ ngắn hạn lại giảm.

Khả năng thanh toán tức thời cho biết khả năng sử dụng tiền mặt và các khoản

tương đương tiền để thanh toán nợ ngắn hạn. Kết quả đạt được của công ty rất xấu và

không có nhiều thay đổi khi năm 2012 con số này giảm 0,01 đồng so với năm trước,

đưa chỉ tiêu này về 0 giống với năm 2010. Do lượng tiền giảm rất mạnh 85,04% khiến công ty không có khả năng thanh toán tức thời, dẫn đến mất chủ động trong việc chi

trả khoản nợ ngắn hạn dẫn đến mất uy tín với ngân hàng và người bán.

Tóm lại, khả năng thanh toán của công ty hiện đang yếu kém, nếu gặp rủi ro công

ty có thể sẽ không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi đến hạn. Đây là sẽ là

khó khăn cho công ty khi muốn huy động nguồn vốn từ bên ngoài bởi sự thiếu tin

tưởng của các chủ nợ về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

2.2.3.2. Chỉ tiêu xác định cơ cấu nguồn vốn

Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng nợ 1. Hệ số mắc nợ chung 79,59 81,61 55,18 Tổng nguồn vốn

Tổng vốn CSH 2. Hệ số tự chủ tài chính 20,41 18,39 44,82 Tổng nguồn vốn

(Nguồn: tính toán của tác giả)

32

Hệ số mắc nợ chung càng cao chủ nợ sẽ càng chặt chẽ khi quyết định cho vay thêm. Mặt khác về phía công ty, nếu vay nợ quá nhiều sẽ mất quyền kiểm soát đồng

thời phải chi trả quá nhiều cho các khoản nợ. Trên số liệu tính toán có thể thấy năm

2011 công ty đã tăng sử dụng nợ nhiều hơn nhưng năm 2012 lại sử dụng nợ ít đi, làm

cho thu nhập trước thuế (EBT) của doanh nghiệp lớn. Việc sử dụng nợ ít đi giúp giảm

chi phí tài chính cho doanh nghiệp nhưng nhược điểm lại không tận dụng được đòn bẩy tài chính và lá chắn thuế từ chi phí lãi vay.

Hệ số tự chủ tài chính càng lớn có nghĩa là công ty sử dụng vốn chủ nhiều hơn.

Năm 2012, song song với việc giảm tỷ trọng nợ là sự tăng lên trong huy động vốn chủ

sở hữu. Cụ thể là để huy động 100 đồng tài sản, công ty cần 44,82 đồng vốn chủ sở hữu, tăng 26,43% so với năm 2011 do sự bổ sung vốn đầu tư của chủ sở hữu. Ngược

lại với việc tăng tỷ trọng nợ thì tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu giúp nâng cao năng lực tự

chủ của công ty trong việc đầu tư và giảm chi phí lãi vay.

Tóm lại, cơ cấu nguồn vốn của công ty về cơ bản là sử dụng nợ nhiều hơn vốn

chủ sở hữu. Có thể thấy rõ công ty đang theo đuổi chính sách quản lý tài chính rủi ro

khi tận dụng tối đa các khoản vay nợ đặc biệt là các khoản vay nợ ngắn hạn. Do nhu

cầu huy động vốn để hoàn thiện bàn giao các dự án đang thi công nên chính sách này

bước đầu đã phát huy hiệu quả khi doanh thu của công ty vẫn tăng. Tuy nhiên với việc

vay nợ quá nhiều, công ty có thể sẽ gặp phải rủi ro trong trả nợ cũng như mất khả năng tự chủ tài chính.

Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời 2.2.3.3.

Bảng 2.6. Khả năng sinh lời của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Lợi nhuận ròng*100 (0,49) (2.80) (0,72) 1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Doanh thu thuần

Lợi nhuận ròng*100 (0,54) (1,73) (0,55) 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tổng tài sản

Lợi nhuận ròng*100 (2,63) (9,41) (1,22) 3. Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH Vốn CSH

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Toàn bộ nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời của công ty đều âm bởi lợi nhuận sau thuế cả ba năm 2010, 2011 và 2012 của công ty là số âm. Hai yếu tố chính làm cho lợi nhuận sau thuế giảm là chi phí đầu vào quá cao và chi phí lãi vay tăng lên. Lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình. Song nếu chỉ

33

đánh giá qua chỉ tiêu lợi nhuận thì kết luận về chất lượng kinh doanh có thể bị sai lầm bởi có thể số lợi nhuận này chưa tương xứng với lượng vốn và chi phí bỏ ra.

Tỷ suất sinh lời trên tổng doanh thu (ROS) cho biết 1 đồng doanh thu thuần tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Do chi phí hoạt động kinh doanh vẫn còn quá

cao, sau khi doanh thu thuần trừ đi các khoản chi phí giá vốn và chi phí kinh doanh

phát sinh thì công ty không thu được lợi nhuận thậm chí lợi nhuận còn âm. Đây là một bài toán khó vì việc kiểm soát chi phí không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp

mà còn bị chi phối mạnh bởi nhân tố bên ngoài, các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết 1 đồng đầu tư cho tài sản tạo ra

bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này của công ty cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao. Trong những năm tới để tăng hiệu quả sử dụng tài sản, công ty cần có

kế hoạch sử dụng tài sản một cách thật hiệu quả.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết 1 đồng vốn chủ sở hữu đầu

tư tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Các con số lại tiếp tục thể hiện việc thua

lỗ trong lợi nhuận tuy nhiên mức lỗ đã giảm đáng kể trong năm 2012, chênh lệch giảm

tới 8,19 đồng so với năm 2011.

Mặc dù toàn bộ nhóm chỉ tiêu tài chính của công ty đều cho thấy khả năng sinh

lời kém hiệu quả, tuy nhiên các tính toán chênh lệch cho ta thấy mức lỗ ở năm 2012 đã

giảm một cách đáng kể so với năm 2011; giảm 2,08 đồng ở ROS, 1,18 đồng ở ROA và thậm chí giảm tới 8,19 đồng ở chỉ tiêu ROE. Như vậy với việc phát huy và nỗ lực xây

dựng một kế hoạch quản lý hiệu quả hơn nữa, có thể trong năm tới công ty sẽ hoạt

động có lãi.

2.3. Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty CPXD HNCPM

2.3.1. Cơ cấu nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Sự biến động về tình hình tài chính của công ty một mặt do sự biến động về tài

sản, mặt khác còn do sự biến động về nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản đó. Cơ cấu

vốn của doanh nghiệp thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Cơ cấu vốn cho phép đánh giá các mối quan hệ kinh tế của công ty. Chính vì vậy phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty sẽ cho thấy việc huy động vốn của công ty như thế nào.

