BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ VŨ HOÀI NAM PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC HÀ NỘI - 2015
BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
VŨ HOÀI NAM PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử giáo dục
Mã số: 62 14 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS Mai Văn Hóa
2. PGS, TS Phạm Viết Vượng
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là
trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Hoài Nam
MỤC LỤC
5 MỞ ĐẦU
12 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Y ĐỨC VÀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC
27 CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI
Những vấn đề lý luận về y đức 1.1 27
1.2 Những vấn đề lý luận về phát triển y đức của người thầy
thuốc quân đội trong bối cảnh hiện nay 41
1.3 Nội dung phát triển y đức và tiêu chí đánh giá sự phát triển y
đức của người thầy thuốc quân đội 53
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA
61
NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển y đức 2.1
của người thầy thuốc quân đội 61
2.2 Tình hình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội
hiện nay 64
2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội 100
Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN Y ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY
104
THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Xu hướng phát triển y đức và những vấn đề đang đặt ra đối 3.1
với người thầy thuốc quân đội hiện nay 104
thuốc quân đội
106
136
3.2 Yêu cầu và các biện pháp phát triển y đức của người thầy
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1
Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm
136
4.2
Tổ chức thực nghiệm sư phạm
137
4.3
Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
147
167
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
170
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
172
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
179
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
Bác sĩ nội trú BSNT
Đạo đức cách mạng ĐĐCM
Độ lệch chuẩn ĐLC
Đối chứng ĐC
Đơn vị quân y ĐVQY
Điểm trung bình ĐTB
Kinh tế thị trường KTTT
Phát triển y đức PTYĐ
Thầy thuốc quân đội TTQĐ
Thực nghiệm TN
Trung bình chung TBC
Tư bản chủ nghĩa TBCN
Xã hội chủ nghĩa XHCN
DANH MỤC BẢNG
TT TÊN BẢNG Trang
Bảng 2.1 Các đối tượng khảo sát 62
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát vai trò của y đức đối với người TTQĐ 65
Bảng 2.3 Lý do trở thành người TTQĐ 67
Bảng 2.4 Thực trạng về niềm tin y đức của người TTQĐ 68
Bảng 2.5 Thực trạng ý chí y đức của người TTQĐ 69
73
Bảng 2.6 Thực trạng mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ 70
75
Bảng 2.7 Thực trạng thái độ y đức của người TTQĐ với NB
77
Bảng 2.8 Thực trạng thái độ y đức với đồng nghiệp và với bậc thầy
78
Bảng 2.9 Thực trạng thái độ y đức của người TTQĐ với xã hội, cộng đồng
79
Bảng 2.10 Thực trạng thái độ y đức với công việc, với chính bản thân
Bảng 2.11 Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ
80
Bảng 2.12 Thực trạng hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự
rèn luyện y đức của người TTQĐ
Bảng 2.13 Thực trạng hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều 81
83
lệnh và pháp luật của người TTQĐ
Bảng 2.14 Thực trạng hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ
84
Bảng 2.15 Thực trạng hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong
86
học tập, công tác và điều trị
87
Bảng 2.16 Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ
89
Bảng 2.17 Thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay
dục, bồi dưỡng y đức và môi trường y đức của người TTQĐ
139
Bảng 4.1
Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức
141
Bảng 4.2
Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức
143
Bảng 4.3
Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển hành vi y đức
148
Bảng 4.4
Kết quả kiểm tra đầu vào về ý thức y đức
148
Bảng 4.5
Kết quả kiểm tra đầu vào về thái độ y đức
149
Bảng 4.6
Kết quả kiểm tra đầu vào về hành vi y đức
Bảng 2.18 Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo
Bảng 4.7
Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1
149
Bảng 4.8
Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1
150
151
153
Bảng 4.9 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1
154
Bảng 4.10 Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
155
Bảng 4.11 Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
Bảng 4.12 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
157
Bảng 4.13 Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3 156
158
Bảng 4.14 Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3
164
Bảng 4.15 Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3
Bảng 4.16 Kết quả tổng hợp của nhóm TN và ĐC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
TT TÊN BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang
80
Biểu đồ 2.1 Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ 71
Biểu đồ 2.2 Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ
87
88
Biểu đồ 2.3 Thực trạng phát triển hành vi y đức của người TTQĐ
150
Biểu đồ 2.4 Thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ
151
Biểu đồ 4.1 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1
Biểu đồ 4.2 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1
Biểu đồ 4.3 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1 152
154
Biểu đồ 4.4 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2 153
Biểu đồ 4.5 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2
Biểu đồ 4.6 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2 155
Biểu đồ 4.7 Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3 156
157
Biểu đồ 4.9 Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3
158
161
Biểu đồ 4.10a Sự phát triển về ý thức y đức của BSNT dưới tác động TN
Biểu đồ 4.10b Sự phát triển về ý thức y đức của BSNT ở nhóm ĐC
161
Biểu đồ 4.11a Sự phát triển về thái độ y đức của BSNT dưới tác động TN
162
162
Biểu đồ 4.11b Sự phát triển về thái độ y đức của BSNT ở nhóm ĐC
163
Biểu đồ 4.12a Sự phát triển về hành vi y đức của BSNT dưới tác động TN
163
Biểu đồ 4.12b Sự phát triển về hành vi y đức của BSNT ở nhóm ĐC
Biểu đồ 4.13 Sự phát triển chung về y đức của BSNT nhóm TN và nhóm ĐC 164
Sơ đồ 4.1
Sơ đồ khái quát quá trình thực nghiệm sư phạm
Biểu đồ 4.8 Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3
227
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Người thầy thuốc chân chính chữa bệnh cứu người không chỉ vì trách
nhiệm, mà còn vì lương tâm nghề nghiệp, vì lòng thương cảm đối với người
bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong thư gửi cán bộ ngành Y tế: “lương
y phải như từ mẫu”, để răn dạy người thầy thuốc phải có đạo đức (y đức)
trong công việc của mình. Nếu như y thuật làm nên danh tiếng, thì y đức tạo
nên nhân cách của người thầy thuốc, tất cả vì sự sống của con người.
Trong xã hội hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học,
kỹ thuật, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một cải thiện, nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng cao, đòi hỏi người thầy
thuốc phải có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt.
Do mặt trái của cơ chế thị trường, đạo đức của người thầy thuốc hiện
nay có những biểu hiện xuống cấp, tạo nên những bất bình trong dư luận xã
hội. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề phát triển y đức của người thầy thuốc nói
chung và phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội nói riêng, trở nên cấp
thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Đề tài Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay hệ
đức và sự phát triển y đức của người TTQĐ; chỉ ra bối cảnh hiện nay và
những yếu tố tác động đến sự phát triển y đức, đặc điểm hoạt động của người
thầy thuốc quân đội và vai trò của việc phát triển y đức; xác định các nội dung
phát triển y đức và các tiêu chí đánh giá sự phát triển của y đức; xây dựng các
biện pháp giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phát triển y đức của người TTQĐ,
nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.
thống hoá những tư tưởng và những nghiên cứu về y đức, làm rõ bản chất y
6
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Đạo đức là một hiện tượng xã hội đặc biệt có vai trò rất to lớn trong đời
sống của nhân loại. Đạo đức có liên quan đến mọi thành viên của xã hội, đến
mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có ngành y.
Y đức là đạo đức của nghề y - một phẩm chất cao quý của người thầy
thuốc, y đức được hình thành nhờ có giáo dục trong nhà trường và phát triển do
rèn luyện, tu dưỡng trong hoạt động thực tiễn của mỗi người thầy thuốc. Y đức
của người thầy thuốc luôn bị tác động bởi các yếu tố xã hội và chính chủ thể ở
mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển của xã hội, của hoạt động nghề nghiệp thì y đức
cũng phát triển. Do đó việc nghiên cứu sự PTYĐ của người TTQĐ vốn có
những đặc thù riêng trong bối cảnh hiện nay là một vấn đề cần được nghiên cứu
sâu với tư cách là một đề tài độc lập mà thực tiễn ngành y quân sự đang đòi hỏi.
Từ khi Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập cho đến nay, trong
thời chiến, cũng như trong thời bình, đội ngũ TTQĐ luôn có mặt ở mọi nơi,
mọi lúc, kể cả ở những nơi nguy hiểm nhất, vào những thời điểm ác liệt nhất,
để cứu chữa, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội để đánh thắng kẻ thù.
Đội ngũ TTQĐ còn tham gia nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao trình độ
y học nước nhà và nâng cao chất lượng hoạt động ở các cơ sở quân y, phấn
đấu ngang tầm với các cơ sở y tế trong nước và trong khu vực.
đã có những gương sáng về ý chí chiến đấu, về thái độ phục vụ người bệnh,
thể hiện phẩm chất cao đẹp của người thầy thuốc quân đội - anh bộ đội Cụ
Hồ, được bộ đội và nhân dân yêu mến.
Hiện nay các TTQĐ đang thực hiện các chủ trương, chính sách về y tế
của Đảng và Nhà nước, tham gia các hoạt động kết hợp quân - dân y, khám
chữa bệnh cho nhân dân, làm công tác vệ sinh phòng dịch, khắc phục hậu quả
thiên tai và bắt đầu tham gia vào các hoạt động cứu trợ nhân đạo, bảo vệ hòa
bình của Liên Hợp Quốc.
Trong suốt những chặng đường cống hiến và trưởng thành, các TTQĐ
7
Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI đã nhận định, cùng với sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo
đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng” [17,
tr.155]. Do những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, của chủ nghĩa cá
nhân đã dẫn tới sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ thầy thuốc.
Đã có những biểu hiện chạy theo đồng tiền, thiếu ý thức trách nhiệm
khi phục vụ người bệnh, coi thường sức khoẻ và tính mạng của người bệnh,
làm giảm lòng tin đối với bộ đội và nhân dân. Một số cán bộ, nhân viên y tế
có những nhận thức sai lệch về giá trị y đức, sao nhãng việc rèn luyện, tu
dưỡng bản thân. Những biểu hiện tiêu cực này nếu chậm khắc phục sẽ làm xói
mòn lòng tin của nhân dân đối với truyền thống tốt đẹp của ngành y tế nói
chung và ngành quân y nói riêng.
Về phương diện nghiên cứu lý luận, ở trong nước và trên thế giới đã có
nhiều công trình nghiên cứu về y đức và giáo dục đạo đức cho người thầy
thuốc nói chung. Tuy nhiên vấn đề phát triển y đức của người TTQĐ, đặc biệt
trong điều kiện KTTT, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay chưa có một tác
giả, một công trình nào nghiên cứu sâu một cách có hệ thống.
Việc đi tìm lời giải đáp cho vấn đề phát triển y đức của người TTQĐ
và thực tiễn. Với những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề Phát triển y đức của
người thầy thuốc quân đội hiện nay làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
trong thời kỳ mới là một đòi hỏi khách quan, có tính cấp thiết cả về mặt lý luận
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát, đánh giá hiện trạng y
đức của người TTQĐ, luận án đề xuất các biện pháp phát triển y đức góp
phần hoàn thiện nhân cách người TTQĐ trong tình hình hiện nay.
8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về y đức và PTYĐ của người TTQĐ.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình PTYĐ của người TTQĐ hiện
nay và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
- Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã
đề xuất.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách người TTQĐ.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển y đức của người TTQĐ trong giai đoạn hiện nay.
4.3. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và các biện
pháp phát triển y đức của người TTQĐ.
- Về khách thể khảo sát: các thầy thuốc đang công tác trong các bệnh
viện, các học viện, nhà trường và các đơn vị quân y; học viên đang học tập tại
các trường quân y; bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
- Về thời gian: các số liệu điều tra, khảo sát giới hạn trong 5 năm, từ
năm 2009 đến năm 2014.
4.4. Giả thuyết khoa học
Sự phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay bị chi phối bởi nhiều yếu
tố chủ quan và khách quan trong điều kiện cơ chế thị trường, sự phát triển
nhanh chóng của y học hiện đại, cũng như những đặc điểm của nghề y trong
quân đội. Nếu kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức ngành y với quán
triệt pháp luật y tế, kỷ luật quân đội, nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như
tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tiêu cực trong hành nghề, thì y đức
của người TTQĐ sẽ được phát triển.
9
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách
mạng và giáo dục, phát triển nhân cách con người Việt Nam nói chung và y
đức của người thầy thuốc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với phương pháp luận
giáo dục giá trị đạo đức.
- Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên quan điểm tiếp cận hệ
thống - cấu trúc, quan điểm lịch sử - lôgíc, quan điểm phát triển - hoạt động,
quan điểm thực tiễn để phân tích đánh giá, xem xét các vấn đề có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,
khái quát hoá các tài liệu lý thuyết chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện,
nghị quyết, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước và quân
đội có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát khoa học: tri giác hoạt động nghề nghiệp của
nghiệp và với xã hội.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: lập phiếu và tổ chức điều tra
các hoạt động của bác sỹ, điều dưỡng viên, y sỹ, y tá, hộ lý, dược sỹ, dược tá,
cán bộ lãnh đạo chỉ huy, giảng viên và học viên sĩ quan quân y và với bệnh
nhân đang trong điều trị.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: trao đổi với thầy thuốc, bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân về nhận thức, thái độ, hành vi y đức của thầy thuốc làm
cơ sở cho việc đánh giá kết quả của những biện pháp phát triển y đức.
các thầy thuốc, trong tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, với đồng
10
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu các báo cáo tổng kết,
kinh nghiệm quản lý của các đơn vị quân y, các bệnh viện, nhà trường trong
những năm gần đây.
- Phương pháp thực nghiệm có đối chứng: để khẳng định tính hiệu quả
của một số biện pháp đã đề xuất.
* Các phương pháp hỗ trợ
- Sử dụng các công thức toán thống kê và phần mềm máy tính để xử lý
các số liệu thu thập được từ các phương pháp khảo sát thực tiễn.
- Phương pháp chuyên gia xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các
nhà sư phạm, nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp mới của luận án
- Về lý luận: luận án tổng quan những tư tưởng và các công trình
nghiên cứu về y đức, xây dựng các khái niệm cơ bản để làm cơ sở cho việc
giải quyết những vấn đề lý luận về y đức và PTYĐ của người thầy thuốc, xác
định các nội dung và tiêu chí đánh giá sự PTYĐ. Chỉ ra vai trò và những yếu
tố tác động tới sự PTYĐ của người TTQĐ.
- Về thực tiễn: làm rõ bối cảnh hiện nay, đặc trưng hoạt động của
người TTQĐ; đánh giá thực tiễn PTYĐ của người thầy thuốc bằng các số liệu
đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay, đặc biệt là biện pháp
xây dựng chương trình, nội dung giáo dục y đức với tư cách là môn học độc
lập trong đào tạo ở các trường y quân đội cũng như bồi dưỡng cho các cán bộ
quân y ở đơn vị cơ sở là một biện pháp cơ bản, lâu dài.
khách quan, chỉ ra những kinh nghiệm và xu hướng PTYĐ của người TTQĐ,
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận về y đức và sự
PTYĐ của người thầy thuốc nói chung, người TTQĐ nói riêng với tư cách cơ
sở lý luận của đề tài.
11
- Về thực tiễn: luận án cung cấp tài liệu về thực trạng PTYĐ của người
thầy thuốc, đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ với tư cách cơ sở
thực tiễn của đề tài.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy, bồi dưỡng y đức và quản lý đơn vị cho giảng viên, cán bộ quản lý ở các
đơn vị quân y, các bệnh viện trong và ngoài quân đội.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu nội dung của đề tài gồm: phần mở đầu, tổng quan về vấn đề
nghiên cứu, 4 chương (11 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình
nghiên cứu của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
12
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Những nghiên cứu về y đức và phát triển y đức ở nước ngoài
1.1. Những tư tưởng về y đức và phát triển y đức trên thế giới
Đạo đức của người thầy thuốc (y đức) là một hiện tượng được hình
thành và phát triển rất sớm trong lịch sử của nền y học thế giới.
Trong nền văn minh Lưỡng Hà, (3.700 - 1000 TCN) trong một văn tự
cổ nhất có ghi: Toàn thể dân chúng đều là thầy thuốc…kẻ đi đường có bổn
phận thăm hỏi bệnh nhân và không được làm thinh, lẳng lặng bỏ đi [108], Bộ
tộc Sumerien đặt ra bộ luật Hamourabi qui định tiêu chuẩn hành nghề y một
cách đơn giản: người thầy thuốc được lấy tiền khám và chữa bệnh (10 đồng
tiền nếu người bệnh là chủ nô, 2 đồng tiền nếu người bệnh là nô lệ - tiền
khám và chữa bệnh cho nô lệ do chủ nô chi trả) [109].
Trong nền văn minh Ai Cập, ngành y đã được chuyên môn hoá nhưng
mang tính thần quyền. Do ảnh hưởng của thần quyền dẫn đến quan niệm: Đạo
đức của người y sĩ cũng như đạo đức của tu sĩ có thiên mệnh chữa khỏi bệnh
tật và chính Chúa đã tạo ra họ. Do đó, đức tính chủ yếu của thầy thuốc là đức
tin, phương pháp điều trị cơ bản là cầu xin [107].
Phật giáo cho rằng: Tất cả chỉ là không nhưng đời vẫn lấy không làm có.
thật, để từ đó lấy cho bằng được và giữ cho bằng được. Thầy thuốc còn phải
chấp nhận ngã pháp để hành nghề. Y đức ở Phật là lòng vị tha và tránh xa
những cám dỗ trong hành nghề. Giáo lý của nhà Phật là để đức giúp người, đã
theo Phật thì hành phải thiện và ý cũng phải thiện. Thiện là tiêu chuẩn đạo đức
của người thầy thuốc mà không phải lúc nào cũng đạt được, bởi thiện và ác đều
là pháp tướng, trong thiện có ác, trong ác có thiện. Người thầy thuốc đạt đến
đỉnh cao của y đức phải tự rèn luyện mình để cuối cùng cứu người mà không
biết mình cứu người, giống như hơi thở, thở ra mà không biết mình đang thở.
Tất cả chỉ là duyên khởi những người đời vẫn chấp nhận ngã pháp cho nó là
13
Người giác ngộ phải hoà được cái tâm nhỏ bé của mình vào tâm chân như của
nhà Phật, để đạt được lý tưởng đạo đức của nghề y [107].
Theo Lão Tử nhà văn hoá Trung Hoa cổ đại thì: bản chất của nghề y là
cứu người, cái đức của người thầy thuốc là cứu người mà không thấy rằng
mình cứu người, vì đấy là lý đương nhiên như chim bay, cá lượn, gió thổi.
Chờ đến lúc vì nhân mới làm, có nghĩa mới làm, vì lễ hay pháp mới làm, đã
có phân biệt thân sơ, có chuyện trả ân, có sợ phép nước. Đức lúc này mỏng
quá và không còn là đạo nữa.
Ở phương Tây cách đây hơn 2500 năm, Hyppocrate người được coi là
ông tổ của ngành y, ông đã nêu lên cơ sở đạo lý mà người làm nghề thầy thuốc
phải tuân theo và phải tuyên thệ trước khi bước vào nghề: “Tôi sẽ chỉ dẫn mọi
chế độ có lợi cho người bệnh, tuỳ theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ
tránh mọi điều xấu và bất công, tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và cần thiết,
dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh…”[95, tr.6-8].
Thời Hy Lạp cổ đại đã có các tiêu chuẩn cho người thầy thuốc, đó là
phải biết chữ, phải khôn khéo, linh hoạt, trung thực, có sức khoẻ, biết giữ vệ
sinh, có đức độ, bình tĩnh và không được mê tín.
Thời kỳ La Mã cổ đại, tư tưởng y đức của người thầy thuốc được phát
triển mạnh, đã có Hội thầy thuốc nhân dân (Archiatri popularis) được Thượng
không lấy tiền đối với người nghèo, có quyền được nhận tiền thưởng của
người bệnh khi họ bình phục, nhưng nghiêm cấm hối lộ, mặc cả, nếu vi phạm
người thầy thuốc sẽ bị tước quyền hành nghề. Galien (131-201) là thầy thuốc
vĩ đại đã có nhiều đóng góp về y đức. Galien yêu cầu người thầy thuốc phải
có tấm lòng nhân đạo, tình thương, tế nhị, khôn khéo, mềm dẻo. Thầy thuốc
Scribonius đã mô tả y đức như là những cam kết thương yêu và thể hiện sự
nhân từ để làm giảm đi những đau đớn, đau khổ của người bệnh.
viện bổ nhiệm, hội quy định thầy thuốc phải hành nghề nhân đạo, chữa bệnh
14
Thời kỳ phong kiến, Avicènne (980-1037) một danh y nổi tiếng đã biên
soạn y điển “Cannon of medecine” 5 tập, “quy tắc khoa học y học”, “đạo
đức”. Lần đầu tiên môn đạo đức y học được giảng dạy tại trường đại học
Salerne (TK9 - TK13). Giáo sư Arnold đã soạn và viết bộ luật “Salerne về sức
khoẻ”. Bộ luật Salerne được trình bày bằng thơ nói tới vai trò y học trong đời
sống, phương pháp dự phòng, chữa bệnh và đặc biệt quan tâm tới đạo đức của
người thầy thuốc.
Thời kỳ tư bản phát triển, đạo đức xã hội nói chung, y đức nói riêng
tiến bộ nhiều so với thời kỳ trung cổ. Sydenham (TK18) cho rằng thầy thuốc
là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng, phục vụ tận tâm và tạo điều kiện
cho người bệnh lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh.
Thời kỳ xã hội chủ nghĩa, đạo đức y học dựa trên các yêu cầu chung
của đạo đức xã hội. Đạo đức y học có mục đích là cứu người, trách nhiệm
nghề nghiệp yêu cầu người thầy thuốc phải có kiến thức khoa học, nghệ thuật
chữa bệnh và chuyên môn sâu. Thầy thuốc hành nghề vì mục đích trong sáng,
hết lòng vì người bệnh, không vụ lợi. Nguyên lý y tế XHCN tạo tiền đề cho
người thầy thuốc thực hiện nghĩa vụ và lý tưởng đạo đức của mình, cũng là
điều kiện để nâng cao tay nghề.
Theo dòng phát triển của lịch sử y học, khái niệm đạo đức y học dần
định về đạo đức trong thực hành y học và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Năm 1947, Điều lệ Nuremberg là văn kiện quốc tế đầu tiên về đạo đức
trong nghiên cứu y, sinh học có thử nghiệm trên con người. Điều lệ này nhấn
mạnh đến quyền lợi của đối tượng tham gia nghiên cứu và nghĩa vụ của người
thực hiện nghiên cứu: “Thử nghiệm liên quan đến con người cần phải có sự
tự nguyện đồng ý của đối tượng tham gia…người tham gia thử nghiệm phải
có đủ kiến thức, hiểu biết và có thể đưa ra các quyết định…”[98, tr.5-6].
được hoàn thiện. Các tổ chức y tế quốc tế và các nước đã công bố các quy
15
Năm 1953, Hội đồng Y học đa khoa của Anh đã đưa ra những tiêu chí
cụ thể liên quan đến đạo đức trong “thực hành y học” đối với các bác sĩ làm
việc trong các cơ sở chăm sóc sức khoẻ. Quy định này được bổ sung vào năm
2006: “Bệnh nhân cần bác sĩ giỏi, bác sĩ giỏi coi việc chăm sóc bệnh nhân là
mối quan tâm hàng đầu của mình, bác sĩ phải có năng lực cập nhật kiến thức
và kỹ năng, thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt với bệnh nhân và đồng nghiệp,
bác sĩ phải trung thực, đáng tin cậy và hành động chính trực” [25, tr.37].
Năm 1953, Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế (ICN) thông qua “Quy tắc
quốc tế về y đức dành cho điều dưỡng viên” và sửa đổi năm 2005: “Điều
dưỡng viên cần tôn trọng quyền con người, bao gồm các quyền về văn hoá,
quyền được sống và lựa chọn, quyền tự chủ và cư xử tôn trọng. Chăm sóc
điều dưỡng là tôn trọng và không bị hạn chế bởi lứa tuổi, màu da, tín ngưỡng,
văn hoá, tàn tật hay bệnh tật, giới tính, tình dục, quốc tịch, chính trị, chủng
tộc hay tầng lớp xã hội” [25, tr.37].
Năm 1964, Hội Y học Thế giới công bố “Tuyên ngôn Helsinki - Các
nguyên tắc đạo đức trong các nghiên cứu y học có liên quan đến con người”.
Tuyên ngôn này được sửa đổi nhiều lần, lần gần đây nhất là năm 2008. Tuyên
ngôn đưa ra những quy định về đạo đức cho các nghiên cứu y học và trách
nhiệm của người thực hiện nghiên cứu: Trách nhiệm của bác sĩ khi tham gia vào
quyết, sự riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu [106].
Năm 1981, Hội y học thế giới xây dựng “Quyền bệnh nhân”, trong đó
đề cập đến 11 quyền lợi của bệnh nhân khi cần được chăm sóc bằng dịch vụ y
tế. “Quyền bệnh nhân” được sửa đổi tại Hội nghị lần thứ 47, tháng 10 năm
2005: Bệnh nhân có quyền tự do lựa chọn bác sĩ điều trị, bệnh viện, cơ sở y tế
tư nhân hoặc công lập; bệnh nhân có quyền từ chối tham gia vào các nghiên
cứu khoa học hoặc giảng dạy y khoa… [105].
các nghiên cứu y học là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ, phẩm chất, giá trị, quyền tự
16
Năm 1999, Hội Y học Thế giới đã ra khuyến nghị: “Giải pháp tích hợp
giáo dục đạo đức y học và quyền con người vào chương trình đào tạo của các
trường y trên toàn thế giới” [25, tr.38]. Học tập và nghiên cứu về đạo đức y
học giúp cho sinh viên y khoa nhận thức được các tình huống phức tạp, khó
khăn, cách cư xử theo nguyên lý và lẽ phải.
Năm 2001, Liên minh Châu Âu đã có hướng dẫn về thử nghiệm lâm
sàng thuốc, từ năm 2004 hướng dẫn này được đưa vào các văn bản luật pháp
của các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia,
Canada [101], [103].
Đây chính là những lời tuyên bố trên quy mô toàn cầu về các vấn đề
đạo đức trong y học, các hoạt động y dược ứng dụng trên con người, hướng
dẫn về đạo đức cho các bác sỹ, các nhà khoa học tham gia vào các hoạt động
y sinh trên lâm sàng và cận lâm sàng [102], [103], làm cơ sở cho việc xây
dựng hệ thống luật pháp trong ngành y ở từng quốc gia và trên quốc tế.
1.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về y đức và phát triển y đức
Ở nước ngoài, vấn đề y đức, giáo dục, phát triển y đức của người thầy
thuốc đã được các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu
là các công trình sau đây:
“Những lời giáo huấn về y đức, tiền đề của y học” của Pappworth M. H.
con người, thiện tâm và công bằng đối với người bệnh [97].
“Vấn đề hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ” của Butterworths Heinemann,
Nigel C. H. Stott. Các tác giả nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong chăm sóc sức
khoẻ bệnh nhân, trong thực hành lâm sàng và trong nghiên cứu y học. Chăm sóc
y tế thực chất là tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần cho người bệnh để họ
sớm được trở về với môi trường sống và làm việc [99].
“Đạo đức trong thực hành y học” của Verlag Berlin Heidelberg, Robet
K. Mckinly, Pauline A. Mc Avoy. Các tác giả cho rằng Nhà nước phải có
Tác giả cho rằng thầy thuốc phải có đạo đức, đạo đức nghề y chính là tôn trọng
17
những qui định về đạo đức nghề nghiệp cho người thầy thuốc và cần xây
dựng một hệ thống luật pháp trong hoạt động nghề y [100].
“Nhận thức của sinh viên y khoa về chương trình giáo dục y đức” của
Johnston C. và Haughton P. Các tác giả nhấn mạnh phải có một chương trình
giáo dục y đức cho sinh viên các trường y, việc giảng dạy này không chỉ cung
cấp cho họ công cụ để phân tích các tình huống trong thực hành lâm sàng, mà
còn giúp họ phát triển đạo đức nghề nghiệp trong tương lai [96].
Trong đề tài: “Đánh giá một khoá học về đạo đức y học” của Robert K,
Mc Kinley và Pauline A. Mc Avoy, cho thấy những bác sĩ tham gia khoá đào
tạo hình thành kỹ năng phân tích các tình huống lâm sàng, nhận biết các vấn
đề đạo đức trong khám, chữa bệnh. Khoá học tạo cơ hội cho các bác sĩ thảo
luận, phân tích các vấn đề y đức, những lợi ích đối với bệnh nhân mỗi khi đưa
ra các chỉ định điều trị cho họ [100].
Trong tác phẩm: “Phương pháp lâm sàng” của Butterworth Heinemann;
Johnston C. Haughton P. Các tác giả đã nhấn mạnh người thầy thuốc phải có
đạo đức trong xử lý các tình huống lâm sàng, phải biết xác định lợi ích hay có
hại khi sử dụng từng loại thuốc, từng phương pháp điều trị để tìm ra phương
án tốt nhất [96], [97].
Ở các nước phát triển, các nhà khoa học đã nghiên cứu ứng dụng nhiều
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chăm sóc và điều trị cho người bệnh. Chúng ta có
thể thấy một số lý thuyết sau:
Lý thuyết Maslow về “năm cấp độ nhu cầu” của con người giúp cán bộ
y tế lập kế hoạch chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh [103], [104].
Lý thuyết về “sức khoẻ và sự khoẻ mạnh” hỗ trợ kiến thức cho cán bộ y
tế để tìm ra các phương pháp chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, tư vấn cho
gia đình, cộng đồng theo các yêu cầu điều trị [103], [104].
lý thuyết khoa học để chăm sóc y tế cho bệnh nhân, hỗ trợ cho cán bộ y tế các
18
Lý thuyết “tâm lý xã hội” hướng dẫn cán bộ y tế theo dõi người bệnh
về mặt tâm lý, tinh thần tại các chuyên khoa [103], [104].
Lý thuyết Nightingale: coi môi trường sống như một phương tiện chữa
bệnh, cán bộ y tế cần biết những ảnh hưởng của môi trường đến tâm lý và sức
khoẻ của bệnh nhân, từ đó xây dựng môi trường lành mạnh hỗ trợ tìm ra
phương pháp chữa bệnh có hiệu quả [103], [104].
Lý thuyết Henderson giúp cho cán bộ y tế đáp ứng 14 nhu cầu cơ bản
cho người bệnh khi họ ốm đau [103], [104].
Như vậy, vấn đề y đức luôn thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trên
thế giới. Tuy có những khác nhau trong cách tiếp cận, do các điều kiện kinh
tế, xã hội, nhưng các nhà khoa học đều cho rằng người thầy thuốc phải có đạo
đức trong xử lý các tình huống thực hành lâm sàng, trong chăm sóc sức khoẻ
cho bệnh nhân.
Cho đến thời điểm hiện nay ở các nước phát triển hiện chưa có một
công trình nào đề cập tới việc phát triển y đức của người TTQĐ.
2. Những nghiên cứu về y đức và phát triển y đức ở Việt Nam
2.1. Những tư tưởng về y đức và phát triển y đức ở Việt Nam
Đạo đức người thầy thuốc Việt Nam được hình thành và phát triển theo
bề dày lịch sử của nền y học nước nhà, lúc đầu mang màu sắc từ bi, bác ái,
và Phật giáo, tạo nên những nét riêng trong đạo đức nghề y Việt Nam.
Thời xa xưa các thầy lang, thầy thuốc thường sống nương nhờ cửa Phật
(ở trong chùa) làm điều thiện, nuôi trồng cây thuốc, bốc thuốc chữa bệnh cứu
người, không lấy tiền của người nghèo.
Phạm Công Bân (thế kỷ 13) là Thái y lệnh nhưng về nhà thì chữa bệnh
cho dân nghèo. Ông tự bỏ tiền làm nhà nuôi dưỡng, chữa bệnh cho người
nghèo, người tàn tật, kẻ mồ côi.
chịu ảnh hưởng của đạo đức truyền thống phương Đông, trên cơ sở Nho giáo
19
Chu Văn An (1292-1370) là thầy thuốc, thầy giáo có đức độ và tài năng.
Ông đã mở trường dạy học, nghiên cứu y học, sáng tạo các phương thuốc đông
y, tổng kết nhiều bệnh án và biên soạn nhiều sách (trong đó, quyển “Học chú
giải tạp chí biên” có ý nghĩa quan trọng trong chữa bệnh). Ông rất coi trọng
nhân, minh, trí. Theo ông, mấu chốt của nghề làm thuốc là nhân. Phải có nhân
rồi mới có minh, trí. Đức độ là điều cần nhất của người thầy thuốc.
Đại danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh, 1325-1399), có những quan
điểm y học thực tế và nhân đạo. Ông kết hợp việc giảng kinh và cứu tế, trồng
và chế thuốc để phát cho người bệnh, huấn luyện y học cho tăng đồ. Ông đã
tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ “Nam dược thần hiệu”. Về y đức
Tuệ tĩnh cho rằng: “Làm thuốc là kế tục sự nghiệp của các bậc tiên thánh,
phải có tấm lòng nhân nghĩa”. Ông khuyên người thầy thuốc phải làm điều
lành, phải giúp bệnh nhân một cách rộng rãi, để đem lại cái phúc cho hậu thế:
“Dám khuyên y học hậu lai, tế sinh, tích thiện, phúc trời hậu ta” [81, tr.30].
Thế kỷ XV, bộ luật Hồng Đức (Triều Lê), đã có những quy định hành
nghề y, trong đó có quy định trừng phạt kẻ vụ lợi, cố tình chữa bệnh kéo dài
hoặc dùng thuốc gây chết người...
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) là ngôi sao sáng của
nền y học Việt Nam. Ông là người xây dựng hệ thống các chuẩn mực về y
đức văn hoá phương Đông phù hợp với văn hoá Việt Nam. Về đạo đức người
thầy thuốc, ông viết: “nếu còn có thể xoay xở được lại bó tay dửng dưng mặc
bệnh diễn biến mà không chịu dốc sức, hết lòng; chỉ thở vắn than dài, không
làm gì hết. Coi trọng tiền tài, xem thường tính mệnh”, thì là thầy thuốc để làm
gì? [30, tr.26]. Với ông bất kỳ hoàn cảnh nào người thầy thuốc cũng phải
quên đi lợi ích và danh dự cá nhân để tìm mọi cách chữa trị cho người bệnh,
“còn nước còn tát”. Ông luôn nêu cao tấm gương y đức, cả cuộc đời mình ông
đức cho người hành nghề y ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa các tư tưởng về y
20
luôn tự nhắc nhở phải: tiến đức, tu nghiệp. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn
luyện cho toàn thiện, toàn mỹ về đạo đức của người hành nghề y. Ông nói:
“Đạo làm thuốc là một nhân thuật, có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta,
phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người, làm
phận sự của mình mà không cầu lợi kể công” [30, tr.7]. Ông phê phán những
thầy thuốc mỗi khi xem bệnh thường hay dọa nạt: “nhân lúc cha mẹ người ta
gặp cơn nguy cập sợ hãi, hoặc bắt bí người ta trong cơn mưa đêm tối khó
khăn, gặp bệnh dễ thì trộ là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết”, không
còn tí lương tâm nào!. “Đối với kẻ giầu sang thì sốt sắng để mong lấy lợi; đối
với người nghèo khó thì lạnh nhạt thờ ơ với sự sống chết” [30, tr.26]. Ông kết
luận “Không có nghề nào đạo đức bằng nghề y và không nghề nào vô nhân
đạo bằng nghề y thiếu đạo đức” [30, tr.11].
Ngay từ những ngày đầu tiên sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã quan tâm đặc biệt tới sự phát triển nền y học nước nhà. Vấn đề y
đức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới - y đức cách
mạng. Theo Người: y đức không chỉ là lòng yêu thương người bệnh, mà còn
là ý thức nghề nghiệp, sự trau dồi để nâng cao năng lực chuyên môn nhằm
đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của
bộ đội và nhân dân.
của mình, mà còn toả sáng đến thương, bệnh binh, tù, hàng binh của đối
phương trong chiến tranh. Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ số tù binh của
quân đội Pháp bị ta bắt sống là 11.721 người, trong đó có 4.436 người bị
thương. Bác sĩ phẫu thuật người Pháp Grauwin nói với đại tướng Võ Nguyên
Giáp: “Thương binh chúng tôi còn nhiều, họ nằm rải rác ở các hầm... họ đang
ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ... Trời mưa, hầm nào cũng bùn lầy ứ đọng,
thương binh phải nằm 2 - 3 tầng. Vệ sinh tệ hại, xin các ông giúp đỡ họ”.
Đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tình yêu thương đồng bào, chiến sĩ
21
Nhận được tin này Hồ Chủ tịch đã ra chỉ thị: “Hãy cứu chữa và săn sóc họ. Vì
họ là người thua trận...” đó chính là đạo đức của người thầy thuốc của quân đội cách mạng, đạo đức của người Việt Nam.
Tháng 2/1955, Hồ Chủ tịch đã gửi thư tới Hội nghị y tế toàn quốc,
Người đề cập tới 3 vấn đề:
Xây dựng một nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng.
Phải đặt ra các yêu cầu về y đức của người cán bộ y tế.
Phải kết hợp đông - tây y, kết hợp quân - dân y, kết hợp phòng bệnh với
chữa bệnh.
Trong đó, y đức là vấn đề trung tâm, Người viết: “Phải thương yêu,
chăm sóc người bệnh như là anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng
như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu” [54, tr.476 - 477]. Bác nhắc
nhở: “Bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ
họ”. Hiểu được nỗi đau của anh em thương, bệnh binh, Bác đã dặn dò các
thầy thuốc: “Một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy
thuốc không được nhã nhặn, gặp những trường hợp như vậy, chúng ta phải
lấy tình thân ái mà cảm động, cảm hoá họ...” [52, tr.395 - 396].
Trên cương vị quản lý nhà nước về y tế, năm 1979, Bộ Y tế xây dựng 5
tiêu chuẩn của người cán bộ y tế nhân dân. Năm 1989, Quốc hội nước Cộng
định: Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tình cứu chữa
người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các qui định chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ
thuật y tế... [70]. Năm 1996, Bộ Y tế ban hành Quyết định về 12 điều y đức,
quy định về tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế: Y đức là phẩm
chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách
nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh... [2]
Năm 2009, Quốc hội nước ta thông qua “Luật khám chữa bệnh” qui định về
hoà XHCN Việt Nam thông qua “Luật bảo vệ sức khoẻ Nhân dân”. Luật qui
22
các nguyên tắc trong hành nghề khám chữa bệnh: Bảo đảm đạo đức nghề
nghiệp của người hành nghề... [71].
Ngành quân y Việt Nam luôn thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về y
đức cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều
cán bộ, chiến sỹ quân y, dân y đã làm việc quên mình để cứu chữa thương,
bệnh binh, bệnh nhân. Những tấm gương sáng về y đức của người thầy thuốc
được bộ đội và nhân dân ca ngợi và ghi công, như các bác sĩ Đặng Văn Ngữ,
Tôn Thất Tùng, Đặng Thuỳ Trâm, Y tá Trần Xuân Dậu, Hoàng Xuân Thuý...
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước về y đức và phát triển y đức
Ở Việt Nam, vấn đề y đức và giáo dục y đức cũng đã thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Đã có nhiều công trình được
công bố, trong đó có một số công trình tiêu biểu sau đây:
“Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” do Đỗ
Nguyên Phương chủ biên. Trong cuốn sách này, các tác giả bàn về y đức, y
đạo của người thầy thuốc trong lịch sử y học, chỉ rõ thực trạng y đức hiện nay
và nêu ra những yêu cầu cấp bách phải nâng cao đạo đức nghề nghiệp của
người thầy thuốc [65].
“Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam” do Đỗ
Nguyên Phương chủ biên [66], “Quán triệt quan điểm về y đức của Chủ tịch
- Trần Văn Thuỵ [14], “Suy nghĩ về vinh dự và trách nhiệm của nghề nghiệp y
tế” của tác giả Phạm Mạnh Hùng [40]. Trong những công trình này, các tác giả
đã làm rõ quan điểm về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, đề ra các
yêu cầu về y đức cho người thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận án Tiến sĩ: “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế
ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Quang, đã nghiên cứu các hoạt
động xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện pháp luật về y tế và việc xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật [69].
Hồ Chí Minh trong ngành y tế Việt Nam hiện nay” của tác giả Phan Việt Dũng
23
Trong lĩnh vực y học quân sự, cũng có một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu như:
“Niềm tự hào nửa thế kỷ xây dựng, phục vụ và trưởng thành của Cục
Quân y” của tác giả Nguyễn Văn Thưởng. Tác giả cho biết cán bộ, nhân viên
quân y trong các thời kỳ chiến tranh đã lo từng viên thuốc, từng giấc ngủ cho
bệnh nhân, biết nhường cơm, nhường thuốc, cứu sống nhiều thương binh,
bệnh binh [85, tr.5].
“Phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo
đảm quân y” của tác giả Nguyễn Văn Thăng, đã nhấn mạnh các thầy thuốc
quân y phải tận tuỵ, coi sức khoẻ của bệnh nhân như sức khoẻ của người thân
trong gia đình mình [82, tr.8].
