
1
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Câu 1: Trình bày khái niệm về: dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, văn hóa
dân tộc, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội?
- Dân tộc:
+ Theo nghĩa rộng: Dân tộc là một khối cộng đồng ổn định, hình thành trong lịch sử dựa
trên cơ sở cộng đồng và tiếng nói, lãnh thổ và sinh hoạt kinh tế và hình thành tâm lý, biểu hiện
trong cộng đồng về văn hóa và là một cộng đồng người có chung một thể chế chính trị, được
thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước.
+ Theo nghĩa hẹp: Dân tộc là cộng đồng mang tính tộc người có chung tên gọi, ngôn ngữ
trìu tượng được liên kết với nhau bằng các giá trị văn hóa, có chung một ý thức tự giác tộc
người, tức là có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phân tích lịch
sử thể hiện ở những kì tích lịch sử, huyền thoại, tục hèm – nòng cốt. Mỗi tộc người không nhất
thiết phải có cùng một lãnh thổ và cộng đồng kinh tế.
- Tôn giáo: là niềm tin của con người vào cõi thiêng nhưng ở cấp độ cao hơn tín ngưỡng,
xuất hiện trong xã hội có giai cấp và tồn tại trong cộng đồng xã hội văn minh. Có giáo lý, giới
luật, lễ nghi, hệ thống tổ chức và một hệ thống biểu tượng kiện toàn, chặt chẽ. Mang tính chất
phổ quát, phá vỡ được sự khác nhau giữa các khu vực, địa phương hay các cộng đồng để trở
thành niềm tin của tất cả mọi người.
- Tín ngưỡng: là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái các Thần thánh, vật thiêng, hoặc linh
hồn người chết do con người tưởng tượng ra, suy tồn và gắn đó những phẩm chất, quyền lực
siêu phẩm. Vì vậy, họ phải thờ cúng để cầu mong sự che trở, giúp đỡ.
- Phong tục: là những quy ước do cộng đồng thỏa thuận lập ra và mọi người trong cộng
đồng phải tuân thủ. Nó là những nét tốt đẹp của đời sống xã hội được cộng đồng thừa nhận. Nó
được truyền từ đời này qua đời khác và trở thành chuẩn mực của xã hội. Phong tục cũng thay
đổi theo thời gian và môi trường xã hội.
- Văn hóa dân tộc:
+ Theo quan điểm 1: Văn hóa dân tộc là toàn bộ những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần,
các giá trị xã hội do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển,
gắn bó với môi trường tự nhiên và xã hội, nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao
động sáng tạo của các tộc người trong sự vận động nội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở cấp
độ tộc người và quốc gia.
+ Theo quan điểm 2: Văn hóa dân tộc được hiểu là toàn bộ những thành tố, giá trị văn
hóa được tộc người chấp nhận, coi là của mình, khác với văn hóa ngoại lai.
- Văn hóa vật thể (văn hóa vật chất): đó là tất cả mọi thứ do con người phát minh, sáng
tạo ra vì mục đích sinh tồn. Con người tác động vào tự nhiên, qua bàn tay tạo tác của mình để
tạo ra các sự vật văn hóa có thực thể vật chất mà con người có thể sờ thấy, chạm vào, bao gồm:
phương thức sản xuất, nhà cửa, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại, dụng cụ sinh hoạt...
- Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể): bao gồm những gì do hoạt động của con người
sáng tạo nên với mục đích là thử để đáp ứng những đòi hỏi của đời sống tinh thần của con

2
người. Văn hóa tinh thần bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật,
lễ hội thẩm mĩ, nghệ thuật trình diễn dân gian...
- Văn hóa xã hội (văn hóa luân lí): đó là những quy chuẩn dùng để giải quyết các vấn
đề chung sống giữa con người với con người, bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng,
xã hội, các quy tắc xã hội về hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế
văn hóa, xã hội, đời sống pháp luật, tổ chức chính trị... nhằm thích ứng với môi trường xã hội.