34

Bảng 2.7. Tỷ trọng nguồn vốn của công ty

Đơn vị tính: %

Nguồn vốn Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

79,59

81,61

55,18

A- NỢ PHẢI TRẢ

77,08

74,96

51,57

I. Nợ ngắn hạn

45,07

38,69

22,76

1. Vay và nợ ngắn hạn

17,29

13,89

10,94

2. Phải trả người bán

10,15

18,98

13,44

3. Người mua trả tiền trước

1,18

1,79

2,84

4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

3,02

1,22

1,14

5. Phải trả người lao động

0,25

0,15

0,19

6. Chi phí phải trả

0,00

0,02

0,00

7. Phải trả theo tiến độ kế hoạch HĐXD

0,13

0,23

0,27

8. Các khoản phải trả, phải nộp NH khác

2,51

6,65

3,61

II. Nợ dài hạn

2,51

6,65

3,61

1. Vay và nợ dài hạn

B - VỐN CHỦ SỞ HỮU

20,41

18,39

44,82

21,50

21,20

47,56

1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu

(1,10)

(2,81)

(2,73)

2. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

100

100

100

TỔNG NGUỒN VỐN

(Nguồn: tác giả tổng hợp dựa trên số liệu BCĐKT và BCSXKD)

Qua bảng chi tiết tỷ trọng nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội

CPM, ta thấy trong hai năm 2010 và 2011 nguồn vốn nợ chiếm tỷ trọng lớn - khoảng

80% và không có biến động nhiều. Như vậy, trong hai năm qua công ty chủ yếu dùng

nguồn vốn bên ngoài để tài trợ vốn. Điều này giúp công ty có thể tận dụng được hiệu

quả đòn bẩy tài chính tức là làm nâng cao tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu do việc công ty chỉ phải trả một khoản chi phí cố định cho việc sử dụng vốn, chứ chi phí này không tăng lên khi doanh thu của công ty tăng lên giống như cổ tức chi trả cho cổ phiếu thường, chính vì vậy khi công ty đạt mức doanh thu bù đắp được chi phí lãi vay này thì trong các giai đoạn tiếp theo doanh thu của công ty sẽ tăng rất nhanh kéo theo việc tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó việc sử dụng nợ còn có lợi ích từ lá chắn thuế mà các khoản nợ ngân hàng mang lại vì chi phí lãi vay được tính vào chi phí giảm thuế nhưng nhược điểm là làm tăng áp lực thanh toán nợ. Sang năm 2012, cơ cấu vốn có sự chuyển dịch mạnh khi tăng vốn chủ sở hữu và nguồn vốn nợ giảm chỉ còn

35

chiếm 55,18% tổng nguồn vốn. Sự thay đổi cơ cấu này giúp công ty tăng tính tự chủ và giảm chi phí lãi vay.

Như đã trình bày, bài khóa luận này phân loại vốn doanh nghiệp theo nguồn hình

thành, bao gồm vốn nợ và vốn chủ sở hữu. Do đó, để hiểu sâu hơn về cơ cấu vốn của

công ty, chúng ta sẽ xem xét phân tích lần lượt cụ thể cơ cấu vốn nợ và cơ cấu vốn chủ

sở hữu của công ty.

2.3.1.1. Cơ cấu vốn nợ của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu vốn nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Ta nhận thấy trong cả ba năm, nguồn vốn nợ ngắn hạn của công ty đều chiếm tỷ

trọng rất lớn trên 90%. Do đặc điểm là công ty xây dựng phải ứng tiền trước để thi

công sau một thời gian mới quyết toán, thanh lý hợp đồng nên lượng tài sản ngắn hạn

chiếm tỷ trọng đa số do đó tỷ trọng vốn ngắn hạn lớn là hợp lý. Bởi vậy để đảm bảo

nguyên tắc tương thích trong tài trợ, công ty cần huy động nhiều nguồn vốn ngắn hạn.

Bảng 2.8. Tỷ trọng TSCĐ và tỷ trọng nợ DH của công ty

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tỷ trọng TSCĐ 26,06 31,66 21,73

Tỷ trọng nợ DH 2,51 6,65 3,61

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Qua tính toán ta thấy tỷ trọng tài sản cố định cả ba năm luôn lớn gấp nhiều lần so với tỷ trọng nợ dài hạn. Như vậy, công ty đang có xu hướng sử dụng nhiều nợ ngắn hạn tài trợ cho toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên và thậm chí cả tài sản cố định.

Mặc dù hình thức này có ưu điểm là chi phí thấp, dễ dàng linh hoạt, không cần tài sản

36

thế chấp cũng như không phải chịu những kiểm soát của chủ nợ trong quá trình sử dụng vốn vay như phải sử dụng vốn đúng mục đích ban đầu, hiệu quả sản xuất kinh

doanh phải đảm bảo khả năng trả nợ v.v… Tuy nhiên việc dùng nợ ngắn hạn tài trợ

cho cả tài sản dài hạn lại chứa rủi ro cao vì sẽ khiến công ty tăng áp lực thanh toán, từ

đó có thể dẫn đến những rủi ro về tài chính như mất khả năng thanh toán, kéo theo

giảm uy tín tài chính của công ty.

Bảng 2.9. Cơ cấu vốn nợ của công ty

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu 2010 2011 2012

1. Vay và nợ ngắn hạn 56,63 47,40 41,25

2. Phải trả người bán 21,72 17,02 19,82

3. Người mua trả tiền trước 12,75 23,26 24,35

4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 1,48 2,19 5,14

5. Phải trả người lao động 3,79 1,49 2,07

6. Chi phí phải trả 0,31 0,18 0,34

7. Phải trả theo tiến độ kế hoạch HĐXD 0,00 0,02 0,00

8. Các khoản phải trả, phải nộp NH khác 0,16 0,28 0,48

9. Nợ dài hạn 3,16 8,15 6,54

Tổng 100,00 100,00 100,00

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Như đã nhận xét ở trên, nợ dài hạn chiếm một tỷ trọng thấp trong cơ cấu nguồn

vốn nợ và toàn bộ nợ dài hạn của công ty là các khoản vay và nợ dài hạn. Trong khi

đó, chiếm gần một nửa nguồn vốn nợ là các khoản vay và nợ ngắn hạn. Có thể thấy công ty đang phụ thuộc rất nhiều vào ngân hàng và các chủ nợ, mức độ độc lập về tài chính thấp. Do vậy, công ty sẽ ít có cơ hội và khả năng tiếp cận thêm với các khoản vay do các nhà đầu tư không lạc quan với doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao.

Nếu không có biện pháp khắc phục thì chính sách tài trợ mạo hiểm này có nguy cơ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán trong tương lai.

