
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 489 - THÁNG 4 - SỐ 2 - 2020
45
OncoTargets and Therapy, 2017. 10: p. 1039–1047.
4. Ulase D, S.H., Hans‐Michael Behrens, Sandra
Krüger, and Christoph Röcken, Prognostic significance
of tumour budding assessed in gastric carcinoma
according to the criteria of the International Tumour
Budding Consensus Conference. Histopathology,
2020. 76(3): p. 433-446.
5. Kemi N, E.M., Ikäläinen J, Karttunen TJ,
Kauppila JH, Tumor budding and prognosis in
gastric adenocarcinoma. Am. J. Surg Pathol, 2019.
43(2): p. 229– 234.
6. Viktor H. Koelzer, R.L., Inti Zlobec, and Alessandro
Lugli, Tumor Budding in Upper Gastrointestinal
Carcinomas. Front Oncol, 2014. 4: p. 21.
7. Olsen S, J.L., Fields RC, Yan Y, Nalbantoglu I,
Tumor budding in intestinal-type gastric
adenocarcinoma is associated with nodal
metastasis and recurrence. . Hum Pathol, 2017.
68: p. 26–33.
8. Guo Y.X, Z.-Z.Z., Gang Zhao, and En-Hao Zhao,
Prognostic and pathological impact of tumor
budding in gastric cancer: A systematic review and
meta-analysis. World journal of gastrointestinal
oncology, 2019. 11(10): p. 898-908.
KIẾN THỨC SƠ CỨU BỎNG VÀ NHU CẦU ĐƯỢC CUNG CẤP
THÔNG TIN CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ DƯỚI 6 TUỔI ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH NĂM 2019
Nguyễn Thị Như Tú1, Võ Hồng Phong2,
Trần Thị Xuân Tâm2, Phan Trọng Lân3
TÓM TẮT12
Kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 61 người
chăm sóc trẻ điều trị bỏng từ tháng 7/2019-12/2019
được tiến hành tại Khoa Ngoại chấn thương bỏng của
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cho thấy số người
có kiến thức sơ cứu bỏng xếp ở mức độ đạt còn thấp,
chỉ chiếm 54,1% đối tượng nghiên cứu. Trong đó, chỉ
có 6 người biết chính xác thời gian cần thiết để làm
mát vết bỏng bằng nước sạch, nước mát chiếm 9,8%.
Số người có thực hành sơ cứu bỏng ở mức độ đạt
chiếm 23%. Gần 1/3 đối tượng nghiên cứu chưa từng
nghe về cách sơ cứu bỏng ban đầu chiếm tỷ lệ 31,1%.
Trong số 42 người chăm sóc trẻ đã từng nghe về cách
sơ cứu bỏng ban đầu thì phần lớn nguồn thông tin
nhận từ internet chiếm 38,1%; Các nguồn thông tin
khác từ hàng xóm, bạn bè và người thân, chiếm các tỷ
lệ lần lượt là: 9,5%, 11,9% và 14,3%. 98,4% đối
tượng nghiên cứu mong muốn được cung cấp thông
tin về cách sơ cứu bỏng ban đầu. Từ kết quả nghiên
cứu trên chúng tôi nhận thấy cần thiết phải có
Chương trình can thiệp thông qua các Chương trình
truyền thông giáo dục sức khoẻ để cải thiện nâng cao
kiến thức cho cộng đồng về sơ cứu bỏng đặc biệt chú
trng đến giáo dục người dân sử dụng nước lạnh,
nước mát để sơ cứu ngay tại nhà và giáo dục thời gian
cần thiết cho việc làm mát vết bỏng là vô cùng quan
trng để hạn chế biến chứng, tổn thương sâu và
nhiễm trùng vết bỏng.
