Về khuynh hướng phê bình chịu nh hưởng quan điểm Mác-xít đô thị
miền Nam 1954-1975
1. Nếu hình dung luận - phê bình văn học đô thị miền Nam là một
dòng sông nhiều nhánh chảy qua những bãi bờ khác nhau, thì khuynh hướng
phê bình Mác-xít là một nhánh sông hiện hữu như một thực thsinh động trong
dòng sông lý luận - phê nh ấy. Khuynh hướng phê nh này thuc dòng văn
hc yêu nước và cách mạng đô thmiền Nam, vi cơ sở ng là mhọc
c-xít, nhim vụ đấu tranh bảo vệ đường lối văn nghệ dân tc, chống văn
a lai căng, dịch của chủ nghĩa thực dân mới. Vì “Song song vi mưu đồ
thống trị nhân dân min Nam bằng bạo lực, quân sự và dòng thác viện trợ kinh
tế, trên mặt trận tư tưởng M và chính quyn Sài Gòn ra sức dùng văn nghđể
dch nhân dân một ch hthống và với qui mô rất lớn. Âm mưu đó một
b phận không th tách rời của “quc sách chống Cộng” của họ(1). Ý thc
được điều htrọng này, c nhà luận phê bình chu ảnh ởng của tư tưởng
c-xít luôn nêu cao s mnh của văn chương là phản ánh cho được lòng yêu
ớc, niềm tự hào dân tc, tinh thần chống xâm ợc, chống áp bức, tinh thn
đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất nước nhà. Vì vậy, trong bộ phn văn
hc yêu ớc và ch mạng đô thị miền Nam đã nh thành đội ngũ các nhà
lý luận phê bình. Chính hlà nhng cây bút tiên phong ng quan điểm m
hc c-xít, quan đim văn học ch mạng để đập tan mưu đồ thống trị v
tưởng "mang ý nghĩa một cuộc xâm lăng văn a"(2) ca chủ nghĩa thực dân
mới. Do đó, việc hình thành và phát triển của bộ phn lý luận - phê bình văn
hc yêu ớc và ch mạng trong đời sống văn hc ở đô thị miền Nam c bấy
giờ có ý nghĩa rất lớn trên mặt trận đấu tranh tư ởng nhằm chống lại âm mưu
ca kẻ thù trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Khuynh hưng phê bình này cũng là
một trong những dòng ch u của luận - phê bình văn học đô thị miền
Nam 54-75,ng về sau, càng phát triển mạnh.
2. Sphát triển ca một bộ phận văn học không chỉ được xem xét nh
vc sáng c mà còn phải xem xét đến hoạt động lý lun - phê bình. Cnh
lĩnh vực này, bao gicũng thể hiện sự chín chắn và bền vững ca bộ phân văn
hc ấy. Vì vậy, sự hình thành khuynh hướng luận - phê bình chu ảnh ởng
ca tư ởng Mác-xít trong đời sống văn học ở đô thị miền Nam c by giờ đã
khẳng định s tởng thành ca bộ phận văn học yêu ớc và cách mạng mà
điều dễ nhận biết là s hình thành đội ngũ các nhà lý luận - phê bình. Trong đội
ngũ này một số cây bút lý luận - phê bình mà nh ởng không chỉ trong
khuynh ng phê bình mác t mà còn nh hưng đối với cả đời sống luận
- phê bình văn học như: Hạnh, Lữ Phương, Nguyn Trọng Văn, Trần Triu
Luật, Thanh Ngôn, Lê Nguyên TrungTrong đó, thnói, Hạnh là
một trong những cây bút khá nổi bật với rất nhiều bài viết, nhiều công trình
luận - phê bình được xuất bản trên ch báo miền Nam, trong đó hai công
trình tiêu biểu là Đọc lại Truyện Kiều (Cảo Thơm xb, 1966) và Tìm hiểu văn
ngh (Trí Đăng xb, 1970). Nhưng l Đọc lại Truyện Kiều là một trong
những tác phm phê bình để li trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc
nhất không chỉ ở tư duy độc đáo, mà còn ở vẻ đẹp ngôn ngữ phê bình vi nhiều
nh sáng tạo. Đọc lại Truyện Kiều cho thấy một t lực sung mãn, một
duy phê bình tinh tế, nhạy cm và sc sảo. Những vấn đđặt ra trong tác phm
luôn đem đến cho người đọc những bất ngthú vị từ những liên tưởng do tác
gigợi lên. Các bài viết như Đứa con của nàng Kiều, T Hải sự ltay của
thiên tài, Nhng khn mặt tình yêu trong Truyn Kiều… là nhng bài viết như
thế.