37

2.3.1.2. Cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Bảng 2.10. Cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

10.000 105 10.000 115 28.800 106 Vốn đầu tư của chủ sở hữu

(509) (5) (1.325) (15) (1.656) (6) LN sau thuế chưa phân phối

Tổng vốn CSH 9.490 100 8.674 100 27.143 100

(Nguồn: Phòng kế toán)

Vốn chủ sở hữu của công ty chỉ bao gồm hai bộ phận là vốn đầu tư của chủ sở

hữu và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Chiếm tỉ trọng chủ yếu là vốn đầu tư của

chủ sở hữu. Do lợi nhuận sau thuế của công ty trong cả ba năm đều bị thua lỗ nên trích

lợi nhuận sau thuế chưa phân phối cũng đang âm. Năm 2012 chủ sở hữu bổ sung vốn

đầu tư với mức tăng 188% so với hai năm trước làm tăng nguồn vốn chủ lên gấp hơn

200%. Sự thay đổi quy mô vốn chủ sở hữu kéo theo thay đổi cơ cấu vốn nợ và vốn

chủ, đưa tỷ trọng vốn chủ sở hữu đạt 44,82% cơ cấu tổng nguồn vốn, giúp giảm thiểu

các rủi ro tài chính cho công ty, tăng khả năng thanh toán nhanh và tăng hệ số tự chủ

về tài chính.

2.3.2. Các phương thức huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Trong những năm qua, công ty cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM đã có rất nhiều

biện pháp để huy động vốn khác nhau. Việc huy động vốn của công ty có thể chia

thành hai nhóm là huy động vốn chủ sở hữu và huy động vốn nợ.

2.3.2.1. Các phương thức huy động vốn chủ sở hữu của công ty CPXD Hà Nội CPM

Huy động từ vốn góp ban đầu

Đây là số vốn ban đầu bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Với tính chất công ty cổ phần, vốn điều lệ của công ty là 30.000.000.000 đồng 100% do các cổ đông sáng lập

đóng góp. Số vốn này đã được dùng cho xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị ban

đầu, trang trải cho hoạt động thành lập công ty. Năm 2010 và 2011 vốn đầu tư của chủ sở hữu là 10.000.000.000 đồng và được bổ sung 19.800.000.000 đồng trong năm 2012.

Huy động từ lợi nhuận không chia

Phần lợi nhuận sau thuế sau khi chia cổ tức thì phần còn lại dùng để tái đầu tư

vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn vốn an toàn với chi phí huy động

38

thấp, không bị phụ thuộc bên ngoài. Tuy nhiên trên thực tế trong ba năm 2010, 2011 và 2012 lợi nhuận trước thuế của công ty đều âm do đó phần lợi nhuận giữ lại này lại

làm giảm tổng vốn chủ sở hữu.

2.3.2.2. Các phương thức huy động vốn nợ của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Huy động từ vay nợ ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Đây là phương thức huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn nợ của công ty bởi lẽ hình thức này có thể tập trung được số vốn lớn. Mặc dù phải chịu

chi phí lãi vay tuy nhiên đây cũng đồng thời là chi phí giảm thuế.

Biểu đồ 2.2. Vay nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty

(Nguồn: Phòng Kế toán)

Ta thấy, lượng vốn nợ ngắn hạn của công ty luôn có giá trị cao hơn gấp nhiều lần

so với nợ dài hạn. Điều này phản ánh vốn lưu chuyển ở công ty rất lớn, lượng vốn lưu

động là rất cần thiết. Tuy nhiên vay ngắn hạn đang có xu hướng giảm khi năm 2011

vay ngắn hạn giảm 12,93% so với năm 2010, và năm 2012 tiếp tục giảm mức 24,47%

so với năm 2011. Vay dài hạn có sự biến động khi năm 2011 tăng lên tới 168,63% so với năm trước nhưng sang năm tiếp theo lại giảm đi 30,37%. Có thể thấy công ty đang cố gắng giảm các khoản vay nợ ngắn hạn để tăng hệ số khả năng thanh toán và uy tín cho công ty. Trong tình trạng hiện tại, rủi ro tài chính công ty đang đối mặt rất lớn khi

khả năng thanh toán tức thời là không có và khả năng thanh toán nhanh không đạt được kì vọng của các ngân hàng và chủ nợ. Đây sẽ là khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tiếp tục tiếp cận nguồn vốn vay này.

Huy động từ tín dụng thƣơng mại

Tín dụng thương mại hình thành trong hoạt động mua bán trả chậm, xuất phát từ

việc cho khách hàng mua chịu hay doanh nghiệp mua chịu từ nhà cung cấp. Phần này

39

xem xét tín dụng thương mại trên góc độ là nguồn vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng.

Tín dụng thương mại chiếm tỷ lệ khá lớn trong cơ cấu vốn nợ, đứng thứ hai sau

các khoản vay nợ. Đây là hình thức huy động vốn khá phổ biến hiện nay ở các doanh

nghiệp, bao gồm nguồn huy động từ nhà cung cấp do mua chịu, mua trả chậm và

nguồn huy động từ chủ đầu tư thông qua việc ứng trước vốn.

Biểu đồ 2.3. Tỷ trọng tín dụng thƣơng mại trong cơ cấu tổng nguồn vốn

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Trong ba năm qua, nguồn vốn tín dụng thương mại có sự biến động tăng giảm cả

ở tổng số vốn huy động được lẫn cơ cấu của hai nguồn tín dụng thương mại. Trong

năm 2010, số vốn tín dụng thương mại là 12.758.113.142 đồng, chiếm 27,44% tổng

nguồn vốn. Năm 2011, con số này tăng lên đạt 15.508.297.546 đồng, chênh lệch tăng

21,56%, đưa vốn tín dụng thương mại có giá trị 32,88% trong cơ cấu nguồn vốn. Năm

2012 giá trị tín dụng thương mại lại giảm chỉ còn 14.762.171.710 đồng, chiếm 24,38%

cơ cấu vốn. Như vậy tuy có sự tăng giảm qua mỗi năm nhưng phương thức huy động

này đã đem đến cho công ty một lượng vốn không nhỏ.

Khi xét riêng cơ cấu nguồn huy động từ nhà cung cấp và nguồn trả trước của

người mua thì sự biến động cũng không ổn định. Phải trả người bán có tỷ trọng lớn hơn trong năm 2010 tuy nhiên sang năm 2011 và 2012 hình thức này lại có cơ cấu thấp hơn người mua trả tiền trước. Trong đó, khoản chiếm dụng nhà cung cấp có xu hướng

giảm đều đặn trong ba năm, còn người mua trả tiền trước lại biến động tăng mạnh trong năm 2011 sau đó lại giảm sút.

Như vậy, mặc dù nguồn tín dụng thương mại làm tăng nguồn vốn của công ty, giúp cho doanh nghiệp giải quyết một phần vốn kinh doanh nhưng nó cũng có những nhược điểm nhất định. Đó là hạn chế về thời gian chiếm dụng và sự ràng buộc về tài chính với các nhà cung ứng.