Từ khóa:
người chăm sóc trẻ, trẻ dưới 6 tuổi, sơ
cứu bỏng, tỉnh Bình Định
1Sở Y tế Bình Định
2 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
3Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Như Tú
Email: nhutu66@gmail.com
Ngày nhận bài: 6.2.2020
Ngày phản biện khoa hc: 1.4.2020
Ngày duyệt bài: 10.4.2020
SUMMARY
THE KNOWLEDGE ON BURNING FIRST-AID
AND NEEDS TO BE PROVIDED
INFORMATION FOR THE CAREGIVERS OF
CHILDREN UNDER 6 YEARS OLD TREATED
AT BINH DINH HOSPITAL, 2019
The results of a cross-sectional study on 61
caregivers of childre treated burns from July to
December, 2019 conducted at the Traumatic Surgery
and Burning Department in Binh Dinh General Hospital
showed that the number of people with knowledge on
burning first-aid which ranked at attained level was
still low, accounted for only 54.1% of subjects. Among
them, only 5 people who know exactly the time
required to cool burns with clean water, cool water
accounted for 8.2%. Nearly one third of the subjects
had never heard of the first aid method at 31.1%.
Among 42 child caregivers who have heard about first
aid, the majority of information received from the
internet accounted for 38.1%; Other sources from
neighbors, friends and relatives, accounting for 9.5%,
11.9% and 14.3% respectively. 98.4% of the subjects
wanted to provide informations on burning first-aid.
From the results, we realized that it was necessary to
have an intervention program through the Health
Education Communication Program to improve the
knowledge of the community on burning first-aid
specially focus on education people using clean water,
cool water for burning first-aid at home and educate
the time needed for cooling burns was extremely
important to limit complications, deep damages and
burn infections.
Key words:
Child caregivers, children under
years old, burning first – aid, Binh Dinh province.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bỏng là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng trên
toàn cầu, hàng năm có khoảng 180.000 ca tử
vong do bỏng. Phần lớn các trường hợp này xảy

vietnam medical journal n02 - APRIL - 2020
46
ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và
gần 2/3 xảy ra ở các khu vực Châu Phi và Đông
Nam Á [10].
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Thống [5]
về bỏng ở trẻ em được điều trị tại Bệnh viện
Saint Paul, Hà Nội trong 5 năm (2010-2014) cho
thấy lứa tuổi hay gặp là trẻ 1-3 tuổi chiếm
54,5%. Tuy nhiên số trẻ không được sơ cứu
hoặc xử trí cấp cứu ban đầu chưa đúng theo
khuyến cáo chiếm tỷ lệ cao là 68,5%.
Việc sơ cứu ngay lập tức và đúng cách làm
giảm tình trạng bệnh và biến chứng [8]. Kết quả
nghiên cứu của Alomar [6] cho thấy hiểu biết về
sơ cứu bỏng của những người chăm sóc cho trẻ
khi bị bỏng rất hạn chế và h đã áp dụng nhiều
biện pháp sơ cứu không khoa hc. Tại Việt Nam,
các trường hợp bỏng nặng xảy ra phải nhập viện
điều trị, nguyên nhân đều do người dân thiếu
kiến thức đúng về sơ cứu bỏng và thiếu sự
hướng dẫn đúng các biện pháp phòng tránh [4].
Nghiên cứu của một số tác giả tại Việt Nam và
một số nước cũng cho thấy sự hạn chế về kiến
thức trong sơ cứu bỏng của cả người lớn và trẻ
em là vấn đề rất cần phải xem xét, cải thiện [1],
[7], [9].
Người dân chưa có kiến thức đúng, thái độ
tích cực trong sơ cứu bỏng có thể do nhiều yếu
tố tác động, một trong số đó là do thiếu thông
tin hoặc là do thiếu hướng dẫn của ngành y tế
[4]. Hiện nay nguồn cung cấp thông tin về sơ
cứu bỏng cho người dân theo thống kê chủ yếu
là từ các trường Y, trên internet hoặc qua sách
báo [2].
Để có cơ sở khoa hc tiến hành các biện pháp
cải thiện tình trạng trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu về thực trạng kiến thức sơ cứu bỏng
và nguồn cung cấp thông tin cho những người
chăm sóc trẻ dưới 6 tuổi điều trị tại Bệnh viện đa
khoa tỉnh Bình Định năm 2019.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Người chăm sóc bệnh nhân bỏng là trẻ em
dưới 6 tuổi;
Tiêu chuẩn chn: Người chăm sóc trẻ tỉnh táo
hoàn toàn, đủ khả năng tiếp xúc và trả lời các câu
hỏi (không bị câm điếc, mắc các bệnh tâm
thần...). Tự nguyện, đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Thời gian nghiên cứu: 07 tháng từ
01/6/2019 đến 31/12/2019.