Luận án tiến sĩ Tâm lý học: “Vấn đề giao tiếp của bác sỹ quân y với
người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh”, của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hà, đã phân tích bản chất xã hội và tâm lý trong quá trình giao tiếp của bác sỹ
quân y với người bệnh, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao
hiệu quả giao tiếp của bác sỹ quân y. Nghiên cứu của tác giả không chỉ góp
phần nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh, mà còn giúp phát triển năng lực
nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách người thầy thuốc quân y trong giai đoạn
hiện nay [28].
đức thông qua dạy học các môn y học chuyên ngành”, do Nguyễn Quang Phúc
làm chủ nhiệm, cho rằng giáo dục y đức là sự kết hợp “hai trong một” của quá
trình đào tạo người thầy thuốc quân y. Giáo dục y đức là điều kiện để phát triển
đồng thời cả năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách của người thầy
thuốc. Theo các tác giả, giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học
chuyên ngành là trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng chuyên môn y học,
trên cơ sở đó hình thành các phẩm chất y đức cho người học. Giáo dục y đức là
một yêu cầu tất yếu trong quá trình đào tạo y nghiệp của người TTQĐ [64].
Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Các giải pháp kết hợp giáo dục y
24
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng: “Nâng cao chất lượng công tác
đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội
trong tình hình mới”, do Nguyễn Hồng Giang làm chủ nhiệm, đã đề cập tới
những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị ở các bệnh
viện quân đội, bồi dưỡng nhận thức, nâng cao bản lĩnh chính trị, làm chuyển
biến y đức của đội ngũ cán bộ nhân viên y tế quân đội [27].
Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao
phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay”, do Vũ Đăng Khiên làm chủ nhiệm, đã phân tích
những đặc điểm chủ yếu của người cán bộ quân y cấp phân đội và sự tác động
của nền KTTT, đề tài đã xác định hệ thống các tiêu chuẩn về phẩm chất và
năng lực cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện KTTT. Rút ra những kinh
nghiệm về bồi dưỡng phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ quân y. Đã đề
xuất các giải pháp nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quân y
cấp phân đội trong điều kiện KTTT hiện nay [43].
3. Đánh giá khái quát các công trình đã công bố và những vấn đề
luận án cần tập trung giải quyết
3.1. Đánh giá khái quát các công trình khoa học đã công bố
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập tới những khía cạnh về y
- Đã làm rõ tầm quan trọng của y đức trong khám, chữa bệnh, chăm
sóc sức khoẻ cho bệnh nhân. Y đức là đạo đức của người làm thầy thuốc, đó
là sự thiện tâm, thiện chí, cảm thông, đối xử công bằng, nâng đỡ bệnh nhân
vượt qua bệnh tật. Người thầy thuốc phải biết tự hoàn thiện về y nghiệp và y
đức, trị bệnh, cứu người, để hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
- Đã đề cập tới nội dung y đức của người thầy thuốc. Từ việc phân
tích các lời thề, lời di huấn, cách ngôn trong nghề y, ở phương Đông cũng
đức và giáo dục y đức, trong đó có những kết quả nổi bật như sau:
25
như ở phương Tây, các tác giả cho thấy người thầy thuốc chân chính có
những phẩm chất đặc trưng, đó là lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp, hết mình
vì sự sống của người bệnh.
- Đã đề xuất các qui tắc, chuẩn mực y đức. Đưa ra các lời khuyên, các
hướng dẫn đạo đức trong hoạt động y - dược, trong giao tiếp với bệnh nhân,
trong nghiên cứu khoa học và thực nghiệm lâm sàng.
Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu cũng cho thấy:
- Các nghiên cứu chưa làm rõ nét đặc thù về y đức của người TTQĐ
trong bối cảnh hiện nay.
- Các nghiên cứu chưa làm rõ ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến y
đức của người TTQĐ, đến định hướng giá trị, đến nhân sinh quan của người
thầy thuốc, cũng như các biện pháp phát triển y đức cho họ trong quá trình
thực hành y nghiệp.
- Các nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ đại cương dành cho các đối tượng
là các bác sỹ, sinh viên ngành y và học viên sỹ quan quân y, mà chưa đề cập tới
các đối tượng khác như y sĩ, y tá, hộ lý, điều dưỡng viên, dược sỹ, dược tá.
3.2. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Trên cơ sở những phân tích trên, luận án tập trung giải quyết các vấn đề
sau đây:
vừa là cán bộ y tế, vừa là quân nhân, đối tượng phục vụ của họ là thương
binh, bệnh binh, bộ đội và nhân dân, trong chiến tranh còn có cả thương, bệnh
binh, tù, hành binh của địch. Địa bàn công tác thường là những nơi khó khăn,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Điều kiện khám chữa bệnh là những nơi
dã chiến, trang thiết bị y tế không đầy đủ.
Hai là, phân tích y đức theo tiếp cận quá trình để thấy được các mặt
biểu hiện của y đức và nội dung phát triển y đức của người TTQĐ, làm cơ sở
cho việc khảo sát đánh giá thực trạng vấn đề này.
Một là, làm rõ những nét đặc thù y đức của người TTQĐ. Người TTQĐ
26
Ba là, làm rõ quá trình giáo dục, phát triển y đức. Phát triển y đức của
người TTQĐ được thông qua con đường là quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn
luyện y đức đối với người thầy thuốc - người chiến sĩ, cần có quy trình,
nguyên tắc và phương pháp đặc thù, bắt đầu từ các trường quân y đến các
hoạt động trong các cơ sở y tế và đó là quá trình dài lâu, khó khăn.
Bốn là, làm rõ mối quan hệ giữa y đức với chính trị và pháp luật. Y
đức của người TTQĐ liên quan tới các đối tượng phục vụ, tới truyền thống
quân đội, chế độ xã hội và pháp luật của nhà nước, đây là một vấn đề cần
được nghiên cứu cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
Năm là, làm rõ sự phát triển y đức trong nghiên cứu khoa học và thực
nghiệm lâm sàng. Trước đây nói đến y đức, người ta thường quan tâm tới
quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, ngày nay y đức còn phải thực hiện trong
nghiên cứu khoa học, trong thực nghiệm lâm sàng, tương ứng với sự phát
triển của y học hiện đại trên thế giới.
Những vấn đề trên đây sẽ được nghiên cứu một cách hệ thống trong
luận án: “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”.
27
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Y ĐỨC VÀ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC
CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI
1.1. Những vấn đề lý luận về y đức
1.1.1. Đạo đức
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh - Moris nghĩa là lề thói, tập
tục, đạo nghĩa, thể hiện trong các mối quan hệ, giao tiếp hàng ngày.
Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Hoa cổ đại
bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo có nghĩa là đường đi, con
đường sống của con người. Đức là nhân đức, đức tính, là biểu hiện của đạo
nghĩa, luân lý. Như vậy đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc
sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Tiếp cận từ góc độ Triết học: Đạo đức là một trong các hình thái ý thức
xã hội. Đạo đức xuất hiện do nhu cầu cuộc sống, con người phải phối hợp với
nhau trong lao động sản xuất, trong chinh phục thiên nhiên và trong phân chia
các sản phẩm làm ra, để cùng tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của
xã hội, đạo đức cũng phát triển trở thành những quan niệm sống của xã hội và
nếp sống, hành vi của mỗi cá nhân.
Xét dưới ở góc độ Bản thể luận thì đạo đức là hệ thống tinh thần, được
không tách rời thực tiễn - hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện
tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính thực tiễn.
Duberstin và Linchevski cho rằng: Đạo đức là hình thái của sự nhận
thức xã hội, là tất cả những nguyên tắc, những quy định, tiêu chuẩn mà mọi
người phải tuân theo trong hành vi của mình.
Bản chất của đạo đức là những quy tắc điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội, là biện pháp để giải quyết và khắc phục các mâu thuẫn làm cho xã hội
phát triển, tiến bộ.
quy định bởi tồn tại xã hội. Xét dưới góc độ Xã hội học thì hệ thống tinh thần
28
Giá trị đạo đức được thể hiện qua ba chức năng: Chức năng điều chỉnh
hành vi thông qua dư luận xã hội và tính tự giác của chủ thể, đảm bảo cho các
lợi ích của cá nhân và cộng đồng. Chức năng giáo dục thông qua tác động giáo
dục xã hội và tự giáo dục của mỗi cá nhân. Chức năng nhận thức thông qua khả
năng tiếp nhận và chuyển hoá giá trị thành hành vi của mỗi con người.
Đạo đức là các quan niệm về hạnh phúc, lương tâm, danh dự, bổn phận,
nhân ái, công bằng, lẽ phải…những quan niệm này xoay quanh cái trục cơ bản là
thiện và ác và được cụ thể hoá thành các quy tắc, chuẩn mực trong các mối quan
hệ với thế giới và cách ứng xử với xã hội con người.
Đạo đức có tính lịch sử, các quan niệm về đạo đức phát triển theo từng
thời đại, nên rất đa dạng và phức tạp, với những đặc điểm sau đây:
Đạo đức có tính dân tộc, chuẩn mực đạo đức bị ảnh hưởng bởi nền văn
hoá truyền thống, tuy nhiên dù là dân tộc nào, bên cạnh những quan niệm
riêng, vẫn có những quan niệm chung đó là “tính phổ biến của đạo đức” - đạo
đức xã hội.
Đạo đức liên quan đến ý thức hệ giai cấp, ta quen gọi là đạo đức giai
cấp, mỗi giai cấp có những quan niệm khác nhau về đạo đức, cùng một hành
vi giai cấp này cho là phù hợp với đạo đức, giai cấp kia thì cho là không.
Đạo đức liên quan tới chế độ chính trị, một đất nước trong đó nhân dân
thế mà mọi nhà nước đều lấy việc giáo dục đạo đức cho công dân như là một
biện pháp để duy trì trật tự xã hội.
Đạo đức có liên quan đến nghề nghiệp, mỗi một nghề có những đặc
điểm và yêu cầu riêng, vì thế có những quy tắc, chuẩn mực đạo đức đặt ra cho
từng nghề cụ thể.
Đạo đức liên quan tới mọi công dân sống trong một nước, cho nên đạo
đức phù hợp với pháp luật của nhà nước đó. Đạo đức và pháp luật đều là các
sống với nhau có đạo đức đó là một xã hội văn minh, một nhà nước ưu việt, vì
29
quy tắc, các chuẩn mực trong ứng xử xã hội mà mọi người phải thực hiện.
Tuy nhiên, đạo đức là tình người, là lòng nhân ái, nhân đạo, không ghi thành
văn bản nhưng được mọi người tự giác thực hiện và được duy trì bằng lương
tâm và dư luận xã hội. Pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được ghi
trong hiến pháp và các bộ luật buộc mọi công dân phải tuân theo, nó được duy
trì bằng giáo dục và cưỡng chế.
Vi phạm đạo đức bị lương tâm cắn rứt, dư luận xã hội lên án, người
có lỗi ân hận, cố gắng sửa chữa, nhưng khi vi phạm pháp luật sẽ bị nhà
nước trừng phạt. Mỗi công dân phải sống có đạo đức đồng thời cũng phải
sống theo pháp luật, cả đạo đức và pháp luật đều làm cho xã hội trở nên
văn minh, trật tự, kỷ cương. Giáo dục đạo đức cho công dân luôn đi liền
với giáo dục pháp luật.
Trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, xét về cội nguồn thì đạo
đức có trước, xét về ý nghĩa thì đạo đức chỉ dẫn hành động của mỗi người cho
phù hợp với luật pháp. Pháp luật có được thực thi hay không phụ thuộc rất
nhiều vào ý thức đạo đức của mỗi người. Thực thi pháp luật là biện pháp duy
trì trật tự xã hội, để xây dựng nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng làm cho
các mối quan hệ xã hội phù hợp với các chuẩn mực đạo đức.
Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật của mỗi người được hình thành do
luật pháp được thực hiện nghiêm minh. Nhờ có đạo đức và pháp luật mà mỗi
người tự điều chỉnh mình cho phù hợp với chuẩn mực và lợi ích chung của
xã hội.
Tóm lại: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã
hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người với con
người, với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với chính bản thân mình, làm
cho xã hội trở nên văn minh, trật tự.
giáo dục, do trải nghiệm cuộc sống, bị ảnh hưởng bởi môi trường sống và do
30
1.1.2. Đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện với tên gọi là Déontologic (Déon: bổn
phận, cần phải làm, logos: học thuyết) do nhà Triết học người Anh Bentam sử
dụng có nghĩa là: nghĩa vụ luận, đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức của người lao động trong một lĩnh vực
hoạt động cụ thể, do mục đích, đối tượng phục vụ, do các đặc điểm của nghề
quy định. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận quan trọng của đạo đức xã
hội, góp phần tạo nên một xã hội văn minh, công bằng và trung thực.
Trong xã hội có rất nhiều nghề, mỗi nghề lại có những đặc điểm riêng, từ
đó có những yêu cầu đạo đức đặc trưng. Đối với những nghề có liên quan đến
con người và sự sống của con người như nghề dạy học, nghề y có những quy
định chặt chẽ hơn về đạo đức của người hành nghề.
Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện qua ý thức, thái độ và hành vi của
người hành nghề.
Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan
đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó, bao gồm các quy tắc,
chuẩn mực mà mọi thành viên tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù
hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nghề, trong các mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân, cá nhân với xã hội,...
kiện cần thiết cho việc nâng cao chất lượng lao động, tạo ra sản phẩm tốt phục
vụ xã hội.
Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo
đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt, thí dụ:
Thầy thuốc phải có lòng trắc ẩn, thầy giáo phải là người mô phạm, nhà báo
phải trung thực, nhà chính trị phải có lòng nhân hậu với nhân dân....
Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ chặt chẽ tới năng lực của người làm
nghề. Đạo đức và năng lực nghề nghiệp thống nhất với nhau, biểu hiện thông
Người lao động tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp là điều
31
qua nhau, tạo nên nhân cách của từng cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp.
Người có đạo đức nghề nghiệp là người có tâm với công việc, với khách
hàng, thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cải
tiến phương pháp lao động để nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ khách
hàng. Người có năng lực nghề nghiệp là người tự tin trong công việc, biết
cách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của mình theo đúng các quy định đạo đức,
vì lợi ích của khách hàng. Người không có năng lực nghề nghiệp thường hay
làm dối, làm ẩu, đồng nghĩa với thiếu đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ với lòng yêu nghề, sự say mê với
công việc. Lòng yêu nghề làm cho mỗi cá nhân dồn hết tâm trí hành nghề,
sáng tạo hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ. Người lao động có đạo đức nghề
nghiệp luôn tuân thủ các quy tắc, các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lao động, tạo
nên năng suất, chất lượng sản phẩm, càng yêu nghề càng làm tốt công việc
đúng với lương tâm, đạo đức.
Đạo đức nghề nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ tới các yêu cầu pháp luật
trong hành nghề. Pháp luật quy định những điều được làm và không được làm
cho từng nghề. Người có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp không làm trái
với những điều quy định của pháp luật.
mực đạo đức trong hành nghề, phản ánh và đáp ứng những tính chất đặc
trưng của từng nghề mà người lao động phải tuân theo, với mục tiêu đem lại
lợi ích cho nghề, cũng như cho xã hội.
Đạo đức nghề nghiệp là bộ phận của đạo đức công vụ dành cho người
hành nghề là cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ. Đạo đức
công vụ là khái niệm bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử sự của cán bộ, công
chức trong các mối quan hệ xã hội và trong khi thực hiện nhiệm vụ công,
trong giao dịch hành chính với tổ chức, công dân. Điều 8, Hiến pháp năm
Như vậy: Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn
32
2013 ghi rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải tôn
trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu,
hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”.
Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan
đến đạo đức công vụ, như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Phòng,
chống tham nhũng năm 2005, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm
2013, Quy chế thực hiện dân chủ trong cơ quan 1998…để điều chỉnh hành vi
đạo đức của công chức trong khi thi hành công vụ.
Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo
đức, cách ứng xử, phong cách trong làm nghề, mang theo dấu ấn, đặc điểm và
những yêu cầu riêng của mỗi nghề đòi hỏi.
1.1.3. Đạo đức nghề y
1.1.3.1. Đặc điểm lao động của người thầy thuốc
Lao động của người thầy thuốc liên quan đến sinh mạng của con người
không phân biệt tuổi tác, giới tính, giàu, nghèo, đẳng cấp xã hội, từ khi còn là
bào thai cho đến khi mất đi. Vì vậy, nghề y được coi là một nghề nhân đạo,
người thầy thuốc phải tinh thông nghề nghiệp, phải có đạo đức trong sáng,
phải được đào tạo bài bản, nghiêm túc.
cứu phải giành giật từng giây, từng phút, bằng mọi phương tiện để cứu lấy
tính mạng người bệnh.
Lao động của người thầy thuốc gian khổ, với cường độ cao, diễn ra
không tính đến không gian, xa hay gần, thời gian dài hay ngắn, thời điểm
đêm hay ngày, ở đâu có bệnh nhân là ở đó có mặt thầy thuốc.
Lao động của người thầy thuốc trong môi trường có hoá chất độc hại, có
chất thải bệnh viện, phải thường xuyên tiếp xúc bệnh nhân mang bệnh truyền
Lao động của người thầy thuốc đòi hỏi sự khẩn trương, nhiều ca cấp
33
nhiễm như: lao, phong, HIV... tiếp xúc với xác chết, với các bộ xương người,
bản thân người thầy thuốc cũng có thể trở thành vật trung gian truyền bệnh.
Lao động của người thầy thuốc căng thẳng về mặt tâm lý, chịu sức ép
lớn của bệnh nhân và gia đình. Người bệnh có tổn thương về thể chất và
tinh thần, họ và gia đình lo lắng, có nhiều yêu cầu quá mức đối với thầy
thuốc dễ gây căng thẳng, xung đột.
Người thầy thuốc có quyền lực chuyên môn, nắm trong tay sinh mạng
của người bệnh, biết nhiều bí mật về bệnh tật của người bệnh, dễ có cơ hội
lạm dụng theo mục đích cá nhân.
Kỹ năng và đạo đức hành nghề của người thầy thuốc không dễ kiểm
soát, đôi lúc khó diễn tả và dễ nguỵ biện. Chỉ có lương tâm của người thầy
thuốc và người cùng nghề mới có thể hiểu thấu đạo đức nghề nghiệp của mình
trong những tình huống hiểm nghèo của người bệnh.
1.1.3.2. Bản chất của y đức
Y đức là đạo đức của người làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người. Y
đức là luân lí của người thầy thuốc liên quan đến những gì được xem là tốt, là
đúng, chống lại những gì được xem là xấu và sai trong hoạt động y nghiệp vì
sự sống của con người. Y đức là cái gốc nhân cách của người thầy thuốc, là
động lực tinh thần giúp họ hết lòng trị bệnh, cứu người.
động chuyên môn, kỹ thuật, là tính nhân văn, nhân đạo trong cư xử với bệnh
nhân, coi bệnh nhân như người thân trong gia đình, là những thao tác kỹ thuật
chuẩn xác, nhẹ nhàng để cứu chữa bệnh nhân như cứu chữa cho con em của
mình, “lương y như từ mẫu” là gốc rễ cho mọi suy nghĩ, mọi hành động của
người thầy thuốc.
Y đức được hình thành trên những yêu cầu của nghề y, trên cơ sở đạo
đức xã hội và pháp luật, được cụ thể hoá thành các quy tắc, chuẩn mực cho
những người làm công tác y, dược.
Y đức là tinh thần, ý thức trách nhiệm của người thầy thuốc trong hoạt
34
Dưới các góc nhìn khác nhau, các nhà khoa học có những cách diễn đạt
khác nhau về y đức:
Tiếp cận từ góc độ giá trị: “Y đức là hệ thống những tiêu chuẩn,
nguyên tắc nghề nghiệp đảm bảo sức khỏe nhân dân...” [73, tr.59].
Tiếp cận từ góc độ giao tiếp: “Y đức là cách ứng xử của người thầy
thuốc với bệnh nhân trong mọi hoàn cảnh, thể hiện ý thức trách nhiệm, thái độ
và tấm lòng...” [3, tr.25].
Tiếp cận từ góc độ hành vi: “Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc hành vi
trong quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, nó xác định bổn
phận, lương tâm, danh dự và hạnh phúc của người thầy thuốc” [65, tr.251].
Những định nghĩa trên tuy có những khác nhau trong cách diễn đạt,
song đều thống nhất ở những dấu hiệu cơ bản, đó là ý thức về bổn phận, trách
nhiệm của người thầy thuốc, là thái độ nhân đạo đối với bệnh nhân và hành vi
chuẩn mực trong thực hành nghề nghiệp.
Từ những phân tích trên, có thể khái quát: Bản chất của y đức là ý thức,
thái độ và hành vi của người thầy thuốc trong các mối quan hệ y nghiệp, tất
cả vì sự sống của con người.
Y đức được biểu hiện trên ba mặt: ý thức y đức, thái độ y đức và hành
vi y đức của người thầy thuốc.
Ý thức y đức là những quan niệm, nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực
cao đẹp về nghề y, là lý tưởng, đạo đức y nghiệp, là bổn phận, trách nhiệm
của người thầy thuốc vì sự sống của người bệnh. Ý thức y đức của người
thầy thuốc thể hiện:
Thấm nhuần những giá trị nhân văn, nhân đạo của nghề y. Hiểu rõ bản
chất của nghề y vừa là khoa học, vừa là đạo đức.
- Ý thức y đức
gìn phẩm giá, danh dự của cá nhân và tập thể, có lòng tự trọng, biết tự khẳng
định mình.
Tôn trọng con người, quyền con người, tuân thủ pháp luật. Biết giữ
35
Có tâm huyết với nghề, xả thân vì công việc, vì sự sống của bệnh nhân.
Có tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật chuyên môn,
các quy định của pháp luật.
Trung thực, liêm khiết, chí công, vô tư, không lợi dụng nghề nghiệp để
thu nhập bất minh. Có ý thức đấu tranh chống lại những hành vi tha hoá biến
chất, vì đồng tiền, coi thường tính mạng của bệnh nhân.
Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề.
- Thái độ y đức
Thái độ y đức là cách cư xử của người thầy thuốc với bệnh nhân, với
đồng nghiệp, với cộng đồng xã hội, với công việc và với bản thân mình. Thái
độ y đức của người thầy thuốc thể hiện:
Thiện chí, thiện tâm trong khám và chữa bệnh. Cảm thông sâu sắc, chia
sẻ nỗi đau đớn, sự bất lực của bệnh nhân; cùng vui với bệnh nhân khi sức
khoẻ tiến triển tốt.
Thái độ nhã nhặn, chỉ dẫn ân cần, giao tiếp lịch sự, văn minh, tôn trọng
bệnh nhân và gia đình họ. Luôn tạo niềm tin cho bệnh nhân để vượt qua hiểm
nguy. Nuôi dưỡng sự hy vọng, sự lạc quan để chống đỡ với bệnh tật.
Giữ bí mật riêng tư về bệnh tình của bệnh nhân. Có nhiều loại bệnh mà
trong quá trình điều trị người thầy thuốc cần biết căn nguồn sự thật để chữa trị
bệnh nhân.
Không đòi hỏi sự hàm ơn hay lễ vật đối với bệnh nhân và gia đình họ.
Trị bệnh cứu người là nghĩa vụ, lương tâm trách nhiệm nghề nghiệp của
người thầy thuốc.
Hợp tác, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp để hoàn thành
nhiệm vụ và nâng cao trình độ chuyên môn. Tự nghiêm khắc, có kỷ luật, biết
tự trọng với chính bản thân.
nhưng nếu công khai sẽ ảnh hưởng không tốt tâm lý bệnh nhân và người nhà
36
- Hành vi y đức
Hành vi y đức là những hành động đạo đức trong thực hành y nghiệp.
Hành vi y đức của người thầy thuốc thể hiện:
Thận trọng trong nghiên cứu khoa học, trong thử nghiệm lâm sàng khi
có người bệnh tham gia, phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Cân nhắc lợi, hại đối với bệnh nhân khi kê đơn, bốc thuốc, khi chỉ định
các phác đồ điều trị.
Thực hiện đúng các quy định kỹ thuật, đảm bảo vô trùng khi thăm
khám bệnh nhân, không để lây lan bệnh tật. Thao tác nhẹ nhàng, không gây
đau đớn cho bệnh nhân.
Chăm sóc chu đáo người bệnh trong ăn, ngủ, vệ sinh, tập luyện phục
hồi sức khoẻ.
Hành vi văn minh, không lợi dụng khám bệnh để xâm phạm đến thân
thể bệnh nhân.
Những biểu hiện này của y đức có mối quan hệ biện chứng với nhau,
tạo nên diện mạo đạo đức trong sáng của người thầy thuốc, trong đó ý thức y
đức là động lực chi phối thái độ y đức và hành vi y đức.
1.1.3.3. Đặc điểm lao động của người thầy thuốc quân đội
Người TTQĐ là những quân nhân phục vụ trong quân đội, bao gồm
quân y. Lao động của người TTQĐ cũng có những đặc điểm giống như các
thầy thuốc nói chung, bên cạnh đó còn có những đặc điểm riêng do các hoạt
động đặc thù của quân đội, cụ thể như sau:
* Nhiệm vụ của người thầy thuốc quân đội
Chăm sóc sức khoẻ, khám, chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn
quân đang làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Tham gia vào các
các bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, dược sĩ, dược tá, hộ lý đảm nhiệm công tác
trong các trường quân y, nghiên cứu phát triển y - sinh - dược học, trong đó
có y học quân sự.
hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế, đào tạo nhân lực y tế cho toàn quân
37
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kết hợp
quân - dân y, khám chữa bệnh cho nhân dân. Tham gia các chiến dịch vệ sinh
phòng dịch, bảo đảm y tế trong phòng chống thiên tai, thảm hoạ.
Là sĩ quan quân đội nên phải chỉ huy chiến đấu khi cần thiết, đồng thời
tổ chức tìm kiếm, cấp cứu, vận chuyển thương, bệnh binh trên trận địa.
Góp phần bảo vệ trật tự an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế, văn hoá
xã hội, y tế ở các địa phương đóng quân. Tham gia làm công tác y tế cho đội
quân gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc khi có lệnh.
* Đối tượng phục vụ của thầy thuốc quân đội
Cán bộ chiến sĩ trong toàn quân đang huấn luyện ở các quân binh chủng
hải, lục, không quân, bộ đội biên phòng và lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.
Cán bộ, công nhân viên chức nghỉ hưu và những công dân tham gia đóng
bảo hiểm y tế ở các địa phương. Nhân dân ở các địa bàn đóng quân, ngư dân trên
biển, những người thuộc diện chính sách, những người nghèo, bà con các dân
tộc thiểu số. Những khách hàng tự do có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, thẩm mỹ...
Tù, hàng binh, thương bệnh, binh của đối phương, theo chính sách nhân
đạo của Nhà nước và Quân đội ta và theo các công ước quốc tế về tù, hàng binh
trong chiến tranh và trong các cuộc xung đột vũ trang ở biên giới, hải đảo…
Người TTQĐ sẽ có một đối tượng phục vụ mới đó là các binh lính và
hoà bình của Liên Hợp Quốc, Việt Nam sẽ triển khai một bệnh viện dã chiến
cấp 2 ở Nam Xu Đăng trong năm 2015.
* Địa bàn hoạt động của thầy thuốc quân đội
Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng
đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong các bệnh viện quân
đội, các cơ sở y tế dã chiến. Trong các viện, trung tâm nghiên cứu quân y, các
trường quân y. Ở các đơn vị quân đội đang huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.
sỹ quan ngoại quốc. Theo Đề án về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ
38
Hiện nay địa bàn hoạt động của các TTQĐ còn là nơi đóng quân của
lực lượng bảo vệ hoà bình của Liên hợp quốc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.
* Phương thức khám, chữa bệnh và phương tiện hoạt động
Phương thức khám, chữa bệnh là chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và
nhân dân là kết hợp Đông - Tây y, quân - dân y, phòng - chữa bệnh.
Phương tiện hoạt động của TTQĐ rất đa dạng, từ các trang thiết bị kỹ
thuật hiện đại đến phương tiện truyền thống, những trang bị tối tân nhập khẩu
từ nước ngoài, những phương tiện sản xuất trong nước và cả những thiết bị tự
tạo tại các cơ sở y tế.
* Thầy thuốc quân đội là những người được đào tạo chu đáo
Nghề y là một nghề có liên quan đến sinh mạng của con người, do tính
chất đặc điểm của hoạt động khám chữa bệnh trong môi trường quân sự, tính
chất ác liệt của chiến tranh, vết thương, bệnh tật của cán bộ, chiến sĩ luôn đe
dọa với tính mạng của họ, nên người TTQĐ phải được đào tạo rất kỹ càng, thời
gian dài hơn so với ngành nghề khác. Để học y khoa, giai đoạn đào tạo đại học
khoảng 7 năm, trong khi học viên các trường đại học quân sự khác chỉ 5 năm.
Nếu tính cả thời gian thực hành, trực đêm ở bệnh viện thì thời gian học của học
viên đào tạo bác sĩ đa khoa gần gấp đôi học viên các trường đại học quân sự
khác. Ngoài ra ngay từ khi đi học họ đã phải tiếp xúc với môi trường độc hại
tiếp xúc với người bệnh, căng thẳng, đau đớn, lây nhiễm bệnh, mất mát, và chết
chóc... Thế nhưng để có thể thành một thầy thuốc có đủ khả năng hành nghề
chuyên khoa họ còn phải học thêm 3 - 4 năm tiếp theo về chuyên khoa. Để
vững vàng trong y nghiệp thì người thầy thuốc phải cần thêm chừng 10 năm
kinh nghiệm nữa. Như vậy, trong suốt 10 năm đào tạo, huấn luyện cơ bản và 10
năm trau dồi kinh nghiệm y nghiệp người thầy thuốc mới đạt được sự thành
thạo về chuyên môn nghề nghiệp của mình.
của ngành y như lây bệnh, hóa chất, bệnh phẩm...nhất là họ phải thường xuyên
39
Trong huấn luyện, người thầy thuốc phải rèn tập những kỹ năng khó
một làn dao, một mũi kim đều không thể ngẫu hứng, tình cờ. Mọi sơ sẩy của
bác sĩ có thể gây ra các biến chứng và khó giữ được tính mạng của người
bệnh. Họ cũng phải học cả những thái độ, cử chỉ, cách ứng xử với từng
trường hợp, biết che dấu cảm xúc, giờ giấc hoạt động được chương trình hóa
một cách chính xác... Rồi cả cách ăn mặc, cách nói năng phù hợp với nghề.
Người TTQĐ còn phải chấp hành nghiêm chỉnh tiêu chuẩn, qui định,
điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội và những đòi hỏi trong phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp. Họ luôn tiên phong trên các mặt trận, công tác ở những nơi xa
xôi, hẻo lánh nhất, khó khăn và thiếu thốn nhất, nguy hiểm nhất để bảo đảm
sức khỏe cho bộ đội và nhân dân trên địa bàn đóng quân.
* Nhân cách người TTQĐ gắn liền với phẩm chất “Anh bộ đội Cụ Hồ”
Người TTQĐ không ngừng phấn đấu rèn luyện về mọi mặt, để thật sự
trở thành người thầy thuốc cách mạng, có các phẩm chất của anh bộ đội Cụ
Hồ, luôn thể hiện được lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, hết
lòng vì đồng đội, phục vụ thương, bệnh binh; có tính sáng tạo, quyết đoán, có
tính tổ chức kỷ luật; có tác phong lịch sự, thận trọng, nghiêm túc, mẫu mực,
biết tôn trọng, quan tâm đồng cảm với người bệnh; luôn luôn làm theo lời dạy
của Bác: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải như là người mẹ hiền”.
nghỉ, ngày lễ, không được từ chối chữa bệnh cho dù là bệnh nhân nghèo, những
người thiệt thòi, khuyết tật, phải trung thực, thận trọng, chính xác trong các kết
quả xét nghiệm; phải giữ gìn phẩm giá, danh dự nghề nghiệp của bản thân.
1.1.3.4. Y đức người thầy thuốc quân đội
Đạo đức của người TTQĐ là sự thống nhất giữa cái phổ biến (đạo đức xã
hội), với cái đặc thù (đạo đức quân nhân) và cái đơn nhất (đạo đức y nghiệp).
Người TTQĐ, trước hết là một công dân, sống trong xã hội, họ cũng
được hình thành những phẩm chất đạo đức xã hội, thấm nhuần những giá trị,
Người TTQĐ phải luôn sẵn sàng, chủ động trong công việc, kể cả ngày
40
truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đó là tình yêu thương, đùm bọc
đồng chí và đồng bào của mình “Bầu ơi thương lấy bí cùng”; đặc biệt trong
lúc ốm đau, bệnh tật cần được cưu mang, cứu chữa. Đạo đức người TTQĐ là
một bộ phận đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
Là quân nhân cách mạng nên người TTQĐ phải tuyệt đối trung thành
với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, với chế độ XHCN, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm phấn đấu hy
sinh cho mục tiêu đó. Đạo đức của người TTQĐ xuất phát từ lợi ích của bộ
đội và nhân dân, giá trị cốt lõi của đạo đức người TTQĐ là tư tưởng “vì nhân
dân quên mình, vì nhân dân hi sinh”. Người TTQĐ có ý thức tổ chức kỷ luật
cao, tuân thủ nghiêm túc điều lệnh và kỷ luật quân đội. Có lối sống khiêm
tốn, giản dị, trung thực, cởi mở; chân thành, đồng cam cộng khổ, chia ngọt
sẻ bùi, hết lòng giúp đỡ đồng đội, cùng nhau hoàn thành mọi nhiệm vụ, kiên
quyết chống mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Là người hoạt động trong lĩnh vực y học, nên các yêu cầu y đức của
người TTQĐ cũng là những yêu cầu của người thầy thuốc nói chung. Giá trị
đạo đức cơ bản, cốt lõi của người TTQĐ là sức khoẻ và sinh mệnh của đồng
chí, đồng bào, nên phải thấm nhuần quan điểm “lương y như từ mẫu”, cứu
chữa cho bệnh nhân là cứu chữa cho người thân trong gia đình của mình, theo
Người TTQĐ theo nghĩa chung nhất cũng là công chức nhà nước, nên
phải tuân theo các yêu cầu của đạo đức công vụ, đó là “phải tôn trọng nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, liên hệ chặt chẽ với
nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, tham nhũng” (Điều 8 Hiến pháp). Công chức phải tuân thủ hiến pháp
và pháp luật trong cuộc sống. Thực hành công vụ theo đúng những quy định
của pháp luật và của các tổ chức nhà nước. Có đủ năng lực để thực hiện công
vụ, công khai, minh bạch trong mọi hoạt động đối với nhân dân.
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
41
Người TTQĐ phục vụ trong các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên
Hợp Quốc là chiến sĩ quốc tế, nên phải am hiểu truyền thống, văn hoá, đạo đức
của người dân địa phương, phải tôn trọng luật pháp quốc tế, đáp ứng các yêu
cầu của lực lượng bảo vệ hoà bình trong môi trường hoạt động quốc tế.
Như vậy: Y đức của người thầy thuốc quân đội là tổng hoà các phẩm
chất đạo đức của người thầy thuốc, người quân nhân cách mạng, người công
chức trong hoạt động y nghiệp.
Y đức người TTQĐ được thể hiện ở ba mặt ý thức y đức, thái độ y đức
và hành vi y đức và chúng được phát triển trong thực tế nghề nghiệp.
1.2. Những vấn đề lý luận về phát triển y đức của người thầy thuốc
quân đội trong bối cảnh hiện nay
1.2.1. Bối cảnh nước ta hiện nay
Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế
thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách đối ngoại đa phương, chủ
động hội nhập quốc tế, nền kinh tế đang phát triển mau chóng, đời sống nhân
dân đã được cải thiện một bước. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được về
kinh tế, văn hoá, xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế
cũng đã làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởng đến nhiều
mặt của xã hội, trong đó có nghề y, một nghề vốn được coi là nhân đức, thầy
* Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo luật cung -
cầu, số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường là căn cứ để xác định giá cả
mua bán. Quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thị trường được điều
tiết theo quy luật cung - cầu, thị trường có nhu cầu thì sẽ có sản xuất để cung
ứng. Nhà sản xuất được tự do sản xuất, kinh doanh, chấp nhận cạnh tranh và
tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Lợi nhuận kinh tế là mục tiêu tối cao, nên
thuốc được xã hội tôn vinh.
42
đã làm nảy sinh hiện tượng cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh, có người
thắng và có kẻ thua, có doanh nghiệp phá sản.
- Ưu điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường: Tạo điều kiện thuận lợi
cho nhà sản xuất tự do sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế cạnh tranh nên phát
triển năng động và có hiệu quả. Nền kinh tế thích ứng giữa sản xuất với tiêu
dùng, nhờ đó hàng hoá được sản xuất đa dạng, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
của cá nhân. Do sức ép của cạnh tranh nên những nhà sản xuất phải đổi mới
công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, từ đó thúc đẩy
nghiên cứu khoa học, nhanh chóng áp dụng kỹ thuật mới, thực hiện chuyển
giao công nghệ hiện đại. Sự điều tiết sản xuất mềm dẻo và có khả năng thích
nghi trước những điều kiện kinh tế biến đổi.
Cơ chế thị trường cạnh tranh đã mở ra khả năng giải phóng năng lực
sáng tạo của con người, thúc đẩy văn hoá, đạo đức tiến bộ, gạt bỏ những cái
lạc hậu, cổ vũ cho những gì mới mẻ, hợp quy luật. Việc phá bỏ cơ chế tập
trung, quan liêu, bao cấp, tạo đà cho những chuẩn mực đạo đức mới ra đời,
phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của người lao
động. Cơ chế thị trường khuyến khích cá nhân phấn đấu, tự khẳng định mình
và tạo lập cơ chế đãi ngộ phù hợp với năng lực cống hiến.
- Mặt trái của nền kinh tế thị trường: Mục đích tối cao của các nhà
dụng tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ
của con người. Nền KTTT tự do khó tránh khỏi những cuộc khủng hoảng có
tính chu kỳ, tạo ra nạn thất nghiệp và lạm phát. Phân phối thu nhập không
công bằng, dẫn đến phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội, “kẻ ăn không hết,
kẻ lần không ra”. Cơ chế thị trường tự phát có những tác động xấu đến đạo
đức và tình người, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, tham nhũng, hối lộ, lối
sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thờ ơ, vô cảm... Các hiện tượng này
đang thâm nhập vào ngành y.
doanh nghiệp là lợi nhuận kinh tế, vì thế nhà sản xuất vì lợi nhuận có thể lạm
43
* Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình các nước trên thế giới tiến hành các hoạt
động gắn kết với nhau, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn
lực, quyền lực và tuân thủ các nguyên tắc chung trong khuôn khổ các định
chế hoặc tổ chức quốc tế. Hội nhập quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế,
chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hoá, y tế, giáo dục ...Trong thời đại ngày
nay, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, do bản chất xã hội của lao
động và quan hệ con người quy định. Sự ra đời và phát triển của nền KTTT
đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực
và quốc tế thống nhất.
- Mặt tích cực của hội nhập quốc tế: Mở rộng thị trường, mở rộng các
mặt trong quan hệ quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ tạo nên một
thế giới phẳng; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, cải thiện
môi trường thu hút đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hội
nhập quốc tế nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công
nghệ, hợp tác giáo dục - đào tạo và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên
tiến; làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế, các
nguồn tín dụng và các đối tác nước ngoài. Tạo cơ hội để các cá nhân được
giá cạnh tranh, có cơ hội tìm kiếm việc làm trong và ngoài nước; tạo điều kiện
để các nhà quản lý nắm bắt được tình hình và xu thế phát triển kinh tế, xã hội
của thế giới, từ đó đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước. Chọn lọc
và tiếp thu những giá trị văn hoá thế giới, làm giàu văn hoá dân tộc và thúc
đẩy tiến bộ xã hội. Hội nhập quốc tế tạo động lực và điều kiện để tiến hành
cải cách xã hội toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ và nhà
nước pháp quyền; tạo điều kiện để mỗi nước tìm được vị trí thích hợp trong
trật tự quốc tế, nhằm duy trì an ninh, bảo vệ hoà bình và ổn định để phát triển.
tiếp cận với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đa dạng và chất lượng cao, với
44
- Mặt trái của hội nhập quốc tế: Làm gia tăng cạnh tranh quốc tế và
trong nước khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế chưa đủ năng lực, yếu,
kém gặp khó khăn, có thể dẫn đến phá sản. Hội nhập quốc tế làm gia tăng sự
phụ thuộc vào nước ngoài có nền kinh tế phát triển, các nước đang phát triển
dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế. Phân phối lợi
nhuận giữa các nước và các nhóm xã hội không công bằng làm gia tăng
khoảng cách giàu - nghèo. Các nước đang phát triển phải đối mặt với xu
hướng tập trung vào các ngành sản xuất sử dụng tài nguyên, sức lao động rẻ,
nhưng lại có giá trị gia tăng thấp. Do vậy, dễ trở thành bãi rác công nghiệp,
nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường ô nhiễm suy thoái. Hội nhập quốc tế
có thể dẫn tới lan tràn dịch bệnh, hiện tượng nhập cư bất hợp pháp. Làm gia
tăng nguy cơ “xâm lăng” của văn hoá, lối sống sính ngoại, thực dụng, chạy
theo đồng tiền, xâm nhập ồ ạt dẫn đến mất niềm tự hào dân tộc, mất lòng tự
trọng vốn có của mỗi người dân.
Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đang hiện diện ở mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, có đạo đức nghề y, một trong những
lĩnh vực nhạy cảm. Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đang
len lỏi vào ngành y, đã có những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ những
người thầy thuốc, trong đó có cả thầy thuốc quân đội, đã làm cho một số
như vụ phi tang xác nạn nhân ở viện thẩm mỹ Cát Tường, vụ nhân bản phiếu
xét nghiệm tại Bệnh viện Hoài Đức gần đây... Hiện tượng phân biệt đối xử
giữa các bệnh nhân giàu, nghèo, bệnh nhân chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm
và bệnh nhân chữa bệnh theo dịch vụ. Đã có những trường hợp thầy thuốc vô
cảm trước những bệnh nhân tại nạn, cấp cứu, trước những đau đớn, tuyệt
vọng của bệnh nhân nếu họ không có người nhà đi theo, hoặc không có khả
năng tài chính để điều trị.
người sa ngã, biến chất, đạo đức suy đồi, vụ lợi, thấp hèn, thậm chí tàn nhẫn
45
Tệ nạn “phong bì” đang tràn lan trong các cơ sở y tế, từ khám bệnh,
đến chữa bệnh. Đây là những điều xa lạ với y đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam. Các vụ tiêu cực trong những năm qua đã làm ảnh hưởng không
nhỏ đến uy tín của ngành y tế và đạo đức của người thầy thuốc. Đây là tiếng
chuông cảnh tỉnh, báo động đã đến lúc phải tăng cường giáo dục, phát triển y
đức, để lấy lại lòng tin và sự kính trọng của bộ đội và nhân dân.
1.2.2. Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội
1.2.2.1. Phát triển y đức
Phát triển là quá trình vận động của mọi sự vật, hiện tượng từ bậc thấp
đến bậc cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hình thành và hoàn thiện
đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc chân chính, người quân nhân cách
mạng, người công vụ mẫn cán theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Quá trình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:
Quá trình phát triển y đức của người TTQĐ diễn ra theo qui luật chung
của quá trình giáo dục và tự rèn luyện tu dưỡng đạo đức của con người.
Sự hình thành y đức của người thầy thuốc ban đầu được thực hiện trong
các trường quân y, thông qua học tập các nội dung đạo đức y học truyền
thống và hiện đại, thông qua thâm nhập thực tế các đơn vị quân đội, các bệnh
bệnh nhân, thông qua học hỏi các tấm gương sáng, mẫu mực của các thầy
thuốc đang làm việc trong các đơn vị, trong các cơ sở y tế.
Sự phát triển y đức của người TTQĐ là bước tiếp theo quá trình giáo
dục trong nhà trường, là kết quả của quá trình tác động tích cực của các đơn
vị quân y, của kỷ luật quân đội, sự giáo dục của các cấp lãnh đạo, chỉ huy và
sự nhận thức, sự trải nghiệm thực tế y nghiệp của người thầy thuốc, đặc biệt
là quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân mỗi người thầy thuốc.
viện, được tiếp xúc với bệnh nhân, thấu hiểu tâm lý và những nhu cầu của
46
Như vậy, sự phát triển y đức của người TTQĐ là kết quả của quá trình
giáo dục và rèn luyện trong môi trường quân đội, với những tác động đa chiều
của xã hội, là kết quả của việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân để hình thành
những phẩm chất tốt, chống lại những thói hư tật xấu, những tệ nạn, những
tiêu cực đang len lỏi trong ngành y.
Từ các phân tích trên có thể khái quát: Phát triển y đức của người thầy
thuốc quân đội là quá trình biến đổi, hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp của
người thầy thuốc, tạo nên sự hài hòa giữa đạo đức người quân nhân, với đạo
đức công vụ, theo chuẩn mực y đức và pháp luật y tế, nhằm đáp ứng các yêu
cầu của công tác quân y trong bối cảnh hiện nay.
Sự PTYĐ của người TTQĐ được biểu hiện trên những nội dung sau:
Y đức là sản phẩm tổng hợp của các điều kiện khách quan và chủ
quan, là quá trình chuyển hóa có tính biện chứng, phức tạp qua các khâu, các
bước từ những yêu cầu của xã hội, của quân đội thành nhu cầu của mỗi tập
thể quân y và cá nhân người TTQĐ.
Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hiện thực hóa những giá
trị y đức vào các nhiệm vụ thực tiễn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe cho bộ đội và nhân dân; đồng thời là sự sáng tạo những giá trị y đức mới.
Đặc trưng của sự phát triển y đức là sự thống nhất giữa ý thức y đức, thái độ y
thức và hành vi của mỗi người thầy thuốc. Y đức của người TTQĐ được thể
hiện bằng kết quả công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người thầy
thuốc trong khám bệnh và điều trị, bằng sự tận tâm, lòng thương cảm với nỗi
đau của người bệnh. Trong quá trình hiện thực hóa các giá trị y đức người
TTQĐ không chỉ trưởng thành về nhân cách, mà còn góp phần làm phong phú
thêm hệ thống các giá trị y đức trước những yêu cầu phát triển của y học hiện
đại, nhiệm vụ quân đội và xã hội.
đức và hành vi y đức; được biểu hiện cụ thể ở động cơ và hiệu quả, giữa ý
47
Phát triển y đức của người TTQĐ diễn ra trong quá trình tự rèn luyện,
tu dưỡng cá nhân, thông qua tác động tích cực của tập thể, của môi trường
hoạt động quân y và kỷ luật quân đội.
Phát triển y đức diễn ra trong quá trình đấu tranh thường xuyên giữa
cái mới và cái cũ, cái tốt và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu... trong từng tập
thể ĐVQY và trong từng cá nhân người TTQĐ.
Sự phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình phát huy những giá
trị, truyền thống tốt đẹp của ngành y và của từng ĐVQY. Người TTQĐ là
người kề thừa, phát huy các giá trị đạo đức cách mạng đã được các thế hệ cha
anh đã tạo dựng nên.
1.2.2.2. Vai trò phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội
Y đức có vai trò rất lớn trong sự nghiệp của người thầy thuốc nói
chung, người TTQĐ riêng. PTYĐ có các chức năng nhận thức, chức năng
giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi, là cơ sở để hình thành chuẩn mực,
qui tắc y đức, tình cảm và lương tâm của người TTQĐ. Vai trò PTYĐ của
người TTQĐ được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
- Phát triển y đức là cơ sở, điều kiện để nâng cao nhận thức, điều chỉnh
thái độ, hành vi của người TTQĐ.
Phát triển y đức dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng ta về công tác y tế, tạo nên thế giới
PTYĐ cung cấp tri thức sống, những quan điểm, chuẩn mực, quy tắc đạo đức
cho thầy thuốc trong nhận thức và trong hành động, là cơ sở để người TTQĐ
lựa chọn các giá trị đạo đức tiến bộ làm sâu sắc nhận thức về y đức và góp
phần làm phát triển thêm những hệ giá trị y đức mới.
- Phát triển y đức là cơ sở, điều kiện để phát triển năng lực chuyên môn,
hoàn thiện về nhân cách của người TTQĐ.
Y đức và năng lực chuyên môn có quan hệ biện chứng với nhau, là hai
thành tố căn bản trong nhân cách của người TTQĐ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
quan, phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động của người TTQĐ.
48
nhắc nhở người TTQĐ: “Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng
thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng, hết sức cứu chữa và phục vụ thương,
bệnh binh”[52]. Người khẳng định: nhân viên y tế nói chung và người thầy
thuốc nói riêng cần phải có lòng nhân ái, lương tâm và trách nhiệm đối với
người bệnh. Người thầy thuốc phải có năng lực thuyết phục và cảm hóa đối
với người bệnh, phải là chỗ dựa tinh thần cho người bệnh. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã lấy tình cảm sâu sắc nhất của con người là tình mẫu tử để so sánh với
người thầy thuốc và bệnh nhân. Người thầy thuốc phải có cái tâm của người
mẹ, sẵn sàng chia sẻ nỗi đau với người bệnh, hết lòng, hết sức cứu chữa người
bệnh với tình cảm và lương tâm như của một người mẹ dành cho những đứa
con của mình. Điều này chính là cơ sở, điều kiện để hình thành nên phẩm chất
đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư của người thầy thuốc cách
mạng nói chung, người TTQĐ nói riêng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, đã là người thầy thuốc thì phải
phấn đấu trở thành người thầy thuốc giỏi, y đức không chỉ là lòng yêu thương
người bệnh mà còn là tinh thần hăng say với nghề nghiệp, là năng lực chuyên
môn giỏi để lấy lại sự sống cho bệnh nhân. Trong nghề y, lòng nhân ái, yêu
thương người bệnh là động lực thôi thúc người thầy thuốc tích cực học tập, rèn
luyện nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Song, khi trình
trở lại, góp phần làm cho y đức của người thầy thuốc phát triển cao hơn.
- Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi những
hiện tượng tiêu cực trong ngành y.
Trong công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được,
xã hội nước ta hiện nay còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết.
Trong đó nổi lên là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ y tế,
những tiêu cực của ngành y đang ngày càng gia tăng, tình trạng tha hoá về đạo
độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của người thầy thuốc lại có tác động
49
đức, xuống cấp về lối sống, suy thoái về chính trị, tư tưởng của một bộ phận
cán bộ, đảng viên và nhân viên y tế đã thực sự là nguy cơ đáng báo động.
Để ngăn chặn sự tác động tiêu cực về đạo đức, lối sống, đòi hỏi chúng ta
phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp mang tính đồng bộ như: hành chính,
kinh tế, pháp luật, chuyên môn... Trong đó, PTYĐ của người thầy thuốc là
biện pháp hữu hiệu nhất có tính bền vững lâu dài. Việc giáo dục, rèn luyện để
PTYĐ của mỗi TTQĐ, nó tác động đến tâm lý, tình cảm của họ làm cho họ tự
điều chỉnh hành vi, lối sống của mình, góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi tác động
tiêu cực, xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong từng ĐVQY.
- Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần hoàn thành nhiệm vụ
chính trị của các đơn vị quân y.
Y đức cách mạng khẳng định giá trị đạo đức, phẩm giá của người
TTQĐ, đồng thời còn giúp người TTQĐ đấu tranh không khoan nhượng
chống lại mọi biểu hiện tiêu cực đang diễn ra trong xã hội, trong ngành, cũng
như ở ngay các đơn vị quân y. Thầy thuốc quân đội là những người làm công
tác tại các đơn vị quân y đang được xây dựng theo hướng chính quy, tinh
nhuệ và từng bước hiện đại. Họ vừa khám, chữa bệnh cho bệnh nhân, vừa học
tập, nghiên cứu khoa học để bảo đảm cho quân đội thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ trong mọi tình huống.
lý tưởng cách mạng, tinh thần tập thể, tính nhân văn, nhân đạo, lương tâm và
trách nhiệm của người thầy thuốc cách mạng; phát huy truyền thống tự lực, tự
cường, khắc phục mọi khó khăn gian khổ trên mọi lĩnh vực, địa bàn, điều kiện
công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Phát triển y
đức của người TTQĐ là hình thành lý tưởng sống, là lương tâm, trách nhiệm,
thôi thúc đội ngũ thầy thuốc vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không ngừng
học tập, nâng cao trình độ chuyên môn.
Phát triển y đức của người TTQĐ góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị,
50
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội
- Sự tác động của nền kinh tế thị trường
Phát triển KTTT ở nước ta hiện nay là con đường tất yếu, là chuyển từ
nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hiện đại, hội nhập quốc tế. Nền
KTTT định hướng XHCN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước trong tương
lai. Tính năng động của nền KTTT đã tác động mạnh mẽ đến nếp nghĩ, cách
làm theo hướng tích cực, từng bước bổ sung làm phong phú hơn giá trị, chuẩn
mực đạo đức, thúc đẩy đời sống văn hoá phát triển. Dân chủ và kỷ luật, nghĩa
vụ và trách nhiệm, kỷ cương và lương tâm nghề nghiệp…trở thành các giá trị
đạo đức mới, tác động tích cực đến ý thức và hành vi của mỗi người TTQĐ.
Tuy nhiên, mặt trái của KTTT đang tác động tiêu cực đến đời sống của
toàn xã hội và y đức của người thầy thuốc. Mặt trái KTTT “kích thích” các cá
nhân cạnh tranh, ganh đua để tồn tại, phát triển và làm giàu, dẫn đến phân hoá
giàu nghèo, đề cao lợi ích vật chất, lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, hẹp
hòi, ích kỷ. Đặc biệt với một số thầy thuốc thiếu bản lĩnh chính trị, họ biến
chất, tha hoá về đạo đức, họ sẵn sàng tìm mọi cách để làm giàu trên nỗi đau
của người bệnh, một bộ phận thầy thuốc đã xuất hiện các hành vi vi phạm
người thầy thuốc, chạy theo lối sống hưởng thụ, mờ nhạt về lý tưởng y đức.
- Sự tác động của môi trường y đức ở các đơn vị quân y
Môi trường y đức ở các nhà trường, ở các ĐVQY là tổng hợp những
yếu tố xã hội và nhân văn, kỷ luật quân đội tạo thành một chỉnh thể, tác động
đến quá trình PTYĐ của người TTQĐ. Môi trường y đức ở nhà trường, các
ĐVQY là cơ sở cho sự phát triển y đức. Các mối quan hệ chỉ huy cấp trên,
cấp dưới, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, quan hệ với bệnh nhân.
pháp luật, vi phạm các qui định về hành nghề y; các chuẩn mực về y đức của
51
Mọi hoạt động trong các đơn vị quân y có nề nếp, kỷ cương, cấp trên gương
mẫu, cấp dưới tích cực, tu dưỡng phấn đấu, tự giáo dục, tự rèn luyện trên cơ
sở kỷ luật quân đội nghiêm minh.
Do đặc điểm của hoạt động quân y, nên mọi hoạt động của người
TTQĐ luôn gắn kết chặt chẽ với tập thể. Mọi biểu hiện thái độ, hành vi y đức
của từng người thầy thuốc có sự giám sát chặt chẽ của dư luận tập thể. Dư
luận tập thể tác động tới lòng tự trọng, danh dự cá nhân người thầy thuốc,
thông qua việc khen ngợi hay phê phán mà mỗi người tự điều chỉnh hành vi
đạo đức, đó là một trong những phương thức giáo dục có hiệu quả. Tuy nhiên,
bên cạnh dư luận tích cực cũng có dư luận không lành mạnh, do đó lãnh đạo,
chỉ huy phải định hướng, điều chỉnh dư luận theo hướng tích cực, phát hiện,
uốn nắn những dư luận sai lệch.
Sự tác động của môi trường quân y đến từng cá nhân trên cả ba mặt ý
thức, thái độ và hành vi y đức. Kết quả PTYĐ cũng tuỳ thuộc vào trình độ
nhận thức, ý chí, nghị lực, sự trải nghiệm trong cuộc sống và công tác
chuyên môn của mỗi người thầy thuốc. Người TTQĐ tiếp nhận sự tác động
của môi trường ở các ĐVQY không phải thụ động, mà trái lại có những tác
động tích cực trở lại để xây dựng môi trường đơn vị trong sạch lành mạnh.
Trình độ PTYĐ của người TTQĐ góp phần nâng cao ý thức y đức trong tập
đức phát triển bền vững.
- Ý thức tự giáo dục của người thầy thuốc quân đội
Giáo dục và tự giáo dục là hai giai đoạn của quá trình giáo dục đối với
con người. Giáo dục là giai đoạn đầu tiên, cơ bản nhất dành cho tất cả mọi
người, ai được tiếp nhận một nền giáo dục tiến bộ, toàn diện người đó sẽ có
cơ hội phát triển nhanh. Giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội kết hợp với
nhau, tác động đồng thời làm cho nhân cách con người trở nên hài hòa, xã hội
thể quân y, làm lành mạnh các quan hệ trong đơn vị, làm cho môi trường y
52
lành mạnh. Tự giáo dục là bước tiếp sau của quá trình giáo dục, nhưng ở trình
độ cao hơn, khi con người đã có những hiểu biết, kinh nghiệm nhất định, họ
có ý thức, chủ động để tiếp nhận những tác động giáo dục, để tự giáo dục, tự
rèn luyện bản thân. Giáo dục chỉ đạt được kết quả khi mỗi người tự giác, tích
cực tiếp nhận các yêu cầu của tập thể, của các cấp chỉ huy để tự rèn luyện, tự
hoàn thiện mình.
Giáo dục y đức trong nhà trường quân y là giai đoạn đầu tiên để hình
thành và PTYĐ cho người TTQĐ, quá trình này được tiếp nối trong môi
trường quân đội, trong hoạt động ở các ĐVQY, giúp người TTQĐ chủ động
tự tu dưỡng theo yêu cầu của xã hội, của quân đội và của ngành quân y.
Như vậy, kết quả của quá trình phát triển y đức của người TTQĐ không
chỉ phụ thuộc vào quá trình giáo dục trong nhà trường, trong các ĐVQY, mà còn
ở sự tự giác tự tu dưỡng, tự rèn luyện của chính người TTQĐ. Giáo dục y đức và
tự giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau. Giáo dục y đức là cơ sở cho tự
giáo dục và tự tu dưỡng thúc đẩy sự hoàn thiện y đức của người TTQĐ.
- Thực tiễn đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong ngành y và
trong các đơn vị quân y
Cuộc đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong ngành Y và trong
ĐVQY là biện pháp tích cực để bồi dưỡng y đức cho người TTQĐ. Những
hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao đạo đức cách mạng phải gắn
liền với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Hiệu quả của cuộc đấu tranh
chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ TTQĐ, phụ thuộc
vào sự kết hợp giữa xây dựng đạo đức cách mạng, với kiên quyết đấu tranh
xoá bỏ lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường...
Hiện nay, trong xã hội đan xen nhiều quan niệm, lối sống khác nhau, có
những tư tưởng tiến bộ và còn có cả những tư tưởng cực đoan. Vì thế, quá
phẩm chất y đức của người TTQĐ, được củng cố và phát triển trong sự kết
53
trình xây dựng và hiện thực hoá lý tưởng y đức của người TTQĐ không thể
không tiến hành chống lại những tác động tiêu cực của lối sống thực dụng
chạy theo đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, các thế lực thù địch đang truyền bá
lối sống thực dụng phương Tây, mưu toan làm đảo lộn thang giá trị đạo đức
của xã hội ta. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp đòi hỏi phải phát huy
sức mạnh tổng hợp của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng. Xây dựng môi trường
y đức trong sạch, lành mạnh sẽ tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi để chống lại
những ảnh hưởng tiêu cực, lạc hậu vào trong ngành và trong các đơn vị quân
y cũng như cá nhân mỗi TTQĐ.
1.3. Nội dung phát triển y đức và tiêu chí đánh giá sự phát triển y
đức của người thầy thuốc quân đội
1.3.1. Nội dung phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành quân y tiên tiến, nền Y học Việt Nam
hiện đại, để có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ bộ đội và nhân dân trong giai
đoạn hiện nay, nội dung PTYĐ của người TTQĐ bao gồm những vấn đề sau:
Một là, phát triển lý tưởng y đức người thầy thuốc cách mạng
Lý tưởng y đức là triết lý sống của người thầy thuốc, là khát vọng vươn
lên đỉnh cao của nghệ thuật y nghiệp trị bệnh cứu người. Lý tưởng y đức được
khởi nguồn từ cái tâm của người thầy thuốc, thôi thúc tình cảm, trách nhiệm,
người TTQĐ được biểu hiện như sau:
Luôn có ý thức tự rèn luyện, trau dồi về chuyên môn và đạo đức nghề
nghiệp, thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y học để theo kịp thời đại.
Y học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, người thầy thuốc phải giỏi cả về lý
thuyết chuyên môn và kỹ thuật hành nghề. Đúng như cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã nói: “ít có nghề nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao
như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt đòi hỏi sự hiểu
nghĩa vụ trước người bệnh và cộng đồng xã hội. Phát triển lý tưởng y đức của
54
biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, từng trải và kinh nghiệm nghề nghiệp mà mọi
công việc dù nhỏ đến đâu đều liên quan đến tính mạng con người và hạnh
phúc của mỗi gia đình” [25, tr.26].
Người TTQĐ đặt quyền lợi của bệnh nhân lên trên quyền lợi của bản
thân. Thực hiện việc chẩn đoán, điều trị bệnh mà không bị chi phối bởi địa vị
xã hội, tiền bạc, giới tính, tôn giáo của họ. Phẩm chất quan trọng nhất của
người thầy thuốc chính là đức tính quên mình. TTQĐ giữ vững bản lĩnh nghề
nghiệp trước mọi sự cám dỗ, trước những khó khăn trong cuộc sống của bản
thân và gia đình. Bản lĩnh là sự thể hiện cao nhất của lý tưởng, là phẩm chất
của người có năng lực, là tự tin và dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình,
không lùi bước trước những khó khăn, trở ngại. Bản lĩnh được hình thành và
biểu hiện qua thói quen, hành vi, lối sống và nghề nghiệp của người TTQĐ, từ
đó tạo nên những giá trị đạo đức, nhân cách người TTQĐ.
Lương tâm nghề nghiệp trong sáng là cơ sở cho việc hình thành đức
tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư của ĐĐCM của người TTQĐ.
Hai là, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “lương y phải như từ mẫu” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ngành y là
y lý, y thuật và y đức. Về y thuật, theo Người, người thầy thuốc ngoài việc
giúp bệnh nhân điều chỉnh những rối loạn về tinh thần. Trong thư gửi Hội
nghị Quân y tháng 3 năm 1948, Người viết: “người thầy thuốc chẳng những
có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người
ốm yếu”. Khi đến thăm nhà thương Vân Đình tháng 4 năm 1963, Người căn
dặn cán bộ y tế “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt tinh thần và
vật chất, có thuốc hay thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi
người bệnh như ruột thịt” [25, tr.26].
dùng thuốc men, kỹ thuật để điều trị các rối loạn về thể chất, còn có nhiệm vụ
55
Trong thư gửi Hội nghị Quân y lần thứ 6 (tháng 3/1948) Bác viết:
“Lương y kiêm từ mẫu”. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm
1953, Hội nghị cán bộ y tế tháng 2/1955 và thư khen cán bộ, nhân viên quân y
ngày 31/7/1967, Người đã nhắc lại: “luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc
giỏi đồng thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục
vụ thương, bệnh binh” [25, tr.26]. Người khẳng định: người thầy thuốc phải
có lòng nhân ái, lương tâm và trách nhiệm lớn lao đối với người bệnh. Người
thầy thuốc phải có cái tâm của người mẹ, sẵn sàng chia sẻ nỗi đau với người
bệnh, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, hết lòng hết sức cứu chữa và
phục vụ người bệnh với tình cảm và lương tâm như của một người mẹ dành
tình yêu thương cho những đứa con của mình.
Y đức theo tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là lòng yêu thương
người bệnh mà còn là tinh thần hăng say với nghề nghiệp, luôn luôn trau dồi
kiến thức để nâng cao năng lực chuyên môn. Người TTQĐ vừa giàu lương
tâm vừa giác ngộ nghĩa vụ là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau trong
đạo đức của người thầy thuốc.
Ba là, rèn luyện tính kỷ luật và ý chí trong hoạt động y nghiệp
Công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay là cơ sở thuận lợi để phát triển
đạo đức trong xã hội nói chung và y đức nói riêng. Tuy nhiên, mặt trái của cơ
Trong đó, không thể tránh khỏi sự xuất hiện những khuynh hướng phản văn
hoá, đạo đức và lối sống... tác động tiêu cực này là những trở ngại không nhỏ
đối với việc củng cố phát triển đạo đức trong xã hội và y đức của người TTQĐ.
Giáo dục PTYĐ của người TTQĐ phải gắn liền với giáo dục giá trị
sống, hình thành các phẩm chất phù hợp với đặc thù của thời đại, đó là: hoà
bình, tôn trọng, yêu thương, khoan dung, trung thực, khiêm tốn, hợp tác, hạnh
phúc, trách nhiệm, giản dị, tự do và đoàn kết.
chế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội.
56
Tính kỷ luật là một trong những phẩm chất của người TTQĐ, biểu hiện
trong việc tự giác tuân thủ pháp luật nhà nước, điều lệnh quân đội và quy định
của ngành quân y. Giáo dục tính kỷ luật làm cho người TTQĐ làm chủ trong
mọi suy nghĩ, hành động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của y nghiệp, những
yêu cầu của pháp luật và điều lệnh, kỷ luật quân đội với ý thức tự giác cao.
Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, biểu hiện cụ thể của ý thức
trong thực tiễn. Ý chí bao gồm cả mặt năng động của trí tuệ, năng động của
tình cảm đạo đức, là hình thức điều khiển, điều chỉnh hành vi tích cực nhất
của người TTQĐ.
Bốn là, thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn y đức trong từng tình
huống lâm sàng.
Do tính chất phức tạp của nghề y, sự phát triển đa dạng của các loại
bệnh, y học đã vận dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại
đã chế tạo được nhiều thiết bị kỹ thuật để chẩn đoán và điều trị bệnh. Do đó
người TTQĐ phải có kiến thức của một số ngành cận lâm sàng và y xã hội
học, đồng thời phải có kỹ năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật trong hoạt động
chuyên môn. Người bệnh đến với thầy thuốc không chỉ mong nhận được sự
thông cảm, mà đặt cả niềm tin vào tài năng và trí tuệ của người thầy thuốc để
chữa lành bệnh cho họ.
phương án điều trị thích hợp với từng loại bệnh, rút ngắn thời gian điều trị,
cứu chữa bệnh nhân để họ nhanh chóng hồi phục sức khoẻ. Y đức được thể
hiện trong từng tình huống can thiệp lâm sàng, trong chọn lựa phác đồ điều trị
tốt nhất, với giá thành hợp lý nhất cho người bệnh. Thầy thuốc quân đội phải
nghiên cứu các kỹ thuật mới, sản xuất và sử dụng các bài thuốc mới để điều
trị bệnh nhân phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội, với hoạt động quân sự
cả trong thời bình và thời chiến.
Người TTQĐ luôn tìm tòi các phương pháp tối ưu cho từng ca cấp cứu,
57
Trong điều trị hay can thiệp lâm sàng người thầy thuốc phải biết rõ về
lợi ích và nguy cơ trước khi tiến hành can thiệp, phải lựa chọn phương pháp
hạn chế tới mức tối đa những tác hại cho người bệnh. Những thành công trong
can thiệp lâm sàng thể hiện trình độ phát triển y đức của người TTQĐ.
Năm là, phát triển y đức gắn liền với sự phát triển nhận thức chính trị
và pháp luật
Y đức, chính trị và pháp luật đều là hệ thống các chuẩn mực nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì, phát triển và bảo vệ trật tự trong ngành y tế,
nhằm bảo vệ lợi ích tối đa cho người bệnh. Pháp luật bảo vệ, duy trì và củng
cố đạo đức xã hội và ngược lại, đạo đức có tác dụng củng cố, bảo vệ hệ thống
pháp luật. Người TTQĐ phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về y tế, kỷ
luật quân đội, các qui định, qui chế chuyên môn về y đức và các chính sách y
tế của Đảng, Nhà nước và của Quân đội.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đồng thời,
yêu cầu phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật. Người cho rằng, để giải
quyết mọi vấn đề trong cuộc sống, cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa pháp
luật và đạo đức. Người khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nền pháp
quyền XHCN, kết hợp với việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức XHCN cho nhân
dân và cán bộ, Người coi giáo dục đạo đức và pháp luật là phương thức quan
khó khăn, thách thức cả ở khía cạnh đạo đức xã hội và kỷ cương phép nước.
Những biểu hiện “lệnh chuẩn” trong y đức, coi thường pháp luật của thầy
thuốc là lực cản cho sự phát triển y đức.
Sáu là, phát triển năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý hoạt động y tế quân đội
Người TTQĐ vừa là thầy thuốc, vừa sĩ quan quân đội đang thực hiện
nhiệm vụ trong các ĐVQY. Vì vậy, người TTQĐ ngoài kiến thức chuyên
môn, phải có năng lực tổ chức chỉ huy quân y, quản lý các hoạt động y tế
trọng trong quản lý xã hội. Hiện nay do mặt trái của nền KTTT tạo ra những
58
quân đội. Nhiệm vụ của người TTQĐ là đảm bảo mọi hoạt động của ĐVQY
theo đúng quy định của quân đội, của ngành Y tế.
Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên người TTQĐ phải có năng lực tổ
chức chỉ huy quân y, quản lý khoa học và thực hiện các hoạt động y tế, phải
thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ, có kiến thức sâu, rộng về y nghiệp, có
tính khoa học trong quản lý các hoạt động y tế, có khả năng bao quát mọi hoạt
động của đơn vị, có óc sáng tạo, linh hoạt, biết đánh giá đúng khả năng của
cán bộ, nhân viên trong đơn vị; thành thạo trong điều hành, tổ chức chỉ huy,
quản lý dân chủ, khoa học. Có tác phong mẫu mực, đúng điều lệnh, chính quy
của người TTQĐ cách mạng.
1.3.2. Tiêu chí đánh giá sự phát triển y đức của người TTQĐ
Đánh giá sự PTYĐ của người thấy thuốc quân đội được thực hiện trên
cả ba mặt ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức, cụ thể như sau:
* Tiêu chí đánh giá sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ
- Sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được thể hiện bằng sự tiến
bộ trong những nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, những quy định, chỉ thị của Bộ Y
tế, trong nhận thức về tính nhân văn, nhân đạo của nghề y, sự cao quý của y
đức... Sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được thể hiện trong lý tưởng
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách vì
sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân.
- Tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức của người TTQĐ bao gồm:
Nhận thức y đức của người TTQĐ
Tình cảm y đức của người TTQĐ
Niềm tin y đức của người TTQĐ
Ý chí y đức của người TTQĐ
sống, trong tu dưỡng, rèn luyện các phẩm chất y đức, tích cực học tập nâng cao
59
* Tiêu chí đánh giá sự phát triển thái độ y đức của người TTQĐ
- Sự phát triển thái độ y đức của người TTQĐ được thể hiện bằng sự
tiến bộ trong hoạt động nghề nghiệp, trong thái độ ứng xử với bệnh nhân và
gia đình của họ, với đồng nghiệp, với cấp trên, với cộng đồng xã hội, với
công việc và với chính bản thân mình... theo các chuẩn mực giá trị của y đức.
- Tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức của người TTQĐ bao gồm:
Thái độ đối với người bệnh
Thái độ đối với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)
Thái độ đối với xã hội và cộng đồng
Thái độ với công việc, với chính bản thân mình
* Tiêu chí đánh giá sự phát triển về hành vi y đức của người TTQĐ
- Hành vi y đức là các hành động của người thầy thuốc quân đội thể hiện
trong công tác chuyên môn, trong thực hành lâm sàng, trong học tập, nghiên cứu
khoa học, trong tu dưỡng đạo đức, lối sống. Tiêu chí cao nhất trong đánh giá
hành vi y đức là hiệu quả và chất lượng công tác, thể hiện ở trình độ chuyên
môn, lương tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc, vì những điều đó phản ánh
khách quan, trung thực nhất sự phát triển hành vi y đức của người TTQĐ.
- Tiêu chí đánh giá sự phát triển hành vi y đức của người TTQĐ gồm:
Hành vi trách nhiệm trong hoạt động khám, chữa bệnh cho bệnh nhân
Hoạt động tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức
Sự chấp hành các qui định, điều lệnh, pháp luật của nhà nước
Tóm lại, sự PTYĐ được thể hiện bằng các mức độ hoàn thiện trên cả ba
mặt ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi ý đức của người TTQĐ. Phát triển
y đức là nhiệm vụ của các nhà trường, học viện, của các ĐVQY và của đội
ngũ thầy thuốc.
Hành vi giao tiếp, ứng xử với mọi đối tượng
60
Kết luận chương 1
Y đức là đạo đức nghề y thể hiện bản chất nhân cách của người thầy
thuốc trong chữa bệnh, cứu người. Trong mọi thời kỳ phát triển của lịch sử
đạo đức của người thầy thuốc luôn được xã hội tôn vinh và việc phát triển y
đức cũng là mối quan tâm của toàn xã hội.
Y đức của người TTQĐ là sự thống nhất giữa những giá trị, chuẩn mực
của ĐĐCM, phẩm chất đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”, với phẩm chất đạo đức
của người thầy thuốc và người công vụ mẫn cán trong giai đoạn hiện nay, phù
hợp với đặc thù của hoạt động y tế trong lĩnh vực quân sự.
Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình hoàn thiện về đạo đức
cách mạng, lương tâm, trách nhiệm, ý chí và bản lĩnh trong y nghiệp, ý thức
chính trị và pháp luật, năng lực tổ chức chỉ huy quân y, quản lý các hoạt động
y tế, nhằm đáp ứng sự phát triển của y học hiện đại, của ngành quân y trong
bối cảnh hiện nay. Phát triển y đức của người thầy thuốc là để xây dựng nền y
học Việt Nam và ngành quân y hiện đại, đáp ứng những yêu cầu phát triển
của quân đội, của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Phát triển y đức của người TTQĐ phụ thuộc vào sự tác động tổng hợp
của những yếu tố chủ quan và khách quan, những điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước; của môi trường hoạt động, của cuộc đấu tranh chống những
biểu hiện tiêu cực trong ngành y, trong các ĐVQY, của quá trình giáo dục,
Y đức hiện nay cần được phát triển ở người TTQĐ lý tưởng y đức cách
mạng, lương tâm và trách nhiệm, ý chí và bản lĩnh trong y nghiệp, y đức phải
được mở rộng và gắn liền với chính trị và pháp luật và đi sâu vào trong từng
tình huống can thiệp lâm sàng, đối với người TTQĐ phải phát triển ở họ năng
lực tổ chức chỉ huy, quản lý khoa học các hoạt động y tế nhằm đáp ứng sự phát
triển của y học hiện đại và bối cảnh hiện nay. Đánh giá sự PTYĐ của người
TTQĐ được thực hiện trên cả ba mặt ý thức, thái độ và hành vi y đức thể hiện
trong hoạt động chuyên môn, trong học tập tu dưỡng và quản lý đơn vị.
bồi dưỡng trong nhà trường và tự rèn luyện, tự tu dưỡng của người TTQĐ.
61
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN vÒ PHÁT TRIỂN Y ĐỨC
CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
2.1. Phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển y đức
của người thầy thuốc quân đội
* Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá toàn diện và sát với đặc thù hoạt động y nghiệp của
người TTQĐ. Việc tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng làm cơ sở thực
tiễn cho việc đề xuất các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
* Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên các nội dung sau:
- Đánh giá những ảnh hưởng mặt trái của nền KTTT đối với sự PTYĐ
của người TTQĐ;
- Sự phát triển ý thức, thái độ, hành vi y đức của người TTQĐ;
- Đánh giá về năng lực, trình độ chuyên môn y nghiệp, về kỹ năng
trong giao tiếp, về lương tâm và trách nhiệm của người TTQĐ với công việc
và trong quá trình khám chữa bệnh;
- Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng
y đức cho học viên và người TTQĐ và về môi trường y đức trong quân đội;
- Hiệu quả của chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức từ khi người
thầy thuốc đang được đào tạo tại nhà trường và trong quá trình hành nghề y.
Từ đó, xác lập cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các biện pháp PTYĐ
của người TTQĐ hiện nay.
* Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát
- Đối tượng khảo sát: Tổng số đối tượng khảo sát 668 người, trong đó
thầy thuốc là 453 người gồm: 292 cán bộ, giảng viên, bác sĩ, 111 y sĩ, y tá
(điều dưỡng), 50 dược sĩ; 120 học viên sĩ quan quân y; 95 bệnh nhân.
- Thực trạng sử dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ;
62
Bảng 2.1: Các đối tượng khảo sát
STT Đặc điểm
1
- Đối tượng
Ghi chú
Cán bộ, giảng viên, bác sĩ Y sĩ, y tá, Điều dưỡng Dược sĩ Học viên sĩ quan quân y Bệnh nhân
2
(453 thầy thuốc)
3
(453 thầy thuốc)
4
(453 thầy thuốc)
5
(453 thầy thuốc)
- Giới Nam Nữ - Số năm kinh nghiệm < = 10 năm 11- 20 năm > 20 năm - Trình độ, học hàm, học vị Giáo sư Phó giáo sư Tiến sĩ Chuyên khoa 2 Chuyên khoa 1 Thạc sĩ Bác sĩ Dược sĩ cao cấp Dược sĩ Điều dưỡng Y sĩ - Cơ sở đào tạo Học viện Quân y Trường, lớp quân y khác Trường y, dược dân sự
Tần suất 292 111 50 120 95 234 219 163 170 120 02 05 26 08 36 34 181 12 38 89 22 336 101 16
Tỷ lệ% 43.72 16.61 7.49 17.96 14.22 51.66 48.44 35.99 37.53 26.49 0.45 1.12 5.73 1.76 7.94 7.52 39.95 2.65 8.38 19.65 4.85 74.18 22.29 3.53
- Địa bàn khảo sát: các bệnh viện tuyến cuối của quân đội, các bệnh viện,
đơn vị quân y ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, và ở Học viện Quân y.
- Thời gian khảo sát: từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2014.
* Phương pháp khảo sát
- Nghiên cứu các nghị quyết, báo cáo tổng kết, chỉ thị, qui chế, qui định
có liên quan tới y đức và công tác quân y.
- Điều tra bằng phiếu hỏi các đối tượng trên; quan sát quá trình công
tác, quá trình khám chữa bệnh của đội ngũ TTQĐ; trao đổi và qua đối thoại
trên các diễn đàn về vấn đề y đức hiện nay.
63
- Trong luận án sử dụng phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 16.0 (statistic package for social
science) để xử lý số liệu thu được. Phần mềm này giúp tính tỷ lệ %, điểm số trung
bình, trung vị, ĐLC, kiểm định độ tin cậy của công cụ nghiên cứu, kiểm định sự
khác biệt giữa các kết quả thực trạng, TN, tính hệ số tương quan, hồi qui... Vận
dụng vào quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm này xem xét tương
quan giữa so sánh kết quả trước tác động TN và kết quả sau tác động TN. Căn cứ
vào giá trị của (r) để rút ra kết luận về mối tương quan giữa 2 biến số.
Kiểm định T-test được sử dụng để xác định sự khác biệt mức độ PTYĐ
ở các đối tượng khác nhau, kiểm định các số liệu thống kê trước và sau TN.
Kiểm định đa so sánh One-way ANOVA được sử dụng để xác định mối
liên hệ và sự khác biệt giữa tổng thể và giữa các khách thể nghiên cứu.
Kiểm định độ tin cậy của bảng hỏi, bài tập tình huống và kết quả
nghiên cứu thông qua tính hệ số tương quan nội bộ giữa các Item (Inter-item
correlation coefficients) bằng phép kiểm định Cronbach Alpha.
Sử dụng phép hồi qui bằng phương pháp OLS để tính toán, dự báo, giải
thích kết quả của TN tác động và TN kiểm chứng.
Đánh giá mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ căn cứ vào ĐTB chung của
các Item theo từng nội dung. Sau khi có ĐTB của từng thầy thuốc sẽ tổng hợp
định. Mức độ PTYĐ căn cứ vào ĐTB của 3 nội dung. Kết quả được phân
hạng theo 5 bậc như sau:
- Thang đánh giá (n - 1/n)
+ Thầy thuốc có y đức phát triển rất cao: ĐTB > 4.2 ÷ 5.0 điểm
+ Thầy thuốc có y đức phát triển cao: ĐTB > 3.4 ÷ 4.2 điểm
+ Thầy thuốc có y đức phát triển TB: ĐTB > 2.6 ÷ 3.4 điểm
+ Thầy thuốc có y đức phát triển thấp: ĐTB > 1.8 ÷ 2.6 điểm
+ Thầy thuốc có y đức phát triển kém: ĐTB > 1.0 ÷ 1.8 điểm
kết quả khảo sát theo tổng mẫu khảo sát, theo đối tượng để đưa ra các nhận
64
Sau khi có kết quả điều tra, chúng tôi tiến hành tổng hợp, xử lý thông
tin bằng phần mềm SPSS 16.0 theo chuẩn đánh giá đã xác định.
2. 2. Tình hình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay
2.2.1. Thực trạng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội
Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc và trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, người TTQĐ đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của
mình. Hàng trăm, hàng ngàn tấm gương sáng “người thầy thuốc như mẹ hiền”
đã được cán bộ chiến sĩ ca ngợi, Đảng, Nhà nước và Nhân dân tôn vinh.
Trong thời kỳ đất nước đổi mới, người TTQĐ đã phát huy truyền thống tốt
đẹp, không quản ngại gian khổ, khó khăn, hết lòng, hết sức cứu chữa người
bệnh, mẫu mực về tinh thần, thái độ phục vụ, thể hiện phẩm chất cách mạng
cao đẹp của người TTQĐ, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đã xuất
hiện nhiều tấm gương sáng, nhiều cá nhân và đơn vị tiên tiến, anh hùng lực
lượng vũ trang được Đảng, Nhà nước tuyên dương.