40

Huy động từ phải trả ngƣời lao động

Biểu đồ 2.4. Tỷ trọng phải trả ngƣời lao động trong tổng nguồn vốn

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Đây là nguồn vốn chiếm dụng của công nhân viên trong công ty, chiếm một tỷ

trọng nhỏ và có xu hướng giảm trong cơ cấu nguồn vốn. Sử dụng hình thức này có lợi

vì không mất chi phí huy động và lãi vay phải trả, từ đó làm giảm chi phí và tăng lợi

nhuận. Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ huy động được trong ngắn hạn để giải quyết nhu

cầu vốn cấp bách, tạm thời và không nên không nên duy trì quá nhiều vì sẽ làm giảm

tinh thần của cán bộ, nhân viên dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả công việc.

Huy động từ thuế và các khoản phải nộp Nhà nƣớc

Bảng 2.11. Thuế và các khoản nộp Nhà nƣớc của công ty

Đơn vị tính: Đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Số tiền 548.910.398 842.824.946 1.718.322.650

% Tổng vốn 1,18 1,79 2,84

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Khoản chiếm dụng này đang có chiều hướng tăng dần trong ba năm qua. Tuy chỉ

là nguồn ngắn hạn và chiếm giá trị nhỏ nhưng tận dụng nguồn này cũng giúp tăng nguồn vốn cho công ty trong tình hình chung huy động vốn khó khăn như hiện nay.

41

Huy động từ phải trả khác

Bảng 2.12. Tỷ trọng một số khoản phải trả khác trong tổng vốn

Đơn vị tính: %

0,25

0,15

0,19

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

0,00

0,02

0,00

Chi phí phải trả

Phải trả theo tiến độ kế hoạch HĐXD

(Nguồn: tính toán của tác giả)

Để tăng cường vốn, công ty luôn tận dụng hết các nguồn có thể. Năm 2011 phát

sinh khoản phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng. Các năm còn lại, nguồn

vốn huy động được từ phải trả chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn. Công ty có

thể tận dụng nguồn vốn này để tăng lượng vốn quay vòng trong ngắn hạn. Đây là một nguồn vốn chi phí thấp và không chứa nhiều rủi ro.

2.4. Đánh giá công tác huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

2.4.1. Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn tại công ty

Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Trong những gần đây, do chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế và lạm phát,

tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng bắt đầu thấp và chậm lại. Trong tình hình chung đó, có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến công tác huy động

vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

2.4.1.1. Các nhân tố khách quan

Cơ chế chính sách, pháp luật: Hệ thống pháp luật, chính sách mặc dù đã được

đổi mới nhưng vẫn còn một số tồn tại gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi huy

động vốn. Nhà nước quy định doanh nghiệp chỉ được vay vốn với tổng mức dư nợ

không vượt quá ba lần vốn điều lệ. Cơ chế quản lý tài chính còn phức tạp, rườm rà

không tạo được tính linh hoạt trong hoạt động huy động vốn đặc biệt là việc sử dụng

tài sản để thế chấp. Trong khi tín dụng đang là nguồn vốn quan trọng nhất công ty nhưng việc huy động nợ gặp khá nhiều khó khăn do các quy định của ngân hàng. Do khi vay vốn phải thế chấp tài sản hoặc được sự bảo lãnh của bên thứ ba đủ thẩm quyền khiến công ty khó có thể vay vốn ngân hàng đặc biệt là trong trung và dài hạn. Bên

cạnh đó, chính sách lãi suất mặc dù có thay đổi nhưng chậm so với biến động của giá

cả nên mức lãi suất vẫn khá cao so với với khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Môi trƣờng kinh tế: Những năm vừa qua, suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động

đến nền kinh tế nói chung và công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM nói riêng. Lạm phát cao của năm 2011 đã có tác động không nhỏ đến hoạt động phát triển của năm

2012, trong đó rõ nhất nhất là dấu hiệu suy giảm tăng trưởng, nguy cơ lạm phát cao,

42

giá cả đầu vào tăng mạnh, tồn kho cao. Việc giải phóng mặt bằng các công trình khó khăn, chủ đầu tư chậm nghiệm thu, thanh toán do không có vốn đã làm hiệu quả sử

dụng vốn của công ty chịu ảnh hưởng rất lớn. Thời gian qua cũng chứng kiến sự biến

động lớn của giá cả, tỷ giá, lãi suất…ảnh hưởng đến việc huy động vốn của công ty.

2.4.1.2. Các nhân tố chủ quan

Lĩnh vực kinh doanh: Là công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, do đó công ty sẽ cần huy động lượng vốn vay lớn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh

doanh theo mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, việc huy động vốn từ

các ngân hàng hiện gặp khá nhiều trở ngại do các quy định, chính sách về thủ tục, thời

gian, lãi suất vay; đồng thời khi đi vay vốn ngoài gánh nặng lãi vay còn tiềm ẩn những rủi ro tài chính.

Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Xây dựng là ngành cần có đầu tư

vào máy móc kỹ thuật lớn. Do công ty chưa có chính sách thích hợp để đầu tư vào

trang thiết bị, nên một số bộ phận máy móc thiết bị của công ty còn lạc hậu ảnh hưởng

đến việc kinh doanh. Đồng thời lượng vốn còn ứ đọng trong hàng tồn kho tương đối

lớn và nguồn vốn bị chiếm dụng cũng khá lớn. Điều đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt

động của vốn lưu động, giảm khả năng sinh lời. Trong mấy năm qua, hoạt động kinh

doanh của công ty đang thua lỗ, khả năng sinh lời âm và khả năng thanh toán kém.

Điều này gây trở ngại cho công ty khi đi huy động vốn các ngân hàng, chủ đầu tư sẽ e ngại không muốn tiếp tục cho vay. Đồng thời hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

kém cũng làm giảm uy tín của công ty đối với các chủ nợ.

Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Trình độ của cán bộ quản lý các cấp trong

công ty vẫn chưa cao, số lượng cán bộ quản lý tài chính của công ty vẫn còn thiếu về

số lượng yếu về chất lượng. Đây cũng là tình hình chung của hầu hết các doanh nghiệp

ở nước ta hiện nay không có cán bộ quản lý tài chính chuyên trách và được đào tạo bài

bản mà chủ yếu là cán bộ kế toán kiêm nhiệm. Sự yếu kém về các kiến thức tài chính

khiến cho cán bộ quản lý không thấy, hiểu hết được những đặc điểm của các nguồn vốn trên thị trường, từ đó chưa tận dụng tối đa khả năng tiếp cận tới các loại nguồn vốn khác nhau, làm cho công tác huy động vốn chưa đạt được hiệu quả cao nhất.

