
Gioithieu
Tai sao chung ta kem ngoai ngu
Tao hung thu khi hoc T.A
Hoc bang phuong phap Thien
15 bi quyet hoc tieng anh
20 TOEIC Tips
Chia se kinh nghiem hoc
7 kinh nghiem hoc T.A
Ban hoc dung cach chua?
Bi quyet hoc Anh van
Tro thanh nguoi hoc thong minh
Cac cach hoc tot tieng Anh
Chia se kinh nghiem hoc T.A
Hoc ngoai ngu o nuoc ngoai
How to learn English when you are lazy
Kinhnghiem-Foreingner
Microsoft Talk It
Hoc de hoi nhap quoc te
4
5
9
6
7
8
10 Loi khuyen huu ich
Luyenphatam
Biquyethocnoitienganh
Tang toc do doc hieu
Bi quyet hoc noi
The rules of word stress
Nghe thuat "Mind map"
Kinh nghiem luyen dich
ELTS: Writing Task 2 - Tutorial
Phat trien y tuong cho bai luan
Lam giau von tu vung khong kho
Lamgiauvontuvung
Su dung Tu dien
Phuong phap suy luan
Motphuogphaphoctienganh
Keypals- Motcachhoctienganh
Hoc tienganh voi Google
Hocmachoi-Choimahoc
DichthuatvoiTOEFL,IBT,IELTS
Bikip IELTS Toantap
BiquyethocSATmoi
Lamtotbithitracnghiem
KinhnghiemhocTOEFL iBT 110

Hoctienganh.info xin giới thiệu cuốn Ebook về kinh nghiệm học tiếng anh.
Kinh nghiệm này được chia sẻ ở các diễn đàn, các bài bài hay trên các blog cá nhân
Hy vọng đây là cẩm nang hữu ích cho các bạn tham khảo !
xin cảm ơn tất cả tác giả của các bài viết trên
Các bạn có thể tham khảo thêm tại: http://hoctienganh.info
Các bạn hãy add nick hoctienanh2008 để thường xuyên nhận được thông tin mới nhé !
Chúc các bạn học tốt !

Tại sao chúng ta kém ngoại ngữ?
Lý giải cho việc tại sao sinh viên của chúng ta kém ngoại ngữ, có ý kiến đã cho rằng, do chúng ta học nhưng ít có cơ hội giao tiếp, giao lưu với người
nước ngoài và chương trình học trong trường phổ thông cũng chưa đạt chuẩn. Yếu kém ngoại ngữ là căn bệnh nan y mà chúng ta phải khắc phục và nên
chăng chúng ta áp dụng chương trình của các trung tâm ngoại ngữ vào dạy trong trường phổ thông để cải thiện tình hình.
Chương trình dạy ngoại ngữ trong trường phổ thông chưa đạt chuẩn
Tôi có một thắc mắc là tại sao trong chương trình dạy Anh văn ở bậc PTCS và PTTH, các nhà giáo dục không dạy theo sách của nước ngoài như ở các trung tâm ngoại ngữ vẫn hay dạy,
tại sao chúng ta không học chính những gì người nước ngoài đã soạn để dạy Anh văn cho tất cả mọi người, mọi quốc gia dùng mà chúng ta lại phải soạn lại chương trình do người Việt
Nam viết. Việc này vừa tốn kém lại vừa không có hiệu quả.
Tôi nghĩ ở 12 năm học phổ thông, một học sinh phải đàm thoại 1 cách dễ dàng trong cuộc sống hàng ngày, như thế là đã đạt yêu cầu, điều mà từ trước đến nay, ngay cả sinh viên tốt
nghiệp khoa ngoại ngữ chưa chắc đã làm được. Muốn được như thế, chúng ta đừng đặt nặng những bài học Anh văn với những đề tài khó khăn, cao siêu như hiện nay, phải bố trí giờ
đàm thoại nhiều hơn là học ngữ pháp, một bài học có thể phát triển rộng ra, có thể kéo dài trong vòng 5,7 tiết, chủ yếu cho học sinh nghe và nói như 1 phản xạ. Như vậy, khi tốt nghiệp lớp
12 là mỗi học sinh chúng ta có thể nói chuyện với người nước ngoài một cách tự nhiên những vấn đề thông thường. Khi đã có căn bản, các em sẽ học chuyên sâu 1 cách dễ dàng hơn.
