
1
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Câu 1: Nêu đặc điểm nghệ thuật Ai Cập cổ đại? Trình bày hiểu biết về Kim tự tháp?
* Đặc điểm nghệ thuật Ai Cập cổ đại:
- Chữ viết, văn học:
Về chữ viết: Khoảng hơn 3000 năm TCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng
hình. Muốn chỉ một vật gì thì họ vẽ những nét tiêu biểu của sự vật đó. Để diễn tả những khái niệm
trừu tượng thì họ mượn ý. Thí dụ để diễn tả trạng thái khát thì họ vẽ ba làn sóng nước và cái đầu
bò đang cúi xuống; để nói lên sự công bằng thì họ vẽ lông chim đà điểu (vì lông đà điểu hầu như
dài bằng nhau). Từ chữ tượng hình, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra hệ thống 24 chữ
cái. Vào thiên niên kỉ II TCN, người Híchxốt đã học cách viết của người Ai Cập để ghi lại các
ngôn ngữ của mình. Về sau này, loại chữ viết ấy lại ít nhiều ảnh hưởng tới người Phênixi và người
Phênixi đã sáng tạo ra vần chữ cái A, B... Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên
đá, viết trên da, nhưng nhiều nhất là được viết trên vỏ cây sậy papyrus. Đây là một loại “giấy” cổ
xưa nhất, do vậy ngôn ngữ nhiều nước trên thế giới, giấy được gọi là papes, papier. Năm 1822,
một nhà ngôn ngữ học người Pháp Sampôliông (Champollion) đã tìm cách đọc được thứ chữ này.
Về văn học: những tác phẩm tiêu biểu còn sót lại như: Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói
Láo, Đối thoại của một người thất vọng với linh hồn của mình, Người nông phu biết nói những
điều hay...
- Tôn giáo:
Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần. Ban đầu, mỗi vùng thờ mỗi vị
thần riêng của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên. Đến thời kì thống nhất quốc gia, bên cạnh
những vị thần riêng của mỗi địa phương còn có các vị thần chung như thần Mặt trời (Ra), thần
sông Nin (Osiris).
Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần: hồn và xác. Khi con người chết đi, linh
hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm về nơi xác (Họ tin rằng như khi bị ngất,
hồn thoát ra ngoài tạm thời). Vì vậy những người giàu có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật
ướp xác vì vậy cũng rất phát triển.
- Kiến trúc điêu khắc:
Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung điện, nhưng nổi bật nhất phải kể
đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu. Người thiết kế ra Kim tự tháp đầu tiên để làm nơi yên
nghỉ cho các pharaon là Imhotép. Người ta đã phát hiện ra khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác
nhau trong đó có 3 Kim tự tháp nổi tiếng nằm ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự tháp Kêôp
(Kheops) cao tới 146m, đáy hinh vuông, mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy ngàn năm qua các Kim tự
tháp vẫn sừng sững với thời gian. Vì vậy người Ai Cập có câu “Tất cả mọi vật đều sợ thời gian,
nhưng riêng thời gian phải nghiêng mình trước Kim tự tháp”.
Ngoài việc xây dựng các lăng mộ, người Ai Cập cổ còn để lại ấn tượng cho đời sau qua các
công trình điêu khắc. Đặc biệt nhất là tượng Nhân Sư (Sphinx) hùng vĩ ở gần Kim tự tháp
Khephren. Bức tượng mình sư tử với gương mặt Khephren cao hơn 20m này có lẽ muốn thể hiện
Khephren là chúa tể với trí khôn của con người và sức mạnh của sư tử.

2
- Khoa học tự nhiên:
Về thiên văn: người Ai Cập cổ đã vẽ được bản đồ sao, họ đã xác định 12 cung hoàng đạo và
sao Thuỷ, Kim, Hoả, Mộc, Thổ. Người Ai Cập cổ làm ra lịch dựa vào sự quan sát sao Lang (Sirius).