Câu 2: Trình bày khái niệm dân tộc theo quan điểm một số nhà khoa học nước ngoài
(Pháp, Mexico, Nga)?
- Theo người Pháp Breton quan niệm về dân tộc:
+ Nghĩa hẹp: Dân tộc có thể là một nhóm các cá nhân có cùng chung tiếng mẹ đẻ.
+ Nghĩa rộng: Dân tộc là một nhóm các cá nhân liên kết với nhau bởi sự phức tạp các
tính chất chung về nhân chủng, ngôn ngữ, lịch sử... mà sự kết hợp các tính chất đó được tạo
thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa là chủ yếu... một nền văn hóa đa dạng.
- Theo người Nga Bromite quan niệm về dân tộc:
Dân tộc là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ về địa bàn, cư trú, ngôn ngữ, kinh
tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa. Mỗi tộc người đều có ý thức về tộc người của mình.
- Theo quan điểm của người khoa học Mexico Casanova về dân tộc:
Dân tộc là một cộng đồng người ổn định, hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, có
chung ngôn ngữ, lãnh thổ cư trú, nền văn hóa và phong tục tập quán, ý thức tự giác tộc người.
Câu 3: Hãy trình bày các ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam?
- Tiêu chí phân loại:
Các ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ học xếp vào các ngữ hệ còn gọi là họ ngôn ngữ.
Hệ ngôn ngữ phân loại dựa trên các tiêu chí sau:
* Hình thái học: phương thức cấu tạo từ (VD đơn âm và đa âm. “Chào” là đơn âm, “Hello”
là đa âm).
* Cú pháp học: phương thức đánh dấu các thành phần câu, các chức vụ cú pháp, trật tự
từ, kết cấu cú pháp.
* Ngữ âm học: thanh điệu, phụ âm, nguyên âm.
Cùng hệ ngôn ngữ nhưng các ngôn ngữ khác nhau và không hiểu nhau, có hệ ngôn ngữ
có đến hàng chục ngôn ngữ khác khau. Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Mỗi dân tộc đều
có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa Việt Nam. Bản sắc văn
hóa của các dân tộc được thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, văn hóa vật thể và phi vật thể.
54 dân tộc Việt Nam được xếp theo 8 nhóm ngôn ngữ: Việt – Mường, Tày - Thái, Mông - Dao,
Ka Đai, Tạng Miến, Nam Đảo, Hán, Môn - Khmer. Trong 8 nhóm ngôn ngữ này thuộc 5 ngữ
hệ chính: Nam Á, Mông – Dao, Thái – Ka đai, Hán – Tạng. Nam Đảo.
- Các hệ ngôn ngữ và ngữ hệ tại Việt Nam:

3
STT
Nhóm ngôn ngữ
(8 nhóm)
Ngữ hệ (5 nhóm)
Dân tộc tiêu biểu
đại diện
(54 dân tộc)
Chú thích
1
Việt – Mường
Nam Á
4 dân tộc: Kinh,
Mường, Thổ,
Chứt.
Đồng bào sống chủ yếu
bằng nghề trồng lúa
nước và đánh cá. Trong
đời sống tâm linh có tục
thờ cùng ông bà tổ tiên
và các nghề thủ công
truyền thống phát triển
ở trình độ cao.
2
Môn – Khmer
21 dân tộc: Ba
Na, Brâu, Bru -
Vân Kiều, Chơ
Ro, Co, Cơ Ho,
Cơ Tu, Giẻ
Triêng, H’rê,
Kháng, Khmer,
Khơ Mú, Mảng,
Xinh Mun,
Mnông, Ơ Đu,
Mạ, Rơ Măm, Tà
ôi, Xơ Đăng,
Xtiêng.
Cư trú rải rác ở khu vực
Tây Bắc, miền Trung -
Tây Nguyên và Nam
Bộ. Đời sống kinh tế
chủ yếu canh tác nương
rẫy theo phương pháp
chọc lỗ tra hạt. Kiến
trúc nhà rông, nhà dài
Tây Nguyên.
