
1
PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT NAM
Câu 1: Trình bày các cách phân loại chính về phong tục tập quán của người Việt?
Các cách phân loại chính
Miêu tả
Theo góc độ thời gian
- Phân theo hệ thống vòng đời con người: sinh đẻ, kết hôn,
mừng thọ, tang ma
- Phân theo hệ thống vòng cây trồng: (gieo hạt => thu hoạch)
=> phong tục các lễ hội
- Phân theo hệ thống vòng thời tiết: Tết Nguyên Đán, Tết Đoan
Ngọ, Tết Trung Thu…
Theo góc độ không gian,
tính chất cộng đồng
- Phân theo phong tục trong gia tộc: phản ánh mối quan hệ gia
đình: sinh nhật, thượng thọ, cúng giỗ…
- Phân theo phong tục ở làng, xã: Thờ Thành hoàng làng, lễ
đăng khoa, các hội nhóm, hội đoàn…
- Phân theo phong tục ngoài xã hội:
+ Quy định các mối quan hệ (thầy – trò, chủ - khách, vua – tôi,
quân – dân…)
+ Quy định nghề nghiệp
+ Cách ứng xử với môi trường tự nhiên: ăn, mặc, ở…
Theo góc độ quan hệ có các
phong tục ở dạng thói quen
- Phân theo thói quen trong suy nghĩ
- Phân theo thói quen trong sinh hoạt
- Phân theo thói quen trong lao động
Câu 2: Nêu đặc điểm cơ bản trong phong tục tập quán của người Việt (người Kinh)?
Lấy ví dụ chứng minh?
Đặc điểm cơ bản
Miêu tả và ví dụ
Quan niệm về đạo đức của
người Việt và đề cao giá trị
nhân văn
+ Phong tục tang ma thể hiện văn hóa ứng xử của người sống
đối với người đã chết và đối với người Việt thông qua việc cử
hành tang ma, thể hiện người Việt đề cao đạo đức đó là đề cao
chữ “hiếu”.
+ Phong tục cúng giỗ tổ tiên đó là sợi dây cốt lõi thể hiện truyền
thống của người Việt, đề cao chữ “hiếu”, đề cao đạo lý “uống
nước nhớ nguồn”.
+ Phong tục dành cho người già chính là phong tục mừng thọ,
thể hiện qua quan niệm đạo đức, mừng thọ cho cha mẹ, cho ông
bà chính sự biết ơn, đạo hiếu.
Đặc điểm của cư dân
nông nghiệp lúa nước
Việt Nam nằm trong khu vực văn hóa phương Đông, sống ở
khu vực sông ngòi, lưu vực sông lớn, lợi thế ở vùng đồng bằng
ven biển, hoạt động kinh tế chủ đạo là kinh tế nông nghiệp =>
văn hóa cư dân nông nghiệp.
VD: Kinh tế khu vực châu Âu, châu Mĩ thường nghiêng hơn về

2
hoạt động kinh tế thương nghiệp, trao đổi buôn bán hàng hóa
lớn, phát triển dịch vụ, khác hẳn với kinh tế Việt Nam là văn
minh nông nghiệp và buôn bán nhỏ lẻ, dịch vụ thấp.
Văn hóa nông thôn bao trùm
thành thị
+ Vẫn là văn hóa nông thôn tuy nhiên vẫn là cơ sở kinh tế, quy
mô kinh tế người Việt Nam là tiểu nông nhỏ lẻ. Do đó môi
trường sống chỉ quanh quẩn làng, xã gắn liền với nông thôn.
Dấu ấn phong tục tập quán mang dấu ấn nông thôn, việc ra đời
phong tục tập quán gắn với thói quen sinh hoạt của làng quê
nông thôn của người Việt.
VD: Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở Việt Nam phát triển
hơn các hoạt động kinh tế như thủ công nghiệp, thương nghiệp,
các đô thị lớn ra đời, cư dân thành thị vẫn là gốc gác nông thôn.
Do đó khi đến thành thị văn hóa nông thôn truyền ra thành thị,
bao trùm thánh thị dấu ấn trội vẫn là văn hóa nông thôn.
Câu 3: Trình bày phong tục sinh đẻ của người Việt (quan niệm, tục lệ, kiêng kị)? Nhận
xét một số thay đổi trong quan niệm và tục lệ liên quan đến sinh đẻ của người Việt hiện nay
so với trước đây?
