
BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
Thuốc trị cao huyết áp và nguy cơ bệnh tiểu đường:
Trong nhiều nghiên cứu, thuốc lợi tiểu thiazide và thuốc beta-
blocker có liên hệ đến bệnh tiểu đường mới phát. Bây giờ, các nhà nghiên
cứu đã quan sát sự liên hệ này trong 3 nghiên cứu tiền cứu quan sát lớn . Đó
là nghiên cứu sức khỏe điều dưỡng viên (Nurses’ Health study) I và II và
nghiên cứu theo dõi sức khỏe những người làm nghề chuyên môn ( Health
Professionals Follow up Study). Khoảng 75 ngàn người tham dự nghiên cứu
và bị cao huyết áp nhưng không bị bệnh tiểu đường, được theo dõi từ 8 đến
16 năm. Bệnh tiểu đường mới phát được báo cáo ở 3589 người tham dự
trong thời gian theo dõi.
Sau khi điều chỉnh những biến số có khả năng làm sai kết quả, những
người dùng thiazide (so với người không dùng) liên hệ đến tăng nguy cơ
sinh bệnh tiểu đường một cách độc lập; nguy cơ tương đối trong khoảng 1.2
đến 1.5 tùy theo nhóm. Beta-blocker liên hệ đến tăng nguy cơ bệnh tiểu
đường ở đàn ông và phụ nữ cao tuổi (nguy cơ tương đối 1.2 và 1.3 theo thứ

tự). Không thấy sự liên hệ khi dùng thuốc chẹn kênh calcium và bệnh tiểu
đường. Thuốc chống men chuyển, chỉ ghi nhận ở người cao tuổi, cũng
không liên hệ đến bệnh tiểu đường.
Nghiên cứu trên củng cố những nghiên cứu trước đây gợi ý thuốc lợi
tiểu thiazide và beta-blocker có thể ảnh hưởng đến dung nạp glucose. Trong
nghiên cứu ALLHAT, những người dùng thiazide phát sinh bệnh tiểu đường
nhiều hơn người dùng thuốc chẹn kênh calcium và thuốc chống men chuyển,
mặc dầu tử suất và bệnh suất tim mạch không tăng.
Tuy nhiên những kết quả trên đặt câu hỏi liệu chúng ta có thiên về
những thứ thuốc không phải thiazide và beta-blocker không, khi chọn thuốc
tuyến đầu chống cao huyết áp cho bệnh nhân không dung nạp glucose.
Nguồn thông tin: Taylor EN và cộng sự:Antihypertensive medications
and the risk of incident type 2 Diabetes Care 2006 May 29:1065-70.
Phụ nữ bệnh tiểu đường chưa được giáo dục đầy đủ về ngừa thai:
Phụ nữ bệnh tiểu đường thường liên quan đến tăng cao nguy cơ sinh
con không khỏe mạnh hay có biến chứng, nhưng những nguy cơ này có thể
giảm thiểu bằng cách kiểm soát chặt chẽ lượng đường huyết và theo dõi sát.
Gần 2/3 vụ mang thai ở phụ nữ bệnh tiểu đường tại Hoa-kỳ là ngoài kế

hoạch, so với toàn thể phụ nữ chỉ có một nửa. Muốn xác định là giáo dục kế
hoạch sinh con có khác nhau giữa phụ nữ bệnh tiểu đường và không tiểu
đường, các nhà nghiên cứu dữ liệu từ 40 304 phụ nữ không có bầu ngoại
chẩn đến khám bác sĩ trong toàn quốc (tuổi tác trong khoảng 14 đến 44).
Các nhà nghiên cứu phỏng chừng phụ nữ bệnh tiểu đường khám 1.61
lần so với phụ nữ không tiểu đường khám 1 lần. Tuy nhiên, trong một phân
tích đa biến (multivariate analysis), phụ nữ bệnh tiểu đường ít được giáo dục
về ngừa thai một cách đáng kể so với phụ nữ không tiểu đường trong những
lần gặp bác sĩ (4.0% so với 11.5%), tỷ suất chênh (odd ratio) 0.42). Hơn nữa,
phụ nữ trẻ bệnh tiểu đường (dưới 25 tuổi) ít được hướng dẫn ngừa thai hơn
phụ nữ lớn tuổi (tỷ suất chênh 0.17).
Kế hoạch gia đình là lý do thường nêu ra khi đến khám bác sĩ sản phụ
khoa, nhưng chỉ có 0.3% của những lần khám phụ khoa do các phụ nữ bệnh
tiểu đường.
Những kết quả trên cho thấy phụ nữ bệnh tiểu đường không được
hướng dẫn đầy đủ về ngừa thai. Tuy nhiên, có thể bác sĩ gia đình không ghi
thêm mã số hướng dẫn bệnh này trong hóa đơn đòi tiền bảo hiểm y tế, và
phụ nữ bệnh tiểu đường cũng thấy không có vấn đề để phải đến khám bác sĩ
chuyên về phụ khoa. Tại VN, tin này chỉ nhắc nhở là phụ nữ bệnh tiểu

đường khi sinh con sẽ bị nhiều bệnh tật hơn nên các bác sĩ cần giải thích rõ
cho họ và khuyên dùng thuốc ngừa thai hay những biện pháp khác nếu cần
thiết.
Nguồn tin: Schwarz EB và cộng sự. Contraceptive counseling of
diabetic women of reproduction age. OBster Gynecol 05/06;107:1070-74
Giảm mạnh lipid ở người bệnh tiểu đường có lợi cho bệnh nhân:
Thuốc giảm lipid (statin và fibrat) cả hai đều ngăn ngừa những tác
dụng tim mạch có hại ở nhiều bệnh nhân. Trong nghiên cứu lồng ghép này,
các nhà nghiên cứu so sánh tác dụng của những thuốc này ở bệnh nhân có
bệnh tiểu đường hay không.
12 nghiên cứu ngẫu nhiên, trong đó thuốc hạ lipid so với giả dược,
được đánh giá.
Chỉ tiêu gồm cả 2 nhánh gồm người bệnh tiểu đường và không tiểu
đường.
Biên độ thay đổi mức lipid giống nhau ở nhóm tiểu đường và không
tiểu đường. Trong việc ngăn ngừa hiệu quả chính và phụ, nguy cơ tương đối

cho sự cố chính là bệnh động mạch vành giảm giống nhau, 21% ở người
bệnh tiểu đường và 23% ở người không tiểu đường.
Đối với hiệu quả phụ, nguy cơ tuyệt đối giảm đáng kể ở người bệnh
tiểu đường so với người không tiểu đường (7% so với 5%). Trong phân tích
điều chỉnh với nguy cơ ban đầu, ngăn ngừa những tác dụng phụ như chết vì
tai biến động mạch vành, nhồi máu cơ tim không chết, tái tạo mạch và đột
quỵ tốt hơn đáng kể ở bệnh nhân bệnh tiểu đường so với bệnh nhân không
tiểu đường.
Bản phân tích này gợi ý bệnh nhân bệnh tiểu đường có thể có lợi khi
giảm lipid ngay cả khi điều trị quá mạnh tay so với những bệnh nhân khác,
nhưng cần có nghiên cứu thêm để xác định mức điều trị đúng cách và mức
mục tiêu.
Ban biên tập tờ báo cũng có một bài hổ trợ việc sử dụng statin mạnh ở
bệnh nhân tiểu đường nhưng lưu ý là 70% phản ứng nghịch tim mạch vẫn
còn xảy ra. Dầu sao nghiên cứu này cũng giải thích một phần tại sao dùng
statin trong nghiên cứu ASCOT

