
77
BÀI 4
MỘT SỐ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH THƯỜNG XẢY RA VỚI
TRẺ EM
Thời gian: 18 giờ
A. MỤC TIÊU
a) Kiến thức:
+ Học viên nắm được vấn đề TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và
mang tính toàn cầu; Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam và
các loại tai nạn thương tích trẻ em
b) Kỹ năng
+ Có khả năng nhận biết đươc các loại tai nạn thương tích thường xảy
ra đối với trẻ em
c) Thái độ::
+ Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về tai nạn thương tích từ đó ý thức
được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về phòng chống tai nạn
thương tích trong đời sống tại cộng đồng, gia đình, nhà trường.
B. NỘI DUNG
I. TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI
VỚI TRẺ EM
1. Khái niệm chung và thực trạng của tai nạn giao thông đối với trẻ em.
Mỗi năm, có khoảng 1,2 triệu người tử vong do tai nạn giao thông
đường bộ trên toàn thế giới, và 50 triệu người khác bị chấn thương. Khoảng
85% các trường hợp tử vọng và 90% số năm sống hiệu chỉnh do tàn tật xảy ra
ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.Các nước có thu nhập thấp và
trung bình cũng là nơi chiếm đến khoảng 96% số trẻ em tử vong trong các vụ
tai nạn giao thông đường bộ trên thế giới. Ở các nước này, tốc độ phát triển
phương tiện giao thông đường bộ nhanh hơn và nhiều hơn là tốc độ phát triển
hệ thống giao thông, nhưng khi xây dựng hệ thống giao thông cũng không
tính đến yếu tố trẻ em là nhóm có nguy cơ bị tai nạn cao nhất trong số những
người tham gia giao thông, với vai trò là người ngồi trên phương tiện, người
đi bộ, người đi xe đạp hay người sống ngay gần đường. Với số lượng các
phương tiện giao thông tăng lên cấp số nhân, số vụ tai nạn giao thông lại

78
tăng thêm (ở các nước nghèo và đang phát triển tỉ lệ tai nạn giao thông cao
hơn ở các nước công nghiệp phát triển).(Peden và cộng sự, 2004).
Vậy, tai nạn giao thông (TNGT) có thể định nghĩa là những sự cố bất
ngờ xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, gây ra bởi các phương tiện và
người tham gia giao thông (bao gồm người điều khiển phương tiện giao
thông và người tham gia các phương tiện đó),do vi phạm các quy tắc an toàn
giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng
tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản.
Ở Việt Nam, TNGT đã và đang ngày một gia tăng ở mức báo động
nghiêm trọng. TNGT có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào, với mọi loại
phương tiện (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy) nhưng đặc biệt
đáng lo ngại là đường bộ. tuy nhiên, điều đáng mừng là phần lớn TNGT đều
có thể phòng tránh được.
Tai nạn giao thông đường bộ được định nghĩa là “một va chạm hay tác
động có thể hoặc không gây thương tích, xảy ra trên đường công cộng liên
quan đến ít nhất một phương tiện di chuyển”. Tai nạn giao thông đường bộ
được định nghĩa là “thương tích tử vong hay không tử vong xảy ra do hậu
quả của va chạm giao thông đường bộ”(Peden và cộng sự, 2004). Một trường
hợp tử vong do tai nạn giao thông đường bộ có thể là tử vong xảy ra trong
vòng 30 ngày sau khi va chạm giao thông xảy ra (Uỷ ban kinh tế Châu Âu-
Ecônnmic Commission of Europe, 2003)
Trên thế giới, người đi bộ là nạn nhân phổ biến nhất trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ, trong đó tỉ lệ ở các nước có thu nhập trung bình và thất
là 30-40% (Toroyan và cộng sự, 2007). Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhóm tham
gia giao thông có tỉ lệ tử vong cao nhất là người đi xe máy (57%), tiếp theo là
những người đi xe đạp (22%) rồi mới đến người đi bộ (11,8%). Nhưng tỉ lệ
này sẽ khác nhau khi chia nhỏ theo từng nhóm tuổi, người đi bộ có tỉ lệ tử
vong cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi, người đi xe đạp có tỉ lệ tử vong cao nhất ở
nhóm 5-14 tuổi, và người đi xe máy có tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm từ 15
tuổi trở lên (Linnan và cộng sự, 2003).