- Phong tục sinh đẻ của người Việt (người Kinh):
* Quan niệm:
+ Sinh đẻ là việc hệ trọng của đời người.
+ Ý nghĩa của việc sinh đẻ:
• Coi trọng di truyền nòi giống.
• Coi trọng con trai (theo tư tưởng Nho giáo chi phối).
• Phản ánh kinh tế nông nghiệp: quan niệm tín ngưỡng phồn thực .
• Phản ánh quan hệ xã hội: sự gắn kết các thành viên.
• Phản ánh quan niệm tín ngưỡng dân gian.
• Tin vào mối quan hệ của trời đất, thần linh và con người.
* Tục lệ:
Cầu tự
Bán khoán
Bỏ trẻ ở
đường,
ở chợ
Cúng
bà mụ
Chôn
nhau thai
Đốt vía,
hớt vía
Mục đích
Cầu con (con
trai) để thừa tự.
Giải trừ giờ
sinh xấu,
khó nuôi.
Tránh bị
ma quỷ, tà
quấy nhiễu,
khó nuôi.
Cầu xin các
bà Mụ (bà
tiên) để đỡ
đầu phù hộ.
Quan niệm:
nên sinh trẻ
ở nơi có
thai.
Xua đuổi
tà, vía dữ
khiến trẻ
quấy khóc.
Hình thức
Lễ cầu Trời/
Phật ban con.
(VD: chùa
Hương, Yên
Tử, Dâu…)
Lễ gửi con
vào chùa/
đề để làm
con của
Phật/Thánh
Giả vờ vứt
trẻ đi để
che mắt ma
quỷ.
Làm lễ
cúng bà mụ
(đầy cữ,
đầy tháng,
đầy năm ).
Nhau thai
trẻ được cắt
đem chôn
sâu
Làm phép
đuổi/ hớt
vía.

3
Ý nghĩa
Tâm lý ổn định
gia đình, duy
trì nòi giống
=> Ảnh hưởng
của tín ngưỡng
dân gian.
Tâm lý cầu
bình an =>
ảnh hưởng
của tín
ngưỡng.
Tâm lý cầu
bình an.
Cầu mong
bình an =>
ảnh hưởng
tín ngưỡng
dân gian.
Cầu bình
an, nhắc
nhở đến nơi
sinh thành,
cội nguồn
cần nhớ.
Cầu bình
an cho trẻ.
* Kiêng kỵ:
a/ Kiêng kỵ khi mang thai:
+ Các đồ ăn, uống không tốt cho sức khỏe-> không ăn đồ cay nóng, uống nước lạnh… để bổ
khí, tránh xui.
+ Đi lại cẩn thận, hoạt động chuẩn mực. Không đi lại mạnh, chạy nhảy, vận động quá sức…
dễ làm thai nhi bị tổn thương
+ Tâm lý, thái độ vui vẻ hiền hòa, không cáu gắt, khóc lóc -> dưỡng khí cho thai nhi tốt hơn.
=> Thai giáo: hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ từ trong bụng mẹ.
b/ Kiêng kỵ sau khi sinh:
+ Đồ ăn ngon/ bổ không tốt cho sản phụ.
+ Nơi ở kín gió/ sưởi bếp than tránh nơi ở có nhiều gió và lạnh làm thai nhi bị ốm
+ Hạn chế tắm rửa vệ sinh.
=> Hồi phục sức khỏe nhanh nhất cho sản phụ.
c/ Kiêng kỵ cho trẻ:
+ Đặt tên đẹp dễ bị ma quỷ quấy rầy. Nên đặt tên gọi ở nhà.
+ Khen trẻ, xoa đầu làm ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ.
+ Tránh người cao vía làm trẻ sợ
+ Không nghịch bộ phận nhạy cảm trên người trẻ
=> Cầu bình an cho trẻ.
