BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ VŨ HOÀI NAM PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC HÀ NỘI - 2015

BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

VŨ HOÀI NAM PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử giáo dục

Mã số: 62 14 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. PGS, TS Mai Văn Hóa

2. PGS, TS Phạm Viết Vượng

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là

trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Hoài Nam

MỤC LỤC

5 MỞ ĐẦU

12 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Y ĐỨC VÀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC

27 CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI

Những vấn đề lý luận về y đức 1.1 27

1.2 Những vấn đề lý luận về phát triển y đức của người thầy

thuốc quân đội trong bối cảnh hiện nay 41

1.3 Nội dung phát triển y đức và tiêu chí đánh giá sự phát triển y

đức của người thầy thuốc quân đội 53

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA

61

NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển y đức 2.1

của người thầy thuốc quân đội 61

2.2 Tình hình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội

hiện nay 64

2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển y đức của người

thầy thuốc quân đội 100

Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY

104

THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Xu hướng phát triển y đức và những vấn đề đang đặt ra đối 3.1

với người thầy thuốc quân đội hiện nay 104

thuốc quân đội

106

136

3.2 Yêu cầu và các biện pháp phát triển y đức của người thầy

Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1

Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm

136

4.2

Tổ chức thực nghiệm sư phạm

137

4.3

Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

147

167

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

170

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

172

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

179

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

Bác sĩ nội trú BSNT

Đạo đức cách mạng ĐĐCM

Độ lệch chuẩn ĐLC

Đối chứng ĐC

Đơn vị quân y ĐVQY

Điểm trung bình ĐTB

Kinh tế thị trường KTTT

Phát triển y đức PTYĐ

Thầy thuốc quân đội TTQĐ

Thực nghiệm TN

Trung bình chung TBC

Tư bản chủ nghĩa TBCN

Xã hội chủ nghĩa XHCN

DANH MỤC BẢNG

TT TÊN BẢNG Trang

Bảng 2.1 Các đối tượng khảo sát 62

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát vai trò của y đức đối với người TTQĐ 65

Bảng 2.3 Lý do trở thành người TTQĐ 67

Bảng 2.4 Thực trạng về niềm tin y đức của người TTQĐ 68

Bảng 2.5 Thực trạng ý chí y đức của người TTQĐ 69

73

Bảng 2.6 Thực trạng mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ 70

75

Bảng 2.7 Thực trạng thái độ y đức của người TTQĐ với NB

77

Bảng 2.8 Thực trạng thái độ y đức với đồng nghiệp và với bậc thầy

78

Bảng 2.9 Thực trạng thái độ y đức của người TTQĐ với xã hội, cộng đồng

79

Bảng 2.10 Thực trạng thái độ y đức với công việc, với chính bản thân

Bảng 2.11 Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ

80

Bảng 2.12 Thực trạng hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự

rèn luyện y đức của người TTQĐ

Bảng 2.13 Thực trạng hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều 81

83

lệnh và pháp luật của người TTQĐ

Bảng 2.14 Thực trạng hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ

84

Bảng 2.15 Thực trạng hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong

86

học tập, công tác và điều trị

87

Bảng 2.16 Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ

89

Bảng 2.17 Thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay

dục, bồi dưỡng y đức và môi trường y đức của người TTQĐ

139

Bảng 4.1

Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức

141

Bảng 4.2

Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức

143

Bảng 4.3

Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển hành vi y đức

148

Bảng 4.4

Kết quả kiểm tra đầu vào về ý thức y đức

148

Bảng 4.5

Kết quả kiểm tra đầu vào về thái độ y đức

149

Bảng 4.6

Kết quả kiểm tra đầu vào về hành vi y đức

Bảng 2.18 Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo

Bảng 4.7

Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1

149

Bảng 4.8

Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1

150

151

153

Bảng 4.9 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1

154

Bảng 4.10 Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

155

Bảng 4.11 Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

Bảng 4.12 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

157

Bảng 4.13 Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3 156

158

Bảng 4.14 Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3

164

Bảng 4.15 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3

Bảng 4.16 Kết quả tổng hợp của nhóm TN và ĐC

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

TT TÊN BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang

80

Biểu đồ 2.1 Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ 71

Biểu đồ 2.2 Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ

87

88

Biểu đồ 2.3 Thực trạng phát triển hành vi y đức của người TTQĐ

150

Biểu đồ 2.4 Thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ

151

Biểu đồ 4.1 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1

Biểu đồ 4.2 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1

Biểu đồ 4.3 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1 152

154

Biểu đồ 4.4 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2 153

Biểu đồ 4.5 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2

Biểu đồ 4.6 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2 155

Biểu đồ 4.7 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3 156

157

Biểu đồ 4.9 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3

158

161

Biểu đồ 4.10a Sự phát triển về ý thức y đức của BSNT dưới tác động TN

Biểu đồ 4.10b Sự phát triển về ý thức y đức của BSNT ở nhóm ĐC

161

Biểu đồ 4.11a Sự phát triển về thái độ y đức của BSNT dưới tác động TN

162

162

Biểu đồ 4.11b Sự phát triển về thái độ y đức của BSNT ở nhóm ĐC

163

Biểu đồ 4.12a Sự phát triển về hành vi y đức của BSNT dưới tác động TN

163

Biểu đồ 4.12b Sự phát triển về hành vi y đức của BSNT ở nhóm ĐC

Biểu đồ 4.13 Sự phát triển chung về y đức của BSNT nhóm TN và nhóm ĐC 164

Sơ đồ 4.1

Sơ đồ khái quát quá trình thực nghiệm sư phạm

Biểu đồ 4.8 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3

227

5

MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu khái quát về luận án

Người thầy thuốc chân chính chữa bệnh cứu người không chỉ vì trách

nhiệm, mà còn vì lương tâm nghề nghiệp, vì lòng thương cảm đối với người

bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong thư gửi cán bộ ngành Y tế: “lương

y phải như từ mẫu”, để răn dạy người thầy thuốc phải có đạo đức (y đức)

trong công việc của mình. Nếu như y thuật làm nên danh tiếng, thì y đức tạo

nên nhân cách của người thầy thuốc, tất cả vì sự sống của con người.

Trong xã hội hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học,

kỹ thuật, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một cải thiện, nhu

cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng cao, đòi hỏi người thầy

thuốc phải có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt.

Do mặt trái của cơ chế thị trường, đạo đức của người thầy thuốc hiện

nay có những biểu hiện xuống cấp, tạo nên những bất bình trong dư luận xã

hội. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề phát triển y đức của người thầy thuốc nói

chung và phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội nói riêng, trở nên cấp

thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Đề tài Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay hệ

đức và sự phát triển y đức của người TTQĐ; chỉ ra bối cảnh hiện nay và

những yếu tố tác động đến sự phát triển y đức, đặc điểm hoạt động của người

thầy thuốc quân đội và vai trò của việc phát triển y đức; xác định các nội dung

phát triển y đức và các tiêu chí đánh giá sự phát triển của y đức; xây dựng các

biện pháp giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phát triển y đức của người TTQĐ,

nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân

trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.

thống hoá những tư tưởng và những nghiên cứu về y đức, làm rõ bản chất y

6

2. Lý do lựa chọn đề tài luận án

Đạo đức là một hiện tượng xã hội đặc biệt có vai trò rất to lớn trong đời

sống của nhân loại. Đạo đức có liên quan đến mọi thành viên của xã hội, đến

mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có ngành y.

Y đức là đạo đức của nghề y - một phẩm chất cao quý của người thầy

thuốc, y đức được hình thành nhờ có giáo dục trong nhà trường và phát triển do

rèn luyện, tu dưỡng trong hoạt động thực tiễn của mỗi người thầy thuốc. Y đức

của người thầy thuốc luôn bị tác động bởi các yếu tố xã hội và chính chủ thể ở

mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển của xã hội, của hoạt động nghề nghiệp thì y đức

cũng phát triển. Do đó việc nghiên cứu sự PTYĐ của người TTQĐ vốn có

những đặc thù riêng trong bối cảnh hiện nay là một vấn đề cần được nghiên cứu

sâu với tư cách là một đề tài độc lập mà thực tiễn ngành y quân sự đang đòi hỏi.

Từ khi Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập cho đến nay, trong

thời chiến, cũng như trong thời bình, đội ngũ TTQĐ luôn có mặt ở mọi nơi,

mọi lúc, kể cả ở những nơi nguy hiểm nhất, vào những thời điểm ác liệt nhất,

để cứu chữa, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội để đánh thắng kẻ thù.

Đội ngũ TTQĐ còn tham gia nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao trình độ

y học nước nhà và nâng cao chất lượng hoạt động ở các cơ sở quân y, phấn

đấu ngang tầm với các cơ sở y tế trong nước và trong khu vực.

đã có những gương sáng về ý chí chiến đấu, về thái độ phục vụ người bệnh,

thể hiện phẩm chất cao đẹp của người thầy thuốc quân đội - anh bộ đội Cụ

Hồ, được bộ đội và nhân dân yêu mến.

Hiện nay các TTQĐ đang thực hiện các chủ trương, chính sách về y tế

của Đảng và Nhà nước, tham gia các hoạt động kết hợp quân - dân y, khám

chữa bệnh cho nhân dân, làm công tác vệ sinh phòng dịch, khắc phục hậu quả

thiên tai và bắt đầu tham gia vào các hoạt động cứu trợ nhân đạo, bảo vệ hòa

bình của Liên Hợp Quốc.

Trong suốt những chặng đường cống hiến và trưởng thành, các TTQĐ

7

Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI đã nhận định, cùng với sự phát triển

kinh tế xã hội của đất nước “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo

đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng” [17,

tr.155]. Do những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, của chủ nghĩa cá

nhân đã dẫn tới sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ

cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ thầy thuốc.

Đã có những biểu hiện chạy theo đồng tiền, thiếu ý thức trách nhiệm

khi phục vụ người bệnh, coi thường sức khoẻ và tính mạng của người bệnh,

làm giảm lòng tin đối với bộ đội và nhân dân. Một số cán bộ, nhân viên y tế

có những nhận thức sai lệch về giá trị y đức, sao nhãng việc rèn luyện, tu

dưỡng bản thân. Những biểu hiện tiêu cực này nếu chậm khắc phục sẽ làm xói

mòn lòng tin của nhân dân đối với truyền thống tốt đẹp của ngành y tế nói

chung và ngành quân y nói riêng.

Về phương diện nghiên cứu lý luận, ở trong nước và trên thế giới đã có

nhiều công trình nghiên cứu về y đức và giáo dục đạo đức cho người thầy

thuốc nói chung. Tuy nhiên vấn đề phát triển y đức của người TTQĐ, đặc biệt

trong điều kiện KTTT, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay chưa có một tác

giả, một công trình nào nghiên cứu sâu một cách có hệ thống.

Việc đi tìm lời giải đáp cho vấn đề phát triển y đức của người TTQĐ

và thực tiễn. Với những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề Phát triển y đức của

người thầy thuốc quân đội hiện nay làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

trong thời kỳ mới là một đòi hỏi khách quan, có tính cấp thiết cả về mặt lý luận

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát, đánh giá hiện trạng y

đức của người TTQĐ, luận án đề xuất các biện pháp phát triển y đức góp

phần hoàn thiện nhân cách người TTQĐ trong tình hình hiện nay.

8

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về y đức và PTYĐ của người TTQĐ.

- Khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình PTYĐ của người TTQĐ hiện

nay và nguyên nhân của những hạn chế.

- Đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

- Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã

đề xuất.

4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách người TTQĐ.

4.2. Đối tượng nghiên cứu

Phát triển y đức của người TTQĐ trong giai đoạn hiện nay.

4.3. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và các biện

pháp phát triển y đức của người TTQĐ.

- Về khách thể khảo sát: các thầy thuốc đang công tác trong các bệnh

viện, các học viện, nhà trường và các đơn vị quân y; học viên đang học tập tại

các trường quân y; bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.

- Về thời gian: các số liệu điều tra, khảo sát giới hạn trong 5 năm, từ

năm 2009 đến năm 2014.

4.4. Giả thuyết khoa học

Sự phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay bị chi phối bởi nhiều yếu

tố chủ quan và khách quan trong điều kiện cơ chế thị trường, sự phát triển

nhanh chóng của y học hiện đại, cũng như những đặc điểm của nghề y trong

quân đội. Nếu kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức ngành y với quán

triệt pháp luật y tế, kỷ luật quân đội, nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như

tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tiêu cực trong hành nghề, thì y đức

của người TTQĐ sẽ được phát triển.

9

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách

mạng và giáo dục, phát triển nhân cách con người Việt Nam nói chung và y

đức của người thầy thuốc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với phương pháp luận

giáo dục giá trị đạo đức.

- Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên quan điểm tiếp cận hệ

thống - cấu trúc, quan điểm lịch sử - lôgíc, quan điểm phát triển - hoạt động,

quan điểm thực tiễn để phân tích đánh giá, xem xét các vấn đề có liên quan.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,

khái quát hoá các tài liệu lý thuyết chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện,

nghị quyết, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước và quân

đội có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.

* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát khoa học: tri giác hoạt động nghề nghiệp của

nghiệp và với xã hội.

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: lập phiếu và tổ chức điều tra

các hoạt động của bác sỹ, điều dưỡng viên, y sỹ, y tá, hộ lý, dược sỹ, dược tá,

cán bộ lãnh đạo chỉ huy, giảng viên và học viên sĩ quan quân y và với bệnh

nhân đang trong điều trị.

- Phương pháp phỏng vấn sâu: trao đổi với thầy thuốc, bệnh nhân và

người nhà bệnh nhân về nhận thức, thái độ, hành vi y đức của thầy thuốc làm

cơ sở cho việc đánh giá kết quả của những biện pháp phát triển y đức.

các thầy thuốc, trong tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, với đồng

10

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu các báo cáo tổng kết,

kinh nghiệm quản lý của các đơn vị quân y, các bệnh viện, nhà trường trong

những năm gần đây.

- Phương pháp thực nghiệm có đối chứng: để khẳng định tính hiệu quả

của một số biện pháp đã đề xuất.

* Các phương pháp hỗ trợ

- Sử dụng các công thức toán thống kê và phần mềm máy tính để xử lý

các số liệu thu thập được từ các phương pháp khảo sát thực tiễn.

- Phương pháp chuyên gia xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các

nhà sư phạm, nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến đề tài.

6. Đóng góp mới của luận án

- Về lý luận: luận án tổng quan những tư tưởng và các công trình

nghiên cứu về y đức, xây dựng các khái niệm cơ bản để làm cơ sở cho việc

giải quyết những vấn đề lý luận về y đức và PTYĐ của người thầy thuốc, xác

định các nội dung và tiêu chí đánh giá sự PTYĐ. Chỉ ra vai trò và những yếu

tố tác động tới sự PTYĐ của người TTQĐ.

- Về thực tiễn: làm rõ bối cảnh hiện nay, đặc trưng hoạt động của

người TTQĐ; đánh giá thực tiễn PTYĐ của người thầy thuốc bằng các số liệu

đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay, đặc biệt là biện pháp

xây dựng chương trình, nội dung giáo dục y đức với tư cách là môn học độc

lập trong đào tạo ở các trường y quân đội cũng như bồi dưỡng cho các cán bộ

quân y ở đơn vị cơ sở là một biện pháp cơ bản, lâu dài.

khách quan, chỉ ra những kinh nghiệm và xu hướng PTYĐ của người TTQĐ,

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về lý luận: luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận về y đức và sự

PTYĐ của người thầy thuốc nói chung, người TTQĐ nói riêng với tư cách cơ

sở lý luận của đề tài.

11

- Về thực tiễn: luận án cung cấp tài liệu về thực trạng PTYĐ của người

thầy thuốc, đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ với tư cách cơ sở

thực tiễn của đề tài.

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng

dạy, bồi dưỡng y đức và quản lý đơn vị cho giảng viên, cán bộ quản lý ở các

đơn vị quân y, các bệnh viện trong và ngoài quân đội.

8. Kết cấu của luận án

Kết cấu nội dung của đề tài gồm: phần mở đầu, tổng quan về vấn đề

nghiên cứu, 4 chương (11 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình

nghiên cứu của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

12

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Những nghiên cứu về y đức và phát triển y đức ở nước ngoài

1.1. Những tư tưởng về y đức và phát triển y đức trên thế giới

Đạo đức của người thầy thuốc (y đức) là một hiện tượng được hình

thành và phát triển rất sớm trong lịch sử của nền y học thế giới.

Trong nền văn minh Lưỡng Hà, (3.700 - 1000 TCN) trong một văn tự

cổ nhất có ghi: Toàn thể dân chúng đều là thầy thuốc…kẻ đi đường có bổn

phận thăm hỏi bệnh nhân và không được làm thinh, lẳng lặng bỏ đi [108], Bộ

tộc Sumerien đặt ra bộ luật Hamourabi qui định tiêu chuẩn hành nghề y một

cách đơn giản: người thầy thuốc được lấy tiền khám và chữa bệnh (10 đồng

tiền nếu người bệnh là chủ nô, 2 đồng tiền nếu người bệnh là nô lệ - tiền

khám và chữa bệnh cho nô lệ do chủ nô chi trả) [109].

Trong nền văn minh Ai Cập, ngành y đã được chuyên môn hoá nhưng

mang tính thần quyền. Do ảnh hưởng của thần quyền dẫn đến quan niệm: Đạo

đức của người y sĩ cũng như đạo đức của tu sĩ có thiên mệnh chữa khỏi bệnh

tật và chính Chúa đã tạo ra họ. Do đó, đức tính chủ yếu của thầy thuốc là đức

tin, phương pháp điều trị cơ bản là cầu xin [107].

Phật giáo cho rằng: Tất cả chỉ là không nhưng đời vẫn lấy không làm có.

thật, để từ đó lấy cho bằng được và giữ cho bằng được. Thầy thuốc còn phải

chấp nhận ngã pháp để hành nghề. Y đức ở Phật là lòng vị tha và tránh xa

những cám dỗ trong hành nghề. Giáo lý của nhà Phật là để đức giúp người, đã

theo Phật thì hành phải thiện và ý cũng phải thiện. Thiện là tiêu chuẩn đạo đức

của người thầy thuốc mà không phải lúc nào cũng đạt được, bởi thiện và ác đều

là pháp tướng, trong thiện có ác, trong ác có thiện. Người thầy thuốc đạt đến

đỉnh cao của y đức phải tự rèn luyện mình để cuối cùng cứu người mà không

biết mình cứu người, giống như hơi thở, thở ra mà không biết mình đang thở.

Tất cả chỉ là duyên khởi những người đời vẫn chấp nhận ngã pháp cho nó là

13

Người giác ngộ phải hoà được cái tâm nhỏ bé của mình vào tâm chân như của

nhà Phật, để đạt được lý tưởng đạo đức của nghề y [107].

Theo Lão Tử nhà văn hoá Trung Hoa cổ đại thì: bản chất của nghề y là

cứu người, cái đức của người thầy thuốc là cứu người mà không thấy rằng

mình cứu người, vì đấy là lý đương nhiên như chim bay, cá lượn, gió thổi.

Chờ đến lúc vì nhân mới làm, có nghĩa mới làm, vì lễ hay pháp mới làm, đã

có phân biệt thân sơ, có chuyện trả ân, có sợ phép nước. Đức lúc này mỏng

quá và không còn là đạo nữa.

Ở phương Tây cách đây hơn 2500 năm, Hyppocrate người được coi là

ông tổ của ngành y, ông đã nêu lên cơ sở đạo lý mà người làm nghề thầy thuốc

phải tuân theo và phải tuyên thệ trước khi bước vào nghề: “Tôi sẽ chỉ dẫn mọi

chế độ có lợi cho người bệnh, tuỳ theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ

tránh mọi điều xấu và bất công, tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và cần thiết,

dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh…”[95, tr.6-8].

Thời Hy Lạp cổ đại đã có các tiêu chuẩn cho người thầy thuốc, đó là

phải biết chữ, phải khôn khéo, linh hoạt, trung thực, có sức khoẻ, biết giữ vệ

sinh, có đức độ, bình tĩnh và không được mê tín.

Thời kỳ La Mã cổ đại, tư tưởng y đức của người thầy thuốc được phát

triển mạnh, đã có Hội thầy thuốc nhân dân (Archiatri popularis) được Thượng

không lấy tiền đối với người nghèo, có quyền được nhận tiền thưởng của

người bệnh khi họ bình phục, nhưng nghiêm cấm hối lộ, mặc cả, nếu vi phạm

người thầy thuốc sẽ bị tước quyền hành nghề. Galien (131-201) là thầy thuốc

vĩ đại đã có nhiều đóng góp về y đức. Galien yêu cầu người thầy thuốc phải

có tấm lòng nhân đạo, tình thương, tế nhị, khôn khéo, mềm dẻo. Thầy thuốc

Scribonius đã mô tả y đức như là những cam kết thương yêu và thể hiện sự

nhân từ để làm giảm đi những đau đớn, đau khổ của người bệnh.

viện bổ nhiệm, hội quy định thầy thuốc phải hành nghề nhân đạo, chữa bệnh

14

Thời kỳ phong kiến, Avicènne (980-1037) một danh y nổi tiếng đã biên

soạn y điển “Cannon of medecine” 5 tập, “quy tắc khoa học y học”, “đạo

đức”. Lần đầu tiên môn đạo đức y học được giảng dạy tại trường đại học

Salerne (TK9 - TK13). Giáo sư Arnold đã soạn và viết bộ luật “Salerne về sức

khoẻ”. Bộ luật Salerne được trình bày bằng thơ nói tới vai trò y học trong đời

sống, phương pháp dự phòng, chữa bệnh và đặc biệt quan tâm tới đạo đức của

người thầy thuốc.

Thời kỳ tư bản phát triển, đạo đức xã hội nói chung, y đức nói riêng

tiến bộ nhiều so với thời kỳ trung cổ. Sydenham (TK18) cho rằng thầy thuốc

là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng, phục vụ tận tâm và tạo điều kiện

cho người bệnh lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh.

Thời kỳ xã hội chủ nghĩa, đạo đức y học dựa trên các yêu cầu chung

của đạo đức xã hội. Đạo đức y học có mục đích là cứu người, trách nhiệm

nghề nghiệp yêu cầu người thầy thuốc phải có kiến thức khoa học, nghệ thuật

chữa bệnh và chuyên môn sâu. Thầy thuốc hành nghề vì mục đích trong sáng,

hết lòng vì người bệnh, không vụ lợi. Nguyên lý y tế XHCN tạo tiền đề cho

người thầy thuốc thực hiện nghĩa vụ và lý tưởng đạo đức của mình, cũng là

điều kiện để nâng cao tay nghề.

Theo dòng phát triển của lịch sử y học, khái niệm đạo đức y học dần

định về đạo đức trong thực hành y học và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

Năm 1947, Điều lệ Nuremberg là văn kiện quốc tế đầu tiên về đạo đức

trong nghiên cứu y, sinh học có thử nghiệm trên con người. Điều lệ này nhấn

mạnh đến quyền lợi của đối tượng tham gia nghiên cứu và nghĩa vụ của người

thực hiện nghiên cứu: “Thử nghiệm liên quan đến con người cần phải có sự

tự nguyện đồng ý của đối tượng tham gia…người tham gia thử nghiệm phải

có đủ kiến thức, hiểu biết và có thể đưa ra các quyết định…”[98, tr.5-6].

được hoàn thiện. Các tổ chức y tế quốc tế và các nước đã công bố các quy

15

Năm 1953, Hội đồng Y học đa khoa của Anh đã đưa ra những tiêu chí

cụ thể liên quan đến đạo đức trong “thực hành y học” đối với các bác sĩ làm

việc trong các cơ sở chăm sóc sức khoẻ. Quy định này được bổ sung vào năm

2006: “Bệnh nhân cần bác sĩ giỏi, bác sĩ giỏi coi việc chăm sóc bệnh nhân là

mối quan tâm hàng đầu của mình, bác sĩ phải có năng lực cập nhật kiến thức

và kỹ năng, thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt với bệnh nhân và đồng nghiệp,

bác sĩ phải trung thực, đáng tin cậy và hành động chính trực” [25, tr.37].

Năm 1953, Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế (ICN) thông qua “Quy tắc

quốc tế về y đức dành cho điều dưỡng viên” và sửa đổi năm 2005: “Điều

dưỡng viên cần tôn trọng quyền con người, bao gồm các quyền về văn hoá,

quyền được sống và lựa chọn, quyền tự chủ và cư xử tôn trọng. Chăm sóc

điều dưỡng là tôn trọng và không bị hạn chế bởi lứa tuổi, màu da, tín ngưỡng,

văn hoá, tàn tật hay bệnh tật, giới tính, tình dục, quốc tịch, chính trị, chủng

tộc hay tầng lớp xã hội” [25, tr.37].

Năm 1964, Hội Y học Thế giới công bố “Tuyên ngôn Helsinki - Các

nguyên tắc đạo đức trong các nghiên cứu y học có liên quan đến con người”.

Tuyên ngôn này được sửa đổi nhiều lần, lần gần đây nhất là năm 2008. Tuyên

ngôn đưa ra những quy định về đạo đức cho các nghiên cứu y học và trách

nhiệm của người thực hiện nghiên cứu: Trách nhiệm của bác sĩ khi tham gia vào

quyết, sự riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu [106].

Năm 1981, Hội y học thế giới xây dựng “Quyền bệnh nhân”, trong đó

đề cập đến 11 quyền lợi của bệnh nhân khi cần được chăm sóc bằng dịch vụ y

tế. “Quyền bệnh nhân” được sửa đổi tại Hội nghị lần thứ 47, tháng 10 năm

2005: Bệnh nhân có quyền tự do lựa chọn bác sĩ điều trị, bệnh viện, cơ sở y tế

tư nhân hoặc công lập; bệnh nhân có quyền từ chối tham gia vào các nghiên

cứu khoa học hoặc giảng dạy y khoa… [105].

các nghiên cứu y học là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ, phẩm chất, giá trị, quyền tự

16

Năm 1999, Hội Y học Thế giới đã ra khuyến nghị: “Giải pháp tích hợp

giáo dục đạo đức y học và quyền con người vào chương trình đào tạo của các

trường y trên toàn thế giới” [25, tr.38]. Học tập và nghiên cứu về đạo đức y

học giúp cho sinh viên y khoa nhận thức được các tình huống phức tạp, khó

khăn, cách cư xử theo nguyên lý và lẽ phải.

Năm 2001, Liên minh Châu Âu đã có hướng dẫn về thử nghiệm lâm

sàng thuốc, từ năm 2004 hướng dẫn này được đưa vào các văn bản luật pháp

của các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia,

Canada [101], [103].

Đây chính là những lời tuyên bố trên quy mô toàn cầu về các vấn đề

đạo đức trong y học, các hoạt động y dược ứng dụng trên con người, hướng

dẫn về đạo đức cho các bác sỹ, các nhà khoa học tham gia vào các hoạt động

y sinh trên lâm sàng và cận lâm sàng [102], [103], làm cơ sở cho việc xây

dựng hệ thống luật pháp trong ngành y ở từng quốc gia và trên quốc tế.

1.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về y đức và phát triển y đức

Ở nước ngoài, vấn đề y đức, giáo dục, phát triển y đức của người thầy

thuốc đã được các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu

là các công trình sau đây:

“Những lời giáo huấn về y đức, tiền đề của y học” của Pappworth M. H.

con người, thiện tâm và công bằng đối với người bệnh [97].

“Vấn đề hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ” của Butterworths Heinemann,

Nigel C. H. Stott. Các tác giả nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong chăm sóc sức

khoẻ bệnh nhân, trong thực hành lâm sàng và trong nghiên cứu y học. Chăm sóc

y tế thực chất là tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần cho người bệnh để họ

sớm được trở về với môi trường sống và làm việc [99].

“Đạo đức trong thực hành y học” của Verlag Berlin Heidelberg, Robet

K. Mckinly, Pauline A. Mc Avoy. Các tác giả cho rằng Nhà nước phải có

Tác giả cho rằng thầy thuốc phải có đạo đức, đạo đức nghề y chính là tôn trọng

17

những qui định về đạo đức nghề nghiệp cho người thầy thuốc và cần xây

dựng một hệ thống luật pháp trong hoạt động nghề y [100].

“Nhận thức của sinh viên y khoa về chương trình giáo dục y đức” của

Johnston C. và Haughton P. Các tác giả nhấn mạnh phải có một chương trình

giáo dục y đức cho sinh viên các trường y, việc giảng dạy này không chỉ cung

cấp cho họ công cụ để phân tích các tình huống trong thực hành lâm sàng, mà

còn giúp họ phát triển đạo đức nghề nghiệp trong tương lai [96].

Trong đề tài: “Đánh giá một khoá học về đạo đức y học” của Robert K,

Mc Kinley và Pauline A. Mc Avoy, cho thấy những bác sĩ tham gia khoá đào

tạo hình thành kỹ năng phân tích các tình huống lâm sàng, nhận biết các vấn

đề đạo đức trong khám, chữa bệnh. Khoá học tạo cơ hội cho các bác sĩ thảo

luận, phân tích các vấn đề y đức, những lợi ích đối với bệnh nhân mỗi khi đưa

ra các chỉ định điều trị cho họ [100].

Trong tác phẩm: “Phương pháp lâm sàng” của Butterworth Heinemann;

Johnston C. Haughton P. Các tác giả đã nhấn mạnh người thầy thuốc phải có

đạo đức trong xử lý các tình huống lâm sàng, phải biết xác định lợi ích hay có

hại khi sử dụng từng loại thuốc, từng phương pháp điều trị để tìm ra phương

án tốt nhất [96], [97].

Ở các nước phát triển, các nhà khoa học đã nghiên cứu ứng dụng nhiều

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chăm sóc và điều trị cho người bệnh. Chúng ta có

thể thấy một số lý thuyết sau:

Lý thuyết Maslow về “năm cấp độ nhu cầu” của con người giúp cán bộ

y tế lập kế hoạch chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh [103], [104].

Lý thuyết về “sức khoẻ và sự khoẻ mạnh” hỗ trợ kiến thức cho cán bộ y

tế để tìm ra các phương pháp chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, tư vấn cho

gia đình, cộng đồng theo các yêu cầu điều trị [103], [104].

lý thuyết khoa học để chăm sóc y tế cho bệnh nhân, hỗ trợ cho cán bộ y tế các

18

Lý thuyết “tâm lý xã hội” hướng dẫn cán bộ y tế theo dõi người bệnh

về mặt tâm lý, tinh thần tại các chuyên khoa [103], [104].

Lý thuyết Nightingale: coi môi trường sống như một phương tiện chữa

bệnh, cán bộ y tế cần biết những ảnh hưởng của môi trường đến tâm lý và sức

khoẻ của bệnh nhân, từ đó xây dựng môi trường lành mạnh hỗ trợ tìm ra

phương pháp chữa bệnh có hiệu quả [103], [104].

Lý thuyết Henderson giúp cho cán bộ y tế đáp ứng 14 nhu cầu cơ bản

cho người bệnh khi họ ốm đau [103], [104].

Như vậy, vấn đề y đức luôn thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trên

thế giới. Tuy có những khác nhau trong cách tiếp cận, do các điều kiện kinh

tế, xã hội, nhưng các nhà khoa học đều cho rằng người thầy thuốc phải có đạo

đức trong xử lý các tình huống thực hành lâm sàng, trong chăm sóc sức khoẻ

cho bệnh nhân.

Cho đến thời điểm hiện nay ở các nước phát triển hiện chưa có một

công trình nào đề cập tới việc phát triển y đức của người TTQĐ.

2. Những nghiên cứu về y đức và phát triển y đức ở Việt Nam

2.1. Những tư tưởng về y đức và phát triển y đức ở Việt Nam

Đạo đức người thầy thuốc Việt Nam được hình thành và phát triển theo

bề dày lịch sử của nền y học nước nhà, lúc đầu mang màu sắc từ bi, bác ái,

và Phật giáo, tạo nên những nét riêng trong đạo đức nghề y Việt Nam.

Thời xa xưa các thầy lang, thầy thuốc thường sống nương nhờ cửa Phật

(ở trong chùa) làm điều thiện, nuôi trồng cây thuốc, bốc thuốc chữa bệnh cứu

người, không lấy tiền của người nghèo.

Phạm Công Bân (thế kỷ 13) là Thái y lệnh nhưng về nhà thì chữa bệnh

cho dân nghèo. Ông tự bỏ tiền làm nhà nuôi dưỡng, chữa bệnh cho người

nghèo, người tàn tật, kẻ mồ côi.

chịu ảnh hưởng của đạo đức truyền thống phương Đông, trên cơ sở Nho giáo

19

Chu Văn An (1292-1370) là thầy thuốc, thầy giáo có đức độ và tài năng.

Ông đã mở trường dạy học, nghiên cứu y học, sáng tạo các phương thuốc đông

y, tổng kết nhiều bệnh án và biên soạn nhiều sách (trong đó, quyển “Học chú

giải tạp chí biên” có ý nghĩa quan trọng trong chữa bệnh). Ông rất coi trọng

nhân, minh, trí. Theo ông, mấu chốt của nghề làm thuốc là nhân. Phải có nhân

rồi mới có minh, trí. Đức độ là điều cần nhất của người thầy thuốc.

Đại danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh, 1325-1399), có những quan

điểm y học thực tế và nhân đạo. Ông kết hợp việc giảng kinh và cứu tế, trồng

và chế thuốc để phát cho người bệnh, huấn luyện y học cho tăng đồ. Ông đã

tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ “Nam dược thần hiệu”. Về y đức

Tuệ tĩnh cho rằng: “Làm thuốc là kế tục sự nghiệp của các bậc tiên thánh,

phải có tấm lòng nhân nghĩa”. Ông khuyên người thầy thuốc phải làm điều

lành, phải giúp bệnh nhân một cách rộng rãi, để đem lại cái phúc cho hậu thế:

“Dám khuyên y học hậu lai, tế sinh, tích thiện, phúc trời hậu ta” [81, tr.30].

Thế kỷ XV, bộ luật Hồng Đức (Triều Lê), đã có những quy định hành

nghề y, trong đó có quy định trừng phạt kẻ vụ lợi, cố tình chữa bệnh kéo dài

hoặc dùng thuốc gây chết người...

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) là ngôi sao sáng của

nền y học Việt Nam. Ông là người xây dựng hệ thống các chuẩn mực về y

đức văn hoá phương Đông phù hợp với văn hoá Việt Nam. Về đạo đức người

thầy thuốc, ông viết: “nếu còn có thể xoay xở được lại bó tay dửng dưng mặc

bệnh diễn biến mà không chịu dốc sức, hết lòng; chỉ thở vắn than dài, không

làm gì hết. Coi trọng tiền tài, xem thường tính mệnh”, thì là thầy thuốc để làm

gì? [30, tr.26]. Với ông bất kỳ hoàn cảnh nào người thầy thuốc cũng phải

quên đi lợi ích và danh dự cá nhân để tìm mọi cách chữa trị cho người bệnh,

“còn nước còn tát”. Ông luôn nêu cao tấm gương y đức, cả cuộc đời mình ông

đức cho người hành nghề y ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa các tư tưởng về y

20

luôn tự nhắc nhở phải: tiến đức, tu nghiệp. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn

luyện cho toàn thiện, toàn mỹ về đạo đức của người hành nghề y. Ông nói:

“Đạo làm thuốc là một nhân thuật, có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta,

phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người, làm

phận sự của mình mà không cầu lợi kể công” [30, tr.7]. Ông phê phán những

thầy thuốc mỗi khi xem bệnh thường hay dọa nạt: “nhân lúc cha mẹ người ta

gặp cơn nguy cập sợ hãi, hoặc bắt bí người ta trong cơn mưa đêm tối khó

khăn, gặp bệnh dễ thì trộ là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết”, không

còn tí lương tâm nào!. “Đối với kẻ giầu sang thì sốt sắng để mong lấy lợi; đối

với người nghèo khó thì lạnh nhạt thờ ơ với sự sống chết” [30, tr.26]. Ông kết

luận “Không có nghề nào đạo đức bằng nghề y và không nghề nào vô nhân

đạo bằng nghề y thiếu đạo đức” [30, tr.11].

Ngay từ những ngày đầu tiên sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã quan tâm đặc biệt tới sự phát triển nền y học nước nhà. Vấn đề y

đức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới - y đức cách

mạng. Theo Người: y đức không chỉ là lòng yêu thương người bệnh, mà còn

là ý thức nghề nghiệp, sự trau dồi để nâng cao năng lực chuyên môn nhằm

đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của

bộ đội và nhân dân.

của mình, mà còn toả sáng đến thương, bệnh binh, tù, hàng binh của đối

phương trong chiến tranh. Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ số tù binh của

quân đội Pháp bị ta bắt sống là 11.721 người, trong đó có 4.436 người bị

thương. Bác sĩ phẫu thuật người Pháp Grauwin nói với đại tướng Võ Nguyên

Giáp: “Thương binh chúng tôi còn nhiều, họ nằm rải rác ở các hầm... họ đang

ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ... Trời mưa, hầm nào cũng bùn lầy ứ đọng,

thương binh phải nằm 2 - 3 tầng. Vệ sinh tệ hại, xin các ông giúp đỡ họ”.

Đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tình yêu thương đồng bào, chiến sĩ

21

Nhận được tin này Hồ Chủ tịch đã ra chỉ thị: “Hãy cứu chữa và săn sóc họ. Vì

họ là người thua trận...” đó chính là đạo đức của người thầy thuốc của quân đội cách mạng, đạo đức của người Việt Nam.

Tháng 2/1955, Hồ Chủ tịch đã gửi thư tới Hội nghị y tế toàn quốc,

Người đề cập tới 3 vấn đề:

Xây dựng một nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng.

Phải đặt ra các yêu cầu về y đức của người cán bộ y tế.

Phải kết hợp đông - tây y, kết hợp quân - dân y, kết hợp phòng bệnh với

chữa bệnh.

Trong đó, y đức là vấn đề trung tâm, Người viết: “Phải thương yêu,

chăm sóc người bệnh như là anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng

như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu” [54, tr.476 - 477]. Bác nhắc

nhở: “Bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ

họ”. Hiểu được nỗi đau của anh em thương, bệnh binh, Bác đã dặn dò các

thầy thuốc: “Một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy

thuốc không được nhã nhặn, gặp những trường hợp như vậy, chúng ta phải

lấy tình thân ái mà cảm động, cảm hoá họ...” [52, tr.395 - 396].

Trên cương vị quản lý nhà nước về y tế, năm 1979, Bộ Y tế xây dựng 5

tiêu chuẩn của người cán bộ y tế nhân dân. Năm 1989, Quốc hội nước Cộng

định: Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tình cứu chữa

người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các qui định chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ

thuật y tế... [70]. Năm 1996, Bộ Y tế ban hành Quyết định về 12 điều y đức,

quy định về tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế: Y đức là phẩm

chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách

nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh... [2]

Năm 2009, Quốc hội nước ta thông qua “Luật khám chữa bệnh” qui định về

hoà XHCN Việt Nam thông qua “Luật bảo vệ sức khoẻ Nhân dân”. Luật qui

22

các nguyên tắc trong hành nghề khám chữa bệnh: Bảo đảm đạo đức nghề

nghiệp của người hành nghề... [71].

Ngành quân y Việt Nam luôn thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về y

đức cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều

cán bộ, chiến sỹ quân y, dân y đã làm việc quên mình để cứu chữa thương,

bệnh binh, bệnh nhân. Những tấm gương sáng về y đức của người thầy thuốc

được bộ đội và nhân dân ca ngợi và ghi công, như các bác sĩ Đặng Văn Ngữ,

Tôn Thất Tùng, Đặng Thuỳ Trâm, Y tá Trần Xuân Dậu, Hoàng Xuân Thuý...

2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước về y đức và phát triển y đức

Ở Việt Nam, vấn đề y đức và giáo dục y đức cũng đã thu hút được sự

quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Đã có nhiều công trình được

công bố, trong đó có một số công trình tiêu biểu sau đây:

“Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” do Đỗ

Nguyên Phương chủ biên. Trong cuốn sách này, các tác giả bàn về y đức, y

đạo của người thầy thuốc trong lịch sử y học, chỉ rõ thực trạng y đức hiện nay

và nêu ra những yêu cầu cấp bách phải nâng cao đạo đức nghề nghiệp của

người thầy thuốc [65].

“Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam” do Đỗ

Nguyên Phương chủ biên [66], “Quán triệt quan điểm về y đức của Chủ tịch

- Trần Văn Thuỵ [14], “Suy nghĩ về vinh dự và trách nhiệm của nghề nghiệp y

tế” của tác giả Phạm Mạnh Hùng [40]. Trong những công trình này, các tác giả

đã làm rõ quan điểm về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, đề ra các

yêu cầu về y đức cho người thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Luận án Tiến sĩ: “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế

ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Quang, đã nghiên cứu các hoạt

động xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện pháp luật về y tế và việc xử lý

các hành vi vi phạm pháp luật [69].

Hồ Chí Minh trong ngành y tế Việt Nam hiện nay” của tác giả Phan Việt Dũng

23

Trong lĩnh vực y học quân sự, cũng có một số công trình nghiên cứu

tiêu biểu như:

“Niềm tự hào nửa thế kỷ xây dựng, phục vụ và trưởng thành của Cục

Quân y” của tác giả Nguyễn Văn Thưởng. Tác giả cho biết cán bộ, nhân viên

quân y trong các thời kỳ chiến tranh đã lo từng viên thuốc, từng giấc ngủ cho

bệnh nhân, biết nhường cơm, nhường thuốc, cứu sống nhiều thương binh,

bệnh binh [85, tr.5].

“Phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo

đảm quân y” của tác giả Nguyễn Văn Thăng, đã nhấn mạnh các thầy thuốc

quân y phải tận tuỵ, coi sức khoẻ của bệnh nhân như sức khoẻ của người thân

trong gia đình mình [82, tr.8].

Luận án tiến sĩ Tâm lý học: “Vấn đề giao tiếp của bác sỹ quân y với

người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh”, của tác giả Nguyễn Thị Thanh

Hà, đã phân tích bản chất xã hội và tâm lý trong quá trình giao tiếp của bác sỹ

quân y với người bệnh, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao

hiệu quả giao tiếp của bác sỹ quân y. Nghiên cứu của tác giả không chỉ góp

phần nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh, mà còn giúp phát triển năng lực

nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách người thầy thuốc quân y trong giai đoạn

hiện nay [28].

đức thông qua dạy học các môn y học chuyên ngành”, do Nguyễn Quang Phúc

làm chủ nhiệm, cho rằng giáo dục y đức là sự kết hợp “hai trong một” của quá

trình đào tạo người thầy thuốc quân y. Giáo dục y đức là điều kiện để phát triển

đồng thời cả năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách của người thầy

thuốc. Theo các tác giả, giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học

chuyên ngành là trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng chuyên môn y học,

trên cơ sở đó hình thành các phẩm chất y đức cho người học. Giáo dục y đức là

một yêu cầu tất yếu trong quá trình đào tạo y nghiệp của người TTQĐ [64].

Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Các giải pháp kết hợp giáo dục y

24

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng: “Nâng cao chất lượng công tác

đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội

trong tình hình mới”, do Nguyễn Hồng Giang làm chủ nhiệm, đã đề cập tới

những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị ở các bệnh

viện quân đội, bồi dưỡng nhận thức, nâng cao bản lĩnh chính trị, làm chuyển

biến y đức của đội ngũ cán bộ nhân viên y tế quân đội [27].

Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao

phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện

kinh tế thị trường hiện nay”, do Vũ Đăng Khiên làm chủ nhiệm, đã phân tích

những đặc điểm chủ yếu của người cán bộ quân y cấp phân đội và sự tác động

của nền KTTT, đề tài đã xác định hệ thống các tiêu chuẩn về phẩm chất và

năng lực cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện KTTT. Rút ra những kinh

nghiệm về bồi dưỡng phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ quân y. Đã đề

xuất các giải pháp nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quân y

cấp phân đội trong điều kiện KTTT hiện nay [43].

3. Đánh giá khái quát các công trình đã công bố và những vấn đề

luận án cần tập trung giải quyết

3.1. Đánh giá khái quát các công trình khoa học đã công bố

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập tới những khía cạnh về y

- Đã làm rõ tầm quan trọng của y đức trong khám, chữa bệnh, chăm

sóc sức khoẻ cho bệnh nhân. Y đức là đạo đức của người làm thầy thuốc, đó

là sự thiện tâm, thiện chí, cảm thông, đối xử công bằng, nâng đỡ bệnh nhân

vượt qua bệnh tật. Người thầy thuốc phải biết tự hoàn thiện về y nghiệp và y

đức, trị bệnh, cứu người, để hoàn thành được nhiệm vụ của mình.

- Đã đề cập tới nội dung y đức của người thầy thuốc. Từ việc phân

tích các lời thề, lời di huấn, cách ngôn trong nghề y, ở phương Đông cũng

đức và giáo dục y đức, trong đó có những kết quả nổi bật như sau:

25

như ở phương Tây, các tác giả cho thấy người thầy thuốc chân chính có

những phẩm chất đặc trưng, đó là lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp, hết mình

vì sự sống của người bệnh.

- Đã đề xuất các qui tắc, chuẩn mực y đức. Đưa ra các lời khuyên, các

hướng dẫn đạo đức trong hoạt động y - dược, trong giao tiếp với bệnh nhân,

trong nghiên cứu khoa học và thực nghiệm lâm sàng.

Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu cũng cho thấy:

- Các nghiên cứu chưa làm rõ nét đặc thù về y đức của người TTQĐ

trong bối cảnh hiện nay.

- Các nghiên cứu chưa làm rõ ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến y

đức của người TTQĐ, đến định hướng giá trị, đến nhân sinh quan của người

thầy thuốc, cũng như các biện pháp phát triển y đức cho họ trong quá trình

thực hành y nghiệp.

- Các nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ đại cương dành cho các đối tượng

là các bác sỹ, sinh viên ngành y và học viên sỹ quan quân y, mà chưa đề cập tới

các đối tượng khác như y sĩ, y tá, hộ lý, điều dưỡng viên, dược sỹ, dược tá.

3.2. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Trên cơ sở những phân tích trên, luận án tập trung giải quyết các vấn đề

sau đây:

vừa là cán bộ y tế, vừa là quân nhân, đối tượng phục vụ của họ là thương

binh, bệnh binh, bộ đội và nhân dân, trong chiến tranh còn có cả thương, bệnh

binh, tù, hành binh của địch. Địa bàn công tác thường là những nơi khó khăn,

vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Điều kiện khám chữa bệnh là những nơi

dã chiến, trang thiết bị y tế không đầy đủ.

Hai là, phân tích y đức theo tiếp cận quá trình để thấy được các mặt

biểu hiện của y đức và nội dung phát triển y đức của người TTQĐ, làm cơ sở

cho việc khảo sát đánh giá thực trạng vấn đề này.

Một là, làm rõ những nét đặc thù y đức của người TTQĐ. Người TTQĐ

26

Ba là, làm rõ quá trình giáo dục, phát triển y đức. Phát triển y đức của

người TTQĐ được thông qua con đường là quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn

luyện y đức đối với người thầy thuốc - người chiến sĩ, cần có quy trình,

nguyên tắc và phương pháp đặc thù, bắt đầu từ các trường quân y đến các

hoạt động trong các cơ sở y tế và đó là quá trình dài lâu, khó khăn.

Bốn là, làm rõ mối quan hệ giữa y đức với chính trị và pháp luật. Y

đức của người TTQĐ liên quan tới các đối tượng phục vụ, tới truyền thống

quân đội, chế độ xã hội và pháp luật của nhà nước, đây là một vấn đề cần

được nghiên cứu cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

Năm là, làm rõ sự phát triển y đức trong nghiên cứu khoa học và thực

nghiệm lâm sàng. Trước đây nói đến y đức, người ta thường quan tâm tới

quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, ngày nay y đức còn phải thực hiện trong

nghiên cứu khoa học, trong thực nghiệm lâm sàng, tương ứng với sự phát

triển của y học hiện đại trên thế giới.

Những vấn đề trên đây sẽ được nghiên cứu một cách hệ thống trong

luận án: “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”.

27

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Y ĐỨC VÀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC

CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI

1.1. Những vấn đề lý luận về y đức

1.1.1. Đạo đức

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh - Moris nghĩa là lề thói, tập

tục, đạo nghĩa, thể hiện trong các mối quan hệ, giao tiếp hàng ngày.

Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Hoa cổ đại

bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo có nghĩa là đường đi, con

đường sống của con người. Đức là nhân đức, đức tính, là biểu hiện của đạo

nghĩa, luân lý. Như vậy đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc

sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.

Tiếp cận từ góc độ Triết học: Đạo đức là một trong các hình thái ý thức

xã hội. Đạo đức xuất hiện do nhu cầu cuộc sống, con người phải phối hợp với

nhau trong lao động sản xuất, trong chinh phục thiên nhiên và trong phân chia

các sản phẩm làm ra, để cùng tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của

xã hội, đạo đức cũng phát triển trở thành những quan niệm sống của xã hội và

nếp sống, hành vi của mỗi cá nhân.

Xét dưới ở góc độ Bản thể luận thì đạo đức là hệ thống tinh thần, được

không tách rời thực tiễn - hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện

tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính thực tiễn.

Duberstin và Linchevski cho rằng: Đạo đức là hình thái của sự nhận

thức xã hội, là tất cả những nguyên tắc, những quy định, tiêu chuẩn mà mọi

người phải tuân theo trong hành vi của mình.

Bản chất của đạo đức là những quy tắc điều chỉnh các mối quan hệ xã

hội, là biện pháp để giải quyết và khắc phục các mâu thuẫn làm cho xã hội

phát triển, tiến bộ.

quy định bởi tồn tại xã hội. Xét dưới góc độ Xã hội học thì hệ thống tinh thần

28

Giá trị đạo đức được thể hiện qua ba chức năng: Chức năng điều chỉnh

hành vi thông qua dư luận xã hội và tính tự giác của chủ thể, đảm bảo cho các

lợi ích của cá nhân và cộng đồng. Chức năng giáo dục thông qua tác động giáo

dục xã hội và tự giáo dục của mỗi cá nhân. Chức năng nhận thức thông qua khả

năng tiếp nhận và chuyển hoá giá trị thành hành vi của mỗi con người.

Đạo đức là các quan niệm về hạnh phúc, lương tâm, danh dự, bổn phận,

nhân ái, công bằng, lẽ phải…những quan niệm này xoay quanh cái trục cơ bản là

thiện và ác và được cụ thể hoá thành các quy tắc, chuẩn mực trong các mối quan

hệ với thế giới và cách ứng xử với xã hội con người.

Đạo đức có tính lịch sử, các quan niệm về đạo đức phát triển theo từng

thời đại, nên rất đa dạng và phức tạp, với những đặc điểm sau đây:

Đạo đức có tính dân tộc, chuẩn mực đạo đức bị ảnh hưởng bởi nền văn

hoá truyền thống, tuy nhiên dù là dân tộc nào, bên cạnh những quan niệm

riêng, vẫn có những quan niệm chung đó là “tính phổ biến của đạo đức” - đạo

đức xã hội.

Đạo đức liên quan đến ý thức hệ giai cấp, ta quen gọi là đạo đức giai

cấp, mỗi giai cấp có những quan niệm khác nhau về đạo đức, cùng một hành

vi giai cấp này cho là phù hợp với đạo đức, giai cấp kia thì cho là không.

Đạo đức liên quan tới chế độ chính trị, một đất nước trong đó nhân dân

thế mà mọi nhà nước đều lấy việc giáo dục đạo đức cho công dân như là một

biện pháp để duy trì trật tự xã hội.

Đạo đức có liên quan đến nghề nghiệp, mỗi một nghề có những đặc

điểm và yêu cầu riêng, vì thế có những quy tắc, chuẩn mực đạo đức đặt ra cho

từng nghề cụ thể.

Đạo đức liên quan tới mọi công dân sống trong một nước, cho nên đạo

đức phù hợp với pháp luật của nhà nước đó. Đạo đức và pháp luật đều là các

sống với nhau có đạo đức đó là một xã hội văn minh, một nhà nước ưu việt, vì

29

quy tắc, các chuẩn mực trong ứng xử xã hội mà mọi người phải thực hiện.

Tuy nhiên, đạo đức là tình người, là lòng nhân ái, nhân đạo, không ghi thành

văn bản nhưng được mọi người tự giác thực hiện và được duy trì bằng lương

tâm và dư luận xã hội. Pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được ghi

trong hiến pháp và các bộ luật buộc mọi công dân phải tuân theo, nó được duy

trì bằng giáo dục và cưỡng chế.

Vi phạm đạo đức bị lương tâm cắn rứt, dư luận xã hội lên án, người

có lỗi ân hận, cố gắng sửa chữa, nhưng khi vi phạm pháp luật sẽ bị nhà

nước trừng phạt. Mỗi công dân phải sống có đạo đức đồng thời cũng phải

sống theo pháp luật, cả đạo đức và pháp luật đều làm cho xã hội trở nên

văn minh, trật tự, kỷ cương. Giáo dục đạo đức cho công dân luôn đi liền

với giáo dục pháp luật.

Trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, xét về cội nguồn thì đạo

đức có trước, xét về ý nghĩa thì đạo đức chỉ dẫn hành động của mỗi người cho

phù hợp với luật pháp. Pháp luật có được thực thi hay không phụ thuộc rất

nhiều vào ý thức đạo đức của mỗi người. Thực thi pháp luật là biện pháp duy

trì trật tự xã hội, để xây dựng nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng làm cho

các mối quan hệ xã hội phù hợp với các chuẩn mực đạo đức.

Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật của mỗi người được hình thành do

luật pháp được thực hiện nghiêm minh. Nhờ có đạo đức và pháp luật mà mỗi

người tự điều chỉnh mình cho phù hợp với chuẩn mực và lợi ích chung của

xã hội.

Tóm lại: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã

hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người với con

người, với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với chính bản thân mình, làm

cho xã hội trở nên văn minh, trật tự.

giáo dục, do trải nghiệm cuộc sống, bị ảnh hưởng bởi môi trường sống và do

30

1.1.2. Đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện với tên gọi là Déontologic (Déon: bổn

phận, cần phải làm, logos: học thuyết) do nhà Triết học người Anh Bentam sử

dụng có nghĩa là: nghĩa vụ luận, đạo đức nghề nghiệp.

Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức của người lao động trong một lĩnh vực

hoạt động cụ thể, do mục đích, đối tượng phục vụ, do các đặc điểm của nghề

quy định. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận quan trọng của đạo đức xã

hội, góp phần tạo nên một xã hội văn minh, công bằng và trung thực.

Trong xã hội có rất nhiều nghề, mỗi nghề lại có những đặc điểm riêng, từ

đó có những yêu cầu đạo đức đặc trưng. Đối với những nghề có liên quan đến

con người và sự sống của con người như nghề dạy học, nghề y có những quy

định chặt chẽ hơn về đạo đức của người hành nghề.

Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện qua ý thức, thái độ và hành vi của

người hành nghề.

Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan

đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó, bao gồm các quy tắc,

chuẩn mực mà mọi thành viên tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù

hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nghề, trong các mối quan hệ giữa cá nhân với

cá nhân, cá nhân với xã hội,...

kiện cần thiết cho việc nâng cao chất lượng lao động, tạo ra sản phẩm tốt phục

vụ xã hội.

Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo

đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt, thí dụ:

Thầy thuốc phải có lòng trắc ẩn, thầy giáo phải là người mô phạm, nhà báo

phải trung thực, nhà chính trị phải có lòng nhân hậu với nhân dân....

Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ chặt chẽ tới năng lực của người làm

nghề. Đạo đức và năng lực nghề nghiệp thống nhất với nhau, biểu hiện thông

Người lao động tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp là điều

31

qua nhau, tạo nên nhân cách của từng cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp.