Tuy vậy, mặt trái của KTTT đã tác động làm biến đổi quan hệ giữa lợi ích
và đạo đức trong ngành y. Không ít thầy thuốc, đơn vị đã nguyên tắc hoá lợi ích
vật chất trong hoạt động nghề nghiệp. Điều đó dẫn đến hệ luỵ là, nếu trước đây y
đức được coi là gốc, là cơ sở cho các phẩm chất khác của người thầy thuốc, thì
nay lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ của đơn vị lại được một số người xem là ưu
lợi ích người bệnh, lợi ích xã hội, thì nay coi nhân cách là ở mức độ thu nhập,
thành đạt trong việc thực hiện lợi ích. Nếu trước đây người TTQĐ coi sự hợp tác
với đồng nghiệp vì mục tiêu sức khoẻ người bệnh thì nay chấp nhận sự cạnh
tranh trong nghề nghiệp vì lợi nhuận. Nguyên tắc hoá lợi ích cá nhân trong nghề
nghiệp, trái với định hướng của Đảng về sự hài hoà lợi ích cá nhân - tập thể - xã
hội đã len lỏi, can thiệp vào các mối quan hệ của y đức, làm cho y đức của một
bộ phận TTQĐ có biểu hiện suy thoái. Sự suy thoái ấy được biểu hiện rất đa
dạng và có nhiều mức từ thấp đến cao, cụ thể trên các mặt sau:
tiên trước hết. Nếu trước đây coi nhân cách là thiện chí, thiện tâm, trách nhiệm vì
65
2.2.1.1. Thực trạng về sự phát triển ý thức y đức của người thầy thuốc quân đội
Thực trạng về sự phát triển ý thức y đức của người TTQĐ được đánh
giá thông qua các nội dung sau:
- Về nhận thức y đức của người thầy thuốc quân đội.
Nhận thức y đức chính là hiểu biết về y đức, là cơ sở để TTQĐ có thái
độ, hành vi đúng. Để đánh giá tiêu chí này chúng tôi khảo sát nhận thức về
vai trò của y đức và hiểu biết của TTQĐ về y đức.
Vai trò của y đức
TT
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát vai trò của y đức đối với người TTQĐ Kết quả khảo sát (N=453) SL 254 157 26 10 6
% 56.1 34.7 5.7 2.2 1.3
Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Ít quan trọng Không quan trọng Độ lệch chuẩn Hệ số tương quan 2 nhóm Điểm trung bình
0.242 R = 0.73 4.21
1 2 3 4 5 6 7 8
Kết quả khảo sát cho thấy: Đại đa số các TTQĐ nhận thức đúng về vai
trò của y đức trong thực hành nghề nghiệp. Cụ thể: Rất quan trọng (254/453=
56.1%); Quan trọng (157/453=34.7%); Bình thường (26/453=5.7%); Ít quan
trọng (10/453=2.2%); Không quan trọng (6/453=1.3%). Lượng hóa theo
thang điểm đạt mức “Rất quan trọng” với ĐTB=4.21 điểm.
mẫu cặp (Paired Samples Correlations) cho thấy, các ý kiến của nhóm khách thể
giảng viên, cán bộ quản lý và Bác sĩ về vai trò của y đức khá tập trung. ĐLC có
trị số thấp (σ = 0.242). Tương quan hệ thống giữa các ý kiến của 2 nhóm khách
thể này về tầm quan trọng của các Item đánh giá vai trò y đức của người TTQĐ
có r = 0.73 với xác suất tương ứng P-value (Sig.) = 0.125 > α = 0.05. Giả thuyết
H0 được khẳng định. Nghĩa là, có sự thống nhất về mức độ phù hợp của các nội
dung đánh giá mức độ quan trọng của y đức đối với việc hoàn thành nhiệm vụ
của người TTQĐ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Tiến hành thống kê mẫu cặp (Paired Samples Statistics) và tương quan
66
Để làm rõ hơn nhận thức y đức của người TTQĐ, chúng tôi đưa ra 28
biểu hiện y đức của người TTQĐ. Kết quả khảo sát cho thấy: Hầu hết y, bác
sĩ trong phạm vi khảo sát đều cho rằng những biểu hiện đó đều “cần thiết” và
“rất cần thiết” đối với người TTQĐ. Đặc biệt, khi xem xét phân bố của các
khách thể theo mức điểm mà họ đạt được chúng tôi thấy: Chủ yếu đạt mức từ
4 đến 5; không có thầy thuốc nào đạt mức điểm thấp “ít cần thiết” (phụ lục 8).
Như vậy, nhìn chung đa số TTQĐ được nghiên cứu có nhận thức đúng đắn,
đầy đủ và sâu sắc về các yêu cầu của y đức. Đây là điều kiện thuận lợi để các
TTQĐ tham gia khám chữa bệnh và công tác đạt hiệu quả.
Điểm trung bình sau khi lượng hóa các Item của nội dung này là 4.24, đạt
mức “Cần thiết”. Đặc biệt, trong tất cả các biểu hiện trên thì biểu hiện TTQĐ
“Có lòng yêu ngành, yêu nghề (ĐTB=4.32); “Hoạt động chuyên môn đúng với y
học và luật pháp” (ĐTB=4.26) và “Thể hiện rõ phẩm chất Bộ đội cụ Hồ”
(ĐTB=4.74) đạt ở mức độ “Rất cần thiết”. Chứng tỏ TTQĐ đã nhận thức được
tầm quan trọng của y đức trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Đây là cơ sở
để người TTQĐ có thái độ và hành động tích cực trong hoạt động nghề nghiệp.
Nhìn chung, có sự tương đồng trong đánh giá ở 2 nhóm khách thể:
TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện trung ương và TTQĐ công tác ở tuyến
bệnh viện cơ sở. Ở nhóm TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện trung ương đánh
khách thể là TTQĐ công tác ở tuyến bệnh viện cơ sở, các Item 1; Item 2; Item
8; Item 11; Item 17 được đánh giá cao hơn. Không có ý kiến tham gia thêm
các phương án trả lời bước đầu chứng tỏ độ tin cậy của việc xác định các biểu
hiện y đức của người TTQĐ. Tổng hợp về nhận thức y đức của người thầy
thuốc đạt 4.24 điểm, đạt “Mức cao”. Từ kết quả trên cho thấy: Đội ngũ TTQĐ
trong phạm vi khảo sát có hiểu biết sâu sắc về y đức.
giá cao tập trung vào các Item 5; Item 6; Item 7; Item 13; Item 15. Với nhóm
Y đức cách mạng không chỉ là lòng yêu thương và tinh thần trách
nhiệm với người bệnh, quan hệ mật thiết với đồng nghiệp, mà còn là sự say
- Về tình cảm y đức của người thầy thuốc quân đội
67
mê nghề nghiệp, trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề để công tác
cấp cứu, điều trị, phục vụ ngày càng có hiệu quả. Do đó, để tìm hiểu tình cảm
y đức của TTQĐ, trước hết chúng tôi tiến hành khảo sát các lý do phản ánh
động cơ trở thành TTQĐ, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.3: Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội
Lý do trở thành người TTQĐ
ĐTB 4.47 1.38 3.16 1.93 3.87 3.43 3.49 3.33 1.97
Thứ bậc 1 9 6 8 2 4 3 5 7
TT 1 Nghề y có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội 2 Nghề y là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình
TBC
ĐLC 0.32 0.78 1.04 1.10 0.94 1.19 1.16 1.35 1.14 3.96
Kết quả khảo sát cho thấy: Trừ động cơ “Nghề có thu nhập cao”
(ĐTB=1.38; “Không phải kiếm sống ngoài nghề” (ĐTB=1.93) và “Có thời
gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình” (ĐTB=1.97), theo chuẩn đánh giá
đạt mức “Thấp”, thì tất cả các động cơ còn lại được các TTQĐ lựa chọn ở mức
độ “Cao”. Mức độ cao nhất “Là nghề có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã
hội” (ĐTB=4.47). Xếp thứ 2 là “Có đóng góp cho ngành và chuyên môn”
(ĐTB=3.87), đạt “Mức cao”. Kết quả đáng mừng là có 100% y, bác sĩ; 98.52%
được nghề nghiệp mình chọn là nghề cao quý, nghề trị bệnh cứu người. Họ đã
quán triệt và thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chủ Tịch đối với cán bộ ngành y; có
lương tâm và trách nhiệm cao; hết lòng yêu nghề, không ngừng học tập, rèn
luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất y đức và trình độ chuyên môn; sẵn sàng
vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của
thương binh, bệnh binh, của bộ đội và nhân dân. Có tới 379/453 = 83.7% trả lời
dược tá, dược sĩ và 95.24% học viên sĩ quan quân y được hỏi đều nhận thức
“Yên tâm với nghề nghiệp đã lựa chọn” (ĐTB=3.74), đạt “mức Cao” trong
thang chuẩn đánh giá. Xem xét phân bố của các khách thể theo mức điểm mà
“Thực sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm” (ĐTB=3.96); 403/453=89.0%
68
họ đạt được chúng tôi thấy: Chủ yếu đạt mức từ 3 đến 5, tập trung cao nhất ở
điểm 4; rất hiếm thầy thuốc đạt mức điểm thấp từ 1 - 2.
Kết quả khảo sát chứng tỏ động cơ, mục đích trở thành TTQĐ của
người TTQĐ rất đa dạng và thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Có những
động cơ, mục đích xuất phát từ cá nhân, hoàn thiện bản thân và có những
động cơ, mục đích đóng góp cho xã hội. Những mục tiêu kinh tế không được
coi là chủ yếu. Nhìn chung đó đều là những động cơ tích cực, trong sáng và
phù hợp với đặc thù môi trường quân sự. Chứng tỏ, đa số TTQĐ trong phạm
vi nghiên cứu có tình cảm đúng đắn và tích cực về nghề nghiệp đã lựa chọn.
Điểm lượng hoá cho tiêu chí đánh giá tình cảm y đức của người TTQĐ
là 3.96, đạt mức “Tích cực”.
- Về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội
Ở nước ta, qua gần 30 năm thực hiện cơ chế thị trường đã xuất hiện một
số ngành nghề có thu nhập cao, nhiều người trở nên khá giả, thực tế ấy đã lôi
cuốn không ít người lao vào làm giàu, mưu cầu lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, tuyệt
đại đa số cán bộ, nhân viên, chiến sĩ quân y vẫn kiên định với nhiệm vụ được
giao, yêu ngành, yêu nghề, yên tâm phục vụ quân đội. Kết quả khảo sát niềm tin
y đức của người TTQĐ được thể hiện ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Thực trạng về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội
Nội dung đánh giá
ĐTB 4.04 3.75 3.71 3.74 3.81 3.73
Thứ bậc 1 3 5 6 2 4
ĐLC 0.437 0.501 0.462 0.701 0.705 0.46
TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Nhiệt tình, trách nhiệm trong khám chữa bệnh 3 Lý tưởng nghề nghiệp là “Lương y như từ mẫu” 4 Thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 5 Thực sự yêu thích công việc đang đảm nhiệm 6 Nếu được lựa chọn lại nghề, vẫn chọn nghề TTQĐ
TBC
3.78
Kết quả khảo sát cho thấy: Niềm tin y đức của đội ngũ thầy thuốc trong
phạm vi khảo sát thể hiện rất rõ ràng. Rõ nhất là “Ý thức chấp hành nghiêm
nội qui, qui định của đơn vị (Khoa, Bộ môn)”, ĐTB sau khi lượng hoá là
4.04, xếp thứ bậc 1 (Item 1); “Thực sự yêu thích công việc mình đang đảm
nhiệm”, ĐTB=3.81, xếp thứ 2 (Item 5); đạt mức “Cao” trong thang chuẩn
69
đánh giá. Đáng chú ý là khi được hỏi: “Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn
chọn nghề TTQĐ?” thì có tới 412/453=90.94% TTQĐ bày tỏ nguyện vọng
được tiếp tục công tác trong quân đội (Item 6), ĐTB=3.73, đạt ở “Mức cao”.
Hầu hết các TTQĐ đều bất bình với các tệ nạn tiêu cực, tham nhũng trong xã
hội, lo ngại trước các biểu hiện sa sút về y đức trong đội ngũ thầy thuốc. Có
tới 414/453=91.4% thầy thuốc được hỏi về những biểu hiện tiêu cực về y đức
đã cho rằng đó là hiện tượng không bình thường, cần kiên quyết khắc phục.
Nhiều thầy thuốc chân chính đã tích cực đấu tranh, góp phần xoá bỏ các biểu
hiện tiêu cực ấy. Chính vì lẽ đó, mà những tiêu cực về y đức và lối sống thực
dụng ít thâm nhập được vào tập thể các đơn vị quân y, phẩm chất y đức tốt
đẹp trong họ ngày càng được giữ vững và phát triển tỷ lệ thuận theo thời gian
đào tạo và công tác điều trị ở đơn vị.
Điểm lượng hoá 6 Item phản ánh nội dung này là 3.78, đạt “mức cao”.
Từ kết quả trên có thể rút ra nhận xét: Đội ngũ TTQĐ xác định rõ lý tưởng
nghề nghiệp, có niềm tin sâu sắc về y đức của người TTQĐ; là cơ sở vững
chắc cho ý chí nỗ lực cao, chủ động khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ được giao.
- Về ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội
Phẩm chất ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, mặt biểu hiện
người TTQĐ được thể hiện ở bảng 2.5:
cụ thể của ý thức trong thực tiễn. Kết quả khảo sát, đánh giá ý chí y đức của
Bảng 2.5: Thực trạng ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội
Nội dung đánh giá
ĐTB 3.73 3.98 3.52 3.70 3.75 4.01
Thứ bậc 3 2 6 4 5 1
TT 1 Có thái độ phê phán những hành vi vi phạm trong KCB 2 Là người có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 3 Mong có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh HĐ KCB 4 Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn 5 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 6 Có ý thức cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao
TBC
ĐLC 0.59 0.589 0.542 0.751 0.72 0.586 3.76
70
Kết quả khảo sát cho thấy: Trong quá trình hoạt động, người TTQĐ
luôn đặt ra cho mình mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn trở ngại, nhất là
sự tác động của mặt trái nền KTTT đến mối quan hệ thầy thuốc và người
bệnh. Rõ nhất là “Luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được
giao” có ĐTB=4.01, xếp thứ nhất (Item 6); Tiếp theo “Luôn là người có thái
độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh” có ĐTB=3.98, xếp thứ 2 (Item 2), đạt
mức “Rất cao” trong thang đánh giá. Thấp nhất là “Mong muốn có sự phản
hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám chữa bệnh” có ĐTB=3.52,
nhưng vẫn đạt ở “Mức cao”.
Điểm lượng hoá 6 Item phản ánh nội dung này là 3.76, đạt “mức cao”.
Từ kết quả trên có thể rút ra nhận xét: Người TTQĐ có ý chí y đức cao, hành
động có suy nghĩ, trên cơ sở nhận thức được những giá trị xã hội - quân sự
đúng, xây dựng và hình thành cho mình tính kỷ luật và phẩm chất ý chí trong
hoạt động y nghiệp. Đội ngũ TTQĐ đã quán triệt tốt các tiêu chuẩn về y đức
mới làm cơ sở điều chỉnh thái độ và hành vi y đức; nâng cao ý thức tổ chức
kỷ luật, đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện vi phạm về y đức, nhân phẩm
của người TTQĐ. Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu
được kết quả ở bảng 2.6:
Bảng 2.6: Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ
ĐTB
TT
Nội dung đánh giá phát triển ý thức y đức của người thầy thuốc quân đội
3.91 3.96 3.78 3.76
Thứ bậc 2 1 3 4
1 Về nhận thức y đức của người thầy thuốc quân đội 2 Về tình cảm y đức của người thầy thuốc quân đội 3 Về niềm tin y đức của người thầy thuốc quân đội 4 Về ý chí y đức của người thầy thuốc quân đội
TBC
3.85
Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển y đức của người thầy thuốc
trong phạm vi khảo sát là 3.85, đạt mức “Cao”. Trung vị và yếu vị của giá trị
điểm đều bằng 4.0. ĐLC và phương sai nhỏ (0.472 và 0.503) với độ biến
thiên tương ứng = 1.3, giá trị điểm nhỏ nhất là 1.93, cao nhất là 4.54.
71
Kết quả thống kê mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ đánh
giá theo 4 nội dung được thể hiện ở biểu đồ 2.1.
5
3.85
3.91
3.96
3.76
4.2
Nhận thức y đức
3.78
Tình cảm y đức
3.4
Niềm tin y đức
2.6
Ý chí y đức
TBC
1.8
1
Nhận thức y đức Tình cảm y đức
Niềm tin y đức
Ý chí y đức
TBC
Biểu đồ 2.1: Thực trạng phát triển ý thức y đức của người TTQĐ
Từ kết quả tổng hợp trên cho thấy: Những điểm mạnh về ý thức y đức
của người TTQĐ là cơ bản, song ở họ còn bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót
cần khắc phục đó là: Một số thầy thuốc chưa có nhận thức đầy đủ, cụ thể về
các chuẩn mực y đức của người thầy thuốc. Trao đổi với 20 thầy thuốc cho
thấy: Có tới 06/20=33.3% thầy thuốc quan niệm đơn giản y đức là những
người hiền lành, chấp hành nghiêm pháp luật và kỷ luật, làm điều thiện,
không làm điều ác và những điều sai trái. Cách hiểu này không sai, nhưng
chưa toàn diện và không bao hàm đầy đủ những chuẩn mực y đức cần thiết và
tính đặc thù của đạo đức nghề nghiệp.
Trình độ nhận thức, giác ngộ chính trị chưa đồng đều, còn có sự chênh
nghiệp chưa sâu sắc, động cơ nghề nghiệp chưa thật vững chắc, còn có sự so
sánh thiệt hơn về môi trường, điều kiện công tác, có người chưa thật sự yên tâm,
gắn bó với sự nghiệp khám chữa bệnh ở các bệnh viện quân đội, muốn chuyển
công tác ra các bệnh viện dân sự. Một số TTQĐ còn nhận thức lệch lạc về vai
trò, vị trí của y đức đối với đời sống xã hội nói chung và đối với sự trưởng thành
về nhân cách của mình nói riêng. Đây là nguồn gốc dẫn đến thái độ y đức và
hành vi y đức ở họ bị lệch chuẩn. Cá biệt, vẫn còn 26/453=5.7% thầy thuốc được
lệch giữa các thế hệ. Ở một số thầy thuốc trẻ, sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng y
72
hỏi cho rằng vai trò của y đức đối với người thầy thuốc là “Bình thường” và
10/453=2.2% cho là “Ít quan trọng”, chỉ cần làm tốt chuyên môn là được, có học
viên quan niệm trong thời gian học tập tại trường chỉ lấy việc học làm chính, còn
giáo dục, rèn luyện y đức coi là không quan trọng. Trong nhận thức về y đức,
một số TTQĐ không thấy hết sự phát triển của y đức trong mối quan hệ với
chính trị và pháp luật. Có tới 95/453=21.0% thầy thuốc được hỏi trả lời là ít quan
tâm tới mối quan hệ trên. Do đó trên thực tế, đã xuất hiện những hành vi biểu
hiện sự suy đồi về mặt đạo đức, lối sống thực dụng, tệ nạn tham nhũng và những
vi phạm pháp luật ngày một nghiêm trọng.
Tình trạng phổ biến hiện nay là một số TTQĐ không thấy hết mức độ sa
sút về y đức, thường cho rằng sa sút về y đức chỉ liên quan đến tham nhũng và vòi
vĩnh nhận quà biếu của người bệnh, mà không thấy y đức sa sút ngay từ cách ứng
xử, giao tiếp với mọi người và với người bệnh, từ sự thiếu thiện tâm, thiếu trách
nhiệm trong theo dõi, chăm sóc người bệnh hàng ngày... Từ những vấn đề trên
cho thấy, việc PTYĐ trong số này còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu, tiêu
chí phát triển. Một điều đáng quan tâm là những tiêu cực của xã hội và của ngành
đã thẩm thấu vào môi trường y đức của người TTQĐ, tác động ảnh hưởng đến đội
ngũ thầy thuốc. Vì thế, trong một số thầy thuốc đã xuất hiện những dấu hiệu coi
Những biểu hiện trên mặc dù chưa phổ biến, nhưng nó đã ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường y đức trong đơn vị, nếu không kịp thời khắc phục
ngay từ trong nhận thức thì nó sẽ cản trở lớn đến việc PTYĐ và xây dựng môi
trường y đức của người TTQĐ.
Tóm lại: Phần lớn TTQĐ được nghiên cứu có ý thức tốt về y đức. Tổng
hợp ĐTB tiêu chí đánh giá nội dung này của đội ngũ thầy thuốc là 3.85, đạt ở
mức “Cao”. Đây là tiền đề thuận lợi để TTQĐ có thái độ y đức và hành vi y
đức tích cực trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
trọng giá trị vật chất đơn thuần, chạy theo đồng tiền...
73
2.2.1.2. Thực trạng phát triển về thái độ y đức của người TTQĐ
- Thái độ y đức của người thầy thuốc với người bệnh
Chúng tôi sử dụng bảng hỏi với các Item dành cho đội ngũ thầy thuốc
và bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.7:
Bảng 2.7: Thực trạng thái độ y đức của người thầy thuốc với người bệnh
Đánh giá của BN
TT
Nội dung
Tự đánh giá của ĐN thầy thuốc ĐTB
Thứ bậc ĐTB Thứ bậc
1 Nhiệt tình, trách nhiệm, hết lòng, hết sức cứu
3.34
2
3.31
2
chữa BN
2 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với NB 3 Niềm nở khi tiếp xúc với NB và gia đình BN 4 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 5 Không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho BN 6 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính
3.04 2.98 3.45 3.32 3.26
5 6 1 3 4
2.99 2.96 3.63 2.92 2.86
3 4 1 5 6
của cá nhân
3.23
3.11
TBC
3.17
Nhận xét: người TTQĐ đã có thái độ đúng đắn, tích cực trong quan hệ
với bệnh nhân. Cụ thể: “Luôn tôn trọng bí mật, sự riêng tư của bệnh nhân”
được thống nhất đánh giá ở cả bác sĩ và bệnh nhân ở mức cao nhất (ĐTB=3.45
ở bác sĩ và 3.63 ở bệnh nhân), xếp thứ nhất. Đại đa số thầy thuốc “Có tinh thần
trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân” (ĐTB=3.34 ở bác sĩ và
3.31 ở bệnh nhân), xếp thứ 2. Đồng thời có 407/453=89.8% thầy thuốc thường
2.99 ở bệnh nhân), xếp thứ 3. ĐTB của đội ngũ thầy thuốc sau khi lượng hoá là
3.23, bệnh nhân là 3.11 đều đạt ở mức “Trung bình”. TBC là 3.17.
Kết quả trên chứng tỏ: do làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
kết hợp với giáo dục, bồi dưỡng y đức, tổ chức quản lý, rèn luyện kỷ luật
của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong các đơn vị quân y, cùng với sự tự giác
nỗ lực tự học tập, tự tu dưỡng y đức của mỗi TTQĐ, nên họ đã có những
chuyển biến rõ rệt về nhận thức và có thái độ tốt trong giải quyết các mối
quan hệ y đức, cơ bản đáp ứng yêu cầu trong quá trình khám chữa bệnh.
xuyên “Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh” (ĐTB=3.04 ở bác sĩ và
74
Trong mối quan hệ với bệnh nhân, phần lớn thầy thuốc đều tôn trọng, cảm
thông sâu sắc với bệnh nhân, tận tình chăm sóc và cứu chữa bệnh nhân,
không phân biệt đối xử giữa bệnh nhân giàu hay nghèo, thân hay sơ.
Tuy nhiên, nhìn vào kết quả cụ thể từng Item cho thấy: Tự đánh giá của
đội ngũ thầy thuốc cao hơn đánh giá của bệnh nhân. Đáng chú ý là Item
“Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho bệnh nhân” được bệnh nhân
đánh giá có ĐTB=2.92, xếp thứ 5/6 và “Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi
ích tài chính của cá nhân” có ĐTB=2.86, xếp thứ 6/6 chứng tỏ: Thái độ với
bệnh nhân vì lợi ích cá nhân, đồng tiền đã xen vào mối quan hệ giữa một số
thầy thuốc với bệnh nhân một cách không lành mạnh. Qua trao đổi, cán bộ
chủ chốt ở một số bệnh viện quân đội, đã đồng tình với nhận định này.
Có thể thấy, trong quan hệ giữa thầy thuốc với người bệnh, sự suy thoái
biểu hiện ở thái độ thiếu niềm nở, lịch sự trong giao tiếp với bệnh nhân, thiếu
tôn trọng quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của con người, thờ ơ với nỗi
đau của người bệnh, không tận tình, giải thích bệnh tật không đến nơi đến
chốn, việc động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị còn hạn chế...
Đây là vấn đề nổi cộm nhất trong những biểu hiện tiêu cực, sa sút về y đức ở
một số bệnh viện quân đội. Hiện nay ở một số bệnh viện trong quân đội, việc
biếu quà, biếu tiền thầy thuốc với tư cách là một nghĩa cử trong sáng không
gian, cầu nối giữa thầy thuốc với bệnh nhân. Tùy theo quà biếu lớn hay bé mà
sự nhiệt tình của thầy thuốc với bệnh nhân tăng hay giảm, hiện tượng lệ phí
“ngầm” xuất hiện đã trở thành mối lo của nhiều người bệnh.
Kiểm định sự khác biệt tổng thể giữa các Item tự đánh giá của thầy thuốc
và đánh giá của bệnh nhân với độ tin cậy α = 0.05 cho kết quả: Với df = 2, ĐTB
bình phương (Mean Square) = 0.13, trị số F = 0.146 và trị số kiểm định P-value
(Sig.) = 0.089 > 0.05, khẳng định đánh giá về thái độ của người thầy thuốc với
người bệnh không có sự khác biệt về mức đánh giá. Đều đánh giá đạt ở mức
“Trung bình”. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
phải là không có. Nhưng vấn đề cập ở đây là đồng tiền đã trở thành vật trung
75
- Thái độ y đức của người TTQĐ với đồng nghiệp và với bậc thầy (cấp
trên) của mình
Bảng 2.8: Thực trạng thái độ y đức với đồng nghiệp và với bậc thầy (cấp trên)
Nội dung
ĐTB
ĐLC
3.81 Tôn trọng cấp trên, tôn trọng tổ chức Luôn tỏ thái độ kính trọng bậc thầy (cấp trên) của mình 3.31 2.85 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 2.87 Ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp 2.89 Tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB
Thứ bậc 1 2 5 4 3
0.77 0.93 0.82 0.69 0.83
TBC
3.14
TT 1 2 3 4 5
Nhận xét: Thái độ y đức trong mối quan hệ với đồng nghiệp, với các bậc
thầy của mình, người thầy thuốc về cơ bản giải quyết một cách phù hợp theo
chuẩn mực y đức. Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chiếm thứ hạng cao
nhất, ĐTB=3.81, tiếp đến là “Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên)
của mình”, ĐTB=3.31, đạt mức “Tích cực”; “Tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh”, ĐTB=2.89, xếp thứ 3. Kết quả này phù hợp với
tổng kết công tác quân y hàng năm đều khẳng định: Trong quá trình khám chữa
bệnh và thực hiện các mặt công tác quân y, các TTQĐ luôn thể hiện được lối
sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và thương yêu giúp đỡ lẫn nhau,
giải quyết hài hoà các mối quan hệ. Thông qua thực tiễn hoạt động giao tiếp có
của người thầy thuốc có xu hướng phát triển tích cực, ngày càng hoàn thiện.
Tuy nhiên, thái độ trong giải quyết mối quan hệ y đức ở người thầy thuốc
vẫn còn một số hạn chế: Chưa thực sự “Ủng hộ việc đối mới phương pháp khám
chữa bệnh của đồng nghiệp” (Chỉ có 127/453=28.03% thầy thuốc ủng hộ việc
đổi mới phương pháp khám chữa bệnh của đồng nghiệp, ĐTB=2.87, xếp thứ
4/5); Việc “Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm khám chữa bệnh cho đồng nghiệp”
là nội dung yếu nhất (Chỉ có 167/453= 36.86% thầy thuốc sẵn sàng truyền thụ
kinh nghiệm cho đồng nghiệp, ĐTB=2.85, xếp thứ 5/5).
sự định hướng của các chủ thể quản lý, giáo dục trong đơn vị, quan hệ đạo đức
76
Thái độ trong quan hệ với đồng nghiệp, sự suy thoái của y đức biểu
hiện ở tinh thần thiếu hợp tác vì mục đích chung, ở sự thiếu tôn trọng chuyên
môn và sự đóng góp của đồng nghiệp trong thăm khám, điều trị, ở sự ít chia
sẻ thông tin với đồng nghiệp về chuyên môn. Họ ngại, hoặc thiếu nhiệt tình
trong truyền thụ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, đạo đức nghề y
cho đồng nghiệp. Chỉ có 167/453=36.86% thầy thuốc cho là sẵn sàng truyền
thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp, 127/453=28.03% thầy thuốc ủng hộ việc
đổi mới phương pháp khám chữa bệnh của đồng nghiệp, 82/453=18.10% thừa
nhận thật sự tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong khám chữa bệnh. Khi
khám chữa bệnh có tới 302/453=66.67% thầy thuốc gặp phải trường hợp đồng
nghiệp có sai sót trong thực hành lâm sàng. Đa số họ có trao đổi với đồng
nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan (425/453=93.81%) trong số này
có 114/453=25.20% đã báo cáo với cơ quan hoặc người có trách nhiệm. Đối
với những trường hợp không trao đổi với đồng nghiệp hoặc không báo cáo
với ai, một số lý do chính được đưa ra như sau: sai sót đó cũng có thể xảy ra
đối với mình 256/453=56.51%; người đồng nghiệp đó có tuổi đời, tuổi nghề
nhiều hơn 212/453=46.79%; có người khác giải quyết thay vấn đề này
196/453=43.26% và có báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề
Thái độ y đức trong quan hệ với các bậc thầy, cấp trên ở một số thầy
thuốc còn có dấu hiệu của lối sống thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu tinh
thần tập thể. Một số quan hệ không chính thức, mang tính cục bộ địa phương,
lôi kéo bè phái, kỳ thị lẫn nhau vẫn thường xảy ra, ảnh hưởng đến sự đoàn kết
thống nhất trong đơn vị và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết quả:
ĐTB đánh giá thái độ với đồng nghiệp và với bậc thầy của mình trong phạm
vi khảo sát là 3.14, đạt mức “Trung bình”.
192/453=42.38%.
77
- Thái độ y đức của người TTQĐ với xã hội, cộng đồng
Bảng 2.9: Thực trạng thái độ y đức của thầy thuốc với xã hội, cộng đồng
Nội dung
ĐTB 3.07 2.87 3.02 3.03
ĐLC 1.02 0.92 0.86 0.87
Thứ bậc 1 4 3 2
TT 1 Sẵn sàng nhận nhiệm vụ nơi khó khăn, nguy hiểm 2 Tích cực tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng 3 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 4 Tích cực tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo
TBC
3.00
Nhận xét: Thái độ y đức trong quan hệ với đơn vị, xã hội, với cộng đồng
các TTQĐ đã thể hiện sự tích cực, lành mạnh. Cụ thể: “Sẵn sàng nhận nhiệm vụ
nơi khó khăn, nguy hiểm” được các thầy thuốc nhất trí cao với ĐTB=3.07, xếp
thứ nhất. Tiếp theo là “Tích cực tham gia khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu
nhân đạo …” có ĐTB=3.03, xếp thứ 2. Tuy nhiên, tất cả các Item tham gia đánh
giá đều ở mức “Trung bình”. Sự suy thoái của y đức biểu hiện ở sự thiếu nhiệt
tình trong hỗ trợ tuyến dưới, khi tham gia chống dịch bệnh, trong hoạt động
truyền thông giáo dục sức khoẻ, trong khám chữa bệnh miễn phí, thiếu gương
mẫu trong nếp sống, trong sinh hoạt tập thể.
Phát huy truyền thống đoàn kết quân dân, truyền thống quân dân y kết
hợp. Các ĐVQY, nhất là các bệnh viện quân đội hiện nay luôn hăng hái, chủ
động, hiệp đồng với ngành y tế và cơ quan hữu quan để cùng nhau chăm sóc sức
khoẻ nhân dân; đến tận nơi khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân
kháng chiến cũ; đảm nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều bà mẹ Việt Nam Anh
hùng…Mô hình bệnh viện quân dân y kết hợp đã được thực hiện rất hiệu quả thể
hiện rõ sự quan tâm chăm lo sức khoẻ cho nhân dân của Đảng, và Nhà nước ta.
Mỗi khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ thì tấm lòng nhân ái, bản chất cao
đẹp Anh “Bộ đội cụ Hồ” của người TTQĐ càng thấm đượm và sâu sắc trong
lòng nhân dân. Họ không quản ngại khó khăn, gian khổ đem hết tài năng và
sức lực của mình cứu chữa người bị nạn, tham gia vệ sinh phòng dịch, Họ
không ngần ngại nhường cơm xẻ áo, thậm chí cả máu của mình để cứu chữa
trên địa bàn đóng quân cũng như đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ
78
người bị nạn, giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn sớm ổn định sức khoẻ và
cuộc sống. Hiện nay ở nhiều bệnh viện quân đội, hàng năm đã nhận được
hàng trăm lá thư do thương binh, bệnh binh, người bệnh trên mọi miền của
đất nước gửi về cảm ơn và tỏ lòng yêu mến, khâm phục y đạo, y thuật, sự tận
tụy hy sinh vì người bệnh của cán bộ nhân viên, chiến sĩ quân y.
Sau khi lượng hoá, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết quả:
ĐTB đánh giá thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng là 3.00, đạt
mức “Trung bình”.
- Thái độ y đức với công việc, với chính bản thân người thầy thuốc
2.10: Thực trạng thái độ y đức với công việc, với bản thân
TT
ĐTB
ĐLC
Thứ bậc
Biểu hiện thái độ y đức của người TTQĐ đối với công việc, với bản thân
1 Có lòng yêu nghề, say mê với công việc
3.82
0.73
1
2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp
3.12
0.21
7
3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh
3.17
0.24
6
4 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ
3.24
0.36
4
5 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB
3.56
0.58
2
6 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm
3.38
0.49
3
7 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm
3.06
0.19
8
8 giữ gìn phẩm giá, danh dự bản thân trong hành nghề
3.22
0.32
5
Điểm trung bình
3.29
Nhận xét: Thái độ y đức với công việc và với chính bản thân người thầy
tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc. Thể hiện rõ lòng yêu nghề, say mê
với công việc chuyên môn chiếm thứ hạng cao, ĐTB=3.82, tiếp đến là tích cực
trong học tập để nâng cao trình độ, năng lực, ĐTB=3.56, đạt mức “Tích cực”;
chẩn đoán, xử lý kịp thời không đùn đẩy trách nhiệm, ĐTB=3.38, xếp thứ 3.
Tuy nhiên, để hoạt động chuyên môn đúng với y học và pháp luật còn nhiều hạn
chế (ĐTB=3.12, xếp thứ 7/8, đạt mức “Trung bình”; khi có thiếu sót tự giác
nhận trách nhiệm về mình còn chưa được cao (ĐTB=3.06, xếp thứ 8/8, đạt mức
“Trung bình”).
thuốc về cơ bản giải quyết đúng với chuyên môn và pháp luật cũng như lương
79
Điểm trung bình đánh giá thái độ y đức với công việc và với chính bản
thân của người thầy thuốc sau khi lượng hoá theo chuẩn xác định là 3.29, đạt
mức “Trung bình”. Tổng hợp kết quả về thái độ y đức của người TTQĐ cho
thấy: Đa số TTQĐ trong phạm vi khảo sát có mức độ phát triển thái độ y đức ở
mức độ “trung bình” (341/453 thầy thuốc=75.27%); số thầy thuốc được đánh giá
có thái độ trong quan hệ y đức “Tích cực” và “Rất tích cực” không nhiều, mức
“Rất tích cực 19/453 thầy thuốc = 4.19%, mức “Tích cực” 133/453 thầy thuốc =
29.35%); không có thầy thuốc nào có thái độ y đức phát triển ở mức độ “Kém”.
Tổng hợp kết quả thực trạng phát triển thái độ y đức của TTQĐ ở bảng 2.11:
Bảng 2.11: Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ
Nội dung đánh giá phát triển thái độ y đức
ĐTB
Thứ
TT
của người thầy thuốc quân đội
bậc
1 Thái độ của người thầy thuốc với người bệnh
3.17
2
2 Thái độ của người với đồng nghiệp, bậc thầy (cấp trên) của mình
3.14
3
3 Thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng
3.00
4
4 Thái độ với công việc; với chính bản thân người thầy thuốc
3.29
1
TBC
3.15
Nhận xét: Sau khi lượng hóa, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được
kết quả: ĐTB đánh giá mức độ phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc trong
phạm vi khảo sát là 3.15, đạt mức “Trung bình”. Trung vị và yếu vị của giá trị
tương ứng = 1.9, giá trị điểm nhỏ nhất là 2.65, cao nhất là 4.36. Có thứ bậc cao
nhất là “thái độ đối với công việc, với chính bản thân người thầy thuốc”, ĐTB =
3.54; thứ hai là “Thái độ với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)”, ĐTB=3.29),
thứ ba là “Thái độ của thầy thuốc với người bệnh, ĐTB=3.17), thấp nhất là “Thái
độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng, ĐTB=3.00).
Kết quả thống kê mức độ PTYĐ của người TTQĐ đánh giá theo 4 nội
dung được thể hiện ở biểu đồ 2.2:
điểm đều bằng 3.0. ĐLC và phương sai nhỏ (0.641 và 0.614) với độ biến thiên
80
5
4.2
MQH 1
3.29
MQH 2
3.17
3.14
3.15
3
3.4
MQH 3
MQH 4
2.6
ĐTB
1.8
1
MQH 1
MQH 2
MQH 3
MQH 4
ĐTB
Biểu đồ 2.2: Thực trạng phát triển thái độ y đức của người TTQĐ
2.2.1.3. Thực trạng phát triển về hành vi y đức của người TTQĐ
Y đức không chỉ là lòng yêu thương và tinh thần trách nhiệm với người
bệnh, với thương binh, bệnh binh và thái độ trong các mối quan hệ, mà còn được
thể hiện thông qua hệ thống hành vi y đức cụ thể. Đánh giá thực trạng về hành
vi y đức của người TTQĐ trên các nội dung cơ bản sau:
- Hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của
bản thân người TTQĐ.
Bảng 2.12: Thực trạng hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự
rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ
Nội dung
ĐTB
ĐLC
Thứ bậc
TT 1 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực
2.92
0.55
5
chuyên môn
2 Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo
2.99
0.63
4
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
3 Thường xuyên trau dồi đạo đức người quân nhân
3.52
0.71
2
cách mạng
4 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui
3.02
0.53
3
định trong khám chữa bệnh
5 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi ích cá nhân
2.76
0.94
6
người thầy thuốc
6 Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt
3.78
0.58
1
nhiệm vụ được giao
TBC
3.17
Nhận xét: Đại đa số TTQĐ “Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao” (413/453=91.23%, ĐTB=3.78, đạt mức “Tích
81
cực”, xếp thứ nhất. Nghề y là nghề rất vất vả, luôn phải đối mặt với khó khăn,
gian khổ, lây nhiễm bệnh tật nhưng qua trực tiếp trao đổi với các thầy thuốc
đang công tác ở các bệnh viện, Học viện Quân y và khảo sát cho thấy có tới
386/453 = 85.3% thầy thuốc “Thường xuyên trau dồi đạo đức người quân
nhân cách mạng”, ĐTB = 3.52, xếp thứ 2/6.
Qua quan sát, nghiên cứu báo cáo tổng kết và kết quả khảo sát cũng chỉ
ra đội ngũ thầy thuốc chưa thật sự “Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám chữa bệnh”, nhất là các thầy thuốc ở tuyến cơ sở. ĐTB = 2.92,
xếp thứ 5/6; Đáng chú ý là theo đánh giá của chính thầy thuốc và của bệnh
nhân thì còn coi lợi ích cá nhân hơn lợi ích của bệnh nhân, chưa thực sự thực
hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, ĐTB = 2.99, xếp thứ 4/6.
Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức đối với quá
trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ trong phạm
vi khảo sát là 3.17, đạt mức “Trung bình”.
- Hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật
của người TTQĐ
Bảng 2.13: Thực trạng hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều
lệnh và pháp luật của người TTQĐ
Nội dung
ĐTB 3.54 3.42 2.65 3.26 3.08
ĐLC 0.43 0.54 0.95 0.76 0.83
Thứ bậc 1 2 5 3 4
TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn 3 Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách 4 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 5 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả 6 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên
2.46
1.03
6
môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong KCB
TBC
3.17
Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy: Hầu hết TTQĐ “Luôn có ý thức
chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị”, ĐTB = 3.54, đạt “Mức cao”,
82
xếp thứ nhất. Trong y nghiệp luôn có ý thức “Tôn trọng pháp luật, qui chế
chuyên môn”, ĐTB = 3.42, xếp thứ 2; “Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm” có ĐTB = 3.26, xếp thứ 3. Tuy nhiên, một số không nhỏ
thầy thuốc chưa “Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách” mà
họ được hưởng, ĐTB = 2.65, xếp thứ 5/6; Việc “Thông báo cho bệnh nhân
những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó, trong quá trình khám
chữa bệnh” chưa thường xuyên, ĐTB = 2.46, xếp thứ 6/6, đạt mức trung bình.
