VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO THỊ NGA

TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC

GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở

TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 62.31.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN TRỌNG NGỌ

HÀ NỘI - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông tin, số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực.

Tác giả luận án

Cao Thị Nga

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƢƠNG TÁC

TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở

TRƢỜNG ĐẠI HỌC ................................................................................................ 7

1.1. Các nghiên cứu trên thế giới về tương tác tâm lý giữa người dạy với

người học ................................................................................................................ 7

1.1.1. Nghiên cứu tương tác trong một số lí thuyết tâm lí học ........................... 7

1.1.2. Các hướng nghiên cứu tương tác trong dạy học ..................................... 11

1.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam về tương tác, tương tác tâm lý........................ 15

1.2.1. Các nghiên cứu về tương tác trong tâm lý, xã hội học ........................... 15

1.2.2. Các nghiên cứu tương tác trong giáo dục ............................................... 17

Tiểu kết Chƣơng 1 ................................................................................................... 19

Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP

HỌC GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC .............. 20

2.1. Tương tác tâm lý ............................................................................................ 20

2.1.1. Tương tác ................................................................................................ 20

2.1.2. Tương tác tâm lí...................................................................................... 23

2.2. Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại

học ......................................................................................................................... 38

2.2.1. Hoạt động dạy - học trong nhà trường đại học ....................................... 38

2.2.2. Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên .................. 43

2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học ........................................................................ 53

2.3.1. Các yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân ........................................................ 53

2.3.2. Yếu tố bên ngoài chủ thể ........................................................................ 56

Tiểu kết Chƣơng 2 ................................................................................................... 60

Chƣơng 3. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 61

3.1. Tổ chức nghiên cứu ....................................................................................... 61

3.1.1. Địa bàn nghiên cứu ................................................................................. 61

3.1.2. Khách thể nghiên cứu ............................................................................. 62

3.1.3. Các giai đoạn nghiên cứu ....................................................................... 63

3.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 63

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận ............................................................ 63

3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .................................................. 64

3.2.3. Phương pháp thực nghiệm ...................................................................... 74

Tiểu kết Chƣơng 3 ................................................................................................... 77

Chƣơng 4. THỰC TRẠNG TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP GIỮA

GIẢNGVIÊNVÀ SINH VIÊN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC ............................ 79

4.1. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh

viên qua các biểu hiện của tương tác. ................................................................... 79

4.1.1. Đánh giá chung về mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng

viên và sinh viên biểu hiện qua các biểu hiện của tương tác ........................... 79

4.1.2. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên, xét theo biến số năm học của sinh viên ................................................... 83

4.2. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên được

thể hiện qua các biểu hiện tâm lý tham gia tương tác ........................................... 85

4.2.1. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

biểu hiện qua mức độ nhu cầu tương tác .......................................................... 85

4.2.2. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

biểu hiện qua mức độ tương hợp tâm lý trong tương tác ................................. 92

4.2.3. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên

biểu hiện qua mức độ phối hợp giữa giảng viên và sinh viên trong tương

tác .................................................................................................................... 100

4.2.4. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên biểu hiện qua sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa GV và SV trong tương tác .. 107

4.2.5. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên qua tần số tương tác của giảng viên và sinh viên ................................... 113

4.2.6. Mối tương quan giữa các biểu hiện thành phần tâm lý trong tương

tác giữa giảng viên và sinh viên ..................................................................... 118

4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng mức độ tương tác tâm lý trên lớp học của giảng

viên và sinh viên ................................................................................................. 121

4.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về tâm lý giảng viên và sinh viên ........... 121

4.3.2. Các yếu tố liên quan thuộc bên ngoài chủ thể ...................................... 124

4.3.3. Đánh giá tầm quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến tương tác

tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường Đại học ...................... 126

4.4. Phân tích trường hợp điển hình.................................................................... 129

4.4.1. Chân dung giảng viên có mức tương tác tâm lý tương đối thấp .......... 129

4.4.2. Chân dung sinh viên có mức tương tác tâm lý thấp ............................. 131

4.5. Đề xuất biện pháp và kết quả thực nghiệm các biện pháp tác động ............ 133

4.5.1. Đề xuất biện pháp nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học

của giảng viên và sinh viên ............................................................................ 133

4.5.2. Kết quả thực nghiệm các biện pháp tác động ....................................... 134

4.5.2.1. Kết quả thay đổi mức độ tương hợp qua nâng cao hiểu biết về

nhau ................................................................................................................ 134

4.5.2.3. Kết quả thay đổi mức độ tương tác tâm lý của giảng viên và sinh

viên ................................................................................................................. 140

Tiểu kết Chƣơng 4 ................................................................................................. 141

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 146

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG

Đại học 1. ĐH

Đại học Công nghiệp 2. ĐHCN

Đại học Ngân hàng 3. ĐHNH

Đại học Sài Gòn 4. ĐHSG

Độ lệch chuẩn 5. ĐLC

Điểm trung bình 6. ĐTB

Giảng viên 7. GV

8. KH&CN Khoa học và Công nghệ

Kĩ năng 9. KN

Năng suất lao động 10. NSLĐ

Số lượng 11. SL

Sư phạm tương tác 12. SPTT

Sinh viên 13. SV

Thứ bậc 14. T.Bậc

Trung bình 15. TB

16. TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam 17. VN

Kĩ năng kĩ xảo 18. KNKX

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu giảng viên ........................................... 62

Bảng 3.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu sinh viên ............................................. 62

Bảng 3.3. Độ tin cậy của phép đo trên mẫu giảng viên ......................................... 67

Bảng 3.4. Độ tin cậy của phép đo trên mẫu sinh viên ............................................ 67

Bảng 4.1. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

qua các biểu hiện tương tác ................................................................... 79

Bảng 4.2. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

theo năm học của sinh viên .................................................................... 83

Bảng 4.3. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên

qua nhu cầu tương tác ............................................................................ 85

Bảng 4.4. Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên qua nhu cầu, theo năm học của sinh viên. ..................................... 91

Bảng 4.5. Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và

sinh viên qua tương hợp tâm lý ............................................................. 93

Bảng 4.6. Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên qua sự tương hợp tâm lý trong tương tác, theo năm học của

sinh viên ................................................................................................. 98

Bảng 4.7. Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và

sinh viên qua sự phối hợp lẫn nhau qua các kĩ năng tương tác, xét

chung .................................................................................................... 101

Bảng 4.8. Biểu hiện sự phối hợp lẫn nhau qua các kỹ năng tương tác trên lớp

của giảng viên và sinh viên, theo năm học của sinh viên .................... 104

Bảng 4.9. Biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên

qua ảnh hưởng lẫn nhau ....................................................................... 107

Bảng 4.10. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên biểu

hiện qua sự ảnh hưởng lẫn nhau, theo năm học của sinh viên ............ 111

Bảng 4.11. Biểu hiện tần số tương tác trên lớp học của giảng viên và sinh viên ...... 113

Bảng 4.12. Biểu hiện tần số tương tác trên lớp học của giảng viên và sinh viên,

theo năm học của sinh viên .................................................................. 116

Bảng 4.13. Tầm quan trọng của từng biểu hiện thành phần tham gia tương tác ....... 120

Bảng 4.14. Các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên và sinh viên ............................ 121

Bảng 4.15. Mức độ hiểu biết của giảng viên và sinh viên về tương tác tâm lý ..... 123

Bảng 4.16. Các yếu tố bên ngoài tác động đến tương tác trên lớp của giảng viên

với sinh viên ......................................................................................... 125

Bảng 4.17. Tương quan giữa các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên, sinh viên

đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ................. 127

Bảng 4.18. Tương quan giữa các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tương tác

tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ....................................... 128

Bảng 4.19. Kết quả thay đổi mức độ tương hợp qua hiểu biết về nhau ................. 135

Bảng 4.20. Kết quả thay đổi mức độ phối hợp qua kĩ năng tương tác tâm lý ....... 137

Bảng 4.21. Kết quả thay đổi mức độ tương tác tâm lý của giảng viên và sinh viên .... 140

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 4.2. Mối tương quan giữa các thành phần tâm lí trong tương tác giữa

giảng viên với sinh viên .................................................................... 118

Biểu đồ 4.3. Tầm quan trọng của từng biểu hiện tần số, nhu cầu, ảnh hưởng,

tương hợp, phối hợp trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng

viên và sinh viên ................................................................................ 120

Biểu đồ 4.4. Tương quan giữa các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên, sinh viên

đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên .............. 127

Biểu đồ 4.5. Tương quan giữa các yếu tố bên ngoài đến tương tác tâm lý trên

lớp giữa giảng viên và sinh viên ....................................................... 129

Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các thành phần trong tương tác tâm lý ................... 37

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Hoạt động với đối tượng và tương tác là các phương thức phát triển của cá nhân. Nhà triết học người Đức L.A Feuerbach đã chỉ ra rằng: “Bản chất người chỉ tồn tại

trong các mối quan hệ, trong sự thống nhất của con người với con người, sự thống

nhất chỉ dựa trên hiện thực của sự khác nhau giữa Tôi và Bạn. Con người cho mình là

con người trong nghĩa bình thường: con người trong giao tiếp với con người, sự thống nhất của Tôi và Bạn là Thượng đế”[48].

Điều đó khẳng định rằng, con người không thể sống, lao động, học tập… mà

thiếu sự tương tác. Sự phát triển tâm lý cá nhân là kết quả của quá trình tương tác giữa

cá nhân với thế giới xung quanh, đặc biệt là với người khác trong xã hội. Sự phát triển đó nhanh hay chậm, tốt hay xấu … là kết quả quá trình tương tác.

Tương tác trong dạy học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tâm lý

học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Lý luận và thực tiễn dạy học đã cho thấy:

Quá trình dạy học hiện đại về bản chất là sự tương tác giữa thầy và trò, giữa trò với

môi trường học tập, trong đó, tương tác giữa thầy và trò là chủ đạo. Tài liệu Giáo dục

– của cải nội sinh của Ủy ban giáo dục đi vào thế kỉ XXI – UNESCO đã chỉ rõ: “Thế

kỉ XXI là thế kỉ mà hoạt động dạy học, trong đó mối quan hệ thầy trò (tương tác thầy -

trò) giữ vai trò trung tâm trong nhà trường”[73].

Cuộc sống mỗi ngày một thay đổi với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng. Vì

thế, hoạt động đào tạo, dạy – học cũng thường xuyên thay đổi. Hoạt động dạy và hoạt

động học của thầy và trò cũng phải thích ứng với sự phát triển của xã hội, của tâm lý,

nhận thức của đối tượng tác động. Giáo dục và đào tạo trong nhà trường không còn chỉ

chú trọng tạo ra những con người giỏi về kiến thức chuyên môn mà còn phải tạo ra

những con người hoàn thiện về mặt nhân cách, đạo đức. Muốn hoàn thành mục tiêu này thì mỗi người giảng viên và sinh viên phải nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình, trong đó tương tác tâm lý đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi đây là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sư phạm diễn ra thành công. Tương tác tâm lý trên lớp học không chỉ là công cụ, phương tiện mà còn là nội dung, mục đích của hoạt động dạy học. Qua tương tác tâm lý trên lớp, thầy và trò tác động và hình thành ở nhau tri thức, kinh

nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp. Qua tương tác tâm lý trên lớp mà thầy có thể tác động sâu đến thế giới tinh thần của trò, thiết lập được ở nhau mối quan hệ gắn bó, ảnh

hưởng và kích thích nhau hướng đến và đạt được thành công trong hoạt động dạy -

2

học. Không có tương tác tâm lý thì không thể đạt được mục đích của giáo dục. Trong thực tế tổ chức hoạt động dạy học ở trường đại học, hoạt động dạy học là hoạt động có

mục đích, diễn ra theo nội dung, qua việc sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình

thức dạy học. Tuy nhiên, để hoạt động dạy – học tốt, người giảng viên và sinh viên

trong quá trình đó cần phải có sự hiểu biết về nhau, sự đồng cảm, chia sẻ, thân thiện, hợp tác, ảnh hưởng, làm nền tảng giúp giảng viên và sinh viên tiến hành hoạt động

thành công.

Dạy học đại học hiện nay theo phương thức tích lũy tín chỉ, tạo cơ hội để sinh

viên tự nghiên cứu rất nhiều. Điều đó, bắt buộc sinh viên phải trao đổi với giảng viên

để thầy tư vấn, giúp đỡ. Giờ lên lớp trong học chế tín chỉ không đơn thuần là những

buổi thuyết trình một chiều, giảng viên truyền thụ mà là những buổi giảng viên định

hướng, trao đổi, giải đáp những vấn đề nội dung học tập. Theo đó, đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi cao tính tích cực làm việc, tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên,

tương tác tâm lý vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện của dạy học theo tín chỉ. Thực tiễn

đã minh chứng, hiệu quả giáo dục và đào tạo trong nhà trường (nói chung), trường đại

học (nói riêng) phụ thuộc rất lớn vào sự tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên.

Trong quá trình lên lớp, khi giảng viên và sinh viên “tâm ý tương thông” “tâm đầu ý

hợp” với nhau thì quan hệ giữa giảng viên và sinh viên trở nên gần gũi, thân mật, hiệu

ứng mong chờ, mong muốn được học xảy ra, khoảng cách giữa giảng viên và sinh viên

được rút ngắn. Ngược lại, nếu thiếu sự tương tác tâm lý sẽ dẫn đến thầy – trò trên lớp

khó có sự liên kết, kết nối, hợp tác với nhau, dẫn đến hậu quả càng tác động đến nhau

càng ảnh hưởng tiêu cực như: sinh viên lười học, không thích học, thiếu ý thức học tập

và rèn luyện, học tập đối phó, vi phạm những quy chế, quy định, nội quy đào tạo. Do vậy, nếu trên lớp giữa thầy và trò không có sự tương tác tâm lý mà trong đó lấy sự

thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ, thân thiện làm nền tảng, giúp thầy - trò hợp tác, phối

hợp nhau thì những hoạt động mang tính chất tư vấn, giúp đỡ theo tinh thần học chế

tín chỉ sẽ bị hạn chế.

Mặc dù tương tác tâm lý rất quan trọng trong quá trình thiết lập, hình thành, phát triển và duy trì mối quan hệ bền vững, hiệu quả, nhưng tương tác tâm lý trên lớp học hầu như chưa được đề cập đếntrong các nghiên cứu. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm

thế nào để tăng hiệu quả tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mà Nhà

nước, Xã hội đã đặt ra cho công tác giáo dục, đào tạo nói chung, các trường đại học

nói riêng.

3

Xuất phát từ những yêu cầu lý luận, thực tiễn nêu trên,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở

Trường đại học”.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn

về tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên một số trường đại học

hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp

tác động nhằm cải thiện mức độ tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp

học ở trường đại học.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng khung lí luận cho việc nghiên cứu thực tiễn: Làm rõ các khái niệm tương tác, tương tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên;

tiêu chí đánh giá, mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và

sinh viên ở trường đại học.

- Nghiên cứu làm rõ thực trạng mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học

giữa giảng viên và sinh viên và các yếu tố (tâm lý cá nhân; yếu tố khách quan) ảnh

hưởng đến tương tác tâm lý giữa giảng viên với sinh viên.

- Đề xuất và tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng

cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên (nâng cao sự

tương hợp tâm lý bằng việc tổ chức các hoạt động, tạo điều kiện cho giảng viên, sinh

viên thêm hiểu biết về nhau; nâng cao các kĩ năng trong phối hợp tương tác như kĩ

năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lắng nghe và kĩ năng tự chủ cảm xúc)

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu - Tương tác tâm lý là lĩnh vực rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu mức độ tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp biểu hiện qua: nhu cầu tương tác, sự tương

hợp tâm lý trong tương tác, sự phối hợp hành động, tần số tương tác và ảnh hưởng

lẫn nhau giữa các chủ thể trong tương tác, là các thành phần của tương tác.

4

- Xem xét một số yếu tố thuộc tâm lý cá nhân (hiểu biết về vai trò của tương tác, thái độ đối với tương tác, năng lực); những yếu tố khách quan (phương thức đào tạo

theo tín chỉ, tính chất môn học, quy mô lớp học) ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện tương

tác.

- Thực nghiệm tác động, chỉ tiến hành thực nghiệm biện pháp bồi dưỡng nâng cao sự tương hợp và phối hợp lẫn nhau giữa giảng viên với sinh viên thông

qua việc nâng cao hiểu biết lẫn nhau và kĩ năng tương tác của giảng viên và sinh

viên.

3.2.2. Giới hạn về địa bàn và khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

tại 3 trường đại học trên địa bàn Tp.HCM với tổng số khách thể tham gia và khảo sát

gồm 670 người. Trong đó có 609 sinh viên và 61 giảng viên ở 3 trường đại học (Trường ĐH Sài Gòn - ĐH Công Nghiệp TP. HCM - ĐH Ngân Hàng). Ngoài ra, đề tài

còn trao đổi với một số cán bộ lãnh đạo Khoa, Trường ở các trường đại học được

nghiên cứu

4. Nguyên tắc và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Những nguyên tắc phương pháp luận

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận

cơ bản của tâm lý học dạy học, tâm lý học sư phạm sau:

4.1.1. Nguyên tắc hoạt động

Thông qua hoạt động, những đặc điểm tâm lý của cá nhân hay của nhóm được

hình thành và thể hiện ra bên ngoài một cách rõ nét. Vì vậy, những biểu hiện của

tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học được chúng tôi tiến hành nghiên cứu thông qua các hoạt động thực tiễn (hoạt động dạy – học trên lớp).

4.1.2. Nguyên tắc tiếp cận liên ngành

Vấn đề tương tác giữa giảng viên với sinh viên trên trên lớp là giao thoa của

nhiều ngành khoa học: Tâm lí học đại cương, Tâm lí học phát triển, Tâm lí học sư phạm, giáo dục học, lí luận dạy học …. Vì vậy, nghiên cứu tương tác tâm lí giữa giảng viên với sinh viên trên lớp phải theo hướng liên ngành, trong đó Tâm lí học phát triển và Tâm lí học sư phạm là cốt lõi.

4.1.3. Nguyên tắc tiếp cận hệ thống Con người là một thể thống nhất và rất phức tạp. Tương tác của họ chịu ảnh

hưởng của nhiều nhân tố khác nhau (nhân tố cá nhân, nhân tố xã hội). Do đó, xem xét

mức độ tương tác phải được đặt trong và dựa trên mối quan hệ tác động của nhiều

5

nhân tố một cách hệ thống.

4.1.4. Nguyên tắc thực tiễn

Hoạt động dạy và học nói chung, tương tác trên lớp nói riêng của giảng viên và

sinh viên diễn ra trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, gắn liền với tổ chức đào tạo theo

học chế tín chỉ và gắn với đặc trưng đào tạo của các trường đại học khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp phải gắn với hoàn cảnh

cụ thể, theo nguyên tắc thực tiễn.

4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 4.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

4.2.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

4.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

4.2.4. Phương pháp quan sát 4.2.5. Phương pháp phỏng vấn sâu

4.2.6. Phương pháp thực nghiệm tác động

4.2.7. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

7.2.8. Phương pháp thống kê toán học

5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài

5.1. Đóng góp về mặt lý luận

Luận án đã bổ sung và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tương

tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên. Cụ thể: Trên cơ

sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm của các nhà tâm lý học - giáo dục học trên

thế giới và một số học giả Việt Nam. Luận án đã xây dựng khái niệm về tương tác tâm

lý; tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên. Xác định các biểu hiện của tương tác tâm lý bao gồm: nhu cầu tương tác; tương hợp tâm lý; phối hợp tâm lý;

ảnh hưởng tâm lý, tần số tương tác. Việc bổ sung và làm sáng tỏ các vấn đề trên góp

phần làm phong phú thêm lí luận tâm lí học sư phạm đại học, làm tài liệu tham khảo

trong giảng dạy, nghiên cứu tương tác trong tâm lí học.

5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

Trên cơ sở xác định về lý luận, luận án đã khảo sát và xác định được các mức độ biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên (mức độ nhu cầu

tương tác; mức độ tương hợp tâm lý; mức độ phối hợp tâm lý; mức độ ảnh hưởng tâm lý, tần số tương tác), các yếu tố ảnh hưởng, đồng thời đề xuất được các biện pháp nâng

cao tương tác.

Những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nêu trên đã góp phần làm

6

phong phú thêm lý luận Tâm lý học sư phạn đại học, làm tài liệu tham khảo trong giáo dục và nghiên cứu tâm lý học trong các trường đại học.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu về khái niệm, các mức độ biểu hiện về tương tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên đã góp phần làm phong phú

thêm lý luận của Tâm lý học sư phạm đại học, đồng thời là cơ sở lý luận cho việc đổi

mới phương pháp đào tạo ở đại học.

6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về mức độ các biểu hiện, yếu tố ảnh hưởng, biện pháp tác

động đã góp phần củng cố về lý luận Tâm lý học sư phạm đại học và là cơ sở thực tiễn

cho việc đổi mới. nâng cao chất lượng dạy và học ở đại học hiện nay. Đồng thời cung cấp tư liệu thực tiễn cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và giảng dạy Tâm lý học sư

phạm đại học.

7. Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 150 trang bao gồm các phần: Mở đầu, nội dung 4 chương (Chương

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và

sinh viên ở trường đại học; Chương 2. Cơ sở lý luận về tương tác tâm lý trên lớp học

giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học; Chương 3. Tổ chức thực hiện và

phương pháp nghiên cứu; Chương 4. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học trên địa bàn TP.HCM), kết luận – kiến nghị, tài liệu

tham khảo, danh mục các công trình công bố và phụ lục.

7

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC

1.1. Các nghiên cứu trên thế giới về tƣơng tác tâm lý giữa ngƣời dạy với ngƣời học

Do vai trò to lớn của tương tác đối với sự phát triển cá nhân và xã hội, nên vấn đề này đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu từ rất lâu. Có thể

khái quát thành các hướng cơ bản sau:

1.1.1. Nghiên cứu tương tác trong một số lí thuyết tâm lí học - Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học hành vi Thuyết hành vi nghiên cứu về tương tác của cá nhân với môi trường dưới dạng sự tác

động qua lại giữa các kích thích của tác nhân bên ngoài với phản ứng của cá thể theo cơ chế

S - R. Các nhà tâm lý học theo trường phái này hầu như không quan tâm đến tâm lý, ý thức

của chủ thể mà chỉ quan tâm đến hành vi tồn tại của con người. Hành vi được xem là tổ hợp

các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài. Hành vi được quy

gọn vào cặp đôi duy nhất: Kích thích (S) – Phản ứng (R) để giải thích bản chất, cơ chế của

sự phát triển tâm lý của con người và động vật. Sự phát triển của tâm lý học hành vi đưa

đến các nhánh hành vi khác nhau trong lý thuyết hành vi.

Theo J.Watson, hành vi tương tác là sự xuất hiện phản ứng (R) khi có tác động của

một kích thích (S) nhằm đáp lại kích thích đó. Nói cách khác, mọi hành vi của con người

đều được giải thích dựa trên cơ chế S - R: trong đó S là kích thích; R là phản ứng và

theo quá trình nhận kích thích và phản ứng của cá thể với cá thể, cá thể với nhóm, cá

thể với môi trường cũng chính là quá trình tương tác giữa kích thích và phản ứng của cá thể theo sơ đồ chung: S R. Theo mô hình này, bất kì hành vi nào cũng có thể đưa về cấu thành đơn giản như vậy. E.C.Tolman đã nghiên cứu vai trò các yếu tố trung gian của cá thể trong việc tiếp nhận và xử lý các kích thích của môi trường. Trong nghiên cứu của ông, hành vi không phải là tổng số các phản ứng riêng lẻ mà là một phản ứng tổng thể không thể chia cắt. Sự hình thành các hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố

trung gian của cá thể như nhu cầu, mục đích, trạng thái cơ thể…. Trong đó mục đích có tính quyết định. Bất kì hành vi nào cũng hướng vào một mục đích nào đó, vì một lợi ích

nào đó của cá nhân trên cơ sở một số phương tiện. Ông phân các yếu tố trung gian thành

5 nhóm: các kích thích của môi trường, các động cơ tâm lý, di truyền, sự dạy học từ

trước, tuổi tác. Hành vi là hàm số của tất cả các biến số như vậy, vì vậy sơ đồ tương tác

8

hành vi theo mô hình của ông là S-O-R, trong đó O (Organisme) là các biến trung gian, tức là tất cả những gì gắn với cơ thể, tham gia vào quá trình tương tác. [42], [94], [104],

[157],[166].

Trong quan điểm tương tác hành vi dựa trên sự quan sát xã hội của mình,

A.Bandura hướng vào việc hình thành hành vi thông qua việc quan sát hành vi của người khác. Theo ông, hành vi của một cá nhân không phải bao giờ cũng được hình

thành bằng con đường trực tiếp có kích thích - phản ứng bên ngoài (J.Watson) mà có thể

được hình thành từ quan sát, bắt chước hành vi của người khác. Ông cho rằng, cá nhân

hình thành hành vi không phải vì bản thân hành vi đó mà là do hậu quả của nó mang lại

đối với nhu cầu của cá nhân. Theo đó, ông đưa ra hai hình thức hình thành hành vi thông

qua sự tương tác: a) Qua quan sát để tạo ra sự thay thế. b) Qua bắt chước hành vi của

người làm mẫu. Có thể nói, những phát hiện của A. Bandura về cơ chế học tập quan sát xã hội chính là cơ sở của tương tác tâm lý giữa các chủ thể, giữa người dạy và người học

trong dạy học. [157]

- Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học nhận thức

J. Piaget (1896 -1980) và các cộng sự của ông là những người sáng lập ra thuyết tâm

lý học nhận thức theo nguyên lý cân bằng hóa. Cân bằng tâm lý chính là sự bù trừ do các

hoạt động của chủ thể trả lời các kích thích từ ngoài vào. Khi cơ thể có một nhu cầu nào

đó, con người rơi vào trạng thái mất cân bằng. Khi đó, chủ thể phải nỗ lực để tạo ra sự cân

bằng mới. Trong đời sống tâm lý cũng vậy, muốn làm cho trẻ nhận thức, tư duy, suy nghĩ

tích cực thì phải đặt trẻ vào trạng thái mất cân bằng hay còn gọi là tình huống có vấn đề để

trẻ giải quyết, tạo ra sự cân bằng về nhận thức.

Theo lý thuyết này, tương tác là quá trình điều chỉnh các chức năng tâm lý của cá nhân theo cơ chế đồng hóa và điều ứng. Đồng hóa là quá trình chủ thể tiếp nhận

kích thích từ khách thể vào cấu trúc hoạt động đã có (xử lý các tác động bên ngoài

nhằm đạt một mục tiêu nào đó). Điều ứng là quá trình chủ thể đem cấu trúc hoạt

động đã được tạo ra trước đó thích ứng theo kích thích của khách thể. Trong các nghiên cứu của mình, J.Piaget cũng nhấn mạnh đến sự tương tác và chuyển giao xã hội. Đặc biệt, trong nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ trẻ, học thuyết nhấn mạnh cơ chế phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ của trẻ qua các giai đoạn lứa tuổi là

kết quả của sự tương tác giữa trẻ với thế giới đồ vật và xã hội. Sự tương tác xã hội có tính hai mặt; một mặt, sự xã hội hóa là quá trình sơ đồ hóa, trong đó cá nhân nhận

được những khuôn mẫu trí tuệ xã hội tương ứng với sự tương tác của trẻ với xã hội

trong từng lứa tuổi; mặt khác, tác động của xã hội chỉ có tác dụng khi có sự đồng hóa

9

tích cực của trẻ. J.Piaget cho rằng, muốn chuyển từ một giai đoạn sang giai đoạn kế tiếp, trẻ phải vươn tới mức trưởng thành nhất định và trải đủ loại kinh nghiệm thích

hợp. Không có được các kinh nghiệm ấy, chưa thể xem trẻ có đủ khả năng vươn

được đến đỉnh điểm phát triển trí tuệ của chúng [42], [59], [115], [99], [107].

- Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học nhân văn Trong quá trình nghiên cứu tâm lý con người, nhà tâm lý học nhân văn

C.Rogers (1902 – 1987) nhấn mạnh đến quá trình thiết lập, tạo lập mối tương giao.

Ông quan niệm, tương tác giữa các cá nhân sẽ thuận lợi, hiệu quả khi tạo được mối

tương giao. Mối tương giao với ông, nghĩa là khi ta tạo được điều kiện thuận lợi để

người tương tác có thể truyền thông cho ta những tình cảm, thế giới nội tâm của họ;

là khi ta biết lắng nghe họ nói để hiểu họ, đồng cảm, chia sẻ được với họ…thì ta càng

đạt tới hiệu quả của quá trình tương tác. Lý thuyết của ông được ứng dụng hiệu quả trong tâm lý trị liệu cũng như hữu ích với mọi mối tương giao như cha mẹ - con cái;

giảng viên – sinh viên. [9], [173]

- Tương tác trong lý thuyết phát triển tâm lý – xã hội của Eric Erikson

Trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển tâm lý con người, E.Erikson quan

niệm rằng, con người là sản phẩm của xã hội và cho rằng, con người trong quá trình

phát triển thường xuyên phải đối mặt với các khủng hoảng là do không thiết lập được sự

cân bằng trong quá trình tương tác giữa cá nhân với xã hội. Ông nổi tiếng với thuyết

khủng hoảng tính đồng nhất; tám khủng hoảng cuộc sống. Trong nghiên cứu của mình,

ông đã chia sự phát triển đời sống tâm lý con người thành 8 giai đoạn gắn liền với quá

trình tương tác của cá nhân với xã hội [166].

- Tương tác trong nghiên cứu của học thuyết liên ngôi vị Các nhà nghiên cứu của thuyết liên ngôi vị như H.S Sulivan (1892 – 1994), Robert

Carson, theo Sulivan trong quá trình phát triển và hoạt động, cá nhân không tồn tại tách

biệt với xã hội, liên ngôi vị. Quá trình phát triển của các cá nhân bản chất là để cá nhân

thoả mãn các nhu cầu chủ yếu thông qua những tương tác liên ngôi vị.

Carson trong nghiên cứu của mình đã phác thảo một hệ thống các loại hình hành vi liên ngôi vị. Theo ông, con người có 4 loại hành vi liên ngôi vị bao gồm: thù địch; thân thiện, thống trị, phục tùng. Ông cho rằng sự tương tác giữa mọi người thay đổi theo tính

hiệu quả và các thành quả của chúng tuỳ thuộc vào các loại hành vi được biểu lộ và trao đổi lẫn nhau. Áp dụng hệ thống các loại hình hành vi, các loại hình này có thể tiêu biểu

cho bất kì sự tương tác định sẵn nào đó hay một loạt tương tác giữa hai người và quyết

định sự tương tác giữa cái được hay cái mất mà sự tương tác tiêu biểu cho mỗi người.

10

Học thuyết liên ngôi vị có ảnh hưởng lớn trong tâm lý học, được sử dụng rộng rãi

trong lĩnh vực trị liệu tâm lý. [9]

- Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học xã hội, xã hội học

Các nhà Tâm lý học xã hội, xã hội học như:G.Mead, Ch.H.Cooley (1863 – 1929),

G.H.Goffmen (1922 – 1982), Herber Blumer (1900 – 1987) lại nghiên cứu tương tác trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân; cá nhân với nhóm xã hội.

Điển hình, Ch.H.Cooley đã quan tâm nghiên cứu sự hình thành hành vi cá nhân

trong các mối tương tác xã hội. Từ các quan sát và thực nghiệm về sự tương tác xã hội

giữa các cá nhân và giữa cá nhân với nhóm, Ch.H.Cooley đã hình thành lý thuyết

tương tác nổi tiếng: “Tôi soi gương” hay là “cái tôi nhìn trong gương”. Theo đó, sự

hình thành “cái tôi”, tức là ý thức bản ngã của mỗi người là kết quả của sự tri giác

người khác, đọc được nhận thức, thái độ của người khác trước các tác động của mình.

Geogre Herbert Mead, nhà TLH hành vi xã hội người Mỹ là một trong những

người sáng lập ra thuyết “tương tác biểu trưng”. Ông đã xây dựng và phát triển khái

niệm “Cái tôi”, “Nhân cách”, “Tương tác”, “Biểu tượng” để nghiên cứu đặc điểm và

tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Theo hướng nghiên cứu

này G.Mead đã phát hiện ra vai trò của sự thấu hiểu hành vi của người khác và thông

qua sự thấu hiểu đó, cá nhân thay đổi nhận thức, hành vi ứng xử cho phù hợp, từ đó

hình thành và phát triển ý thức bản ngã (cái tôi) thông qua sự tương tác xã hội với người khác[14], [65], [94], [99], [159], [170].

- Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên xô trước đây

Lý thuyết này được khởi xướng bởi các nhà tâm lý học Liên xô trước đây mà đại

diện là L.X.Vưgotxki (1896–1934), A.N.Leonchiep(1903–1979), X.L.Rubinstein

(1889 - 1960), B.Ph.Lomov… Lý thuyết này quan niệm, con người là tồn tại xã hội;

xem xét hành vi tâm lý phải xét trong hoạt động, hoạt động là chìa khóa để tìm hiểu,

đánh giá, hình thành, phát triển tâm lý; ý thức được sản sinh trong quá trình con người hoạt động, giao lưu với xã hội.

L.X.Vưgotxki - nhà tâm lý học vĩ đại với học thuyết lịch sử - văn hoá về các chức năng tâm lý cấp cao ở người, đã chỉ ra, tương tác xã hội là quy luật tất yếu của sự hình thành và phát triển các chức năng tâm lý, văn hóa của cá nhân. Trong đó, yếu tố quan trọng là sự thấu hiểu nghĩa khách quan của hành động do người khác tác động và từ đó hình thành ý chủ quan của mình. Cũng từ nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra

khái niệm “vùng phát triển gần nhất”, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho dạy học tương

tác và dạy học phát triển, các phương hướng tích cực trong lĩnh vực dạy học sau này

11

và hiện tại [60], [84], [85], [105], [150].

B.Ph.Lomov cho rằng, tương tác là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lại

giữa người này với người khác, trong quá trình tương tác diễn ra sự trình diễn thế giới

nội tâm giữa các chủ thể. Theo ông, cùng với hoạt động có đối tượng, tương tác giữa

chủ thể với chủ thể là phương thức tồn tại và biểu hiện lối sống của mỗi cá nhân [83].

1.1.2. Các hướng nghiên cứu tương tác trong dạy học

Hoạt động dạy học thực hiện được nhờ sự tác động phối hợp giữa nhiều thành tố

trong cấu trúc của nó, bao gồm mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, thầy,

trò, môi trường. Sự tác động qua lại giữa các thành tố tạo nên sự vận động, phát triển

của cả quá trình dạy học theo mục tiêu đã định. Nghiên cứu, chỉ ra vai trò, mối quan hệ

tương tác giữa các thành tố trong quá trình dạy học đã được đề cập từ rất sớm trong

lịch sử giáo dục nhân loại. Có thể tựu trung vào những hướng nghiên cứu sau:

- Hướng nghiên cứu tương tác trong mối quan hệ tương tác giữa Thầy – Trò – Trò

Ngay từ thời cổ đại, Heraclitus (540 – 480 TCN) nhà hiền triết Hy lạp Cổ đại đã

đưa ra quan điểm: “Giáo dục, dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu người học

như người ta rót chất lỏng vào chai, thông qua cái phiễu. Thực chất giáo dục là thắp lên

ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho

mình một con đường, rồi tự bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn

đuốc ấy”[tr 21, 118]. Sau Heraclitus, Socrate (470 – 399 TCN) với “phương pháp bà

đỡ” mà bản chất là đề cao sự trao đổi giữa người dạy – người học trong dạy học, một

phương pháp cho đến nay vẫn được đánh giá cao. Trong phương pháp này, người dạy và

người học được xem là hai thành tố trung tâm, sự tác động qua lại giữa thầy và trò tạo

nên sự vận động và phát triển của quá trình dạy học nói chung, phát triển của người học nói riêng. Khổng Tử (551 – 479 TCN) nhà giáo dục (Vạn thế sư biểu) của Trung Hoa

trong các tác phẩm về giáo dục, Ông đã rất coi trọng vai trò tích cực, chủ động, độc lập

của người học bên cạnh vai trò của người thầy. Trong tương tác thầy – trò - trò, người

trò vừa là đối tượng, vừa là mục đích của hoạt động dạy học. Nhìn chung, đó là bài học lớn cho nhà trường hiện đại [118], [127], [128], [137].

Từ những thập niên 70, nhất là những năm 90 trở lại đây, dạy học nhấn mạnh mối tương tác giữa người học – người học (dạy học hợp tác) được nghiên cứu nhiều

và rất phổ biến. Có thể kể đến các tác giả với các công trình nghiên cứu theo hướng này như E.Aronson; R.E.Slavin; J.Cooper; D.W.Johnson & R.T.Johnson....

E.Aronson (Mỹ) với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên (1978) đã có những đóng góp

lớn trong việc hoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác. Nhiều công trình nghiên cứu

12

của ông cho thấy, thành tích cá nhân cũng như tập thể luôn cao hơn khi mọi người tương tác với nhau. Với rất nhiều công trình nghiên cứu từ 1981 đến 1989 về dạy học

hợp tác D.W.Johnson và R.T.Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng

dạy học hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thức dạy học

khác. Theo D.W.Johnson & R.T.Johnson: học tập hợp tác là toàn bộ những hoạt động học tập mà người học thực hiện cùng nhau trong các nhóm nhỏ với sự hướng

dẫn của GV nhằm tối ưu hóa việc học của các thành viên trong nhóm. D.W.Johnson,

R.T.Johnson; R.E.Slavin cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển dạy học

hợp tác thành một trong những phương pháp dạy học hiện đại nhất hiện nay [8].

Gần đây, tác giả M.Muntner (2008) đã nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của tương tác thầy – trò trong lớp học như là “chìa khóa” của một lớp học thành công. Trong đó ông đề cập tới những hỗ trợ về cảm xúc, tổ chức lớp học và những hỗ trợ

trong hướng dẫn của giáo viên[172].

Như vậy, ở hướng nghiên cứu này ngay từ thời cổ đại các tiền bối đã đề cập đến

sự tương tác giữa hai thành tố trung tâm là người thầy với người học, đặc biệt yếu tố

người học – người học và cho đến ngày nay người học luôn được xem là đối tượng,

mục đích của quá trình dạy học. Tuy nhiên, điều đó cũng bộc lộ cho thấy mối quan hệ

tác động qua lại giữa hai thành tố thầy – trò trước đây và trong dạy học hợp tác hiện

nay chưa được thể hiện một cách rõ nét, cũng như sự tương tác giữa thầy – trò – trò

với các yếu tố khác trong quá trình dạy học chưa được đề cập tới.

- Hướng nghiên cứu tương tác trong mối quan hệ giữa Thầy – Trò – Môi trường

Sau đêm dài Trung cổ, nhân loại bước vào thời kì Phục hưng, thời kì chủ nghĩa

nhân văn tỏa sáng. Nền giáo dục cận đại được manh nha từ những tư tưởng tiến bộ của

J. A. Komenski (1592 – 1670), nhà sư phạm lỗi lạc của thế giới, được người đời thừa

nhận là ông tổ của nền giáo dục cận đại với sáng kiến hình thành “lớp học” (hình thức

dạy học lớp bài ngày nay), tên tuổi ông càng được khẳng định trong hàng loạt những sáng kiến, tác phẩm ông để lại. Tác phẩm Lý luận dạy học vĩ đại (1632) của ông đã đi vào lịch sử, là một mốc son đánh dấu cho sự ra đời của lý luận giáo dục nhà trường

hiện đại. Trong tác phẩm của mình, ông đã khẳng định vai trò quan trọng và sự tương tác của ba thành tố trong quá trình dạy học: vai trò của người dạy, môi trường, đặc biệt vai trò của người học [69].

Từ những thế kỉ XVIII về sau, lý thuyết về dạy học tương tác được đề cập nhiều

ở các nước phương tây. Điển hình như; JoSeph Lancaster và Andrew Bell (Anh),

Fancis Parker, John Deway (Mỹ), F. Jones và Louise Jones (Mỹ)là những người ủng

13

hộ đắc lực cho dạy học tương tác.

F. Jones và Louise Jones (Mỹ), tác giả đã bình luận về những nguyên tắc tạo ra

một môi trường học tập phù hợp với học sinh tiểu học. Tác giả quan niệm rằng, việc

tạo nên một môi trường học tập phù hợp với học sinh trong đó tương tác giữa học sinh

và giáo viên trong lớp học như là sự kết nối tạo ra bầu không khí tốt hơn cho môi trường lớp học. Tác giả cũng cho rằng, tất nhiên giáo viên sẽ không thể hiểu tất cả vấn

đề của mọi người học trong lớp học của mình, nhưng cần biết đủ thông tin về người

học với những nhiệm vụ cụ thể, việc đó giúp giáo viên có thể nhận thức được bất cứ

khó khăn nào mà học sinh có, hiểu những vấn đề, nỗi sợ hãi hoặc nhầm lẫn của học

sinh sẽ cho giáo viên hiểu biết tốt hơn về khó khăn trong học tập của học sinh. Khi

giáo viên nhận thức được những vấn đề, họ sẽ có sự kiên nhẫn hơn với học sinh, vì vậy

giúp học sinh cảm giác an toàn và không nhầm lẫn trong học tập ở lớp học. Các tác giả khẳng định, giáo viên càng kết nối hoặc tương tác với học sinh của mình, thì giáo viên

càng có thể giúp học sinh đạt mức độ học cao và nhanh hơn[165].

John Deway (Mỹ), trong tác phẩm “Nền dân chủ và giáo dục” đã chỉ ra rằng

con người bản chất sống cần tương tác, trẻ cần được dạy để biết cảm thông, tôn trọng

quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề và cần được trải

nghiệm những vấn đề đó ngay từ trong nhà trường. Với tư tưởng giáo dục đề cao vai

trò người học “lấy người học làm trung tâm”, ông chủ trương xây dựng “nhà trường

hoạt động” – “dạy học qua việc làm”. Tư tưởng giáo dục của ông đã hình thành một

phong trào giáo dục hiện đại trên khắp thế giới, đặc biệt ở các nước Âu, Mỹ [31].

Trải qua các thời kì lịch sử, tư tưởng đó ngày càng được khẳng định và phát triển.

Lý thuyết dạy học biện chứng của nhà tâm lý học, giáo dục học Liên Xô theo trường phái phát triển (đã đề cập ở trên) L.X.Vưgotxki không chỉ ảnh hưởng lớn đến khoa học

Tâm lý học mà còn ảnh hưởng lớn đến các trường phái dạy học hiện đại, khi ông cho

rằng: Sự phát triển nhận thức diễn ra tốt nhất khi tác động được tới “vùng phát triển gần

nhất” của người học. Nghĩa là, trong quá trình dạy học người thầy không chỉ phát hiện ra trình độ hiện có của người học mà còn phải phát hiện ra vùng phát triển gần nhất thông qua sự hợp tác giữa người học – người thầy trong quá trình người học giải quyết nhiệm vụ học tập [Dẫn theo 57], [54]. Việc đưa khái niệm “vùng phát triển gần nhất”

của L.X.Vưgotxki trong dạy học đã tạo cơ sở khoa học vững chắc và mở ra một trào lưu mới cho dạy học tương tác, dạy học phát triển và dạy học tích cực.

Các nhà giáo dục Nga: N.V.Savin, T.A.Ilina, B.P.Exipop, M.A.Danhilop,

Iu.K.Babanxki, v.v... trong các lý thuyết dạy học của mình đã xác định tính chất nhiều

14

yếu tố của hoạt động dạy học và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, trong đó mối quan hệ giữa người dạy – người học được coi là yếu tố trung tâm [Dẫn theo 53].

Gần đây, tại trung tâm nghiên cứu giáo dục quốc tế (CERI) – Paris, nhóm nghiên

cứu của tác giả Jean. Marc Denomine và Madeleine Roy đã nghiên cứu và thực nghiệm

thành công đường hướng tổ chức dạy học mới trong hoạt động sư phạm gọi là “Tiến tới một sư phạm tương tác” [28]. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã xác định cấu

trúc hoạt động dạy học gồm ba thành tố: Người dạy – người học – môi trường, là ba

thành tố trung tâm, cơ bản, chỉ rõ chức năng, mối quan hệ của các thành tố. Nói cách

khác, chính là sự tương tác giữa ba thành tố. Các tác giả đã mô tả một cách logic hoạt

động dạy học trên nền tảng tương tác, mở ra hướng tiếp cận dạy học trên nhiều mặt.

Có thể nói trong nghiên cứu của mình, các tác giả theo hướng này đã nhìn nhận

hoạt động dạy học như là một quá trình tương tác giữa ba thành tố: Người dạy - Người học - Môi trường và được xem xét về chức năng, cấu trúc và mối quan hệ giữa chúng. Ở

đây yếu tố “kiến thức” được hai tác giả xem như một yếu tố khách quan mà người dạy

muốn hướng người học chiếm lĩnh.... Yếu tố môi trường được đặt trong mối quan hệ

tương tác với người dạy, người học. Khác với các quan niệm trước đó, ở đây yếu tố môi

trường được quan tâm xem xét kĩ lưỡng hơn trong mối quan hệ người dạy, người học.

Tuy nhiên, các tác giả trên đã tiếp cận tổ chức tương tác thiên về quan điểm sinh học,

tức coi người học như là một bộ máy mà ở đó đưa đúng các hoạt động của hệ thần kinh

tiếp nhận những thông tin từ môi trường (Mối quan hệ tương tác giữa bộ máy học – hoạt

động của hệ thần kinh với môi trường) mà thiếu sự quan tâm nhiều tới góc độ tương tác

xã hội (cá nhân – cá nhân, cá nhân - nhóm), tương tác tâm lý. Đặc biệt, những biện

pháp, kĩ thuật trong tổ chức các tương tác dạy học chưa được đề cập tới một cách rõ ràng. Điều này đã làm hạn chế kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả. Song thực tế,

những nội dung cơ bản của quan điểm mà các tác giả đã đề cập như: Tăng mối quan hệ

tương tác giữa các yếu tố dạy học, trong đó yếu tố môi trường được quan tâm sẽ là một

hướng tiếp cận dạy học khoa học, phù hợp xu hướng dạy học hiện nay.

Cũng quan điểm này, gần đây được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam, gây được sự chú ý của nhiều nhà khoa học giáo dục, sư phạm quan tâm nghiên cứu, ứng dụng và đã mang lại những kết quả ứng dụng nhất định, góp phần vào sự đổi mới giáo dục Việt

Nam.

Nhóm tác giả Guy Brouseau, Claude Comiti... viện đào tạo giáo viên (IUFM)

Pháp nghiên cứu về lý thuyết tình huống đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư

phạm thúc đẩy hoạt động học của người học lên mức cao nhất mà vẫn không làm lu

15

mờ hay hạ thấp vai trò người dạy với tư cách là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả

đã xác nhận cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn nhân tố: người dạy - người học – nội

dung – môi trường. Các tác giả này đã chỉ ra cơ chế tác động qua lại giữa các thành tố:

người dạy – người học – nội dung – môi trường. Xác định thêm tác động của yếu tố môi trường trong quá trình dạy học không phải là yếu tố tĩnh, bất động mà là một

thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học, đặt cơ sở cho những hoạt động dạy học,

thúc đẩy hoạt động học của người học đến mức cao nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu này

cũng bộc lộ cho thấy sự tác động của thành tố người dạy nhằm tăng tính tích cực, sáng

tạo ở người học còn mờ nhạt. Tiếp theo đó, thành tố môi trường được nhóm tác giả

xem là yếu tố động, có thể thay đổi đáp ứng nhu cầu người học, song lại chỉ đề cập

môi trường như những tình huống dạy học cụ thể mà chưa bao quát hết ở nhiều mặt.

Tóm lại, những nghiên cứu tương tác thầy trò trong dạy học của các tác giả nước

ngoài khá phong phú. Mỗi tác giả tuy đứng trên quan điểm, lập trường khác nhau

nhưng đóng góp của họ rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nó là cơ sở, nền tảng

lý luận, thực tiễn giúp các tác giả nghiên cứu sau có tham khảo.

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến tương tác thầy – trò trên

lớp học trên quan điểm như một tác động sư phạm, một phương pháp dạy học (phương

pháp sư phạm tương tác), trong khi đó tương tác tâm lý thầy – trò trên lớp học với vai

trò là điều kiện mặt tâm lý giúp cho hoạt động giữa thầy và trò trên lớp học hiệu quả

hơn, còn ít được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt về tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học.

1.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam về tƣơng tác, tƣơng tác tâm lý

Ở Việt Nam trong nhiều thập niên qua, vấn đề tương tác, tương tác tâm lý được

các nhà sư phạm Việt Nam nghiên cứu và đề cập rất nhiều trong các tài liệu, các đề tài

nghiên cứu xã hội học, giáo dục học và tâm lý học.

1.2.1. Các nghiên cứu về tương tác trong tâm lý, xã hội học

Dưới góc độ xã hội học, các tác giả Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, trong tác phẩm Xã hội học, đã đề cập đến vấn đề tương tác xã hội và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới. Theo các tác giả này thì tương tác xã hội có thể

được coi là quá trình hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác[26]. Dưới góc độ Tâm lý học, từ thập niên 90 của thế kỉ XX, tác giả Vũ Dũng đã

nghiên cứu vấn đề cơ sở tâm lý học của ê kíp lãnh đạo. Sau nhiều năm nghiên cứu, tác

giả đã xác định được hai thành tố cơ bản của một ê kíp lãnh đạo là sự tương hợp tâm lý

16

và sự phối hợp hành động giữa các thành viên của nhóm lãnh đạo, là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm [20], [21], [22], [23],

[24]. Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Trần Hữu Luyến đều đề cập

đến tương tác dưới góc độ hoạt động cùng nhau, hoạt động giao tiếp giữa các cá nhân.

Các tác giả cho rằng, ở một góc độ nhất định, giao tiếp cũng là tương tác [146].

Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh trong luận án tiến sĩ “Kỹ năng học tập hợp tác

của sinh viên sư phạm” đã ít nhiều đề cập đến tương tác khi cho rằng “Học tập hợp tác

là sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động học tập theo nhóm để hoàn thành

mục đích học tập chung là lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng và thúc đẩy cao

nhất hoạt động học tập của mỗi cá nhân”. Tác giả cũng chỉ ra rằng trong học tập hợp

tác để đạt hiệu quả phải có sự tương tác trực diện giữa các thành viên trong nhóm.

Nghĩa là, diễn ra tương tác liên nhân cách giữa các thành viên trong nhóm, có sự tương tác tâm lý. Tác giả đã lý giải sự tương tác trong học tập hợp tác được biểu hiện cụ thể

qua việc giải thích cho nhau, kiểm tra mức độ hiểu bài lẫn nhau, thảo luận về nội dung

học tập, thậm chí ủng hộ, khích lệ, tạo điều kiện, giúp nhau phát triển. Tuy nhiên, tác

giả không đi vào làm rõ quá trình tương tác trong học tập hợp tác mà chỉ đề cập tới

tương tác với vai trò giúp làm rõ kĩ năng học tập hợp tác của sinh viên.

Tác giả Đỗ Hạnh Phúc trong công trình “Quan hệ của thiếu niên với bạn học” đã đề

cập tới sự tương tác là yếu tố tâm lý xã hội của quan hệ liên nhân cách. Tác giả cho rằng,

hoạt động tương tác là sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân nhằm thực hiện đồng thời

với mục đích nào đó của nhóm dựa trên cơ sở hiểu biết, tin cậy, đồng cảm và chia sẻ lẫn

nhau. Tác giả cho rằng những yếu tố trên là điều kiện cần thiết để thiết lập quan hệ bạn

bè của thiếu niên [117].

Cao Thị Huyền Nga khi nghiên cứu “Xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng”

đề cập đến mối quan hệ tương tác trong quan hệ vợ chồng. Tác giả cho rằng: “Quan hệ

vợ chồng được tạo dựng trên cơ sở giao tiếp, sự tác động qua lại thường xuyên, lâu

dài, liên tục giữa hai cá nhân”[100].

Tác giả Trần Thị Minh Đức, trong cuốn “Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội” đã dẫn các nghiên cứu của mình, đồng thời giới thiệu và phân tích nhiều công trình thực nghiệm nổi tiếng của các nhà tâm lý học trên thế giới về những vấn đề liên

quan trực tiếp tới sự tương tác tâm lý – xã hội như vấn đề về “cái tôi” và quá trình xã hội hóa; liên kết xã hội; tri giác xã hội; giao tiếp xã hội; ảnh hưởng xã hội.... Có thể

nói, tác phẩm trên của tác giả Trần Thị Minh Đức cung cấp rất nhiều thông tin quý và

bổ ích về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan tới tương tác tâm lý xã hội[35].

17

Gần đây, tác giả Lê Minh Nguyệt với đề tài: “Mức độ tương tác giữa cha mẹ và con tuổi thiếu niên”, nghiên cứu tương tác dựa trên mối quan hệ gia đình, đó là mối

quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra quá trình

tương tác giữa cha mẹ và con là một loại tương tác tâm lý - xã hội đặc biệt, đó là sự

tích hợp của tương tác xã hội và tương tác tâm lý, trong đó có sự tác động qua lại tương ứng giữa cha mẹ và con về phương diện tâm lý, nhân cách và vai trò xã hội.

Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã phân tích, làm rõ về tương tác giữa

cha mẹ và con tuổi thiếu niên cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác đó. Có

thể nói, tác giả đã đánh dấu một hướng nghiên cứu tương tác mới trong mối quan hệ

gia đình [101].

1.2.2. Các nghiên cứu tương tác trong giáo dục

Ở góc độ Giáo dục học, tiếp nối, kế thừa, vận dụng, sáng tạo các tư tưởng, quan điểm giáo dục, dạy học trên thế giới, các nhà giáo, nhà nghiên cứu giáo dục học Việt

Nam như: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên,

Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm, Phạm Viết Vượng, Trần Thị Tuyết Oanh … đã góp

phần phát triển lý luận dạy học Việt Nam, bắt kịp xu thế lý thuyết dạy học thế giới, tìm

ra biện pháp ứng dụng các lý thuyết dạy học mới vào điều kiện dạy học nước nhà,

nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Trong các công trình nghiên

cứu, các tác giả đã chỉ rõ bản chất, cũng như mối quan hệ giữa các thành tố tham gia

vào quá trình dạy học, các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động dạy học hiệu quả. Cụ thể: Lý

luận dạy học hiện đại đã xem “dạy – học là hoạt động hợp tác giữa người dạy và

người học”. Lý luận dạy học hiện đại cũng chỉ rõ bản chất của sự hợp tác trong dạy -

học là sự tác động, tương tác của thầy tới trò nhằm giúp trò tổ chức các hoạt động học tập bên ngoài có tính vật chất rồi chuyển hoạt động này vào trong ý thức của mình.

Dạy – học hợp tác đòi hỏi sự tương tác cao giữa người dạy và người học, thực hiện

quá trình dạy học này bao giờ cũng mang lại hiệu quả cao hơn so với việc để người

học tự mò mẫm tìm kiếm tri thức. Do vậy, quá trình dạy - học là sự đan xen của các hành động giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.

Gần đây một số nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Bích Hạnh với đề tài “Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học cho sinh viên ĐHSP theo quan điểm SPTT”[53];

Tác giả Nguyễn Thành Vinh với “Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý và đào tạo hiện nay”[151]; Tác giả Vũ Lệ Hoa với“Biện

pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn giáo dục học trong

các trường ĐHSP”[57]. Các tác giả nghiên cứu tương tác ở góc độ ứng dụng quan

18

điểm này vào hoạt động dạy học dưới những khía cạnh, với những đối tượng, môn học khác nhau và tựu trung cho thấy, các công trình của các tác giả đều xác định khả năng

ứng dụng quan điểm dạy học này vào quá trình dạy học ở nhiều môn học, nhiều đối

tượng trong đào tạo đem lại hiệu quả.

Một số tác giả khác như Phạm Quang Tiệp với “Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ đại học”[137]; Tác giả Tạ Quang Tuấn với “Tổ

chức dạy học dựa vào tương tác người học – người học ở trường cao đẳng”[136]; Vũ

Lệ Hoa với “Một số kĩ năng dạy học tăng cường tương tác góp phần nâng cao hiệu quả

dạy học môn học ở đại học” [56]. Đặc biệt tác giả Đặng Thành Hưng với công trình

“Tương tác hoạt động thầy – trò trên lớp học”[73], tác giả đã khai thác, phân tích làm

rõ việc vận dụng và phát huy những tính năng và đặc điểm kĩ thuật của các phương

tiện dạy học thông dụng trong tương tác thầy – trò, đó là: Kĩ thuật sử dụng câu hỏi trong dạy học; Kĩ thuật hành vi ứng xử của GV trong quan hệ tương tác thầy – trò; Kĩ

thuật sử dụng lời nói trên lớp; Kĩ thuật trình bày bảng như một phương tiện thể hiện

ngôn ngữ viết trên lớp nhằm đem lại hiệu quả dạy học.

Tóm lại, tổng kết các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

về vấn đề tương tác, tương tác trong dạy học và tương tác tâm lý trên lớp học giữa

giảng viên và sinh viên ở trường đại học có thể rút ra một số nhận định sau:

- Với các công trình nghiên cứu nước ngoài

Vấn đề tương tác trên lớp được nhiều tác giả ở cả phương đông, phương tây quan

tâm nghiên cứu, đặc biệt là các nhà tâm lý, giáo dục phương tây. Các tác giả đã phân

tích, đưa ra các quan điểm, xác định được cơ chế, đường hướng nhằm thiết lập một mối

quan hệ thầy trò tương tác hiệu quả. Tuy còn nhiều tranh luận, nhưng nhìn chung, vấn đề lý luận đã được các nhà tâm lý, giáo dục xác định.

Việc triển khai các nghiên cứu thực tiễn về tương tác dạy học được đề cập hết

sức đa dạng và phong phú: từ tương tác trong mối quan hệ thầy - trò - trò cho đến

tương tác thầy - trò – nội dung…. Bên cạnh đó cũng cho thấy, các nghiên cứu phần nhiều chỉ dừng ở nghiên cứu về tương tác thầy trò trong dạy học (tương tác sư phạm), còn các nghiên cứu cụ thể, sâu sắc về tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên còn ít được đề cập đến.

- Đối với nghiên cứu trong nước Trong nước, các công trình trước đó hầu hết đi vào nhận định giá trị của tương

tác, các yếu tố tương tác trong dạy học. Có rất ít các công trình nghiên cứu về tương

tác trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên. Các nghiên cứu gần đây về tương tác

19

trong dạy học hầu hết tập trung vào vấn đề vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong tổ chức hoạt động dạy học, tương tác giữa người học – người học. Một số nghiên

cứu về tương tác thầy trò trên lớp tập trung vào một số phương tiện kĩ thuật tương tác.

Một số khác nghiên cứu tương tác dưới góc độ gia đình, tương tác giữa cha mẹ và con

cái, vợ - chồng, còn tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu.

Do vậy, nghiên cứu tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở

trường đại học là một vấn đề rất cần thiết, không những có ý nghĩa về mặt lý luận và

thực tiễn mà còn mang tính thời sự sâu sắc.

Tiểu kết Chƣơng 1

Tổng quan tình hình những nghiên cứu về tương tác tâm lý trên lớp học giữa

giảng viên và sinh viên ở trường đại học cho thấy, những nghiên cứu về tương tác thầy

trò trong dạy học của các tác giả nước ngoài khá phong phú. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến tương tác thầy – trò trên lớp học trên quan điểm như

một tác động sư phạm (sư phạm tương tác). Tuy vậy, đây là cơ sở, nền tảng lý luận,

thực tiễn giúp các tác giả nghiên cứu sau có những tham khảo nhằm có những nghiên

cứu sâu hơn.

Những nghiên cứu về tương tác tâm lý thầy – trò trên lớp học với vai trò là sự tác

động về mặt tâm lý giữa thầy và trò trên lớp học còn ít công trình nghiên cứu. Đặc

biệt, nghiên cứu về tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại

học, chưa có công trình cụ thể nào đề cập tới.

20

Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC

2.1. Tƣơng tác tâm lý

2.1.1. Tương tác

2.1.1.1. Định nghĩa tương tác Về thuật ngữ, có nhiều quan niệm khác nhau về tương tác.

Trong đại từ điển tiếng Việt, tương tác được hiểu là sự tác động qua lại lẫn nhau... có

mối liên hệ trao đổi thông tin với nhau[155].

Trong tiếng Anh, từ tương tác là Interaction, được ghép bởi hai từ đơn Inter và Action. Từ “Inter” mang nghĩa là sự liên kết cùng nhau, nối liền, kết nối với nhau,

còn “Action” nghĩa là sự tiến hành làm điều gì, hoạt động, hành động, là việc làm,

ứng xử, là ảnh hưởng, tác động. Theo đó, từ “Interaction” được hiểu là sự kết nối các

hành động, sự hợp tác, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại.

Theo Nguyễn Khắc Viện, tương tác là một khái niệm thuộc về ứng xử: “cái này

tác động lên cái kia, cái kia tác động trở lại cái này, hai cái ảnh hưởng lẫn nhau, chứ

không thể ảnh hưởng một chiều” [152].

Theo Vũ Dũng: “tương tác là sự tác động qua lại, tác động lên nhau” [19, 973].

Theo Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng cho rằng: “Tương tác có thể được coi là

quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác”

[26,144-145]

Trong Từ điển mở Online (Bách khoa toàn thư mở), tương tác (Interaction) có

nghĩa là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên một đối

tượng khác, là một cuộc thảo luận hay trao đổi giữa người này với người khác.

Theo tài liệu tâm lý học xã hội [55, 48], tương tác là sự tác động lẫn nhau của các cá nhân nhằm thực hiện những hoạt động đồng thời với mục đích nào đó của nhóm.

Như vậy, về nguyên nghĩa và ở mức khái quát nhất, tương tác là sự tác động qua lại tương ứng lẫn nhau gây ảnh hưởng nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

Trong thế giới khách quan, sự tương tác giữa các sự vật hiện tượng có thể diễn ra

sự tương tác vật lý (các lực cơ học: hai viên đá tạo ra lửa; sự tác động của năng lượng:

sự tác động giữa các hạt điện từ…), tương tác sinh lý, sự tác động của các biểu tượng

21

của các chủ thể. Tuy có chung bản chất là sự tác động qua lại lẫn nhau nhưng khác nhau về hình thái tác động. Trong ý nghĩa đó, tương tác là điều kiện cần để tồn tại và

phát triển của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.

Dấu hiệu cơ bản để xác định sự tương tác giữa các sự vật, hiện tượng là sự tác

động qua lại giữa chúng.