3
Tày – Thái
Thái – Ka đai
8 dân tộc: Tày,
Thái, Nùng, Giáy,
Lào, Lự, Sán
Chay, Bố Y.
Đồng bào cư trú tập
trung ở các tỉnh vùng
Đông Bắc và Tây Bắc
Việt Nam như: Lạng
Sơn, Cao Bằng, Thái
Nguyên, Tuyên Quang,
Sơn La, Lai Châu… họ
ở nhà sàn, cấy lúa nước
kết hợp làm nương rẫy
4
Ka – đai
4 dân tộc: La Chí,
La Ha, Cờ Lao, Pu
Péo
5
Mông – Dao
3 dân tộc: Mông,
Dao, Pà Thẻn
6
Tạng – Miến
Hán – Tạng
6 dân tộc: Lô Lô,
Phù Lá, Hà Nhì,
La Hủ, Cống, Si
La.
Làng bản của họ được
xây dựng trên các triền
núi cao hay lưng chừng
núi. Một số các tộc
người như La Chí,
Cống, Si La và một vài
nhóm Dao dựng làng
ven các con sông, con
suối. Tuỳ theo thế đất,
đồng bào dựng nhà sàn,
nhà đất, nhà nửa sàn
nửa đất. Làng bản của
họ được xây dựng trên
các triền núi cao hay

4
lưng chừng núi. Một số
các tộc người như La
Chí, Cống, Si La và một
vài nhóm Dao dựng
làng ven các con sông,
con suối. Tuỳ theo thế
đất, đồng bào dựng nhà
sàn, nhà đất, nhà nửa
sàn nửa đất.
7
Hán
3 dân tộc: Hoa,
Ngái, Sán Dìu.
Đồng bào cư trú trên cả
ba miền Bắc, Trung,
Nam, văn hoá Hán
mang đậm nét phụ hệ.
8
Nam Đảo
5 dân tộc: Chăm,
Gia Rai, Ê Đê,
Raglai, Chu Ru.
Đồng bào cư trú tập
trung trên các cao
nguyên đất đỏ Tây
Nguyên và dải đất ven
biển miền Trung; Văn
hoá Nam Đảo mang
đậm nét mẫu hệ.
Câu 4: Hãy khát quát về đặc điểm văn hóa vật chất của dân tộc Mường?
1. Nhà ở:
* Kiểu nhà chủ đạo: Người Mường chủ yếu làm nhà sàn, đây là kiểu nhà truyền thống
phổ biến ở vùng trung du và miền núi. Nhà sàn giúp tránh ẩm thấp, thú dữ và thuận lợi cho sinh
hoạt trong điều kiện địa hình đồi núi. Nhà chủ yếu là 3 gian 2 chái hoặc 5 gian 2 chái,
* Vật liệu và kết cấu:
+ Vật liệu chủ yếu là gỗ rừng, tre, nứa, mái lợp bằng lá cọ hoặc tranh.
+ Kết cấu nhà sàn gồm sàn gỗ nâng cao khỏi mặt đất từ 1,5 đến 2 mét, có cầu thang gỗ
(thường 7 hoặc 9 bậc, mang ý nghĩa phong tục).
+ Khung nhà được dựng bằng cột gỗ chắc chắn, liên kết bằng mộng gỗ, không dùng đinh
kim loại truyền thống.
* Không gian bên trong: Nhà sàn của người Mường thường chia thành các khu vực:
+ Gian khách ở giữa: nơi tiếp khách và sinh hoạt cộng đồng và nơi trung tâm nhà
+ Gian ngủ: dành cho các thành viên gia đình.
+ Bếp lửa: đặt ở vị trí trung tâm hoặc gần gian khách, vừa để nấu ăn vừa là nơi quây quần.
=> Không gian mở, ít vách ngăn, thể hiện tính cộng đồng và sự gắn kết gia đình.
* Ý nghĩa văn hóa – xã hội:
+ Nhà sàn không chỉ là nơi ở mà còn là biểu tượng của địa vị xã hội: nhà càng lớn, cột
càng to chứng tỏ gia đình có uy tín và kinh tế khá giả.