2.3. Địa điểm nghiên cứu: Tại Khoa Ngoại
Chấn thương bỏng bệnh viện tỉnh Bình Định
2.4. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô
tả ngang.
2.5. Cỡ mẫu nghiên cứu: Cỡ mẫu toàn bộ.
2.6. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu học:
- Tuổi: lấy năm 2019 trừ đi năm sinh, tính
tuổi trung bình
- Giới: tỷ lệ % nam, nữ
- Dân tộc: tỷ lệ % dân tộc kinh, thiểu số
- Hc vấn: tỷ lệ % chưa đến trường, cấp 1, 2,
3, trung cấp, cao đẳng, đai hc và trên đại hc
- Nghề nghiệp: tỷ lệ % sinh viên, hc sinh,
nông dân, công nhân, công/viên chức, nội trợ,
thất nghiệp, hưu trí, khác
- Điều kiện kinh tế: tỷ lệ % giàu, khá, trung
bình, cận nghèo, nghèo
- Quan hệ với BN: tỷ lệ % cha/mẹ, ông/bà,
anh/chị, khác
- Số thành viên trong HGĐ: tính số người
trung bình của HGĐ
Kiến thức sơ cứu bỏng của người chăm sóc
trẻ điều trị bỏng:
- Biết nhận diện các nguyên nhân có thể làm
cho trẻ bị bỏng: tỷ lệ % trả lời nước sôi, thức ăn
nóng, dầu mỡ sôi, đồ nhà bếp…
- Biết nhận diện các hoàn cảnh có thể làm
cho trẻ bị bỏng: tỷ lệ % trả lời bếp lửa, ở nhà
một mình, khu vực nấu ăn, gần phích nước…
- Các việc cần làm ngay lập tức ngay sau khi
bỏng: tỷ lệ % trả lời đưa trẻ đến cơ sở y tế, làm
mát vùng bỏng và không biết
- Cách làm mát vùng bỏng: Tỷ lệ % trả lời
dùng đá/ nước đá chườm, kem đánh răng, dầu
mỡ, mật ong, lá dâm bụt, nước mắm, trứng gà,
dầu nhớt, khác
- Thời gian cần thiết để làm mát vùng bỏng
dưới vòi nước chảy: Tỷ lệ % trả lời dưới 20 phút,
20 phút và trên 20 phút
- Chất liệu thích hợp để bảo vệ, che chở vết
bỏng: Tỷ lệ % dùng bông thấm nước, gạc có sợi,
màng không dính và để trống
- Tháo bỏ quần/áo/đồng hồ tại vùng bỏng: Tỷ
lệ % đúng, sai
- Phải giữ ấm cho trẻ: Tỷ lệ % đúng, sai
- Tìm kiếm sự hỗ trợ của y tế sau sơ cứu: Tỷ
lệ % đúng, sai
Nguồn tiếp cận thông tin:
- Có từng nghe về sơ cứu bỏng: Tỷ lệ % có
nghe, chưa nghe
- Nguồn thông tin: tỷ lệ % sách báo, trường
hc, internet…
- Nhu cầu cung cấp thông tin: tỷ lệ % có nhu
cầu, không có
2.7. Nội dung nghiên cứu chính
- Mô tả các thông tin về dân số hc của người
chăm sóc trẻ;
- Đánh giá hiểu biết của người chăm sóc trẻ
về cách sơ cứu bỏng, bằng cách sử dung bộ câu

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 489 - THÁNG 4 - SỐ 2 - 2020
47
hỏi phỏng vấn trực tiếp trong ngày đầu khi BN
nhập viện;
- Đánh giá nhu cầu cần cung cấp thông tin sơ
cứu bỏng của người chăm sóc trẻ
2.8. Kỹ thuật thu thập thông tin và bộ
công cụ thu thập thông tin
Nghiên cứu thu thập thông tin bằng mẫu
phỏng vấn đối tượng nghiên cứu trực tiếp.