2.4.2. Đánh giá thực trạng huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM

Trong tình hình nền kinh tế cạnh tranh gay gắt, việc huy động vốn trong doanh nghiệp ngày càng có nhiều vấn đề đặt ra để các nhà quản lý phải tính toán trước khi đưa ra quyết định. Việc nắm rõ những ưu điểm và tồn tại của công ty hiện nay trong

việc thực hiện huy động vốn sẽ giúp có cái nhìn khái quát, tạo điều kiện cho quá trình đề ra các kế hoạch tài chính nhằm mang lại hiệu quả vốn tốt nhất, từ đó nâng cao được

lợi nhuận của công ty.

43

2.4.2.1. Ưu điểm

Với đặc thù là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, công ty đã có cơ cấu vốn

nợ và vốn chủ sở hữu được coi là phù hợp. Đồng thời, việc sử dụng nhiều nợ vay cũng

được đánh giá là khá hợp lý bởi Việt Nam là một quốc gia có tỉ lệ lạm phát cao, tăng

trưởng không ổn định, thị trường vốn lấy hệ thống ngân hàng làm nền tảng, khiến cho

tỉ trọng vốn vay trong doanh nghiệp thường rất cao và kỳ hạn nợ thường là ngắn hạn. Như vậy, mặc dù không phải đang thực hiện cơ cấu vốn tối ưu, tuy nhiên cơ cấu vốn

của công ty lại phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế đất nước.

Để đạt được hiệu quả tối ưu, công ty luôn cố gắng sử dụng những nguồn vốn có

chi phí thấp nhất. Công ty đã tận dụng các khoản phải trả người lao động, thuế và các khoản nộp Nhà nước, phải trả khác…Đồng thời, công ty đã huy động được lượng vốn

khá lớn từ chiếm dụng thương mại. Sở dĩ phương thức huy động này được công ty sử

dụng là do đặc điểm kinh doanh của công ty và những lợi ích mà nguồn tín dụng

thương mại mang lại. Là một doanh nghiệp xây dựng nên công ty phải xây dựng mối

quan hệ hợp tác lâu dài với các nhà cung cấp. Mặt khác nguồn tín dụng thương mại từ

các chủ đầu tư là nguồn vốn công ty có được mà không phải trả lãi.

2.4.2.2. Hạn chế

Cơ cấu vốn tuy phù hợp với tình hình chung của ngành nhưng xét về lâu dài thì

không hợp lý. Công ty sẽ chịu rủi ro khi vốn chủ sở hữu đang tăng tỷ trọng cao và vay dài hạn chiếm tỷ trọng thấp như hiện nay. Chủ sở hữu có thể mất toàn bộ nếu công ty

làm ăn không có lãi kéo dài và phá sản. Như vậy, chủ động tăng cường vốn chủ sở hữu

chưa hẳn đã là phương thức huy động an toàn.

Như đã nói, công ty mới chỉ tập trung huy động vốn nợ ngắn hạn mà chưa quan

tâm đến các khoản vay dài hạn. Việc không áp dụng nhiều hình thức huy động dài hạn

khiến công ty chưa san sẻ được rủi ro của mình sang các chủ nợ. Dù đây là nguồn vốn

có chi phí cao nhưng trong tài chính doanh nghiệp đã kết luận rằng “Việc sử dụng nợ ở

một mức độ cao sẽ có tác động khuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu” bởi vốn vay với chi phí lãi vay được khấu trừ thuế làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Tất nhiên cũng phải chú ý rằng giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng đến một ngưỡng nhất định, rồi giảm dần do rủi ro tài chính tăng dần.

Mặc dù đã huy động được một lượng vốn từ tín dụng thương mại nhưng công ty cũng để bị chiếm dụng trung bình khoảng 20% tổng nguồn vốn. Chấp nhận bị chiếm dụng vốn công ty có thể bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng số lượng các công trình

giúp tăng doanh thu nhưng đôi khi lại không hiệu quả. Bên cạnh đó, lượng hàng tồn kho khá lớn và còn có xu hướng tăng dần qua mỗi năm gây ứ đọng vốn. Vốn lưu động

44

sinh lời trong quá trình luân chuyển, để vốn bị chiếm dụng và ứ đọng quá lâu là công ty làm chậm sự luân chuyển của đồng vốn, làm giảm khả năng sinh lời của đồng vốn.

Một hình thức có thể huy động được lượng vốn rất lớn đối với một công ty cổ

phần chính là phát hành cổ phiếu mới. Tuy nhiên, với tình trạng kinh doanh lỗ hiện tại

thì công ty chưa thể thực hiện phương pháp này bởi quy định tối thiểu của doanh

nghiệp muốn phát hành cổ phiếu mới thì lợi nhuận sau thuế phải lãi và không có lỗ lũy kế. Trong tương lai, sau khi hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi, đây có lẽ là một

hình thức mà công ty nên xem xét sử dụng.

Một phương thức huy động vốn lớn nữa mà công ty chưa áp dụng đó là phát

hành trái phiếu. Một trái phiếu có chức năng giống một khoản vay giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp. Nhà đầu tư đồng ý đưa cho doanh nghiệp một lượng tiền nhất định,

trong một thời gian nhất định để đổi lại, họ được trả lãi định kỳ trong khoảng thời gian

thỏa thuận. Khi khoản vay đến ngày đáo hạn, tiền vốn ban đầu của nhà đầu tư sẽ được

hoàn trả. Phát hành trái phiếu có lãi suất thường thấp hơn lãi suất vay ngân hàng, đồng

thời doanh nghiệp không phải chịu bất cứ ràng buộc nào. Hiện nay, công ty chưa có kế

hoạch sử dụng phương thức huy động này có lẽ vì các nhà đầu tư chưa mấy quan tâm

đến thị trường, tính thanh khoản còn thấp và đây là phương thức khá mới mẻ với các

doanh nghiệp Việt Nam.

Tóm lại, trong thời gian vừa qua, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM đã rất cố gắng để thu hút các nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh cũng như đầu tư

phát triển dài hạn của công ty. Tuy nhiên trong hoạt động huy động vốn của công ty

vẫn còn tồn tại những hạn chế mà công ty cần khắc phục để hoạt động huy động vốn

ngày càng hiệu quả và tạo nên lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của công ty.