+ Kiến trúc nhà sàn phản ánh quan niệm hài hòa với thiên nhiên, tận dụng vật liệu sẵn có
và thích ứng với khí hậu.
2. Trang phục:
2.1 Trang phục nam:
+ Áo: Nam giới thường mặc áo chàm dài tay, cổ tròn hoặc cổ đứng, không thêu dệt cầu

5
kỳ về hoa văn và khá đơn giản.
+ Quần: Quần dài, chân què, cạp lá tọa (ống rộng), màu chàm hoặc đen, thuận tiện cho
lao động và di chuyển.
+ Phụ kiện: Thắt lưng vải, khăn đội đầu hoặc mũ đơn giản.
→ Trang phục nam thiên về sự tiện lợi, thể hiện tính thực dụng trong lao động sản xuất.
2.2 Trang phục nữ:
+ Áo: Áo cánh ngắn, mở ngực, bó sát, màu chàm hoặc đen, cổ áo tròn, tay dài.
+ Váy: Váy dài chấm gót, màu đen hoặc chàm, phần chân váy trang trí hoa văn thổ cẩm
tinh tế.
+ Thắt lưng: Thường là dải vải màu sắc nổi bật, tạo điểm nhấn cho bộ trang phục và đây
là phần tự dệt và kỳ công nhất trên bộ trang phục phụ nữ Mường
+ Trang sức: Vòng bạc, xà tích, hoa tai… thể hiện sự giàu có và thẩm mỹ.
→ Hoa văn trên váy và thắt lưng mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện quan niệm về cái đẹp
và bản sắc văn hóa của dân tộc Mường.
2.3 Ý nghĩa trang phục:
+ Trang phục Mường vừa mang tính thực dụng, vừa thể hiện bản sắc tộc người qua màu
sắc, hoa văn và cách phối hợp.
+ Hoa văn thổ cẩm không chỉ là trang trí mà còn chứa đựng biểu tượng về thiên nhiên,
tín ngưỡng và quan niệm thẩm mỹ.
+ Sự gần gũi với trang phục người Việt (Kinh) cho thấy quá trình giao thoa văn hóa,
nhưng vẫn giữ nét riêng ở chi tiết hoa văn và cách mặc.
3. Ẩm thực:
- Nguồn nguyên liệu và đặc trưng:
+ Người Mường sinh sống chủ yếu ở vùng trung du và miền núi, nên nguyên liệu chính
là gạo nếp, gạo tẻ, kết hợp với sản vật từ rừng (rau rừng, măng, nấm) và chăn nuôi (thịt lợn, gà,
cá suối).
+ Thức ăn thường chế biến đơn giản, giữ nguyên hương vị tự nhiên, thể hiện sự gắn bó
với môi trường, ưu tiên nguyên bản và luộc, đồ, hấp là chính.
- Các món ăn tiêu biểu:
+ Cơm lam: Gạo nếp cho vào ống tre, nướng trên than hồng. Đây là món ăn đặc trưng
của cư dân Mường và nhiều dân tộc, vừa tiện lợi khi đi rừng, vừa mang giá trị văn hóa.
+ Thịt nướng, đồ chấm: Thịt lợn, gà được tẩm ướp gia vị từ lá rừng, nướng trên than, ăn
kèm muối chẩm chéo (pha từ muối, ớt, mắc khén, hạt dổi).
+ Canh rau rừng, măng chua: Thể hiện sự tận dụng nguồn thực phẩm tự nhiên và nấu
với các nguyên liệu như chẩm chéo, ớt, mắc khén, hạt dổi.
+ Rượu cần: Được ủ từ gạo nếp, men lá, uống bằng cần tre trong dịp lễ hội, thể hiện tính
cộng đồng và giao tiếp xã hội.
- Ý nghĩa văn hóa:
+ Ẩm thực Mường không chỉ phục vụ nhu cầu ăn uống mà còn gắn với nghi lễ, lễ hội
(như lễ cưới, lễ mừng nhà mới, tang ma, sinh nở…).