Người có đạo đức nghề nghiệp là người có tâm với công việc, với khách

hàng, thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cải

tiến phương pháp lao động để nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ khách

hàng. Người có năng lực nghề nghiệp là người tự tin trong công việc, biết

cách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của mình theo đúng các quy định đạo đức,

vì lợi ích của khách hàng. Người không có năng lực nghề nghiệp thường hay

làm dối, làm ẩu, đồng nghĩa với thiếu đạo đức nghề nghiệp.

Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ với lòng yêu nghề, sự say mê với

công việc. Lòng yêu nghề làm cho mỗi cá nhân dồn hết tâm trí hành nghề,

sáng tạo hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ. Người lao động có đạo đức nghề

nghiệp luôn tuân thủ các quy tắc, các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lao động, tạo

nên năng suất, chất lượng sản phẩm, càng yêu nghề càng làm tốt công việc

đúng với lương tâm, đạo đức.

Đạo đức nghề nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ tới các yêu cầu pháp luật

trong hành nghề. Pháp luật quy định những điều được làm và không được làm

cho từng nghề. Người có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp không làm trái

với những điều quy định của pháp luật.

mực đạo đức trong hành nghề, phản ánh và đáp ứng những tính chất đặc

trưng của từng nghề mà người lao động phải tuân theo, với mục tiêu đem lại

lợi ích cho nghề, cũng như cho xã hội.

Đạo đức nghề nghiệp là bộ phận của đạo đức công vụ dành cho người

hành nghề là cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ. Đạo đức

công vụ là khái niệm bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử sự của cán bộ, công

chức trong các mối quan hệ xã hội và trong khi thực hiện nhiệm vụ công,

trong giao dịch hành chính với tổ chức, công dân. Điều 8, Hiến pháp năm

Như vậy: Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn

32

2013 ghi rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải tôn

trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, liên hệ

chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu,

hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”.

Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan

đến đạo đức công vụ, như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Phòng,

chống tham nhũng năm 2005, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm

2013, Quy chế thực hiện dân chủ trong cơ quan 1998…để điều chỉnh hành vi

đạo đức của công chức trong khi thi hành công vụ.

Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo

đức, cách ứng xử, phong cách trong làm nghề, mang theo dấu ấn, đặc điểm và

những yêu cầu riêng của mỗi nghề đòi hỏi.

1.1.3. Đạo đức nghề y

1.1.3.1. Đặc điểm lao động của người thầy thuốc

Lao động của người thầy thuốc liên quan đến sinh mạng của con người

không phân biệt tuổi tác, giới tính, giàu, nghèo, đẳng cấp xã hội, từ khi còn là

bào thai cho đến khi mất đi. Vì vậy, nghề y được coi là một nghề nhân đạo,

người thầy thuốc phải tinh thông nghề nghiệp, phải có đạo đức trong sáng,

phải được đào tạo bài bản, nghiêm túc.

cứu phải giành giật từng giây, từng phút, bằng mọi phương tiện để cứu lấy

tính mạng người bệnh.

Lao động của người thầy thuốc gian khổ, với cường độ cao, diễn ra

không tính đến không gian, xa hay gần, thời gian dài hay ngắn, thời điểm

đêm hay ngày, ở đâu có bệnh nhân là ở đó có mặt thầy thuốc.

Lao động của người thầy thuốc trong môi trường có hoá chất độc hại, có

chất thải bệnh viện, phải thường xuyên tiếp xúc bệnh nhân mang bệnh truyền

Lao động của người thầy thuốc đòi hỏi sự khẩn trương, nhiều ca cấp

33

nhiễm như: lao, phong, HIV... tiếp xúc với xác chết, với các bộ xương người,

bản thân người thầy thuốc cũng có thể trở thành vật trung gian truyền bệnh.

Lao động của người thầy thuốc căng thẳng về mặt tâm lý, chịu sức ép

lớn của bệnh nhân và gia đình. Người bệnh có tổn thương về thể chất và

tinh thần, họ và gia đình lo lắng, có nhiều yêu cầu quá mức đối với thầy

thuốc dễ gây căng thẳng, xung đột.

Người thầy thuốc có quyền lực chuyên môn, nắm trong tay sinh mạng

của người bệnh, biết nhiều bí mật về bệnh tật của người bệnh, dễ có cơ hội

lạm dụng theo mục đích cá nhân.

Kỹ năng và đạo đức hành nghề của người thầy thuốc không dễ kiểm

soát, đôi lúc khó diễn tả và dễ nguỵ biện. Chỉ có lương tâm của người thầy

thuốc và người cùng nghề mới có thể hiểu thấu đạo đức nghề nghiệp của mình

trong những tình huống hiểm nghèo của người bệnh.

1.1.3.2. Bản chất của y đức

Y đức là đạo đức của người làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người. Y

đức là luân lí của người thầy thuốc liên quan đến những gì được xem là tốt, là

đúng, chống lại những gì được xem là xấu và sai trong hoạt động y nghiệp vì

sự sống của con người. Y đức là cái gốc nhân cách của người thầy thuốc, là

động lực tinh thần giúp họ hết lòng trị bệnh, cứu người.

động chuyên môn, kỹ thuật, là tính nhân văn, nhân đạo trong cư xử với bệnh

nhân, coi bệnh nhân như người thân trong gia đình, là những thao tác kỹ thuật

chuẩn xác, nhẹ nhàng để cứu chữa bệnh nhân như cứu chữa cho con em của

mình, “lương y như từ mẫu” là gốc rễ cho mọi suy nghĩ, mọi hành động của

người thầy thuốc.

Y đức được hình thành trên những yêu cầu của nghề y, trên cơ sở đạo

đức xã hội và pháp luật, được cụ thể hoá thành các quy tắc, chuẩn mực cho

những người làm công tác y, dược.

Y đức là tinh thần, ý thức trách nhiệm của người thầy thuốc trong hoạt

34

Dưới các góc nhìn khác nhau, các nhà khoa học có những cách diễn đạt

khác nhau về y đức:

Tiếp cận từ góc độ giá trị: “Y đức là hệ thống những tiêu chuẩn,

nguyên tắc nghề nghiệp đảm bảo sức khỏe nhân dân...” [73, tr.59].

Tiếp cận từ góc độ giao tiếp: “Y đức là cách ứng xử của người thầy

thuốc với bệnh nhân trong mọi hoàn cảnh, thể hiện ý thức trách nhiệm, thái độ

và tấm lòng...” [3, tr.25].

Tiếp cận từ góc độ hành vi: “Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc hành vi

trong quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, nó xác định bổn

phận, lương tâm, danh dự và hạnh phúc của người thầy thuốc” [65, tr.251].

Những định nghĩa trên tuy có những khác nhau trong cách diễn đạt,

song đều thống nhất ở những dấu hiệu cơ bản, đó là ý thức về bổn phận, trách

nhiệm của người thầy thuốc, là thái độ nhân đạo đối với bệnh nhân và hành vi

chuẩn mực trong thực hành nghề nghiệp.

Từ những phân tích trên, có thể khái quát: Bản chất của y đức là ý thức,

thái độ và hành vi của người thầy thuốc trong các mối quan hệ y nghiệp, tất

cả vì sự sống của con người.

Y đức được biểu hiện trên ba mặt: ý thức y đức, thái độ y đức và hành

vi y đức của người thầy thuốc.

Ý thức y đức là những quan niệm, nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực

cao đẹp về nghề y, là lý tưởng, đạo đức y nghiệp, là bổn phận, trách nhiệm

của người thầy thuốc vì sự sống của người bệnh. Ý thức y đức của người

thầy thuốc thể hiện:

Thấm nhuần những giá trị nhân văn, nhân đạo của nghề y. Hiểu rõ bản

chất của nghề y vừa là khoa học, vừa là đạo đức.

- Ý thức y đức

gìn phẩm giá, danh dự của cá nhân và tập thể, có lòng tự trọng, biết tự khẳng

định mình.

Tôn trọng con người, quyền con người, tuân thủ pháp luật. Biết giữ

35

Có tâm huyết với nghề, xả thân vì công việc, vì sự sống của bệnh nhân.

Có tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật chuyên môn,

các quy định của pháp luật.

Trung thực, liêm khiết, chí công, vô tư, không lợi dụng nghề nghiệp để

thu nhập bất minh. Có ý thức đấu tranh chống lại những hành vi tha hoá biến

chất, vì đồng tiền, coi thường tính mạng của bệnh nhân.

Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề.

- Thái độ y đức

Thái độ y đức là cách cư xử của người thầy thuốc với bệnh nhân, với

đồng nghiệp, với cộng đồng xã hội, với công việc và với bản thân mình. Thái

độ y đức của người thầy thuốc thể hiện:

Thiện chí, thiện tâm trong khám và chữa bệnh. Cảm thông sâu sắc, chia

sẻ nỗi đau đớn, sự bất lực của bệnh nhân; cùng vui với bệnh nhân khi sức

khoẻ tiến triển tốt.

Thái độ nhã nhặn, chỉ dẫn ân cần, giao tiếp lịch sự, văn minh, tôn trọng

bệnh nhân và gia đình họ. Luôn tạo niềm tin cho bệnh nhân để vượt qua hiểm

nguy. Nuôi dưỡng sự hy vọng, sự lạc quan để chống đỡ với bệnh tật.

Giữ bí mật riêng tư về bệnh tình của bệnh nhân. Có nhiều loại bệnh mà

trong quá trình điều trị người thầy thuốc cần biết căn nguồn sự thật để chữa trị

bệnh nhân.

Không đòi hỏi sự hàm ơn hay lễ vật đối với bệnh nhân và gia đình họ.

Trị bệnh cứu người là nghĩa vụ, lương tâm trách nhiệm nghề nghiệp của

người thầy thuốc.

Hợp tác, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp để hoàn thành

nhiệm vụ và nâng cao trình độ chuyên môn. Tự nghiêm khắc, có kỷ luật, biết

tự trọng với chính bản thân.

nhưng nếu công khai sẽ ảnh hưởng không tốt tâm lý bệnh nhân và người nhà

36

- Hành vi y đức

Hành vi y đức là những hành động đạo đức trong thực hành y nghiệp.

Hành vi y đức của người thầy thuốc thể hiện:

Thận trọng trong nghiên cứu khoa học, trong thử nghiệm lâm sàng khi

có người bệnh tham gia, phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Cân nhắc lợi, hại đối với bệnh nhân khi kê đơn, bốc thuốc, khi chỉ định

các phác đồ điều trị.

Thực hiện đúng các quy định kỹ thuật, đảm bảo vô trùng khi thăm

khám bệnh nhân, không để lây lan bệnh tật. Thao tác nhẹ nhàng, không gây

đau đớn cho bệnh nhân.

Chăm sóc chu đáo người bệnh trong ăn, ngủ, vệ sinh, tập luyện phục

hồi sức khoẻ.

Hành vi văn minh, không lợi dụng khám bệnh để xâm phạm đến thân

thể bệnh nhân.

Những biểu hiện này của y đức có mối quan hệ biện chứng với nhau,

tạo nên diện mạo đạo đức trong sáng của người thầy thuốc, trong đó ý thức y

đức là động lực chi phối thái độ y đức và hành vi y đức.

1.1.3.3. Đặc điểm lao động của người thầy thuốc quân đội

Người TTQĐ là những quân nhân phục vụ trong quân đội, bao gồm

quân y. Lao động của người TTQĐ cũng có những đặc điểm giống như các

thầy thuốc nói chung, bên cạnh đó còn có những đặc điểm riêng do các hoạt

động đặc thù của quân đội, cụ thể như sau:

* Nhiệm vụ của người thầy thuốc quân đội

Chăm sóc sức khoẻ, khám, chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn

quân đang làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Tham gia vào các

các bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, dược sĩ, dược tá, hộ lý đảm nhiệm công tác

trong các trường quân y, nghiên cứu phát triển y - sinh - dược học, trong đó

có y học quân sự.

hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế, đào tạo nhân lực y tế cho toàn quân

37

Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kết hợp

quân - dân y, khám chữa bệnh cho nhân dân. Tham gia các chiến dịch vệ sinh

phòng dịch, bảo đảm y tế trong phòng chống thiên tai, thảm hoạ.

Là sĩ quan quân đội nên phải chỉ huy chiến đấu khi cần thiết, đồng thời

tổ chức tìm kiếm, cấp cứu, vận chuyển thương, bệnh binh trên trận địa.

Góp phần bảo vệ trật tự an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế, văn hoá

xã hội, y tế ở các địa phương đóng quân. Tham gia làm công tác y tế cho đội

quân gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc khi có lệnh.

* Đối tượng phục vụ của thầy thuốc quân đội

Cán bộ chiến sĩ trong toàn quân đang huấn luyện ở các quân binh chủng

hải, lục, không quân, bộ đội biên phòng và lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Cán bộ, công nhân viên chức nghỉ hưu và những công dân tham gia đóng

bảo hiểm y tế ở các địa phương. Nhân dân ở các địa bàn đóng quân, ngư dân trên

biển, những người thuộc diện chính sách, những người nghèo, bà con các dân

tộc thiểu số. Những khách hàng tự do có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, thẩm mỹ...

Tù, hàng binh, thương bệnh, binh của đối phương, theo chính sách nhân

đạo của Nhà nước và Quân đội ta và theo các công ước quốc tế về tù, hàng binh

trong chiến tranh và trong các cuộc xung đột vũ trang ở biên giới, hải đảo…

Người TTQĐ sẽ có một đối tượng phục vụ mới đó là các binh lính và

hoà bình của Liên Hợp Quốc, Việt Nam sẽ triển khai một bệnh viện dã chiến

cấp 2 ở Nam Xu Đăng trong năm 2015.

* Địa bàn hoạt động của thầy thuốc quân đội

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng

đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong các bệnh viện quân

đội, các cơ sở y tế dã chiến. Trong các viện, trung tâm nghiên cứu quân y, các

trường quân y. Ở các đơn vị quân đội đang huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

sỹ quan ngoại quốc. Theo Đề án về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ

38

Hiện nay địa bàn hoạt động của các TTQĐ còn là nơi đóng quân của

lực lượng bảo vệ hoà bình của Liên hợp quốc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.

* Phương thức khám, chữa bệnh và phương tiện hoạt động

Phương thức khám, chữa bệnh là chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và

nhân dân là kết hợp Đông - Tây y, quân - dân y, phòng - chữa bệnh.

Phương tiện hoạt động của TTQĐ rất đa dạng, từ các trang thiết bị kỹ

thuật hiện đại đến phương tiện truyền thống, những trang bị tối tân nhập khẩu

từ nước ngoài, những phương tiện sản xuất trong nước và cả những thiết bị tự

tạo tại các cơ sở y tế.

* Thầy thuốc quân đội là những người được đào tạo chu đáo

Nghề y là một nghề có liên quan đến sinh mạng của con người, do tính

chất đặc điểm của hoạt động khám chữa bệnh trong môi trường quân sự, tính

chất ác liệt của chiến tranh, vết thương, bệnh tật của cán bộ, chiến sĩ luôn đe

dọa với tính mạng của họ, nên người TTQĐ phải được đào tạo rất kỹ càng, thời

gian dài hơn so với ngành nghề khác. Để học y khoa, giai đoạn đào tạo đại học

khoảng 7 năm, trong khi học viên các trường đại học quân sự khác chỉ 5 năm.

Nếu tính cả thời gian thực hành, trực đêm ở bệnh viện thì thời gian học của học

viên đào tạo bác sĩ đa khoa gần gấp đôi học viên các trường đại học quân sự

khác. Ngoài ra ngay từ khi đi học họ đã phải tiếp xúc với môi trường độc hại

tiếp xúc với người bệnh, căng thẳng, đau đớn, lây nhiễm bệnh, mất mát, và chết

chóc... Thế nhưng để có thể thành một thầy thuốc có đủ khả năng hành nghề

chuyên khoa họ còn phải học thêm 3 - 4 năm tiếp theo về chuyên khoa. Để

vững vàng trong y nghiệp thì người thầy thuốc phải cần thêm chừng 10 năm

kinh nghiệm nữa. Như vậy, trong suốt 10 năm đào tạo, huấn luyện cơ bản và 10

năm trau dồi kinh nghiệm y nghiệp người thầy thuốc mới đạt được sự thành

thạo về chuyên môn nghề nghiệp của mình.

của ngành y như lây bệnh, hóa chất, bệnh phẩm...nhất là họ phải thường xuyên

39

Trong huấn luyện, người thầy thuốc phải rèn tập những kỹ năng khó

một làn dao, một mũi kim đều không thể ngẫu hứng, tình cờ. Mọi sơ sẩy của

bác sĩ có thể gây ra các biến chứng và khó giữ được tính mạng của người

bệnh. Họ cũng phải học cả những thái độ, cử chỉ, cách ứng xử với từng

trường hợp, biết che dấu cảm xúc, giờ giấc hoạt động được chương trình hóa

một cách chính xác... Rồi cả cách ăn mặc, cách nói năng phù hợp với nghề.

Người TTQĐ còn phải chấp hành nghiêm chỉnh tiêu chuẩn, qui định,

điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội và những đòi hỏi trong phẩm chất đạo đức

nghề nghiệp. Họ luôn tiên phong trên các mặt trận, công tác ở những nơi xa

xôi, hẻo lánh nhất, khó khăn và thiếu thốn nhất, nguy hiểm nhất để bảo đảm

sức khỏe cho bộ đội và nhân dân trên địa bàn đóng quân.

* Nhân cách người TTQĐ gắn liền với phẩm chất “Anh bộ đội Cụ Hồ”

Người TTQĐ không ngừng phấn đấu rèn luyện về mọi mặt, để thật sự

trở thành người thầy thuốc cách mạng, có các phẩm chất của anh bộ đội Cụ

Hồ, luôn thể hiện được lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, hết

lòng vì đồng đội, phục vụ thương, bệnh binh; có tính sáng tạo, quyết đoán, có

tính tổ chức kỷ luật; có tác phong lịch sự, thận trọng, nghiêm túc, mẫu mực,

biết tôn trọng, quan tâm đồng cảm với người bệnh; luôn luôn làm theo lời dạy

của Bác: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải như là người mẹ hiền”.

nghỉ, ngày lễ, không được từ chối chữa bệnh cho dù là bệnh nhân nghèo, những

người thiệt thòi, khuyết tật, phải trung thực, thận trọng, chính xác trong các kết

quả xét nghiệm; phải giữ gìn phẩm giá, danh dự nghề nghiệp của bản thân.

1.1.3.4. Y đức người thầy thuốc quân đội

Đạo đức của người TTQĐ là sự thống nhất giữa cái phổ biến (đạo đức xã

hội), với cái đặc thù (đạo đức quân nhân) và cái đơn nhất (đạo đức y nghiệp).

Người TTQĐ, trước hết là một công dân, sống trong xã hội, họ cũng

được hình thành những phẩm chất đạo đức xã hội, thấm nhuần những giá trị,

Người TTQĐ phải luôn sẵn sàng, chủ động trong công việc, kể cả ngày

40

truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đó là tình yêu thương, đùm bọc

đồng chí và đồng bào của mình “Bầu ơi thương lấy bí cùng”; đặc biệt trong

lúc ốm đau, bệnh tật cần được cưu mang, cứu chữa. Đạo đức người TTQĐ là

một bộ phận đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Là quân nhân cách mạng nên người TTQĐ phải tuyệt đối trung thành

với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, với chế độ XHCN, kiên

định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm phấn đấu hy

sinh cho mục tiêu đó. Đạo đức của người TTQĐ xuất phát từ lợi ích của bộ

đội và nhân dân, giá trị cốt lõi của đạo đức người TTQĐ là tư tưởng “vì nhân

dân quên mình, vì nhân dân hi sinh”. Người TTQĐ có ý thức tổ chức kỷ luật

cao, tuân thủ nghiêm túc điều lệnh và kỷ luật quân đội. Có lối sống khiêm

tốn, giản dị, trung thực, cởi mở; chân thành, đồng cam cộng khổ, chia ngọt

sẻ bùi, hết lòng giúp đỡ đồng đội, cùng nhau hoàn thành mọi nhiệm vụ, kiên

quyết chống mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Là người hoạt động trong lĩnh vực y học, nên các yêu cầu y đức của

người TTQĐ cũng là những yêu cầu của người thầy thuốc nói chung. Giá trị

đạo đức cơ bản, cốt lõi của người TTQĐ là sức khoẻ và sinh mệnh của đồng

chí, đồng bào, nên phải thấm nhuần quan điểm “lương y như từ mẫu”, cứu

chữa cho bệnh nhân là cứu chữa cho người thân trong gia đình của mình, theo

Người TTQĐ theo nghĩa chung nhất cũng là công chức nhà nước, nên

phải tuân theo các yêu cầu của đạo đức công vụ, đó là “phải tôn trọng nhân

dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, liên hệ chặt chẽ với

nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa

quyền, tham nhũng” (Điều 8 Hiến pháp). Công chức phải tuân thủ hiến pháp

và pháp luật trong cuộc sống. Thực hành công vụ theo đúng những quy định

của pháp luật và của các tổ chức nhà nước. Có đủ năng lực để thực hiện công

vụ, công khai, minh bạch trong mọi hoạt động đối với nhân dân.

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

41

Người TTQĐ phục vụ trong các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên

Hợp Quốc là chiến sĩ quốc tế, nên phải am hiểu truyền thống, văn hoá, đạo đức

của người dân địa phương, phải tôn trọng luật pháp quốc tế, đáp ứng các yêu

cầu của lực lượng bảo vệ hoà bình trong môi trường hoạt động quốc tế.

Như vậy: Y đức của người thầy thuốc quân đội là tổng hoà các phẩm

chất đạo đức của người thầy thuốc, người quân nhân cách mạng, người công

chức trong hoạt động y nghiệp.

Y đức người TTQĐ được thể hiện ở ba mặt ý thức y đức, thái độ y đức

và hành vi y đức và chúng được phát triển trong thực tế nghề nghiệp.

1.2. Những vấn đề lý luận về phát triển y đức của người thầy thuốc

quân đội trong bối cảnh hiện nay

1.2.1. Bối cảnh nước ta hiện nay

Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế

thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách đối ngoại đa phương, chủ

động hội nhập quốc tế, nền kinh tế đang phát triển mau chóng, đời sống nhân

dân đã được cải thiện một bước. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được về

kinh tế, văn hoá, xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế

cũng đã làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởng đến nhiều

mặt của xã hội, trong đó có nghề y, một nghề vốn được coi là nhân đức, thầy

* Nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo luật cung -

cầu, số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường là căn cứ để xác định giá cả

mua bán. Quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thị trường được điều

tiết theo quy luật cung - cầu, thị trường có nhu cầu thì sẽ có sản xuất để cung

ứng. Nhà sản xuất được tự do sản xuất, kinh doanh, chấp nhận cạnh tranh và

tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Lợi nhuận kinh tế là mục tiêu tối cao, nên

thuốc được xã hội tôn vinh.

42

đã làm nảy sinh hiện tượng cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh, có người

thắng và có kẻ thua, có doanh nghiệp phá sản.

- Ưu điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường: Tạo điều kiện thuận lợi

cho nhà sản xuất tự do sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế cạnh tranh nên phát

triển năng động và có hiệu quả. Nền kinh tế thích ứng giữa sản xuất với tiêu

dùng, nhờ đó hàng hoá được sản xuất đa dạng, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng

của cá nhân. Do sức ép của cạnh tranh nên những nhà sản xuất phải đổi mới

công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, từ đó thúc đẩy

nghiên cứu khoa học, nhanh chóng áp dụng kỹ thuật mới, thực hiện chuyển

giao công nghệ hiện đại. Sự điều tiết sản xuất mềm dẻo và có khả năng thích

nghi trước những điều kiện kinh tế biến đổi.

Cơ chế thị trường cạnh tranh đã mở ra khả năng giải phóng năng lực

sáng tạo của con người, thúc đẩy văn hoá, đạo đức tiến bộ, gạt bỏ những cái

lạc hậu, cổ vũ cho những gì mới mẻ, hợp quy luật. Việc phá bỏ cơ chế tập

trung, quan liêu, bao cấp, tạo đà cho những chuẩn mực đạo đức mới ra đời,

phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của người lao

động. Cơ chế thị trường khuyến khích cá nhân phấn đấu, tự khẳng định mình

và tạo lập cơ chế đãi ngộ phù hợp với năng lực cống hiến.

- Mặt trái của nền kinh tế thị trường: Mục đích tối cao của các nhà

dụng tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ

của con người. Nền KTTT tự do khó tránh khỏi những cuộc khủng hoảng có

tính chu kỳ, tạo ra nạn thất nghiệp và lạm phát. Phân phối thu nhập không

công bằng, dẫn đến phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội, “kẻ ăn không hết,

kẻ lần không ra”. Cơ chế thị trường tự phát có những tác động xấu đến đạo

đức và tình người, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, tham nhũng, hối lộ, lối

sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thờ ơ, vô cảm... Các hiện tượng này

đang thâm nhập vào ngành y.

doanh nghiệp là lợi nhuận kinh tế, vì thế nhà sản xuất vì lợi nhuận có thể lạm

43

* Hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là quá trình các nước trên thế giới tiến hành các hoạt

động gắn kết với nhau, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn

lực, quyền lực và tuân thủ các nguyên tắc chung trong khuôn khổ các định

chế hoặc tổ chức quốc tế. Hội nhập quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế,

chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hoá, y tế, giáo dục ...Trong thời đại ngày

nay, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, do bản chất xã hội của lao

động và quan hệ con người quy định. Sự ra đời và phát triển của nền KTTT

đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực

và quốc tế thống nhất.

- Mặt tích cực của hội nhập quốc tế: Mở rộng thị trường, mở rộng các

mặt trong quan hệ quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ tạo nên một

thế giới phẳng; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, cải thiện

môi trường thu hút đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hội

nhập quốc tế nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công

nghệ, hợp tác giáo dục - đào tạo và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên

tiến; làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế, các

nguồn tín dụng và các đối tác nước ngoài. Tạo cơ hội để các cá nhân được

giá cạnh tranh, có cơ hội tìm kiếm việc làm trong và ngoài nước; tạo điều kiện

để các nhà quản lý nắm bắt được tình hình và xu thế phát triển kinh tế, xã hội

của thế giới, từ đó đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước. Chọn lọc

và tiếp thu những giá trị văn hoá thế giới, làm giàu văn hoá dân tộc và thúc

đẩy tiến bộ xã hội. Hội nhập quốc tế tạo động lực và điều kiện để tiến hành

cải cách xã hội toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ và nhà

nước pháp quyền; tạo điều kiện để mỗi nước tìm được vị trí thích hợp trong

trật tự quốc tế, nhằm duy trì an ninh, bảo vệ hoà bình và ổn định để phát triển.

tiếp cận với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đa dạng và chất lượng cao, với

44

- Mặt trái của hội nhập quốc tế: Làm gia tăng cạnh tranh quốc tế và

trong nước khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế chưa đủ năng lực, yếu,

kém gặp khó khăn, có thể dẫn đến phá sản. Hội nhập quốc tế làm gia tăng sự

phụ thuộc vào nước ngoài có nền kinh tế phát triển, các nước đang phát triển

dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế. Phân phối lợi

nhuận giữa các nước và các nhóm xã hội không công bằng làm gia tăng

khoảng cách giàu - nghèo. Các nước đang phát triển phải đối mặt với xu

hướng tập trung vào các ngành sản xuất sử dụng tài nguyên, sức lao động rẻ,

nhưng lại có giá trị gia tăng thấp. Do vậy, dễ trở thành bãi rác công nghiệp,

nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường ô nhiễm suy thoái. Hội nhập quốc tế

có thể dẫn tới lan tràn dịch bệnh, hiện tượng nhập cư bất hợp pháp. Làm gia

tăng nguy cơ “xâm lăng” của văn hoá, lối sống sính ngoại, thực dụng, chạy

theo đồng tiền, xâm nhập ồ ạt dẫn đến mất niềm tự hào dân tộc, mất lòng tự

trọng vốn có của mỗi người dân.

Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đang hiện diện ở mọi

lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, có đạo đức nghề y, một trong những

lĩnh vực nhạy cảm. Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đang

len lỏi vào ngành y, đã có những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ những

người thầy thuốc, trong đó có cả thầy thuốc quân đội, đã làm cho một số

như vụ phi tang xác nạn nhân ở viện thẩm mỹ Cát Tường, vụ nhân bản phiếu

xét nghiệm tại Bệnh viện Hoài Đức gần đây... Hiện tượng phân biệt đối xử

giữa các bệnh nhân giàu, nghèo, bệnh nhân chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm

và bệnh nhân chữa bệnh theo dịch vụ. Đã có những trường hợp thầy thuốc vô

cảm trước những bệnh nhân tại nạn, cấp cứu, trước những đau đớn, tuyệt

vọng của bệnh nhân nếu họ không có người nhà đi theo, hoặc không có khả

năng tài chính để điều trị.

người sa ngã, biến chất, đạo đức suy đồi, vụ lợi, thấp hèn, thậm chí tàn nhẫn

45

Tệ nạn “phong bì” đang tràn lan trong các cơ sở y tế, từ khám bệnh,

đến chữa bệnh. Đây là những điều xa lạ với y đức truyền thống của dân tộc

Việt Nam. Các vụ tiêu cực trong những năm qua đã làm ảnh hưởng không

nhỏ đến uy tín của ngành y tế và đạo đức của người thầy thuốc. Đây là tiếng

chuông cảnh tỉnh, báo động đã đến lúc phải tăng cường giáo dục, phát triển y

đức, để lấy lại lòng tin và sự kính trọng của bộ đội và nhân dân.

1.2.2. Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội

1.2.2.1. Phát triển y đức

Phát triển là quá trình vận động của mọi sự vật, hiện tượng từ bậc thấp

đến bậc cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hình thành và hoàn thiện

đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc chân chính, người quân nhân cách

mạng, người công vụ mẫn cán theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Quá trình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:

Quá trình phát triển y đức của người TTQĐ diễn ra theo qui luật chung

của quá trình giáo dục và tự rèn luyện tu dưỡng đạo đức của con người.

Sự hình thành y đức của người thầy thuốc ban đầu được thực hiện trong

các trường quân y, thông qua học tập các nội dung đạo đức y học truyền

thống và hiện đại, thông qua thâm nhập thực tế các đơn vị quân đội, các bệnh

bệnh nhân, thông qua học hỏi các tấm gương sáng, mẫu mực của các thầy

thuốc đang làm việc trong các đơn vị, trong các cơ sở y tế.

Sự phát triển y đức của người TTQĐ là bước tiếp theo quá trình giáo

dục trong nhà trường, là kết quả của quá trình tác động tích cực của các đơn

vị quân y, của kỷ luật quân đội, sự giáo dục của các cấp lãnh đạo, chỉ huy và

sự nhận thức, sự trải nghiệm thực tế y nghiệp của người thầy thuốc, đặc biệt

là quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân mỗi người thầy thuốc.

viện, được tiếp xúc với bệnh nhân, thấu hiểu tâm lý và những nhu cầu của

46

Như vậy, sự phát triển y đức của người TTQĐ là kết quả của quá trình

giáo dục và rèn luyện trong môi trường quân đội, với những tác động đa chiều

của xã hội, là kết quả của việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân để hình thành

những phẩm chất tốt, chống lại những thói hư tật xấu, những tệ nạn, những

tiêu cực đang len lỏi trong ngành y.

Từ các phân tích trên có thể khái quát: Phát triển y đức của người thầy

thuốc quân đội là quá trình biến đổi, hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp của

người thầy thuốc, tạo nên sự hài hòa giữa đạo đức người quân nhân, với đạo

đức công vụ, theo chuẩn mực y đức và pháp luật y tế, nhằm đáp ứng các yêu

cầu của công tác quân y trong bối cảnh hiện nay.

Sự PTYĐ của người TTQĐ được biểu hiện trên những nội dung sau:

Y đức là sản phẩm tổng hợp của các điều kiện khách quan và chủ

quan, là quá trình chuyển hóa có tính biện chứng, phức tạp qua các khâu, các

bước từ những yêu cầu của xã hội, của quân đội thành nhu cầu của mỗi tập

thể quân y và cá nhân người TTQĐ.

Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hiện thực hóa những giá

trị y đức vào các nhiệm vụ thực tiễn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức

khỏe cho bộ đội và nhân dân; đồng thời là sự sáng tạo những giá trị y đức mới.

Đặc trưng của sự phát triển y đức là sự thống nhất giữa ý thức y đức, thái độ y

thức và hành vi của mỗi người thầy thuốc. Y đức của người TTQĐ được thể

hiện bằng kết quả công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người thầy

thuốc trong khám bệnh và điều trị, bằng sự tận tâm, lòng thương cảm với nỗi

đau của người bệnh. Trong quá trình hiện thực hóa các giá trị y đức người

TTQĐ không chỉ trưởng thành về nhân cách, mà còn góp phần làm phong phú

thêm hệ thống các giá trị y đức trước những yêu cầu phát triển của y học hiện

đại, nhiệm vụ quân đội và xã hội.

đức và hành vi y đức; được biểu hiện cụ thể ở động cơ và hiệu quả, giữa ý

47

Phát triển y đức của người TTQĐ diễn ra trong quá trình tự rèn luyện,

tu dưỡng cá nhân, thông qua tác động tích cực của tập thể, của môi trường

hoạt động quân y và kỷ luật quân đội.

Phát triển y đức diễn ra trong quá trình đấu tranh thường xuyên giữa

cái mới và cái cũ, cái tốt và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu... trong từng tập

thể ĐVQY và trong từng cá nhân người TTQĐ.

Sự phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình phát huy những giá

trị, truyền thống tốt đẹp của ngành y và của từng ĐVQY. Người TTQĐ là

người kề thừa, phát huy các giá trị đạo đức cách mạng đã được các thế hệ cha

anh đã tạo dựng nên.

1.2.2.2. Vai trò phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội

Y đức có vai trò rất lớn trong sự nghiệp của người thầy thuốc nói

chung, người TTQĐ riêng. PTYĐ có các chức năng nhận thức, chức năng

giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi, là cơ sở để hình thành chuẩn mực,

qui tắc y đức, tình cảm và lương tâm của người TTQĐ. Vai trò PTYĐ của

người TTQĐ được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:

- Phát triển y đức là cơ sở, điều kiện để nâng cao nhận thức, điều chỉnh

thái độ, hành vi của người TTQĐ.

Phát triển y đức dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng ta về công tác y tế, tạo nên thế giới

PTYĐ cung cấp tri thức sống, những quan điểm, chuẩn mực, quy tắc đạo đức

cho thầy thuốc trong nhận thức và trong hành động, là cơ sở để người TTQĐ

lựa chọn các giá trị đạo đức tiến bộ làm sâu sắc nhận thức về y đức và góp

phần làm phát triển thêm những hệ giá trị y đức mới.

- Phát triển y đức là cơ sở, điều kiện để phát triển năng lực chuyên môn,

hoàn thiện về nhân cách của người TTQĐ.

Y đức và năng lực chuyên môn có quan hệ biện chứng với nhau, là hai

thành tố căn bản trong nhân cách của người TTQĐ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

quan, phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động của người TTQĐ.

48

nhắc nhở người TTQĐ: “Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng

thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng, hết sức cứu chữa và phục vụ thương,

bệnh binh”[52]. Người khẳng định: nhân viên y tế nói chung và người thầy

thuốc nói riêng cần phải có lòng nhân ái, lương tâm và trách nhiệm đối với

người bệnh. Người thầy thuốc phải có năng lực thuyết phục và cảm hóa đối

với người bệnh, phải là chỗ dựa tinh thần cho người bệnh. Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã lấy tình cảm sâu sắc nhất của con người là tình mẫu tử để so sánh với

người thầy thuốc và bệnh nhân. Người thầy thuốc phải có cái tâm của người

mẹ, sẵn sàng chia sẻ nỗi đau với người bệnh, hết lòng, hết sức cứu chữa người

bệnh với tình cảm và lương tâm như của một người mẹ dành cho những đứa

con của mình. Điều này chính là cơ sở, điều kiện để hình thành nên phẩm chất

đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư của người thầy thuốc cách

mạng nói chung, người TTQĐ nói riêng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, đã là người thầy thuốc thì phải

phấn đấu trở thành người thầy thuốc giỏi, y đức không chỉ là lòng yêu thương

người bệnh mà còn là tinh thần hăng say với nghề nghiệp, là năng lực chuyên

môn giỏi để lấy lại sự sống cho bệnh nhân. Trong nghề y, lòng nhân ái, yêu

thương người bệnh là động lực thôi thúc người thầy thuốc tích cực học tập, rèn

luyện nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Song, khi trình

trở lại, góp phần làm cho y đức của người thầy thuốc phát triển cao hơn.

- Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi những

hiện tượng tiêu cực trong ngành y.

Trong công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được,

xã hội nước ta hiện nay còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết.

Trong đó nổi lên là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ y tế,

những tiêu cực của ngành y đang ngày càng gia tăng, tình trạng tha hoá về đạo

độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của người thầy thuốc lại có tác động

49

đức, xuống cấp về lối sống, suy thoái về chính trị, tư tưởng của một bộ phận

cán bộ, đảng viên và nhân viên y tế đã thực sự là nguy cơ đáng báo động.

Để ngăn chặn sự tác động tiêu cực về đạo đức, lối sống, đòi hỏi chúng ta

phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp mang tính đồng bộ như: hành chính,

kinh tế, pháp luật, chuyên môn... Trong đó, PTYĐ của người thầy thuốc là

biện pháp hữu hiệu nhất có tính bền vững lâu dài. Việc giáo dục, rèn luyện để

PTYĐ của mỗi TTQĐ, nó tác động đến tâm lý, tình cảm của họ làm cho họ tự

điều chỉnh hành vi, lối sống của mình, góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi tác động

tiêu cực, xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong từng ĐVQY.

- Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần hoàn thành nhiệm vụ

chính trị của các đơn vị quân y.

Y đức cách mạng khẳng định giá trị đạo đức, phẩm giá của người

TTQĐ, đồng thời còn giúp người TTQĐ đấu tranh không khoan nhượng

chống lại mọi biểu hiện tiêu cực đang diễn ra trong xã hội, trong ngành, cũng

như ở ngay các đơn vị quân y. Thầy thuốc quân đội là những người làm công

tác tại các đơn vị quân y đang được xây dựng theo hướng chính quy, tinh

nhuệ và từng bước hiện đại. Họ vừa khám, chữa bệnh cho bệnh nhân, vừa học

tập, nghiên cứu khoa học để bảo đảm cho quân đội thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ trong mọi tình huống.

lý tưởng cách mạng, tinh thần tập thể, tính nhân văn, nhân đạo, lương tâm và

trách nhiệm của người thầy thuốc cách mạng; phát huy truyền thống tự lực, tự

cường, khắc phục mọi khó khăn gian khổ trên mọi lĩnh vực, địa bàn, điều kiện

công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Phát triển y

đức của người TTQĐ là hình thành lý tưởng sống, là lương tâm, trách nhiệm,

thôi thúc đội ngũ thầy thuốc vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không ngừng

học tập, nâng cao trình độ chuyên môn.

Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị,

50

1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển y đức của người

thầy thuốc quân đội

- Sự tác động của nền kinh tế thị trường

Phát triển KTTT ở nước ta hiện nay là con đường tất yếu, là chuyển từ

nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hiện đại, hội nhập quốc tế. Nền

KTTT định hướng XHCN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong tất cả các

lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước trong tương

lai. Tính năng động của nền KTTT đã tác động mạnh mẽ đến nếp nghĩ, cách

làm theo hướng tích cực, từng bước bổ sung làm phong phú hơn giá trị, chuẩn

mực đạo đức, thúc đẩy đời sống văn hoá phát triển. Dân chủ và kỷ luật, nghĩa

vụ và trách nhiệm, kỷ cương và lương tâm nghề nghiệp…trở thành các giá trị

đạo đức mới, tác động tích cực đến ý thức và hành vi của mỗi người TTQĐ.

Tuy nhiên, mặt trái của KTTT đang tác động tiêu cực đến đời sống của

toàn xã hội và y đức của người thầy thuốc. Mặt trái KTTT “kích thích” các cá

nhân cạnh tranh, ganh đua để tồn tại, phát triển và làm giàu, dẫn đến phân hoá

giàu nghèo, đề cao lợi ích vật chất, lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, hẹp

hòi, ích kỷ. Đặc biệt với một số thầy thuốc thiếu bản lĩnh chính trị, họ biến

chất, tha hoá về đạo đức, họ sẵn sàng tìm mọi cách để làm giàu trên nỗi đau

của người bệnh, một bộ phận thầy thuốc đã xuất hiện các hành vi vi phạm

người thầy thuốc, chạy theo lối sống hưởng thụ, mờ nhạt về lý tưởng y đức.

- Sự tác động của môi trường y đức ở các đơn vị quân y

Môi trường y đức ở các nhà trường, ở các ĐVQY là tổng hợp những

yếu tố xã hội và nhân văn, kỷ luật quân đội tạo thành một chỉnh thể, tác động

đến quá trình PTYĐ của người TTQĐ. Môi trường y đức ở nhà trường, các

ĐVQY là cơ sở cho sự phát triển y đức. Các mối quan hệ chỉ huy cấp trên,

cấp dưới, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, quan hệ với bệnh nhân.

pháp luật, vi phạm các qui định về hành nghề y; các chuẩn mực về y đức của

51

Mọi hoạt động trong các đơn vị quân y có nề nếp, kỷ cương, cấp trên gương

mẫu, cấp dưới tích cực, tu dưỡng phấn đấu, tự giáo dục, tự rèn luyện trên cơ

sở kỷ luật quân đội nghiêm minh.

Do đặc điểm của hoạt động quân y, nên mọi hoạt động của người

TTQĐ luôn gắn kết chặt chẽ với tập thể. Mọi biểu hiện thái độ, hành vi y đức

của từng người thầy thuốc có sự giám sát chặt chẽ của dư luận tập thể. Dư

luận tập thể tác động tới lòng tự trọng, danh dự cá nhân người thầy thuốc,

thông qua việc khen ngợi hay phê phán mà mỗi người tự điều chỉnh hành vi

đạo đức, đó là một trong những phương thức giáo dục có hiệu quả. Tuy nhiên,

bên cạnh dư luận tích cực cũng có dư luận không lành mạnh, do đó lãnh đạo,

chỉ huy phải định hướng, điều chỉnh dư luận theo hướng tích cực, phát hiện,

uốn nắn những dư luận sai lệch.

Sự tác động của môi trường quân y đến từng cá nhân trên cả ba mặt ý

thức, thái độ và hành vi y đức. Kết quả PTYĐ cũng tuỳ thuộc vào trình độ

nhận thức, ý chí, nghị lực, sự trải nghiệm trong cuộc sống và công tác

chuyên môn của mỗi người thầy thuốc. Người TTQĐ tiếp nhận sự tác động

của môi trường ở các ĐVQY không phải thụ động, mà trái lại có những tác

động tích cực trở lại để xây dựng môi trường đơn vị trong sạch lành mạnh.

Trình độ PTYĐ của người TTQĐ góp phần nâng cao ý thức y đức trong tập

đức phát triển bền vững.

- Ý thức tự giáo dục của người thầy thuốc quân đội

Giáo dục và tự giáo dục là hai giai đoạn của quá trình giáo dục đối với

con người. Giáo dục là giai đoạn đầu tiên, cơ bản nhất dành cho tất cả mọi

người, ai được tiếp nhận một nền giáo dục tiến bộ, toàn diện người đó sẽ có

cơ hội phát triển nhanh. Giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội kết hợp với

nhau, tác động đồng thời làm cho nhân cách con người trở nên hài hòa, xã hội

thể quân y, làm lành mạnh các quan hệ trong đơn vị, làm cho môi trường y

52

lành mạnh. Tự giáo dục là bước tiếp sau của quá trình giáo dục, nhưng ở trình

độ cao hơn, khi con người đã có những hiểu biết, kinh nghiệm nhất định, họ

có ý thức, chủ động để tiếp nhận những tác động giáo dục, để tự giáo dục, tự

rèn luyện bản thân. Giáo dục chỉ đạt được kết quả khi mỗi người tự giác, tích

cực tiếp nhận các yêu cầu của tập thể, của các cấp chỉ huy để tự rèn luyện, tự

hoàn thiện mình.

Giáo dục y đức trong nhà trường quân y là giai đoạn đầu tiên để hình

thành và PTYĐ cho người TTQĐ, quá trình này được tiếp nối trong môi

trường quân đội, trong hoạt động ở các ĐVQY, giúp người TTQĐ chủ động

tự tu dưỡng theo yêu cầu của xã hội, của quân đội và của ngành quân y.

Như vậy, kết quả của quá trình phát triển y đức của người TTQĐ không

chỉ phụ thuộc vào quá trình giáo dục trong nhà trường, trong các ĐVQY, mà còn

ở sự tự giác tự tu dưỡng, tự rèn luyện của chính người TTQĐ. Giáo dục y đức và

tự giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau. Giáo dục y đức là cơ sở cho tự

giáo dục và tự tu dưỡng thúc đẩy sự hoàn thiện y đức của người TTQĐ.

- Thực tiễn đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong ngành y và

trong các đơn vị quân y

Cuộc đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong ngành Y và trong

ĐVQY là biện pháp tích cực để bồi dưỡng y đức cho người TTQĐ. Những

hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao đạo đức cách mạng phải gắn

liền với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Hiệu quả của cuộc đấu tranh

chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ TTQĐ, phụ thuộc

vào sự kết hợp giữa xây dựng đạo đức cách mạng, với kiên quyết đấu tranh

xoá bỏ lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường...

Hiện nay, trong xã hội đan xen nhiều quan niệm, lối sống khác nhau, có

những tư tưởng tiến bộ và còn có cả những tư tưởng cực đoan. Vì thế, quá

phẩm chất y đức của người TTQĐ, được củng cố và phát triển trong sự kết

53

trình xây dựng và hiện thực hoá lý tưởng y đức của người TTQĐ không thể

không tiến hành chống lại những tác động tiêu cực của lối sống thực dụng

chạy theo đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, các thế lực thù địch đang truyền bá

lối sống thực dụng phương Tây, mưu toan làm đảo lộn thang giá trị đạo đức

của xã hội ta. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp đòi hỏi phải phát huy

sức mạnh tổng hợp của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng. Xây dựng môi trường

y đức trong sạch, lành mạnh sẽ tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi để chống lại

những ảnh hưởng tiêu cực, lạc hậu vào trong ngành và trong các đơn vị quân

y cũng như cá nhân mỗi TTQĐ.

1.3. Nội dung phát triển y đức và tiêu chí đánh giá sự phát triển y

đức của người thầy thuốc quân đội

1.3.1. Nội dung phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành quân y tiên tiến, nền Y học Việt Nam

hiện đại, để có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ bộ đội và nhân dân trong giai

đoạn hiện nay, nội dung PTYĐ của người TTQĐ bao gồm những vấn đề sau:

Một là, phát triển lý tưởng y đức người thầy thuốc cách mạng

Lý tưởng y đức là triết lý sống của người thầy thuốc, là khát vọng vươn

lên đỉnh cao của nghệ thuật y nghiệp trị bệnh cứu người. Lý tưởng y đức được

khởi nguồn từ cái tâm của người thầy thuốc, thôi thúc tình cảm, trách nhiệm,

người TTQĐ được biểu hiện như sau:

Luôn có ý thức tự rèn luyện, trau dồi về chuyên môn và đạo đức nghề

nghiệp, thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y học để theo kịp thời đại.

Y học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, người thầy thuốc phải giỏi cả về lý

thuyết chuyên môn và kỹ thuật hành nghề. Đúng như cố thủ tướng Phạm Văn

Đồng đã nói: “ít có nghề nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao

như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt đòi hỏi sự hiểu

nghĩa vụ trước người bệnh và cộng đồng xã hội. Phát triển lý tưởng y đức của

54

biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, từng trải và kinh nghiệm nghề nghiệp mà mọi

công việc dù nhỏ đến đâu đều liên quan đến tính mạng con người và hạnh

phúc của mỗi gia đình” [25, tr.26].

Người TTQĐ đặt quyền lợi của bệnh nhân lên trên quyền lợi của bản

thân. Thực hiện việc chẩn đoán, điều trị bệnh mà không bị chi phối bởi địa vị

xã hội, tiền bạc, giới tính, tôn giáo của họ. Phẩm chất quan trọng nhất của

người thầy thuốc chính là đức tính quên mình. TTQĐ giữ vững bản lĩnh nghề

nghiệp trước mọi sự cám dỗ, trước những khó khăn trong cuộc sống của bản

thân và gia đình. Bản lĩnh là sự thể hiện cao nhất của lý tưởng, là phẩm chất

của người có năng lực, là tự tin và dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình,

không lùi bước trước những khó khăn, trở ngại. Bản lĩnh được hình thành và

biểu hiện qua thói quen, hành vi, lối sống và nghề nghiệp của người TTQĐ, từ

đó tạo nên những giá trị đạo đức, nhân cách người TTQĐ.

Lương tâm nghề nghiệp trong sáng là cơ sở cho việc hình thành đức

tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư của ĐĐCM của người TTQĐ.

Hai là, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “lương y phải như từ mẫu” của

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ngành y là

y lý, y thuật và y đức. Về y thuật, theo Người, người thầy thuốc ngoài việc

giúp bệnh nhân điều chỉnh những rối loạn về tinh thần. Trong thư gửi Hội

nghị Quân y tháng 3 năm 1948, Người viết: “người thầy thuốc chẳng những

có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người

ốm yếu”. Khi đến thăm nhà thương Vân Đình tháng 4 năm 1963, Người căn

dặn cán bộ y tế “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt tinh thần và

vật chất, có thuốc hay thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi

người bệnh như ruột thịt” [25, tr.26].

dùng thuốc men, kỹ thuật để điều trị các rối loạn về thể chất, còn có nhiệm vụ

55

Trong thư gửi Hội nghị Quân y lần thứ 6 (tháng 3/1948) Bác viết:

“Lương y kiêm từ mẫu”. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm

1953, Hội nghị cán bộ y tế tháng 2/1955 và thư khen cán bộ, nhân viên quân y

ngày 31/7/1967, Người đã nhắc lại: “luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc

giỏi đồng thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục

vụ thương, bệnh binh” [25, tr.26]. Người khẳng định: người thầy thuốc phải

có lòng nhân ái, lương tâm và trách nhiệm lớn lao đối với người bệnh. Người

thầy thuốc phải có cái tâm của người mẹ, sẵn sàng chia sẻ nỗi đau với người

bệnh, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, hết lòng hết sức cứu chữa và

phục vụ người bệnh với tình cảm và lương tâm như của một người mẹ dành

tình yêu thương cho những đứa con của mình.

Y đức theo tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là lòng yêu thương

người bệnh mà còn là tinh thần hăng say với nghề nghiệp, luôn luôn trau dồi

kiến thức để nâng cao năng lực chuyên môn. Người TTQĐ vừa giàu lương

tâm vừa giác ngộ nghĩa vụ là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau trong

đạo đức của người thầy thuốc.

Ba là, rèn luyện tính kỷ luật và ý chí trong hoạt động y nghiệp

Công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay là cơ sở thuận lợi để phát triển

đạo đức trong xã hội nói chung và y đức nói riêng. Tuy nhiên, mặt trái của cơ

Trong đó, không thể tránh khỏi sự xuất hiện những khuynh hướng phản văn

hoá, đạo đức và lối sống... tác động tiêu cực này là những trở ngại không nhỏ

đối với việc củng cố phát triển đạo đức trong xã hội và y đức của người TTQĐ.

Giáo dục PTYĐ của người TTQĐ phải gắn liền với giáo dục giá trị

sống, hình thành các phẩm chất phù hợp với đặc thù của thời đại, đó là: hoà

bình, tôn trọng, yêu thương, khoan dung, trung thực, khiêm tốn, hợp tác, hạnh

phúc, trách nhiệm, giản dị, tự do và đoàn kết.

chế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội.

56

Tính kỷ luật là một trong những phẩm chất của người TTQĐ, biểu hiện

trong việc tự giác tuân thủ pháp luật nhà nước, điều lệnh quân đội và quy định

của ngành quân y. Giáo dục tính kỷ luật làm cho người TTQĐ làm chủ trong

mọi suy nghĩ, hành động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của y nghiệp, những

yêu cầu của pháp luật và điều lệnh, kỷ luật quân đội với ý thức tự giác cao.

Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, biểu hiện cụ thể của ý thức

trong thực tiễn. Ý chí bao gồm cả mặt năng động của trí tuệ, năng động của

tình cảm đạo đức, là hình thức điều khiển, điều chỉnh hành vi tích cực nhất

của người TTQĐ.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn y đức trong từng tình

huống lâm sàng.

Do tính chất phức tạp của nghề y, sự phát triển đa dạng của các loại

bệnh, y học đã vận dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại

đã chế tạo được nhiều thiết bị kỹ thuật để chẩn đoán và điều trị bệnh. Do đó

người TTQĐ phải có kiến thức của một số ngành cận lâm sàng và y xã hội

học, đồng thời phải có kỹ năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật trong hoạt động

chuyên môn. Người bệnh đến với thầy thuốc không chỉ mong nhận được sự

thông cảm, mà đặt cả niềm tin vào tài năng và trí tuệ của người thầy thuốc để

chữa lành bệnh cho họ.

phương án điều trị thích hợp với từng loại bệnh, rút ngắn thời gian điều trị,

cứu chữa bệnh nhân để họ nhanh chóng hồi phục sức khoẻ. Y đức được thể

hiện trong từng tình huống can thiệp lâm sàng, trong chọn lựa phác đồ điều trị

tốt nhất, với giá thành hợp lý nhất cho người bệnh. Thầy thuốc quân đội phải

nghiên cứu các kỹ thuật mới, sản xuất và sử dụng các bài thuốc mới để điều

trị bệnh nhân phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội, với hoạt động quân sự

cả trong thời bình và thời chiến.

Người TTQĐ luôn tìm tòi các phương pháp tối ưu cho từng ca cấp cứu,

57

Trong điều trị hay can thiệp lâm sàng người thầy thuốc phải biết rõ về

lợi ích và nguy cơ trước khi tiến hành can thiệp, phải lựa chọn phương pháp

hạn chế tới mức tối đa những tác hại cho người bệnh. Những thành công trong

can thiệp lâm sàng thể hiện trình độ phát triển y đức của người TTQĐ.

Năm là, phát triển y đức gắn liền với sự phát triển nhận thức chính trị

và pháp luật

Y đức, chính trị và pháp luật đều là hệ thống các chuẩn mực nhằm điều

chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì, phát triển và bảo vệ trật tự trong ngành y tế,

nhằm bảo vệ lợi ích tối đa cho người bệnh. Pháp luật bảo vệ, duy trì và củng

cố đạo đức xã hội và ngược lại, đạo đức có tác dụng củng cố, bảo vệ hệ thống

pháp luật. Người TTQĐ phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về y tế, kỷ

luật quân đội, các qui định, qui chế chuyên môn về y đức và các chính sách y

tế của Đảng, Nhà nước và của Quân đội.

Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đồng thời,

yêu cầu phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật. Người cho rằng, để giải

quyết mọi vấn đề trong cuộc sống, cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa pháp

luật và đạo đức. Người khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nền pháp

quyền XHCN, kết hợp với việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức XHCN cho nhân

dân và cán bộ, Người coi giáo dục đạo đức và pháp luật là phương thức quan

khó khăn, thách thức cả ở khía cạnh đạo đức xã hội và kỷ cương phép nước.

Những biểu hiện “lệnh chuẩn” trong y đức, coi thường pháp luật của thầy

thuốc là lực cản cho sự phát triển y đức.

Sáu là, phát triển năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý hoạt động y tế quân đội

Người TTQĐ vừa là thầy thuốc, vừa sĩ quan quân đội đang thực hiện

nhiệm vụ trong các ĐVQY. Vì vậy, người TTQĐ ngoài kiến thức chuyên

môn, phải có năng lực tổ chức chỉ huy quân y, quản lý các hoạt động y tế

trọng trong quản lý xã hội. Hiện nay do mặt trái của nền KTTT tạo ra những

58

quân đội. Nhiệm vụ của người TTQĐ là đảm bảo mọi hoạt động của ĐVQY

theo đúng quy định của quân đội, của ngành Y tế.