Nghiên cứu báo cáo, tổng kết của các bệnh viện tuyến Trung ương và
tuyến cơ sở cho thấy: Trong chuyên môn, một số thầy thuốc do không chấp
hành nguyên tắc của bệnh viện, quy chế chuyên môn đã để xảy ra những sai
sót về kỹ thuật gây tai biến cho bệnh nhân, thậm chí, tìm cách đùn đẩy bệnh
nhân, gây khó dễ cho gia đình họ…Sự thiếu nhiệt tình biểu hiện ở các khâu,
các bước trong quá trình người bệnh khám chữa bệnh tại bệnh viện. Đặc biệt,
trong các khâu khám bệnh, làm thủ tục vào viện và ra viện…
Kết quả điều tra về việc nhận phong bì cho thấy: chỉ có 140/453 =
30.90% thầy thuốc chọn phương án từ chối món quà nhỏ khi bệnh nhân đang
trong đợt điều trị, tỷ lệ từ chối tăng lên 235/453 = 51.87% khi món quà đó là
“phong bì” cho dù đợt điều trị đã kết thúc và có 308/453 = 67.99% thầy thuốc
lựa chọn phương án không sử dụng mối quan hệ với bệnh nhân để giải quyết
so với thầy thuốc là y sĩ, điều dưỡng viên (113/453 = 24.94%). Lý do nhận
phong bì trong quá trình điều trị có tới 174/453 = 38.41% thầy thuốc cho là có
vì họ đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi bệnh cho bệnh nhân. Theo phản
ánh của bệnh nhân, có một số ít bác sỹ, nhân viên bệnh viện có hành vi vòi
vĩnh, gợi ý bệnh nhân phải biếu tiền mình một cách công khai.
Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức trong chấp
hành các qui định, điều lệnh và pháp luật của người TTQĐ trong phạm vi
khảo sát là 3.17, đạt mức “Trung bình”.
việc riêng gia đình, tỷ lệ từ chối nhận phong bì ở thầy thuốc là bác sĩ cao hơn
83
- Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ
Bảng 2.14: Thực trạng hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử
Nội dung
ĐTB 3.22 2.97 2.93 2.88 2.91 2.76
Thứ bậc 1 2 3 5 4 6
ĐLC 0.94 0.82 1.19 0.94 1.04 0.72
TT 1 Luôn tôn trọng cấp trên và bậc thầy của mình 2 Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám chữa bệnh 3 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh 4 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới thực hiện nhiệm vụ 5 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 6 Đặt lợi ích của bệnh nhân trên lợi ích cá nhân
TBC
2.94
Nhận xét: Mức độ phát triển hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của
người TTQĐ ở mức trung bình. “Thái độ tôn trọng cấp trên và bậc thầy của
mình” được đề cao hơn các nội dung khác, với ĐTB = 3.22, xếp thứ nhất. Đội
ngũ thầy thuốc thể hiện được sự “Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám
chữa bệnh”, với ĐTB = 2.97, xếp thứ 2.
Trong nội dung giao tiếp với bệnh nhân có 306/453 = 67.54% thầy
thuốc có thâm niên công tác trên 10 năm đề cập nội dung giao tiếp nhằm mục
đích khám chữa bệnh (tỷ lệ này ở thầy thuốc có thâm niên công tác dưới 10
năm là 186/453 = 41.05%). Có tới 377/453 = 83.22% thầy thuốc thường
xuyên giao tiếp với bệnh nhân lúc thăm khám, điều trị còn 76/453 = 16.78%
vào các thời điểm khác. TTQĐ có hành vi “Tôn trọng, ân cần, chu đáo với
phân biệt đối xử trong khám, điều trị bệnh nhân” (ĐTB = 2.91, xếp thứ 4/6).
Đặc biệt là trong giao tiếp, ứng xử với người bệnh, người bệnh cảm thấy thầy
thuốc chưa thật sự đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi ích cá nhân (ĐTB =
2.76, xếp thứ 6/6).
Trao đổi với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được biết: Còn một số
ít thầy thuốc thiếu tôn trọng bệnh nhân và gia đình họ trong giao tiếp. Ở
những người thầy thuốc như thế tình nhân ái, tính thiện tâm, sự ân cần, chu
đáo, lịch sự, trách nhiệm… đã đổi chỗ cho những hành sự nguyên tắc cứng
người bệnh” được đánh giá không cao (ĐTB = 2.93, xếp thứ 3/6); “Không
84
nhắc, gắt gỏng, tác trách với bệnh nhân. Một số thầy thuốc có biểu hiện
chuyên môn thuần tuý. Cá biệt có trường hợp viện cớ chế độ chính sách y tế
còn nhiều bất cập để gây phiền hà, vô trách nhiệm trong thăm khám và điều
trị, và lôi kéo người bệnh về chữa trị tại phòng khám tư của mình, cho bệnh
nhân làm nhiều xét nghiệm không cần thiết, kê đơn thuốc đắt tiền và móc nối
với hiệu thuốc, cơ sở xét nghiệm bên ngoài để hưởng hoa hồng, vòi vĩnh quà
cáp và tiền của người bệnh.
Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức trong giao tiếp,
ứng xử của người TTQĐ trong phạm vi khảo sát là 2.94, đạt mức “Trung bình”.
- Hành vi y đức về lương tâm, trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị
Bảng 2.15: Thực trạng hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong
học tập, công tác và điều trị
Nội dung
ĐTB 3.21 3.36 2.96 2.70 3.03 3.02
Thứ bậc 2 1 5 6 3 4
TT 1 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh 2 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3 Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của NB 4 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 5 Sử dụng phác đồ điều trị có lợi nhất cho BN 6 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB
TBC
ĐLC 0.57 1.1 0.74 0.82 0.87 0.86 3.05
nhân dân vào khám chữa bệnh và điều trị tại các bệnh viện quân đội tăng
nhiều, song không vì thế mà tinh thần phục vụ của người TTQĐ giảm. Dù đời
sống còn gặp khó khăn, người TTQĐ vẫn cần mẫn hàng ngày, hàng giờ chăm
sóc phục vụ người bệnh, đặt nhiệm vụ cứu chữa thương binh, bệnh binh, phục
vụ bộ đội và nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu, cho dù phải đối mặt với nguy
hiểm, nguy cơ lây nhiễm cao. Đội ngũ TTQĐ luôn có thái độ nghiêm túc
trong khám chữa bệnh “Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách
nhiệm” (ĐTB = 3.36, xếp thứ nhất).
Nhận xét: Trong điều kiện hiện tại, số lượng thương binh, bệnh binh và
85
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của y đức trong việc nâng cao chất
lượng khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, người TTQĐ luôn thể hiện
tinh thần hết lòng vì người bệnh, “Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh”,
thương binh, bệnh binh (ĐTB = 3.21, xếp thứ 2).
Trong những đợt xuất hiện các vụ dịch nguy hiểm như viêm đường hô
hấp cấp SARS, dịch cúm A H5N1, có những y- bác sĩ thức trắng nhiều đêm
bên giường bệnh, có những thầy thuốc quên ăn, quên ngủ với hy vọng sớm
tìm ra căn nguyên của những căn bệnh quái ác, giành lại sự sống cho người
bệnh, có những y bác sỹ hiến máu cứu bệnh nhân. Năm 2012 trong vụ dịch
tiêu chảy cấp nguy hiểm, nhiều thầy thuốc ở lại trực dịch tại bệnh viện hơn
một tháng không về nhà. Căng thẳng, vất vả, nhưng tất cả đều tự nguyện. Bởi
họ hiểu rằng, sinh mạng của nhiều người bệnh đang đặt trong tay họ. Là
những người TTQĐ, hằng năm họ xung phong ra công tác tại các đảo xa của
Tổ quốc, không quản khó khăn, gian khổ đến tận vùng sâu, vùng xa, nơi biên
giới, căn cứ địa cách mạng để khám chữa bệnh cấp thuốc cho bộ đội và nhân
dân. Dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn hết lòng, hết sức cứu chữa phục vụ
thương binh, bệnh binh và nhân dân vô điều kiện.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát chỉ ra ở các bệnh viện hiện nay, vẫn có
những thầy thuốc cẩu thả trong thăm, khám dẫn đến chẩn đoán, điều trị bệnh
phải trường hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng hoặc thực hiện
không đầy đủ qui trình chuyên môn ở các mức độ khác nhau. Cá biệt, một số
thầy thuốc đặt lợi ích đồng tiền lên trên sinh mạng của người bệnh, thiếu lòng
thiện tâm, thiếu trách nhiệm, cố tình làm sai về qui trình, qui định của bệnh
viện trong quá trình khám chữa bệnh. Qua kết quả điều tra, có 196/453 =
43.26% các thầy thuốc chuyển bệnh nhân đi khám chuyên khoa hoặc lên tuyến
thiếu chính xác. Có 302/453 = 66.67% thầy thuốc thừa nhận đã trực tiếp gặp
nghị của bệnh nhân; vẫn còn 47/453 = 10.37% số thầy thuốc cho rằng cần duy
trì mối quan hệ với các công ty dược hoặc trang thiết bị y tế để có thêm thu
trên vì bệnh nhân yêu cầu và 162/453 = 35.76% kê đơn thuốc biệt dược theo đề
86
nhập. Họ thường đề cao tay nghề coi “tài” hơn “đức”, có những hành vi thiếu
gương mẫu, né tránh, ngại va chạm… Cá biệt có thầy thuốc vi phạm y đức, vi
phạm pháp luật nhưng không tự giác nhận khuyết điểm, khi được nhắc nhở, bị
xử lý thì sửa chữa, chuyển biến chậm (ĐTB = 2.70, xếp thứ 6/6).
Điểm trung bình đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức về lương
tâm và trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị của người TTQĐ trong
phạm vi khảo sát là 3.05, đạt mức “Trung bình”.
Kết quả nghiên cứu thực trạng phát triển hành vi y đức của người
TTQĐ theo các nội dung trên đây cho thấy: Đa số TTQĐ có mức độ phát
triển hành vi y đức ở mức độ “trung bình” (342/453 = 75.50%); số TTQĐ
được đánh giá có hành vi y đức phát triển ở mức “rất cao” và “cao” không
nhiều (mức cao là 75/453 = 16.56%, rất cao là 20/453 = 4.41%); số thầy thuốc
có hành vi y đức phát triển ở mức “thấp” là 16/453 = 3.01%; không có thầy
thuốc có hành vi y đức phát triển ở mức độ “kém”. Kết quả trưng cầu ý kiến
95 bệnh nhân đang điều trị tại các bệnh viện trong phạm vi khảo sát về mức
độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ thống nhất với kết quả khảo sát.
Tổng hợp thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ thể hiện ở bảng 2.16:
Bảng 2.16: Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ
ĐTB
TT
Nội dung đánh giá phát triển hành vi y đức của TTQĐ
Thứ bậc
1 Hành vi y đức đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y
3.17
1
đức của bản thân người TTQĐ.
2 Hành vi y đức trong chấp hành các qui định, điều lệnh và
3.07
2
pháp luật của người TTQĐ.
2.94
4
3 Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ. 4 Hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong học tập,
3.05
3
công tác và điều trị.
TBC
3.06
Sau khi lượng hóa, gán điểm theo tiêu chí đã xác định thu được kết
quả: ĐTB đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ trong
phạm vi khảo sát là 3.06, đạt mức “trung bình”.
87
Kết quả thống kê mức độ phát triển hành vi y đức của người TTQĐ
đánh giá theo 4 nội dung được thể hiện ở biểu đồ 2.3.
5
Nội dung 1
4.2
Nội dung 2
3.17
3.07
3.06
3.05
3.4
2.94
Nội dung 3
2.6
Nội dung 4
ĐTB
1.8
1
Nội dung 1
Nội dung 2
Nội dung 3
Nội dung 4
ĐTB
Biểu đồ 2.3: Thực trạng phát triển hành vi y đức của người TTQĐ
Tổng hợp kết quả nghiên cứu mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ hiện
nay theo 3 nhóm tiêu chí đã xác định ta có bảng 2.17:
Bảng 2.17: Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay
ĐTB
Xếp loại
TT
Nội dung đánh giá thực trạng phát triển y đức của người TTQĐ
Cao
Trung bình
Trung bình
3.85 3.15 3.06
Thứ bậc 1 2 3
Trung bình
1 Mức độ phát triển ý thức y đức của TTQĐ 2 Mức độ phát triển thái độ y đức của TTQĐ 3 Mức độ phát triển hành vi y đức của TTQĐ
TBC
3.35
Kiểm định mẫu cặp (Paired Samples Test) kết quả đánh giá của đội ngũ
bác sĩ ở tuyến bệnh viện Trung ương; tuyến bệnh viện cơ sở cán bộ quản lý,
giảng viên cho thấy: Sự khác nhau giữa cặp đánh giá có ĐTB nhỏ 0.089. ĐLC
thấp (0.37) chứng tỏ độ tập trung của các ý kiến đánh giá. Với độ tin cậy 95%
thống kê (t) = 0.723, giả thuyết H0 được khẳng định. Nghĩa là, sự khác biệt trong đánh giá về thực trạng PTYĐ giữa các nhóm khách thể tương đương
nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Kiểm định độ tin cậy kết quả nghiên cứu thông qua tính hệ số tương
quan nội bộ giữa các Item (Inter-item correlation coefficients) cho thấy, tất cả
các Item đều có tương quan thuận với nhau, với giá trị nhỏ nhất r = 0.472, giá
trị cao nhất r = 0.841, cho phép khẳng định độ tin cậy và tính ổn định của nội
sự khác nhau giữa hai ĐTB có giá trị biến thiên từ - 0.05443 đến 0.017208. Trị số kiểm định P-value Sig (2-tailed) = 0.426 > α = 0.05 tương ứng với
88
dung các Item trong kết quả nghiên cứu, góp phần khẳng định tính chính xác
về các Item tham gia đánh giá mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ.
Kết quả khảo sát mức độ PTYĐ của người TTQĐ đánh giá theo 3 tiêu
chí được thể hiện ở biểu đồ 2.4.
5
3.85
4.2
Tiêu chí 1
3.35
3.15
3.06
3.4
Tiêu chí 2
Tiêu chí 3
2.6
ĐTB
1.8
1
Tiêu chí 1
Tiêu chí 2
Tiêu chí 3
ĐTB
Biểu đồ 2.4: Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng PTYĐ của đội ngũ TTQĐ có thể rút
ra kết luận: Mức độ PTYĐ của đội ngũ TTQĐ chủ yếu tập trung ở mức độ
“Trung bình” ở tất cả các đối tượng khảo sát. Thầy thuốc ở các đơn vị tham
gia khảo sát có mức độ PTYĐ tương đương nhau; sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê. Những hạn chế thiếu sót không chỉ ảnh hưởng đến việc
PTYĐ ở chính các thầy thuốc có biểu hiện lệch lạc trong nhận thức về vai trò,
tầm quan trọng của y đức, thái độ trong giải quyết các quan hệ y đức cũng
như hành vi y đức của mỗi người thầy thuốc, mà còn lây lan ảnh hưởng đến
xây dựng môi trường y đức, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và ảnh
Các lực lượng chức năng cần có biện pháp tác động phù hợp nhằm PTYĐ cho
đội ngũ TTQĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
hưởng đến công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức của người TTQĐ.
2.2.2. Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức
giáo dục phát triển y đức cho người thầy thuốc quân đội
- Ưu điểm, theo đánh giá của các thầy thuốc tham gia khảo sát thì lãnh
đạo, chỉ huy các cấp trong ngành quân y đã quan tâm bồi dưỡng y đức cho đội
ngũ thầy thuốc trong phạm vi quản lý. Cụ thể: Có 158/453 = 34.87% ý kiến
89
cho rằng lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đã “Rất quan tâm” đến bồi dưỡng y đức cho
đội ngũ thầy thuốc; 225/453 = 49.69% “Quan tâm”; 70/453 = 15.45% “Bình
thường”. Không có ý kiến nào cho rằng lãnh đạo chỉ huy ít hoặc không quan
tâm đến vấn đề này. ĐTB cho nội dung này là 4.19, đạt mức “Quan tâm”.
Việc quan tâm bồi dưỡng y đức được thực hiện thông qua các công
việc cụ thể. Kết quả khảo sát thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người
TTQĐ hiện nay được thể hiện ở bảng 2.18.
Bảng 2.18: Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo
dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ
TT
Nội dung công việc
ĐTB
3.65 3.53
1 Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM, ĐĐNN cho người TTQĐ 2 Quán triệt pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho
Thứ bậc 2 3
người TTQĐ
3.48 3.50 3.68
3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho người TTQĐ 4 Rèn luyện bản lĩnh, lương tâm, trách nhiệm cho người TTQĐ 5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của
5 4 1
Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho người TTQĐ
6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục, bồi
3.20
9
dưỡng PTYĐ cho người TTQĐ
7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng phù hợp với đối tượng 8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc 10 Xây dựng ở người thầy thuốc thái độ tôn trọng con người, sự
3.05 2.92 3.06 3.26
11 12 10 8
thiện tâm và công bằng trong khám chữa bệnh
11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với NB 12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự
3.37 3.20
7 9
trau dồi, rèn luyện y đức
13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các
3.47
6
thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức
TBC
3.34
Nhận xét: Những năm qua, ngành y quân đội đã có nhiều cố gắng trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng y đức gắn với hoạt động y
nghiệp cho người thầy thuốc. Việc xây dựng mục tiêu, mô hình đào tạo người
90
TTQĐ luôn được quan tâm nghiên cứu và được điều chỉnh, bổ sung thường
xuyên. Hàng năm, các nhà trường, bệnh viện, đơn vị quân y đã triển khai thực
hiện tốt chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức theo quy định của Tổng cục
Chính trị, và Cục quân y cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ quân y; tích cực đổi
mới nội dung, phương pháp và hình thức trong giáo dục, bồi dưỡng y đức
nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi, năng lực khám chữa bệnh cho bộ
đội và nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu của y nghiệp, góp phần
làm cho y đức cách mạng của người TTQĐ ngày càng được phát triển, nâng
cao. Đã lựa chọn nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức và biện pháp để
tiến hành giáo dục, bồi dưỡng y đức phù hợp với đặc điểm hoạt động y nghiệp
của người TTQĐ. “Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân
tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB
= 3.68, xếp thứ nhất); Tiếp theo là “Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM,
đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB = 3.65, xếp thứ 2); Đồng thời
các đơn vị đã quan tâm “Quán triệt pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn,
quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc” (ĐTB = 3.63, xếp thứ 3).
Cùng với các bài giảng về y đức cách mạng, các nhà trường, bệnh viện,
đơn vị quân y đã đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cổ động, văn
hoá, văn nghệ và các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị nhằm giáo
bằng phiếu trưng cầu ý kiến về tiến hành các mặt công tác trên có 21/453 =
4.67% đánh giá rất tốt; 101/453 = 22.29% đánh giá tốt; 215/453 = 47.46%
đánh giá khá; 98/453 = 21.63% đánh giá trung bình; 18/453 = 3.97% đánh giá
yếu. Đặc biệt, các nhà trường, bệnh viện, đơn vị quân y đã tích cực trong xây
dựng môi trường y đức lành mạnh ở chính các đơn vị quân y. Việc thông tin,
tuyên truyền về y đức, y thuật của đơn vị mình, một mặt tạo địa chỉ tin cậy về
y đức trong khám chữa bệnh để tăng cường lòng tin, niềm tự hào về phẩm
dục, bồi dưỡng, nâng cao y đức cách mạng cho đội ngũ TTQĐ. Qua khảo sát
91
chất đạo đức, tinh thần phục vụ bệnh nhân, phục vụ thương binh, bệnh binh
của cán bộ, nhân viên quân y, góp phần bồi dưỡng, nâng cao lòng tự hào về
truyền thống y đức cách mạng của người TTQĐ.
Kết quả khảo sát và qua trao đổi trực tiếp với đội ngũ thầy thuốc, cán
bộ, giáo viên, học viên cho thấy rõ hơn những hạn chế về chương trình, nội
dung, phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi
trường y đức của người TTQĐ hiện nay.
- Hạn chế về kế hoạch, nội dung, chương trình giáo dục, bồi dưỡng y
đức của người thầy thuốc
Việc kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn với
nâng cao nhận thức về giá trị, chuẩn mực y đức, bồi dưỡng tình cảm, xây
dựng niềm tin, tình yêu nghề nghiệp và rèn luyện thói quen hành vi y đức của
người thầy thuốc chưa được coi trọng đúng mức. Việc xác định mục tiêu, nội
dung, chương trình đào tạo về y đức chưa cụ thể hoá một cách đầy đủ. Có
39.6% số giảng viên được hỏi cho rằng kế hoạch, nội dung, chương trình giáo
dục, bồi dưỡng về y đức cần phải được điều chỉnh cho hợp lý. Chương trình
đào tạo TTQĐ, nội dung các môn khoa học xã hội và nhân văn chỉ còn
khoảng 16.0% trong tổng số thời gian đào tạo. Hiện nay, Cục Quân y đang sử
dụng tài liệu giáo dục y đức cho cán bộ, nhân viên quân y, do Phòng Chính
xung quanh y đức của những thầy thuốc trực tiếp điều trị cho thương binh,
bệnh binh, bệnh nhân, chưa đáp ứng đầy đủ những vấn đề đặt ra về giáo dục
xây dựng y đức cho cán bộ, nhân viên quân y trong tình hình mới.
Trong giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc các bệnh viện,
đơn vị quân y, học viện, trường quân y. Nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức
chưa kết hợp y đức với y nghiệp của người TTQĐ, chưa xây dựng được một
chương trình riêng về giáo dục, bồi dưỡng y đức, chưa đưa vào các tình
huống xử trí y đức trong thực hành lâm sàng, chưa đi sâu vào giáo dục những
trị, Cục Quân y biên soạn với 14 trang, nội dung mới đề cập một số vấn đề
92
tấm gương tiêu biểu về y đức, về các lời y huấn cách ngôn của các bậc thầy
thuốc có ảnh hưởng lớn trong lịch sử y học, Các chuẩn mực và 12 điều quy
định về y đức của Bộ Y tế và các qui định của ngành, của đơn vị, chưa gắn sát
với chức trách, nhiệm vụ cụ thể của người thầy thuốc được đảm nhiệm trên
các mặt công tác, Tuy nội dung về các chuẩn mực, qui định và 12 điều quy
định về y đức là rất đầy đủ, bao trùm trên tất cả các mặt công tác khám chữa
bệnh, nghiên cứu và TN lâm sàng của người thầy thuốc, nhưng nội dung chưa
thực sự cô đọng, dễ nhớ, chưa có khái niệm chuẩn về y đức.
Thực tế, trong quá trình giáo dục, đào tạo của Học viện Quân y ở tất cả
các cấp đào tạo chưa có môn học riêng về đạo đức y học, mà vẫn dựa trên
môn đạo đức học đại cương để giảng dạy chung, chưa tích hợp được những
yêu cầu về chuẩn mực y đức của người thầy thuốc vào nội dung môn học.
Biểu hiện cụ thể là: Qua nghiên cứu giáo án của giảng viên chúng tôi thấy chủ
yếu nhằm thực hiện mục tiêu trang bị về tri thức và rèn luyện kỹ năng tay
nghề về y nghiệp, trong giảng dạy ít đề cập đến mục tiêu giáo dục về nhân
cách, thái độ hành vi và quan hệ về y đức cho người học. Chính vì vậy mà nội
dung dạy học còn nặng về lý luận chung, về kiến thức chuyên môn đơn thuần,
còn các tình huống trong hoạt động để có cách ứng xử, giao tiếp tích cực với
bệnh nhân ít được phản ánh trong các nội dung các môn y học chuyên ngành.
23.15% số cán bộ, giảng viên Học viện Quân y; 31/120 = 25.83% học viên
cho rằng, “tính giáo dục trong nội dung dạy học của giảng viên” còn hạn chế.
ĐTB = 3.19, đạt mức “Trung bình”. Lâu nay, trong đào tạo bác sỹ quân y, chủ
yếu đặt trọng tâm vào việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng tay nghề về
y nghiệp; ít quan tâm rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử
trí các tình huống về y đức trong thực hành lâm sàng cho học viên; chưa chú
trọng kết hợp giáo dục y đức gắn với dạy học các môn y học chuyên ngành để
nâng cao ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức tốt đẹp cho học viên.
Nhận định này phù hợp với kết quả trưng cầu ý kiến, có 22/95 =
93
Người TTQĐ trong quá trình được giáo dục, bồi dưỡng về y đức, chưa
biết sàng lọc, lựa chọn những kiến thức cơ bản, cốt lõi, cần thiết cho sự PTYĐ
của bản thân mình, họ nhầm lẫn hoặc không chỉ ra được những nội dung cơ bản
của giáo dục, bồi dưỡng y đức. Kết quả điều tra cho thấy có 15/95 = 15.78% cán
bộ, giảng viên Học viện Quân y và 35/120 = 29.16% học viên sĩ quan quân y đã
không cho rằng, giáo dục bồi dưỡng về chính trị - tư tưởng, thế giới quan khoa
học là những nội dung của giáo dục đạo đức y nghiệp, chưa coi trọng việc nâng
cao chất lượng nắm kiến thức chuyên môn với nâng cao ý thức, thái độ và hành
vi y đức của người TTQĐ. Nhiều thầy thuốc trong học tập chỉ chú trọng việc
lĩnh hội kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng y nghiệp, xem nhẹ
việc học tập chính trị để hình thành thế giới quan khoa học là cơ sở cho PTYĐ.
- Hạn chế về phương pháp giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người TTQĐ
Việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng y đức của người thầy thuốc tuy đã
được quan tâm ở tất cả các cấp, các bệnh viện, các ĐVQY. Tuy nhiên phương
pháp giáo dục, bồi dưỡng chưa thật sáng tạo, linh hoạt cho phù hợp với thực
tiễn hoạt động của người TTQĐ, chưa tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi
để hình thành, phát triển các chuẩn mực y đức người TTQĐ.
Các phương pháp giáo dục, bồi dưỡng y đức cho thầy thuốc hiệu quả
mang lại chưa cao. Có 34/95 = 35.78% cán bộ, giảng viên; 39/120 = 32.5%
chưa thật sự có hiệu quả. ĐTB về mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục
y đức là 2.86, đạt mức “Trung bình”. Cụ thể: Phương pháp giáo dục chính trị
tư tưởng chưa gắn sát với đối tượng giáo dục và gắn với nghề nghiệp của
người thầy thuốc, nội dung thiếu sâu sắc nên tính định hướng tư tưởng chưa
cao; phương pháp tiếp cận con người còn hạn chế, phương pháp động viên
khuyến khích chưa thật nhạy bén và kịp thời, thường mang tính chất chiếu lệ
và chưa thật đúng người đúng việc nên tính giáo dục chưa hiệu quả, phương
pháp rèn luyện nêu gương chưa được chú ý đúng mức, cán bộ quản lý ít bám
học viên cho rằng, phương pháp giáo dục y đức không phù hợp, khô cứng,
94
nắm đơn vị, một số còn biểu hiện thiếu yên tâm công tác, chủ yếu giao cho
cấp dưới duy trì và điều hành các công việc, ít để ý đến việc nêu gương người
tốt việc tốt, xây dựng đơn vị tiên tiến điển hình. Do đó, ảnh hưởng không nhỏ
tới công tác giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc.
Phương pháp tự rèn luyện, tự bồi dưỡng y đức của người thầy thuốc còn
nhiều hạn chế, qua kết quả điều tra ở Học viện Quân y: có 27/95 = 28.42% cán
bộ, giảng viên đánh giá tính tích cực, chủ động trong học tập và rèn luyện y đức
của học viên ở mức hạn chế. Qua quan sát chúng tôi thấy, do sống trong tập thể,
cùng ăn, cùng ở, sinh hoạt tập trung, nên hiện tượng học viên có những biểu hiện
thiếu lành mạnh trong giải quyết các mối quan hệ cá nhân, phát ngôn thiếu văn
hoá vẫn xảy ra. Có 25/120 = 20.83% học viên thừa nhận vẫn còn hiện tượng cãi
chửi nhau với đồng đội. Một số học viên do chưa được chuẩn bị tốt về mặt tâm
thế cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai; chưa thể hiện tính sẵn sàng và
tâm lý vững vàng cho hoạt động tự rèn luyện y đức do đó còn có biểu hiện thiếu
tích cực, chủ động trong tự tổ chức hoạt động giáo dục, rèn luyện của bản thân.
Ý chí quyết tâm trong học tập, rèn luyện y đức của một bộ phận học viên còn
yếu, nảy sinh tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Tinh thần đấu tranh phê bình và tự
phê bình với những biểu hiện tiêu cực về đạo đức lối sống chưa cao, cá biệt còn
có hiện tượng thiếu tu dưỡng rèn luyện, sa vào các tệ nạn, cờ bạc, cá độ, trộm
- Hạn chế về hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người
thầy thuốc quân đội
Hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức chưa thực sinh động,
thường các hoạt động giáo dục, bồi dưỡng được tổ chức mang nặng tính chất
hành chính quân sự. Các hình thức giáo dục chủ yếu nhằm vào việc duy trì
thực hiện chế độ theo quy định, yêu cầu của kỷ luật quân đội và đơn vị. Chưa
kết hợp chặt chẽ giáo dục, bồi dưỡng y đức với các hình thức giáo dục chính
trị, tư tưởng. Hình thức lên lớp lý thuyết và thực hành, giảng viên chủ yếu
cắp vặt, cắm ký quán, quan hệ thiếu lành mạnh vẫn còn xảy ra.
95
truyền thụ kiến thức chuyên môn đơn thuần ít gắn với việc định hướng chính
trị, giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc.
Hình thức thi đua có những mặt hạn chế, nhất là việc quán triệt mục
tiêu, nội dung, chỉ tiêu của các phong trào đó vào giáo dục, bồi dưỡng y đức
cho người thầy thuốc thiếu tính cụ thể. Có những phong trào thi đua được tổ
chức còn mang tính hình thức, nội dung nghèo nàn, cách thức hoạt động đơn
điệu, một số chủ đề diễn đàn, giao lưu,... chưa thu hút được sự tham gia của
đông đảo cán bộ nhân viên quân y, thậm chí tham gia mang tính chiếu lệ. Do
đó, không mang lại tác dụng cao trong giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức.
Về nội dung này, theo nhận xét của đội ngũ giảng viên có 18/95 = 18.94%,
cho là hạn chế về hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng về y đức; 45/120 =
37.50% học viên cũng có đánh giá tương tự.
Hình thức giáo dục, gặp gỡ riêng ít được sử dụng, chủ yếu sử dụng hình
thức giáo dục chung nên tính hiệu quả trong giáo dục chưa cao. Do đó, việc
giáo dục, bồi dưỡng y đức gắn với đặc điểm riêng của từng cá nhân người thầy
thuốc chưa đạt hiệu quả cao, chưa thể hiện được tính cá biệt hoá trong công tác
giáo dục. Hàng năm các bệnh viện, ĐVQY tổ chức học tập chính trị theo hình
thức học tập trung là rất khó do đặc thù của hoạt động y nghiệp, quân số
thường chỉ đạt 75.0%. Một số còn đi học chiếu lệ, bằng nhiều cách khác nhau
trao đổi trực tiếp với cơ quan chính trị ở một số bệnh viện, ĐVQY cho thấy,
tuy những năm gần đây các vi phạm đó đã giảm nhiều, nhưng “còn có những
biểu hiện thiếu trung thực trong sinh hoạt và học tập chính trị”.
- Hạn chế trong xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ hiện nay
Những năm qua, ngành quân y luôn quan tâm xây dựng môi trường y đức
trong các bệnh viện, đơn vị quân y trở thành môi trường văn hoá về y đức. Tuy
nhiên, việc xây dựng môi trường y đức ở một số đơn vị bộc lộ một số hạn chế
như: Các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp của bệnh viện, ĐVQY từ Đảng uỷ,
để qua được đợt học tập chính trị, không quan tâm đến kết quả học tập. Qua
96
Ban giám đốc, chỉ huy đơn vị đến các cơ quan ban ngành, các bộ phận phối hợp
chưa thật chặt chẽ trong xây dựng môi trường y đức cho người thầy thuốc. Một
bộ phận cán bộ nhân viên quân y việc xác định những giá trị về y đức chưa rõ,
chưa thấy hết trách nhiệm trong xây dựng môi trường y đức. Có 21/95 = 22.1%
cán bộ, giảng viên; 35/120 = 29.16% học viên cho rằng trách nhiệm của cán bộ
các cấp trong xây dựng môi trường y đức hiện nay còn hạn chế.
Trong quá trình khám chữa bệnh, mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh
nhân, đồng nghiệp và với người thầy còn có những khoảng cách nhất định, 23/95
= 24.21% cán bộ, giảng viên và 33/120 = 27.50% học viên cho rằng mối quan
hệ này ở mức hạn chế. Tình hình y đức, lối sống, quan hệ thầy thuốc với bệnh
nhân, tình thầy trò, văn hoá giao tiếp đang có những biểu hiện thiếu lành mạnh,
ảnh hưởng không tốt đến việc xây dựng môi trường y đức hiện nay. Một số biểu
hiện rất cần được quan tâm giáo dục, uốn nắn kịp thời như: chỉ lo vun vén cho cá
nhân ít quan tâm đến lợi ích của tập thể, biểu hiện thương mại hoá quan hệ để vụ
lợi cho bản thân…Dù ít nhưng những biểu hiện đó làm cản trở đến công tác xây
dựng môi trường y đức lành mạnh ở các ĐVQY, là một trong những nguyên
nhân quan trọng làm hạn chế đến việc PTYĐ của người TTQĐ.
Trong thực hiện nền nếp, chế độ quy định của đơn vị. “Công tác quản
lý, giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ. Trách nhiệm trong học tập, công tác,
luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, học viên chưa thật chặt chẽ, vẫn còn hiện
tượng vi phạm phải xử lý kỷ luật” [20, tr.15]. Việc bảo đảm cơ sở vật chất
phục vụ cho nhiệm vụ điều trị nói chung, phục vụ cho xây dựng môi trường
chính trị, y đức, văn hoá quân sự cho người thầy thuốc nói riêng chưa đáp ứng
một cách đầy đủ. Các bệnh viện tuyến trung ương chưa thật quan tâm đầu tư
xây dựng môi trường văn hoá y đức, và chưa phát huy tốt vai trò của các tổ
chức đoàn thể vào xây dựng môi trường văn hoá y đức lành mạnh trong bệnh
viện. Việc bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật y tế cho công tác
chấp hành kỷ luật ở một số ĐVQY còn hạn chế, ...công tác giáo dục, rèn
97
khám chữa bệnh ở một số bệnh viện tuyến quân khu, quân đoàn, quân binh
chủng và ở một số ĐVQY chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự đáp
ứng với yêu cầu phát triển của y học hiện đại. Như vậy tất cả những hạn chế,
bất cập nêu trên trong xây dựng môi trường y đức ở chính các bệnh viện, các
ĐVQY là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng không tốt tới việc
PTYĐ của người TTQĐ.
Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng chương trình, nội dung, phương
pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của
người TTQĐ trong phạm vi khảo sát có ĐTB = 3.34, đạt mức “Trung bình”.
Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu thực trạng những hạn chế PTYĐ của
người TTQĐ cho thấy, nhận thức chung về PTYĐ của người thầy thuốc còn
có sự khác nhau. Tuy không thật rõ nét nhưng đã có những biểu hiện xem nhẹ
sự PTYĐ cả trong ý thức y đức, thái độ và hành vi y đức của người thầy
thuốc. Công tác xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức
đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tăng cường các giá trị, chuẩn mực y đức ngay
từ khi người thầy thuốc đang học tại trường còn hạn chế; các tác động giáo
dục còn chung chung, chưa mang lại hiệu quả cao, bản thân người thầy thuốc
chưa có những định hướng riêng của mình về việc giáo dục, rèn luyện y đức
của người TTQĐ. Chính vì vậy, một số thầy thuốc chưa thể hiện tính tích cực
TTQĐ. Sự liên kết giữa các lực lượng giáo dục và điều kiện bảo đảm cho giáo
dục y đức đối với người thầy thuốc còn hạn chế.
hoá vai trò của cá nhân trong tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Một là, sự tác động của tình hình xã hội và mặt trái của cơ chế thị trường
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang dùng mọi thủ đoạn, âm
mưu thâm độc nhằm xoá bỏ chế độ XHCN trên đất nước ta. Bằng chiến lược
“Diễn biến hoà bình”, chủ nghĩa đế quốc tấn công trên nhiều lĩnh vực, trong đó
lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạo đức là mũi tấn công chủ yếu. Thông qua đó,
chúng tuyên truyền các giá trị “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” theo kiểu phương
98
Tây, cùng với truyền bá lối sống hiện sinh, hưởng lạc, thực dụng... nhằm làm cho
thang giá trị xã hội cùng với những chuẩn mực đạo đức và thuần phong mỹ tục
của dân tộc bị đảo lộn. Do vậy, nó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống y đức của
đội ngũ thầy thuốc nói chung và quá trình PTYĐ của người TTQĐ nói riêng.
Mặt trái của nền KTTT có tác động tiêu cực đến giáo dục, bồi dưỡng y
đức của người TTQĐ. Trong nền KTTT, mục tiêu hàng đầu của các chủ thể
sản xuất, kinh doanh là lợi nhuận. Do đó, đây là điều kiện, là mảnh đất thuận
lợi để nảy sinh và phát triển chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vị kỷ, chạy theo
giá trị vật chất đơn thuần, coi nhẹ giá trị tinh thần... Những biểu hiện tiêu cực
đó lan truyền vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các lĩnh vực nghề
nghiệp. “Những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của lối
sống thực dụng và những tệ nạn xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định vào
ngành y quân đội” [37, tr.44], trong đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTYĐ
của người TTQĐ. Mặc dù hiện nay, những biểu hiện tiêu cực còn mang tính
đơn nhất, song nếu chúng ta không nhận thức đúng và khắc phục kịp thời thì
nó sẽ ngày càng phát triển và chuyển hoá thành cái phổ biến, gây cản trở
không nhỏ đến việc xây dựng môi trường văn hoá ở các ĐVQY nói chung,
cũng như việc PTYĐ của người TTQĐ nói riêng.
Hai là, những bất cập trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng y đức
còn bộc lộ rõ một số hạn chế như: chưa nồng ghép việc giáo dục, bồi dưỡng y
đức vào nội dung dạy nghề và chưa xây dựng một chương trình, nội dung cụ
thể về giáo dục y đức cho học viên đang học tại nhà trường và nội dung bồi
dưỡng y đức cho người thầy thuốc trong thực hành khám chữa bệnh; phương
pháp, hình thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng y đức chậm đổi mới, chưa thực sự
thu hút được mọi lực lượng tham gia giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy
Công tác giáo dục, bồi dưỡng để hình thành và PTYĐ của người TTQĐ
lý y đức, cơ bản thiên về quản lý hành chính là chủ yếu. Đội ngũ cán bộ quản
lý các cấp ở các ĐVQY mặc dù đã được trang bị kiến thức cơ bản về lý luận
thuốc; công tác quản lý chưa đi sâu vào chất lượng công việc, nhất là về quản
99
giáo dục học và dạy học hiện đại, nhưng việc vận dụng vào trong thực tiễn giáo
dục, quản lý cán bộ, nhân viên quân y cấp dưới còn hạn chế. Một số cán bộ,
giảng viên nhận thức chưa đầy đủ về nhiệm vụ (dạy kiến thức, dạy người, dạy
phương pháp). Họ cho rằng công việc của thầy thuốc là truyền đạt tri thức, tay
nghề cho người học, còn việc giáo dục là do đối tượng khác đảm nhiệm. Kết
quả điều tra xã hội học về nguyên nhân dẫn đến hạn chế giáo dục, bồi dưỡng y
đức của người thầy thuốc cho thấy, có 25.50% thầy thuốc; 38.50% học viên
được hỏi cho rằng những hạn chế, bất cập trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng
y đức cũng ảnh hưởng không nhỏ đến PTYĐ của người TTQĐ.