- Bộ công cụ nghiên cứu: Nhóm nghiên
cứu tự xây dựng trên cơ sở tham khảo các công
trình nghiên cứu của các tác giả Chirongoma
(2017), Alomar (2016), Kattan (2016), Fiandeiro
(2015) và Harvey (2011) để phỏng vấn trực tiếp
các ĐTNC,
2.9. Quy ước điểm số, cách tính điểm,
đánh giá kiến thức
+ Mỗi câu hỏi trong từng nội dung trả lời đúng
hoặc thực hiện đúng được tính tương ứng 1 điểm
nhân với hệ số, nếu trả lời sai không có điểm;
+ Cách xây dựng hệ số tùy thuộc vào mức
độ, ý nghĩa, tầm quan trng của nội dung, nhóm
nghiên cứu đã tự xây dựng hệ số cho bộ phiếu
khảo sát.
Biến số
Hệ số
Điểm
chuẩn
Cần phải làm mát vùng
bỏng ngay lập tức sau khi
tai nạn bỏng xảy ra
2
2
Đặt vùng bỏng dưới vòi
nước sạch cho chảy với tốc
độ nhẹ nhàng
2
2
Thời gian cần thiết đặt
vùng bỏng dưới vòi nước
sạch là 20 phút
3
3
Bào vệ vùng bỏng bằng
Cling film (màng dính) hoặc
băng sạch không dính,
không có sợi
1
3
Cởi bỏ ngay quần/áo/đồ
trang sức tại vùng bỏng
1
3
Giữ ấm cơ thể tránh hạ
thân nhiệt
1
3
Sau sơ cứu đưa trẻ đến cơ
sở y tế chuyên khoa
1
3
Tổng cộng:
11
Kiến thức được phân loại như sau:
+ Xếp loại đạt: Nếu tổng số điểm đạt từ 50%
tổng số điểm chuẩn trở lên
+ Xếp loại không đạt: Nếu tổng điểm đạt
dưới 50% tổng điểm chuẩn
Vì điểm chuẩn là 11 điểm nên kiến thức và
thực hành được xếp ở mức độ đạt nếu tổng số
điểm đạt từ 6 điểm trở lên và xếp không đạt nếu
dưới 6 điểm.
2.10. Sai số và các biện pháp khống chế
sai số
- Bộ công cụ được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu,
thống nhất và có sự cố vấn của các chuyên gia
về lĩnh vực y tế bỏng;
- Tiến hành điều tra thử nghiệm bộ câu hỏi
trước khi tiến hành điều tra;
- Điều tra viên và cán bộ giám sát sẽ được
tập huấn, giao nhiệm vụ cụ thể và được giám sát
khi thực hiện các hoạt động điều tra.
2.11. Phương pháp quản lý, xử lý và
phân tích số liệu
- Phiếu điều tra được kiểm tra, làm sạch, mã
hóa và nhập liệu bằng phần mềm EpiData và xử
lý số liệu trên phần mềm Stasta 14.00;
- Phân tích đơn biến để mô tả tần suất, tỷ lệ
phần trăm về kiến thức của người chăm sóc trẻ,
sự khác biệt coi là có ý nghĩa thống kê khi
p<0,05;
2.12. Đạo đức trong nghiên cứu.
- Đề cương nghiên cứu được phê duyệt và
thông qua Hội đồng xét duyệt đề cương của
Ngành Y tế trước khi triển khai;
- Các thông tin do đối tượng cung cấp được
cam kết giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích
của nghiên cứu;
- Việc khảo sát chỉ được thực hiện khi ĐTNC
tự nguyện, không ép buột.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông tin chung về người chăm sóc
nạn nhân bỏng là trẻ em
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của
người chăm sóc trẻ (n=61)
Đặc trưng
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Giới: Nam
Nữ
07
54
11,5
88,5
Dân tộc: Kinh
Dân tộc
57
04
93,4
6,6
Nơi sinh sống
Thành thị (phường, thị trấn)
Khác (nông thôn, miền núi,
hải đảo)
26
35
42,6
57,4
Nghề nghiệp: Nông dân
Công chức, viên chức, công nhân
Nội trợ
Khác (làm tóc, lái xe, kinh
doanh, hoc sinh)
20
10
21
10
32,8
16,4
34,4
16,4
Kinh tế hộ gia đình
Nghèo, cận nghèo
Bình thường
Khá
11
49
01
18,1
80,3
1,6
Nhận xét:
Trong số 61 người chăm sóc trẻ,
nữ giới chiếm đa số 88,5%, dân tộc Kinh là chủ

vietnam medical journal n02 - APRIL - 2020
48
yếu 93,4%; người chăm sóc sống ở nông thôn,
miền núi, hải đảo chiếm 57,4%, nội trợ chiếm
34,4%, nông dân chiếm 32,8%, kinh tế hộ gia
đình chỉ từ mức khá trở lên không có hộ gia đình
ở mức giàu, chiếm 1,6%.