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên người TTQĐ phải có năng lực tổ

chức chỉ huy quân y, quản lý khoa học và thực hiện các hoạt động y tế, phải

thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ, có kiến thức sâu, rộng về y nghiệp, có

tính khoa học trong quản lý các hoạt động y tế, có khả năng bao quát mọi hoạt

động của đơn vị, có óc sáng tạo, linh hoạt, biết đánh giá đúng khả năng của

cán bộ, nhân viên trong đơn vị; thành thạo trong điều hành, tổ chức chỉ huy,

quản lý dân chủ, khoa học. Có tác phong mẫu mực, đúng điều lệnh, chính quy

của người TTQĐ cách mạng.

1.3.2. Tiêu chí đánh giá sự phát triển y đức của người TTQĐ

Đánh giá sự PTYĐ của người thấy thuốc quân đội được thực hiện trên

cả ba mặt ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức, cụ thể như sau:

* Tiêu chí đánh giá sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ

- Sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được thể hiện bằng sự tiến

bộ trong những nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;

đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, những quy định, chỉ thị của Bộ Y

tế, trong nhận thức về tính nhân văn, nhân đạo của nghề y, sự cao quý của y

đức... Sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được thể hiện trong lý tưởng

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách vì

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân.

- Tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức của người TTQĐ bao gồm:

Nhận thức y đức của người TTQĐ

Tình cảm y đức của người TTQĐ

Niềm tin y đức của người TTQĐ

Ý chí y đức của người TTQĐ

sống, trong tu dưỡng, rèn luyện các phẩm chất y đức, tích cực học tập nâng cao

59

* Tiêu chí đánh giá sự phát triển thái độ y đức của người TTQĐ

- Sự phát triển thái độ y đức của người TTQĐ được thể hiện bằng sự

tiến bộ trong hoạt động nghề nghiệp, trong thái độ ứng xử với bệnh nhân và

gia đình của họ, với đồng nghiệp, với cấp trên, với cộng đồng xã hội, với

công việc và với chính bản thân mình... theo các chuẩn mực giá trị của y đức.

- Tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức của người TTQĐ bao gồm:

Thái độ đối với người bệnh

Thái độ đối với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)

Thái độ đối với xã hội và cộng đồng

Thái độ với công việc, với chính bản thân mình

* Tiêu chí đánh giá sự phát triển về hành vi y đức của người TTQĐ

- Hành vi y đức là các hành động của người thầy thuốc quân đội thể hiện

trong công tác chuyên môn, trong thực hành lâm sàng, trong học tập, nghiên cứu

khoa học, trong tu dưỡng đạo đức, lối sống. Tiêu chí cao nhất trong đánh giá

hành vi y đức là hiệu quả và chất lượng công tác, thể hiện ở trình độ chuyên

môn, lương tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc, vì những điều đó phản ánh

khách quan, trung thực nhất sự phát triển hành vi y đức của người TTQĐ.

- Tiêu chí đánh giá sự phát triển hành vi y đức của người TTQĐ gồm:

Hành vi trách nhiệm trong hoạt động khám, chữa bệnh cho bệnh nhân

Hoạt động tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức

Sự chấp hành các qui định, điều lệnh, pháp luật của nhà nước

Tóm lại, sự PTYĐ được thể hiện bằng các mức độ hoàn thiện trên cả ba

mặt ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi ý đức của người TTQĐ. Phát triển

y đức là nhiệm vụ của các nhà trường, học viện, của các ĐVQY và của đội

ngũ thầy thuốc.

Hành vi giao tiếp, ứng xử với mọi đối tượng

60

Kết luận chương 1

Y đức là đạo đức nghề y thể hiện bản chất nhân cách của người thầy

thuốc trong chữa bệnh, cứu người. Trong mọi thời kỳ phát triển của lịch sử

đạo đức của người thầy thuốc luôn được xã hội tôn vinh và việc phát triển y

đức cũng là mối quan tâm của toàn xã hội.

Y đức của người TTQĐ là sự thống nhất giữa những giá trị, chuẩn mực

của ĐĐCM, phẩm chất đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”, với phẩm chất đạo đức

của người thầy thuốc và người công vụ mẫn cán trong giai đoạn hiện nay, phù

hợp với đặc thù của hoạt động y tế trong lĩnh vực quân sự.

Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hoàn thiện về đạo đức

cách mạng, lương tâm, trách nhiệm, ý chí và bản lĩnh trong y nghiệp, ý thức

chính trị và pháp luật, năng lực tổ chức chỉ huy quân y, quản lý các hoạt động

y tế, nhằm đáp ứng sự phát triển của y học hiện đại, của ngành quân y trong

bối cảnh hiện nay. Phát triển y đức của người thầy thuốc là để xây dựng nền y

học Việt Nam và ngành quân y hiện đại, đáp ứng những yêu cầu phát triển

của quân đội, của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Phát triển y đức của người TTQĐ phụ thuộc vào sự tác động tổng hợp

của những yếu tố chủ quan và khách quan, những điều kiện kinh tế - xã hội

của đất nước; của môi trường hoạt động, của cuộc đấu tranh chống những

biểu hiện tiêu cực trong ngành y, trong các ĐVQY, của quá trình giáo dục,

Y đức hiện nay cần được phát triển ở người TTQĐ lý tưởng y đức cách

mạng, lương tâm và trách nhiệm, ý chí và bản lĩnh trong y nghiệp, y đức phải

được mở rộng và gắn liền với chính trị và pháp luật và đi sâu vào trong từng

tình huống can thiệp lâm sàng, đối với người TTQĐ phải phát triển ở họ năng

lực tổ chức chỉ huy, quản lý khoa học các hoạt động y tế nhằm đáp ứng sự phát

triển của y học hiện đại và bối cảnh hiện nay. Đánh giá sự PTYĐ của người

TTQĐ được thực hiện trên cả ba mặt ý thức, thái độ và hành vi y đức thể hiện

trong hoạt động chuyên môn, trong học tập tu dưỡng và quản lý đơn vị.

bồi dưỡng trong nhà trường và tự rèn luyện, tự tu dưỡng của người TTQĐ.

61

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN vÒ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC

CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

2.1. Phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển y đức

của người thầy thuốc quân đội

* Mục đích khảo sát

Nhằm đánh giá toàn diện và sát với đặc thù hoạt động y nghiệp của

người TTQĐ. Việc tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng làm cơ sở thực

tiễn cho việc đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

* Nội dung khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên các nội dung sau:

- Đánh giá những ảnh hưởng mặt trái của nền KTTT đối với sự PTYĐ

của người TTQĐ;

- Sự phát triển ý thức, thái độ, hành vi y đức của người TTQĐ;

- Đánh giá về năng lực, trình độ chuyên môn y nghiệp, về kỹ năng

trong giao tiếp, về lương tâm và trách nhiệm của người TTQĐ với công việc

và trong quá trình khám chữa bệnh;

- Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng

y đức cho học viên và người TTQĐ và về môi trường y đức trong quân đội;

- Hiệu quả của chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức từ khi người

thầy thuốc đang được đào tạo tại nhà trường và trong quá trình hành nghề y.

Từ đó, xác lập cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các biện pháp PTYĐ

của người TTQĐ hiện nay.

* Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát

- Đối tượng khảo sát: Tổng số đối tượng khảo sát 668 người, trong đó

thầy thuốc là 453 người gồm: 292 cán bộ, giảng viên, bác sĩ, 111 y sĩ, y tá

(điều dưỡng), 50 dược sĩ; 120 học viên sĩ quan quân y; 95 bệnh nhân.

- Thực trạng sử dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ;

62

Bảng 2.1: Các đối tượng khảo sát

STT Đặc điểm

1

- Đối tượng

Ghi chú

Cán bộ, giảng viên, bác sĩ Y sĩ, y tá, Điều dưỡng Dược sĩ Học viên sĩ quan quân y Bệnh nhân

2

(453 thầy thuốc)

3

(453 thầy thuốc)

4

(453 thầy thuốc)

5

(453 thầy thuốc)

- Giới Nam Nữ - Số năm kinh nghiệm < = 10 năm 11- 20 năm > 20 năm - Trình độ, học hàm, học vị Giáo sư Phó giáo sư Tiến sĩ Chuyên khoa 2 Chuyên khoa 1 Thạc sĩ Bác sĩ Dược sĩ cao cấp Dược sĩ Điều dưỡng Y sĩ - Cơ sở đào tạo Học viện Quân y Trường, lớp quân y khác Trường y, dược dân sự

Tần suất 292 111 50 120 95 234 219 163 170 120 02 05 26 08 36 34 181 12 38 89 22 336 101 16

Tỷ lệ% 43.72 16.61 7.49 17.96 14.22 51.66 48.44 35.99 37.53 26.49 0.45 1.12 5.73 1.76 7.94 7.52 39.95 2.65 8.38 19.65 4.85 74.18 22.29 3.53

- Địa bàn khảo sát: các bệnh viện tuyến cuối của quân đội, các bệnh viện,

đơn vị quân y ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, và ở Học viện Quân y.

- Thời gian khảo sát: từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2014.

* Phương pháp khảo sát

- Nghiên cứu các nghị quyết, báo cáo tổng kết, chỉ thị, qui chế, qui định

có liên quan tới y đức và công tác quân y.

- Điều tra bằng phiếu hỏi các đối tượng trên; quan sát quá trình công

tác, quá trình khám chữa bệnh của đội ngũ TTQĐ; trao đổi và qua đối thoại

trên các diễn đàn về vấn đề y đức hiện nay.

63

- Trong luận án sử dụng phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 16.0 (statistic package for social

science) để xử lý số liệu thu được. Phần mềm này giúp tính tỷ lệ %, điểm số trung

bình, trung vị, ĐLC, kiểm định độ tin cậy của công cụ nghiên cứu, kiểm định sự

khác biệt giữa các kết quả thực trạng, TN, tính hệ số tương quan, hồi qui... Vận

dụng vào quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm này xem xét tương

quan giữa so sánh kết quả trước tác động TN và kết quả sau tác động TN. Căn cứ

vào giá trị của (r) để rút ra kết luận về mối tương quan giữa 2 biến số.

Kiểm định T-test được sử dụng để xác định sự khác biệt mức độ PTYĐ

ở các đối tượng khác nhau, kiểm định các số liệu thống kê trước và sau TN.

Kiểm định đa so sánh One-way ANOVA được sử dụng để xác định mối

liên hệ và sự khác biệt giữa tổng thể và giữa các khách thể nghiên cứu.

Kiểm định độ tin cậy của bảng hỏi, bài tập tình huống và kết quả

nghiên cứu thông qua tính hệ số tương quan nội bộ giữa các Item (Inter-item

correlation coefficients) bằng phép kiểm định Cronbach Alpha.

Sử dụng phép hồi qui bằng phương pháp OLS để tính toán, dự báo, giải

thích kết quả của TN tác động và TN kiểm chứng.

Đánh giá mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ căn cứ vào ĐTB chung của

các Item theo từng nội dung. Sau khi có ĐTB của từng thầy thuốc sẽ tổng hợp

định. Mức độ PTYĐ căn cứ vào ĐTB của 3 nội dung. Kết quả được phân

hạng theo 5 bậc như sau:

- Thang đánh giá (n - 1/n)

+ Thầy thuốc có y đức phát triển rất cao: ĐTB > 4.2 ÷ 5.0 điểm

+ Thầy thuốc có y đức phát triển cao: ĐTB > 3.4 ÷ 4.2 điểm

+ Thầy thuốc có y đức phát triển TB: ĐTB > 2.6 ÷ 3.4 điểm

+ Thầy thuốc có y đức phát triển thấp: ĐTB > 1.8 ÷ 2.6 điểm

+ Thầy thuốc có y đức phát triển kém: ĐTB > 1.0 ÷ 1.8 điểm

kết quả khảo sát theo tổng mẫu khảo sát, theo đối tượng để đưa ra các nhận

64

Sau khi có kết quả điều tra, chúng tôi tiến hành tổng hợp, xử lý thông

tin bằng phần mềm SPSS 16.0 theo chuẩn đánh giá đã xác định.

2. 2. Tình hình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay

2.2.1. Thực trạng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc và trong công cuộc xây

dựng chủ nghĩa xã hội, người TTQĐ đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của

mình. Hàng trăm, hàng ngàn tấm gương sáng “người thầy thuốc như mẹ hiền”

đã được cán bộ chiến sĩ ca ngợi, Đảng, Nhà nước và Nhân dân tôn vinh.

Trong thời kỳ đất nước đổi mới, người TTQĐ đã phát huy truyền thống tốt

đẹp, không quản ngại gian khổ, khó khăn, hết lòng, hết sức cứu chữa người

bệnh, mẫu mực về tinh thần, thái độ phục vụ, thể hiện phẩm chất cách mạng

cao đẹp của người TTQĐ, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đã xuất

hiện nhiều tấm gương sáng, nhiều cá nhân và đơn vị tiên tiến, anh hùng lực

lượng vũ trang được Đảng, Nhà nước tuyên dương.

Tuy vậy, mặt trái của KTTT đã tác động làm biến đổi quan hệ giữa lợi ích

và đạo đức trong ngành y. Không ít thầy thuốc, đơn vị đã nguyên tắc hoá lợi ích

vật chất trong hoạt động nghề nghiệp. Điều đó dẫn đến hệ luỵ là, nếu trước đây y

đức được coi là gốc, là cơ sở cho các phẩm chất khác của người thầy thuốc, thì

nay lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ của đơn vị lại được một số người xem là ưu

lợi ích người bệnh, lợi ích xã hội, thì nay coi nhân cách là ở mức độ thu nhập,

thành đạt trong việc thực hiện lợi ích. Nếu trước đây người TTQĐ coi sự hợp tác

với đồng nghiệp vì mục tiêu sức khoẻ người bệnh thì nay chấp nhận sự cạnh

tranh trong nghề nghiệp vì lợi nhuận. Nguyên tắc hoá lợi ích cá nhân trong nghề

nghiệp, trái với định hướng của Đảng về sự hài hoà lợi ích cá nhân - tập thể - xã

hội đã len lỏi, can thiệp vào các mối quan hệ của y đức, làm cho y đức của một

bộ phận TTQĐ có biểu hiện suy thoái. Sự suy thoái ấy được biểu hiện rất đa

dạng và có nhiều mức từ thấp đến cao, cụ thể trên các mặt sau:

tiên trước hết. Nếu trước đây coi nhân cách là thiện chí, thiện tâm, trách nhiệm vì

65

2.2.1.1. Thực trạng về sự phát triển ý thức y đức của người thầy thuốc quân đội

Thực trạng về sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được đánh

giá thông qua các nội dung sau:

- Về nhận thức y đức của người thầy thuốc quân đội.

Nhận thức y đức chính là hiểu biết về y đức, là cơ sở để TTQĐ có thái

độ, hành vi đúng. Để đánh giá tiêu chí này chúng tôi khảo sát nhận thức về

vai trò của y đức và hiểu biết của TTQĐ về y đức.

Vai trò của y đức

TT

Bảng 2.2: Kết quả khảo sát vai trò của y đức đối với người TTQĐ Kết quả khảo sát (N=453) SL 254 157 26 10 6

% 56.1 34.7 5.7 2.2 1.3

Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Ít quan trọng Không quan trọng Độ lệch chuẩn Hệ số tương quan 2 nhóm Điểm trung bình

0.242 R = 0.73 4.21

1 2 3 4 5 6 7 8

Kết quả khảo sát cho thấy: Đại đa số các TTQĐ nhận thức đúng về vai

trò của y đức trong thực hành nghề nghiệp. Cụ thể: Rất quan trọng (254/453=

56.1%); Quan trọng (157/453=34.7%); Bình thường (26/453=5.7%); Ít quan

trọng (10/453=2.2%); Không quan trọng (6/453=1.3%). Lượng hóa theo

thang điểm đạt mức “Rất quan trọng” với ĐTB=4.21 điểm.

mẫu cặp (Paired Samples Correlations) cho thấy, các ý kiến của nhóm khách thể

giảng viên, cán bộ quản lý và Bác sĩ về vai trò của y đức khá tập trung. ĐLC có

trị số thấp (σ = 0.242). Tương quan hệ thống giữa các ý kiến của 2 nhóm khách

thể này về tầm quan trọng của các Item đánh giá vai trò y đức của người TTQĐ

có r = 0.73 với xác suất tương ứng P-value (Sig.) = 0.125 > α = 0.05. Giả thuyết

H0 được khẳng định. Nghĩa là, có sự thống nhất về mức độ phù hợp của các nội

dung đánh giá mức độ quan trọng của y đức đối với việc hoàn thành nhiệm vụ

của người TTQĐ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Tiến hành thống kê mẫu cặp (Paired Samples Statistics) và tương quan

66

Để làm rõ hơn nhận thức y đức của người TTQĐ, chúng tôi đưa ra 28

biểu hiện y đức của người TTQĐ. Kết quả khảo sát cho thấy: Hầu hết y, bác

sĩ trong phạm vi khảo sát đều cho rằng những biểu hiện đó đều “cần thiết” và

“rất cần thiết” đối với người TTQĐ. Đặc biệt, khi xem xét phân bố của các

khách thể theo mức điểm mà họ đạt được chúng tôi thấy: Chủ yếu đạt mức từ

4 đến 5; không có thầy thuốc nào đạt mức điểm thấp “ít cần thiết” (phụ lục 8).

Như vậy, nhìn chung đa số TTQĐ được nghiên cứu có nhận thức đúng đắn,

đầy đủ và sâu sắc về các yêu cầu của y đức. Đây là điều kiện thuận lợi để các

TTQĐ tham gia khám chữa bệnh và công tác đạt hiệu quả.

Điểm trung bình sau khi lượng hóa các Item của nội dung này là 4.24, đạt

mức “Cần thiết”. Đặc biệt, trong tất cả các biểu hiện trên thì biểu hiện TTQĐ

“Có lòng yêu ngành, yêu nghề (ĐTB=4.32); “Hoạt động chuyên môn đúng với y

học và luật pháp” (ĐTB=4.26) và “Thể hiện rõ phẩm chất Bộ đội cụ Hồ”

(ĐTB=4.74) đạt ở mức độ “Rất cần thiết”. Chứng tỏ TTQĐ đã nhận thức được

tầm quan trọng của y đức trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Đây là cơ sở

để người TTQĐ có thái độ và hành động tích cực trong hoạt động nghề nghiệp.

Nhìn chung, có sự tương đồng trong đánh giá ở 2 nhóm khách thể:

TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện trung ương và TTQĐ công tác ở tuyến

bệnh viện cơ sở. Ở nhóm TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện trung ương đánh

khách thể là TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện cơ sở, các Item 1; Item 2; Item

8; Item 11; Item 17 được đánh giá cao hơn. Không có ý kiến tham gia thêm

các phương án trả lời bước đầu chứng tỏ độ tin cậy của việc xác định các biểu

hiện y đức của người TTQĐ. Tổng hợp về nhận thức y đức của người thầy

thuốc đạt 4.24 điểm, đạt “Mức cao”. Từ kết quả trên cho thấy: Đội ngũ TTQĐ

trong phạm vi khảo sát có hiểu biết sâu sắc về y đức.

giá cao tập trung vào các Item 5; Item 6; Item 7; Item 13; Item 15. Với nhóm

Y đức cách mạng không chỉ là lòng yêu thương và tinh thần trách

nhiệm với người bệnh, quan hệ mật thiết với đồng nghiệp, mà còn là sự say

- Về tình cảm y đức của người thầy thuốc quân đội

67

mê nghề nghiệp, trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề để công tác

cấp cứu, điều trị, phục vụ ngày càng có hiệu quả. Do đó, để tìm hiểu tình cảm

y đức của TTQĐ, trước hết chúng tôi tiến hành khảo sát các lý do phản ánh

động cơ trở thành TTQĐ, kết quả thu được như sau:

Bảng 2.3: Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội

Lý do trở thành người TTQĐ

ĐTB 4.47 1.38 3.16 1.93 3.87 3.43 3.49 3.33 1.97

Thứ bậc 1 9 6 8 2 4 3 5 7

TT 1 Nghề y có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội 2 Nghề y là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình

TBC

ĐLC 0.32 0.78 1.04 1.10 0.94 1.19 1.16 1.35 1.14 3.96

Kết quả khảo sát cho thấy: Trừ động cơ “Nghề có thu nhập cao”

(ĐTB=1.38; “Không phải kiếm sống ngoài nghề” (ĐTB=1.93) và “Có thời

gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình” (ĐTB=1.97), theo chuẩn đánh giá

đạt mức “Thấp”, thì tất cả các động cơ còn lại được các TTQĐ lựa chọn ở mức

độ “Cao”. Mức độ cao nhất “Là nghề có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã

hội” (ĐTB=4.47). Xếp thứ 2 là “Có đóng góp cho ngành và chuyên môn”

(ĐTB=3.87), đạt “Mức cao”. Kết quả đáng mừng là có 100% y, bác sĩ; 98.52%

được nghề nghiệp mình chọn là nghề cao quý, nghề trị bệnh cứu người. Họ đã

quán triệt và thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chủ Tịch đối với cán bộ ngành y; có

lương tâm và trách nhiệm cao; hết lòng yêu nghề, không ngừng học tập, rèn

luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất y đức và trình độ chuyên môn; sẵn sàng

vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của

thương binh, bệnh binh, của bộ đội và nhân dân. Có tới 379/453 = 83.7% trả lời

dược tá, dược sĩ và 95.24% học viên sĩ quan quân y được hỏi đều nhận thức

“Yên tâm với nghề nghiệp đã lựa chọn” (ĐTB=3.74), đạt “mức Cao” trong

thang chuẩn đánh giá. Xem xét phân bố của các khách thể theo mức điểm mà

“Thực sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm” (ĐTB=3.96); 403/453=89.0%

68

họ đạt được chúng tôi thấy: Chủ yếu đạt mức từ 3 đến 5, tập trung cao nhất ở

điểm 4; rất hiếm thầy thuốc đạt mức điểm thấp từ 1 - 2.

Kết quả khảo sát chứng tỏ động cơ, mục đích trở thành TTQĐ của

người TTQĐ rất đa dạng và thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Có những

động cơ, mục đích xuất phát từ cá nhân, hoàn thiện bản thân và có những

động cơ, mục đích đóng góp cho xã hội. Những mục tiêu kinh tế không được

coi là chủ yếu. Nhìn chung đó đều là những động cơ tích cực, trong sáng và

phù hợp với đặc thù môi trường quân sự. Chứng tỏ, đa số TTQĐ trong phạm

vi nghiên cứu có tình cảm đúng đắn và tích cực về nghề nghiệp đã lựa chọn.

Điểm lượng hoá cho tiêu chí đánh giá tình cảm y đức của người TTQĐ

là 3.96, đạt mức “Tích cực”.

- Về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội

Ở nước ta, qua gần 30 năm thực hiện cơ chế thị trường đã xuất hiện một

số ngành nghề có thu nhập cao, nhiều người trở nên khá giả, thực tế ấy đã lôi

cuốn không ít người lao vào làm giàu, mưu cầu lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, tuyệt

đại đa số cán bộ, nhân viên, chiến sĩ quân y vẫn kiên định với nhiệm vụ được

giao, yêu ngành, yêu nghề, yên tâm phục vụ quân đội. Kết quả khảo sát niềm tin

y đức của người TTQĐ được thể hiện ở bảng 2.4.

Bảng 2.4: Thực trạng về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội

Nội dung đánh giá

ĐTB 4.04 3.75 3.71 3.74 3.81 3.73

Thứ bậc 1 3 5 6 2 4

ĐLC 0.437 0.501 0.462 0.701 0.705 0.46

TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Nhiệt tình, trách nhiệm trong khám chữa bệnh 3 Lý tưởng nghề nghiệp là “Lương y như từ mẫu” 4 Thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 5 Thực sự yêu thích công việc đang đảm nhiệm 6 Nếu được lựa chọn lại nghề, vẫn chọn nghề TTQĐ

TBC

3.78

Kết quả khảo sát cho thấy: Niềm tin y đức của đội ngũ thầy thuốc trong

phạm vi khảo sát thể hiện rất rõ ràng. Rõ nhất là “Ý thức chấp hành nghiêm

nội qui, qui định của đơn vị (Khoa, Bộ môn)”, ĐTB sau khi lượng hoá là

4.04, xếp thứ bậc 1 (Item 1); “Thực sự yêu thích công việc mình đang đảm

nhiệm”, ĐTB=3.81, xếp thứ 2 (Item 5); đạt mức “Cao” trong thang chuẩn

69

đánh giá. Đáng chú ý là khi được hỏi: “Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn

chọn nghề TTQĐ?” thì có tới 412/453=90.94% TTQĐ bày tỏ nguyện vọng

được tiếp tục công tác trong quân đội (Item 6), ĐTB=3.73, đạt ở “Mức cao”.

Hầu hết các TTQĐ đều bất bình với các tệ nạn tiêu cực, tham nhũng trong xã

hội, lo ngại trước các biểu hiện sa sút về y đức trong đội ngũ thầy thuốc. Có

tới 414/453=91.4% thầy thuốc được hỏi về những biểu hiện tiêu cực về y đức

đã cho rằng đó là hiện tượng không bình thường, cần kiên quyết khắc phục.

Nhiều thầy thuốc chân chính đã tích cực đấu tranh, góp phần xoá bỏ các biểu

hiện tiêu cực ấy. Chính vì lẽ đó, mà những tiêu cực về y đức và lối sống thực

dụng ít thâm nhập được vào tập thể các đơn vị quân y, phẩm chất y đức tốt

đẹp trong họ ngày càng được giữ vững và phát triển tỷ lệ thuận theo thời gian

đào tạo và công tác điều trị ở đơn vị.

Điểm lượng hoá 6 Item phản ánh nội dung này là 3.78, đạt “mức cao”.

Từ kết quả trên có thể rút ra nhận xét: Đội ngũ TTQĐ xác định rõ lý tưởng

nghề nghiệp, có niềm tin sâu sắc về y đức của người TTQĐ; là cơ sở vững

chắc cho ý chí nỗ lực cao, chủ động khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi

nhiệm vụ được giao.

- Về ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội

Phẩm chất ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, mặt biểu hiện

người TTQĐ được thể hiện ở bảng 2.5:

cụ thể của ý thức trong thực tiễn. Kết quả khảo sát, đánh giá ý chí y đức của

Bảng 2.5: Thực trạng ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội

Nội dung đánh giá

ĐTB 3.73 3.98 3.52 3.70 3.75 4.01

Thứ bậc 3 2 6 4 5 1

TT 1 Có thái độ phê phán những hành vi vi phạm trong KCB 2 Là người có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 3 Mong có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh HĐ KCB 4 Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn 5 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 6 Có ý thức cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao

TBC

ĐLC 0.59 0.589 0.542 0.751 0.72 0.586 3.76

70

Kết quả khảo sát cho thấy: Trong quá trình hoạt động, người TTQĐ

luôn đặt ra cho mình mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn trở ngại, nhất là

sự tác động của mặt trái nền KTTT đến mối quan hệ thầy thuốc và người

bệnh. Rõ nhất là “Luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được

giao” có ĐTB=4.01, xếp thứ nhất (Item 6); Tiếp theo “Luôn là người có thái

độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh” có ĐTB=3.98, xếp thứ 2 (Item 2), đạt

mức “Rất cao” trong thang đánh giá. Thấp nhất là “Mong muốn có sự phản

hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám chữa bệnh” có ĐTB=3.52,

nhưng vẫn đạt ở “Mức cao”.

Điểm lượng hoá 6 Item phản ánh nội dung này là 3.76, đạt “mức cao”.

Từ kết quả trên có thể rút ra nhận xét: Người TTQĐ có ý chí y đức cao, hành

động có suy nghĩ, trên cơ sở nhận thức được những giá trị xã hội - quân sự

đúng, xây dựng và hình thành cho mình tính kỷ luật và phẩm chất ý chí trong

hoạt động y nghiệp. Đội ngũ TTQĐ đã quán triệt tốt các tiêu chuẩn về y đức

mới làm cơ sở điều chỉnh thái độ và hành vi y đức; nâng cao ý thức tổ chức

kỷ luật, đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện vi phạm về y đức, nhân phẩm

của người TTQĐ. Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu

được kết quả ở bảng 2.6:

Bảng 2.6: Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ

ĐTB

TT

Nội dung đánh giá phát triển ý thức y đức của người thầy thuốc quân đội

3.91 3.96 3.78 3.76

Thứ bậc 2 1 3 4

1 Về nhận thức y đức của người thầy thuốc quân đội 2 Về tình cảm y đức của người thầy thuốc quân đội 3 Về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội 4 Về ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội

TBC

3.85

Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển y đức của người thầy thuốc

trong phạm vi khảo sát là 3.85, đạt mức “Cao”. Trung vị và yếu vị của giá trị

điểm đều bằng 4.0. ĐLC và phương sai nhỏ (0.472 và 0.503) với độ biến

thiên tương ứng = 1.3, giá trị điểm nhỏ nhất là 1.93, cao nhất là 4.54.

71

Kết quả thống kê mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ đánh

giá theo 4 nội dung được thể hiện ở biểu đồ 2.1.

5

3.85

3.91

3.96

3.76

4.2

Nhận thức y đức

3.78

Tình cảm y đức

3.4

Niềm tin y đức

2.6

Ý chí y đức

TBC

1.8

1

Nhận thức y đức Tình cảm y đức

Niềm tin y đức

Ý chí y đức

TBC

Biểu đồ 2.1: Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ

Từ kết quả tổng hợp trên cho thấy: Những điểm mạnh về ý thức y đức

của người TTQĐ là cơ bản, song ở họ còn bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót

cần khắc phục đó là: Một số thầy thuốc chưa có nhận thức đầy đủ, cụ thể về

các chuẩn mực y đức của người thầy thuốc. Trao đổi với 20 thầy thuốc cho

thấy: Có tới 06/20=33.3% thầy thuốc quan niệm đơn giản y đức là những

người hiền lành, chấp hành nghiêm pháp luật và kỷ luật, làm điều thiện,

không làm điều ác và những điều sai trái. Cách hiểu này không sai, nhưng

chưa toàn diện và không bao hàm đầy đủ những chuẩn mực y đức cần thiết và

tính đặc thù của đạo đức nghề nghiệp.

Trình độ nhận thức, giác ngộ chính trị chưa đồng đều, còn có sự chênh

nghiệp chưa sâu sắc, động cơ nghề nghiệp chưa thật vững chắc, còn có sự so

sánh thiệt hơn về môi trường, điều kiện công tác, có người chưa thật sự yên tâm,

gắn bó với sự nghiệp khám chữa bệnh ở các bệnh viện quân đội, muốn chuyển

công tác ra các bệnh viện dân sự. Một số TTQĐ còn nhận thức lệch lạc về vai

trò, vị trí của y đức đối với đời sống xã hội nói chung và đối với sự trưởng thành

về nhân cách của mình nói riêng. Đây là nguồn gốc dẫn đến thái độ y đức và

hành vi y đức ở họ bị lệch chuẩn. Cá biệt, vẫn còn 26/453=5.7% thầy thuốc được

lệch giữa các thế hệ. Ở một số thầy thuốc trẻ, sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng y

72

hỏi cho rằng vai trò của y đức đối với người thầy thuốc là “Bình thường” và

10/453=2.2% cho là “Ít quan trọng”, chỉ cần làm tốt chuyên môn là được, có học

viên quan niệm trong thời gian học tập tại trường chỉ lấy việc học làm chính, còn

giáo dục, rèn luyện y đức coi là không quan trọng. Trong nhận thức về y đức,

một số TTQĐ không thấy hết sự phát triển của y đức trong mối quan hệ với

chính trị và pháp luật. Có tới 95/453=21.0% thầy thuốc được hỏi trả lời là ít quan

tâm tới mối quan hệ trên. Do đó trên thực tế, đã xuất hiện những hành vi biểu

hiện sự suy đồi về mặt đạo đức, lối sống thực dụng, tệ nạn tham nhũng và những

vi phạm pháp luật ngày một nghiêm trọng.

Tình trạng phổ biến hiện nay là một số TTQĐ không thấy hết mức độ sa

sút về y đức, thường cho rằng sa sút về y đức chỉ liên quan đến tham nhũng và vòi

vĩnh nhận quà biếu của người bệnh, mà không thấy y đức sa sút ngay từ cách ứng

xử, giao tiếp với mọi người và với người bệnh, từ sự thiếu thiện tâm, thiếu trách

nhiệm trong theo dõi, chăm sóc người bệnh hàng ngày... Từ những vấn đề trên

cho thấy, việc PTYĐ trong số này còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu, tiêu

chí phát triển. Một điều đáng quan tâm là những tiêu cực của xã hội và của ngành

đã thẩm thấu vào môi trường y đức của người TTQĐ, tác động ảnh hưởng đến đội

ngũ thầy thuốc. Vì thế, trong một số thầy thuốc đã xuất hiện những dấu hiệu coi

Những biểu hiện trên mặc dù chưa phổ biến, nhưng nó đã ảnh hưởng

không nhỏ đến môi trường y đức trong đơn vị, nếu không kịp thời khắc phục

ngay từ trong nhận thức thì nó sẽ cản trở lớn đến việc PTYĐ và xây dựng môi

trường y đức của người TTQĐ.

Tóm lại: Phần lớn TTQĐ được nghiên cứu có ý thức tốt về y đức. Tổng

hợp ĐTB tiêu chí đánh giá nội dung này của đội ngũ thầy thuốc là 3.85, đạt ở

mức “Cao”. Đây là tiền đề thuận lợi để TTQĐ có thái độ y đức và hành vi y

đức tích cực trong hoạt động nghề nghiệp của mình.

trọng giá trị vật chất đơn thuần, chạy theo đồng tiền...

73

2.2.1.2. Thực trạng phát triển về thái độ y đức của người TTQĐ

- Thái độ y đức của người thầy thuốc với người bệnh

Chúng tôi sử dụng bảng hỏi với các Item dành cho đội ngũ thầy thuốc

và bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.7:

Bảng 2.7: Thực trạng thái độ y đức của người thầy thuốc với người bệnh

Đánh giá của BN

TT

Nội dung

Tự đánh giá của ĐN thầy thuốc ĐTB

Thứ bậc ĐTB Thứ bậc

1 Nhiệt tình, trách nhiệm, hết lòng, hết sức cứu

3.34

2

3.31

2

chữa BN

2 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với NB 3 Niềm nở khi tiếp xúc với NB và gia đình BN 4 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 5 Không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho BN 6 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính

3.04 2.98 3.45 3.32 3.26

5 6 1 3 4

2.99 2.96 3.63 2.92 2.86

3 4 1 5 6

của cá nhân

3.23

3.11

TBC

3.17

Nhận xét: người TTQĐ đã có thái độ đúng đắn, tích cực trong quan hệ

với bệnh nhân. Cụ thể: “Luôn tôn trọng bí mật, sự riêng tư của bệnh nhân”

được thống nhất đánh giá ở cả bác sĩ và bệnh nhân ở mức cao nhất (ĐTB=3.45

ở bác sĩ và 3.63 ở bệnh nhân), xếp thứ nhất. Đại đa số thầy thuốc “Có tinh thần

trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân” (ĐTB=3.34 ở bác sĩ và

3.31 ở bệnh nhân), xếp thứ 2. Đồng thời có 407/453=89.8% thầy thuốc thường

2.99 ở bệnh nhân), xếp thứ 3. ĐTB của đội ngũ thầy thuốc sau khi lượng hoá là

3.23, bệnh nhân là 3.11 đều đạt ở mức “Trung bình”. TBC là 3.17.

Kết quả trên chứng tỏ: do làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng,

kết hợp với giáo dục, bồi dưỡng y đức, tổ chức quản lý, rèn luyện kỷ luật

của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong các đơn vị quân y, cùng với sự tự giác

nỗ lực tự học tập, tự tu dưỡng y đức của mỗi TTQĐ, nên họ đã có những

chuyển biến rõ rệt về nhận thức và có thái độ tốt trong giải quyết các mối

quan hệ y đức, cơ bản đáp ứng yêu cầu trong quá trình khám chữa bệnh.

xuyên “Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh” (ĐTB=3.04 ở bác sĩ và

74

Trong mối quan hệ với bệnh nhân, phần lớn thầy thuốc đều tôn trọng, cảm

thông sâu sắc với bệnh nhân, tận tình chăm sóc và cứu chữa bệnh nhân,

không phân biệt đối xử giữa bệnh nhân giàu hay nghèo, thân hay sơ.

Tuy nhiên, nhìn vào kết quả cụ thể từng Item cho thấy: Tự đánh giá của

đội ngũ thầy thuốc cao hơn đánh giá của bệnh nhân. Đáng chú ý là Item

“Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho bệnh nhân” được bệnh nhân

đánh giá có ĐTB=2.92, xếp thứ 5/6 và “Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi

ích tài chính của cá nhân” có ĐTB=2.86, xếp thứ 6/6 chứng tỏ: Thái độ với

bệnh nhân vì lợi ích cá nhân, đồng tiền đã xen vào mối quan hệ giữa một số

thầy thuốc với bệnh nhân một cách không lành mạnh. Qua trao đổi, cán bộ

chủ chốt ở một số bệnh viện quân đội, đã đồng tình với nhận định này.

Có thể thấy, trong quan hệ giữa thầy thuốc với người bệnh, sự suy thoái

biểu hiện ở thái độ thiếu niềm nở, lịch sự trong giao tiếp với bệnh nhân, thiếu

tôn trọng quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của con người, thờ ơ với nỗi

đau của người bệnh, không tận tình, giải thích bệnh tật không đến nơi đến

chốn, việc động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị còn hạn chế...

Đây là vấn đề nổi cộm nhất trong những biểu hiện tiêu cực, sa sút về y đức ở

một số bệnh viện quân đội. Hiện nay ở một số bệnh viện trong quân đội, việc

biếu quà, biếu tiền thầy thuốc với tư cách là một nghĩa cử trong sáng không

gian, cầu nối giữa thầy thuốc với bệnh nhân. Tùy theo quà biếu lớn hay bé mà

sự nhiệt tình của thầy thuốc với bệnh nhân tăng hay giảm, hiện tượng lệ phí

“ngầm” xuất hiện đã trở thành mối lo của nhiều người bệnh.

Kiểm định sự khác biệt tổng thể giữa các Item tự đánh giá của thầy thuốc

và đánh giá của bệnh nhân với độ tin cậy α = 0.05 cho kết quả: Với df = 2, ĐTB

bình phương (Mean Square) = 0.13, trị số F = 0.146 và trị số kiểm định P-value

(Sig.) = 0.089 > 0.05, khẳng định đánh giá về thái độ của người thầy thuốc với

người bệnh không có sự khác biệt về mức đánh giá. Đều đánh giá đạt ở mức

“Trung bình”. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

phải là không có. Nhưng vấn đề cập ở đây là đồng tiền đã trở thành vật trung

75

- Thái độ y đức của người TTQĐ với đồng nghiệp và với bậc thầy (cấp

trên) của mình

Bảng 2.8: Thực trạng thái độ y đức với đồng nghiệp và với bậc thầy (cấp trên)

Nội dung

ĐTB

ĐLC

3.81 Tôn trọng cấp trên, tôn trọng tổ chức Luôn tỏ thái độ kính trọng bậc thầy (cấp trên) của mình 3.31 2.85 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 2.87 Ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp 2.89 Tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB

Thứ bậc 1 2 5 4 3

0.77 0.93 0.82 0.69 0.83

TBC

3.14

TT 1 2 3 4 5

Nhận xét: Thái độ y đức trong mối quan hệ với đồng nghiệp, với các bậc

thầy của mình, người thầy thuốc về cơ bản giải quyết một cách phù hợp theo

chuẩn mực y đức. Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chiếm thứ hạng cao

nhất, ĐTB=3.81, tiếp đến là “Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên)

của mình”, ĐTB=3.31, đạt mức “Tích cực”; “Tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh”, ĐTB=2.89, xếp thứ 3. Kết quả này phù hợp với

tổng kết công tác quân y hàng năm đều khẳng định: Trong quá trình khám chữa

bệnh và thực hiện các mặt công tác quân y, các TTQĐ luôn thể hiện được lối

sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và thương yêu giúp đỡ lẫn nhau,

giải quyết hài hoà các mối quan hệ. Thông qua thực tiễn hoạt động giao tiếp có

của người thầy thuốc có xu hướng phát triển tích cực, ngày càng hoàn thiện.

Tuy nhiên, thái độ trong giải quyết mối quan hệ y đức ở người thầy thuốc

vẫn còn một số hạn chế: Chưa thực sự “Ủng hộ việc đối mới phương pháp khám

chữa bệnh của đồng nghiệp” (Chỉ có 127/453=28.03% thầy thuốc ủng hộ việc

đổi mới phương pháp khám chữa bệnh của đồng nghiệp, ĐTB=2.87, xếp thứ

4/5); Việc “Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm khám chữa bệnh cho đồng nghiệp”

là nội dung yếu nhất (Chỉ có 167/453= 36.86% thầy thuốc sẵn sàng truyền thụ

kinh nghiệm cho đồng nghiệp, ĐTB=2.85, xếp thứ 5/5).

sự định hướng của các chủ thể quản lý, giáo dục trong đơn vị, quan hệ đạo đức

76

Thái độ trong quan hệ với đồng nghiệp, sự suy thoái của y đức biểu

hiện ở tinh thần thiếu hợp tác vì mục đích chung, ở sự thiếu tôn trọng chuyên

môn và sự đóng góp của đồng nghiệp trong thăm khám, điều trị, ở sự ít chia

sẻ thông tin với đồng nghiệp về chuyên môn. Họ ngại, hoặc thiếu nhiệt tình

trong truyền thụ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, đạo đức nghề y

cho đồng nghiệp. Chỉ có 167/453=36.86% thầy thuốc cho là sẵn sàng truyền

thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp, 127/453=28.03% thầy thuốc ủng hộ việc

đổi mới phương pháp khám chữa bệnh của đồng nghiệp, 82/453=18.10% thừa

nhận thật sự tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong khám chữa bệnh. Khi

khám chữa bệnh có tới 302/453=66.67% thầy thuốc gặp phải trường hợp đồng

nghiệp có sai sót trong thực hành lâm sàng. Đa số họ có trao đổi với đồng

nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan (425/453=93.81%) trong số này

có 114/453=25.20% đã báo cáo với cơ quan hoặc người có trách nhiệm. Đối

với những trường hợp không trao đổi với đồng nghiệp hoặc không báo cáo

với ai, một số lý do chính được đưa ra như sau: sai sót đó cũng có thể xảy ra

đối với mình 256/453=56.51%; người đồng nghiệp đó có tuổi đời, tuổi nghề

nhiều hơn 212/453=46.79%; có người khác giải quyết thay vấn đề này

196/453=43.26% và có báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề

Thái độ y đức trong quan hệ với các bậc thầy, cấp trên ở một số thầy

thuốc còn có dấu hiệu của lối sống thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu tinh

thần tập thể. Một số quan hệ không chính thức, mang tính cục bộ địa phương,

lôi kéo bè phái, kỳ thị lẫn nhau vẫn thường xảy ra, ảnh hưởng đến sự đoàn kết

thống nhất trong đơn vị và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết quả:

ĐTB đánh giá thái độ với đồng nghiệp và với bậc thầy của mình trong phạm

vi khảo sát là 3.14, đạt mức “Trung bình”.

192/453=42.38%.

77

- Thái độ y đức của người TTQĐ với xã hội, cộng đồng

Bảng 2.9: Thực trạng thái độ y đức của thầy thuốc với xã hội, cộng đồng

Nội dung

ĐTB 3.07 2.87 3.02 3.03

ĐLC 1.02 0.92 0.86 0.87

Thứ bậc 1 4 3 2

TT 1 Sẵn sàng nhận nhiệm vụ nơi khó khăn, nguy hiểm 2 Tích cực tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng 3 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 4 Tích cực tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo

TBC

3.00

Nhận xét: Thái độ y đức trong quan hệ với đơn vị, xã hội, với cộng đồng

các TTQĐ đã thể hiện sự tích cực, lành mạnh. Cụ thể: “Sẵn sàng nhận nhiệm vụ

nơi khó khăn, nguy hiểm” được các thầy thuốc nhất trí cao với ĐTB=3.07, xếp

thứ nhất. Tiếp theo là “Tích cực tham gia khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu

nhân đạo …” có ĐTB=3.03, xếp thứ 2. Tuy nhiên, tất cả các Item tham gia đánh

giá đều ở mức “Trung bình”. Sự suy thoái của y đức biểu hiện ở sự thiếu nhiệt

tình trong hỗ trợ tuyến dưới, khi tham gia chống dịch bệnh, trong hoạt động

truyền thông giáo dục sức khoẻ, trong khám chữa bệnh miễn phí, thiếu gương

mẫu trong nếp sống, trong sinh hoạt tập thể.

Phát huy truyền thống đoàn kết quân dân, truyền thống quân dân y kết

hợp. Các ĐVQY, nhất là các bệnh viện quân đội hiện nay luôn hăng hái, chủ

động, hiệp đồng với ngành y tế và cơ quan hữu quan để cùng nhau chăm sóc sức

khoẻ nhân dân; đến tận nơi khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân

kháng chiến cũ; đảm nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều bà mẹ Việt Nam Anh

hùng…Mô hình bệnh viện quân dân y kết hợp đã được thực hiện rất hiệu quả thể

hiện rõ sự quan tâm chăm lo sức khoẻ cho nhân dân của Đảng, và Nhà nước ta.

Mỗi khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ thì tấm lòng nhân ái, bản chất cao

đẹp Anh “Bộ đội cụ Hồ” của người TTQĐ càng thấm đượm và sâu sắc trong

lòng nhân dân. Họ không quản ngại khó khăn, gian khổ đem hết tài năng và

sức lực của mình cứu chữa người bị nạn, tham gia vệ sinh phòng dịch, Họ

không ngần ngại nhường cơm xẻ áo, thậm chí cả máu của mình để cứu chữa

trên địa bàn đóng quân cũng như đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ

78

người bị nạn, giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn sớm ổn định sức khoẻ và

cuộc sống. Hiện nay ở nhiều bệnh viện quân đội, hàng năm đã nhận được

hàng trăm lá thư do thương binh, bệnh binh, người bệnh trên mọi miền của

đất nước gửi về cảm ơn và tỏ lòng yêu mến, khâm phục y đạo, y thuật, sự tận

tụy hy sinh vì người bệnh của cán bộ nhân viên, chiến sĩ quân y.

Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết quả:

ĐTB đánh giá thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng là 3.00, đạt

mức “Trung bình”.

- Thái độ y đức với công việc, với chính bản thân người thầy thuốc

2.10: Thực trạng thái độ y đức với công việc, với bản thân

TT

ĐTB

ĐLC

Thứ bậc

Biểu hiện thái độ y đức của người TTQĐ đối với công việc, với bản thân

1 Có lòng yêu nghề, say mê với công việc

3.82

0.73

1

2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp

3.12

0.21

7

3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh

3.17

0.24

6

4 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ

3.24

0.36

4

5 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB

3.56

0.58

2

6 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm

3.38

0.49

3

7 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm

3.06

0.19

8

8 giữ gìn phẩm giá, danh dự bản thân trong hành nghề

3.22

0.32

5

Điểm trung bình

3.29

Nhận xét: Thái độ y đức với công việc và với chính bản thân người thầy

tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc. Thể hiện rõ lòng yêu nghề, say mê

với công việc chuyên môn chiếm thứ hạng cao, ĐTB=3.82, tiếp đến là tích cực

trong học tập để nâng cao trình độ, năng lực, ĐTB=3.56, đạt mức “Tích cực”;

chẩn đoán, xử lý kịp thời không đùn đẩy trách nhiệm, ĐTB=3.38, xếp thứ 3.

Tuy nhiên, để hoạt động chuyên môn đúng với y học và pháp luật còn nhiều hạn

chế (ĐTB=3.12, xếp thứ 7/8, đạt mức “Trung bình”; khi có thiếu sót tự giác

nhận trách nhiệm về mình còn chưa được cao (ĐTB=3.06, xếp thứ 8/8, đạt mức

“Trung bình”).

thuốc về cơ bản giải quyết đúng với chuyên môn và pháp luật cũng như lương

79

Điểm trung bình đánh giá thái độ y đức với công việc và với chính bản

thân của người thầy thuốc sau khi lượng hoá theo chuẩn xác định là 3.29, đạt

mức “Trung bình”. Tổng hợp kết quả về thái độ y đức của người TTQĐ cho

thấy: Đa số TTQĐ trong phạm vi khảo sát có mức độ phát triển thái độ y đức ở

mức độ “trung bình” (341/453 thầy thuốc=75.27%); số thầy thuốc được đánh giá

có thái độ trong quan hệ y đức “Tích cực” và “Rất tích cực” không nhiều, mức

“Rất tích cực 19/453 thầy thuốc = 4.19%, mức “Tích cực” 133/453 thầy thuốc =

29.35%); không có thầy thuốc nào có thái độ y đức phát triển ở mức độ “Kém”.

Tổng hợp kết quả thực trạng phát triển thái độ y đức của TTQĐ ở bảng 2.11:

Bảng 2.11: Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ

Nội dung đánh giá phát triển thái độ y đức

ĐTB

Thứ

TT

của người thầy thuốc quân đội

bậc

1 Thái độ của người thầy thuốc với người bệnh

3.17

2

2 Thái độ của người với đồng nghiệp, bậc thầy (cấp trên) của mình

3.14

3

3 Thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng

3.00

4

4 Thái độ với công việc; với chính bản thân người thầy thuốc

3.29

1

TBC

3.15

Nhận xét: Sau khi lượng hóa, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được

kết quả: ĐTB đánh giá mức độ phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc trong

phạm vi khảo sát là 3.15, đạt mức “Trung bình”. Trung vị và yếu vị của giá trị

tương ứng = 1.9, giá trị điểm nhỏ nhất là 2.65, cao nhất là 4.36. Có thứ bậc cao

nhất là “thái độ đối với công việc, với chính bản thân người thầy thuốc”, ĐTB =

3.54; thứ hai là “Thái độ với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)”, ĐTB=3.29),

thứ ba là “Thái độ của thầy thuốc với người bệnh, ĐTB=3.17), thấp nhất là “Thái

độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng, ĐTB=3.00).

Kết quả thống kê mức độ PTYĐ của người TTQĐ đánh giá theo 4 nội

dung được thể hiện ở biểu đồ 2.2:

điểm đều bằng 3.0. ĐLC và phương sai nhỏ (0.641 và 0.614) với độ biến thiên

80

5

4.2

MQH 1

3.29

MQH 2

3.17

3.14

3.15

3

3.4

MQH 3

MQH 4

2.6

ĐTB

1.8

1

MQH 1

MQH 2

MQH 3

MQH 4

ĐTB

Biểu đồ 2.2: Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ

2.2.1.3. Thực trạng phát triển về hành vi y đức của người TTQĐ

Y đức không chỉ là lòng yêu thương và tinh thần trách nhiệm với người

bệnh, với thương binh, bệnh binh và thái độ trong các mối quan hệ, mà còn được

thể hiện thông qua hệ thống hành vi y đức cụ thể. Đánh giá thực trạng về hành

vi y đức của người TTQĐ trên các nội dung cơ bản sau:

- Hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của

bản thân người TTQĐ.

Bảng 2.12: Thực trạng hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự

rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ

Nội dung

ĐTB

ĐLC

Thứ bậc

TT 1 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực

2.92

0.55

5

chuyên môn

2 Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo

2.99

0.63

4

tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

3 Thường xuyên trau dồi đạo đức người quân nhân

3.52

0.71

2

cách mạng

4 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui

3.02

0.53

3

định trong khám chữa bệnh

5 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi ích cá nhân

2.76

0.94

6

người thầy thuốc

6 Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt

3.78

0.58

1

nhiệm vụ được giao

TBC

3.17

Nhận xét: Đại đa số TTQĐ “Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn

thành tốt nhiệm vụ được giao” (413/453=91.23%, ĐTB=3.78, đạt mức “Tích

81

cực”, xếp thứ nhất. Nghề y là nghề rất vất vả, luôn phải đối mặt với khó khăn,

gian khổ, lây nhiễm bệnh tật nhưng qua trực tiếp trao đổi với các thầy thuốc

đang công tác ở các bệnh viện, Học viện Quân y và khảo sát cho thấy có tới

386/453 = 85.3% thầy thuốc “Thường xuyên trau dồi đạo đức người quân

nhân cách mạng”, ĐTB = 3.52, xếp thứ 2/6.

Qua quan sát, nghiên cứu báo cáo tổng kết và kết quả khảo sát cũng chỉ

ra đội ngũ thầy thuốc chưa thật sự “Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám chữa bệnh”, nhất là các thầy thuốc ở tuyến cơ sở. ĐTB = 2.92,

xếp thứ 5/6; Đáng chú ý là theo đánh giá của chính thầy thuốc và của bệnh

nhân thì còn coi lợi ích cá nhân hơn lợi ích của bệnh nhân, chưa thực sự thực

hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh”, ĐTB = 2.99, xếp thứ 4/6.

Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức đối với quá

trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ trong phạm

vi khảo sát là 3.17, đạt mức “Trung bình”.

- Hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật

của người TTQĐ

Bảng 2.13: Thực trạng hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều

lệnh và pháp luật của người TTQĐ

Nội dung

ĐTB 3.54 3.42 2.65 3.26 3.08

ĐLC 0.43 0.54 0.95 0.76 0.83

Thứ bậc 1 2 5 3 4

TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn 3 Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách 4 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 5 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả 6 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên

2.46

1.03

6

môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong KCB

TBC

3.17

Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy: Hầu hết TTQĐ “Luôn có ý thức

chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị”, ĐTB = 3.54, đạt “Mức cao”,

82

xếp thứ nhất. Trong y nghiệp luôn có ý thức “Tôn trọng pháp luật, qui chế

chuyên môn”, ĐTB = 3.42, xếp thứ 2; “Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm” có ĐTB = 3.26, xếp thứ 3. Tuy nhiên, một số không nhỏ

thầy thuốc chưa “Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách” mà

họ được hưởng, ĐTB = 2.65, xếp thứ 5/6; Việc “Thông báo cho bệnh nhân

những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó, trong quá trình khám

chữa bệnh” chưa thường xuyên, ĐTB = 2.46, xếp thứ 6/6, đạt mức trung bình.

Nghiên cứu báo cáo, tổng kết của các bệnh viện tuyến Trung ương và

tuyến cơ sở cho thấy: Trong chuyên môn, một số thầy thuốc do không chấp

hành nguyên tắc của bệnh viện, quy chế chuyên môn đã để xảy ra những sai

sót về kỹ thuật gây tai biến cho bệnh nhân, thậm chí, tìm cách đùn đẩy bệnh

nhân, gây khó dễ cho gia đình họ…Sự thiếu nhiệt tình biểu hiện ở các khâu,

các bước trong quá trình người bệnh khám chữa bệnh tại bệnh viện. Đặc biệt,

trong các khâu khám bệnh, làm thủ tục vào viện và ra viện…

Kết quả điều tra về việc nhận phong bì cho thấy: chỉ có 140/453 =

30.90% thầy thuốc chọn phương án từ chối món quà nhỏ khi bệnh nhân đang

trong đợt điều trị, tỷ lệ từ chối tăng lên 235/453 = 51.87% khi món quà đó là

“phong bì” cho dù đợt điều trị đã kết thúc và có 308/453 = 67.99% thầy thuốc

lựa chọn phương án không sử dụng mối quan hệ với bệnh nhân để giải quyết

so với thầy thuốc là y sĩ, điều dưỡng viên (113/453 = 24.94%). Lý do nhận

phong bì trong quá trình điều trị có tới 174/453 = 38.41% thầy thuốc cho là có

vì họ đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi bệnh cho bệnh nhân. Theo phản

ánh của bệnh nhân, có một số ít bác sỹ, nhân viên bệnh viện có hành vi vòi

vĩnh, gợi ý bệnh nhân phải biếu tiền mình một cách công khai.

Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức trong chấp

hành các qui định, điều lệnh và pháp luật của người TTQĐ trong phạm vi

khảo sát là 3.17, đạt mức “Trung bình”.

việc riêng gia đình, tỷ lệ từ chối nhận phong bì ở thầy thuốc là bác sĩ cao hơn

83

- Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ

Bảng 2.14: Thực trạng hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử

Nội dung

ĐTB 3.22 2.97 2.93 2.88 2.91 2.76

Thứ bậc 1 2 3 5 4 6

ĐLC 0.94 0.82 1.19 0.94 1.04 0.72

TT 1 Luôn tôn trọng cấp trên và bậc thầy của mình 2 Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám chữa bệnh 3 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh 4 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới thực hiện nhiệm vụ 5 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 6 Đặt lợi ích của bệnh nhân trên lợi ích cá nhân

TBC

2.94

Nhận xét: Mức độ phát triển hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của

người TTQĐ ở mức trung bình. “Thái độ tôn trọng cấp trên và bậc thầy của

mình” được đề cao hơn các nội dung khác, với ĐTB = 3.22, xếp thứ nhất. Đội

ngũ thầy thuốc thể hiện được sự “Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám

chữa bệnh”, với ĐTB = 2.97, xếp thứ 2.

Trong nội dung giao tiếp với bệnh nhân có 306/453 = 67.54% thầy

thuốc có thâm niên công tác trên 10 năm đề cập nội dung giao tiếp nhằm mục

đích khám chữa bệnh (tỷ lệ này ở thầy thuốc có thâm niên công tác dưới 10

năm là 186/453 = 41.05%). Có tới 377/453 = 83.22% thầy thuốc thường

xuyên giao tiếp với bệnh nhân lúc thăm khám, điều trị còn 76/453 = 16.78%

vào các thời điểm khác. TTQĐ có hành vi “Tôn trọng, ân cần, chu đáo với

phân biệt đối xử trong khám, điều trị bệnh nhân” (ĐTB = 2.91, xếp thứ 4/6).

Đặc biệt là trong giao tiếp, ứng xử với người bệnh, người bệnh cảm thấy thầy

thuốc chưa thật sự đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi ích cá nhân (ĐTB =

2.76, xếp thứ 6/6).

Trao đổi với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được biết: Còn một số

ít thầy thuốc thiếu tôn trọng bệnh nhân và gia đình họ trong giao tiếp. Ở

những người thầy thuốc như thế tình nhân ái, tính thiện tâm, sự ân cần, chu

đáo, lịch sự, trách nhiệm… đã đổi chỗ cho những hành sự nguyên tắc cứng

người bệnh” được đánh giá không cao (ĐTB = 2.93, xếp thứ 3/6); “Không

84

nhắc, gắt gỏng, tác trách với bệnh nhân. Một số thầy thuốc có biểu hiện

chuyên môn thuần tuý. Cá biệt có trường hợp viện cớ chế độ chính sách y tế

còn nhiều bất cập để gây phiền hà, vô trách nhiệm trong thăm khám và điều

trị, và lôi kéo người bệnh về chữa trị tại phòng khám tư của mình, cho bệnh

nhân làm nhiều xét nghiệm không cần thiết, kê đơn thuốc đắt tiền và móc nối

với hiệu thuốc, cơ sở xét nghiệm bên ngoài để hưởng hoa hồng, vòi vĩnh quà

cáp và tiền của người bệnh.

Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức trong giao tiếp,

ứng xử của người TTQĐ trong phạm vi khảo sát là 2.94, đạt mức “Trung bình”.

- Hành vi y đức về lương tâm, trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị

Bảng 2.15: Thực trạng hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong

học tập, công tác và điều trị

Nội dung

ĐTB 3.21 3.36 2.96 2.70 3.03 3.02

Thứ bậc 2 1 5 6 3 4

TT 1 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh 2 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3 Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của NB 4 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 5 Sử dụng phác đồ điều trị có lợi nhất cho BN 6 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB

TBC

ĐLC 0.57 1.1 0.74 0.82 0.87 0.86 3.05

nhân dân vào khám chữa bệnh và điều trị tại các bệnh viện quân đội tăng

nhiều, song không vì thế mà tinh thần phục vụ của người TTQĐ giảm. Dù đời

sống còn gặp khó khăn, người TTQĐ vẫn cần mẫn hàng ngày, hàng giờ chăm

sóc phục vụ người bệnh, đặt nhiệm vụ cứu chữa thương binh, bệnh binh, phục

vụ bộ đội và nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu, cho dù phải đối mặt với nguy

hiểm, nguy cơ lây nhiễm cao. Đội ngũ TTQĐ luôn có thái độ nghiêm túc

trong khám chữa bệnh “Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách

nhiệm” (ĐTB = 3.36, xếp thứ nhất).

Nhận xét: Trong điều kiện hiện tại, số lượng thương binh, bệnh binh và

85

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của y đức trong việc nâng cao chất

lượng khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, người TTQĐ luôn thể hiện

tinh thần hết lòng vì người bệnh, “Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh”,

thương binh, bệnh binh (ĐTB = 3.21, xếp thứ 2).

Trong những đợt xuất hiện các vụ dịch nguy hiểm như viêm đường hô

hấp cấp SARS, dịch cúm A H5N1, có những y- bác sĩ thức trắng nhiều đêm

bên giường bệnh, có những thầy thuốc quên ăn, quên ngủ với hy vọng sớm

tìm ra căn nguyên của những căn bệnh quái ác, giành lại sự sống cho người

bệnh, có những y bác sỹ hiến máu cứu bệnh nhân. Năm 2012 trong vụ dịch

tiêu chảy cấp nguy hiểm, nhiều thầy thuốc ở lại trực dịch tại bệnh viện hơn

một tháng không về nhà. Căng thẳng, vất vả, nhưng tất cả đều tự nguyện. Bởi

họ hiểu rằng, sinh mạng của nhiều người bệnh đang đặt trong tay họ. Là

những người TTQĐ, hằng năm họ xung phong ra công tác tại các đảo xa của

Tổ quốc, không quản khó khăn, gian khổ đến tận vùng sâu, vùng xa, nơi biên

giới, căn cứ địa cách mạng để khám chữa bệnh cấp thuốc cho bộ đội và nhân

dân. Dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn hết lòng, hết sức cứu chữa phục vụ

thương binh, bệnh binh và nhân dân vô điều kiện.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát chỉ ra ở các bệnh viện hiện nay, vẫn có

những thầy thuốc cẩu thả trong thăm, khám dẫn đến chẩn đoán, điều trị bệnh

phải trường hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng hoặc thực hiện

không đầy đủ qui trình chuyên môn ở các mức độ khác nhau. Cá biệt, một số

thầy thuốc đặt lợi ích đồng tiền lên trên sinh mạng của người bệnh, thiếu lòng

thiện tâm, thiếu trách nhiệm, cố tình làm sai về qui trình, qui định của bệnh

viện trong quá trình khám chữa bệnh. Qua kết quả điều tra, có 196/453 =

43.26% các thầy thuốc chuyển bệnh nhân đi khám chuyên khoa hoặc lên tuyến

thiếu chính xác. Có 302/453 = 66.67% thầy thuốc thừa nhận đã trực tiếp gặp

nghị của bệnh nhân; vẫn còn 47/453 = 10.37% số thầy thuốc cho rằng cần duy

trì mối quan hệ với các công ty dược hoặc trang thiết bị y tế để có thêm thu

trên vì bệnh nhân yêu cầu và 162/453 = 35.76% kê đơn thuốc biệt dược theo đề

86

nhập. Họ thường đề cao tay nghề coi “tài” hơn “đức”, có những hành vi thiếu

gương mẫu, né tránh, ngại va chạm… Cá biệt có thầy thuốc vi phạm y đức, vi

phạm pháp luật nhưng không tự giác nhận khuyết điểm, khi được nhắc nhở, bị

xử lý thì sửa chữa, chuyển biến chậm (ĐTB = 2.70, xếp thứ 6/6).

Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức về lương

tâm và trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị của người TTQĐ trong

phạm vi khảo sát là 3.05, đạt mức “Trung bình”.

Kết quả nghiên cứu thực trạng phát triển hành vi y đức của người

TTQĐ theo các nội dung trên đây cho thấy: Đa số TTQĐ có mức độ phát

triển hành vi y đức ở mức độ “trung bình” (342/453 = 75.50%); số TTQĐ

được đánh giá có hành vi y đức phát triển ở mức “rất cao” và “cao” không

nhiều (mức cao là 75/453 = 16.56%, rất cao là 20/453 = 4.41%); số thầy thuốc

có hành vi y đức phát triển ở mức “thấp” là 16/453 = 3.01%; không có thầy

thuốc có hành vi y đức phát triển ở mức độ “kém”. Kết quả trưng cầu ý kiến

95 bệnh nhân đang điều trị tại các bệnh viện trong phạm vi khảo sát về mức

độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ thống nhất với kết quả khảo sát.

Tổng hợp thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ thể hiện ở bảng 2.16:

Bảng 2.16: Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ

ĐTB

TT

Nội dung đánh giá phát triển hành vi y đức của TTQĐ

Thứ bậc

1 Hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y

3.17

1

đức của bản thân người TTQĐ.

2 Hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều lệnh và

3.07

2

pháp luật của người TTQĐ.

2.94

4

3 Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ. 4 Hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong học tập,

3.05

3

công tác và điều trị.

TBC

3.06

Sau khi lượng hóa, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết

quả: ĐTB đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ trong

phạm vi khảo sát là 3.06, đạt mức “trung bình”.

87

Kết quả thống kê mức độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ

đánh giá theo 4 nội dung được thể hiện ở biểu đồ 2.3.

5

Nội dung 1

4.2

Nội dung 2

3.17

3.07

3.06

3.05

3.4

2.94

Nội dung 3

2.6

Nội dung 4

ĐTB

1.8

1

Nội dung 1

Nội dung 2

Nội dung 3

Nội dung 4

ĐTB

Biểu đồ 2.3: Thực trạng phát triển hành vi y đức của người TTQĐ

Tổng hợp kết quả nghiên cứu mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ hiện

nay theo 3 nhóm tiêu chí đã xác định ta có bảng 2.17:

Bảng 2.17: Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay

ĐTB

Xếp loại

TT

Nội dung đánh giá thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ

Cao

Trung bình

Trung bình

3.85 3.15 3.06

Thứ bậc 1 2 3

Trung bình

1 Mức độ phát triển ý thức y đức của TTQĐ 2 Mức độ phát triển thái độ y đức của TTQĐ 3 Mức độ phát triển hành vi y đức của TTQĐ

TBC

3.35

Kiểm định mẫu cặp (Paired Samples Test) kết quả đánh giá của đội ngũ

bác sĩ ở tuyến bệnh viện Trung ương; tuyến bệnh viện cơ sở cán bộ quản lý,

giảng viên cho thấy: Sự khác nhau giữa cặp đánh giá có ĐTB nhỏ 0.089. ĐLC

thấp (0.37) chứng tỏ độ tập trung của các ý kiến đánh giá. Với độ tin cậy 95%

thống kê (t) = 0.723, giả thuyết H0 được khẳng định. Nghĩa là, sự khác biệt trong đánh giá về thực trạng PTYĐ giữa các nhóm khách thể tương đương

nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Kiểm định độ tin cậy kết quả nghiên cứu thông qua tính hệ số tương

quan nội bộ giữa các Item (Inter-item correlation coefficients) cho thấy, tất cả

các Item đều có tương quan thuận với nhau, với giá trị nhỏ nhất r = 0.472, giá

trị cao nhất r = 0.841, cho phép khẳng định độ tin cậy và tính ổn định của nội

sự khác nhau giữa hai ĐTB có giá trị biến thiên từ - 0.05443 đến 0.017208. Trị số kiểm định P-value Sig (2-tailed) = 0.426 > α = 0.05 tương ứng với

88

dung các Item trong kết quả nghiên cứu, góp phần khẳng định tính chính xác

về các Item tham gia đánh giá mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ.

Kết quả khảo sát mức độ PTYĐ của người TTQĐ đánh giá theo 3 tiêu

chí được thể hiện ở biểu đồ 2.4.

5

3.85

4.2

Tiêu chí 1

3.35

3.15

3.06

3.4

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

2.6

ĐTB

1.8

1

Tiêu chí 1

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

ĐTB

Biểu đồ 2.4: Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng PTYĐ của đội ngũ TTQĐ có thể rút

ra kết luận: Mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ chủ yếu tập trung ở mức độ

“Trung bình” ở tất cả các đối tượng khảo sát. Thầy thuốc ở các đơn vị tham

gia khảo sát có mức độ PTYĐ tương đương nhau; sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê. Những hạn chế thiếu sót không chỉ ảnh hưởng đến việc

PTYĐ ở chính các thầy thuốc có biểu hiện lệch lạc trong nhận thức về vai trò,

tầm quan trọng của y đức, thái độ trong giải quyết các quan hệ y đức cũng

như hành vi y đức của mỗi người thầy thuốc, mà còn lây lan ảnh hưởng đến

xây dựng môi trường y đức, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và ảnh

Các lực lượng chức năng cần có biện pháp tác động phù hợp nhằm PTYĐ cho

đội ngũ TTQĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.

hưởng đến công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức của người TTQĐ.

2.2.2. Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức

giáo dục phát triển y đức cho người thầy thuốc quân đội

- Ưu điểm, theo đánh giá của các thầy thuốc tham gia khảo sát thì lãnh

đạo, chỉ huy các cấp trong ngành quân y đã quan tâm bồi dưỡng y đức cho đội

ngũ thầy thuốc trong phạm vi quản lý. Cụ thể: Có 158/453 = 34.87% ý kiến

89

cho rằng lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đã “Rất quan tâm” đến bồi dưỡng y đức cho

đội ngũ thầy thuốc; 225/453 = 49.69% “Quan tâm”; 70/453 = 15.45% “Bình

thường”. Không có ý kiến nào cho rằng lãnh đạo chỉ huy ít hoặc không quan

tâm đến vấn đề này. ĐTB cho nội dung này là 4.19, đạt mức “Quan tâm”.

Việc quan tâm bồi dưỡng y đức được thực hiện thông qua các công

việc cụ thể. Kết quả khảo sát thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp,

hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người

TTQĐ hiện nay được thể hiện ở bảng 2.18.

Bảng 2.18: Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo

dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ

TT

Nội dung công việc

ĐTB

3.65 3.53

1 Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM, ĐĐNN cho người TTQĐ 2 Quán triệt pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho

Thứ bậc 2 3

người TTQĐ

3.48 3.50 3.68

3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho người TTQĐ 4 Rèn luyện bản lĩnh, lương tâm, trách nhiệm cho người TTQĐ 5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của

5 4 1

Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho người TTQĐ

6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục, bồi

3.20

9

dưỡng PTYĐ cho người TTQĐ

7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng phù hợp với đối tượng 8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc 10 Xây dựng ở người thầy thuốc thái độ tôn trọng con người, sự

3.05 2.92 3.06 3.26

11 12 10 8

thiện tâm và công bằng trong khám chữa bệnh

11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với NB 12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự

3.37 3.20

7 9

trau dồi, rèn luyện y đức

13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các

3.47

6

thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức

TBC

3.34

Nhận xét: Những năm qua, ngành y quân đội đã có nhiều cố gắng trong

việc nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng y đức gắn với hoạt động y

nghiệp cho người thầy thuốc. Việc xây dựng mục tiêu, mô hình đào tạo người

90

TTQĐ luôn được quan tâm nghiên cứu và được điều chỉnh, bổ sung thường

xuyên. Hàng năm, các nhà trường, bệnh viện, đơn vị quân y đã triển khai thực

hiện tốt chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức theo quy định của Tổng cục

Chính trị, và Cục quân y cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ quân y; tích cực đổi

mới nội dung, phương pháp và hình thức trong giáo dục, bồi dưỡng y đức

nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi, năng lực khám chữa bệnh cho bộ

đội và nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu của y nghiệp, góp phần

làm cho y đức cách mạng của người TTQĐ ngày càng được phát triển, nâng

cao. Đã lựa chọn nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức và biện pháp để

tiến hành giáo dục, bồi dưỡng y đức phù hợp với đặc điểm hoạt động y nghiệp

của người TTQĐ. “Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân

tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB

= 3.68, xếp thứ nhất); Tiếp theo là “Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM,

đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB = 3.65, xếp thứ 2); Đồng thời

các đơn vị đã quan tâm “Quán triệt pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn,

quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB = 3.63, xếp thứ 3).

Cùng với các bài giảng về y đức cách mạng, các nhà trường, bệnh viện,

đơn vị quân y đã đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cổ động, văn

hoá, văn nghệ và các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị nhằm giáo

bằng phiếu trưng cầu ý kiến về tiến hành các mặt công tác trên có 21/453 =

4.67% đánh giá rất tốt; 101/453 = 22.29% đánh giá tốt; 215/453 = 47.46%

đánh giá khá; 98/453 = 21.63% đánh giá trung bình; 18/453 = 3.97% đánh giá

yếu. Đặc biệt, các nhà trường, bệnh viện, đơn vị quân y đã tích cực trong xây

dựng môi trường y đức lành mạnh ở chính các đơn vị quân y. Việc thông tin,

tuyên truyền về y đức, y thuật của đơn vị mình, một mặt tạo địa chỉ tin cậy về

y đức trong khám chữa bệnh để tăng cường lòng tin, niềm tự hào về phẩm

dục, bồi dưỡng, nâng cao y đức cách mạng cho đội ngũ TTQĐ. Qua khảo sát

91

chất đạo đức, tinh thần phục vụ bệnh nhân, phục vụ thương binh, bệnh binh

của cán bộ, nhân viên quân y, góp phần bồi dưỡng, nâng cao lòng tự hào về

truyền thống y đức cách mạng của người TTQĐ.

Kết quả khảo sát và qua trao đổi trực tiếp với đội ngũ thầy thuốc, cán

bộ, giáo viên, học viên cho thấy rõ hơn những hạn chế về chương trình, nội

dung, phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi

trường y đức của người TTQĐ hiện nay.

- Hạn chế về kế hoạch, nội dung, chương trình giáo dục, bồi dưỡng y

đức của người thầy thuốc

Việc kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn với

nâng cao nhận thức về giá trị, chuẩn mực y đức, bồi dưỡng tình cảm, xây

dựng niềm tin, tình yêu nghề nghiệp và rèn luyện thói quen hành vi y đức của

người thầy thuốc chưa được coi trọng đúng mức. Việc xác định mục tiêu, nội

dung, chương trình đào tạo về y đức chưa cụ thể hoá một cách đầy đủ. Có

39.6% số giảng viên được hỏi cho rằng kế hoạch, nội dung, chương trình giáo

dục, bồi dưỡng về y đức cần phải được điều chỉnh cho hợp lý. Chương trình

đào tạo TTQĐ, nội dung các môn khoa học xã hội và nhân văn chỉ còn

khoảng 16.0% trong tổng số thời gian đào tạo. Hiện nay, Cục Quân y đang sử

dụng tài liệu giáo dục y đức cho cán bộ, nhân viên quân y, do Phòng Chính

xung quanh y đức của những thầy thuốc trực tiếp điều trị cho thương binh,

bệnh binh, bệnh nhân, chưa đáp ứng đầy đủ những vấn đề đặt ra về giáo dục

xây dựng y đức cho cán bộ, nhân viên quân y trong tình hình mới.

Trong giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc các bệnh viện,

đơn vị quân y, học viện, trường quân y. Nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức

chưa kết hợp y đức với y nghiệp của người TTQĐ, chưa xây dựng được một

chương trình riêng về giáo dục, bồi dưỡng y đức, chưa đưa vào các tình

huống xử trí y đức trong thực hành lâm sàng, chưa đi sâu vào giáo dục những

trị, Cục Quân y biên soạn với 14 trang, nội dung mới đề cập một số vấn đề

92

tấm gương tiêu biểu về y đức, về các lời y huấn cách ngôn của các bậc thầy

thuốc có ảnh hưởng lớn trong lịch sử y học, Các chuẩn mực và 12 điều quy

định về y đức của Bộ Y tế và các qui định của ngành, của đơn vị, chưa gắn sát

với chức trách, nhiệm vụ cụ thể của người thầy thuốc được đảm nhiệm trên

các mặt công tác, Tuy nội dung về các chuẩn mực, qui định và 12 điều quy

định về y đức là rất đầy đủ, bao trùm trên tất cả các mặt công tác khám chữa

bệnh, nghiên cứu và TN lâm sàng của người thầy thuốc, nhưng nội dung chưa

thực sự cô đọng, dễ nhớ, chưa có khái niệm chuẩn về y đức.

Thực tế, trong quá trình giáo dục, đào tạo của Học viện Quân y ở tất cả

các cấp đào tạo chưa có môn học riêng về đạo đức y học, mà vẫn dựa trên

môn đạo đức học đại cương để giảng dạy chung, chưa tích hợp được những

yêu cầu về chuẩn mực y đức của người thầy thuốc vào nội dung môn học.

Biểu hiện cụ thể là: Qua nghiên cứu giáo án của giảng viên chúng tôi thấy chủ

yếu nhằm thực hiện mục tiêu trang bị về tri thức và rèn luyện kỹ năng tay

nghề về y nghiệp, trong giảng dạy ít đề cập đến mục tiêu giáo dục về nhân

cách, thái độ hành vi và quan hệ về y đức cho người học. Chính vì vậy mà nội

dung dạy học còn nặng về lý luận chung, về kiến thức chuyên môn đơn thuần,

còn các tình huống trong hoạt động để có cách ứng xử, giao tiếp tích cực với

bệnh nhân ít được phản ánh trong các nội dung các môn y học chuyên ngành.

23.15% số cán bộ, giảng viên Học viện Quân y; 31/120 = 25.83% học viên

cho rằng, “tính giáo dục trong nội dung dạy học của giảng viên” còn hạn chế.

ĐTB = 3.19, đạt mức “Trung bình”. Lâu nay, trong đào tạo bác sỹ quân y, chủ

yếu đặt trọng tâm vào việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng tay nghề về

y nghiệp; ít quan tâm rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử

trí các tình huống về y đức trong thực hành lâm sàng cho học viên; chưa chú

trọng kết hợp giáo dục y đức gắn với dạy học các môn y học chuyên ngành để

nâng cao ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức tốt đẹp cho học viên.

Nhận định này phù hợp với kết quả trưng cầu ý kiến, có 22/95 =

93

Người TTQĐ trong quá trình được giáo dục, bồi dưỡng về y đức, chưa

biết sàng lọc, lựa chọn những kiến thức cơ bản, cốt lõi, cần thiết cho sự PTYĐ

của bản thân mình, họ nhầm lẫn hoặc không chỉ ra được những nội dung cơ bản

của giáo dục, bồi dưỡng y đức. Kết quả điều tra cho thấy có 15/95 = 15.78% cán

bộ, giảng viên Học viện Quân y và 35/120 = 29.16% học viên sĩ quan quân y đã

không cho rằng, giáo dục bồi dưỡng về chính trị - tư tưởng, thế giới quan khoa

học là những nội dung của giáo dục đạo đức y nghiệp, chưa coi trọng việc nâng

cao chất lượng nắm kiến thức chuyên môn với nâng cao ý thức, thái độ và hành

vi y đức của người TTQĐ. Nhiều thầy thuốc trong học tập chỉ chú trọng việc

lĩnh hội kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng y nghiệp, xem nhẹ

việc học tập chính trị để hình thành thế giới quan khoa học là cơ sở cho PTYĐ.

- Hạn chế về phương pháp giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người TTQĐ

Việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng y đức của người thầy thuốc tuy đã

được quan tâm ở tất cả các cấp, các bệnh viện, các ĐVQY. Tuy nhiên phương

pháp giáo dục, bồi dưỡng chưa thật sáng tạo, linh hoạt cho phù hợp với thực

tiễn hoạt động của người TTQĐ, chưa tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi

để hình thành, phát triển các chuẩn mực y đức người TTQĐ.

Các phương pháp giáo dục, bồi dưỡng y đức cho thầy thuốc hiệu quả

mang lại chưa cao. Có 34/95 = 35.78% cán bộ, giảng viên; 39/120 = 32.5%

chưa thật sự có hiệu quả. ĐTB về mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục

y đức là 2.86, đạt mức “Trung bình”. Cụ thể: Phương pháp giáo dục chính trị

tư tưởng chưa gắn sát với đối tượng giáo dục và gắn với nghề nghiệp của

người thầy thuốc, nội dung thiếu sâu sắc nên tính định hướng tư tưởng chưa

cao; phương pháp tiếp cận con người còn hạn chế, phương pháp động viên

khuyến khích chưa thật nhạy bén và kịp thời, thường mang tính chất chiếu lệ

và chưa thật đúng người đúng việc nên tính giáo dục chưa hiệu quả, phương

pháp rèn luyện nêu gương chưa được chú ý đúng mức, cán bộ quản lý ít bám

học viên cho rằng, phương pháp giáo dục y đức không phù hợp, khô cứng,

94

nắm đơn vị, một số còn biểu hiện thiếu yên tâm công tác, chủ yếu giao cho

cấp dưới duy trì và điều hành các công việc, ít để ý đến việc nêu gương người

tốt việc tốt, xây dựng đơn vị tiên tiến điển hình. Do đó, ảnh hưởng không nhỏ

tới công tác giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc.

Phương pháp tự rèn luyện, tự bồi dưỡng y đức của người thầy thuốc còn

nhiều hạn chế, qua kết quả điều tra ở Học viện Quân y: có 27/95 = 28.42% cán

bộ, giảng viên đánh giá tính tích cực, chủ động trong học tập và rèn luyện y đức

của học viên ở mức hạn chế. Qua quan sát chúng tôi thấy, do sống trong tập thể,

cùng ăn, cùng ở, sinh hoạt tập trung, nên hiện tượng học viên có những biểu hiện

thiếu lành mạnh trong giải quyết các mối quan hệ cá nhân, phát ngôn thiếu văn

hoá vẫn xảy ra. Có 25/120 = 20.83% học viên thừa nhận vẫn còn hiện tượng cãi

chửi nhau với đồng đội. Một số học viên do chưa được chuẩn bị tốt về mặt tâm

thế cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai; chưa thể hiện tính sẵn sàng và

tâm lý vững vàng cho hoạt động tự rèn luyện y đức do đó còn có biểu hiện thiếu

tích cực, chủ động trong tự tổ chức hoạt động giáo dục, rèn luyện của bản thân.

Ý chí quyết tâm trong học tập, rèn luyện y đức của một bộ phận học viên còn

yếu, nảy sinh tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Tinh thần đấu tranh phê bình và tự

phê bình với những biểu hiện tiêu cực về đạo đức lối sống chưa cao, cá biệt còn

có hiện tượng thiếu tu dưỡng rèn luyện, sa vào các tệ nạn, cờ bạc, cá độ, trộm

- Hạn chế về hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người

thầy thuốc quân đội

Hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức chưa thực sinh động,

thường các hoạt động giáo dục, bồi dưỡng được tổ chức mang nặng tính chất

hành chính quân sự. Các hình thức giáo dục chủ yếu nhằm vào việc duy trì

thực hiện chế độ theo quy định, yêu cầu của kỷ luật quân đội và đơn vị. Chưa

kết hợp chặt chẽ giáo dục, bồi dưỡng y đức với các hình thức giáo dục chính

trị, tư tưởng. Hình thức lên lớp lý thuyết và thực hành, giảng viên chủ yếu

cắp vặt, cắm ký quán, quan hệ thiếu lành mạnh vẫn còn xảy ra.

95

truyền thụ kiến thức chuyên môn đơn thuần ít gắn với việc định hướng chính

trị, giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc.

Hình thức thi đua có những mặt hạn chế, nhất là việc quán triệt mục

tiêu, nội dung, chỉ tiêu của các phong trào đó vào giáo dục, bồi dưỡng y đức

cho người thầy thuốc thiếu tính cụ thể. Có những phong trào thi đua được tổ

chức còn mang tính hình thức, nội dung nghèo nàn, cách thức hoạt động đơn

điệu, một số chủ đề diễn đàn, giao lưu,... chưa thu hút được sự tham gia của

đông đảo cán bộ nhân viên quân y, thậm chí tham gia mang tính chiếu lệ. Do

đó, không mang lại tác dụng cao trong giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức.

Về nội dung này, theo nhận xét của đội ngũ giảng viên có 18/95 = 18.94%,

cho là hạn chế về hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng về y đức; 45/120 =

37.50% học viên cũng có đánh giá tương tự.

Hình thức giáo dục, gặp gỡ riêng ít được sử dụng, chủ yếu sử dụng hình

thức giáo dục chung nên tính hiệu quả trong giáo dục chưa cao. Do đó, việc

giáo dục, bồi dưỡng y đức gắn với đặc điểm riêng của từng cá nhân người thầy

thuốc chưa đạt hiệu quả cao, chưa thể hiện được tính cá biệt hoá trong công tác

giáo dục. Hàng năm các bệnh viện, ĐVQY tổ chức học tập chính trị theo hình

thức học tập trung là rất khó do đặc thù của hoạt động y nghiệp, quân số

thường chỉ đạt 75.0%. Một số còn đi học chiếu lệ, bằng nhiều cách khác nhau

trao đổi trực tiếp với cơ quan chính trị ở một số bệnh viện, ĐVQY cho thấy,

tuy những năm gần đây các vi phạm đó đã giảm nhiều, nhưng “còn có những

biểu hiện thiếu trung thực trong sinh hoạt và học tập chính trị”.

- Hạn chế trong xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ hiện nay

Những năm qua, ngành quân y luôn quan tâm xây dựng môi trường y đức

trong các bệnh viện, đơn vị quân y trở thành môi trường văn hoá về y đức. Tuy

nhiên, việc xây dựng môi trường y đức ở một số đơn vị bộc lộ một số hạn chế

như: Các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp của bệnh viện, ĐVQY từ Đảng uỷ,

để qua được đợt học tập chính trị, không quan tâm đến kết quả học tập. Qua

96

Ban giám đốc, chỉ huy đơn vị đến các cơ quan ban ngành, các bộ phận phối hợp

chưa thật chặt chẽ trong xây dựng môi trường y đức cho người thầy thuốc. Một

bộ phận cán bộ nhân viên quân y việc xác định những giá trị về y đức chưa rõ,

chưa thấy hết trách nhiệm trong xây dựng môi trường y đức. Có 21/95 = 22.1%

cán bộ, giảng viên; 35/120 = 29.16% học viên cho rằng trách nhiệm của cán bộ

các cấp trong xây dựng môi trường y đức hiện nay còn hạn chế.

Trong quá trình khám chữa bệnh, mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh

nhân, đồng nghiệp và với người thầy còn có những khoảng cách nhất định, 23/95

= 24.21% cán bộ, giảng viên và 33/120 = 27.50% học viên cho rằng mối quan

hệ này ở mức hạn chế. Tình hình y đức, lối sống, quan hệ thầy thuốc với bệnh

nhân, tình thầy trò, văn hoá giao tiếp đang có những biểu hiện thiếu lành mạnh,

ảnh hưởng không tốt đến việc xây dựng môi trường y đức hiện nay. Một số biểu

hiện rất cần được quan tâm giáo dục, uốn nắn kịp thời như: chỉ lo vun vén cho cá

nhân ít quan tâm đến lợi ích của tập thể, biểu hiện thương mại hoá quan hệ để vụ

lợi cho bản thân…Dù ít nhưng những biểu hiện đó làm cản trở đến công tác xây

dựng môi trường y đức lành mạnh ở các ĐVQY, là một trong những nguyên

nhân quan trọng làm hạn chế đến việc PTYĐ của người TTQĐ.

Trong thực hiện nền nếp, chế độ quy định của đơn vị. “Công tác quản

lý, giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ. Trách nhiệm trong học tập, công tác,

luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, học viên chưa thật chặt chẽ, vẫn còn hiện

tượng vi phạm phải xử lý kỷ luật” [20, tr.15]. Việc bảo đảm cơ sở vật chất

phục vụ cho nhiệm vụ điều trị nói chung, phục vụ cho xây dựng môi trường

chính trị, y đức, văn hoá quân sự cho người thầy thuốc nói riêng chưa đáp ứng

một cách đầy đủ. Các bệnh viện tuyến trung ương chưa thật quan tâm đầu tư

xây dựng môi trường văn hoá y đức, và chưa phát huy tốt vai trò của các tổ

chức đoàn thể vào xây dựng môi trường văn hoá y đức lành mạnh trong bệnh

viện. Việc bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật y tế cho công tác

chấp hành kỷ luật ở một số ĐVQY còn hạn chế, ...công tác giáo dục, rèn

97

khám chữa bệnh ở một số bệnh viện tuyến quân khu, quân đoàn, quân binh

chủng và ở một số ĐVQY chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự đáp

ứng với yêu cầu phát triển của y học hiện đại. Như vậy tất cả những hạn chế,

bất cập nêu trên trong xây dựng môi trường y đức ở chính các bệnh viện, các

ĐVQY là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng không tốt tới việc

PTYĐ của người TTQĐ.

Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng chương trình, nội dung, phương

pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của

người TTQĐ trong phạm vi khảo sát có ĐTB = 3.34, đạt mức “Trung bình”.

Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu thực trạng những hạn chế PTYĐ của

người TTQĐ cho thấy, nhận thức chung về PTYĐ của người thầy thuốc còn

có sự khác nhau. Tuy không thật rõ nét nhưng đã có những biểu hiện xem nhẹ

sự PTYĐ cả trong ý thức y đức, thái độ và hành vi y đức của người thầy

thuốc. Công tác xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức

đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tăng cường các giá trị, chuẩn mực y đức ngay

từ khi người thầy thuốc đang học tại trường còn hạn chế; các tác động giáo

dục còn chung chung, chưa mang lại hiệu quả cao, bản thân người thầy thuốc

chưa có những định hướng riêng của mình về việc giáo dục, rèn luyện y đức

của người TTQĐ. Chính vì vậy, một số thầy thuốc chưa thể hiện tính tích cực

TTQĐ. Sự liên kết giữa các lực lượng giáo dục và điều kiện bảo đảm cho giáo

dục y đức đối với người thầy thuốc còn hạn chế.

hoá vai trò của cá nhân trong tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người

2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Một là, sự tác động của tình hình xã hội và mặt trái của cơ chế thị trường

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang dùng mọi thủ đoạn, âm

mưu thâm độc nhằm xoá bỏ chế độ XHCN trên đất nước ta. Bằng chiến lược

“Diễn biến hoà bình”, chủ nghĩa đế quốc tấn công trên nhiều lĩnh vực, trong đó

lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạo đức là mũi tấn công chủ yếu. Thông qua đó,

chúng tuyên truyền các giá trị “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” theo kiểu phương

98

Tây, cùng với truyền bá lối sống hiện sinh, hưởng lạc, thực dụng... nhằm làm cho

thang giá trị xã hội cùng với những chuẩn mực đạo đức và thuần phong mỹ tục

của dân tộc bị đảo lộn. Do vậy, nó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống y đức của

đội ngũ thầy thuốc nói chung và quá trình PTYĐ của người TTQĐ nói riêng.

Mặt trái của nền KTTT có tác động tiêu cực đến giáo dục, bồi dưỡng y

đức của người TTQĐ. Trong nền KTTT, mục tiêu hàng đầu của các chủ thể

sản xuất, kinh doanh là lợi nhuận. Do đó, đây là điều kiện, là mảnh đất thuận

lợi để nảy sinh và phát triển chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vị kỷ, chạy theo

giá trị vật chất đơn thuần, coi nhẹ giá trị tinh thần... Những biểu hiện tiêu cực

đó lan truyền vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các lĩnh vực nghề

nghiệp. “Những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của lối

sống thực dụng và những tệ nạn xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định vào

ngành y quân đội” [37, tr.44], trong đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTYĐ

của người TTQĐ. Mặc dù hiện nay, những biểu hiện tiêu cực còn mang tính

đơn nhất, song nếu chúng ta không nhận thức đúng và khắc phục kịp thời thì

nó sẽ ngày càng phát triển và chuyển hoá thành cái phổ biến, gây cản trở

không nhỏ đến việc xây dựng môi trường văn hoá ở các ĐVQY nói chung,

cũng như việc PTYĐ của người TTQĐ nói riêng.

Hai là, những bất cập trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng y đức

còn bộc lộ rõ một số hạn chế như: chưa nồng ghép việc giáo dục, bồi dưỡng y

đức vào nội dung dạy nghề và chưa xây dựng một chương trình, nội dung cụ

thể về giáo dục y đức cho học viên đang học tại nhà trường và nội dung bồi

dưỡng y đức cho người thầy thuốc trong thực hành khám chữa bệnh; phương

pháp, hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức chậm đổi mới, chưa thực sự

thu hút được mọi lực lượng tham gia giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy

Công tác giáo dục, bồi dưỡng để hình thành và PTYĐ của người TTQĐ

lý y đức, cơ bản thiên về quản lý hành chính là chủ yếu. Đội ngũ cán bộ quản

lý các cấp ở các ĐVQY mặc dù đã được trang bị kiến thức cơ bản về lý luận

thuốc; công tác quản lý chưa đi sâu vào chất lượng công việc, nhất là về quản

99

giáo dục học và dạy học hiện đại, nhưng việc vận dụng vào trong thực tiễn giáo

dục, quản lý cán bộ, nhân viên quân y cấp dưới còn hạn chế. Một số cán bộ,

giảng viên nhận thức chưa đầy đủ về nhiệm vụ (dạy kiến thức, dạy người, dạy

phương pháp). Họ cho rằng công việc của thầy thuốc là truyền đạt tri thức, tay

nghề cho người học, còn việc giáo dục là do đối tượng khác đảm nhiệm. Kết

quả điều tra xã hội học về nguyên nhân dẫn đến hạn chế giáo dục, bồi dưỡng y

đức của người thầy thuốc cho thấy, có 25.50% thầy thuốc; 38.50% học viên

được hỏi cho rằng những hạn chế, bất cập trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng

y đức cũng ảnh hưởng không nhỏ đến PTYĐ của người TTQĐ.

Ba là, việc tự giáo dục, rèn luyện y đức của người TTQĐ còn nhiều hạn chế

Một số TTQĐ có biểu hiện tư tưởng trung bình chủ nghĩa, kém ý chí

vươn lên; ngại khó trong tu dưỡng, rèn luyện y đức và kỹ năng tay nghề;

không chú tâm rèn luyện các thái độ, cử chỉ, hành vi y đức nhất là kỹ năng

giao tiếp tích cực giữa người thầy thuốc với người bệnh; thiếu ý thức tu

dưỡng, rèn luyện, còn có tư tưởng xem nhẹ, đơn giản trong thực hiện nhiệm

vụ. Trong học tập, công tác, tư tưởng chuyên môn đơn thuần, tuy không phổ

biến nhưng vẫn còn tồn tại ở một bộ phận thầy thuốc. Một số ít thầy thuốc bị

ảnh hưởng của lối sống đua đòi, sử dụng phương tiện đắt tiền trong khi điều

kiện kinh tế của bản thân và gia đình còn khó khăn, cá biệt có trường hợp do

vay tiền và chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập của gia đình, không có khả

còn biểu hiện sống tự do, buông thả, không ghép mình vào tổ chức, chây lười

trong học tập, công tác, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn; toan tính,

so bì thiệt hơn trong quá trình học tập, công tác, thậm chí coi thường pháp

luật, kỷ luật, coi thường danh dự và nhân phẩm của người khác; thiếu lý trí và

khả năng tự chủ trong hành vi và giải quyết các mối quan hệ, dẫn đến sự sa

ngã, thoái hoá biến chất về y đức, lối sống, phai nhạt niềm tin, lý tưởng. Đại

hội Đảng bộ Học viện Quân y lần thứ XX đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ

đảng viên, học viên còn chạy theo lối sống thực dụng; giảm sút trách nhiệm

đối với nhiệm vụ, suy giảm về đạo đức lối sống...” [22, tr.38].

năng chi trả đã buộc phải kỷ luật và đuổi khỏi ngành. Có một số thầy thuốc

100

Bốn là, môi trường văn hoá, chính trị, y đức ở các đơn vị quân y chưa

được phát huy

Môi trường y đức ở chính các ĐVQY là yếu tố bao trùm đến PTYĐ của

người TTQĐ, làm cho họ không ngừng phấn đấu rèn luyện để hoàn thiện nhân

cách theo mục tiêu yêu cầu đào tạo. Sự tác động của môi trường y đức là sự tác

động tổng hợp, đồng bộ của tất cả các thành tố trong môi trường đó như: các

giá trị y đức; các quan hệ y đức; các hành vi y đức và hoạt động giáo dục, bồi

dưỡng y đức; các thiết chế, các qui định y đức... Vì thế, hiệu quả tác động của

nó đến quá trình PTYĐ cho người thầy thuốc phụ thuộc vào trình độ phát triển

của từng thành tố trong tính chỉnh thể. Thực tế cho thấy, việc xây dựng môi

trường y đức ở các ĐVQY còn bộc lộ một số hạn chế như: việc xác định những

giá trị về y đức chưa rõ; việc giải quyết các mối quan hệ trong đơn vị có lúc

thiếu nhịp nhàng và chưa thống nhất; “Vai trò trách nhiệm, uy tín, sự gương

mẫu của một số cán bộ chủ trì ở cơ quan, đơn vị, chưa cao; sức ì lớn; còn hữu

khuynh né tránh các hiện tượng tiêu cực trong đơn vị, cá biệt có nơi còn để mất

vị trí lãnh đạo” [21, tr.39]. Cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ điều trị và đào

tạo nói chung, phục vụ cho xây dựng môi trường chính trị, y đức, văn hoá quân

sự của người thầy thuốc nói riêng chưa được đáp ứng một cách đầy đủ.

Như vậy, những hạn chế, bất cập nêu trên là những nguyên nhân gây

ảnh hưởng không tốt tới quá trình giáo dục PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

2.3. Những bài học kinh nghiệm về phát triển y đức của người thầy

thuốc quân đội

Thứ nhất, thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao y đức cho TTQĐ

phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành quân y

Với đặc thù hoạt động khám chữa bệnh của người TTQĐ mang tính

chuyên ngành, tính độc lập, đòi hỏi ở họ phải có chuyên môn, tay nghề cao,

hoạt động theo các nhiệm vụ cả thường xuyên và đột xuất trên địa bàn cả

nước. Đặc biệt họ còn thường xuyên đi khám chữa bệnh cho bộ đội, nhân dân

hoạt động theo các khoa, bộ môn, đội điều trị, được phân thành các nhóm

101

ở vùng sâu, vùng xa, nơi có thiên tai, bão lụt, nơi có địch hoạt động phá hoại.

Vì thế, các bệnh viện, các ĐVQY ít có điều kiện tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng

y đức cho đội ngũ thầy thuốc của đơn với hình thức tập trung 100% quân số

mà thường phải tổ chức thành nhiều lớp học cho cùng một đối tượng, hoặc

nhiều đối tượng vào một lớp. Các bệnh viện, ĐVQY đã tìm mọi cách, sử dụng

đa dạng các phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức như: phương

pháp nêu gương, học hỏi lẫn nhau; phương pháp tự nghiên cứu, trau dồi y

đức; viết thu hoạch; các hình thức phê bình và tự phê bình; dùng dư luận xã

hội để đánh giá lẫn nhau; lấy ý kiến nhận xét của bệnh nhân, của thương binh,

bệnh binh, của bộ đội và nhân dân... Thực tế cho thấy, nội dung và các

phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức này rất hiệu quả, phù hợp

với điều kiện đặc thù của người TTQĐ.

Thứ hai, kịp thời ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện tiêu cực trong

hoạt động y nghiệp

Hiện nay ở nước ta mặt trái cơ chế thị trường đang tác động mạnh mẽ

đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngành y. Do vậy, việc ngăn

chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực trên trong hoạt động y nghiệp một cách

thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình xây dựng, giữ gìn và PTYĐ, tạo ra

môi trường y đức lành mạnh là một trong những kinh nghiệm có tính thực tiễn

và hiệu quả rất cao ở các nhà trường và ĐVQY. Những biểu hiện tiêu cực là

nhiệm vụ trong quá trình khám, chữa bệnh và PTYĐ của người TTQĐ.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phong cách giao

tiếp cho người TTQĐ

Y đức của người TTQĐ luôn được thể hiện ở kết quả công tác, quá trình

khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, ở trình độ chuyên môn y nghiệp, ở

trình độ giao tiếp, ứng xử của họ đối với người bệnh với đồng nghiệp và với xã

hội, cộng đồng. Hiện nay, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công

thể hiện sự chưa hoàn thiện nhân cách, ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành

102

nghệ trong lĩnh vực y học đã xuất hiện nhiều phương tiện chẩn đoán và điều trị

mới; đồng thời do sự tác động của điều kiện khí hậu, thời tiết bất thường nên đã

xuất hiện nhiều loại bệnh lạ. Để người TTQĐ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ,

chức trách của mình, hạn chế về vi phạm y đức, nâng cao trình độ kiến thức,

năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ giao tiếp, ứng xử với người bệnh.

Đây là một bài học kinh nghiệm bổ ích đối với việc PTYĐ của người TTQĐ

trong điều kiện mới hiện nay.

Thứ tư, xây dựng tập thể quân y vững mạnh, tạo môi trường y đức

trong sạch, lành mạnh

Xây dựng tập thể quân y vững mạnh chính là xây dựng môi trường y

đức trong sạch, lành mạnh, là nơi để người thầy thuốc tham gia vào các quan

hệ xã hội, trực tiếp tự giáo dục, rèn luyện, để khẳng định mình. Cần phải xây

dựng tập thể quân y vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Trong đó lấy việc xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị làm cơ sở, phát

huy vai trò tích cực chủ động của các tổ chức cơ sở và của các thành viên.

Cùng với việc xây dựng tập thể quân y vững mạnh, cần phải xây dựng

hệ thống thiết chế y đức ở các ĐVQY, bao gồm: thiết chế lãnh đạo, chỉ huy,

cơ quan chức năng, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân, công đoàn, phụ nữ

cùng các cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục tuyên

chỉ huy đơn vị có vai trò quan trọng nhất, nó vừa là thành tố, vừa là chủ thể

xây dựng hoàn thiện môi trường y đức. Do vậy, cũng cần phát huy vai trò

lãnh đạo, chỉ huy trong tổ chức thực hiện và kiểm tra quá trình PTYĐ của

người thầy thuốc, phải đầu tư xây dựng đồng bộ các yếu tố của hệ thống thiết

chế đạo đức, văn hoá, phát huy hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, tổ

chức hoạt động văn hoá tinh thần phong phú là kinh nghiệm rất quan trọng hỗ

trợ tích cực cho sự PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

truyền về y đức. Trong hệ thống thiết chế của môi trường y đức thì lãnh đạo,

103

Kết luận chương 2

Nhận thức về PTYĐ của người thầy thuốc quân đội có nhiều biểu hiện

khác nhau, bên cạnh những nhận thức đúng, vẫn còn có những biểu hiện xem

nhẹ vai trò của PTYĐ cả trong ý thức, thái độ và hành vi, quá trình PTYĐ

của người TTQĐ còn bộc lộ những bất cập.

Hoạt động của người TTQĐ luôn gắn với bản lĩnh chính trị, tinh thần

trách nhiệm, ý chí quyết tâm, do vậy người TTQĐ luôn phải tu dưỡng, rèn

luyện để vượt qua mọi khó khăn, để giữ vững y lý, y thuật và y đức của mình.

Hiện nay vẫn còn một số thầy thuốc chưa thể hiện tính tích cực trong

giáo dục, rèn luyện y đức. Sự liên kết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục

nhà trường, đơn vị quân y và điều kiện bảo đảm giáo dục y đức đối với người

thầy thuốc cũng còn những hạn chế.

Việc xây dựng chương trình nội dung, lựa chọn phương pháp, hình

thức giáo dục y đức của các trường, các đơn vị quân y chưa được hoàn thiện;

các tác động giáo dục ý đức chưa mang lại hiệu quả cụ thể, người thầy thuốc

chưa có định hướng trong việc tự giáo dục, tự rèn luyện y đức, do vậy cần

phải xây dựng một chương trình giáo dục y đức phù hợp với đặc điểm của

hoạt động quân y.

104

Chương 3

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN Y ĐỨC

CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

3.1. Xu hướng phát triển y đức và những vấn đề đang đặt ra đối

với người thầy thuốc quân đội hiện nay

Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay đạo đức nghề y có những thay đổi, trong

xu hướng và những vấn đề đặt ra đối với người thầy thuốc trên các vấn đề sau:

Một là, duy trì và phát triển các giá trị y đức truyền thống đang giữ vai

trò chủ đạo trong PTYĐ của người TTQĐ

Những năm qua, ngành quân y đã đạt được những thành tựu to lớn trên

lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực y

tế và nghiên cứu y khoa, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Y đức đang được xã hội quan tâm và luôn ghi nhận, đánh giá cao công

lao của người thầy thuốc chăm sóc sức khoẻ bộ đội và nhân dân, đồng thời

cũng phê phán những hành vi tiêu cực về y đức. Đó sẽ là những cổ vũ, khích

lệ để người TTQĐ không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách.

Hiện nay, môi trường y đức ở các ĐVQY đang được xây dựng và phát

triển đã góp phần vào việc xây dựng ngành y quân đội vững mạnh. Lãnh đạo,

bộ, sĩ quan, nhân viên y tế, nhất là những tấm gương anh dũng của các thế hệ

cha ông trong chiến tranh và trong hòa bình xây dựng đất nước. Việc giữ

vững các truyền thống tốt đẹp đó, với sự nỗ lực của lãnh đạo, chỉ huy các đơn

vị và của đội ngũ TTQĐ, có thể khẳng định xu hướng giữ gìn và phát huy

những giá trị y đức truyền thống đang là xu hướng chủ đạo.

Hai là, coi trong việc sử dụng thiết bị kỹ thuật hiện đại, xem nhẹ chuẩn

chỉ huy các đơn vị quân y luôn quan tâm giáo dục truyền thống y đức cho cán

Khoa học nói chung, khoa học y tế nói riêng đang phát triển hết sức

nhanh chóng. Y học đang sử dụng nhiều thiết bị, máy móc, phương tiện hiện

mực y đức trong khám và chữa bệnh

105

đại trong quá trình khám chữa bệnh, đã giúp cho việc chẩn đoán và điều trị

bệnh đạt hiệu quả cao. Để nâng cao năng lực chuyên môn người TTQĐ phải

tham gia nghiên cứu khoa học, phải tích cực học tập kiến thức chuyên môn, kỹ

năng nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để có thể làm chủ trang thiết bị hiện đại.

Tuy nhiên trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng;

nếu chỉ coi trọng chuyên môn kỹ thuật thuần tuý, mà xem nhẹ quá trình giáo

dục của các nhà trường, học viện, của các ĐVQY, quá trình tự giáo dục, rèn

luyện, tu dưỡng của bản thân người TTQĐ sẽ rất khó khăn trong PTYĐ.

Ba là, “chạy theo” nhu cầu xã hội, xem nhẹ việc giáo dục, rèn luyện y đức

Những năm gần đây, sự phát triển của nền KTTT đã tác động mạnh mẽ

tới tất cả mọi mặt, mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta, các

loại hình dịch vụ cũng được mở rộng và phát triển theo xu hướng tất yếu của

nó, trong đó có các dịch vụ về y tế. Hiện nay cả nước ta có khoảng 50000 cơ

sở khám chữa bệnh cả công và tư. Trong đó có khoảng 35000 cơ sở khám,

chữa bệnh tư nhân, 74 bệnh viện tư nhân, một tỷ lệ cao gấp nhiều lần cơ sở

khám chữa bệnh của Nhà nước.

Do đó, đã xảy ra tình trạng chảy máu chất xám khi các cơ sở khám

chữa bệnh tư nhân tìm mọi cách để lôi kéo các thầy thuốc giỏi, có chuyên

môn tay nghề cao bằng cách trả lương cao hơn nhiều lần so với mức lương

chữa bệnh của họ. Mặt khác, với cơ chế tự hoạch toán, tự chủ về thu chi, các

dịch vụ y tế tư nhân phải hoạch toán để trả lương, để tồn tại và phát triển, nên

họ phải coi bệnh nhân là đối tượng thu tiền. Điều này đã làm cho một số thầy

thuốc tự đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp của nghề y.

Công cuộc đổi mới đất nước đã thu được nhiều thành tự to lớn trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đời sống của nhân dân được nâng cao,

thu nhập được cải thiện, do vậy nhân dân có điều kiện và nhu cầu chăm sóc

sức khoẻ nhiều hơn. Đây là mặt tích cực trong xã hội và là nhu cầu chính

mà thầy thuốc đang hưởng để gây uy tín và thu hút người bệnh về cơ sở khám

106

đáng của nhân dân. Tuy nhiên, điều này đã gây ra tình trạng quá tải ở các

bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến cuối. Trong thực tế có thầy thuốc một ngày

phải khám tới 50 bệnh nhân, do vậy bệnh nhân không được khám tỉ mỉ, chu

đáo dẫn đến chất lượng khám chữa bệnh không cao. Mặt khác đã làm nảy sinh

tình trạng lo lót phong bì cho thầy thuốc để được ưu tiên khám trước và được

thầy thuốc khám và chữa bệnh chu đáo hơn.

Bốn là, đề cao lợi ích vật chất đang gây cản trở đến việc tu dưỡng

PTYĐ của người TTQĐ

Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề

lợi ích, đặc biệt là lợi ích vật chất đã được nhà nước nhận thức và quan tâm giải

quyết đúng mức. Đảng ta đã chủ trương giải quyết hài hoà giữa lợi ích cá nhân,

lợi ích tập thể và lợi ích của xã hội. Tuy nhiên, dưới sự tác động bởi mặt trái

của cơ chế thị trường đã có những biểu hiện chạy theo lợi ích cá nhân, lối sống

thực dụng, vị kỷ, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền sẵn sàng thực hiện

những hành vi bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp thuần phong, mỹ tục...

Đây là một khuynh hướng nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh và đang tác động

trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống làm suy thoái về y đức của một bộ

phận cán bộ, nhân viên ngành y tế nói chung và một số TTQĐ nói riêng. Việc

đấu tranh xóa bỏ những hiện tượng tiêu cực hết sức khó khăn, phức tạp, còn

PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

Người thầy thuốc cần có bản lĩnh chính trị, có đạo đức nghề nghiệp để

không rơi vào cái bẫy của đồng tiền, làm mất đi hình ảnh cao đẹp của mình và

y đức khó có thể hoàn thiện và phát triển.

diễn biến lâu dài. Đây là một thực tế đang gây trở ngại không nhỏ đến việc

3.2. Yêu cầu và các biện pháp phát triển y đức của người thầy

thuốc quân đội

Để đề xuất các biện pháp đảm bảo cho quá trình PTYĐ của người

TTQĐ hiện nay đạt được mục đích đề ra, cần quán triệt một số yêu cầu có

tính nguyên tắc sau đây:

107

Nguyên tắc tính mục đích: các biện pháp phải góp phần thực hiện mục

đích hoàn thiện và PTYĐ của người TTQĐ giúp họ có lối sống lành mạnh, có

kiến thức và trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự

nghiệp chăm sóc sức khoẻ của bộ đội và nhân dân.

Nguyên tắc tính hệ thống: các biện pháp phải bảo đảm tính hệ

thống, thường xuyên, liên tục; tác động vào quá trình PTYĐ để nâng cao

nhận thức, hình thành thái độ, niềm tin y đức và rèn luyện thói quen hành

vi y đức của người TTQĐ, phù hợp với hoạt động y nghiệp trong môi

trường quân sự.