th nói, việc nghiên cứu Truyn Kiều ca Nguyễn Du đô th miền
Nam (54-75), không ch Vũ Hạnh mà còn một số công trình ca các c
gi khác như Trần Thanh Hiệp với "Để giải quyết mâu thuẫn trong Đon
tờng tân thanh" (Sáng to s 6/1957); Nguyên Sa với "Nguyễn Du trên
những nẻo đường tự do" (ng to s12/1957), Nguyễn Văn Trung với Vụ án
Truyn Kiều... Nhưng Đọc lại Truyện Kiều mọi vấn đề được Hạnh nhìn
nhận từ một hqui chiếu khác so với các nhà phê bình miền Nam. Đó là h
qui chiếu của kiểu phê bình xã hội học chịu ảnh hưng mỹ học c-xít. đây
ông không giải mã Truyện Kiều theo quan đim duy tâm siêu nh mà giải mã
trên cơ sở của quan đim duy vật. Vì vậy Đọc lại Truyện Kiều ca Vũ Hnh
đem đến cho độc gimột cái nhìn mi, một ch nghĩ mới so vi c bài viết
vTruyện Kiều min Nam lúc bấy giờ. Những vấn đề được ông nói đến là
những vấn đề ý nga xã hội, liên quan đến số phn con người. Chẳng hn
vấn đề "Đứa con nàng Kiều" được c giđặt ra không chlà strào lộng hay
la mà đó là vấn đề mang tính nhân văn vquyn được làm vợ, làm mẹ của
người phụ nữ. đây cũng là một bi kịch trong chuỗi bi kịch của đời Kiều đã
b xã hội tàn bo y vùi dp. "Trong cái cảnh nglàm vhthường trực của
người mình yêu tha thiết, Kiều sẽ dịp thưng xuyên để thấy thân phận đàn
chu thiệt thòi ca nàng. Xã hội phong kiến thấy nàng hy sinh quá nhiều cho
trt tự ấy suốt mười lăm năm, nên đã cho nàng tái ng n một tặng thưởng.
Nhưng đấy chỉ là một huy chương giả. Bi vì (....). Rốt cuộc, Kiều chng
chồng, Kiu chẳng con, chỉ mỗi một m danh từ tuyệt đẹp"(3). Vũ Hạnh
cũng rất tinh tế và có khi chra thực chất cái ngày gọi là "đoàn viên"
Nguyễn Du to nên trong Truyện Kiều: "Nếu ta nghĩ kỹ về cái tội ác mà chế độ
ấy gây nên cho Kiều, và nghĩ kỹ nữa vcái ân huđoàn viên mà nó ban phát
cho Kiều, ta sẽ thấy rằng chung qui là để làm lợi cho chế độ y mà thôi. Đày
đọa con người vào tủi nhục, rồi ve vãn người nuốt lấy tủi nhục, đó là thực chất
ca chế độ phi nhân vi hai đặc tính: tàn bạo và điêu ngoa"(4). giải về tình
yêu trong Truyện Kiu, Hạnh đã không siêu nh a nh yêu, mà nhìn
trong mối quan hvới cuộc đời thực. Ông không những nhìn thấy một khuôn
mặt tình yêu mà thấy nhiều "khuôn mt tình yêu" trong Truyện Kiều vi những
dằng xé, khđau, những hạnh phúc và bt hnh đan xen nhau vây khốn cuộc
đời nhca Kiều. Ông chỉ rõ chế độ xã hội đã chà đạp cuộc đời Kiều. Từ
đó, ông khng định một vấn đề tính qui luật, trong xã hội thối t sẽ không
ch cho con người ơng thiện tồn tại. Và tất nhiên, xã hội ấy không th
dung np được "cái đẹp" cho dẫu đó là cái đẹp của tình yêu. đây, Hạnh
không nhìn kh đau của đời Kiều với điểm nhìn duy tâm siêu nh mà ông đã
nhìn vn đề này ới góc nhìn xã hội. Do đó, theo ông, muốn hạnh phúc,
muốn bảo vệ được tình yêu chân chính đòi hỏi con người phải đấu tranh không
ngừng, không chỉ đấu tranh cho tình yêu ca mình, mà còn đấu tranh để xây
dng một xã hội tốt đẹp.