Một năm của họ có 365 ngày, đó là khoảng cách giữa hai lần họ thấy sao Lang xuất hiện đúng
đường chân trời. Họ chia một năm làm 3 mùa, mỗi mùa có 4 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Năm
ngày còn lại được xếp vào cuối năm làm ngày lễ. Để chia thời gian trong ngày, họ đã chế ra đồng
hồ mặt trời và đồng hồ nước.
Về toán học: do yêu cầu làm thuỷ lợi và xây dựng nên kiến thức toán học của người Ai Cập
cổ cũng sớm được chú ý phát triển. Họ dùng hệ đếm cơ số 10. Họ rất thành thạo các phép tính
cộng trừ, còn khi cần nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng trừ nhiều lần.
Về hình học: họ đã tính được diện tích của các hình hình học đơn giản; đã biết trong một tam
giác vuông thì bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông. Pi của họ tính
= 3,14.
Về Y học: người Ai Cập cổ đã chia ra các chuyên khoa như khoa nội, ngoại, mắt, răng, dạ
dày... Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc.
* Giới thiệu về Kim tự tháp:
Kim tự tháp là những ngôi mộ của các vua Ai Cập thuộc vương triều III và vương triều IV
thời Cổ vương quốc. Các ngôi mộ ấy được xây ở vùng sa mạc ở Tây Nam Cairô ngày nay.
Kim tự tháp được bắt đầu xây dựng từ thời vua Giêde (Djeser), vua đầu tiên của vương triều
III, vương triều đầu tiên của thời Cổ vương quốc. Đây là một ngôi tháp có bậc cao 60m, đáy là
một hình chữ nhật dài 120m, rộng 106m. Xung quanh tháp Giêde có đền thờ và mộ những thành
viên trong gia đình và những người thân cận. Toàn bộ khu lăng này được bao bọc bởi một vòng
tường xây bằng đá vôi. Thời kì Kim tự tháp được xây dựng nhiều nhất và đồ sộ nhất là thời vương
triều IV. Vua đầu tiên của vương triều này là Xnêphru, đã xây cho mình hai Kim tự tháp, cái thứ
nhất cao 36,5m; cái thứ hai cao 99m. Các vua kế tiếp như Kêốp, Kêphren, Mikêrin đều xây dựng
những Kim tự tháp rất lớn: Kim tự tháp Kêốp (tên Ai Cập) là Hufu cao 146,5m; Kim tự tháp
Kêphren cao 137m; Kim tự tháp Mikêrin cao 66m.
Trong số các Kim tự tháp ở Ai Cập cao lớn nhất, tiêu biểu nhất là Kim tự tháp của Kêốp,
con của Xnêphru. Kim tự tháp Kêốp xây thành hình thấp chóp, đáy là một hình vuông mỗi cạnh
230m, bốn mặt là những hình tam giác ngoảnh về bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Toàn bộ Kim
tự tháp được xây bằng những tảng đá vôi mài nhẵn, mỗi tảng nặng 2,5 tấn và có tảng nặng 30 tấn.
Để xây Kim tự tháp này, người ta đã dùng đến 2300000 tảng đá với một khối lượng là 2408000m3.