Nguyên tắc tính thực tiễn: các biện pháp đề xuất cần được dựa trên thực

tiễn công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức ở nhà trường và ở các đơn

vị quân y, từ thực tiễn PTYĐ của người TTQĐ trong từng giai đoạn phát triển

của ngành y quân đội.

Nguyên tắc tính kế thừa: các biện pháp đề xuất kế thừa, phát huy những

kinh nghiệm, truyền thống, những kết quả đã đạt được trong giáo dục, bồi

dưỡng y đức ở các nhà trường, ĐVQY. Kế thừa những thành tựu khoa học,

công nghệ vào công tác giáo dục, PTYĐ cho người TTQĐ.

Nguyên tắc tính phát triển: các biện pháp đề xuất phải PTYĐ ở người

thầy thuốc sâu hơn trong nhận thức, mở rộng trên các mối quan hệ nhất là với

hơn về nhân cách của người thầy thuốc quân y.

Nguyên tắc tính khả thi: các biện pháp đề xuất có thể triển khai áp dụng

trong thực tế các đơn vị, các cơ sở y tế quân đội, không yêu cầu quá cao mà

cần tính hiện thực đối với người TTQĐ đang hành nghề với những điều kiện

và môi trường đang hiện hữu.

Các biện pháp đề xuất phải phát huy được vai trò, trách nhiệm, tính tích

cực của các chủ thể trong quá trình PTYĐ của người TTQĐ.

chính trị và pháp luật, nâng lên so với yêu cầu của nhiệm vụ và hoàn thiện

108

3.2.1. Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và

đạo đức cho người thầy thuốc quân đội

* Mục tiêu của biện pháp

Nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức cho người TTQĐ giúp

họ hình thành ý thức công dân, kỷ luật quân đội, đạo đức nghề y, trung thành với

lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc, có hiểu biết về pháp luật y tế, có thái độ, hành

vi chuẩn mực, tạo nền tảng cho sự phát triển nhân cách, hết lòng, hết sức phục

vụ nhân dân và quân đội, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM cho TTQĐ.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM là biện pháp cung cấp một

cách cơ bản và hệ thống cho người TTQĐ những tri thức, hiểu biết về lý luận

Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng

và Nhà nước. Nhận thức sâu sắc hệ thống giá trị ĐĐCM nói chung, y đức nói

riêng, làm cơ sở để hình thành niềm tin và hành vi y đức, xây dựng ở người thầy

thuốc sự vững vàng về bản lĩnh chính trị trong y nghiệp. Vì vậy, nâng cao hiệu

quả giáo dục y đức phải bắt đầu và gắn liền với giáo dục chính trị tư tưởng.

Trong quá trình giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM nội dung và

phương pháp cần nhấn mạnh vào việc hình thành thế giới quan, phương pháp

dựng lập trường tư tưởng vững vàng, niềm tin nghề nghiệp vững chắc, trên cơ sở

đó định hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn. Nhà giáo dục cần định hướng, chỉ

dẫn cho người thầy thuốc sự cần thiết phải xây dựng niềm tin, tình yêu nghề

nghiệp và tình yêu thương con người, đồng thời luôn yêu cầu người thầy thuốc

phải tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng của người TTQĐ.

Để nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM cho người

TTQĐ, các trường đào tạo và đơn vị quân y phải từng bước cải tiến chương

trình, nội dung giáo dục theo hướng kết hợp giữa nâng cao trình độ kiến thức

luận khoa học để làm cơ sở cho tư duy lý luận và hành động nghề nghiệp, xây

109

chuyên môn với nâng cao nhận thức về giá trị, chuẩn mực đạo đức, bồi dưỡng

tình cảm, xây dựng niềm tin, tình yêu nghề nghiệp và rèn luyện thói quen hành

vi y đức cho người thầy thuốc. Nội dung giảng dạy về chính trị, đạo đức hiện

nay ở các trường quân y bên cạnh việc trang bị hệ thống kiến thức chuyên

ngành cho người thầy thuốc thì phải bảo đảm được tính tư tưởng và tính khoa

học trong bài giảng, phải gắn chặt việc “dạy chữ” “dạy nghề” với “dạy người”

trong đào tạo. Ở mỗi chủ đề, cần xác định cụ thể mục tiêu đạt được cả kiến

thức, kỹ năng và thái độ cho người thầy thuốc. Tiến hành các hình thức tổ chức

giáo dục phải phù hợp với đặc điểm và đối tượng đào tạo, nhất là hình thức bài

giảng dù là hình thức lên lớp lý thuyết hay thực hành lâm sàng, Phải sử dụng

kết hợp nhiều phương pháp giáo dục đạo đức như: thuyết phục, nêu gương, phê

bình và tự phê bình, song cần đổi mới cách thức tiến hành cho phù hợp.

Giáo dục, phổ biến pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y

đức... phù hợp với từng nội dung, đối tượng ở các nhà trường, đơn vị quân y.

Quy định pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức đối với

ngành quân y, có vai trò định hướng những yêu cầu mà thầy thuốc phải thực

hiện trong nhiệm vụ chuyên môn của mình. Người TTQĐ trước hết là một

công dân nên có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của pháp

luật. Mặt khác, là một công chức, một cán bộ quân đội phải chấp hành nghiêm

thì phải thực hiện đúng các qui chế chuyên môn, qui định y đức trong hoạt

động chuyên môn nghề nghiệp của mình. Do vậy, giáo dục cho người thầy

thuốc nắm chắc và có ý thức thực hiện các quy định pháp luật, điều lệnh, điều

lệ, chế độ quy định, quy chế chuyên môn là nhiệm vụ rất quan trọng của công

tác giáo dục chính trị ở các ĐVQY.

Để thực hiện tốt vấn đề này, công tác giáo dục chính trị cho đội ngũ

TTQĐ hiện nay, các ĐVQY không những phải làm tốt công tác phổ biến, quán

triệt sâu sắc các nội dung pháp luật mà còn phải cụ thể hoá những điều luật,

điều lệnh, điều lệ, các chế độ quy định quân đội và đơn vị, là người thầy thuốc

110

những quy định chung cho sát với nội dung học tập, từng mặt công tác, từng

nhiệm vụ khám chữa bệnh của người thầy thuốc. Trong quá trình giáo dục, quán

triệt, các chủ thể giáo dục cần chỉ ra trách nhiệm pháp lý của người thầy thuốc

trước những tai biến có thể xảy ra trong điều trị, những tai nạn trong khám chữa

bệnh, trong nghiên cứu khoa học, TN y khoa… để người thầy thuốc nhận thức

đầy đủ; tự xây dựng ý thức hạn chế những sai sót, loại trừ những vi phạm pháp

luật trong hoạt động y nghiệp và trong các mặt công tác quân y của mình.

Đổi mới cách tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng,

pháp luật và đạo đức theo hướng gắn liền với thực tiễn sôi động của đất nước,

với điều kiện của nền KTTT, phát huy tính tích cực sáng tạo của người thầy

thuốc; đa dạng hoá các hình thức tổ chức; xã hội hoá việc tổ chức các hoạt

động, huy động sự tham gia của các tổ chức.

Các nhà trường, đơn vị quân y thường xuyên giáo dục truyền thống gắn

với định hướng giá trị xã hội - quân sự cho người thầy thuốc.

Các nhà trường và ĐVQY thường xuyên giáo dục truyền thống và củng

cố những định hướng giá trị xã hội - quân sự đúng là một việc làm rất quan

trọng và cần thiết trong PTYĐ của người TTQĐ hiện nay. Bởi định hướng giá

trị là một trong những biến đổi rõ nét của đặc trưng, xu hướng nhân cách có ý

nghĩa hướng dẫn hoạt động của con người. Sự phát triển định hướng giá trị là

cách. Việc hình thành những định hướng giá trị đúng và phù hợp có ý nghĩa

quyết định đến phương hướng cuộc đời của mỗi con người, khẳng định trình

độ tự ý thức của mỗi người thầy thuốc.

Giáo dục truyền thống ngành y quân đội phải đề ra được hệ giải pháp

thực hiện sự kết hợp một cách đồng bộ các yếu tố tích cực của các nhân tố trên,

nhằm tạo ra sự tác động tổng hợp thúc đẩy quá trình hình thành, PTYĐ của

người thầy thuốc theo mục tiêu đã xác định. Trong giáo dục truyền thống, cần

chú ý đến trọng tâm, trọng điểm. Căn cứ từ thực trạng của ngành trong thời

dấu hiệu của sự chín muồi nhân cách, là chỉ tiêu đo đạc tính xã hội của nhân

111

gian qua để xác định trọng tâm, trọng điểm trong giáo dục truyền thống ngành

quân y. Các nhà trường, ĐVQY cần tập trung đổi mới nội dung, phương pháp,

hình thức giáo dục. Các tổ chức, các lực lượng giáo dục phải thường xuyên

giáo dục những tấm gương sáng về y đức trong lịch sử, trong sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là các hình thức bồi dưỡng giàu hình tượng cảm

xúc, đi sâu vào thế giới nội tâm của người thầy thuốc, khêu gợi những xúc cảm

tích cực của mỗi người. Thông qua các hình thức bồi dưỡng, giáo dục, làm cho

người thầy thuốc luôn có nhận thức đúng về các giá trị truyền thống tốt đẹp, về

bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN, vinh dự, tự hào với truyền thống vẻ vang

của Đảng, của dân tộc, của quân đội và của ngành quân y, trên cơ sở đó xây

dựng những tình cảm tốt đẹp, hình thành ý chí quyết tâm tự học tập, tự phấn

đấu, tu dưỡng, rèn luyện vươn lên xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ

vang, học tập noi gương những tấm gương điển hình về y đức.

Trong giáo dục truyền thống đạo đức của người TTQĐ phải thông qua

những hình thức phong phú như tổ chức các buổi toạ đàm giữa các thế hệ để

giáo dục truyền thống; các buổi học tập, thi tìm hiểu về truyền thống ngành y

quân đội, về những người thầy có y đức trong sáng trong lịch sử; thăm quan

nhà thuyền thống ở ngay chính các đơn vị quân y để khơi dậy ở họ lòng tự

hào với truyền thống đạo đức của dân tộc, của Đảng, của quân đội và y đức

thuốc trong kế thừa, lưu giữ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống đó.

Giáo dục, xây dựng ở người TTQĐ đức tính biết hy sinh vì người bệnh

(thầy thuốc như mẹ hiền).

Trong thực hành khám chữa bệnh, và thực hiện công tác quân y luôn

đòi hỏi sự sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của bệnh nhân và cộng đồng. Người

TTQĐ phải đặt quyền lợi của bệnh nhân lên trên và trước cả quyền lợi của

mình. Để thông suốt và thực hiện được điều này, thì người TTQĐ phải có đức

tính quên mình. Bởi ngành y là ngành làm việc trong môi trường nhiều rủi ro,

của người thầy thuốc. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người thầy

112

nhất là nguy cơ lây nhiễm bệnh cao, phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại và

chịu sức ép nặng nề về tâm lý. Địa bàn công tác của người TTQĐ luôn là

những nơi xa xôi, hẻo lánh nhất, điều kiện thiếu thốn, khắc nhiệt về thời tiết,

khí hậu, đi lại khó khăn. Do đó, trong quá trình giáo dục, đào tạo các nhà

trường, đơn vị quân y ngoài việc trang bị cho người thầy thuốc kiến thức về

chuyên môn y khoa còn phải xây dựng, rèn luyện cho họ có được đức tính

biết hy sinh vì lợi ích của bệnh nhân và cộng đồng.

Giáo dục, rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, xây dựng lương tâm trách

nhiệm của người TTQĐ.

Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, nền KTTT đã ảnh

hưởng một cách sâu sắc và toàn diện tới sự PTYĐ của người TTQĐ theo hai

chiều tích cực và tiêu cực. Để đứng vững trong nghề, người TTQĐ cần giữ

vững bản lĩnh nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn và đang theo đuổi trước mọi

sự cám dỗ, cũng như khó khăn trong cuộc sống. Bản lĩnh nghề nghiệp là sự thể

hiện cao nhất của lý tưởng, là phẩm chất của người có năng lực, tự tin và dám

chịu trách nhiệm về hành vi của mình, không lùi bước trước những khó khăn,

trở ngại. Bản lĩnh được hình thành và thể hiện qua thói quen, hành vi, lối sống

và nghề nghiệp của con người, từ đó tạo nên những giá trị đạo đức nhân cách.

Muốn có được điều đó, trước hết phải xây dựng ở người TTQĐ lương

trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn, đồng thời là dấu hiệu là

thước đo sự trưởng thành của mỗi đời sống đạo đức cá nhân. Người thầy

thuốc trong quá trình đến với nghề, học tập và thực hành y nghiệp, được tiếp

xúc với bệnh nhân, thấu hiểu chức trách của mình và nỗi đau khổ của người

khác, sẽ dần dần hình thành đạo đức, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp.

Đó chính là ý thức, tình cảm, là sự thôi thúc từ bên trong giúp họ vượt qua

mọi cám dỗ, vững vàng với lý tưởng y nghiệp mà mình đã chọn. Trong quá

trình khám chữa bệnh cần tăng cường mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh

tâm nghề nghiệp. Lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp là biểu hiện tập

113

nhân, với đồng nghiệp, với xã hội, cộng đồng để rèn luyện người thầy thuốc

cách xử lý phù hợp và hiệu quả, linh hoạt và đúng với lương tâm nghề nghiệp.

* Điều kiện thực hiện biện pháp

Giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức, phải có sự

quan tâm của các cấp uỷ đảng, chỉ huy, các tổ chức trong đơn vị, cần có lực

lượng chuyên trách, chuyên sâu theo từng lĩnh vực để làm công tác giáo dục,

bồi dưỡng về chính trị, đạo đức và giáo dục phổ biến pháp luật về y tế, chuẩn

bị đầy đủ tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, thời gian, địa điểm, thành phần

tham gia, phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật.

Xây dựng kế hoạch giáo dục chính trị tư tưởng, pháp luật và đạo đức

đảm bảo khoa học, phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành y quân đội,

đúng mục đích, nhiệm vụ; tuyệt đối tránh căn bệnh hình thức, thành tích; cần

gắn với các hoạt động của từng ĐVQY và thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất

nước trong giai đoạn hiện nay.

Trong giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức cần

nhấn mạnh vào việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để

làm cơ sở cho tư duy lý luận và hành động nghề nghiệp. Xây dựng lập trường

tư tưởng vững vàng, niềm tin nghề nghiệp vững chắc; trên cơ sở đó định

hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn. Giáo dục truyền thống đạo đức của

kiện, xây dựng nhà truyền thống ở các nhà trường, ĐVQY. Cơ quan chính trị

các cấp là lực lượng chủ đạo trong tiến hành công tác giáo dục.

người TTQĐ phải chuẩn bị đầy đủ tài liệu, tư liệu lịch sử, các nhân chứng, sự

3.2.2. Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

* Mục tiêu của biện pháp

Giáo dục y đức cách mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giúp người

thầy thuốc quân đội có đủ bản lĩnh của “anh bộ đội Cụ Hồ” để tự rèn luyện, tu

dưỡng hình thành các giá trị, phẩm chất nhân cách, tạo dựng uy tín cho ngành

quân y, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội, thực hiện tốt các nhiệm

vụ của quân đội và đất nước trong tình hình mới.

114

* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Giáo dục, xây dựng ở người TTQĐ lòng trung thành tuyệt đối với Tổ

quốc, với Đảng, với Nhân dân; tự lực tự cường khắc phục khó khăn, sẵn sàng

nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà

nước, kỷ luật quân đội, quy chế của ngành.

Mỗi quân nhân dù ở cương vị công tác nào cũng phải tuyệt đối trung

thành với Tổ quốc, với Đảng với Nhân dân. Mỗi người TTQĐ phải thể hiện

lòng trung thành trước hết bằng tinh thần yêu nước, ý chí phấn đấu cho lý

tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nghị lực vươn lên đưa đất nước

thoái khỏi nghèo nàn, lạc hậu và phát triển bền vững. Biểu hiện cụ thể là:

Người TTQĐ phải có lập trường tư tưởng vững vàng, tuyệt đối tin

tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền

với chủ nghĩa xã hội. sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ

được giao. Có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh, có thế giới quan và phương pháp luận khoa học biết vận dụng lý luận

để giải quyết thành công những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra, đồng thời từ thực

tiễn rút ra bài học, khái quát thành lý luận, góp phần phát triển lý luận ngày

một phong phú hơn. Nắm vững và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của

nhất là những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, chức trách được giao. Có quan

điểm giai cấp và quan điểm quần chúng đúng đắn; suốt đời hy sinh vì độc lập

tự do của Tổ quốc, ấm no hạnh phúc của Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính,

chí công, vô tư; giữ gìn phẩm chất tốt đẹp Anh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Mỗi TTQĐ phải luôn luôn chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ

luật Quân đội và quy chế của Ngành, góp phần thiết thực để xây dựng nhà

nước pháp quyền XHCN, thực hiện khẩu hiệu toàn dân hành động theo pháp

luật và toàn quân hành động theo điều lệnh.

Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của cấp trên,

115

Người thầy thuốc quân đội đem hết khả năng chuyên môn để khám,

điều trị, chăm sóc người bệnh; hết lòng vì sự nghiệp chăm lo, bảo vệ sức khỏe

bộ đội và nhân dân.

Luật bảo vệ sức khoẻ đã khẳng định “sức khoẻ là vốn quý nhất của con

người, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là

mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá xã hội

và bảo vệ Tổ quốc”. Xuất phát từ quan điểm chăm sóc tốt sức khoẻ của nhân

dân. Đảng ta đã chủ trương xã hội hoá công tác y tế, coi việc chăm lo, bảo vệ

sức khoẻ con người là công cuộc của toàn xã hội, của mọi cấp, mọi ngành,

mọi người, trong đó cán bộ, nhân viên y tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Người TTQĐ phải thực sự coi nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của

chính mình, đến với người bệnh bằng nhiệt tình cách mạng, tinh thần trách

nhiệm, lương tâm nghề nghiệp và tấm lòng nhân ái của người thầy thuốc.

Người TTQĐ phải luôn luôn ý thức sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với người

bệnh; không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh, không được vin vào lý

do chuyên môn để trì hoãn hoặc trốn tránh việc cứu chữa người bệnh. Không

được ỷ lại hoặc khoán trắng người bệnh cho thân nhân của họ. Không ngại khó,

ngại bẩn, ngại lây bệnh. Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh, phải tìm mọi

trong tâm trạng phiền muộn, sợ sệt. Đối với bệnh nhân nặng, phải cứu chữa đến

cùng với tinh thần “còn nước còn tát” đặc biệt đối với thương, bệnh binh.

Phát triển ở người thầy thuốc tấm lòng nhân hậu, thái độ ân cần, lịch

sự khi tiếp xúc với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn cửa quyền, lạm

dụng nghề nghiệp để sách nhiễu và gây phiền hà cho người bệnh.

Người TTQĐ không những phải có năng lực chuyên môn giỏi mà còn

phải có tấm lòng nhân hậu. Người TTQĐ trước hết là người quân nhân cách

mạng, được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ bộ

cách để xoa dịu nỗi đau về thể chất và tinh thần cho họ, không được để họ

116

đội và cứu chữa thương binh, bệnh binh, là người trực tiếp thể hiện quan

điểm, chính sách và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với người bệnh.

Đối tượng phục vụ của họ là bộ đội, là những người cùng chung chiến hào

chiến đấu. Để hoàn thành trọng trách ấy, y đức của người TTQĐ phải được

hoàn thiện và nâng cao.

Để chiến thắng bệnh tật, bên cạnh các can thiệp y học thì việc làm cho

người bệnh lạc quan, tin tưởng và an tâm điều trị giữ một vị trí hết sức quan

trọng. Muốn làm được điều đó, người TTQĐ trong giao tiếp ứng xử với người

bệnh phải hoà nhã, cởi mở, tạo ra sự gần gũi, thân mật giữa thầy thuốc với

người bệnh. Phải thật sự ân cần và cảm thông sâu sắc với người bệnh, chăm lo

người bệnh đến từng viên thuốc, mũi tiêm, từng bữa ăn, giấc ngủ, chia sẻ với

người bệnh từng niềm vui, nỗi buồn. Phải mềm mỏng trong tính cách, nguyên

tắc trong công việc, lấy động viên thuyết phục là chính, tạo mọi thuận lợi để

người bệnh chấp hành tốt nội quy và chế độ bệnh viện. Phải tôn trọng nhân

cách của người bệnh, không được phân biệt đối xử, không nóng nảy, cáu gắt,

cửa quyền, hách dịch hoặc coi thường, hắt hủi người bệnh, không được biểu

hiện hành vi thiếu nghiêm túc đối với người bệnh, nhất là người bệnh khác

giới, không được lợi dụng nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cá nhân, không để

đồng tiền hoặc những cám dỗ thấp hèn làm ảnh hưởng tới phẩm chất tốt đẹp

Xây dựng đức tính khiêm tốn, đoàn kết hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau; có

lối sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Khiêm tốn là đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, của con người

Việt Nam, là một đòi hỏi với tất cả mọi người, mọi nghề trong chế độ ta. Đối

với người TTQĐ, khiêm tốn càng phải được đề cao. Từ cổ xưa cho đến nay,

xã hội luôn tôn vinh nghề thuốc và quý trọng thầy thuốc. Mặt khác, do tầm

quan trọng của sức khỏe nên nhân dân ta thường nghĩ “Có bệnh thì vái tứ

phương”, hễ cứ có bệnh là tìm mọi cách “lấy lòng” thầy thuốc để được cứu

của Anh “Bộ đội Cụ Hồ”, y đức của người TTQĐ.

117

chữa. Xét trên khía cạnh tâm lý, những biểu hiện trên rất dễ làm cho thầy

thuốc mất đi tính khiêm tốn cần thiết. Bởi vậy, mỗi người TTQĐ dù mới chập

chững vào nghề hay đã lâu năm theo đuổi nghề nghiệp, đều phải rèn luyện

đức tính khiêm tốn. Trước hết phải khiêm tốn với bệnh nhân, khiêm tốn với

đồng nghiệp, khiêm tốn với các nghề khác trong xã hội và khiêm tốn với

chính bản thân mình. Có đức tính khiêm tốn, người thầy thuốc mới không

ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, mới tích luỹ

được kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao chất lượng công việc. Có khiêm tốn,

người TTQĐ mới giữ vững được sự cao quý của nghề nghiệp, mới được

người bệnh tôn trọng và tin tưởng, mới được đồng nghiệp quý trọng. Cần

tránh bệnh tự kiêu, tự đại, ba hoa, kênh kiệu, ích kỷ, hẹp hòi…

Phải đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ ngành, giữa thầy thuốc cao tuổi và

thầy thuốc trẻ tuổi; giữa cũ và mới, giữa y và dược, giữa phòng bệnh và chữa

bệnh, giữa cận lâm sàng và lâm sàng, giữa y học hiện đại và y học cổ truyền

dân tộc, giữa quân y và dân y… Nội dung của sự đoàn kết là thái độ và trách

nhiệm hợp tác, giúp đỡ nhau chân thành, vô tư, trong sáng, vì người bệnh, vì

nhiệm vụ chính trị, vì danh dự và uy tín của ngành, phê phán các biểu hiện đố

kỵ, cục bộ và bất hợp tác. Đồng thời đoàn kết chặt chẽ với các ngành khác,

các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ

ngành Y đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa nhiều người, nhiều bộ

phận (ví dụ như một ca phẫu thuật), nếu không có tinh thần đoàn kết thì người

TTQĐ không thể hoàn thành nhiệm vụ.

Người thầy thuốc còn phải có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung

thực. Đó là những đòi hỏi bắt buộc đối với những ai tự nguyện theo đuổi nghề

nghiệp bảo về sức khoẻ con người. Lao động nghề y không cho phép để xẩy

ra bất kỳ một sai lầm nào, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể cướp đi sinh mạng

của một con người, vì thế nó đòi hỏi người thầy thuốc phải trung thực, tỷ mỷ,

về mọi mặt cho toàn ngành và cho toàn đơn vị. Do tính chất đặc thù của

118

thận trọng, phải có tác phong khẩn trương, bình tĩnh, tự tin, dám nghĩ, dám

làm, dám chịu trách nhiệm.

Đối với đồng nghiệp phải hoà nhã, khiêm tốn, độ lượng, bao dung, tôn

trọng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, lấy tự phê bình và phê bình làm nguyên tắc

xây dựng mối đoàn kết nhất trí, cộng đồng trách nhiệm, lập công tập thể; hết

sức coi trọng việc truyền thụ kinh nghiệm và kiến thức y học cho lớp sau.

Không giấu nghề, giấu tài; không chủ quan tự mãn, đặc quyền, đặc lợi, tranh

công đổ lỗi; không có động cơ vụ lợi trong điều trị và chăm sóc người bệnh.

Phải giữ uy tín cho đồng nghiệp; không cãi cọ chê bai hoặc xúc phạm đồng

nghiệp, nhất là trước mặt bệnh nhân. Trong cuộc sống phải giản dị, gương

mẫu, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực lạc hậu;

không rượu chè quá mức, không cờ bạc, không sinh hoạt bê tha đồi truỵ,

không nói tục, chửi bậy, không ba hoa kênh kiệu hoặc có những hành vi thiếu

văn hoá. Khi tiếp xúc bệnh nhân không hút thuốc lá, không dùng rượu bia

hoặc các chất kích thích khác làm giảm uy tín của người TTQĐ. Trang phục

mang mặc phải chính quy, thống nhất, sạch sẽ, chỉnh tề. Phải mẫu mực về vệ

sinh cá nhân, không để sự luộm thuộm, nhếch nhác bề ngoài của thầy thuốc

tác động xấu đến tâm lý và niềm tin của người bệnh.

rèn luyện để nâng cao trình độ toàn diện.

Bất kỳ một nghề nghiệp nào trong xã hội cũng đòi hỏi người hành nghề

phải hội tụ đầy đủ 2 phẩm chất cơ bản là tài và đức. Tài và đức có vai trò đặc

biệt quan trọng đối với người TTQĐ. Muốn có tài, người thầy thuốc phải

không ngừng học tập; học ở trường, học ở đồng nghiệp, học ở xã hội, và học

trong nhân dân. Người TTQĐ phải phấn đấu để có kiến thức chuyên môn, kỹ

thuật vững vàng, vừa nắm chắc lý thuyết vừa phải giỏi về thực hành; thành

thạo chức trách nhiệm vụ, sẵn sàng kiêm nhiệm, thay thế hoặc hỗ trợ đồng

Xây dựng ở người TTQĐ động cơ thường xuyên học tập, nghiên cứu,

119

nghiệp trong công tác. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học

và công nghệ hiện đại, nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tiên tiến được đưa

vào áp dụng trong thực tiễn; vì vậy đòi hỏi người TTQĐ phải không ngừng

học tập vươn lên mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, mới thoát khỏi tình

trạng tụt hậu về kiến thức y khoa.

Mặt khác trong chiến tranh hiện đại, kẻ địch sẵn sàng sử dụng các loại

vũ khí mang tính chất huỷ diệt lớn, nếu người TTQĐ không tích cực học tập

vươn lên về mọi mặt thì không thể hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện số

lượng thương binh lớn và cơ cấu vết thương thay đổi nhiều lần so với chiến

tranh thông thường. Thêm vào đó, vấn đề ô nhiễm môi trường, sự xuất hiện các

loại dịch bệnh mới, sự biến động của khí hậu thời tiết, tình trạng báo động về

tai nạn giao thông và thảm họa (động đất, sóng thần, hoả hoạn…) đều đặt ra

những yêu cầu bức thiết đối với ngành y tế nói chung và cán bộ, chiến sĩ Quân

y nói riêng. Nó đòi hỏi mỗi TTQĐ vừa phải có kiến thức toàn diện, vừa phải có

kiến thức chuyên sâu, đồng thời đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống.

Muốn có y đức, người thầy thuốc phải tu dưỡng rèn luyện thường xuyên. Đó là

quá trình tự hoàn thiện bản thân thông qua các hoạt động xã hội đòi hỏi người

TTQĐ phải nghiêm túc, tự giác. Phải kiên quyết gạt bỏ những thói hư tật xấu,

nếp nghĩ và cách làm tuỳ tiện... Chỉ có như vậy, người TTQĐ mới thực sự trở

thành người cán bộ vừa “Hồng” vừa “Chuyên”.

Mỗi cán bộ, nhân viên Quân y phải xây dựng cho mình một kế hoạch

học tập và rèn luyện thường xuyên để nâng cao trình độ toàn diện, dù ở cương

vị công tác nào cũng là người thầy thuốc vững về chính trị, giỏi về chuyên

môn, trong sáng về y đức và khoẻ về thể lực, góp phần cùng toàn ngành hoàn

thành nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho là chăm lo,

bảo vệ sức khoẻ con người.

những tiêu cực lạc hậu; đoạn tuyệt triệt để với những cám dỗ thấp hèn, những

120

* Điều kiện thực hiện biện pháp

Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện PTYĐ cần có sự

quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở chính các ĐVQY. Công tác giáo

dục y đức phải được tiến hành ở tất cả các đối tượng làm công tác quân y.

Cần phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các ĐVQY, các bệnh viện

quân đội trong giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức và ý thức tự bồi dưỡng,

rèn luyện y đức ở mỗi người thầy thuốc. Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giảng

dạy về y đức có uy tín, y đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu.

Cần xây dựng một chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức, nội dung

phải được cập nhật, bám sát sự biến đổi các giá trị y đức trong đời sống xã

hội và những nhân tố tác động đến PTYĐ của người thầy thuốc trong hoạt

động y nghiệp ở các ĐVQY.

Tổ chức tốt các hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện

PTYĐ của người thầy thuốc trong tiến hành công tác quân y, trong thực hành

khám chữa bệnh; xây dựng ở người thầy thuốc thái độ tôn trọng con người, sự

thiện tâm và công bằng trong khám chữa bệnh.

Phát huy vai trò của tập thể quân y trong kiểm tra, phát hiện, chấn chỉnh

kịp thời các hiện tượng vi phạm y đức. Trang bị cho người thầy thuốc những

kiến thức y khoa hiện đại, văn hoá trong giao tiếp ứng sử với người bệnh.

3.2.3. Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong

các nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn vị quân y

* Mục tiêu của biện pháp

Hoàn thiện chương trình môn đạo đức y học có cơ sở khoa học và thực

tiễn, có tính hệ thống và tính khả thi để giảng dạy y đức trong các học viện,

trường quân y và để bồi dưỡng y đức cho cán bộ nhân viên tại các ĐVQY.

Phát triển y đức của người TTQĐ cần được bắt đầu ngay trong quá

trình đào tạo ở nhà trường để họ được trang bị đầy đủ kiến thức về y đức làm

cơ sở ban đầu cho sự hình thành nhân cách người TTQĐ và PTYĐ sau này.

121

* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

- Yêu cầu xây dựng chương trình, nội dung môn đạo đức y học:

Kiến thức: Xây dựng chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức

nhằm trang bị những tri thức cơ bản, những qui luật chủ yếu của đạo đức

trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Trên cơ sở đó biết vận dụng vào quá trình

khám chữa bệnh, vào trong quá trình lãnh đạo, quản lý ở các ĐVQY, góp

phần hoàn thiện nhân cách người TTQĐ.

Kỹ năng: Hình thành, phát triển kỹ năng trong giao tiếp ứng sử, cảm hoá

và định hướng hoạt động y nghiệp của người thầy thuốc. Hình thành và phát

triển tư duy, phát triển kỹ năng, phương pháp học tập, nghiên cứu và điều trị.

Thái độ: Hình thành được tình cảm tích cực với nghề nghiệp với môn

học. Tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức y đức vào

giải quyết các vấn đề trong thực tiễn hành nghề y và trên cương vị công tác sau

này; tinh thần trách nhiệm, hợp tác trong thực tiễn quá trình khám chữa bệnh.

- Nội dung chi tiết môn đạo đức y học:

Chủ đề 1, Khái quát Lịch sử đạo đức và đạo đức y học

1. Những vấn đề chung

1.1. Đối tượng môn đạo đức y học

1.2. Nhiệm vụ môn đạo đức y học

1.4. Cấu trúc môn học và ý nghĩa của nghiên cứu , học tập đạo đức y học

2. Lịch sử đạo đức và đạo đức nghề y

2.1. Lịch sử đạo đức

2.2. Lịch sử đạo đức nghề y

2.3. Một số thầy thuốc tiêu biểu trong lịch sử và quân đội

Chủ đề 2, Lý tưởng đạo đức nghề y thông qua các lời thề y học

1. Một số lời thề đạo đức y học

1.1. Lời thề Hippocrates

1.3. Phương pháp nghiên cứu môn đạo đức y học

122

1.2. Y huấn cách ngôn của Hải Thượng Lãn Ông

1.3. Tuyên ngôn Geneva

2. Nghề y là một nghề đặc biệt và lý tưởng đạo đức nghề y

2.1. Nghề y là một nghề đặc biệt

2.2. Lý tưởng đạo đức nghề y

3. Lý tưởng đạo đức nghề y trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng

người thầy thuốc Việt Nam hiện đại

3.1. Hồ Chí Minh với nghề y và người thầy thuốc

3.2. Lý tưởng đạo đức nghề y quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ đề 3, Nguyên lý cơ bản của đạo đức y học

1. Tôn trọng quyền tự chủ

1.1. Cung cấp thông tin đầy đủ cho bệnh nhân

1.2. Tôn trọng quyền tự quyết định của bệnh nhân

1.3. Tìm kiếm sự đồng ý sự lựa chọn của bệnh nhân

1.4. Trung thực không lừa dối

2. Lòng nhân ái và công bằng

2.1. Nhân ái trong nghề y

2.2. Giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái

2.3. Công bằng trong nghề y

3.1. Những qui định về đạo đức nghề nghiệp

3.2. Những điều cấm kỵ trong nghề y

Chủ đề 4, Xây dựng mối quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, đồng

3. Không làm việc có hại/ không ác ý

nghiệp, xã hội và cộng đồng

1. Quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân

1.1. Tôn trọng và công bằng trong điều trị

1.2. Thoả thuận đồng ý và kỹ năng giao tiếp

1.3. Ra quyết định ở bệnh nhân không đủ năng lực

123

1.4. Bảo mật thông tin trong công tác khám chữa bệnh

2. Quan hệ thầy thuốc với đồng nghiệp

2.1. Đối xử công bằng và chia sẻ thông tin với đồng nghiệp

2.2. Làm việc nhóm, phụ trách nhóm và các thành viên

2.3. Uỷ quyền và chăm sóc bệnh nhân

2.4. Trung thực, Hợp tác với mọi cuộc điều tra

3. Quan hệ thầy thuốc với xã hội cộng đồng

3.1. Bác sĩ là một thành viên của xã hội, cộng đồng

3.2. Bác sĩ thực hiện chức năng nghề nghiệp trong xã hội, cộng đồng

3.3. Ảnh hưởng của xã hội, cộng đồng đối với bác sỹ

3.4. Giới thiệu một số văn bản pháp luật liên quan tới đạo đức y học

Chủ đề 5, Giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp cho TTQĐ

1. Phẩm chất chuyên môn y nghiệp

1.1. Khái niệm phẩm chất chuyên môn y nghiệp

1.2. Vai trò phẩm chất chuyên môn y nghiệp

2. Đặc điểm hoạt động của người thầy thuốc quân y

2.1. Trực tiếp làm việc ở những khó khăn, nguy hiểm

2.2. Thường xuyên tiếp xúc với thương binh, bệnh tật

2.4. Có quan hệ chặt chẽ với địa phương, các cơ quan đơn vị bạn

3. Nội dung giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp cho người TTQĐ

3.1. Phẩm chất chính trị tư tưởng nghề y

3.2. Phẩm chất đạo đức nghề y

3.3. Phẩm chất ý chí và trí tuệ nghề y

3.4. Phẩm chất tổ chức chỉ huy quân y

3.5. Phẩm chất sư phạm

2.3. Chịu trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ cho đơn vị

124

4. Con đường, biện pháp giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp

4.1. Thông qua quá trình học tập của người TTQĐ.

4.2. Thông qua quá trình tự học tập, tự rèn luyện và trong hoạt động

thực tiễn của người TTQĐ

4.3. Công tác đảng, công tác chính trị với xây dựng phẩm chất

chuyên môn y nghiệp cho người TTQĐ

Chủ đề 6, Bổ trợ

1. Tham quan phòng truyền thống của nhà trường, đơn vị quân y

2. Nói chuyện chuyên đề những tấm gương tiêu biểu về y đức

* Điều kiện thực hiện biện pháp

- Đối với các nhà trường quân y

Xây dựng được chương trình, kế hoạch giảng dạy môn học riêng về giáo

dục đạo đức y học ở các trường quân y. Cần xác định rõ mục tiêu chương trình;

đối tượng; tổ chức thực hiện chương trình; thời gian học (2 học trình); học liệu

(tài liệu, giáo trình, sách tham khảo); nội dung (các chương, số tiết học lý thuyết,

thực hành); phương pháp đánh giá kết quả học tập (kết quả học, trình độ, hành

vi); hướng dẫn thực hiện chương trình.

Biên soạn giáo trình y đức, thành lập Bộ môn Giáo dục y đức với

nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về y đức; bố trí, sắp xếp đội ngũ

đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu.

Nội dung giảng dạy môn y đức cần xác định rõ mục tiêu, vị trí vai trò,

chức năng nhiệm vụ, yêu cầu của môn học; kế hoạch đề bài, chương trình

môn học, đề cương chi tiết môn học. Cần tuân thủ các nguyên tắc: bảo đảm

thực hiện mục tiêu, chất lượng giảng dạy; bảo đảm tính khoa học, tính cập

nhật, tính khả thi; bảo đảm tính hiệu quả, tính giáo dục của môn học. Cần bảo

đảm tốt về phương tiện dạy học và cơ sở vật chất giảng dạy và học tập.

cán bộ giảng dạy trong bộ môn giáo dục y đức là những thầy giáo có uy tín, y

125

- Đối với các đơn vị quân y

Xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức bồi dưỡng y đức ở các đơn vị

quân y; phối hợp chặt chẽ với các học viện, nhà trường quân y để thống nhất

về nội dung bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc; phương pháp, phương

thức tiến hành bồi dưỡng phù hợp với các điều kiện thực tiễn của từng đơn vị.

Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ bồi dưỡng y đức là những người thầy

thuốc có uy tín, y đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu; có thể mời

các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các trường quân y tham gia giảng dạy, bồi

dưỡng về y đức và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng thực hiện.

Nội dung bồi dưỡng cần tuân thủ các nguyên tắc: bảo đảm thực hiện

mục tiêu, chất lượng bồi dưỡng; bảo đảm tính khoa học, tính cập nhật, tính

khả thi; bảo đảm tính hiệu quả, hiệu suất, tính giáo dục. Cần bảo đảm tốt về

tài liệu, giáo trình, sách tham khảo; phương tiện dạy học và cơ sở vật chất

đảm bảo; địa điểm ở các hội trường, phòng truyền thống của đơn vị; thời gian

lồng vào các đợt học tập chính trị hàng năm.

3.2.4. Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của

người thầy thuốc quân đội

* Mục tiêu của biện pháp

Hình thành phong trào tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của đội ngũ

chuyển hoá ý thức, thái độ và hành vi y đức theo yêu cầu của xã hội và của

quân đội, hình thành nhân cách bền vững, có ý chí quyết tâm cống hiến, hy

sinh cho lý tưởng y đức của người TTQĐ.

những người thầy thuốc quân đội trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, làm

* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Phát huy vai trò của người TTQĐ trong tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự

rèn luyện để PTYĐ.

Công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức chỉ phát huy được hiệu

quả khi người thầy thuốc tiếp nhận nó một cách tự giác, trở thành nhu cầu,

126

động cơ bên trong thôi thúc họ tích cực học tập, rèn luyện và trưởng thành.

Tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức là quá trình tự giác của mỗi

người TTQĐ nhằm nâng cao nhận thức, củng cố tình cảm, rèn luyện ý chí

phấn đấu cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bộ đội và nhân dân. Đó

chính là quá trình người thầy thuốc tự trau dồi tri thức, tự rèn luyện bản lĩnh

chính trị, phẩm chất y đức, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập, rèn

luyện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu khám chữa bệnh đặt ra. Để nâng cao chất

lượng tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc, cần

tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:

Các lực lượng giáo dục ở các đơn vị quân y phải thường xuyên quan

tâm giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng động cơ, mục đích học tập, rèn luyện đúng

đắn cho người thầy thuốc đơn vị mình, khắc phục những biểu hiện tiêu cực

trong học tập và rèn luyện. Giáo dục động cơ, mục đích có ý nghĩa quyết định

đến chất lượng hiệu quả học tập, công tác và rèn luyện, chi phối phương thức

hoạt động của mỗi người thầy thuốc. Mục đích, động cơ đúng sẽ tạo ra động

lực thúc đẩy quá trình hoạt động đúng. Ngược lại, mục đích, động cơ lệch lạc

sẽ trở thành lực cản cho quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y

đức của mỗi người TTQĐ. Muốn vậy, phải làm cho người thầy thuốc hiểu

dân, trên cơ sở đó, giúp họ nâng cao ý thức, tích cực, chủ động trong học tập,

công tác và rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đặt

ra. Việc xây dựng động cơ, mục đích đúng đắn cho người TTQĐ cần thực

hiện một cách chủ động và tích cực ngay từ khi người thầy thuốc đang học tập

tại nhà trường và trong suốt quá trình hành nghề của mình trên mọi cương vị

công tác. Bên cạnh việc xây dựng động cơ, mục đích đúng đắn cần kết hợp

với việc bồi dưỡng định hướng giá trị tình cảm nghề nghiệp cho người TTQĐ.

được mục tiêu yêu cầu của nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và nhân

127

Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao năng lực tự giáo dục, tự

bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người TTQĐ.

Nâng cao năng lực tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của

người thầy thuốc là hướng dẫn họ biết cách lựa chọn những tri thức cơ bản,

thiết thực, trang bị cho họ phương pháp tiếp cận lựa chọn tri thức phù hợp để

tiếp thu. Có như vậy mới giúp cho người thầy thuốc tự định hướng tổ chức và

điều khiển quá trình rèn luyện, tu dưỡng bản thân mình một cách có hiệu quả.

Tri thức khoa học về tự giáo dục để PTYĐ là hành trang theo người thầy thuốc

suốt đời, nó vừa là công cụ, vừa là phương tiện để người thầy thuốc tự giáo dục

để phát triển và hoàn thiện nhân cách đáp ứng với sự phát triển của y nghiệp.

Các lực lượng giáo dục cần xây dựng được ý thức tự giáo dục, tự bồi

dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ, làm cho người thầy thuốc hiểu đó là công việc

bền bỉ, thường xuyên, nó phải được xác định như là nhu cầu nội tại để hoàn

thiện nhân cách của mỗi người thầy thuốc. Bên cạnh đó, các chủ thể giáo dục

phải thường xuyên quan tâm, kiểm tra, uốn nắn, định hướng việc tự giáo dục,

tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc phù hợp với đặc

điểm của từng nhiệm vụ chuyên môn mà họ đảm nhiệm trên các mặt công tác

quân y. Chủ thể giáo dục vừa phải giáo dục chung, đồng thời phải chú ý giáo

chẽ giữa bồi dưỡng, nâng cao năng lực tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện

để PTYĐ với năng lực tự học và tự nghiên cứu khoa học, biến quá trình giáo

dục, đào tạo thành quá trình tự giáo dục, đào tạo.

Các nhà trường, ĐVQY mà trực tiếp là các lực lượng quản lý trực tiếp

cần tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức hoạt động tự giáo dục,

tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người TTQĐ một cách chặt chẽ, liên

tục đây là một thành tố quan trọng trong quá trình giáo dục. Do đó, hoạt động

tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc phải

dục riêng, định hướng riêng cho phù hợp với từng đối tượng. Kết hợp chặt

128

được đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý nghiêm túc, đúng quy chế, có tính khoa

học cao của các ĐVQY. Mọi sự coi nhẹ hoạt động tự giáo dục để PTYĐ của

người thầy thuốc; phong cách lãnh đạo, chỉ huy thiếu sâu sát, không khoa học,

cụ thể, tỷ mỉ; tổ chức các hoạt động không chặt chẽ, không liên tục, đơn điệu

thì chắc chắn chất lượng hiệu quả của quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự

rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc sẽ không cao.

Chỉ đạo thường xuyên hoạt động tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn

luyện PTYĐ của người TTQĐ.

Tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức chỉ có kết quả khi được

gắn liền với sự nỗ lực tự giác cao và tích cực chủ động hoạt động thực tiễn của

người thầy thuốc. Thông qua hoạt động thực tiễn công tác của họ ở các đơn vị

quân y để kiểm nghiệm năng lực tự ý thức, tự điều chỉnh hành vi của mỗi

người, đồng thời làm cơ sở cho chủ thể giáo dục, nắm bắt và uốn nắn kịp thời

quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc,

nhằm phát huy tính tích cực, tự giác của họ trong học tập, công tác và rèn

luyện. Các cấp uỷ đảng, chỉ huy các cấp, các cơ quan chức năng, cần thường

xuyên giáo dục, để mỗi người thầy thuốc nhận thức sâu sắc, ý nghĩa tầm quan

trọng của tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức nâng cao năng lực, khả

tính dân chủ, tính khoa học và nhất quán trong nội dung giáo dục, bồi dưỡng,

rèn luyện y đức. Chỉ có trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quá trình giáo dục, bồi

dưỡng, rèn luyện với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người

TTQĐ trong thực tiễn môi trường y đức của các đơn vị quân y thì sự PTYĐ

của người thầy thuốc mới thực sự phát huy được hiệu quả.

năng tư duy của mình. Việc chỉ đạo tổ chức hoạt động thực tiễn phải đảm bảo

* Điều kiện thực hiện biện pháp

Cần xây dựng được ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y

đức ở mỗi người thầy thuốc, làm cho họ hiểu đó là công việc bền bỉ, thường

129

xuyên và phải được xác định như là nhu cầu nội tại để hoàn thiện nhân cách

của mỗi người TTQĐ.

Các nhà trường, ĐVQY phải thường xuyên quan tâm, kiểm tra, uốn

nắn, định hướng việc tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức phù hợp

với đặc điểm từng nhiệm vụ của mỗi người TTQĐ.

3.2.5. Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các đơn vị quân y

và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội

* Mục tiêu của biện pháp

Xây dựng đơn vị quân y vững mạnh, tạo môi trường y đức trong sạch,

lành mạnh để người TTQĐ tự rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu cho lý tưởng y

đức cao đẹp, hình thành ý thức, thái độ và hành vi y đức chuẩn mực, đấu tranh

chống lại sự tác động tiêu cực từ mặt trái của nền KTTT và sự tấn công về

chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống của các thế lực thù địch.

Tổ chức, quản lý bằng pháp luật trong ngành y, đưa các hoạt động y tế

vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật, xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu

quả, đáp ứng với yêu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng đa dạng với chất

lượng ngày càng cao cho bộ đội và nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số

46/QN-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị “Về công tác bảo vệ, chăm sóc

và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”.

Từng bước xây dựng, hoàn thiện các luật, pháp lệnh về y tế đáp ứng

yêu cầu phát triển y học hiện nay

Ngành Y quân đội đã tham gia cùng với Bộ Y tế và các cơ quan hữu

quan của Nhà nước chỉ đạo xây dựng và sửa đổi các dự án luật về y tế mà xã

hội hiện nay đang quan tâm như: Luật Dược năm 2005, Luật Bảo hiểm y tế

năm 2008, Luật khám chữa bệnh năm 2009 mà Quốc hội khoá XII (2007-2011)

đã thông qua và ban hành. Hiện nay còn có Dự án Luật An toàn thực phẩm; Dự

* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

130

án Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá; Dự án Luật Phòng chống lạm dụng

rượu, bia; Dự án Luật về Máu; Dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể

người và hiến lấy xác; Dự án Luật bảo vệ sức khoẻ tâm thần để đáp ứng yêu

cầu nội luật hoá và sự phát triển của y học hiện nay. Để bảo đảm chất lượng,

tính hiệu quả của luật, Bộ Y tế tổ chức, phân công các vụ, cục chủ trì soạn thảo,

các đơn vị phối hợp, phân công các tổ chức và công chức có kinh nghiệm, giàu

kiến thức chuyên môn và kỹ năng xây dựng luật. Cần đảm bảo bình đẳng, công

bằng và nhất thể hoá việc hành nghề y, dược trong cả nước giữa khu vực y tế

Nhà nước với khu vực y tế tư nhân; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng

bộ của hệ thống pháp luật về y tế khi được ban hành.

Giáo dục, quản lý việc thực hiện pháp luật về y tế bảo đảm tính hiệu

lực, hiệu quả

Phát triển hệ thống thông tin pháp luật về y tế thông qua việc xây dựng

các tủ sách pháp luật y tế ở các ĐVQY với đầy đủ các văn bản quy phạm

pháp luật nói chung và y tế nói riêng, đồng thời tổ chức khai thác có hiệu quả

các tủ sách này. Xây dựng các CDROM để lưu trữ và khai thác các văn bản

quy phạm pháp luật về y tế, tiến tới có Website pháp luật y tế. Thực hiện việc

tăng cường trao đổi thông tin pháp luật về y tế với các tổ chức quốc tế và các

quốc gia, đặc biệt là với các quốc gia thành viên ASEAN khi quân y Việt

Các nhà trường, ĐVQY cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức

pháp luật về y tế gắn với y đức, chính sách y tế cho người thầy thuốc, bộ đội

và nhân dân. Đưa các chương trình này có học phần đầy đủ vào giảng dạy tại

các trường đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế và coi đó là môn học bắt

buộc. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức tổ chức và quản lý trong lĩnh vực y tế

cho cán bộ quản lý y tế các cấp, đồng thời tăng cường công tác pháp chế ở các

cơ quan, đơn vị quản lý về y tế, các cơ quan chuyên môn kỹ thuật y tế để các

đơn vị này đủ mạnh, đủ sức trong việc tự phòng ngừa các vi phạm pháp luật

Nam tham gia vào lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc.

131

về y tế, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong các hoạt động của ngành y tế, thực

hiện nghiêm chỉnh pháp luật về y tế.

Xử lý nghiêm minh đối với các vi phạm pháp luật về y tế

Hiện nay trong lĩnh vực y tế xuất hiện nhiều hành vi vi phạm mới, tính

chất mức độ ngày càng tăng và nguy hiểm. Có những hành vi vi phạm vô

nhân tính cố tình chối tội trong chuyên môn để trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Do đó việc xử phạt vi phạm pháp luật về y tế phải bảo đảm đúng người, đúng

tội, công bằng. Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện các hành vi vi phạm

pháp luật về y tế thì phải kịp thời xử lý nghiêm minh, tránh nể nang, xử phạt

nhẹ, xử phạt mang tính chất hình thức. Phải đảm bảo hành vi vi phạm tương

ứng với hình thức kỷ luật theo qui định của pháp luật. Khi xử lý kỷ luật phải

bảo đảm tính bình đẳng, công bằng. Bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử

phạt chính, xử phạt bổ sung, cần lưu ý áp dụng các hình thức xử phạt khác

như tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề có thời hạn hoặc vô thời hạn.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ huy ĐVQY phải chủ động xây dựng kế

hoạch ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm kỷ luật với các biện pháp hành

chính quân sự kết hợp với khen thưởng và chăm lo đời sống vật chất tinh thần

cho cán bộ nhân viên quân y ở đơn vị mình để họ an tâm công tác, làm tốt

nhiệm vụ được giao, kết hợp với xử lý nghiêm minh, công bằng, minh bạch,

Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quan tâm chăm lo đời sống, bảo đảm tốt các

chính sách đối với người TTQĐ

Quan tâm, chăm lo đời sống, bảo đảm tốt chính sách đối với TTQĐ là

một nội dung lớn, là vấn đề mang chiến lược về nguồn lực con người của

Đảng, Nhà nước, Quân đội. Nội dung này cần gắn liền công tác tư tưởng với

công tác tổ chức, tạo thành động lực trực tiếp tác động đến xây dựng đội ngũ

cán bộ nói chung, đội ngũ TTQĐ nói riêng. Do vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy

các cấp trong các đơn vị quân y và mọi người đều phải nhận rõ vai trò, phát

huy trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện.

công khai, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của mỗi người thầy thuốc.

132

Cần đảm bảo cho mọi người nắm vững và được hưởng đầy đủ các

quyền lợi, nghĩa vụ đặc thù. Đặc biệt là việc thực hiện tốt các chính sách cụ

thể về nhà ở, đất ở, vận dụng ưu tiên quân hàm, nâng lương, kéo dài tuổi phục

vụ tại ngũ... Mặt khác, cần động viên khuyến khích các ĐVQY, các TTQĐ

chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, tham gia lao động nghề nghiệp

theo đúng các quy định của pháp luật và kỷ luật quân đội. Quan tâm đúng

mức và có chính sách đãi ngộ xứng đáng với đội ngũ thầy thuốc công tác ở

miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Nâng cao

chất lượng đời sống và môi trường phát triển nghề nghiệp sẽ tạo nên động lực

phấn đấu, rèn luyện, PTYĐ cho người TTQĐ, là nền tảng vững chắc để người

TTQĐ có đời sống ổn định, từng bước được nâng cao, góp phần bồi dưỡng

PTYĐ cho người thầy thuốc để họ luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc

sức khoẻ cho thương binh, bệnh binh, bộ đội và nhân dân.

Thường xuyên chăm lo xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch,

lành mạnh ở các nhà trường, đơn vị quân y

Môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh càng có vai trò quan

trọng tác động mạnh mẽ đến quá trình PTYĐ của người TTQĐ. Để xây dựng

môi trường y đức trong sạch, lành mạnh, các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở các ĐVQY

cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm: Toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực

Làm cho hệ thống các giá trị, chuẩn mực y đức trở thành nhu cầu tất

yếu, là bộ phận cơ bản trong nhân cách người TTQĐ. Hệ thống giá trị, chuẩn

mực y đức là một thành tố cơ bản trong môi trường y đức, nó thấm sâu vào

các thành tố khác và chi phối, định hướng quá trình phát triển của chúng.

Những giá trị cao quí đó được các thế hệ thầy thuốc tiếp nhận và chuyển hoá,

trở thành phẩm chất y đức của người TTQĐ, là nền tảng trong đời sống tinh

thần đạo đức, là động lực mạnh mẽ thôi thúc các thế hệ thầy thuốc học tập,

phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành.

tiễn hoạt động nghề nghiệp, đồng thời cần làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:

133

Xây dựng các quan hệ y đức lành mạnh ở các ĐVQY. Trong hoạt động

thực tiễn và đời sống tình cảm, người thầy thuốc có rất nhiều các mối quan hệ

khác nhau, có vai trò, vị trí khác nhau. Giải quyết tốt các mối quan hệ này

theo đúng chuẩn mực đạo đức là góp phần quan trọng vào quá trình PTYĐ

cho họ. Môi trường thân thiện ở các ĐVQY tác động đến ý thức giữ gìn y đức

của người thầy thuốc, là nguồn cổ vũ động viên họ cống hiến sức lực, trí tuệ,

chăm sóc cứu chữa người bệnh, đóng góp sức mình trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ đất nước.

Tập thể quân y là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện y đức cho người thầy

thuốc, đồng thời cũng là nơi người thầy thuốc tham gia vào các quan hệ xã

hội để khẳng định trình độ PTYĐ ở mỗi người. Vì thế, xây dựng tập thể quân

y vững mạnh, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người thầy

thuốc là nội dung quan trọng trong xây dựng môi trường y đức. Tập thể quân

y vững mạnh, đời sống vật chất và tinh thần tốt có vai trò to lớn trong xây

dựng môi trường y đức và PTYĐ người thầy thuốc. Do vậy, phải đầu tư xây

dựng đồng bộ các yếu tố của hệ thống thiết chế đạo đức, văn hoá, phát huy

hiệu quả các phương tiện vật tư, môi trường cảnh quan đơn vị xanh, sạch,

đẹp, tổ chức hoạt động văn hoá tinh thần phong phú, xây dựng ĐVQY vững

mạnh toàn diện, đơn vị quân y 5 tốt, bệnh viện văn hoá, tạo môi trường gần

gũi thuận lợi cho sự phát triển y đức của người TTQĐ.