Ba là, việc tự giáo dục, rèn luyện y đức của người TTQĐ còn nhiều hạn chế
Một số TTQĐ có biểu hiện tư tưởng trung bình chủ nghĩa, kém ý chí
vươn lên; ngại khó trong tu dưỡng, rèn luyện y đức và kỹ năng tay nghề;
không chú tâm rèn luyện các thái độ, cử chỉ, hành vi y đức nhất là kỹ năng
giao tiếp tích cực giữa người thầy thuốc với người bệnh; thiếu ý thức tu
dưỡng, rèn luyện, còn có tư tưởng xem nhẹ, đơn giản trong thực hiện nhiệm
vụ. Trong học tập, công tác, tư tưởng chuyên môn đơn thuần, tuy không phổ
biến nhưng vẫn còn tồn tại ở một bộ phận thầy thuốc. Một số ít thầy thuốc bị
ảnh hưởng của lối sống đua đòi, sử dụng phương tiện đắt tiền trong khi điều
kiện kinh tế của bản thân và gia đình còn khó khăn, cá biệt có trường hợp do
vay tiền và chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập của gia đình, không có khả
còn biểu hiện sống tự do, buông thả, không ghép mình vào tổ chức, chây lười
trong học tập, công tác, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn; toan tính,
so bì thiệt hơn trong quá trình học tập, công tác, thậm chí coi thường pháp
luật, kỷ luật, coi thường danh dự và nhân phẩm của người khác; thiếu lý trí và
khả năng tự chủ trong hành vi và giải quyết các mối quan hệ, dẫn đến sự sa
ngã, thoái hoá biến chất về y đức, lối sống, phai nhạt niềm tin, lý tưởng. Đại
hội Đảng bộ Học viện Quân y lần thứ XX đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ
đảng viên, học viên còn chạy theo lối sống thực dụng; giảm sút trách nhiệm
đối với nhiệm vụ, suy giảm về đạo đức lối sống...” [22, tr.38].
năng chi trả đã buộc phải kỷ luật và đuổi khỏi ngành. Có một số thầy thuốc
100
Bốn là, môi trường văn hoá, chính trị, y đức ở các đơn vị quân y chưa
được phát huy
Môi trường y đức ở chính các ĐVQY là yếu tố bao trùm đến PTYĐ của
người TTQĐ, làm cho họ không ngừng phấn đấu rèn luyện để hoàn thiện nhân
cách theo mục tiêu yêu cầu đào tạo. Sự tác động của môi trường y đức là sự tác
động tổng hợp, đồng bộ của tất cả các thành tố trong môi trường đó như: các
giá trị y đức; các quan hệ y đức; các hành vi y đức và hoạt động giáo dục, bồi
dưỡng y đức; các thiết chế, các qui định y đức... Vì thế, hiệu quả tác động của
nó đến quá trình PTYĐ cho người thầy thuốc phụ thuộc vào trình độ phát triển
của từng thành tố trong tính chỉnh thể. Thực tế cho thấy, việc xây dựng môi
trường y đức ở các ĐVQY còn bộc lộ một số hạn chế như: việc xác định những
giá trị về y đức chưa rõ; việc giải quyết các mối quan hệ trong đơn vị có lúc
thiếu nhịp nhàng và chưa thống nhất; “Vai trò trách nhiệm, uy tín, sự gương
mẫu của một số cán bộ chủ trì ở cơ quan, đơn vị, chưa cao; sức ì lớn; còn hữu
khuynh né tránh các hiện tượng tiêu cực trong đơn vị, cá biệt có nơi còn để mất
vị trí lãnh đạo” [21, tr.39]. Cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ điều trị và đào
tạo nói chung, phục vụ cho xây dựng môi trường chính trị, y đức, văn hoá quân
sự của người thầy thuốc nói riêng chưa được đáp ứng một cách đầy đủ.
Như vậy, những hạn chế, bất cập nêu trên là những nguyên nhân gây
ảnh hưởng không tốt tới quá trình giáo dục PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
2.3. Những bài học kinh nghiệm về phát triển y đức của người thầy
thuốc quân đội
Thứ nhất, thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao y đức cho TTQĐ
phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành quân y
Với đặc thù hoạt động khám chữa bệnh của người TTQĐ mang tính
chuyên ngành, tính độc lập, đòi hỏi ở họ phải có chuyên môn, tay nghề cao,
hoạt động theo các nhiệm vụ cả thường xuyên và đột xuất trên địa bàn cả
nước. Đặc biệt họ còn thường xuyên đi khám chữa bệnh cho bộ đội, nhân dân
hoạt động theo các khoa, bộ môn, đội điều trị, được phân thành các nhóm
101
ở vùng sâu, vùng xa, nơi có thiên tai, bão lụt, nơi có địch hoạt động phá hoại.
Vì thế, các bệnh viện, các ĐVQY ít có điều kiện tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng
y đức cho đội ngũ thầy thuốc của đơn với hình thức tập trung 100% quân số
mà thường phải tổ chức thành nhiều lớp học cho cùng một đối tượng, hoặc
nhiều đối tượng vào một lớp. Các bệnh viện, ĐVQY đã tìm mọi cách, sử dụng
đa dạng các phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức như: phương
pháp nêu gương, học hỏi lẫn nhau; phương pháp tự nghiên cứu, trau dồi y
đức; viết thu hoạch; các hình thức phê bình và tự phê bình; dùng dư luận xã
hội để đánh giá lẫn nhau; lấy ý kiến nhận xét của bệnh nhân, của thương binh,
bệnh binh, của bộ đội và nhân dân... Thực tế cho thấy, nội dung và các
phương pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức này rất hiệu quả, phù hợp
với điều kiện đặc thù của người TTQĐ.
Thứ hai, kịp thời ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện tiêu cực trong
hoạt động y nghiệp
Hiện nay ở nước ta mặt trái cơ chế thị trường đang tác động mạnh mẽ
đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngành y. Do vậy, việc ngăn
chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực trên trong hoạt động y nghiệp một cách
thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình xây dựng, giữ gìn và PTYĐ, tạo ra
môi trường y đức lành mạnh là một trong những kinh nghiệm có tính thực tiễn
và hiệu quả rất cao ở các nhà trường và ĐVQY. Những biểu hiện tiêu cực là
nhiệm vụ trong quá trình khám, chữa bệnh và PTYĐ của người TTQĐ.
Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phong cách giao
tiếp cho người TTQĐ
Y đức của người TTQĐ luôn được thể hiện ở kết quả công tác, quá trình
khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, ở trình độ chuyên môn y nghiệp, ở
trình độ giao tiếp, ứng xử của họ đối với người bệnh với đồng nghiệp và với xã
hội, cộng đồng. Hiện nay, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công
thể hiện sự chưa hoàn thiện nhân cách, ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành
102
nghệ trong lĩnh vực y học đã xuất hiện nhiều phương tiện chẩn đoán và điều trị
mới; đồng thời do sự tác động của điều kiện khí hậu, thời tiết bất thường nên đã
xuất hiện nhiều loại bệnh lạ. Để người TTQĐ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ,
chức trách của mình, hạn chế về vi phạm y đức, nâng cao trình độ kiến thức,
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ giao tiếp, ứng xử với người bệnh.
Đây là một bài học kinh nghiệm bổ ích đối với việc PTYĐ của người TTQĐ
trong điều kiện mới hiện nay.
Thứ tư, xây dựng tập thể quân y vững mạnh, tạo môi trường y đức
trong sạch, lành mạnh
Xây dựng tập thể quân y vững mạnh chính là xây dựng môi trường y
đức trong sạch, lành mạnh, là nơi để người thầy thuốc tham gia vào các quan
hệ xã hội, trực tiếp tự giáo dục, rèn luyện, để khẳng định mình. Cần phải xây
dựng tập thể quân y vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Trong đó lấy việc xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị làm cơ sở, phát
huy vai trò tích cực chủ động của các tổ chức cơ sở và của các thành viên.
Cùng với việc xây dựng tập thể quân y vững mạnh, cần phải xây dựng
hệ thống thiết chế y đức ở các ĐVQY, bao gồm: thiết chế lãnh đạo, chỉ huy,
cơ quan chức năng, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân, công đoàn, phụ nữ
cùng các cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục tuyên
chỉ huy đơn vị có vai trò quan trọng nhất, nó vừa là thành tố, vừa là chủ thể
xây dựng hoàn thiện môi trường y đức. Do vậy, cũng cần phát huy vai trò
lãnh đạo, chỉ huy trong tổ chức thực hiện và kiểm tra quá trình PTYĐ của
người thầy thuốc, phải đầu tư xây dựng đồng bộ các yếu tố của hệ thống thiết
chế đạo đức, văn hoá, phát huy hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, tổ
chức hoạt động văn hoá tinh thần phong phú là kinh nghiệm rất quan trọng hỗ
trợ tích cực cho sự PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
truyền về y đức. Trong hệ thống thiết chế của môi trường y đức thì lãnh đạo,
103
Kết luận chương 2
Nhận thức về PTYĐ của người thầy thuốc quân đội có nhiều biểu hiện
khác nhau, bên cạnh những nhận thức đúng, vẫn còn có những biểu hiện xem
nhẹ vai trò của PTYĐ cả trong ý thức, thái độ và hành vi, quá trình PTYĐ
của người TTQĐ còn bộc lộ những bất cập.
Hoạt động của người TTQĐ luôn gắn với bản lĩnh chính trị, tinh thần
trách nhiệm, ý chí quyết tâm, do vậy người TTQĐ luôn phải tu dưỡng, rèn
luyện để vượt qua mọi khó khăn, để giữ vững y lý, y thuật và y đức của mình.
Hiện nay vẫn còn một số thầy thuốc chưa thể hiện tính tích cực trong
giáo dục, rèn luyện y đức. Sự liên kết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục
nhà trường, đơn vị quân y và điều kiện bảo đảm giáo dục y đức đối với người
thầy thuốc cũng còn những hạn chế.
Việc xây dựng chương trình nội dung, lựa chọn phương pháp, hình
thức giáo dục y đức của các trường, các đơn vị quân y chưa được hoàn thiện;
các tác động giáo dục ý đức chưa mang lại hiệu quả cụ thể, người thầy thuốc
chưa có định hướng trong việc tự giáo dục, tự rèn luyện y đức, do vậy cần
phải xây dựng một chương trình giáo dục y đức phù hợp với đặc điểm của
hoạt động quân y.
104
Chương 3
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN Y ĐỨC
CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
3.1. Xu hướng phát triển y đức và những vấn đề đang đặt ra đối
với người thầy thuốc quân đội hiện nay
Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay đạo đức nghề y có những thay đổi, trong
xu hướng và những vấn đề đặt ra đối với người thầy thuốc trên các vấn đề sau:
Một là, duy trì và phát triển các giá trị y đức truyền thống đang giữ vai
trò chủ đạo trong PTYĐ của người TTQĐ
Những năm qua, ngành quân y đã đạt được những thành tựu to lớn trên
lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực y
tế và nghiên cứu y khoa, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Y đức đang được xã hội quan tâm và luôn ghi nhận, đánh giá cao công
lao của người thầy thuốc chăm sóc sức khoẻ bộ đội và nhân dân, đồng thời
cũng phê phán những hành vi tiêu cực về y đức. Đó sẽ là những cổ vũ, khích
lệ để người TTQĐ không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách.
Hiện nay, môi trường y đức ở các ĐVQY đang được xây dựng và phát
triển đã góp phần vào việc xây dựng ngành y quân đội vững mạnh. Lãnh đạo,
bộ, sĩ quan, nhân viên y tế, nhất là những tấm gương anh dũng của các thế hệ
cha ông trong chiến tranh và trong hòa bình xây dựng đất nước. Việc giữ
vững các truyền thống tốt đẹp đó, với sự nỗ lực của lãnh đạo, chỉ huy các đơn
vị và của đội ngũ TTQĐ, có thể khẳng định xu hướng giữ gìn và phát huy
những giá trị y đức truyền thống đang là xu hướng chủ đạo.
Hai là, coi trong việc sử dụng thiết bị kỹ thuật hiện đại, xem nhẹ chuẩn
chỉ huy các đơn vị quân y luôn quan tâm giáo dục truyền thống y đức cho cán
Khoa học nói chung, khoa học y tế nói riêng đang phát triển hết sức
nhanh chóng. Y học đang sử dụng nhiều thiết bị, máy móc, phương tiện hiện
mực y đức trong khám và chữa bệnh
105
đại trong quá trình khám chữa bệnh, đã giúp cho việc chẩn đoán và điều trị
bệnh đạt hiệu quả cao. Để nâng cao năng lực chuyên môn người TTQĐ phải
tham gia nghiên cứu khoa học, phải tích cực học tập kiến thức chuyên môn, kỹ
năng nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để có thể làm chủ trang thiết bị hiện đại.
Tuy nhiên trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng;
nếu chỉ coi trọng chuyên môn kỹ thuật thuần tuý, mà xem nhẹ quá trình giáo
dục của các nhà trường, học viện, của các ĐVQY, quá trình tự giáo dục, rèn
luyện, tu dưỡng của bản thân người TTQĐ sẽ rất khó khăn trong PTYĐ.
Ba là, “chạy theo” nhu cầu xã hội, xem nhẹ việc giáo dục, rèn luyện y đức
Những năm gần đây, sự phát triển của nền KTTT đã tác động mạnh mẽ
tới tất cả mọi mặt, mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta, các
loại hình dịch vụ cũng được mở rộng và phát triển theo xu hướng tất yếu của
nó, trong đó có các dịch vụ về y tế. Hiện nay cả nước ta có khoảng 50000 cơ
sở khám chữa bệnh cả công và tư. Trong đó có khoảng 35000 cơ sở khám,
chữa bệnh tư nhân, 74 bệnh viện tư nhân, một tỷ lệ cao gấp nhiều lần cơ sở
khám chữa bệnh của Nhà nước.
Do đó, đã xảy ra tình trạng chảy máu chất xám khi các cơ sở khám
chữa bệnh tư nhân tìm mọi cách để lôi kéo các thầy thuốc giỏi, có chuyên
môn tay nghề cao bằng cách trả lương cao hơn nhiều lần so với mức lương
chữa bệnh của họ. Mặt khác, với cơ chế tự hoạch toán, tự chủ về thu chi, các
dịch vụ y tế tư nhân phải hoạch toán để trả lương, để tồn tại và phát triển, nên
họ phải coi bệnh nhân là đối tượng thu tiền. Điều này đã làm cho một số thầy
thuốc tự đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp của nghề y.
Công cuộc đổi mới đất nước đã thu được nhiều thành tự to lớn trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đời sống của nhân dân được nâng cao,
thu nhập được cải thiện, do vậy nhân dân có điều kiện và nhu cầu chăm sóc
sức khoẻ nhiều hơn. Đây là mặt tích cực trong xã hội và là nhu cầu chính
mà thầy thuốc đang hưởng để gây uy tín và thu hút người bệnh về cơ sở khám
106
đáng của nhân dân. Tuy nhiên, điều này đã gây ra tình trạng quá tải ở các
bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến cuối. Trong thực tế có thầy thuốc một ngày
phải khám tới 50 bệnh nhân, do vậy bệnh nhân không được khám tỉ mỉ, chu
đáo dẫn đến chất lượng khám chữa bệnh không cao. Mặt khác đã làm nảy sinh
tình trạng lo lót phong bì cho thầy thuốc để được ưu tiên khám trước và được
thầy thuốc khám và chữa bệnh chu đáo hơn.
Bốn là, đề cao lợi ích vật chất đang gây cản trở đến việc tu dưỡng
PTYĐ của người TTQĐ
Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề
lợi ích, đặc biệt là lợi ích vật chất đã được nhà nước nhận thức và quan tâm giải
quyết đúng mức. Đảng ta đã chủ trương giải quyết hài hoà giữa lợi ích cá nhân,
lợi ích tập thể và lợi ích của xã hội. Tuy nhiên, dưới sự tác động bởi mặt trái
của cơ chế thị trường đã có những biểu hiện chạy theo lợi ích cá nhân, lối sống
thực dụng, vị kỷ, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền sẵn sàng thực hiện
những hành vi bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp thuần phong, mỹ tục...
Đây là một khuynh hướng nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh và đang tác động
trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống làm suy thoái về y đức của một bộ
phận cán bộ, nhân viên ngành y tế nói chung và một số TTQĐ nói riêng. Việc
đấu tranh xóa bỏ những hiện tượng tiêu cực hết sức khó khăn, phức tạp, còn
PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
Người thầy thuốc cần có bản lĩnh chính trị, có đạo đức nghề nghiệp để
không rơi vào cái bẫy của đồng tiền, làm mất đi hình ảnh cao đẹp của mình và
y đức khó có thể hoàn thiện và phát triển.
diễn biến lâu dài. Đây là một thực tế đang gây trở ngại không nhỏ đến việc
3.2. Yêu cầu và các biện pháp phát triển y đức của người thầy
thuốc quân đội
Để đề xuất các biện pháp đảm bảo cho quá trình PTYĐ của người
TTQĐ hiện nay đạt được mục đích đề ra, cần quán triệt một số yêu cầu có
tính nguyên tắc sau đây:
107
Nguyên tắc tính mục đích: các biện pháp phải góp phần thực hiện mục
đích hoàn thiện và PTYĐ của người TTQĐ giúp họ có lối sống lành mạnh, có
kiến thức và trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự
nghiệp chăm sóc sức khoẻ của bộ đội và nhân dân.
Nguyên tắc tính hệ thống: các biện pháp phải bảo đảm tính hệ
thống, thường xuyên, liên tục; tác động vào quá trình PTYĐ để nâng cao
nhận thức, hình thành thái độ, niềm tin y đức và rèn luyện thói quen hành
vi y đức của người TTQĐ, phù hợp với hoạt động y nghiệp trong môi
trường quân sự.
Nguyên tắc tính thực tiễn: các biện pháp đề xuất cần được dựa trên thực
tiễn công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức ở nhà trường và ở các đơn
vị quân y, từ thực tiễn PTYĐ của người TTQĐ trong từng giai đoạn phát triển
của ngành y quân đội.
Nguyên tắc tính kế thừa: các biện pháp đề xuất kế thừa, phát huy những
kinh nghiệm, truyền thống, những kết quả đã đạt được trong giáo dục, bồi
dưỡng y đức ở các nhà trường, ĐVQY. Kế thừa những thành tựu khoa học,
công nghệ vào công tác giáo dục, PTYĐ cho người TTQĐ.
Nguyên tắc tính phát triển: các biện pháp đề xuất phải PTYĐ ở người
thầy thuốc sâu hơn trong nhận thức, mở rộng trên các mối quan hệ nhất là với
hơn về nhân cách của người thầy thuốc quân y.
Nguyên tắc tính khả thi: các biện pháp đề xuất có thể triển khai áp dụng
trong thực tế các đơn vị, các cơ sở y tế quân đội, không yêu cầu quá cao mà
cần tính hiện thực đối với người TTQĐ đang hành nghề với những điều kiện
và môi trường đang hiện hữu.
Các biện pháp đề xuất phải phát huy được vai trò, trách nhiệm, tính tích
cực của các chủ thể trong quá trình PTYĐ của người TTQĐ.
chính trị và pháp luật, nâng lên so với yêu cầu của nhiệm vụ và hoàn thiện
108
3.2.1. Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và
đạo đức cho người thầy thuốc quân đội
* Mục tiêu của biện pháp
Nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức cho người TTQĐ giúp
họ hình thành ý thức công dân, kỷ luật quân đội, đạo đức nghề y, trung thành với
lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc, có hiểu biết về pháp luật y tế, có thái độ, hành
vi chuẩn mực, tạo nền tảng cho sự phát triển nhân cách, hết lòng, hết sức phục
vụ nhân dân và quân đội, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM cho TTQĐ.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM là biện pháp cung cấp một
cách cơ bản và hệ thống cho người TTQĐ những tri thức, hiểu biết về lý luận
Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng
và Nhà nước. Nhận thức sâu sắc hệ thống giá trị ĐĐCM nói chung, y đức nói
riêng, làm cơ sở để hình thành niềm tin và hành vi y đức, xây dựng ở người thầy
thuốc sự vững vàng về bản lĩnh chính trị trong y nghiệp. Vì vậy, nâng cao hiệu
quả giáo dục y đức phải bắt đầu và gắn liền với giáo dục chính trị tư tưởng.
Trong quá trình giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM nội dung và
phương pháp cần nhấn mạnh vào việc hình thành thế giới quan, phương pháp
dựng lập trường tư tưởng vững vàng, niềm tin nghề nghiệp vững chắc, trên cơ sở
đó định hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn. Nhà giáo dục cần định hướng, chỉ
dẫn cho người thầy thuốc sự cần thiết phải xây dựng niềm tin, tình yêu nghề
nghiệp và tình yêu thương con người, đồng thời luôn yêu cầu người thầy thuốc
phải tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng của người TTQĐ.
Để nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM cho người
TTQĐ, các trường đào tạo và đơn vị quân y phải từng bước cải tiến chương
trình, nội dung giáo dục theo hướng kết hợp giữa nâng cao trình độ kiến thức
luận khoa học để làm cơ sở cho tư duy lý luận và hành động nghề nghiệp, xây
109
chuyên môn với nâng cao nhận thức về giá trị, chuẩn mực đạo đức, bồi dưỡng
tình cảm, xây dựng niềm tin, tình yêu nghề nghiệp và rèn luyện thói quen hành
vi y đức cho người thầy thuốc. Nội dung giảng dạy về chính trị, đạo đức hiện
nay ở các trường quân y bên cạnh việc trang bị hệ thống kiến thức chuyên
ngành cho người thầy thuốc thì phải bảo đảm được tính tư tưởng và tính khoa
học trong bài giảng, phải gắn chặt việc “dạy chữ” “dạy nghề” với “dạy người”
trong đào tạo. Ở mỗi chủ đề, cần xác định cụ thể mục tiêu đạt được cả kiến
thức, kỹ năng và thái độ cho người thầy thuốc. Tiến hành các hình thức tổ chức
giáo dục phải phù hợp với đặc điểm và đối tượng đào tạo, nhất là hình thức bài
giảng dù là hình thức lên lớp lý thuyết hay thực hành lâm sàng, Phải sử dụng
kết hợp nhiều phương pháp giáo dục đạo đức như: thuyết phục, nêu gương, phê
bình và tự phê bình, song cần đổi mới cách thức tiến hành cho phù hợp.
Giáo dục, phổ biến pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y
đức... phù hợp với từng nội dung, đối tượng ở các nhà trường, đơn vị quân y.
Quy định pháp luật về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức đối với
ngành quân y, có vai trò định hướng những yêu cầu mà thầy thuốc phải thực
hiện trong nhiệm vụ chuyên môn của mình. Người TTQĐ trước hết là một
công dân nên có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của pháp
luật. Mặt khác, là một công chức, một cán bộ quân đội phải chấp hành nghiêm
thì phải thực hiện đúng các qui chế chuyên môn, qui định y đức trong hoạt
động chuyên môn nghề nghiệp của mình. Do vậy, giáo dục cho người thầy
thuốc nắm chắc và có ý thức thực hiện các quy định pháp luật, điều lệnh, điều
lệ, chế độ quy định, quy chế chuyên môn là nhiệm vụ rất quan trọng của công
tác giáo dục chính trị ở các ĐVQY.
Để thực hiện tốt vấn đề này, công tác giáo dục chính trị cho đội ngũ
TTQĐ hiện nay, các ĐVQY không những phải làm tốt công tác phổ biến, quán
triệt sâu sắc các nội dung pháp luật mà còn phải cụ thể hoá những điều luật,
điều lệnh, điều lệ, các chế độ quy định quân đội và đơn vị, là người thầy thuốc
110
những quy định chung cho sát với nội dung học tập, từng mặt công tác, từng
nhiệm vụ khám chữa bệnh của người thầy thuốc. Trong quá trình giáo dục, quán
triệt, các chủ thể giáo dục cần chỉ ra trách nhiệm pháp lý của người thầy thuốc
trước những tai biến có thể xảy ra trong điều trị, những tai nạn trong khám chữa
bệnh, trong nghiên cứu khoa học, TN y khoa… để người thầy thuốc nhận thức
đầy đủ; tự xây dựng ý thức hạn chế những sai sót, loại trừ những vi phạm pháp
luật trong hoạt động y nghiệp và trong các mặt công tác quân y của mình.
Đổi mới cách tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
pháp luật và đạo đức theo hướng gắn liền với thực tiễn sôi động của đất nước,
với điều kiện của nền KTTT, phát huy tính tích cực sáng tạo của người thầy
thuốc; đa dạng hoá các hình thức tổ chức; xã hội hoá việc tổ chức các hoạt
động, huy động sự tham gia của các tổ chức.
Các nhà trường, đơn vị quân y thường xuyên giáo dục truyền thống gắn
với định hướng giá trị xã hội - quân sự cho người thầy thuốc.
Các nhà trường và ĐVQY thường xuyên giáo dục truyền thống và củng
cố những định hướng giá trị xã hội - quân sự đúng là một việc làm rất quan
trọng và cần thiết trong PTYĐ của người TTQĐ hiện nay. Bởi định hướng giá
trị là một trong những biến đổi rõ nét của đặc trưng, xu hướng nhân cách có ý
nghĩa hướng dẫn hoạt động của con người. Sự phát triển định hướng giá trị là
cách. Việc hình thành những định hướng giá trị đúng và phù hợp có ý nghĩa
quyết định đến phương hướng cuộc đời của mỗi con người, khẳng định trình
độ tự ý thức của mỗi người thầy thuốc.
Giáo dục truyền thống ngành y quân đội phải đề ra được hệ giải pháp
thực hiện sự kết hợp một cách đồng bộ các yếu tố tích cực của các nhân tố trên,
nhằm tạo ra sự tác động tổng hợp thúc đẩy quá trình hình thành, PTYĐ của
người thầy thuốc theo mục tiêu đã xác định. Trong giáo dục truyền thống, cần
chú ý đến trọng tâm, trọng điểm. Căn cứ từ thực trạng của ngành trong thời
dấu hiệu của sự chín muồi nhân cách, là chỉ tiêu đo đạc tính xã hội của nhân
111
gian qua để xác định trọng tâm, trọng điểm trong giáo dục truyền thống ngành
quân y. Các nhà trường, ĐVQY cần tập trung đổi mới nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục. Các tổ chức, các lực lượng giáo dục phải thường xuyên
giáo dục những tấm gương sáng về y đức trong lịch sử, trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là các hình thức bồi dưỡng giàu hình tượng cảm
xúc, đi sâu vào thế giới nội tâm của người thầy thuốc, khêu gợi những xúc cảm
tích cực của mỗi người. Thông qua các hình thức bồi dưỡng, giáo dục, làm cho
người thầy thuốc luôn có nhận thức đúng về các giá trị truyền thống tốt đẹp, về
bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN, vinh dự, tự hào với truyền thống vẻ vang
của Đảng, của dân tộc, của quân đội và của ngành quân y, trên cơ sở đó xây
dựng những tình cảm tốt đẹp, hình thành ý chí quyết tâm tự học tập, tự phấn
đấu, tu dưỡng, rèn luyện vươn lên xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ
vang, học tập noi gương những tấm gương điển hình về y đức.
Trong giáo dục truyền thống đạo đức của người TTQĐ phải thông qua
những hình thức phong phú như tổ chức các buổi toạ đàm giữa các thế hệ để
giáo dục truyền thống; các buổi học tập, thi tìm hiểu về truyền thống ngành y
quân đội, về những người thầy có y đức trong sáng trong lịch sử; thăm quan
nhà thuyền thống ở ngay chính các đơn vị quân y để khơi dậy ở họ lòng tự
hào với truyền thống đạo đức của dân tộc, của Đảng, của quân đội và y đức
thuốc trong kế thừa, lưu giữ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống đó.
Giáo dục, xây dựng ở người TTQĐ đức tính biết hy sinh vì người bệnh
(thầy thuốc như mẹ hiền).
Trong thực hành khám chữa bệnh, và thực hiện công tác quân y luôn
đòi hỏi sự sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của bệnh nhân và cộng đồng. Người
TTQĐ phải đặt quyền lợi của bệnh nhân lên trên và trước cả quyền lợi của
mình. Để thông suốt và thực hiện được điều này, thì người TTQĐ phải có đức
tính quên mình. Bởi ngành y là ngành làm việc trong môi trường nhiều rủi ro,
của người thầy thuốc. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người thầy
112
nhất là nguy cơ lây nhiễm bệnh cao, phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại và
chịu sức ép nặng nề về tâm lý. Địa bàn công tác của người TTQĐ luôn là
những nơi xa xôi, hẻo lánh nhất, điều kiện thiếu thốn, khắc nhiệt về thời tiết,
khí hậu, đi lại khó khăn. Do đó, trong quá trình giáo dục, đào tạo các nhà
trường, đơn vị quân y ngoài việc trang bị cho người thầy thuốc kiến thức về
chuyên môn y khoa còn phải xây dựng, rèn luyện cho họ có được đức tính
biết hy sinh vì lợi ích của bệnh nhân và cộng đồng.
Giáo dục, rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, xây dựng lương tâm trách
nhiệm của người TTQĐ.
Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, nền KTTT đã ảnh
hưởng một cách sâu sắc và toàn diện tới sự PTYĐ của người TTQĐ theo hai
chiều tích cực và tiêu cực. Để đứng vững trong nghề, người TTQĐ cần giữ
vững bản lĩnh nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn và đang theo đuổi trước mọi
sự cám dỗ, cũng như khó khăn trong cuộc sống. Bản lĩnh nghề nghiệp là sự thể
hiện cao nhất của lý tưởng, là phẩm chất của người có năng lực, tự tin và dám
chịu trách nhiệm về hành vi của mình, không lùi bước trước những khó khăn,
trở ngại. Bản lĩnh được hình thành và thể hiện qua thói quen, hành vi, lối sống
và nghề nghiệp của con người, từ đó tạo nên những giá trị đạo đức nhân cách.
Muốn có được điều đó, trước hết phải xây dựng ở người TTQĐ lương
trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn, đồng thời là dấu hiệu là
thước đo sự trưởng thành của mỗi đời sống đạo đức cá nhân. Người thầy
thuốc trong quá trình đến với nghề, học tập và thực hành y nghiệp, được tiếp
xúc với bệnh nhân, thấu hiểu chức trách của mình và nỗi đau khổ của người
khác, sẽ dần dần hình thành đạo đức, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp.
Đó chính là ý thức, tình cảm, là sự thôi thúc từ bên trong giúp họ vượt qua
mọi cám dỗ, vững vàng với lý tưởng y nghiệp mà mình đã chọn. Trong quá
trình khám chữa bệnh cần tăng cường mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh
tâm nghề nghiệp. Lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp là biểu hiện tập
113
nhân, với đồng nghiệp, với xã hội, cộng đồng để rèn luyện người thầy thuốc
cách xử lý phù hợp và hiệu quả, linh hoạt và đúng với lương tâm nghề nghiệp.
* Điều kiện thực hiện biện pháp
Giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức, phải có sự
quan tâm của các cấp uỷ đảng, chỉ huy, các tổ chức trong đơn vị, cần có lực
lượng chuyên trách, chuyên sâu theo từng lĩnh vực để làm công tác giáo dục,
bồi dưỡng về chính trị, đạo đức và giáo dục phổ biến pháp luật về y tế, chuẩn
bị đầy đủ tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, thời gian, địa điểm, thành phần
tham gia, phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật.
Xây dựng kế hoạch giáo dục chính trị tư tưởng, pháp luật và đạo đức
đảm bảo khoa học, phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành y quân đội,
đúng mục đích, nhiệm vụ; tuyệt đối tránh căn bệnh hình thức, thành tích; cần
gắn với các hoạt động của từng ĐVQY và thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
Trong giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật và đạo đức cần
nhấn mạnh vào việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để
làm cơ sở cho tư duy lý luận và hành động nghề nghiệp. Xây dựng lập trường
tư tưởng vững vàng, niềm tin nghề nghiệp vững chắc; trên cơ sở đó định
hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn. Giáo dục truyền thống đạo đức của
kiện, xây dựng nhà truyền thống ở các nhà trường, ĐVQY. Cơ quan chính trị
các cấp là lực lượng chủ đạo trong tiến hành công tác giáo dục.
người TTQĐ phải chuẩn bị đầy đủ tài liệu, tư liệu lịch sử, các nhân chứng, sự
3.2.2. Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Mục tiêu của biện pháp
Giáo dục y đức cách mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giúp người
thầy thuốc quân đội có đủ bản lĩnh của “anh bộ đội Cụ Hồ” để tự rèn luyện, tu
dưỡng hình thành các giá trị, phẩm chất nhân cách, tạo dựng uy tín cho ngành
quân y, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội, thực hiện tốt các nhiệm
vụ của quân đội và đất nước trong tình hình mới.
114
* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Giáo dục, xây dựng ở người TTQĐ lòng trung thành tuyệt đối với Tổ
quốc, với Đảng, với Nhân dân; tự lực tự cường khắc phục khó khăn, sẵn sàng
nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà
nước, kỷ luật quân đội, quy chế của ngành.
Mỗi quân nhân dù ở cương vị công tác nào cũng phải tuyệt đối trung
thành với Tổ quốc, với Đảng với Nhân dân. Mỗi người TTQĐ phải thể hiện
lòng trung thành trước hết bằng tinh thần yêu nước, ý chí phấn đấu cho lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nghị lực vươn lên đưa đất nước
thoái khỏi nghèo nàn, lạc hậu và phát triển bền vững. Biểu hiện cụ thể là:
Người TTQĐ phải có lập trường tư tưởng vững vàng, tuyệt đối tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao. Có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, có thế giới quan và phương pháp luận khoa học biết vận dụng lý luận
để giải quyết thành công những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra, đồng thời từ thực
tiễn rút ra bài học, khái quát thành lý luận, góp phần phát triển lý luận ngày
một phong phú hơn. Nắm vững và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của
nhất là những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, chức trách được giao. Có quan
điểm giai cấp và quan điểm quần chúng đúng đắn; suốt đời hy sinh vì độc lập
tự do của Tổ quốc, ấm no hạnh phúc của Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính,
chí công, vô tư; giữ gìn phẩm chất tốt đẹp Anh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Mỗi TTQĐ phải luôn luôn chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ
luật Quân đội và quy chế của Ngành, góp phần thiết thực để xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, thực hiện khẩu hiệu toàn dân hành động theo pháp
luật và toàn quân hành động theo điều lệnh.
Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của cấp trên,
115
Người thầy thuốc quân đội đem hết khả năng chuyên môn để khám,
điều trị, chăm sóc người bệnh; hết lòng vì sự nghiệp chăm lo, bảo vệ sức khỏe
bộ đội và nhân dân.
Luật bảo vệ sức khoẻ đã khẳng định “sức khoẻ là vốn quý nhất của con
người, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là
mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá xã hội
và bảo vệ Tổ quốc”. Xuất phát từ quan điểm chăm sóc tốt sức khoẻ của nhân
dân. Đảng ta đã chủ trương xã hội hoá công tác y tế, coi việc chăm lo, bảo vệ
sức khoẻ con người là công cuộc của toàn xã hội, của mọi cấp, mọi ngành,
mọi người, trong đó cán bộ, nhân viên y tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Người TTQĐ phải thực sự coi nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của
chính mình, đến với người bệnh bằng nhiệt tình cách mạng, tinh thần trách
nhiệm, lương tâm nghề nghiệp và tấm lòng nhân ái của người thầy thuốc.
Người TTQĐ phải luôn luôn ý thức sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với người
bệnh; không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh, không được vin vào lý
do chuyên môn để trì hoãn hoặc trốn tránh việc cứu chữa người bệnh. Không
được ỷ lại hoặc khoán trắng người bệnh cho thân nhân của họ. Không ngại khó,
ngại bẩn, ngại lây bệnh. Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh, phải tìm mọi
trong tâm trạng phiền muộn, sợ sệt. Đối với bệnh nhân nặng, phải cứu chữa đến
cùng với tinh thần “còn nước còn tát” đặc biệt đối với thương, bệnh binh.
Phát triển ở người thầy thuốc tấm lòng nhân hậu, thái độ ân cần, lịch
sự khi tiếp xúc với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn cửa quyền, lạm
dụng nghề nghiệp để sách nhiễu và gây phiền hà cho người bệnh.
Người TTQĐ không những phải có năng lực chuyên môn giỏi mà còn
phải có tấm lòng nhân hậu. Người TTQĐ trước hết là người quân nhân cách
mạng, được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ bộ
cách để xoa dịu nỗi đau về thể chất và tinh thần cho họ, không được để họ
116
đội và cứu chữa thương binh, bệnh binh, là người trực tiếp thể hiện quan
điểm, chính sách và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với người bệnh.
Đối tượng phục vụ của họ là bộ đội, là những người cùng chung chiến hào
chiến đấu. Để hoàn thành trọng trách ấy, y đức của người TTQĐ phải được
hoàn thiện và nâng cao.
Để chiến thắng bệnh tật, bên cạnh các can thiệp y học thì việc làm cho
người bệnh lạc quan, tin tưởng và an tâm điều trị giữ một vị trí hết sức quan
trọng. Muốn làm được điều đó, người TTQĐ trong giao tiếp ứng xử với người
bệnh phải hoà nhã, cởi mở, tạo ra sự gần gũi, thân mật giữa thầy thuốc với
người bệnh. Phải thật sự ân cần và cảm thông sâu sắc với người bệnh, chăm lo
người bệnh đến từng viên thuốc, mũi tiêm, từng bữa ăn, giấc ngủ, chia sẻ với
người bệnh từng niềm vui, nỗi buồn. Phải mềm mỏng trong tính cách, nguyên
tắc trong công việc, lấy động viên thuyết phục là chính, tạo mọi thuận lợi để
người bệnh chấp hành tốt nội quy và chế độ bệnh viện. Phải tôn trọng nhân
cách của người bệnh, không được phân biệt đối xử, không nóng nảy, cáu gắt,
cửa quyền, hách dịch hoặc coi thường, hắt hủi người bệnh, không được biểu
hiện hành vi thiếu nghiêm túc đối với người bệnh, nhất là người bệnh khác
giới, không được lợi dụng nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cá nhân, không để
đồng tiền hoặc những cám dỗ thấp hèn làm ảnh hưởng tới phẩm chất tốt đẹp
Xây dựng đức tính khiêm tốn, đoàn kết hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau; có
lối sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.
Khiêm tốn là đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, của con người
Việt Nam, là một đòi hỏi với tất cả mọi người, mọi nghề trong chế độ ta. Đối
với người TTQĐ, khiêm tốn càng phải được đề cao. Từ cổ xưa cho đến nay,
xã hội luôn tôn vinh nghề thuốc và quý trọng thầy thuốc. Mặt khác, do tầm
quan trọng của sức khỏe nên nhân dân ta thường nghĩ “Có bệnh thì vái tứ
phương”, hễ cứ có bệnh là tìm mọi cách “lấy lòng” thầy thuốc để được cứu
của Anh “Bộ đội Cụ Hồ”, y đức của người TTQĐ.
117
chữa. Xét trên khía cạnh tâm lý, những biểu hiện trên rất dễ làm cho thầy
thuốc mất đi tính khiêm tốn cần thiết. Bởi vậy, mỗi người TTQĐ dù mới chập
chững vào nghề hay đã lâu năm theo đuổi nghề nghiệp, đều phải rèn luyện
đức tính khiêm tốn. Trước hết phải khiêm tốn với bệnh nhân, khiêm tốn với
đồng nghiệp, khiêm tốn với các nghề khác trong xã hội và khiêm tốn với
chính bản thân mình. Có đức tính khiêm tốn, người thầy thuốc mới không
ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, mới tích luỹ
được kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao chất lượng công việc. Có khiêm tốn,
người TTQĐ mới giữ vững được sự cao quý của nghề nghiệp, mới được
người bệnh tôn trọng và tin tưởng, mới được đồng nghiệp quý trọng. Cần
tránh bệnh tự kiêu, tự đại, ba hoa, kênh kiệu, ích kỷ, hẹp hòi…
Phải đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ ngành, giữa thầy thuốc cao tuổi và
thầy thuốc trẻ tuổi; giữa cũ và mới, giữa y và dược, giữa phòng bệnh và chữa
bệnh, giữa cận lâm sàng và lâm sàng, giữa y học hiện đại và y học cổ truyền
dân tộc, giữa quân y và dân y… Nội dung của sự đoàn kết là thái độ và trách
nhiệm hợp tác, giúp đỡ nhau chân thành, vô tư, trong sáng, vì người bệnh, vì
nhiệm vụ chính trị, vì danh dự và uy tín của ngành, phê phán các biểu hiện đố
kỵ, cục bộ và bất hợp tác. Đồng thời đoàn kết chặt chẽ với các ngành khác,
các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ
ngành Y đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa nhiều người, nhiều bộ
phận (ví dụ như một ca phẫu thuật), nếu không có tinh thần đoàn kết thì người
TTQĐ không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Người thầy thuốc còn phải có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung
thực. Đó là những đòi hỏi bắt buộc đối với những ai tự nguyện theo đuổi nghề
nghiệp bảo về sức khoẻ con người. Lao động nghề y không cho phép để xẩy
ra bất kỳ một sai lầm nào, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể cướp đi sinh mạng
của một con người, vì thế nó đòi hỏi người thầy thuốc phải trung thực, tỷ mỷ,
về mọi mặt cho toàn ngành và cho toàn đơn vị. Do tính chất đặc thù của
118
thận trọng, phải có tác phong khẩn trương, bình tĩnh, tự tin, dám nghĩ, dám
làm, dám chịu trách nhiệm.
Đối với đồng nghiệp phải hoà nhã, khiêm tốn, độ lượng, bao dung, tôn
trọng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, lấy tự phê bình và phê bình làm nguyên tắc
xây dựng mối đoàn kết nhất trí, cộng đồng trách nhiệm, lập công tập thể; hết
sức coi trọng việc truyền thụ kinh nghiệm và kiến thức y học cho lớp sau.
Không giấu nghề, giấu tài; không chủ quan tự mãn, đặc quyền, đặc lợi, tranh
công đổ lỗi; không có động cơ vụ lợi trong điều trị và chăm sóc người bệnh.
Phải giữ uy tín cho đồng nghiệp; không cãi cọ chê bai hoặc xúc phạm đồng
nghiệp, nhất là trước mặt bệnh nhân. Trong cuộc sống phải giản dị, gương
mẫu, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực lạc hậu;
không rượu chè quá mức, không cờ bạc, không sinh hoạt bê tha đồi truỵ,
không nói tục, chửi bậy, không ba hoa kênh kiệu hoặc có những hành vi thiếu
văn hoá. Khi tiếp xúc bệnh nhân không hút thuốc lá, không dùng rượu bia
hoặc các chất kích thích khác làm giảm uy tín của người TTQĐ. Trang phục
mang mặc phải chính quy, thống nhất, sạch sẽ, chỉnh tề. Phải mẫu mực về vệ
sinh cá nhân, không để sự luộm thuộm, nhếch nhác bề ngoài của thầy thuốc
tác động xấu đến tâm lý và niềm tin của người bệnh.
rèn luyện để nâng cao trình độ toàn diện.