Tại sao ở các trung tâm tiếng Anh dạy học sinh học tốt mà chúng ta không nghiên cứu cách dạy, áp dụng và đưa vào trường phổ thông. Như vậy, học sinh không phải tốn tiền đi học thêm
mà chất lượng vẫn tốt. Email: phamminh05@vnn.vn
Giỏi ngoại ngữ, phải có... tiền?
Tôi rất bất ngờ khi tác giả bài viết dẫn ra nhiều luận chứng xác đáng để lý giải lợi thế của người Việt khi học ngoại ngữ. Học ngoại ngữ cốt yếu là phải giao tiếp, luyện tập nhiều. Tôi rất
đồng ý. Để giao tiếp nhiều, phải làm sao đây một khi ngoại ngữ trong trường học chỉ có lệ dẫn đến việc nhiều người rất yếu ngoại ngữ nếu không đi học thêm đâu đó ở một số trung tâm
ngoại ngữ khác. Điều đáng nói ở đây lại là... tiền! Ai có thể đáp ứng được điều này. Tỉ lệ người dân sống trên mức trung bình là bao nhiêu? Để "vươn lên", cần phải giỏi ngoại ngữ (tôi nói
đây là theo số chung, không nhất thiết phải thế) thì thử hỏi có được mấy ai đáp ứng được nhu cầu trên. Không phủ nhận việc giỏi ngoại ngữ sẽ có ưu thế hơn, dẫn đến cơ hội trong công
việc nhiều hơn. Nhưng để đến được đó, quy chung lại là phải có tiền. Thiết nghĩ, khi chưa nhận được sự quan tâm đứng mức của xã hội, của giáo dục, của Nhà nước thì tình trạng này
vẫn sẽ còn kéo dài. Anh Anh, TP.HCM.
Tại sao chúng ta kém ngoại ngữ
Về cơ bản, tôi hoàn toàn đồng ý với lập luận của tác giả. Chúng ta có thể học tốt các ngoại ngữ chẳng kém cỏi gì các dân tộc khác trên thế giới. Tuy nhiên tôi có một số ý kiến sau:
Trừ Trung Quốc và Nhật Bản (sử dụng chữ tượng hình), thì nhiều nước ở châu Á đều sử dụng chữ tượng thanh (ghép vần giống tiếng Việt), chẳng qua có khác là họ sử dụng hệ chữ cái
khác mà thôi (như Thái Lan hay Lào). Còn Indonesia thì họ cũng dùng chữ cái La Tinh như chúng ta. Họ có thể giỏi tiếng Anh hơn chúng ta là vì đất nước họ mở cửa sớm hơn và họ giao
lưu với phương Tây (liên tục, không đứt quãng) lâu hơn chúng ta mà thôi. Riêng đối với Trung Quốc thì tôi không cho rằng về mặt bằng, sinh viên của họ giỏi ngoại ngữ hơn sinh viên Việt
Nam. Nếu bạn so sánh Thượng Hải với TP.HCM thì bạn sẽ thấy rõ điều này (mặc dù họ có thể thi TOEFL với điểm cao hơn chúng ta).