Tương tác có các đặc điểm, tương tác chỉ có thể xảy ra khi có sự tác động ở cả

hai phía. Trong trường hợp chỉ có sự tác động từ một sự vật, hiện tượng này đến sự

vật, hiện tượng kia (tác động một chiều) thì không thể là tương tác, mà là sự đụng

chạm, va chạm, chỉ có thể là tương tác khi có sự tác động qua lại, ảnh hưởng từ vật

này đến vật khác. Sự tác động qua lại giữa hai vật, hiện tượng diễn ra theo xu thế cân

bằng, mất cân bằng và lặp lại. Chính sự mất cân bằng làm cho quá trình tương tác luôn

biến đổi và tạo ra đặc tính thứ hai của tương tác: Sự ảnh hưởng lẫn nhau, làm biến đổi cả hai phía, tạo ra sự vật mới. Đối với con người, tương tác là hoạt động có mục đích,

nhu cầu hoạt động, trên cơ sở hoạt động, hình thành mối quan hệ liên nhân cách.

Tương tác chỉ diễn ra khi các cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động ở cùng không gian,

thời gian – Nhờ vậy mà các cá nhân trực tiếp tác động qua lại lẫn nhau, trao đổi thông

tin, tư tưởng, tình cảm lẫn nhau.

Tương tác có các đặc điểm, tương tác chỉ có thể xảy ra khi có sự tác động ở cả

hai phía. Trong trường hợp chỉ có sự tác động từ một sự vật, hiện tượng này đến sự

vật, hiện tượng kia (tác động một chiều) thì không thể là tương tác, mà là sự đụng

chạm, va chạm, chỉ có thể là tương tác khi có sự tác động qua lại. Đối với con người,

tương tác là hoạt động có mục đích, nhu cầu hoạt động, trên cơ sở hoạt động, hình

thành mối quan hệ liên nhân cách. Tương tác chỉ diễn ra khi các cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động ở cùng không gian, thời gian – Nhờ vậy mà các cá nhân trực tiếp tác

động qua lại lẫn nhau, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm lẫn nhau

Tương tác là nguyên lý phổ quát của sự vận động và phát triển của thế giới. Mọi sự

vật, hiện tượng vô cùng phong phú trong thế giới vô cơ, hữu cơ và xã hội, từ thế giới vi mô

đến vĩ mô đều được hình thành và phát triển do sự tương tác.

2.1.1.2. Phân loại tương tác Tương tác hiện diện cả ở thế giới vô cơ, hữu cơ và thế giới con người. Từ đó tương tác được phân chia làm rất nhiều loại: Tương tác vật lý; tương tác sinh lý; tương tác tâm – vật lý tương tác tâm lý, tương tác xã hội.

Tương tác vật lý: Là tác động giữa các lực, năng lượng: Điện năng, nhiệt năng,

cơ năng, quang năng... Tương tác vật lý diễn ra giữa các hiện tượng vật lý, từ tương

22

tác giữa các vi hạt (quark) trong thế giới vi mô, giữa các hành tinh trong thế giới vĩ mô, tương tác nhiệt điện, hoá, cơ ....

- Tương tác sinh lý: Tương tác sinh lý là sự tác động qua lại giữa các cơ thể hữu

cơ. Trong tương tác sinh lý diễn ra những biến đổi chức năng của một cơ quan dưới

tác động ảnh hưởng của một hay nhiều cơ quan khác. Sự tác động qua lại của các cơ quan cũng còn biểu hiện ra trong những trường hợp chúng hoạt động cùng nhau, đem

đến cho chủ thể một thông tin đầy đủ, nhiều chiều về thế giới khách quan mà trong

cùng một điều kiện hoạt động, một cơ quan không thể đạt được.

- Tương tác tâm - vật lý: Là sự tác động qua lại giữa các hiện tượng tâm – vật lý.

Ngay từ thế kỷ XVII, dưới ảnh hưởng của cơ giới luận đã xuất hiện hai cách lý giải về

mối quan hệ tâm - vật lý. R.Đêcactơ cho rằng, vật bên ngoài tác động lên ý thức làm

nảy sinh ra các hiện tượng tâm lý như cảm giác, tri giác. Quan điểm thứ hai có tên gọi là: “Song hành tâm - vật lý”. Cái tâm lý và cái vật lý đồng thời diễn ra.

Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học Gestalt: M.Werthermer, W.Kohler và

K.Koffka, bản chất hiện tượng tâm lý đều có tính cấu trúc, vì vậy nghiên cứu phải theo

xu hướng tổng thể với một cấu trúc chỉnh thể. Nghiên cứu của các nhà Gestalt hướng

đến việc hình thành các cấu trúc tâm lý (cấu trúc tri giác và tư duy) theo cơ chế tương

tác giữa các kích thích vật lý với hoạt động của hệ thần kinh. Quan điểm này cho rằng,

trong trạng thái hoạt động, não bộ luôn tạo ra một lực trường. Khi các kích thích vật lý

(dữ liệu giác quan) đi vào vừa làm biến đổi lực trường đã có, vừa bị biến đổi bởi

chúng. Hình ảnh tinh thần (biểu tượng, khái niệm…) là kết quả của sự tương tác.

- Tương tác xã hội: Đó là sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa người

với người với tư cách là các thành viên xã hội. Nói cách khác, tương tác xã hội là tương tác giữa các vai trò xã hội mà cá nhân đang đảm trách.Tương tác xã hội chỉ có ở con

người, trong xã hội người. Tâm lý, ý thức của con người được hình thành, phát triển

thông qua các tương tác tâm lý và tương tác xã hội. Đó là tương tác giữa các cá nhân

với các cá nhân, giữa cá nhân với các nhóm trong xã hội.

- Tương tác tâm lý: Là sự tiếp xúc, tác động về phương diện tâm lý giữa các cá nhân với nhau. Tương tác tâm lý không như tương tác cơ học (bằng lực) tương tác vật lý, sinh lý (bằng năng lượng) mà bằng các tác động tâm lý, bằng xúc cảm tình cảm,

hình ảnh tâm lý… giữa các chủ thể mà tác động đến nhau, gây ảnh hưởng đến nhau [dẫn theo 101].

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét tương tác tâm lý giữa cá nhân với cá

nhân. Cụ thể là tương tác tâm lí giữa giảng viên với sinh viên diễn ra trên lớp học.

23

2.1.2. Tương tác tâm lí

2.1.2.1. Khái niệm tương tác tâm lí

* Tâm lý

Tâm lý là toàn bộ đời sống tinh thần bên trong của con người, chi phối, điều

khiển, điều chỉnh mọi hoạt động của con người.

Theo tài liệu tâm lý học đại cương, đời sống tinh thần của con người bao gồm

các hiện tượng tâm lý được chia làm ba loại: các quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và

thuộc tính tâm lý.

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ đề cập tới một số quá trình, trạng thái và

thuộc tính tâm lý cơ bản chi phối, tác động tới kết quả và phản ánh bản chất của một

hoạt động (tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học).

* Tương tác tâm lý Từ khái niệm tương tác như đã phân tích ở trên, tương tác là sự tác động qua lại

tương ứng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, gây ảnh

hưởng lẫn nhau giữa các sự vật và hiện tượng đó. Chuyển vào trong lĩnh vực quan hệ

giữa con người với con người, tương tác tâm lí chính là sự tác động lẫn nhau về

phương diện tâm lý (các hiện tượng tâm lý – đời sống tinh thần) giữa hai hay nhiều cá

nhân hoặc giữa các thành phần tâm lý trong một cá nhân dẫn đến ảnh hưởng về mặt

tâm lý giữa các cá nhân đó.

Tương tác tâm lý có thể được coi là quá trình tác động về mặt tâm lý và hành

động đáp lại trước các tác động tâm lý đó của các chủ thể trong quá trình tương tác.

Nói cách khác, tương tác tâm lý cũng có thể coi là sự tương tác giữa các hiện tượng

tâm lý để tạo ra một hiện tượng tâm lý mới.

Khác với tương tác tâm lý giữa các cá nhân là sự tác động về mặt tâm lý, tương

tác xã hội là sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội đóng

các vai trò xã hội khác nhau. Theo tác giả Vũ Dũng, tương tác xã hội là quá trình tác

động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các chủ thể xã hội, từ đó phát sinh ra các mối liên hệ, quan hệ xã hội gắn kết các con người với nhau [19,975]. Đặc trưng của tương tác xã hội là sự tương tác của các cá nhân đóng các vai trò xã hội khác nhau. Chẳng hạn, thủ trưởng - nhân viên, giảng viên – sinh viên…. Trong các mối tương tác

này, diễn ra sự tiếp xúc, trao đổi, tác động lẫn nhau về phương diện xã hội, đó là các chuẩn mực, giá trị, quy định xã hội gán cho mỗi cá nhân, thông qua các hành vi mà cá

nhân đó đang mang.

Trong tương tác giữa con người với con người, ở hầu hết hoạt động nào, tương

24

tác giữa các chủ thể đều có thể vừa diễn ra sự tác động về mặt xã hội, đồng thời vừa diễn ra sự tác động về mặt tâm lý. Cũng có ít trường hợp, tương tác chỉ là sự tác động

về mặt xã hội nhưng hiệu quả sự tác động đó sẽ khó cao, đặc biệt tương tác giữa thầy –

trò trên lớp học là quá trình tương tác không chỉ phản ánh sự tương tác xã hội mà còn

đòi hỏi sự tương tác về mặt tâm lý cao giữa thầy – trò trong quá trình hoạt động.

Đặc điểm dễ thấy nhất để phân tách tương tác tâm lý với các loại tương tác khác

là, tương tác tâm lý có sự giao cảm, tiếp xúc, tác động về mặt xúc cảm, qua sự tác

động và giao cảm về mặt xúc cảm mà các cá nhân trong quá trình tương tác xóa đi

được rào cản (khoảng cách) tâm lý trong quá trình tương tác, tạo nên sự liên kết, gắn

kết tình cảm ở nhau, từ đó dễ dàng, nhanh chóng thiết lập, tiến hành, duy trì quá trình

tương tác đạt hiệu quả. Chẳng hạn, trong các nghiên cứu của H.F.Harlow,

M.K.Harlow, J.Bowlby và của Klaus và Kennell về sự gắn bó giữa mẹ và con trong quá trình phát triển của trẻ nhỏ [35], [42], [158], các nhà khoa học này đã phát hiện sự

gắn bó mẹ con giữa trẻ và người mẹ là nhằm thỏa mãn nhu cầu gắn bó của cả trẻ nhỏ

và người mẹ, nhu cầu tránh sự hẫng hụt và cảm giác cô đơn. Đồng thời, sự gắn bó mẹ

con là kết quả của sự tác động qua lại, hay là sự tương tác tâm lý giữa người mẹ với

con. Điều này cũng được đề cập trong các nghiên cứu của Annis và Frost, của Nicky

Hayes [99], của E.MilyA.Schultz và Robert H [Dẫn theo101].

Trong tương tác tâm lý, các cá nhân tác động về mặt tâm lý đến nhau cũng có thể

diễn ra theo nhiều cách thức, phương tiện như: trao đổi trực tiếp bằng lời, chữ viết,

bằng các phương tiện phi ngôn ngữ, vật phẩm.... Có thể nói, sự tương tác tâm lý diễn

ra hàng ngày trong đời sống mỗi cá nhân. Nhờ tương tác tâm lý mà con người sống và

quan hệ với nhau “người“ hơn, tình cảm và thân thiện hơn trong cuộc sống. Như nhà tâm lý, nhà giáo dục L.X. Vưgotxki [105], [150], trong các công trình nghiên cứu của

mình đã chỉ rõ, sự hình thành một cấu trúc tâm lí mới của cá nhân bao giờ cũng diễn ra

theo quy luật lần đầu là sự tương tác bên ngoài giữa trẻ với người khác, với xã hội, tức

là các chức năng tâm lí bên ngoài và lần thứ hai là sự tương tác bên trong của cá nhân. Thực chất của các qúa trình tương tác đó là quá trình tác động qua lại và chuyển hóa giữa chủ thể (cá nhân), với đối tượng, thông qua công cụ tâm lí. Nội dung của các chức năng tâm lí văn hóa được hình thành, thực chất là nội dung xã hội hàm chứa

trong các công cụ tâm lí. Theo một phương diện khác, trong các nghiên cứu của các nhà Tâm lí học xã hội, các nhà Xã hội học như G.Mead, Ch.H.Cooley, G.H.Goffmen,

Herber Blumer [14], [65], [94], [159], [164], [170] cho rằng, sự hình thành, phát triển

các yếu tố tâm lí, hành vi của các cá nhân theo con đường tương tác trực tiếp “mặt

25

đối mặt” giữa các chủ thể, mà bản chất là các yếu tố tâm lí của chủ thể được bộc lộ qua các hành vi của mình và của người khác. Trong quá trình tác động qua lại giữa

các chủ thể, mỗi chủ thể “đọc được” ý nghĩa tâm lí ẩn chứa bên trong hành vi đó và

ứng xử theo sự hiểu biết của mình. Nói cách khác, theo các nhà khoa học này, tương

tác tâm lí là sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể, qua đó các chủ thể học hỏi lẫn nhau, hiểu nhau và thay đổi bản thân mình theo sự học hỏi đó.

Một cách hiểu khác, dưới góc độ quy chiếu giá trị, chuẩn mực xã hội, tương tác

tâm lý giữa các cá nhân còn được hiểu là tương tác liên nhân cách, tương tác liên cá

nhân. Cụ thể, theo tác giả Vũ Dũng: Tương tác liên nhân cách (liên cá nhân) theo

nghĩa rộng, là sự tiếp xúc tâm lý của hai hay nhiều người, kết quả là làm thay đổi hành

vi, hoạt động, thái độ, tâm thế của các bên. Theo nghĩa hẹp, tương tác liên nhân cách là

hệ thống các hoạt động của các cá nhân do có sự tiếp xúc tâm lý của các bên [21], [23], [24].

Tác giả Lê Minh Nguyệt quan niệm, tương tác tâm lý là sự tiếp xúc tâm lý, tác

động về phương diện tâm lý giữa hai hay nhiều cá nhân, kết quả là làm thay đổi nhận

thức, thái độ, hành vi của các cá nhân đó [101,11]

Như vậy, có thể nhận thấy, trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà tâm

lí học, tương tác tâm lý được ghi nhận là quá trình tác động qua lại giữa các hành vi,

các yếu tố tâm lí của các chủ thể, được xuất phát từ các nhu cầu tương tác và trong

đó diễn ra sự thông hiểu, sự tương hợp tâm lý giữa các chủ thể, dẫn đến ảnh hưởng,

làm biến đổi về mặt tâm lý giữa các cá nhân đó. Nói khái quát, tương tác tâm lý là sự

tác động về mặt tâm lý để tạo ra các nét tâm lý mới giữa các cá nhân. Sự tác động

tâm lý giữa các cá nhân có thể diễn ra theo và bằng nhiều cách thức, phương tiện. Chẳng hạn: Qua giao tiếp bằng lời, bằng các biểu hiện phi ngôn ngữ, qua giao tiếp

bằng chữ viết, vật phẩm, sản phẩm hoạt động (học tập), qua hình thức đóng vai....

Nhờ có sự tương tác tâm lý với người khác mà mỗi cá nhân sống, tồn tại, phát triển

có ý nghĩa; nhờ có tương tác tâm lý, cá nhân tăng vốn hiểu biết về thế giới xung quanh, hình thành và thay đổi, điều chỉnh hành vi, thái độ tích cực, các nét tính cách phù hợp điều kiện, môi trường, cuộc sống.

Tương tác tâm lý là con đường nhanh nhất đưa đến sự cảm thông, chia sẻ và thân

thiện, mà sự thông cảm là con đường quan trọng nhất để giải quyết xung đột. Đây cũng chính là mục tiêu giáo dục thế kỉ XXI. Không có tương tác tâm lý sẽ không có

khả năng thông cảm. Thông qua tương tác tâm lý, con người có cơ hội hiểu nhau, đó là

cơ sở của hòa bình – hợp tác – hữu nghị. Và cũng chính nhờ sự tương tác tâm lý mà

26

giáo dục, dạy học không chỉ đơn thuần là dạy tri thức mà còn là dạy người, dạy nhân cách. Edgar Morin, nhà nhân loại học hàng đầu của Pháp trong cuốn “Bảy tri thức tất

yếu cho nền giáo dục tương lai„ cho rằng:“Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện

và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau. Thế mà giáo dục nhằm mục đích

làm cho con người cảm thông với nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta„[40,17].

Tương tác tâm lý không phải là sự tác động một chiều giữa một cá nhân với tư

cách là cá thể người mang tâm lý, mà là sự tác động qua lại giữa hai bên với tư cách

đồng chủ thể, khi thực hiện cùng một hoạt động, cùng đạt tới mục đích. Vì vậy, xem

xét tương tác tâm lý ta dễ dàng nhận thấy về bản chất, đặc điểm, tương tác tâm lý là sự

tác động tâm lý lẫn nhau giữa các chủ thể. Trong tương tác tâm lý, sự tác động thường

gắn chặt với các quá trình, trạng thái cảm xúc của cá nhân trong hoạt động… là động lực, chất xúc tác thúc đẩy cá nhân hành động.

Từ cách nhìn nhận trên, có thể đưa ra khái niệm tương tác tâm lý như sau: Tương

tác tâm lý là quá trình tác động qua lại về mặt tâm lý giữa các chủ thể, biểu hiện qua

nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, qua tần số tương tác và sự ảnh

hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể.

2.1.2.2. Phân loại tương tác tâm lý Có nhiều cách phân loại tương tác tâm lý. Dưới đây là một số cách phân loại phổ

biến.

a) Phân loại theo mức độ tiếp xúc tâm lý giữa các chủ thể Theo cách phân loại này có thể chia thành các loại tương tác:

- Sự tiếp xúc tâm lý giữa các cá nhân: Là sự tiếp xúc mà ở đó các chủ thể có thể hiện sự quan tâm, để ý đến nhau. Sự tiếp xúc này thường diễn ra trong điều kiện

các cá nhân hoạt động cùng nhau, sống cùng nhau trong cùng một không gian, thời

gian, cùng chung mục đích. Trong quá trình hoạt động chung, các cá nhân tương

tác với nhau dẫn đến ảnh hưởng lẫn nhau, sự tương tác trong hoàn cảnh này như là một chất xúc tác tạo ra sự thi đua, tính tích cực, ý thức, tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân thông qua ý thức thể hiện “cái bản ngã”, “cái tôi”, “siêu tôi” ở mỗi cá nhân để hoàn thành công việc. Cụ thể: Theo nghiên cứu của Triplett về lao động

của công nhân trẻ khi làm việc một mình và khi làm việc cùng nhóm bạn cho thấy, trong điều kiện làm việc có sự có mặt của người khác năng xuất lao động cao hơn

so với làm một mình [Dẫn theo 101].

Theo C.Mác, sự tiếp xúc xuất hiện trong hoạt động cùng nhau gây ra sự thi đua,

27

và kích thích năng lượng sống, sự hưng phấn này làm tăng thêm năng xuất lao động[91].

Còn B.Ph.Lomov cho rằng, quá trình tiếp xúc trong hoạt động cùng nhau giữa

các cá nhân, có sự bắt chước, ám thị, lây lan cảm xúc giữa các cá nhân, tạo sự hợp tác,

cạnh tranh, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Đó là sự tiếp xúc tâm lý (các chủ thể có sự quan tâm đến nhau, để ý đến nhau) [83].

- Sự tương tác: Chủ thể có hệ thống hành động đáp lại các phản ứng tương tác từ

đối tác.

- Sự liên hệ xã hội: Trong Đại từ điển Tiếng việt, liên hệ là có sự dính dáng đến

nhau, liên quan đến nhau.

Tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng, liên hệ xã hội là sự tiếp xúc gắn kết giữa

các cá nhân trong xã hội. Đó là sự ràng buộc tâm lý giữa con người theo những chuẩn mực pháp lý, dư luận hay tình cảm [35].

Liên hệ xã hội được hình thành từ sự tham gia của các cá nhân vào hoạt động

nhóm, từ sự gắn bó, là mối liên hệ tình cảm giữa các cá nhân trong các mối quan hệ

được thiết lập dựa trên tính chất công việc hoặc sự hấp dẫn lẫn nhau trong quan hệ tình

cảm.... Trong cuộc sống, mỗi cá nhân đều có những mối dây liên hệ với người khác

theo cách nào đó. Chẳng hạn: với bố mẹ, anh em, bạn bè, các thiết chế xã hội... Trong

mỗi mối liên hệ đó con người được đưa vào một cấu trúc xã hội phức tạp. Cấu trúc này

bao bọc lấy cá nhân, định hướng cho cá nhân hoạt động. Theo Jo Godefroid: “không

có hoặc hầu như không có một ứng xử nào của con người có thể phát triển và biểu hiện

tách rời khỏi các thành viên của nhóm” [42].

Như vậy, sự liên hệ xã hội trong tương tác thể hiện ở chỗ, để quá trình tương tác

diễn ra, các chủ thể phải có sự phối hợp các hành động với nhau.

b) Phân loại theo chủ thể tác động trong tương tác - Nội tương tác: Là tương tác giữa các yếu tố tâm lý của chủ thể. Chẳng hạn, sự

tương tác giữa kiến thức, hiểu biết của cá nhân với thái độ của cá nhân đó đối với đối tượng; tương tác giữa tình cảm với ý chí, với nhận thức.... Trong nội tương tác, tương tác giữa ý thức với các chức năng tâm lý khác là đặc biệt quan trọng. Trong loại tương tác này, ý thức của chủ thể hướng vào trong, nhận thức và đánh giá các yếu tố tâm lý

của chính mình. Là quá trình tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh bản thân.

- Tương tác ngoài: Tương tác ngoài là tương tác giữa các chủ thể với nhau.

Chẳng hạn, tương tác cá nhân – cá nhân; cá nhân với nhóm xã hội, giữa nhóm xã hội

này với nhóm xã hội khác. Trong tương tác ngoài, ý thức của chủ thể hướng đến chủ

28

thể khác để nhận thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với tác động của chủ thể khác. Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu tương tác ngoài, cụ thể

là tương tác giữa giảng viên với sinh viên diễn ra trong giờ học.

c) Phân loại theo chủ thể của quá trình tương tác - Tương tác giữa cá nhân - cá nhân: Tương tác cá nhân – cá nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân với nhau. Trong đời sống xã hội, tương tác cá nhân – cá

nhân là loại hình tương tác phổ biến. Sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa

các cá nhân trong mối quan hệ liên cá nhân, liên nhân cách là phương thức, con đường

cơ bản để hình thành và phát triển tâm lý cá nhân.

- Tương tác cá nhân – nhóm: Là sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân với tư cách là

thành viên hoặc không với một nhóm, tổ chức xã hội. Tương tác cá nhân – nhóm

thường xuyên diễn ra sự tác động giữa cá nhân với các chuẩn mực, giá trị, mục tiêu, hoạt động của nhóm. Hệ quả, cá nhân thay đổi và thích ứng với nhóm đồng thời làm

thay đổi trạng thái phát triển của nhóm. Tương tác giữa giảng viên với sinh viên diễn

ra trong giờ học là loại tương tác giữa cá nhân và nhóm.

- Tương tác nhóm – nhóm: Là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm. Một trong

những đặc trưng của xã hội loài người là tồn tại và phát triển theo phương thức nhóm.

Sự tương tác giữa các nhóm được thể hiện qua sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau bởi

các mục tiêu, hoạt động, giá trị, chuẩn mực.... Xã hội càng phát triển thì nhóm xã hội

càng đa dạng, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhóm càng mạnh. Tương tác nhóm là

phương thức, con đường cơ bản hình thành, phát triển tâm lý cá nhân, xã hội.

d) Phân loại theo vai trò xã hội Là tương tác của các cá nhân đóng vai trò xã hội khác nhau (tương tác xã hội). Trong các tương tác này diễn ra sự tiếp xúc, trao đổi và tác động lẫn nhau về các

phương diện chuẩn mực, các giá trị, khuôn mẫu, các quy định xã hội được xã hội gán

cho mỗi cá nhân với vai trò mà cá nhân đó mang.

Tương tác theo vai trò xã hội trong cuộc sống cũng như trong cấu trúc tâm lý của mỗi cá nhân luôn tồn tại hai mặt: Một mặt, luôn phải đóng các vai trò xã hội khác nhau như: cha - con; anh - em, thầy – trò.... Mặt khác, phải luôn duy trì, thể hiện, phát triển cái tôi, cái bản sắc riêng của bản thân mà không làm mất nó. Vì vậy, trong tương

tác các cá nhân phải học cách nhập các vai khác nhau trong từng hoàn cảnh để có cách tương tác tương ứng.

e) Phân loại theo mức độ tham gia của ý thức chủ thể vào quá trình tương tác - Tương tác phi biểu trưng: Là sự tương tác được nảy sinh do sự phản ứng trực

29

tiếp của cá nhân này với cá nhân kia mà không có sự lý giải ý nghĩa hành động của nhau. Chẳng hạn, người bị thôi miên, ám thị, tức giận.... Công thức chung của tương

tác phi biểu trưng là S – R. Trong đó, S là các kích thích, còn R là các phản ứng của cá

thể. Ở đây cá thể phản ứng trực tiếp đối với các kích thích từ môi trường.

- Tương tác biểu trưng: Là tương tác trực tiếp giữa các cá nhân, là tương tác chỉ diễn ra giữa người với người, trong đó các chủ thể phải thường xuyên hiểu, lý giải,

định nghĩa, xác định ý nghĩa tâm lý – xã hội trong các hành động của nhau. Tương tác

biểu trưng không phải là tổng số các phản ứng riêng lẻ của cá nhân, mà mỗi hành động

đó được thực hiện trên cơ sở sự lý giải ý nghĩa động cơ hành động của người khác,

được thể hiện thông qua các biểu tượng, đưa ra được định nghĩa về hành động đó.

Công thức chung của tương tác biểu trưng là S – I – R. Trong đó, S là kích thích, I là

biến số trung gian, sự lý giải của chủ thể về các kích thích S, R là các phản ứng của cá thể. Chủ thể phản ứng gián tiếp đối với các kích thích từ môi trường thông qua khâu

trung gian là các biểu tượng, được hình thành từ sự phân tích ý nghĩa do các kích thích

mang lại [159], [170].

Trong quá trình hình thành, phát triển tâm lý của cá nhân luôn tồn tại cả tương

tác biểu trưng và tương tác phi biểu trưng, trong đó tương tác biểu trưng phổ biến và

chiếm vai trò quan trọng.

2.1.2.3. Tương tác tâm lý với giao tiếp và với quan hệ xã hội

a) Tương tác tâm lý với giao tiếp Trong tâm lý học, giao tiếp là một phạm trù rất phổ biến, được nghiên cứu với tư

cách là một phương thức cơ bản để cá nhân tồn tại và phát triển. Theo các nhà tâm lý

học, giao tiếp là phương tiện thể hiện nhân cách. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp.

Theo John B. Hobe “Giao tiếp là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bằng lời”

M P.Andelem “Giao tiếp là một quá trình giúp chúng ta hiểu được người khác

và làm cho người khác hiểu được chúng ta”[123].

A.A.Leonchiev, giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc

thù, trước hết là ngôn ngữ [51].

Như vậy, theo các nhà tâm lý học trên, giao tiếp được hiểu là sự tiếp xúc tâm

lý, là sự trao đổi thông tin, qua đó gây ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể. Các

dấu hiệu cơ bản để xác định giữa các cá nhân có sự giao tiếp đó là có sự tiếp xúc

30

tâm lý, sự trao đổi thông tin và gây ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, cảm xúc, thái độ, hành vi.

Mặc dù được nhìn nhận từ hai góc độ khác nhau, nhưng giữa tương tác và

giao tiếp có nhiều điểm chung, khác nhau và giao thoa nhau.

- Điểm chung: Cả hai đều nói lên sự tác động, trao đổi qua lại giữa hai hay nhiều

người với nhau, dẫn đến ảnh hưởng lẫn nhau, làm biến đổi cả hai.

- Điểm riêng: Giao tiếp nhấn mạnh đến sự trao đổi thông tin qua đó gây ảnh

hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân, còn tương tác nhấn mạnh đến sự tác động gây ảnh

hưởng qua lại giữa hai hay nhiều sự vật, trong đó có con người. Về phương diện này

tương tác rộng hơn giao tiếp. Tương tác có cả ở thế giới vô cơ, hữu cơ, cả ở sự vật,

hiện tượng. Còn giao tiếp chỉ diễn ra trong xã hội loài người, giữa con người với nhau.

Tuy nhiên, khi xét về mặt không gian, thời gian và tính chất thì giao tiếp có phạm vi rộng hơn tương tác. Chẳng hạn: Trong giao tiếp giữa các chủ thể có thể diễn ra không

cần có sự trùng khớp nhau về mặt thời gian, không gian và có thể cũng không nhất

thiết phải có sự tác động tương ứng với nhau giữa các chủ thể vẫn có thể diễn ra sự

giao tiếp (giao tiếp gián tiếp). Trong khi đó, tương tác là khái niệm có tính xác định

hơn, phản ánh quá trình tác động qua lại của hai chủ thể diễn ra đồng thời trong không

gian, thời gian nhất định. Khi nói đến tương tác giữa cá nhân này với cá nhân khác,

nhất thiết phải là sự tác động trực tiếp, có thực, trao đổi thực và sự tác động qua lại đó

phải tương ứng. Như vậy, trong những phạm vi nhất định, trong giao tiếp trực tiếp và

tương tác cùng có nhiều điểm tương đồng.

b) Tương tác tâm lý với quan hệ xã hội Theo quan niệm thông thường, quan hệ được hiểu là sự gắn kết về mặt nào đó giữa người này với người kia, vật này với vật kia..., mà sự chuyển biến của bên này

gây ra sự biến đổi bên kia và ngược lại.

Dưới góc độ tâm lý học xã hội, quan hệ xã hội là quan hệ giữa các cá nhân với

tư cách đại diện cho nhóm xã hội, do xã hội quy định một cách khách quan về vai trò của mỗi cá nhân trong nhóm. Chẳng hạn: Quan hệ giữa thầy và trò, cha con.... Trong thực tiễn, mỗi người đóng nhiều vai trò khác nhau: là cha, con, thầy giáo.... Trong mối quan hệ xã hội, các vai trò do xã hội quy định và các cá nhân phải thực

hiện các vai trò đó theo chức năng của mình.

Dưới góc độ tâm lý, quan hệ xã hội mang tính chất lựa chọn của người này đối với

người khác hoặc đối với sự vật, hiện tượng có liên quan trong công việc, cộng đồng....

Đối với cá nhân, quan hệ là biểu hiện sự “buộc ràng” mà, nếu bị phá vỡ hay thiếu vắng

31

thì có thể bị tác động về một mặt nào đó như tình cảm, sức khỏe, tinh thần....

A.I.Secbakov, V.V.Bogolovxki cho rằng, trong tâm lý học, “quan hệ” có hai sự

giải thích. Trường hợp 1, quan hệ được xem là mối liên hệ khách quan của con người

và sự vật, cá thể này với cá thể khác....; Trường hợp 2, quan hệ được hiểu là sự bày tỏ

thái độ, phản ứng của người này với người khác, với sự vật, hiện tượng như một lập trường chủ quan trong thái độ đối với chúng [Dẫn theo 101].

Từ những nhìn nhận trên cho thấy, quan hệ xã hội và tương tác xã hội là hai khái

niệm vừa có cái chung lại vừa có những điểm khác biệt.

- Điểm chung: Cả hai đều phản ánh sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện

tượng với nhau.

- Điểm riêng: Quan hệ, nhấn mạnh sự ràng buộc lẫn nhau, quan hệ phụ thuộc, quan

hệ bình đẳng, quan hệ lựa chọn, quan hệ lợi ích..., tùy theo tính chất mối quan hệ.

Quan hệ là khái niệm có phạm vi rộng hơn xét cả về mặt không gian, thời gian,

tính chất. Trong khi đó tương tác là khái niệm mang tính xác định hơn về mặt không

gian, thời gian, tương tác khó có thể thực hiện liên thời gian, không gian mà nó phải

có thời gian, không gian được xác định. Tuy nhiên, trong quan hệ, việc phát triển liên

tục các quan hệ, thiết lập, phát triển, duy trì các mối quan hệ mới giữa các chủ thể hoặc

làm phá vỡ các quan hệ đã có phải dựa vào tương tác, theo nghĩa này, tương tác là điều

kiện của quan hệ. Ngược lại, dựa trên nền tảng mối quan hệ đã có (tích cực, chặt chẽ, lỏng

lẻo...) sẽ giúp quá trình tương tác thuận lợi, hiệu quả hay khó khăn hơn.

2.1.2.4. Biểu hiện của tương tác tâm lý

Khi xem xét biểu hiện của tương tác tâm lý, các nhà tâm lý học nhấn mạnh các

khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn,C.Roger [173], John Deway [31], B.Ph.Lomov [83], [165], G.Mead, Ch.H.Cooley, M.Muntner[172], F.Jones và Louise Jones

G.H.Goffmen, Herber Blumer [14], [159], [170]… đều nhấn mạnh đến các yếu tố sự

tương giao, cảm xúc, bầu không khí lớp học, sự thấu hiểu hành vi của người khác, sự

cảm thông, đồng cảm là những yếu tố đặc biệt chú trọng trong tương tác giữa người dạy - người học, thầy thuốc - bệnh nhân.

Cũng với quan điểm trên, Vũ Dũng trong tương tác của ê kíp lãnh đạo đề cập tới

2 thành tố cơ bản là: tương hợp tâm lý và phối hợp hành động [22] [24]

Lê Minh Nguyệt trong tương tác cha mẹ và con chỉ ra 6 thành tố của tương tác tâm lý cha mẹ và con cái bao gồm: nhu cầu, sự hiểu biết, sự đồng cảm, sự tương hợp

tâm lý, kĩ năng tương tác, sự ảnh hưởng, tần số tương tác [101].

Như vậy, có thể thấy mỗi tác giả đều có những lý lẽ nhất định để đưa ra hệ thống

32

các nội dung nhằm đo đạc sự tương tác. Tuy nhiên, nếu phân tích một cách chi tiết từng hệ thống các nội dung tương tác tâm lý nói trên cho thấy tương tác tâm lý giữa

các chủ thể được biểu hiện qua các thành tố sau:

a) Nhu cầu tương tác Trong tâm lý học, có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, hiểu một cách chung nhất, nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn

tại và phát triển. Trong hầu hết các tài liệu tâm lý học, nhu cầu được xem xét như một

thành tố giúp con người tồn tại và phát triển. Các tác giả đều cho rằng, để tồn tại và

phát triển, cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết. Sự đòi

hỏi đó gọi là nhu cầu.

Dưới góc độ tâm lý học xã hội, tâm lý học xã hội xem xét nhu cầu với tư cách là

nguồn gốc tâm lý xã hội, làm nảy sinh tính tích cực hoạt động của cá nhân và của nhóm xã hội. Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn (thuộc tính tâm lý cá nhân) nhận

thức (ý nghĩ), thái độ (rung cảm), hành động (ý chí) của cá nhân, nhóm cá nhân trong

hoạt động.

Nhu cầu của con người hết sức đa dạng phong phú. Tựu trung, có thể chia nhu

cầu con người làm hai loại: Nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhu cầu tinh thần là loại

nhu cầu thỏa mãn những đòi hỏi về mặt tinh thần của con người như nhu cầu nhận

thức, nhu cầu quan hệ, nhu cầu tương tác, nhu cầu được mọi người tôn trọng, chú ý,

cảm thông, chia sẻ....

A.Maslow (1908 – 1970) nhà tâm lý học người Mỹ thế kỉ XX, trong nghiên cứu

đã phát hiện ra các nhu cầu có tính phổ quát của con người trong hoạt động cũng như

trong cả cuộc đời. Theo A.Maslow, con người có năm loại nhu cầu: Nhu cầu vật chất; Nhu cầu an toàn; Nhu cầu quan hệ, giao tiếp; Nhu cầu được tôn trọng; Nhu cầu tự

khẳng định, tự thỏa mãn. Trong thang nhu cầu của A.Maslow, nhu cầu quan hệ xã hội

chính là nhu cầu tương tác giữa các cá nhân [9].

Nhu cầu tương tác tâm lý là nhu cầu tinh thần, thể hiện sự mong muốn của cá nhân về sự hợp tác, trao đổi tình cảm, cảm thông, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm... giữa cá nhân này với cá nhân khác trong xã hội để cùng nhau tồn tại và phát triển. Nhu cầu tương tác tâm lý được biểu hiện qua trạng thái mong muốn, vui mừng, phấn khởi, hứng

thú, thỏa mãn, tích cực, chủ động... khi gặp người mình mong đợi, được trao đổi thông tin mà mình mong muốn, đồng thời lo lắng, thiếu hụt khi không được gặp, hay không

được đáp ứng thông tin mình cần. Nhìn chung, các thành viên trong xã hội đều có nhu

cầu được gặp gỡ, chia sẻ với nhau, cùng hợp tác với nhau.

33

C.Mác cho rằng, nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhu cầu tiếp xúc với người khác. Nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu khác, sự phát

triển của nó trong một con người chính là một điều kiện làm cho con người trở thành

con người [Dẫn theo 101].

Nhu cầu tương tác tâm lý có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tính tích cực của cá nhân trong hoạt động. Do vậy, nghiên cứu tương tác tâm lý, phải xét đến nhu cầu.

Trong tương tác tâm lý, nhu cầu tương tác đóng vai trò là nguồn gốc của tính tích

cực tương tác, người có nhu cầu tương tác cao sẽ có tính tích cực cao. Khi gặp đối

tượng và điều kiện tương tác thuận lợi, nhu cầu sẽ phát triển thành động cơ tương tác

của cá nhân. Nhu cầu tương tác với người khác vừa là cơ sở của tương tác, vừa là một

thành phần, một biểu hiện của tương tác. Thực tiễn đã minh chứng, trong cuộc sống

nếu cá nhân bị thiếu hụt hay không được thỏa mãn về nhu cầu tương tác tâm lý sẽ dẫn đến sự rối loạn về cảm xúc và lệch lạc về hành vi. Nghiên cứu của nhà tâm lý học

H.P.Harlow và M.K.Harlow trong thực nghiệm về những con khỉ non bị tách khỏi mẹ

đã cho thấy điều đó. Trong thế chiến thứ 2, hiện tượng hàng loạt trẻ được nuôi dưỡng

trong các trại trẻ mồ côi, mặc dù được chăm sóc, thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu vật chất

nhưng đã liên tiếp mắc bệnh và qua đời mà các bác sĩ không tìm được nguyên nhân,

sau đó người ta đã phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến trẻ mắc bệnh hành loạt và qua

đời là do sự thiếu hụt về nhu cầu tương tác tâm lý, nhu cầu được thỏa mãn về xúc cảm,

tình cảm [35]. Mặt khác, nếu nhu cầu tương tác giữa các chủ thể ở mức cao thì quá

trình tương tác sẽ diễn ra thuận lợi, hiệu quả bởi nó là nguồn động lực kích thích các

cá nhân tích cực tìm kiếm, tương tác với nhau.

Trong hoạt động dạy học, nhu cầu tương tác là yếu tố thúc đẩy giảng viên và sinh viên tích cực tương tác với nhau trong giờ lên lớp. Trong tương tác tâm lý, khi mức độ

nhu cầu tâm lý của các cá nhân biểu hiện ở nhận thức (mong muốn, khao khát gặp gỡ,

tương tác), ở thái độ (tích cực, hứng thú tương tác), ở hành vi (sự tích cực, chủ động

trong tương tác) là lúc các cá nhân đã, đang thực hiện, đạt quá trình tương tác tâm lý

Như vậy, có thể nói nhu cầu tương tác trong tương tác tâm lý vừa là nguồn gốc, là điều kiện, vừa là thành phần, biểu hiện của tương tác tâm lý. Nhu cầu tương tác là động lực làm nảy sinh, thúc đẩy tính tích cực làm cho tương tác tâm lý đạt hiệu quả.

b) Sự tương hợp tâm lý trong tương tác Trong từ điển tiếng Anh của đại học Oxford, từ tương hợp là Compatibility được

hiểu là sự hợp nhau về quan điểm, ý kiến, nguyên tắc sống... giữa người với người

[Oxford Dictionary -1998]

34

Theo từ điển bách khoa Việt Nam, tương hợp là sự phối hợp tối ưu các đặc điểm tâm lí cá nhân của các thành viên trong nhóm để có lợi nhất cho việc thực hiện mục đích chung [135,727].

Theo tác giả Vũ Dũng [19], tương hợp tâm lý là khả năng của con người tìm kiếm

sự hiểu biết lẫn nhau, điều chỉnh các liên hệ riêng, công việc và khả năng hợp tác.

Như vậy, nói đến tương hợp tâm lý là nói đến quá trình bên trong của mỗi cá nhân, nhóm – quá trình cá nhân chuyển từ những cái tôi riêng thành cái tôi chung nhằm hòa hợp, thích ứng lẫn nhau trong quá trình hoạt động chung.

Cũng theo Vũ Dũng, tương hợp tâm lý trong một ê kíp lãnh đạo có hai khía cạnh. Tương hợp tâm sinh lý và tương hợp tâm lý xã hội. Tương hợp tâm sinh lý là tương hợp về các đặc điểm thần kinh, khí chất, tính cách..., còn tương hợp tâm lý xã hội là tương hợp về động cơ, nhu cầu, mục đích, định hướng giá trị, đặc điểm tâm lý lứa tuổi... Sự tương hợp này là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của một ê kíp lãnh đạo [24].

Điều đó cho thấy, trong hoạt động chung của con người, tương hợp tâm lý được xem là chỉ số đo tính gắn kết, là điều kiện để hình thành bầu không khí tâm lý trong tương tác tính cực. Tương hợp tâm lý là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để dẫn đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong hoạt động và trong tương tác, tương hợp tâm lý khiến mỗi cá nhân trong tập thể làm việc một cách tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Tinh thần tự giác của các thành viên thể hiện ở chỗ mỗi người tự nỗ lực phấn đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bởi vì, sự thống nhất về khí chất, tính cách, nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, lợi ích... sẽ dẫn đến sự thống nhất, phối hợp hành động một cách chặt chẽ của các thành viên về khía cạnh tâm lý trên.

Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh rằng, nếu không có sự tương hợp tâm lý sẽ phát sinh các tình trạng xung đột khác nhau, gây tổn hại cho hoạt động, cũng như bầu không khí của tập thể. Xung đột không chỉ làm đình đốn công việc của tập thể, mà còn ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của mỗi cá nhân. Khi không tạo dựng được các xúc cảm dương tính, sự sợ hãi, nghi kị làm cho con người ta mất sáng suốt, tính ý thức cao của hoạt động kém. Theo cách nói của nhà tâm lý học Ba Lan Lazenhepxki, xung đột là lực ly tâm, xung đột có thể dẫn đến tan rã tập thể [154]. Nhà tâm lý học B.Ph Lomovvà V.F Rubakin trong công trình nghiên cứu bầu không khí tâm lý lao động cũng đã chỉ ra rằng, nguyên nhân thứ ba của mọi xung đột là vấn đề không tương hợp tâm lý [90]. Điều đó đã bộc lộ, hiệu quả của tương tác tâm lý phụ thuộc mức độ phát triển của sự tương hợp tâm lý trong hoạt động. Trong tương tác tâm lý, nếu giữa các cá nhân đạt được sự tương hợp cả về khía cạnh tâm sinh lý và tâm lý xã hội, nghĩa là trên cơ sở hiểu khí chất, tính cách nhau, năng lực, khả năng,

35

điều kiện của nhau để có thể hiểu đến mức thấu hiểu nhau, thông cảm, đồng cảm... sẽ tạo nên sự tương hợp tâm lý với nhau cao, dẫn đến hiệu quả tương tác tâm lý càng tốt. Sự tương hợp tâm lý này là cơ sở giúp các cá nhân dễ dàng xây dựng, thiết lập được các quan hệ tình cảm khăng khít, gắn bó giúp đỡ nhau, thông cảm và hiểu biết, kết quả cuối cùng là hoạt động tương tác đó sẽ nhịp nhàng, có sự thống nhất, nhất trí để đạt hiệu quả cao trong hoạt động.

c) Sự phối hợp hành động tâm lý Phối hợp trong tiếng Anh, coordination có nghĩa là làm việc với nhau một cách hòa hợp, mà trong đó các chủ thể đều thực hiện hành vi nhằm đạt mục tiêu đã xác định với sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hành vi.

Xét từ khía cạnh quản lý hoạt động, phối hợp là một phương thức, một quy trình kết hợp hoạt động giữa các thành viên để đảm bảo cho hoạt động được thực hiện một cách hiệu quả. Phối hợp tồn tại trong suốt quá trình hoạt động, từ quá trình chuẩn bị, đến thực hiện. Ở đâu có hoạt động thì ở đó đòi hỏi phải có sự phối hợp. Mục tiêu cuối cùng của sự phối hợp là tạo được sự thống nhất, đồng thuận, ăn ý giữa các chủ thể trong hoạt động đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động.

Sự phối hợp hành động giữa các thành viên trong một hoạt động giống như trong một dây truyền sản xuất. Nó thể hiện ở sự đồng bộ, ăn khớp giữa các thành viên trong hoạt động. Tuy nhiên, khác với hoạt động theo dây truyền, sự phối hợp hành động của các chủ thể trong một hoạt động là một sự phối hợp linh hoạt, uyển chuyển, mềm dẻo [24].

Để phối hợp hành động tốt, trước hết đòi hỏi các cá nhân trong hoạt động phải

đồng nhận thức, đồng thái độ và đồng hành vi.

Có sự phối hợp hành động lẫn nhau thể hiện qua sự ý thức và thái độ tích cực, tự giác thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong chuẩn bị, tiến hành nhiệm vụ. Khả năng sử dụng các kĩ năng cần thiết nhằm phối hợp với nhau tốt.

Để có sự phối hợp hành động cao trong tương tác tâm lý, các thành viên phải dựa trên sự thấu hiểu về năng lực, khả năng của cá nhân, sở trường, sở đoản, sở thích, thói quen. Tính đến tính cách, khí chất, điều kiện, hoàn cảnh… của các cá nhân [24]. Sự hiểu biết, nắm bắt các đặc điểm này sẽ là cơ sở để phân công nhiệm vụ đạt tới sự “thấu tình, đạt lý”, “thỏa nguyện, thỏa lòng”. Qua đó mà đạt được sự đồng lòng nhất trí, hợp tác với nhau cao trong công việc.

d) Ảnh hưởng tâm lý lẫn nhau Theo tác giả Vũ Dũng, ảnh hưởng xã hội là sự ảnh hưởng của cá nhân này đến tâm lý, hành vi hay sự thích ứng của người khác theo ba phương thức: Kích thích - Sự củng cố - Thông tin [23].

36

Fischer, R.S.Feldman, Trần Thị Minh Đức [35],[49],[47] cho rằng, ảnh hưởng xã hội được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, ảnh hưởng xã hội là hành vi của một người trở thành sự chỉ dẫn, định hướng cho người khác. Theo nghĩa hẹp, ảnh hưởng xã hội chỉ sự thay đổi hành vi của một người dựa vào sức ép chi phối trong một bối cảnh nhất định. Ảnh hưởng xã hội là hiện tượng tâm lý phổ biến. Cứ có tương tác là có ảnh hưởng xã hội. Sự ảnh hưởng xã hội có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực “Hiệu ứng xã hội”.

Theo K. Lewin, khi các cá nhân tương tác với nhau, tức là tạo ra các kích thích và các phản ứng đáp lại sẽ tạo ra một trường năng lượng, gây áp lực, làm ảnh hưởng đến nhau. Trong môi trường đó, sự ảnh hưởng của các kích thích không chỉ phụ thuộc vào cường độ kích thích từ phía đối tượng mà còn phụ thuộc vào cường độ và hướng hành vi đáp ứng của chủ thể. Trong nghiên cứu của mình, bằng thực nghiệm K. Lewin đã chứng minh phong cách tác động của cá nhân sẽ tạo ra sự ảnh hưởng khác nhau tới người khác [166].

Sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác có thể diễn ra trên cả ba bình diện: nhận thức, thái độ và hành vi. Nhiều thực nghiệm của các nhà tâm lý học, xã hội học như Solomon Asch, Ben Jones… đã phát hiện ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân có thể diễn ra theo các cơ chế như: lây lan, bắt chước, ám thị…

Sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác vừa là bản chất, vừa là hiệu quả của sự tương tác. Trong tương tác tâm lý, có thể thấy sự ảnh hưởng từ cá nhân này lên cá nhân khác bằng nhiều cách thức khác nhau (tác động, khuyến khích… bằng vật chất hoặc tinh thần theo hướng tích cực hoặc tiêu cực). Ảnh hưởng trong tương tác tâm lý có nhiều mức độ. Làm thay đổi hành vi bên ngoài; Làm thay đổi cả nhận thức, thái độ; Làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi bên trong…

Điều đó cho thấy, khi nghiên cứu tương tác tâm lý, biểu hiện ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác vừa là biểu hiện đồng thời vừa là hiệu quả giúp ta đánh giá mức độ, hiệu quả quá trình tác động tâm lý của các cá nhân trong quá trình tương tác tâm lý, và như vậy có thể suy xét, khi ảnh hưởng của bên này trong quá trình tác động tới bên kia và ngược lại càng cao thì hiệu quả tương tác tâm lý càng lớn và ngược lại.

d) Tần số tương tác Theo từ điển mở Online (Bách khoa toàn thư mở) Wikepidia, tần số là số lần cùng một hiện tượng lặp lại trên một đơn vị thời gian. Để tính tần số chọn một khoảng thời gian đếm số lần xuất hiện của một hiện tượng trong một thời gian ấy rồi chia số này cho khoảng thời gian đã chọn.

Trong tương tác tâm lý, tần số phản ánh nhịp độ của tương tác. Điều đó có thể giải thích, nếu tần xuất tương tác diễn ra, lặp lại thường xuyên biểu hiện qua số lần dày

37

thì tương tác tâm lý giữa các cá nhân bền chặt, ổn định. Như dân gian thường quan niệm: “Năng mưa thì giếng năng đầy – Em năng đi lại mẹ thầy năng thương”. Tuy nhiên, ở khía cạnh tâm lý này, tần số tương tác tâm lý của các cá nhân phải thể hiện cả sự mong muốn, hứng thú lặp lại (nghĩa là cũng phải phản ánh sự biểu hiện của nhu cầu tương tác). Ngược lại, khi các cá nhân trong tương tác tâm lý có sự né tránh, biểu hiện trên tần số tương tác ít cho thấy, sự tương tác tâm lý của các cá nhân chưa cao. Bởi lẽ, thực tế đã minh chứng, các cá nhân trong các mối quan hệ xã hội chỉ tương tác với nhau với tần số dày khi họ có nhu cầu tương tác với nhau, có được sự tương hợp tâm lý, sự ảnh hưởng đến nhau, cũng như dễ dàng phối hợp nhau trong hoạt động. Ngược lại, khi không có được sự tương hợp, ngay cả khi có nhu cầu, họ cũng sẽ hạn chế, thậm chí né tránh sự tương tác.

Tóm lại, Trên đây là những biểu hiện của các thành phần tâm lý cơ bản tạo thành tương tác tâm lý giữa các cá nhân. Nhu cầu tương tác là “động lực” của tương tác tâm lý, sự tương hợp tâm lý trong tương tác phản ánh “bản chất”, sự phối hợp phản ánh “sức mạnh”, tần số cho thấy “nhịp độ”, sự ảnh hưởng lẫn nhau nói lên“hiệu quả” của quá trình tương tác tâm lý. Điều đó cho thấy, khi nghiên cứu tương tác tâm lý không thể không xem xét các biểu hiện này như là những thành phần này trong mối quan hệ tương hỗ. Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các thành phần biểu hiện của quá trình tương tác tâm lý qua sơ đồ sau:

Nhu cầu

Tân số

Tương tácTL

Tương hợp hành động

Ảnh hưởng Phối hợp

Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các thành phần trong tương tác tâm lý

38

2.2. Tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trƣờng đại học

2.2.1. Hoạt động dạy - học trong nhà trường đại học

Hoạt động của giảng viên và sinh viên trên lớp là hoạt động kép, bao gồm hoạt

động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên.

2.2.1.1. Giảng viên và hoạt động dạy của giảng viên trong nhà trường đại học Dưới góc độ tâm lý học, có nhiều quan điểm phân tích hoạt động dạy của người

dạy theo các khuynh hướng khác nhau. Có thể xếp theo hai hướng chính:

- Hướng 1: Cho dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy đến người

học. Theo hướng này, hoạt động dạy học được cho là: Sự tác động qua lại giữa người

dạy và người học hướng đến mục tiêu cung cấp tri thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo, nhân

cách người học. Tiêu biểu theo hướng này có các tác giả: A.N Petrovski, Hà Thế Ngữ -

Đặng Vũ Hoạt.... Cụ thể: A.N Petrovskicho rằng, hoạt động dạy học “Là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học mà kết quả là người học hình thành được

những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định” [116]

- Hướng hai: Cho hoạt động dạy học là quá trình truyền thụ, tổ chức, điều khiển

lãnh đạo của người dạy. Ở hướng này, hoạt động dạy học được các tác giả nhấn mạnh

đến vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều khiển... của người dạy trong quá trình giúp người

học thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ dạy học. Đại diện theo hướng này có thể kể đến

rất nhiều tác giả như: Phan Trọng Ngọ, Vũ Dũng, Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị,

Lê Văn Hồng, Trần Thị Tuyết Oanh, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Ngọc Quang.... Cụ thể:

Tác giả Phan trọng Ngọ cho rằng hoạt động dạy:“Là sự truyền lại của thế hệ

trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà xã hội đã sáng tạo và tích lũy được qua

các thế hệ” [104].

Theo tác giả Vũ Dũng, dạy học: “Là quá trình truyền thụ để hình thành một cách

có mục đích các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cho người học”[19]

Theo Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị: "Hoạt động dạy của giảng viên là quá

trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên, đó là quá trình người giảng viên soạn thảo và sử dụng những nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học nhằm nâng cao hứng thú, tính tích cực sáng tạo của sinh viên trong lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng chúng trong thực tiễn”[121].

Có thể nói, mặc dù tiếp cận, phản ánh hoạt động dạy học dưới nhiều hướng khác

nhau, song các tác giả đều phản ánh thống nhất hoạt động dạy học:

- Về bản chất: Hoạt động dạy học ở đại học là quá trình người giảng viên tổ chức,

hướng dẫn cho sinh viên tiến hành các hoạt động học tập. Trong đó người giảng viên xây

39

dựng môi trường học tập bao gồm: xác định mục tiêu, nội dung, các điều kiện, tình huống học tập khác nhau và tổ chức cho sinh viên làm việc trong môi trường đó. Trong quá trình

đó, giảng viên thường xuyên giám sát, động viên sinh viên để hướng đến việc hình thành

ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết. Chính trong quá trình tổ chức, hướng

dẫn và tư vấn sinh viên học tập diễn ra hai quá trình đồng thời: Một mặt giảng viên sử dụng các phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học khác nhau nhằm tổ chức các hoạt

động học tập khác nhau theo quy trình được xác định trong lý luận dạy học. Chẳng hạn:

sử dụng các phương pháp dạy học như nêu vấn đề, dạy học thực hành… nhằm hướng dẫn

sinh viên học tập. Mặt khác người giảng viên tiếp xúc, trao đổi, tác động về phương diện

tâm lý để làm cho sự hiểu biết, tương hợp, phối hợp, ảnh hưởng lẫn nhau giữa thầy và trò

tăng lên, tạo điều kiện, cơ sở để dạy học tiến hành tốt. Hoạt động dạy học chỉ được thực

hiện trọn vẹn, hiệu quả khi giảng viên phải thực hiện đồng thời cả hai quá trình trên. Trong đó, quá trình tương tác tâm lí là cơ sở, điều kiện để quá trình dạy học tốt hơn, hiệu

quả hơn. Chẳng hạn, một giảng viên có chuyên môn giỏi, nhưng thiếu sự thân thiện, gần

gũi, hiểu biết về sinh viên, không tạo được sự tương hợp, có thể giờ học cũng mang lại

hiệu quả nhất định, nhưng cùng giảng viên đó, nếu trong giờ học có sự thân thiện, sự hiểu

biết, sự tác động về mặt tâm lí đối với sinh viên, chắc chắn hiệu quả giờ học sẽ tốt hơn. Vì

vậy, trong dạy học để đạt hiệu quả giờ học, bài học, môn học, người giảng viên cần thực

hiện cả hai quá trình tương tác: Tương tác xã hội và tương tác tâm lý.

- Về đặc điểm: Trong hoạt động dạy, giảng viên là chủ thể của hoạt động giảng

dạy, người nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, nắm

vững quy luật nhận thức, thực hành và năng lực học tập của sinh viên để tổ chức

hướng dẫn sinh viên học tập có kết quả.

- Về chức năng: Như trên đã đề cập, trong dạy học truyền thống chức năng bao

trùm của hoạt động dạy, là tổ chức quá trình học cho người học với việc tiếp thu tri

thức, kinh nghiệm mà loài người để lại cho thế hệ trẻ, hình thành kĩ năng hành động là

mục tiêu, qua đó mà hình thành, phát triển các giá trị, phẩm chất, năng lực phát triển của người học (hệ quả). Trong dạy học hiện đại, mục tiêu dạy học là để hình thành và phát triển các giá trị phẩm chất nhân cách, năng lực cá nhân còn kiến thức, kĩ năng là phương tiện để đạt đến mục tiêu. Do vậy, người giảng viên trong hoạt động dạy học ở

đại học hiện đại cùng lúc phải thực hiện rất nhiều chức năng: Định hướng, ủy thác, tổ chức hành động học của người học, kiểm soát, đánh giá, điều chỉnh, kích thích…. Tuy

nhiên, việc thực hiện chức năng tổ chức, hướng dẫn cho người học, định hướng, tạo

môi trường, kích thích, động viên, làm nảy sinh nhu cầu, hứng thú học ở người học,

40

trợ giúp, giúp đỡ người học hình thành và tổ chức được việc học của bản thân một cách khoa học trở thành nhiệm vụ then chốt, là sứ mệnh quan trọng nhất của người

giảng viên trong dạy học hiện đại. Trong dạy học hiện đại, học tập mang tính chất sáng

tạo, mở, hướng đến tương lai. Muốn vậy, giảng viên phải tạo điều kiện để sinh viên

phải là chủ nhân thực sự của hoạt động học. Quan hệ giữa giảng viên và sinh viên (đối tượng học) không phải theo cách người giảng viên đứng trước sinh viên, mang đối

tượng đến hay dẫn sinh viên đến đối tượng mà là cùng đồng hành hướng sinh viên tìm

đến đối tượng và giúp các em đối mặt, giải quyết với đối tượng bằng các hoạt động và

tương tác của chính bản thân. Theo tinh thần đó, hệ thống làm việc của người giảng

viên trong dạy học hiện đại trước hết phải là một nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà phát

triển cộng đồng… như UNESCO đã khuyến cáo: “Đạo đức của giáo dục phải làm cho

mỗi người trở thành thầy dạy và là người kiến tạo nên văn hóa tiến bộ của bản thân mình…, giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những

chuyên gia truyền đạt kiến thức” [102, 206]

Như vậy, có thể nói, toàn bộ hoạt động giảng dạy của giảng viên đều hướng tới

sinh viên, coi sinh viên vừa là đối tượng, vừa là mục tiêu, vừa là trung tâm của hoạt

động dạy học. Để thực hiện tốt các mục tiêu trên đòi hỏi giảng viên phải nắm bắt được

nhu cầu tâm lý của sinh viên, phải hiểu được khi nào người học thật sự cần sự giúp đỡ,

tư vấn. Hơn thế nữa cần phải quan tâm tìm hiểu đặc điểm riêng của từng sinh viên,

nhóm sinh viên để có thể đưa ra cách giúp đỡ phù hợp, có sự hiểu biết sâu sắc tâm lý

về đối tượng của mình, tạo được sự tương hợp tâm lý để có thể hướng dẫn sinh viên,

phối hợp sinh viên trong hoạt động dạy – học có kết quả. Khi người giảng viên thực

hiện các chức năng đó, được gọi là thực hiện quá trình tương tác tâm lý trong dạy học. Tóm lại, dạy học được hiểu là hoạt động của người dạy và học trong sự tương

tác lẫn nhau, đặc biệt tương tác về mặt tâm lý nhằm đạt mục đích dạy học, khi nói tới

hoạt động dạy của người giảng viên, đồng thời là nói tới hoạt động học của người sinh

viên, hoạt động dạy học là hoạt động kép.

2.2.1.2. Sinh viên và hoạt động học của sinh viên trong nhà trường đại học Trích theo Nguyễn Thạc, sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản

xuất vật chất hay tinh thần cho xã hội. Nhóm sinh viên này rất cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định, nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình

độ cao trong các lĩnh vực xã hội. Sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức

được đào tạo trở thành những người lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xã

41

hội tích cực[122].

Để tồn tại và phát triển, mọi cá nhân trong cuộc đời buộc phải chuyển hóa được

những kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của riêng mình, tức là phải học. Hoạt

động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là

lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu học, qua đó phát triển bản thân người học. Sinh viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của hoạt động học.

Trong hoạt động học tập ở trường đại học, hoạt động học của sinh viên ở đại học

về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu. Trong hoạt động

học tập, sinh viên đi học không chỉ phải hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách sáng tạo,

có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết và kĩ năng nghề nghiệp, nhằm nhanh chóng

nắm bắt cơ sở nghề nghiệp tương lai, mà còn vừa phải tham gia tìm kiếm cái mới cho

nhân loại (nghiên cứu khoa học). Trong hoạt động dạy học, SV vừa tồn tại với tư cách là đối tượng điều khiển, đối tượng của hoạt động dạy, không ngừng phát huy cao độ tính

tích cực nhận thức, nhằm tiếp thu những tác động của thầy về nội dung tri thức, kĩ năng,

kĩ xảo có liên quan tới nghề nghiệp tương lai (khách thể của hệ thống điều khiển Thầy –

Trò), vừa tồn tại với tư cách là chủ thể có ý thức trong hoạt động học tập và rèn luyện.

Kết quả học tập của SV phụ thuộc vào ý thức, thái độ và sự nỗ lực cố gắng của chính

bản thân sinh viên. Do vậy, đòi hỏi sinh viên phải không ngừng phát huy vai trò chủ thể,

chủ động tương tác với giảng viên nhằm qua đó thực hiện tốt, có hiệu quả các nhiệm vụ

học tập.

2.2.1.3. Đặc trưng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ trong trường đại học. Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học,

xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo”. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có

những khác biệt căn bản với đào tạo theo niên chế. Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên

đạt được văn bằng qua việc tích lũy các loại tri thức giáo dục khác nhau, được đo bằng

một đơn vị xác định gọi là tín chỉ.