Bất kỳ một nghề nghiệp nào trong xã hội cũng đòi hỏi người hành nghề
phải hội tụ đầy đủ 2 phẩm chất cơ bản là tài và đức. Tài và đức có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với người TTQĐ. Muốn có tài, người thầy thuốc phải
không ngừng học tập; học ở trường, học ở đồng nghiệp, học ở xã hội, và học
trong nhân dân. Người TTQĐ phải phấn đấu để có kiến thức chuyên môn, kỹ
thuật vững vàng, vừa nắm chắc lý thuyết vừa phải giỏi về thực hành; thành
thạo chức trách nhiệm vụ, sẵn sàng kiêm nhiệm, thay thế hoặc hỗ trợ đồng
Xây dựng ở người TTQĐ động cơ thường xuyên học tập, nghiên cứu,
119
nghiệp trong công tác. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
và công nghệ hiện đại, nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tiên tiến được đưa
vào áp dụng trong thực tiễn; vì vậy đòi hỏi người TTQĐ phải không ngừng
học tập vươn lên mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, mới thoát khỏi tình
trạng tụt hậu về kiến thức y khoa.
Mặt khác trong chiến tranh hiện đại, kẻ địch sẵn sàng sử dụng các loại
vũ khí mang tính chất huỷ diệt lớn, nếu người TTQĐ không tích cực học tập
vươn lên về mọi mặt thì không thể hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện số
lượng thương binh lớn và cơ cấu vết thương thay đổi nhiều lần so với chiến
tranh thông thường. Thêm vào đó, vấn đề ô nhiễm môi trường, sự xuất hiện các
loại dịch bệnh mới, sự biến động của khí hậu thời tiết, tình trạng báo động về
tai nạn giao thông và thảm họa (động đất, sóng thần, hoả hoạn…) đều đặt ra
những yêu cầu bức thiết đối với ngành y tế nói chung và cán bộ, chiến sĩ Quân
y nói riêng. Nó đòi hỏi mỗi TTQĐ vừa phải có kiến thức toàn diện, vừa phải có
kiến thức chuyên sâu, đồng thời đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống.
Muốn có y đức, người thầy thuốc phải tu dưỡng rèn luyện thường xuyên. Đó là
quá trình tự hoàn thiện bản thân thông qua các hoạt động xã hội đòi hỏi người
TTQĐ phải nghiêm túc, tự giác. Phải kiên quyết gạt bỏ những thói hư tật xấu,
nếp nghĩ và cách làm tuỳ tiện... Chỉ có như vậy, người TTQĐ mới thực sự trở
thành người cán bộ vừa “Hồng” vừa “Chuyên”.
Mỗi cán bộ, nhân viên Quân y phải xây dựng cho mình một kế hoạch
học tập và rèn luyện thường xuyên để nâng cao trình độ toàn diện, dù ở cương
vị công tác nào cũng là người thầy thuốc vững về chính trị, giỏi về chuyên
môn, trong sáng về y đức và khoẻ về thể lực, góp phần cùng toàn ngành hoàn
thành nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho là chăm lo,
bảo vệ sức khoẻ con người.
những tiêu cực lạc hậu; đoạn tuyệt triệt để với những cám dỗ thấp hèn, những
120
* Điều kiện thực hiện biện pháp
Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện PTYĐ cần có sự
quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở chính các ĐVQY. Công tác giáo
dục y đức phải được tiến hành ở tất cả các đối tượng làm công tác quân y.
Cần phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các ĐVQY, các bệnh viện
quân đội trong giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức và ý thức tự bồi dưỡng,
rèn luyện y đức ở mỗi người thầy thuốc. Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giảng
dạy về y đức có uy tín, y đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu.
Cần xây dựng một chương trình giáo dục, bồi dưỡng y đức, nội dung
phải được cập nhật, bám sát sự biến đổi các giá trị y đức trong đời sống xã
hội và những nhân tố tác động đến PTYĐ của người thầy thuốc trong hoạt
động y nghiệp ở các ĐVQY.
Tổ chức tốt các hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện
PTYĐ của người thầy thuốc trong tiến hành công tác quân y, trong thực hành
khám chữa bệnh; xây dựng ở người thầy thuốc thái độ tôn trọng con người, sự
thiện tâm và công bằng trong khám chữa bệnh.
Phát huy vai trò của tập thể quân y trong kiểm tra, phát hiện, chấn chỉnh
kịp thời các hiện tượng vi phạm y đức. Trang bị cho người thầy thuốc những
kiến thức y khoa hiện đại, văn hoá trong giao tiếp ứng sử với người bệnh.
3.2.3. Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong
các nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn vị quân y
* Mục tiêu của biện pháp
Hoàn thiện chương trình môn đạo đức y học có cơ sở khoa học và thực
tiễn, có tính hệ thống và tính khả thi để giảng dạy y đức trong các học viện,
trường quân y và để bồi dưỡng y đức cho cán bộ nhân viên tại các ĐVQY.
Phát triển y đức của người TTQĐ cần được bắt đầu ngay trong quá
trình đào tạo ở nhà trường để họ được trang bị đầy đủ kiến thức về y đức làm
cơ sở ban đầu cho sự hình thành nhân cách người TTQĐ và PTYĐ sau này.
121
* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
- Yêu cầu xây dựng chương trình, nội dung môn đạo đức y học:
Kiến thức: Xây dựng chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức
nhằm trang bị những tri thức cơ bản, những qui luật chủ yếu của đạo đức
trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Trên cơ sở đó biết vận dụng vào quá trình
khám chữa bệnh, vào trong quá trình lãnh đạo, quản lý ở các ĐVQY, góp
phần hoàn thiện nhân cách người TTQĐ.
Kỹ năng: Hình thành, phát triển kỹ năng trong giao tiếp ứng sử, cảm hoá
và định hướng hoạt động y nghiệp của người thầy thuốc. Hình thành và phát
triển tư duy, phát triển kỹ năng, phương pháp học tập, nghiên cứu và điều trị.
Thái độ: Hình thành được tình cảm tích cực với nghề nghiệp với môn
học. Tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức y đức vào
giải quyết các vấn đề trong thực tiễn hành nghề y và trên cương vị công tác sau
này; tinh thần trách nhiệm, hợp tác trong thực tiễn quá trình khám chữa bệnh.
- Nội dung chi tiết môn đạo đức y học:
Chủ đề 1, Khái quát Lịch sử đạo đức và đạo đức y học
1. Những vấn đề chung
1.1. Đối tượng môn đạo đức y học
1.2. Nhiệm vụ môn đạo đức y học
1.4. Cấu trúc môn học và ý nghĩa của nghiên cứu , học tập đạo đức y học
2. Lịch sử đạo đức và đạo đức nghề y
2.1. Lịch sử đạo đức
2.2. Lịch sử đạo đức nghề y
2.3. Một số thầy thuốc tiêu biểu trong lịch sử và quân đội
Chủ đề 2, Lý tưởng đạo đức nghề y thông qua các lời thề y học
1. Một số lời thề đạo đức y học
1.1. Lời thề Hippocrates
1.3. Phương pháp nghiên cứu môn đạo đức y học
122
1.2. Y huấn cách ngôn của Hải Thượng Lãn Ông
1.3. Tuyên ngôn Geneva
2. Nghề y là một nghề đặc biệt và lý tưởng đạo đức nghề y
2.1. Nghề y là một nghề đặc biệt
2.2. Lý tưởng đạo đức nghề y
3. Lý tưởng đạo đức nghề y trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
người thầy thuốc Việt Nam hiện đại
3.1. Hồ Chí Minh với nghề y và người thầy thuốc
3.2. Lý tưởng đạo đức nghề y quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ đề 3, Nguyên lý cơ bản của đạo đức y học
1. Tôn trọng quyền tự chủ
1.1. Cung cấp thông tin đầy đủ cho bệnh nhân
1.2. Tôn trọng quyền tự quyết định của bệnh nhân
1.3. Tìm kiếm sự đồng ý sự lựa chọn của bệnh nhân
1.4. Trung thực không lừa dối
2. Lòng nhân ái và công bằng
2.1. Nhân ái trong nghề y
2.2. Giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái
2.3. Công bằng trong nghề y
3.1. Những qui định về đạo đức nghề nghiệp
3.2. Những điều cấm kỵ trong nghề y
Chủ đề 4, Xây dựng mối quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, đồng
3. Không làm việc có hại/ không ác ý
nghiệp, xã hội và cộng đồng
1. Quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân
1.1. Tôn trọng và công bằng trong điều trị
1.2. Thoả thuận đồng ý và kỹ năng giao tiếp
1.3. Ra quyết định ở bệnh nhân không đủ năng lực
123
1.4. Bảo mật thông tin trong công tác khám chữa bệnh
2. Quan hệ thầy thuốc với đồng nghiệp
2.1. Đối xử công bằng và chia sẻ thông tin với đồng nghiệp
2.2. Làm việc nhóm, phụ trách nhóm và các thành viên
2.3. Uỷ quyền và chăm sóc bệnh nhân
2.4. Trung thực, Hợp tác với mọi cuộc điều tra
3. Quan hệ thầy thuốc với xã hội cộng đồng
3.1. Bác sĩ là một thành viên của xã hội, cộng đồng
3.2. Bác sĩ thực hiện chức năng nghề nghiệp trong xã hội, cộng đồng
3.3. Ảnh hưởng của xã hội, cộng đồng đối với bác sỹ
3.4. Giới thiệu một số văn bản pháp luật liên quan tới đạo đức y học
Chủ đề 5, Giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp cho TTQĐ
1. Phẩm chất chuyên môn y nghiệp
1.1. Khái niệm phẩm chất chuyên môn y nghiệp
1.2. Vai trò phẩm chất chuyên môn y nghiệp
2. Đặc điểm hoạt động của người thầy thuốc quân y
2.1. Trực tiếp làm việc ở những khó khăn, nguy hiểm
2.2. Thường xuyên tiếp xúc với thương binh, bệnh tật
2.4. Có quan hệ chặt chẽ với địa phương, các cơ quan đơn vị bạn
3. Nội dung giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp cho người TTQĐ
3.1. Phẩm chất chính trị tư tưởng nghề y
3.2. Phẩm chất đạo đức nghề y
3.3. Phẩm chất ý chí và trí tuệ nghề y
3.4. Phẩm chất tổ chức chỉ huy quân y
3.5. Phẩm chất sư phạm
2.3. Chịu trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ cho đơn vị
124
4. Con đường, biện pháp giáo dục phẩm chất chuyên môn y nghiệp
4.1. Thông qua quá trình học tập của người TTQĐ.
4.2. Thông qua quá trình tự học tập, tự rèn luyện và trong hoạt động
thực tiễn của người TTQĐ
4.3. Công tác đảng, công tác chính trị với xây dựng phẩm chất
chuyên môn y nghiệp cho người TTQĐ
Chủ đề 6, Bổ trợ
1. Tham quan phòng truyền thống của nhà trường, đơn vị quân y
2. Nói chuyện chuyên đề những tấm gương tiêu biểu về y đức
* Điều kiện thực hiện biện pháp
- Đối với các nhà trường quân y
Xây dựng được chương trình, kế hoạch giảng dạy môn học riêng về giáo
dục đạo đức y học ở các trường quân y. Cần xác định rõ mục tiêu chương trình;
đối tượng; tổ chức thực hiện chương trình; thời gian học (2 học trình); học liệu
(tài liệu, giáo trình, sách tham khảo); nội dung (các chương, số tiết học lý thuyết,
thực hành); phương pháp đánh giá kết quả học tập (kết quả học, trình độ, hành
vi); hướng dẫn thực hiện chương trình.
Biên soạn giáo trình y đức, thành lập Bộ môn Giáo dục y đức với
nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về y đức; bố trí, sắp xếp đội ngũ
đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu.
Nội dung giảng dạy môn y đức cần xác định rõ mục tiêu, vị trí vai trò,
chức năng nhiệm vụ, yêu cầu của môn học; kế hoạch đề bài, chương trình
môn học, đề cương chi tiết môn học. Cần tuân thủ các nguyên tắc: bảo đảm
thực hiện mục tiêu, chất lượng giảng dạy; bảo đảm tính khoa học, tính cập
nhật, tính khả thi; bảo đảm tính hiệu quả, tính giáo dục của môn học. Cần bảo
đảm tốt về phương tiện dạy học và cơ sở vật chất giảng dạy và học tập.
cán bộ giảng dạy trong bộ môn giáo dục y đức là những thầy giáo có uy tín, y
125
- Đối với các đơn vị quân y
Xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức bồi dưỡng y đức ở các đơn vị
quân y; phối hợp chặt chẽ với các học viện, nhà trường quân y để thống nhất
về nội dung bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc; phương pháp, phương
thức tiến hành bồi dưỡng phù hợp với các điều kiện thực tiễn của từng đơn vị.
Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ bồi dưỡng y đức là những người thầy
thuốc có uy tín, y đức trong sáng, trình độ kiến thức chuyên sâu; có thể mời
các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các trường quân y tham gia giảng dạy, bồi
dưỡng về y đức và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng thực hiện.
Nội dung bồi dưỡng cần tuân thủ các nguyên tắc: bảo đảm thực hiện
mục tiêu, chất lượng bồi dưỡng; bảo đảm tính khoa học, tính cập nhật, tính
khả thi; bảo đảm tính hiệu quả, hiệu suất, tính giáo dục. Cần bảo đảm tốt về
tài liệu, giáo trình, sách tham khảo; phương tiện dạy học và cơ sở vật chất
đảm bảo; địa điểm ở các hội trường, phòng truyền thống của đơn vị; thời gian
lồng vào các đợt học tập chính trị hàng năm.
3.2.4. Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của
người thầy thuốc quân đội
* Mục tiêu của biện pháp
Hình thành phong trào tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của đội ngũ
chuyển hoá ý thức, thái độ và hành vi y đức theo yêu cầu của xã hội và của
quân đội, hình thành nhân cách bền vững, có ý chí quyết tâm cống hiến, hy
sinh cho lý tưởng y đức của người TTQĐ.
những người thầy thuốc quân đội trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, làm
* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Phát huy vai trò của người TTQĐ trong tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự
rèn luyện để PTYĐ.
Công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức chỉ phát huy được hiệu
quả khi người thầy thuốc tiếp nhận nó một cách tự giác, trở thành nhu cầu,
126
động cơ bên trong thôi thúc họ tích cực học tập, rèn luyện và trưởng thành.
Tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức là quá trình tự giác của mỗi
người TTQĐ nhằm nâng cao nhận thức, củng cố tình cảm, rèn luyện ý chí
phấn đấu cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bộ đội và nhân dân. Đó
chính là quá trình người thầy thuốc tự trau dồi tri thức, tự rèn luyện bản lĩnh
chính trị, phẩm chất y đức, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập, rèn
luyện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu khám chữa bệnh đặt ra. Để nâng cao chất
lượng tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc, cần
tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
Các lực lượng giáo dục ở các đơn vị quân y phải thường xuyên quan
tâm giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng động cơ, mục đích học tập, rèn luyện đúng
đắn cho người thầy thuốc đơn vị mình, khắc phục những biểu hiện tiêu cực
trong học tập và rèn luyện. Giáo dục động cơ, mục đích có ý nghĩa quyết định
đến chất lượng hiệu quả học tập, công tác và rèn luyện, chi phối phương thức
hoạt động của mỗi người thầy thuốc. Mục đích, động cơ đúng sẽ tạo ra động
lực thúc đẩy quá trình hoạt động đúng. Ngược lại, mục đích, động cơ lệch lạc
sẽ trở thành lực cản cho quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y
đức của mỗi người TTQĐ. Muốn vậy, phải làm cho người thầy thuốc hiểu
dân, trên cơ sở đó, giúp họ nâng cao ý thức, tích cực, chủ động trong học tập,
công tác và rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đặt
ra. Việc xây dựng động cơ, mục đích đúng đắn cho người TTQĐ cần thực
hiện một cách chủ động và tích cực ngay từ khi người thầy thuốc đang học tập
tại nhà trường và trong suốt quá trình hành nghề của mình trên mọi cương vị
công tác. Bên cạnh việc xây dựng động cơ, mục đích đúng đắn cần kết hợp
với việc bồi dưỡng định hướng giá trị tình cảm nghề nghiệp cho người TTQĐ.
được mục tiêu yêu cầu của nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội và nhân
127
Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao năng lực tự giáo dục, tự
bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người TTQĐ.
Nâng cao năng lực tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của
người thầy thuốc là hướng dẫn họ biết cách lựa chọn những tri thức cơ bản,
thiết thực, trang bị cho họ phương pháp tiếp cận lựa chọn tri thức phù hợp để
tiếp thu. Có như vậy mới giúp cho người thầy thuốc tự định hướng tổ chức và
điều khiển quá trình rèn luyện, tu dưỡng bản thân mình một cách có hiệu quả.
Tri thức khoa học về tự giáo dục để PTYĐ là hành trang theo người thầy thuốc
suốt đời, nó vừa là công cụ, vừa là phương tiện để người thầy thuốc tự giáo dục
để phát triển và hoàn thiện nhân cách đáp ứng với sự phát triển của y nghiệp.
Các lực lượng giáo dục cần xây dựng được ý thức tự giáo dục, tự bồi
dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ, làm cho người thầy thuốc hiểu đó là công việc
bền bỉ, thường xuyên, nó phải được xác định như là nhu cầu nội tại để hoàn
thiện nhân cách của mỗi người thầy thuốc. Bên cạnh đó, các chủ thể giáo dục
phải thường xuyên quan tâm, kiểm tra, uốn nắn, định hướng việc tự giáo dục,
tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc phù hợp với đặc
điểm của từng nhiệm vụ chuyên môn mà họ đảm nhiệm trên các mặt công tác
quân y. Chủ thể giáo dục vừa phải giáo dục chung, đồng thời phải chú ý giáo
chẽ giữa bồi dưỡng, nâng cao năng lực tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện
để PTYĐ với năng lực tự học và tự nghiên cứu khoa học, biến quá trình giáo
dục, đào tạo thành quá trình tự giáo dục, đào tạo.
Các nhà trường, ĐVQY mà trực tiếp là các lực lượng quản lý trực tiếp
cần tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức hoạt động tự giáo dục,
tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người TTQĐ một cách chặt chẽ, liên
tục đây là một thành tố quan trọng trong quá trình giáo dục. Do đó, hoạt động
tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc phải
dục riêng, định hướng riêng cho phù hợp với từng đối tượng. Kết hợp chặt
128
được đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý nghiêm túc, đúng quy chế, có tính khoa
học cao của các ĐVQY. Mọi sự coi nhẹ hoạt động tự giáo dục để PTYĐ của
người thầy thuốc; phong cách lãnh đạo, chỉ huy thiếu sâu sát, không khoa học,
cụ thể, tỷ mỉ; tổ chức các hoạt động không chặt chẽ, không liên tục, đơn điệu
thì chắc chắn chất lượng hiệu quả của quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự
rèn luyện để PTYĐ của người thầy thuốc sẽ không cao.
Chỉ đạo thường xuyên hoạt động tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn
luyện PTYĐ của người TTQĐ.
Tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức chỉ có kết quả khi được
gắn liền với sự nỗ lực tự giác cao và tích cực chủ động hoạt động thực tiễn của
người thầy thuốc. Thông qua hoạt động thực tiễn công tác của họ ở các đơn vị
quân y để kiểm nghiệm năng lực tự ý thức, tự điều chỉnh hành vi của mỗi
người, đồng thời làm cơ sở cho chủ thể giáo dục, nắm bắt và uốn nắn kịp thời
quá trình tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc,
nhằm phát huy tính tích cực, tự giác của họ trong học tập, công tác và rèn
luyện. Các cấp uỷ đảng, chỉ huy các cấp, các cơ quan chức năng, cần thường
xuyên giáo dục, để mỗi người thầy thuốc nhận thức sâu sắc, ý nghĩa tầm quan
trọng của tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức nâng cao năng lực, khả
tính dân chủ, tính khoa học và nhất quán trong nội dung giáo dục, bồi dưỡng,
rèn luyện y đức. Chỉ có trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quá trình giáo dục, bồi
dưỡng, rèn luyện với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người
TTQĐ trong thực tiễn môi trường y đức của các đơn vị quân y thì sự PTYĐ
của người thầy thuốc mới thực sự phát huy được hiệu quả.
năng tư duy của mình. Việc chỉ đạo tổ chức hoạt động thực tiễn phải đảm bảo
* Điều kiện thực hiện biện pháp
Cần xây dựng được ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y
đức ở mỗi người thầy thuốc, làm cho họ hiểu đó là công việc bền bỉ, thường
129
xuyên và phải được xác định như là nhu cầu nội tại để hoàn thiện nhân cách
của mỗi người TTQĐ.
Các nhà trường, ĐVQY phải thường xuyên quan tâm, kiểm tra, uốn
nắn, định hướng việc tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức phù hợp
với đặc điểm từng nhiệm vụ của mỗi người TTQĐ.
3.2.5. Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các đơn vị quân y
và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội
* Mục tiêu của biện pháp
Xây dựng đơn vị quân y vững mạnh, tạo môi trường y đức trong sạch,
lành mạnh để người TTQĐ tự rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu cho lý tưởng y
đức cao đẹp, hình thành ý thức, thái độ và hành vi y đức chuẩn mực, đấu tranh
chống lại sự tác động tiêu cực từ mặt trái của nền KTTT và sự tấn công về
chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống của các thế lực thù địch.
Tổ chức, quản lý bằng pháp luật trong ngành y, đưa các hoạt động y tế
vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật, xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu
quả, đáp ứng với yêu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng đa dạng với chất
lượng ngày càng cao cho bộ đội và nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số
46/QN-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị “Về công tác bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”.
Từng bước xây dựng, hoàn thiện các luật, pháp lệnh về y tế đáp ứng
yêu cầu phát triển y học hiện nay
Ngành Y quân đội đã tham gia cùng với Bộ Y tế và các cơ quan hữu
quan của Nhà nước chỉ đạo xây dựng và sửa đổi các dự án luật về y tế mà xã
hội hiện nay đang quan tâm như: Luật Dược năm 2005, Luật Bảo hiểm y tế
năm 2008, Luật khám chữa bệnh năm 2009 mà Quốc hội khoá XII (2007-2011)
đã thông qua và ban hành. Hiện nay còn có Dự án Luật An toàn thực phẩm; Dự
* Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
130
án Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá; Dự án Luật Phòng chống lạm dụng
rượu, bia; Dự án Luật về Máu; Dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể
người và hiến lấy xác; Dự án Luật bảo vệ sức khoẻ tâm thần để đáp ứng yêu
cầu nội luật hoá và sự phát triển của y học hiện nay. Để bảo đảm chất lượng,
tính hiệu quả của luật, Bộ Y tế tổ chức, phân công các vụ, cục chủ trì soạn thảo,
các đơn vị phối hợp, phân công các tổ chức và công chức có kinh nghiệm, giàu
kiến thức chuyên môn và kỹ năng xây dựng luật. Cần đảm bảo bình đẳng, công
bằng và nhất thể hoá việc hành nghề y, dược trong cả nước giữa khu vực y tế
Nhà nước với khu vực y tế tư nhân; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng
bộ của hệ thống pháp luật về y tế khi được ban hành.
Giáo dục, quản lý việc thực hiện pháp luật về y tế bảo đảm tính hiệu
lực, hiệu quả
Phát triển hệ thống thông tin pháp luật về y tế thông qua việc xây dựng
các tủ sách pháp luật y tế ở các ĐVQY với đầy đủ các văn bản quy phạm
pháp luật nói chung và y tế nói riêng, đồng thời tổ chức khai thác có hiệu quả
các tủ sách này. Xây dựng các CDROM để lưu trữ và khai thác các văn bản
quy phạm pháp luật về y tế, tiến tới có Website pháp luật y tế. Thực hiện việc
tăng cường trao đổi thông tin pháp luật về y tế với các tổ chức quốc tế và các
quốc gia, đặc biệt là với các quốc gia thành viên ASEAN khi quân y Việt
Các nhà trường, ĐVQY cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức
pháp luật về y tế gắn với y đức, chính sách y tế cho người thầy thuốc, bộ đội
và nhân dân. Đưa các chương trình này có học phần đầy đủ vào giảng dạy tại
các trường đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế và coi đó là môn học bắt
buộc. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức tổ chức và quản lý trong lĩnh vực y tế
cho cán bộ quản lý y tế các cấp, đồng thời tăng cường công tác pháp chế ở các
cơ quan, đơn vị quản lý về y tế, các cơ quan chuyên môn kỹ thuật y tế để các
đơn vị này đủ mạnh, đủ sức trong việc tự phòng ngừa các vi phạm pháp luật
Nam tham gia vào lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc.
131
về y tế, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong các hoạt động của ngành y tế, thực
hiện nghiêm chỉnh pháp luật về y tế.
Xử lý nghiêm minh đối với các vi phạm pháp luật về y tế
Hiện nay trong lĩnh vực y tế xuất hiện nhiều hành vi vi phạm mới, tính
chất mức độ ngày càng tăng và nguy hiểm. Có những hành vi vi phạm vô
nhân tính cố tình chối tội trong chuyên môn để trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Do đó việc xử phạt vi phạm pháp luật về y tế phải bảo đảm đúng người, đúng
tội, công bằng. Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện các hành vi vi phạm
pháp luật về y tế thì phải kịp thời xử lý nghiêm minh, tránh nể nang, xử phạt
nhẹ, xử phạt mang tính chất hình thức. Phải đảm bảo hành vi vi phạm tương
ứng với hình thức kỷ luật theo qui định của pháp luật. Khi xử lý kỷ luật phải
bảo đảm tính bình đẳng, công bằng. Bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử
phạt chính, xử phạt bổ sung, cần lưu ý áp dụng các hình thức xử phạt khác
như tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề có thời hạn hoặc vô thời hạn.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ huy ĐVQY phải chủ động xây dựng kế
hoạch ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm kỷ luật với các biện pháp hành
chính quân sự kết hợp với khen thưởng và chăm lo đời sống vật chất tinh thần
cho cán bộ nhân viên quân y ở đơn vị mình để họ an tâm công tác, làm tốt
nhiệm vụ được giao, kết hợp với xử lý nghiêm minh, công bằng, minh bạch,
Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quan tâm chăm lo đời sống, bảo đảm tốt các
chính sách đối với người TTQĐ
Quan tâm, chăm lo đời sống, bảo đảm tốt chính sách đối với TTQĐ là
một nội dung lớn, là vấn đề mang chiến lược về nguồn lực con người của
Đảng, Nhà nước, Quân đội. Nội dung này cần gắn liền công tác tư tưởng với
công tác tổ chức, tạo thành động lực trực tiếp tác động đến xây dựng đội ngũ
cán bộ nói chung, đội ngũ TTQĐ nói riêng. Do vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy
các cấp trong các đơn vị quân y và mọi người đều phải nhận rõ vai trò, phát
huy trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện.
công khai, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của mỗi người thầy thuốc.
132
Cần đảm bảo cho mọi người nắm vững và được hưởng đầy đủ các
quyền lợi, nghĩa vụ đặc thù. Đặc biệt là việc thực hiện tốt các chính sách cụ
thể về nhà ở, đất ở, vận dụng ưu tiên quân hàm, nâng lương, kéo dài tuổi phục
vụ tại ngũ... Mặt khác, cần động viên khuyến khích các ĐVQY, các TTQĐ
chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, tham gia lao động nghề nghiệp
theo đúng các quy định của pháp luật và kỷ luật quân đội. Quan tâm đúng
mức và có chính sách đãi ngộ xứng đáng với đội ngũ thầy thuốc công tác ở
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Nâng cao
chất lượng đời sống và môi trường phát triển nghề nghiệp sẽ tạo nên động lực
phấn đấu, rèn luyện, PTYĐ cho người TTQĐ, là nền tảng vững chắc để người
TTQĐ có đời sống ổn định, từng bước được nâng cao, góp phần bồi dưỡng
PTYĐ cho người thầy thuốc để họ luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc
sức khoẻ cho thương binh, bệnh binh, bộ đội và nhân dân.
Thường xuyên chăm lo xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch,
lành mạnh ở các nhà trường, đơn vị quân y
Môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh càng có vai trò quan
trọng tác động mạnh mẽ đến quá trình PTYĐ của người TTQĐ. Để xây dựng
môi trường y đức trong sạch, lành mạnh, các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở các ĐVQY
cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm: Toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực
Làm cho hệ thống các giá trị, chuẩn mực y đức trở thành nhu cầu tất
yếu, là bộ phận cơ bản trong nhân cách người TTQĐ. Hệ thống giá trị, chuẩn
mực y đức là một thành tố cơ bản trong môi trường y đức, nó thấm sâu vào
các thành tố khác và chi phối, định hướng quá trình phát triển của chúng.
Những giá trị cao quí đó được các thế hệ thầy thuốc tiếp nhận và chuyển hoá,
trở thành phẩm chất y đức của người TTQĐ, là nền tảng trong đời sống tinh
thần đạo đức, là động lực mạnh mẽ thôi thúc các thế hệ thầy thuốc học tập,
phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành.
tiễn hoạt động nghề nghiệp, đồng thời cần làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:
133
Xây dựng các quan hệ y đức lành mạnh ở các ĐVQY. Trong hoạt động
thực tiễn và đời sống tình cảm, người thầy thuốc có rất nhiều các mối quan hệ
khác nhau, có vai trò, vị trí khác nhau. Giải quyết tốt các mối quan hệ này
theo đúng chuẩn mực đạo đức là góp phần quan trọng vào quá trình PTYĐ
cho họ. Môi trường thân thiện ở các ĐVQY tác động đến ý thức giữ gìn y đức
của người thầy thuốc, là nguồn cổ vũ động viên họ cống hiến sức lực, trí tuệ,
chăm sóc cứu chữa người bệnh, đóng góp sức mình trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước.
Tập thể quân y là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện y đức cho người thầy
thuốc, đồng thời cũng là nơi người thầy thuốc tham gia vào các quan hệ xã
hội để khẳng định trình độ PTYĐ ở mỗi người. Vì thế, xây dựng tập thể quân
y vững mạnh, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người thầy
thuốc là nội dung quan trọng trong xây dựng môi trường y đức. Tập thể quân
y vững mạnh, đời sống vật chất và tinh thần tốt có vai trò to lớn trong xây
dựng môi trường y đức và PTYĐ người thầy thuốc. Do vậy, phải đầu tư xây
dựng đồng bộ các yếu tố của hệ thống thiết chế đạo đức, văn hoá, phát huy
hiệu quả các phương tiện vật tư, môi trường cảnh quan đơn vị xanh, sạch,
đẹp, tổ chức hoạt động văn hoá tinh thần phong phú, xây dựng ĐVQY vững
mạnh toàn diện, đơn vị quân y 5 tốt, bệnh viện văn hoá, tạo môi trường gần
gũi thuận lợi cho sự phát triển y đức của người TTQĐ.
* Điều kiện thực hiện biện pháp
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế cần có kế hoạch tổng thể và phải
nêu cụ thể việc đề xuất các dự án luật, pháp lệnh, đồng thời xắp xếp theo thứ tự
ưu tiên để Quốc hội xem xét thông qua. Khi xây dựng luật, pháp lệnh về y tế
phải rà soát những điều, khoản, điểm để Bộ Y tế phối hợp với các bộ, cơ quan
ngang bộ ban hành thông tư liên tịch; các đơn vị chủ trì soạn thảo phải khẩn
trương cùng lúc xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi
hành thống nhất, đồng bộ làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện.
134
Cần xây dựng các biện pháp về phổ biến, giáo dục pháp luật về y tế để
các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thống nhất và đạt hiệu quả; tăng
cường các giải pháp kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế, phải có kế
hoạch kiểm tra thường xuyên hàng năm, và đột xuất, cần xây dựng được bảng
kiểm trong quá trình tiến hành kiểm tra; xác định rõ chức năng thanh tra, kiểm
tra và giám sát của Nhà nước với hoạt động y tế.
Trong quá trình xử phạt đối với các vi phạm pháp luật về y tế được
nghiêm minh cần phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra và toà
án, xác định rõ cơ chế trách nhiệm và thẩm quyền, duy trì nghiêm chế độ báo
cáo tình hình xử lý kỷ luật để quản lý chặt chẽ hơn vấn đề này, phải hoàn
thiện hành lang pháp lý trong đó qui định rõ các chế tài xử phạt kèm theo.
Việc quan tâm chăm lo đời sống, bảo đảm tốt các chính sách đối với
người TTQĐ và xây dựng môi trường y đức ở các ĐVQY phải kết hợp đồng
bộ, thống nhất cấp trên, cấp dưới cùng làm, phát huy vai trò, trách nhiệm của
các cơ quan chức năng, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để người TTQĐ
yên tâm với nhiệm vụ phục vụ trong các ĐVQY.
Tóm lại, Các biện pháp được đề xuất trong luận án là những cách thức
tổ chức thực hiện của các chủ thể giáo dục và bản thân người TTQĐ, nhằm
mục tiêu chung là phát triển y đức của người TTQĐ đáp ứng với yêu cầu thực
dung và cách thức tiến hành khác nhau; nhưng giữa chúng có mối quan hệ tác
động lẫn nhau, bổ sung, tiền đề của nhau. Thực hiện tốt biện pháp này sẽ có
tác dụng thúc đẩy thực hiện tốt biện pháp kia và ngược lại. Với mục tiêu,
nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định và trong khuôn khổ của một luận án, các
biện pháp được đề xuất chỉ là những biện pháp cơ bản. Trong thực tiễn giáo
dục y đức cho người TTQĐ, cần vận dụng kết hợp các biện pháp và căn cứ
vào đối tượng cụ thể, hoàn cảnh điều kiện cụ thể để áp dụng linh hoạt các
biện pháp khác để mang lại hiệu quả giáo dục cao.
tiễn công tác quân y trong tình hình mới. Mỗi biện pháp có vị trí, vai trò, nội
135
Kết luận chương 3
Phát triển y đức của người TTQĐ là quá trình lâu dài, có nhiều khó
khăn, phức tạp, bị chi phối bởi những yếu tố chủ quan và khách quan, do vậy
cần phải huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục, của nhà
trường, học viện quân y, của các ĐVQY, của đội ngũ những người thầy thuốc.
Các biện pháp phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội phải phù
hợp với đặc thù hoạt động y tế quân đội, với đặc điểm của xã hội hiện đại, của
cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Trình độ PTYĐ của người TTQĐ là sản phẩm của sự tác động biện
chứng giữa môi trường với công tác giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, tự rèn
luyện y đức của người TTQĐ. Đồng thời sự phát triển đó còn được thông qua
chính hoạt động thực tiễn và gắn với lối sống văn hoá về y đức của người
TTQĐ. Bởi vậy, để PTYĐ của người TTQĐ hiện nay, cần phải có một hệ
thống biện pháp mang tính toàn diện và khoa học.
Trong đó, Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và
đạo đức cho người thầy thuốc quân đội; Tăng cường giáo dục y đức cách
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học
để giảng dạy trong các nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY; Tích cực hóa
lành mạnh trong các ĐVQY và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật
về y tế và kỷ luật quân đội.
Để kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp PTYĐ
của người TTQĐ, tác giả luận án tiến hành thực nghiệm bước đầu một số biện
pháp được đề xuất, kết quả thực nghiệm được trình bày ở chương tiếp theo.
tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người TTQĐ; Xây dựng môi trường y đức
136
Chương 4
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm
4.1.1. Mục đích thực nghiệm
Nhằm kiểm định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính khả thi của
các biện pháp đã đề xuất là: y đức của người TTQĐ được hình thành và phát
triển thông qua tổ chức các hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện trong thời
gian người thầy thuốc đang được đào tạo BSNT tại Học viện Quân y.
4.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm
Tổ chức các tác động sư phạm: Thông qua quá trình bồi dưỡng và tổ
chức hoạt động giáo dục, rèn luyện cho các đối tượng TN để rút ra kết luận
khả thi của việc sử dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
4.1.3. Giả thuyết thực nghiệm
Nếu thực hiện có hiệu quả các tác động sư phạm một cách có chủ định,
có chương trình, kế hoạch chặt chẽ với nội dung được lựa chọn theo từng chủ
đề cụ thể, sử dụng hợp lý các phương pháp, thông qua các hoạt động giáo dục,
tự giáo dục để rèn luyện y đức của người thầy thuốc, thì ý thức y đức, thái độ
y đức và hành vi y đức sẽ được phát triển, hoàn thiện, góp phần hình thành,
phát triển những phẩm chất đạo đức y nghiệp cần thiết của người TTQĐ trong
hoạt động thực tiễn khám chữa bệnh.
4.1.4. Địa bàn thực nghiệm và thời gian thực nghiệm
- Thời gian TN tiến hành từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014.
- Địa bàn thực nghiệm: TN tiến hành tại Bệnh viện 103, Học viện Quân y.
4.1.5. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi lựa chọn nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức cho BSNT
trong các biện pháp là: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng
Hồ Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong
các nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY. Đây là hai biện pháp vừa đảm bảo
được chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng y đức và vừa tổ chức giáo
137
dục, rèn luyện phát triển y đức cách mạng cho người TTQĐ từ khi học nghề ở
nhà trường và trong quá trình hành nghề y ở các ĐVQY; phù hợp với đối
tượng và điều kiện thực nghiệm của luận án.
4.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
4.2.1. Lực lượng tham gia thực nghiệm
- Tổ chức nhóm TN và ĐC: chúng tôi tổ chức thành 2 nhóm: 01 nhóm
TN và 01 nhóm ĐC tại bệnh viện 103, Học viện Quân y. Nhóm TN có 28
BSNT (Lớp A) và nhóm ĐC có 29 BSNT (lớp B), khoá 13. Đây là những bác
sĩ vừa tốt nghiệp ra trường được tuyển chọn đào tạo BSNT tại bệnh viện, là
một phương thức đào tạo những chuyên gia giỏi, nhân tài trẻ của ngành y tế.
Họ thường trú tại bệnh viện trong thời gian 3 năm tiếp tục học tập, thực hành
khám chữa bệnh. Khi ra trường BSNT có kiến thức y học vững, kỹ năng thực
hành cao, giải quyết thành thạo những vấn đề chuyên môn cơ bản, được công
tác ở các bệnh viện lớn, tuyến cuối của quân đội và ngành y tế.
- Các lực lượng tham gia TN sư phạm: để thực hiện nhiệm vụ TN khoa
học, chúng tôi huy động sự tham gia của nhiều bộ phận gồm: BV103 có sự
tham gia của Ban giáo vụ, cơ quan chính trị, các khoa có BSNT; Học viện
Quân y có sự tham gia của Ban Thanh niên, Phòng Chính trị, Phòng Đào tạo,
Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Bộ môn Triết học, Hệ Sau đại học.
tương đồng về trình độ đầu vào, về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y
đức. Các nhóm TN và ĐC ở cùng một khóa để hạn chế và loại trừ những tác
động trong quá trình TN sư phạm.
- Yêu cầu đối với các nhóm TN và ĐC: xấp xỉ về số lượng và giới tính;
4.2.2. Thời gian và các biện pháp được thực nghiệm sư phạm
- Tháng 8/2013: chúng tôi phân đối tượng thực nghiệm thành nhóm
TN và nhóm ĐC, tiến hành khảo sát các nhóm này về ý thức y đức, thái độ y
đức và hành vi y đức.
138
- Tháng 9/2013: chúng tôi lựa chọn lực lượng giáo dục tham gia, giúp
đỡ, hỗ trợ quá trình TN sư phạm. Cụ thể: một số giảng viên khoa học xã hội
và nhân văn, cán bộ phòng đào tạo, cán bộ cơ quan chính trị của bệnh viện.
Chúng tôi bồi dưỡng cho các lực lượng cộng tác viên về kiến thức về mục
đích, nội dung và phương thức TN sư phạm. Bồi dưỡng cho họ cách thức thực
hiện từng biện pháp tác động, cách sử dụng phối hợp các biện pháp với nhau
và cách đánh giá kết quả tác động của các biện pháp TN sư phạm.
- Tháng 12/2013: bắt đầu tiến hành các tác động TN bằng cách sử dụng
một số biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã đề xuất. Tiến hành quan sát, khảo
sát để đo sự biến đổi về nhận thức, thái độ, hành vi của các BSNT trong thời
gian 6 tháng diễn ra TN và để tiến hành biện pháp thực nghiệm tiếp theo.
- Từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2014: chúng tôi bắt đầu sử dụng một số
biện pháp chủ yếu: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh; Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các
nhà trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY.
- Tháng 7/2014: chúng tôi tổ chức hoạt động của Đoàn, Hội; tổ chức cho
họ tham gia các phong trào “Sinh viên tình nguyện”, “Hiến máu nhân đạo” và
các hoạt động về nguồn (khám chữa bệnh cho gia đình thương binh, liệt sỹ và
- Tháng 8 đến tháng 9/2014: Tổng kết quá trình TN.
gia đình có công với cách mạng) để quan sát hành vi của đối tượng TN.
4.2.3. Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ và giả thuyết TN, chúng tôi xác định
đánh giá sự phát triển y đức của BSNT thông qua 3 tiêu chí cơ bản.