Nhiều người già ở Việt Nam có thể thông thạo tiếng Pháp đến như vậy bởi vì khi còn nhỏ họ học mọi thứ bằng tiếng Pháp (từ vỡ lòng, tiểu học). Họ không giỏi tiếng Pháp mới là lạ. Về
tiếng Nga, dù rằng thế hệ trước có nhiều người giỏi tiếng Nga (như thầy giáo tôi ở trường ĐH), nhưng phần lớn họ đều tu nghiệp hay làm việc ở Liên Xô cũ. Thế hệ của tôi (7X) đều được
học tiếng Nga cả, nhưng thử hỏi bây giờ có mấy người nói được tiếng Nga. Các nước châu Phi, họ nói tiếng Anh như gió, bởi vị phần lớn họ học mọi thứ (Toán, Lý, Hoá...) ở chương trình
phổ thông bằng tiếng Anh. Nếu bạn hỏi họ từ equation trong tiếng mẹ đẻ của họ là gì thì tôi cho rằng phần lớn họ không giải thích được. Điều này làm tôi thấy tự hào về tiếng Việt (nếu bỏ
qua một số yếu tố vay mượn về mặt ngôn ngữ).
Lý do cơ bản làm chúng ta kém ngoại ngữ là bởi vì đất nước chúng ta sau chiến tranh, ít được giao lưu với quốc tế và điều này góp phần làm công dân của chúng ta một thời rất thụ động
và thiếu sự tham gia khi đi học hay dự các hội nghị ở nước ngoài. Điều này đã được cải thiện rất nhiều sau hơn 20 năm đổi mới của đất nước. Do nhu cầu hội nhập ngày càng nhiều,
sinh viên của chúng ta ngày càng giỏi ngoại ngữ hơn (nhu cầu xã hội - bài toán kinh tế) và khi đi ra nước ngoài, chúng ta đã tự tin hơn rất nhiều. Bây giờ, tôi tự hào mình là người Việt
Nam, tiếng Anh tôi đủ tốt để tham luận hay tham gia các sự kiện nơi tôi đang học tập. Những thứ có được ngày hôm nay phần lớn cũng là do kinh tế chúng ta phát triển mang lại cả.
Hiện tại, ngoại ngữ của người Việt chúng ta chưa được tốt so với nhiều nước trên thế giới. Nhưng tôi tin rằng với đà phát triển của kinh tế, với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, người
Việt chúng ta sẽ ngày một giỏi ngoại ngữ hơn. Công dân của chúng ta sẽ tham gia nhiều hơn vào các vị trí quan trọng của các tổ chức quốc tế. Nhưng điều quan trọng hơn đối với tôi là
một ngày nào đó chúng ta có thể thấy các biển hướng dẫn bằng tiếng Việt tại những địa điểm du lịch ở Paris hay London như họ đã và đang làm với tiếng Nhật. Trần Văn Tuấn,
Enschede, Hà Lan, email: tranvantuanga@...
Phải tự rèn luyện bản thân mình
Tôi cũng nghĩ rằng việc học ngoại ngữ rất cần thiết và muốn học giỏi ngoại ngữ, cần tự rèn luyện mình. Phải biết vận dụng những lợi thế vốn có của mình nói riêng và của xã hội VN hiện
nay nói chung. Thật sự, tôi thấy rằng, trình độ tiếng Anh của giới trẻ hiện nay rất kém so với các nước khác, hơn nữa, VN lại mới gia nhập WTO, vấn đề giỏi ngoại ngữ rất nóng hổi và cần
quan tâm. Hy vọng trong tương lai gần, VN sẽ thay đổi được tình hình này. Vân Anh, Thanh Xuân, Hà Nội, email: vananh10_10@...