VIMS cũng cho thấy trên 50% trẻ em bị chấn thương là do tai nạn giao
thông phải nghỉ học ít nhất 2 tuần (Linnan và cộng sự, 2003). Điều tra cũng

79
cho thấy rằng khoảng 14% nạn nhân phải chịu những tàn tật tạm thời hay
vĩnh viễn sau khi xảy ra tai nạn (Linnan và cộng sự, 2003). VÌ nhóm này bao
gồm trẻ thuộc nhóm trẻ 15- 19 tuổi, , báo cáo VMIS cho thấy rằng khoảng
4% trong số những trẻ bị tai nạn là những người có đóng góp thu nhập cho
gia đình, vì vậy có ảnh hưởng đến tình trạng kinh tế của hộ gia đình (Linnan
và cộng sự, 2003). Tai nạn giao thông cũng có những ảnh hưởng sâu sắc đến
tâm lý của trẻ có liên quan trực tiếp hay gián tiếp trong các vụ tai nạn (Peden
và cộng sự, 2008).
2.Nguyên nhân và nguy cơ TNGT ở trẻ em
Có nhiều yếu tố cấu thành nên TNGT, có các yếu tố khách quan (cơ sở
hạ tầng, đường xá chật hẹp, ổ gà...) nhưng quan trọng và chủ yếu nhất là do ý
thức của những người làm công tác an toàn giao thông cũng như của người
tham gia giao thông.
Yếu tố phát triển và hành vi của trẻ. Trẻ em có vóc dáng trẻ nhỏ cũng
làm tăng nguy cơ bị tai nạn vì lái xe có thể không nhìn thấy trẻ khi đi trên
đường, đặc biệt là với những tai nạn ở người đi bộ (Peden và cộng sự, 2008).
Vóc dáng nhỏ của trẻ có nghĩa là trẻcó thể không quan sát được hết giao
thông xung quanh. Hạn chế về khả năng nhận thức của trẻ trong việc ước
lượng khoảng cách giữa chùng và các vật thể di chuyển khác dẫn đến những
xử lý sai và có thể có hậu quả là một vụ tai nạn.(Toroyan và cộng sự, 2007)
Trẻ cũng chưa phát triển đầy đủ về khả năng nhận thức cần thiết để tổng
hợp các yếu tố môi trường để biết được những tín hiệu nguy hiểm. Quá trình
nhận thức để phán đoán và đưa ra quyết định chưa thể trưởng thành đến khi
trẻ đạt 11 tuổi và do đó trẻ thường có những sai lầm nghiêm trọng khi đi trên
đường (Peden và cộng sự, 2008 ).Trẻ có thời gian tập trung ngắn và dễ dàng
bị phân tán bởi các kích thích khác gây ra những phản xạ giật mình, cách
phản ứng nguy hiểm khi đi trên đường (Toroyan và cộng sự, 2007).
Ở nhiều nước có thu nhập thấp và trung bình là trẻ vui chơi trên đường
hay gần đường giao thông hoặc tham gia các công việc như bán hang ngay
bên lề đường, bán hang cho những người đi đường, rửa kính xe hoặc ăn xin ở
gần đèn giao thông (Peden và cộng sự, 2008). Các hoạt động này làm tăng

80
phơi nhiễm của trẻ với những nguy hiểm của môi trường đường xá và các
nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ.