- Một số thay đổi trong quan niệm và tục lệ liên quan đến sinh đẻ của người Việt hiện nay
so với trước đây:
Hiện nay việc kiêng cữ sinh đẻ cũng được giảm bớt do phụ nữ không tin nhiều vào kinh
nghiệm dân gian mà tin vào bác sĩ và sự tiến bộ của khoa học
Lễ nhập
tràng (xin
đi học)
Lễ đầy
tháng
Lễ đầy năm
(thôi nôi)
Lễ đặt tên
Lễ ghi
tên vào
lộc bạ

4
Việc sinh đẻ hiện nay đã có kế hoạch và mức sinh cũng giảm dần so với trước đây do có sự
đề phòng và tỉ lệ kết hôn thấp hơn.
Bên cạnh những món ăn cũng bị kiêng kỵ, thì phụ nữ hiện nay vẫn bổ sung nhiều chất bổ để
thai nhi khỏe mạnh hơn
Không còn đặt tên khai sinh xấu xí như trước, mà sẽ đặt tên đẹp với những hy vọng cho con
cái cuộc đời và tương lai tươi sáng hơn.
Theo các chuyên gia, áp lực của công việc và cuộc sống khiến xu hướng kết hôn muộn, sinh
con muộn, sinh ít con, thậm chí không muốn sinh con, ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, với gánh
nặng lớn về kinh tế cho mỗi gia đình, từ áp lực tìm kiếm việc làm, nhà ở, chi phí sinh hoạt đến chi
phí nuôi dạy và chăm sóc con, chi phí giáo dục cao… đều làm hạn chế mức sinh.
"Mức sinh thấp kéo dài sẽ làm quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh hơn, thiếu hụt nguồn
lao động, ảnh hưởng đến an sinh xã hội...".
Vì vậy cần phải cân bằng công việc, kết hôn trong độ tuổi thích hợp và hạn chế sinh đẻ muộn
ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ.
Câu 4: Trình bày phong tục sinh đẻ của một dân tộc thiểu số mà anh (chị) biết? So sánh
với tập sinh đẻ của người Việt (người Kinh)?
- Phong tục sinh đẻ của một dân tộc thiểu số - dân tộc:
Sinh con là một việc hết sức trọng đại. Một gia đình đông con đông cháu, một dòng họ đông
đúc là một niềm tự hào và là một niềm mơ ước lớn.
Một đứa trẻ ra đời không chỉ là niềm vui của riêng một gia đình nào mà đó là niềm vui của
cả cộng đồng => người con gái khi đã đi lấy chồng cũng như gia đình nội ngoại hai bên, đối với
họ việc cô dâu mới có tin mừng là việc quan trọng nhất sau ngày cưới và đối với cả cuộc đời của
người phụ nữ.
Đi lấy chồng thì phải sinh ở nhà chồng. Khi xuất giá mà tới kỳ sinh đẻ thì không nên về nhà
bố mẹ đẻ, nếu lỡ về thăm mà trở dạ thì phải đẻ ở dưới nhà sàn. Vì theo họ “con gái là con người
ta” => cháu ngoại đã mang dòng máu khác, “khác máu thì tanh lòng” nếu để máu rơi trong nhà sẽ
mang lại rủi ro cho gia đình.
Những phụ nữ chửa hoang thì tục lệ lại càng khắt khe hơn. Đến kỳ sinh nở người phụ nữ đó
phải đẻ ngoài vườn, không được vào trong nhà hoặc làm lán ngoài vườn cho đẻ và ở luôn ngoài
đó tới khi hết thời gian ở cữ mới được vào nhà. Người phụ nữ có chửa trước khi cưới cũng bị phạt
như vậy.
Nếu việc sinh nở thuận lợi thì không sao còn nếu không sản phụ được cho uống nước lá
mồng tơi hoặc lá rau ngót… là các oại lá có tính mát, trơn đẻ dễ đẻ. Người ta cũng có thể mời thầy
mo hoặc sử dụng các phương thuật để việc sinh đẻ được diễn ra một cách suôn sẻ.
Sau khi sinh con sản phụ được đưa đến nằm cạnh bếp lửa để có thể nhanh chóng bình phục
sức khỏe, lửa ấm sẽ làm mạch máu được lưu thông và da dẻ hồng hào. Nếu là sinh con so thì phải
nằm cạnh bếp lửa một tháng, các con khác thì từ 15 tới 20 ngày. Tuy nhiên, ngày nay không còn
tục lệ đó nữa.