Phương pháp xây Kim tự tháp là ghép các tảng đá được mài nhẵn với nhau chứ không dùng vữa,
thế mà các mạch ghép kín đến mức một lá kim loại mỏng cũng không thể lách qua được. Ở mặt
phía Bắc của Kim tự tháp Kêốp, cách mặt đất hơn 13m, có một cái cửa thông với hầm mộ, Kim tự
tháp Kêốp có hai hầm mộ: một hầm mộ nằm ở sâu 30m dưới lòng đất và một hầm mộ ở giữa Kim
tự tháp cách mặt đất 40m. Người ta cho rằng theo thiết kế ban đầu, hầm mộ ở sâu dưới đất, nhưng
khi đã làm xong thì Kêốp thay đổi ý kiến, bắt phải xây ở trên cao. Hơn 2000 năm sau, nhà sử học
Hy Lạp Hêrôđôt đến Ai Cập còn được nghe cư dân ở đây kể lại quá trình xây Kim tự tháp. Hêrôdôt
cho biết, sau khi quyết định xây Kim tự tháp, Kêốp đã huy động toàn thể nhân dân lao động trong

3
nước đến công trường làm việc. Họ được tổ chức thành từng đội gần 100000 người, cứ 3 tháng
thì thay phiên một lần. Kim tự tháp được xây ở tả ngạn sông Nin, nhưng nơi khai thác đá lại ở hữu
ngạn. Vì vậy, người ta phải dùng thuyền chở đá từ nơi khai thác đến xây Kim tự tháp. Từ bến đá
đến khu lồng mộ, người ta phải xây một con đường bằng những tảng đá mài nhẵn, dài hơn 900m,
rộng 18m và chỗ cao nhất là 15m. Chỉ riêng việc xây con đường này đã mất 10 năm. Từ đây, người
ta để đá lên xe trượt rồi dùng người hoặc bò kéo để chở đá đến công trường. Không kể thời gian
làm đường và hầm mộ dưới đất, việc xây Kim tự tháp đã kéo dài 20 năm mới hoàn thành.
Việc xây dựng Kim tự tháp, như Hêrôđôt nói, "đã đem lại cho nhân dân Ai Cập cổ đại không
biết bao nhiêu tai họa". Nhưng nhân dân Ai Cập cổ đại, bằng bàn tay và khối óc của mình, đã để
lại cho nền văn minh nhân loại những công trình kiến trúc vô giá.
Trải qua gần 5000 năm, các Kim tự tháp hùng vĩ vẫn vững ở vùng sa mạc Ai Cập bất chấp
thời gian và mưa nắng. Và cũng chính vì vậy, từ thời cổ đại, người ta đã xếp Kim tự tháp Kêốp là
kì quan số một trong bảy kì quan thế giới. Đến nay, trong bảy kì quan ấy, cũng chỉ còn lại mỗi
Kim tự tháp mà thôi.
Câu 2: Trình bày hiểu biết về bộ luật Hammurabi của nền văn minh Lưỡng Hà cổ đại?
* Nội dung chính:
Về cơ cấu, bộ luật Hammurabi bao gồm gần 300 phần được cấu kết kỹ càng hơn bất kỳ bộ
luật nào trước đó mà chúng ta được biết, bao gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và
phần kết luận.
+ Phần mở đầu của bộ luật khẳng định rằng đất nước Babilon là một vương quốc do các thần
linh tạo ra. Và chính các thần linh này đã trao đất nước cho vua Hammurabi để thống trị, làm cho
đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Hammurabi kể công lao của mình đối với đất nước: “vì hạnh
phúc của loài người, thần Anu (thần Trời) và thần Enlin (thần Đất) đã ra lệnh cho trẫm, Hammurabi
một vị vua quang minh và ngoan đạo, phát huy chính nghĩa ở đời, diệt trừ những kẻ gian ác không
tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần
Samát (thần Mặt Trời, ánh sáng và xét xử), soi đến dân đen, tỏ ánh sáng khắp mặt đất”. Vượt ra
khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của bộ luật được thể hiện ngay ở mục đích ban hành luật “để
cho người mạnh không hà hiếp kẻ yếu, để cho những người cô quả có chỗ nương tựa ở thành
Babilon, nơi mà thủ lĩnh của nó được thần Anu và thần Enlin khen ngợi, ở đền Exajin mà nền
móng của nó lâu bền cùng với trời đất, để cho tòa án trong nước tiện việc xét xử, để cho sự tuyên
án trong nước tiện việc quyết định, để cho những kẻ bị thiệt thòi được trình bày chính nghĩa, trẫm
khắc những lời vàng ngọc của trẫm lên cột đá của trẫm trước bức tượng của trẫm cũng tức là bức
tượng của một vị vua công bằng”. Đây là giá trị nhân văn cao cả của bộ luật mà không phải tất cả
các bộ luật thời cổ đại ở phương Đông đều có được.