45

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM

3.1. Định hƣớng phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM

Những năm gần đây, ngành xây dựng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và

thách thức do chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế trong nước, tỷ lệ nợ xấu ngân

hàng ở mức đáng lo ngại, thị trường bất động sản trầm lắng. Chính sách tín dụng thắt

chặt khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn cho sản xuất và đầu tư phát triển trong đó có việc cắt giảm đầu tư cũng đe dọa tới các doanh nghiệp

xây lắp, nhà thầu. Tuy nhiên, với vị thế là một nước đang phát triển, Việt Nam đang trong trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất, các khu công nghiệp và

đô thị. Vì thế tốc độ đô thị hóa và nhu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng là rất lớn. Chính vì

vậy, xây dựng vẫn sẽ là ngành sản xuất quan trọng của đất nước. Trong những năm

tới, thị trường bất động sản được dự báo sẽ sôi động trở lại, đồng nghĩa với sự phục

hồi và tăng trưởng của ngành xây dựng. Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, công

ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM đã đưa ra một kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể

để phấn đấu nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao nhất, đảm bảo cho

sự phát triển lâu dài. Công ty đã đặt ra định hướng chung trong thời gian tới như sau:

Đưa các chỉ số sinh lời lên con số dương, thoát khỏi thua lỗ trong lợi nhuận;

Thực hiện tốt công tác quản lý chi phí đầu vào, tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm

lượng hàng tồn kho, giảm giá thành sản phẩm.

Tiếp tục đổi mới theo hướng hoàn thiện công tác quản lý và cơ chế điều hành theo

hướng tiên tiến, hiện đại;

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kinh doanh có đủ năng lực, đội ngũ công

nhân sản xuất có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu phát triển thời kỳ mới;

Thường xuyên đảm bảo ổn định, cải thiện đời sống và việc làm của cán bộ công nhân viên. Nâng cao mức thu nhập bình quân tương ứng với tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh;

Mở rộng thị trường địa bàn hoạt động trong nước và khu vực.

3.2. Giải pháp tăng cƣờng công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng

Hà Nội CPM

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Một doanh nghiệp có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt tức là đã tăng uy tín, mối

quan hệ với các ngân hàng, các chủ nợ. Từ đó, sẽ có nhiều thuận lợi cho công ty trong việc vay vốn như những ưu đãi trong lãi suất, thời gian vay nợ, quy mô khoản vay, tài

sản đảm bảo… Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, công ty cần tập trung vào

46

việc tăng chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường sử dụng trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực

Trình độ chuyên môn chưa cao của các cán bộ quản lý trong công ty là một trong

những nguyên nhân dẫn dến việc quản lý, sử dụng và huy động vốn không hiệu quả.

Chính vì vậy, để tăng cường công tác huy động vốn, trước tiên cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý. Công ty cần xem xét, bố trí lại lao động quản lý sao cho

phù hợp với năng lực và phát huy được thế mạnh của từng người. Qua việc nắm rõ

năng lực của từng cán bộ sẽ phát hiện người có khả năng, tố chất, tạo điều kiện cho họ

học tập nâng cao trình độ, giúp công ty có những cán bộ tài chính giỏi, nhanh nhạy trong công tác quản lý và huy động vốn.

Bên cạnh đó, công ty cũng cần nâng cao tay nghề cho đội ngũ kỹ sư, công nhân

kỹ thuật vì đây là nhân tố quyết định hiệu quả sản xuất. Để làm được điều này, công ty

nên có cơ cấu lao động hợp lý, đảm bảo đúng người đúng việc; có công tác kiểm tra

tay nghề định kỳ; trả lương, thưởng xứng đáng, thưởng phạt phân minh để khuyến

khích người lao động gắn bó và có trách nhiệm với công việc.

Nâng cấp, mua sắm và thuê máy móc, trang thiết bị tiên tiến

Máy móc thiết bị là một trong những yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và

hiệu quả sản xuất. Do đó, một trong những lý do khiến hiệu quả kinh tế thấp ở các doanh nghiệp là việc thiếu máy móc kỹ thuật, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại.

Trong những năm gần đây, tài sản cố định của công ty không có biến động lớn, mặc

dù đã được đầu tư nhưng mức độ hiện đại chưa cao. Tuy nhiên khi đầu tư, cần lựa

chọn, mua sắm thiết bị công nghệ hợp lý và lập kế hoạch, phương pháp để quản trị nó.

Để thực hiện tốt điều này lại cần đến một đội ngũ cán bộ quản trị có năng lực trong

việc lập kế hoạch dài hạn tính toán chi phí, phương pháp khấu hao hợp lý. Các thiết bị

mua sắm phải là thiết bị có tính chất quan trọng, quyết định phần lớn giá trị công trình.

Còn nếu công ty chưa đủ điều kiện để mua mới có thể tìm nguồn cho thuê, đặc biệt là hiện nay khi sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính, các công ty thuê mua, công ty tài chính hay nghiệp vụ thuê tài chính ở các ngân hàng ngày càng phổ biến. Công ty có thể áp dụng hình thức thuê vận hành đối với những loại máy không thông

dụng, chỉ sử dụng cho số ít công trình trong thời gian ngắn để tránh đầu tư lãng phí. Đối với các tài sản cố định thông dụng đắt tiền, thuê tài chính giúp công ty đổi mới công nghệ và sử dụng vốn đúng mục đích. Thay vì thanh toán ngay một số tiền lớn để

mua máy móc, công ty đi thuê tài chính chỉ cần chi trả một khoản tiền nhỏ hơn nhiều để thuê hàng tháng. Như vậy khi chưa có đủ tiền công ty vẫn có thể sử dụng máy móc

hiện đại đảm bảo tiến độ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà quản lý cần tính

47

toán, cân nhắc thời điểm nào nên mua, thuê hay cải tiến trang thiết bị vẫn còn giá trị sử dụng để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.2.2. Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có

Kết hợp huy động vốn với bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có là

một vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. Việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được lượng vốn đáng kể, giúp giảm chi phí, tăng cường hiệu quả kinh doanh, là nền tảng cho công ty thuận lợi trong việc huy động vốn.

Bảo toàn nguồn vốn

Bảo toàn vốn là bảo đảm giá trị thực tế của vốn tại các thời điểm khác nhau dù có

trượt giá trên thị trường. Bảo toàn được sử dụng trong quá trình sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh hay sản xuất kinh doanh, đảm bảo khi trượt giá thì số vốn ban đầu

cũng phải tăng theo để duy trì năng lực kinh doanh. Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn,

công ty phải có nhiệm vụ phát triển vốn để tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường.

Bảo toàn vốn cố định:

Vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn kinh doanh, quyết định tốc độ

tăng trưởng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do đặc

điểm vốn cố định và tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh

vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, còn giá trị lại chuyển

dịch vào giá trị sản phẩm nên bảo toàn vốn cố định bao gồm bảo toàn sức mua của vốn và năng lực sản xuất của vốn. Để bảo toàn vốn cố định, trước hết công ty cần nắm

chắc số lượng các loại tài sản cố định, tính năng tác dụng, tình trạng từng loại tài sản

cố định. Tài sản cố định cũng giống như những loại tài sản khác, đều chịu ảnh hưởng

của hao mòn tự nhiên, tiến bộ khoa học công nghệ và những biến động của thị trường

kinh tế. Do đó công ty nên áp dụng một số biện pháp như mua bảo hiểm tài sản cố

định tại các công ty bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính, tiến hành khấu hao nhanh,

trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư… Nhằm bảo toàn và phát triển

vốn cố định, công ty nên thanh lý những tài sản cố định đã hết hạn sử dụng và những loại tài sản cố định tuy chưa hết khấu hao nhưng năng lực sản xuất kém và chi phí cho sửa chữa cao…Bên cạnh đó cần đánh giá lại tài sản cố định và xác định mức khấu hao tài sản thích hợp.