3.2. Kiến thức của người chăm sóc trẻ về
tai nạn bỏng
Hình 3.1. Kiến thức về nhận diện nguy cơ
gây ra tai nạn bỏng (n=61)
Nhận xét:
Hầu hết những người chăm sóc
trẻ đều nhận biết được nguyên nhân gây ra tai
nạn bỏng là do nước sôi chiếm 93,4%, kế đến là
thức ăn nóng là 78,7%, thứ ba là lửa chiếm
70,2%, thứ tư là bô xe 67,2%, điện 54,1%, dầu
mỡ sôi 52,5%, do bàn là chiếm 49,2 %, đồ dùng
nhà bếp 32,8%; các nguyên nhân khác như: hoá
chất, côn trùng và ánh nắng, tỷ lệ nhận biết thấp
từ 11,5 – 26,2%
Hình 3.2. Kiến thức về nhận diện hoàn
cảnh gây ra tai nạn bỏng (n=61)
Nhận xét:
Những người chăm sóc trẻ nhận
biết được hoàn cảnh có thể gây ra tai nạn bỏng
là bếp lửa 75,4%, phích nước 70,5%, khu vực
nấu ăn 65,6%, trẻ ở nhà một mình 50,8%;
nguyên nhân: phòng tắm, xe máy, bàn ăn tỷ lệ
18-39,3%
Hình 3.3. Kiến thức về cách làm mát tại
vùng bỏng (n=61)
Nhận xét:
Hầu hết những người chăm sóc
trẻ đều biết ngay sau khi có tai nạn bỏng xảy ra
phải làm mát tại vùng trẻ bị bỏng chiếm tỷ lệ rất
cao 95,1%. Qua phỏng vấn 61 người chăm sóc
trẻ thì hơn một nửa đã trả lời đúng sẽ làm mát
vùng trẻ bị bỏng bằng cách đặt dưới vòi nước
sạch cho chảy với tốc độ nhẹ nhàng chiếm 59%;
tuy nhiên số người chăm sóc trẻ trả lời dùng đá
hoặc nước đá để chườm lên vị trí bỏng chiếm
26,2%; dùng dầu mỡ, kem đánh răng, trứng gà
bôi trực tiếp lên vùng bỏng lần lượt là: 6,6%,
4,9% và 3,3%.
Bảng 3.2. Kiến thức đúng về sơ cứu
bỏng của người chăm sóc trẻ (n=61)
Nội dung phỏng vấn và
trả lời đồng ý
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Điểm trung bình 6,1 ± 1,5; thấp nhất 3 điểm,
cao nhất 10 điểm, điểm chuẩn: 11
Cần phải làm mát vùng
bỏng ngay lập tức sau khi
tai nạn bỏng xảy ra (*)
58
95,1
Đặt vùng bỏng dưới vòi
nước sạch cho chảy với tốc
độ nhẹ nhàng (*)
36
59,0
Thời gian cần thiết đặt
vùng bỏng dưới vòi nước
sạch là 20 phút (**)
05
8,2
Bào vệ vùng bỏng bằng
Cling film (màng dính) hoặc
băng sạch không dính,
không có sợi
00
0,0
Cởi bỏ ngay quần/áo/đồ
trang sức tại vùng bỏng
57
93,4
Giữ ấm cơ thể tránh hạ
thân nhiệt
52
85,2
Sau sơ cứu đưa trẻ đến cơ
sở y tế chuyên khoa
57
100
Nhận xét:
Trong số 61 người chăm sóc trẻ,
có 36 người biết sử dụng nước sạch để làm mát
vùng bỏng chiếm 59%; nhưng số người trả lời

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 489 - THÁNG 4 - SỐ 2 - 2020
49
chính xác thời gian cần thiết để làm mát vùng
bỏng bằng nước sạch là 20 phút chỉ chiếm 8,2%
Hình 3.4. Mức độ kiến thức sơ cứu bỏng
của người chăm sóc trẻ (n=61)
Nhận xét:
Hơn 50% người chăm sóc trẻ có
kiến thức sơ cứu bỏng ở mức độ đạt
3.3. Nhu cầu được cung cấp thông tin
