
Những kỹ thuật tiên tiến
chữa bệnh ở tai
(Kỳ 1)
Cùng với xu hướng phát triển của ngành y tế nói chung và Bệnh viện
tai mũi họng TP.HCM nói riêng, khoa thính học chúng tôi từ 10 năm nay đã
lần lượt đưa vào áp dụng một số kỹ thuật tiên tiến góp phần chẩn đoán

nhanh, chính xác và điều trị rối loạn thính giác và các bệnh về tai như: đo
điện kích gợi thính giác thân não (ABR - Auditory Brainstem Response), cấy
điện ốc tai (CI - Cochlear Implant) và mới đây nhất là phương pháp đo điện
truyền âm tai (OAE - Oto - acoustic Emission). Hai năm trở lại đây, để chẩn
đoán tổn thương tiền đình và các rối loạn thăng bằng, chúng tôi đã ứng dụng
phư¬ơng pháp đo điện động nhãn đồ bằng video.
Đo điện kích gợi thính giác thân não (ABR)
Đo đáp ứng điện thân não khi kích thích thính giác là một nghiệm pháp
trong nhóm thử nghiệm khách quan, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá
chức năng sau ốc tai. Nghiệm pháp này đo các điện thế xuất hiện sớm, khoảng 8 -
10 ms đầu trong điện thế thính giác ghi nhận được từ da đầu do hoạt động của các
cấu trúc của cầu não.
Ở người trưởng thành, bình thường điện thế kích gợi thính giác thân não
được ghi nhận có 7 sóng xuất hiện trong 10 ms đầu sau kích thích. Bảy sóng này
được ký hiệu bằng số la mã từ I đến VII, các sóng I, II, III, IV và V thường xuất
hiện ở người trưởng thành có sức nghe bình thường. Sóng VI xuất hiện 84% và
sóng VII chỉ xuất hiện có 43% ở tai kích thích (OMKA, 1994).

Người bình thường cũng có nhiều dạng sóng khác nhau, sóng IV và V
thường là thành phần nổi bật nhất.
Chẩn đoán xác định thường dựa vào sự thay đổi của một hay nhiều yếu tố.
Trên thế giới, nghiệm pháp này bắt đầu được sử dụng nhiều từ thập niên 1970. Ở
Việt Nam nghiệm pháp này được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1997. Từ khi
thực hiện, chúng tôi đã giải quyết được một số vấn đề khó có thể làm trước đây
như: chẩn đoán sớm thiếu hụt thính giác ở trẻ em nhỏ tuổi, trẻ chậm phát triển tâm
thần và chẩn đoán vị trí tổn thương cho các bệnh nhân điếc tiếp nhận…
Hiện tại chúng tôi mới chỉ sử dụng máy đo ABR dùng cho tầm soát bệnh
(screening ABR). Trong tương lai gần, chúng tôi sẽ đưa vào sử dụng máy ABR
dùng cho chẩn đoán (diagnostic ABR) có khả năng cho biết mức độ điếc ở từng
tần số, cũng như chẩn đoán phân biệt một số bệnh sau ốc tai.
Đo âm ốc tai (OAE)
Điếc bẩm sinh ảnh hưởng nặng nề đến quá trình phát triển ngôn ngữ tiếng
nói cũng như ảnh hưởng đến phát triển tâm lý và trí thông minh của trẻ. Những
nghiên cứu mới đây cho thấy các tác hại này có thể giảm tối đa nếu trẻ điếc được
phát hiện và can thiệp sớm trước 6 tháng tuổi. Một trong các kỹ thuật tiên tiến đ-
ược áp dụng để khám tầm soát sức nghe của trẻ là nghiệm pháp OAE.

Khi có kích thích âm, các tế bào tai ngoài chuyển động tạo ra âm truyền của
tai. Âm này được đo ở ống tai ngoài. Âm truyền của tai này chỉ đo được khi tai
giữa hoạt động bình thường, cơ quan corti trong điều kiện bình thường hoặc gần
bình thường.
Trẻ sơ sinh, 12 giờ sau sinh đã có thể thử, tuy nhiên có 30 - 35% trẻ sẽ cho
kết quả âm tính nếu thử trong ngày đầu tiên. Cần phải giải thích kỹ cho cha mẹ
biết không phải kết quả âm tính nào cũng có nghĩa là con họ bị điếc. Trẻ đo trong
trạng thái ngủ tự nhiên, một giờ sau ăn là tốt nhất. Không nên đo khi trẻ đang bú
hoặc ngậm núm vú, vì tiếng động khi bú và khi nuốt sẽ cho kết quả âm tính.
Năm 2005 chúng tôi đã khám cho hơn 1.000 trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Hùng
Vương và phát hiện 1 trường hợp điếc bẩm sinh nặng, 1 trường hợp khiếm thính
một tai. Hiện tại chúng tôi đang phối hợp với Bệnh viện phụ sản quốc tế khám tầm
soát điếc cho trẻ sơ sinh trước khi xuất viện.
Cấy điện ốc tai (CI)
Ốc tai điện tử là một thành tựu lớn trong y học, giúp cho những người điếc
nặng và sâu nghe được. Kỹ thuật này trên thế giới đã thực hiện cách đây hơn 20
năm, đến nay đã có hàng chục ngàn người điếc trên thế giới được cấy ốc tai và kết
quả rất tốt.

Ở Việt Nam, do giá tiền ốc tai điện tử quá đắt nên ca cấy ốc tai đơn kênh
đầu tiên mới chỉ được thực hiện cách đây hai năm. Trước đó cũng có một số
trường hợp gia đình vì quá bức xúc đã đưa con đi nước ngoài để mổ cấy ốc tai,
nhưng những trường hợp này không những phải tốn chi phí rất cao (tiền máy, tiền
mổ, nằm bệnh viện, khoảng 30.000 USD) mà còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề
luyện nghe nói, và tốn kém tiếp tục cho những chi phí đi ra nước ngoài định kỳ để
kiểm tra và hiệu chỉnh máy. Kỹ thuật này được thực hiện ở Việt Nam đỡ tốn kém
tiền bạc cũng như thời giờ của bệnh nhân và gia đình rất nhiều.