Bảo toàn vốn lưu động:

Bảo toàn vốn lưu động là bảo đảm số vốn lưu động thu hồi sau mỗi chu kỳ kinh

doanh đủ để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất kinh doanh trong kỳ tiếp theo đồng thời có

thể bổ sung thêm cho nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc đầu tư thêm các trang thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất. Đặc trưng cơ bản của vốn lưu động đó là luân chuyển liên

tục trong quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị và sản phẩm trong

48

chu kỳ kinh doanh do đó nếu vốn lưu động của doanh nghiệp không bảo toàn được mà bị giảm dần do thua lỗ thì mục tiêu tái đầu tư vốn sẽ khó thực hiện. Để bảo toàn và

phát triển vốn lưu động, thời điểm kết thúc vòng quay của vốn nên tiến hành vào cuối

kỳ kế toán (quý, năm) vì vòng quay vốn lưu động trùng với chu kỳ kinh doanh. Ngoài

ra, nên tiết kiệm vốn lưu động bằng cách tăng tốc độ luân chuyển vì nếu sử dụng tiết

kiệm vốn lưu động công ty sẽ không phải mất thêm một khoản chi sử dụng mới nào mà độ an toàn tài chính sẽ tăng cao do không phải tìm nguồn tài trợ bằng vay nợ và

cuối cùng là hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng. Để áp dụng thành công những vấn

đề này đòi hỏi công ty phải có nỗ lực lớn trong việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng

vốn lưu động trong suốt chu kỳ kinh doanh, sẽ giúp công ty tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và giảm bớt được nhu cầu vốn lưu động cần tài trợ.

Sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có

Sử dụng vốn có hiệu quả là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện huy động vốn. Về

mặt kinh tế, sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đảm bảo khả năng trang trải cho những nguồn

vốn đã huy động, tạo uy tín của công ty đối với các ngân hàng, chủ nợ, đối tác. Như

vậy, huy động vốn là tiền đề để có thể sử dụng vốn có hiệu quả và ngược lại, sử dụng

vốn có hiệu quả làm tăng khả năng huy động vốn. Để tránh tình trạng thất thoát, lãng

phí, sử dụng vốn không đúng mục đích, trước hết cần giảm chi phí tới mức thấp nhất

các loại chi phí vốn như chi phí lãi vay, chi phí bão lãnh thế chấp, các chi phí khác liên quan đến quá trình đàm phán huy động vốn đồng thời tổ chức tốt việc lựa chọn đối tác

cung ứng vốn. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chính là khả năng mang lại lợi ích từ các

dự án huy động vốn. Đây là một quá trình tổng hợp của các hoạt động sản xuất kinh

doanh và quản lí của doanh nghiệp, từ xem xét nguồn vốn huy động, tính toán chi phí,

thời gian xây lắp, công tác quyết toán, thanh toán công trình đến chất lượng nguồn

nhân lực. Điều này cần một kế hoạch rõ ràng và cụ thể từ nhà quản lý và sự phối hợp

của tất cả cán bộ nhân viên trong công ty.

3.2.3. Giảm vốn bị chiếm dụng

Trong khi đi chiếm dụng để tăng nguồn vốn thì công ty cũng có một khoản bị

chiếm dụng tương ứng bao gồm cho khách hàng trả chậm và trả trước cho người bán.

Bảng 3.1. Vốn bị chiếm dụng của công ty

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Phải thu khách hàng 8.992.008.139 6.429.836.960 12.430.919.166

Trả trước cho người bán 381.001.345 209.461.557 3.832.695.857

Tổng 9.373.009.484 6.639.298.517 16.263.615.023

(Nguồn: Phòng kế toán)

49

Nguồn vốn bị chiếm dụng của công ty hiện chiếm tỷ trọng tương đối so với vốn đi chiếm dụng. Để giải tỏa nguồn vốn bị chiếm dụng này, công ty cần xem xét chính

sách tín dụng thương mại của mình để tăng khả năng thu hồi vốn và giảm các khoản

phải thu khó đòi. Công ty nên thiết lập một tiêu chuẩn cho đối tác trước khi ký kết hợp

đồng để giảm rủi ro cho các khoản phải thu. Đồng thời công ty cần tích cực có biện

pháp thu hồi nợ như tăng tỷ lệ chiết khấu, giảm thời gian cho nợ để đồng vốn tiếp tục quay vòng vào quá trình sản xuất kinh doanh.

3.2.4. Tăng cường huy động nguồn vốn nội bộ

Huy động vốn nội bộ từ các cán bộ nhân viên trong công ty là một hình thức vay

linh hoạt, dễ dàng, có chi phí huy động thấp và ổn định. Huy động nguồn vốn nội bộ một mặt có ý nghĩa kinh tế đối với doanh nghiệp, giúp công ty có thêm vốn để tài trợ

cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác mang lại sự gắn bó giữa công ty với cán

bộ công nhân viên khi đặt lợi ích của họ trong lợi ích của công ty, khuyến khích tinh

thần lao động của các cán bộ nhân viên. Tuy nhiên đây là hình thức vay không kỳ hạn

do đó có một số hạn chế như: không sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn thường xuyên

vì người gửi có thể rút bất kỳ lúc nào, điều này đồng thời có thể gây rủi ro áp lực thanh

toán. Công ty cần có biện pháp thu hút nguồn vốn như: tính thuận tiện trong thanh

toán, lãi suất hấp dẫn nhưng phải hợp lý, theo nguyên tắc lãi suất vốn vay cán bộ nhân

viên phải lớn hơn lãi suất tiết kiệm nhưng nhỏ hơn lãi suất vay ngân hàng.