của đối tượng nghiên cứu
Hình 3.5. Tình hình nhận thông tin sơ cứu
bỏng ban đầu (n=61)
Nhận xét:
Trong số 61 người chăm sóc trẻ
thì gần 1/3 chưa từng nghe về cách sơ cứu bỏng
ban đầu chiếm tỷ lệ 31,1%
Hình 3.6. Nguồn cung cấp thông tin về sơ
cứu bỏng ban đầu (n=42)
Nhận xét:
Trong số 42 người chăm sóc trẻ
đã từng nghe về cách sơ cứu bỏng ban đầu thì
phần lớn nguồn thông tin nhận từ internet chiếm
38,1%, từ truyền hình chiếm 11,9%, từ trường
hc 9,5%, chỉ có 4,8% nhận được thông tin từ
nhân viên y tế; Các nguồn thông tin khác từ
hàng xóm, bạn bè và người thân, chiếm các tỷ lệ
lần lượt là: 9,5%, 11,9% và 14,3%
Hình 3.7. Nhu cầu nhận thông tin sơ cứu
bỏng của người chăm trẻ (n=61)
Nhận xét:
Trong số 61 người chăm sóc trẻ
thì hầu như tất cả 98,4% mong muốn được
cung cấp thông tin về cách sơ cứu bỏng ban đầu
IV. BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng kiến thức sơ cứu bỏng
của người chăm sóc trẻ. Nghiên cứu của Lâm
Thị Thu Tâm và cộng sự (2013) tiến hành phỏng
vấn 384 người tại quận Tân Phú, thành phố Hồ
Chí Minh về kiến thức và thái độ của người dân
về sơ cứu bỏng thì có 314 người được phỏng vấn
biết nguyên nhân bỏng do nước nóng chiếm
82% [4]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao
hơn, hầu hết những người chăm sóc trẻ đều
nhận biết được nguyên nhân gây ra tai nạn bỏng
là do nước sôi chiếm 93,4%, kế đến là thức ăn
nóng là 78,7%, thứ ba là lửa chiếm 70,2%, thứ
tư là bô xe 67,2%, điện chiếm tỷ lệ 54,1%, dầu
mỡ sôi 52,5%, do bàn là chiếm 49,2%; một số
nguyên nhân khác tỷ lệ nhận biết thấp hơn như:
đồ dùng nhà bếp chiếm 32,8%, hoá chất 26,2%,
côn trùng 16,4% và ánh nắng 11,5% (Hình 3.1).
Alomar và cộng sự (2016), đã sử dụng bảng
câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn 408 người
chăm sóc cho các bệnh nhân nhi tại bốn khoa
cấp cứu thuộc các bệnh viện của Saudi Arabia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiểu biết về việc
cấp cứu trong số những người chăm sóc rất hạn
chế, 97% có kiến thức không thích hợp hoặc
không biết về thời gian sử dụng nước mát hoặc
nước sạch để chữa bỏng. Chỉ có 15% được đào
tạo sơ cứu. 65% người chăm sóc cho biết đã tìm
mi cách dập tắt ngay ngn lửa, 24% cho biết sẽ
cởi bỏ ngay quần áo cháy sau khi tai nạn xảy ra
[6]. Nghiên cứu của Đặng Quốc Hùng và cộng sự
(2015) tiến hành nghiên cứu qua phỏng vấn 200
người dân tại xã An Đồng, An Dương, Hải Phòng
về kiến thức sơ cứu ban đầu khi bị bỏng. Kết quả
cho thấy: 48% người dân có kiến thức về sơ cứu
khi bị bỏng nhiệt, 18% người được hỏi có kiến
thức về sơ cứu bỏng điện, 6% có kiến thức về sơ