Theo quy chế 43 của Bộ giáo dục và Đào tạo [12], [13]:“Một tín chỉ được quy định bằng 15 giờ học lý thuyết; 30 – 45 giờ thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp

thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân”.

Đào tạo theo tín chỉ, có thể nói, là một chương trình đào tạo linh hoạt và mềm dẻo, có tính liên thông cao, thuận lợi cho sinh viên được chủ động lập kế hoạch, đăng ký học tập, tích luỹ từng phần kiến thức theo tiến độ phù hợp với năng lực, điều kiện của bản

42

thân và nhà trường nhằm hoàn tất chương trình đào tạo. Trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, hoạt động học của sinh viên được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: Tín chỉ lên lớp (giờ lý thuyết); Tín chỉ thực hành (giờ thực hành); Tín chỉ tự học (giờ tự học). Để học 15 giờ lý thuyết sinh viên phải có ít nhất 30 giờ thực hành và tự học. Cứ một giờ lên lớp bao gồm 1 giờ giảng viên giảng bài thì có 2 giờ sinh viên tự học. Một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 giờ giảng viên hướng dẫn, giúp đỡ thì có 1 giờ sinh viên tự học và một giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 giờ sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành theo những nội dung giảng viên giao và những gì sinh viên thấy cần phải nghiên cứu hoặc thực hành thêm.

Như vậy, đào tạo theo tín chỉ giúp phát huy tính tích cực, tự chủ, chủ động cho sinh viên, sinh viên là người chủ động thiết kế tiến độ học tập cho riêng mình. Về phương pháp giảng dạy và học tập: Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng ngày cành tinh gọn, thời gian giảng viên truyền đạt trực tiếp mặt đối mặt với sinh viên trên lớp giảm xuống, nhưng yêu cầu đối với sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập không giảm mà ngày càng cao. Do vậy, hơn lúc nào hết, tầm quan trọng của tự học của sinh viên tăng nhanh và là yếu tố then chốt, cơ bản tác động đến kết quả học tập của sinh viên. Nhiệm vụ người giảng viên cũng vậy, thời gian lên lớp giảm (theo đào tạo tín chỉ) không có nghĩa là giảng viên được giảm cường độ làm việc, mà càng phải đầu tư cả về thời gian và tâm sức nghiên cứu môn học theo hướng mở, tăng tìm hiểu đối tượng mình tác động nhằm nắm bắt, xác định hướng tác động phù hợp, đáp ứng đối tượng trước yêu cầu của xã hội ngày càng tăng cao.

Với yêu cầu dạy học theo tín chỉ đòi hỏi người dạy cùng lúc phải đảm trách 3 vai

trò: cố vấn trong quá trình học tập; người tham gia vào quá trình học tập; người học và

nhà nghiên cứu. Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, trong dạy học người dạy

phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng mà người học khó có thể tiếp nhận, lĩnh hội

được nếu không có sự hướng dẫn của thầy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho trò khám phá.

Muốn vậy, buộc người dạy phải giúp chính mình hiểu được trò, hiểu những gì người học cần trong quá trình học tập, hình dung trước những gì người học có thể làm được, những gì khó, để chuyển giao những nhiệm vụ này cho người học thông qua hướng dẫn, giám sát. Giúp người học thể hiện rõ hơn ý định, khuyến khích, động viên, qua đó giúp trò phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nguồn lực chính của bản thân để học tốt môn học. Với tư cách vừa là cố vấn, vừa là người tham gia vào quá trình học tập, người dạy là nguồn tham khảo cho người học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu. Trong vai trò là người học, người nghiên cứu

với tư cách là một thành viên tham gia vào các hoạt động trên lớp, người dạy ở một

43

mức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí người học, hiểu và chia sẻ những khó khăn, trách nhiệm học tập với người học. Có thực hiện được vai trò của người học, người

dạy mới có thể phát huy được vai trò tích cực của người học, lựa chọn được phương

pháp và thủ thuật tác động phù hợp.

Người sinh viên cũng vậy, đào tạo theo tín chỉ, đòi hỏi cao ý thức tự giác, trách nhiệm trong học tập của bản thân người sinh viên, điều này đặt ra vấn đề là sinh viên

sẽ thấy có nhiều khó khăn trong học tập, thậm chí khó thể hiểu bài nếu sinh viên

không tích cực hợp tác với giảng viên qua việc chuẩn bị những nội dung được giảng

viên giao, sẽ khó lĩnh hội kiến thức tốt, có sự sáng tạo cao nếu trên lớp sinh viên

không chủ động, tích cực tương tác với giảng viên những vấn đề còn băn khoăn,

những vấn đề mới của môn học, không xác định và nhận thức được vai trò của bản

thân nhằm tương tác có hiệu quả với giảng viên trên lớp.

Vì vậy, để giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy - học trong đào tạo theo tín chỉ hơn

bao giờ hết, càng đòi hỏi vai trò và trách nhiệm của người thầy, người trò sự cần thiết

của tương tác tâm lý trong mối qua hệ thầy trò. Bởi lẽ, nếu giảng viên và sinh viên

không chú ý tới tương tác tâm lý,qua đó nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tâm lý

giữa thầy trò trên lớp học, tạo dựng mối quan hệ thân thiện, gần gũi, nhằm khai thác

tối đa những giờ lên lớp ít ỏi qua sự tương tác tâm lý với nhau thì khả năng hợp tác,

phối hợp nhau trong giải quyết những vấn đề học tập sẽ bị hạn chế dẫn đến hiệu quả

đào tạo bị ảnh hưởng.

Có thể khái quát, để dạy và học có hiệu quả trong đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi

người giảng viên trong giảng dạy không chỉ phải đầu tư nhiều công sức và thời gian

trong xác định mục đích, lựa chọn, xây dựng nội dung, phương pháp dạy học mà hơn hết là phải đầu tư cả về thời gian và tâm sức nhằm nắm bắt được tâm tư, mong muốn

của sinh viên, hiểu đặc điểm tâm lý sinh viên, đạt sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp và

ảnh hưởng tâm lý trong hoạt động rất nhiều mới có thể thực hiện tốt bài học trên lớp

với vai trò là người cố vấn, gợi mở, xúc tác, động viên, là người trọng tài kích thích sinh viên trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của sinh viên trên lớp học để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học đề ra.

2.2.2. Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

2.2.2.1. Khái niệm tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên Như đã phân tích ở trên, hoạt động dạy học trong nhà trường đại học là một loại

hoạt động xã hội, với nhiều thành tố khác nhau, trong đó giảng viên và sinh viên là hai

thành tố cơ bản. Trong trường đại học có nhiều mối tương tác, nhưng tương tác đặc

44

trưng nhất là tương tác giữa giảng viên và sinh viên, trong tương tác dạy học có thể đề cập dưới góc độ các thành phần cấu thành nên hoạt động dạy học như: Tương tác thầy

– trò với nội dung học tập, với mục đích, phương pháp, phương tiện, hình thức…. Tuy

nhiên, ngoài việc xem xét tương tác trên mối quan hệ với những thành phần trên thì

một khía cạnh vô cùng quan trọng, nó như một chất xúc tác kích thích quá trình tương tác thầy trò trên lớp đạt hiệu quả mà nếu thiếu nó ắt hẳn hoạt động dạy học sẽ khó có

thể đạt hiệu quả như mong đợi. Đó chính là, tương tác thầy trò về mặt tâm lý. Có thể

nói, quá trình dạy học trên lớp chỉ có thể diễn ra một cách đúng nghĩa trong sự tác

động qua lại phối hợp giữa người dạy và người học, sự tác động qua lại đó diễn ra trên

tất cả các mặt: nhận thức, xúc cảm, tình cảm, thái độ, hành vi.... giữa người dạy và

người học, nhằm tiến hành quy trình đào tạo, hình thành phẩm chất người lao động,

năng lực nghề cho sinh viên.

Tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp là loại tương tác tâm lý - xã hội

đặc biệt, qua tương tác thầy - trò tác động đến nhau không chỉ về mặt xã hội mà còn

tác động đến nhau về mặt tâm lý nhằm hình thành và phát triển nhân cách nghề

nghiệp. Đây là quá trình tương tác có mục đích, nội dung, cách thức rõ ràng, được diễn

ra thông qua hoạt động dạy - học.

Tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học ở trường đại học là sự kết

hợp giữa tương tác tâm lý và tương tác xã hội. Nghĩa là, trong quá trình dạy học trên

lớp học, giữa người thầy và người trò không chỉ có sự tác động về mặt xã hội mà còn

phải đảm bảo về tâm lý. Trong mối tương tác này, thầy và trò vừa dựa trên cơ sở của

các quy định về chuẩn mực xã hội, các giá trị, khuôn mẫu xã hội được xã hội gán cho

mỗi cá nhân, thông qua các hành vi mà các cá nhân đó đang mang (thực hiện các vai trò xã hội mà chủ thể đang đóng), vừa phải dựa trên sự tạo lập mối liên hệ thấu hiểu

nhau, đồng cảm, tin cậy, thân thiện… tạo “chất keo kết dính” giữa thầy – trò. Như vậy,

tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học là quá trình tương tác mà ở đó cả

người giảng viên và sinh viên đồng thời phải thực hiện cả quá trình tương tác tâm lý và tương tác xã hội. Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung khai thác về tương tác tâm lý giữa người giảng viên và sinh viên trên lớp học mà không đi sâu vào khía cạnh tương tác xã hội, tương tác sư phạm.

Do vậy, xuất phát từ khái niệm tương tác, đặc điểm hoạt động dạy học, đặc trưng đào tạo theo tín chỉ, trên cơ sở của các lý thuyết đã phân tích ở các phần trên, với đối

tượng nghiên cứu là giảng viên, sinh viên ở trường đại học chúng tôi cho rằng: Tương

tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học là quá trình tác động qua lại về

45

tâm lý giữa giảng viên và sinh viên, được biểu hiện qua nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp giữa giảng viên và sinh viên, qua tần số tương tác và sự ảnh

hưởng tâm lý lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên.

Từ việc phân tích khái niệm tương tác tâm lý, đặc trưng hoạt động dạy - học của

giảng viên, sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ đã nêu ở trên (mục 2.3) chúng tôi nhận thấy tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học mang

những đặc điểm sau:

- Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên với mục đích là nhằm giúp cho

giảng viên và sinh viên tăng nhu cầu, hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ, đồng cảm, ảnh hưởng,

phối hợp nhau dễ dàng trong hoạt động dạy học trên lớp học, qua đó tạo điều kiện thuận

lợi để giảng viên và sinh viên thực hiện hoạt động dạy học hiệu quả. Tương tác tâm lý là

sự hỗ trợ cho hoạt động đào tạo mang lại hiệu quả cao.

- Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học không diễn ra độc lập

mà luôn đi kèm với các hoạt động dạy học trên lớp. Những hoạt động đó phải kể đến bao

gồm: hoạt động nhằm truyền thụ tri thức, chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp

vụ, phát triển tri thức cho người học, đặc biệt hoạt động phát triển nhân cách cho người

học. Do vậy, muốn đạt được mục tiêu đề ra, hoạt động dạy không đơn thuần chỉ là quá

trình tiến hành truyền thụ các nội dung dạy học, học tập được quy định trong chương

trình, tài liệu học tập mà còn đòi hỏi người giảng viên bằng nghiệp vụ sư phạm, nghệ

thuật tâm lý, thái độ biểu đạt, thể hiện, truyền tải các nội dung tâm lý đến đối tượng tác

động, giúp đối tượng cảm nhận được sự mong chờ, sự kì vọng, tin tưởng, đồng cảm… của

giảng viên dành cho đối tượng, từ đó tích cực tương tác chiếm lĩnh và hoàn thành các

nhiệm vụ dạy – học đề ra. Ngược lại, người sinh viên cũng vậy, trong hoạt động học tập trên lớp học không chỉ đơn thuần là sự lĩnh hội nội dung tri thức thụ động mà là thực hiện

quá trình tương tác tâm lý, biểu hiện ở sự mong chờ, khao khát, hứng khởi đón nhận

nguồn tri thức một cách tích cực qua thái độ, hành vi tương tác với giảng viên.

2.2.2.2. Biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên Từ các lý thuyết đã phân tích về tương tác tâm lý và đặc trưng của hoạt động dạy học trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ, chúng tôi xác định các biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp học giữa

giảng viên và sinh viên gồm các biểu hiện sau:

a) Nhu cầu tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên Nhu cầu tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên là nhu cầu được gặp gỡ,

trao đổi, tiếp xúc với nhau về mặt tâm lý, qua đó giúp nhau nắm bắt những vấn đề liên

46

quan tới kiến thức khoa học, chuyên môn, nghiệp vụ và các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống.

Nhu cầu tương tác tâm lý không chỉ thể hiện ở sự mong muốn, mong chờ mà còn

biểu hiện ở thái độ khao khát, hứng khởi trong chuẩn bị bài chu đáo khi tới lớp của cả

giảng viên và sinh viên. Giảng viên trước khi lên lớp không chỉ thể hiện ở thái độ trách nhiệm mà là sự mong muốn, khao khát đem cái mới, cái hay trong tri thức giáo dục

sinh viên, giúp sinh viên nhận thức, khám phá, phát triển. Nhu cầu tương tác tâm lý ở

sinh viên không chỉ thể hiện ở sự có chuẩn bị bài học mà còn là sự hào hứng, mong

chờ, sự khao khát tiếp nhận, tìm hiểu, khám phá, vận dụng cái mới trong tri thức trên

lớp. Có được điều đó, chính là nhu cầu tương tác tâm lý.

Nhu cầu tương tác tâm lý là một hiện tượng tâm lý phản ánh cái bên trong, chúng

ta sẽ khó định dạng được hình hài tròn méo, nhưng có thể đọc được và nắm bắt được nhu cầu tâm lý của giảng viên và sinh viên qua các hành vi, thái độ thể hiện ra bên

ngoài trong hành động dạy - học trên lớp học. Khi nhu cầu tương tác tâm lý được xây

dựng, hình thành và phát triển, nó sẽ là nguồn động lực to lớn kích thích tạo nên nguồn

nội lực khiến giảng viên, sinh viên không ngừng gia tăng sự tìm kiếm và tương tác với

nhau vì nó không chỉ thỏa mãn cái tôi muốn, cái tôi cần mà còn cả cái tôi hiểu, cái tôi

thích, cơ sở của sự tương giao.

Nhu cầu tương tác tâm lý là động lực giúp giảng viên và sinh viên trên lớp học

tiến hành hoạt động dạy và hoạt động học thuận lợi, hiệu quả.

Nhu cầu tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp được chúng tôi

xác định bao gồm:

* Nhu cầu tương tác từ phía giảng viên - Biểu hiện ở mong muốn được trao đổi, trò chuyện với sinh viên không chỉ giới hạn nội dung trong bài học theo trách nhiệm, nhiệm vụ mà còn mong muốn trao đổi,

trò chuyện, mở rộng với sinh viên nhiều vấn đề trong cuộc sống, xã hội.

- Biểu hiện ở thái độ hứng thú, hào hứng trong chuẩn bị nội dung, quá trình

tương tác.

- Biểu hiện ở hành vi tích cực, chủ động trong tương tác. Luôn tìm cơ hội, và tạo cơ hội để tương tác với sinh viên không chỉ trên lớp mà khi thời gian tương tác trên

lớp hạn hẹp, biết tận dụng các phương tiện khác nhằm gia tăng tương tác với sinh viên.

* Nhu cầu tương tác từ phía sinh viên - Biểu hiện ở mong muốn được trao đổi, trò chuyện với giảng viên không chỉ giới hạn nội dung trong bài học theo trách nhiệm, nhiệm vụ mà còn mong muốn trao đổi,

47

trò chuyện với giảng viên nhiều vấn đề trong cuộc sống, xã hội.

- Biểu hiện ở thái độ hứng thú, hào hứng trong chuẩn bị nội dung bài học, quá

trình tương tác.

- Biểu hiện ở hành vi tích cực, chủ động trong tương tác. Luôn tìm cơ hội, và tạo cơ hội để tương tác với giảng viên không chỉ trên lớp mà khi thời gian tương tác trên lớp hạn hẹp, biết tận dụng các phương tiện khác để thỏa mãn.

c) Tương hợp tâm lý trong tương tác giữa giảng viên và sinh viên Tương hợp tâm lý trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp

học chính là quá trình cả hai trên lớp cùng điều hòa được mối quan hệ trên cơ sở của

sự hiểu biết, hiểu thấu về đặc điểm thể chất - tâm lý, tôn trọng, chia sẻ, đồng cảm lẫn

nhau giữa giảng viên và sinh viên từ đó mà tác động ảnh hưởng sâu đến thế giới tinh

thần của nhau, tác động tích cực đến tâm tư, tình cảm, thái độ tương tác của nhau trong hoạt động trên lớp học

Trong hoạt động dạy học, hiệu quả dạy học, giáo dục sẽ cao hơn nếu hai chủ thể

(Thầy – Trò) đạt sự tương hợp tâm lý. Thực tế đã cho thấy, trong dạy học, người thầy

ngoài sự vững chắc về chuyên môn, tận tụy, trách nhiệm với nghề, nếu tạo được sự

tương hợp với trò thì mọi hoạt động dạy của thầy sẽ luôn được mong chờ, chào đón từ

khâu chuẩn bị đến tiến hành, sẽ đạt đến sự hứng thú, thỏa mãn với cảm giác giờ học

dường như quá ngắn. Như tác giả Mạc Văn Trang đã nhận định trong mối quan hệ

thầy – trò “Thực hiện tốt chức năng tâm lý sẽ giúp HS/SV tháo gỡ kịp thời những mặc

cảm, ẩn ức, dồn nén bức xúc, tâm trạng nặng nề, thành kiến sai lệch... giúp các em

vượt qua những khó khăn tâm lý, sống thoải mái, tích cực. Được như vậy, những hiện

tượng bỏ học vì lý do tâm lý, xung đột... sẽ giảm đi trong nhà trường [143]

Tương hợp tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học không giống như

tương hợp giữa mẹ - con, chồng - vợ bản chất là dựa trên sự xúc cảm, tình cảm làm cơ

sở chính. Tương hợp tâm lý trong tương tác thầy – trò lấy sự tương đồng, thông cảm,

sự hiểu biết, thấu hiểu giữa thầy và trò làm cơ sở.

Do vậy, tương hợp tâm lý trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên

trên lớp được chúng tôi xác định bao gồm các biểu hiện sau:

* Tương hợp tâm lý ở giảng viên

- Biểu hiện ở sự hiểu biết về kinh nghiệm, sự hiểu biết, khả năng học tập của sinh

viên.

- Biểu hiện ở sự hiểu biết, hiểu thấu về cảm xúc, về nhu cầu, mong muốn, sở

thích của sinh viên.

48

- Biểu hiện ở sự cùng tương đồng về quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc với sinh viên. - Biểu hiện ở sự chấp nhận sự khác biệt, thân thiện, gần gũi với sinh viên.

- Biểu hiện ở sự hiểu biết về điều kiện, hoàn cảnh của sinh viên.

- Biểu hiện ở sự tôn trọng, thông cảm với sinh viên.

* Tương hợp tâm lý ở sinh viên - Biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết, hiểu thấu về cảm xúc, về nhu cầu, mong

muốn, sở thích của giảng viên.

- Biểu hiện ở sự nắm bắt và hiểu biết về kinh nghiệm, sự hiểu biết, khả năng

chuyên môn của giảng viên.

- Biểu hiện ở sự cùng tương đồng về quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc với giảng

viên.

- Biểu hiện ở sự chấp nhận sự khác biệt, thân thiện, gần gũi với giảng viên. - Biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết về điều kiện, hoàn cảnh của giảng viên.

- Biểu hiện ở sự tôn trọng, thông cảm với giảng viên.

c) Sự phối hợp tâm lý trong tương tác giữa giảng viên và sinh viên Phối hợp trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên thể hiện

phương thức, quy trình kết hợp hành động giữa giảng viên và sinh viên để đảm bảo

cho hoạt động tiến hành thuận lợi, hiệu quả. Trong tương tác tâm lý, nếu giảng viên và

sinh viên trên lớp mới chỉ có nhu cầu, có sự tương hợp không thì chưa đủ để tương tác

hiệu quả, mà còn cần sự phối hợp cùng nhau. Tựa như một ngôi nhà, sự phối hợp ăn ý

giữa các thành phần của ngôi nhà sẽ tạo nên một ngôi nhà vừa bền, vừa đẹp. Người

Nhật quan niệm rằng, mỗi người là một viên ngọc. Nếu những viên ngọc không tìm

cách kết dính vào nhau. Kết quả, chúng chẳng tạo nên một sản phẩm nào cả.

Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp là tương tác giữa cá nhân

– cá nhân, cá nhân – nhóm, với trọng trách thực hiện các nhiệm vụ dạy – học. Do vậy,

phối hợp trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên là quá trình giảng viên và

sinh viên sử dụng, thực hiện các kĩ năng trong tương tác với nhau một cách đồng bộ, ăn khớp (ăn ý) như: kĩ năng nói (diễn đạt); kĩ năng nghe (lắng nghe nhau); Kĩ năng bắt đầu một mối quan hệ (thiết lập); Kĩ năng tự chủ bản thân (tự chủ cảm xúc)… để có thể và giúp nhau nắm bắt, hiểu thấu những điều muốn trao đổi, truyền đạt, sẻ chia một

cách rõ ràng nhằm đảm bảo quá trình tương tác trên lớp hiệu quả.

Như vậy, sự phối hợp trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên thể hiện ở sự nhanh chóng kết nối được với nhau, nêu cao tinh thần hợp tác biểu hiện ở kĩ năng biết lắng nghe nhau trong trao đổi, trò chuyện; biết diễn đạt thông tin

49

đến nhau rõ ràng, dễ hiểu; biết đặt cái tôi và thể hiện cái tôi của bản thânđúng lúc, đúng chỗ trong tương tác qua thái độ tôn trọng nhau, chủ động, nhiệt tình, sẵn sàng chia sẻ hợp tác với nhau trên tinh thần cùng đồng hành.

Xem xét sự phối hợp trong tương tác tâm lý giữa thầy – trò trên lớp phải dựa trên các kĩ năng mà các cá nhân sử dụng, thực hiện trongtương tác với nhau trên lớp. Như vậy sự phối hợp trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên được chúng tôi xác định bao gồm:

* Sự phối hợp tương tác của giảng viên: - Biểu hiện qua kĩ năng thiết lập được mối quan hệ thầy – trò thân thiện, gần gũi,

cởi mở.

- Biểu hiện qua kĩ năng nghe và lắng nghe nhau trong tương tác. - Biểu hiện qua kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ cho nhau trong

tương tác

- Biểu hiện qua kĩ năng bộc lộ, tự chủ, điều chỉnh cảm xúc của bản thân với đối

tượng tương tác.

* Sự phối hợp tương tác của sinh viên: - Biểu hiện qua kĩ năng thiết lập được mối quan hệ trò - thầy thân thiện, gần gũi,

cởi mở.

- Biểu hiện qua kĩ năng nghe và lắng nghe nhau trong tương tác. - Biểu hiện qua kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ cho nhau trong

tương tác

- Biểu hiện qua kĩ năng bộc lộ, tự chủ, điều chỉnh cảm xúc của bản thân với đối

tượng tương tác.

d) Sự ảnh hưởng tâm lý trong tương tác giữa giảng viên và sinh viên Trong tương tác tâm lý trên lớp học, giảng viên và sinh viên không chỉ qua sự tác

động về mặt tâm lý đến nhau nhằm tiến hành, thực hiện trao đổi, tiếp nhận thông tin

được thuận lợi, mà qua sự tác động tâm lý tạo hiệu ứng tích cực gây ảnh hưởng tâm lý đến nhau trong quá trình tương tác.

Thực tiễn đã minh chứng, trong quá trình thiết lập, duy trì mối quan hệ, yếu tố sự ảnh hưởng có vai trò nhiều khi quyết định tới hiệu quả quan hệ, chẳng hạn hiện tượng thần tượng…. Trong hoạt động dạy học trên lớp học, một số công trình nghiên cứu tại

nước ngoài của các tác giả nghiên cứu về hiệu quả của việc giảng dạy đối với người

học và ảnh hưởng của nó như: Jame Coleman với công trình “Bình đẳng trong giáo

dục”; Chritopher Jencks “Đánh giá về ảnh hưởng của gia đình và nhà trường ở Mỹ”;

William Sanders và các đồng nghiệp (Mỹ) trong “Sanders và Horn” [dẫn theo 97] đã

50

chứng minh rằng, “nhân tố quan trọng nhất tác động đến việc học của người học là người dạy”, “Người dạy hiệu quả có thể tác động đến người học ở tất cả các mặt”.

William Sanders cũng đưa ra kết luận, “cá nhân người giáo viên đứng lớp có ảnh

hưởng lớn đến kết quả học tập người học hơn cả mong đợi”.

Trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên, nếu tạo được ảnh hưởng tích cực sẽ có tác dụng tác động không chỉ đến nhận thức mà cả thái độ và hành

vi của bản thân cá nhân, làm các cá nhân thay đổi bản thân (theo lý thuyết tâm lý là

diễn ra quá trình nhập tâm). Không những vậy, sự ảnh hưởng tâm lý tích cực trong

tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp còn có tác dụng làm các cá nhân tăng

nhu cầu, thay đổi thái độ tích cực tương tác với nhau, tăng sự tương hợp, tăng sự phối

hợp hành động tâm lý cùng nhau trong hoạt động tương tác, giúp quá trình đào tạo

nhanh chóng đến đích. Ngược lại, tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp nếu không tạo được sự ảnh hưởng tích cực, không có ảnh hưởng, ảnh hưởng âm tính sẽ

làm trì hoãn, thậm chí khó có thể tiến hành, thực hiện một quá trình tương tác đúng

nghĩa (tương tác là sự tác động qua lại)

Do vậy, các biểu hiện của ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác tâm lý giữa giảng

viên và sinh viên trên lớp ở trường đại học được chúng tôi xác định bao gồm:

*Ảnh hưởng về phía giảng viên đối với sinh viên

- Biểu hiện qua sự học tập, hấp dẫn, lôi cuốn.

- Biểu hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của giảng viên về sinh viên

- Biểu hiện ở sự tin cậy

- Sự trân trọng, tự hào

- Sự trách nhiệm, nhiệt huyết đối với sinh viên. *Ảnh hưởng về phía sinh viên đối với giảng viên

- Biểu hiện qua sự học tập, hấp dẫn, lôi cuốn.

- Biểu hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của sinh viên đối với giảng viên

- Biểu hiện ở sự tin tưởng - Sự kính trọng, tự hào - Biểu hiện ở sự trưởng thành.

e) Tần số tương tác trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên Tần số không phải là một biểu hiện mang nghĩa là một thành tố tâm lý tham gia trong quá trình tương tác, tần số tương tác đúng hơn là một thông số biểu hiện mà căn

cứ vào mức độ tần số tương tác giúp chúng ta thêm cứ liệu xác định hiệu quả và thêm

51

cứ liệu đánh giá thực trạng tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Tần số trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp biểu hiện số

lần gặp gỡ, trao đổi, tác động giữa các chủ thể (giảng viên và sinh viên) trong cùng

đơn vị thời gian (giờ học trên lớp/ngày). Và như vậy, trong tương tác tâm lý trên lớp khi giảng viên và sinh viên có số lần tương tác tâm lý cao thì điều đó chứng tỏ, tương

tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên cao và ngược lại.

Trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học, tần số tương tác

phản ánh nhịp độ của sự tương tác tâm lý.

Tần số tương tác phản ánh tính tích cực của nhu cầu qua số lần tương tác. Do

vậy, số lần tương tác cao sẽ là một cơ sở cho ta nhận định về nhu cầu. Tần số trong

tương tác trên lớp giữa giảng viên và sinh viên cũng cho ta thấy sự tương hợp và khả năng phối hợp ăn ý lẫn nhau giữa giảng viên trong tương tác trên lớp học. Bởi lẽ, theo

thói thường khi con người ta trong tương tác mà sự tương hợp không có hoặc có thấp,

sẽ khiến các cá nhân ngại tương tác với nhau. Nếu bắt buộc phải tương tác cũng rất

nhạt nhẽo, gượng gạo và nếu không được thay đổi, củng cố sẽ có hiện tượng né tránh

do không thể tương tác. Trong tương tác mà không có khả năng phối hợp, mạnh người

nào người đó nói - làm, bộc lộ quan điểm, cảm xúc cá nhân, không quan tâm, chú ý

đến đối tượng tác động có nghe được không, nghe được gì, có bắt kịp không, không

chú ý đến nhu cầu, hứng thú, sở thích của người nghe... sẽ không thể tiến hành và duy

trì tần số tương tác của các cá nhân trong tương tác. Do vậy, tần số cũng được xem là

một biểu hiện giúp xác định mức độ quá trình tác động tâm lý giữa giảng viên và sinh

viên trên lớp.

Tần số tương tác trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

được chúng tôi xác định:

* Về phía giảng viên

- Giảng viên trên lớp học hầu như không có sự tương tác với sinh viên. Trên lớp

học chỉ diễn ra quá trình tác động, giao tiếp một chiều, mệnh lệnh và áp đặt.

- Giảng viên thỉnh thoảng tương tác với sinh viên, biểu hiện qua đôi lần trao đổi,

trò chuyện với sinh viên trên lớp học.

- Giảng viên và sinh viên trên lớp học thường xuyên trao đổi, trò chuyện với

nhau trên lớp với sự hăng say và hứng thú.

* Về phía sinh viên:

52

- Sinh viên trên lớp học hầu như không có sự tương tác với giảng viên. Có biểu

hiện sự trốn tránh, ngại tương tác với giảng viên. Trên lớp giảng viên độc thoại.

- Sinh viên thỉnh thoảng tương tác với giảng viên, biểu hiện qua đôi lần trao đổi,

trò chuyện với giảng viên trên lớp học.

- Sinh viên trên lớp học thường xuyên trao đổi, trò chuyện với giảng viên trên lớp

với sự thích thú và thỏa mãn.

2.2.2.3. Mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

ở trường đại học

* Mức độ

Về thuật ngữ, mức độ được hiểu là các thang biểu tiêu chuẩn để lượng giá các

đặc trưng của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn khi đánh giá độ cao - thấp, rộng – hẹp, dài

– ngắn, nhiều – ít, nặng – nhẹ… của một sự vật, hiện tượng. Các thuật ngữ mức, mực hay độ đều là những quy ước về lượng để so sánh với một giá trị chuẩn cụ thể, nó cũng

có nghĩa như mức độ.

Trong Đại từ điển Tiếng Việt, mức độ là mức được xác định trong khoảng nhất

định: mức độ trung bình [155]

Như vậy, khái niệm mức độ được hiểu là một chuẩn dùng để lượng hóa các đặc

trưng của sự vật hiện tượng bao hàm các yếu tố thang bậc (khoảng) trong các phần tử đó.

Vận dụng khái niệm mức độ nói chung, chúng ta có thể hiểu mức độ tương tác

tâm lý là những chuẩn đánh giá độ cao thấp của quá trình tương tác tâm lý trên cơ sở

xác định được các tiêu chí đo.

Trên cơ sở khái niệm chung về mức độ tương tác tâm lý, chúng tôi quan niệm,

mức độ tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học là những thang chuẩn đánh giá độ cao thấp của quá trình tương tác tâm lý trên cơ sở tổng hợp và

đánh giá độ cao thấp của các biểu hiện tâm lý tham gia trong quá trình tương tác.

* Các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

trên lớp học

Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên là loại tương tác tâm lý - xã hội đặc biệt, mang tính phức hợp và đa diện. Vận dụng và kế thừa quan điểm của các tác giả đi trước, căn cứ vào các tiêu chí liên quan trực tiếp tới quá trình tiến hành, thực hiện quá trình tương tác mà chúng tôi phân chia các mức độ tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên cơ sở các tiêu chí: Nhu cầu tương tác; Sự tương hợp tâm lý; Sự phối hợp hành động; Sự ảnh hưởng; Tần số tương tác để xét mức độ

53

tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên. Các mức độ từng tiêu chí, mức độ tương tác tâm lý sẽ được chúng tôi trình bày kĩ ở chương 3.

2.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trƣờng đại học

Giống như mọi quá trình tương tác tâm lý, tương tác xã hội đều chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố từ bên trong bản thân hoạt động và các yếu tố bên ngoài hoạt động chi phối. Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học cũng bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu một số yếu tố mà theo quan sát và điều tra cho thấy các yếu tố này có ảnh hưởng tới tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên. Đó là các yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân (chủ thể); yếu tố bên ngoài chủ thể. Cụ thể:

2.3.1. Các yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân

Có rất nhiều yếu tố thuộc về tâm lý cá nhânảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường Đại học, đáng chú ý là các yếu tố như: Khí chất; tính cách; năng lực; nhận thức; thái độ của giảng viên và của sinh viên đối với tương tác giữa giảng viên và sinh viên…. Trong giới hạn đề tài, chúng tôi chỉ xem xét một số yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân sau:

2.3.1.1. Hiểu biết của giảng viên và sinh viên về vai trò của tương tác tâm lý trên

lớp học

Khi tiến hành bất kì hoạt động nào, con người phải dựa trên sự hiểu biết nhất định về hoạt động, sự vật hiện tượng đó. Hiểu biết làm kim chỉ nam cho hành động, từ nhận thức đúng, con người mới có thể biết và hành động như thế nào và chính sự hiểu biết đó giúp con người chủ động, tích cực khi tiến hành.

Tương tác tâm lý trên lớp học về bản chất, là quá trình tổ chức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, sao cho hai hoạt động này trên lớp tác động qua lại lẫn

nhau, dẫn đến thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học đề ra. Do đó muốn đạt mục

đích, hai chủ thể (Thầy – Trò) trong tương tác phải hiểu biết về những vấn đề để hoạt

động có thể tiến hành và thực hiện đạt hiệu quả, phải hiểu biết về tương tác tâm lý, vai trò, tầm quan trọng của tương tác tâm lý trên lớp học. Vì vậy, muốn tương tác và tiến hành tương tác có hiệu quả cả giảng viên và sinh viên phải có những hiểu biết về tương tác tâm lý, các thành tố tham gia trong tương tác. Hiểu biết là điều kiện, cơ sở để tiến hành và thực hiện có hiệu quả hoạt động.

Như vậy, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên chính là sự hiểu biết của họ về tương tác. Những hiểu biết đó sẽ tạo nên nhu cầu, động lực cũng như cách thức tương tác hiệu quả.

54

2.3.1.2. Thái độ tích cực của giảng viên và sinh viên về tương tác Thái độ, tình cảm là biểu hiện của quan điểm sống với những giá trị, chuẩn mực

xã hội trên cơ sở nhận thức đúng đắn của bản thân về vấn đề thực hiện. Thái độ của

giảng viên và sinh viên về tương tác phản ánh cách thực hiện, mối quan tâm của họ đối

với hoạt động này. Nếu có thái độ đúng, họ sẽ luôn mong muốn, chủ động, tích cực thực hiện tốt các yêu cầu nhằm tiến hành và đảm bảo tương tác tốt.

Thái độ đúng thể hiện ở suy nghĩ và nhận thức đúng. Muốn có thái độ tương tác

đúng, cả giảng viên và sinh viên đều cần phải có những suy nghĩ đúng đắn về vị trí,

vai trò của tương tác. Họ phải coi tương tác tâm lý trên lớp học không chỉ là nhiệm

vụ, trách nhiệm mà còn để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, chia sẻ… nhằm thực hiện

không chỉ mục tiêu cá nhân mà cả mục tiêu chung. Có như vậy, họ mới luôn khao

khát, tích cực và chủ động tương tác, làm mọi việc tạo điều kiện tương tác. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể sảy ra khi ở cả sinh viên và giảng viên phải dựa trên cơ sở

của niềm tin, khi người ta tin nhau sẽ có sức ảnh hưởng, lan tỏa đến nhau rất lớn.

Niềm tin là chìa khóa vàng của sự thành công. Cuộc sống đã cho thấy, con người ta

chỉ khao khát, mong muốn và tích cực thiết lập mối quan hệ, chia sẻ khi dựa trên cơ

sở sự tin tưởng, tin yêu lẫn nhau. Vì vậy, trong tiến trình tương tác tâm lý trên lớp

học điều đặc biệt đòi hỏi người giảng viên là phải tạo được sự tin tưởng, ảnh hưởng ở

sinh viên. Người giảng viên phải làm cho trò mến thầy về đạo đức, tin thầy về trình

độ, phục thầy về tài năng, có như vậy sinh viên mới phấn khởi, háo hức mong chờ

giờ học của thầy và cảm thấy tiếc nuối “sao giờ học của thầy mau hết thế”.

2.3.1.3. Khí chất

“Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ,

nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ, cách nói năng của

cá nhân” [147].

Các nhà tâm lý học đã khẳng định rằng, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của con người mà không xem xét khí chất sẽ thiếu đi cơ sở khoa học.Nghiên cứu tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên không thể không xét tới yếu tố khí chất.

Khí chất là một thuộc tính tâm lý con người. Khí chất là đặc điểm chung nhất của mỗi con người, là đặc điểm cơ bản của hệ thần kinh, tạo ra các diện mạo nhất định của

toàn bộ hoạt động ở mỗi cá thể. Dựa trên cơ sở phân loại của hệ thần kinh, các dạng thần kinh sẽ có bốn loại khí chất tương ứng: sôi nổi, linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh.

55

Dưới góc độ chung nhất thì sự hòa nhập của các quá trình thần kinh và khí chất tạo nên những nét cơ bản của những đặc điểm riêng của cá tính và hành vi con người.

Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên sẽ chịu sự chi phối

bởi những kiểu khí chất biểu hiệnở những cá nhân khác nhau là khác nhau. Bởi lẽ,

cách ứng xử, tác động, phản ứng của các chủ thể trong tương tác phần nào chịu sự chi phối của đặc điểm kiểu hình thần kinh: cường độ, tốc độ, nhịp độ, sự cân bằng, linh

hoạt... của các quá trình thần kinh, làm cho các tác động và phản ứng của mỗi cá nhân

trong các hoàn cảnh khác nhau là khác nhau. Đơn cử như một cá nhân có khí chất linh

hoạt thì phản ứng hành vi của họ sẽ nhanh, dễ dàng hơn, nhưng đôi lúc “sự nhanh” ấy

lại thiếu thận trọng và để lại một vài thiếu sót trong tương tác, giải quyết vấn đề sẽ tốt

hơn nếu kiểu thần kinh này có một chút khí chất điềm tĩnh. Hoặc cá nhân ưu tư thì ở

họ sự nhạy cảm lại cao, xúc cảm, tình cảm mạnh dẫn đến khó kiềm chế được những xúc cảm, dễ dàng bộc lộ chúng. Điều này cũng có thể ảnh hưởng không tích cực đến

công việc….

Tóm lại, khí chất là một trong những yếu tố có sự ảnh hưởng nhất định trong

tương tác tâm lý.Việc mỗi cá nhân, để thành công trong công việc và cuộc sống, phải

tự nhận biết được bản thân mình thuộc kiểu khí chất nào để biết cách điều chỉnh những

hạn chế và phát huy thế mạnh trong khí chất, từ đó có những ứng xử, tương tác phù

hợp là điều cần thiết.

2.3.1.4. Tính cách

Trong tâm lý học, “tính cách là một phong cách đặc thù của mỗi người, phản

ánh lịch sử tác động của những điều kiện sống và giáo dục biểu thị ở thái độ đặc thù

của người đó đối với hiện thực khách quan, ở cách xử sự, ở những đặc điểm trong hành vi xã hội của người đó” [140].

Nói đến tính cách là nói đến hành vi mà con người biểu hiện trong các mối quan

hệ. Tính cách, trong cuộc sống hàng ngày, còn được nhắc đến với những tên gọi khác

nhau như “tính nết”, “tính tình”. Trong các mối quan hệ của cuộc sống, con người thường biểu hiện thái độ tựu trung theo hai khuynh hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Biểu hiện cụ thể của thái độ đó là sự phóng khoáng, xởi lởi, lịch thiệp, dịu dàng hay cộc cằn, khó chịu…. mà mỗi cá nhân bộc lộ trong quá trình tương tác. Các biểu hiện

của thái độ đó sẽ làm cho mối quan hệ trở nên gần gũi, thân thiện, dễ dàng hay xa cách, khó gần, khó kết nối tương tác…. Điều đó cho thấy, nghiên cứu tương tác tâm lý

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên trong xem xét các yếu tố tác động không thể

không xét đến yếu tố tính cách.

56

2.3.1.5. Năng lực Trong tâm lý học năng lực được hiểu là những thuộc tính tâm lý của cá nhân

đảm bảo thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định.

Năng lực trong hoạt động dạy (giảng viên) - hoạt động học (sinh viên) là hệ

thống năng lực chuyên biệt, thể hiện ở năng lực tổ chức hoạt động dạy (năng lực sư phạm của người giảng viên) và năng lực tiến hành hoạt động học của người sinh viên.

Năng lực dạy học của người giảng viên biểu hiện: Thứ 1: Nhận thức về vai trò,

nhiệm vụ, nội dung, chương trình, đối tượng dạy học. Thứ 2: Thiết kế kế hoạch, hoạch

định, xây dựng, lựa chọn các biện pháp tác động đến đối tượng dạy học. Thứ 3: Kết

cấu, kiến tạo các hoạt động dạy học. Thứ 4 và 5: Khả năng tiến hành kết nối tương tác,

tổ chức tương tác với đối tượng của hoạt động nhằm hướng hoạt động tới đích mà biểu

hiện cụ thể ở đây là: năng lực biết thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể, xây dựng mối quan hệ, phối hợp trong hoạt động và tổ chức tương tác đạt kết quả. Như vậy, có

thể thấy, thành phần năng lực thứ 4 và 5, năng lực tiến hành và tổ chức tương tác vừa

là kết quả đồng thời vừa là điều kiện của 3 thành phần trên.

Năng lực học tập ở người sinh viên là sự nhận thức rõ nhiệm vụ học tập, thiết kế

kế hoạch, tìm kiếm, vận dụng cách thức nhằm tiến hành tương tác với thầy, với bạn

qua đó thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập.

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học, để năng lực dạy và học được tiến hành hiệu

quả, hệ thống năng lực này có liên quan chặt chẽ tới năng lực chung như các phẩm

chất trí tuệ, ngôn ngữ, xúc cảm, tình cảm…. Chính những năng lực này, cộng với các

năng lực dạy – học giúp người giảng viên trong hoạt động dạy, người sinh viên trong

hoạt động học thực hiện, tiến hành có hiệu quả chuỗi hoạt động của bản thân.

2.3.2. Yếu tố bên ngoài chủ thể

Trong thực tiễn, những yếu tố này rất phong phú, trong đó có thể kể đến các yếu

tố phổ biến như: Phương thức đào tạo theo tín chỉ; cơ sở vật chất, quy chế và chương

trình đào tạo của khoa, trường; điều kiện thời gian, môi trường dạy và học của giảng viên và của SV trên lớp; khoảng cách về trình độ chuyên môn, về tuổi đời; phương pháp thực hiện tương tác thầy – trò trên lớp học; công tác bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kĩ năng tương tác cho giảng viên, sinh viên.… Trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ

xem xét một số yếu tố bên ngoài sau:

2.3.2.1. Phương thức đào tạo theo tín chỉ

Đào tạo theo phương thức tín chỉ với triết lý lấy người học làm trung tâm của qúa

trình dạy học, giúp phát huy cao tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học. Dạy

57

học theo phương thức này, số giờ thực dạy trên lớp của giảng viên chỉ còn một nửa, giảng viên chỉ lên lớp 50 % thời lượng nhưng khối lượng kiến thức không hề giảm,

thời gian còn lại dành cho các hoạt động độc lập: tự học, tự nghiên cứu, thí nghiệm,

thực hành... của sinh viên, tăng cường cường độ làm việc của trò lên gấp đôi như đã đề

cập ở trên.

Phương thức đào tạo theo tín chỉ đã đặt ra và đòi hỏi sinh viên trong quá trình

học tập một thực tế là phải có kĩ năng tự học và tích cực tự học. Để tự học có hiệu quả,

sinh viên phải nhận thức rõ và tranh thủ quỹ thời gian trên lớp tương tác tích cực với

giảng viên, đặt câu hỏi, thảo luận những vấn đề mà với quỹ thời gian ít ỏi giảng viên

không thể và chưa đề cập tới trong khi bản thân chưa hiểu rõ hay còn băn khoăn... mới

có thể tự học tốt. Giảng viên cũng vậy, theo quy định đào tạo theo tín chỉ, thời gian lên

lớp của giảng viên giảm không đồng nghĩa với việc giảng viên có quyền cắt xén, lược bớt nội dung chương trình. Vậy,thời gian giảm đáng kể trong khi chương trình, nội

dung vẫn phải đảm bảo. Làm sao, với thời gian ngắn ngủi mà vẫn dạy học có chất

lượng. Điều đó, bắt buộc không chỉ thầy mà cả trò phải qua tương tác tâm lý tìm hiểu

nhằm thấu hiểu nhau. Giảng viên chủ động tương tác tâm lý với sinh viên để hiểu sinh

viên, nhằm nhanh chóng nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc mà các em có thể,

sẽ mắc phải trong quá trình học tập, kịp thời định hướng, gợi mở, giúp đỡ, khuyến

khích, khích lệ sinh viên, tạo ảnh hưởng tích cực, kích thích sinh viên tích cực, chủ

động phối hợp tương tác với thầy tốt trên lớp học mới mong thực hiện tốt hình thức

đào tạo này. Sinh viên cũng vậy, tương tác tâm lý sẽ giúp trò hiểu thầy, tương hợp với

thầy và phối hợp với thầy tốt, kích thích nhu cầu tương tác, thực hiện hiệu quả các

nhiệm vụ học tập.

Điều đó, một lần nữa khẳng định rằng đào tạo theo tín chỉ là một phương thức

đào tạo đòi hỏi cao sự tương tác tâm lý của cả thầy và trò trong quá trình dạy học trên

lớp học và là một trong những yếu tố chi phối đến tương tác thầy trò trên lớp học.

2.3.2.2. Tính chất môn học Muốn thực hiện tương tác tâm lý trên lớp thành công, thầy - trò phải hiểu rõ tính chất môn học, môn học cung cấp hệ thống tri thức lý luận khoa học nền tảng hay hình thành, đào sâu kĩ năng chuyên sâu…, trên cơ sở đó giúp thầy - trò xác lập mục tiêu, kế

hoạch cụ thể rõ ràng, tìm kiếm chọn lọc nội dung thông tin, sử dụng phương pháp… tổ chức, tiến hành quá trình dạy – học đạt hiệu quả.

Việc nắm rõ tính chất môn học giúp người thầy có thể hình dung ra và triển khai

các phương thức tổ chức, sử dụng các kỹ thuật trong quá trình dạy học tương tác trên

58

lớp học như sau:

- Kỹ thuật tạo và đưa sinh viên vào tình huống có vấn đề thông qua kĩ thuật sử

dụng câu hỏi trong dạy học

- Kỹ thuật thực hiện hành vi ứng xử của giảng viên trong kích thích quan hệ

tương tác thầy – trò.

- Kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tương tác trên lớp.

- Kỹ thuật sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học làm tăng hiệu quả tương tác…

Trên cơ sở đó sẽ làm tăng nhu cầu thiết lập mối quan hệ, tạo sự gắn kết trong tương tác

giữa thầy – trò.

Có thể nói, nắm rõ tính chất môn học trong thực hiện tương tác thầy – trò trên

lớp học là một trong những điều kiện tiên quyết, nếu muốn thực hiện quá trình tương

tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên hiệu quả.

2.3.2.3. Điều kiện tương tác (không gian, thời gian, môi trường tâm lý, quy mô

lớp học…)

Điều kiện tương tác bao gồm không gian, thời gian, cơ sở vật chất, trang thiết bị,

phương tiện và môi trường, quy mô lớp học, bầu không khí tâm lý tham gia vào công

việc dạy và học của giảng viên và của SV trên lớp. Tất cả những yếu tố đó tạo nên môi

trường dạy học tương tác

Để quá trình tương tác trên lớp học có thể diễn ra, cần có những điều kiện, môi

trường, hoàn cảnh học tập nhất định về không gian, thời gian, phương tiện. Sự bố trí,

sắp xếp bao gồm tất cả những gì tham gia vào giờ học tạo nên hoàn cảnh thuận lợi cho

người dạy cũng như người học. Trước tiên về không gian, không gian trong tương tác

tâm lý trên lớp học không chỉ giới hạn ở không gian lớp học xét dưới góc độ vật chất mà nó còn bao hàm cả không gian về mặt tâm lý. Trong tương tác trên lớp học, không

gian cũng là một yếu tố tác động có vai trò lớn vào khả năng, hiệu quả tương tác, nó

không chỉ cần đủ rộng, sạch sẽ tạo sự dễ dàng trong tương tác mà nó còn phải đảm bảo

để mỗi một cá nhân vừa cảm nhận được sự thoải mái, sự ấm cúng, thân thiện mà từ đó cảm thấy có nhu cầu tiếp xúc, trao đổi với người khác theo xu hướng mở

Fischer, nói rằng:“chúng ta tạc thành hình môi trường của chúng ta và môi trường tạc chúng ta thành hình”[47]. Điều đó, muốn nói rằng, nếu tạo dựng được một

môi trường tổ chức lớp học đảm bảo sẽ là điều kiện thuận lợi cho quá trình tương tác giữa thầy và trò. Chẳng hạn: sự sắp xếp, bài trí bàn ghế thuận lợi, lớp học sạch sẽ, sự

trang trí, màu sắc trang nhã sẽ tạo nên môi trường, bầu không khí dễ chịu, thoải mái

cho cá nhân tham gia.

59

Có thể nói, lớp học không chỉ là một không gian vật chất mà còn là một không

gian tâm lý, chất đầy vốn sống của người dạy và người học.

Thời gian cũng là một yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến tiến trình tương tác

tâm lý trên lớp học. Thời gian không chỉ liên quan đến lịch và giờ giấc như lịch học

được sắp xếp vào thời điểm thuận lợi hay không thuận lợi, thời gian ít hay nhiều. Chẳng hạn, vào thời điểm thuận lợi và thời gian cho phép sẽ tạo điều kiện tương tác tốt

hơn…. Như vậy, thời gian học tập không chỉ buộc người dạy phải tính được trí nhớ, sự

chú ý, hứng thú của người học đạt đỉnh cao khi nào?, buổi sáng?, buổi chiều?, bao lâu?

để có những tác động, tương tác hợp lý, phù hợp làm tăng khả năng, hiệu quả dạy học.

Xét dưới góc độ tâm lý, thời gian ở đây còn có thể được hiểu bằng việc nó nhấn mạnh

cuộc sống của hoạt động học, được biến đổi thành thời gian tâm lý, nó được kéo dài

hay rút ngắn ở các thời điểm theo cấp độ hứng thú của cả người dạy, người học. Chẳng hạn, một bài dạy được dạy với sự say mê của một người thầy có trình độ cộng sự đáp

ứng hào hứng, tích cực của người học, sẽ cho cảm giác thời gian trôi nhanh, thời gian

dường như quá ngắn và ngược lại, một bài học đơn điệu, thiếu sự cộng hưởng sẽ cho ta

cảm giác thời gian quá dài, lâu kết thúc. Điều đó càng cho thấy, yếu tố thời gian cũng

đóng vai trò cơ bản cho việc thành công trong tương tác tâm lý, đòi hỏi người giảng

viên phải nắm rõ nhằm thực hiện được sự cân đối cần thiết lập giữa thời gian thực và

thời gian cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình tổ chức giờ học.

Về mặt quy mô, nếu lớp học quá đông cũng sẽ làm hạn chế tới khả năng và hiệu

quả tương tác.

Cũng không thể phủ nhận các điều kiện như cơ sở vật chất, các điều kiện về bầu

không khí lớp học cũng ảnh hưởng đến tập tính của con người. Bầu không khí thoải mái, thân thiện sẽ tạo sự hào hứng, dễ dàng tương tác của người học, người dạy.

Vì vậy, việc tạo các điều kiện này thuận lợi cũng là một trong những yếu tố giúp

tăng hiệu quả tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học. Tuy nhiên,

yếu tố điều kiện, môi trường chỉ là điều kiện để tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên thành công, không quyết định hiệu quả. Yếu tố quyết định là con người. Nếu làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao hiểu biết về tương tác tâm lý trên lớp trong hoạt động dạy học, kỹ năng tương tác tâm lý cho sinh viên đồng thời với sự

tổ chức tốt hoạt động tương tác từ phía giảng viên thì mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên sẽ được cải thiện và không ngừng được nâng cao, đáp ứng

yêu cầu, nhiệm vụ học tập.

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp

60

giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học. Do mục đích và giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ quan tâm đến một số yếu tố cơ bản trong số các yếu tố trên.

Tiểu kết Chƣơng 2

Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các quan điểm của các tác giả đi trước về tương

tác, tương tác xã hội, tương tác tâm lý. Chúng tôi cho rằng,Tương tác tâm lý giữa

giảng viên và sinh viên trên lớp học là quá trình tác động qua lại về mặt tâm lý giữa

giảng viên và sinh viên. Biểu hiện qua nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp giữa giảng viên và sinh viên, qua tần số tương tác và sự ảnh hưởng tâm lý lẫn

nhau giữa giảng viên và sinh viên.

Tương tác tâm lí giữa giảng viên với sinh viên vừa là điều kiện, nguyên nhân,

vừa là biện pháp nhằm tiến hành đào tạo nghề và giáo dục phẩm chất người lao động

chất lượng cho sinh viên.

Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học bị

chi phối bởi nhiều yếu tố trong đó bao gồm: Các yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân; các

yếu tố bên ngoài chủ thể. Trong các yếu tố tâm lý cá nhân có các yếu tố nổi trội như:

hiểu biết và thái độ của giảng viên về tương tác tâm lý trên lớp học. Yếu tố bên ngoài

chủ thể như: Phương thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ; tính chất môn học; điều kiện,

môi trường dạy học tương tác.

61

Chƣơng 3. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.1.1. Địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí minh là một thành phố phát triển, nơi tập trung nhiều trường đại học chất lượng với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho mọi ngành nghề của xã hội.Hiện có 50 trường Đại học trên điạ bàn TP.Hồ Chí Minh, đào tạo sinh viên thuộc hầu hết các ngành trong nền kinh tế- khoa học của đất nước. Do điều kiện có hạn, đề tài không thể nghiên cứu tất cả các trường đại học nói trên, chúng tôi chỉ chọn 3 trường: Đại học Sài Gòn; Đại học Công nghiệp TP.HCM; ĐH Ngân hàng làm địa bàn nghiên cứu, đại diện cho 3 khối: Kĩ thuật, kinh tế và xã hội. Đồng thời, đây là 3 trường có số lượng sinh viên đa dạng có thể đại diện cho các trường Đại học tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng, các trường Đại học trên cả nước nói chung.

Trường đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục đại học đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực (Kinh tế - Kỹ thuật - Công nghệ, Văn hoá - Xã hội, Chính trị - Luật; Nghệ thuật; Sư phạm), với nhiều bậc học (Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, Trung học phổ thông, Trung học cơ sở) và nhiều hệ đào tạo khác nhau (chính quy, ngoài chính quy, liên thông).

Mục tiêu của trường Đại học Sài Gòn là trở thành trung tâm đào tạo – nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, trung tâm văn hoá – giáo dục hàng đầu của Thành phố Hồ Chí Minh. Trường tuyển sinh trên cả nước.

Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở giáo dục lớn tại Việt Nam. Các chuyên ngành trường đào tạo gồm: Công nghệ kĩ thuật Điện, Công nghệ kĩ thuật Điện tử - Viễn thông, Công nghệ kĩ thuật cơ khí, Công nghệ Cơ Điện tử, Công nghệ kĩ thuật Ô tô, Khoa học Máy tính, Công nghệ Phần mềm, Công nghệ Hóa học, Công nghệ Hóa dầu, Công nghệ May - Thời trang, Công nghệ Nhiệt - lạnh, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Môi trường, Công nghệ Sinh học, Tài chính Ngân hàng, Quản trị Kinh Doanh, Kế toán - Kiểm toán, Kinh doanh Du lịch, Thương mại Điện tử, Tiếng Anh.

Mục tiêu nhà trường đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ xã hội.

Trường tuyển sinh trên cả nước.

Trường đại học Ngân hàng là trường đại học đa ngành với ngành mũi nhọn là Tài chính - Ngân hàng. Hiện trường có 07 ngành đào tạo: Tài chính - Ngân hàng; Kế toán; Quản trị kinh doanh; Hệ thống thông tin quản lý; Ngôn ngữ Anh; Luật kinh tế; Kinh tế quốc tế. Trường có 11 khoa. 03 trung tâm, 01 viện.

62

Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành ngân hàng, bảo hiểm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội khác ở trong nước và

quốc tế.

3.1.2. Khách thể nghiên cứu

Sự phân bố khách thể được biểu hiện ở 2 bảng 3.1 và 3.2 dưới đây:

Khách thể giảng viên

Bảng 3.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu giảng viên

Các tiêu chí Trường Số lượng giảng viên

Trường Đại học Sài Gòn 22

Đại học công nghiệp TP HCM 21

ĐH Ngân Hàng 18

Trình độ Cử nhân 20

Thạc sĩ 37

Tiến sĩ 4

Thâm niên 20 - >30 26

10 - 20 18

1 - 10 17

Giới tính Nam 31

Nữ 30

Tổng 61

Khách thể sinh viên

Bảng 3.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu sinh viên

Các tiêu chí Trường Số lượng sinh viên

Trường Đại học Sài Gòn 220

Đại học công nghiệp TP HCM 189

ĐH Ngân Hàng 200

Năm 1 162

Năm Năm 2 149

Năm 3 165

Năm 4 133

Nam Giới tính 299

Nữ 310

Tổng 609

63

3.1.3. Các giai đoạn nghiên cứu

Luận án được tổ chức nghiên cứu theo 3 giai đoạn: Nghiên cứu lý luận; nghiên

cứu thực tiễn; nghiên cứu thực nghiệm.

- Nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp những công trình nghiên cứu của các tác giả trong, ngoài nước về tương tác, tương tác tâm lý để: Viết tổng quan nghiên cứu vấn đề; xác định

khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu; xác định nội dung cho nghiên cứu thực tiễn.

- Nghiên cứu thực tiễn + Khảo sát thực trạng mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên

và sinh viên: mức độ nhu cầu; tương hợp tâm lý; phối hợp lẫn nhau; tần số tác động;

và ảnh hưởng lẫn nhau.

+ Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố thuộc tâm lý cá nhân; yếu tố khách quan

đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

+ Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp tác động góp phần cải thiện, nâng cao

mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Quá trình nghiên cứu thực tiễn gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn thiết kế bảng hỏi; điều

tra thử; điều tra chính thức và giai đoạn xử lý kết quả. Mỗi giai đoạn có mục đích,

phương pháp, khách thể và nội dung nghiên cứu khác nhau.

- Tổ chức thực nghiệm Thực nghiệm một số biện pháp tác động nhằm cải thiện mức độ tương tác của

giảng viên và sinh viên trên lớp theo hướng tích cực, phù hợp.

Thực nghiệm được tiến hành qua hai vòng vào học kì 1 năm học 2014 - 2015 và

học kì II năm học 2014 - 2015 tại trường Đại học Sài Gòn.

3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

 Mục đích nghiên cứu Nhằm tổng quan các công trình nghiên cứu đã có về tương tác, tương tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên… xây dựng khung lý thuyết về tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

 Nội dung nghiên cứu + Khái quát lịch sử các nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan đến tương tác, tương tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên ở trường đại học. Từ đó, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại để tiếp tục tiến hành

nghiên cứu.

64

+ Xác định khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu + Xác định nội dung cho nghiên cứu thực tiễn + Xác định các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và

sinh viên

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên

và sinh viên

 Cách thức thực hiện Tiến hành nghiên cứu tài liệu, sách báo, tạp chí…, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá những lý thuyết và công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến tương tác, tương tác tâm lý, tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học và các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

3.2.2.1. Phương pháp quan sát  Mục đích Nhằm tìm hiểu những biểu hiện thực tế tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên. Các thông tin thu được sẽ làm sáng tỏ hơn các mức độ biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

 Nội dung - Quan sát những biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học: nhu cầu, sự tương hợp tâm lý, số lần tương tác với nhau trong giờ học, sự ảnh hưởng. Đặc biệt sự quan sát tập trung sự phối tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học.

 Cách thức - Xây dựng biên bản quan sát (phụ lục 2: Phụ lục 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6). - Làm việc với Ban Giám Hiệu nhà trường - Khoa - Phòng đào tạo xin lớp. - Gặp gỡ giảng viên trao đổi, tạo sự đồng thuận. - Tiến hành quan sát: Dự giờ, quan sát tự nhiên quá trình hoạt động của giảng viên và sinh viên trong giờ học và cả trước, sau giờ học. Ghi lại biên bản quan sát, ghi lại nhận xét, tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả thu được.

 Phương tiện - Biên bản, dụng cụ ghi chép. 3.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  Mục đích của phương pháp Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông tin các đối tượng điều

65

tra về các nội dung cần nghiên cứu.  Nội dung nghiên cứu Điều tra nhận thức của giảng viên, sinh viên về tương tác, tương tác tâm lý. Điều tra các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên.

Thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp giữa

giảng viên và sinh viên ở trường đại học.  Cách thức tiến thiết kế bảng hỏi Để tiến hành điều tra thu thập những thông tin cần thiết phục vụ đề tài nghiên

cứu, sau khi điều tra bằng những câu hỏi mở và hỏi ý kiến chuyên gia, chúng tôi tiến

hành theo 3 giai đoạn:

- Giai đoạn thiết kế bảng hỏi Giai đoạn này gồm hai bước: Tìm hiểu các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên và thiết kế bảng hỏi.

+ Tìm hiểu sơ bộ các mức độ biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên

và sinh viên ở trường đại học. Mục đích: Nghiên cứu tìm ra các biểu hiện quan trọng

nhất trong tương tác tâm lý. Khách thể nghiên cứu: 10 khách thể gồm các giảng viên

đang trực tiếp giảng dạy và các chuyên gia tâm lý, giáo dục. Nội dung nghiên cứu:

Khai thác thông tin tìm hiểu các biểu hiện trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng

viên và sinh viên.

+ Xây dựng bộ câu hỏi chuẩn về các nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề

nghiên cứu (Phụ lục 1.2, Phụ lục 1.3).

Nội dung và cấu trúc bảng hỏi: Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu,

chúng tôi xây dựng các loại bảng hỏi dành cho hai loại khách thể: 1) Dành cho sinh

viên và 2) Dành cho giảng viên. Nội dung các câu hỏi về cấu trúc là như nhau, chỉ

khác nhau về cách dùng từ cho phù hợp từng nhóm khách thể được điều tra.

Nội dung và cấu trúc cả hai bảng hỏi gồm 2 phần, Phần 1 và Phần 2: Phần 1: Những thông tin chung Phần 2: Nội dung gồm 5 câu được sắp xếp theo các tiêu chí: - Sự hiểu biết và thái độ của sinh viên về tương tác tâm lý trên lớp bao gồm các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3. Tìm hiểu làm rõ yếu tố hiểu biết, thái độ của giảng viên và sinh viên về tương tác tâm lý qua các nội dung như: Hiểu về tương tác tâm lý; vai trò

của tương tác tâm lý trong dạy học và sự quan tâm, thái độ của bản thân trong tương tác tâm lý trên lớp.

66

- Các biểu hiện của tương tác tâm lí giữa giảng viên và sinh viên trên lớp: Nhu cầu tương tác: sự mong muốn, hứng thú, tích cực, chủ động (11 items được sắp xếp từ

1 đến 11); Tương hợp tâm lý: thể hiện ở sự hiểu biết về tính cách; khí chất; năng lực,

tâm huyết nghề nghiệp; điều kiện, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân; kinh

nghiệm. Ở sự đồng cảm, sự tương đồng, cảm thông, tin cậy, chia sẻ, tôn trọng (20 items, được sắp xếp từ 12 đến 31); Sự phối hợp qua các kĩ năng tương tác: kĩ năng

thiết lập mối quan hệ; kĩ năng lắng nghe; kĩ năng diễn đạt và kĩ năng tự chủ cảm xúc

(11 items được sắp xếp từ 32 đến 42); Sự ảnh hưởng lẫn nhau (16 items được sắp xếp

từ 43 đến 58); Tần số tương tác (6 items từ 65 đến 70).

- Các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên:

+ Những yếu tố thuộc tâm lý cá nhân + Những yếu tố khách quan

- Giai đoạn điều tra thăm dò * Mục đích nghiên cứu: Xác định độ tin cậy của bảng hỏi, tiến hành chỉnh sửa

những câu hỏi không đạt yêu cầu.

* Phương pháp: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đã được thiết kế.

* Khách thể nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò trên 10 giảng viên

và 100 sinh viên (tỉ lệ: 1 giảng viên/10 sinh viên).

* Nội dung nghiên cứu: Khảo sát thử bằng bảng hỏi và tính độ tin cậy của công

cụ điều tra.

* Xử lý số liệu: Số liệu thu được sau khảo sát được làm sạch và xử lý bằng phần

mềm Stata 12. Giai đoạn này, chúng tôi sử dụng kĩ thuật phân tích hệ số tin cậy Alpha

Cronbach để xác định độ tin cậy của các thang đo sau khi khảo sát thăm dò.

Theo mô hình lý thuyết, có nhiều cách để đánh giá độ tin cậy của một bộ công cụ

nghiên cứu. Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng các phương pháp đánh giá độ phù hợp của từng item (internal consistency methods), sử dụng mô hình tương quan alpha của Cronbach (Cronbach’s Coeffcien

alpha): mô hình này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán phương sai của từng item trong toàn phép đo và tính tương quan điểm của từng item với điểm của toàn bộ các item còn lại của phép đo. Độ tin cậy của toàn bộ thang đo được coi là thấp nếu Alpha <0.6 [163]

Kết quả phân tích độ tin cậy của bảng hỏi đo mức độ tương tác tâm lý trên lớp

giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học cho thấy các kiểu thang đo của phép đo

67

này có hệ số tin cậy Alpha từ 0,77 0,95 đạt mức chấp nhận được, kết quả này cho phép chúng tôi sử dụng bảng hỏi vào điều tra chính thức.

Bảng 3.3. Độ tin cậy của phép đo trên mẫu giảng viên

Hệ số tin cậy Alpha Các tiểu thang đo/Tiêu chí đo Mẫu GV, N = 61

Nhu cầu 0,77

Tương hợp tâm lý 0,80

Ảnh hưởng lẫn nhau 0,82

Sự phối hợp 0,73

Tần số tương tác 0,77

Bảng 3.4. Độ tin cậy của phép đo trên mẫu sinh viên

Hệ số tin cậy Alpha Tiêu chí đo Mẫu SV, N = 609

Nhu cầu 0,80

Tương hợp tâm lý 0,95

Ảnh hưởng lẫn nhau 0,92

Sự phối hợp 0,93

Tần số tương tác 0,85

Để kiểm tra độ tin cậy của từng chỉ số của thang đo, chúng tôi đánh giá độ tin cậy

của từng chỉ số, bằng cách tính hệ số tương quan giữa điểm số của từng chỉ số với

điểm số của các chỉ số còn lại của toàn phép đo. Những chỉ số nào có hệ số tương quan

<0.20 được coi là những item có độ tin cậy thấp (không phù hợp) cần phải chỉnh sửa

(thiết kế lại, hoặc loại bỏ), những chỉ số nào có hệ số tương quan >0.30 được coi là có

độ tin cậy đảm bảo (phù hợp)

Phân tích hệ số tương quan Pearson, phân tích tầm quan trọng theo phương pháp

mới LMG (Lindemann, Mereda, Gold – một thước đo mới và tốt)

Có nhiều phương pháp nhưng phương pháp mới lmg có ích nhất và logic.

của mô hình cho từng biến tiên lượng (nguồn

Phương pháp lmg phân định htpps://cran.r-project.org/web/packages/relaimpo/relaimpo.pdf).

Phân tích hồi quy đa biến nhị phân nhằm loại bỏ các yếu tố gây sai số trong quá

trình nghiên cứu và xác định rõ những yếu tố liên quan đến tương tác tâm lý.Xác định

những yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh

viên trên lớp học.Định lượng được sự đóng góp của từng yếu tố ảnh hưởng đến tương

68

tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên.

- Giai đoạn điều tra chính thức Ở giai đoạn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp: Điều tra bằng bảng hỏi,

khảo sát, quan sát, phỏng vấn sâu, bút vấn, nghiên cứu điển hình…

 Điều tra bằng bảng hỏi * Mục đích nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên qua các biểu hiện thành phần: Nhu cầu tương tác; Sự tương hợp tâm lý; Sự phối

hợp nhau; Sự ảnh hưởng lẫn nhau; Tần số tương tác.

- Tìm hiểu các yếu tố tâm lý cá nhân; các yếu tố khách quan trong quá trình

tương tác ảnh hưởng đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

* Khách thể nghiên cứu: 609 sinh viên từ năm 1 đến năm 4 và 61 giảng viên

thuộc 3 trường Đại học Sài Gòn; ĐH Ngân hàng; ĐH CN TP.HCM.

* Nội dung nghiên cứu: Nội dung thể hiện trong bảng hỏi chính thức sau khi đã

chỉnh sửa ở giai đoạn điều tra thử.

* Nguyên tắc điều tra: Mỗi khách thể trả lời độc lập một phiếu theo nhận thức và

hoạt động của bản thân trong tương tác tâm lý trên lớp. Những câu hỏi nào chưa rõ, có

thể hỏi để điều tra viên giải thích. Các điều tra viên được tập huấn kĩ về bảng hỏi trước

khi điều tra.

* Tiêu chí và thang đánh giá: - Tiêu chí đo

Các thành phần biểu hiện của tương tác, cụ thể: Nhu cầu tương tác; Sự tương hợp

tâm lý; Sự phối hợp nhau; Sự ảnh hưởng lẫn nhau; Tần số tương tác.

- Điểm thang đo

Để đánh giá mức độ biểu hiện các thành phần tâm lý tham gia tương tác, chúng

tôi đưa ra các mức với các biểu hiện cho giảng viên và sinh viên lựa chọn: Rất không

đúng, không đồng ý hoàn toàn (ứng với 1 điểm); Hầu như không đúng, cơ bản không đồng ý (ứng với 2 điểm); Đôi khi đúng, đúng một phần, đồng ý một phần (ứng với 3 điểm); Thường là đúng như vậy, cơ bản đồng ý (ứng với 4 đểm); Rất đúng, rất đồng ý (ứng với 5 điểm). Các kết quả khảo sát được phân thành 5 mức độ biểu hiện của các

thành phần và của tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên:

Mức độ biểu hiện của các thành phần tâm lý tham gia tương tác

* Mức độ nhu cầu tương tác

- Mức 1 (Thấp): Ở mức này nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp thấp. Biểu hiện:

69

các chủ thể hầu như không có nhu cầu, không mong muốn, không hào hứng, không tích cực tương tác với nhau biểu hiện cả trước, trong và sau khi lên lớp. Họ vui mừng

khi vì lý do nào đó không thể tiến hành giờ học.

- Mức 2 (Tương đối thấp): Với mức này, biểu hiện nhu cầu tương tác tâm lý trên

lớp ở các chủ thể có nhưng không rõ ràng, không xác định rõ, thể hiện thái độ tương tác miễn cưỡng khi đặt vào tình huống, không có nhu cầu về tương tác.

- Mức 3 (Trung bình): Các chủ thể có nhu cầu, mong muốn tương tác nhưng tính

hào hứng, tích cực không cao và nếu không có điều kiện thuận lợi thì nhu cầu, mong

muốn đó cũng mất đi. Họ cũng không thấy cần thiết, ảnh hưởng gì khi giờ học bị giảm

đi, hay vì điều kiện nào đó mà không thực hiện được.

- Mức 4 (Tương đối cao): Các chủ thể có mong muốn tương tác với nhau cả

trước, trong và sau giờ học. Thể hiện ở chỗ xác lập, chuẩn bị rõ vấn đề tương tác trước khi lên lớp, trên lớp và sau khi lên lớp, họ có hào hứng, tích cực trong tương tác. Tuy

vậy, họ không bức thiết nếu điều kiện không thuận lợi và cũng không thấy thiếu hụt

nếu giờ học không tăng thêm.

- Mức 5 (Cao): Ở mức này các chủ thể tương tác luôn mong muốn, khao khát

tương tác với nhau. Biểu hiện: họ mong chờ, vui mừng khi đến giờ học. Họ tích cực,

phấn khởi tham gia tương tác trong giờ học và lo lắng, thất vọng khi giờ học quá ít và

mong muốn thời gian được kéo dài, tăng thêm. Họ có thể tương tác với nhau về nhiều

mặt của cuộc sống bên cạnh nội dung bài học trong giờ học, thậm chí khi không lên

lớp họ tương tác với nhau qua các phương tiện khác.

* Mức độ sự tương hợp tâm lý trong tương tác

- Mức 1 (Thấp): Các chủ thể hầu như không có sự tương hợp trong tương tác. Biểu hiện, trong tương tác các chủ thể không chú ý, quan tâm cũng như nhận biết được

cảm xúc của nhau. Mâu thuẫn nhau ở nhiều vấn đề, hoàn toàn không có sự tương đồng

nhau ở cả nhận thức, thái độ, hành vi, không có sự tin cậy, thiếu sự tôn trọng và không

chia sẻ được với nhau. Trong tương tác, các chủ thể hầu như không hiểu nhau về mọi mặt, từ tính cách, khí chất, năng lực, điều kiện hoàn cảnh của nhau, dẫn đến không muốn tương tác và nếu tương tác thì luôn dè đặt, e dè, đề phòng khi tương tác với nhau. - Mức 2 (Tương đối thấp): Các chủ thể có sự tương hợp thấp thể hiện qua có sự

đồng cảm, nhưng chưa đến mức hiểu được trạng thái cảm xúc và tâm trạng, tư tưởng, cảm nhận của đối tượng. Các chủ thể còn nhiều điều không hiểu về nhau như khó nắm

bắt cá tính, không nắm bắt được nhu cầu, nhận thức, hoạt động của nhau trong tương

tác. Chưa tạo được sự tin cậy, dè đặt trong chia sẻ với nhau khi tương tác.

70

- Mức 3 (Trung bình): Các chủ thể có sự tương hợp qua đồng cảm tương đối về một số vấn đề. Các chủ thể cảm nhận và phản ứng tương đồng nhau về một số nội

dung thông tin. Tuy nhiên, chưa đến mức thấu hiểu hết những ẩn chứa bên trong của

ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi của đối tượng, chưa hoàn toàn tin tưởng, tin cậy nhau trong

chia sẻ. Trong tương tác, các chủ thể có hiểu biết về nhau, nhận biết tính cách của nhau cũng như nhu cầu, nhận thức, hành động của nhau nhưng còn hời hợt, bề ngoài,

nên chưa thực sự tạo được sự tin tưởng ở nhau trong tương tác.

- Mức 4 (Tương đối cao): Các chủ thể có sự tương hợp tâm lý, biểu hiện ở sự

đồng cảm với nhau, cùng chung quan điểm về nhiều lĩnh vực, có sự chia sẻ, hiểu về

nhau, cảm nhận được những điều ẩn chứa sau lời nói, cử chỉ, điệu bộ, đồng thời cũng

làm cho đối tượng hiểu được những cảm nhận của mình về đối tượng, tin tưởng nhau.

Biểu hiện, phần lớn trong quá trình tương tác đã hiểu được các thông điệp của nhau, nhưng chưa đến mức có thể hoàn toàn tâm ý tương thông với nhau, chưa đến mức có

sự tương hợp nhau tuyệt đối.

- Mức 5 (Cao): Các chủ thể hoàn toàn tương hợp tâm lý, hiểu về mọi mặt của

nhau. Sự hiểu biết, tương đồng nhau đạt đến mức tâm đầu ý hợp, tâm ý tương thông.

Các chủ thể trong tương tác cảm nhận về nhau đến mức thấu cảm, thấu hiểu mọi cảm

xúc, hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ của nhau. Sinh viên hiểu được trách nhiệm, tâm tư, lòng

mong mỏi... của giảng viên đối với mình. Ngược lại, giảng viên không chỉ hiểu các biểu

hiện thái độ, hành vi bên ngoài của sinh viên mà còn cảm nhận sâu sắc cả những biểu

hiện tâm lý bên trong thông qua các hành vi bên ngoài.

* Mức độ sự phối hợp nhau trong tương tác

- Mức 1 (Thấp): Các chủ thể có sự phối hợp nhau rất thấp, biểu đạt qua kỹ năng tương tác rất thấp. Không thiết lập được mối quan hệ, kỹ năng lắng nghe, diễn đạt thấp

cũng như khó tự chủ được cảm xúc của bản thân trong quá trình tương tác dẫn đến

trong tương tác các chủ thể không phối hợp được với nhau. Giờ học diễn ra theo

hướng một chiều, không khí giờ học buồn tẻ, nặng nề, mệt mỏi.

- Mức 2 (Tương đối thấp): Các chủ thể đã có sự phối hợp nhất định, thể hiện qua kỹ năng tương tác và có sự phối hợp lẫn nhau nhưng hiệu quả tương tác biểu hiện qua các kĩ năng phối hợp còn hạn chế lúc có, lúc không. Trong giờ học các chủ thể có sự

phối hợp nhưng hạn chế, bầu không khí giở học nhìn chung uể oải.

- Mức 3 (Trung bình): Có sự phối hợp lẫn nhau, tạo được sự hợp tác trong tương

tác qua việc vận dụng và sử dụng các kĩ năng tương tác, nhưng chưa tích cực và hiệu

quả cũng chưa cao. Trong giờ học thầy - trò có sự phối hợp nhưng sự duy trì xuyên

71

suốt chưa bền vững, bầu không khí giờ học chưa sinh động, hồ hởi, vẫn còn cảm giác miễn cưỡng.

- Mức 4 (Tương đối cao): Các chủ thể có sự phối hợp nhau cao, biểu hiện qua

việc phối hợp và vận dụng các kĩ năng linh hoạt, chủ động, tích cực nhằm tác động

đến đối tượng và tương đối thiết lập được mối quan hệ sâu sắc. Bầu không khí giờ học sinh động, tích cực nhưng vẫn chưa đạt đến mức thỏa mãn tuyệt đối.

- Mức 5 (Cao): Hoàn toàn có sự phối hợp cao trong tương tác qua việc các chủ thể

hoàn toàn làm chủ được sự phối, kết hợp các kỹ năng tương tác, gây được ấn tượng

mạnh với đối tượng tương tác, để lại ấn tượng tích cực, nhanh chóng thiết lập và thiết

lập được mối quan hệ bền vững, sâu sắc. Bầu không khí giờ học hoàn toàn đạt đến mức

thầy – trò phối hợp nhau ăn ý. Thầy hiểu mong muốn, tâm - ý của trò và ngược lại, nên

giờ học hoàn toàn sinh động, vui vẻ, thoải mái. Trò tích cực tương tác với thầy và ngược lại. Giữa thầy- trò trong tương tác như không còn khái niệm thời gian, không gian.

* Mức độ tần số tương tác

- Mức 1 (Thấp): Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học thấp

biểu hiện, khi trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên hoàn toàn không có sự tương

tác qua lại với nhau, trên lớp học chỉ diễn ra quá trình tác động, giao tiếp một chiều.

- Mức 2 (Tương đối thấp): Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp

học ở mức tương đối thấp, biểu hiện khi trên lớp giảng viên và sinh viên chỉ đôi lần

tương tác, trao đổi với nhau.

- Mức 3 (Trung bình): Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học

ở mức trung bình, khi giảng viên và sinh viên trên lớp có tương tác, trao đổi với nhau

hơn mức đôi lần, nhưng tần xuất chưa đến mức thường xuyên.

- Mức 4 (Tương đối cao): Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp

học ở mức tương đối cao, khi giảng viên và sinh viên thường trao đổi, trò chuyện với

nhau trên lớp.

- Mức 5 (Cao): Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học ở mức cao, khi tần xuất tương tác ở cả giảng viên và sinh viên không chỉ thường xuyên, dày, mà còn thể hiện ở sự mong chờ, khao khát tương tác với nhau, luôn tranh thủ, kiếm tìm cơ hội trao đổi với nhau trong giờ học, thậm chí cả ngoài giờ học thông qua các

phương tiện như mail, facebook....

* Mức độ ảnh hưởng nhau trong tương tác giữa giảng viên và sinh viên

- Mức 1 (Thấp): Phản ánh sự tác động ảnh hưởng tiêu cực. Biểu hiện: Sau quá

trình tương tác, thầy và trò đều cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, thất vọng, ảnh hưởng

72

xấu đến cả sức khỏe lẫn hoạt động dạy - học. Xuất hiện tâm lý chán nản, né tránh không muốn gặp gỡ, tương tác với nhau.

- Mức 2 (Tương đối thấp): Là mức phản ánh sự tác động, ảnh hưởng tương đối

tiêu cực, cả giảng viên và sinh viên đều chưa hài lòng, chưa thoải mái, cảm giác tương

đối mệt mỏi sau khi tương tác. Trong và sau tương tác, cả giảng viên và sinh viên sự ảnh hưởng đến nhau không nhiều, tâm lý thể hiện ở trạng thái mong muốn nhanh

chóng kết thúc quá trình tương tác.

- Mức 3 (Trung bình): Là mức phản ánh những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực

tương đương nhau. Có lúc cảm giác hài lòng, vui vẻ, có lúc lại mệt mỏi, căng

thẳng.Trong và sau tương tác cả giảng viên và sinh viên có sự ảnh hưởng đến nhau

nhưng chưa nhiều, chưa sâu sắc dẫn đến chưa hình thành được tâm lý mong chờ, mong

muốn kéo dài thêm thời gian tương tác sau khi tương tác.

- Mức 4 (Tương đối cao): Là mức phản ánh hầu hết những tác động mang tính

tích cực. Cả giảng viên và sinh viên đều cảm nhận được sự hài lòng, vui vẻ mà cả hai

mang lại trong tương tác tâm lý. Tuy nhiên, ở mức này sự vui vẻ đó chưa đến mức đạt

được sự thỏa mãn cao độ và có phản ứng mong chờ những tác động tiếp theo.

- Mức 5 (Cao): Với mức này cả giảng viên và sinh viên đều cảm nhận rõ được sự

thích thú, thoải mái, thỏa mãn trong và sau tương tác. Sự tin tưởng tuyệt đối và như

không tồn tại khoảng cách, thời gian, không gian.

Mức độ biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở

trường đại học

- Mức 1 (Thấp): Giảng viên và sinh viên có sự tương tác tâm lý ở mức rất thấp.

Giữa giảng viên và sinh viên hầu như không tác động được đến nhau, không có nhu cầu, không có sự tương hợp tâm lý, tần số tương tác tâm lý kém, quan hệ giữa giảng

viên và sinh viên nặng nề, căng thẳng, dẫn đến không ảnh hưởng được đến nhau.

- Mức 2 (Tương đối thấp): Giảng viên và sinh viên tác động đến nhau ít, biểu

hiện ở nhu cầu tương tác ít, tương hợp tâm lý hạn chế, có nhiều bất đồng trong hoạt động cùng nhau, vì vậy tương tác tâm lý với nhau ít, sự ảnh hưởng nhau thấp.

- Mức 3 (Trung bình): Giảng viên và sinh viên tương tác tâm lý với nhau ở mức độ trung bình. Ở mức này, giảng viên và sinh viên có sự tác động đến nhau ở mức vừa

phải. Biểu hiện trong tương tác tâm lý, ở giảng viên và sinh viên có nhu cầu tương tác với nhau nhưng chỉ ở mức nghĩa vụ, trách nhiệm, có sự tương hợp qua sự có hiểu biết

về nhau nhưng chưa nhiều, có sự đồng cảm nhưng chưa cao, tần suất tương tác bình

thường. Vì vậy, trong tương tác cả giảng viên và sinh viên đã có sự ảnh hưởng đến

73

nhau nhưng chỉ ở mức trung bình.

- Mức 4 (Tương đối cao): Giảng viên và sinh viên tương tác tâm lý với nhau ở

mức tương đối cao. Phản ánh sự tác động đến nhau tương đối cao, biểu hiện qua nhu

cầu tương tác, tương hợp tâm lý, sự phối hợp nhau, tần số tương tác tâm lý đều ở mức

tương đối cao, dẫn đến có sự ảnh hưởng đến nhau tương đối cao. Tuy nhiên, ở mức này, tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên vẫn chưa đến mức hoàn toàn tâm - ý

tương thông, tâm đầu ý hợp.

- Mức 5 (Cao): Đây là mức phản ánh mức độ tương tác tâm lý trên lớp ở giảng

viên và sinh viên cao nhất. Thể hiện ở sự tác động giữa giảng viên và sinh viên đến

nhau rất cao. Biểu hiện qua giảng viên và sinh viên đều có nhu cầu tương tác, tần suất

tương tác, sự tương hợp, phối hợp nhau trong hoạt động đều rất cao, dẫn đến thầy - trò

gây ảnh hưởng đến nhau rất nhiều. Trong tương tác thầy trò tâm – ý tương thông, tin cậy, tin tưởng nhau tuyệt đối, không còn khoảng cách không gian, thời gian khi thầy

trò tương tác với nhau trên lớp học.

Về điểm số các mức độ biểu hiện tương tác. Có hai cách xác định điểm số mức độ

tương tác; a) Dựa vào phân phối điểm số đạt được qua khảo sát các nghiệm thể, trên cơ

sở xác định điểm trung bình, trung vị và điểm lệch chuẩn; b) Dựa vào khoảng điểm có

tính mặc định trong phân phối có tính giả thuyết. Theo cách tính này, khoảng cách điểm

số giữa hai mức là: (5 -1): 5 = 0.8. Từ đó các mức được chia như sau:

Mức 1: Thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8 Mức 2: Tương đối thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6

Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4

Mức 4: Tương đối cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2

Mức 5: Cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

Trong luận án, chúng tôi sử dụng cách 2, với phân mức như trên.

3.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu Để kết quả khảo sát mang tính định lượng cao, chúng tôi xây dựng nội dung phỏng vấn sâu dành cho cả giảng viên và sinh viên nhằm kiểm chứng thêm kết quả của

các phương pháp khác (Phụ lục 2.1; 2.2; 2.3; 2.6).

* Mục đích phỏng vấn Thu thập, bổ sung cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, khai thác sâu hơn

các biểu hiện và mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

74

* Khách thể phỏng vấn

Những giảng viên và sinh viên ở nhóm lớp có mức độ tương tác thấp nhất và cao

nhất ở các nhóm nghiên cứu. Số lượng 8 giảng viên và 8 sinh viên

* Nội dung phỏng vấn

Phỏng vấn theo từng mảng vấn đề nghiên cứu.

* Cách thức phỏng vấn

- Dự kiến trước hệ thống câu hỏi nhằm làm rõ những thông tin thu được - Đặt câu hỏi (trực diện, đường vòng), lắng nghe, ghi chép và xử lý thông tin cần

thiết.

- Thực hiện bút vấn (2 nhóm với 40 sinh viên) theo hệ thống câu hỏi với những

nội dung:

Đánh giá thực trạng biểu hiện, mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên

và sinh viên; Đánh giá thực trạng về nhu cầu tương tác, sự đồng cảm, sự hiểu biết, kĩ

năng, ảnh hưởng nhau trong tương tác. Cảm nhận của bản thân về giảng viên (giảng

viên là người thế nào? Khó hay dễ tiếp xúc, gần gũi…). Những khó khăn của bản

thân khi tương tác với giảng viên; Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác của bản thân. Mong muốn được hỗ trợ gì đối với cá nhân để tương tác hiệu quả. (Phụ lục 2.7)

3.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp  Mục đích nghiên cứu Minh họa cho kết quả nghiên cứu  Khách thể nghiên cứu: 02 khách thể (01 giảng viên/01 sinh viên) có kết quả thực trạng tương tác tâm lý ở mức tương đối thấp (giảng viên); mức thấp (sinh viên)

 Nội dung nghiên cứu - Phân tích đặc điểm tâm lý cá nhân: Thâm niên (giảng viên), Năm học (sinh

viên); Chuyên ngành (sinh viên), Chuyên môn (giảng viên)

- Phân tích quá trình tương tác tâm lý qua các biểu hiện: Nhu cầu tương tác tâm lý: mong muốn, thái độ, hứng thú, sự chủ động, tích cực trong tương tác; Sự tương hợp tâm lý; Sự phối hợp hoạt động; Tần số tương tác; Sự ảnh hưởng lẫn nhau.

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý của giảng viên và sinh

viên đó trong tương tác tâm lý trên lớp học.

3.2.3. Phương pháp thực nghiệm 3.2.3.1. Mục đích thực nghiệm Thực nghiệm các biện pháp tác động khẳng định tính hiệu quả, khả thi của biện

75

pháp tác động nâng cao hiểu biết của giảng viên và sinh viên về sự cần thiết của tương tác tâm lý trên lớp, tổ chức tạo cơ hội cho giảng viên và sinh viên điều kiện nâng cao

sự hiểu biết về nhau và tổ chức nâng cao kĩ năng tương tác cho sinh viên, giảng viên

nhằm cải thiện mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

3.2.3.2. Thời gian thực nghiệm Thực nghiệm được tiến hành qua hai vòng vào học kì 1 năm học 2014 – 2015 và

học kì II năm học 2014 – 2015 tại trường Đại học Sài Gòn.

3.2.3.3. Nội dung thực nghiệm

Thực nghiệm một số biện pháp tâm lý tác động đến hiểu biết của sinh viên về

tương tác, sự cần thiết của tương tác tâm lý trong dạy học; Nâng cao sự hiểu biết về

nhau giữa GV và SV; Tác động vào việc hình thành một số kỹ năng tương tác qua đó

cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

3.2.3.4. Cơ sở tiến hành thực nghiệm

Kết quả khảo sát thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp biểu hiện qua các

thành phần ở các nghiệm thể được nghiên cứu cho thấy

- Thứ 1: Sự tương hợp về nhau trong tương tác tâm lý ở cả giảng viên và sinh

viên còn nhiều hạn chế (Mục 4.2.2).

- Thứ 2: Sự phối hợp nhau trong tương tác tâm lý là thành tố được cả giảng viên

và sinh viên nhận định còn yếu trong quá trình tương tác (Mục 4.2.5). Sự tương hợp và

phối hợp là hai thành tố quan trọng trong tương tác tâm lý phản ánh khả năng và đây

đồng thời cũng là yếu tố được cả giảng viên và sinh viên đánh giá là có ảnh hưởng

nhiều nhất đến sự tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại

học (Mục 4.2.3). - Thứ 3: Qua kết quả hồi quy đa biến về tầm quan trọng từng biểu hiện thành

phần cũng cho thấy, thành phần tương hợp tâm lý và sự phối hợp nhau có tầm quan

trọng rất lớn trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường

đại học (Mục 4.2.6).Vì vậy, chúng tôi cho rằng: cần phải xây dựng các biện pháp tác động nâng cao sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp lẫn nhau qua các kĩ năng tương tác, đồng thời tác động cả mặt hiểu biết về vai trò của tương tác tâm lý trên lớp cho sinh viên mới mong cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học.

Với những lý do trên, chúng tôi đề xuất và tiến hành thực nghiệm với hai biện

pháp tác động sau:

(1). Tạo điều kiện giúp giảng viên và sinh viên tăng sự tương hợp tâm lý trong

76

tương tác.

(2). Nâng cao các kĩ năng giúp giảng viên sinh viên phối hợp tốt với nhau như: kĩ

năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tự chủ cảm

xúc cho giảng viên và sinh viên trong tương tác.

3.2.3.5. Chọn mẫu thực nghiệm và đối chứng Sau kết quả điều tra và phân tích thực trạng, trong số các giảng viên và sinh viên

có mức độ tương tác tâm lý thấp và dưới trung bình tham gia khảo sát ở diện rộng,

chúng tôi chọn ra những giảng viên và sinh viên có kết quả tương tác thấp để tác động.

Tiến hành làm thực nghiệm tác động nâng cao sự tương hợp tâm lý cho sinh viên,

giảng viên qua việc tổ chức các hoạt động cùng nhau giữa giảng viên và sinh viên

nhằm tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên thêm hiểu biết về nhau, đồng cảm nhau;

tổ chức tập huấn nâng cao kĩ năng phối hợp tương tác cho sinh viên trên số lượng mẫu nghiên cứu thực nghiệm gồm 56 sinh viên/6 giảng viên được chọn làm nhóm thực

nghiệm và đồng thời là nhóm đối chứng (Phụ lục 5.2).

- Mẫu thực nghiệm: Được lựa chọn trên mẫu đại trà. Trong số mẫu đại trà, chúng

tôi lấy nhóm có mức độ tương tác tâm lý từ trung bình đến thấp làm mẫu thực nghiệm.

- Mẫu đối chứng: Chúng tôi sử dụng phương thức so sánh kết quả trước khi thực

nghiệm của nhóm với sau khi thực nghiệm. Nghĩa là, sẽ lấy chính mẫu thực nghiệm

trước khi tiến hành thực nghiệm, so sánh với kết quả thay đổi của các tiêu chí sau khi

thực nghiệm để khẳng định hiệu quả các biện pháp tác động.

3.2.3.6. Tiến trình thực nghiệm

Thực nghiệm được tiến hành qua hai vòng trên các khách thể nói trên.

Vòng 1: Tiến hành vào học kì I năm học 2014 – 2015 (Thực nghiệm tác động) Vòng 2: Tiến hành vào học kì II năm học 2014 – 2015 (Thực nghiệm kiểm chứng)

 Thực nghiệm tác động: Bước 1: Lựa chọn nhóm thực nghiệm và tác động

Bước 2: Tiến hành tác động theo 2 giai đoạn

Giai đoạn 1 Nội dung Mục đích

Nâng cao sự tương hợp tâm lý và sự hợp phối - Nói chuyện chuyên đề, tập huấn cho sinh viên (Phụ lục 4: 4.4; 4.5; 4.6; 4.7). - Tọa đàm, trao đổi chuyên đề - Giúp GV – SV hiểu rõ về sự tương hợp tâm lý và sự phối hợp nhau trên lớp học. Có thái độ tương tác tích cực trong giờ học.

trong động hành lẫn vớigiảng viên. (Phụ lục 4: 4.1; 4.2; 4.3) Nắm rõ và vận dụng các KN tương tác trong phối hợp cùng

77

nhau giữa nhau.

GV - SV - Tổ chức hoạt động trải nghiệm - Tạo điều kiện giảng viên và sinh

trong hoạt cùng nhau (Phụ lục 5). viên thêm gần gũi, hiểu biết,

động dạy – học - Hướng dẫn giảng viên vận dụng các kĩ năng được hướng tương hợp tâm lý. - Kiểm nghiệm, phát hiện sai sót.

dẫn vào xây dựng, thiết kế và tổ

chức, tiến hành giờ học trên lớp.

Quan sát Quan sát quá trình tương tác - Nắm bắt hiệu quả các tác động

tâm lý của GV – SV trong giờ học sau khi đã tác động lần 1. thực nghiệm, trên cơ sở đó có những điều chỉnh biện pháp tác

động cho phù hợp thực tế để tiến hành lần 2.

Bước 3: Đo kết quả, xử lý đánh giá kết quả sau thực nghiệm.

Đo kết quả thực nghiệm vào cuối HK I, năm học 2014 - 2015. Xử lý kết quả thu được. So sánh kết quả với trước khi thực ngiệm.Điều chỉnh biện pháp tác động cho

phù hợp thực tế để tiến hành lần 2.

 Thực nghiệm kiểm chứng Bước 1: Lặp lại các biện pháp như ở thực nghiệm tác động đã nêu

Bước 2: So sánh kết quả đo mức độ tương tác tâm lý trên lớp của GV và sinh

viên trong thực nghiệm kiểm chứng. So sánh kết quả thực nghiệm kiểm chứng với kết

quả thực nghiệm tác động và kết quả trước thực nghiệm.Kết luận hiệu quả các biện

pháp tác động.

Tiểu kết Chƣơng 3

Khách thể nghiên cứu bao gồm 670 giảng viên và sinh viên trên ba trường đại

học (ĐH Sài Gòn; ĐH CNTP.HCM; ĐH Ngân hàng) trên đại bàn TP.HCM.

Quá trình tổ chức nghiên cứu luận án được thực hiện theo 3 giai đoạn: nghiên

cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn và tổ chức thực nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn, phương pháp bút vấn, phương pháp quan sát.... Trong đó, phương pháp điều tra là phương pháp chính nhằm khảo sát thực

trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên. Ứng dụng toán thống kê trong phân tích số liệu, lý giải kết quả nghiên cứu. Sử dụng một số thuật toán cơ bản phù hợp với những tiêu chuẩn áp dụng cách tính toán, qua đó xác định, mô tả và

78

phân tích, định lượng sự đóng góp của các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên.

Phương pháp tổ chức nghiên cứu thực nghiệm với mục đích thực nghiệm một số

biện pháp tác động nhằm cải thiện mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và

sinh viên. Xuất phát từ cơ sở lí luận và kết quả nghiên cứu thực trạng của đề tài, chúng tôi đề xuất các biện pháp tác động tâm lí - giáo dục sau:

- Biện pháp 1: Nâng cao sự tương hợp tâm lý trong tương tác tâm lý giữa giảng

viên - sinh viên.

- Biện pháp 2: Nâng cao kỹ năng giúp giảng viên sinh viên phối hợp tốt với nhau.

Việc thực nghiệm tiến hành theo mô hình thực nghiệm nội nghiệm nghĩa là

lấy chính mẫu thực nghiệm trước khi tiến hành thực nghiệm so sánh với kết quả

thay đổi của các tiêu chí sau khi thực nghiệm để khẳng định hiệu quả các biện pháp tác động.

79

Chƣơng 4. THỰC TRẠNG TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP

GIỮA GIẢNGVIÊNVÀ SINH VIÊN Ở CÁC

TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, đề tài tập trung vào những nội dung sau: - Tìm hiểu thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên qua

phân tích kết quả khảo sát mức độ biểu hiện của các thành phần tâm lý trong tương tác.

- Phân tích các yếu tố tâm lý cá nhân, các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến mức

độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

- Xác định tính khả thi của các thực nghiệm tác động: Nâng cao sự tương hợp

tâm lý trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên; nâng cao sự phối hợp qua kĩ năng tương tác cho giảng viên, sinh viên. Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến

nghị cải thiện mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường

đại học, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo.

4.1. Thực trạng mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

qua các biểu hiện của tƣơng tác.

4.1.1. Đánh giá chung về mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và

sinh viên biểu hiện qua các biểu hiện của tương tác

Để xác định được mức độ tương tác tâm lí giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học, biểu hiện qua các biểu hiện trong tương tác, chúng tôi dựa vào hai nguồn thông tin: Đánh giá của giảng viên và đánh giá của sinh viên trên cùng nội dung. Kết quả

khảo sát được tập hợp trong bảng 4.1.

Bảng 4.1. Mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

qua các biểu hiện tƣơng tác

Sinh viên

Giảng viên ĐTB ĐLC ĐTB 3,05 0,66 3,10 2,80 0,56 3,08

ĐLC 0,88 0,71

Khác biệt 2 trung bình (KTC 95%) 0,05 (-0,18 – 0,28) 0,28 (0,1 – 0,46) **

2,93

0,58

2,85

0,85

0,08 (-0,14 – 0,3)

3,11

0,67

3,26

0,5

- 0,15 (-0,29 – (-0,01)) *

Các biểu hiện tương tác tâm lý Nhu cầu tương tác Tương hợp tâm lý Phối hợp lẫn nhau trong tương tác Ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác Tần số tương tác Chung

3,08 3,06

0,94 0,41

2,89 2,90

0,96 0,48

0,19 (-0,06 – 0,44) 0,16 (0,03 – 0,29) *

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

80

- Nhận xét chung: Có sự khác nhau nhất định trong đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ

tương tác tâm lý giữa giảng viên với sinh viên trên lớp học. Sự khác nhau thể hiện ở tất

cả các biểu hiện, trong đó các biểu hiện: Tương hợp tâm lý và ảnh hưởng lẫn nhau

trong tương tác có điểm trung bình khác nhau tương đối rõ (có ý nghĩa thống kê (p<0,01 và p<0,05). Nhìn chung, giảng viên đánh giá về sự tương tác tâm lý trên lớp

học giữa giảng viên và sinh viên cao hơn sinh viên đánh giá trên hầu hết các tiêu chí,

ngoại trừ tiêu chí ảnh hưởng lẫn nhau. Điều này được biểu hiện qua điểm trung bình

(3,06 điểm so với 2,90 điểm/ 5 điểm). Tuy nhiên về mức độ, điểm số trung bình đánh

giá của cả giảng viên và sinh viên đều ở mức trung bình theo thang đánh giá 5 bậc

(mức trung bình 2,60 ≤ ĐTB <3,40). Điều đó chứng tỏ: mức độ tương tác tâm lý trên

lớp của sinh viên và giảng viên ở các trường đại học chỉ ở mức trung bình.

Phân tích sâu hơn cho thấy, về phía giảng viên trong các biểu hiện được đánh giá,

ảnh hưởng và nhu cầu tương tác đạt mức cao nhất, với ĐTB là 3,11 và 3,10; tiếp đến là

các biểu hiện tương hợp, tần số cùng có ĐTB= 3,08. Điều đáng chú ý là, theo các giảng

viên, sự phối hợp nhau trong tương tác trên lớp giữa giảng viên và sinh viên là yếu tố

thấp nhất với ĐTB =2,93.

So với giảng viên, kết quả đánh giá của sinh viên về tương tác tâm lý giữa giảng

viên với sinh viên trên lớp ở mức thấp hơn với ĐTB chung là 2,90. Trong đánh giá

của sinh viên có sự không đồng đều trong đánh giá khá rõ giữa các biểu hiện đánh giá.

Trong các biểu hiện này, biểu hiện có chỉ số được sinh viên đánh giá cao nhất là ảnh

hưởng với ĐTB = 3,26; cao thứ hai là biểu hiện nhu cầu với ĐTB =3,05, cho thấy,

trong tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp ở trường đại học hiện nay, sinh viên nhìn nhận và đánh giá khá cao về sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác,

sinh viên cũng nhìn nhận nhu cầu và có nhu cầu tương tác với giảng viên thể hiện ở

chỉ số hai biểu hiện này cao nhất trong thang đo. Các biểu hiện còn lại đều chỉ ở mức 2,80  2,89 điểm.

Điều đó cho thấy, tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên đến sinh viên ở các trường đại học được đánh giá cao hơn so với tương tác tâm lý của sinh viên đến giảng viên. Kết quả cũng thể hiện rõ ở từng biểu hiện: sự tương hợp, sự phối hợp, tần số

tương tác, nhu cầu tương tác của giảng viên đều cao hơn sinh viên so sánh trên ĐTB, tỉ lệ %, ngoại trừ biểu hiện ảnh hưởng lẫn nhau được giảng viên đánh giá thấp hơn sinh

viên (ĐTB ảnh hưởng ở GV =3,11; SV = 3,26). Điều này là hoàn toàn phù hợp cả về

lý luận và thực tiễn dạy học. Bởi lẽ, Thứ nhất, trong quá trình lên lớp, nhiệm vụ cơ bản

81

của hoạt động dạy học là truyền thụ tri thức, vì vậy, dù có lúc về mặt tâm lý người giảng viên có thể không muốn nhưng vẫn phải lên lớp giảng bài, phải thực hiện trách

nhiệm, nghĩa vụ của người giảng viên, vì vậy chỉ số đánh giá qua nhu cầu tương tác

của giảng viên cao hơn sinh viên. Thứ hai, trong thực tiễn dạy học ở nhà trường nói

chung, bậc đại học nói riêng, sự ảnh hưởng từ phía thầy đến trò, giảng viên đến sinh viên bao giờ cũng cao hơn sự ảnh hưởng của trò đến thầy. Vì vậy, chỉ số ảnh hưởng

được sinh viên đánh giá cao hơn giảng viên đánh giá là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên,

điều đó cũng phản ánh một thực tế là sinh viên, nguồn nhân lực tương lai, chủ nhân

của xã hội chưa được giảng viên nhìn nhận cao về sự ảnh hưởng, chưa có được sự ảnh

hưởng tương xứng với vị thế, vai trò của sinh viên trong tương tác trên giảng đường

trên quan điểm thầy – trò cùng đồng hành là một hạn chế.

Tóm lại, các kết quả khảo sát ở bảng 4.1 cho thấy, mặc dù chỉ số kết quả các biểu hiện được đánh giá không tương đồng nhau trong cả đánh giá của giảng viên và sinh

viên, có chỉ số được đánh giá cao hơn hoặc thấp hơn trong thang, nhưng mức độ tương

tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học không cao, cả giảng

viên và sinh viên mức độ tương tác tâm lý trên lớp được đánh giá qua các biểu hiện chỉ

ở mức trung bình.

Ở giảng viên, tương tác tâm lý với sinh viên chỉ ở mức trung bình, không cao,

điều đó phản ánh người giảng viên trong giờ học có sự tương tác tâm lý với sinh viên,

nhưng chưa đến mức tạo được những động thái kích thích sinh viên tích cực tương tác

với thầy, chưa có sự quan tâm và chủ động tạo môi trường, tình huống cho sinh viên

tương tác. Trong hoạt động dạy học, với vai trò là người điều khiển, hướng dẫn, điều

chỉnh, thầy giữ vai trò người cầm trịch, vì thế thầy phải luôn thể hiện vai trò là người thuyền trưởng lèo lái, thầy là người khơi nguồn, khơi mào, khéo léo hình thành, phát

triển nhu cầu tương tác của sinh viên, tạo điều kiện buộc sinh viên phải bắt nhịp với

thầy, phải biết phối hợp với thầy, với bạn, phải nhận ra được sự ảnh hưởng lẫn nhau

trong giải quyết nhiệm vụ học tập. Từ đó, tích cực, chủ động tương tác với thầy, với bạn với tinh thần, thái độ cao. Nói cách khác, nếu muốn trò tích cực tương tác, thầy phải chủ động tương tác về mặt tâm lý, tuy nhiên mức độ tương tác tâm lý trên lớp của thầy với sinh viên ở trường đại học hiện nay qua kết quả phản ánh chỉ ở mức trung

bình với ĐTB =3,06 là điều cần phải xem lại.

Ở trò (sinh viên), với đặc trưng đào tạo theo tín chỉ hiện nay, yêu cầu phải có sự

tích cực cao trong tương tác của sinh viên trên lớp học, biểu hiện qua nhu cầu tương

tác, sự tương hợp, phối hợp lẫn nhau, ảnh hưởng và tần số tương tác đều phải cao. Tuy

82

nhiên, kết quả cũng phản ánh, các chỉ số của các biểu hiện tương tác của sinh viên chỉ ở khoảng dưới mức trung bình ĐTB = 2,90 (mức trung bình 2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Với

kết quả đó, phản ánh một bức tranh tương tác trên lớp giữa thầy và trò ở trường đại học

hiện nay nhuốm màu ảm đạm, nhạt nhòa, thiếu sinh động. Phản ánh một không khí học

tập thụ động, uể oải. Thầy lên lớp tương tác với trò vì nhiệm vụ và cho xong nhiệm vụ. Trò lên lớp gặp thầy cho có mặt vì sự điểm danh, vì nhiệm vụ đi học phải đi, mà không

xuất phát từ sự yêu thích phấn đấu vì nghề nghiệp, không phải từ khả năng chuyên

môn, uy tín, phẩm chất mà thầy đã tạo ra qua giờ học, khiến cho trò từ mục đích nghề

ban đầu còn mờ nhạt ngày càng định hình rõ hơn và tích cực hơn trong học tập với một

mục đích chung.

Và một khi, ở trò tương tác với thầy không cao cũng sẽ ảnh hưởng tới tinh thần và

nhiệt huyết của thầy. Thực tiễn đào tạo theo tín chỉ (bằng trao đổi, trò chuyện, quan sát với giảng viên trong đào tạo theo tín chỉ hiện nay) đã phản ánh, trên lớp học, khi sinh

viên không tích cực qua việc chuẩn bị nhiệm vụ học tập chu đáo trước khi tới lớp nhằm

tranh thủ tương tác với thầy trên lớp, thì thầy cũng sẽ khó có thể làm tốt công tác định

hướng, hướng dẫn cho sinh viên các nhiệm vụ học tập một cách hiệu quả nhất. Và như

vậy, bức tranh thầy độc thoại với tinh thần và nhiệt huyết ngày càng thấp, đan xen sự

nản lòng của thầy với trò, sự lo lắng cho trò vì không biết trò có thể nắm bắt được

những gì mình truyền đạt, mong muốn ở trò hay không…, như cô Nguyễn T.T.H; thầy

Nguyễn T P… đã vô tình bộc lộ khi được chúng tôi trao đổi về những khó khăn của

giảng viên trong đào tạo theo tín chỉ. Nhiều giảng viên bộc lộ sự buồn phiền khi hiện

nay nhiều sinh viên không chuẩn bị bài trước khi tới lớp, không thực hiện các nhiệm vụ

đã được giảng viên yêu cầu trước ở nhà, dẫn đến sự khó khăn trong triển khai các nhiệm vụ học tập trên lớp theo tinh thần đào tạo theo tín chỉ. Giảng viên Nguyễn T.T.H

cho biết, có hôm cô không thể tiến hành giờ học mà phải “lên lớp” một buổi về tinh

thần và thái độ chủ động của sinh viên trong hợp tác, phối hợp với thầy qua việc chuẩn

bị chu đáo các nhiệm vụ được phân công. Phải nói với sinh viên về vấn đề nghe và biết lắng nghe, biết trao đổi với thầy, với bạn trong giờ học…. Cô cũng cho biết, thật sự cô thấy nản quá, ngày càng giảm nhiệt huyết với sinh viên mà không biết cách nào cản ngăn lòng mình. Điều đó chứng tỏ, giờ học trên lớp chỉ đạt hiệu quả cao khi hoạt động

dạy và học được thực hiện đúng bản chất của quá trình tương tác, là hai bên phải có sự tác động qua lại ở mức cao cả về mặt xã hội và tâm lý. Có như vậy, dạy học mới thực

hiện được tốt các nhiệm vụ dạy người và trồng người cho xã hội.

83

4.1.2. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên, xét theo biến số năm học của sinh viên

Vấn đề đặt ra, có sự khác nhau về tương tác giữa giảng viên với sinh viên các

khối lớp hay không. Kết quả khảo sát vấn đề này được tập hợp trong bảng 4.2.

Bảng 4.2. Mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên

theo năm học của sinh viên

Biểu hiện

Năm 1 và 2

Năm 3 và 4

Đánh giá của GV

Đánh giá của SV

Đánh giá của GV

Đánh giá của SV

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

2,96

0,65

3,14

0,8

3,30

0,64

2,96

0,95

Nhu cầu tương tác

3,10

0,49

2,77

0,73

3,10

0,61

2,85

0,68

Tương hợp tâm lý

2,90

0,48

2,80

0,84

2,97

0,63

2,89

0,85

Phối hợp lẫn nhau

3,04

0,47

3,22

0,45

3,15

0,76

3,30

0,54

Ảnh hưởng lẫn nhau

2,85

1,07

2,85

0,95

3,21

0,84

2,92

0,96

Tần số tương tác

Chung

3,03

0,35

0,51

3,10

0,44

2,98

0,45

2,96 Ghi chú: Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6;Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2; Mức 5:Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

So sánh biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên theo năm học của sinh viên (bảng 4.2) cho thấy: Giảng viên tương tác tâm lý trên lớp với sinh viên năm 3,4 cao hơn so với năm 1,2 khi xem xét ĐTB từng thành phần trong thang đo cũng như ĐTB chung.

Sinh viên năm 3,4 có sự tương tác tâm lý trên lớp với giảng viên cao hơn so với sinh viên năm 1,2 khi so sánh ĐTB của các biểu hiện trên toàn bộ thang đo. Biểu hiện cụ thể như: sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, tần số tương tác, sự ảnh hưởng ĐTB theo đánh giá của sinh viên năm 3,4 đều cao hơn sinh viên năm 1,2. Điều đó cho thấy, sinh viên năm 3,4 tương tác với giảng viên nhiều hơn so với sinh viên năm 1,2. Ngoại trừ, nhu cầu tương tác của sinh viên năm 1,2 lớn hơn nhu cầu tương tác của sinh viên năm 3,4. Kết quả này cũng cho thấy, sinh viên năm 1&2 có nhu cầu tương tác với giảng viên cao hơn nhu cầu tương tác của giảng viên với sinh viên. Điều này có nghĩa, sinh viên năm 1&2 có nhu cầu tương tác với giảng viên cao hơn sinh viên năm 3&4, cao hơn cả giảng viên.

Nguyên nhân của thực trạng trên qua tìm hiểu là do: sinh viên năm 1&2, nhất là sinh viên năm 1, vừa bước chân vào trường đại học với hoài bão, khát vọng được tiếp nhận kiến thức cho nghề nghiệp tương lai. Nhiều em, do lần đầu tiên xa nhà bắt đầu cuộc sống tự lập nhiều bỡ ngỡ. Phần nữa, do các em vừa từ bậc THPT lên, với phong

84

cách học tập của phổ thông, khiến các em có nhu cầu được tương tác với thầy/cô cao. Trong khi đó, giảng viên giảng dạy năm 1&2 thường dạy những học phần chung và với quy chế học tín chỉ như hiện nay, những lớp học các học phần chung thường được xếp với sĩ số cao (>60 SV, cá biệt >100 SV). Thêm nữa, do giảng viên chưa có điều kiện, thời gian tiếp xúc, gặp gỡ với sinh viên nhiều, cộng thêm sinh viên năm 1,2 tính cách thường rụt rè, nhút nhát. Điều đó, đã dẫn đến kết quả nhu cầu tương tác tâm lý của giảng viên dạy năm 1,2 thấp hơn sinh viên năm 1,2 và nhu cầu tương tác tâm lý của sinh viên năm 1,2 cao hơn nhu cầu tương tác tâm lý của sinh viên năm 3,4. Tuy vậy, xuất hiện vấn đề là tại sao sinh viên năm 3,4 nhu cầu tương tác với giảng viên không cao, thậm chí còn có xu hướng giảm đi so với nhu cầu tương tác ở sinh viên năm 1,2. Phải chăng, sức ảnh hưởng của giảng viên đại học từ năng lực, tính cách của giảng viên trong những năm tiếp xúc làm giảm nhu cầu tương tác ở sinh viên, hay do lối học thụ động như đã phản ảnh ở sinh viên đã dần làm giảm đi nhu cầu tương tác của bản thân sinh viên, trong khi theo lẽ thường là nhu cầu tương tác thể hiện qua sự mong muốn, hứng thú tương tác với thầy/cô phải tăng lên theo thời gian học tập, tiếp xúc? Qua trò chuyện, phỏng vấn, sinh viên Trịnh H N.... cho biết: “càng học những

năm cuối em càng ngại gặp và trò chuyện với giảng viên, vì thực sự trong ba năm học,

giờ đây sắp ra trường nhưng em vẫn thấy thầy cô khó gần lắm, nhiều thầy cô quá

nghiêm nghị cả trong và sau giờ học làm em thấy sợ ”.

Qua kết quả phản ảnh ĐTB từng tiêu chí trên toàn bộ thang đo tương tác tâm lý

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên theo năm học, tuy có sự chênh lệch về điểm số,

nhưng sự chênh lệch này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê, không có sự khác nhau về

mức độ và đều ở mức trung bình.

Đây quả là một kết quả đáng suy ngẫm. Theo kì vọng của chúng tôi, mức độ

tương tác của sinh viên năm 3,4 phải cao hơn hẳn sinh viên năm 1,2 ở trường đại học.

Bởi lẽ: Thứ nhất, với thời gian học ở trường, “quen thầy, quen lớp” sẽ giúp sinh viên

dễ dàng tương tác với giảng viên trên lớp học. Thứ 2, với nhiệm vụ, yêu cầu học tập càng những năm cuối càng đòi hỏi sinh viên tập trung nhiều vào quá trình hình thành kĩ năng nghề. Thứ 3, càng gần tới đích mục tiêu nghề nghiệp càng rõ ràng hơn đối với sinh viên những năm cuối. Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ và đặt kì vọng sinh viên năm 3,4 phải có sự tương tác với giảng viên nhiều hơn trong quá trình học trên lớp, nhằm qua đó chuẩn bị cho bản thân những vốn hành trang thật vững chắc. Tuy nhiên, kết quả khảo sát không như những gì chúng tôi kì vọng. Bên cạnh đó, tiêu chí nhu cầu tương tác là một trong những tiêu chí quan trọng, là động lực thúc đẩy con người ta thực hiện

mối quan hệ thì với sinh viên năm 3,4 cũng thấp hơn sinh viên năm 1,2. Với kết quả

85

phương pháp phỏng vấn, trò chuyện đã phản ánh, có thể đã cho thấy phần nào nguyên do trên, nhưng để lý giải vấn đề này một cách thỏa đáng, trên cơ sở đó tìm ra biện

pháp thúc đẩy nhu cầu tương tác của sinh viên những năm cuối với giảng viên trên lớp

học thì cần có những nghiên cứu sâu hơn.

4.2. Thực trạng tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên đƣợc thể hiện qua các biểu hiện tâm lý tham gia tƣơng tác

Trong chương 2, chúng tôi đã xác định được biểu hiện của tương tác tâm lí giữa

giảng viên và sinh viên trên lớp qua các biểu hiện bao gồm: nhu cầu tương tác; sự tương

hợp tâm lý, sự phối hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và tần số tương tác. Vấn đề đặt ra

là trong thực tế mức độ tương tác giữa giảng viên với sinh viên trên lớp được bộc lộ qua

các biểu hiện trên như thế nào? Dưới đây là kết quả khảo sát chúng tôi thu được.

4.2.1. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên biểu hiện

qua mức độ nhu cầu tương tác

Trong tương tác cá nhân, nhu cầu là biểu hiện quan trọng. Nhu cầu là biểu hiện

phản ánh tính tích cực thúc đẩy con người hoạt động, sáng tạo. Trong cuộc sống mỗi

người, nhu cầu có vai trò quan trọng trong hoạt động – giao tiếp, nó chi phối sự phát

triển tâm lý, nhân cách mỗi cá nhân. Đặc biệt nhu cầu, khi được cá nhân ý thức sẽ

chuyển thành động cơ (động lực) định hướng, chi phối, điều khiển xu hướng, ý nghĩ,

tình cảm và ý chí cá nhân trong mọi hoạt động. Chính vì vậy, để tìm hiểu mức độ

tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên, chúng tôi phải dựa trên sự

phân tích nhu cầu tương tác tâm lý của giảng viên và sinh viên.

4.2.1.1. Đánh giá chung về tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh

viên biểu hiện qua mức độ nhu cầu tương tác.

Bảng 4.3. Mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên

qua nhu cầu tƣơng tác

Điểm trung bình nhu cầu tương tác

Mức độ biểu hiện qua nhu cầu tương tác Khác biệt 2 trung bình (KTC 95%) Giảng viên Sinh viên

Mong muốn tương tác Hứng thú tương tác Tích cực tương tác Chủ động tương tác ĐTB 3,03 2,97 3,07 3,33 ĐLC ĐTB 3,03 0,77 3,25 1,09 2,97 1,13 2,96 1,15 ĐLC 0,92 1,11 1,01 0,99 0 (-0,24 – 0,24) -0,28 (-0,57 – 0,01) 0,1 (-0,17 – 0,37) 0,37 (0,1 – 0,64) *

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

Chung 3,10 0,66 3,05 0,88 0,05 (-0,18 – 0,28)

86

Nhận xét chung: - Mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên với sinh viên đánh giá qua

biểu hiện nhu cầu cho thấy, mức độ tương tác tâm lý của giảng viên với sinh viên biểu

hiện qua nhu cầu cao hơn không nhiều so với mức độ tương tác tâm lý biểu hiện qua

nhu cầu của sinh viên với giảng viên (ĐTB giảng viên = 3,10; SV =3,05). Kết quả đó cũng cho thấy, nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp ở giảng viên chỉ ở mức trung bình

(mức trung bình 2,60 ≤ ĐTB < 3,40).

Xem xét từng biểu hiện nhu cầu tương tác tâm lý trong tiểu thang đo cho thấy, sự

tích cực; chủ động của giảng viên trong tương tác với sinh viên được đánh giá cao hơn

sinh viên, đặc biệt sự chủ động được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,33 (khác biệt có

nghĩa 0,37 (0,1 – 0,64) so với sinh viên với p<0,05). Điều đó phản ánh, giảng viên các

trường đại học tương đối chủ động trong tương tác với sinh viên trên lớp học. Đây sẽ là một thuận lợi trong tương tác tâm lý trên lớp, giúp sinh viên tích cực tương tác với

giảng viên. Thực tế đã minh chứng, trên lớp học khi giảng viên có sự chủ động trong

tương tác với sinh viên sẽ nhanh chóng xoá bỏ rào cản về tâm lý của sinh viên với

giảng viên, giúp sinh viên tích cực tương tác với giảng viên. Tuy nhiên, sự chủ động,

tích cực trong tương tác của giảng viên với sinh viên trên lớp theo kết quả phản ánh

cho thấy, mặc dù có cao hơn sinh viên nhưng kết quả cũng không đạt mức cao với

ĐTB biểu hiện chủ động tương tác 3,33; tích cực 3,07 chỉ ở mức trung bình. Điều

đáng lưu ý là, hứng thú là yếu tố thấp nhất trong các biểu hiện của nhu cầu tương tác

của giảng viên, với điểm trung bình 2,97 điểm. Điều này chứng tỏ, giảng viên trong

tương tác trên lớp với sinh viên chưa có sự hứng thú cao. Điều này sẽ ảnh hưởng và

làm hạn chế nhu cầu tương tác của giảng viên với sinh viên trên lớp cũng như giữa sinh viên với giảng viên.

- Nhu cầu tương tác tâm lý của sinh viên với giảng viên

Nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp của sinh viên (xem bảng 4.3) gần tương đương

với nhu cầu của giảng viên. Biểu hiện qua điểm trung bình 3,05 so với 3,10 điểm của giảng viên.

Xem xét từng biểu hiện về nhu cầu trong tiểu thang đo ta thấy, biểu hiện Mong muốn tương tác và Hứng thú tương tác của sinh viên có điểm trung bình cao hơn cả,

với ĐTB 3,03 (mong muốn) và 3,25 (hứng thú). Sự Chủ động và Tích cực tương tác thấp hơn với ĐTB 2,96 (chủ động) và 2,97 (tích cực). Điều đó cho thấy, sinh viên ở

trường đại học trong giờ học có mong muốn và hứng thú tương tác với giảng viên,

nhưng mong muốn và hứng thú được biểu hiện ra qua hành động còn thấp. Điều đó

87

cũng chứng tỏ, sinh viên trên lớp mặc dù có mong muốn và hứng thú tương tác với giảng viên nhưng chưa thể hiện ra bằng hành động, dẫn đến kết quả phản ánh sự tích

cực và chủ động tương tác của sinh viên với giảng viên chưa cao.

Qua trò chuyện, sinh viên Phan M N (SG) tâm sự: “… em rất muốn được trò

chuyện với thầy/cô, nhưng không hiểu sao khi lên lớp em lại không dám và cũng không biết sẽ hỏi gì, bắt đầu ra sao, em thấy lúng túng, thậm chí khi thầy/cô hỏi em rất sợ

phải bị trả lời…. Thật là mâu thuẫn với lòng em…”

Về phía giảng viên, giảng viên Nguyễn T.T.H chia sẻ: “…sinh viên bây giờ trên

lớp thụ động lắm, nếu thầy/cô không chủ động hỏi thì nhiều sinh viên chả bao giờ tự

động đứng lên phát biểu, thậm chí có nhiều em khi được chỉ định đích danh cũng

không muốn trả lời. Số sinh viên tích cực, chủ động tương tác với thầy/cô ít lắm, số đó

chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay thôi”; Giảng viên Trần V. S… cho hay: “… việc sinh viên lên lớp tích cực, chủ động gặp thầy/cô đặt câu hỏi, tranh luận có, nhưng

tương đối ít”; Giảng viên Nguyễn V. C…: “Sinh viên thụ động, ít phát biểu trên lớp,

chưa có sự chủ động trong quá trình học tập”

Như vậy, các kết quả khảo sát cho thấy, cả giảng viên và sinh viên, có nhu cầu

tương tác với nhau trên lớp. Sinh viên có mong muốn, giảng viên có sự tích cực,

nhưng cả hai, sự mong muốn và sự tích cực chưa tìm được điểm chung để có thể thúc

đẩy nhu cầu ở nhau phát triển từ nhận thức đến thái độ và hành vi trong tương tác giữa

thầy và trò trên lớp. Dẫn đến trò, mặc dù có mong muốn, hứng thú nhưng vẫn không

thể biến mong muốn, thái độ thành hành động. Thầy có hành động nhưng hành động

của thầy chưa đủ để giúp trò thỏa mãn nhu cầu và kích thích nhu cầu tương tác ở trò

“thăng hoa”, dẫn đến kết quả chung nhu cầu tương tác tâm lý ở cả thầy và trò đều không cao, chỉ ở mức trung bình.

Đi tìm lời giải sâu hơn cho vấn đề này, tại sao nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp

giữa giảng viên và sinh viên không cao?; Còn nguyên nhân nào?. Giảng viên Phạm

T.Đ.T cho biết: “…do áp lực công việc, cuộc sống, cộng thêm sinh viên thiếu tính tích cực nên nhiều lúc giảng viên lên lớp chỉ dạy cho xong nhiệm vụ…”. Giảng viên Trần T.N.Tr… chia sẻ: “…nhiều lúc giảng viên hỏi, thậm chí chỉ định sinh viên phải trả lời nhưng đáp lại giảng viên là một thái độ thiếu trách nhiệm và tinh thần học tập của một

bộ phận lớn sinh viên trong lớp học, nên nhiều lúc nản quá chả muốn tương với tác cùng sinh viên nữa”.

Bên cạnh đó, hầu hết những giảng viên được chúng tôi trao đổi cũng có phản ánh

tương tự, sự thiếu tích cực và chủ động của sinh viên làm nhiều giảng viên mất hứng

88

thú trong tương tác với sinh viên khi lên lớp, nhất là trong đào tạo theo tín chỉ hiện nay đòi hỏi cao thái độ tích cực và hành vi chủ động của sinh viên trên lớp học chứ

không phải chỉ nằm ở ý muốn, ý định. Sự thiếu chủ động trong tương tác với giảng

viên trên lớp học của sinh viên có thể gây nên phản ứng ngược (âm tính) trong tương

tác với giảng viên. Sự thiếu chủ động và tích cực tạo tâm lý nản lòng, làm giảm đi lòng nhiệt huyết của giảng viên khi lên lớp, như lời trao đổi của các giảng viên đã bộc lộ.

Bởi lẽ, trong tương tác thái độ tích cực và sự chủ động của đối tác sẽ là nguồn động

lực kích thích các chủ thể tương tác với nhau tích cực.

Với giảng viên thì như vậy, thế còn sinh viên thì sao? Bằng phương pháp cho

sinh viên viết bài luận mà chủ đề là viết về mối quan hệ tương tác của chính bản thân

sinh viên với giảng viên đang trực tiếp giảng dạy, những mong muốn của bản thân

trong thiết lập, tạo dựng sự tương tác thầy - trò cho thấy: Hầu hết các bài luận của sinh viên viết về tương tác của bản thân với giảng viên, phản ánh rất nhiều nguyên nhân

dẫn đến sự tích cực, chủ động tương tác của sinh viên trên lớp chưa cao, có những

nguyên nhân thuộc về bản thân sinh viên. Cụ thể, thuộc về bản thân sinh viên điển

hình như: sự thiếu tự tin về bản thân, vì hiểu biết môn học còn hạn chế, do không xác

định được nội dung tương tác, do khả năng diễn đạt kém, tính tình nhút nhát, do ảnh

hưởng bởi thói quen học tập ở phổ thông…, nhưng cũng có những lý do thuộc về

giảng viên. Chẳng hạn, sinh viên Nguyễn T N D viết: “…có thầy/ cô trên lớp cho

mail, số điện thoại và nói có gì không hiểu thì hỏi thầy/cô, nếu không hỏi được trên

lớp thì gửi qua mail cho thầy/cô…, nhưng khi sinh viên hỏi thì chờ mãi không thấy hồi

âm làm sinh viên nản lòng, mất dần niềm tin”.

Sinh viên Thái T T (NH): “…lớp học bị tâm lý đám đông nên dù vẫn có những thắc mắc, nhận định riêng cũng chả dám đứng lên phản biện gì cả….Sinh viên không

được hoạt động trong lớp, chỉ mỗi giảng viên thôi”…

Sinh viên Nguyễn T K N (CN) cho biết: “… thực sự chúng em khi lên lớp rất

mong và muốn được trò chuyện, trao đổi với thầy/cô một cách thật tự nhiên, thoải mái, nhưng để thực hiện thì thấy khó quá…”

Thực tế cho thấy, sinh viên có nhu cầu tương tác với thầy/cô, nhưng sự thể hiện nhu cầu đó được đánh giá qua các biểu hiện tâm lý như thái độ hứng thú, tích cực và

chủ động không cao.

Thông qua trò chuyện sâu, nhiều sinh viên chia sẻ, nguyên nhân do môi trường

đại học thời gian gặp gỡ, quen và tiếp xúc với thầy/cô quá ít, lại cũng không có điều

kiện biết nhiều về thầy/cô, nên dù có nhiều vấn đề rất muốn hỏi thầy/cô nhưng không

89

dám hỏi. Có em lại chia sẻ, em ở vùng quê vào Sài Gòn học, môi trường mới, phong cách mới, làm em rất khớp. Chưa kể, cũng có sinh viên bộc bạch, chúng em có nhu

cầu, mong muốn được thầy/ cô gặp gỡ, trao đổi trò chuyện với sự thân tình, sự quan

tâm ngay cả trên lớp học, chứ không phải chỉ đơn thuần là dạy học, trao đổi bài học,

nhưng chúng em ít thấy được điều đó. Vì vậy, nhiều khi có nhu cầu, nhưng khoảng cách, cách thức trao đổi của các thầy/ cô làm chúng em ngại ngần không dám bộc lộ

vì sợ thầy/cô đánh giá, hiểu sai.

Sinh viên Nguyễn T T A: “em rất thích được trò chuyện, tâm sự với giảng viên

về những khó khăn trong học tập, bài vở và cả những tình cảm bạn bè… nhưng chưa

bao giờ em làm được dù đã học năm 3”

Tất cả những điều đó, cho chúng tôi nhận định rằng: biểu hiện nhu cầu tương

tác tâm lý trên lớp chưa cao của sinh viên ở trường đại học không chỉ nằm ở nguyên nhân sinh viên mà còn do cả giảng viên. Giảng viên trên lớp học với nhiều nguyên do,

dù rằng có sự chủ động nhưng sự chủ động đó chưa thật sự phản ánh tính tích cực, chủ

động vì sinh viên. Hơn hết, sự chủ động, tích cực ở giảng viên chưa đạt đến sự tương

tác tâm lý với sinh viên nhằm nhanh chóng xóa bỏ rào cản tâm lý, thiết lập mối quan

hệ thầy trò; chưa cởi mở thân thiện; chưa thật trân trọng và giữ lời hứa với sinh viên…

dẫn đến chưa tạo được sự tin cậy, ảnh hưởng cao trong sinh viên. Bên cạnh đó, qua sự

bộc lộ của các giảng viên được chúng tôi trò chuyện sâu, giảng viên trong tương tác

với sinh viên trên lớp hầu như chỉ mới xoay quanh, tập trung trong nội dung bài học,

còn những vấn đề mà qua đó giúp giảng viên chiếm tình cảm, sự thân thiện của sinh

viên nhanh hơn như người xưa đã nói “chỉ có từ trái tim mới đến được trái tim” còn ít

được chú ý, thực hiện ở nhiều giảng viên đại học.

Hoạt động dạy – học được ví như hai mặt của một tờ giấy. Trên lớp học, người

giảng viên ngoài tương tác để thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức và hình thành kĩ

năng, kĩ xảo của bài học, giờ học. Làm tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi người thầy phải vững

vàng về mặt chuyên môn. Tuy nhiên, bên cạch đó, để tiến hành dạy học hiệu quả còn đòi hỏi người giảng viên phải hiểu được tâm lý người học, từ đó giúp bản thân lựa chọn phương pháp, điều chỉnh dung lượng kiến thức cho phù hợp đối tượng, qua đó truyền tải tình yêu, niềm tin, lòng mong muốn… từ nhiệt huyết trái tim người giảng

viên đến sinh viên, hình thành ở người sinh viên niềm tin đối với tri thức, khiến sinh viên tích cực, hăng say nắm bắt và vận dụng tri thức vào cuộc sống một cách sáng tạo.

Theo lý luận dạy học, trong dạy học, nhiệm vụ truyền đạt tri thức, hình thành KNKX

là cơ sở, điều kiện để tiến tới nhiệm vụ 3 (giáo dục giá trị sống) là đích đến quan trọng.

90

Vì vậy, để vươn tới được nhiệm vụ này, quá trình dạy học, tác động không chỉ thông qua và bằng con đường lý trí mà phải bằng trái tim (tình cảm). Ở đây, sự giáo dục cần

được thực hiện trên cơ sở của sự tương tác tâm lý, tình cảm – một hình thức tương tác

tinh vi và phong phú, phức tạp nhất trong hoạt động tương tác của con người với quan

niệm, trong dạy học thầy vừa là chuyên gia nhưng đồng thời vừa là tri kỉ.

Thực tế tương tác giữa giảng viên và sinh viên đã phản ánh rất nhiều nguyên

nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản là: sự chưa chú ý đến nhu cầu tâm lý trong tương tác,

đã ảnh hưởng đến nhu cầu tương tác của cả thầy và trò trong dạy học bị hạn chế.

Trong tương tác trên lớp vì thiếu sự hiểu biết và quan tâm đến vấn đề này nên thầy

chưa có những động thái (nghệ thuật) giúp trò từ mong muốn thành hành động, giúp

trò vượt qua rào cản tâm lý để tích cực và chủ động tương tác với thầy trong giờ học.

Ngược lại, sinh viên với những nguyên do như chưa tích cực, chưa thể hiện sự có trách nhiệm của bản thân trong việc chuẩn bị bài trước khi tới lớp, trên lớp thiếu tính tích

cực, tinh thần học tập thụ động, chờ đợi…cộng thêm môi trường lớp học đông, áp lực

giảng dạy cao dẫn đến giảng viên cũng chưa đầu tư nhằm có nhiều biện pháp tâm lý

kích thích sinh viên tương tác với thầy, với bạn trên lớp. Vì vậy, muốn nâng cao, kích

thích nhu cầu tương tác trên lớp ở sinh viên, thì giảng viên giảng dạy, phải hiểu sinh

viên mình dạy, nhanh chóng nắm bắt được đặc điểm tâm lý các em, có kĩ năng tương

tác với sinh viên. Bên cạnh đó, cần cởi mở, thân thiện, đồng cảm với sinh viên, đạt

được sự tương hợp tâm lý, tạo được môi trường học thân thiện giữa thầy và trò trên lớp

học để kích thích nhu cầu tương tác của sinh viên với giảng viên. Về bản thân sinh

viên, phải có ý thức chuẩn bị chu đáo bài học trước khi lên lớp theo tinh thần đào tạo

tín chỉ nhằm xác định nhu cầu rõ ràng, chủ động tương tác với thầy khi lên lớp. Có như vậy, tương tác thầy - trò trên lớp học mới được nâng cao, đảm bảo hiệu quả.

Đào tạo bậc đại học, với mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đáp

ứng yêu cầu xã hội, nhưng với nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp theo nghiên cứu chỉ ở

mức trung bình. Điều này cho thấy, tương tác tâm lý trên lớp ở giảng viên và sinh viên các trường đại học còn nhiều hạn chế. Nếu không có biện pháp nâng cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội.

4.2.1.2. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên qua nhu

cầu, theo năm học của sinh viên.

91

Bảng 4.4. Mức độ biểu hiện tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên

và sinh viên qua nhu cầu, theo năm học của sinh viên.

Điểm trung bình tƣơng tác biểu hiện qua nhu cầu

Năm 1&2 Năm 3 &4 Các tiêu chí NC của GV NC của SV NC của GV NC của SV

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Mong muốn tương tác 2,81 0,80 3,13 0,87 3,23 0,73 2,93 0,96

Hứng thú tương tác 2,70 1,05 3,35 1,04 3,35 1,07 3,14 1,17

Tích cực tương tác 3,21 1,14 3,01 0,93 3,15 1,15 2,90 1,06

Chủ động tương tác 3,22 0,99 3,06 0,96 3,43 0,82 2,87 1,06

Chung 2,96* 0,65 3,14 * 0,80 3,30 * 0,64

2,96 * 0,95 Ghi chú: Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6;Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2; Mức 5:Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

- Kết quả nghiên cứu bảng 4.4 cho thấy một số vấn đề sau: Thứ nhất: Nhu cầu tương tác của giảng viên đối với sinh viên các khối 3,4 cao

hơn so với sinh viên khối 1,2 (3,30 điểm so với 2,96 điểm có sự khác biệt về mặt

thống kê với p<0,05).

Thứ hai: Nhu cầu tương tác của sinh viên năm thứ 1,2 cao hơn (ở mức có

nghĩa) so với nhu cầu của sinh viên năm 3,4 (3,14 so với 2,96 điểm). Nói cách khác

nhu cầu tương tác của sinh viên những năm cuối giảm hơn so với sinh viên những

năm đầu. Sinh viên học những năm cuối có hiện tượng né tránh gặp gỡ, tương tác với

giảng viên.

Đi tìm hiểu lý do cho sự trái ngược này, giảng viên Nguyễn K Q là giảng viên giảng dạy cho sinh viên cả năm 1,2 và 3,4 cho biết: “...đúng là giảng viên năm 1,2

tương tác với sinh viên ít hơn sinh viên năm 3,4. Lý do, do tính chất môn học năm 1,2 phần nhiều thuần lý thuyết (lý luận chung) và năm 3,4 đa số các môn học chuyên ngành đòi hỏi hình thành kĩ năng cao; thêm nữa nhiều môn đòi hỏi sinh viên phải thực hành nhiều. Vì vậy, với nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm 3,4, tôi rất lo cho sinh viên khi đi thực tập không tốt nên luôn theo sát sinh viên trong quá trình học tập trên lớp”. Tuy nhiên, khi được hỏi về lý do sinh viên năm 3,4 lại có dấu hiệu về nhu cầu

tương tác với giảng viên thấp hơn năm 1,2. Giảng viên Nguyễn K Q cũng bày tỏ: “Thực tế trong giảng dạy, tôi cũng nhận thấy sinh viên năm 3,4 hiện nay có dấu hiệu tương tác trên lớp ngày càng ít. Nhiều buổi lên lớp mình thầy “đánh vật” “hò hét”,

92

mà sinh viên cũng ít chịu động não cho. Nhiều buổi học tôi phải nói với sinh viên về vấn đề phải đọc, nghiên cứu tài liệu, rồi lên lớp phải hỏi thầy. Nhấn mạnh với sinh

viên là thầy rất thích lên lớp được các em “quay thầy như quay dế”, mong ước được

các em làm “Thầy bí” nhưng cũng không ăn thua, nhiều lúc phải thốt lên sinh viên

năm 4 mà giống học sinh tiểu học quá, ngoan đến dễ sợ”

Sinh viên Nguyễn T. N. N năm 4:“càng học những năm cuối em càng ngại gặp

và trò chuyện với giảng viên vì thực sự trong bốn năm học, giờ đây sắp ra trường

nhưng em vẫn thấy thầy cô khó gần lắm, nhiều thầy cô quá nghiêm nghị cả trong và

sau giờ học làm em thấy sợ, nên tốt nhất là tránh trò chuyện, gặp gỡ, có gặp cũng

nhanh chóng chuồn lẹ”

Sinh viên Trần A T cho biết:“em cũng rất ngại gặp và trò chuyện cùng thầy cô,

với em thì em nghĩ càng học năm cuối thầy cô biết hết từng tính xấu nên gặp, nói chuyện sợ bị thầy cô la”.

Qua kết quả khảo sát và sự bộc bạch của sinh viên, chúng tôi vẫn băn khoăn

không biết còn những nguyên nhân nào ngoài những nguyên nhân trên. Tại sao sinh

viên những năm cuối lại có hiện tượng giảm sút nhu cầu tương tác với giảng viên mà

theo lẽ thường phải tăng mới phải. Qua tìm hiểu sâu, chúng tôi phát hiện, nguyên nhân

của sự sụt giảm nhu cầu tương tác của sinh viên những năm cuối đối với giảng viên ở

trường đại học hiện nay còn nằm ở vấn đề niềm tin của sinh viên dành cho thầy/cô.

Sinh viên có hiện tượng thiếu sự tin tưởng thầy/cô dạy mình. Nhiều sinh viên khi được

chúng tôi hỏi: Giảng viên có phải là người em sẽ gặp gỡ, hỏi ý kiến khi có khó khăn về

học tập cũng như cuộc sống. Câu trả lời phần lớn không phải là giảng viên. Khi được

chúng tôi truy tìm nguyên nhân, hầu hết sinh viên đều có thái độ khó trả lời. Tuy nhiên, bằng phương pháp bút đàm không ghi tên, nhiều ý kiến bộc lộ, do giảng viên

chưa tạo được sự thu hút, hấp dẫn các em trong tương tác ở cả năng lực và phẩm chất,

thiếu sự thấu hiểu, thông cảm để các em có thể gặp gỡ và chia sẻ, tìm kiếm sự trợ giúp

khi khó khăn. Đó thực sự là điều mà giảng viên phải nhìn nhận lại trong việc thúc đẩy nhu cầu tương tác của sinh viên với giảng viên.

4.2.2. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên biểu hiện

qua mức độ tương hợp tâm lý trong tương tác

Trong tương tác tâm lý, tương hợp có vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy qúa trình tương tác diễn ra. Tương hợp là điều kiện cần thiết để tương tác diễn ra thuận lợi,

hiệu quả, là yếu tố tạo nên các mức độ tương tác khác nhau. Có thể nói, thực tiễn

tương tác tâm lý trên lớp tích cực hay thiếu tích cực, sinh viên hứng thú, chủ động

93

tương tác với giảng viên hay không, phần nhiều là do sự tương hợp giữa thầy và trò trong tương tác quyết định. Vì vậy, tương hợp tâm lý trong tương tác là một tiêu chí

quan trọng của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

4.2.2.1. Đánh giá chung về thực trạng mức độ tương tác trên lớp của giảng viên

và sinh viên qua sự tương hợp tâm lý trong tương tác

Tương hợp tâm lý trong tương tác có quan hệ với sự hiểu biết về đối tượng tương

tác, với nhu cầu tương tác nhằm tìm kiếm sự hòa hợp. Để tìm hiểu vấn đề này, chúng

tôi tìm hiểu các yếu tố xuất hiện trong qúa trình tương tác mà nhờ đó các cá nhân trong

tương tác nhanh chóng đạt được sự tương hợp trong qúa trình tương tác như: Sự hiểu

biết về trạng thái cảm xúc, về tính cách, thói quen, về năng lực chuyên môn, kinh

nghiệm làm việc, sự hiểu biết của đối tượng, hoàn cảnh gia đình, quan niệm, thái độ

của giảng viên và sinh viên về các nội dung được đề cập trong quá trình tương tác, sự đồng cảm, tôn trọng… Các kết quả khảo sát đánh giá của giảng viên và sinh viên về

vấn đề này được tập hợp trong bảng 4.5.

Bảng 4.5. Mức độ biểu hiện tƣơng tác tâm lý trên lớp học của giảng viên

và sinh viên qua tƣơng hợp tâm lý

Khác biệt 2 trung bình (KTC 95%)

Điểm trung bình đánh giá Sinh viên Giảng viên ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

3,07 0,89 2,84 0,94 0,23 (-0,02 – 0,48)

3,09 1,02 2,80 0,92 0,29 (0,04 – 0,54) *

2,89 0,77 2,86 0,81

3,26 0,79 2,64 0,95 0,03 (-0,18 – 0,24) 0,62 (0,37 – 0,87) ***

3,12 0,65 2,87 0,95 0,25 (0,01 – 0,49) *

3,16 0,71 2,85 0,85 0,31 (0,09 – 0,53) ** Biểu hiện tương tác qua tương hợp tâm lý trong tương tác Hiểu về cảm xúc, tính cách, nhu cầu đối tượng tương tác Hiểu chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, hiểu biết của đối tượng. Hiểu về điều kiện, hoàn cảnh Thấu hiểu, tôn trọng, thông cảm, đồng cảm Tương đồng về quan điểm, cảm xúc, suy nghĩ Chấp nhận sự khác biệt, thân thiện, gần gũi

Chung 2,80 3,08 0,71 0,28 (0,1 – 0,46) **

0,56 Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01; ***p<0,001 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

94

Nhận xét chung: Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên được đánh giá qua

biểu hiện tương hợp tâm lý cho thấy:

 Tương hợp của giảng viên với sinh viên - Kết quả tổng hợp đánh giá tương hợp nhau trong tương tác tâm lý trên lớp học của

giảng viên và sinh viên (bảng 4.5) căn cứ trên ĐTB cho thấy, sự tương hợp của giảng viên với sinh viên trong quá trình tương tác tâm lý trên lớp ở mức trung bình với ĐTB chung

GV =3,08; SV= 2,80. Độ phân tán trong đánh giá các lĩnh vực biểu hiện thành phần ở sinh

viên tương đối tập trung.

- Xem xét và so sánh từng lĩnh vực trên thang đo cho thấy, lĩnh vực được đánh

giá cao nhất ở giảng viên với sinh viên là Thấu hiểu, thông cảm, tôn trọng với ĐTB= 3,26; Thứ đến là Chấp nhận sự khác biệt, thân thiện, gần gũi với ĐTB=3,16; Thứ 3 là

Tương đồng về quan điểm, cảm xúc, suy nghĩ với ĐTB = 3,12; Hiểu về cảm xúc, tính

cách, nhu cầu; Hiểu chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, hiểu biết của đối tượng có

ĐTB lần lượt là 3,07; 3,09. Thấp nhất là ở lĩnh vực Hiểu điều kiện cá nhân, hoàn cảnh

đối tượng với ĐTB =2,89. Nhìn chung ĐTB từng tiêu chí trên thang đo dao động từ 2,89 3,26. Điều đó cho thấy, trong dạy học ở trường đại học, sự tương hợp của giảng viên với đối tượng mình dạy còn nhiều hạn chế và chỉ ở mức trung bình, đây sẽ là một

trở ngại làm giảm hiệu quả quá trình tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên với sinh viên. Bởi lẽ, khi sự thân thiện, gần gũi, sự chấp nhận, tương đồng nhau ở các lĩnh vực

học tập và các lĩnh vực khác không cao. Đặc biệt là sự hiểu biết về nhau hạn chế, trong

đó sự hạn chế về tương hợp qua Hiểu tính cách, nhu cầu, khả năng nắm bắt để Hiểu

trạng thái cảm xúc đối tượng là những biểu hiện cốt lõi nhằm tìm kiếm sự tương hợp

trong tương tác tâm lý, sẽ khó có được sự tương hợp ở mức cao, dẫn đến sự tương tác

chỉ còn đơn thuần là “Trách nhiệm” và “nghĩa vụ” chứ không phải xuất phát từ sự

“đồng lòng, đồng sức” và một khi một bên tinh thần, trách nhiệm kém, một bên thực thi nghĩa vụ chưa cao thì sự tương tác đó sẽ khó có được hiệu quả.

 Tương hợp của sinh viên với giảng viên - Nhìn vào bảng ta thấy, mức độ tương hợp của sinh viên với giảng viên ở mức trung bình với ĐTB chung 2,80, điều này có nghĩa là trong tương tác tâm lý trên lớp ở trường đại học, sinh viên có sự tương hợp với giảng viên nhưng còn nhiều hạn chế.

- Xem xét biểu hiện tương hợp trong tương tác tâm lý trên lớp học của sinh

viên cho thấy, sinh viên có sự tương hợp với giảng viên thấp hơn giảng viên tương hợp với sinh viên biểu hiện ở ĐTB chung =2,80.

95

- Xem xét kết quả từng lĩnh vực trong tiểu thang đo khi căn cứ trên ĐTB cho thấy, các lĩnh vực tương hợp đều được sinh viên đánh giá với ĐTB dao động trong khoảng từ 2,64  2,87 (khoảng dưới của mức trung bình: Trung bình: 2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Trong các biểu hiện tương hợp, cao nhất là Hiểu về điều kiện, hoàn cảnh giảng

viên với ĐTB =2,86 và thấp nhất là Thấu hiểu, thông cảm, tôn trọng với ĐTB = 2,64. Cho thấy, sinh viên còn hạn chế về khả năng hiểu thấu, sự thông cảm và sự tôn trọng

giảng viên trong tương tác. Bên cạnh đó, kết quả sự nắm bắt về cảm xúc, mong muốn,

yêu cầu của thầy cô trong tương tác tâm lý, sự lo lắng, mong mỏi của thầy/ cô đối với

bản thân trong học tập cũng cho kết quả không cao. Sự hạn chế đó, chắc chắn sẽ ảnh

hưởng đến tính tích cực của sinh viên trong tương tác.

- So sánh giữa tự đánh giá mức độ tương hợp với nhau của sinh viên và giảng

viên, giảng viên có sự tương hợp với sinh viên cao hơn ở tất cả các tiêu chí đo. Trong đó, tiêu chí Thấu hiểu, thông cảm, tôn trọng của giảng viên cao hơn sinh viên với ĐTB

GV = 3,26; ĐTB SV = 2,64 có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Chấp nhận sự khác biệt,

thân thiện, gần gũi của GV ĐTB=3,16; SV=2,85 có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Điều

đó chứng tỏ, trong tương tác tâm lý trên lớp giảng viên có sự tôn trọng, thông cảm và

thấu hiểu, có sự gần gũi với sinh viên hơn hẳn sinh viên thấu hiểu, tôn trọng và thông

cảm, gần gũi với giảng viên, đây là một điều thuận lợi.

Trong tương tác tâm lý trên lớp học, sự thấu hiểu sinh viên về mọi mặt trong đó

có thấu hiểu yêu cầu, mong muốn của sinh viên sẽ giúp giảng viên lựa chọn chính xác

nội dung tương tác phù hợp, đáp ứng mong muốn sinh viên, trên cơ sở đó nâng cao

hiệu quả tương tác. Tuy nhiên, trong tương tác tâm lý trên lớp học nếu chỉ giảng viên

hiểu thấu sinh viên trong khi sinh viên không hiểu giảng viên, đặc biệt sự hiểu biết của sinh viên về những ẩn chứa bên trong như sự mong mỏi, quan tâm, lo lắng của thầy/cô

đối với kết quả rèn luyện và học tập của sinh viên qua cách thức, thái độ, nội dung trao

đổi của thầy/cô nhằm giúp sinh viên có thái độ tích cực học tập, tích cực tương tác với

thầy, bạn còn nhiều hạn chế thì hiệu quả cũng không cao. Bởi lẽ, một khi sinh viên không hiểu thì những tác động mang ý nghĩa tích cực của thầy/cô sẽ dễ bị sinh viên biến thành những tác động âm tính từ đó dẫn đến học tập đối phó, mối quan hệ thầy – trò càng nên xa cách, khó tương tác.

Bên cạnh đó, kết quả tương hợp của sinh viên với giảng viên được xem xét ở các lĩnh vực tương đồng cũng chưa cao. Cụ thể, Tương đồng về quan điểm, cảm xúc, suy

nghĩ ĐTB = 2,87; Chấp nhận sự khác biệt, thân thiện, gần gũi ĐTB =2,85

Kết quả đó cho phép chúng tôi nhận định: Mức độ tương hợp trong tương tác

96

tâm lý trên lớp của sinh viên ở trường đại học với giảng viên chỉ ở mức trung bình.

So sánh mức độ tương hợp của sinh viên với giảng viên cho thấy, giảng viên

trong tương tác tâm lý trên lớp có sự tương hợp với sinh viên cao hơn sinh viên tương

hợp với giảng viên. Biểu hiện sự khác biệt cao nhất trong thang là Thấu hiểu, thông

cảm, đồng cảm, tôn trọng trong tương tác của giảng viên với sinh viên với ĐTB GV =3,26; ĐTB SV = 2,64(0,62 (0,37 – 0,87) mức có ý nghĩa với p<0,001.

Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa giảng viên và sinh viên khi xem xét về mức độ

vẫn chưa có sự khác biệt về mức độ. Tương hợp của giảng viên với sinh viên và ngược

lại đều ở mức trung bình, phản ánh thực trạng mối quan hệ giữa giảng viên và sinh

viên ở trường đại học có xu hướng “lỏng lẻo”, ít gắn bó, thân thiện. Giảng viên tuy có

sự tương hợp với sinh viên cao hơn so với sinh viên tương hợp với giảng viên, nhưng

vẫn chỉ ở mức trung bình.

Theo sự phản ánh qua quá trình tiếp xúc, trò chuyện, nhiều sinh viên cho biết cảm

nhận của bản thân về giảng viên trong quá trình học, sinh viên Nguyễn T N A sinh viên

năm 3 (SG) cho biết: “...em thấy mối quan hệ giữa chúng em với thầy cô ở trường rất

nhạt, không thân thiện như hồi em học phổ thông, sự thông cảm, đồng cảm, gần gũi

giữa giảng viên với sinh viên ít. Em cũng chia sẻ,“ chúng em cũng biết, học ở đại học là

học để nắm được chuyên môn. Tuy nhiên, chúng em cũng cần được thầy/ cô không chỉ

chú ý rèn kiến thức chuyên môn cho chúng em, mà còn quan tâm tới tâm tư, đời sống

trên cơ sở Thầy hiểu trò, trò hiểu thầy. Nếu được vậy, chắc chắn kết quả học tập của

chúng em sẽ được nâng cao. Còn giờ như em thấy, tình cảm thầy trò sao xa quá”.

Khi được hỏi thêm: Vậy theo em, điều đó có ảnh hưởng gì đến quá trình và hiệu

quả học tập của bản thân không? Nguyễn T N A trả lời: “có chứ cô, nhiều lúc em chả muốn lên lớp, lên lớp không hứng thú, có nhiều vấn đề muốn hỏi, nhưng cũng chả

muốn hỏi, chả có hứng thú học cô ạ.”

Sinh viên Cao T Ph (NH) cho biết: “.... Giảng viên ít thông cảm, đồng cảm với

sinh viên, nhiều thầy cô nói một đằng làm một nẻo.....”

Ngược lại với chia sẻ của sinh viên, nhiều giảng viên cho rằng, sinh viên hiện nay thực dụng, mục đích nghề nghiệp và lý tưởng cuộc sống mờ nhạt. Không xác định đúng mục tiêu học tập, trên lớp học tập đối phó, ít sự tìm tòi, khám phá, ngại khó, ngại

khổ. Tính tôn trọng người khác trong đó có sự tôn trọng giảng viên thấp. Ít nỗ lực, phấn đấu nhưng lại hay đòi hỏi quyền lợi.

Nhìn chung, qua trao đổi chúng tôi nhận thấy một thực tế, sự tương hợp giữa

giảng viên và sinh viên ở trường đại học hiện nay còn nhiều vấn đề. Sinh viên chưa

97

hiểu giảng viên để có thể có những động thái tác động tương ứng. Giảng viên cũng chưa hiểu sinh viên để có những cách thức giúp sinh viên nhận sự tác động và phối

hợp với giảng viên tương ứng, như người xưa thường nói: “đồng thanh tương ứng,

đồng khí tương cầu”. Có thể thấy, cả hai vẫn còn một khoảng cách khá lớn để có thể

tạo được sự tương hợp. Nếu không có biện pháp để giải quyết thì đây sẽ là rào cản làm hạn chế tương tác giữa giảng viên và sinh viên.

Tương hợp tâm lý trong tương tác trên lớp giữa giảng viên và sinh viên có một

vai trò quan trọng trong học tập. Tương hợp mà trong đó lấy sự hiểu biết, đồng cảm

làm cốt sẽ tạo nên chất keo khiến sinh viên thấy gần gũi, thân thiện với giảng viên dẫn

đến hiệu ứng mong chờ, vui thích được gặp thầy/cô mỗi giờ lên lớp xảy ra khiến sinh

viên háo hức, phấn khởi trong học tập. Ngược lại, trong tương tác, khi các chủ thể

không tìm được tiếng nói chung, không có sự hiểu biết, đồng cảm với nhau sẽ khó có được sự cùng đồng điệu về tâm hồn, khó có sự tương hợp. Và một khi không có sự

tương hợp với nhau sẽ hạn chế sự chia sẻ, trao đổi, thậm chí dẫn đến né tránh tương

tác cùng nhau.

Như vậy, rõ ràng qua phân tích kết quả (bảng 4.5) trên đã phản ánh thực trạng

sự tương hợp trong tương tác tâm lý ở sinh viên và giảng viên trên lớp chưa cao, kết

quả trên cho chúng tôi những băn khoăn, lo lắng về thực trạng tương tác tâm lý trên

lớp giữa giảng viên và sinh viên ở các trường đại học hiện nay. Theo lý thuyết tương

tác, tương tác chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi các chủ thể trong mối quan hệ đó có sự

tương hợp với nhau cao. Bởi lẽ, tương hợp không cao sẽ dễ dẫn đến những xung đột

trong tương tác làm giảm hiệu quả hoạt động thậm chí đi đến sự triệt tiêu hoạt động

(hiện tượng tương tác một chiều, một bên tác động bên kia không tiếp nhận, đáp ứng, phản hồi. Hiện tượng “Trơ”). Đây là kết quả cần phải xem xét và có những nghiên

cứu sâu hơn.

4.2.2.2. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

qua tương hợp tâm lý trong tương tác, xét theo năm học của sinh viên

98

Bảng 4.6. Mức độ biểu hiện tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh

viên qua sự tƣơng hợp tâm lý trong tƣơng tác, theo năm học của sinh viên

Điểm trung bình đánh giá

Biểu hiện tƣơng hợp Năm 1 &2 Năm 3 & 4

GV SV GV SV

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Hiểu về cảm xúc, tính 3,08 0,69 2,71 0,9 3,09 1,00 2,86 0,92 cách, nhu cầu

Hiểu chuyên môn, kinh

nghiệm làm việc, hiểu 3,14 0,71 2,74 0,83 3,15 0,81 2,96 0,79

biết

Hiểu về điều kiện, hoàn 2,93 0,81 2,62 0,83 2,99 1,12 2,88 0,98 cảnh

Thấu hiểu, tôn trọng, 3,14 0,71 2,67 0,99 3,18 0,84 2,81 1,04 thông cảm, đồng cảm

Tương đồng về quan 2,95 0,66 2,79 0,87 3,15 0,65 2,96 1,05 điểm, cảm xúc, suy nghĩ

Chấp nhận sự khác biệt, 3,10 0,70 2,72 0,79 3,18 0,73 2,95 0,96 thân thiện, gần gũi

Chung 0,59 3,06 2,77

0,73 3,12 0,61 2,85 0,68 Ghi chú:Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6;Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2; Mức 5:Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

- Từ kết quả bảng 4.6 có thể rút ra một số nhận xét: Kết quả thống kê ở bảng 4.6 cho thấy, mức độ tương hợp với nhau giữa giảng

viên và sinh viên xem xét theo năm tăng lên theo thời gian được đào tạo. Cụ thể là cả giảng viên và sinh viên năm 3,4 có xu hướng tương hợp nhau hơn so với sinh viên năm 1,2 khi so sánh ĐTB chung, cũng như khi so sánh trên toàn tiểu thang đo. Điều đó chứng tỏ, thời gian tiếp xúc với nhau càng lâu sẽ giúp con người ta có nhiều điều kiện hiểu nhau hơn, đồng cảm hơn. Khi hiểu nhau, đồng cảm với nhau sẽ khiến người ta tương hợp với nhau hơn. Giảng viên có thời gian, điều kiện tiếp xúc với sinh viên năm

3,4 lâu hơn sinh viên năm 1,2 nên hiểu sinh viên mình dạy hơn và sinh viên cũng vậy. Xem xét từng lĩnh vực biểu hiện trên thang đo cho thấy, sự tăng lên ở hầu hết các biểu hiện ở năm 3,4 trên cả giảng viên và sinh viên về sự tương hợp với nhau. Tuy

99

nhiên, kết quả cũng phản ánh một thực tế là sự tương hợp nhau giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học xét theo năm, tuy có sự chênh lệch nhau về mặt điểm số nhưng

về mức độ vẫn chưa có sự khác biệt về mức độ. Cụ thể: ĐTB chung hiểu biết của

giảng viên về sinh viên năm 1,2 là 3,06; sinh viên là 2,77. ĐTB chung của giảng viên

năm 3,4 là 3,12 và sinh viên là 2,85 (mức độ trung bình 2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Chỉ báo một thực trạng là sự tương hợp với nhau trong đó thể hiện ở sự hiểu biết và nhu cầu

hiểu biết về nhau trong mối quan hệ thầy trò ở trường đại học ngày càng ít đi, hạn chế,

bộc lộ một lối sống “khép mình, hời hợt” thiếu sự quan tâm, trách nhiệm đến nhau ở

cả thầy lẫn trò. Với vai trò người thầy, sinh viên đã học trong ngôi trường mình dạy

đến năm 3 thậm chí năm 4, có thầy/cô lên lớp dạy sinh viên từ năm 1,2 rồi lại đến năm

3,4 nhưng sự tương hợp bộc lộ qua kết quả hiểu biết, đồng cảm của thầy/cô về học trò

của mình cũng chỉ hơn mức năm 1,2 chút ít. Trò cũng vậy, dù đã trãi qua gần hết “cuộc đời sinh viên” nhưng sự tương hợp với thầy/cô qua hiểu biết, đồng cảm với

thầy/cô của mình không vì thế mà nhiều hơn. Cụ thể: Các biểu hiện như: Hiểu về điều

kiện, hoàn cảnh; Thấu hiểu, tôn trọng, thông cảm, đồng cảm; Hiểu về cảm xúc, tính

cách, nhu cầu… của sinh viên về giảng viên rất hạn chế với các chỉ báo không cao,

phản ánh sự hời hợt, thờ ơ trong tương hợp của sinh viên về giảng viên. Thực tiễn đã

cho thấy, việc tiến hành, duy trì sự tương tác giữa giảng viên, sinh viên trên lớp nếu

thiếu hẳn sự tương hợp tâm lý sẽ khó có thể đạt được hiệu quả, đây là một thực tế đáng

lo ngại.

Qua trò chuyện, phỏng vấn, sinh viên Phan Mỹ. N cho biết: “…theo cơ chế đào

tạo bây giờ, chúng em có thể tìm hiểu trước thông tin về giảng viên và chọn giảng viên

mình thích để đăng kí học, nhưng em và các bạn em đều đăng kí giờ học nào mà mình thấy thuận tiện, cũng chả cần biết và hiểu về giảng viên….”. Để xác định thêm vì sao

sinh viên hiểu biết về giảng viên chưa cao, trong khi điều đó là hoàn toàn có thể với

điều kiện, cơ chế học tập hiện nay ở đại học nếu muốn biết những thông tin cơ bản về

giảng viên. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thực hiện bút vấn trên một nhóm sinh viên nhỏ nhằm làm rõ nếu trước khi học với giảng viên vì một lý do nào đó mà sinh viên chưa có sự hiểu biết về giảng viên mình học, thì sau khi vừa học xong sinh viên có sự hiểu biết nhất định về giảng viên mà mình học không, bằng một câu hỏi đơn

giản: hỏi sinh viên về tên giảng viên mà mình vừa học học kì vừa qua. Kết quả, một con số không nhỏ (~1/3 trong số được hỏi) sinh viên không nhớ được tên hoặc chỉ nhớ

mang máng (nghĩa là mô tả được ngoại hình; già trẻ) giảng viên mà mình đã học.

Với giảng viên, qua trao đổi kết quả phản ảnh: giảng viên Nguyễn T T L (SG)

100

cho biết: “…Quả thật, những sinh viên tôi dạy, hầu hết tôi không hiểu hết về mọi mặt của sinh viên đâu….Vả lại, tôi cũng thấy không cần thiết lắm”

Giảng viên Nguyễn T H (CN): “Những lớp tôi dạy, sĩ số sinh viên đông như

quân Nguyên….”

Tóm lại: Mức độ tương hợp qua hiểu biết về nhau trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên chưa cao. Nguyên nhân có nhiều, qua trao đổi, trò chuyện

với nhiều giảng viên đã bộc lộ: dạy học ở đại học mang tính chuyên môn sâu, giảng viên

chỉ đảm trách dạy một, vài môn với thời gian tiếp xúc sinh viên ngắn ngủi; lớp dạy

đông, cộng thêm thời gian gặp gỡ tương tác, hoạt động chung ở các lĩnh vực khác ngoài

giờ lên lớp ở giảng viên với sinh viên hạn chế, chưa nói là không có; không có nhiều

điều kiện để tìm hiểu, hiểu biết về sinh viên, dẫn đến tâm lý không cần hiểu biết nhiều

về sinh viên. Ngược lại, sinh viên cũng có tâm lý thầy cô chỉ dạy mình ít, không có quan hệ nhiều, không cần tìm hiểu để có thể đạt được sự hợp nhau trong tương tác. Vì vậy, rất

cần thiết phải nâng cao sự tương hợp tâm lý cho cả giảng viên và sinh viên trong tương

tác trên cơ sở nâng cao sự cần thiết phải hiểu biết về nhau cho giảng viên và sinh viên

bằng cách tạo nhiều cơ hội và điều kiện cho giảng viên và sinh viên được hoạt động

cùng nhau từ đó có sự tương hợp tâm lý với nhau.

4.2.3. Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên biểu

hiện qua mức độ phối hợp giữa giảng viên và sinh viên trong tương tác

Sự phối hợp lẫn nhau trong tương tác là điều kiện cần thiết của tương tác, sự

phối hợp cho thấy cách thức, kĩ năng các chủ thể trong tương tác thực hiện với

nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động cùng nhau nhịp nhàng, ăn ý và như vậy, để

phối hợp với nhau tốt, đòi hỏi các chủ thể phải sử dụng phối, kết hợp các kĩ năng tương tác, nhanh chóng nắm bắt những biểu hiện tâm lý bên ngoài và bên trong

của khách thể tương tác, từ đó cùng nhau định hướng, thiết lập, điều khiển, điều

chỉnh, duy trì quá trình tương tác đạt mục đích.

4.2.3.1. Đánh giá chung thực trạng tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên

và sinh viên biểu hiện qua mức độ hiểu biết về nhau

Để tìm hiểu thực trạng tương tác được biểu hiện qua sự phối hợp lẫn nhau trong quá trình tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên, chúng tôi xem xét trên

các phương diện sau: đánh giá chung và phân tích các kết quả khảo sát các mức độ sử dụng các kĩ năng tương tác giữa giảng viên và sinh viên trong phối hợp nhau trên lớp.

Kết quả được phản ánh qua bảng sau:

101

Bảng 4.7. Mức độ biểu hiện tƣơng tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên qua sự phối hợp lẫn nhau qua các kĩ năng tƣơng tác, xét chung

Sự phối hợp lẫn nhau qua Điểm trung bình đánh giá Khác biệt 2 trung

các kỹ năng tƣơng tác bình (KTC 95%) Giảng viên Sinh viên

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Phối hợp qua sự thiết lập mối

quan hệ thầy – trò dễ dàng, 2,85 0,67 2,81 0,86 0,04 (-0,18 – 0,26)

nhanh chóng

Phối hợp qua sự diễn đạt với 3,01 0,74 2,84 0,85 0,17 (-0,05 – 0,39) nhau

Phối hợp qua KN lắng nghe 2,94 0,82 2,85 0,90 0,09 (-0,15 – 0,33) nhau

2,91 0,92 2,85 0,91 0,06 (-0,18 – 0,30) Phối hợp qua KN tự chủ cảm xúc bản thân trong tương tác

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

Chung 2,93 0,58 2,85 0,85 0,08 (-0,14 – 0,30)

 Kết quả sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của giảng viên - Phối hợp các chỉ số về kĩ năng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên với

sinh viên theo đánh giá của giảng viên (bảng 4.7) cho thấy, sự phối hợp của giảng viên

qua kĩ năng tương tác đạt mức trung bình với ĐTB chung 2,93.

- Xem xét từng biểu hiện trên thang đo cho thấy, sự phối hợp qua kĩ năng được

giảng viên nhận định cao nhất trong thang là sự phối hợp qua kĩ năng diễn đạt với

ĐTB = 3,01. Kế đến là kĩ năng lắng nghe với ĐTB =2,94. Sự phối hợp qua kĩ năng

thấp nhất là kĩ năng thiết lập mối quan hệ thầy trò nhanh chóng, dễ dàng trên lớp. Điều

đó cho thấy, trong tương tác tâm lý trên lớp về phía giảng viên đã cố gắng chú ý đến kĩ

năng diễn đạt sao cho đối tượng chịu sự tác động dễ dàng, nhanh chóng nắm bắt được cả ý và nghĩa những điều giảng viên trao đổi để có thể phối hợp với nhau tốt. Kĩ năng lắng nghe có kết quả cao thứ 2, đồng nghĩa với việc không chỉ chú ý đến cách diễn đạt trong trao đổi giúp đối tác nắm bắt được thuận lợi mà trong tương tác, giảng viên cũng chú ý lắng nghe thông tin phản hồi để có sự phối hợp, hợp tác tốt. Tuy nhiên, kĩ năng

thiết lập mối quan hệ lại có kết quả đánh giá thấp nhất trong thang với ĐTB=2,85 là một kết quả đáng tiếc. Bởi lẽ, muốn có sự phối hợp nhau tốt trong tương tác thì kĩ

năng thiết lập mối quan hệ là điều kiện cơ bản, then chốt để có thể nhanh chóng cùng

102

nhau hợp tác vì một mục đích chung. Đây là một sự đáng tiếc, vì một khi kĩ năng thiết lập mối quan hệ khó khăn, hạn chế sẽ khó có thể có sự phối hợp với nhau ăn ý. Người

xưa có câu “vạn sự khởi đầu”. Kĩ năng thiết lập mối quan hệ là điểm bắt đầu nhưng

cũng là điểm cuối của một hoạt động hiệu quả. Người ta chỉ có thể phối hợp, hợp tác

với nhau khi thiết lập được mối quan hệ, khi hiểu biết, tương hợp nhau. Không thiết lập được mối quan hệ thân tình mà nền tảng là sự tương hợp sẽ khó có sự hợp tác, phối

hợp nhau ăn ý.

Theo ghi nhận qua quan sát và phỏng vấn của chúng tôi, kết quả đó phù hợp thực tiễn. Qua phản ảnh của giảng viên các trường đều cho thấy, kĩ năng thiết lập mối quan hệ thầy – trò trên lớp hiện nay là kĩ năng yếu nhất. Giảng viên Nguyễn T. T. H cho biết: “Mối quan hệ cô – trò trên lớp hiện nay theo tôi rất hạn chế. Cô đi dạy chỉ biết dạy và trò cũng vậy. Trong lớp là cô – trò, nhưng khi ra ngoài lớp như người xa lạ, nhiều khi ngẫm nghĩ mà thấy chạnh lòng, không như hồi xưa tôi đi học đại học... Tôi cũng không biết sinh viên bây giờ nghĩ gì nữa. Ra ngoài, thấy chúng nó, rõ ràng là học trò mình, nhưng thấy mình mặt lạnh bơ như không...”.

Giảng viên Huỳnh V T: “Kĩ năng tạo sự hợp tác trong tương tác của giảng viên

còn hạn chế nên hiệu quả dạy học chưa cao”.

Giảng viên Nguyễn T H thì chia sẻ một cách trần trụi: “quan hệ giữa giảng viên – sinh viên hiện nay quá lạnh. Chúng nó chỉ gặp gỡ, thân thiện với giảng viên khi cần nhờ vả, nên với tôi, tôi chỉ thuần túy là lên lớp truyền thụ kiến thức không cần tạo mối quan hệ thân thiết làm gì cho mệt”.

Rõ ràng đây là một thực tế khiến chúng ta phải suy nghĩ về tương tác thầy – trò ở trường đại học. Cũng đã có rất nhiều mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy trò ở trường đại học, mà ở đó kết quả tương tác của cả hai đạt đến mức viên mãn như lời giảng viên Nguyễn T. T. H nhớ lại mối quan hệ thân thiết, ấm áp mà trong mối quan hệ đó hình ảnh người Thầy ở ngôi trường đại học cô đã học hơn 35 năm về trước hiện ra, với vai trò vừa là một người Thầy, vừa như một người cha, người anh, người bạn của cô và các bạn của cô trước đây không chỉ trong lớp học mà trong cả cuộc sống, và cho mãi đến giờ cô vẫn rất trân trọng và gìn giữ, dù Thầy đã đi rất xa như cô đã vô tình chia sẻ, khi được chúng tôi hỏi về mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên hiện giờ.

Kết quả khảo sát khiến chúng ta phải nhìn lại, lâu nay, đã có rất nhiều ý kiến nói về mối quan hệ này đã đến mức lỏng lẻo theo nghĩa kinh tế thị trường, nhưng những ý kiến đó ít nhiều đứng dưới góc độ cá nhân để nói và sợ rằng như vậy sẽ phiến diện. Tuy nhiên, kết quả khảo sát đã thêm một nhận định, đó là sự thật. Mối quan hệ thầy – trò ở trường đại học hiện nay gần đến mức như quan niệm người xưa đã từng ví von

103

“Thầy giáo như người lái đò”, đò đưa người qua sông, có mấy ai nhớ về con đò đã đưa mình qua.

Đã đến lúc phải xem xét vấn đề: Hiệu quả dạy học có cao khi kĩ năng thực hiện tương tác tâm lý trên lớp học giữa thầy – trò không cao, chưa nói đến những người sinh viên ấy, sau khi học xong ra trường bên cạnh nhiệm vụ phục vụ xã hội, vẫn còn một nhiệm vụ nữa mà ở các trường đại học Việt Nam chưa thật sự chú trọng, đó là làm công tác cầu nối, mối giao thoa giữa nhà trường, giảng viên và nơi sử dụng lao động. Nhà trường, cũng như từng giảng viên soi vào hiệu quả của sinh viên sau khi ra trường (sản phẩm mà mình đào tạo) hoạt động trong xã hội có hiệu quả như thế nào, để cải tiến và nâng cao không ngừng “sản phẩm” mình đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội.

 Kết quả sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của sinh viên - Kết quả bảng 4.7 phản ánh, mức độ kĩ năng tương tác ở sinh viên chỉ ở mức trung bình. Các tiêu chí được đánh giá trong thang tương đối đồng đều ở các biểu hiện với ĐTB dao động trong khoảng 2,81 2,85 điểm (Mức điểm nằm vào khoảng dưới của mức trung bình: mức độ trung bình 2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Trong các biểu hiện phối hợp, kĩ năng thiết lập mối quan hệ cũng được sinh viên nhận định thấp nhất như đánh giá của giảng viên với ĐTB =2,81. Kĩ năng diễn đạt được sinh viên đánh giá xếp bậc ¾ (nếu xếp theo thứ bậc) cho thấy, kĩ năng này ở sinh viên còn nhiều hạn chế. Kĩ năng lắng nghe và Tự chủ cảm xúc được sinh viên đánh giá cao nhất trong tiểu thang đo với ĐTB đồng là 2,85 nhưng đây không phải là kết quả cao.

Kết quả đó cũng phù hợp với nhận định của giảng viên qua trò chuyện cũng như qua quan sát thực tế của chúng tôi về sự thực hiện các kĩ năng trên trong tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học.

Qua kết quả trên, căn cứ trên ĐTB chung và trên từng biểu hiện trong thang cho phép chúng tôi kết luận: Sự phối hợp lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên trên lớp qua các kĩ năng tương tác của giảng viên và sinh viên ở trường đại học chỉ ở mức trung bình. Điều đó cho thấy, giảng viên và sinh viên đã có sự phối hợp trong tương tác qua các kỹ năng được sử dụng nhưng kết quả chưa cao.

So sánh mức độ phối hợp qua kĩ năng tương tác tâm lý của giảng viên với mức độ phối hợp qua kĩ năng tương tác của sinh viên cho thấy, sự phối hợp qua kĩ năng tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên cao hơn sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của sinh viên. Cụ thể: ĐTB sự phối hợp qua kĩ năng của giảng viên là 2,93; của sinh viên 2,84. Tuy nhiên, mặc dù có sự chênh lệch về điểm số nhưng chưa có sự khác biệt về mức độ giữa sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

104

Xâu chuỗi kết quả nghiên cứu các biểu hiện tâm lý trong tương tác, xem xét và so sánh các kết quả nghiên cứu về sự phối hợp qua kĩ năng tương tác với kết quả các

biểu hiện nhu cầu, sự tương hợp tâm lý, sự ảnh hưởng, tần số tương tác thấy rằng: sự

phối hợp lẫn nhau trong tương tác và sự tương hợp tâm lý trong tương tác tâm lý trên

lớp giữa giảng viên và sinh viên là hai biểu hiện có mức độ thấp nhất. Trong các biểu hiện, sự phối hợp và sự tương hợp là hai biểu hiện cốt lõi trong tương tác tâm lý. Phối

hợp thể hiện sức mạnh của sự tương tác, tương hợp là điều kiện thúc đẩy tương tác,

nhưng kết quả biểu hiện của hai biểu hiện này trên ĐTB thấp hơn các biểu hiện khác.

Chứng tỏ, trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên hai biểu hiện

này còn nhiều hạn chế. Do vậy, muốn cải thiện và nâng cao mức độ và hiệu quả tương

tác trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên, nhất thiết phải giúp giảng viên và sinh

viên nâng cao sự tương hợp (hiểu biết về nhau), sự phối hợp (kĩ năng tương tác) cho giảng viên và sinh viên, nếu muốn cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên

lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

4.2.3.2. Biểu hiện sự phối hợp lẫn nhau qua các kỹ năng tương tác trên lớp học

của giảng viên và sinh viên, theo năm học của sinh viên

Bảng 4.8. Biểu hiện sự phối hợp lẫn nhau qua các kỹ năng tƣơng tác trên lớp

của giảng viên và sinh viên, theo năm học của sinh viên

Điểm trung bình đánh giá

Năm 1 và 2 Năm 3 và 4

Sự phối hợp lẫn nhau qua các kỹ năng Tƣơng tác

Đánh giá của GV Đánh giá của SV Đánh giá của GV Đánh giá của SV

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

2,80 0,73 2,76 0,85 2,88 0,57 2,87 0,86

3,00 0,75 2,77 0,86 3,01 0,73 2,91 0,84

2,87 0,87 2,82 0,92 3,06 0,71 2,88 0,88

2,84 0,96 2,79 0,89 2,94 0,85 2,92 0,94

Phối hợp qua sự thiết lập mối quan hệ thầy – trò dễ dàng Phối hợp qua sự diễn đạt với nhau Phối hợp qua KN lắng nghe nhau Phối hợp qua KN tự chủ cảm xúc bản thân trong tương tác

Ghi chú: Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6; Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2; Mức 5: Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

Chung 2,90 0,48 2,80 0,84 2,97 0,63 2,89 0,85

105

Kết quả thống kê ở bảng 4.8 cho thấy, có sự chênh lệch về điểm số giữa sự phối hợp lẫn nhau qua các kỹ năng tương tác của giảng viên với sinh viên theo năm cũng như

giữa sinh viên với sinh viên theo năm khi so sánh ĐTB chung cũng như ĐTB từng tiêu

chí trên tiểu thang đo. Cụ thể:

- Sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của giảng viên với sinh viên năm 3,4 cao

hơn sự phối hợp qua kĩ năng tương tác với sinh viên năm 1,2.

- Sự phối hợp qua kĩ năng tương tác của sinh viên năm 3,4 cũng cao hơn sự phối

hợp qua kĩ năng tương tác của sinh viên năm 1,2. Trong các kĩ năng được đo trong tiểu

thang đo, kĩ năng diễn đạt trong phối hợp của sinh viên năm 3,4 cao hơn kĩ năng diễn

đạt trong phối hợp của sinh viên năm 1,2. Cho thấy, sinh viên năm 3,4 có sự phối hợp

qua khả năng diễn đạt cao hơn sinh viên năm 1,2. Các kĩ năng phối hợp khác khi so

sánh giữa sinh viên và sinh viên, có sự chênh lệch về điểm số nhưng sự chênh lệch chưa có ý nghĩa về mức độ. Mức độ phối hợp qua kĩ năng của sinh viên năm 3,4 và 1,2

đều trong ngưỡng trung bình.

Tóm lại: Sự phối hợp qua kĩ năng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và

sinh viên ở trường đại học theo kết quả phản ánh còn nhiều hạn chế. Kết quả cũng cho

thấy, sự phối hợp là biểu hiện có ĐTB thấp nhất trong các biểu hiện tham gia tương

tác. Trong khi theo lý thuyết tương tác, sự phối hợp là biểu hiện mang tính quyết định

hiệu quả tương tác. Bởi lẽ, để tương tác với nhau tốt các cá nhân phải có sự phối hợp

với nhau nhịp nhàng nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả. Nếu thiếu sự phối hợp, hay

phối hợp không ăn ý trong hoạt động sẽ dẫn đến sự trệch choạc, lệch pha, người nói

một đằng, người làm một nẻo ….

Như vậy, có thể khẳng định, hiệu quả tương tác trên lớp giữa giảng viên và sinh viên phụ thuộc rất lớn vào sự phối hợp lẫn nhau trong tương tác. Tuy nhiên, theo kết

quả phản ánh, đây lại là biểu hiện hạn chế nhất trong các biểu hiện được đo, với ĐTB

chung cả giảng viên và sinh viên đều <3,00 điểm (2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Thực tế cho

thấy, trong tương tác khi các chủ thể tương tác lắng nghe nhau kém sẽ khó có thể thu nhận và xử lý thông tin tốt, chưa nói đến việc thiếu tập trung chú ý lắng nghe khi đối tác chia sẻ, trao đổi là biểu hiện của sự thiếu tôn trọng, tin tưởng nguồn thông tin mà đối tác đang trao đổi, có thể dẫn đến cắt đứt sự tiếp tục trao đổi. Kĩ năng diễn đạt trong

tương tác kém, sẽ khiến người nghe khó lĩnh hội đầy đủ và chính xác về mặt thông tin, dẫn đến hiện tượng “ông nói gà, bà nghĩ vịt”, dẫn đến khó phối hợp được với nhau. Kĩ

năng thiết lập mối quan hệ trong tương tác không cao, sẽ khó tạo lập và bắt đầu một

mối quan hệ đồng lòng, nhất trí vì mục tiêu chung. Trên thực tiễn, để có thể thiết lập

106

một mối quan hệ mang tính bền chặt, điều đó có liên quan tới nhu cầu và sự tương hợp của các cá nhân trong việc thiết lập chúng. Thực tiễn cũng cho thấy, phàm những hoạt

động liên quan đến hình thành giá trị sống cao như hoạt động dạy học càng đòi hỏi khả

năng thiết lập một mối quan hệ bền chặt, gắn bó giữa các cá nhân. Do vậy, nói tới kĩ

năng thiết lập mối quan hệ, sẽ liên quan tới nhu cầu và sự tương hợp giữa các cá nhân nếu muốn thiết lập được một mối quan hệ trên cơ sở hữu nghị và hợp tác, phối hợp

nhau ăn ý. Bên cạnh đó, khả năng tự chủ cảm xúc, kết quả cũng không cao cho thấy,

cả giảng viên và sinh viên trong tương tác tâm lý trên lớp còn bị cái tôi, cái bản ngã

tiêu cực chen vào chi phối. Trong hành động phối hợp cùng nhau, rất cần các cá nhân

phải biết tự điều chỉnh cái tôi của bản thân để cùng nhau nhìn về một hướng, khả năng

hiểu mình và hiểu người để có thể phối hợp nhau tốt. Tuy nhiên, kết quả tất cả các kĩ

năng này ở cả giảng viên và sinh viên đều bị hạn chế, đặc biệt sinh viên. Điều đó sẽ ảnh hưởng cao tới sự phối hợp với nhau trong quá trình tương tác trên lớp học.

Tìm hiểu nguyên nhân vấn đề này, cần có những nghiên cứu sâu và công phu.

Tuy nhiên, theo chúng tôi nhận biết, có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này, trong đó

nguyên nhân cơ bản là do các chủ thể chưa được hình thành các kĩ năng này một cách

khoa học và bài bản. Đặc biệt giảng viên, chủ thể chịu trách nhiệm chính trong tương

tác tâm lý thầy – trò trên lớp học, qua trao đổi, trò chuyện, được biết cũng là những kĩ

năng họ chưa được rèn luyện một cách bài bản bao giờ, kể cả giảng viên ĐHSG (ngôi

trường mang tính sư phạm cao) là những giảng viên đã được rèn luyện nghiệp vụ sư

phạm ở trường đại học. Tuy nhiên qua trao đổi, những kĩ năng tương tác trên là những

kĩ năng họ cũng chưa được rèn rũa đến nơi đến chốn khi còn ngồi trên giảng đường đại

học, ngoài câu nói được đúc kết khi học bài “Nghề giáo”, người giáo viên khi lên lớp phải để ngoài cánh cửa lớp học mọi hỉ nộ ái ố khi bước chân vào lớp, nhưng cụ thể để

giúp họ có thể tự chủ được cảm xúc bằng cách nào thì chưa. Giảng viên các trường

còn lại, phần lớn còn xa lạ hơn với các kĩ năng này, mặc dù hiện nay theo quy định của

Bộ GD &ĐT, giảng viên đứng lớp bắt buộc phải được trang bị về nghiệp vụ sư phạm. Bên cạnh đó, do yêu cầu chuyên môn, đòi hỏi ngày càng cao đối với giảng viên, do áp lực cuộc sống, cộng thêm sự tích cực, ý thức của sinh viên trong học tập ngày càng thấp đã ảnh hưởng đến tính tự chủ cảm xúc của giảng viên trên lớp học. Với sinh viên,

một phần do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nhưng phần lớn do ảnh hưởng của cuộc sống thị trường, đã tạo cho sinh viên lòng tôn sư trọng đạo giảm, dẫn đến khả năng tự chủ cảm

xúc không cao.

107

4.2.4. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên biểu hiện qua sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa GV và SV trong tương tác

4.2.4.1. Biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên qua

ảnh hưởng lẫn nhau, xét chung.

Bảng 4.9. Biểu hiện tƣơng tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên

qua ảnh hƣởng lẫn nhau

Điểm trung bình đánh giá

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Giảng viên Sinh viên Biểu hiện ảnh hưởng lẫn nhau Khác biệt 2 trung bình KTC 5 )

3,17

0,70

3,39

1,12

-0,22 (-0,51 – 0,07)

Học tập từ GV - SV

3,08

1,22

3,24

1,03

-0,16 (-0,44 – 0,12)

Hấp dẫn, lôi cuốn nhau

2,98

1,05

3,25

1,03

-0,27 (-0,54 – (-0,01) *

Tạo được sự tin cậy

3,15

0,92

3,20

0,98

-0,05 (-0,31 – 0,21)

Tạo được sự kính trọng, tự

hào

3,13

0,84

3,18

1,09

-0,05 (-0,33 – 0,23)

Có sự trưởng thành hơn

3,11

0,67

3,26

0,50

- 0,15 (-0,29 – (-0,01) *

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

Chung

Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên đánh giá qua sự

ảnh hưởng lẫn nhau.