3.2.5. Phát hành trái phiếu

Việc sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho cả tài sản dài hạn như của công ty hiện

nay nếu tiếp tục kéo dài sẽ phải đối mặt với những rủi ro lớn. Vì thế, công ty nên quan

tâm đến các nguồn dài hạn để bổ sung lượng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phát hành trái phiếu là một biện pháp giúp doanh nghiệp chủ động trong việc tiếp cận

những nguồn vốn lớn. Khi phát hành trái phiếu, công ty được quyền đưa ra những điều

kiện linh hoạt để phù hợp với điều kiện thị trường như loại trái phiếu (trái phiếu trơn,

trái phiếu chứng quyền), linh hoạt trong việc định lãi trái phiếu (cố định, thả nổi, thả nổi theo kỳ) nên trái phiếu có tiềm năng hấp dẫn các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, phát hành trái phiếu không làm pha loãng quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp giống như cổ phiếu (trừ trường hợp trái phiếu chuyển đổi). Chi phí lãi từ trái phiếu phải trả cho trái

chủ là chi phí trước thuế, được khấu trừ khi tính thuế. Như vậy, so với vay ngân hàng, huy động vốn qua trái phiếu không cần tài sản thế chấp và được chủ động trong việc sử dụng khoản vay mà không phải chịu sự giám sát. Tuy nhiên, nhược điểm của trái

phiếu hiện nay chính là do hệ thống thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát

triển nên thị trường trái phiếu công ty còn nhỏ và kém thanh khoản. Nguyên nhân là hệ thống tài chính doanh nghiệp quá dựa vào ngân hàng, thiếu các hoạt động đánh giá tín

nhiệm đúng chuẩn và thường xuyên, hệ thống tài chính và giá trị đồng nội tệ thiếu ổn

50

định, dẫn đến không có đường cong lãi suất làm chuẩn, thiếu vắng những nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ, dẫn đến nhu cầu đầu tư và tính thanh

khoản của trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp kém.

3.3. Kiến nghị đến cơ quan chức năng

Hết năm 2012, nhiệm vụ thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại

hội XI của Đảng đã đi được gần nửa chặng đường; trong đó mục tiêu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ 2011- 2015 là giảm tỷ trọng của nhóm ngành nông,

lâm nghiệp - thủy sản, tăng mạnh tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và

giữ tỷ trọng của nhóm ngành dịch vụ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để đến

năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chính vì thế, để thực hiện đúng theo mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đề ra, Nhà nước

cần có sự quan tâm và giúp đỡ ngành xây dựng bằng cách ban hành các chính sách để

khuyến khích các doanh nghiệp chủ động trong việc huy động và tích tụ vốn cho sản

xuất kinh doanh:

Hoàn thiện hệ thống thuế một cách hợp lý tạo điều kiện để các doanh nghiệp

có nhiều thuận lợi nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh;

Nhà nước cần có biện pháp khuyến khích doanh nghiệp chú ý đến hình thức tín dụng thuê mua bằng cách ban hành luật thuê tài chính, tạo điều kiện thuận lợi thành

lập các công ty tài chính, công ty thuê mua. Thực tế ở nước ta hiện nay, phần lớn thuê

tài chính vẫn được thực hiện như một nghiệp vụ phụ của ngân hàng, do đó chưa phát

huy hết được tính tích cực của nó. Nhà nước nên thống nhất quản lý các đơn vị, các cơ

quan, các doanh nghiệp khi thực hiện nghiệp vụ này, mở rộng hơn nữa các nghiệp vụ

cho thuê về giá trị, loại tài sản, áp dụng các phương thức thuê vận hành, thuê tài chính

như thông lệ quốc tế;

Ngân hàng Nhà nước nên nâng hạn mức tín dụng cho phù hợp khả năng mở rộng tín dụng của từng ngân hàng thương mại, đáp ứng nhu cầu thu mua, đầu tư trung

và dài hạn của các doanh nghiệp. Đồng thời quy định lãi suất phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước nên điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm lãi suất cho vay để khuyến khích các thành phần kinh tế vay tiền đầu tư, tăng lãi suất

tiền gửi để thu hút vốn nhàn rỗi, nâng cao tính ổn định của lãi suất;

Đẩy mạnh phát triển thị trường chứng khoán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp. Hiện nay, thị trường chứng khoán nước ta vẫn còn yếu kém chưa khuyến khích được nhiều các

thành phần tham gia đầu tư. Chính vì vậy, tại các sàn giao dịch chứng khoán cần có những hướng dẫn cụ thể và kiện toàn hệ thống pháp lý. Thị trường chứng khoán phát

51

triển sẽ tạo điều kiện cho các dân cư và các tổ chức bỏ vốn ra để giúp các doanh nghiệp thu hút được vốn;

Đối với các tổ chức trung gian tài chính, Nhà nước cần đa dạng hóa các tổ chức này theo lĩnh vực hoạt động, đơn giản hơn các thủ tục xin vay, cho vay và cấp

phát vốn vay, giúp doanh nghiệp thuận tiện huy động nguồn vốn.

Những biện pháp hỗ trợ trên của Nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp nói chung

và công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM dễ dàng, thuận tiện hơn trong công tác huy

động vốn, tiếp cận được những nguồn vốn đa dạng, tăng hiệu quả và giảm chi phí sử

dụng vốn.

52

KẾT LUẬN

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất

kinh doanh của một doanh nghiệp, phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Vì thế, quyết định nguồn vốn là một quyết định quan trọng của doanh

nghiệp. Hiện nay với sự phát triển phong phú đa dạng của các nguồn vốn đòi hỏi các

nhà quản trị tài chính cần cân nhắc kĩ lưỡng trước khi đưa ra quyết định. Khi lựa chọn

nguồn tài trợ nào đó cần xem xét đến chi phí huy động, những điểm lợi và bất lợi của việc huy động đó để đạt được hiệu quả vốn tốt nhất cho doanh nghiệp.

Qua phân tích tình hình thực tế công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM, em đã thấy được những thành tựu mà công ty đã đạt được trong

thời gian qua cùng những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới để công ty có thể

tăng cường huy động vốn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.

Việc kết hợp lý luận và thực tế đã giúp em hiểu sâu thêm về các phương thức huy

động vốn tại một doanh nghiệp cụ thể, qua đó biết cách ứng dụng những lý thuyết

được học trên giảng đường vào thực tiễn.

Do kiến thức còn hạn chế, không có nhiều kinh nghiệm thực tế nên bài khóa luận

của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ

bảo của các thầy cô để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. Một lần nữa

em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo – ThS. Trịnh Trọng Anh, các

thầy, cô giáo khoa kinh tế quản lý và sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác, các cô chú, anh

chị ở công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM đã giúp em hoàn thành khóa luận này.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thanh Hà

PHỤ LỤC

1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM năm 2011 2. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM năm 2012 3. Bảng cân đối kế toán của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ngày 31/12/2011 4. Bảng cân đối kế toán của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM ngày 31/12/2012

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp - Chủ biên PGS.TS. Lưu Thị Hương - NXB

Thống Kê (2003)

2. Giáo trình thẩm định tài chính dự án - Chủ biên PGS.TS. Lưu Thị Hương - NXB

Tài chính (2004)

3. Kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp - NXB Tài chính (2005) 4. Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp - Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Thành Độ và

TS. Nguyễn Ngọc Huyền - NXB Thống Kê (2008)

5. Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - lý thuyết và thực hành - Chủ biên:

PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ - NXB Tài Chính (2009) 6. Luật chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi bổ sung 2010 7. Báo cáo tài chính năm 2011- 2012 của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM