Chương 4
TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ TÂY ÂU THỜI KỲ CẬN – HIỆN ĐẠI
Mục tiêu của Chương 4: sau khi học xong chương này người học phải đạt
được những mục tiêu cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ, cụ thể dưới đây:
- Về kiến thức:
+ Nhận thức được điều kiện kinh tế - xã hội của phương Tây thời kỳ cận -
hiện đại; ảnh hưởng của phương thức sản xuất bản chủ nghĩa, của công
nghiệp hóa đến đời sống con người nói chung và cách thức tư duy về quản lý.
+ Nắm bắt được đặc điểm tư tưởng quản lý của phương Tây thời kỳ cận -
hiện đại;
+ Nắm bắt được cách tiếp cận, quan niệm về quản lý, các tác giả tiêu biểu
tưởng quản của các học thuyết: quản theo khoa học, quản hành
chính, quản tổ chức, quản hành vi học thuyết quản tổng hợp thích
nghi.
- Về kỹ năng:
+ Hình thành được kỹ năng phân tích, kỹ năng so sánh điều kiện kinh tế -
hội, phương thức duy giữa người phương Đông phương Tây qua một
số đại biểu tiêu biểu.
+ kỹ năng phản biện về tưởng quản của phương Tây thời kỳ cận
- hiện đại;
+ Biết vận dụng những tinh hoa t những ởng quản của phương
Tây thời kỳ cận - hiện đại phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội đương đại.
- Về thái độ:
+ nhận thức đúng về các tưởng quản của phương Tây thời kỳ
cận - hiện đại qua một số đại biểu tiêu biểu.
+ Tôn trọng và phát huy những giá trị tinh hoa trong tư tưởng quản lý của
phương Tây thời kỳ cận - hiện đại phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu
74
làm cơ sở khoa học, tiền đề của công việc chuyên môn trong tương lai.
4.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Quản với cách một khoa học riêng biệt sản phẩm của hội công
nghiệp. Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc của khoa học này từ
các tác phẩm của Freadrich Winslow Taylor đồng nghiệp của ông trong
phong trào quản khoa học, đầu thế kỷ XX. Từ đó, xuất hiện nhiều thuyết
quản khác nhau, phát triển từ nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm
học, hội học, kinh tế học, chính trị học, toán học v.v... Những thuyết này
đã cố gắng giải thích các khía cạnh khác nhau trong quản lý và đề xuất những cơ
sở luận giúp nhà quản sử dụng một cách hợp các điều kiện sẵn trong
một tổ chức, nhằm hoàn thành các mục tiêu với hiệu quả cao. Trước khi đi sâu
giới thiệu các trường phái tưởng quản chủ yếu của hội công nghiệp,
chúng ta hãy điểm qua hoàn cảnh ra đời quá trình hình thành của ngành khoa
học này trước thế kỷ XX.
Sự ra đời phát triển của phương thức sản xuất bản chủ nghĩa,
bên cạnh những hạn chế cố hữu của nó, đã đem lại một cuộc cách mạng trong
việc tổ chức sản xuất. Cách mạng công nghiệp xuất hiện làm cho qtrình sản
xuấthội snhảy vọt về chất. Sxuất hiện và mở rộng y móc, băng tải
trong sản xuất chúng ta thường gọi thời khí hoá hay công nghiệp
hoá.
Thực tiễn sản xuất hội đã thay đổi trong khi đó, cách nghĩ, cách
làm của chủ thể của nền sản xuất đó vẫn còn đang đi theo lối mòn cũ, kinh
nghiệm. Người lao động mang nặng tâm lý tiểu nông, tùy tiện, ý thức kỉ luật lao
động thấp. Giới chủ quản lý, điều hành sản xuất một cách tùy tiện với phương
thúc cơ bản là dung bạo lực để cưỡng bức người lao động.
Mâu thuẫn, xung đột giữa người lao động và giới chủ ngày càng gay gắt.