* Điều kiện thực hiện biện pháp

Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế cần có kế hoạch tổng thể và phải

nêu cụ thể việc đề xuất các dự án luật, pháp lệnh, đồng thời xắp xếp theo thứ tự

ưu tiên để Quốc hội xem xét thông qua. Khi xây dựng luật, pháp lệnh về y tế

phải rà soát những điều, khoản, điểm để Bộ Y tế phối hợp với các bộ, cơ quan

ngang bộ ban hành thông tư liên tịch; các đơn vị chủ trì soạn thảo phải khẩn

trương cùng lúc xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi

hành thống nhất, đồng bộ làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện.

134

Cần xây dựng các biện pháp về phổ biến, giáo dục pháp luật về y tế để

các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thống nhất và đạt hiệu quả; tăng

cường các giải pháp kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế, phải có kế

hoạch kiểm tra thường xuyên hàng năm, và đột xuất, cần xây dựng được bảng

kiểm trong quá trình tiến hành kiểm tra; xác định rõ chức năng thanh tra, kiểm

tra và giám sát của Nhà nước với hoạt động y tế.

Trong quá trình xử phạt đối với các vi phạm pháp luật về y tế được

nghiêm minh cần phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra và toà

án, xác định rõ cơ chế trách nhiệm và thẩm quyền, duy trì nghiêm chế độ báo

cáo tình hình xử lý kỷ luật để quản lý chặt chẽ hơn vấn đề này, phải hoàn

thiện hành lang pháp lý trong đó qui định rõ các chế tài xử phạt kèm theo.

Việc quan tâm chăm lo đời sống, bảo đảm tốt các chính sách đối với

người TTQĐ và xây dựng môi trường y đức ở các ĐVQY phải kết hợp đồng

bộ, thống nhất cấp trên, cấp dưới cùng làm, phát huy vai trò, trách nhiệm của

các cơ quan chức năng, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để người TTQĐ

yên tâm với nhiệm vụ phục vụ trong các ĐVQY.

Tóm lại, Các biện pháp được đề xuất trong luận án là những cách thức

tổ chức thực hiện của các chủ thể giáo dục và bản thân người TTQĐ, nhằm

mục tiêu chung là phát triển y đức của người TTQĐ đáp ứng với yêu cầu thực

dung và cách thức tiến hành khác nhau; nhưng giữa chúng có mối quan hệ tác

động lẫn nhau, bổ sung, tiền đề của nhau. Thực hiện tốt biện pháp này sẽ có

tác dụng thúc đẩy thực hiện tốt biện pháp kia và ngược lại. Với mục tiêu,

nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định và trong khuôn khổ của một luận án, các

biện pháp được đề xuất chỉ là những biện pháp cơ bản. Trong thực tiễn giáo

dục y đức cho người TTQĐ, cần vận dụng kết hợp các biện pháp và căn cứ

vào đối tượng cụ thể, hoàn cảnh điều kiện cụ thể để áp dụng linh hoạt các

biện pháp khác để mang lại hiệu quả giáo dục cao.

tiễn công tác quân y trong tình hình mới. Mỗi biện pháp có vị trí, vai trò, nội

135

Kết luận chương 3

Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình lâu dài, có nhiều khó

khăn, phức tạp, bị chi phối bởi những yếu tố chủ quan và khách quan, do vậy

cần phải huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục, của nhà

trường, học viện quân y, của các ĐVQY, của đội ngũ những người thầy thuốc.

Các biện pháp phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội phải phù

hợp với đặc thù hoạt động y tế quân đội, với đặc điểm của xã hội hiện đại, của

cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Trình độ PTYĐ của người TTQĐ là sản phẩm của sự tác động biện

chứng giữa môi trường với công tác giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, tự rèn

luyện y đức của người TTQĐ. Đồng thời sự phát triển đó còn được thông qua

chính hoạt động thực tiễn và gắn với lối sống văn hoá về y đức của người

TTQĐ. Bởi vậy, để PTYĐ của người TTQĐ hiện nay, cần phải có một hệ

thống biện pháp mang tính toàn diện và khoa học.

Trong đó, Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và

đạo đức cho người thầy thuốc quân đội; Tăng cường giáo dục y đức cách

mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học

để giảng dạy trong các nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY; Tích cực hóa

lành mạnh trong các ĐVQY và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật

về y tế và kỷ luật quân đội.

Để kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp PTYĐ

của người TTQĐ, tác giả luận án tiến hành thực nghiệm bước đầu một số biện

pháp được đề xuất, kết quả thực nghiệm được trình bày ở chương tiếp theo.

tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người TTQĐ; Xây dựng môi trường y đức

136

Chương 4

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm

4.1.1. Mục đích thực nghiệm

Nhằm kiểm định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính khả thi của

các biện pháp đã đề xuất là: y đức của người TTQĐ được hình thành và phát

triển thông qua tổ chức các hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện trong thời

gian người thầy thuốc đang được đào tạo BSNT tại Học viện Quân y.

4.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm

Tổ chức các tác động sư phạm: Thông qua quá trình bồi dưỡng và tổ

chức hoạt động giáo dục, rèn luyện cho các đối tượng TN để rút ra kết luận

khả thi của việc sử dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

4.1.3. Giả thuyết thực nghiệm

Nếu thực hiện có hiệu quả các tác động sư phạm một cách có chủ định,

có chương trình, kế hoạch chặt chẽ với nội dung được lựa chọn theo từng chủ

đề cụ thể, sử dụng hợp lý các phương pháp, thông qua các hoạt động giáo dục,

tự giáo dục để rèn luyện y đức của người thầy thuốc, thì ý thức y đức, thái độ

y đức và hành vi y đức sẽ được phát triển, hoàn thiện, góp phần hình thành,

phát triển những phẩm chất đạo đức y nghiệp cần thiết của người TTQĐ trong

hoạt động thực tiễn khám chữa bệnh.

4.1.4. Địa bàn thực nghiệm và thời gian thực nghiệm

- Thời gian TN tiến hành từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014.

- Địa bàn thực nghiệm: TN tiến hành tại Bệnh viện 103, Học viện Quân y.

4.1.5. Nội dung thực nghiệm

Chúng tôi lựa chọn nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức cho BSNT

trong các biện pháp là: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng

Hồ Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong

các nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY. Đây là hai biện pháp vừa đảm bảo

được chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức và vừa tổ chức giáo

137

dục, rèn luyện phát triển y đức cách mạng cho người TTQĐ từ khi học nghề ở

nhà trường và trong quá trình hành nghề y ở các ĐVQY; phù hợp với đối

tượng và điều kiện thực nghiệm của luận án.

4.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

4.2.1. Lực lượng tham gia thực nghiệm

- Tổ chức nhóm TN và ĐC: chúng tôi tổ chức thành 2 nhóm: 01 nhóm

TN và 01 nhóm ĐC tại bệnh viện 103, Học viện Quân y. Nhóm TN có 28

BSNT (Lớp A) và nhóm ĐC có 29 BSNT (lớp B), khoá 13. Đây là những bác

sĩ vừa tốt nghiệp ra trường được tuyển chọn đào tạo BSNT tại bệnh viện, là

một phương thức đào tạo những chuyên gia giỏi, nhân tài trẻ của ngành y tế.

Họ thường trú tại bệnh viện trong thời gian 3 năm tiếp tục học tập, thực hành

khám chữa bệnh. Khi ra trường BSNT có kiến thức y học vững, kỹ năng thực

hành cao, giải quyết thành thạo những vấn đề chuyên môn cơ bản, được công

tác ở các bệnh viện lớn, tuyến cuối của quân đội và ngành y tế.

- Các lực lượng tham gia TN sư phạm: để thực hiện nhiệm vụ TN khoa

học, chúng tôi huy động sự tham gia của nhiều bộ phận gồm: BV103 có sự

tham gia của Ban giáo vụ, cơ quan chính trị, các khoa có BSNT; Học viện

Quân y có sự tham gia của Ban Thanh niên, Phòng Chính trị, Phòng Đào tạo,

Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Bộ môn Triết học, Hệ Sau đại học.

tương đồng về trình độ đầu vào, về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y

đức. Các nhóm TN và ĐC ở cùng một khóa để hạn chế và loại trừ những tác

động trong quá trình TN sư phạm.

- Yêu cầu đối với các nhóm TN và ĐC: xấp xỉ về số lượng và giới tính;

4.2.2. Thời gian và các biện pháp được thực nghiệm sư phạm

- Tháng 8/2013: chúng tôi phân đối tượng thực nghiệm thành nhóm

TN và nhóm ĐC, tiến hành khảo sát các nhóm này về ý thức y đức, thái độ y

đức và hành vi y đức.

138

- Tháng 9/2013: chúng tôi lựa chọn lực lượng giáo dục tham gia, giúp

đỡ, hỗ trợ quá trình TN sư phạm. Cụ thể: một số giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn, cán bộ phòng đào tạo, cán bộ cơ quan chính trị của bệnh viện.

Chúng tôi bồi dưỡng cho các lực lượng cộng tác viên về kiến thức về mục

đích, nội dung và phương thức TN sư phạm. Bồi dưỡng cho họ cách thức thực

hiện từng biện pháp tác động, cách sử dụng phối hợp các biện pháp với nhau

và cách đánh giá kết quả tác động của các biện pháp TN sư phạm.

- Tháng 12/2013: bắt đầu tiến hành các tác động TN bằng cách sử dụng

một số biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã đề xuất. Tiến hành quan sát, khảo

sát để đo sự biến đổi về nhận thức, thái độ, hành vi của các BSNT trong thời

gian 6 tháng diễn ra TN và để tiến hành biện pháp thực nghiệm tiếp theo.

- Từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2014: chúng tôi bắt đầu sử dụng một số

biện pháp chủ yếu: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ

Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các

nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY.

- Tháng 7/2014: chúng tôi tổ chức hoạt động của Đoàn, Hội; tổ chức cho

họ tham gia các phong trào “Sinh viên tình nguyện”, “Hiến máu nhân đạo” và

các hoạt động về nguồn (khám chữa bệnh cho gia đình thương binh, liệt sỹ và

- Tháng 8 đến tháng 9/2014: Tổng kết quá trình TN.

gia đình có công với cách mạng) để quan sát hành vi của đối tượng TN.

4.2.3. Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ và giả thuyết TN, chúng tôi xác định

đánh giá sự phát triển y đức của BSNT thông qua 3 tiêu chí cơ bản.

- Tiêu chí 1, đánh giá sự phát triển ý thức y đức của BSNT gồm các chỉ

số cơ bản: một là, nhận thức y đức; hai là, tình cảm y đức; ba là, niềm tin y

đức; bốn là, ý chí y đức của BSNT. Đánh giá sự phát triển ý thức y đức của

139

BSNT theo các mức như sau: mức giỏi: điểm từ 9 - 10; mức khá: điểm từ 7 <

9; mức trung bình: điểm từ 5 < 7; mức yếu: điểm từ 1 < 5.

Bảng 4.1: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức

Các nội dung cụ thể

Mức đánh giá

Điểm đánh giá

Một là, nhận thức y đức của người thầy thuốc

Có những hiểu biết sâu sắc về vị trí, vai trò, ý nghĩa của y

đức; lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của Hải

Giỏi

9 ÷ 10

thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế;

nắm chắc 12 điều quy định về y đức.

Có hiểu biết đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; hiểu

đầy đủ về lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của

Khá

7 ÷ < 9

Hải thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y

tế; nắm khá tốt 12 điều quy định về y đức.

Hiểu biết được vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; lời thề

Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của Hải thượng Lãn

Trung

5 ÷ < 7

ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế; nắm được 12

bình

điều quy định về y đức.

Hiểu biết chưa đầy đủ vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; hiểu

chưa rõ về lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của

Yếu

1 ÷ < 5

Hải thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế;

nắm chưa đầy đủ 12 điều quy định về y đức.

Hai là, tình cảm y đức của người thầy thuốc

Hết lòng yêu thương người bệnh, tinh thần trách nhiệm cao

với công việc, say mê y nghiệp; tích cực trau dồi tri thức

Giỏi

9 ÷ 10

chuyên môn, nâng cao tay nghề.

Có tấm lòng yêu thương NB, tinh thần trách nhiệm với công việc,

Khá

7 ÷ < 9

say mê y nghiệp; trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề.

Lòng yêu thương NB có chừng mực, tinh thần trách nhiệm với

Trung

công việc chưa cao, chưa thực say mê y nghiệp; chưa thường

5 ÷ < 7

bình

xuyên trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề.

140

Chưa thương NB, tinh thần trách nhiệm với công việc hạn

chế, chưa say mê y nghiệp, chưa trau dồi tri thức chuyên

Yếu

1 ÷ < 5

môn, nâng cao tay nghề.

Ba là, niềm tin y đức của người thầy thuốc

Luôn có lý tưởng y đức cao của người thầy thuốc cách mạng, thực

sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm; rất tích cực tham gia các

Giỏi

9 ÷ 10

hoạt động chuyên môn, kiên định yên tâm phục vụ quân đội.

Có lý tưởng y đức cao của người thầy thuốc cách mạng, yêu

Khá

thích công việc mình đảm nhiệm; tích cực khi tham gia các hoạt

7 ÷ < 9

động chuyên môn, yên tâm phục vụ quân đội.

Lý tưởng y đức của người thầy thuốc cách mạng chưa cao,

chưa thực sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm; chưa

Trung

5 ÷ < 7

thực tích cực khi tham gia các hoạt động chuyên môn, chưa

bình

yên tâm phục vụ quân đội.

Lý tưởng y đức chưa rõ ràng, không yêu thích công việc

mình đảm nhiệm; hạn chế khi tham gia các hoạt động

Yếu

1 ÷ < 5

chuyên môn, thiếu yên tâm phục vụ quân đội.

Bốn là, ý chí y đức của người thầy thuốc

Luôn đặt ra cho mình mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn

trở ngại để hoàn thành tốt nhiệm vụ; có thái độ nghiêm túc

Giỏi

9 ÷ 10

trong KCB; tính kỷ luật và phẩm chất ý chí cao.

Đặt ra mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn trở ngại hoàn

thành nhiệm vụ; có thái độ trong KCB; tính kỷ luật và

Khá

7 ÷ < 9

phẩm chất ý chí khá cao.

Chưa thường xuyên đặt ra cho mình mục đích vươn tới, chưa

Trung

vượt qua khó khăn trở ngại; chưa có thái độ thực nghiêm túc

5 ÷ < 7

bình

trong KCB; tính kỷ luật, phẩm chất ý chí chưa cao.

Không đặt ra cho mình mục đích vươn tới, không vượt qua

khó khăn trở ngại; có thái độ thiếu nghiêm túc trong KCB;

Yếu

1 ÷ < 5

tính kỷ luật và phẩm chất ý chí kém trong hoạt động y nghiệp.

141

Tiêu chí 2, đánh giá sự phát triển thái độ y đức của BSNT gồm các chỉ

số cơ bản: một là, thái độ với người bệnh; hai là, thái độ với đồng nghiệp và

với bậc thầy; ba là, thái độ với xã hội, cộng đồng; bốn là, thái độ với công

việc và với bản thân mình. Đánh giá và cho điểm sự phát triển thái độ y đức

của BSNT theo các mức: rất tích cực (giỏi): điểm từ 9 - 10; tích cực (khá):

điểm từ 7 < 9; bình thường (TB): điểm từ 5 < 7; yếu: điểm 1 < 5.

Bảng 4.2: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức Điểm

Mức

Các nội dung cụ thể

đánh giá

đánh giá

Một là, thái độ với người bệnh

Luôn tôn trọng, cảm thông sâu sắc với NB; có tinh thần trách

nhiệm cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa NB; không phân biệt đối

Giỏi

xử trong KCB; không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho NB

Tôn trọng, cảm thông với người bệnh; có tinh thần trách

nhiệm khá cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa người bệnh;

9 ÷ 10

Khá

không phân biệt đối xử trong khám và điều trị; không có

thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh

Chưa thực tôn trọng, cảm thông với người bệnh; chưa có tinh

thần trách nhiệm cao, chưa tận tình chăm sóc, cứu chữa

7 ÷ < 9

Trung

5 ÷ < 7

bình

người bệnh; còn phân biệt đối xử trong khám và điều trị; còn

có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh

Thiếu tôn trọng, cảm thông với người bệnh; tinh thần trách

nhiệm kém trong chăm sóc, cứu chữa người bệnh; biểu hiện rõ

Yếu

1 ÷ < 5

việc phân biệt đối xử trong khám và điều trị; tỏ rõ thái độ phải

ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh

Hai là, thái độ với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)

Luôn có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và yêu

thương giúp đỡ lẫn nhau rất tốt; sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm

Giỏi

cho đồng nghiệp; luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy.

9 ÷ 10

142

Có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và yêu

thương giúp đỡ lẫn nhau tốt; có tinh thần truyền thụ kinh nghiệm

Khá

cho đồng nghiệp; có thái độ kính trọng các bậc thầy.

Chưa thực có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và

7 ÷ < 9

Trung

yêu thương giúp đỡ lẫn nhau; hạn chế trao đổi kinh nghiệm cho

5 ÷ < 7

bình

đồng nghiệp; chưa tỏ rõ thái độ kính trọng các bậc thầy.

Hạn chế trong lối sống, thiếu hợp tác vì mục đích chung,

thiếu tôn trọng trong chuyên môn; thiếu nhiệt tình truyền

Yếu

thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp; trong quan hệ với các bậc

thầy biểu hiện lối sống thực dụng.

1 ÷ < 5

Ba là, thái độ với xã hội, cộng đồng

Có quan hệ tích cực, lành mạnh với các đơn vị, với xã hội, cộng

đồng; tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng,

Giỏi

hỗ trợ tuyến dưới; tích cực KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.

Có quan hệ thường xuyên, lành mạnh với các đơn vị, với xã

hội, cộng đồng; khá tích cực tham gia tuyên truyền GD sức

9 ÷ 10

Khá

khoẻ cộng đồng, hỗ trợ tuyến dưới; thường xuyên tham KCB

bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo.

Có quan hệ bình thường với các đơn vị, với xã hội, cộng đồng;

7 ÷ < 9

Trung

chưa tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng, hỗ

5 ÷ < 7

bình

trợ tuyến dưới; ít tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.

Có quan hệ chưa tốt với các đơn vị, với xã hội, cộng đồng;

hạn chế tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng, hỗ trợ tuyến

Yếu

1 ÷ < 5

dưới; chưa tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.

Bốn là, thái độ với công việc; với chính bản thân người thầy thuốc

Luôn say mê công việc, tinh thần trách nhiệm cao, tuân thủ tốt

chuyên môn y học và pháp luật; khiêm tốn, nghiêm túc trong

Giỏi

9 ÷ 10

KCB, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, giữ gìn

phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề rất tốt.

143

Say mê công việc, tinh thần trách nhiệm khá cao, tuân thủ khá

tốt chuyên môn y học và pháp luật; khiêm tốn, nghiêm túc

Khá

trong KCB, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, giữ

gìn phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề khá tốt.

Chưa thật say mê công việc, tinh thần trách nhiệm chưa cao, tuân

thủ chưa tốt chuyên môn y học và pháp luật; chưa khiêm tốn,

7 ÷ < 9

Trung

nghiêm túc trong KCB, chưa tích cực học tập nâng cao trình độ,

5 ÷ < 7

bình

năng lực, phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề chưa tốt.

Không say mê công việc, tinh thần trách nhiệm kém, không

tuân thủ chuyên môn y học và pháp luật; không khiêm tốn,

Yếu

nghiêm túc trong KCB, không tích cực học tập nâng cao trình

độ, năng lực, phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề kém.

1 ÷ < 5

- Tiêu chí 3, đánh giá sự phát triển hành vi y đức của BSNT gồm: một là,

hành vi đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân; hai là,

hành vi trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật; ba là, hành vi

trong giao tiếp ứng xử; bốn là, hành vi về lương tâm và trách nhiệm trong học

tập, công tác và điều trị. Đánh giá mức độ biểu hiện sự phát triển hành vi y đức

chúng tôi căn cứ vào từng tần suất, mức độ biểu hiện sự phát triển hành vi y

đức để đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức của BSNT. Cụ thể: hành vi

biểu hiện rất tích cực (giỏi): điểm từ 9 - 10; hành vi tích cực (khá): điểm từ 7 <

9; hành vi bình thường (TB): điểm từ 5 < 7; hành vi yếu (yếu): điểm từ 1 < 5.

Bảng 4.3: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về hành vi y đức

Mức

Điểm

Các nội dung cụ thể

đánh giá

đánh giá

Một là, hành vi đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân

Chủ động tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực;

luôn học hỏi, cầu tiến bộ, cố gắng cao để hoàn thành nhiệm

Giỏi

9 ÷ 10

vụ; luôn đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, kiên quyết

đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.

144

Có nhiều cố gắng trong học tập nâng cao trình độ, năng lực;

khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ

Khá

7 ÷ < 9

được giao; đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, thường xuyên

đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.

Chưa tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực; chưa

khiêm tốn học hỏi, chưa hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao;

Trung

5 ÷ < 7

chưa đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, chưa kiên quyết

bình

đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.

Hạn chế học tập nâng cao trình độ, năng lực; tự kiêu, tự

đại, hoàn thành thấp trong thực hiện nhiệm vụ; luôn đặt lợi

Yếu

1 ÷ < 5

ích bản thân cao hơn lợi ích BN, không kiên quyết đấu

tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.

Hai là, hành vi trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật

Chấp hành nghiêm pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui, qui

định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn đoán, xử

Giỏi

9 ÷ 10

lý kịp thời trách nhiệm cao trong điều trị.

Chấp hành khá tốt pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui,

qui định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn

Khá

7 ÷ < 9

đoán, xử lý kịp thời trách nhiệm trong điều trị.

Chấp hành chưa nghiêm pháp luật, qui chế chuyên môn, nội

Trung

qui, qui định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn

5 ÷ < 7

bình

đoán, xử lý chưa kịp thời trách nhiệm chưa cao trong điều trị.

Chưa chấp hành pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui, qui

định của đơn vị; sử dụng thuốc chưa hợp lý, an toàn, chẩn

Yếu

1 ÷ < 5

đoán, xử lý thiếu kịp thời trách nhiệm kém trong điều trị.

Ba là, hành vi trong giao tiếp, ứng xử

Chủ động, tuân thủ tốt các chuẩn mực khi giao tiếp; bảo

đảm tốt tính nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí,

Giỏi

đồng cảm và tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành

9 ÷ 10

động thận trọng, nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chững

chạc, lịch sự, tế nhị, trang phục gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.

145

Thường xuyên tuân thủ các chuẩn mực khi giao tiếp; bảo đảm

tính nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí, đồng cảm và

tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành động thận trọng,

Khá

7 ÷ < 9

nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chững chạc, lịch sự, tế nhị,

trang phục gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.

Chưa chủ động giao tiếp ứng xử, chưa bảo đảm được tính

nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí, đồng cảm và tính

Trung

liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành động chưa thận trọng,

5 ÷ < 7

bình

nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chưa được chững chạc, lịch

sự, tế nhị, trang phục chưa gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.

Trong giao tiếp ứng xử kém, thiếu tính nhân đạo, không

tôn trọng nhân cách, không thiện chí, không đồng cảm và

tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp kém; hành động không

Yếu

1 ÷ < 5

thận trọng, không nghiêm túc, không mẫu mực; tác phong

cẩu thả, không lịch sự, tế nhị, trang phục không gọn gàng

sạch sẽ nơi KCB.

Bốn là, hành vi về lương tâm, trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị

Có lương tâm y nghiệp trong sáng, tích cực cố gắng trong

học tập, công tác; luôn chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực

Giỏi

9 ÷ 10

KCB; tự nguyện, xung phong đi công tác ở những nơi xa

xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ nhất.

Có lương tâm y nghiệp trong sáng, cố gắng học tập, công tác;

chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực KCB; khi cần sẽ đi công

Khá

7 ÷ < 9

tác ở những nơi xa xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.

Lương tâm y nghiệp chưa thực trong sáng, chưa tích cực cố

gắng trong học tập, công tác; chưa chịu khó, chịu khổ, tận

Trung

5 ÷ < 7

tâm, tận lực KCB; còn do dự đi công tác ở những nơi xa

bình

xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.

Lương tâm y nghiệp hạn chế, thiếu tích cực trong học tập,

công tác; không chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực KCB; từ

Yếu

1 ÷ < 5

chối đi công tác ở nơi xa, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.

146

4.2.4. Các phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm

- Tính tỷ lệ % các phương án trả lời;

- Tính ĐTB mẫu: đây là một tham số đặc trưng cho sự tập trung của số

x

ix

1  . n

liệu trong mẫu đo:

Trong đó: x : trung bình mẫu

n: là số BSNT tham gia làm TN

xi: là giá trị của x tại thời điểm i

- ĐLC: phản ánh sự sai lệch hay độ dao động, phân tán của số liệu xung

S

quanh giá trị trung bình mẫu. ĐLC:

  rxx  .2   i i n 1

Trong đó: x : trung bình mẫu

n: là số BSNT tham gia làm TN

xi: là giá trị của x tại thời điểm i

ri: là tầm số của giá trị i

4.2.5. So sánh sự khác biệt giữa kết quả của các nhóm TN và ĐC

- Phép thử T-Student giúp chúng tôi tìm ra sự khác biệt về kết quả giữa

PTYĐ của người TTQĐ hiện nay đã áp dụng:

x

x

1

2

T

s

s

2 1 

N

1

N

2 2 

1

1

1

Trong đó: 1x : là trung bình mẫu của nhóm 1

2x : là trung bình mẫu của nhóm 2

N1: Số lượng của nhóm 1

N2: Số lượng của nhóm 2

các nhóm TN và ĐC, nhằm chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp

147

S1: ĐLC của nhóm 1 S2: ĐLC của nhóm 2

- Tìm sự tương quan giữa các biến số tham gia vào TN: việc tính toán

sự tương quan giữa các biến số có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng tôi phát

hiện sự tương quan, biến đổi giữa ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y

đức của người BSNT khi áp dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ.

N

XY

Y

r

2

2

2

2

X

X

Y

Y

 

Công thức:

 N

  

  X .    N . .

 

 . r: hệ số tương quan

Nếu r  0: các biến cố không có mối tương quan

Nếu r > 0: có mối tương quan

Nếu r = 1: tương quan chặt chẽ, tuyệt đối

4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

Chúng tôi tiến hành đánh giá kết quả TN theo trình tự sau:

+ Kết quả đầu vào của các nhóm TN và ĐC

+ Kết quả TN lần 1: tháng 2/2014

+ Kết quả TN lần 2: tháng 4/2014

+ Kết quả TN lần 3: tháng 6/2014

4.3.1. Đánh giá đầu vào

- Kiểm tra đầu vào về ý thức y đức

Bước này có ý nghĩa quan trọng vì kết quả của nó cho ta thấy trình độ

ban đầu của BSNT ở 2 nhóm TN và ĐC có tương đương hay không? Để tiến

hành TN khoa học, chúng tôi soạn thảo một hệ thống gồm 36 câu hỏi nhận

thức và quy ra thang điểm 10. Xếp loại như sau: Loại giỏi: 9-10 điểm; Loại

khá: 7-8 điểm; Loại trung bình: 5-6 điểm; Loại yếu: < 5 điểm.

148

Kết quả đánh giá đầu vào về ý thức y đức được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đầu vào về ý thức y đức

Nhóm

Loại

Điểm

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

0 8 7 6 5 5 4

(cid:0) ± SD (min-max)

Nhóm TN (n=28) 0 5 (17.9%) 6 (21.4%) 13 (46.4%) 4 (14.3%) 0 0 6.43 ± 0.96 (5 - 8)

Nhóm ĐC (n=29) 0 7 (24.1%) 12 (41.4%) 4 (13.8%) 6 (20.7%) 0 0 6.69 ± 1.07 (5 - 8)

p-values

p=0.3376*

Kết quả bảng trên cho thấy:

+ BSNT đã có ý thức y đức nhất định, mức độ này là trung bình;

+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với p=0.3376 (6.43% so với 6.69%).

- Kiểm tra đầu vào về thái độ y đức

Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra đầu vào về thái độ y đức

Nhóm

Nhóm TN (n=28)

Nhóm ĐC (n=29)

Loại

Điểm

Giỏi

0

0

9

5 (17.9%)

3 (10.3%)

8

Khá

4 (14.3%)

8 (27.6%)

7

15 (53.6%)

11 (37.9%)

6

Trung bình

4 (14.3%)

7 (24.1%)

5

0

0

5

Yếu

0

0

4

6.35 ± 0.95

6.24 ± 0.95

(cid:0) ± SD (min-max)

(5 - 8)

(5 - 8)

p=0.6477*

p-values Kết quả bảng trên cho thấy:

+ ĐTB về thái độ y đức ở mức trung bình;

+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với p=0.6477 (6.35% so với 6.24%).

149

- Kiểm tra đầu vào về hành vi y đức

Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra đầu vào về hành vi y đức

Nhóm

Loại

Điểm

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

9 8 7 6 5 5 4

(cid:0) ± SD (min-max)

Nhóm TN (n=28) 0 5 (17.9%) 3 (10.7%) 11 (39.3%) 7 (25.0%) 2 (7.1%) 0 6.07 ± 1.18 (4 - 8)

Nhóm ĐC (n=29) 0 3 (10.3%) 8 (27.6%) 10 (34.5%) 6 (20.7%) 2 (6.9%) 0 6.13 ± 1.09 (4 - 8)

p-values

p=0.8263*

Kết quả bảng trên cho thấy:

+ ĐTB về hành vi y đức ở mức trung bình;

+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với p=0.8263 (6.07% so với 6.13%).

4.3.2. Đánh giá kết quả TN giai đoạn 1 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức ở giai đoạn 1

Bảng 4.7: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1

C¸c tham sè vµ xÕp lo¹i

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (sè b¸c sÜ néi tró) min (®iÓm thÊp nhÊt) max (®iÓm cao nhÊt) X: trung b×nh céng S: ®é lÖch chuÈn CV: HÖ sè biÕn thiªn Lo¹i giái (%) Kh¸ (%) Trung b×nh (%) Yếu (%)

Nhãm TN 28 6 10 7.36 1.16 0.16 10.71 60.7 28.6 0

Nhãm §C 29 7 9 6.97 1.01 0.15 6.9 48.3 44.8 0

Kết quả bảng trên cho thấy:

- Có sự chênh lệch giữa TN và ĐC: Điểm cao nhất của nhóm TN là 10

trong khi đó ĐC là 9; ĐTB cộng của nhóm TN là 7.36% trong khi đó ĐC là

6.97% sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê với p=0.181(T-student test);

150

Loại giỏi và trung bình của nhóm TN cao hơn đối với ĐC; Loại Khá, của nhóm

TN thấp hơn ĐC; Cả 2 nhóm đều không có trường hợp nào nhận thức yếu.

- Tuy nhiên, kết quả khảo sát lần một của BSNT có tiến bộ, cao hơn so

với đầu vào các thông số của nhóm TN đều tốt hơn nhóm ĐC. Điều này chứng

tỏ tính hiệu quả bước đầu của các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã TN.

- Chúng tôi biểu đạt kết quả về ý thức y đức của BSNT ở nhóm TN và

ĐC sau TN giai đoạn 1 trên biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 1)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

60.7

48.3

44.8

28.6

10.7

6.9

0

0

70 60 50 40 30 20 10 0

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4.1: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 1

- Đánh giá kết quả về thái độ y đức ở giai đoạn 1

Bảng 4.8: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu

Nhóm TN 28 6 9 6.96 1.14 0.16 17.9 35.7 46.4 0

Nhóm ĐC 29 5 9 6.86 1.06 0.15 10.4 51.7 37.9 0

Kết quả bảng trên cho thấy: Sau TN giai đoạn 1, 100% BSNT của 2 nhóm

đều đạt từ mức độ trung bình trở lên (Điểm min là 5). Tức là, thái độ y đức của

BSNT dần dần phù hợp với yêu cầu xã hội và đạo đức y nghiệp; ĐTB cộng của

151

nhóm TN cao hơn (6.96% so với 6.86%), sự khác biệt là không có ý nghĩa thống

kê với p=0.727 (T-student test). Tức là, thái độ y đức của nhóm TN tích cực hơn

nhóm ĐC; Số BSNT được xếp loại rất tích cực và tích cực của nhóm TN cao

hơn nhóm ĐC; ĐLC và hệ số biến thiên của nhóm TN nhỏ hơn nhóm ĐC do đó

kết quả của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC. Như vậy, các biện pháp PTYĐ của

người TTQĐ mà chúng tôi đưa ra và TN đã bước đầu mang lại hiệu quả, đã nâng

cao thái độ y đức của người TTQĐ trong hoạt động y nghiệp.

Để biểu diễn kết quả, chúng tôi sử dụng biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % thái độ y đức giai đoạn 1)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

51.7

46.4

60

35.7

50

37.9

40

30

10.9

10.4

20

10

0

0

0

Rất tích cực

Tích cực

Bình thường

Yếu

Biểu đồ 4.2: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1

- Đánh giá kết quả về hành vi y đức ở giai đoạn 1.

Bảng 4.9: Các tham số về hành vi của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu

Nhóm TN 28 4 9 6.54 1.26 0.21 10.7 39.3 42.9 7.1

Nhóm ĐC 29 4 9 6.07 1.36 0.22 3.5 27.6 58.6 10.3

Kết quả bảng trên cho thấy: Cả hai nhóm TN và ĐC vẫn còn những

BSNT có hành vi biểu hiện ở mức độ yếu (điểm min: 4); Nhóm TN đã xuất

152

hiện BSNT có hành vi biểu hiện ở mức tốt (10.7%) trong khi nhóm ĐC chỉ có

3.5%; ĐTB cộng của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC (6.54% và 6.07%) sự khác

biệt là không có ý nghĩa thống kê với p=0.0185 (T-student test); Nhóm TN: số

BSNT có hành vi biểu hiện ở mức khá cao hơn nhóm ĐC (39.3% so với

27.6%); Nhóm TN: Số BSNT có hành vi biểu hiện ở mức độ trung bình ít hơn

nhóm ĐC (42.9% so với 58.6%). Như vậy, việc TN những biện pháp PTYĐ

của người TTQĐ bước đầu đã mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, so với mặt ý

thức y đức và thái độ y đức thì sự tiến bộ về những hành vi y đức có chậm

hơn (vẫn còn có loại yếu, loại giỏi và khá thấp hơn).

Chúng tôi biểu diễn kết quả TN giai đoạn 1 về hành vi ở biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 1)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

58.6

60

42.9

39.3

50

40

27.6

30

10.7

10.3

20

7.1

3.5

10

0

Rất tích cực

Tích cực

Bình thường

Yếu

Biểu đồ 4.3: Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1

Kết thúc giai đoạn TN 1, chúng tôi nhận thấy các mặt về ý thức y đức,

nhanh hơn khá nhiều so với nhóm ĐC. Trong đó, thái độ y đức của BSNT

thay đổi theo chiều hướng tích cực là tiến bộ nhanh nhất (thể hiện ở các

tham số), còn hành vi y đức tiến bộ chậm nhất. Những kết quả TN rất phù

hợp với nghiên cứu lý luận và chứng tỏ các biện pháp đưa ra TN đã đạt hiệu

quả rõ rệt.

Sau giai đoạn 1, chúng tôi cùng với các lực lượng giáo dục đã tham gia

TN tổ chức rút kinh nghiệm và thống nhất kết quả TN giai đoạn 2.

thái độ y đức và hành vi y đức trong nhóm TN tiến bộ rõ rệt và phát triển

153

4.3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm giai đoạn 2 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức ở giai đoạn 2

Bảng 4.10: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)

Nhóm TN 28 6 10 7.71 1.189 0.15 14.4 71.4 14.3 0

Nhóm ĐC 29 5 9 7.14 0.99 0.14 6.9 72.4 20.7 0

Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Điểm min của 2 nhóm TN

(6) và ĐC (5), chứng tỏ không còn BSNT nào trong 2 nhóm có ý thức y đức xếp

loại yếu; ĐTB của 2 nhóm TN và ĐC đều tăng so với TN giai đoạn 1. Tuy nhiên,

ĐTB của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC (7.71% so với 7.14%) có ý nghĩa thống kê

với p=0.051 (T-student test); Điều này có nghĩa là biện pháp PTYĐ của người

TTQĐ có hiệu quả; Tỷ lệ BSNT ở mức cao Giỏi và Khá của nhóm TN cao hơn

nhóm ĐC (85.7% so với 79.3%). Trong khi đó, nhóm ĐC lại có mức độ về ý thức

y đức trung bình cao hơn nhóm TN (20.7% so với 14.3%). Từ các số liệu trên

chúng tôi tính được hệ số đánh giá trình độ kiến thức k2 = 1.23 > 1, chứng tỏ tính

vững chắc của ý thức y đức nhờ các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

Kết quả về ý thức y đức của BSNT sau lần TN thứ 2 thể hiện qua biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 2)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

72.4

71.4

80

60

40

14.3

20.7

14.3

6.9

20

0

0

0

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4.4: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2

154

- Đánh giá kết quả thái độ y đức ở giai đoạn 2

Bảng 4.11: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu (%)

Nhóm TN 28 6 9 7.39 1.07 0.144 14.3 6 25.0 0

Nhóm ĐC 29 5 9 6.65 1.01 0.152 6.9 48.3 44.8 0

Phân tích bảng trên, chúng tôi nhận thấy: ĐTB của nhóm TN và ĐC đã

tăng cao hơn so với giai đoạn 1. Tuy nhiên, nhóm TN vẫn có ĐTB cao hơn

nhóm ĐC (7.39% so với 6.65%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với

p=0.0096 (T-student test); Nhóm TN có tỷ lệ BSNT có thái độ y đức rất tích

cực và tích cực cao hơn nhiều so với nhóm ĐC (14.3% so với 6.9% và 60.7%

so với 48.3%). Sự khác biệt này ngày càng lớn so với TN giai đoạn 1.

Như vậy, việc TN các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ ở giai đoạn 2

đã tạo nên sự khác biệt khá lớn giữa 2 nhóm TN và ĐC.

Chúng tôi biểu diễn kết quả về thái độ y đức của người TTQĐ ở giai

đoạn 2 trên biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % thái độ y đức giai đoạn 2)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

60.7

48.3

44.8

25

14.3

6.9

0

0

70 60 50 40 30 20 10 0

Rất tích cực

Tích cực

Bình thường

Yếu

Biểu đồ 4.5: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 2

155

- Đánh giá kết quả hành vi y đức ở giai đoạn 2

Bảng 4.12: Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2

Các tham số và xếp loại

Nhóm TN 28

Nhóm ĐC 29

TT 1

n (số BSNT)

2

min (điểm thấp nhất)

5

5

3

max (điểm cao nhất)

10

9

4

X: trung bình cộng

6.96

6.31

5

S: ĐLC

1.32

1.14

6

CV: Hệ số biến thiên (%)

0.19

0.18

7

Loại giỏi (%)

17.9

3.4

8

Khá (%)

46.4

34.5

9

Trung bình (%)

35.7

62.1

10

Yếu (%)

0

0

Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Trong cả 2 nhóm đã

không còn BSNT có biểu hiện yếu về hành vi y đức; ĐTB của cả nhóm TN và

nhóm ĐC đều tăng hơn so với lần TN trước và ĐTB của nhóm TN cao hơn ĐC

(6.96% so với 6.31%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.046 (T-student

test). Tỷ lệ BSNT ở mức giỏi và khá của nhóm TN đều cao hơn khá nhiều so với

nhóm ĐC (17.9% so với 3.4% và 46.4% so với 34.5%). Tỷ lệ BSNT ở mức trung

bình của nhóm TN thấp hơn nhóm ĐC (35.7% so với 62.1%).

Kết quả TN lần 2 về hành vi y đức được biểu diễn trên biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 2)

Nhóm TN

Nhóm ĐC

62.1

46.4

34.5

35.7

17.9

3.4

0

0

70 60 50 40 30 20 10 0

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4.6: Kết quả hành vi y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 2

156

4.3.4. Đánh giá kết quả TN giai đoạn 3 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức giai đoạn 3

Việc đánh giá về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức ở giai đoạn 3 được tiến hành sau khi kết thúc phần TN sư phạm. Chính vì vậy sẽ có

rất nhiều thay đổi về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của BSNT.

Kết quả về ý thức y đức của BSNT ở giai đoạn này được tổng hợp trên bảng sau:

Bảng 4.13: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)

Nhóm TN 28 6 10 7.68 1.33 17.9 67.9 14.3 0

Nhóm ĐC 29 5 9 7.31 1.42 10.3 72.4 17.2 0

Phân tích kết quả bảng trên cho thấy: ĐTB của cả nhóm TN và nhóm ĐC đã tăng nhanh và nhiều so với TN giai đoạn 2. ĐTB của nhóm TN cao hơn so

với nhóm ĐC (7.68% so với 7.31%) sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với

p=0.183; Tỷ lệ BSNT có ý thức y đức tốt của nhóm TN cao hơn rất nhiều so với

nhóm ĐC (17.9% so với 10.3%). Tỷ lệ BSNT có ý thức y đức trung bình trong

nhóm TN thấp hơn so với nhóm ĐC (14.3% so với 17.2%). Với các tham số trên chúng tôi tính được Q (hệ số đánh giá vững chắc của tri thức). Q = 1.22 > 1.

Điều này chứng tỏ các biện pháp PTYĐ của nhóm TN vững chắc hơn.

chúng tôi biểu diễn ở biểu đồ sau:

(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 3)

Để so sánh kết quả về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN lần 3,

Nhóm TN

Nhóm ĐC

72.4

67.9

80

60

40

17.3

17.9

14.3

10.3

20

0

0

0

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4.7: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau giai đoạn 3

157

- Đánh giá kết quả về thái độ y đức giai đoạn 3

Bảng 4.14: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu (%)

Nhóm TN 28 6 10 7.57 1.14 0.15 28.6 50.0 21.4 0

Nhóm ĐC 29 5 9 6.79 1.05 0.15 6.9 55.2 37.9 0

Phân tích bảng trên, chúng tôi nhận thấy: điểm thấp nhất của nhóm TN

là 6 và điểm thấp nhất của nhóm ĐC là 5; ĐTB của 2 nhóm TN và ĐC đều

tăng so với TN giai đoạn 2. Nhóm TN có ĐTB cao hơn nhóm ĐC (7.57% so

với 6.79%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.0095 (T-student test);

Tỷ lệ BSNT có thái độ y đức rất tích cực của nhóm TN cao hơn rất nhiều so

với nhóm ĐC (28.6% so với 6.9%). Trong khi đó nhóm TN có tỷ lệ ở mức

bình thường về thái độ y đức nhỏ hơn so với nhóm ĐC (21.4% so với 37.9%).

Điều này chứng tỏ nhóm TN và ĐC ngày càng có sự khác biệt.

(Tỉ lệ % về thái độ y đức giai đoạn 3)

Kết quả về thái độ y đức sau TN giai đoạn 3 thể hiện qua biểu đồ sau:

Nhóm TN

Nhóm ĐC

55.2

60

50

50

37.9

40

28.6

30

21.4

20

6.9

10

0

0

0

Rất tích cực

Tích cực

Bình thường

Tiêu cực

Biểu đồ 4.8: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau giai đoạn 3

158

- Đánh giá kết quả hành vi y đức giai đoạn 3

Bảng 4.15: Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3

Các tham số và xếp loại

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)

Nhóm TN 28 6 10 7.71 1.36 0.176 21.4 57.1 21.4 0

Nhóm ĐC 29 5 9 6.38 1.18 0.185 3.5 37.9 58.6 0

Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Điểm min của nhóm

TN đã tăng hơn so với lần TN thứ 2 (từ 5 lên 6 điểm). ĐTB của cả 2 nhóm có

tăng lên so với TN lần 2, nhưng mức tăng còn chậm so với ý thức y đức và thái

độ y đức. Điều này chứng tỏ sự tiến bộ về hành vi y đức còn chậm hơn so với ý

thức y đức và thái độ y đức; ĐTB của nhóm TN cao hơn so với nhóm ĐC

(7.71% so với 6.38%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.0002 (T-

student test); Tỷ lệ BSNT có hành vi y đức loại giỏi ở nhóm TN cao hơn nhiều

so với nhóm ĐC (21.4% so với 3.5%). Trong khi đó tỷ lệ BSNT có hành vi y

đức trung bình của nhóm TN lại thấp hơn nhóm ĐC (21.4% so với 58.6%).

Như vậy, sự khác biệt về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC ngày càng lớn.

Kết quả về hành vi y đức của BSNT sau TN giai đoạn 3 được biểu diễn

(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 3)

trên biểu đồ sau:

Nhóm TN

Nhóm ĐC

58.6

57.2

60

37.9

50 40

21.4

21.4

30 20

3.5

0

0

10 0

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4.9: Kết quả hành vi y đức ở nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3

159

4.3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm theo các biểu hiện y đức của

người thầy thuốc quân đội dưới tác động của thực nghiệm

- Đánh giá sự phát triển về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức

dưới tác động TN

Y đức người TTQĐ là một chỉnh thể do đó về ý thức y đức, thái độ y

đức và hành vi y đức có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng, bổ sung và tác

động qua lại với nhau. Phân tích kết quả TN giai đoạn 1, 2 và 3 cho thấy R

(hệ số tương quan) luôn lớn hơn 0, tức là giữa ý thức y đức với thái độ y đức,

thái độ y đức với hành vi y đức và hành vi y đức với ý thức y đức đều có

tương quan nhất định: Nếu người TTQĐ có ý thức y đức đúng thì cũng sẽ có

thái độ y đức tích cực. Khi ý thức y đức và thái độ y đức phát triển theo chiều

hướng tích cực thì cũng kéo theo sự phát triển của hành vi y đức. Ngược lại

khi hành vi y đức phát triển sẽ ảnh hưởng tác động trở lại làm ý thức y đức và

thái độ y đức của người TTQĐ sâu sắc hơn, chính xác hơn và cụ thể hơn.

Khi người TTQĐ không hiểu hoặc nhận thức không đúng đắn, không

chính xác về ý thức y đức thì cũng không thể có thái độ y đức đúng và cũng

không thể có hành vi biểu hiện y đức đúng. Đồng thời, khi hành vi y đức và

thái độ y đức không tích cực thì sẽ hạn chế về ý thức y đức. Do đó có thể

khẳng định: Mối quan hệ giữa ý thức y đức với thái độ y đức, thái độ y đức

với hành vi y đức và hành vi y đức với ý thức y đức ở mỗi người TTQĐ

là những quan hệ biện chứng. Như vậy, sự phát triển đồng bộ của ý thức y

đức, thái độ y đức và hành vi y đức sẽ hình thành và phát triển những phẩm

chất đạo đức y nghiệp cho người TTQĐ.

- Đánh giá sự tương quan giữa các tiêu chí về ý thức y đức, thái độ y

đức và hành vi y đức dưới tác động TN

Mối tương quan giữa ý thức y đức với thái độ y đức với hành vi y đức

là mối quan hệ biện chứng, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ. Kết

quả này rất phù hợp với quy luật vì khi người TTQĐ có ý thức y đức tốt thì

dưới tác động của các biện pháp phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay

160

sẽ có thái độ y đức và hành vi y đức tốt. Khi người TTQĐ đã có ý thức y

đức và thái độ y đức tốt thì họ sẵn sàng thực hiện những hành vi y đức tốt,

nhất là khi họ có ý thức và động cơ tốt thì hành vi y đức càng dễ dàng được

thực hiện và phát triển tốt.

Kết quả tính toán hệ số tương quan sau 3 giai đoạn TN đều cho thấy

nhận định trên là hoàn toàn chính xác. Kết quả này cũng đặt ra một vấn đề

là công tác giáo dục PTYĐ phải được tiến hành đồng bộ, phải có những tác

động toàn diện cả 3 mặt: ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức.

Các kết quả tính toán cho thấy: ý thức y đức và thái độ y đức của người

TTQĐ phát triển nhanh hơn so với sự phát triển của hành vi y đức dưới sự tác

động TN. Kết quả này phù hợp với quy luật: hành vi y đức là kết quả cuối

cùng của sự phát triển ý thức y đức và thái độ y đức, của công tác giáo dục

nhằm hình thành, PTYĐ ở người thầy thuốc.

Nếu như ý thức y đức và thái độ y đức phát triển ở giai đoạn đầu, sau

đó chậm dần ở các giai đoạn sau thì hành vi y đức phát triển chậm ở giai đoạn

đầu và nhanh dần ở các giai đoạn sau đó. Điều này đặt ra một vấn đề là công

tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức của người thầy thuốc phải là một quá

trình lâu dài, liên tục, hệ thống, không thể nóng vội và chủ quan.

thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của nhóm TN phát triển cao hơn so

với nhóm ĐC. Điều này chứng tỏ tính hiệu quả của các biện pháp PTYĐ của

người TTQĐ đã đề xuất. Kết quả này cũng khẳng định mối quan hệ biện

chứng, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các mặt ý thức y đức, thái độ y

đức và hành vi y đức.

Chúng tôi biểu thị kết quả sự phát triển y đức trên các mặt ý thức y đức,

thái độ y đức và hành vi y đức trong các biểu đồ sau:

Kết quả phân loại PTYĐ của người TTQĐ theo các mặt cho thấy: ý

161

* Kết quả sự phát triển Ý thức y đức của nhóm TN và nhóm ĐC

1. Nhãm thùc nghiÖm

BiÓu ®å 4.10 a: Sù ph¸t triÓn ý thøc y ®øc cña BSNT d­íi t¸c ®éng TN

2. Nhãm ®èi chøng

BiÓu ®å 4.10b: Sù ph¸t triÓn ý thøc y ®øc cña BSNT ở nhóm ĐC

162

* Kết quả sự phát triển Thái độ y đức của nhóm TN và nhóm ĐC

1. Nhãm thùc nghiÖm

Biểu đồ 4.11a. Sự phát triển Thái độ y đức của BSNT dưới tác động TN

2. Nhãm ®èi chøng

Biểu đồ 4.11b. Sự phát triển Thái độ y đức của BSNT ở nhóm ĐC

163

* Kết quả sự phát triển Hành vi y đức của nhóm TN và nhóm ĐC

1. Nhãm thùc nghiÖm

Biểu đồ 4.12a. Sự phát triển Hành vi y đức của BSNT dưới tác động TN

2. Nhãm ®èi chøng

BiÓu ®å 4.12b: Sù ph¸t triÓn Hµnh vi y ®øc cña BSNT ở nhóm ĐC

164

4.3.6. Đánh giá tổng hợp về kết quả thực nghiệm Bảng 4.16: kết quả tổng hợp của nhóm TN và ĐC

Phân loại

Giai đoạn 2 (Tỷ lệ %)

Giai đoạn 3 (Tỷ lệ %)

Mức tốt Mức khá Mức trung bình Mức yếu

5 (17.9%) 17 (60.7%) 6 (21.4%) 0 (0.0%)

13 (46.4%) 13 (46.4%) 2 (7.1%) 0 (0.0%)

Mức tốt Mức khá Mức trung bình Mức yếu

Giai đoạn 1 (Tỷ lệ %) Nhóm TN 2 (7.1%) 11 (39.3%) 13 (46.5%) 2 (7.1%) Nhóm ĐC 0 (0.0%) 7 (24.1%) 19 (65.5%) 3 (10.3%)

1 (3.5%) 9 (31.0%) 17 (58.6%) 2 (6.9%)

5 (17.2%) 15 (51.7%) 9 (31.1%) 0 (0.0%)

Phân tích số liệu nêu trong bảng trên, chúng tôi nhận thấy: - Kết quả mức tốt và khá ở nhóm TN trong tất cả các giai đoạn đều cao hơn nhóm ĐC. Cụ thể: Mức tốt: Nhóm TN: 7.1%); 17.9% và 46.4% trong khi đó nhóm ĐC: 0.0%; 3.5% và 17.2%; Mức khá: Nhóm TN: 39.3%; 60.7% và 46.4% trong khi đó nhóm ĐC: 24.1%; 31.0% và 51.7%.

- Trong khi đó ở nhóm ĐC, thì số thầy thuốc xếp loại trung bình và yếu lại cao hơn so với nhóm TN. Cụ thể: mức trung bình: Nhóm TN: 46.5%; 21.4% và 7.1% thấp hơn nhóm ĐC: 65.5%; 58.6% và 31.1%; Mức yếu: nhóm TN: 7.1%; 0% và 0% thấp hơn nhóm ĐC: 10.3%; 6.9% và 0%.

- Kết quả trên chứng tỏ các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay

có hiệu quả tại nhóm TN. Chúng tôi biểu diễn kết quả trên qua biểu đồ 4.13:

1. Nhóm TN

Tốt

Tốt

Tốt

Yếu

Yếu

Tốt

Khá

TB Yếu

Tố t

Khá

TB

Khá

Tốt

TB

TB

TB

Y ếu

Yếu

Y ếu

Khá

TB

Khá

Khá

Tốt: 6.45% Khá: 37.52% T B: 53.31% Yếu: 2.72%

Tố t: 4 5 .6 2 Khá: 4 5 .4 1 TB: 8 .9 7

Tố t: 1 8.1 7 Khá : 61 .6 8 % TB: 19 .9 5 %

Giai đoạn 2

Giai đoạn 3

Giai đoạn 1 2. Nhóm ĐC

Tốt

Yếu

Tốt

Tốt

Khá

Yếu

Tốt

Tốt

Khá

Tốt

Yếu

Khá

TB

Khá

Khá

TB

TB

Y ếu

TB

Y ếu

Yếu

TB

Khá

TB

Tốt: 0.78% Khá: 24.76% T B: 71.74% Yếu: 2.72%

Tốt: 1 8 .89 % Khá : 54 .9 6 % Yếu: 2 6 .15 %

T ốt: 3.87% Khá: 33.79% T B : 61.39% Yếu: 1.15%

Giai đoạn 1

Giai đoạn 3

Giai đoạn 2

Biểu đồ: 4.13: Sự phát triển chung về y đức của BSNT nhóm TN và nhóm ĐC

165

Kết luận chương 4

Thực nghiệm khoa học được tiến hành tại Bệnh viện 103, Học viện Quân

y với nhóm TN và nhóm ĐC có các chỉ số tương đương. TN khoa học được tiến

hành với 02 biện pháp là: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng

Hồ Chí Minh; Xây dựng môn đạo đức y học để tổ chức giảng dạy trong các nhà

trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY. TN được chia làm 3 giai đoạn, và được đánh

giá sau mỗi lần TN để so sánh sự khác biệt giữa 2 nhóm TN và ĐC.

Kết quả TN cho phép chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:

Quy trình TN đảm bảo các yêu cầu khoa học, chặt chẽ: Từ đánh giá đầu

vào đến lúc kết thúc giai đoạn TN lần 3. Các kết quả TN có độ tin cậy và các

kết quả về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của nhóm TN đều

được xếp loại cao hơn so với nhóm ĐC. Điều này chứng tỏ mục tiêu, giả

thuyết thực nghiệm đã được chứng minh sự hợp lý và khoa học của các biện

pháp PTYĐ của người TTQĐ đã đề xuất và TN.