Đối với nhân vật Từ Hi, Vũ Hạnh cũng nhiều nhận t khá tinh tế và
u sắc khi cho rằng: "Từ Hải là sltay của thiên tài Nguyn Du ". Ông đã
nhìn thyTừ Hải khát vọng của tự do và công . T Hi không chỉ là "sự bù
đắp cho Kiều" mà theo Vũ Hạnh "Từ là hiện thân ca một phản ng, ca lòng
khao khát đền bù ca một đòi hỏi quân bình thđồng nghĩa vi sự đòi hi
công bình, một thứ công bình lý tưởng về người, vđời, vọng lên bt cứ nơi
nào còn có đày đọa tủi hờn"(5). ràng với những gì đã phân tích, Đọc lại
Truyn Kiều đã thhiện rõ nh hưởng tưởng phê nh Mác-xít. Đây không
ch là c phm phê bình văn học giá tr ca lý luận - phê nh văn học ở đô
th miền Nam mà còn là ca nền lý luận - phênh văn học dân tộc.
Bên cạnh Đọc lại Truyện Kiều, Vũ Hạnh còn Tìm hiểu Văn ngh, một
tác phẩm lun - phê bình. Đây là tác phẩm được viết trên cơ sở ảnh ởng
tưởng của mỹ học c-xít, tiêu biểu là c bài: n nghệ, một hình trạng ý
thc, Chức vụ cao cả của văn nghệ, n nghệ tác động như thế o, n nghệ
phản ánh bản chất thực tại, Bên trong văn ngh và bên ngoài cuc đời. Đặc
biệt, trong bài Một số biểu hiện tiêu cực trongn ngh, xuất phát từ quan đim
văn học phải gắn với thực tại, Hnh đã phê phán tính chất thoát ly những
tác phm văn chương của miền Nam lúc bấy giờ. Tđó, c gixác định rõ
tch nhiệm của người làm văn nghệ là phải "ý thức vsứ mệnh của mình,
phải đứng về phía đông đảo con người chịu những thiệt thòi để đấu tranh cho tự
do dân ch chân chính. Đó con đường vinh quang của văn ngh sĩ"(6).
Ngoài hai tác phẩm trên, do nhim vụ của người chiến sĩ hoạt động trên
lĩnh vực o chí và văn học, nên ngòi bút phê bình ca Hạnh còn tung tẩy
trên tất cả các thể loại từ phê bình thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch, khảo luận văn
hc... như phê bình b ba tác phẩm tiểu thuyết: Mơ (1959), a ảo nh
(1963), Những người đang đi tới (1964) của Đỗ Thúc Vịnh, hay thế giới tiểu
thuyết của Sơn Nam vi những c phm tiêu biểu như Hương rừng Cà Mau,
Chim Quyên xuống đất và Hình bóng cũ. Với Sơn Nam, ngòi bút phê bình của
Vũ Hạnh đã có nhng phát hiện tinh tế, những lời phê nh bóng gxa xôi
nhằm thức tỉnh lòng yêu nước và ý thức vtổ quốc quê hương.
Không ch thức tỉnh lòng yêu nước, tinh thnng vnguồn cội mà trong
những bài phê bình, Vũ Hnh luôn khẳng định quan đim văn chương của
nh, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người cầm bút. Với ông nhà văn
“con nời nhưng phải con nời ý thức"(7). thế, Hạnh đã phân ch
một cách sâu sắc yếu tố “thác loạn” trong tác phm của Chu Tmà theo ông