Mâu thuẫn này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nh trạng giảm sút năng suất lao
động, mất ổn định không những ở khu vực sản xuất mà còn cả ở lĩnh vực xã hội.
75
Tình trạng này ng yêu cầu các nhà quản lý, giới chủ phải tìm ra phương thức
quản mới nhằm ổn định và tăng trưởng trong sản xuất.
Thực tiễn sản xuất thay đổi đã đặt ra yêu cầu cần phải phương thức,
cách thức quản lý mới mang tính khoa học.
Khoa họcthuật dựa trên cơ học cổ điển của Newton phát triển mạnh đã
tạo ra phương pháp tư duy máy c, siêu hình. Trong khi đó, khoa học hội
nhân văn chưa sự phát triển đủ mạnh để thể ứng dụng. Sự phát triển
khoa học thuật này một tiền đề quan trọng tạo nên tư duy khoa học mang
tính cơ giới, máy móc trong quản lý.
4.2. Đặc điểm cơ bản của tư tưởng quản lý
Các tưởng quản Tây Âu thời Cận - Hiện đại ra đời dựa trên nền
tảng kinh tế - hội gắn với phương thức sản xuất bản chủ nghĩa, thời
đầu của q trình công nghiệp hoá. Thời đó, những công nhân lần đầu rời
khỏi sản xuất nông nghiệp vào các nhà máy xí nghiệp nên tnh đ lao đng công
nghip n hạn chế, ý thức kỉ luật chưa cao.tưởng quản thời kỳ này chủ
yếu quan niệm con người con người thụ động con người chỉ biết tuân thủ
các mệnh lệnh, các thao tác được thiết kế phù hợp với kỹ thuật. Do đó, quản
được thiết kế theo kiểu ông chủ. Giới chủ quản thường dùng những quy định
chặt chẽ, hà khắc và bạo lực để cưỡng bức người lao động.
tưởng quản thời kỳ này mang nặng nh cơ giới, máy c nhưng có
tính thực tiễn cao, dễ ứng dụng vào thực tiễn, giá trị lớn đối với đương thời.
Quản được đồng nhất với quá trình điều hành hay được đồng nhất với quá
trình tổ chức thực hiện kế hoạch. Quản được thiết kế tuân theo nguyên hợp
lý khoa học.
Khác với các tưởng quản của phương Đông phương Tây thời
cổ - Trung đại mang tính trừu tượng hóa khái quát hóa cao nghiêng về
quản (quản hội), tưởng quản Tây Âu thời Cận Hiện đại
sự kết hợp giữa luận thực tiễn nghiêng về quản vi (quản tổ
chức, đặc biệt là con người trong tổ chức).
76
Trong sự vận động phát triển, tưởng quản thời kỳ này tính kế
thừa các tưởng quản trước đó nhưng tính vượt trước sự đa dạng,
phong phú về quan niệm góc độ tiếp cận, như quản theo khoa học, quản lý
hành chính, quản tổ chức, quản hành vi đến các học thuyết quản tổng
hợp thích nghi. Những tiếp cận quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh
đa dạng và phong phú về quản thời này, góp phần cho việc nhận thức ngày
càng đầy đủ và đúng đắn hơn về quản lý. Sở dĩ có những sự khác nhau trong tiếp
cận quan niệm như vậy do quản lĩnh vực chứa đựng nội dung rộng
lớn, đa dạng, phức tạp luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của những điều
kiện kinh tế - hội; nhu cầu thực tiễn quản đặt ra các giai đoạn lịch sử
là không giống nhau, vì vậy, đòi hỏi phải có những quan niệm, lý thuyết về quản
lý làm cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn cũng khác nhau.
4.3. Các học thuyết và tác giả tiêu biểu
Vấn đề quản như thế nào để đạt được các mục tiêu chung, trên thực tế
đã được đề ra ngay từ khi con người biết hợp tác với nhau trong một tổ chức. Từ
những tổ chức ban đầu với mục đích bảo vệ lẫn nhau trước sự tấn công của kẻ
thù hay của thiên nhiên, dần dần đã hình thành các tổ chức kinh tế, chính trị, tôn
giáo và các tổ chức khác trong hoạt động xã hội.