Phân tích kỹ hơn về các kết quả TN chúng tôi nhận thấy, kết quả kiểm

tra sự phát triển về ý thức, thái độ và hành vi y đức của người TTQĐ có sự

tương quan tỷ lệ thuận. Sự tăng lên về ý thức y đức cũng kéo theo sự tăng lên

trong thái độ y đức và hành vi y đức. Tức là, người TTQĐ có ý thức y đức

cao thì cũng có sự phát triển về thái độ y đức và hành vi y đức tương ứng.

hiện nay, sự phát triển về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức có sự

khác nhau về tốc độ phát triển. Nếu như ý thức y đức có kết quả phát triển

nhanh, thì hành vi y đức có sự phát triển chậm hơn. Điều này cũng rất hợp lý

vì hành vi y đức là kết quả cuối cùng của công tác giáo dục hình thành,

PTYĐ, là kết quả của ý thức y đức và thái độ y đức người thầy thuốc.

Sau khi tiến hành TN, chúng tôi xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến

những cán bộ, giảng viên trực tiếp tham gia làm TN. Kết quả thăm dò được

xử lý và chúng tôi nhận thấy:

Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ

166

+ 57/60 (95.0%) giảng viên cho rằng quy trình tiến hành TN sư phạm

(chọn mẫu, mục đích, nội dung, cách thức thực hiện, cách đánh giá) là phù

hợp và đảm bảo những yêu cầu khắt khe của phương pháp TN. Chính vì vậy,

các kết quả TN chính xác và có độ tin cậy.

+ 55/60 (91.60%) giảng viên cho rằng các biện pháp PTYĐ của người

TTQĐ đưa ra và TN có hiệu quả và tạo nên những tác động lớn đến về ý thức y

đức, thái độ y đức và hành vi y đức của người thầy thuốc. Đồng thời, 100%

giảng viên cũng cho rằng những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay

mà luận án đề xuất và được tiến hành TN sư phạm không gây ra xáo trộn quá

trình giáo dục, đào tạo và điều trị của người TTQĐ ở Học viện Quân y.

+ 58/60 (96.60%) giảng viên cho rằng việc áp dụng các biện pháp

PTYĐ của người TTQĐ đã TN là rất cần thiết cho quy trình đào tạo người

TTQĐ hiện nay, vì y đức cần phải được hình thành và phát triển ngay từ khi

người thầy thuốc đang trong quá trình đào tạo và hiệu quả hơn với đối tượng

là bác sỹ nội trú.

+ 59/60 (98.30%) giảng viên đề nghị các trường đào tạo thầy thuốc cần

tiếp tục nghiên cứu và áp dụng những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà

Luận án đã đề xuất và TN sư phạm kiểm chứng.

Như vậy, với nội dung và các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã TN

của những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà công trình này đã nghiên

cứu. Đồng thời, giả thuyết khoa học của Luận án đã được kiểm chứng.

thì mục đích của TN đã đạt được khẳng định tính giá trị khoa học và hiệu quả

167

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Y đức là một trong những yếu tố cơ bản trong nhân cách của người

TTQĐ. Phát triển y đức là hoàn thiện nhân cách của người TTQĐ nhằm nâng

cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và

nhân dân, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. PTYĐ của

người TTQĐ cũng là tham gia vào xây dựng nền đạo đức mới, con người

mới, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong xã hội và

trong quân đội hiện nay.

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm của Đảng ta về đạo đức của người cách mạng và y đức của

người TTQĐ. Luận án làm rõ sự PTYĐ thông qua trình bày các khái niệm

đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, y đức của người TTQĐ và khái niệm PTYĐ

của người TTQĐ; luận án chỉ ra vai trò của PTYĐ, làm rõ những nội dung

PTYĐ, xây dựng các tiêu chí đánh giá sự PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

Từ những đặc điểm của ngành y và đặc trưng của hoạt động khám chữa

bệnh của TTQĐ. Luận án chỉ ra những nhân tố tác động đến sự PTYĐ của

người TTQĐ. Phân tích, đánh giá tình hình PTYĐ của người TTQĐ hiện nay,

với cả hai mặt ưu điểm và hạn chế trong sự phát triển. Luận án bước đầu nhận

kinh nghiệm và dự báo xu hướng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.

Để góp phần PTYĐ của người TTQĐ, Luận án đề xuất các biện pháp cơ

bản, chủ yếu, đồng bộ để phát triển y đức trên cả 3 mặt ý thức y đức, thái độ y

đức và hành vi y đức của người TTQĐ, đó là: Kết hợp giáo dục chính trị tư

tưởng với giáo dục pháp luật và đạo đức cho người thầy thuốc quân đội; Tăng

cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng

chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các nhà trường và bồi

dạng và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong PTYĐ, tổng kết một số

168

dưỡng ở các ĐVQY; Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người

TTQĐ; Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các ĐVQY và thực hiện

nghiêm các quy định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội.

Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu và thời gian, điều kiện

cho phép, đề tài luận án đã được tiến hành TN sư phạm với một số biện pháp.

Kết quả TN sư phạm đã chứng minh tính khoa học, khả thi, hiệu quả của các

biện pháp mà luận án đã đề xuất.

Phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa

trực tiếp, cấp bách; vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài. Đây là đề tài nghiên cứu

vừa có diện rộng, vừa có chiều sâu, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc trên

nhiều phương diện khác nhau. Từ góc độ giáo dục học, luận án đã đạt được

một số kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng

được trong thực tiễn giáo dục, rèn luyện để phát trển y đức của người thầy

thuốc công tác trong lĩnh vực y tế và môi trường quân sự. Trên cơ sở những

kết quả đã đạt được, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện,

phát triển vấn đề nghiên cứu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và

thực tiễn cấp thiết khác có liên quan tới đề tài luận án đang đặt ra trong PTYĐ

của người TTQĐ hiện nay cần được nghiên cứu sâu hơn với tư cách là những

đề tài độc lập như: Xây dựng, phát triển, giáo dục y đức trong điều kiện kinh

giáo dục y đức, y đức cho người TTQĐ trong xã hội hiện đại như thế nào v.v.

mà chưa có điều kiện giải quyết sâu trong luận án này.

tế thị trường, mối quan hệ giữa y đức và pháp luật, chất lượng và hiệu quả của

Kiến nghị

1. Đảng, Nhà nước, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu

tranh chống tham nhũng và cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh”, khắc phục có hiệu quả các tiêu cực xã hội hiện nay.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, TTQĐ nói riêng có ĐĐCM

trong sáng và lối sống trong sạch, lành mạnh làm tấm gương sáng về đạo đức

169

và về y đức; coi đây là nhiệm vụ thường xuyên để nâng cao chất lượng con

người trong ngành y quân đội, xây dựng môi trường văn hoá về y đức và xây

dựng tập thể đơn vị quân y vững mạnh toàn diện về mọi mặt.

2. Bộ Y tế, ngành Y quân đội cần tiếp tục nghiên cứu phát triển lý luận

giáo dục y đức. Biên soạn tài liệu về những chuẩn mực y đức của người thầy

thuốc và xây dựng chương trình, nội dung giáo dục đạo đức y học với tư cách

là một môn học độc lập với nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về y

đức. Đổi mới nội dung, phương pháp hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức

theo hướng kết hợp giữa y lý, y thuật và y đức phù hợp với đặc điểm hoạt

động của người TTQĐ.

3. Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu đề ra các chế độ, chính sách

hợp lý, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần, bảo đảm đời sống ổn

định cho đội ngũ cán bộ y tế, tương xứng với công việc đặc thù trong lĩnh vực

quân sự. Có chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ y tế ở cơ sở hợp lý và khoa

học. Có chế độ khuyến khích, ưu đãi đối với những người thầy thuốc, sinh

viên, học viên sỹ quan quân y về công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó

khăn, biên giới hải đảo xa xôi của Tổ quốc.

4. Các cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan chính trị của các cơ sở

đào tạo nhà trường, học viện quân y, các đơn vị quân y có thể xử dụng kết quả

và có thể áp dụng chương trình môn Đạo đức y học để tổ chức giáo dục cho

sinh viên ngành y, học viên quân y, cán bộ, chiến sĩ quân y, góp phần vào

việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho người TTQĐ.

nghiên cứu của luận án vào biên soạn nội dung và tiến hành công tác giáo dục

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1. Vũ Hoài Nam (2010), “Giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho học

viên Học viện Quân y”, Tạp chí Nhà trường quân đội, Số 5, tr.52-54, 68.

2. Vũ Hoài Nam (2011), “Giáo dục học quân sự với việc phát triển năng lực

tư duy lý luận cho học viên”, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà

Nội, tr.166-171.

3. Vũ Hoài Nam (2011), “Cán bộ, Đảng viên trong các nhà trường quân đội tu

dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp

chí Nhà trường quân đội, Số 4, tr.03-06.

4. Vũ Hoài Nam (2012), “Định hướng giá trị xã hội - quân sự đúng cho học

viên trong quá trình đào tạo ở Học viện Quân y”, Tạp chí Khoa học

quân sự, Số 8, tr.64-66.

5. Vũ Hoài Nam (2012), “Giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong

đào tạo bác sĩ hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tr.32-34.

6. Vũ Hoài Nam (2012), “Định hướng giá trị chuẩn mực của xã hội và quân

đội cho học viên trong quá trình đào tạo”, Tạp chí Nhà trường quân

đội, Số 6, tr.43-45.

7. Vũ Hoài Nam (2013), “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội theo

tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số

8. Vũ Hoài Nam (2013), “Nâng cao việc tự học cho học viên ở các nhà trường quân

đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học quân sự, Số 8, tr.3-5.

9. Vũ Hoài Nam (2013), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi

dưỡng thế hệ cách mạng vừa “Hồng” vừa “Chuyên” vào công tác đào

tạo cán bộ quân đội”, Tạp chí Nhà trường quân đội, Số 5, tr.23-25.

10. Vũ Hoài Nam (2013), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục y

đức cho học viên sĩ quan quân y ở Học viện Quân y hiện nay”, Chủ

nhiệm đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Quân y, Hà Nội.

170

1, tr.27-30.

11. Vũ Hoài Nam (2014), “Một số yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng giáo

dục y đức cho học viên, sinh viên ở Học viện Quân y hiện nay”, Tạp

chí Nhà trường quân đội, Số 4, tr.35-37.

12. Vũ Hoài Nam (2014), “Xây dựng y đức cách mạng của người thầy thuốc

quân đội trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị

quân sự, số 4, tr.50-3.

13. Vũ Hoài Nam (2014), “Nâng cao y đức của người thầy thuốc quân đội

hiện nay”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 9, tr.31-34.

14. Vũ Hoài Nam (2014), “Xây dựng và phát triển y đức người thầy thuốc quân

đội trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Y học Quân sự, Số 301, tr.37-39.

15. Vũ Hoài Nam (2015), “Một số yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng giáo

dục y đức trong đào tạo bác sĩ ở Học viện Quân y hiện nay”, Tạp chí

Khoa học giáo dục, Số 1, tr.170-174.

16. Vũ Hoài Nam (2015), “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong đào tạo

người thầy thuốc ở Học viện Quân y hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo khoa

171

học (Bộ Công an - Bộ Quốc phòng), Tháng 4, năm 2015, tr.305-309.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TIẾNG VIỆT

1. Bộ Quốc phòng, Cục Quân y (1996), Lịch sử Quân y Việt Nam, Nxb

QĐND, Hà Nội.

2. Bộ Y tế (1996), 12 điều y đức, Qui định về y đức, HN.

3. Bộ Y tế (1998), Bàn về y đức, Nxb Y học, HN.

4. Bộ Y tế (1999), Quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu, Nxb Y học, HN.

5. Bộ Y tế (2006), Kiến thức - thái độ - kỹ năng cần đạt khi tốt nghiệp bác sĩ

đa khoa, Nxb Y học, HN.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục

trong thời kỳ đổi mới, HN.

7. Nguyễn Thị Hoà Bình (2004), Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Lương y như

từ mẫu”, Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, (Số 2), tr.27-30.

8. Nguyễn Thị Hoà Bình (2006), “Phát huy vai trò của trí thức ngành y tế Việt

Nam trong công cuộc đổi mới”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội.

9. Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1993), Pháp lệnh hành nghề y -

dược tư nhân, HN.

10. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong

điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay , Nxb CTQG, HN.

11. Cao Văn Cường (2004), “Kế thừa và phát huy y đức, y thuật của đại danh y

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ”, Tạp chí Đông y, (Số 358), tr.10-11.

13. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb CTQG, Hà Nội.

14. Phan Việt Dũng - Trần Văn Thụy (2003), “Quán triệt quan điểm về y đức

của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngành Y tế Việt Nam hiện nay”, Tạp chí

Lý luận chính trị, (Số 3), tr.3-6.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ X , Nxb CTQG, HN.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ X1, Nxb CTQG, HN.

172

12. Cục Nhà trường (2006), Từ điển Giáo dục học quân sự, Nxb QĐND, HN.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb CTQG, HN.

18. Đảng cộng sản (2013), Quan điểm của Đảng về GD&ĐT trong thời kỳ đổi

mới và hội nhập, Nxb CTQG, Hà Nội.

19. Đảng bộ Học viện Quân y (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ

Học viện Quân y lần thứ XVIII, Hà Tây.

20. Đảng bộ Học viện Quân y (2001), Nghị quyết về Xây dựng y đức, chống

tiêu cực ở hai bệnh viện, Hà Tây.

21. Đảng bộ Học viện Quân y (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ

Học viện Quân y lần thứ XIX, Hà Tây.

22. Đảng bộ Học viện Quân y (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ

Học viện Quân y lần thứ XX, Hà Tây.

23. Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Văn hoá Thông tin, HN.

24. Đại học Y Hà Nội (2002), Quản lý và chính sách y tế, Nxb Y học, HN.

25. Đại học Y Hà Nội (2010), Đại cương đạo đức y học, HN.

26. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo

(2014), Nxb ĐHSP, HN.

27. Nguyễn Hồng Giang (2009), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công

tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội trong

tình hình mới, ĐTKH cấp BQP, HN.

28. Nguyễn Thị Thanh Hà (2000), Giao tiếp của bác sỹ quân y với NB trong

29. Phạm Minh Hạc (1995), Nghiên cứu con người, giáo dục, phát triển và thế

kỷ XXI, Kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc tế, HN.

30. Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1997), Hải Thượng Y tông Tâm

lĩnh, tập 1, Nxb Y học, HN.

31. Nguyễn Văn Hiền (1992), Đạo đức Y học và y đức Việt Nam, Nxb Y học, HN.

32. Học viện Chính trị (2011), Giáo dục học quân sự với sự nghiệp xây dựng

quân đội về chính trị, Nxb Chính trị - Hành chính, HN.

33. Học viện Chính trị (2013), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào

tạo trong nhà trường quân đội hiện nay, Nxb QĐND, HN.

173

quá trình KCB, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, HN.

34. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Giáo trình Đạo đức

học, Nxb CTQG, HN.

35. Học viện Quân y (2002), Một số vấn đề cơ bản về y đức quân sự, Nxb

QĐND, HN.

36. Học viện Quân y (2008), Báo cáo tổng kết về “Phong trào thi đua quyết

thắng năm học 2007- 2008 và tổng kết 10 năm xây dựng đơn vị vững mạnh

toàn diện giai đoạn 1999-2008”, HN.

37. Học viện Quân y (2008), Chương trình giáo dục đại học, HN.

38. Học viện Quân y (2010), Báo cáo tổng kết về Phong trào thi đua quyết

thắng năm học (2009- 2010), HN.

39. Mai Xuân Hợi (2005), Vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, HN.

40. Phạm Mạnh Hùng (2005), “Suy nghĩ về vinh dự và trách nhiệm của nghề

nghiệp y tế”, Tạp chí Khoa giáo, (Số 2), tr.16-18.

41. Nguyễn Bá Hùng (2010), Giáo dục ĐĐNN cho học viên sư phạm trong nhà

trường quân sự hiện nay, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, HN.

42. Vũ Khiêu (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh truyền thống và nhân loại, Nxb

Khoa học xã hội, HN.

43. Vũ Đăng Khiên (2011), Nghiên cứu giải pháp nâng cao phẩm chất và

năng lực của đội ngũ cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện KTTT

hiện nay, Đề tài cấp BQP, HN.

Hà Nội, tr.354-378.

45. Lịch sử Học viện Quân y (1949-1999), Nxb QĐND, Hà Nội, 1999.

46. Lịch sử Học viện Quân y (1949-2009), Nxb QĐND, Hà Nội, 2009.

47. Nguyễn Thị Liên (2007), Vai trò của giá trị đạo đức truyền thống với xây

dựng đạo đức của con người Việt Nam trong nền KTTT hiện nay, Luận văn

Thạc sĩ Triết học, HN.

48. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Lút Vích Phoi- ơ-bắc và sự cáo chung của triết

học cổ điển Đức, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, HN, tr.387-528.

174

44. V.I. Lênin (2005), Nhiệm vụ đoàn thanh niên, Toàn tập, tập 41, Nxb CTQG,

49. Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân (1975), Nxb QĐND, HN.

50. Hồ Chí Minh về đạo đức (1993), Nxb CTQG, HN.

51. Hồ Chí Minh (2004), Sửa đổi lối làm việc, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG,

HN, tr.229-306.

52. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị quân y, Toàn tập, tập 5, Nxb

CTQG, HN, tr.395-396.

53. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc, Toàn tập,

tập 7, Nxb CTQG, HN, tr.88-89.

54. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, Toàn tập, tập 7, Nxb

CTQG, HN, tr.476-477.

55. Hồ Chí Minh (2004), ĐĐCM, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, HN, tr.28-293.

56. Hồ Chí Minh (2004), Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách người tốt,

việc tốt, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, HN, tr.547-559.

57. Hồ Chí Minh (2004), Nâng cao ĐĐCM, quét sạch chủ nghĩa cá nhân,

Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, HN, tr.438-439.

58. Nguyễn Chí Mỳ (1999), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền

KTTT với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý nước ta hiện nay,

Nxb CTQG, HN.

59. Lê Văn Ngọc (2005), “Một số yêu cầu khắc phục ảnh hưởng của lối sống

thực dụng đối với các học viên ở các nhà trường quân đội”, Thông tin

60. Phạm Văn Nhuận (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐCM của người cán

bộ quân đội, Nxb QĐND, HN.

61. Hoàng Thị Kim Oanh (2008), Y đức và vấn đề nâng cao hiệu quả giáo dục

y đức cho sinh viên ngành y, Tạp chí Triết học, (Số 5), tr.75-77.

62. Philip Burnard ( 2001), Các kỹ năng giao tiếp có hiệu quả của cán bộ y tế, Nxb

Y học, HN.

63. Bùi Đình Phong (2006), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và bảo vệ

sức khoẻ nhân dân”, Tạp chí Khoa giáo, (Số 3), tr.12-13.

175

Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, (Số 101), tr.38-40.

64. Nguyễn Quang Phúc (2008), Các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua

dạy học các môn y học chuyên ngành, Đề tài khoa học cấp ngành, HN.

65. Đỗ Nguyên Phương (1996), Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai

đoạn hiện nay, Nxb Y học, HN.

66. Đỗ Nguyên Phương (1998), Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển

ở Việt Nam, Nxb Y học, HN.

67. Đỗ Nguyên Phương (1999), Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb

Y học, HN.

68. Đào Duy Quát (2007), Giữ vững ổn định chính trị- xã hội khi Việt Nam gia nhập Tổ

chức Thương mại thế giới, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và nhiệm

vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, Nxb QĐND, HN, tr.18-28.

69. Nguyễn Huy Quang (2010), Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế

ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ Quản lý hành chính công, Hà Nội.

70. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1998), Luật bảo vệ sức khỏe

nhân dân, HN.

71. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (2009), Luật Khám chữa bệnh, Nxb

Y học, HN.

72. Nguyễn Đức Thắng (2007), “Giáo dục, rèn luyện ĐĐCM cho cán bộ,

chiến sĩ quân đội theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Quân

huấn, (Số 3), tr.13-15.

74. Tổ chức Y tế thế giới (2001), Những hướng dẫn của WHO về bảo đảm chất lượng

giáo dục y học cơ bản trong khu vực Tây Thái bình dương, Nxb Y học, HN.

75. Tổng cục Chính trị (2001), Giáo trình Đạo đức học quân sự, Nxb QĐND, HN.

76. Tổng cục Chính trị (2001), Nâng cao ĐĐCM của đội ngũ sĩ quan cấp phân

đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb QĐND, HN.

77. Tổng cục Chính trị (2002), Nâng cao y đức cách mạng của cán bộ, nhân

viên trong các viện quân y hiện nay, Nxb QĐND, HN.

78. Tổng cục Chính trị (2010), Kỷ yếu phương pháp dạy học các môn

KHXH&NV của các NTQĐ, Nxb QĐND, HN.

176

73. Lê Ngọc Trọng (1997), Y đức, Quản lý bệnh viện, Nxb Y học, HN.

79. Tổng cục Chính trị (2013), Giáo dục học quân sự, Nxb QĐND, HN.

80. Tổng hội Y học Việt Nam (2013), Bác Hồ với cán bộ y tế - Cán bộ y tế

với Bác Hồ, Nxb Từ diển bách khoa, HN.

81. Tuệ Tĩnh và nền y dược cổ truyền Việt Nam (1975), Nxb Y học, HN.

82. Nguyễn Văn Thăng (1996), “Phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu

quả công tác bảo đảm quân y”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, TCTC.

83. Ngô Minh Tuấn (2007), Những nét tâm lý-xã hội cần có ở người Việt Nam khi

hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương

mại thế giới và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, Nxb QĐND, HN, tr.179-184.

84. Nguyễn Anh Tuấn (2008), Những biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên sư

phạm trong nền KTTT ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Giáo dục học, HN.

85. Nguyễn Văn Thưởng (1996) “Niềm tự hào nửa thế kỷ xây dựng, phục vụ và

trưởng thành của Cục Quân y”, Tạp chí Y học quân sự, Cục Quân y.

86. Nguyễn Văn Tường, Lê Nam Trà, Đỗ Đức Vân và cộng sự (2006), Đạo đức

trong nghiên cứu y sinh học, Nxb Y học, HN.

87. Quý Long - Kim Thư (2013), Những bậc thầy nổi danh về y đức, Nxb

Y học, HN.

88. Nguyễn Quang Uẩn (1995), Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và

giáo dục giá trị, Đề tài KX-07 cấp nhà nước, HN.

cho sĩ quan trẻ hiện nay, Nxb QĐND, HN.

90. Nguyễn Văn Việt (2006), Vấn đề định hướng giá trị đạo đức trong nghiên cứu

và ứng dụng y - sinh học hiện đại, Tạp chí Triết học, (Số 3), tr. 41- 45.

91. Phạm Viết Vượng (2012), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb

ĐHQG, HN.

92. Phạm Viết Vượng (2014), Giáo dục học, Nxb ĐHSP, HN.

93. Vụ Khoa học và đào tạo - Bộ Y tế (2001), Giáo dục và đào tạo nhân lực y

tế, Nxb Y học, HN.

177

89. Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự (2010), Bồi dưỡng lối sống XHCN

II. TIẾNG ANH

94. Dodson J. A., Keller A. S. (2004), Medical Student Care of Indigent

Populations, JAMA 29, pg.121.

95. John Rees P., Gwyn Wiliams D. (1995), Ethics, Principles of clinical

medicine, London, pg, 6-8.

96. Johnston C., Haughton P. (2007), Medical students' perceptions of their

ethics teaching, J. Med. Ethics 33, pg. 418-422.

97. Pappworth M. H. (1978), Ethical Precepts, A Primer of Medicine,

Butterworths Heinemann, pg. 1-6.

98. Nuremberg code. (1949) Regulations and Ethical Guidelines,Pg.5-6.

99. Nigel C. H. Stott (1983), The Refuge: Ethics, practices and problems,

Primary Health care, Verlag Berlin Heidelberg, pg. 93-111.

100. Robert K., Mc Kinley and Pauline A. Mc Avoy (1996), Ethics in practice,

Clinical Method, Butterworth Heinemann, pg. 50-165.

101. Falk R (1999), Predatory globalisation: a critique, New York: Polity Press.

102. Ferris L. E., Singer P. A., Naylo C. D. (2004), Better government in

academic health sciences centres: moving beyond the Olivieri/Apotex

Affair in Toronto, J. Med. Ethics 30, pg.25-29.

103. World Health Organization (2005), Handbook for Good clinical

Research Practice (GCP), Guidance for implementation.

104. Global adminstrative law cases and materials (2006), University of

105. Richard C.W.Hall MD. ”Ethical and Legal implications of Managed

care”, Pubmed 1997 May;19(3):p.200-208

106. World Medical Association (2008), Declaration of Helsinki 59th DOH/Oct.2008

107. The Canon of Medicine of Avicenna (1973), Ams Press, Manufacture in

the United State of America.

108. Babylonian Law - The Code of Hammurabi – Yale University -

http://avalon.law.yale.edu/ancient/hammpre.asp.

109. Code of Hammurabi - Yale University - http://www.commonlaw.

com/Hammurabi.html.

178

Rome "La Sapienza" Public Law Institue.

M.01

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho thầy thuốc công tác ở tuyến bệnh viện trung ương)

Thưa đồng chí!

Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.

Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.

Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy

 2. Quan trọng 4. Không quan trọng 

thuốc quân đội?

 1. Rất quan trọng  3. Bình thường 5. Phân vân  Câu 2. Lý do đồng chí trở thành người thầy thuốc quân đội?

TT

Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội

Hoàn toàn sai

Nửa đúng, nửa sai

Hoàn toàn đúng

Sai nhiều hơn đúng

Đúng nhiều hơn sai

1 Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với

quân đội, xã hội

2 Đây là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát

triển nghề nghiệp

4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên

môn

6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan

hệ xã hội

9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm

sóc gia đình

Lý do khác ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………

179

Câu 3. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân

đội hiện nay là:

TT Biểu hiện y đức của người thầy thuốc

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

quân đội

Rất không đồng ý

1 Thể hiện rõ phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với

chuẩn mực y học và luật pháp

3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng,

hết sức cứu chữa bệnh nhân

7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà

người bệnh được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân và

gia đình bệnh nhân

12 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám chữa bệnh

16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám

chữa bệnh

17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.

20 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi

ích tài chính của cá nhân

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy

(cấp trên) của mình

180

TT Biểu hiện y đức của người thầy thuốc

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

quân đội

Rất không đồng ý

23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với đồng

nghiệp

24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp

làm việc khám, chữa bệnh

25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh

26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo dục

sức khoẻ cộng đồng

28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..

Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị của đồng chí quan tâm đến việc giáo

2. Quan tâm

1. Rất quan tâm 

4. Ít quan tâm

3. Bình thường 

6. Khó trả lời

5. Không quan tâm 

dục, bồi dưỡng y đức cho đội ngũ thầy thuốc trong đơn vị ở mức độ nào?

Câu 5. Xin đồng chí cho biết sự nhất trí của bản thân về các vấn đề

dưới đây:

TT

Nội dung

Hoàn toàn sai

Sai nhiều hơn đúng

Đúng nhiều hơn sai

Hoàn toàn đúng

1

Nửa đúng, nửa sai

2

3

4

5

Tôi luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị ( Bộ môn, Khoa) Tôi luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh Tôi luôn là người có thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong khám, chữa bệnh Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là “Lương y như từ mẫu”

181

TT

Nội dung

Hoàn toàn sai

Sai nhiều hơn đúng

Đúng nhiều hơn sai

Hoàn toàn đúng

6

Nửa đúng, nửa sai

7

8

9

Tôi mong muốn có sự phản hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám, chữa bệnh của mình Tôi rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn Tôi luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp Tôi cảm thấy thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn

10 Tôi thực sự yêu thích công việc

mình đang đảm nhiệm

11 Tôi luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề thầy thuốc quân đội

Câu 6. Theo đồng chí, các thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực

hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh:

TT

Nội dung

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn

2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh

3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với

bệnh nhân

4

Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về

chế độ, chính sách

5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh

6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân

7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và GĐ bệnh nhân

9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,

chữa bệnh

10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh

11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn

182

Nội dung

TT

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn

lợi ích tài chính của cá nhân

14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.

15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho

đồng nghiệp

19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với

đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh

21 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh của đồng nghiệp

22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

25 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

Câu 7. Lãnh đạo, chỉ huy ở đơn vị đồng chí công tác đã thực hiện

các công việc sau đây như thế nào?

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức cách mạng, đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc

2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc

3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì người bệnh cho đội ngũ thầy thuốc 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho đội ngũ thầy thuốc

183

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

5 Coi trọng GD truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc 6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục phát triển y đức cho đội ngũ thầy thuốc

7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng, phát triển y đức phù hợp với đối tượng

9

8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội Phát triển y đức trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc

10 Xây dựng ở người thầy thuốc quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh

11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh 12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự trau dồi, rèn luyện y đức

13 XD tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức

Câu 8. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở

đơn vị mình hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào:

TT

Nội dung đánh giá

Kém

Yếu

Khá

Tốt

Trung bình

1 Lập trường tư tưởng

2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y

3 Năng lực chuyên môn

4 Tinh thần trách nhiệm

5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao

6 Lòng yêu nghề

7 Tình yêu thương người bệnh

8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao

trình độ chuyên môn

9 Tính dân chủ

10 Tính kỷ luật

11 Tính khiêm tốn

184

TT

Nội dung đánh giá

Kém

Yếu

Khá

Tốt

Trung bình

12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,

chữa bệnh

16 Tích cực đấu tranh chống các biểu

hiện tiêu cực

Câu 9. Theo đồng chí, những nhân tố nào dưới đây đang tác động

làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:

Mức độ tác động

TT

Bình

Rất

Các yếu tố tác động

Rất yếu

Yếu

Mạnh

thường

mạnh

1 Mặt trái của cơ chế thị trường

Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa

2

đế quốc

Thiếu tích cực, chủ động, tự giác

trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của

3

đội ngũ thầy thuốc

Sự bất cập trong công tác quản lý,

4

giáo dục y đức

Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn

5

nhiều khó khăn

6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm

Yếu tố khác: ………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………..

Câu 10. Nguyện vọng của đồng chí hiện nay?  1. Tiếp tục công tác bình thường  2. Đi học nâng cao trình độ chuyên môn  3. Được công tác tại các bệnh viện tuyến sau  4. Được chuyển vùng công tác  5. Chuyển công tác sang Bệnh viện dân sự  6. Xuất ngũ theo chế độ 7. Nguyện vọng khác ………………………………………………

185

Câu 11. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện

nay, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?

Rất

Không

Lưỡng

Đồng ý

Rất

TT

không

đồng ý

lự

đồng ý

Các biện pháp

đồng ý

Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng

với giáo dục pháp luật và đạo đức

1

cho người thầy thuốc quân đội.

Tăng cường giáo dục y đức cách

2

mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng chương trình môn đạo

đức y học để giảng dạy trong các

3

nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn

vị quân y

Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn

luyện y đức của người thầy thuốc

4

quân đội

Xây dựng môi trường y đức lành

mạnh trong các đơn vị quân y và

5

thực hiện nghiêm các quy định của

pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội

Biện pháp khác………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………..

Câu 12. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Đồng chí quan sát thấy một đồng nghiệp đang thực hành lâm sàng sai về mặt

chuyên môn. Đồng chí biết rằng thực hành sai như vậy gây ảnh hưởng đến bệnh nhân. Tuy

nhiên, mức độ sai sót không lớn và sẽ không gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Can thiệp ngay để bệnh nhân không chịu ảnh hưởng, cho dù hậu quả không lớn.

2. Đợi đồng nghiệp làm xong, sau đó sẽ trao đổi rút kinh nghiệm chuyên môn.

3. Báo cáo với cấp trên về sai sót này.

4. Không làm gì bởi vì sai sót không lớn và không gây hậu quả nghiêm trọng.

5. Khó trả lời.

186

Sau đợt đánh giá của đoàn kiểm tra bao gồm các chuyên gia lâm sàng trong lĩnh

vực đồng chí đang làm việc, đồng chí bị xếp vào nhóm thầy thuốc có chất lượng khám và

điều trị kém trong đơn vị.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Yêu cầu xem lại mức độ chính xác của những thông tin mà dựa trên đó đoàn

kiểm tra sử dụng để đánh giá.

2. Đề nghị họp đối chất với đoàn kiểm tra.

3. Quyết định dành thêm thời gian cho công tác thăm khám lâm sàng.

4. Quyết định học thêm, đọc thêm tài liệu để cải thiện chất lượng công việc.

5. Không làm gì, bởi vì điều đó không quan trọng đối với đồng chí.

Câu 13. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Một bệnh nhân đang được đồng chí điều trị, người bệnh nhân đó cùng người nhà đến

thăm đồng chí và biếu một món quà nhỏ (ít có giá trị về vật chất) để cảm ơn. Trong quá trình

điều trị, đồng chí biết rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế trung bình.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Vui vẻ nhận vì đó là nét phong tục của người Việt Nam và mọi người đều làm

như thế.

2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.

3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.

Câu 14. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Một bệnh nhân đã được đồng chí điều trị khỏi bệnh, người bệnh nhân đó cùng người nhà

đến thăm đồng chí và gửi một chiếc phong bì để cảm ơn. Trong quá trình điều trị, đồng chí biết

rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế không đến mức quá khó khăn.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Vui vẻ nhận vì đồng chí đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi cho bệnh nhân đó.

2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.

3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.

187

Câu 15. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Câu 16. Trong 3 năm qua, đồng chí có trực tiếp gặp phải trường

hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng tại nơi đồng chí công

Nếu có, trong trường hợp gần đây, đồng chí đã làm gì?

a. Không trao đổi với đồng nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan.

b. Báo cáo trường hợp đó với cơ quan hoặc người có trách nhiệm.

c. Trao đổi riêng với bác sĩ đó về những sai sót đã xảy ra.

tác không?

Vì sao đồng chí đã không làm gì?

(chỉ trả lời câu này nếu nhất trí với mục a của câu 16).

a. Sợ bị trả thù

b. Không biết phải báo cáo với ai

c. Nghĩ rằng đã có ai đó giải quyết vấn đề này rồi

d. Tin rằng báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì

e. Nghĩ rằng đó không phải là trách nhiệm của mình

f. Cho rằng sai sót đó cũng có thể xảy ra với mình

g. Sợ bị mọi người đánh giá là người không tốt

h. Sợ rằng người đó sẽ bị xử lý nặng nếu mình báo cáo

i. Vì người đó có tuổi đời, tuổi quân, tuổi nghề nhiều hơn đồng chí

k. Lý do khác: ………………………………………………………

1. Đồng chí tốt nghiệp trường:

Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;

Năm tốt nghiệp: ……………..

2. Hiện nay là: GS ; PGS ; Tiến sĩ ; Thạc sĩ ; BSCKII ; BSCKI ; BS

; Dược sĩ ĐH ; Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Y tá ;

Chức vụ khác 

3. Giới tính:

Nam: 

Nữ 

Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

188

M.02

Phụ lục 2: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho thầy thuốc công tác ở tuyến bệnh viện cơ sở)

Thưa đồng chí!

Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.

Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.

Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy

 2. Quan trọng 4. Không quan trọng 

  

thuốc quân đội?

1. Rất quan trọng 3. Bình thường 5. Phân vân Câu 2. Lý do đồng chí trở thành người thầy thuốc quân đội?

TT

Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội

Hoàn toàn sai

Nửa đúng, nửa sai

Hoàn toàn đúng

Sai nhiều hơn đúng

Đúng nhiều hơn sai

1 Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với

quân đội, xã hội

2 Đây là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát

triển nghề nghiệp

4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành

chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan

hệ xã hội

9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm

sóc gia đình

Lý do khác ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………

189

Câu 3. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân

đội hiện nay là:

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Rất không đồng ý

1

Thể hiện rõ phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”

2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với

chuẩn mực y học và luật pháp

3 Có thái độ nghiêm túc trong khám

chữa bệnh

4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân 7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà

người bệnh được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và gia đình bệnh nhân

12 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám chữa bệnh

16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám

chữa bệnh

17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.

20 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi

ích tài chính của cá nhân

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

190

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Rất không đồng ý

23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với

đồng nghiệp

24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh

26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

Biểu hiện khác: …………………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………………………….

Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị của đồng chí quan tâm đến việc giáo

2. Quan tâm

1. Rất quan tâm 

4. Ít quan tâm

3. Bình thường 

6. Khó trả lời

5. Không quan tâm 

dục, bồi dưỡng y đức cho đội ngũ thầy thuốc trong đơn vị ở mức độ nào?

Câu 5. Xin đồng chí cho biết sự nhất trí của bản thân về các vấn đề

dưới đây:

Hoàn toàn sai

Hoàn toàn đúng

TT

Nội dung

Nửa đúng, nửa sai

Đúng nhiều hơn sai

Sai nhiều hơn đúng

1 Tôi luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị ( Bộ môn, Khoa)

2 Tôi luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh

3 Tôi luôn là người có thái độ nghiêm

túc trong khám, chữa bệnh

4 Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong

khám, chữa bệnh

5 Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là

“Lương y như từ mẫu”

191

Hoàn toàn sai

Hoàn toàn đúng

TT

Nội dung

Nửa đúng, nửa sai

Đúng nhiều hơn sai

Sai nhiều hơn đúng

6 Tôi mong muốn có sự phản hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám, chữa bệnh của mình

7 Tôi rất tích cực tự học tập nâng cao

trình độ chuyên môn

8 Tôi luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp

9 Tôi cảm thấy thoải mái khi tham gia

các hoạt động chuyên môn

10 Tôi thực sự yêu thích công việc

mình đang đảm nhiệm

11 Tôi luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề thầy thuốc quân đội

Câu 6. Theo đồng chí, các thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực

hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh:

TT

Nội dung

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên

môn

2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh

3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với

bệnh nhân

4

Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về

chế độ, chính sách

5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh

6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân

7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và GĐ bệnh nhân

9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,

chữa bệnh

10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh

11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn

192

Nội dung

TT

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn

lợi ích tài chính của cá nhân

14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.

15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho

đồng nghiệp

19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với

đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh

21 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh của đồng nghiệp

22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

25 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

Câu 7. Lãnh đạo, chỉ huy ở đơn vị đồng chí công tác đã thực hiện

các công việc sau đây như thế nào:

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức cách mạng, đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc

2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc

3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì người bệnh cho đội ngũ thầy thuốc 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho đội ngũ thầy thuốc

193

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc

6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục phát triển y đức cho đội ngũ thầy thuốc

7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng, phát triển y đức phù hợp với đối tượng

9

8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội Phát triển y đức trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc

10 Xây dựng ở người thầy thuốc quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh

11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh

12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự trau dồi, rèn luyện y đức

13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức

Câu 8. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở

đơn vị mình hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào:

Kém

Yếu

Khá

Tốt

TT

Nội dung đánh giá

Trung bình

1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao

trình độ chuyên môn

9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn

194

Kém

Yếu

Khá

Tốt

TT

Nội dung đánh giá

Trung bình

12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,

chữa bệnh

16 Tích cực đấu tranh chống các biểu

hiện tiêu cực

Câu 9. Theo đồng chí, những nhân tố nào dưới đây đang tác động

làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:

TT

Các yếu tố tác động

Rất yếu

Yếu

Mạnh

Mức độ tác động Bình thường

Rất mạnh

1 Mặt trái của cơ chế thị trường

2

3

4

5

Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn

6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm

Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..

195

Câu 10. Nguyện vọng của đồng chí hiện nay?  1. Tiếp tục công tác bình thường  2. Đi học nâng cao trình độ chuyên môn  3. Được công tác tại các bệnh viện tuyến sau  4. Được chuyển vùng công tác  5. Chuyển công tác sang Bệnh viện dân sự  6. Xuất ngũ theo chế độ 7. Nguyện vọng khác ………………………………………………

Câu 11. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện

nay, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?

Đồng ý

Không đồng ý

Lưỡng lự

Rất đồng ý

TT

Các biện pháp

Rất không đồng ý

Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng

với giáo dục pháp luật và đạo đức

1

cho người thầy thuốc quân đội.

Tăng cường giáo dục y đức cách

2

mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng chương trình môn đạo

đức y học để giảng dạy trong các

3

nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn

vị quân y

Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn

luyện y đức của người thầy thuốc

4

quân đội

Xây dựng môi trường y đức lành

mạnh trong các đơn vị quân y và

5

thực hiện nghiêm các quy định của

pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội

Biện pháp khác……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..

Đồng chí quan sát thấy một đồng nghiệp đang thực hành lâm sàng sai về mặt

chuyên môn. Đồng chí biết rằng thực hành sai như vậy gây ảnh hưởng đến bệnh nhân. Tuy

nhiên, mức độ sai sót không lớn và sẽ không gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Can thiệp ngay để bệnh nhân không chịu ảnh hưởng, cho dù hậu quả không lớn.

2. Đợi đồng nghiệp làm xong, sau đó sẽ trao đổi rút kinh nghiệm chuyên môn.

3. Báo cáo với cấp trên về sai sót này.

4. Không làm gì bởi vì sai sót không lớn và không gây hậu quả nghiêm trọng.

5. Khó trả lời.

196

Câu 12. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Sau đợt đánh giá của đoàn kiểm tra bao gồm các chuyên gia lâm sàng trong lĩnh

vực đồng chí đang làm việc, đồng chí bị xếp vào nhóm thầy thuốc có chất lượng khám và

điều trị kém trong đơn vị.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Yêu cầu xem lại mức độ chính xác của những thông tin mà dựa trên đó đoàn

kiểm tra sử dụng để đánh giá.

2. Đề nghị họp đối chất với đoàn kiểm tra.

3. Quyết định dành thêm thời gian cho công tác thăm khám lâm sàng.

4. Quyết định học thêm, đọc thêm tài liệu để cải thiện chất lượng công việc.

5. Không làm gì, bởi vì điều đó không quan trọng đối với đồng chí.

Câu 13. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Một bệnh nhân đang được đồng chí điều trị, người bệnh nhân đó cùng người nhà đến

thăm đồng chí và biếu một món quà nhỏ (ít có giá trị về vật chất) để cảm ơn. Trong quá trình

điều trị, đồng chí biết rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế trung bình.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Vui vẻ nhận vì đó là nét phong tục của người Việt Nam và mọi người đều làm

như thế.

2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.

3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.

Câu 14. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Một bệnh nhân đã được đồng chí điều trị khỏi bệnh, người bệnh nhân đó cùng người nhà

đến thăm đồng chí và gửi một chiếc phong bì để cảm ơn. Trong quá trình điều trị, đồng chí biết

rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế không đến mức quá khó khăn.

Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1

ý duy nhất).

1. Vui vẻ nhận vì đồng chí đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi cho bệnh nhân đó.

2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.

3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.

197

Câu 15. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:

Câu 16. Trong 3 năm qua, đồng chí có trực tiếp gặp phải trường

hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng tại nơi đồng chí công

Nếu có, trong trường hợp gần đây, đồng chí đã làm gì?

a. Không trao đổi với đồng nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan.

b. Báo cáo trường hợp đó với cơ quan hoặc người có trách nhiệm.

c. Trao đổi riêng với bác sĩ đó về những sai sót đã xảy ra.

tác không?

Vì sao đồng chí đã không làm gì?

(chỉ trả lời câu này nếu nhất trí với mục a của câu 16).

a. Sợ bị trả thù

b. Không biết phải báo cáo với ai

c. Nghĩ rằng đã có ai đó giải quyết vấn đề này rồi

d. Tin rằng báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì

e. Nghĩ rằng đó không phải là trách nhiệm của mình

f. Cho rằng sai sót đó cũng có thể xảy ra với mình

g. Sợ bị mọi người đánh giá là người không tốt

h. Sợ rằng người đó sẽ bị xử lý nặng nếu mình báo cáo

i. Vì người đó có tuổi đời, tuổi quân, tuổi nghề nhiều hơn đồng chí

k. Lý do khác: ………………………………………………………

1. Đồng chí tốt nghiệp trường:

Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;

Năm tốt nghiệp: ……………..

2. Hiện nay là: GS ; PGS ; Tiến sĩ ; Thạc sĩ ; BSCKII ; BSCKI ; BS

; Dược sĩ ĐH ; Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Y tá ;

Chức vụ khác 

3. Giới tính:

Nam: 

Nữ 

Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

198

M.03

Phụ lục 3: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho cán bộ, giảng viên giảng dạy ở Học viện (nhà trường) quân y)

Thưa đồng chí!

Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.

Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.

Câu 1. Theo đồng chí, giáo dục y đức cho học viên có vai trò như thế nào

đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của người thầy thuốc quân đội tương lai?

1. Rất quan trọng

3. Bình thường

  

 2. Quan trọng 4. Không quan trọng 

5. Phân vân

Câu 2. Theo đồng chí, nội dung biểu hiện y đức của người thầy

thuốc quân đội hiện nay là:

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Rất không đồng ý

1 Thể hiện rõ phẩm chất anh“Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y

học và luật pháp

3 Có thái độ nghiêm túc trong khám

chữa bệnh

4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân 7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà

8

người bênh được hưởng Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân

9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh

199

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Rất không đồng ý

11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và GĐ bệnh nhân

12 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám chữa bệnh

16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực

trong khám chữa bệnh

17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.

20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi

ích cá nhân

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho

đồng nghiệp

24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh

26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………….

200

Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy Học viện (nhà trường) quan tâm đến việc

2. Quan tâm

giáo dục y đức cho học viên ở mức độ nào?

1. Rất quan tâm 

4. Ít quan tâm

3. Bình thường 

6. Khó trả lời

5. Không quan tâm 

Câu 5. Đánh giá của đồng chí về mức độ phù hợp của nội dung chương

1. Rất phù hợp

2. Khá phù hợp

trình giáo dục y đức cho học viên của Học viện (nhà trường) hiện nay?

3. Phù hợp

4. Ít phù hợp

 

6. Khó trả lời

5. Rất không phù hợp 

Câu 6. Đánh giá của đồng chí về mức độ phù hợp của phương pháp

1. Rất phù hợp

2. Khá phù hợp

3. Phù hợp

4. Ít phù hợp

6. Khó trả lời

5. Rất không phù hợp 

giáo dục y đức cho học viên của Học viện (nhà trường) hiện nay ?

Câu 7. Theo đồng chí, các giảng viên đồng thời là thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình tham gia khám, chữa bệnh?

TT

Nội dung

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên

môn

2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh

3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với

bệnh nhân

4 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách

mà bệnh nhân được hưởng

5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người

bệnh

6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân

7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và GĐ bệnh nhân

9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,

chữa bệnh

10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh

201

Nội dung

TT

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn

13 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi

ích cá nhân

14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.

15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm cho

đồng nghiệp

19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với

đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh

21 Đấu tranh với những biểu hiện tiêu

cực trong khám, chữa bệnh

22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

25 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

Câu 8. Lãnh đạo, chỉ huy ở Học viện (nhà trường) đã thực hiện các

công việc sau đây như thế nào trong quá trình đào tạo?

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Giáo dục đạo đức cách mạng, đạo

đức nghề y cho học viên

2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho học viên

3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy

sinh vì người bệnh cho học viên

202

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho học viên 5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho học viên 6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức cho học viên

7 Xây dựng chương trình, nội dung giáo dục y đức phù hợp với đối tượng

9

8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội cho học viên Phát triển y đức cho học viên trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc

10 Xây dựng ở người học viên - y, bác sĩ tương lai tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh

11 Trang bị cho học viên kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh 12 Phát huy tính tích cực chủ động của học viên trong tự trau dồi, rèn luyện y đức

13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức Câu 9. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở

Học viên (nhà trường) hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào?

TT

Nội dung đánh giá

Kém

Yếu

Khá

Tốt

Trung bình

1 Lập trường tư tưởng

2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y

3 Năng lực chuyên môn

4 Tinh thần trách nhiệm

5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao

6 Lòng yêu nghề

7 Tình yêu thương người bệnh

8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao

trình độ chuyên môn

203

TT

Nội dung đánh giá

Kém

Yếu

Khá

Tốt

Trung bình

9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,

chữa bệnh

16 Tích cực đấu tranh chống các biểu

hiện tiêu cực

Câu 10. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội cho học

viên, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?

Đồng ý

Không đồng ý

Lưỡng lự

Rất đồng ý

TT

Các biện pháp

Rất không đồng ý

Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng

với giáo dục pháp luật và đạo đức

1

cho người thầy thuốc quân đội.

Tăng cường giáo dục y đức cách

2

mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng chương trình môn đạo

đức y học để giảng dạy trong các

3

nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn

vị quân y

Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn

luyện y đức của người thầy thuốc

4

quân đội

Xây dựng môi trường y đức lành

mạnh trong các đơn vị quân y và

5

thực hiện nghiêm các quy định của

pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội

Biện pháp khác………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………..

204

Câu 11. Theo đồng chí, trong điều kiện hiện nay những nhân tố nào

đang tác động làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc

quân đội?

TT

Các yếu tố tác động

Rất yếu

Yếu

Mạnh

Mức độ tác động Bình thường

Rất mạnh

1 Mặt trái của cơ chế thị trường

2

3

4

5

Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn

6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm

Yếu tố khác: ………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………..

1. Đồng chí tốt nghiệp trường:

Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;

Năm tốt nghiệp: ……………..

2. Hiện nay là: Thạc sĩ BS ; BSCKI ; BS ; Dược sĩ ĐH ;

Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Chức vụ khác 

3. Giới tính:

Nam: 

Nữ 

Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

205

M.04

Phụ lục 4: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho học viên các trường Y, Dược quân đội)

Đồng chí thân mến!

Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển

y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời

các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù

hợp với quan điểm của mình.

Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí

không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác

của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.

Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy

1. Rất quan trọng

2. Quan trọng

3. Bình thường

4. Không quan trọng 

5. Phân vân

thuốc quân đội?

Câu 2. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân

đội hiện nay là:

TT

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Rất không đồng ý

1

Phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”

2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với

chuẩn mực y học và luật pháp

3

Thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh

4

Lòng yêu người, yêu nghề

5

Trình độ chuyên môn cao

6

Tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa người bệnh

7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà

người bệnh được hưởng

8

Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh

nhân

9 Không gây phiền hà cho bệnh nhân

10 Thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh

206

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Các phẩm chất

Rất không đồng ý

11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và gia đình bệnh nhân

12 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám, chữa bệnh

16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám,

chữa bệnh

17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.

20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi

ích cá nhân

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với

đồng nghiệp

24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh

26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………..

207

2. Quan tâm

Câu 3. Theo đồng chí nhà trường đã quan tâm đến việc giáo dục y

4. Ít quan tâm

 đức cho học viên ở mức độ nào? 1. Rất quan tâm 

3. Bình thường 

6. Khó trả lời

5. Không quan tâm 

Câu 4. Theo đồng chí, thầy thuốc quân đội hiện nay đã thực hiện

các nội dung dưới đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh?

TT

Nội dung

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên

môn

2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh 3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với

4

bệnh nhân Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách

5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người

bệnh

6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh

nhân

7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây

phiền hà cho bệnh nhân

8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và GĐ bệnh nhân

9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,

chữa bệnh

10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người

bệnh

11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn

lợi ích tài chính của cá nhân

14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.

15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho

đồng nghiệp

208

Nội dung

TT

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với

đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh

21 Dũng cảm đấu tranh với những hành vi trái với qui định trong khám, chữa bệnh 22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

25 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

Câu 5. Đơn vị đồng chí đang học tập, công tác đã thực hiện các

công việc sau đây như thế nào?

TT

Nội dung công việc

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo

đức cách mạng, đạo đức nghề y cho

học viên

2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên

môn, quy định y đức cho học viên

3 Giáo dục đức tính biết hy sinh vì

người bệnh cho học viên

4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp,

lương tâm trách nhiệm cho học viên

5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo

đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân

đội, ngành y tế và đơn vị cho học viên

6 Nêu các tấm gương tiêu biểu mẫu

mực về y đức cho học viên học tập

7 Xây dựng chương trình, nội dung

giáo dục, phát triển y đức phù hợp

với đối tượng

8

Sử dụng nhiều hình thức giáo dục,

phát triển y đức cho học viên

209

Nội dung công việc

TT

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

9

Phát triển y đức cho học viên trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc

10 Xây dựng ở học viên quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh

11 Trang bị cho học viên những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh

12 Phát huy tính tích cực chủ động của học viên trong tự trau dồi, rèn luyện y đức

13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức

Câu 6. Đồng chí đánh giá như thế nào về thực trạng học viên đang

học tập tại trường hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào?

Kém

Yếu

Khá

Tốt

TT

Nội dung đánh giá

Trung bình

1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao

trình độ chuyên môn

9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,

chữa bệnh

16 Tích cực đấu tranh chống các biểu

hiện tiêu cực

210

Câu 7. Theo đồng chí, những nhân tố nào đang tác động làm hạn

chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay?

TT

Các yếu tố tác động

Rất yếu

Yếu

Mạnh

Mức độ tác động Bình thường

Rất mạnh

1 Mặt trái của cơ chế thị trường

2

3

4

5

Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn

6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm

Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..

Câu 8. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay,

Đồng ý

đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây? Không đồng ý

TT

Lưỡng lự

Rất đồng ý

Các biện pháp

Rất không đồng ý

Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng

với giáo dục pháp luật và đạo đức

1

cho người thầy thuốc quân đội.

Tăng cường giáo dục y đức cách

2

mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng chương trình môn đạo

đức y học để giảng dạy trong các

3

nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn

vị quân y

Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn

luyện y đức của người thầy thuốc

4

quân đội

Xây dựng môi trường y đức lành

mạnh trong các đơn vị quân y và

5

thực hiện nghiêm các quy định của

pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội

Biện pháp khác……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

211

M.05

Phụ lục 5: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho bệnh nhân)

Thưa đồng chí!

Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển

y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời

các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù

hợp với quan điểm của mình.

Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí

không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác

của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.

Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy

1. Rất quan trọng

2. Quan trọng

3. Bình thường

4. Không quan trọng 

5. Phân vân

thuốc quân đội?

Câu 2. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân

đội hiện nay là:

TT

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Rất không đồng ý

1

Phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”

2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với

chuẩn mực y học và luật pháp

3

Thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh

4

Lòng yêu người, yêu nghề

5

Trình độ chuyên môn cao

6

Tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa người bệnh

7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà

người bệnh được hưởng

8

Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân

9 Không gây phiền hà cho bệnh nhân

10 Thái độ ân cần, chu đáo với người

bệnh

212

TT

Không đồng ý

Lưỡng lự

Đồng ý

Rất đồng ý

Các phẩm chất

Rất không đồng ý

11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và gia đình bệnh nhân

12 Không phân biệt đối xử trong khám,

điều trị bệnh nhân

13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,

năng lực khám, chữa bệnh

16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám,

chữa bệnh

17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.

20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi

ích cá nhân

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc

thầy (cấp trên) của mình

23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với

đồng nghiệp

24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng

nghiệp trong khám chữa bệnh

26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …

Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………..

213

Câu 3. Theo đồng chí, thầy thuốc quân đội hiện nay đã thực hiện

các nội dung dưới đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh?

TT

Nội dung

Không bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

1 Tôn trọng pháp luật và qui định

chuyên môn

2 Có lương tâm và trách nhiệm cao với

bệnh nhân

3 Giúp bệnh nhân hiểu về chế độ,

chính sách

4 Có thái độ ân cần, chu đáo với người

bệnh

5 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh

nhân

6 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân

và gia đình bệnh nhân

7 Có thái độ nghiêm túc trong khám,

chữa bệnh

8 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người

bệnh

9 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn

đẩy trách nhiệm

10 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi

ích cá nhân

11 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn trong quá trình thăm khám và điều trị.

12 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách

nhiệm

13 Không phân biệt đối xử trong khám,

14

điều trị bệnh nhân Dũng cảm đấu tranh với những hành vi trái với qui định trong khám, chữa bệnh

15 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới

hoàn thành nhiệm vụ

16 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo

dục sức khoẻ cộng đồng

17 Đòi tiền thù lao ngoài qui định từ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân 18 Có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho

bệnh nhân

19 Kê đơn, gợi ý mua thuốc ngoài tiêu

chuẩn

20 Kê thuốc đắt tiền, làm xét nghiệm

không phù hợp

21 Thờ ơ, thiếu chu đáo trong khám,

chữa bệnh

22 Hạch sách, coi thường bệnh nhân

214

Câu 4. Theo đồng chí, những nhân tố nào đang tác động làm hạn

chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay ?