 Đánh giá của giảng viên về ảnh hưởng lẫn nhau - Ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh

viên ở mức trung bình với ĐTB GV=3,11; ĐTB SV =3,26 (xét chung). Điều đó chứng

tỏ, ảnh hưởng giữa giảng viên đến sinh viên và ngược lại, ảnh hưởng từ sinh viên đến

giảng viên trong tương tác tâm lý trên lớp học ở trường đại học phản ánh cả những ảnh

hưởng tích cực và tiêu cực đến nhau tương đương nhau. Có lúc trong tương tác các chủ thể có được sự hài lòng, vui vẻ, nhưng đồng thời cũng có những ảnh hưởng mệt mỏi, căng thẳng tương ứng.

- Xem xét các tiêu chí đo mức độ ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên và của sinh viên đến giảng viên trong tiểu thang đo (bảng 4.9) cho thấy, giảng viên có mức ảnh

hưởng đến sinh viên cao hơn mức ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên, biểu hiện ở cả

ĐTB chung cũng như ĐTB từng tiêu chí trong thang.

- Phân tích sâu hơn từng tiêu chí theo đánh giá của giảng viên về ảnh hưởng lẫn

108

nhau trong tương tác, kết quả cho thấy, giảng viên đánh giá ảnh hưởng của sinh viên đến bản thân thấp hơn kết quả sinh viên đánh giá về ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên

ở cả 5/5 tiêu chí đo. Đặc biệt, tiêu chí Tạo được sự tin cậy ở GV chưa được giảng viên

đánh giá cao, chỉ ở mức thấp nhất trong thang (thứ bậc 5/5).

 Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng lẫn nhau - Kết quả ĐTB trong thang đo cho thấy, sinh viên đánh giá mức ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên cao hơn với ĐTB chung = 3,26 khi so sánh với ĐTB kết quả

đánh giá của giảng viên. Chứng tỏ rằng, trong tương tác tâm lý trên lớp, giảng viên đã có

sự ảnh hưởng nhất định đến sinh viên, được sinh viên nhìn nhận: Ảnh hưởng của giảng

viên ở trường đại học đến sinh viên cao hơn ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên.

- Phân tích sâu hơn từng tiêu chí về ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên theo sinh viên đánh giá trong bảng, kết quả cũng phản ánh có sự trênh lệch điểm số ở cả 5/5 tiêu chí đo trong thang, được sinh viên đánh giá ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên cao hơn giảng viên đánh giá ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên. Một số tiêu chí ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên như: Tạo được sự tin cậy; Học tập từ GV được sinh viên đánh giá với điểm số cao nhất trong thang với ĐTB lần lượt là 3,25; 3,39 điểm, nhưng vẫn chưa phải là mức cao, chỉ ở khoảng cuối của mức trung bình (2,60 ≤ ĐTB < 3,40). Các tiêu chí còn lại được đánh giá thấp hơn, trong đó tiêu chí Hấp dẫn, lôi cuốn;Tạo được sự kính trọng, tự hào; Sự trưởng thành được sinh viên nhận định thấp nhất trong tiểu thang đo với ĐTB lần lượt là 3,24; 3,20; 3,18. Điều đó phản ánh trong thực tiễn tương tác tâm lý trên lớp, giảng viên vẫn chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn với sinh viên, chưa tạo được sự kính trọng, tự hào của sinh viên. Đặc biệt, sự ảnh hưởng cao qua tiêu chí sự trưởng thành trong tương tác chưa được sinh viên đánh giá cao trong tương tác tâm lý thầy – trò trên lớp.

- Xem xét toàn bộ thang đo mức độ ảnh hưởng theo đánh giá của sinh viên và đặc biệt theo đánh giá của giảng viên cho thấy, mặc dù có sự chênh lệch về điểm số nhưng xét về mức độ ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên vẫn chưa có sự khác biệt về mức độ. Cụ thể: ĐTB ảnh hưởng ở giảng viên là 3,11; ĐTB ảnh hưởng của sinh viên là 3,26 chỉ dao động trong mức trung bình. Kết quả này cũng phù hợp với thực tế quan sát của chúng tôi trong hoạt động dạy học trên lớp hiện nay, cũng như trong mối quan hệ giảng viên – sinh viên trong thực tiễn.

Theo chia sẻ của các giảng viên được chúng tôi trò chuyện, trao đổi, giảng viên Tôn N C T cho biết: “...một bộ phận không nhỏ sinh viên hiện nay thiếu tính tích cực trong học tập, lười suy nghĩ, tìm tòi .... Nghĩ mà thấy lo lắng, không biết với tinh thần học tập như thế, liệu chúng sẽ đảm trách công việc ra sao khi ra trường”

109

Giảng viên Nguyễn T P bộc bạch: “...bây giờ lên lớp chán quá, cứ nghĩ tới sinh

viên là không có hứng thú lên lớp...”

Điều đó cho thấy, sức lan tỏa, ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên có xu hướng đi xuống, qua những chia sẻ của giảng viên. Qua quan sát nhiều giờ học, chúng tôi cũng nhận thấy, ở các giờ chúng tôi quan sát, sự hứng thú và tích cực của sinh viên trong các giờ học giảm. Có hiện tượng thầy trên bục cứ giảng, trò dưới lớp người ngủ, người lướt web hay lơ đãng lắng nghe, nhất là những lớp có sĩ số lớp đông thì hiện tượng trên rất phổ biến. Giờ học thiếu hẳn sự tương tác với nhau và một số giờ nếu có cũng rất ít và chưa tạo được sự hào hứng, sôi nổi hết mình ở cả thầy và trò, mà như chúng ta đã biết, sự nhiệt huyết trên lớp của giảng viên một phần là do được “cộng hưởng” từ sự tích cực ở trò.

Về phía sinh viên, bài viết của sinh viên Tạ Th N: “em đã học qua khá nhiều giảng viên, em tôn trọng tất cả các giảng viên, tuy nhiên em chưa “ấn tượng” với giảng viên nào cả. Lên lớp hầu hết là thuyết trình, làm theo những yêu cầu của giảng viên, ngoài ra không có gì khác cả”

Khi được hỏi: “nếu gặp chuyện khó khăn cấp bách cần giải quyết, em sẽ gặp ai nhờ tư vấn, giúp đỡ ? Giảng viên có phải là người em nghĩ tới đầu tiên, khi cần tư vấn điều gì đó quan trọng?” một kết quả khá bất ngờ là, giảng viên đều không phải là người mà sinh viên sẽ nghĩ tới đầu tiên hay là người các em sẽ chọn, khi gặp chuyện khó khăn cần giúp đỡ, tư vấn (như đã đề cập ở các biểu hiện trên). Sinh viên Nguyễn T N A (sinh viên năm 3) chia sẻ và bộc bạch: “...cuộc sống xa nhà, nhiều áp lực. Có quá nhiều khó khăn trong học tập, cuộc sống, chúng em rất cần được chia sẻ và cần người chia sẻ, nhưng nếu nói rằng giảng viên có phải là người đầu tiên em nghĩ tới khi cần chia sẻ không thì em có thể trả lời là không.... Còn cô hỏi vì sao thì em rất khó giải thích, nhưng có lẽ là chưa đủ sự gần gũi, tin tưởng để có thể chia sẻ....Với em, chỉ gặp giảng viên đã ngại, nói gì đến chia sẻ”.

Sinh viên Nguyễn T D T “Thầy cô tạo cảm giác quá nghiêm nghị, khó gần làm

sinh viên không thấy thoải mái, gần gũi để có thể trò chuyện, trao đổi”

Và như kết quả đã phản ánh (bảng 4.8 sự phối hợp tương tác) ở trên về mối quan hệ lỏng lẻo trong phối hợp lẫn nhau qua kĩ năng thiết lập mối quan hệ ở giảng viên và sinh viên, thì ở kết quả bảng 4.9 một lần nữa khẳng định thực trạng tương tác tâm lý trên lớp ở giảng viên và sinh viên ở trường đại học qua biểu hiện ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác. Tại hội thảo quốc tế về “tâm lý học đường” lần VI diễn ra tại Hà Nội cuối 2014, nhiều ý kiến tham luận tại hội thảo nhận định về nhu cầu được chia sẻ của học sinh, sinh viên và vai trò của thầy/cô về vấn đề này cũng đã cho thấy học sinh,

110

sinh viên trong học tập rất cần được chia sẻ và có nhu cầu chia sẻ khá cao, nhưng người mà các em chọn để chia sẻ đa số lại không phải là giáo viên hay giảng viên. Cụ thể: “Kết quả khảo sát do Bộ GD và ĐT thực hiện tại một số trường ĐH, THPT, THCS ở Hà Nội và Hải Dương được công bố mới đây cho thấy, có đến 93,57% SV, HS khi được hỏi cho biết gặp phải những vướng mắc, khó khăn trong học tập và đời sống thường ngày rất cần được chia sẻ.... Phần lớn các em khi có khó khăn đều tìm đến bạn bè hoặc các diễn đàn xã hội trên mạng để chia sẻ”

Theo lý luận đã đề cập ở trên, chúng ta đã biết, hiệu quả dạy học sẽ được nâng

cao và đảm bảo nếu trong mối quan hệ thầy – trò ở trường đại học, người thầy có mức ảnh hưởng cao đến trò và ngược lại. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, mức độ ảnh

hưởng của giảng viên đến sinh viên và ngược lại chưa cao. Điều đó, chắc chắn sẽ ảnh

hưởng đến hiệu quả tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.Khi người

thầy có mức ảnh hưởng không cao, sẽ khó có thể kích thích sự mong muốn, khao khát

tương tác ở trò và nếu có ban đầu thì mong muốn ấy cũng nhanh chóng bị dập

tắt.Trong dạy học, trò không tương tác với thầy, cả hai sẽ khó thiết lập được mối quan

hệ trên cơ sở thông hiểu.Hậu quả dẫn đến nhiệm vụ, yêu cầu học tập khó được thực thi

một cách hiệu quả. Trường ĐHSG là một trường đào tạo đa ngành, trong đó thế mạnh

là đào tạo những nhà giáo thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng cao cả là trồng người mà xã

hội (chung) và thành phố HCM (riêng) đã giao phó. ĐHCN TP.HCM, ngôi trường đào

tạo ra nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, và ĐHNH có nhiệm vụ đào tạo ra những chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, tài

chính, ngân hàng nước nhà, sẽ ra sao khi mức lan tỏa của người thầy trong những ngôi

trường này còn hạn chế. Đây sẽ là một nhiệm vụ lớn đặt ra cho 3 trường nói riêng và

các trường đại học nói chung, trong chiến lược phát triển đại học mà Bộ GD – ĐT đã

đặt ra cho các trường đại học Việt Nam nhanh chóng sánh bằng, ngang hàng các

trường đại học danh tiếng trên thế giới trong tương lai không xa.

Mức ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên ở mức trung bình và đặc biệt ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên cũng chỉ ở mức trung bình, kết quả chưa cao như sự kì vọng của chúng tôi, là một thực tế đáng buồn. Từ ngàn xưa, trong tương tác người – người, người xưa đã rất coi trọng sự tin cậy, tin tưởng lẫn nhau. Tạo được sự tin cậy là tạo được chữ “Tín”. “Tín” được xem là “Vàng”. “Sự tin” là sống còn của một doanh nghiệp trên thương trường (ngày nay). “Lòng tin” quyết định vận mệnh của một quốc gia. Những người Thầy, Nhà trường được xã hội giao trọng trách đào tạo, giáo dục nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội không thể để thiếu đi niềm tin đó, hay chỉ có niềm tin thấp từ trò. Thế nhưng, tiêu chí này lại có kết quả chưa cao, phản ánh

111

một thực trạng, sinh viên ở trường đại học có dấu hiệu thiếu tin tưởng ở giảng viên. Nguyên nhân do đâu, cần phải có thêm những nghiên cứu sâu hơn để giúp làm sáng tỏ. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi có thể lý giải vấn đề này căn cứ trên phạm vi kết quả nghiên cứu đã phản ánh (Căn cứ trên kết quả phản ánh thực trạng tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên qua các thành phần trên). Do vậy, chúng tôi cho rằng, sự ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên biểu hiện qua niềm tin chưa cao là do kết quả các biểu hiện tâm lý chi phối đến quá trình tương tác trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học còn nhiều hạn chế. Cụ thể: Thứ nhất: sự tương hợp tâm lý trong đó khả năng đồng cảm và sự hiểu biết của giảng viên về sinh viên còn hạn hẹp, Thứ 2: Khả năng phối hợp lẫn nhau còn hạn chế, bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Thứ 3: sự ảnh hưởng lẫn nhau trong đó sự cuốn hút, tin tưởng, tự hào chưa cao... sẽ khó có được kết quả tương tác thầy – trò trên lớp cao. Vì vậy, để tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp hiệu quả, phải chú ý các yếu tố tâm lý trong tương tác. Cụ thể: giảng viên phải tạo được ảnh hưởng tốt qua việc, một mặt không chỉ là một chuyên gia giỏi, mặt khác phải không ngừng nâng cao sự tương hợp tâm lý, trong đó lấy hiểu biết của bản thân về đối tượng mình dạy là vấn đề then chốt, thân thiện, gần gũi với sinh viên, đồng thời tăng khả năng đồng cảm; nâng cao khả năng phối hợp, hợp tác… sẽ cải thiện và nâng cao được mức độ tương tác trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên.

4.2.4.2. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên qua sự ảnh

hưởng lẫn nhau, theo năm học của sinh viên

Bảng 4.10. Mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên biểu

hiện qua sự ảnh hƣởng lẫn nhau, theo năm học của sinh viên

Điểm trung bình đánh giá

Năm 1 & 2 Năm 3 & 4

GV SV GV SV Biểu hiện sự ảnh hưởng lẫn nhau

3,06

0,59

3,15

0,81

3,23

0,76

3,55

0,81

1,21 0,95

3,31 3,02

1,06 1,13

3,15 3,00

1,24 1,12

3,47 3,25

0,91 0,95

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

3,11

0,75

3,14

0,70

3,19

1,01

3,35

0,71

sự kính

Học tập lẫn nhau giữa GV và sinh viên Hấp dẫn, lôi cuốn nhau 2,95 Tạo được sự tin cậy 2,95 Tạo được trọng, tự hào Có sự trưởng thành

3,09 3,04

0,77 0,45

3,16 3,15

0,86 0,76

3,04 3,30

0,82 0,47

Chung

0,62 3,32 0,54 3,22 Ghi chú: Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6; Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2; Mức 5: Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

112

- Nhận xét chung: Kết quả thu được trong bảng 4.10 cho thấy, có sự trênh lệch nhau về mặt điểm số

về sự ảnh hưởng giữa giảng viên cũng như sinh viên năm 1,2 và năm 3,4. Ảnh hưởng

của giảng viên đến sinh viên năm 1,2 và năm 3,4 đều cao hơn ảnh hưởng của sinh viên

đến giảng viên.

Sinh viên năm 3,4 đánh giá sự ảnh hưởng của giảng viên đến bản thân cao hơn

đánh giá của sinh viên năm 1,2. Điều đó có nghĩa, ở sinh viên năm 3,4 nhìn nhận sự

ảnh hưởng của giảng viên đến bản thân cao hơn sinh viên năm 1,2. Tuy nhiên, xét về

sự khác biệt mức độ, vẫn chưa có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng giữa giảng viên

cũng như giữa sinh viên khi so sánh các năm học với nhau. Mức độ ảnh hưởng của

giảng viên đến sinh viên và của sinh viên đến giảng viên chỉ đạt mức trung bình khi so

sánh ĐTB chung. Cụ thể: Giảng viên năm 1,2 là 3,04; năm 3,4 là 3,15. Sinh viên năm 1,2 là 3,22; năm 3,4 là 3,30.

Trong các tiêu chí đo mức độ ảnh hưởng thì biểu hiện Tạo ra sự tin cậy được

giảng viên đánh giá thấp nhất. Về phía sinh viên, đánh giá thấp nhất ở cả năm 1,2 là

Tạo sự tin cậy; Tạo được sự kính trọng, tự hào; Sự trưởng thành. Đặc biệt với sinh

viên năm 3,4, 4/5 tiêu chí biểu thị sự ảnh hưởng của giảng viên với sinh viên đều tăng

hơn so với năm 1,2. Tuy nhiên, tiêu chí sự trưởng thành ở sinh viên năm 3,4 được

đánh giá thấp hơn năm 1,2, phản chiếu sinh viên năm 3,4 có dấu hiệu “chựng lại” “sự

vỡ mộng” sau những năm dài học tập, theo chúng tôi ghi nhận được khi đi tìm hiểu

nguyên do. Nhiều sinh viên năm cuối, bộc lộ sự hoang mang trong tâm lý khi chuẩn bị

ra trường bắt đầu một trang mới của cuộc đời, làm việc và cống hiến sau những năm

học tập ở trường đại học. Sinh viên Vũ H A (năm 4) cho biết: “em thấy rất hoang mang cho tương lai phía trước, nhất là khi đi thực tập và sau thực tập tốt nghiệp. Sự

non yếu về tri thức chuyên môn, cảm giác trênh vênh về tâm lý, làm em thấy hoang

mang mà không biết phải chia sẻ cùng ai”.

Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác của giảng viên và sinh viên ở trường đại học cho thấy, mức độ ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên ở các trường nghiên cứu được sinh viên đánh giá, đều cao hơn mức ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên. Điều này chứng tỏ, ở các trường đại học, người thầy tương đối

có một vị trí, sức ảnh hưởng nhất định đến sinh viên. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng từ giảng viên đến sinh viên chưa cao (theo kết quả đánh giá) như chúng tôi mong đợi, chỉ ở

mức trung bình. Và ngược lại, sự ảnh hưởng của sinh viên đến giảng viên cũng vậy,

113

chưa thể hiện được sự lan tỏa của sức trẻ, của những người có “sự trưởng thành” đến giảng viên, những người đang mong mỏi sự trưởng thành ở sinh viên.

4.2.5. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

qua tần số tương tác của giảng viên và sinh viên

4.2.5.1. Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

qua tần số tương tác của giảng viên và sinh viên, xét chung

Bảng 4.11. Biểu hiện tần số tƣơng tác trên lớp học của giảng viên và sinh viên

Điểm trung bình đánh giá Khác biệt 2 trung Giảng viên Sinh viên Biểu hiện tần số tương tác bình KTC 5 ) ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

3,02 1,19 2,90 1,01 0,12 (-0,15 – 0,39) Trên lớp GV và SV hầu như không trao đổi, trò chuyện

Trên lớp GV và SV thỉnh 3,18 1,17 2,90 1,03 0,28 (0,01 – 0,56) thoảng trao đổi, trò chuyện

Trên lớp GV và SV thường 3,03 1,23 2,87 1,01 0,16 (-0,11 – 0,43) xuyên trao đổi, trò chuyện

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

Chung 3,08 0,94 2,89 0,96 0,19 (-0,06 – 0,44)

Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên đánh giá qua tần số:

 Tần số tương tác của giảng viên Để đánh giá mức độ tần số tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

ở trường đại học, chúng tôi dựa trên các biểu hiện với các chỉ báo “hầu như không,

thỉnh thoảng và thường xuyên”

Kết quả bảng 4.11 cho thấy tần số tương tác trên lớp ở giảng viên với sinh viên ở

mức trung bình với chỉ số ĐTB chung GV=3,08; SV=2,89. Xem xét ĐTB từng tiêu chí trong bảng, kết quả cũng cho thấy, trong các tiêu chí, tiêu chí “hầu như không” được xếp sau cùng trong đánh giá là một thông số đáng mừng. Tuy nhiên chỉ số “thường xuyên” cũng chỉ xếp thứ hai trong tiểu thang đo và chỉ số “thỉnh thoảng” xếp thứ 1. Điều đó chứng tỏ, trong quá trình lên lớp giảng viên ở các trường đại học có chú ý và tiến hành tương tác tâm lý với sinh viên nhưng mức độ tần số tương tác chỉ ở mức

trung bình, chưa cao.

Theo lý thuyết phân tích, tần số tương tác tâm lý cao là dấu hiệu tốt để nhận biết

thực trạng và hiệu quả mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh

114

viên.Đó là cơ sở cho biết giảng viên và sinh viên tiến hành quá trình tác động, trao đổi với nhau về các nội dung học tập và các nội dung liên quan trong hoạt động giáo

dục.Đồng thời là điều kiện đảm bảo giảng viên và sinh viên các cơ hội thỏa mãn nhu

cầu, hiểu nhau, tìm thấy sự đồng cảm. Trong tương tác tâm lý trên lớp học, khi tần số

tương tác càng dày, càng chứng tỏ giữa giảng viên và sinh viên trên lớp đã đạt được sự tương hợp trong tâm lý, đạt được sự phối hợp nhau tốt cũng như có sự ảnh hưởng đến

nhau cao. Bởi lẽ, thực tế tương tác trên lớp học đã cho thấy, sinh viên có nhu cầu

tương tác nhưng nhu cầu tương tác sẽ không thể thành hành động (tần số tương tác)

cao khi sinh viên không tìm thấy ở giảng viênsự gần gũi, thân thiện, sự đồng điệu về

tâm hồn, sự hiểu biết, cảm thông, sẻ chia, đồng cảm…ở giảng viên. Và ngược lại, khi

giảng viên lên lớp cảm nhận được sự tích cực, nhiệt tình, sự thân thiện, gần gũi, tính

cầu thị ở sinh viên… sẽ là nguồn nội lực giúp giảng viên tương tác với sinh viên với tần xuất cao, quên mệt mỏi.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phản ánh mức độ tần số tương tác tâm lý trên lớp

còn hạn chế. Đây là một điều khá băn khoăn với chúng tôi, bởi lý do: tương tác tâm lý

trên lớp học là quá trình tương tác đặc biệt, vì nó là quá trình thực hiện nhiều vai trò xã

hội cùng lúc. Tương tác tâm lý trên lớp học không chỉ đơn thuần thực hiện nghĩa vụ và

trách nhiệm của một công việc thuần túy: dạy nghề, mà còn mang một sứ mệnh cao

hơn mà xã hội đã đặt ra cho những người làm thầy: dạy người. Nó cũng đặc biệt ở

chỗ, trên lớp học dù ông thầy có muốn hay không vẫn phải thực hiện sự tương tác mà

phải hiệu quả.Như vậy, đáng lẽ ra tần xuất phải cao mới phải lẽ. Đi tìm lời giải cho

thắc mắc trên, chia sẻ của hầu hết sinh viên mà chúng tôi thực hiện bằng phương pháp

bút đàm về tần số tương tác trên lớp đã phản ánh: “...tần số tương tác trên lớp của giảng viên và sinh viên rất ít”; “tần số tương tác giữa giảng viên và sinh viên phải nói

là cực ít”…. Bằng phương pháp phỏng vấn, sinh viên Võ T Tr :“ Có giảng viên em

học, lên lớp chỉ ngồi một chỗ giảng bài và không tương tác với sinh viên, hết giờ về

liền. Cảm giác giảng viên chỉ dạy cho xong nhiệm vụ, học trò ở dưới có nói chuyện hay làm việc riêng, giảng viên vẫn xem như là không có gì”….

Một câu hỏi nữa đặt ra cho chúng tôi là, phải chăng có một mối quan hệ chặt giữa các thành tố đã khảo sát. Bắt đầu từ nhu cầu, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp

lẫn nhau, sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác như kết quả (bảng 4.11) đã phản ảnh và đến tần số. Kết quả các tiêu chí đo được đều chỉ dao động trong mức trung bình.

Cho chúng tôi một luận giải mang tính liên hệ, thì ra, mặc dù tính đặc thù của sự tương

tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học cơ bản liên quan đến trách nhiệm và

115

nghĩa vụ (nghĩa là có khi thầy không muốn vẫn phải làm (dạy học), trò không thích vẫn phải thực hiện (học tập), nhưng nếu sinh viên nhu cầu không cao, thiếu hứng thú,

tích cực trong tương tác tâm lý trên lớp học cũng sẽ ảnh hưởng tới tần số tương tác của

thầy và trò trên lớp. Nếu giữa giảng viên và sinh viên trên lớp không có sự tương hợp

tâm lý, phối hợp nhau kém, sự ảnh hưởng nhau thấp, cộng thêm với đặc trưng đào tạo theo tín chỉ, giảng viên và sinh viên chỉ còn 1/3 thời lượng tiếp xúc mặt đối mặt trên

lớp, vì vậy chỉ đủ thời gian giảng viên truyền đạt kiến thức hay giao việc như nhiều

giảng viên bộc bạch. Thêm nữa, lớp học theo tín chỉ thường có số lượng sinh viên

đông, nếu sinh viên không tích cực, chủ động tương tác với giảng viên sẽ khó có được

tần số tương tác như mong muốn.

Qua trò chuyện, giảng viên Nguyễn T. H. H chia sẻ: “sinh viên quá lười tương

tác với thầy/cô, khi thầy/cô hỏi ít tự giác trả lời. Sinh viên học đại học mà như học trò cấp 4, phải yêu cầu đích danh trả lời.Nhiều khi gọi lên không biết gì để nói, còn khi

thầy/cô nói thì không chú ý nghe làm thầy cô cũng nản”.Giảng viên Nguyễn T. N. Tr

cho hay: “...sinh viên hiện nay lắng nghe kém, thiếu sự chú ý trong giờ học”. Cô còn

nói thêm “sinh viên cũng rất lười tương tác với giảng viên trên lớp, biểu hiện ở sự

lười đọc tài liệu. Lên lớp, mặc dù đã giao nội dung cụ thể cho giờ học sau nhưng khi

lên lớp được giảng viên hỏi, sinh viên vẫn ít có sự trao đổi với giảng viên, khi được

giảng viên chỉ định, nhiều sinh viên đứng lên trả lời em không biết một cách tỉnh bơ,

không ngại ngần, xấu hổ như thời chúng tôi đi học...”

Chính điều đó đã phần nào làm giảm sự tương tác, lòng nhiệt huyết của một bộ

phận giảng viên hiện nay vốn đã có phần thiếu nhiệt huyết và vì vậy càng thiếu hơn

trong tương tác với sinh viên. Như lời của sinh viên Huỳnh T. T (ĐHNH) chia sẻ “...một số thầy cô thấy nhiều bạn lười học, rất giận, đã không thèm dạy nữa mà cho

chúng em tự đọc tài liệu. Riết rồi, làm ảnh hưởng lây tới những người tích cực”.

 Tần số tương tác của sinh viên Kết quả nghiên cứu biểu hiện tần số tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên theo đánh giá của sinh viên cho thấy, tần số tương tác của sinh viên chỉ ở mức trung bình với ĐTB chung là 2,89.

Xem xét chỉ số biểu hiện “thường xuyên” trong tiểu thang đo cũng cho thấy, mức độ tần số tương tác chưa được sinh viên đánh giá cao với ĐTB 2,87 được xếp thứ 3/3 trong tiểu thang đo, cũng là ngưỡng thấp của mức trung bình (Trung bình: 2,60 ≤ ĐTB

< 3,40). Kết quả đó phản ảnh thực trạng tương tác tâm lý trên lớp của sinh viên với giảng viên ở trường đại học chưa cao biểu hiện qua tần số tương tác.Cho thấy, cần

116

phải tạo điều kiện giúp sinh viên nâng cao khả năng và tần số tương tác với giảng viên nếu muốn nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

Tóm lại, tần số không phải là một biểu hiện mang nghĩa là một thành tố tâm lý

tham gia trong quá trình tương tác, tần số tương tác đúng hơn là một thông số biểu

hiện mà căn cứ vào mức độ tần số tương tác giúp chúng ta thêm cứ liệu xác định hiệu quả và thêm cứ liệu đánh giá thực trạng tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên

và sinh viên ở trường đại học. Với kết quả phản ảnh trên cho thấy, thực trạng tương tác

tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở các trường đại học được khảo sát

qua kết quả các thành phần trong cấu trúc tương tác tâm lý và qua tần số chỉ ở mức

trung bình là phù hợp. Kết quả đó đồng thời phản ánh mối quan hệ nhất định giữa tần

số tương tác với các thành phần tâm lý trong cấu trúc. Kết quả đó một lần nữa khẳng

định, muốn cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học, nhất thiết phải chú ý tác động và nâng cao các thành

phần tâm lý trong cấu trúc tương tác.

4.2.5.2. Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên qua tần số

tương tác trên lớp của giảng viên và sinh viên, theo năm học của sinh viên

Bảng 4.12. Biểu hiện tần số tƣơng tác trên lớp học của giảng viên và sinh

viên, theo năm học của sinh viên

Điểm trung bình đánh gía

Năm 1 & 2 Năm 3 & 4 Biểu hiện tần số

GV SV GV SV tương tác

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

2,94

1,04

2,62

1,03

Trên lớp GV và SV

3,02

0.89

2,89

1,03

hầu như không trao

2,99

1,14

3,15

1,00

3,43

0,76

3,3

0,85

đổi, trò chuyện

2,52

1,20

2,53

1,00

3,34

0,96

2,91

1,02

Trên lớp GV và SV thỉnh thoảng trao đổi, trò chuyện

Trên lớp GV và SV thường xuyên trao đổi, trò chuyện

2,85

1,07

2,85

0,95

3,21

0,84

2,92

0,96

Ghi chú: Mức 1: Rất thấp: 1,0 ≤ ĐTB < 1,8; Mức 2: Thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6; Mức 3: Trung bình: 2,6 ≤ ĐTB < 3,4; Mức 4: Cao: 3,4 ≤ ĐTB <4,2;Mức 5: Rất cao: 4,2 ≤ ĐTB < 5

Chung

117

Qua kết quả thống kê ở bảng 4.12, dễ dàng nhận thấy với cả giảng viên và sinh viên năm 3,4 đều có sự tăng lên ở tần số tương tác biểu hiện qua tiêu chí “trên lớp

giảng viên và sinh viên hầu như không trao đổi, trò chuyện” giảm đi so với năm 1,2

với ĐTB năm 1,2 GV =2,85; SV =2,85. Ngược lại, tiêu chí “Trên lớp GV và SV

thường xuyên trao đổi, trò chuyện” có biểu hiện tăng lên ở năm 3,4 với ĐTB GV =3,21; ĐTB SV=2,92.

Điều đó chứng tỏ, tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên các

trường đại học tăng lên theo năm đào tạo, càng những năm cuối giảng viên và sinh

viên có biểu hiện tương tác cùng nhau nhiều hơn biểu hiện qua tần số tương tác. Tuy

nhiên xem xét ĐTB, chúng ta cũng nhận thấy mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa

giảng viên và sinh viên biểu hiện qua tần số chỉ có sự thay đổi tăng lên về mặt điểm số

mà chưa có sự khác biệt, tăng lên có ý nghĩa về mức độ. So sánh kết quả do sinh viên đánh giá và giảng viên đánh giá, ĐTB có sự trênh lệch không lớn (ĐTB giảng viên =

2,85; 3,21; Sinh viên =2,85; 2,92). Kết quả này là phù hợp với thực tế quan sát tần số

tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên. Làm rõ vấn đề này, qua trò

chuyện, trao đổi với sinh viên cũng như qua các bài cảm nhận của sinh viên, đều phản

ánh thực trạng đó.Sinh viên Ngô M. P (ĐHNH) viết trong bài cảm nghĩ của bản thân

về tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp: “em cảm thấy trong lớp không khí

rất khó gần nhau, ai lo việc đó, giảng viên cứ giảng, sinh viên cứ làm việc riêng....

Phải gọi là mức độ tương tác cực ít”. Cũng như sự nhìn nhận của sinh viên, giảng viên

Trần V. C đã phản ảnh:“sinh viên thụ động, ít phát biểu”.

Kết luận: Với các kết quả đã phân tích qua các biểu hiện thành phần trên cho

chúng tôi rút ra nhận xét:

Thứ nhất: Có sự tương đương về mức độ giữa các biểu hiện thành phần tâm lý

tham gia tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Điều này chứng tỏ các thành phần

tâm lý có mối quan hệ với nhau.

Thứ hai: Kết quả mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học được phản ánh qua các biểu hiện thành phần tâm lý như: nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, sự ảnh hưởng lẫn nhau, tần số tương tác trong tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học còn

bộc lộ nhiều hạn chế.

Vì vậy, việc tạo điều kiện giúp giảng viên và sinh viên các trường đại học nâng

cao tần suất tương tác tâm lý trên lớp học trong thực tế đồng nghĩa với việc tăng cơ hội

giúp giảng viên, sinh viên tương hợp tâm lý, tăng sự đồng cảm, ảnh hưởng đến nhau

118

dẫn đến tăng nhu cầu tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở các trường đại học.

4.2.6. Mối tương quan giữa các biểu hiện thành phần tâm lý trong tương tác giữa

giảng viên và sinh viên

Với giả thuyết cho rằng, từng thành phần trong cấu trúc tương tác tâm lý có ảnh hưởng nhất định đến nhau, chúng tôi tiến hành tìm hiểu mối tương quan giữa các thành

phần bằng việc phân tích tương quan Pearson giữa từng cặp biến số.

Biểu đồ 4.2. Mối tƣơng quan giữa các thành phần tâm lí trong tƣơng tác

giữa giảng viên với sinh viên

Qua kết quả phản ánh trong biểu đồ, chúng tôi nhận thấy có sự tương quan thuận

trong các biểu hiện thành phần tâm lý tham gia tương tác. Các chỉ số tương quan này cho thấy các biểu hiện thành phần tâm lý này có mối tương quan lẫn nhau, kết quả của biểu hiện này sẽ tác động, ảnh hưởng tới kết quả của biểu hiện kia trong quá trình tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên - sinh viên và ngược lại.

Trong các mối tương quan trên, nổi lên là mối tương quan giữa sự tương hợp tâm

lý và nhu cầu tương tác, cũng như sự phối hợp và ảnh hưởng lẫn nhau có mối tương

119

quan thuận ở mức cao (đồng hạng 1) với r = 0,64. Điều đó cho thấy, khi giảng viên và sinh viên có sự tương hợp tâm lý cao sẽ kéo theo nhu cầu tương tác tăng lên trong

tương tác và khi khả năng phối hợp cao sẽ tăng sự ảnh hưởng đến nhau. Mối tương

quan thuận cao thứ 2 là sự tương hợp tâm lý và sự phối hợp lẫn nhau với r=0,59. Kết

quả này là phù hợp, theo lý thuyết của nhà tâm lý học nhân văn C.Rogers trong tương tác, khi con người ta đạt được “mối tương giao” sẽ dẫn đến “mặt nạ” con người sử

dụng trong giao tế ban đầu với nhau rơi xuống, con người sẽ vuợt qua được chính

mình (động lực) dẫn đến dễ dàng đạt được sự phối hợp với nhau ăn ý. Nhờ tương hợp

tâm lý trong đó lấy đồng cảm làm cốt, sẽ giúp con người ta tương tác, phối hợp nhau

với nhau tốt hơn, mà theo C.Rogers, trong mối tương giao thuận lợi, con người sẽ tự tổ

chức ở mức ý thức và vô thức theo một phương cách để đương đầu với đời sống một

cách xây dựng và thông minh hơn. Đó chính là động lực chính yếu của đời sống [170]. Ngoài ra, nhu cầu tương tác còn tương quan với các yếu tố như sự phối hợp và

ảnh hưởng, tương hợp và ảnh hưởng.Trong các biểu hiện, tần số có mối tương quan

thấp hơn cả, nhưng cũng phản ánh mối tương quan nhưng không chặt lắm. Cụ thể: tần

số với nhu cầu tương tác (r =0.25); tần số với tương hợp tâm lý (r =0.18); tần số với

ảnh hưởng (r = 0.15); tần số với sự phối hợp (r = 0.15).

Cũng qua kết quả phân tích cho thấy, tương tác tâm lý liên quan đến các biểu

hiện thành phần tâm lý: tương hợp, phối hợp, nhu cầu, ảnh hưởng, tần số khá cao lần

lượt là: r = 0.74; r = 0.81; r = 0.69; r = 0.79; r = 0.44. Trong các biểu hiện thành phần

liên quan đến tương tác tâm lý, biểu hiện tần số có mối tương quan thấp hơn cả, tuy

nhiên cũng phản ánh mối tương quan thuận.Các biểu hiện khác phản ánh mối tương

quan khá chặt.Điều đó cho thấy, tương tác tâm lý có mối quan hệ chặt chẽ với các biểu hiện thành phần tâm lý trên và thống nhất ở các biểu hiện đó.Vì vậy, các biểu hiện

thành phần tâm lý này là cơ sở để đánh giá mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa

giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Một lần nữa, qua thực trạng phân tích hồi quy tương quan đa biến cho các biểu hiện: tương hợp tâm lý, sự phối hợp, nhu cầu, ảnh hưởng, tần số đã làm sáng tỏ về mặt lý luận mà luận án đã xây dựng. Nghĩa là, tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên có mối liên quan thuận với các biểu hiện tương hợp tâm lý, sự phối hợp, nhu

cầu, ảnh hưởng, tần số và thống nhất ở các biểu hiện ấy với nhau.

* Tầm quan trọng của từng biểu hiện thành phần tham gia tương tác với tương

tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

Để làm rõ từng ảnh hưởng của từng biểu hiện thành phần tâm lý trong tương tác

120

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên, chúng tôi sử dụng hồi quy thứ hạng nhằm đánh giá tầm quan trọng của từng biểu hiện trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên

và sinh viên.

Bảng 4.13. Tầm quan trọng của từng biểu hiện thành phần tham gia tƣơng tác

Các biểu hiện thành phần tham gia Tầm quan trọng của Thứ hạng

tương tác từng biểu hiện

Sự tương hợp tâm lý 0,279 1

Sự ảnh hưởng lẫn nhau 0,234 2

Sự phối hợp lẫn nhau 0,229 3

Nhu cầu tương tác 0,159 4

Tần số tương tác 0,079 5

Biểu đồ 4.3.Tầm quan trọng của từng biểu hiện tần số, nhu cầu, ảnh hƣởng, tƣơng hợp, phối hợp trong tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên Với mong muốn làm sáng tỏ, xác định từng mặt biểu hiện của tần số, nhu cầu,

ảnh hưởng, tương hợp, phối hợp đóng góp bao nhiêu trong mối quan hệ. Vì vậy, chúng

tôi đánh giá các biểu hiện mà chúng tôi đã nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ, xác định

từng mặt biểu hiện này đóng góp trong mối quan hệ.

Kết quả chỉ số trên cho thấy, biểu hiện tần số giải thích được 7,9%, nhu cầu giải thích được 15%, phối hợp tâm lý 22%, ảnh hưởng giải thích được 23%, và tương hợp giải thích được tầm quan trọng cao nhất với 27%. Tổng tầm quan trọng của các biểu hiện giải thích được 98, 31 %.Như vậy, các biểu hiện nhu cầu, tầnsố,tương hợp, phối hợp, ảnh hưởng trong nghiên cứu này của chúng tôi đã giải thích được 98,31% các mặt

biểu hiện của tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Kết quả phân tích tương quan các biểu hiện tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên cho thấy có sự cộng hưởng và tương tác lẫn nhau giữa các biểu hiện

121

với nhau. Sự xuất hiện hay giảm đi các biểu hiện thành phần này sẽ kéo theo hay giảm đi các biểu hiện ở mặt kia.

Tiến hành phân tích sâu hơn cho thấy, trong các biểu hiện thuộc thành phần tâm

lý tham gia tương tác, 3/5 biểu hiện gồm: Sự phối hợp, tương hợp, ảnh hưởng trong

tương tác tâm lý chiếm >70% các biểu hiện. Điều đó cho thấy, trong tương tác tâm lý, muốn nâng cao mức độ tương tác tâm lý cần phải chú trọng tới các yếu tố thuộc chính

các thành phần tâm lý tham gia tương tác.

4.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng mức độ tƣơng tác tâm lý trên lớp học của giảng viên

và sinh viên

Quá trình tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học

chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả về bên ngoài và bên trong khác nhau. Trong luận

án này, chúng tôi quy các yếu tố ảnh hưởng thành 2 nhóm: (1) Các yếu tố tâm lý người giảng viên, sinh viên;(2) Các yếu tố bên ngoài chủ thể và khảo sát mức độ các yếu tố

ảnh hưởng thông qua sự đánh giá của giảng viên và sinh viên. Ngoài ra, tương tác tâm

lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên còn chịu ảnh hưởng của chính các yếu tố nảy sinh trong quá trình tương tác.

4.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về tâm lý giảng viên và sinh viên

Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí cá nhân được thể hiện trong

bảng 4.14; 4.15.

Bảng 4.14. Các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên và sinh viên

Điểm trung bình đánh gía mức độ tác động

STT Các yếu tố tác động Chung

Giảng viên Sinh viên ĐTB T.bậc ĐTB T.bậc ĐTB T.bậc

1 Hiểu biết của GV – SV về 3,77 2 3,46 1 3,61 1 tương tác trên lớp học

2 3,33 3 3,27 3 3,30 3 Thái độ của GV - SV trong tương tác

3 Tính cách của GV - SV 3,30 4 3,24 4 3,27 4

4 Năng lực của GV – SV 3,82 1 3,35 2 3,58 2

5 Khí chất GV - SV 3,25 5 3,23 5 3,24 5

Chung ĐTB =3,4 ĐTB =3,31 ĐTB =3,40

Ghi chú: Điểm thấp nhất =1; Điểm cao nhất = 5. Điểm càng cao thể hiện mức độ ảnh hưởng càng lớn.

Tương quan thứ bậc R= 0,9

122

Có nhiều yếu tố thuộc về người giảng viên và sinh viên (bên trong) ảnh hưởng đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên ở trường đại học,

trong phạm vi luận án, chúng tôi chỉ xem xét 5 yếu tố: Hiểu biết của GV – SV về tương

tác trên lớp học; Thái độ của GV - SV trong tương tác; Tính cách của GV – SV; Năng

lực của GV – SV; Khí chất GV – SV.

Kết quả ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về bản thân giảng viên, sinh viên đến

mức độ tương tác tâm lý được đánh giá có ảnh hưởng cao khi ĐTB = 3,40 và thể hiện

ở cả 5 yếu tố có 3,24 ≤ ĐTB <3,61.

Kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 4.14 (xét chung) cho thấy: Mức độ

ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về người giảng viên và sinh viên có ảnh hưởng cao

(với ĐTB chung =3,40). Điều này có nghĩa là các yếu tố thuộc về bên trong người

giảng viên và sinh viên có ảnh hưởng nhiều đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Xem xét từng yếu tố cũng cho thấy, mức ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về

người giảng viên và sinh viên không đồng đều nhau xếp theo thứ bậc. Thứ bậc 1 là

Hiểu biết của GV – SV về tương tác trên lớp học với ĐTB =3,61; Thứ bậc 2 là Năng

lực của GV – SV với ĐTB =3,58; Thứ bậc 3 là Thái độ của GV - SV trong tương tác

với ĐTB =3,30; Thứ bậc 4 là Tính cách của GV – SV với ĐTB =3,27 và thứ bậc 5 là

Khí chất GV – SV với ĐTB =3,24.

Kết quả Hiểu biết của GV – SV về tương tác trên lớp học được đánh giá ảnh

hưởng nhiều nhất đến tương tác tâm lý trên lớp. Nguyên nhân là do, nhận thức rõ ràng,

đúng đắn là bước khởi đầu quan trọng của bất cứ hoạt động nào, có nhận thức đúng,

mới có thái độ đúng, hành vi tích cực. Đào tạo ở trường đại học lấy nguyên tắc tự học là cốt, vì vậy sự hiểu biết đúng về vai trò, sự cần thiết tương tác tâm lý trên lớp học là

điều vô cùng cần thiết. Đây sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng trong đề xuất các biện

pháp cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp cho giảng viên, sinh viên.

Năng lực của giảng viên, sinh viên được xếp thứ bậc 2. Nguyên nhân là do, cả giảng viên và sinh viên đều nhận định năng lực là điều kiện thiết yếu quyết định hiệu quả tương tác, vì vậy bên cạnh vấn đề nhận thức rõ ràng thì điều quan trọng là phải có năng lực. Năng lực được giảng viên và sinh viên đề cập trong tương tác tâm lý chính là

năng lực hiểu đối tượng tương tác cũng như cách thức sử dụng kĩ năng của người tương tác trong tương tác. Qua phỏng vấn chúng tôi đều nhận thấy, cả giảng viên và

sinh viên đều đề cập tới sự hiểu biết và sự phối hợp qua kĩ năng tương tác khá nhiều.

Cả giảng viên và sinh viên đều nhận định rằng: một khi hiểu biết chưa cao về tương

123

tác tâm lý trên lớp sẽ khó có ý thức, thái độ tương tác cao trên lớp. Bên cạnh đó, giảng viên cũng đề cập tới vấn đề phối hợp qua kĩ năng trong tương tác, đây là yếu tố mang

tính quyết định hiệu quả tương tác. Qua phỏng vấn giảng viên Nguyễn T. T. H cho

rằng: “Để tương tác tâm lý trên lớp hiệu quả, trước tiên phải xét yếu tố nhận thức cái

đã, cả giảng viên và sinh viên phải có hiểu biết rõ về điều này. Thứ đến là, anh phải có sự phối hợp qua cách thức, kĩ năng tương tác”.

Xem xét các yếu tố khác trong các yếu tố thuộc về giảng viên - sinh viên, yếu tố

Khí chất, Tính cách có mức ảnh hưởng thấp hơn. Theo quan niệm của giảng viên và

sinh viên thì hai yếu tố này trong tương tác tâm lý trên lớp học là những yếu tố mà mỗi

cá nhân có thể điều khiển và tự chủ được để ít làm ảnh hưởng nhiều đến quá trình

tương tác. Điều đó, chúng tôi thiết nghĩ là hoàn toàn phù hợp với lý luận giáo dục.

Theo lý thuyết tâm lý, khí chất và tính cách là hai thuộc tính trong cấu trúc nhân cách của mỗi cá nhân, chi phối mọi hoạt động của cá nhân. Tuy nhiên, nghề giáo là một

nghề đòi hỏi cao sự “mô phạm”, vì vậy những nét tính cách hay khí chất không phù

hợp sẽ phải hạn chế trong lớp học. Vì vậy, hai yếu tố này được đánh giá ảnh hưởng

thấp hơn là hoàn toàn phù hợp.

Phân tích sâu hơn tác động của hiểu biết của giảng viên và sinh viên về tương tác

tâm lý trên lớp cho thấy (bảng 4.15)

Bảng 4.15. Mức độ hiểu biết của giảng viên và sinh viên về tƣơng tác tâm lý

Giảng viên Sinh viên Giá trị Hiểu biết về tƣơng tác p ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Hiểu về tương tác, tương tác 3,05 0,84 2,36 0,75 < 0,01 ** tâm lý

Hiểu về vai trò, sự cần thiết 3,64 0,94 3,04 0,78 < 0,01 ** của tương tác tâm lý trên lớp

3,52 0,82 3,02 0,71 < 0,01 ** Thái độ của bản thân trong tương tác tâm lý trên lớp

Ghi chú: Khác biệt có ý nghĩa thống kê: * p < 0,05; **p < 0,01 KTC 95%= Khoảng tin cậy 95%

Chung 3,40 0,52 2,80 0,53 < 0,01 **

Tìm hiểu hiểu biết về tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên chúng tôi thu được kết quả ở bảng 4.15. Kết quả khảo sát trình bày trong bảng cho thấy giảng

viên hiểu biết về tương tác tâm lý ở mức trung bình với ĐTB = 3,05. Sinh viên hiểu về

tương tác ĐTB = 2,36 (mức thấp: 1,8 ≤ ĐTB < 2,6 ). Xem xét trên tỉ lệ %, số lượng

124

giảng viên lựa chọn tập trung ở mức 3,4. Sinh viên tỉ lệ lựa chọn tập trung ở mức 2,3, thậm chí mức 5 tiêu chí này không có sự lựa chọn. Điều đó chứng tỏ, ở nội dung hiểu

biết về tương tác cho thấy nhiều giảng viên và đặc biệt sinh viên còn tương đối xa lạ với

thuật ngữ này.

Xem xét nội dung Hiểu về vai trò, sự cần thiết của tương tác tâm lý trên lớp học và Thái độ của bản thân trong tương tác, kết quả được giảng viên đánh giá tương đối

cao với ĐTB lần lượt là 3,64 (hiểu về vai trò); 3,52 (Thái độ trong tương tác). Ở sinh

viên hai nội dung này sự nhận thức cũng có tăng lên ở biểu hiện hiểu về vai trò với

ĐTB là 3,04; Thái độ đối với tương tác là 3,02 (Khoảng trên của mức trung bình).

Kết quả đó cho phép chúng tôi kết luận, giảng viên có sự hiểu biết về tương tác

tâm lý (xét chung) cao hơn sinh viên và ở mức tương đối cao với ĐTB chung là 3,40.

Xem xét sâu từng tiêu chí đo trong thang cho thấy, nội dung Hiểu về tương tác có sự lựa chọn thấp hơn nhưng kết quả hai nội dung (hiểu về vai trò; thái độ) đã minh chứng:

giảng viên có sự hiểu biết tương đối rõ về tương tác tâm lý trên lớp học. Ngược lại với

giảng viên, sinh viên có sự hiểu biết về tương tác tâm lý qua các biểu hiện trong bảng

chưa cao, chỉ ở khoảng thấp của mức trung bình với ĐTB là 2,80 (2,6 ≤ ĐTB < 3,4).

Điều đó, phản ánh một thực tế là sinh viên có sự hiểu biết cũng như thái độ về tương

tác tâm lý trên lớp học còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên, qua trò chuyện, trao đổi, chúng tôi được biết

là do cả giảng viên, đặc biệt sinh viên chưa từng được nghe nói chuyện hay được bồi

dưỡng về vấn đề tương tác tâm lý trên lớp học ở trường đại học, cũng như môi trường

dạy học ở đại học khác biệt với môi trường học ở phổ thông, vì vậy, hiểu biết và ý

thức đúng về vấn đề này chưa cao ở sinh viên và ở cả giảng viên.

Tóm lại: Kết quả thống kê ở trên cho thấy đánh giá của giảng viên và sinh viên

về các yếu tố ảnh hưởng thuộc về giảng viên, sinh viên tương đối có sự đồng thuận (có

sự tương quan thứ bậc thuận giữa hai ý kiến về các yếu tố khá chặt chẽ với r=0,9).

Theo đó, tất cả các yếu tố được phân tích đều có ảnh hưởng đến mức độ tương tác giữa giảng viên và sinh viên với ĐTB >3.00 điểm. Kết quả đánh giá này sẽ là cơ sở cho chúng tôi trong việc lựa chọn các biện pháp tác động thực nghiệm nhằm cải thiện, nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học cho giảng viên và sinh viên ở trường

đại học.

4.3.2. Các yếu tố liên quan thuộc bên ngoài chủ thể

Các yếu tố thuộc về bên ngoài ảnh hưởng đến mức độ tương tác tâm lý của giảng

viên và sinh viên ở trường đại học trong nghiên cứu được xác định bao gồm: Đặc

125

trưng đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học; Tính chất môn học; Quy mô lớp học; Điều kiện, thời gian, môi trường tâm lí lớp học; Khác biệt về tuổi tác. Qua khảo sát chúng

tôi thu được kết quả biểu đạt ở bảng 4.16.

Bảng 4.16. Các yếu tố bên ngoài tác động đến tƣơng tác trên lớp của giảng

viên với sinh viên

Mức độ tác động đến tƣơng tác của GV và SV Giảng viên Sinh viên Chung STT Các yếu tố tác động

ĐTB T.bậc ĐTB T.bậc ĐTB T.bậc

3,18 3 3,05 4 3,11 3 1 Đặc trưng phương thức đào tạo theo tín chỉ

2 Tính chất môn học 3,20 2 3,19 1 3,19 1

3 Quy mô lớp học 3,26 1 3,11 2 3,18 2

4 Điều kiện, thời gian, môi 3,10 4 3,07 3 3,09 4 trường tâm lí lớp học

5 Khác biệt về tuổi tác 3,07 5 3,03 5 3,05 5

Chung ĐTB = 3,16 ĐTB = 3,0 ĐTB = 3,12

Ghi chú: Điểm thấp nhất =1; Điểm cao nhất = 5. Điểm càng cao thể hiện mức độ ảnh hưởng càng lớn. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về bên ngoài khá cao với ĐTB chung =

Tương quan thứ bậc R= 0,8

3,12. Điều này cho thấy, mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh

viên ở trường đại học chịu sự ảnh hưởng nhất định của các yếu tố này.

Kết quả cũng phản ánh, từng yếu tố trong bảng 4.16 không có yếu tố nào có ảnh

hưởng rất thấp, hay thấp, tất cả các yếu tố đều có ĐTB >3.00 cho thấy các yếu tố thuộc

bên ngoài đều có ảnh hưởng đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp học của giảng viên và sinh viên.

Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về bên ngoài đến mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên không đồng đều nhau. Trong các yếu tố thuộc về bên ngoài được cả giảng viên và sinh viên đánh giá có sự ảnh hưởng nhiều nhất là yếu tố Quy mô lớp học và Tính chất môn học với ĐTB chung là 3,18; 3,19 điểm. Tuy nhiên, với giảng viên đánh giá thứ bậc 1 là Quy mô lớp học thì sinh viên đánh giá thứ bậc 1 là Tính chất môn học. Điều đó cho thấy, giảng viên cho rằng lớp học với quy mô

đông sinh viên sẽ là một trở ngại trong tương tác tâm lý trên lớp học. Với sinh viên,

sinh viên nhận định tính chất môn học (thuần lý thuyết hay thực hành) sẽ ảnh hưởng

126

tới tương tác tâm lý trên lớp. Như vậy, cho thấy, sinh viên trong quá trình học tập nhận rõ được sự khác biệt trong tính chất môn học. Điều này cho giảng viên một lưu ý trong

dạy học trên lớp là cần tăng cường tính thực tiễn đối với môn học thuần lý thuyết cũng

như chọn lọc nội dung phong phú, đa dạng, phù hợp trong dạy học nhằm kích thích

sinh viên tích cực và hứng thú tương tác với giảng viên trên lớp học.

Yếu tố có mức ảnh hưởng thấp nhất được cả giảng viên và sinh viên đánh giá là

yếu tố Khác biệt về tuổi tác xếp thứ bậc 5. Nguyên nhân được biết, hầu hết sinh viên

đều không cho rằng vấn đề khác biệt về tuổi tác sẽ cản trở nhiều trong tương tác, thậm

chí có sinh viên còn nhận định với chúng tôi quan điểm: “Gừng càng già càng cay”;

“Thầy giáo già, cô đào trẻ”.

Các yếu tố bên ngoài cũng là những yếu tố có sự ảnh hưởng nhất định đến mức

độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài không đồng đều nhau và xếp theo thứ bậc, trong đó nhiều nhất là yếu

tố tính chất môn học và quy mô lớp học, thấp hơn là yếu tố khác biệt về tuổi tác.

Tóm lại: Các yếu tố tâm lý bên trong, yếu tố bên ngoài đều có ảnh hưởng đến mức

độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học. Trong đó các

yếu tố thuộc về giảng viên và sinh viên là những yếu tố có mức độ ảnh hưởng nhiều

nhất, đặc biệt yếu tố: Hiểu biết về tương tác tâm lý và năng lực tương tác được cả giảng

viên và sinh viên các trường đánh giá cao mức ảnh hưởng. Do vậy, muốn cải thiện và

nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và sinh viên ở trường đại học,

nhất thiết phải chú trọng tác động và nâng cao hai yếu tố này bên cạnh việc cải thiện và

nâng cao các yếu tố khác của cả bên trong và bên ngoài.

4.3.3. Đánh giá tầm quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường Đại học

Tương tác tâm lý trên lớp chịu sự chi phối, tác động cuả nhiều yếu tố, việc xem xét

tầm quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên,

sinh viên nhằm tìm hiểu yếu tố nào là yếu tố có sự đóng góp nhiều nhất và quan trọng nhất trong tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học. Do đó, chúng tôi tiến hành phân tích hồi qui đa biến cho đa nhân tố.

4.3.3.1. Tương quan giữa các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên, sinh viên

đếntương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

127

Bảng 4.17. Tƣơng quan giữa các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên, sinh viên đến tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

Các yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân giảng viên và Tầm quan trọng Thứ

sinh viên ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp của từng yếu tố hạng

giữa giảng viên và sinh viên ảnh hưởng

Khí chất của Giảng viên 0,005 9

Thái độ của GV đối với tương tác giữa GV với SV 0,024 4

Hiểu biết của GV về tương tác trên lớp học 0,009 7

Khí chất của sinh viên 0,006 8

Tính cách SV 0,024 4

Thái độ của sinh viên trong tương tác 0,028 3

Năng lực của sinh viên 0,050 2

Tính cách của GV 0,003 10

Hiểu biết của sinh viên về tương tác trên lớp học 0,064 1

Ghi chú: Hàm “lmg” được viết tắt trong phần mềm relaimpo thuộc R là Lindermann,Merenda, Gold

(một thước đo mới và tốt). Trong relaimpo có thể ước tính

cho từng biến số.

Năng lực của giảng viên 0,022 6

Method LMG

Biểu đồ 4.4. Tƣơng quan giữa các yếu tố thuộc về tâm lý giảng viên, sinh viên đến tƣơng tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến “lmg” mới, chúng tôi

có thể tính toán hệ số đóng góp tầm quan trọng của từng yếu tố đến tương tác tâm lý

trên lớp của sinh viên với giảng viên. Trong nhóm yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân (yếu

tố bên trong) giải thích được 23, 32% ảnh hưởng đến tương tác.

Xem xét sâu hơn ảnh hưởng của từng yếu tố trong nhóm các yếu tố thuộc tâm lý

128

cá nhân, kết quả hồi quy đa biến xếp hạng cho thấy các yếu tố có sự ảnh hưởng nhiều (xếp theo thứ hạng đều thuộc về yếu tố cá nhân sinh viên). Cụ thể: Xếp thứ hạng 1 là

yếu tố Hiểu biết của sinh viên về tương tác trên lớp học có thể giải thích được 6,4 %

(0,064). Thứ 2 là, Năng lực của sinh viên giải thích được5,0 % (0,050)và Thứ 3 là,

Thái độ của sinh viên trong tương tác tâm lý giải thích được 2,8% (0,028) mức tác động đến tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên…

Các yếu tố trong nhóm yếu tố này có ảnh hưởng đến tương tác tâm lý thấp hơn

đều thuộc về yếu tố của cá nhân giảng viên, ngoại trừ yếu tố Thái độ của GV đối với tương tác giữa GV với SV (xếp thứ hạng 4) giải thích được 0,024.

Điều đó chứng tỏ, trong tương tác tâm lý trên lớp học, để đảm bảo quá trình

tương tác tâm lý hiệu quả thì vai trò người sinh viên trong tương tác tâm lý trên lớp

giữ vai trò quyết định đến hiệu quả tương tác tâm lý.Điều này có nghĩa, trong tương

tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên, các yếu tố hiểu biết, thái độ và năng lực tương tác của người sinh viên là vô cùng quan trọng. Tương tác tâm lý trên lớp học

chỉ có thể được cải thiện và nâng cao khi bản thân người sinh viên có sự nhận thức rõ

ràng về sự cần thiết và có thái độ tích cực, chủ động tương tác với giảng viên. Vì vậy,

nếu tập trung nâng cao các yếu tố thuộc về cá nhân sinh viên như: Nâng cao hiểu biết,

thái độ về tương tác tâm lý trên lớp cho sinh viên, năng lực tương tác cho sinh viên sẽ

giúp nâng cao được mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

4.3.3.2 .Tương quan giữa các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tương tác tâm lý

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

Bảng 4.18. Tƣơng quan giữa các yếu tố bên ngoài ảnh hƣởng đến tƣơng tác

tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tương tác Tầm quan trọng của Thứ

tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên từng yếu tố ảnh hưởng hạng

0,046 3 Đặc trưng phương thức đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học

Tính chất môn học 0,081 1

Quy mô lớp học 0,016 4

Điều kiện, thời gian, môi trường tâm lí lớp học 0,056 2

Khác biệt về tuổi tác giữa GV với SV 0,001 5

Ghi chú: Hàm “lmg” được viết tắt trong phần mềm relaimpo thuộc R là

Lindermann,Merenda, Gold (một thước đo mới và tốt). Trong relaimpo có thể ước tính

cho từng biến số.

129

Method LMG

Biểu đồ 4.5. Tƣơng quan giữa các yếu tố bên ngoài đến tƣơng tác tâm lý trên lớp

giữa giảng viên và sinh viên

Kết quả hồi quy đa biến cho thấy, trong nhóm yếu tố thuộc về yếu tố bên ngoài

của chúng tôi giải thích được 20,14% ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp giữa

giảng viên và sinh viên. Phân tích sâu hơn kết quả hồi quy đa biến các yếu tố này cho

thấy, trong các yếu tố bên ngoài, yếu tố Tính chất môn học có ảnh hưởng cao nhất giải thích 8,1 % (0,081)mức độ tác động tới tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên. Tiếp đến là yếu tố Điều kiện, thời gian, môi trường tâm lí lớp học (xếp thứ hạng 2) giải thích được 5,6% (0,056); Đặc trưng phương thức đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học (thứ hạng 3) giải thích được 4,6% (0,046);Quy mô lớp học (thứ hạng

4) giải thích được 1,6% 0,016).

Điều đó cho thấy, đây là những yếu tố có sự ảnh hưởng đáng kể đến tương tác

tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.Vì vậy, để đảm bảo tương tác hiệu quả,

trong tương tác tâm lý trên lớp người giảng viên cần chú ý tới các yếu tố này nhằm

đảm bảo tương tác hiệu quả.

Phân tích theo cặp (1 giảng viên – 1 sinh viên) 4.4. Phân tích trƣờng hợp điển hình

4.4.1. Chân dung giảng viên có mức tương tác tâm lý tương đối thấp Vài nét về giảng viên có mức tương tác tâm lý tương đối thấp

* Giảng viên: T.B.H Sinh năm 1970 - Giới tính: Nữ

- Thâm niên công tác: 21 năm

- Khái quát quá trình công tác và giảng dạy: Giảng viên T. B. H là một giảng

viên đã có quá trình giảng dạy tương đối lâu dài (21 năm).

130

* Thực trạng tương tác tâm lý của cô T.B. H qua phiếu hỏi và qua quan sát, trò chuyện với cô cũng như các giảng viên đồng nghiệp, sinh viên cô dạy cho phép chúng

tôi phác họa chân dung cô như sau:

Đây là một giảng viên tương đối khép kín trong quan hệ với đồng nghiệp, cô

không nhiệt tình khi được chúng tôi trò chuyện với cô về gia đình, công việc giảng dạy, làm việc. Đặc biệt khi gợi chuyện về gia đình cô miễn cưỡng cho biết và không

có hứng thú khi chúng tôi hỏi han kĩ về gia đình ngoài mấy thông tin như cô đã có gia

đình; có 01 con trai; hiện gia đình nhỏ bé của cô vẫn ở với cha mẹ đẻ của cô nhưng

sinh hoạt riêng.

Khi chúng tôi hỏi chuyện về mối quan hệ giữa cô với sinh viên, mặc dù có chút

khó khăn nhưng chúng tôi cũng thu được một số thông tin nhất định. Theo cô cho biết,

mối quan hệ giữa cô và sinh viên cô dạy không có gì đặc biệt như một quy luật, “đến hẹn lại lên”, nghĩa là đến giờ cô lên dạy và hết giờ về nhà. Cô là một giảng viên có ưu

điểm là rất đúng giờ, cô hầu như ít đi trễ. Qua quan sát thực tế cũng phản ánh đúng

như vậy. Theo chúng tôi quan sát được, đúng giờ cô vào lớp. Thao tác đầu tiên của cô

khi vào lớp là bật máy tính cá nhân lên. Cô không phải là giảng viên có thái độ nghiêm

khắc với sinh viên. Qua sự tương tác của cô với sinh viên trên lớp cho thấy, ở cô sự

cần mẫn vì công việc hơn là vì sinh viên. Khi chúng tôi nói: Cô đúng giờ quá nhỉ! Cô

cho biết, “chẳng qua là vì nếu đi trễ, ngại người ta nói phiền phức”. Giờ lên lớp của

cô hầu như rất ít có sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Vì vậy, cô là một trong

những giảng viên được sinh viên đánh giá không cao về khả năng ảnh hưởng, cũng

như qua kết quả đánh giá thực trạng cho thấy, kết quả tương tác tâm lý qua các biểu

hiện ở mức tương đối thấp. Cụ thể:

- Tương tác tâm lý biểu hiện qua nhu cầu: Ở cô dường như chỉ tồn tại một khái

niệm đi dạy vì công việc, là nghĩa vụ, trách nhiệm. Cô cho biết không có nhu cầu

tương tác về mặt tâm lý với sinh viên vì “không cần thiết” (theo cô) và “mệt mỏi”.

- Tương tác tâm lý biểu hiện qua sự tương hợp tâm lý thầy - trò: Cô cũng không có quan niệm phải có sự tương hợp giữa giảng viên và sinh viên. Vì vậy, cô không hiểu nhiều về học trò các lớp cô dạy và hầu như cũng không nghĩ sự cần thiết phải hiểu về xúc cảm, tình cảm, trạng thái, tính cách, khí chất, năng lực, về hoàn cảnh…,

của sinh viên là điều cần thiết. Bởi lẽ, theo cô, là sinh viên đại học, đã học ở bậc này là có năng lực, là người lớn. Vì vậy, ở cô, ngoài lên lớp đảm bảo theo đúng nội dung

chương trình đã quy định thì sự gắn kết ở cô với sinh viên về cảm xúc, tình cảm qua sự

thân thiện, gần gũi, sẻ chia, cảm thông, đồng cảm là không cần thiết.

131

- Tương tác tâm lý biểu hiện qua sự phối hợp: Ở các giờ lên lớp của cô theo chúng tôi nhận thấy, rất ít có sự phối hợp. Đa số phản chiếu sự tương tác một chiều,

trong đó giảng viên tác động đến sinh viên là chủ yếu. Có nhiều hiện tượng sinh viên

thiếu tập trung, làm việc riêng trong giờ học nhưng cũng ít thấy cô nhắc nhở hay có

biện pháp lôi kéo, kích thích sinh viên tham gia vào bài học.

Về phía sinh viên khi được chúng tôi hỏi tại sao không tích cực tương tác với

giảng viên. Nhiều sinh viên cho biết, cách diễn đạt của cô rất khó hiểu, dài dòng gây

mệt mỏi. Cô cũng là người rất lạnh lùng trong mối quan hệ giữa giảng viên và sinh

viên nên tạo cảm giác khó gần, khiến sinh viên cảm thấy ngại ngần khi muốn hỏi cô.

*Các yếu tố ảnh hưởng

Khi chúng tôi hỏi cô những câu hỏi như: Cô có nghĩ là trên lớp học giảng viên

cần có sự tương tác về mặt tâm lý với sinh viên không? Theo cô, để có thể tương tác tâm lý trên lớp học cần điều kiện gì ở giảng viên? Câu trả lời chúng tôi thu được ở cô

là: “Theo tôi nghĩ là nếu làm được thì tốt, nhưng tôi thấy, còn cũng do tính người”. Cô

cho biết: “có người dễ dàng bộc lộ cảm xúc với sinh viên, nhanh chóng lấy được lòng

(tình cảm) của sinh viên, nhưng cũng có người khó, không thể bắt ai cũng phải tương

tác về mặt tâm lý với sinh viên được”. Ngập ngừng…, “nhưng tôi thấy nếu làm được

thì tốt”.

4.4.2. Chân dung sinh viên có mức tương tác tâm lý thấp Vài nét về sinh viên có mức tương tác tâm lý thấp

* Sinh viên: Nguyễn H. N. N (Nữ) - Sinh năm 1993. Tại vùng quê Hưng Yên (Bắc bộ). - Em thi vào khoa Giáo dục MN trường ĐHSG, và hiện là sinh viên năm hai với

ước mong trở thành cô giáo mầm non trong tương lai.

- Sinh viên N.N là một sinh viên có học lực trung bình. Theo em cho biết khi còn

*Thực trạng mức độ tương tác tâm lý trên lớp của Nguyễn H.N.N thông

qua phiếu hỏi.

là học sinh phổ thông sức học của em cũng chỉ ở mức trung bình.

- Tương tác tâm lý trên lớp biểu hiện qua nhu cầu của sinh viên Nguyễn H.N.N phản ánh qua phiếu hỏi ở mức thấp. Em có nhu cầu tương tác trên lớp học, nhưng nhu

cầu đó chưa được thể hiện trong thái độ và hành vi tương tác. Biểu hiện ở kết quả em có mong muốn nhưng hứng thú tương tác với giảng viên, tính tích cực và chủ động

thấp với ĐTB = 1,80.

132

- Tương tác tâm lý trên lớp biểu hiện qua sự tương hợp tâm lý của em ở mức thấp, qua các chỉ số sự tương hợp trong đó biểu hiện sự đồng cảm có nhưng ở sự hiểu

biết về giảng viên trong tương tác trên lớp ở mức thấp. ĐTB=1,78.

- Tương tác tâm lý trên lớp biểu hiện qua sự phối hợp giữa em và giảng viên ở

mức thấp. ĐTB=1,69.

- Sự ảnh hưởng lẫn nhau ở em cũng ở mức tương đối thấp qua kết quả em đánh

giá về giảng viên ở mức trung bình và ảnh hưởng từ em đến giảng viên mức thấp với

ĐTB =2,12.

- Tần số tương tác của em với giảng viên ở lựa chọn: Hầu như không.

* Thực trạng tương tác tâm lý của em thông qua quan sát giờ học trên lớp học và

qua trò chuyện.

Để thu thập thông tin về thực trạng tương tác tâm lý của sinh viên NguyễnH.N.N, bên cạnh sử dụng phiếu hỏi, chúng tôi tiến hành quan sát thực tế tương tác tâm lý của

em cả trước, trong và sau giờ học (3 buổi/3 tuần). Kết quả được thể hiện:

Trong quá trình quan sát các buổi học cho thấy, em là người khá khép kín trên

lớp học. Hầu như trong quá trình học tập trên lớp em không phát biểu ý kiến xây dựng

bài, không tích cực và chủ động tương tác với giảng viên. Đặc biệt, ở em còn có biểu

hiện né tránh tương tác với giảng viên, ngại tương tác với giảng viên. Trong giờ học ít

chú ý nghe giảng bài, có biểu hiện không tập trung vào nhiệm vụ học tập, hay làm việc

riêng (lướt điện thoại). Khi được giảng viên chỉ định trả lời em có thái độ lờ như

không biết giảng viên mời mình, đùn đẩy bạn ngồi bên trả lời, khi bị ép trả lời em ngại

ngần và miễn cưỡng đứng lên nhưng trả lời không biết.

Khi chúng tôi đi sâu tìm hiểu qua trò chuyện, em cho biết, lớp học đông, giảng viên chưa tạo được sự thân thiện, gần gũi, cảm giác xa cách là nguyên nhân khiến em

mặc dù có nhu cầu tương tác, có nhận thức về nhiệm vụ học tập để trở thành một giáo

viên mầm non giỏi trong tương lai nhưng không làm được. Những buổi lên lớp em đi

học vì mục đích điểm danh và em không có hứng thú học tập.

* Các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý của sinh viên Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác tâm lý trên lớp học của sinh viên Nguyễn H.N.N, chúng tôi phỏng vấn em bằng những câu hỏi: Trong giờ học cô thấy

em hầu như không tương tác với giảng viên, tại sao vậy? Nguyên nhân nào? Nguyên nhân nào lớn nhất? N.N đã trả lời với chúng tôi: “Em không biết người khác thế nào,

nhưng với em, dù học ở đại học nhưng em thích được thầy/cô gần gũi, thân thiện với

sinh viên. Sự gần gũi, thân thiện không cần nhiều, chỉ cần thầy cô quan tâm bằng cách

133

dành thời gian trong giờ học hỏi han, trò chuyện, chia sẻ với chúng em một chút về cuộc sống, về tình cảm, bản thân, chúng em sẽ cảm nhận được sự thân tình, cảm thấy

ấm áp, không cách xa mà có động cơ học tập, hơn là lúc nào thầy cô cũng như máy

phát: học, học”. N.N nói thêm: “em thích học với những thầy cô, trên lớp học ngoài

nhiệm vụ và nội dung học tập biết đan xen, dành thời gian giao lưu với chúng em về các vấn đề khác của cuộc sống để chúng em hiểu được thầy cô và cũng cảm nhận

được thầy cô quan tâm mình, thì giờ học trên lớp với em sẽ có sự mong chờ, hấp dẫn

và ý nghĩa hơn.”

Như vậy, có thể thấy rằng tương tác tâm lý có vai trò vô cùng quan trọng trong

tương tác. Trong các mối tương tác khác (dựa trên tính chất công việc) người ta cũng

đã chú ý đến vấn đề này. Tương tác trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên lại càng

cần phải chú ý, bởi mục đích cuối cùng của hoạt động dạy học là nhằm hướng đến giáo dục và phát triển nhân cách cho người học. Trên lớp học, người học không chỉ đi

học vì được đáp ứng, thỏa mãn nội dung dạy học mà còn có nhu cầu được đáp ứng

thỏa mãn về mặt tâm lý, được giao lưu về mặt xúc cảm, tình cảm. Trong giờ học, trước

khi bắt đầu giờ học chỉ cần vài phút khởi động bằng cách tác động về mặt tâm lý như

hỏi tình hình chuẩn bị bài ở nhà; cảm giác thời tiết; hỏi thăm nguyên nhân những em

vắng mặt tuần trước; khó khăn… của một vài sinh viên mà bằng trực giác giảng viên

cảm nhận được, sẽ nhanh chóng xây dựng được bầu không khí dương tính, xây dựng

được sự cởi mở, chân thành, tích cực từ sinh viên. Khi người giảng viên trên lớp học

chú ý được đến mặt tâm lý này sẽ tạo nên nguồn nội lực to lớn, xóa bỏ rào cản tâm lý

ngăn cách thầy trò khiến sinh viên cảm nhận được sự thân thiện, thân tình để có thể

mở lòng, mạnh dạn chia sẻ, trao đổi với giảng viên những khó khăn của nhiệm vụ học tập. Vì rằng, sinh viên đã nhận ra thầy/cô sẽ thông cảm và giúp đỡ mình khi sai sót, từ

đó mà không ngại ngần trao đổi, chia sẻ, góp phần thúc đẩy quá trình dạy học nhanh

đến đích.

4.5. Đề xuất biện pháp và kết quả thực nghiệm các biện pháp tác động

4.5.1. Đề xuất biện pháp nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học của

giảng viên và sinh viên

Như đã phân tích ở mục 4.1 của chương 4. Kết quả khảo sát thực trạng mức độ

tương tác tâm lý trên lớp biểu hiện qua các thành phần ở các nghiệm thể được nghiên cứu cho thấy:

- Thứ 1: Sự tương hợp về nhau trong tương tác tâm lý ở cả giảng viên và sinh

viên còn nhiều hạn chế (Mục 4.2.2).

134

- Thứ 2: Sự phối hợp nhau trong tương tác tâm lý là thành tố được cả giảng viên và sinh viên nhận định còn yếu trong quá trình tương tác (Mục 4.2.5). Sự tương hợp và

phối hợp là hai thành tố quan trọng trong tương tác tâm lý phản ánh khả năng và đây

đồng thời cũng là yếu tố được cả giảng viên và sinh viên đánh giá là có ảnh hưởng

nhiều nhất đến sự tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học (Mục 4.2.3).

- Thứ 3: Qua kết quả hồi quy đa biến về tầm quan trọng từng biểu hiện thành

phần cũng cho thấy, thành phần tương hợp tâm lý và sự phối hợp nhau có tầm quan

trọng rất lớn trong tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường

đại học (Mục 4.2.6). Vì vậy, chúng tôi cho rằng: cần phải xây dựng các biện pháp tác

động nâng cao sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp lẫn nhau qua các kĩ năng tương tác,

đồng thời tác động cả mặt hiểu biết về vai trò của tương tác tâm lý trên lớp cho sinh viên mới mong cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học.

Với những lý do trên, chúng tôi đề xuất và tiến hành thực nghiệm với hai biện

pháp tác động sau:

(1). Tạo điều kiện giúp giảng viên và sinh viên tăng sự tương hợp tâm lý trong

tương tác.

(2). Nâng cao các kĩ năng giúp giảng viên sinh viên phối hợp tốt với nhau như: kĩ

năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tự chủ cảm

xúc cho giảng viên và sinh viên trong tương tác.

Nội dung và quy trình thực nghiệm được trình bày cụ thể trong chương 3 của

luận án. Kết quả thực nghiệm thu được như sau:

4.5.2. Kết quả thực nghiệm các biện pháp tác động

Trên cơ sở trên và theo quy trình thực nghiệm đã trình bày ở chương 3, chúng tôi

tiến hành thực nghiệm theo các nội dung đã trình bày. Kết quả thực nghiệm thu được

thể hiện ở các bảng 4.19; 4.20; 4.21.

4.5.2.1. Kết quả thay đổi mức độ tương hợp qua nâng cao hiểu biết về nhau Sự thay đổi về mức độ sự hiểu biết lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên trong

quá trình tương tác tâm lý trên lớp học được thể hiện ở bảng 3.19

135

Bảng 4.19. Kết quả thay đổi mức độ tƣơng hợp qua hiểu biết về nhau

Trước tác động Sau tác động lần 1 Sau tác động lần 2

Kết quả GV hiểu SV hiểu GV hiểu SV hiểu GV hiểu SV hiểu

về SV về GV về SV về GV về SV về GV

ĐTB 2,67 1,57 3,33 2,36 3,83 3,05

ĐLC 0,52 0,68 1,03 1,07 0,75 0,96

Thấp (%) 0 53,57 0 21,43 0 5,36

Tương đối thấp(%) 33,3 35,71 16,7 41,07 0 21,43

Trung bình (%) 66,7 10,71 50,0 21,43 33,3 41,07

Tương đối cao(%) 0 0 16,7 12,5 50,0 26,79

Cao (%) 0 0 16,6 3,57 16,7 5,36

Nhìn vào kết quả bảng 4.19 cho thấy, sự hiểu biết về nhau sau các lần tác động

đã tăng lên đáng kể.Biểu hiện qua so sánh điểm trung bình, tỉ lệ % các mức.Kết quả đó

là kết quả của sự chuyển biến tích cực sau những lần giảng viên và sinh viên được hoạt

động, trải nghiệm cùng nhau; là những tác động sau những lần từ sự ngại ngần ban đầu

xóa bỏ đi một thói quen trong tâm lý cũ (tâm lý e dè, ngần ngại, lo sợ thầy/ cô, sinh viên

hiểu sai về mình do “lỡ miệng” khi trao đổi, trò chuyện…) thì qua thực nghiệm mức độ

hiểu về nhau giữa giảng viên và sinh viên đã tăng lên. Sinh viên N. H. N.N cười rạng rỡ

sau bốn ngày trải nghiệm cùng giảng viên dạy mình trở về bộc lộ: “Trước đó em cảm

giác cô dạy em sao khó gần thế. Cô nghiêm nghị, khó khăn làm em không bao giờ dám

gần chứ đừng nói hỏi, hay trò chuyện gì và chính điều đó cũng làm em thấy không hứng

thú với môn học cô dạy và (nói nhỏ với cô – người phỏng vấn) là chỉ mong sao sớm kết

thúc môn học của cô ấy. Nay thì em đã nhận ra cô cũng rất tình cảm, tâm lý, hiểu biết

nhiều, cũng dễ gần nữa, cô rất thương tụi em…Có lẽ, từ giờ em sẽ không ngại ngần gì

nữa cô ạ, em sẽ mạnh dạn trao đổi, trò chuyện, bộc lộ quan điểm của mình với thầy cô khi lên lớp.”

Giảng viên T.B.H cũng nói: “Mong rằng được nhà trường tạo nhiều điều kiện để chúng tôi và sinh viên không chỉ gặp nhau “đóng khung” trên lớp học, mà còn ở ngoài lớp, nhất là cho chúng tôi được “làm quen” với sinh viên trước khi chúng tôi dạy các em chính thức trên lớp.

Kết quả đó còn biểu hiện rõ qua các giờ học sau đó mà qua quan sát chúng tôi thu được. Trong qúa trình dạy học trên lớp, vì hiểu nhau nên cả thầy trò có biểu hiện

mong muốn gặp nhau hơn. Cụ thể: sinh viên đi học đúng giờ hơn, đầy đủ hơn, thái độ

136

háo hức hơn, trạng thái cảm xúc tích cực biểu hiện khi gặp giảng viên (vui hơn thể hiện qua nét mặt). Ngược lại giảng viên cũng vậy. Giảng viên T.V.S bộc lộ: “Trước

đó, cứ chuẩn bị đến giờ lên lớp, nhiều khi cảm giác ngại đi dạy, đi dạy tâm lý chỉ vì

trách nhiệm nên trong lòng thấy uể oải không muốn đi, khi lên lớp tâm lý nhiều khi chỉ

dạy cho xong, nhưng giờ thì khác, lên lớp không chỉ còn là nhiệm vụ mà còn muốn được gặp sinh viên, thấy lòng mình trẻ trung, yêu nghề mà tôi cũng chưa thể giải thích

được trạng thái đó”. Thầy S hỏi lại: “Theo cô, có phải do sự hiểu nhau làm ta có được

trạng thái đó không, cười”

Kết quả thực nghiệm còn biểu hiện rõ khi ta xem xét ĐTB, ĐLC ở cả lần tác

động 1 và tác động 2. Sự thay đổi biểu hiện rõ rệt với ĐTB trước tác động 2,67 (GV);

1,57 (SV), sau tác động lần 1 ĐTB là 3,33 (GV); 2,36 (SV). Đến lần tác động 2 ĐTB

tăng lên là 3,83 với giảng viên và 3,05 với sinh viên. Như vậy, sau thực nghiệm sự hiểu biết về nhau ở cả giảng viên và sinh viên đều tăng lên. Giảng viên hiểu về sinh

viên, hiểu tính tình, hiểu sâu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi khi có dịp cọ sát cùng sinh

viên, hiểu điều kiện, hoàn cảnh từng em sinh viên mình dạy, từ đó dễ dàng cảm thông,

đồng cảm với sinh viên. Ngược lại, được dịp hoạt động chung cùng giảng viên, sinh

viên có dịp gần gũi, kịp nhận ra rằng thầy, cô mình thật vui, thật hiền và cả thật dễ gần,

dễ thương và cũng rất “trẻ” nữa. Sinh viên Thúy.V chia sẻ: “Đêm cuối cùng chuẩn bị

về thật vui ghê, chúng em đốt lửa trại và thức suốt đêm. Đêm đốt lửa trại, có cô chia

sẻ chưa bao giờ hát, vậy mà giờ khi chúng em yêu cầu cũng hát cho chúng em

nghe.Chúng em nghe giọng cô run run mà vừa thấy buồn cười (giọng cô run như khi

trả bài không thuộc), vừa cảm động và thương cô ghê.Em mong nhà trường thường

xuyên tổ chức, tạo điều kiện để chúng em được hoạt động, sinh hoạt cùng thầy cô nhiều hơn nữa”.Đây cũng là mong ước của hầu hết sinh viên được chúng tôi thực hiện

phương pháp bút đàm ở phần khảo sát thực trạng. Đa số sinh viên đều mong được nhà

trường, khoa tạo điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc, gần gũi với giảng viên giúp các em cảm

nhận được sự gần gũi, tin cậy. Các sinh viên cũng mong rằng, các em không chỉ được tạo điều kiện tiếp xúc, gặp gỡ mà còn mong thầy/cô trong những giờ lên lớp dành chút thời gian hỏi han, trò chuyện quan tâm tới các em hơn về cuộc sống, gia đình…, thậm chí có thể là la rầy khi các em sai để các em có cảm nhận được là thầy cô quan tâm, lo

lắng đến mình, mong mình tiến bộ mà thiết lập được tình cảm thầy – trò tin cậy, từ đó dễ dàng tương tác với giảng viên.

137

4.5.2.2. Kết quả thay đổi mức độ phối hợp qua kĩ năng tương tác giữa giảng viên và sinh viên

Bảng 4.20. Kết quả thay đổi mức độ phối hợp qua kĩ năng tƣơng tác tâm lý

Trước tác động Sau tác động lần 1 Sau tác động lần 2

Phối Phối Phối Phối Phối Phối hợp Kết quả hợp của hợp của hợp của hợp của hợp của của SV

GV SV GV SV GV

2,17 1,39 2,83 2,45 3,67 2,7 ĐTB

0,75 0,49 0,75 1,03 0,82 1,14 ĐLC

16,7 60,71 0 19,64 0 14,29 Thấp (%)

50,0 39,29 33,3 32,14 0 30,36 Tương đối thấp(%)

33,3 0 50,0 35,71 50,0 37,5 Trung bình (%)

0 0 16,7 8,93 33,3 7,14 Tương đối cao (%)

0 0 0 3,57 16,7 10,71 Cao (%)

Từ kết quả bảng 4.20 cho thấy, kĩ năng của giảng viên và sinh viên tăng lên sau các lần tác động, biểu hiện ở ĐTB chung tăng lên rõ rệt. Cụ thể: Trước tác động ĐTB

giảng viên là 2,17; sinh viên 1,39. Sau tác động lần 1 ĐTB là 2,83(GV); 2,45 (SV).

Lần tác động 2 tăng lên 3,67 (GV) và ở sinh viên là 2,7. Điều đó, không chỉ biểu hiện

ở ĐTB, tỉ lệ % mà còn qua từng biểu hiện trong kĩ năng.Trong các biểu hiện, tăng cao

nhất là kĩ năng thiết lập mối quan hệ. Nếu như ở phần khảo sát thực trạng kĩ năng thiết

lập mối quan hệ, kết quả cho thấy thấp nhất, thì nay sau những lần tác động, mức độ kĩ

năng này lại tăng lên nhanh nhất. Lý giải cho vấn đề này, qua trao đổi, trò chuyện

chúng tôi phát hiện: thì ra trước đây, kĩ năng này có mức độ thấp nhất là do yếu tố rào

cản tâm lý: sự ngại ngần, e dè của sinh viên và quan niệm không cần biết về nhau và

cũng không muốn sinh viên biết về mình của giảng viên, dạy học ở đại học chỉ cần làm tròn nhiệm vụ cung cấp kiến thức nghề, cộng thêm môi trường đại học giảng viên và sinh viên chỉ gặp và biết nhau khi có giờ, lớp học lại đông. Ngoài ra, ít có những hoạt động chung giúp họ gặp gỡ, gần gũi để có thể hiểu biết về nhau. Thậm chí khi sinh viên và cả giảng viên khi cần trao đổi về vấn đề học tập sau giờ học không biết ngồi đâu để trao đổi (phải ngồi ghế đá sân trường hoặc vào căn tin, quán café, theo chúng

tôi được biết ở những trường chúng tôi nghiên cứu). Cũng chính vì không có chỗ làm việc riêng dành cho mỗi giảng viên sau giờ lên lớp, không có lịch làm việc với sinh

viên được cố định thường kì, nên khi có vấn đề cần gặp giảng viên trao đổi, sinh viên

138

rất khó gặp được giảng viên vì không biết tìm ở đâu, lúc nào…. Chính những rào cản đó, tạo sự ngăn cách làm cho mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học

lỏng lẻo, giảng viên và sinh viên hầu như ít thiết lập được mối quan hệ thân tình, chặt

chẽ giữa thầy và trò. Thậm chí như phần thực trạng đã bộc lộ: có nhiều sinh viên vừa

học xong nhưng không biết tên và cũng không nhớ được giảng viên đã dạy mình. Thầy không tin trò và trò cũng thiếu niềm tin nơi thầy.Qua thực nghiệm, rào cản này phần nào

được xóa bỏ. Qua các hoạt động cùng nhau đã giúp giảng viên và sinh viên dễ dàng thiết

lập được mối quan hệ gần gũi, thân thiết. Các kĩ năng trong phối hợp như lắng nghe,

diễn đạt và tự chủ cảm xúc cũng tăng lên rõ rệt ở cả giảng viên và sinh viên.

Khẳng định sự thay đổi các kĩ năng trong phối hợp trên, qua dự giờ thăm lớp giờ

học của giảng viên T.B.H và T.V.S, nhất là giờ giảng của giảng viên T.B.H chúng tôi

nhận thấy mức độ thay đổi bước đầu các kĩ năng trong phối hợp thể hiện rõ ở các tiêu chí. Cụ thể:

Ở kĩ năng lắng nghe: Trong quá trình tổ chức hoạt động truyền thụ, lĩnh hội tri

thức, giảng viên đã bước đầu chú ý tới việc tổ chức các hoạt động kích thích tính tích

cực của sinh viên, cụ thể: Hướng dẫn, giao nhiệm vụ cụ thể cho sinh viên. Khi giao

nhiệm vụ, sinh viên thực hiện, trình bày, giảng viên không chỉ biểu hiện ở thái độ chăm

chú lắng nghe mà còn ghi lại nhanh những nội dung sinh viên trao đổi, trình bày.Sau đó

tổ chức mở rộng vấn đề trao đổi đưa cả lớp vào hoạt động…, cuối cùng giảng viên nhận

xét, đánh giá từng trường hợp, nội dung cụ thể, cặn kẽ, kĩ càng.

Ở kĩ năng diễn đạt: cả giảng viên và sinh viên đã chú ý trong dùng lời diễn đạt,

chú ý và điều khiển tốc độ, nhịp độ, cao độ của giọng nói khi nói trong giờ học, điều

đó trước khi tác động ít chú ý, thì giờ được cả giảng viên và sinh viên rất chú ý nhằm giúp nhau nghe rõ, hiểu dễ dàng. Không chỉ chú ý tới cao độ, tốc độ, nhịp độ của lời

nói, mà nay cả giảng viên và sinh viên cũng bắt đầu chú ý biểu hiện cả sắc thái, biểu

cảm nội dung qua giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, giúp nhau hiểu rõ cả “ý” và “nghĩa” điều

mình nói.

Ở kĩ năng tự chủ cảm xúc: cả giảng viên và sinh viên trên lớp sau tác động, sự biểu hiện trạng thái xúc cảm tiêu cực không còn, thay vào đó là một không khí của trạng thái xúc cảm tích cực. Biểu hiện, giảng viên qua điệu bộ, cử chỉ, giọng nói, nét

mặt đầy vui tươi, hào hứng trong quá trình khơi gợi, kích thích sinh viên trao đổi, lĩnh hội tri thức. Giảng viên trong quá trình dạy học, không còn ngồi một chỗ độc thoại mà

liên tục di chuyển trong lớp đến gần sinh viên quan sát, gợi mở, tạo nhiều động thái

tâm lý khuyến khích sinh viên tích cực tương tác. Về phía sinh viên, qua các động thái

139

của giảng viên, giảm hẳn hiện tượng uể oải, ngủ gục trong giờ học như phần thực trạng đã mô tả, không còn hiện tượng sinh viên làm việc riêng (trước đây rất nhiều kể cả khi

có dự giờ).Cả giảng viên và sinh viên đã tạo và tự chủ được trạng thái cảm xúc của

bản thân và duy trì gần như cơ bản trạng thái cảm xúc tích cực đó cho đến cuối giờ

học.

Đặc biệt, trước đó khi chưa thực nghiệm, giảng viên T.B.H hầu như không nghĩ

là mình phải kích thích tính tích cực của sinh viên, xây dựng bầu không khí lớp học

tích cực (khâu 1, theo lý luận dạy học) với các biện pháp tâm lý như: hỏi han sinh viên

tình hình chuẩn bị bài ở nhà, những khó khăn, hỏi han những sinh viên giờ trước vắng

mặt, lý do … một cách tế nhị, hài hước nhằm tạo một không khí cởi mở, thân tình để

thầy trò cùng nhau bước vào bài học với một tâm thế hợp tác toàn diện nhằm đạt kết

quả học tập. Thì nay, cô B.H đã có sự chú ý bắt đầu giờ học bằng “khâu” (các khâu của quá trình dạy học) này thật tốt. Cô cười, nói với chúng tôi khi chia sẻ: “Đúng là

trước đây khi còn được đào tạo ở trường sư phạm cũng có học, nhưng khi thực hiện

thực tế dạy học tôi thường bỏ qua, vả lại tôi cũng sợ nếu mình “thân thiết” với sinh

viên liệu chúng có lờn mặt, nên hầu như tôi ít tương tác về mặt tâm lý với sinh viên. Và

có lẽ, đó cũng là lý do khiến sinh viên ít tương tác với tôi trong giờ học. Nhiều giờ học

tôi cảm nhận được sinh viên không hứng thú, thờ ơ trong học tập mặc dù tôi cũng sử

dụng các phương pháp dạy học hiện đại, nhưng sinh viên cũng chỉ thực hiện với một

thái độ đối phó, cho có, không tích cực và tôi cũng thấy mệt mỏi, chán nản với thái độ

đó của sinh viên nhưng tôi không biết phải giải quyết như thế nào. Nhờ có “sự tập

huấn” này (cười), tôi kịp nhận ra và quả thật khi tôi thực hiện theo, không cần nhiều

thời gian, mỗi ngày lên lớp vào đầu giờ, thậm chí khi trong giữa giờ khi cảm nhận được sinh viên thiếu chú ý, hay gặp phần kiến thức khó nuốt tôi đều chú ý tới tương

tác tâm lý với sinh viên, động viên sinh viên, cùng sinh viên vượt qua, đơn giản chỉ vậy

và tôi cảm nhận được sự hào hứng tích cực, hợp tác với tôi tốt hơn của sinh viên ở mỗi

giờ lên lớp sau này hơn. Cảm ơn cô” (người trao đổi).

Đây là một thành công mà thiết nghĩ các tác động thực nghiệm đã mang lại bước đầu.Điều đó chứng tỏ các biện pháp tác động đã cơ bản đi đúng hướng. Nếu có thêm thời gian kiểm nghiệm thêm để hoàn chỉnh cho hoàn hảo, thì những biện pháp mà đề

tài đã đưa ra sẽ là một đóng góp không nhỏ góp phần bổ sung, hoàn thiện các giải pháp trong quá trình tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, đào tạo đại

học nói chung hiện nay.

140

4.5.2.3. Kết quả thay đổi mức độ tương tác tâm lý của giảng viên và sinh viên Thực nghiệm các biện pháp tác động tới sự tương hợp tâm lý và sự phối hợp qua

các kĩ năng tương tác trên lớp của sinh viên ở trường đại học đã cho thấy kết quả khả

quan. Các chỉ số về sự tương hợp tâm lý, kĩ năng phối hợp tương tác của nghiệm thể

tham gia thực nghiệm cho thấy được cải thiện và nâng lên một cách rõ ràng (Sự thay đổi mức có ý nghĩa ở sinh viên p<0,001). Kết quả được thể hiện ở bảng 4.21.

Bảng 4.21. Kết quả thay đổi mức độ tƣơng tác tâm lý của giảng viên và sinh viên

Trước tác động Sau tác động lần 1 Sau tác động lần 2 Các mối tương tác GV SV GV SV GV SV

ĐTB 2,42 1,48 3,08 2,41 3,75 2,88

ĐLC 0,64 0,55 0,87 1,05 0,79 1,08

Thấp 0 25,0 0 0 0 0 Tỉ lệ

% Tương đối thấp 50,0 73,2 0 21,4 0 1,8

Các Trung bình 50,0 1,8 66,7 62,5 50 41,1

mức Tương đối cao 0 0 33,3 16,1 33,3 48,2

Cao 0 0 0 0 16,7 8,9

Kết quả bảng 4.21 cho thấy, mức độ tương tác tâm lý trên lớp của giảng viên và

sinh viên tăng lên sau khi tiến hành thực nghiệm. Biểu hiện:

- ĐTB tương tác tâm lý của cả giảng viên và đặc biệt sinh viên tăng lên sau mỗi

lần tác động. ĐTB tăng từ 2,5 GV; 1,45 SV trước tác động lên 3,06 GV; 2,24 SV sau

tác động lần 1 và 3,72 GV; 2,95 SV sau tác động lần 2.

- Tỉ lệ mức tương tác thấp, tương đối thấp và trung bình giảm sau mỗi lần tác

động. Mức thấp không còn ở sinh viên sau tác động lần 1 (25,0%) và giảm đáng kể ở

mức tương đối thấp từ 73,2% trước tác động chỉ còn 21,4% sau tác động lần 1 và mức

tương đối thấp sau tác động lần 2 chỉ còn 1,8% ở sinh viên. Với giảng viên sự thay đổi có phần chậm hơn khi so với sinh viên, tuy nhiên đều có sự thay đổi sau mỗi lần tác

động.Điều đó, đánh dấu các biện pháp tác động có tính hiệu quả và khả thi.

141

Tiểu kết Chƣơng 4

Tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên có thể được xem xét

trên rất nhiều tiêu chí. Trong đề tài này, chúng tôi dựa vào mức độ của nhu cầu, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, sự ảnh hưởng lẫn nhau, tần số tương tác trong quá trình

tương tác để xác định tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở

trường đại học.

- Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy, kết quả các tiêu chí đo được ở các thành phần tâm lý khi phân tích, đánh giá trên các thành phần xét chung, cũng như khi phân

tích, so sánh các thành phần xét theo năm học, mặc dù kết quả cho thấy có sự chênh

lệch nhau về điểm số, tuy nhiên, kết quả chung vẫn phản ánh rõ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên chưa cao, chỉ ở mức trung bình.

- Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học

một mặt, bị chi phối bởi nhiều yếu tố bên trong, bên ngoài, mặt khác, còn chịu sự tác

động bởi chính các thành tố tâm lý tham gia trong quá trình tương tác. Kết quả cho

chúng tôi kết luận: Mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở

trường đại học chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố. Trong đó, các thành phần tham gia

tương tác gồm: sự phối hợp tương tác, sự tương hợp tâm lý qua hiểu biết về nhau,

đồng cảm với nhau trong tương tác tâm lý của sinh viên, giảng viên và yếu tố ảnh

hưởng: sự hiểu biết và thái độ trong tương tác, năng lực tương tác của sinh viên là

những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi xác định các biện

pháp thực nghiệm nhằm cải thiện mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và

sinh viên ở trường đại học.

- Kết quả thực nghiệm đã chứng minh, các biện pháp mà chúng tôi xây dựng và

thực hiện có thể giúp cải thiện, nâng cao được mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

142

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 1.1. Tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học là quá trình tác động qua lại về tâm lý giữa giảng viên và sinh viên, được biểu hiện qua nhu cầu tương

tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp giữa giảng viên và sinh viên, qua tần số tương

tác và sự ảnh hưởng tâm lý lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên.

1.2. Tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên được đánh giá qua

các biểu hiện thành phần tâm lý tham gia tương tác gồm: nhu cầu tương tác, sự tương

hợp tâm lý, sự phối hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, tần số tương tác. Các thành phần tâm lý

này là tiêu chí xác định mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.

1.3. Tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học được đánh giá ở mức trung bình. Cùng ở mức trung bình, nhưng giảng viên ở các trường đại

học trên lớp học có sự chú ý tới tương tác tâm lý qua sự tương hợp, phối hợp, tần số,

ảnh hưởng nhiều hơn so với sinh viên. Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt điểm số về

mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên với sinh viên trên khách thể được

khảo sát, nhưng sự khác biệt chưa rõ ràng.

1.4. Nghiên cứu tác động của các yếu tố khác nhau đến tương tác tâm lý trên lớp

giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học cho thấy, những yếu tố thuộc về tâm lý

bên trong mỗi cá nhân có sự ảnh hưởng khá lớn đến tương tác tâm lý trên lớp giữa

giảng viên và sinh viên. Đặc biệt những yếu tố: hiểu biết của sinh viên về tương tác

trên lớp học; năng lực của sinh viên; thái độ của sinh viên trong tương tác; thái độ

của GV đối với tương tác giữa GV với SV là những điểm tựa cần chú ý.

Trong các yếu tố khách quan có: yếu tố tính chất môn học; yếu tố điều kiện, thời

gian, môi trường tâm lí lớp học; đặc trưng phương thức đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học, quy mô lớp học là những yếu tố quan trọng cần phải quan tâm khi tìm kiếm giải pháp nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học.

Kết quả thực nghiệm cho thấy, nâng cao sự tương hợp tâm lý qua nâng cao sự hiểu biết về nhau cho giảng viên, sinh viên và sự phối hợp qua các kĩ năng tương tác tâm lý trên lớp cho giảng viên, đặc biệt sinh viên đã góp phần làm tăng tương tác giữa

giảng viên với sinh viên trên lớp.

143

2. Kiến nghị Để góp phần cải thiện và nâng cao mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng

viên và sinh viên ở trường đại học, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Chúng

tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

2.1. Đối với nhà trường

Nhà trường cần chú ý công tác bồi dưỡng nâng cao sự hiểu biết đầy đủ về tương

tác tâm lý, vai trò, sự cần thiết phải tương tác tâm lý trên lớp học cho giảng viên và

sinh viên.

Tạo thêm nhiều điều kiện cho giảng viên và sinh viên được hoạt động, giao lưu

để hiểu biết về nhau, từ đó nâng cao sự tương hợp tâm lý làm nảy sinh, kích thích nhu

cầu tương tác.

Có các biện pháp buộc giảng viên phải sử dụng phương pháp dạy học tích cực,

hiện đại tăng cường tương tác giữa giảng viên, sinh viên trên lớp trong dạy học.

2.2. Đối với khoa

Giới thiệu giảng viên trang trọng cho sinh viên ngay buổi khai giảng của khoa

vào mỗi đầu năm với tân sinh viên cho thầy trò biết nhau.

Đưa việc tổ chức thảo luận chuyên đề, hội thảo khoa học cho sinh viên, giảng

viên hàng năm về vấn đề tương tác, tương tác tâm lý, sự cần thiết của tương tác tâm lý

thầy – trò trên lớp học. Các yếu tố tham gia, chi phối trong tương tác đối với hiệu quả

dạy học như là một hoạt động chính.

Xây dựng các webside về thông tin cá nhân giảng viên trong khoa, số điện thoại,

mail liên lạc. Sắp đặt lịch làm việc thường niên của mỗi giảng viên trong khoa với sinh

viên về chuyên môn mình đảm trách (tổ chức nói chuyện, hội đàm, giải đáp về phương pháp học tập, nghiên cứu học phần với sinh viên, coi như đó là một nhiệm vụ chuyên

môn của giảng viên bắt buộc ít nhất một lần/1 học kì.

Định kì tổ chức các hoạt động chung giữa giảng viên và sinh viên trong khoa tạo

điều kiện thầy trò hiểu nhau.

Dự giờ, thăm lớp trong hoạt động dạy học.

2.3. Đối với giảng viên

Buổi học đầu tiên trên lớp của môn học, giảng viên phải dành thời lượng ít nhất

một tiết cho làm quen, giới thiệu về nhau, cũng như phổ biến tường tận đến từng sinh viên các quy định, mục tiêu – yêu cầu phải đạt của môn học, cách thức làm việc, kiểm

tra đánh giá quá trình học tập. Khuyến khích sinh viên đưa ra các đề xuất và hoạt động

mới đối với môn học.

144

Tìm hiểu sinh viên để hiểu về sinh viên mình dạy. Cố gắng nhớ tên sinh viên càng nhiều càng tốt. Tôn trọng sự khác biệt của sinh viên. Không ngừng rèn luyện,

nâng cao kĩ năng tương tác. Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học phát huy

tính tích cực của sinh viên. Giới thiệu, hướng dẫn cho sinh viên cách thức học tập và

khuyến khích sự lựa chọn. Giúp sinh viên liên hệ những điều đã học với thực tế.

Tạo bầu không khí tương tác trên lớp cũng như ngoài lớp thân thiện, cởi mở.

Quan tâm giúp đỡ sinh viên, khuyến khích sinh viên chia sẻ, trình bày những quan

điểm riêng trên lớp thể hiện năng lực cao nhất trong giờ học. Giao lưu cảm xúc cùng

sinh viên, chia sẻ, niềm nở, vui vẻ, đồng cảm trong tương tác làm tăng nhu cầu tương

tác của sinh viên với giảng viên, xóa dần sự xa cách tâm lý. Trao đổi, gặp gỡ những

sinh viên thường xuyên vắng mặt tìm hiểu nguyên do. Tạo sự tin cậy, sức ảnh hưởng

đến sinh viên trong tương tác.

Chủ động, tăng cường sự tương tác, tiếp xúc giữa giảng viên với sinh viên trong

và ngoài lớp. Tích cực tham gia các hoạt động chung cùng sinh viên. Tổ chức lịch làm

việc với sinh viên ngoài giờ lên lớp thường niên. Tận dụng công nghệ thông tin, tạo

hộp thoại trao đổi giữa giảng viên và sinh viên lớp dạy – trường dạy.

2.4. Đối với sinh viên

Tham gia đầy đủ các buổi học tập, sinh hoạt chung mà nhà trường, khoa tổ chức.

Tích cực, chủ động tìm hiểu về giảng viên qua trang thông tin về giảng viên trên

trang web của trường, khoa. Tham gia các hoạt động cùng giảng viên để có sự hiểu

biết về nhau.

Tham dự các lớp về kĩ năng mềm, thay đổi quan niệm, thái độ trong học tập cho

phù hợp. Tích cực chia sẻ, tương tác với giảng viên trên lớp, ngoài lớp qua việc tận dụng các phương tiện thiết bị công nghệ.

145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

I. BÀI VIẾT CHO CÁC TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH TRONG NƢỚC

1. Cao Thị Nga (2011), Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự học theo học chế tín

chỉ cho sinh viên, Tạp chí Giáo dục số Đặc biệt (Tr.48 - 49).

2. Cao Thị Nga (2013), Sự tương hợp tâm lý trong tương tác giữa giảng viên và sinh

viên, Trường Đại học Sài Gòn, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 89 (Tr.49 – 51).

3. Cao Thị Nga (2015), Tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở

trường Đại học, Tạp chí Giáo dục số 354 (Tr.26 – 27).

4. Cao Thị Nga (2015), Thực trạng hiểu biết về nhau giữa giảng viên và sinh viên

trong tương tác tâm lý trên lớp học, Tạp chí Tâm lý học xã hội (Tr.94 - 100),

ISSN:0866-8019, số 10,10 - 2015.

5. Cao Thị Nga (2015), Mức độ tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh

viên ở trường đại học, Tạp chí Tâm lý học xã hội (Tr.32 - 37), ISSN:0866-8019,

số 11,11 - 2015.

II. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Cao Thị Nga (chủ nhiệm đề tài), Thực trạng tương tác giữa giảng viên và sinh

viên trường Đại học Sài Gòn. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Đại học Sài

Gòn, Mã số: CS 2014 – 39, Đánh giá xếp loại: Tốt, 2014 – 2015.

146

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Anh (2004), Giáo trình tâm lý học giao tiếp, Nxb ĐHSP HN.

2. Hoàng Anh (chủ biên) (2007), Hoạt động, giao tiếp, nhân cách, Nxb ĐHSP.

3. Hoàng Anh (2012), Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh

4. Nguyễn An (chủ biên) (1993), Giáo trình lý luận dạy học, Nxb ĐHSP TP HCM.

5. Nguyễn Phúc Ân (1994), Một số khía cạnh tâm lý học xã hội, Nxb Trẻ TP.HCM.

6. Lê Thị Bừng (2004), Tâm lý học ứng xử, Nxb GD HN.

7. Lê Thị Bừng (chủ biên) (2008), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách,

viên, Nxb Chính trị QG.

8. Trịnh Văn Biều, Dạy học hợp tác - một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI,

Nxb ĐHSP.

9. Barry. D.Smith – Harold. J.Vetter (2005), Các học thuyết về nhân cách, Nxb Văn

Tạp chí khoa học số 25/2011 ĐHSP TP HCM.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Giáo dục học đại cương, Nxb giáo dục.

11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Giao tiếp sư phạm, Nxb giáo dục.

12. Bộ GD – ĐT (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ

hóa thông tin.

13. Bộ GD – ĐT (1999), Quy chế đào tạo ĐH, Ban hành theo QĐ số 04/1999/QĐ –

thống tín chỉ

14. Capitonov. E.A (2000), Xã hội học thế kỉ 20 – Lịch sử và công nghệ, Nxb ĐHQG

Bộ GD &ĐT ngày 11/2/1999

15. Phạm Khắc Chương (1997), Comenxki, ông tổ của nền sư phạm cận đại, Nxb

HN

16. Phạm Khắc Chương (1994), 142 tình huống giáo dục gia đình, Nxb GD HN.

17. Lê Thị Cẩm (dịch) (2012), Người thầy giỏi ở mọi lớp học, Nxb Trẻ TP. HCM.

18. Nguyễn Đình Chỉnh – Phạm Ngọc Uyển (1998), Tâm lý học quản lý, Nxb giáo dục.

19. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển bách khoa.

20. Vũ Dũng (2011), Tâm lý học Xã hội – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Từ

giáo dục, HN.

147

21. Vũ Dũng (2007), Tâm lý học quản lý, Nxb ĐHSP HN.

22. Vũ Dũng (1995), Cơ sở tâm lý học của ê kíp lãnh đạo, Nxb KHXH.

23. Vũ Dũng (2000), Tâm lý học xã hội, Nxb KHXH HN.

24. Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mai Lan (2013), Tâm lý học quản lý, Nxb KHXH.

25. Vũ Dũng (2003), Tâm lý học giao tiếp, Trường Cao đẳng lao động xã hội.

26. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb ĐHQG HN.

27. Nguyễn Thị Thúy Dung (2009), Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý của học viên các

điển bách khoa.

28. Denomme J.M & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm

lớp bồi dưỡng hiệu trưởng tiểu học, luận án tiến sĩ tâm lý học, ĐHSPHN.

29. Denomme J.M & Madeleine Roy (2005), Lý thuyết sư phạm tương tác (Tài liệu

tương tác, Nxb Thanh niên.

30. Denomme J.M & Madeleine Roy (2009), Sư phạm tương tác – Một tiếp cận khoa

tập huấn), ĐHQG HN.

31. Dewey. J, (dịch giả Phạm Anh Tuấn )(2008), Dân chủ và Giáo dục, Nxb Tri thức.

32. Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa sư phạm (2006), Tài liệu bồi dưỡng chuyên đề

học thần kinh về học và dạy, Nxb ĐHQG HN.

33. Dương Tự Đam (1997), Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay, Nxb

“Sư phạm tương tác”.

34. Nguyễn Văn Đồng (2009), Tâm lý học giao tiếp, Nxb Chính trị hành chính.

35. Trần Thị Minh Đức (2008), Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội, Nxb

Thanh niên.

36. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, Nxb

ĐHQG HN.

37. Nguyễn Đào, Quý Châu (2007), Những kĩ năng và lời khuyên thực tế để cải tiến

KHKT HN.

38. Nguyễn Văn Đính – Nguyễn Văn Mạnh (đồng chủ biên) (2009), Tâm lý và Nghệ

phương pháp giảng dạy, Nxb LĐ – XH.

39. Endruweit.G – Trommsdorff.G (2002), Từ điển xã hội học, Ngụy Hữu Tâm và

thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân.

Nguyễn Hoài Bão dịch, Nxb HN.

40. Edgar Morin (2008), Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai, Nxb Tri

148

41. G. Lebon (2006), Tâm lý học đám đông, Nxb Tri thức.

42. GodeFroid J (1998), Những con đường của tâm lý học (Tập 3), Tủ sách NT, Hà

thức HN.

43. Gilber Highet (1991), Nghệ thuật giáo dục, Nxb Trẻ TP. HCM.

44. Giselle O. Martin, Kniep (2013), Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi,

Nội.

45. F.reud.S (2002), Nhập môn phân tâm học, Nxb ĐH quốc gia HN

46. F.reud.S (2002), Bệnh lý học tinh thần về sinh hoạt đời thường, Nxb Văn hóa

Nxb GDVN.

47. Fischer (1992), Những khái niệm cơ bản của tâm lý học xã hội, Nxb Thế giới.

48. Feuerbach L.A (1955), Tác phẩm triết học chọn lọc, tâp 1, Maxcova.

49. Feldman R.S (2003), Những điều trọng yếu trong tâm lý học, Nxb Thống kê.

50. Feldman R.S (2004), Tâm lý học căn bản, Nxb Văn hóa - thông tin.

51. Ngô Công Hoàn – Hoàng Anh (1998), Giao tiếp Sư phạm, Nxb GD.

52. Trần Bá Hoành (2010), Vấn đề giáo viên – Những nghiên cứu lý luận và thực

thông tin.

53. Nguyễn Bích Hạnh (2006), Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học cho sinh viên

tiễn, Nxb ĐHSP

54. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012), Kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên sư phạm,

ĐHSP theo quan điểm SPTT, Luận án tiến sĩ GDH, ĐHSP HN.

55. Bùi Văn Huệ, Đỗ Mộng Tuấn, Nguyễn Ngọc Bích (1995), Tâm lý học xã hội, Hà

Luận án Tiến sĩ, Viện KHXHVN. Tr31.

56. Vũ Lệ Hoa (2007), Một số kĩ năng dạy học tăng cường tương tác góp phần nâng

Nội.

57. Vũ Lệ Hoa (2009), Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy

cao hiệu quả dạy học môn học ở đại học, Tạp chí Giáo dục số 177 – Kì 2/2007.

58. Lê văn Hồng (chủ biên) (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb

học môn giáo dục học trong các trường ĐHSP, Luận án tiến sĩ, HN

59. Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên) (2007), Tâm lý học phát triển, Nxb ĐHSP HN.

GD.

60. Phạm Minh Hạc (1989), Hành vi và hoạt động, Nxb GD HN.

61. Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập tâm lý học, Nxb GD.

62. Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, Nxb chính trị.

63. Hồ Ngọc Hải – Vũ Dũng (1996), Các phương pháp của tâm lý học xã hội, Nxb

149

64. Bùi Hiền – Nguyễn Văn Giáo – Nguyễn Hữu Quỳnh – Vũ Văn Tảo (2000), Từ

KHXH HN.

65. Lê Ngọc Hùng (2008), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb Khoa học xã hội.

66. Ngô Công Hoàn (chủ biên) (2012), Tâm lý học khác biệt, Nxb ĐHQG HN.

67. Lê Thị Thanh Hương (2010), Nhân cách văn hóa tri thức Việt Nam trong tiến

điển Giáo dục học, Nxb Từ điển bách khoa, HN.

68. Phan Thị Mai Hương (2013), Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học, Nxb

trình mở cửa và hội nhập quốc tế, Nxb KHXH.

69. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1997), Giáo dục học đại cương, Nxb GD.

70. Lê Hương (2004), Sự khác biệt trong một số đặc điểm nhân cách của sinh viên

KHXH.

71. Phạm Minh Hạc (1997), Giáo dục Nhân cách đào tạo nhân lực, Nxb Chính trị

khoa kĩ sư tài năng và sinh viên các lớp bình thường, Tạp chí TLH, số 4.

72. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại, Nxb ĐHQG HN.

73. Đặng Thành Hưng (2005), Tương tác hoạt động thầy – trò trên lớp học, Nxb GD

74. Trần Hiệp, Tâm lý học xã hội – những vấn đề lý luận, NXB khoa học xã hội, Hà

QG.

75. Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức (1996), Lý luận dạy học đại học, Nxb ĐHQG HN

76. Iacôpxơn.P.M (1977), Đời sống tình cảm của học sinh, Nxb GD HN.

77. James H. Stronge (2013), Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả, Nxb

Nội.

78. Nguyễn Công Khanh (2010), Phương pháp thiết kế công cụ đo lường và đánh giá

GDVN.

79. Kruchetxki.V.A (1981), Những cơ sở của Tâm lý học sư phạm, Tập 2, Nxb GD.

80. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm,

trong giáo dục, Hà Nội.

Nxb GD HN.

81. Luật giáo dục đại học, Nxb Chính trị quốc gia.

82. Luật giáo dục 2005 (2010), Nxb Chính trị quốc gia.

83. Lomov. B.Ph (2001), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học, Nxb

150

84. Leonchiev.A.N (1989), Hoạt động – Ý thức – Nhân cách, Nxb GD HN.

85. Leonchiev.A.N (1984), Tâm lý học những cơ sở lý luận và phương pháp luận,

ĐHQG HN.

86. Louis Conhen, Lawrence Manion and Keith Morrison, (2005), Cẩm nang thực

Nxb Học viện Chính trị QS HN.

87. Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn (2009), Từ điển Tâm lý học, Nxb GD VN.

88. Phan Thanh Long (chủ biên), Lê Tràng Định (2008), Những vấn đề chung của

hành giảng dạy, Nxb ĐHSP HN.

89. Phan Thanh Long (2004), Các biện pháp rèn kỹ năng dạy học cho sinh viên

giáo dục học, Nxb ĐHSP.

90. Đỗ long, Vũ Dũng (1995), Tâm lý học xã hội với quản lý doanh nghiệp, nxb

CĐSP, luận án tiến sĩ GD.

91. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, (Tập 3), Nxb Chính trị QG.

92. C.Mác – Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, (Tập 23) Nxb Sự thật HN.

93. Makiguchi Tsunesaburo (1994), Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo, Trường ĐHTH

khoa học xã hội.

94. Miller P. H. (2003), Các lý thuyết về tâm lý học phát triển, NXB Văn hóa.

95. Meier P.F (2003), Phương pháp dạy học đại học, Hà Nội.

96. Marzano R.J (2013), Quản lý hiệu quả lớp học, Nxb GDVN.

97. Marzano R.J (2013), Nghệ thuật và khoa học dạy học, Nxb GDVN.

98. Marzano R.J, Pickering D.J, Pollock J.E (2013), Các phương pháp dạy học hiệu

TP. HCM &NXB Trẻ.

99. Nicky H (2005), Nền tảng tâm lý học, Nxb Lao động

100. Cao Thị Huyền Nga (2001), Xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng, Luận án

quả, Nxb GDVN.

101. Lê Minh Nguyệt (2010), Mức độ tương tác giữa cha mẹ và con tuổi thiếu niên,

tiến sĩ tâm lý học, ĐHSP HN.

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, HV KHXH.

102. Lê Minh Nguyệt (chủ biên) (2015), Giáo trình tâm lý học, Nxb ĐHSP

103. Trần Kim Nở, Lê Xuân Khuê, Dương Ngọc Dũng, Trần Huỳnh Phúc (1993), Từ

151

104. Phan Trọng Ngọ, Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường (2005),

điển Anh Việt, Nxb Chính trị Quốc Gia.

105. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Nguyễn Đức Hưởng, Các lý thuyết phát triển tâm lý

Nxb SP HN.

106. Lê Đức Ngọc (2005), Giáo dục đại học “phương pháp dạy và học”, Nxb ĐH QG

người (2003), Nxb ĐHSP HN.

107. Nguyễn Thị Kim Ngân (tập hợp và giới thiệu) (2011), Văn hóa giao tiếp trong

HN.

108. Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Quang Vinh (1995), Kết quả điều tra về vai trò của

nhà trường, Nxb ĐHSP. TPHCM.

nhà trường trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam,

109. Đào Thị Oanh (chủ biên) (2007), Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay,

Đề tài KX 07 – 08 Viện khoa học giáo dục.

110. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) (1998), Giáo trình giáo dục học (Tập 1 + 2),

Nxb GD HN.

111. Đoàn Huy Oánh (2005), Tâm lý sư phạm, Nxb ĐHQG TP. HCM

112. Đoàn Huy Oánh (2004), Sơ lược lịch sử giáo dục, Nxb ĐHQG TP.HCM.

113. Piaget J (2001), Tâm lý học và giáo dục học, Trần Nam Lương, Phùng Đệ, Lê Thi

Nxb ĐHSP.

114. Piaget J (1997), Tâm lý học trí khôn, Nxb GD HN.

115. Piaget J, Inhelder B, Vĩnh Bang (2000), Tâm lý học trẻ em và ứng dụng tâm lý

(dịch), Nxb Giáo dục HN.

116. Petrovski.A.N (1982), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, NXB GD, Hà

học Piaget vào trường học, Nxb ĐHQG.

117. Đỗ Thị Hạnh Phúc (2000), Quan hệ giữa thiếu niên với bạn cùng tuổi, Luận án

Nội.

118. Võ Quang Phúc (1992), Nói chuyện giáo dục thế giới đời xưa, Lidisaco.

119. Hoàng Phê (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ HN.

tiến sĩ tâm lý học, ĐHSP HN.

120. Rausean J.J (2008), Emile hay là về giáo dục, Nxb Tri thức.

121. Nguyễn Thạc – Phạm Thành Nghị (2007), Tâm lý học sư phạm đại học, Nxb ĐHSP.

122. Nguyễn Thạc (1983), Nghiên cứu quá trình hình thành tính độc lập trong hoạt

152

123. Trịnh Quốc Trung (chủ biên), Kỹ năng Giao tiếp trong kinh doanh, Nxb Lao

động học tập của sinh viên Việt Nam, Luận án PTS khoa học Leningrat

124. Nguyễn Cảnh Toàn (1999), Quá trình dạy – tự học, Nxb giáo dục.

125. Lâm Quang Thiệp (5/2000), Việc dạy và học ở đại học và vai trò của nhà giáo

động XH.

đại học trong thời đại thông tin, Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo”

126. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản GDH hiện đại, Nxb GD.

127. Thái Duy Tuyên (2007), Triết học giáo dục Việt Nam, Nxb ĐHSP.

128. Thái Duy Tuyên (2003), Những vấn đề chung của giáo dục học, Nxb ĐHSP.

129. Dương Thiệu Tống (2003), Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại, Nxb

toàn quốc lần I tại ĐHQG HN.

130. Hà Nhật Thăng, Đào thanh Âm (1995), lịch sử giáo dục, Nxb SPHNI.

131. Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Thanh Bình (2008), Tâm lý giáo dục học đại học,

Trẻ.

132. Nguyễn Vĩnh Trung, Lê Thu Giang (Dịch) (2007), Phương pháp học tập tối ưu,

ĐH SP Hà Nội.

133. Trần Trọng Thủy (1978), Tâm lý học lao động, Đại học SPHN I.

134. Từ điển Tiếng Việt (1998), Nxb KHXH HN

135. Từ điển bách khoa (2007), Tập 1, Tập 4.

136. Tạ Quang Tuấn, Tổ chức dạy học dựa vào tương tác người học – người học ở

Nxb Tổng hợp TP.HCM.

137. Phạm Quang Tiệp (2013), Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo giáo viên Tiểu

trường cao đẳng, Luận án Tiến sĩ KHGD, HN.

138. Nguyễn Trọng Tuấn, (2013)“Thực trạng Kĩ năng NCKH của giảng viên ngoài

học trình độ đại học, Luận án tiến sĩ KHGD, HN.

139. Hoàng Tụy (chủ biên) (2005), Cải cách và chấn hưng giáo dục, Nxb Tổng hợp TP.

công lập tại TP.HCM”, Tạp chí khoa học ĐHSP TP.HCM số 50.

HCM.

140. Nguyễn Xuân Thức (2007), Tâm lý học đại cương, Nxb ĐH SP.

141. Vũ Hoa Tươi (sưu tầm và hệ thống) (2013), Đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả

153

142. Mạc Văn Trang (2009), Tâm lý học hoạt động Một cơ sở căn bản của đổi mới

và những giải pháp ứng xử trong ngành giáo dục hiện nay, Nxb tài chính.

143. Mạc Văn Trang (2009), Tâm lý học giao tiếp – Một cơ sở của đổi mới phương pháp

phương pháp giáo dục, Tạp chí KHGD số 41, tháng 2/2009.

144. Thomas Armstrong (2013), Đa trí tuệ trong lớp học, Nxb GDVN.

145. Nguyễn Sinh Thơ (2008), Tâm lý học xã hội, Nxb Lao động.

146. Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành(2001), Tâm lý học đại

giáo dục, Tạp chí KHGD số 42, tháng 3/2009.

147. Nguyễn Quang Uẩn – Trần Trọng Thủy (2003), Tâm lý học đại cương, Nxb ĐHSP.

148. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển tập nghiên cứu về tâm lý – giáo dục, Nxb ĐHSP.

149. Trần Mai Ước, (2013) “Nghiên cứu khoa học của giảng viên – yếu tố quan trọng

cương, Nxb ĐH Quốc gia HN.

góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học trong giai đoạn

150. Vưgotxki L.X (1997), Tuyển tập Tâm lý học, Nxb Đại học Quốc gia HN.

151. Nguyễn Thành Vinh (2006), Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các

hiện nay”, Bản tin khoa học và giáo dục.

152. Nguyễn Khắc Viện (2001), Từ điển Tâm lý, Nxb Văn hóa thông tin, HN.

153. Phạm Viết Vượng (2010), Giáo dục học, Nxb ĐHSP.

154. Nguyễn Đình Xuân và Vũ Đức Hán (1994), Giáo trình tâm lý học quản lý, ĐH

trường (khoa) cán bộ quản lý và đào tạo hiện nay, Luận án TS, HN.

155. Nguyễn Như Ý (2000), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, HN.

tổng hợp HN.

156. Anderson T, 2003ª, Getting the mix right again: An updated and theoretical

TIẾNG NƯỚC NGOÀI

rationale for interaction. International Riview of Research in Open and Distance

157. Bandura A,(1997), Social Learning Theory, Prentice Hall, Englewood Cliffs, NJ.

158. Bowlby, J (1980), Attachment and loss, Vol.3, Hogrth Press, London.

159. Cooley, C. H, (1902), Human Nature and the Social Order, C. Scribner's sons,

Learning, 4 (2)

154

160. Chandrika, G, (1933), Advaita Siddhi, Vol. 3.

161. Dukin Kevin (1995), Developmetal Social Psychology, Blackwell Pubitshers.

162. Da Hsuan Feng (June 16 18, 2005). “World Universties Ranking – Generric and

New York.