Học tiếng Anh qua phương pháp Thiền
GS nhà giáo Lê Khánh Bằng được nhiều người biết không chỉ là nhà phương pháp trong giáo dục học mà còn biết đến bởi sự uyên bác vì ông có thể
giảng bài bằng 6 thứ tiếng khác nhau: Anh, Pháp, La Tinh, Nga, Trung Quốc, Bồ Đào Nha. Điều đáng nói là 6 thứ tiếng này phần lớn do GS tự học. Có
được vốn ngoại ngữ nhiều như vậy chính là nhờ biết cách học có phương pháp. Vậy những phương pháp đó là gì? Thiền – đây là một phương pháp
dưỡng sinh cổ điển của Ấn Độ, đặc trưng bởi “tập trung tư tưởng” khong cho tạp niệm xen vào trong quá trình học. Thiền ở đây chỉ được sử dụng ở
phương diện là một phương pháp để phát huy năng lực của người học
“THIỀN” là gì? “Thiền” là một quá trình tu luyện gồm những biện pháp thể dục tâm lý, từ gốc là Yoga, được một trường phái phật giáo Trung Quốc kết hợp với phương
pháp của đạo lão áp dụng sau đó truyền sang Việt Nam, Nhật Bản và ngày nay cũng được một số người Châu Mỹ vận dụng. Khi thiền ta phải ổn định hoạt động tâm
thể bằng điều hoà hơi thở, trên cơ sở ấy, tập trung ý nghĩ vào những bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc những giáo lý cơ bản, những vấn đề mình quan tâm. Khi thiền con
người phải hết sức tập trung, làm cho các kích thích bên ngoài không xen vào được, toàn tâm tập trung vào một ý. Đây là một kỹ thuật điều khiển tinh thần, giúp con
người sử dụng bộ não triệt để, động viên được những năng lực tiềm ẩn. Có thể về mặt cơ chế, thiền là tập trung tư tưởng cao độ vào một vấn đề hay một công việc nhất
định.
Thiền có thể quy ước phân làm 2 loại: thiền tĩnh và thiền động.
Tĩnh là ngồi yên (có thể nhắm mắt hay mở mắt), tập trung suy nghĩ vào hơi thở (thở sâu, êm, nhẹ) hoặc vào một vấn đề nào đó (bài học).
Động là tập trung suy nghĩ vào một vấn đề nào đó (một chủ đề, một công việc), đồng thời có thể dùng các động tác để thể hiện vấn đề đó, như viết, nói, cử động chân
tay.
VẬN DỤNG THIỀN ĐỂ TẠO NÊN MỘT VÙNG NGOẠI NGỮ TRONG VỎ NÃO
Đối với học ngoại ngữ, thiền có tác dụng góp phần tạo nên một vùng ngoại ngữ trong vỏ não. Có thể áp dụng theo công thức 5 bước chuyển vào trong và 5 bước
chuyển ra ngoài
5 bước chuyển vào trong như sau:
Bước 1: Sau khi thư giãn và tập trung tư tưởng cao độ, học viên đọc thật to (đúng trọng âm và ngữ điệu) để tạo nên một khu vực hưng phấn mạnh trong vỏ não và
nhằm góp phần ức chế vùng tiếng mẹ đẻ. Có thể đọc to như vậy 3 đến 5 lần hoặc hơn càng tốt. Lúc này cần đọc to và đúng chứ chưa cần đọc nhanh.
Bước 2: Đọc to vừa, đúng ngữ điệu, tốc độ có thể nhanh dần lên. Đọc như vậy 3 đến 5 lần hoặc hơn.
Bước 3: Đọc mấp máy môi có âm thanh và ngữ điệu vang lên nho nhỏ. Đọc 3 đến 5 lần, tốc độ nhanh nhất có thể được. Làm như vậy để cho khu vực hưng phấn
mạnh, nhưng rất khuyếch tán lúc ban đầu nay tập trung dần lại.
Bước 4: Đọc trong óc, còn gọi là đọc liếc hay đọc thầm. Lúc này môi không mấp máy, âm thanh không phát ra, nhưng người đọc vẫn phải cảm thấy âm thanh và ngữ
điệu vang lên trong óc. Đọc như thế nhiều lần, có thể từ 10 đến 100 lần, cho đến khi thuộc lòng hẳn, tốc độ ngày càng nâng lên.
Bước 5: Bước quan trọng và quyết định nhất. Đọc thuộc lòng trong óc nhiều lần để hằn sâu vào trong vỏ não, để đặt được một viên gạch vào vùng ngoại ngữ mới xây
dựng. Bước này có thể tiến hành theo trình tự, nhẩm đọc trong óc, lúc đầu từ từ sau đó tăng dần lên đến mức nhanh nhất có thể được (ví dụ một bài khoá khoảng 130
từ: 15 – 30 giây), nếu chưa đạt được tốc độ như thế phải luyện tập tiếp.