+ Phần nội dung chứa đựng 282 điều luật – đây là phần chủ yếu của bộ luật. Nội dung của
bộ luật chưa phân chia thành từng ngành luật riêng biệt, nhưng tác giả của bộ luật đã có ý thức sắp
xếp các điều khoản ra từng nhóm riêng theo nội dung của chúng. Phần nội dung, bộ luật tập trung
điều chỉnh bốn lĩnh vực chủ yếu là dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình và tố tụng nhưng không có
sự tách rời giữa các lĩnh vực. Các qui phạm của luật Hammurabi cũng giống các bộ luật khác ở
phương Đông là mang tính hàm hỗn, các điều luật đều kèm theo chế tài. Ở mỗi nội dung của điều

4
luật đều chứa đựng những điểm tiến bộ và hạn chế so với luật pháp của các quốc gia cổ đại khác.
+ Trong phần kết luận, Hammurabi đề cao công lao của mình trước nhân dân, kêu gọi những
ông vua kế tục đền ơn và thực hiện những điều luật của Hammurabi: “Đây là pháp luật do đức vua
Hammurabi bách thắng đặt ra để đem lại hạnh phúc cho chân chính và đặt nền thống trị nhân từ
trong nước”. “Từ nay đến ngàn đời sau, các vua trong nước phải tuân theo những lời chính nghĩa
của trẫm đã khắc trên cột đá của trẫm, không được thay đổi việc xét xử do trẫm đã quyết
định”. Đồng thời, Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và có ý định hủy
bỏ bộ luật. Điều đó phần nào chứng tỏ vai trò to lớn của bộ luật này đối với sự phát triển toàn thịnh
của đất nước Lưỡng Hà thời Babylonia.
* Đánh giá về bộ luật:
- Ưu điểm:
+ Về dân sự:
Những điểm tiến bộ, đặc sắc nhất của Bộ luật này chính là các quy định về dân sự. Bộ luật
đã đặc biệt chú ý điều chỉnh quan hệ hợp đồng, vì đây là quan hệ phổ biến ở xã hội Lưỡng Hà cổ
đại, có nhiều quy định không những tiến bộ về nội dung, mà còn chặt chẽ về kĩ thuật lập pháp. Về
chế định hợp đồng, Luật quy định ba điều kiện bắt buộc đối với hợp đồng mua bán:
• Thứ nhất, người bán phải là chủ thực sự,
• Thứ hai, tài sản phải có giá trị sử dụng,
• Thứ ba, phải có người làm chứng.
Bộ luật cũng quy định các điều khoản lĩnh canh ruộng đất. Đối với ruộng, người lĩnh canh
nhận mỗi mùa từ 1/3 - 1/2 số sản phẩm thu hoạch. Đối với vườn được nhận 2/3 số sản phẩm thu
hoạch. Điểm tiến bộ hơn nữa là luật đã quy định mức lãi suất đối với hợp đồng vay nợ. Cụ thể luật
quy định mức lãi suất đối với tiền là 1/5, vay thóc là 1/3.
Về chế định thừa kế tài sản, Luật Hammurabi phân làm hai loại thừa kế: thừa kế theo pháp
luật và thừa kế theo di chúc.
Thừa kế theo pháp luật: Nếu người cho thừa kế không để lại di chúc thì tài sản được chuyển
đến cho những người có quyền đối với tài sản đó theo luật định. Thời gian đầu tài sản tập trung ở
dòng họ và dần dần được chuyển về gia đình có quyền thừa kế và thành tài sản chung của gia đình.
Đó là cách thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc: Bộ luật đã hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như quy định
người cha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con mới phạm lỗi lần đầu và lỗi
không nghiêm trọng. Con trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau.