Sử dụng không đúng hay thiếu các thiết bị an toàn là một yếu tố nguy cơ
quan trọng trong tai nạn giao thông đường bộ ở trẻ em. Vị thành niên lái xe
máy và không đội mũ bảo hiểm có thể là yếu tố nguy cơ quan trọng (Peden
và cộng sự, 2008). Vị thành niên cũng có tỉ lệ sử dụng dây bảo hiểm thấp
nhất so với những nhóm tuổi khác (Peden và cộng sự, 2008)
Phương tiện thiết kế thiếu an toàn cũng là một yếu tố quan trọng lien
quan đến nguy cơ tai nạn và mức độ nghiêm trọng của trẻ (Peden và cộng sự,
2008). Điều này đúng với tất cả các loại phương tiện mà trẻ có thể sử dụng
như ô tô, xe đạp, xe máy. Những người ngồi trên xe máy hay các phương tiện
thô sơ đặc biệt dễ bị tổn thương vì thiếu các phương tiện vật lý bảo vệ
(Toroyan và cộng sự, 2007)
Môi trường cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng liên quan
tới tai nạn giao thông ở trẻ em. Ở nhiều nước có thu nhập thấp, thiết kế
đường không cân nhắc đến yếu tố có nhiều nhóm đối tượng khác nhau cùng
tham gia giao thông, người đi bộ, người sử dụng các phương tiện thô sơ
thường đi chung đường với các phương tiện cơ giới to, nhỏ, thậm chí cả súc
vật kéo, làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông và chấn thương.(Torouyan và
cộng sự, 2007).Ở Việt Nam một số yếu tố môi trường đặc thù cũng tăng nguy
cơ tai nạn ở trẻ em khi tham gia giao thông:
• Lưu lượng giao thông lớn, lên đến hơn 15.000 xe cơ giới mỗi ngày
• Quy hoạch sử dụng đất và hệ thống đường xá kém
- Đường dài, thẳng để các phương tiện có thể đi tốc độ cao, xen
kẽ vào các khu dân cư, trường học và khu thương mại (Clifton và cộng sự,
2007, Bly và cộng sự,1999)
- Thiếu sân chơi nên trẻ em thường chơi trên đường
- Thiếu các phương tiện phân tích các nhóm đối tượng tham gia
giao thông khác nhau, như làn cho xe đạp và vỉa hè cho người đi bộ (Kweon
và cộng sự,2005, Roberts và cộng sự,1995)
- Tình trạng bán hàng ở lòng đường

81
- Hệ thống giao thông công cộng thiếu an toàn và thiếu hiệu quả
- Tốc độ không phù hợp, đặc biệt là owr các khu dân cư nơi trẻ
chơi đùa hoặc đi học ( Joly và cộng sự,1991; Roberts và cộng sự, 1995;
Mueller và cộng sự,1990, Stevenson,1997)
Tình trạng kinh tế xã hội cũng là một trong những nguyên nhân có mối
liên quan với nguy cơ tai nạn giao thông của trẻ. Tai nạn giao thông thường
xảy ra nhiều hơn ở những trẻ có tình trạng kinh tế xã hội thấp (Laflamme và
cộng sự, 2000). Vì nghèo đói có thể ảnh hưởng đến nguy cơ theo nhiều cách,
ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện của gia đình (Toroyan và cộng sự,
2007), trẻ phải làm việc ở trên đường hay gần đường và thiếu các phương
tiện để điều trị khẩn cấp và phục hồi cho nạn nhân khi tai nạn xảy ra.
Một nghiên cứu về tai nạn giao thông được tiến hành ở huyện Ba Vì đã
đưa ra, nguy cơ tai nạn giao thông cao nhất là nhóm có thu nhập trung bình.
Lý do là nhóm này có thể mua xe đạp cho trẻ nhỏ, mua xe máy cho trẻ lớn
tuổi hơn, hai đối tượng sử dụng phương tiện dễ bị ảnh hưởng nhất (Thành và
cộng sự,2005). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ tai nạn ở
người đi bộ vẫn cao nhất ở các gia đình có thu nhập thấp (Thành và cộng sự,
2005).
Trên thế giới, tỉ lệ tử vọng do tai nạn giao thông ở trẻ em là khoảng
10,7/100.000. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nhóm
tuổi 15-19, và là nguyên nhân tử vong lớn thứ hai trong nhóm tuổi 5-14 tuổi.
Các kết quả này phản ánh tình trạng tăng lên trong việc đi lại và cả hành vi
nguy cơ khi trẻ lớn dần (Peden và cộng sự, 2008).
Các nước Nam Á, tai nạn giao thông là nguyên nhân tai nạn thương tích
gây tử vong lớn thứ hai ở trẻ em, với tỷ lệ tử vong là 6/100.000 (BYT,2008)
và là nguyên nhân tai nạn thương tích gây tàn tật lớn thứ ba ở trẻ em với tỷ lệ
là 900,2/100.000. Ở Việt Nam tỉ lệ tử vong và tàn tật do tai nạn giao thông
cao nhất ở nhóm 15-19 tuổi (Linnan và cộng sự, 2003; BYT,2008). Theo số
liệu thu thập từ 64 tỉnh thành phố của Bộ Y tế, trong năm 2008 ở Việt Nam
có tổng số 494.545 trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông
đường bộ. Trong đó, số trường hợp là trẻ dưới 14 tuổi chiếm khoảng 13,4%.
Gần 50% trẻ em bị chấn thương sọ não do không đội mũ bảo hiểm (PVS Đại

