
Hướng dẫn kỹ thuật sản
xuất giống cá Dĩa

Hiện nay, phong trào nuôi cá cảnh không chỉ đơn thuần để thưởng ngoạn
sau những giờ lao động mà còn mang lại rất nhiều lợi nhuận nhờ vào việc
kinh doanh. Hàng năm, nuớc ta xuất khẩu rất nhiều loại cá cảnh ra nước
ngoài để tiêu thụ, trong đó có loài cá dĩa. Theo thống kê chưa chính thức,
loại cá dĩa này chiếm một tỷ trọng xuất khẩu đáng quan tâm.
I. Quy trình sản xuất cá dĩa
- Thường trong bầy cá, chúng ta tuyển chọn mỗi hồ có 5 đến 10 con cùng
màu sắc, chủng loại. Mỗi loại cá dĩa chọn từ 20 đến 30 con (có lớn, có nhỏ
lẩn lộn) nuôi trong hồ lớn. Nếu nuôi trong hồ nhỏ thì mật độ cá nuôi phải ít
hơn.
- Chăm sóc và cho ăn đầy đủ bằng trùng chỉ, lăng quăng, tim, thịt bò xay
hoặc cắt nhỏ. – Sau khoảng 12 tháng nuôi (cở cá 10 đến 12 cm) cá sẽ có hiện
tượng tự chọn cặp ta tiến hành chọn cá bố mẹ (khoảng 15 đến 20 con). Biểu
hiện cá bắt cặp: Mắt đỏ màu sắc đẹp, rùng mình, từng cặp sẽ tách ra riêng
góc (tách bầy hay canh giữ giá thể), từng cặp cá sẽ tự mổ ổ,làm sạch mặt
kiếng, giá thể gạch, bề mặt lá thủy sinh…
- Dùng vợt vớt từng cặp ra riêng, cho vào bể nuôi riêng (cho sinh sản).
- Cho giá thể vào hồ để cá làm tổ. Oxy trong nước phai đựơc cung cấp đầy

đủ, thay nước hàng ngày, cho ăn thức ăn tinh, trùng chỉ.
So với 1 số loài cá khác cá dĩa tương đối khó nuôi , cá hay tỏ ra nhút nhát
khi nghe thấy tiếng động, thấy bóng người hay vật gì đó 1 cách đột ngột sẽ
làm cá trốn đi. Vì thế nên cần chú ý nhiều đến vấn đề này khi chọn vị trí đặt
bể cho cá sinh sản. Cách tốt nhất là nên đặt cá nơi yên tĩnh, ít người qua lại,
lui tới.
- Nếu nuôi 1 cập cá bố mẹ cỡ 14-15 cm có thể dùng bể có kích thước
45x45x45cm hay 50x50x50 , nhưng tốt hơn là nên dùng bể 60x45x45 cm
hay 90x45x45 cm ( bể cá sinh sản).
- Mỗi ngày cần chiếu sáng từ 5-6 tiếng , cá sẽ có màu sắc tốt và sinh trưởng
tốt hơn .
- Nước dùng để nuôi cá phải có chất lượng tốt , nếu ko đạt độ ph ha nhiệt độ
thì ta phải đều chỉnh .Hàng ngày nên thay nước từ 1/4-1/3 bể ,và bồ sung
vào đó lượng nước mới bằng lượng nước được thay ra .Nước mới được thay
vào phải có nhiệt độ và độ ph bằng vối nước cũ , nếu ta dùng nước mày thì
ta phải phơi cho nước bay hết clo và chỉnh ph vì nước máy là nước trung
tính hoặc hơi kiềm .
- Nhiệt độ trong bể cần thích ứng với tập tính của cá dĩa. Nên trang bị hitter
điều hòa nhiệt độ cho bể cá khi thời tiết lạnh (nhiệt độ nước dưới 25oC ) và
bể luôn luôn có sục khí đảm bảo đủ Oxy cho cá,….
- Nuôi cá dĩa dưới 10 tháng tuổi ở nhiệt độ 28-31oC kích thích sự tăng
trưởng của cá mà còn giúp môi trướng cá sống ít mang mầm bệnh .
- NHiệt độ tốt nhất cho cá sinh sản 28-30 oC, Ph=5,5-6,5.
- Một số loại giá thể cho cá sinh sản: gạch ống, gạch mem, giá thể trụ, giá
thể chữ nhật, giá thể tam giác ,….nếu không có giá thể thì bắt buộc cập cá sẽ
đẻ trên ”thành bể”.- Sau khi đẻ xong cá bố mẹ làm nhiệm vụ bảo vệ trứng và
luân phiên quạt cung cấp oxy cho trứng.

- Trứng thụ tinh và nở sau 55-60 giờ. Khi cá bố mẹ đang giữ trứng tránh làm
cá giật mình vì khi cá bố mẹ giữ trứng cá sẽ ăn ổ trứng hay ko giữ làm trứng
hư khi bị giật mình.Vì vậy người ta thường dùng giấy báo hay vải che bợt 1
phầan nào đó của hồ hay che bớt anh sáng chiếu vào hồ , trong thời gian cá
đẻ ko dúng máy lọc mà chỉ cho máy oxy chạy nhẹ.
- Ta có thể tẩm bổ cho cá thức ăn theo công thức ta chế biết nhưng mình
thấy tảo spirulina rất tốt cho cá đấy , với thức ăn có thịt bò ( tim bò ) + tảo ta
nên chia ra cho ăn 3 lần nhưng việc quan trọng là vấn đề nước cho cá , với
thức ăn này ta cần thường xuyên giặt bộ lọc và thay nước .
II. Cá dĩa sinh sản
– Cá đực: hình dáng to, đầu hơi gù, vây bụng xệ, dưới bụng
vùng giáp vây lõm vào trông rất rõ, hoạt động hung hăng hơn cá cái.
- Cá cái: thường nhỏ hơn cá đực, gai sinh dục lồi ra ngắn (3mm) , chia 2
thùy nhọn và hơi cong về phía sau.
- Giai đoạn bắt cặp xảy ra trong vòng 7-10 nàgy. cặp cá sẽ tự tách ra một góc
bể, dùng miệng làm sạch nơi sẽ sinh đẻ. Đôi cá này thường kề sát miệng,
quẫy mạnh đuôi, đuổi bắt nhau, xua đuổi những con khác lại gần chúng.
- Tiếp đó chúng bơi sóng đôi, quấn quít bên nhau. Trước khi đẻ một vài
ngày, cá có hiện tượng rùng mình, rung toàn thân, xếp vây lại, đôi lúc đứng
yên tại chỗ, ít bắt mồi. – Khi sinh, cá chúc đầu xuống 45 độ. Lúc này gai
sinh dục lộ rõ, màu sắc rực rỡ hẳn lên. Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá
thể, từ dưới lên. Cá đực cũng theo lộ trình đó tiết tinh để thụ tinh cho trứng.

- Số trứng thường 70-80 đến 150, có khi hơn.
- Trứng đựơc thụ tinh có màu trong suốt, trứng không thụ tinh thì vẩn đục
sau 2 ngày. – Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám. Ở 30o
C trứng nở trong vòng 55-57 giờ. Trong lúc này cá bố và cá mẹ thay phiên
nhau quạt nước cho trứng để có đủ độ thoáng khí. Tỉ lệ trứng nở: 60-90%.
- Nên cho cá đẻ nơi yên tĩnh (quây, che bể cá lại).
- Chuẩn bị cho cá đẻ, nước phải có độ Ph từ 5,5 – 6,2, độ cứng 4 – 6 dH
(nước mềm), nhiệt độ khoảng 26 – 28o C.
- Cá tiếp tục rùng mình, cặp ổ và khi điều kiện chín mùi sẽ đẻ trứng. Cá cái
lướt trên mặt phẳng giá thể đẻ và trứng sẽ được dính vào mặt phẳng giá thể
thẳng hàng. Cá đực đi theo phủ tinh lên trứng, tiếp tục đến khi cá cái không
còn đẻ. trứng tốt sẽ tập trung thành cụm 2 x 4 cm.
- Cá đực và cá cái dùng vây ngực quạt trứng và dùng miệng loại trứng trắng.
Trứng thụ tinh sẽ đen dần và nở sau 2 ngày rưởi.
- Cá nuôi con tốt sẽ chuyển con sang vị trí khác, để tránh trứng hư bị phân
hủy làm cá con thiếu oxy.
- Sau 60 giờ khoảng 2,5 đến 3 ngày cá sẽ bung ra bơi lội.
– Cá mới nở bám mình mẹ và hút chất nhớt, dinh dưỡng
từ bố me để sống đến ngày thứ 10. Sau khi nở cho ăn dặm bo bo non, trùng
chỉ.
- Tách cá con và nuôi riêng sau 12 – 18 ngày (tính từ ngày cá nở).
III. Chăm sóc cá con