5 bước chuyển ra ngoài gồm:
Bước 1: Đọc trong óc.
Bước 2: Đọc mấp máy môi.
Bước 3: Đọc to vừa, tốc độ nhanh và rất nhanh.
Bước 4: Đọc thật to đúng trọng âm, đúng ngữ điệu với tốc độ nhanh nhất có thể được, nhưng không được sai sót.
Bước 5: Tập trung tư tưởng cao độ, vừa đọc thầm, vừa viết ra giấy với tốc độ nhanh nhất
Khi đã có vùng ngoại ngữ trong đầu, người học có thể duy trì nó và dễ dàng tiếp nhận thêm những ngoại ngữ khác. Khái quát lại như GS Bằng nói: “đột phá một điểm,
khai thông toàn diện. Với phương pháp này không chỉ giúp chúng ta vận dụng vào dạy và học ngoại ngữ mà còn học tốt các môn khoa học khác”.
HỌC - MỘT KHÁI NIỆM “TỰ HỢP ĐỒNG”
VÀ “RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SUY NGHĨ BẰNG NGOẠI NGỮ”

Cũng theo GS Lê Khánh Bằng, đối với việc dạy và học hiện nay phải thống nhất một khái niệm: thày với trò là bạn, người học được xem là trung tâm và học theo cách
tự hợp đồng. Đây là sự giao ước của chính bản thân người học. Hợp đồng dài hạn thì tuân thủ theo đúng bản thiết kế của quá trình tự học. Hợp đồng ngắn hạn tuân thủ
đúng các mục tiêu đề ra như thuộc bài khoá trong bao lâu, tốc độ đạt được… Người học phải tự nhắc nhở mình, tự kiểm tra và đánh giá. Ở đây thày giáo chỉ đóng vai
trò người hướng dẫn còn về phương pháp lĩnh hội và tạo điều kiện hiệu quả là do người học quyết định. Chính vì thế, không ít người đặt câu hỏi: Tại sao mình học ngoại
ngữ rất chăm chỉ miệt mài trong 2, 3 năm mà kết quả không cao? Phải chăng học ngoại ngữ được phải có năng khiếu? Thực ra không hoàn toàn như vậy. Mấu chốt của
vấn đề là học phải có phương pháp, không chỉ riêng việc học ngoại ngữ mà cả các môn khác. Nếu có phương pháp đúng sẽ giúp người học nhận thức nhanh hơn và nhớ
lâu hơn. Với học ngoại ngữ, trước hết người học phải có khả năng suy nghĩ bằng ngoại ngữ. Suy nghĩ bằng ngoại ngữ là năng lực hình dung được ngoại ngữ đó trong đầu
mà không phải trải qua giai đoạn lịch sử tiếng mẹ đẻ. Không có khả năng này, người học khi học phải chuyển từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ mới hiểu (nghe), rồi
mới có thể trả lời bằng tiếng mẹ đẻ, sau lại dịch ra tiếng nước ngoài để trả lời. Việc đó vừa chậm vừa làm giảm khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp.
GS Lê Khánh Bằng đã khái quát hoá quá trình học ngoại ngữ bằng một sơ đồ công thức: 3T, 5B, 5C, 2H, 3V. (3T là thiền, tần số và tốc độ; 5B là 5 bước chuyển vào
trong và ngược lại; 5C là 5 chỉ tiêu của chất lượng học ngoại ngữ: nghe, nói, đọc, viết, suy nghĩ bằng ngoại ngữ; 2H là 2 chỉ tiêu của hiệu quả; 3V là 3 vùng ngoại ngữ:
tối thiểu, cơ bản và chuyên ngành). Để biến tất cả những yêu cầu phương pháp thành hiện thực thì quá trình tự học vẫn là then chốt của thành công.