Khi sinh con người phụ nữ Mường phải ăn kiêng hết sức kham khổ. Thức ăn chính của họ
trong suốt thời gian này là lá vông (một loại lá cây rừng) đem về giã nát rồi chộn với muối, gói lại

5
sau đó đem nướng trên bếp than cho tới khi cháy thành than, hàng ngày dùng thứ này ăn với cơm.
Sản phụ mới đẻ phải kiêng nước, kiêng gió. Sau 7 ngày xông bằng lá thuốc (lá phai rừng, lá
de hơi, lá de tầng, lá mấu sông, lá mấu chín, lá ven, lá huyết dụ, lá bưởi, lá ngải…). Các loại lá
trên sau khi lấy về được rửa sạch, đun cho sôi thì múc một bát nước để uống sau đó thì xông, xông
chỉ được tắm thân không được tắm đầu.
Khi trong nhà có người sinh nở người Mường có tục cắm cữ. Đây là dấu hiệu báo cho dân
làng biết, nhất là người lạ biết rằngt rong nhà này có người mới sinh em bé thì không được vào…..
Những kiêng kỵ trong khi mang thai:
* Đối với bản thân người phụ nữ:
Thai phụ phải giữ cho mình luôn được thoải mái, vui vẻ, tránh việc nóng giận hoặc các cảnh
tượng hãi hùng, tang thương nêu không sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi và tới đứa trẻ sau này.
Bị hạn chế khi tham gia vào các nghi lễ cộng đồng mang tính chất tôn giáo bởi họ cho rằng
thời kỳ này thân thể người phụ nữ mang thai không được sạch sẽ nên nếu họ đến đó thần linh sẽ
không phù hộ cho dân làng.
Kiêng bồi bổ quá nhiều vì sợ thai to khó đẻ; không bước qua dây thừng buộc trau vì sợ đẻ
con bị tràng hoa quấn cổ; không ngồi vào cái cày, cái bừa vì sợ đẻ con già tháng (chửa trâu); không
ngồi vào cái chày giã gạo vì sợ đứa trẻ sau này sẽ bướng bình khó bảo…
Kiêng ngồi ở bậc cầu thang lên nhà sàn, khi đi qua nghĩa địa, qua cửa đình đều phải mang
cành cây theo người đề trừ tà ma, không được xuống cấy trước mọi người vì sợ bị ốm nghén. Vào
mỗi buổi sáng thai phụ phải dậy sớm đi mở hết ác cửa trong nhà, họ cho rằng làm như vậy sau này
sẽ đẻ dễ dàng.
Kiêng lạnh sau khi sinh: sau khi sinh, thận khí bị suy nhược nên sản phụ dễ bị nhiễm lạnh.
Vì vậy, không được đụng tới nước lạnh, không được tắm nước lạnh, uống nước lạnh.
Sản phụ cần kiêng gió để tránh tà khí xâm nhập. Tuy nhiên không nên nằm trong phòng kín,
che chắm quá kĩ. Không khí tù đọng sẽ làm sản phụ khó thở, yếu hơn, em bé hay quấy khóc, chậm
lớn và mắc bệnh đường hô hấp.
Trong tháng đầu bà đẻ không nên làm nhiều việc nặng, đứng ngồi và đi lại nhẹ nhàng vì cơ
thể lúc mới sinh còn rất yếu, không cẩn thận dễ bị sa dạ con. Không được vận động mạnh vì dễ
băng huyết.
Hạn chế gặp nhiều người trong tháng kiêng cữ, tránh những người không hợp vía đến thăm
có thể làm em bé quấy khóc, chậm lớn.
Đối với người Mường sau khi sinh thì thực đơn của sản phụ vô cùng nghiêm ngặt. Có nhiều
kiêng kỵ trong ăn uống như: không ăn quả sinh đôi; không ăn cá nướng, cá nấu canh; không ăn
thịt vịt đực, thịt rùa, thịt chó,….
* Đối với chồng của sản phụ:
Trong thời gian vợ mang thai, hạn chế sinh hoạt vợ chồng để khỏi ảnh hưởng đến sức khỏe
của cả thai phụ và thai nhi.
Khi đi đám tang người khác nhờ khiêng quan tài thì phải nói rằng: Vợ đang có thai không
khiêng được nên đừng ai trách.
Không được khiêng quan tài bởi quan tài nặng làm vợ dễ sảy thai hoặc sau này đứa trẻ sẽ bị