Intangible Features Universities?” First International Conference on World Class

163. DeVellis, R.F, (2012), Scale development: Theory and applications. Los Angeles:

Universities at Shanghai Jiao – Tong University.

164. Hoffman, M, (2000), Empathy and Moral Developement-Implications for Caring

Sage. p. 109-110.

165. Jones Vernon F, and Louise Jones (1981). Responsible Classroom Discipline.

and Justice, Cambridge University Press.

166. Lewin K, (1951), Field theory in Social science, New York: Harper & Row

167. Erikson, E.H, (1982), The life cycle completed: A review, NewYork: Norton

168. Skinner, B. F. (1953), Science And Human Behavior, The Free Press, New York.

169. Wagner, E. D, (1994), “Insuport of a Functional Definition of Interation”. The

Boston: Allyn and Bacon, Inc., pages 95-215.

170. Mead, G.H, (1934), “Mind, SelfandSociety from the Standpoint of a Social

American Journal of Distance Education, 8(2)

Behaviorist”, Works of George Herber Mead, The University of Chicago Press,

171. Myers, D.G (1999), Social psychology, NewYork

172. Muntner, M, (2008). Teacher-Student Interactions: The Key To Quality

Chicago.

Classrooms. The University of Virginia Center for Advanced Study of Teaching

173. Rogers, C (Introduction by Peter D. Kramer M.D ) (1995), On Becoming a

and Learning (CASTL).

Person, NewYork.

PL1

Phụ lục 1.1.

b. Thấp e. Rất cao

c.Trung bình

Kính thưa quý Thầy/Cô! Nhằm tìm hiểu mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên.Với kinh nghiệm của mình, xin các thầy/cô vui lòng cho biết ý kiến của mình về một số vấn đề dưới đây. 1.Thầy/cô đánh giá thế nào về mức độ tương tác của sinh viên hiện nay? a. Rất thấp d. Cao f. ý kiến khác:……………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………. 2. Xin thầy cô cho biết, khi đánh giá mức độ tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên thường căn cứ theo tiêu chí nào? ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………….. 3. Trong các tiêu chí vừa nêu, Theo thầy/cô tiêu chí nào là quan trọng nhất? …………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………. 4. Xin thầy/ cô vui lòng cho biết, những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình tương tác tâm lý giữa giảng viên và sinh viên? ……………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của thầy/cô!

PHỤ LỤC 1: CÁC LOẠI BẢNG HỎI PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN CHUYÊN GIA (Dành cho giảng viên và các chuyên gia)

Phụ lục 1.2.

Các bạn sinh viên thân mến! Để góp phần tăng cường sự tương tác giữa giảng viên với sinh viên trong hoạt động đào tạo, chúng tôi rất mong được sự trao đổi của bạn về những vấn đề chúng ta cùng quan tâm. Những ý kiến của bạn có ích rất nhiều cho nghiên cứu của chúng tôi và không ảnh hưởng đến riêng tư của bạn.

Vì vậy, mong các bạn chia sẻ qua phiếu khảo sát này theo các đề mục, bằng cách đánh

dấu X vào ô, cột phù hợp với bạn.

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN (Dành cho sinh viên)

PHẦN 1: NHỮNG THÔNG TIN CHUNG

Nữ

1. Giới tính: Nam 2. Sinh viên năm thứ: 3. Trường: ĐHSG

ĐHCN TP.HCM

ĐHNH

PL2

PHẦN 2: NỘI DUNG

A. TÌM HIỂU SỰ HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ TƢƠNG TÁC

TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC Câu 1: Bạn hiểu thế nào về tương tác tâm lý?

 Không hiểu Hiểu không đầy đủ   Hiểu tương đối Hiểu tương đối đầy đủ   Hiểu rất rõ

Câu 2: Theo bạn, tương tác tâm lý giữa giảng viên (GV) với sinh viên trên lớp học có vai trò như thế nào trong hoạt động học tập của sinh viên (SV)?  Không quan trọng  Ít quan trọng Tương đối quan trọng   Quan trọng  Rất quan trọng

Câu 3: Bạn có quan tâm đến việc tương tác với GV trên lớp học và tích cực tương tác với giảng viên trên lớp?  Không quan tâm  Ít quan tâm Tương đối quan tâm   Quan tâm  Rất quan tâm

B. TÌM HIỂU TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN

1= Rất không đúng, không đồng ý hoàn toàn 2=Hầu như không đúng, cơ bản không đồng ý 3=Đôi khi đúng, đúng một phần, đồng ý một phần 4=Thường là đúng như vậy, cơ bản đồng ý 5=Rất đúng, rất đồng ý

QUA CÁC THÀNH PHẦN TÂM LÝ THAM GIA TƢƠNG TÁC Câu 4: Bạn hãy đọc kỹ từng câu dưới đây và chọn một mức độ phù hợp với bạn theo thang bậc từ 1 đến 5:

STT

CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG TÁC TÂM LÝ

1

MỨC ĐỘ 4 3

2

5

1

2

3

Trên lớp, tôi luôn mong muốn được trò chuyện, trao đổi với GV về nội dung bài học Tôi không hứng thú với những bài giảng một chiều của GV trên lớp Tôi rất hào hứng với các giờ giảng có sự trao đổi giữa giảng viên và sinh viên

4

5

6

7

Trên lớp, khi GV ít trao đổi với sinh viên, tôi thấy giờ học buồn tẻ, chán nản Trên lớp và trong giờ học, tôi ngại trao đổi, trò chuyện với GV về nội dung học tập, cũng như các vấn đề của cuộc sống Tôi luôn tìm cơ hội để trao đổi với GV về bài học và mọi vấn đề khác của cuộc sống Tôi muốn được trao đổi nội dung học tập và tâm sự mọi chuyện với GV không chỉ trên lớp mà còn cả qua mail, facebook

8 Khi được GV trao đổi thêm về các vấn đề khác ngoài

9

bài học, tôi thấy việc học hứng thú và dễ tiếp thu hơn Tôi muốn được gặp gỡ, trao đổi với GV nhiều hơn hiện nay

10 Tôi hầu như không thích trao đổi, trò chuyện với GV

trên lớp học

11 Trên lớp học tôi thường chủ động để được trao đổi, trò chuyện với GV về nội dung học tập và các vấn đề khác 12 Tôi hiểu trình độ chuyên môn, năng lực SP và NCKH

của GV dạy tôi

13 Tôi hiểu tính tình, sở thích, thói quen của GV dạy tôi 14 Trên lớp, tôi hiểu nội dung bài giảng và những điều GV

trao đổi

15 Tôi hiểu mong muốn, yêu cầu của GV khi trao đổi, trò

chuyện với tôi

16 Tôi hiểu về nhu cầu, động cơ và tâm huyết nghề nghiệp

của GV

17 Tôi hiểu được trạng thái cảm xúc của GV khi trao đổi

trên lớp

18 Hầu hết giảng viên dạy tôi là những người vui vẻ, hoạt

bát

19 Tôi nắm bắt được “ý” của GV qua “nghĩa” những điều

GV nói

20 Tôi hiểu điều kiện cá nhân, hoàn cảnh gia đình của GV 21 Tôi hiểu kinh nghiệm và hiểu biết của GV 22 Tôi và GV thường có sự tương đồng trong suy nghĩ về

học tập

23 Thái độ của tôi và của GV thường giống nhau về việc

học tập

PL3

24 Trên lớp, tôi thấy rất thân thiện, gần gũi, thoải mái với GV khi được giảng viên trao đổi về tình yêu, cuộc sống 25 Tôi luôn đồng quan điểm với GV về nhiều vấn đề trong lúc trao đổi như: học tập, chính trị, tình yêu, cuộc sống.

26 GV ít thấu hiểu tôi trong học tập 27 Giảng viên ít chấp nhận và thông cảm với tôi trong học

tập

28 GV thường tôn trọng tôi trong học tập và trong giao

tiếp (trò chuyện)

29 Giữa tôi và GV thường chấp nhận sự khác nhau trong

giao tiếp (trò chuyện, trao đổi)

30 GV thường cùng quan điểm với tôi trong cuộc sống 31 Tôi thường đồng cảm xúc với GV khi trao đổi những

vấn đề về tình yêu, cuộc sống.

32 Tôi rất khó tập trung theo dõi khi GV trao đổi, trò

chuyện trên lớp về mọi vấn đề

33 Trong trao đổi với GV về các vấn đề, tôi thường diễn đạt ý kiến, quan điểm của mình một cách rõ ràng, mạch lạc

34 Khi trao đổi với GV về mọi việc, kể cả nội dung học

tập, tôi rất khó mở đầu câu chuyện.

35 Tôi dễ dàng trao đổi với GV không chỉ nội dung học tập

mà còn cả các vấn đề khác (mọi vấn đề)

36 Tôi rất ngại khi phải nói lên quan điểm riêng của mình

trong giờ học

37 Tôi rất khó diễn đạt được suy nghĩ của mình trong trao đổi, trò chuyện với GV một cách dễ hiểu, ngắn gọn 38 Trên lớp, tôi gặp khó khăn khi tiếp thu ý kiến, quan

điểm của GV

39 Trên lớp học tôi thường chủ động để được trao đổi, trò

chuyện với GV về học tập và các vấn đề khác

40 Tôi khó giữ được bình tĩnh khi ý kiến trình bày của

mình bị phản đối trong trao đổi với GV

41 Tôi thường căng thẳng, lo lắng khi tiếp xúc, trao đổi với

GV trên lớp

42 Khi tiếp xúc, trao đổi, tôi luôn nhạy cảm trước các vấn

đề GV đưa ra

43 Tôi học được nhiều từ GV về chuyên môn cũng như

PL4

kiến thức cuộc sống qua các buổi trao đổi, trò chuyện

44 Khi có việc quan trọng cần quyết định trong học tập

cũng như cuộc sống, tôi thường hỏi ý kiến GV

45 Với tôi, GV không chỉ là người Thầy về chuyên môn,

mà còn là Thầy trong nhiều lĩnh vực khác

46 Tôi thường mệt mỏi và chán nản sau bài giảng hay trao

đổi với GV

47 Tôi luôn cảm thấy tự tin, hài lòng sau mỗi lần được trao đổi với GV về chuyên môn cũng như những vấn đề khác

48 Tôi thấy mình hiểu biết hơn, trưởng thành hơn sau mỗi

giờ học

49 Tôi thấy thất vọng, vì thấy học được từ GV không nhiều về chuyên môn cũng như kinh nghiệm cuộc sống 50 Tôi hài lòng về các GV và thỏa mãn sau mỗi giờ lên

lớp.

51 Tôi rất kính trọng và tự hào về GV dạy tôi 52 Giảng viên luôn tạo được sự tin cậy trong tôi 53 Giữa tôi và GV dường như không có khoảng cách, GV

như là người bạn lớn của tôi vậy

54 Giữa GV và tôi thường xa cách, GV ít tạo sự gần gũi,

thân mật với tôi

55 Thực ra, ấn tượng về GV trong tôi không lớn 56 Tôi thấy GV ít tôn trọng chúng tôi trong giờ học và

trong trao đổi

57 Ấn tượng về các GV trong tôi rất sâu sắc 58 Tôi tự hào vì được học tập và được tiếp xúc, trao đổi

với các GV của Khoa

65 Trên lớp, GV chỉ giảng bài và hầu như không trao đổi,

trò chuyện.

66 Trên lớp, tôi không trò chuyện, chia sẻ với giảng viên

dù chỉ một lần

67 Trên lớp, tôi thường xuyên trao đổi, trò chuyện với

giảng viên

68 Trên lớp, tôi thỉnh thoảng trao đổi, trò chuyện với giảng

viên

69 Trên lớp, GV thường xuyên trao đổi, trò chuyện với

chúng tôi

70 Trên lớp, GV thỉnh thoảng trao đổi, trò chuyện với

chúng tôi

PL5

PL6

C. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ

TRÊN LỚP GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC Câu 5: Theo bạn, những yếu tố nào sau đây ảnh hưởng đến qúa trình tương tác trên lớp học giữa giảng viên với sinh viên?

Yếu tố ảnh hưởng

Mức độ ảnh hưởng Ít

Rất ít

Bình thường

Nhiều Rất nhiều

Những tố yếu tâm lý cá nhân

tố

Những yếu bên ngoài

1.Nhận thức của sinh viên về tương tác trên lớp học 2.Thái độ của sinh viên trong tương tác 3. Khí chất của sinh viên 4. Năng lực của sinh viên 5.Tính cách SV 6. Nhận thức của GV về tương tác trên lớp học 7.Thái độ của GV đối với tương tác giữa GV với SV 8.Tính cách của GV 9. Khí chất của giảng viên 10. Năng lực của Giảng viên 1. Đặc trưng phương thức đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học 2.Tính chất môn học 3.Quy mô lớp học 4. Điều kiện, thời gian, môi trường tâm lí lớp học 5. Khác biệt về tuổi tác giữa GV với SV

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của bạn!

PL7

Phụ lục 1.3.

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN (Dành cho Giảng viên)

Vì vậy, Kính mong Quý Thầy/ Cô chia sẻ qua phiếu khảo sát này theo các đề mục, bằng

Kính gửi Quý Thầy/Cô! Để góp phần tăng cường sự tương tác giữa giảng viên với sinh viên trong hoạt động đào tạo, chúng tôi rất mong được sự trao đổi của Quý Thầy /Cô về những vấn đề chúng ta cùng quan tâm. Những ý kiến của Quý Thầy/Cô có ích rất nhiều cho nghiên cứu của chúng tôi và không ảnh hưởng đến riêng tư Quý Thầy / Cô. cách đánh dấu X vào ô, cột phù hợp Quý Thầy/Cô.

PHẦN 1: NHỮNG THÔNG TIN CHUNG

Nữ

1. Giới tính: Nam 2. Chuyên môn Thầy/Cô đảm nhận. …………………………………………… 3. Trình độ đào tạo:…………………………………………………………….. 4. Tuổi: ……………………………. 5. Thâm niên giảng dạy………………… 6. Trường: ĐH Sài Gòn

ĐH Công nghiệp ĐH Ngân hàng

PHẦN 2: NỘI DUNG

A. TÌM HIỂU SỰ HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ CỦA GIẢNG VIÊN VỀ TƢƠNG TÁC

TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC Câu 1: Thầy/cô hiểu thế nào về tương tác tâm lý?

 Không hiểu  Hiểu không đầy đủ  Hiểu tương đối Hiểu tương đối đầy đủ   Hiểu rất rõ

Câu 2: Theo Thầy/ Cô, tương tác tâm lý giữa giảng viên (GV) với sinh viên trên lớp học có vai trò như thế nào trong hoạt động học tập của sinh viên (SV)?  Không quan trọng  Ít quan trọng Tương đối quan trọng   Quan trọng  Rất quan trọng

Câu 3:Thầy /Cô có quan tâm đến việc tương tác giữa bản thân với SV trên lớp học và tích cực tương tác với sinh viên trên lớp?    

Không quan tâm Ít quan tâm Tương đối quan tâm Quan tâm

Rất quan tâm

PL8

B. TÌM HIỂU TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC CỦA GIẢNG

1= Rất không đúng, không đồng ý hoàn toàn 2=Hầu như không đúng, cơ bản không đồng ý 3=Đôi khi đúng, đúng một phần, đồng ý một phần 4=Thường là đúng như vậy, cơ bản đồng ý 5=Rất đúng, rất đồng ý

VIÊN QUA CÁC THÀNH PHẦN TÂM LÝ THAM GIA TƢƠNG TÁC Câu 4: Thầy/Cô đọc kỹ từng câu dưới đây và chọn một mức độ phù hợp với Thầy/Cô theo thang bậc từ 1 đến 5:

STT

CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG TÁC TÂM LÝ

1

2

3

4

5

1

Trên lớp, tôi luôn mong muốn được trò chuyện, trao đổi

với SV

2

Tôi không hứng thú với thái độ nghe giảng một chiều của SV trên lớp

3

Tôi rất hào hứng với các giờ học có sự trao đổi của sinh viên

4

Trên lớp, khi SV ít trao đổi với giảng viên, tôi thấy giờ học buồn tẻ, chán nản

5

Trên lớp và trong giờ học, tôi ngại trao đổi, trò chuyện

với SV về nội dung học tập, cũng như các vấn đề của cuộc sống

6

Tôi luôn tìm cơ hội để trao đổi với SV về bài học và mọi vấn đề khác của cuộc sống

7

Tôi muốn được trao đổi nội dung học tập và tâm sự mọi chuyện với SV không chỉ trên lớp mà còn cả qua mail,

facebook

8 Khi được SV trao đổi thêm về các vấn đề khác ngoài

bài học, tôi thấy việc dạy hứng thú và dễ dàng hơn

9

Tôi muốn được gặp gỡ, trao đổi với SV nhiều hơn hiện nay

10 Tôi hầu như không thích trao đổi, trò chuyện với SV

trên lớp học

11 Trên lớp học tôi thường chủ động để được trao đổi, trò

chuyện với SV về nội dung học tập và các vấn đề khác

12 Tôi hiểu trình độ, năng lực học tập và khả năng NCKH

của SV tôi dạy

13 Tôi hiểu tính tình, sở thích, thói quen của SV tôi dạy

14 Trên lớp, tôi hiểu việc tiếp thu bài giảng và những điều

SV trao đổi

15 Tôi hiểu mong muốn, yêu cầu của SV khi trao đổi, trò

chuyện với tôi

16 Tôi hiểu về nhu cầu, động cơ và tâm huyết nghề nghiệp

của SV

17 Tôi hiểu được trạng thái cảm xúc của SV khi trao đổi

trên lớp

18 Hầu hết sinh viên tôi dạy là những người vui vẻ, hoạt bát

19 Tôi nắm bắt được “ý” của SV qua “nghĩa” những điều

SV nói

20 Tôi hiểu điều kiện cá nhân, hoàn cảnh gia đình của SV

21 Tôi hiểu kinh nghiệm và hiểu biết của SV

22 Tôi và SV thường có sự tương đồng trong suy nghĩ về

học tập

23 Thái độ của tôi và của SV thường giống nhau về việc

học tập

24 Trên lớp, tôi thấy rất thân thiện, gần gũi, thoải mái với SV khi được sinh viên trò chuyện về tình yêu, cuộc sống

25 Tôi luôn đồng quan điểm với SV về nhiều vấn đề trong

lúc trao đổi như: học tập, chính trị, tình yêu, cuộc sống.

26

SV ít thấu hiểu tôi trên lớp

27

Sinh viên ít chấp nhận và thông cảm với tôi trên lớp

28

SV thường tôn trọng tôi trong giờ học và trong giao tiếp (trò chuyện)

29 Giữa tôi và SV thường chấp nhận sự khác nhau trong

giao tiếp (trò chuyện, trao đổi)

30

SV thường cùng quan điểm với tôi trong cuộc sống

31 Tôi thường đồng cảm xúc với SV khi trao đổi những

vấn đề về tình yêu, cuộc sống.

32 Tôi rất khó tập trung theo dõi khi SV trao đổi, trò

chuyện trên lớp về các vấn đề

33 Trong trao đổi với SV về các vấn đề, tôi thường diễn đạt ý kiến, quan điểm của mình một cách rõ ràng, mạch

PL9

lạc

34 Khi trao đổi với SV về mọi việc, kể cả nội dung học

tập, tôi rất khó mở đầu câu chuyện.

35 Tôi dễ dàng trao đổi với SV không chỉ nội dung học tập

mà còn cả các vấn đề khác (mọi vấn đề)

36 Tôi rất ngại khi phải nói lên quan điểm riêng của mình

trong giờ học

37 Tôi rất khó diễn đạt được suy nghĩ của mình trong trao đổi, trò chuyện với SV một cách dễ hiểu, ngắn gọn

38 Trên lớp, tôi gặp khó khăn khi tiếp thu ý kiến, quan

điểm của SV

39 Trên lớp học tôi thường chủ động để được trao đổi, trò

chuyện với SV về học tập và các vấn đề khác

40 Tôi khó giữ được bình tĩnh khi ý kiến trình bày của

mình bị phản đối trong trao đổi với SV

41 Tôi thường căng thẳng, lo lắng khi tiếp xúc, trao đổi với

SV trên lớp

42 Khi tiếp xúc, trao đổi, tôi luôn nhạy cảm trước các vấn

đề SV đưa ra

43 Tôi học được nhiều từ SV, nhất là qua các buổi trao đổi,

trò chuyện

44 Khi có việc quan trọng liên quan tới học tập của SV, cũng như cuộc sống tôi thường trao đổi với SV trước

khi quyết định.

45 Với tôi, SV không chỉ là học trò, mà còn là bạn trong

nhiều lĩnh vực

46 Tôi thường mệt mỏi và chán nản sau bài giảng hay trao

đổi với SV

47 Tôi luôn cảm thấy tự tin, hài lòng sau mỗi lần được trao đổi với SV về chuyên môn cũng như những vấn đề khác

48 Tôi thấy mình hiểu biết hơn, trưởng thành hơn sau mỗi

giờ lên lớp trao đổi với sinh viên

49 Tôi hài lòng về các SV và thỏa mãn sau mỗi giờ lên lớp

trao đổi với sinh viên.

50 Tôi rất quý trọng và tự hào về SV tôi dạy

51

Sinh viên luôn tạo được sự tin cậy trong tôi

PL10

52 Giữa tôi và SV dường như không có khoảng cách, SV

như là người bạn của tôi vậy

53 Giữa SV và tôi thường xa cách, SV ít tạo sự gần gũi,

thân mật với tôi

54 Thực ra, ấn tượng về SV trong tôi không lớn

55 Tôi thấy SV ít tôn trọng tôi trong giờ lên lớp và trong

trao đổi

56 Ấn tượng về các SV trong tôi rất sâu sắc

57 Trên lớp, ngoài nâng cao chuyên môn, SV còn truyền cảm hứng cho tôi về sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu

khoa học

58 Tôi tự hào vì được tiếp xúc, trao đổi, trò chuyện, dạy dỗ

các SV Trường tôi.

65 Trên lớp, SV chỉ nghe giảng và hầu như không trao đổi,

trò chuyện.

66 Trên lớp, tôi không trò chuyện, chia sẻ với sinh viên dù

chỉ một lần

67 Trên lớp, tôi thường xuyên trao đổi, trò chuyện với sinh

viên

68 Trên lớp, tôi thỉnh thoảng trao đổi, trò chuyện với sinh

viên

69 Trên lớp, SV thường xuyên trao đổi, trò chuyện với tôi

70 Trên lớp, SV thỉnh thoảng trao đổi, trò chuyện với tôi

PL11

C. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ

TRÊN LỚP GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC Câu 5: Theo Quý Thầy/ Cô, những yếu tố nào sau đây ảnh hƣởng đến qúa trình tƣơng tác trên lớp học giữa giảng viên với sinh viên?

Yếu tố ảnh hưởng

Mức độ ảnh hưởng

Rất

Ít

Bình

Nhiều Rất

ít

thường

nhiều

1.Nhận thức của sinh viên về tương tác trên

Những

lớp học

yếu

tố

tâm lý cá

2.Thái độ của sinh viên trong tương tác

nhân

3. Khí chất của sinh viên

4. Năng lực của sinh viên

5.Tính cách SV

6. Nhận thức của GV về tương tác trên lớp

học

7.Thái độ của GV đối với tương tác giữa

GV với SV

8.Tính cách của GV

9. Khí chất của giảng viên

10. Năng lực của Giảng viên

1. Đặc trưng phương thức đào tạo theo tín

PL12

Những

chỉ ở trường đại học

yếu

tố

bên

2.Tính chất môn học

ngoài

3.Quy mô lớp học

4. Điều kiện, thời gian, môi trường tâm lí

lớp học

5. Khác biệt về tuổi tác giữa GV với SV

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của Quý Thầy/Cô!

PL13

PHỤ LỤC 2

Phụ lục 2.1.

PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho sinh viên)

Tổng số: 08 trƣờng hợp

- Yêu cầu chung: Sinh viên - Yêu cầu cụ thể: 04 sinh viên năm 1; 04 sinh viên năm 3 - Nội dung phỏng vấn:

1. Họ tên:…………………………………………………………… 2. Tuổi:…………………….Sinh viên năm:………………………… 3. Học lực:……………………………………………………… 4. Quan hệ của em với thầy cô và ngược lại như thế nào (trong giờ lên lớp, ngoài lớp)? 5. Cảm nhận của em về thầy cô hiện nay, em thấy thầy cô là người như thế nào? 6. Em có mong muốn gì cho tương lai của mình? Có muốn thầy cô có những thay đổi quan hệ với em không? Cụ thể:………………… 7. Theo em, trong quan hệ giữa em với thầy cô đã có những thay đổi theo mong muốn của em chưa? (hỏi riêng từng SV và GV) 8. Trong mối quan hệ giữa em và thầy cô có để lại cho em ảnh hưởng (tốt hoặc xấu) gì không? 9. Theo em, những nguyên nhân nào ảnh hưởng tới quan hệ của em với thầy cô và ngược lại? (Hỏi kỹ để thấy tác động qua lại của mối quan hệ này ảnh hưởng tới hiệu quả đào tạo) 10. Theo em, để học tập hiệu quả có cần thiết phải biết thiết lập mối quan hệ và tương tác tốt với thầy, cô không? 11. Giảng viên có thường giao nhiệm vụ học tập cho em không?.Em có tích cực giải quyết nhiệm vụ được giao? 12. Khi giải quyết nhiệm vụ học tập, hay những khi gặp khó khăn trong cuộc sống, em có chủ động hỏi giảng viên, hay tìm giảng viên để trao đổi, nhờ tư vấn không? 13. Trong tương tác trên lớp học với thầy/cô hiện nay, em cảm thấy mình có thế mạnh cũng như khó khăn nào? (khả năng nắm bắt tâm lý, khả năng nắm bắt vấn đề, kĩ năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự chủ cảm xúc…) 14. Em có mong muốn được nhà trường trang bị thêm về kĩ năng thiết lập, tương tác với thầy, cô không? Ý kiến đề nghị cụ thể về cách thức, thời gian bồi dưỡng. Phụ lục 2.2:

PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho giảng viên)

Phỏng vấn những giảng viên đang trực tiếp dạy những sinh viên trên (theo cặp) Nội dung phỏng vấn

1. Họ tên:……………………………………………………………

2. Tuổi:…………………………………………………………….. 3. Học vị, học hàm:………………………………………………… 4. Trường:…………………………………………………………… 5. Hiện giảng dạy lớp:……………………………………………… 6. Tìm hiểu quan điểm của giảng viên về cách thức tiếp xúc, trao đổi, trò chuyện với

giảng viên khi lên lớp

7. Sử dụng lại một số tình huống đã nêu ở phiếu trưng cầu ý kiến nhằm đối chiếu với

những ý kiến đã lựa chọn trong bảng hỏi.

8. Sự ảnh hưởng của các mối quan hệ tác động qua lại giữa giảng viên và sinh viên trong

giai đoạn hiện nay.

9. Thuận lợi và khó khăn của giảng viên trong việc tương tác với sinh viên trên lớp học

hiện nay.

10. Cảm nhận của giảng viên về sinh viên hiện nay trong tương tác trên lớp học 11. Tìm hiểu ý kiến của giảng viên về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan, khách quan đến sự tương tác như:(nhận thức của sinh viên; thái độ của sinh viên; nhu cầu tương tác của sinh viên; kĩ năng tương tác của sinh viên; môi trường, quy mô lớp học, bầu không khí tương tác; biện pháp bồi dưỡng kĩ năng tương tác.)

12. Tìm hiểu các cách thức GV tổ chức nhằm thúc đẩy quá trình tương tác giữa GV – SV

trên lớp học. Cụ thể:

- Thầy/ Cô có thường xuyên giao nhiệm vụ học tập cho SV? - Thầy / Cô có thường kiểm tra, giám sát, động viên, khích lệ trongquá trình

thực hiện nhiệm vụ của SV

- Thầy / Cô có thường tổ chức cho SV trao đổi, thảo luận vấn đề đã giao? - Thầy / Cô có thường sử dụng thêm các cách thức khác giúp SV liên hệ với

mình ngoài giờ học không? Cụ thể.

13. Giả sử một số tình huống. Cụ thể:

- Trên lớp khi sinh viên không tương tác với giảng viên. Thầy/Cô làm gì để

kích thích sinh viên tương tác trên lớp?...

PL14

Phụ lục 2.3.

1. Tìm hiểu thông tin về lớp học 2. Cảm nhận của BGH – Phòng ĐT – Phòng Khảo thí - Đoàn TN – Cố vấn học tập về sự

tương tác của giảng viên tới sinh viên trên lớp học và các hoạt động khác. 3. Nhận xét của BGH – Trưởng khoa – PĐT về giảng viên tham gia thực nghiệm

NỘI DUNG PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho BGH – CNK - Phòng ĐT)

Phụ lục 2.4.

PHIẾU QUAN SÁT (Dành cho sinh viên) 1. Người quan sát:……………………………………………… 2. Ngày quan sát:………………………………………………… 3. Họ tên sinh viên:………………………………………………

4. Sinh viên lớp:………………………………………………… 5. Nội dung quan sát:……………………………………………

- Quan sát cách thức bắt đầu giờ học - Quan sát cách thức sinh viên hoạt động trong giờ học. - Quan sát cách tiếp xúc, trò chuyện của sinh viên với cán bộ nghiên cứu, bạn bè, giảng

viên trên lớp, ngoài lớp (trước giờ học và sau giờ học)

- Quan sát cách nghe và lắng nghe giảng viên giảng bài, đặt câu hỏi, trò chuyện… của

sinh viên

- Quan sát cách bày tỏ thái độ, quan điểm riêng của sinh viên - Quan sát trạng thái cảm xúc, thái độ biểu cảm của sinh viên trong giờ học trước mỗi

nội dung, tình huống tương tác.

- Quan sát tần số tương tác của mỗi sinh viên với giảng viên và nội dung, vấn đề sinh

viên tương tác.

- Quan sát quá trình học trên lớp, giao tiếp với giảng viên, bạn bè để thấy được xu hướng nhân cách của sinh viên, qua đó nắm bắt nhu cầu, kĩ năng tương tác… của sinh viên.

PL15

PHIẾU QUAN SÁT (Dành cho giảng viên)

- Quan sát cách bắt đầu giờ học: giới thiệu, lựa chọn nội dung đưa sinh viên vào bài học. - Quan sát cách thức tổ chức giờ học, điều khiển sinh viên tương tác với giảng viên, với

bạn học.

- Quan sát cách thức tiếp xúc, trò chuyện với người nghiên cứu, cách thức tiếp xúc, trò chuyện của giảng viên với sinh viên. Cách nêu câu hỏi, giải thích của giảng viên với sinh viên trong giờ học, ngoài giờ học.

- Quan sát cách nghe và lắng nghe của giảng viên khi sinh viên hỏi, trả lời. - Quan sát trạng thái tâm lý, thái độ, biểu cảm cảm xúc của giảng viên trong giờ học. - Quan sát cách thức xử lý tình huống của giảng viên trong giờ học khi có những hiện tượng sinh viên ngủ, sử dụng điện thoại, không tập trung chú ý, không tương tác, làm việc riêng….

- Quan sát cách thức giảng viên kích thích, xây dựng bầu không khí, môi trường tương tác tâm lý trong giờ học, qua đó biết được nhận thức, thái độ, kĩ năng… tương tác tâm lý của giảng viên với sinh viên.

Phụ lục 2.5. 1. Người quan sát:………………………………………… 2. Ngày quan sát:…………………………………………… 3. Họ tên giảng viên:………………………………………… 4. Giảng dạy lớp:……………………………………………… 5. Nội dung quan sát:………………………………………………

PL16

Người phỏng vấn: Cao T. N

Người được phỏng vấn: Nguyễn Thị Ngọc D Sinh năm: 1994 - Sinh viên năm 3

Hỏi: Để tạo một môi trường học tập thật hiệu quả ở trường đại học thông qua việc tìm hiểu sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp. Cô đang nghiên cứu nhằm làm rõ những suy nghĩ, cảm nhận của các em về vấn đề này, trên cơ sở đó giúp mối quan hệ giảng viên, sinh viên trên lớp gần nhau, thân thiện, cởi mở hơn. Những câu trả lời chân thật, đúng cảm nhận sau đây của em sẽ giúp giảng viên ở trường và các em hiểu nhau hơn, gắn kết mối quan hệ thầy trò, từ đó nâng cao tính tích cực và hiệu quả việc học tập.

Cô và em cùng trò chuyện với nhau nhe! Cô tên là N. Em tên gì?E học năm mấy? Trả lời: Em tên là: Ngọc D, Hiện là sinh viên năm 3 Hỏi: Là sinh viên năm 3 rồi. Chắc đã có những cảm nhận sâu sắc về giảng viên mình học.Em đánh giá mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên nhìn tổng thể hiện nay như thế nào?Em có thể cho cô biết cảm nhận của em về mối quan hệ giữa em và giảng viên em đã học được không?

Trả lời: Em có thể nói thật tất cả những gì em cảm nhận được không cô và điều đó không

sao chứ ạ?

Hỏi: Đó là đương nhiên rồi. Cuộc nói chuyện này là của cô trò mình, nó sẽ giúp cô biết được các em đang mong muốn điều gì và giảng viên nên như thế nào để có thể giúp các sinh viên của mình học tốt hơn.

Trả lời: Suy nghĩ một chút …Vậy em nói nhé! Theo em thấy thì… mối quan hệ giữa em và giảng viên hiện nay chưa được thân thiện lắm

nếu so với hồi em học ở phổ thông cô ạ.

Hỏi: Vậy, theo em thì nguyên nhân nào? Trả lời: Em không biết rõ nhưng với riêng em thì có lẽ do một phần em lười biếng tương tác với giảng viên, phần do lớp học đông quá, thời gian quá ít, tuổi tác trênh lệch nên em ngại. Phần nữa cũng không biết phải bắt đầu từ đâu để nói chuyện và mở lời.

Hỏi: Em thấy không biết nói gì với giảng viên hay ngại vì không tin tưởng giảng viên? Trả lời: Không phải không tin tưởng giảng viên mà chỉ là không được thân thiết nên thấy ngại thôi cô ạ. Với lại giảng viên cũng không có thời gian, em thấy thầy cô luôn tất bật, hết giờ lớp này lo đi sang lớp khác, hết giờ lại vội về. Vì vậy, cũng không có nhiều thời gian để chúng em hỏi chuyện cô ạ.

Hỏi: Thế em có muốn trò chuyện những nội dung riêng tư với thầy, cô không đã chứ? Trả lời: Có chứ cô, nhiều khi cũng có nhiều vấn đề băn khoăn lắm như bài học nè, quan hệ bạn bè; và cả cách đối xử của một số thầy, cô với tụi em không đúng lắm, cũng muốn chia sẻ nhưng lại không thể vì không biết thầy cô có hiểu cho mình không hay lại nghĩ “khác” thì chết. Cười.

Phụ lục 2.6: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU MỘT TRƢỜNG HỢP

Hỏi: Em thấy thầy, cô trường mình có thân thiện với sinh viên không? Trên lớp thầy cô có

thường tạo điều kiện cho các em chia sẻ về mọi vấn đề không?

Trả lời: Nhìn chung, em thấy mối quan hệ thầy trò ở trường chưa được thân thiện. Trên lớp có một số thầy cô có tạo điều kiện giúp chúng em dễ dàng chia sẻ không chỉ vấn đề học tập mà còn các vấn đề khác. Tuy nhiên không nhiều cô ạ. Nhiều thầy, cô lên lớp chỉ dạy như cho xong nhiệm vụ, nên nhiều khi em và các bạn chán thường làm việc riêng.Nhiều thầy, cô không cho địa chỉ liên lạc ngoài giờ học.Có thầy, cô cho mail, nhưng khi tụi em hỏi thì lại không trả lời.Nên em thấy không có tình cảm thân thiết lắm với các thầy, cô ở trường đại học.

Hỏi: Em có mong muốn cải thiện mối quan hệ này không Trả lời: Tất nhiên là có chứ cô. Hỏi: Vậy, em muốn thầy cô làm gì để cải thiện mối quan hệ này? Trả lời: Với em, em chỉ muốn thầy cô dành thời gian quan tâm tới chúng em hơn, hiểu chúng em hơn, một số thầy cô đừng tạo áp lực lên chúng em. Em muốn được thầy cô chia sẻ những áp lực của thầy cô với chúng em, giúp chúng em hiểu thầy cô. Em muốn được nhà trường, khoa tạo điều kiện cho chúng em được thêm thời gian và không gian gặp gỡ, gần gũi thầy, cô giúp chúng em hiểu về thầy,cô. Có như vậy, thì em nghĩ chắc chắn tình cảm của chúng em với thầy cô sẽ thân thiện và như vậy chúng em mới có thể dám trao đổi, trò chuyện, chia sẻ, tâm sự với thầy, cô cô ạ.

Xin cảm ơn em về cuộc trò chuyện thẳng thắn và ý nghĩa giữa cô trò mình hôm nay.Những thông tin của em giúp cô rất nhiều trong nghiên cứu, giúp cô trò mình cũng như các bạn và các thầy/ cô cải thiện mối quan hệ thầy trò ngày càng tốt đẹp hơn trong tương lai.Chúc em thành công trong học tập và cuộc sống. Cô trò mình sẽ còn gặp lại nhau nhé!

PL17

Trả lời: Dạ, em cũng cảm ơn cô đã cho em được nói lên những khúc mắc trong lòng mình. Phụ lục 2.7: MỘT SỐ BÀI VIẾT (BÚT ĐÀM) CỦA GIẢNG VIÊN VỀ SINH VIÊN

PL18

PL19

PL20

MỘT SỐ BÀI VIẾT DẠNG PHỎNG VẤN VIẾT (BÚT ĐÀM) CỦA SINH VIÊN VỀ THẦY CÔ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC (Cảm nhận của bản thân sinh viên về thầy/cô trong tương tác trên lớp, ngoài lớp. Những khó khăn, mong muốn)

PL21

PL22

Phụ lục 3.1:

PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ DỮ LIỆU TRÍCH XUẤT TỪ PHƢƠNG PHÁP THỐNG KÊ TÓAN HỌC Đặc điểm dân số nghiên cứu

 Sinh viên

 Giảngviên

PL23

Phụ lục 3.2:

Độ tin cậy thang đo

Nhucầu

alpha c41 c42 c43 c44 c45 c46 c47 c48 c49 c410 c411

Test scale = mean(unstandardized items)

Average interitem covariance: .3672869

Number of items in the scale: 11

Scale reliability coefficient: 0.8402

 Sinh viên

Tương hợp

alpha c412 c413 c414 c415 c416 c417 c418 c419 c420 c421 c422 c423 x424 x425 c426 c427

c428 c429 c430 c431

Test scale = mean(unstandardized items) Average interitem covariance: .5133699

Number of items in the scale: 20 Scale reliability coefficient: 0.9501

Phối hợp

alpha c432 c433 c434 c435 c436 c437 c438 c439 c440 c441 c442

Test scale = mean(unstandardized items) Average interitem covariance: .5190697

Number of items in the scale: 11 Scale reliability coefficient: 0.9311

Tần số

alpha c465 c466 c467 c468 c469 c470

Test scale = mean(unstandardized items) Reversed items: c467 c470

Average interitem covariance: .3785196 Number of items in the scale: 6

Scale reliability coefficient: 0.8569

Ảnh hưởng

alpha c443 c444 c445 c446 c447 c448 c449 c450 c451 c452 c453 c454 c455 c456 c457 c458

Test scale = mean(unstandardized items) Average interitem covariance: .4342092

Number of items in the scale: 16 Scale reliability coefficient: 0.9290

PL24

Nhu cầu

alpha c41 c42 c43 c44 c45 c46 c47 c48 c49 c410 c411

Test scale = mean(unstandardized items) Reversed item: c410

Average interitem covariance: .2415847 Number of items in the scale: 11

Scale reliability coefficient: 0.7793

 Giảng viên

Tương hợp

alpha c412 c413 c414 c415 c416 c417 c418 c419 c420 c421 c422 c423 x424 x425 c426 c427

c428 c429 c430 c431 Test scale = mean(unstandardized items)

Average interitem covariance: .2251323 Number of items in the scale: 20

Scale reliability coefficient: 0.8078

Phối hợp

alpha c432 c433 c434 c435 c436 c437 c438 c439 c440 c441 c442

Test scale = mean(unstandardized items)

Reversed items: c433 c435 c439 Average interitem covariance: .1950869

Number of items in the scale: 11 Scale reliability coefficient: 0.7380

Tần số

alpha c465 c466 c467 c468 c469 c470

Test scale = mean(unstandardized items) Reversed item: c470

Average interitem covariance: .3276321 Number of items in the scale: 6

Scale reliability coefficient: 0.7792

Ảnh hưởng

alpha c443 c444c445 c446 c447 c448 c449 c450 c451 c452 c453 c454 c455 c456 c457 c458

Test scale = mean(unstandardized items)

Average interitem covariance: .2779485 Number of items in the scale: 16 Scale reliability coefficient: 0.8208

PL25

PL26

Phụ lục 3.3:

Bảng trung bình các biểu hiện

 Giảng viên

 Sinh viên

Bảng trung bình các biểu hiện theo năm

 Giảng viên năm 1 và 2

 Giảng viên năm 3 và 4

 Sinh viên năm 1 và 2

 Sinh viên năm 3 và 4

PL27

PL28

Khác biệt 2 trung bình giữa các biểu hiện

Phụ lục 3.4:

 Nhu cầu

 Tương hợp

Phối hợp

 Ảnh hƣởng

 Tần số

PL29

Chung

PL30

Phụ lục 3.4:

KIỂM ĐỊNH THỰC NGHIỆM

 Tương hợp sinh viên (hiểu biết về nhau)

PL31

PL32

 Sự phối hợp qua kỹ năng ở sinh viên

PL33

Phụ lục 3.5: MỘT SỐ CÔNG THỨC TÍNH HỒI QUY ĐA BIẾN – TẦM QUAN TRỌNG CÁC YẾU TỐ ĐẾN TƢƠNG TÁC TÂM LÝ

# DOC FILE #

SO LIEU GIANG VIEN

giangvien =file.choose()

library(foreign)

gv=read.dta(giangvien)

attach(giangvien)

library(psych)

SO LIEU SINH VIEN

sinhvien=file.choose()

sv=read.dta(sinhvien)

##### HOI QUY THU HANG ####

##### ####

library(relaimpo)

bt1 <- boot.relimp(tuongtacs_v ~ c61 +c62 +c63 + c64 +c65 +c66 +c67 +c68 +c69

+c610)

bt2 <- boot.relimp(tuongtacg_v ~ c61 +c62 +c63 + c64 +c65 +c66 +c67 +c68 +c69

+c610)

bt3 <- boot.relimp(tuongtacs_v ~ c611 + c612 + c613 + c614 + c615)

bt4 <- boot.relimp(tuongtacg_v ~ c611 + c612 + c613 + c614 + c615)

plot(booteval.relimp(bt1)

plot(booteval.relimp(bt2)

plot(booteval.relimp(bt3)

plot(booteval.relimp(bt4)

PL34

Phụ lục 3.6: TƢƠNG QUAN GIỮA CÁC BIỂU HIỆN THÀNH PHẦN TÂM LÝ

TRONG TƢƠNG TÁC

Bảng. Kết quả thay đổi mức độ tương tác tâm lý của sinh viên (sau thực nghiệm)

Giá trị p

Trước thực nghiệm

1,57 (0,68)

Lần đo lường [Trungbình (ĐLC)] Sau thực nghiệm lần 1 2,36 (1,07)

Sau thực nghiệm lần 2 3,05 (0,96)

<0,001

1,39 (0,49)

2,45 (1,03)

2,7 (1,14)

<0,001

Tương hợp qua hiểu biết của sinh viên Phối hợp qua kĩ năng của sinhviên Mức độ tác động

1,48 (0,55)

2,41 (1,05)

2,88 (1,08)

<0,001

Ghi chú: ĐLC = Độ lệch chuẩn

PL35

PHỤ LỤC 4

Phụ lục 4.1:

MỘT SỐ DỮ KIỆN THỰC NGHIỆM KỊCH BẢN TOẠ ĐÀM TRAO ĐỔI

(Dành cho giảng viên) KẾ HOẠCH CHƢƠNG TRÌNH Ngày tổ chức: 22/8/2014 Số lượng: 6 GV Số buổi: 1

1. Mục đích: - Tạo điều kiện cho giảng viên được trao đổi, đóng góp ý kiến, qua đó nâng cao nhận thức cho giảng viên về sự cần thiết của tương tác tâm lý trên lớp học, sự cần thiết trong hiểu biết của thầy về sinh viên. Xác định rõ những kĩ năng cần thiết trong tương tác và có ý thức tự rèn luyện, nâng cao kĩ năng tương tác tâm lý trên lớp học của bản thân.

2. Thời gian – Đối tƣợng tham dự

Thời gian: Được thực hiện qua các giai đoạn như sau

 Giai đoạn 1: chuẩn bị - Chuẩn bị nội dung trao đổi: Gặp gỡ giảng viên đưa và đặt vấn đề cùng chuẩn bị nội

dung tham luận cho buổi toạ đàm, trao đổi. - Xác định, thống nhất ngày toạ đàm.  Giai đoạn 2: Tổ chức toạ đàm  Thời gian tổ chức: 14h30 ngày 22/8/2014

Đối tượng tham dự: giảng viên

3. Nội dung toạ đàm, trao đổi - Làm rõ thực trạng tương tác Thầy – trò, mối quan hệ thầy trò trên lớp học ở trường đại

học hiện nay, những nguyên nhân.

- Làm rõ vai trò của người thầy/cô trên lớp học trong đào tạo theo tín chỉ. - Ý nghĩa của tương tác tâm lý trong mối quan hệ thầy – trò trên lớp học. Đặc biệt vai trò của thầy/cô trong việc làm nảy sinh nhu cầu, kích thích tính tích cực của sinh viên trong tương tác với thầy trên lớp học.

- Làm rõ sự hiểu biết của thầy/cô về trò. Vai trò của sự hiểu biết của thầy/cô về trò.Biện

pháp giúp thầy - trò nâng cao sự hiểu biết về nhau.

- Xác định rõ các kĩ năng tương tác tâm lý cần thiết, cách thức sử dụng các kĩ năng

tương tác tâm lý của thầy/cô đến trò trên lớp đạt hiệu quả. Phụ lục 4.2 :

(Dành cho giảng viên)

Sau khi toạ đàm trao đổi về vấn đề tương tác, tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên: thực trạng - nguyên nhân - biện pháp. Xin thầy.cô cho biết ý kiến của mình về một số vấn đề sau.Những ý kiến chân thành của quý Thầy/Cô sẽ giúp chúng tôi tổ chức các lần toạ đàm sau được tốt hơn.

PHIẾU PHỎNG VẤN SAU THỰC NGHIỆM

tác với sinh viên

tốt hơn

tương

trên

1. Xin Thầy/Cô cho biết buổi toạ đàm này có cần thiết? Cảm nhận của bản thânThầy/Cô về buổi toạ đàm như thế nào? ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………. 2. Thầy/ Cô có đồng ý với ý kiến là phải thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi, toạ đàm về các vấn đề tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học ở nhà trường đại học? ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… 3. Buổi toạ đàm đã giúp mỗi giảng viên nhận rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và biện pháp nhằm giúp giảng viên lớp học. ………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy/Cô!

PL36

(Dành cho giảng viên)

Sau chuyến đi thực tế nhằm giúp giảng viên và sinh viên có thêm điều kiện hiểu biết về

nhau. Xin Thầy/Cô cho biết cảm nhận của bản thân về một số vấn đề sau: 1. Thầy/ Cô cho biết cảm nhận của bản thân về mối quan hệ giữa giảng viên với sinh viên trước và sau chuyến thực tế Miền Tây. ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………. 2. Thầy /Cô có thể cho biết rõ hơn, sau chuyến đi thực tế Thầy/Cô đã có những thay đổi gì trong tương tác với sinh viên? ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………. 3. Theo Thầy/Cô, để giúp nâng cao hiệu quả tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên lớp học, nhưng yếu tố nào là cần thiết? ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………

Phụ lục 4.3 : PHIẾU PHỎNG VẤN SAU THỰC NGHIỆM

Phụ lục 4.4:

Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy/Cô! NÓI CHUYỆN – TẬP HUẤN CHUYÊN ĐỀ “TƢƠNG HỢP TÂM LÝ VÀ SỰ PHỐI HỢP TRÊN LỚP TRONG TƢƠNG TÁC” Ngày tổ chức: 15/4/2015 Đối tượng: Sinh viên Số lượng: 56 sv Số buổi: 1

Mục đích

- Hiểu được thế nào là tương hợp tâm lý - Hiểu được ý nghĩa, vai trò của tương hợp tâm lývà phối hợp lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên trong dạy – học trên lớp. Từ đó có thái độ tích cực trong tương tác với thầy trên lớp. Nội dung

- Vai trò của tương hợp tâm lý và phối hợp lẫn nhau trong dạy học.

PL37

Diễn giảng nội dung

Ghi chú

Sắp xếp lại bàn ghế; vị trí bảng

Thiết bị hỗ trợ Máy chiếu, micro

8h -8h30

Sắp xếp chỗ ngồi

Kiểm tra thiết bị hỗ trợ

Kiểm tra hoa, quà tặng

Kế hoạch tiến hành Hạng mục Thời công việc gian - BTC rà soát 7h30- 8h công tác chuẩn bị - Hướng dẫn sinh viên vào - MC giới thiệu chương trình bắt đầu BCV Lương Minh Nhật

8h30 -10 h

Chuẩn bị micro không dây; giấy; viết bảng cho sinh viên

10h30 -11h

Sinh viên trao đổi với BCV

-BCV Lương Minh Nhật báo cáo nội dung chuyên đề “Tƣơng hợp tâm lý và sự phối hợp nhau trên lớp học” - BCVHướng dẫn thảo luận: + Trong cuộc sống và trong học tập vì sao con người cần phải có sự tương hợp tâm lý; phối hợp trong tương tác với nhau. +Tương hợp tâm lý; phối hợp có vai trò như thế nào trong cuộc sống. +Trong học tập trên lớp học, tương hợp tâm lý; phối hợp có vai trò như thế nào đối với người sinh viên + Nếu trên lớp học người sinh viên, giảng viên không có sự tương hợp tâm lý; phối hợp,vấn đề gì sẽ xảy ra? +…. BCV trao đổi cùng sinh viên những tình huống khó xử trong tương tác tâm lý do không có sự tương hợp, phối hợp giữa sinh viên với giảng viên.

11h

Micro không dây; giấy, bút viết

Kết thúc và cảm ơn

Dọn dẹp hiện trường

PL38

Mục đích: Tìm hiểu về kĩ năng tương tác trong phối hợp hành động Nội dung Kĩ năng trong tương tác: Kĩ năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng lắng nghe, kĩ

“KĨ NĂNG TƢƠNG TÁC HIỆU QUẢ” Ngày tổ chức: 22/4/2015 Đối tượng: Sinh viên Số lượng: 56 sv Số buổi: 2

Kế hoạch tiến hành

năng diễn đạt, kĩ năng tự chủ cảm xúc

Diễn giảng nội dung Ghi chú

Thiết bị hỗ trợ

Thời gian 7h30- 8h Sắp xếp lại bàn ghế; vị trí bảng Máy chiếu,

micro

8h -8h30 Sắp xếp chỗ ngồi

Bật và kiểm tra lại thiết bị hỗ trợ Kiểm tra hoa, quà tặng

8h30-10 h

Hạng mục công việc - BTC rà soát công tác chuẩn bị - Hướng dẫn sinh viên vào -MC giới thiệu chương trình bắt đầu BCV Lê Thị Linh Trang tổ chức thảo luận

Chuẩn bị micro không dây; giấy; viết lông cho sinh viên

10h30 - 11h

Sinh viên Trao đổi với BCV - BCV Lê Thị Linh Trangbáo cáo nội dung chuyên đề “Kĩ năng tƣơng tác hiệu quả” - BCV Hướng dẫn thảo luận: + Kĩ năng thiết lập mối quan hệ + Kĩ năng lắng nghe - BCV hướng dẫn thực hành các kĩ năng Sinh viên trao đổi cùng báo cáo viên những tình huống gặp phải trong thực hành các kĩ năng

Micro không dây; giấy, bút viết

PL39

11h

Kết thúc buổi sáng Tạm nghỉ buổi báo cáo chuyên đề buổi sáng

MC Dặn dò sinh viên cho buổi chiều

13h30- 2h MC Tổ chức trò chơi khởi động cho sinh viên

-MC giới thiệu bắt đầu chương trình

2h -3h30 BCV tổ chức

thảo luận

Chuẩn bị micro không dây; giấy; viết Chuẩn bị micro không dây; giấy; viết lông cho sinh viên

- BCV Lê Thị Linh Trangbáo cáo nội dung chuyên đề: + Kĩ năng diễn đạt +Kĩ năng tự chủ cảm xúc - BCV hướng dẫn thảo luận và thực hành + Kĩ năng diễn đạt +Kĩ năng tự chủ cảm xúc

4h30 - Sinh viên trao đổi cùng báo cáo viên những tình huống gặp phải; thắc mắc trong thực hành các kĩ năng Kết thúc chuyên đề Chuẩn bị micro không dây; giấy; viết

3h30-4h Trao đổi, giải đáp thắc mắc của sinh viên với BCV Kết thúc và cảm ơn

Dọn dẹp hiện trường

PL40

Phụ lục 4.5: MỘT SỐ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ THỰC NGHIỆM

Kĩ năng sống: Học cách lắng nghe

PL41

PL42

PL43

PL44

Thuyết phục người khác

PL45

Phụ lục 4.6:

Xin chân thành cảm ơn em!

PHIẾU PHỎNG VẤN SAU THỰC NGHIỆM (Dành cho sinh viên sau nói chuyện chuyên đề) SV Năm:…………………Nam/Nữ:………… 1. Em cảm thấy như thế nào sau khi được nghe nói chuyện chuyên đề và hướng dẫn các kĩ năng tương tác? ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………. 2. Em học được gì sau khi học xong những buổi này? ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… 3. Theo em, nhà trường nên làm gì để giúp các em tương tác tốt trên lớp với giảng viên.? ………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………

Phụ lục 4.7: PHIẾU PHỎNG VẤN SAU THỰC NGHIỆM

1. Em có cảm nhận như thế nào sau chuyến hoạt động thực tế cùng Thầy/cô? ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………. 2. Em có nhận xét gì về mối quan hệ thầy - trò trước và sau chuyến đi thực tế Miền Tây? ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… 3. Theo em, nhà trường nên làm gì để giúp các em thiết lập mối quan hệ tốt với Thầy/cô ở trường đại học.? ………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn em!

(Dành cho sinh viên sau hoạt động thực tế cùng giảng viên) SV Năm:…………………Nam/Nữ:…………

PL46

PHỤ LỤC 5:

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CÙNG NHAU GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN (Thời gian: 04 ngày)

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnhphúc

Phụ lục 5.1: TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Tp. HCM, ngày25 tháng 09 năm 2014

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HỌC TẬP THỰC TẾ NĂM HỌC 2013 – 2014

Kính gửi:

- Ban Giám Hiệu - Phòng Kế hoạch – Tài chính - Phòng Đào tạo Trƣờng Đại học Sài Gòn 1. Thời gian: Từ ngày 24/11/2014 đến ngày 28/11/2014 2. Địa điểm và lộ trình: Tp. Hồ Chí Minh – Đồng Tháp – Long Xuyên – Cà Mau – Cần Thơ – Mỹ Tho. 3. Thành phần và cơ cấu:

3.1. Tổng số sinh viên: 56 sinh viên 3.2. Số nhóm sinh viên: 06 nhóm 3.3. Số lượng Cán bộ Giảng viên: 6 giảng viên

4. Nội dung hoạt động

Giảng viên cùng sinh viên tham gia hoạt động ngoại khóa, mục đích gắn dạy học với thực tiễn, giúp sinh viên nâng cao hiểu biết về thực tiễn. Bên cạnh đó, qua chuyến đi giúp sinh viên thêm khám phá, hiểu biết về những địa danh đi qua về văn hóa, xã hội; lịch sử; địa lý của đất nước, trên cơ sở chuyến đi, tổ chức các hoạt động chung giữa giảng viên và sinh viên như thi văn nghệ, đố vui, đốt lửa trại nhằm giúp giảng viên và sinh viên thêm hiểu nhau, thầy trò gắn bó, thiết lập được mối quan hệ gần gũi, thân thiện, từ đó ngày càng nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.

4.1. Về văn hóa – xã hội và văn học – nghệ thuật: Sinh viên – giảng viên được cung cấp những nét đặc trưng về phong tục xã hội, về văn hoá, về con người ở mỗi vùng đi qua. Đặc biệt, sinh viên sẽ được tìm hiểu kĩ về nhân sinh quan, nét văn hóa đặc trưng vùng sông nước Tây Nam Bộ., những cảnh quan, con người, lối sống … đã đi vào truyện cổ tích, thơ ca và nhạc họa …

4.2. Về lịch sử: Sinh viên – giảng viên được nghe, được thấy những di tích lịch sử, Bảo tàng văn hóa dân tộc, khu căn cứ Cách Mạng tại các nơi tham quan như Căn Cứ Xảo Quýt, Rạch Gầm – Xoài Mút tại các điểm dừng chân như Đồng Tháp, Tiền Giang, Cà Mau…

4.3. Về địa lý: Sinh viên – giảng viên được quan sát về địa hình, địa lí tự nhiên trong

suốt chiều dài của chuyến đi đặc biệt là sự khác nhau về địa hình của vùng Tây Nam Bộ.

PL47

4.4. Về sinh học: Sinh viên – giảng viên cùng tìm hiểu về các tầng sinh thái, về thảm động - thực vật qua các Vùng, Miền. Đặc biệt tham quan hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc Gia Mũi Cà Mau – Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới. 5. Yêu cầu

5.1. Sinh viên tích cực tham gia các hoạt động cùng giảng viên, nghe báo cáo, thực hiện

các hoạt động cùng nhau do ban tổ chức tổ chức theo cá nhân, nhóm được phân công.

5.2. Chấp hành nghiêm túc những qui định về sinh hoạt, học tập của Ban tổ chức đề ra

6. Phƣơng thức tổ chức

6.1. Sinh viên được chia làm 6 nhóm, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng và chính giảng viên

đang trực tiếp giảng dạy phụ trách.

6.2. Qua từng vùng miền mỗi tối đều tổ chức các hoạt động giao lưu tìm hiểu giữa giảng viên, sinh viên, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên thực hiện về các kĩ năng đã được hình thành.

6.3.Cuối đợt thực tế, mỗi sinh viên viết báo cáo thu hoạch theo hướng dẫn. 6.4. Tổ chức báo cáo tổng kết của đoàn tại Tp. Cần Thơ (điểm dừng chân cuối cùng

trước khi kết thúc đợt Thực tế bộ môn)

6.5. Tổ chức báo cáo tại Bộ môn cho sinh viên các khoá học tập, tùy điều kiện thực tế,

Bộ môn sẽ tổ chức triển lãm về “Các báo cáo và sản phẩm” qua đợt học tập. 7. Dự trù hoạt động

- Phối hợp sử dụng dịch vụ của Công ty du lịch Hoàn Mỹ - Báo cáo viên: 4 báo cáo 4 báo cáo x 400.000đ

= 1.600.000đ

BAN GIÁM HIỆU PHÒNG KH – TC P. ĐÀO TẠO TRƢỞNG KHOA

PL48

Phụ lục 5.2:

DANH SÁCH SINH VIÊN VÀ GIẢNG VIÊN

THAM GIA THỰC NGHIỆM

Giảng viên STT Họ tên GV

Trình độ Cử nhân Thạc sĩ Thạc sĩ Thạc sĩ Thạc sĩ Cử nhân

Lớp GD GDĐC1141 QLHC1143 TCHĐ 1142 GDĐC1141 GDĐC1141 KTĐG1144

Ghi chú

Nguyễn T T H 1 Bùi T T L 2 Trương B H 3 Trần V S 4 Nguyễn T P 5 6 Lê M T Sinh viên

STT Họ

Nguyễn T Nguyễn M Trịnh Kh Huỳnh Đặng Th Trần Ph Nguyễn Th Võ Th Đào Nguyễn Q Nguyễn V

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Võ D 11 Ngô Đ 12 Nguyễn C 13 Võ Thị Y 14 Ngô Thị K 15 Nguyễn Thị N 16 Võ Ngọc Q 17 Nguyễn Thị Th 18 Nguyễn Tr Nh 19 Nguyễn T Ph 20 Nguyễn Huỳnh N 21 Lê Thị H 22 Nguyễn Vũ T Thái Ng 23 24 Lê X 25 Nguyễn Thị Th 26 Huỳnh Thị K

Tên B Q Tr T M Â H Tr T H H M Nh Ng Q Th H Q Th Ng Th T Tr H Th Th

Lớp CKN1141 DSI1141 CKN1141 DGM1141 CCN1141 DNH1141 DTO1141 DNH1141 CCN1141 DDI1143 DGD1143 DDI1143 DDI1143 CGM1143 CGM1143 CGM1143 CGM1143 CGM1143 CGM1143 DGM1142 DSA1142 DSA1142 DSA1142 DGT1142 DGM1142 DGM1142

Ghi chú 1.GDĐC1141 2.QLHC1143 3.TCHĐ1142

Lê X

Lê Kh

Tô T

H L H Kh T D Th U Y L N T L Th Ch H Ti Tr Y Th Th Th Tr Q Th Đ H H M T

DGT1142 DGT1142 DSA1144 DSA1144 DSA1144 DGT1144 DGT1144 DGT1144 DGT1144 DGD1144 DDI1144 CTO1144 DGD1144 CSU1141 DHO1141 DSU1141 DSU1141 DHO1141 DHO1141 DGM1141 DGM1141 DGT1141 DGT1141 DMI1141 DMI1141 DMI1141 DMI1141 DMI1141 DMI1141 DMI1141

27 28 Đỗ N H 29 30 Nguyễn Hoàng Đ 31 Mai Thị Th Tất An Ph 32 33 Hoàng Thị 34 Đỗ 35 Văn Thị 36 Nguyễn Thị Th 37 Đàm Thị H Lê H K 38 39 Nguyễn Th Lê Q 40 Phan V 41 42 Văn Thị C 43 Võ M Phan Phước M 44 45 Nguyễn Thị H 46 Ngô Thị A Phạm Th 47 48 Vũ Th H 49 Trần Th 50 Đỗ Thị L 51 Nguyễn Ch Phan T 52 53 Lê Phan V 54 Ngô Th 55 56 Huỳnh Thị Th

PL49

4.KTĐG1144 5.GDĐC1141 6.GGĐC1141