Trước thế kỷ XX, Phương Đông cổ đại xuất hiện nhiều tưởng, học
thuyết về quản lý. Nhìn chung, những tưởng đó chủ yếu tập trung vào việc
quản lý - cai trị các tổ chức chính quyền, quân sự hoặc tôn giáo, chưa đề cập đến
các tổ chức kinh tế. Phương Tây, các tưởng, phương pháp quản được áp
dụng trong kinh tế bắt đầu manh nha vào khoảng thế kỷ XVI, khi hoạt động
thương mại đã phát triển khá mạnh. Trước đó, vào thời trung cổ, các thuyết
quản chưa phát triển đơn vị sản xuất kinh doanh lúc đó chỉ đóng khung
trong gia đình, theo "cha truyền con nối". Mỗi gia đình một đơn vị sản xuất,
kinh doanh bằng kĩ năng và thương hiệu riêng của mình. Dần dần, khi hoạt động
sản xuất, kinh doanh phát triển cao hơn đã làm xuất hiện nhu cầu đầu tiên về
quản lý, đó sự ghi chép lại các hoạt động giao dịch, kinh doanh. Để thỏa mãn
77
nhu cầu đó, Paciolo đề ra phương pháp kế toán kép vào năm 1494. Tuy nhiên,
sự quan tâm đến quản lý cũng chỉ dừng lại ở đó.
Đến thế kỷ XVIII, với những phát minh mới về khoa học kỹ thuật, tạo nên
cuộc cách mạng trong công nghiệp, đặc biệt việc ứng dụng động lực máy hơi
nước, thì việc tổ chức sản xuất đã thoát ra khỏi phạm vi gia đình để chuyển đến
một bối cảnh mới, đó các nhà máy. Khác với việc tổ chức sản xuất tại gia
đình, hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các nhà máy lớn hơn nhiều, với số
lượng máy móc nhiều hơn, công nhân đông hơn không quan hệ ruột thịt
với nhau. Trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, chủ nhân của
nhà máy tự điều hành hoạt động sản xuất cũng không sự phân biệt giữa
chức năng người sở hữu chức năng người quản lý. Khía cạnh kỹ thuật sản
xuất được chú ý nhiều hơn so với các nội dung của quản lý và hoạt động quản lý
chỉ như là một công việc bình thường của người chủ, không đáng quan tâm. Đến
năm 1976, Mathew R.Boulton và James Watts thành lập nhà máy Soho, trong đó
các chi tiết của sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, mọi chi phí được ghi chép
ràng vào sổ sách, nhờ đó việc quản đã được cải thiện. Tuy nhiên, sự cải thiện
ấy cũng chỉ trong phạm vi quản lý khâu sản xuất và kế toán mà thôi.
Sự phát triển không ngừng của sản xuất dần làm cho nhu cầu tập trung
vốn để sản xuất ngày càng trở nên bức thiết. Nhu cầu đó dẫn đến việc áp dụng
ngày càng nhiều các hình thức tổ chức công ty kinh doanh, đặc biệt là công ty cổ
phần (corporation) như một đơn vị pháp nhân riêng, thể bán cổ phần
cho nhiều người để huy động một số vốn lớn. Giữa thế kỉ XIX, với sự phát triển
của khoa học - thuật, việc mở rộng qui sản xuất càng được thúc đẩy hơn
nữa một số nước Châu Âu luật pháp đã cho phép giới kinh doanh sử dụng
hình thức này. nhiều người góp vốn dẫn đến nhiều chủ sở hữu không thể
trực tiếp tham gia quản lý, nên phải sự phân biệt hơn giữa chức năng chủ
sở hữu chức năng người quản lý. Sự phân biệt này đã tạo điều kiện cho các
nhà nghiên cứu tập trung vào các hoạt động quản lý một cách mạnh mẽ.
78