TT

Các yếu tố tác động

Rất yếu

Yếu

Mạnh

Mức độ tác động Bình thường

Rất mạnh

1 Mặt trái của cơ chế thị trường

2

3

4

5

Chiến lược “DBHB” của các thế lực phản động Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn

7

6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm Do bệnh nhân muốn được ưu ái trong khám, chữa bệnh

Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..

215

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

Phụ lục 6: PHIẾU TỌA ĐÀM, PHỎNG VẤN

(Dành cho bác sĩ, cán bộ quản lý bệnh viện)

1. Địa điểm toạ đàm, phỏng vấn 2. Ngày, tháng, năm, toạ đàm, phỏng vấn 3. Lần toạ đàm, phỏng vấn 4. Người toạ đàm, phỏng vấn 5. Tên người được toạ đàm, phỏng vấn 6. Thâm niên công tác, cấp bậc, chức vụ, đơn vị người được toạ đàm,

phỏng vấn.

4. Theo đồng chí, cơ chế thị trường có những ảnh hưởng như thế nào đến

216

NỘI DUNG TỌA ĐÀM, PHỎNG VẤN Chủ đề: “Y đức của người thầy thuốc quân đội trong thời kinh tế thị trường” 1. Đồng chí đánh giá như thế nào về vấn đề y đức của người thầy thuốc trong thời kinh tế thị trường hiện nay?. 2. Những người thầy thuốc mang quân hàm xanh dù ở bất cứ nơi đâu, nhất là những đồng chí đang công tác ở vùng sâu, vùng xa nơi biên giới và ngoài các đảo xa đã thực hiện lời Bác Hồ dạy “lương y như từ mẫu”. Theo đồng chí, điều gì đã tạo dựng nên hình ảnh những người thầy thuốc như mẹ hiền giữa thời kinh tế thị trường như vậy?. 3. Bên cạnh những người thầy thuốc rất đáng trân trọng, hiện nay vẫn còn nhiều bệnh nhân phàn nàn về thái độ nhũng nhiễu của một số thầy thuốc. Có những bệnh nhân vào viện trong tình trạng bệnh rất nguy cấp nhưng không được điều trị ngay chỉ vì họ chưa kịp bồi dưỡng cho bác sĩ. Thưa đồng chí, tình trạng này có diễn ra ở bệnh viện đồng chí không?. đời sống của người thầy thuốc?. 5. Thời gian qua, bệnh viện luôn quan tâm nâng cấp các trang thiết bị để phục vụ người bệnh một cách tốt nhất và đẩy mạnh công tác chống tiêu cực trong bệnh viện. Xin đồng chí cho biết cụ thể vấn đề này?.

Phụ lục 7: PHIẾU QUAN SÁT

1. Địa điểm quan sát 2. Ngày, tháng, năm, quan sát 3. Lần quan sát 4. Người quan sát 5. Đối tượng được quan sát 6. Thâm niên công tác, cấp bậc, chức vụ, đơn vị người được quan sát

NỘI DUNG QUAN SÁT

Quan sát thầy thuốc trong hoạt động thực tiễn: phương pháp, tác phong,

cử chỉ, lời nói và hành động trong công việc, trong tiếp xúc với bệnh nhân,

người nhà bệnh nhân, với đồng nghiệp, với xã hội cộng đồng.

HÌNH THỨC QUAN SÁT

Quan sát tham dự: Người quan sát tham gia vào các hoạt động khám,

chữa bệnh của người thầy thuốc và trong hoạt động thực tiễn giảng dạy.

Quan sát không tham dự: Người quan sát đứng ngoài để quan sát người

217

thầy thuốc trong hoạt động thực tiễn khám, chữa bệnh.

Phụ lục 8: Tæng hîp kÕt qu¶ kh¶o s¸t thùc tr¹ng PTY§ 1. Nhận thức vai trò PTYĐ đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của người TTQĐ

Kết quả khảo sát (N=453)

TT

Vai trò của y đức

SL 254 157 26 10 6

% 56.1 34.7 5.7 2.2 1.3

1 2 3 4 5 6 7 8

Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Ít quan trọng Không quan trọng Độ lệch chuẩn Hệ số tương quan 2 nhóm Điểm trung bình

0.242 R = 0.73 4.21

2. Lý do trở thành người TTQĐ Lý do trở thành người TTQĐ

ĐTB 4.47 1.38 3.16 1.93 3.87 3.43 3.49 3.33 1.97

Thứ bậc 1 9 6 8 2 4 3 5 7

TT 1 Nghề y có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội 2 Nghề y là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình

TBC

ĐLC 0.32 0.78 1.04 1.10 0.94 1.19 1.16 1.35 1.14 3.96

Lý do

Tần suất

%

Giá trị % sau hiệu chỉnh

53 400 453

11.7 88.3 100.0

11.7 88.3 100.0

243 184 26 453

53.6 40.6 5.7 100.0

53.6 40.6 5.7 100.0

6.0 5.7 41.1 30.0 17.2 100.0

6.0 5.7 41.1 30.0 17.2 100.0

37.1 25.6 31.3 6.0 100.0

37.1 25.6 31.3 6.0 100.0

1. Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội Đúng nhiều hơn sai Hoàn toàn đúng Tổng hợp 2. Đây là nghề có thu nhập cao Hoàn toàn sai Sai nhiều hơn đúng Đúng nhiều hơn sai Tổng hợp 3. Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 27 Hoàn toàn sai 26 Sai nhiều hơn đúng 186 Nửa đúng, nửa sai 136 Đúng nhiều hơn sai 78 Hoàn toàn đúng Tổng hợp 453 4. Không phải kiếm sống ngoài nghề 168 Hoan toan sai 116 Sai nhieu hon dung 142 Nua dung nua sai 27 Hoan toan dung 453 Total 5. Có những đóng góp cho ngành chuyên môn Sai nhieu hon dung Dung nhieu hon sai

11.0 39.3

50 178

11.0 39.3

218

225 453

49.7 100.0

49.7 100.0

5.3 11.0 30.7 20.8 32.2 100.0

5.3 11.0 30.7 20.8 32.2 100.0

6.0 11.0 9.1 45.7 28.3

148 147 117 41 453

32.7 32.5 25.8 9.1 100.0

Hoan toan dung Total 6. Được tôn trọng 24 Hoan toan sai 50 Sai nhieu hon dung 139 Nua dung nua sai 94 Dung nhieu hon sai 146 Hoan toan dung Total 453 7. Có điều kiện khẳng định bản thân 6.0 27 Hoan toan sai 11.0 50 Sai nhieu hon dung 9.1 41 Nua dung nua sai 45.7 207 Dung nhieu hon sai Hoan toan dung 28.3 128 8. Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 32.7 Hoan toan sai 32.5 Sai nhieu hon dung 25.8 Nua dung nua sai 9.1 Hoan toan dung Total 100.0 9. Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình Hoan toan sai Sai nhieu hon dung Nua dung nua sai Hoan toan dung Total

32.7 32.5 25.8 9.1 100.0

148 147 117 41 453

32.7 32.5 25.8 9.1 100.0

3. Mức độ nhất trí về các biểu hiện y đức của người TTQĐ hiện nay

Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội

TT 1 Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Tinh thần TN cao, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 7 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, CS được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho BN 10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với BN và GĐ bệnh nhân 12 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo những sai sót xảy ra trong quá trình KCB 20 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân

ĐTB ĐLC 0.23 4.74 0.25 4.26 0.39 4.13 0.21 4.32 0.41 4.24 0.50 4.48 0.41 4.21 0.55 4.11 0.84 4.12 0.49 4.43 0.49 4.33 0.49 4.54 0.48 4.38 0.49 4.54 0.49 4.59 0.50 4.48 0.49 4.58 0.49 4.52 1.01 3.94 0.50 4.49

Thứ bậc 1 15 18 13 16 7 17 20 19 8 12 4 11 4 2 7 3 5 21 6

219

21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên) 23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 24 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB 26 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ 27 Tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khỏe cộng đồng 28 Tích cực tham gia CT XH, KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo

4.27 4.24 4.48 4.41 4.52 4.42 4.43 4.48

0.44 0.43 0.50 0.49 0.49 0.49 0.49 0.50

14 16 7 10 5 9 8 7

Điểm trung bình

4.24

4. Thực trạng phát triển về niềm tin y đức của người TTQĐ

ĐTB

ĐLC

TT

Nội dung đánh giá

4.04 3.75 3.71 3.74 3.81 3.73

Thứ bậc 1 3 5 6 2 4

1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Nhiệt tình, trách nhiệm trong KCB 3 Lý tưởng nghề nghiệp là “Lương y như từ mẫu” 4 Thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 5 Thực sự yêu thích công việc đang đảm nhiệm 6 Nếu được lựa chọn lại nghề, vẫn chọn nghề TTQĐ

TBC

0.437 0.501 0.462 0.701 0.705 0.46 3.78

5. Thực trạng phát triển ý chí y đức của người TTQĐ

ĐTB

ĐLC

TT

Nội dung đánh giá

3.73 3.98 3.52 3.70 3.75 4.01

Thứ bậc 3 2 6 4 5 1

1 Có thái độ phê phán những hành vi vi phạm QĐ trong KCB 2 Là người có thái độ nghiêm túc trong KCB 3 Mong muốn có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh hoạt động KCB 4 Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn 5 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp 6 Có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

TBC

0.59 0.589 0.542 0.751 0.72 0.586 3.76

6. Thực trạng mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ

ĐTB 3.91 3.96 3.78 3.76

Thứ bậc 2 1 3 4

TT Nội dung đánh giá phát ý thức triển y đức của TTQĐ 1 Về tri thức y đức của người TTQĐ. 2 Về tình cảm y đức của người TTQĐ. 3 Về niềm tin y đức của người TTQĐ 4 Về ý chí y đức của người TTQĐ

TBC

3.85

7. Thực trạng phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc với NB

Tự đánh giá của thầy thuốc

Đánh giá của BN

Nội dung

TT 1 Nhiệt tình, trách nhiệm, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 2 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với NB 3 Niềm nở khi tiếp xúc với NB và gia đình BN 4 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 5 Không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho BN 6 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân

ĐTB 3.34 3.04 2.98 3.45 3.32 3.26

Thứ bậc ĐTB Thứ bậc 3.31 2.99 2.96 3.63 2.92 2.86

2 3 4 1 5 6

2 5 6 1 3 4

3.23

3.11

TBC

3.17

220

8. Thực trạng phát triển thái độ y đức với đồng nghiệp, bậc thầy

Nội dung

Tôn trọng cấp trên, tôn trọng tổ chức Luôn tỏ thái độ kính trọng bậc thầy (cấp trên) của mình Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp Ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp Tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB

ĐTB 3.81 3.31 2.85 2.87 2.89

ĐLC 0.77 0.93 0.82 0.69 0.83

Thứ bậc 1 2 5 4 3

(cấp trên) của mình TT 1 2 3 4 5

TBC

3.14

9. Thực trạng phát triển thái độ y đức với xã hội, cộng đồng

Nội dung

ĐTB 3.07 2.87 3.02 3.03

ĐLC 1.02 0.92 0.86 0.87

Thứ bậc 1 4 3 2

TT 1 Sẵn sàng nhận nhiệm vụ nới khó khăn, nguy hiểm 2 Tích cực tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng 3 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 4 Tích cực tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo

TBC

3.00

10: Thực trạng phát triển thái độ y đức với công việc, với bản thân

TT Biểu hiện thái độ y đức của người TTQĐ đối với

ĐTB ĐLC

Thứ bậc

3.82 3.12 3.17 3.24 3.56 3.38 3.06 3.22

0.73 0.21 0.24 0.36 0.58 0.49 0.19 0.32

1 7 6 4 2 3 8 5

công việc, với bản thân 1 Có lòng yêu nghề, say mê với công việc 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 5 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 6 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 7 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 8 giữ gìn phẩm giá, danh dự bản thân trong hành nghề

Điểm trung bình

3.29

ĐTB

TT

3.17 3.14 3.00 3.29

11. Thực trạng phát triển thái độ y đức của TTQĐ Nội dung đánh giá phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc quân đội

Thứ bậc 2 3 4 1

1 Thái độ của người thầy thuốc với người bệnh 2 Thái độ của người với đồng nghiệp, bậc thầy (cấp trên) của mình 3 Thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng 4 Thái độ với công việc; với chính bản thân của người thầy thuốc

TBC

3.15

12. Thực trạng phát triển hành vi y đức đối với quá trình tự bồi

dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ

Nội dung

ĐTB ĐLC Thứ bậc 2.92 0.55

5

TT 1 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn 2 Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo tấm

2.99 0.63

4

gương đạo đức Hồ Chí Minh”

2 3 6 1

3.52 0.71 3 Thường xuyên trau dồi đạo đức người QN cách mạng 3.02 0.53 4 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB 2.76 0.94 5 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích cá nhân người thầy thuốc 6 Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 3.78 0.58

TBC

3.17

221

13. Thực trạng phát triển hành vi y đức về chấp hành các QĐ, ĐL và PL của

người TTQĐ

Nội dung

ĐTB ĐLC Thứ bậc 3.54 3.42 2.65 3.26 3.08

0.43 0.54 0.95 0.76 0.83

1 2 5 3 4

TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, QĐ của đơn vị 2 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn 3 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, chính sách 4 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 5 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 6 Thông báo cho BN những sai sót chuyên môn đã xảy ra

2.46

1.03

6

với BN đó trong quá trình thăm khám và điều trị.

TBC

3.17

Nội dung

14. Thực trạng PT hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ Thứ bậc 1 2 3 5 4 6

ĐLC 0.94 0.82 1.19 0.94 1.04 0.72

ĐTB 3.22 2.97 2.93 2.88 2.91 2.76

TT 1 Luôn tôn trọng cấp trên và bậc thầy của mình 2 Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám chữa bệnh 3 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh 4 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới thực hiện nhiệm vụ 5 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 6 Đặt lợi ích của bệnh nhân trên lợi ích cá nhân

TBC

2.94

15. Thực trạng PT hành vi y đức về lương tâm,TN trong HT, CT, điều trị

Nội dung

ĐTB 3.21 3.36 2.96 2.70 3.03 3.02

Thứ bậc 2 1 5 6 3 4

TT 1 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh 2 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3 Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của NB 4 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 5 Sử dụng phác đồ điều trị có lợi nhất cho BN 6 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB

TBC

ĐLC 0.57 1.1 0.74 0.82 0.87 0.86 3.05

16. Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ

ĐTB Thứ bậc

TT

Nội dung đánh giá phát triển hành vi y đức của TTQĐ

3.17 3.07 2.94 3.05

1 2 4 3

1 Hành vi y đức đối với quá trình tự BD, tự RL y đức của người TTQĐ. 2 Hành vi y đức trong chấp hành các QĐ, ĐL và PL của người TTQĐ. 3 Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của đội ngũ TTQĐ. 4 Hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong HT, CT và ĐT.

TBC

3.06

17. Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay

ĐTB

Thứ bậc

Xếp loại

TT

Nội dung đánh giá thực trạng phát triển y đức của TTQĐ

3.85 3.15 3.06

1 2 3

Cao Trung bình Trung bình Trung bình

1 Mức độ phát triển ý thức y đức của TTQĐ 2 Mức độ phát triển thái độ y đức của TTQĐ 3 Mức độ phát triển hành vi y đức của TTQĐ

TBC

3.35

222

18. Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo

dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ

TT

Nội dung công việc

ĐTB

3.65 3.53 3.48 3.50 3.68 3.20 3.05 2.92 3.06 3.26 3.37 3.20 3.47

Thứ bậc 2 3 5 4 1 9 11 12 10 8 7 9 6

1 Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM, ĐĐNN cho người TTQĐ 2 Quán triệt PL về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho người TTQĐ 3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho người TTQĐ 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm TN cho người TTQĐ 5 GD truyền thống ĐĐ tốt đẹp của DT, của Đảng, QĐ, ĐV cho người TTQĐ 6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để GD, BD PTYĐ 7 XD chương trình, ND bồi dưỡng, PTYĐ phù hợp với đối tượng 8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc 10 XD thái độ tôn trọng NB, sự thiện tâm, công bằng trong KCB 11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với NB 12 Phát huy tính TC chủ động của người TT trong tự trau dồi, RL y đức 13 XD TTQY, phát huy VT của các thiết chế y đức trong XD MT y đức TBC

3.34

19. Mức độ tự đánh giá của bản thân thầy thuốc về y đức

ĐTB ĐLC

TT

Nội dung

Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn

1 Luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 4.74 0.43 4.14 0.59 2 Luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm QĐ trong KCB 4.38 0.58 3 Tôi luôn là người có thái độ nghiêm túc trong KCB 4.16 0.49 4 Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong khám, chữa bệnh 5 Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là “Lương y như từ mẫu” 4.11 0.45 6 Mong có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh HĐ KCB của mình 4.06 0.53 4.08 0.75 7 3.90 0.71 8 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 4.05 0.69 9 Cảm thấy thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 4.21 0.70 10 Tôi thực sự yêu thích công việc mình đang đảm nhiệm 4.37 0.58 11 Luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 3.94 1.26 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề TTQĐ ĐTB 4.17 0.30

Thứ bậc 1 6 2 5 7 9 8 12 10 4 3 11 20. Thực trạng phát triển y đức TTQĐ theo các biểu hiện cụ thể

TT

Thực trạng y đức của người thầy thuốc QĐ

3.99 0.78 1 Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” 3.66 1.17 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3.54 1.11 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 3.34 0.91 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 3.38 0.91 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 3.41 0.88 7 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, chính sách được hưởng 3.24 1.01 3,31 1.01 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 3.34 1.03 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho bệnh nhân 3.30 1.18 10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh

ĐTB ĐLC Thứ bậc 1 2 3 7 6 5 12 9 8 10

223

19 11 18 16 20 13 14 17 27 26 28 21 4 25 24 23 22 15

3.11 1.11 11 Niềm nở khi tiếp xúc với BN và GĐ bệnh nhân 3.27 1.02 12 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 3.15 0.80 13 Thái độ công bằng, trung thực 3.19 0.83 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 3.11 0.85 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 3.23 0.86 16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong khám chữa bệnh 3.23 0.86 17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3.16 0.74 18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 2.92 0.73 19 Thông báo cho BN những sai sót trong quá trình KCB 2.95 0.71 20 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân 2.89 0.83 21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 3.09 0.95 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên) của mình 3.66 0.82 23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 2.98 0.70 24 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 3.08 0.82 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB 3.09 0.95 26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ 27 Tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khỏe cộng đồng 3.09 0.94 28 Tích cực tham gia CTXH, KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo 3.22 1.24 ĐTB 3.22 0.34

21. Lãnh đạo, chỉ huy thực hiện các công việc phát triển y đức

TT

Nội dung công việc

ĐTB ĐLC Thứ bậc 2 5 3 4 1 9 12 13 11 8 7 10 6

3.65 0.74 1 GD chính trị tư tưởng và ĐĐCM, y đức cho người thầy thuốc 2 Quán triệt PL y tế, quy chế chuyên môn, QĐ y đức cho người TTQĐ 3.49 0.81 3 GD, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho đội ngũ thầy thuốc 3.51 0.94 3.50 0.88 4 RL bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm TN cho người TTQĐ 3.68 0.96 5 GD truyền thống ĐĐ tốt đẹp của DT, của Đảng, QĐ, ĐV cho người TTQĐ 3.20 0.76 6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để GD, PTYĐ 7 XD chương trình, ND bồi dưỡng, PTYĐ phù hợp với đối tượng 3.05 0.75 2.91 0.84 8 Tổ chức các HTGD, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 3.06 0.84 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành LS của người TTQĐ 3.25 0.83 10 XD quyền tôn trọng NB, sự thiện tâm, công bằng trong KCB 3.36 0.73 11 Trang bị cho TT những kiến thức về giao tiếp với NB 3.18 0.85 12 Phát huy tính TC của người TT trong tự trau dồi, RL y đức 3.47 0.80 13 XD TTQY, phát huy VT của các thiết chế y đức trong XD MT y đức ĐTB 3.32 0.27

22. Đánh giá về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở đơn vị

ĐTB ĐLC

TT

Nội dung đánh giá

1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn 9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật

3.89 0.90 3.98 0.82 3.44 0.82 3.59 0.75 3.41 0.80 3.18 0.65 3.35 0.79 3.54 0.76 3.36 0.58 3.27 0.71

Thứ bậc 2 1 8 4 9 15 12 5 11 13

224

11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám, chữa bệnh 16 Tích cực đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực

10 6 7 14 16 3

3.37 0.67 3.50 0.74 3.47 0.81 3.23 0.87 3.03 0.72 2.82 0.77 ĐTB 3.34 0.33

ĐTB ĐLC

TT

C¸c yÕu tè t¸c ®éng

23. Yếu tố tác động đến phát triển y đức của người thầy thuốc QĐ Thứ bậc 6 1 3 2 4 5

1 Mặt trái của cơ chế thị trường 2 Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc 3 Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức 4 Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức 5 Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn 6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm

4.09 1.05 2.90 0.85 3.57 1.00 3.81 0.95 3.56 0.99 3.47 0.74 ĐTB 3.56 0.42

24. Biện pháp phát triển y đức

TT

C¸c biÖn ph¸p

ĐTB ĐLC Thứ bậc

4.58 0.49

1

1

4.51 0.50

2

2

4.42 0.95

4

3

4.28 0.73

6

4

4.50 0.50

3

5

Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và đạo đức cho người thầy thuốc quân đội. Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn vị quân y. Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội. Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các đơn vị quân y và thực hiện nghiêm các qui định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội.

ĐTB 3.45 0.46

Tình huống 1: Đồng nghiệp thực hành sai khi khám lâm sàng

Tình huống 2: Thái độ khi bị đánh giá kém chuyên môn

Tình huống 3: Nhận quà của bệnh nhân trong quá trình điều trị

Tình huống 4: Nhận quà của bệnh nhân sau điều trị

Tình huống 5: Thái độ khi đồng nghiệp có sai sót trong khám lâm sàng

N

Khách thể

453

453

453

453

453

Lỗi

Điểm trung bình Trung vị Độ lệch chuẩn Độ khác biệt Hàm Skewness Độ lệch chuẩn Skewness Độ biến thiên Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất

0 2.3311 2.0000 .92928 .864 1.755 .115 4.00 1.00 5.00

0 3.2450 4.0000 1.44501 2.088 -.474 .115 4.00 1.00 5.00

0 1.9912 2.0000 .81735 .668 .016 .115 2.00 1.00 3.00

0 2.1413 2.0000 .80507 .648 -.262 .115 2.00 1.00 3.00

0 2.7395 3.0000 .43938 .193 -1.095 .115 1.00 2.00 3.00

225

25. Kết quả xử lý tình huống

Tần suất

Giá trị %

Tỷ lệ %

% lũy tiến

Tình huống 1: Đồng nghiệp thực hành sai khi khám lâm sàng

Valid

6.0

6.0

6.0

27

Can thiệp ngay không để BN ảnh hưởng

Đợi đồng nghiệp làm xong

74.4

80.4

74.4

337

Báo cáo với cấp trên

6.8

87.2

6.8

31

Không làm gì sai sót nhở

6.2

93.4

6.2

28

Khó trả lời

6.6

100.0

6.6

30

Tổng số

100.0

100.0

453

Tần suất

Tỷ lệ %

Giá trị % % lũy tiến

Tình huống 2: Thái độ khi bị đánh giá kém chuyên môn

Valid

Yêu cầu kiểm tra lại thông tin

21.2

21.2

21.2

96

Đề nghị họp đối chất

12.1

12.1

33.3

55

Dành thêm thời giời cho công tác thăm khám

6.8

6.8

40.2

31

Học thêm nâng cao trình độ chuyên môn

40.6

40.6

80.8

184

Không làm gì ví điều đó không quan trọng

19.2

19.2

100.0

87

Tổng số

100.0

100.0

453

Tần suất

Giá trị %

Tỷ lệ %

% lũy tiến

Tình huống 3: Nhận quà của bệnh nhân trong quá trình điều trị Vui vẻ nhận phong bì

33.8

33.8

153

Valid

33.8

Ngại nhưng vẫn nhận

33.3

151

33.3

67.1

Từ chối không nhận

32.9

149

32.9

100.0

Tổng số

100.0

453

100.0

Tần suất

Tỷ lệ %

Giá trị %

% lũy tiến

Tình huống 4: Nhận quà của bệnh nhân sau điều trị Phương án 1

26.3

119

Valid

26.3

26.3

Phương án 2

33.3

151

33.3

59.6

Phương án 3

40.4

183

40.4

100.0

Tổng số

100.0

453

100.0

Tần suất

Giá trị %

Tỷ lệ %

% lũy tiến

Tình huống 5: Thái độ khi đồng nghiệp có sai sót trong khám lâm sàng Báo cáo cấp trên

26.0

26.0

118

Valid

26.0

Trao đổi với đồng nghiệp

335

74.0

74.0

100.0

Tổng số

453

100.0

100.0

226

Phụ lục 9: Sơ đồ 4.1. SƠ ĐỒ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

CHUẨN BỊ THỰC NGHIỆM

Bồi dưỡng cộng tác viên

Phân tích, chương trình, biên soạn nội dung TN Xây dựng các tiêu chí đánh giá, thang đánh giá Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp , đối tượng TN

TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM

Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho nhóm TN Kiểm tra trình độ ban đầu của nhóm TN và ĐC Giáo dục, bồi dưỡng y đức theo chương trình cho nhóm TN

KẾT THÚC THỰC NGHIỆM

Phân tích kết quả TN Rút ra các kết luận sư phạm

Kiểm tra kết thúc các giai đoạn TN

227

Phụ lục 10: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG VỀ PT Ý THỨC Y ĐỨC, THÁI ĐỘ Y ĐỨC, HÀNH VI Y ĐỨC CỦA BSNT Ở NHÓM TN VÀ ĐC

1. Trước khi vào trường để theo học nghề y, đồng chí nghĩ như thế nào

về nghề y? Đây là một nghề: A. Rất cao quý C. Bình thường như các nghề khác B. Cao quý D. Dành cho những người kém cỏi

2. Đồng chí quyết định theo học nghề y vì: - Rất mong muốn được trở thành người thầy thuốc chân chính; - Sức ép của cha mẹ; - Dễ xin việc; - Được xã hội tôn vinh; - Phù hợp với khả năng của bản thân; - Hoàn cảnh thực tế gia đình; - Bạn bè khuyên bảo; - Yêu công việc vì cứu giúp được nhiều người. 3. Sau khi tham dự lễ kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2 đầu tiên,

B. Cao quý D. Dành cho những người kém cỏi

- Có lý tưởng y đức cao đẹp, thế giới quan khoa học; - Có trình độ văn hoá trong ứng xử, giao tiếp; - Có kiến thức chuyên môn y nghiệp giỏi; - Lối sống trung thực, giản dị, chan hoà với mọi người; - Có năng lực sư phạm khi chuyền nghề; - Có khả năng tự học, tự bồi dưỡng, y nghiệp và y đức; - Có lòng yêu nghề, đồng cảm với người bệnh; - Quan tâm, tận tình, chu đáo trong chăm sóc người bệnh;

- Có quan hệ rộng với nhiều tầng lớp trong xã hội;

228

cảm nghĩ của đồng chí như thế nào về nghề y? A. Rất cao quý C. Bình thường như các nghề khác 4. Theo đồng chí người TTQĐ cần có những phẩm chất y đức gì? Hãy liệt kê 5. Đồng chí hãy xếp thứ tự quan trọng của những phẩm chất y đức nêu trên: 6. Trước khi vào trường theo học nghề y đồng chí đã có những phẩm chất nào? Trong những phẩm chất nêu trên? 7. Theo đồng chí y đức của người thầy thuốc được biểu hiện như thế nào? Hãy đánh dấu vào đầu dòng nếu đồng chí đồng ý:

- Say mê nhiệt tình với công việc chuyên môn;

- Có niềm tin y nghiệp;

- Có khả năng tổ chức điều hành công việc trong đơn vị;

- Có ý chí vươn lên, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

8. Theo đồng chí các môn y học chuyên ngành có vai trò như thế nào đối

với việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc?

A. Rất quan trọng B. Quan trọng

C. Bình thường như các môn khác D. Không có ý nghĩa gì

9. Theo đồng chí các môn khoa học xã hội và nhân văn có vai trò như thế

nào đối với việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc?

A. Rất quan trọng B. Quan trọng

C. Bình thường như các môn khác D. Không có ý nghĩa gì

10. Theo đồng chí y đức của người thầy thuốc được hình thành, phát triển:

A. Trước khi vào học nghề y B. Trong quá trình học nghề y

C. Khi đã công tác trong nghề y D. Cả ba ý trên

11. Đồng chí hãy xếp theo thứ tự tầm quan trọng của các môi trường

trong việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc:

A. Trong quá trình học nghề y B. Khi đã công tác trong nghề y

12. Để hình thành, PTYĐ của người TTQĐ, cần phải tiến hành:

- Giáo dục lòng yêu nghề y;

- Giáo dục lòng thương yêu, đồng cảm, tinh thần hết lòng vì người bệnh;

- Giáo dục ý thức học tập, trau dồi chuyên môn y nghiệp;

- Giáo dục ý thức rèn luyện tay nghề của người thầy thuốc;

- Giáo dục tác phong mẫu mực, lịch thiệp, gần gũi, tế nhị;

- Giáo dục đức tính khiêm tốn, cẩn trọng, cầu thị, thật thà, dũng cảm;

- Giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác khi ở những nơi khó khăn;

- Giáo dục ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức và chuyên môn;

- Giáo dục ý thức phối hợp quân dân – y trong khám chữa bệnh.

- Giáo dục lòng vị tha, nhân ái với người bệnh của người thầy thuốc;

13. Đồng chí hãy xếp theo thứ tự quan trọng của các nội dung giáo dục nêu trên: - Giáo dục lòng yêu nghề y; - Giáo dục lòng thương yêu, đồng cảm, tinh thần hết lòng vì người bệnh; - Giáo dục ý thức học tập, trau dồi chuyên môn y nghiệp;

229

- Giáo dục ý thức rèn luyện tay nghề của người thầy thuốc; - Giáo dục lòng vị tha, nhân ái với người bệnh của người thầy thuốc; - Giáo dục tác phong mẫu mực, lịch thiệp, gần gũi, tế nhị; - Giáo dục đức tính khiêm tốn, cẩn trọng, cầu thị, thật thà, dũng cảm; - Giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác khi ở những nơi khó khăn; - Giáo dục ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức và chuyên môn; - Giáo dục ý thức phối hợp quân dân – y trong khám chữa bệnh. 14. Theo đồng chí những lực lượng nào tham gia vào công tác giáo dục,

bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc? - Cán bộ quản lý học viên; - Giảng viên dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; - Giảng viên dạy các môn y học chuyên ngành; - Tổ chức Đoàn cơ sở; - Ban giám hiệu, thủ trưởng đơn vị quân y; - Đảng uỷ Học viện, nhà trường, Đảng uỷ đơn vị quân y; - Phòng, Ban, cơ quan chức năng ở đơn vị quân y; - Các tổ chức chính trị - xã hội; - Gia đình; - Tập thể đơn vị cơ sở, chi đoàn; - Cán bộ đơn vị cơ sở, cán bộ Đoàn. 15. Theo đồng chí những lực lượng này có vai trò như thế nào trong công tác giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc? Hãy xếp theo thứ tự:

- Cán bộ quản lý học viên; - Giảng viên dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; - Giảng viên dạy các môn y học chuyên ngành; - Tổ chức Đoàn cơ sở; - Ban giám hiệu, thủ trưởng đơn vị quân y; - Đảng uỷ Học viện, nhà trường, Đảng uỷ đơn vị quân y; - Phòng, Ban, cơ quan chức năng ở đơn vị quân y; - Các tổ chức chính trị - xã hội; - Gia đình; - Tập thể đơn vị cơ sở, chi đoàn; - Cán bộ đơn vị cơ sở, cán bộ Đoàn. 16. Sau thời gian đi thực tế đơn vị và quá trình học BSNT tại bệnh viện,

đồng chí cảm nhận như thế nào về nghề y?

- Rất thích công việc của người thầy thuốc;

230

- Thích công việc của người thầy thuốc; - Công việc của người thầy thuốc cũng bình thường như những công việc khác; 17. Sau thời gian đi thực tế đơn vị và quá trình học BSNT tại bệnh viện,

đồng chí suy nghĩ như thế nào về nghề y?

- Yêu thích nghề y hơn; - Thích thú với công việc; - Chững chạc và tự tin hơn; - Không yêu mà cũng không coi thường nghề y; - Coi thường nghề y; - Nghề y là nghề cao quý; - Nghề y là một nghề vất vả; - Nghề y là một nghề đòi hỏi tính khoa học, nghệ thuật và sáng tạo; - Chỉ dạy nghề y mà không trực tiếp điều trị là công việc buồn chán.

18. Theo đồng chí để phát triển y đức của người TTQĐ, có thể sử dụng

- Giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị, pháp luật và đạo đức cho người

- Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng

- Thiết kế chương trình, nội dung môn đạo đức y học trong đào tạo

- Coi trọng công tác tổ chức quản lý bằng pháp luật trong ngành y tế và chăm lo

các biện pháp nào dưới đây: thầy thuốc quân đội; theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở người thầy thuốc quân đội; người thầy thuốc quân đội; - Tích cực hoá hoạt động tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội, gắn với xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh; đời sống, đảm bảo tốt chính sách cho người thầy thuốc quân đội

19. Đồng chí hãy xếp thứ tự vai trò của các biện pháp phát triển y đức

- Giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị, pháp luật và đạo đức cho người

- Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng

- Thiết kế chương trình, nội dung môn đạo đức y học trong đào tạo

của người thầy thuốc quân đội: thầy thuốc quân đội; theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở người thầy thuốc quân đội; người thầy thuốc quân đội;

231

- Coi trọng công tác tổ chức quản lý bằng pháp luật trong ngành y tế và chăm lo

- Tích cực hoá hoạt động tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội, gắn với xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh; đời sống, đảm bảo tốt chính sách cho người thầy thuốc quân đội

20. Sau khi tốt nghiệp, đồng chí muốn được làm việc tại đâu? Vì sao? - Ở các bệnh viện tuyến cuối của quân đội; - Nơi có thu nhập cao; - Nơi có điều kiện sống tốt; - Gần nhà; - Nơi có rất nhiều khó khăn; Vì:…………………………………….. 21. Nếu được phân công ở nơi công tác xa rất nhiều khó khăn, đồng chí sẽ: - Vui vẻ nhận công tác; - Nhận công tác một thời gian sau đó tìm cách chuyển công tác về nới tốt hơn; - Chống quyết định và tìm cách để được nhận công tác ở những nới tốt hơn: - Chán nản và không muốn theo đuổi nghề y.

22. Sau khi tốt nghiệp, đồng chí có muốn mở một phòng khám riêng không? Vì sao? 2.3. Có thầy thuốc bên cạnh công việc chuyên môn họ còn làm ăn, buôn

bán và giàu có một cách chính đáng, đồng chí sẽ: A. Đồng ý B. Phân vân C. Không nên D. Phản đối

24. Đồng chí cảm thấy như thế nào nếu một thầy thuốc làm nhiệm vụ

giảng dạy lại giấu nghề và không truyền nghề cho học viên của mình? A. Phẫn nộ C. Không cảm thấy gì D. Thông cảm B. Coi thường

25. Khi học lâm sàng tại BV, gặp phải BN đang sốt cao (dễ lây nhiễm bệnh) bác

sĩ chỉ đạo, yêu cầu đồng chí theo dõi chăm sóc BN đó. Đồng chí cảm thấy: A. Cảm thông, vui vẻ B. Đó là trách nhiệm C. Sợ

D. Trốn tránh 26. Một đồng nghiệp luôn đề cao giá trị vật chất coi thường y đức. Đồng chí sẽ:

A. Đồng ý

B. Phân vân

C. Phản đối

27. Một đồng nghiệp rất nghèo nhưng vừa cố gắng học và đề cao y đức. Đồng chí

cảm thấy: A. Khâm phục

B. Bình thường

C. Coi thường

28. Gặp một người thường chê bai nghề y, thầy thuốc. Đồng chí cảm thấy:

A. Phẫn nộ

B. Coi như không biết

C. Đồng tình

232

29. Thấy một thầy thuốc là giảng viên nghèo nhưng lại say sưa với công

việc, suốt ngày chỉ tập trung viết sách và soạn giáo án. Đồng chí sẽ: A. Kính nể

C. Coi thường B. Bình thường 30. Đồng chí tham gia học lâm sàng tại bệnh viện như thế nào?

A. Rất tích cực B. Tích cực C. Bình thường D. Sao nhãng

31. Trong các kỳ thi học phần, hết môn, đồng chí thường:

A. Không bao giờ sử dụng tài liệu C. Nhiều lần sử dụng B. Thi thoảng sử dụng D. Rất thường xuyên sử dụng tài liệu

32. Việc học tập của đồng chí ở bệnh viện, ký túc xá như thế nào:

B. Học cối để thi qua là được

A. Chủ động học C. Lúc nào thích thì học, không thì thôi D. Không học 33. Khi học thực hành làm bệnh án, đồng chí sẽ?

A. Cẩn thận B. Vừa phải C. Cho qua chuyện D. Mượn của bạn để chép

34. Đoàn TNCSHCM tổ chức các hoạt động XH: hiến máu, tình nguyện

về nguồn khám, chữa bệnh, văn nghệ, thể thao. Đồng chí thường tham gia: A. Rất tích cực B. Thường xuyên C. Thi thoảng

D. Không bao giờ 35. Giờ học trên lớp nhưng không phải môn chuyên ngành, đồng chí sẽ:

A. Học từ đầu cho đến cuối C. Ngủ trong lớp

B. Lúc nào hay thì nghe, không thì thôi D. Bỏ về 36. Gia đình dành cho 3 triệu đồng và yêu cầu đồng chí mua điện thoại

di động để tiện liên lạc, đồng chí sẽ: A. Mua theo yêu cầu của gia đình C. Dùng tiền đó để mua sách, tài liệu B. Dùng để ăn uống D. Đánh đề, lô tô, xổ số, phỏm

233

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

Phụ lục 11: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN, THẦY THUỐC VỀ TN SƯ PHẠM

1. Theo đồng chí việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã đảm bảo

các yêu cầu của TN khoa học ở mức nào? A. Rất tốt C. Đạt yêu cầu B. Tốt D. Chưa đạt yêu cầu

2. Theo đồng chí việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã : A. Chứng minh giả thuyết khoa học B. Chưa chứng minh giả thuyết khoa học

3. Việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã tiến hành các nội dung như

thế nào? A. Đủ các nội dung đã đặt ra B. Chưa đầy đủ các nội dung

4. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà

đồng chí nhận thấy có hiệu quả nhất trong quá trình TN sư phạm.

5. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà

đồng chí nhận thấy ít có hiệu quả trong quá trình TN sư phạm.

6. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà

đồng chí nhận thấy không có hiệu quả nhất trong quá trình TN sư phạm.

7. Theo đồng chí trong thực tế tình hình xã hội, quân đội như hiện

nay cần bổ sung thêm những biện pháp PTYĐ nào? Đồng chí hãy kể tên.

8. Đồng chí đánh giá như thế nào về kết quả làm việc của các cộng

tác viên trong quá trình TN sư phạm?

A. Rất phù hợp C. Không phù hợp và cần bổ sung, sửa chữa

B. Phù hợp

- Thực hiện linh hoạt và sáng tạo những yêu cầu TN đã đặt ra; - Thực hiện đúng những yêu cầu TN đã đặt ra; - Thực hiện một cách máy móc những yêu cầu TN đã đặt ra; - Không thực hiện đầy đủ những yêu cầu TN đã đặt ra. 9. Theo đồng chí các phương pháp xử lý kết quả TN sư phạm là: - Khoa học, hợp lý và chính xác; - Một số điểm chưa thực khoa học, hợp lý và chính xác; - Không khoa học, hợp lý và chính xác. 10. Theo đồng chí việc biểu đạt các kết quả TN trong luận án là:

11. Theo đồng chí các kết luận rút ra sau quá trình TN và xử lý các kết quả TN là: - Rất chính xác, khoa học và phản ánh đúng trình độ của các nghiệm thể; - Tương đối chính xác và khoa học; - Không phản ánh đúng diễn biến và trình độ của các nghiệm thể. 12. Đồng chí có đề xuất gì về quá trình tổ chức TN sư phạm của luận án?

Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

234

Phụ lục 12: TỔNG HỢP KẾT QUẢ TN CỦA BSNT Ở NHÓM TN VÀ ĐC (Nhóm thực nghiệm: 28 đồng chí)

STT Họ tên

Sinh

Cấp bậc

Năm

Gđ1 Gđ2 Gđ3

PTD NTM HTL NTS THX NHC TTNK VTMT NND DDDL LTH DVN NVPT DSH TQD VVN NTL PQT DCT NDT LTD NAT LTHV PQT NBM PTTH NTT VBN

12/11/87 23/10/87 03/4/87 30/11/87 28/7/87 03/8/87 07/12/87 16/7/87 06/8/88 12/12/87 26/01/87 17/09/87 01/8/87 02/2/87 05/9/87 13/12/86 31/10/87 03/10/87 9/7/87 10/3/87 17/10/87 19/06/87 13/09/87 10/1/86 06/11/86 3/6/88 01/4/88 27/6/88

Yt yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 7 7 7 5 5 5 5 8

Qh yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 7 5 5 5 5 8

2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012

Hv yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 5 5 5 5 6 6 6 6 6 4 5 4 5 5 8

Yt yd2 8 8 8 10 7 8 7 6 9 6 8 6 6 8 8 6 6 8 6 6 8 7 7 7 8 7 7 10

Qh yd2 9 9 9 9 8 7 8 6 7 6 7 6 6 7 6 6 7 6 7 6 7 6 7 6 6 6 6 9

Hv yd2 6 8 6 9 9 7 7 6 7 6 7 7 7 7 5 7 5 6 7 6 6 7 4 6 4 6 6 9

Yt yd3 10 10 10 8 8 7 8 8 8 7 8 6 6 8 8 6 6 7 7 7 8 7 8 8 8 7 7 10

Qh yd3 9 9 9 9 8 8 8 6 8 6 8 6 7 7 7 8 7 6 7 6 8 6 8 6 7 7 7 9

Hv yd3 8 9 10 8 6 8 6 9 6 6 7 7 7 7 6 7 5 5 8 7 7 7 5 6 5 7 7 9

1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 4 3 3 3

1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3

2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân Dân Dân

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28

(Nhóm đối chứng: 29 đồng chí)

STT Họ tên

Sinh

Cấp bậc

Năm

Gđ1 Gđ2 Gđ3

13/3/88 27/5/88 19/9/88 3/9/1989 01/10/88 20/11/88 24/8/88 20/4/88 08/1/88 06/4/88 03/9/87 23/5/88 21/9/88 23/7/88 05/10/89 01/8/89 19/4/87 6/12/88 25/7/86 01/7/88 28/01/88 31/12/88 23/9/88 10/9/88 18/9/88 16/9/88 16/9/88 20/12/89 06/5/88

2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân Dân 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân 2/

2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013

1 NTP 2 TAH 3 NTT 4 NTH 5 ĐVB 6 NTHO 7 BVN 8 NNN 9 NTD 10 LTT 11 ĐDT 12 NMH 13 NMN 14 NTT 15 BQT 16 NTVA 17 TDT 18 NDT 19 TQH 20 NQH 21 NVT 22 DTN 23 NVM 24 LVD 25 LTH 26 NDT 27 DVH 28 NTCT 29 NTH

Yt yd1 8 8 8 8 8 8 8 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 6 6 6 6 5 5 5 5 5 5

Qh yd1 8 8 8 7 7 7 6 6 6 7 6 7 7 6 6 7 6 7 6 6 5 6 6 5 5 5 5 5 5

Hv yd1 8 8 8 7 7 7 6 6 6 7 6 7 7 6 5 7 6 7 6 6 5 6 6 4 5 5 5 4 5

Yt yd2 8 6 8 8 6 8 6 8 7 7 6 7 6 8 9 9 8 6 8 7 6 6 6 6 7 6 7 6 6

Qh yd2 9 9 9 8 8 8 6 7 6 7 7 7 7 7 7 7 6 7 7 7 7 6 6 6 6 6 6 5 5

Hv yd2 8 9 8 6 7 8 6 6 6 8 6 7 8 6 5 5 5 7 6 4 5 6 6 4 5 5 5 4 5

Yt yd3 8 8 8 8 8 7 8 7 7 6 7 7 7 9 8 9 7 7 8 7 6 6 7 7 5 7 6 5 7

Qh yd3 9 9 7 7 8 8 7 7 6 7 6 6 7 6 7 5 6 6 7 7 7 7 7 5 6 6 6 6 5

Hv yd3 8 9 8 7 7 7 6 7 6 7 6 8 8 6 5 5 5 7 6 5 5 6 6 6 5 6 5 6 5

4 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 3 3 4 3

1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 3 3 4 3 3 3 3 3

1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3

2

Phụ lục 13: LỜI THỀ HYPPOCRAT

Tôi xin thề trước Appolon thần chữa bệnh, trước Esculape thần y học,

trước thần Hygie và Panacéc và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ

thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam

kết sau đây:

- Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra

tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng

những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ xem con của thầy như anh em ruột thịt

của tôi, và nếu họ muốn học nghề y tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà

cũng không dấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài

học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của

thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời cam kết và một

lời thề đúng với y luật mà không truyền cho một ai khác.

- Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chi tiết có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và

sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.

- Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và

cũng không tự mình gợi ý cho họ; Cũng như vậy, tôi sẽ không trao cho bất cứ

người phụ nữ nào những thuốc sẩy thai.

- Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết. Tôi sẽ không thực

hiện những phẫu thuật mở bàng quan mà dành việc đó cho những người

chuyên nghiệp.

mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất, tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự

do hay nô lệ. Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài

lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần

để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.

Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng

một cuộc sống sung sướng và sẽ hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của

mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu

một số phận khổ sở ngược lại.

5

- Dù vào bất kỳ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh

Phụ lục 14

9 ĐIỀU Y HUẤN CÁCH NGÔN CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông

lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn

nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hoá, thu nhập

được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không

phạm sai lầm.

2- Được mời đi thăm bệnh: nên tuỳ bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt

đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước

chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không

thành thật, thì khó mong thu được kết quả.

3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, goá phụ, ni cô... cần phải có người nhà

bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho

đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không

nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.

4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý

cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có

bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng

con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"

5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu

chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước

biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự

mình cũng không hổ thẹn.

6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách

Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng

phương mà bào chế, hoặc tuỳ bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải

phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để

thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế

sẵn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.

7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hoà nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng;

6

rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ

người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.

8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, goá bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tuỳ sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.

7

9- Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu: “Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng”, “Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp: bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!”

Phụ lục 15

LỜI THỀ TỐT NGHIỆP CỦA NGƯỜI CÁN BỘ Y TẾ VIỆT NAM

Sau nhiều năm học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được các thầy

cô giáo hết lòng dạy dỗ, dìu dắt, được các bạn đồng nghiệp chân tình giúp đỡ.

Trong buổi lễ tốt nghiệp trọng thể này.

Dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc,

Trước các thầy giáo, cô giáo và các cán bộ CNVC kính mến,

Trước các bạn đồng học thân thiết.

Tôi xin thề:

- Một: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN, phấn đấu

hết sức mình để bảo vệ và xây dựng đất nước thân yêu. Sẵn sàng đi bất cứ nới

đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến.

- Hai: Luôn luôn tôn trọng hiến pháp và luật pháp của Nhà nước, thực

hiện nghiêm chỉnh các quan điểm và quy định của ngành y tế Việt nam,

không bao giờ có những hành động làm ảnh hưởng đến truyền thống nhà

trường, trái với lương tâm của người cán bộ y tế nhân dân.

- Ba: Giữ gìn bí mật nghề nghiệp, tôn trọng phẩm chất người bệnh, hết

lòng hết sức phục vụ sức khoẻ nhân dân, làm đúng lời dạy của Hồ Chủ tịch:

”Lương y như từ mẫu”

- Bốn: Khiêm tốn, đoàn kết và hợp tác chân thành với các đồng nghiệp,

- Năm: Vì sự nghiệp tạo nên sức khoẻ và đem lại hạnh phúc cho

nhân dân, tôi nguyện tích cực lao động và học tập, phấn đấu không mệt

mỗi nâng cao trình độ chính trị khoa học kỹ thuật, góp phần xây dựng nền

y học Việt Nam.

Tôi nguyện giữ trọn lời thề trong bất cứ hoàn cảnh nào để xứng đáng

với công ơn to lớn của Đảng, của nhân dân, nhà trường và gia đình.

8

yêu ngành, yêu nghề, tự hào chính đáng với các công việc của chính mình.

Phụ lục 16: QUY ĐỊNH VỀ Y ĐỨC

(TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC Y TẾ)

Ban hành kèm theo Quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 1 năm 1996

của Bộ trưởng Bộ Y tế

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện

ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc

người bệnh, coi họ đau đơn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó

khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền

Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo

đức được xã hội thừa nhận.

1- Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện

đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải

có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao

phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực

nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi

khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

2- Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên

môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương

tế và sự chấp nhận của người bệnh.

3- Tôn trọng quyền được khám bệnh chữa bệnh của nhân dân. Tôn

trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần

bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính

sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử người bệnh. Không được có

thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải

trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4- Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở,

tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải

9

pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y

giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác

điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người

bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi

phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu

chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.

5- Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được

đun đẩy người bệnh.

6- Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp

lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm

chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

7- Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí

kịp thời các diễn biến của người bệnh.

8- Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục

điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ.

9- Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và

hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

10- Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy,

sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

11- Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình,

không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

chống dịch bệnh cứu chữa người bị tai hạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu

thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

10

12- Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phòng

Phụ lục 17

TIÊU CHUẨN “ ĐƠN VỊ QUÂN Y 5 TỐT”

1. Phục vụ chiến đấu, SSCĐ, huấn luyện xây dựng đơn vị, thực

hiện nề nếp chính quy tốt

- Xây dựng và thường xuyên kiện toàn kế hoạch bảo đảm quân y theo

nhiệm vụ của đơn vị, các phân đội quân y cơ động thường xuyên sẵn sàng

luyện tập và sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi có tình huống.

- Thực hiện nghiêm các chế độ: trực chỉ huy, trực ban, trực chuyên môn

nghiệp vụ và trực SSCĐ đủ số lượng, đúng thành phần, nắm chắc được nhiệm

vụ và xử trí tốt các tình huống xảy ra theo phân cấp nhiệm vụ.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên vững vàng về chính trị tư tưởng

và y đức, giỏi chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng đơn vị là một khối thống

nhất, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Bảo đảm an toàn đơn vị, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật

tự xã hội trong khu vực đóng quân. Tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh,

các tổ chức quần chúng (Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn) đạt vững mạnh.

- Có kế hoạch tổ chức triển khai phong trào thi đua của Ngành, thực

hiện tốt chế độ báo cáo thi đua theo định kỳ.

2. Có nếp sống vệ sinh, khoa học, đảm bảo quân số khỏe tốt

- Thực hiện tốt các biện pháp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội, đảm

- Thường xuyên cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho

thương, bệnh binh và cán bộ, nhân viên trong đơn vị.

- Không có các trường hợp vi phạm các tệ nạn xã hội trong đơn vị.

- Có kế hoạch và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp cần thiết xử

lý chất thải, bảo vệ môi trường.

bảo quân số khỏe và vượt chỉ tiêu theo phân cấp quy định.

3. Quản lý sức khỏe và cấp cứu, điều trị tốt

- Công tác quản lý sức khỏe tốt, có sổ theo dõi ghi chép đầy đủ tình

hình sức khỏe của toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trong toàn đơn vị, nhất là các đồng

11

chí có bệnh mãn tính. Hàng năm, tổ chức khám sức khỏe đinh kỳ đạt 100%

quân số có mặt tại đơn vị.

- Thực hiện và vượt chỉ tiêu thu dung cấp cứu, điều trị theo quy định.

- Thực hiệm nghiêm 44 chế độ bệnh viện, 25 chế độ bệnh xá theo quy

định của Ngành. Phát huy cao nhất năng lực chuyên môn kỹ thuật hiện có

trong thu dung cấp cứu, điều trị, hạn chế đến mức thấp nhất những tai nạn, tai

biến trong điều trị.

- Làm tốt công tác đào tạo huấn luyện, chỉ đạo tuyến.

- Các cơ sở được phép khám, chữa bệnh cho nhân dân có thu một phần

viện phí và bệnh nhân bảo hiểm y tế ngoài quân đội phải thực hiện theo đúng

các quy định của Bộ Quốc phòng và hướng dẫn của Cục Quân y.

4. Kết hợp Y dược học hiện đại với Y dược học cổ truyền tốt

4.1. Đối với quân y tuyến đại đội, tiểu đoàn, các bệnh xá, đội điều trị

và tương đương cần đạt một số tiêu chuẩn cụ thể sau

- Có vườn thuốc nam diện tích 150 - 200 m², đủ 50 cây thuốc theo 10

nhóm cây thuốc chữa bệnh thông thường.

- Đạt tiêu chuẩn thu hái dược liệu theo quy định.

- Đạt chỉ tiêu 10% tỉ lệ giường bệnh cho y học cổ truyền của tuyến

bệnh xá, đội điều trị.

- Đạt chỉ tiêu điều trị bằng thuốc nam, châm cứu khỏi đạt 10 - 15%

- Tổ chức học tập về y học cổ truyền cho các đối tượng 10 - 15 giờ/ năm.

4.2 Đối với Bệnh viện, Viện y học cổ truyền

- Có vường thuốc mẫu > 150 - 200 m², đủ 10 nhóm cây thuốc thường

dùng, để huấn luyện, hướng dẫn cán bộ, nhân viên y dược của bệnh viện, sinh

viên thực tập và các lớp tập huấn chuyên ngành. Tổ chức thu hái phục vụ điều

trị cho bệnh nhân.

- Điều trị y học cổ truyền đơn thuần đạt 70% tổng số thu dung bệnh

nhân ở khoa YHCT.

12

tổng số thu dung.

- Thực hiện có hiệu quả nghiên cứu, kế thừa ứng dụng vào chẩn đoán,

điều trị cho bệnh nhân.

- Sử dụng có hiệu quả trang bị, bào chế, sản xuất thuốc thành phẩm,

nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

5. Quản lý và sử dụng thuốc, trang thiết bị y tế

- Chấp hành nghiêm các quy chế quản lý thuốc, trang thiết bị y tế; sử

dụng thuốc hợp lý, an toàn, tiết kiệm.

- Thực hiện giữ tốt, dùng bền và có hiệu quả thuốc, trang thiết bị y tế,

không để thuốc quá hạn, thuốc giả, thuốc kém phẩm chất trong đơn vị.

- Bố trí xắp xếp thuốc, trang thiết bị y tế gọn gàng, khoa học; giám sát chặt

chẽ chế độ quản lý, sử dụng thuốc độc, thuốc gây nghiện theo đúng quy định.

- 100% cán bộ, nhân viên quân y nắm vững tính năng, công dụng, cách

sử dụng thuốc, trang thiết bị hiện đại có trong đơn vị theo phân cấp nhiệm vụ

chuyên môn kỹ thuật và sử dụng thành thạo.

- Các cơ sở pha chế phải đảm bảo các yêu cầu quy định, có quy trình

pha chế và có sổ sách ghi chép đầy đủ.

- 100% máy y tế có lịch theo dõi, bảo quản và định kỳ được ghi chép,

(Trích: Chỉ thị số 1253/HC-39 ngày 26/9/2006 của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần)

13

đánh giá chất lượng.