+ Về hôn nhân gia đình:
Theo xu hướng củng cố địa vị của người chồng, người cha nên trách nhiệm và nghĩa vụ
thuộc về người vợ và con cái. Nếu không có con, người chồng có quyền ly dị, bán vợ hoặc lấy vợ
lẽ. Nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình của vợ ném xuống sông
cho chết. Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà thôi. Điểm tiến bộ là
đã có quy định kết hôn phải có giấy tờ, ở mức độ nào đó có quy định bảo vệ người phụ nữ (người
vợ có quyền ly hôn khi người chồng đi khỏi nhà không có lý do, chồng có quan hệ ngoại tình hay
vu cáo vợ ngoại tình). Có một quy định rất nhân đạo nếu đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là: "Người

5
chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi."
+ Về hình sự:
Lĩnh vực Hình sự là lĩnh vực thể hiện rõ nhất tính giai cấp và sự bất bình đẳng. Tàn dư của
xã hội nguyên thủy rất rõ là nguyên tắc trả thù ngang bằng, thậm chí còn cho phép trừng trị cả
những người không liên quan đến tội phạm. Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên
thực tế để áp dụng trách nhiệm pháp lý, chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm. Thí dụ, Điều 38 quy định: " Nếu thợ xây nhà mà xây không đảm bảo,
nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết." hoặc Điều 39: "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà
chết thì con của người thợ xây cũng phải chết ".
+ Về tố tụng:
Đó là thủ tục giải quyết các vụ án. Bộ luật đã có nhiều quy định về thủ tục bắt giữ, giam
cầm, quy định những nguyên tắc khi xét xử như xét xử phải công khai, phải coi trọng chứng cứ,
phán quyết phải được thi hành nghiêm minh... Có hai quy định đặc thù về tố tụng của Bộ luật này:
• Về trách nhiệm của thẩm phán: "Nếu thẩm phán xử một vụ kiện mà ra phán quyết
bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn bản là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải
trả 12 lần giá trị tiền phạt mà ông ta đã yêu cầu bồi thường trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị
buộc phải rời khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn và không bao giờ có thể trở thành thẩm phán lần nữa".
Quy định về trách nhiệm của thẩm phán trong việc xét xử như quy định trên trong một xã hội thể
hiện tính giai cấp sâu sắc quả thật là một sự tiến bộ. Qua đó cho thấy, thời kỳ này rất coi trọng
công tác xét xử, rất coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của thẩm phán. Sử sách đã ca ngợi
rằng ở Lưỡng Hà cổ đại, tinh thần thượng tôn luật pháp và thói quen cầu viện công lý đã ăn sâu
vào tác phong sinh hoạt của người dân nơi đây.
• Về hình thức xét xử: Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một
dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu nhà của
bị đơn. Nhưng ngược lại, nếu dòng sông chứng minh rằng bị đơn là không có tội, tức là anh ta còn
sống sót, thì nguyên đơn sẽ bị giết chết, và bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn".
- Nhược điểm:
Bên cạnh những tiến bộ, đúng đắn, về hình thức bộ luật còn có một số hạn chế nhất định
như: Luật chưa có tính khái quát cao, các quy định của luật chỉ là sự mô tả các hành vi cụ thể; Các
điều khoản thường được quy định dài dòng, các câu chữ trùng lặp với nhau; Đa số các điều khoản
của bộ luật đều liên quan đến hình luật, rất ít điều khoản quy định về các quan hệ dân sự hoặc nếu
có thì cũng bị hình sự hóa. Trong bộ luật này, chúng ta thấy hầu hết các tội đều quy về tội tử hình,
chưa tạo điều kiện cho những người phạm tội có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở lại hoàn lương.
Câu 3: Trình bày đặc điểm nghệ thuật Trung Quốc thời kỳ cổ - trung đại? Nêu hiểu
biết về Vạn Lý Trường Thành và Tử Cấm Thành?
* Đặc điểm nghệ thuật Trung Quốc thời kỳ cổ - trung đại:
Trung Quốc là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ - trung đại. Văn
minh Trung Hoa thời cổ - trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương Đông.
- Chữ viết, văn học, sử học:
Chữ viết: Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa,