- Tiêu chí 1, đánh giá sự phát triển ý thức y đức của BSNT gồm các chỉ
số cơ bản: một là, nhận thức y đức; hai là, tình cảm y đức; ba là, niềm tin y
đức; bốn là, ý chí y đức của BSNT. Đánh giá sự phát triển ý thức y đức của
139
BSNT theo các mức như sau: mức giỏi: điểm từ 9 - 10; mức khá: điểm từ 7 <
9; mức trung bình: điểm từ 5 < 7; mức yếu: điểm từ 1 < 5.
Bảng 4.1: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về ý thức y đức
Các nội dung cụ thể
Mức đánh giá
Điểm đánh giá
Một là, nhận thức y đức của người thầy thuốc
Có những hiểu biết sâu sắc về vị trí, vai trò, ý nghĩa của y
đức; lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của Hải
Giỏi
9 ÷ 10
thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế;
nắm chắc 12 điều quy định về y đức.
Có hiểu biết đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; hiểu
đầy đủ về lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của
Khá
7 ÷ < 9
Hải thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y
tế; nắm khá tốt 12 điều quy định về y đức.
Hiểu biết được vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; lời thề
Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của Hải thượng Lãn
Trung
5 ÷ < 7
ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế; nắm được 12
bình
điều quy định về y đức.
Hiểu biết chưa đầy đủ vị trí, vai trò, ý nghĩa của y đức; hiểu
chưa rõ về lời thề Hyppocrat, 9 điều y huấn cách ngôn của
Yếu
1 ÷ < 5
Hải thượng Lãn ông, lời thề tốt nghiệp của người cán bộ y tế;
nắm chưa đầy đủ 12 điều quy định về y đức.
Hai là, tình cảm y đức của người thầy thuốc
Hết lòng yêu thương người bệnh, tinh thần trách nhiệm cao
với công việc, say mê y nghiệp; tích cực trau dồi tri thức
Giỏi
9 ÷ 10
chuyên môn, nâng cao tay nghề.
Có tấm lòng yêu thương NB, tinh thần trách nhiệm với công việc,
Khá
7 ÷ < 9
say mê y nghiệp; trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề.
Lòng yêu thương NB có chừng mực, tinh thần trách nhiệm với
Trung
công việc chưa cao, chưa thực say mê y nghiệp; chưa thường
5 ÷ < 7
bình
xuyên trau dồi tri thức chuyên môn, nâng cao tay nghề.
140
Chưa thương NB, tinh thần trách nhiệm với công việc hạn
chế, chưa say mê y nghiệp, chưa trau dồi tri thức chuyên
Yếu
1 ÷ < 5
môn, nâng cao tay nghề.
Ba là, niềm tin y đức của người thầy thuốc
Luôn có lý tưởng y đức cao của người thầy thuốc cách mạng, thực
sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm; rất tích cực tham gia các
Giỏi
9 ÷ 10
hoạt động chuyên môn, kiên định yên tâm phục vụ quân đội.
Có lý tưởng y đức cao của người thầy thuốc cách mạng, yêu
Khá
thích công việc mình đảm nhiệm; tích cực khi tham gia các hoạt
7 ÷ < 9
động chuyên môn, yên tâm phục vụ quân đội.
Lý tưởng y đức của người thầy thuốc cách mạng chưa cao,
chưa thực sự yêu thích công việc mình đảm nhiệm; chưa
Trung
5 ÷ < 7
thực tích cực khi tham gia các hoạt động chuyên môn, chưa
bình
yên tâm phục vụ quân đội.
Lý tưởng y đức chưa rõ ràng, không yêu thích công việc
mình đảm nhiệm; hạn chế khi tham gia các hoạt động
Yếu
1 ÷ < 5
chuyên môn, thiếu yên tâm phục vụ quân đội.
Bốn là, ý chí y đức của người thầy thuốc
Luôn đặt ra cho mình mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn
trở ngại để hoàn thành tốt nhiệm vụ; có thái độ nghiêm túc
Giỏi
9 ÷ 10
trong KCB; tính kỷ luật và phẩm chất ý chí cao.
Đặt ra mục đích vươn tới, vượt qua khó khăn trở ngại hoàn
thành nhiệm vụ; có thái độ trong KCB; tính kỷ luật và
Khá
7 ÷ < 9
phẩm chất ý chí khá cao.
Chưa thường xuyên đặt ra cho mình mục đích vươn tới, chưa
Trung
vượt qua khó khăn trở ngại; chưa có thái độ thực nghiêm túc
5 ÷ < 7
bình
trong KCB; tính kỷ luật, phẩm chất ý chí chưa cao.
Không đặt ra cho mình mục đích vươn tới, không vượt qua
khó khăn trở ngại; có thái độ thiếu nghiêm túc trong KCB;
Yếu
1 ÷ < 5
tính kỷ luật và phẩm chất ý chí kém trong hoạt động y nghiệp.
141
Tiêu chí 2, đánh giá sự phát triển thái độ y đức của BSNT gồm các chỉ
số cơ bản: một là, thái độ với người bệnh; hai là, thái độ với đồng nghiệp và
với bậc thầy; ba là, thái độ với xã hội, cộng đồng; bốn là, thái độ với công
việc và với bản thân mình. Đánh giá và cho điểm sự phát triển thái độ y đức
của BSNT theo các mức: rất tích cực (giỏi): điểm từ 9 - 10; tích cực (khá):
điểm từ 7 < 9; bình thường (TB): điểm từ 5 < 7; yếu: điểm 1 < 5.
Bảng 4.2: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về thái độ y đức Điểm
Mức
Các nội dung cụ thể
đánh giá
đánh giá
Một là, thái độ với người bệnh
Luôn tôn trọng, cảm thông sâu sắc với NB; có tinh thần trách
nhiệm cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa NB; không phân biệt đối
Giỏi
xử trong KCB; không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho NB
Tôn trọng, cảm thông với người bệnh; có tinh thần trách
nhiệm khá cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa người bệnh;
9 ÷ 10
Khá
không phân biệt đối xử trong khám và điều trị; không có
thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh
Chưa thực tôn trọng, cảm thông với người bệnh; chưa có tinh
thần trách nhiệm cao, chưa tận tình chăm sóc, cứu chữa
7 ÷ < 9
Trung
5 ÷ < 7
bình
người bệnh; còn phân biệt đối xử trong khám và điều trị; còn
có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh
Thiếu tôn trọng, cảm thông với người bệnh; tinh thần trách
nhiệm kém trong chăm sóc, cứu chữa người bệnh; biểu hiện rõ
Yếu
1 ÷ < 5
việc phân biệt đối xử trong khám và điều trị; tỏ rõ thái độ phải
ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh
Hai là, thái độ với đồng nghiệp, với bậc thầy (cấp trên)
Luôn có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và yêu
thương giúp đỡ lẫn nhau rất tốt; sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm
Giỏi
cho đồng nghiệp; luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy.
9 ÷ 10
142
Có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và yêu
thương giúp đỡ lẫn nhau tốt; có tinh thần truyền thụ kinh nghiệm
Khá
cho đồng nghiệp; có thái độ kính trọng các bậc thầy.
Chưa thực có lối sống lành mạnh, đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và
7 ÷ < 9
Trung
yêu thương giúp đỡ lẫn nhau; hạn chế trao đổi kinh nghiệm cho
5 ÷ < 7
bình
đồng nghiệp; chưa tỏ rõ thái độ kính trọng các bậc thầy.
Hạn chế trong lối sống, thiếu hợp tác vì mục đích chung,
thiếu tôn trọng trong chuyên môn; thiếu nhiệt tình truyền
Yếu
thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp; trong quan hệ với các bậc
thầy biểu hiện lối sống thực dụng.
1 ÷ < 5
Ba là, thái độ với xã hội, cộng đồng
Có quan hệ tích cực, lành mạnh với các đơn vị, với xã hội, cộng
đồng; tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng,
Giỏi
hỗ trợ tuyến dưới; tích cực KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.
Có quan hệ thường xuyên, lành mạnh với các đơn vị, với xã
hội, cộng đồng; khá tích cực tham gia tuyên truyền GD sức
9 ÷ 10
Khá
khoẻ cộng đồng, hỗ trợ tuyến dưới; thường xuyên tham KCB
bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo.
Có quan hệ bình thường với các đơn vị, với xã hội, cộng đồng;
7 ÷ < 9
Trung
chưa tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng, hỗ
5 ÷ < 7
bình
trợ tuyến dưới; ít tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.
Có quan hệ chưa tốt với các đơn vị, với xã hội, cộng đồng;
hạn chế tuyên truyền GD sức khoẻ cộng đồng, hỗ trợ tuyến
Yếu
1 ÷ < 5
dưới; chưa tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo.
Bốn là, thái độ với công việc; với chính bản thân người thầy thuốc
Luôn say mê công việc, tinh thần trách nhiệm cao, tuân thủ tốt
chuyên môn y học và pháp luật; khiêm tốn, nghiêm túc trong
Giỏi
9 ÷ 10
KCB, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, giữ gìn
phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề rất tốt.
143
Say mê công việc, tinh thần trách nhiệm khá cao, tuân thủ khá
tốt chuyên môn y học và pháp luật; khiêm tốn, nghiêm túc
Khá
trong KCB, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, giữ
gìn phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề khá tốt.
Chưa thật say mê công việc, tinh thần trách nhiệm chưa cao, tuân
thủ chưa tốt chuyên môn y học và pháp luật; chưa khiêm tốn,
7 ÷ < 9
Trung
nghiêm túc trong KCB, chưa tích cực học tập nâng cao trình độ,
5 ÷ < 7
bình
năng lực, phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề chưa tốt.
Không say mê công việc, tinh thần trách nhiệm kém, không
tuân thủ chuyên môn y học và pháp luật; không khiêm tốn,
Yếu
nghiêm túc trong KCB, không tích cực học tập nâng cao trình
độ, năng lực, phẩm giá danh dự bản thân trong hành nghề kém.
1 ÷ < 5
- Tiêu chí 3, đánh giá sự phát triển hành vi y đức của BSNT gồm: một là,
hành vi đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân; hai là,
hành vi trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật; ba là, hành vi
trong giao tiếp ứng xử; bốn là, hành vi về lương tâm và trách nhiệm trong học
tập, công tác và điều trị. Đánh giá mức độ biểu hiện sự phát triển hành vi y đức
chúng tôi căn cứ vào từng tần suất, mức độ biểu hiện sự phát triển hành vi y
đức để đánh giá mức độ phát triển hành vi y đức của BSNT. Cụ thể: hành vi
biểu hiện rất tích cực (giỏi): điểm từ 9 - 10; hành vi tích cực (khá): điểm từ 7 <
9; hành vi bình thường (TB): điểm từ 5 < 7; hành vi yếu (yếu): điểm từ 1 < 5.
Bảng 4.3: Lượng hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển về hành vi y đức
Mức
Điểm
Các nội dung cụ thể
đánh giá
đánh giá
Một là, hành vi đối với quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân
Chủ động tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực;
luôn học hỏi, cầu tiến bộ, cố gắng cao để hoàn thành nhiệm
Giỏi
9 ÷ 10
vụ; luôn đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, kiên quyết
đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.
144
Có nhiều cố gắng trong học tập nâng cao trình độ, năng lực;
khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ
Khá
7 ÷ < 9
được giao; đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, thường xuyên
đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.
Chưa tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực; chưa
khiêm tốn học hỏi, chưa hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao;
Trung
5 ÷ < 7
chưa đặt lợi ích BN cao hơn lợi ích cá nhân, chưa kiên quyết
bình
đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.
Hạn chế học tập nâng cao trình độ, năng lực; tự kiêu, tự
đại, hoàn thành thấp trong thực hiện nhiệm vụ; luôn đặt lợi
Yếu
1 ÷ < 5
ích bản thân cao hơn lợi ích BN, không kiên quyết đấu
tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB.
Hai là, hành vi trong chấp hành các qui định, điều lệnh và pháp luật
Chấp hành nghiêm pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui, qui
định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn đoán, xử
Giỏi
9 ÷ 10
lý kịp thời trách nhiệm cao trong điều trị.
Chấp hành khá tốt pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui,
qui định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn
Khá
7 ÷ < 9
đoán, xử lý kịp thời trách nhiệm trong điều trị.
Chấp hành chưa nghiêm pháp luật, qui chế chuyên môn, nội
Trung
qui, qui định của đơn vị; sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, chẩn
5 ÷ < 7
bình
đoán, xử lý chưa kịp thời trách nhiệm chưa cao trong điều trị.
Chưa chấp hành pháp luật, qui chế chuyên môn, nội qui, qui
định của đơn vị; sử dụng thuốc chưa hợp lý, an toàn, chẩn
Yếu
1 ÷ < 5
đoán, xử lý thiếu kịp thời trách nhiệm kém trong điều trị.
Ba là, hành vi trong giao tiếp, ứng xử
Chủ động, tuân thủ tốt các chuẩn mực khi giao tiếp; bảo
đảm tốt tính nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí,
Giỏi
đồng cảm và tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành
9 ÷ 10
động thận trọng, nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chững
chạc, lịch sự, tế nhị, trang phục gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.
145
Thường xuyên tuân thủ các chuẩn mực khi giao tiếp; bảo đảm
tính nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí, đồng cảm và
tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành động thận trọng,
Khá
7 ÷ < 9
nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chững chạc, lịch sự, tế nhị,
trang phục gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.
Chưa chủ động giao tiếp ứng xử, chưa bảo đảm được tính
nhân đạo, tôn trọng nhân cách, sự thiện chí, đồng cảm và tính
Trung
liệu pháp tâm lý trong giao tiếp; hành động chưa thận trọng,
5 ÷ < 7
bình
nghiêm túc, mẫu mực; tác phong chưa được chững chạc, lịch
sự, tế nhị, trang phục chưa gọn gàng sạch sẽ nơi KCB.
Trong giao tiếp ứng xử kém, thiếu tính nhân đạo, không
tôn trọng nhân cách, không thiện chí, không đồng cảm và
tính liệu pháp tâm lý trong giao tiếp kém; hành động không
Yếu
1 ÷ < 5
thận trọng, không nghiêm túc, không mẫu mực; tác phong
cẩu thả, không lịch sự, tế nhị, trang phục không gọn gàng
sạch sẽ nơi KCB.
Bốn là, hành vi về lương tâm, trách nhiệm trong học tập, công tác và điều trị
Có lương tâm y nghiệp trong sáng, tích cực cố gắng trong
học tập, công tác; luôn chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực
Giỏi
9 ÷ 10
KCB; tự nguyện, xung phong đi công tác ở những nơi xa
xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ nhất.
Có lương tâm y nghiệp trong sáng, cố gắng học tập, công tác;
chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực KCB; khi cần sẽ đi công
Khá
7 ÷ < 9
tác ở những nơi xa xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.
Lương tâm y nghiệp chưa thực trong sáng, chưa tích cực cố
gắng trong học tập, công tác; chưa chịu khó, chịu khổ, tận
Trung
5 ÷ < 7
tâm, tận lực KCB; còn do dự đi công tác ở những nơi xa
bình
xôi, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.
Lương tâm y nghiệp hạn chế, thiếu tích cực trong học tập,
công tác; không chịu khó, chịu khổ, tận tâm, tận lực KCB; từ
Yếu
1 ÷ < 5
chối đi công tác ở nơi xa, thiếu thốn và khó khăn gian khổ.
146
4.2.4. Các phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm
- Tính tỷ lệ % các phương án trả lời;
- Tính ĐTB mẫu: đây là một tham số đặc trưng cho sự tập trung của số
x
ix
1 . n
liệu trong mẫu đo:
Trong đó: x : trung bình mẫu
n: là số BSNT tham gia làm TN
xi: là giá trị của x tại thời điểm i
- ĐLC: phản ánh sự sai lệch hay độ dao động, phân tán của số liệu xung
S
quanh giá trị trung bình mẫu. ĐLC:
rxx .2 i i n 1
Trong đó: x : trung bình mẫu
n: là số BSNT tham gia làm TN
xi: là giá trị của x tại thời điểm i
ri: là tầm số của giá trị i
4.2.5. So sánh sự khác biệt giữa kết quả của các nhóm TN và ĐC
- Phép thử T-Student giúp chúng tôi tìm ra sự khác biệt về kết quả giữa
PTYĐ của người TTQĐ hiện nay đã áp dụng:
x
x
1
2
T
s
s
2 1
N
1
N
2 2
1
1
1
Trong đó: 1x : là trung bình mẫu của nhóm 1
2x : là trung bình mẫu của nhóm 2
N1: Số lượng của nhóm 1
N2: Số lượng của nhóm 2
các nhóm TN và ĐC, nhằm chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp
147
S1: ĐLC của nhóm 1 S2: ĐLC của nhóm 2
- Tìm sự tương quan giữa các biến số tham gia vào TN: việc tính toán
sự tương quan giữa các biến số có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng tôi phát
hiện sự tương quan, biến đổi giữa ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y
đức của người BSNT khi áp dụng các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ.
N
XY
Y
r
2
2
2
2
X
X
Y
Y
Công thức:
N
X . N . .
. r: hệ số tương quan
Nếu r 0: các biến cố không có mối tương quan
Nếu r > 0: có mối tương quan
Nếu r = 1: tương quan chặt chẽ, tuyệt đối
4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành đánh giá kết quả TN theo trình tự sau:
+ Kết quả đầu vào của các nhóm TN và ĐC
+ Kết quả TN lần 1: tháng 2/2014
+ Kết quả TN lần 2: tháng 4/2014
+ Kết quả TN lần 3: tháng 6/2014
4.3.1. Đánh giá đầu vào
- Kiểm tra đầu vào về ý thức y đức
Bước này có ý nghĩa quan trọng vì kết quả của nó cho ta thấy trình độ
ban đầu của BSNT ở 2 nhóm TN và ĐC có tương đương hay không? Để tiến
hành TN khoa học, chúng tôi soạn thảo một hệ thống gồm 36 câu hỏi nhận
thức và quy ra thang điểm 10. Xếp loại như sau: Loại giỏi: 9-10 điểm; Loại
khá: 7-8 điểm; Loại trung bình: 5-6 điểm; Loại yếu: < 5 điểm.
148
Kết quả đánh giá đầu vào về ý thức y đức được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đầu vào về ý thức y đức
Nhóm
Loại
Điểm
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
0 8 7 6 5 5 4
(cid:0) ± SD (min-max)
Nhóm TN (n=28) 0 5 (17.9%) 6 (21.4%) 13 (46.4%) 4 (14.3%) 0 0 6.43 ± 0.96 (5 - 8)
Nhóm ĐC (n=29) 0 7 (24.1%) 12 (41.4%) 4 (13.8%) 6 (20.7%) 0 0 6.69 ± 1.07 (5 - 8)
p-values
p=0.3376*
Kết quả bảng trên cho thấy:
+ BSNT đã có ý thức y đức nhất định, mức độ này là trung bình;
+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống
kê với p=0.3376 (6.43% so với 6.69%).
- Kiểm tra đầu vào về thái độ y đức
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra đầu vào về thái độ y đức
Nhóm
Nhóm TN (n=28)
Nhóm ĐC (n=29)
Loại
Điểm
Giỏi
0
0
9
5 (17.9%)
3 (10.3%)
8
Khá
4 (14.3%)
8 (27.6%)
7
15 (53.6%)
11 (37.9%)
6
Trung bình
4 (14.3%)
7 (24.1%)
5
0
0
5
Yếu
0
0
4
6.35 ± 0.95
6.24 ± 0.95
(cid:0) ± SD (min-max)
(5 - 8)
(5 - 8)
p=0.6477*
p-values Kết quả bảng trên cho thấy:
+ ĐTB về thái độ y đức ở mức trung bình;
+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống
kê với p=0.6477 (6.35% so với 6.24%).
149
- Kiểm tra đầu vào về hành vi y đức
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra đầu vào về hành vi y đức
Nhóm
Loại
Điểm
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
9 8 7 6 5 5 4
(cid:0) ± SD (min-max)
Nhóm TN (n=28) 0 5 (17.9%) 3 (10.7%) 11 (39.3%) 7 (25.0%) 2 (7.1%) 0 6.07 ± 1.18 (4 - 8)
Nhóm ĐC (n=29) 0 3 (10.3%) 8 (27.6%) 10 (34.5%) 6 (20.7%) 2 (6.9%) 0 6.13 ± 1.09 (4 - 8)
p-values
p=0.8263*
Kết quả bảng trên cho thấy:
+ ĐTB về hành vi y đức ở mức trung bình;
+ ĐTB mẫu của nhóm TN và ĐC là khác biệt không có ý nghĩa thống
kê với p=0.8263 (6.07% so với 6.13%).
4.3.2. Đánh giá kết quả TN giai đoạn 1 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức ở giai đoạn 1
Bảng 4.7: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1
C¸c tham sè vµ xÕp lo¹i
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (sè b¸c sÜ néi tró) min (®iÓm thÊp nhÊt) max (®iÓm cao nhÊt) X: trung b×nh céng S: ®é lÖch chuÈn CV: HÖ sè biÕn thiªn Lo¹i giái (%) Kh¸ (%) Trung b×nh (%) Yếu (%)
Nhãm TN 28 6 10 7.36 1.16 0.16 10.71 60.7 28.6 0
Nhãm §C 29 7 9 6.97 1.01 0.15 6.9 48.3 44.8 0
Kết quả bảng trên cho thấy:
- Có sự chênh lệch giữa TN và ĐC: Điểm cao nhất của nhóm TN là 10
trong khi đó ĐC là 9; ĐTB cộng của nhóm TN là 7.36% trong khi đó ĐC là
6.97% sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê với p=0.181(T-student test);
150
Loại giỏi và trung bình của nhóm TN cao hơn đối với ĐC; Loại Khá, của nhóm
TN thấp hơn ĐC; Cả 2 nhóm đều không có trường hợp nào nhận thức yếu.
- Tuy nhiên, kết quả khảo sát lần một của BSNT có tiến bộ, cao hơn so
với đầu vào các thông số của nhóm TN đều tốt hơn nhóm ĐC. Điều này chứng
tỏ tính hiệu quả bước đầu của các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã TN.
- Chúng tôi biểu đạt kết quả về ý thức y đức của BSNT ở nhóm TN và
ĐC sau TN giai đoạn 1 trên biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 1)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
60.7
48.3
44.8
28.6
10.7
6.9
0
0
70 60 50 40 30 20 10 0
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Biểu đồ 4.1: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 1
- Đánh giá kết quả về thái độ y đức ở giai đoạn 1
Bảng 4.8: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu
Nhóm TN 28 6 9 6.96 1.14 0.16 17.9 35.7 46.4 0
Nhóm ĐC 29 5 9 6.86 1.06 0.15 10.4 51.7 37.9 0
Kết quả bảng trên cho thấy: Sau TN giai đoạn 1, 100% BSNT của 2 nhóm
đều đạt từ mức độ trung bình trở lên (Điểm min là 5). Tức là, thái độ y đức của
BSNT dần dần phù hợp với yêu cầu xã hội và đạo đức y nghiệp; ĐTB cộng của
151
nhóm TN cao hơn (6.96% so với 6.86%), sự khác biệt là không có ý nghĩa thống
kê với p=0.727 (T-student test). Tức là, thái độ y đức của nhóm TN tích cực hơn
nhóm ĐC; Số BSNT được xếp loại rất tích cực và tích cực của nhóm TN cao
hơn nhóm ĐC; ĐLC và hệ số biến thiên của nhóm TN nhỏ hơn nhóm ĐC do đó
kết quả của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC. Như vậy, các biện pháp PTYĐ của
người TTQĐ mà chúng tôi đưa ra và TN đã bước đầu mang lại hiệu quả, đã nâng
cao thái độ y đức của người TTQĐ trong hoạt động y nghiệp.
Để biểu diễn kết quả, chúng tôi sử dụng biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % thái độ y đức giai đoạn 1)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
51.7
46.4
60
35.7
50
37.9
40
30
10.9
10.4
20
10
0
0
0
Rất tích cực
Tích cực
Bình thường
Yếu
Biểu đồ 4.2: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1
- Đánh giá kết quả về hành vi y đức ở giai đoạn 1.
Bảng 4.9: Các tham số về hành vi của nhóm TN và ĐC giai đoạn 1
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu
Nhóm TN 28 4 9 6.54 1.26 0.21 10.7 39.3 42.9 7.1
Nhóm ĐC 29 4 9 6.07 1.36 0.22 3.5 27.6 58.6 10.3
Kết quả bảng trên cho thấy: Cả hai nhóm TN và ĐC vẫn còn những
BSNT có hành vi biểu hiện ở mức độ yếu (điểm min: 4); Nhóm TN đã xuất
152
hiện BSNT có hành vi biểu hiện ở mức tốt (10.7%) trong khi nhóm ĐC chỉ có
3.5%; ĐTB cộng của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC (6.54% và 6.07%) sự khác
biệt là không có ý nghĩa thống kê với p=0.0185 (T-student test); Nhóm TN: số
BSNT có hành vi biểu hiện ở mức khá cao hơn nhóm ĐC (39.3% so với
27.6%); Nhóm TN: Số BSNT có hành vi biểu hiện ở mức độ trung bình ít hơn
nhóm ĐC (42.9% so với 58.6%). Như vậy, việc TN những biện pháp PTYĐ
của người TTQĐ bước đầu đã mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, so với mặt ý
thức y đức và thái độ y đức thì sự tiến bộ về những hành vi y đức có chậm
hơn (vẫn còn có loại yếu, loại giỏi và khá thấp hơn).
Chúng tôi biểu diễn kết quả TN giai đoạn 1 về hành vi ở biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 1)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
58.6
60
42.9
39.3
50
40
27.6
30
10.7
10.3
20
7.1
3.5
10
0
Rất tích cực
Tích cực
Bình thường
Yếu
Biểu đồ 4.3: Kết quả hành vi y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 1
Kết thúc giai đoạn TN 1, chúng tôi nhận thấy các mặt về ý thức y đức,
nhanh hơn khá nhiều so với nhóm ĐC. Trong đó, thái độ y đức của BSNT
thay đổi theo chiều hướng tích cực là tiến bộ nhanh nhất (thể hiện ở các
tham số), còn hành vi y đức tiến bộ chậm nhất. Những kết quả TN rất phù
hợp với nghiên cứu lý luận và chứng tỏ các biện pháp đưa ra TN đã đạt hiệu
quả rõ rệt.
Sau giai đoạn 1, chúng tôi cùng với các lực lượng giáo dục đã tham gia
TN tổ chức rút kinh nghiệm và thống nhất kết quả TN giai đoạn 2.
thái độ y đức và hành vi y đức trong nhóm TN tiến bộ rõ rệt và phát triển
153
4.3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm giai đoạn 2 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức ở giai đoạn 2
Bảng 4.10: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)
Nhóm TN 28 6 10 7.71 1.189 0.15 14.4 71.4 14.3 0
Nhóm ĐC 29 5 9 7.14 0.99 0.14 6.9 72.4 20.7 0
Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Điểm min của 2 nhóm TN
(6) và ĐC (5), chứng tỏ không còn BSNT nào trong 2 nhóm có ý thức y đức xếp
loại yếu; ĐTB của 2 nhóm TN và ĐC đều tăng so với TN giai đoạn 1. Tuy nhiên,
ĐTB của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC (7.71% so với 7.14%) có ý nghĩa thống kê
với p=0.051 (T-student test); Điều này có nghĩa là biện pháp PTYĐ của người
TTQĐ có hiệu quả; Tỷ lệ BSNT ở mức cao Giỏi và Khá của nhóm TN cao hơn
nhóm ĐC (85.7% so với 79.3%). Trong khi đó, nhóm ĐC lại có mức độ về ý thức
y đức trung bình cao hơn nhóm TN (20.7% so với 14.3%). Từ các số liệu trên
chúng tôi tính được hệ số đánh giá trình độ kiến thức k2 = 1.23 > 1, chứng tỏ tính
vững chắc của ý thức y đức nhờ các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
Kết quả về ý thức y đức của BSNT sau lần TN thứ 2 thể hiện qua biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 2)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
72.4
71.4
80
60
40
14.3
20.7
14.3
6.9
20
0
0
0
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Biểu đồ 4.4: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 2
154
- Đánh giá kết quả thái độ y đức ở giai đoạn 2
Bảng 4.11: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu (%)
Nhóm TN 28 6 9 7.39 1.07 0.144 14.3 6 25.0 0
Nhóm ĐC 29 5 9 6.65 1.01 0.152 6.9 48.3 44.8 0
Phân tích bảng trên, chúng tôi nhận thấy: ĐTB của nhóm TN và ĐC đã
tăng cao hơn so với giai đoạn 1. Tuy nhiên, nhóm TN vẫn có ĐTB cao hơn
nhóm ĐC (7.39% so với 6.65%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với
p=0.0096 (T-student test); Nhóm TN có tỷ lệ BSNT có thái độ y đức rất tích
cực và tích cực cao hơn nhiều so với nhóm ĐC (14.3% so với 6.9% và 60.7%
so với 48.3%). Sự khác biệt này ngày càng lớn so với TN giai đoạn 1.
Như vậy, việc TN các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ ở giai đoạn 2
đã tạo nên sự khác biệt khá lớn giữa 2 nhóm TN và ĐC.
Chúng tôi biểu diễn kết quả về thái độ y đức của người TTQĐ ở giai
đoạn 2 trên biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % thái độ y đức giai đoạn 2)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
60.7
48.3
44.8
25
14.3
6.9
0
0
70 60 50 40 30 20 10 0
Rất tích cực
Tích cực
Bình thường
Yếu
Biểu đồ 4.5: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 2
155
- Đánh giá kết quả hành vi y đức ở giai đoạn 2
Bảng 4.12: Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 2
Các tham số và xếp loại
Nhóm TN 28
Nhóm ĐC 29
TT 1
n (số BSNT)
2
min (điểm thấp nhất)
5
5
3
max (điểm cao nhất)
10
9
4
X: trung bình cộng
6.96
6.31
5
S: ĐLC
1.32
1.14
6
CV: Hệ số biến thiên (%)
0.19
0.18
7
Loại giỏi (%)
17.9
3.4
8
Khá (%)
46.4
34.5
9
Trung bình (%)
35.7
62.1
10
Yếu (%)
0
0
Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Trong cả 2 nhóm đã
không còn BSNT có biểu hiện yếu về hành vi y đức; ĐTB của cả nhóm TN và
nhóm ĐC đều tăng hơn so với lần TN trước và ĐTB của nhóm TN cao hơn ĐC
(6.96% so với 6.31%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.046 (T-student
test). Tỷ lệ BSNT ở mức giỏi và khá của nhóm TN đều cao hơn khá nhiều so với
nhóm ĐC (17.9% so với 3.4% và 46.4% so với 34.5%). Tỷ lệ BSNT ở mức trung
bình của nhóm TN thấp hơn nhóm ĐC (35.7% so với 62.1%).
Kết quả TN lần 2 về hành vi y đức được biểu diễn trên biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 2)
Nhóm TN
Nhóm ĐC
62.1
46.4
34.5
35.7
17.9
3.4
0
0
70 60 50 40 30 20 10 0
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Biểu đồ 4.6: Kết quả hành vi y đức của nhóm TN, ĐC sau TN giai đoạn 2
156
4.3.4. Đánh giá kết quả TN giai đoạn 3 - Đánh giá kết quả về ý thức y đức giai đoạn 3
Việc đánh giá về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức ở giai đoạn 3 được tiến hành sau khi kết thúc phần TN sư phạm. Chính vì vậy sẽ có
rất nhiều thay đổi về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của BSNT.
Kết quả về ý thức y đức của BSNT ở giai đoạn này được tổng hợp trên bảng sau:
Bảng 4.13: Các tham số về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)
Nhóm TN 28 6 10 7.68 1.33 17.9 67.9 14.3 0
Nhóm ĐC 29 5 9 7.31 1.42 10.3 72.4 17.2 0
Phân tích kết quả bảng trên cho thấy: ĐTB của cả nhóm TN và nhóm ĐC đã tăng nhanh và nhiều so với TN giai đoạn 2. ĐTB của nhóm TN cao hơn so
với nhóm ĐC (7.68% so với 7.31%) sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với
p=0.183; Tỷ lệ BSNT có ý thức y đức tốt của nhóm TN cao hơn rất nhiều so với
nhóm ĐC (17.9% so với 10.3%). Tỷ lệ BSNT có ý thức y đức trung bình trong
nhóm TN thấp hơn so với nhóm ĐC (14.3% so với 17.2%). Với các tham số trên chúng tôi tính được Q (hệ số đánh giá vững chắc của tri thức). Q = 1.22 > 1.
Điều này chứng tỏ các biện pháp PTYĐ của nhóm TN vững chắc hơn.
chúng tôi biểu diễn ở biểu đồ sau:
(Tỉ lệ % về ý thức y đức giai đoạn 3)
Để so sánh kết quả về ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau TN lần 3,
Nhóm TN
Nhóm ĐC
72.4
67.9
80
60
40
17.3
17.9
14.3
10.3
20
0
0
0
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Biểu đồ 4.7: Kết quả ý thức y đức của nhóm TN và ĐC sau giai đoạn 3
157
- Đánh giá kết quả về thái độ y đức giai đoạn 3
Bảng 4.14: Các tham số về thái độ y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Rất tích cực (%) Tích cực (%) Bình thường (%) Yếu (%)
Nhóm TN 28 6 10 7.57 1.14 0.15 28.6 50.0 21.4 0
Nhóm ĐC 29 5 9 6.79 1.05 0.15 6.9 55.2 37.9 0
Phân tích bảng trên, chúng tôi nhận thấy: điểm thấp nhất của nhóm TN
là 6 và điểm thấp nhất của nhóm ĐC là 5; ĐTB của 2 nhóm TN và ĐC đều
tăng so với TN giai đoạn 2. Nhóm TN có ĐTB cao hơn nhóm ĐC (7.57% so
với 6.79%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.0095 (T-student test);
Tỷ lệ BSNT có thái độ y đức rất tích cực của nhóm TN cao hơn rất nhiều so
với nhóm ĐC (28.6% so với 6.9%). Trong khi đó nhóm TN có tỷ lệ ở mức
bình thường về thái độ y đức nhỏ hơn so với nhóm ĐC (21.4% so với 37.9%).
Điều này chứng tỏ nhóm TN và ĐC ngày càng có sự khác biệt.
(Tỉ lệ % về thái độ y đức giai đoạn 3)
Kết quả về thái độ y đức sau TN giai đoạn 3 thể hiện qua biểu đồ sau:
Nhóm TN
Nhóm ĐC
55.2
60
50
50
37.9
40
28.6
30
21.4
20
6.9
10
0
0
0
Rất tích cực
Tích cực
Bình thường
Tiêu cực
Biểu đồ 4.8: Kết quả thái độ y đức của nhóm TN và ĐC sau giai đoạn 3
158
- Đánh giá kết quả hành vi y đức giai đoạn 3
Bảng 4.15: Các tham số về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC giai đoạn 3
Các tham số và xếp loại
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
n (số BSNT) min (điểm thấp nhất) max (điểm cao nhất) X: trung bình cộng S: ĐLC CV: Hệ số biến thiên (%) Loại giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)
Nhóm TN 28 6 10 7.71 1.36 0.176 21.4 57.1 21.4 0
Nhóm ĐC 29 5 9 6.38 1.18 0.185 3.5 37.9 58.6 0
Phân tích kết quả bảng trên chúng tôi nhận thấy: Điểm min của nhóm
TN đã tăng hơn so với lần TN thứ 2 (từ 5 lên 6 điểm). ĐTB của cả 2 nhóm có
tăng lên so với TN lần 2, nhưng mức tăng còn chậm so với ý thức y đức và thái
độ y đức. Điều này chứng tỏ sự tiến bộ về hành vi y đức còn chậm hơn so với ý
thức y đức và thái độ y đức; ĐTB của nhóm TN cao hơn so với nhóm ĐC
(7.71% so với 6.38%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p=0.0002 (T-
student test); Tỷ lệ BSNT có hành vi y đức loại giỏi ở nhóm TN cao hơn nhiều
so với nhóm ĐC (21.4% so với 3.5%). Trong khi đó tỷ lệ BSNT có hành vi y
đức trung bình của nhóm TN lại thấp hơn nhóm ĐC (21.4% so với 58.6%).
Như vậy, sự khác biệt về hành vi y đức của nhóm TN và ĐC ngày càng lớn.
Kết quả về hành vi y đức của BSNT sau TN giai đoạn 3 được biểu diễn
(Tỉ lệ % hành vi y đức giai đoạn 3)
trên biểu đồ sau:
Nhóm TN
Nhóm ĐC
58.6
57.2
60
37.9
50 40
21.4
21.4
30 20
3.5
0
0
10 0
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Biểu đồ 4.9: Kết quả hành vi y đức ở nhóm TN và ĐC sau TN giai đoạn 3
159
4.3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm theo các biểu hiện y đức của
người thầy thuốc quân đội dưới tác động của thực nghiệm
- Đánh giá sự phát triển về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức
dưới tác động TN
Y đức người TTQĐ là một chỉnh thể do đó về ý thức y đức, thái độ y
đức và hành vi y đức có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng, bổ sung và tác
động qua lại với nhau. Phân tích kết quả TN giai đoạn 1, 2 và 3 cho thấy R
(hệ số tương quan) luôn lớn hơn 0, tức là giữa ý thức y đức với thái độ y đức,
thái độ y đức với hành vi y đức và hành vi y đức với ý thức y đức đều có
tương quan nhất định: Nếu người TTQĐ có ý thức y đức đúng thì cũng sẽ có
thái độ y đức tích cực. Khi ý thức y đức và thái độ y đức phát triển theo chiều
hướng tích cực thì cũng kéo theo sự phát triển của hành vi y đức. Ngược lại
khi hành vi y đức phát triển sẽ ảnh hưởng tác động trở lại làm ý thức y đức và
thái độ y đức của người TTQĐ sâu sắc hơn, chính xác hơn và cụ thể hơn.
Khi người TTQĐ không hiểu hoặc nhận thức không đúng đắn, không
chính xác về ý thức y đức thì cũng không thể có thái độ y đức đúng và cũng
không thể có hành vi biểu hiện y đức đúng. Đồng thời, khi hành vi y đức và
thái độ y đức không tích cực thì sẽ hạn chế về ý thức y đức. Do đó có thể
khẳng định: Mối quan hệ giữa ý thức y đức với thái độ y đức, thái độ y đức
với hành vi y đức và hành vi y đức với ý thức y đức ở mỗi người TTQĐ
là những quan hệ biện chứng. Như vậy, sự phát triển đồng bộ của ý thức y
đức, thái độ y đức và hành vi y đức sẽ hình thành và phát triển những phẩm
chất đạo đức y nghiệp cho người TTQĐ.
- Đánh giá sự tương quan giữa các tiêu chí về ý thức y đức, thái độ y
đức và hành vi y đức dưới tác động TN
Mối tương quan giữa ý thức y đức với thái độ y đức với hành vi y đức
là mối quan hệ biện chứng, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ. Kết
quả này rất phù hợp với quy luật vì khi người TTQĐ có ý thức y đức tốt thì
dưới tác động của các biện pháp phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay
160
sẽ có thái độ y đức và hành vi y đức tốt. Khi người TTQĐ đã có ý thức y
đức và thái độ y đức tốt thì họ sẵn sàng thực hiện những hành vi y đức tốt,
nhất là khi họ có ý thức và động cơ tốt thì hành vi y đức càng dễ dàng được
thực hiện và phát triển tốt.
Kết quả tính toán hệ số tương quan sau 3 giai đoạn TN đều cho thấy
nhận định trên là hoàn toàn chính xác. Kết quả này cũng đặt ra một vấn đề
là công tác giáo dục PTYĐ phải được tiến hành đồng bộ, phải có những tác
động toàn diện cả 3 mặt: ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức.
Các kết quả tính toán cho thấy: ý thức y đức và thái độ y đức của người
TTQĐ phát triển nhanh hơn so với sự phát triển của hành vi y đức dưới sự tác
động TN. Kết quả này phù hợp với quy luật: hành vi y đức là kết quả cuối
cùng của sự phát triển ý thức y đức và thái độ y đức, của công tác giáo dục
nhằm hình thành, PTYĐ ở người thầy thuốc.
Nếu như ý thức y đức và thái độ y đức phát triển ở giai đoạn đầu, sau
đó chậm dần ở các giai đoạn sau thì hành vi y đức phát triển chậm ở giai đoạn
đầu và nhanh dần ở các giai đoạn sau đó. Điều này đặt ra một vấn đề là công
tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức của người thầy thuốc phải là một quá
trình lâu dài, liên tục, hệ thống, không thể nóng vội và chủ quan.
thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của nhóm TN phát triển cao hơn so
với nhóm ĐC. Điều này chứng tỏ tính hiệu quả của các biện pháp PTYĐ của
người TTQĐ đã đề xuất. Kết quả này cũng khẳng định mối quan hệ biện
chứng, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các mặt ý thức y đức, thái độ y
đức và hành vi y đức.
Chúng tôi biểu thị kết quả sự phát triển y đức trên các mặt ý thức y đức,
thái độ y đức và hành vi y đức trong các biểu đồ sau:
Kết quả phân loại PTYĐ của người TTQĐ theo các mặt cho thấy: ý
161
* Kết quả sự phát triển Ý thức y đức của nhóm TN và nhóm ĐC
1. Nhãm thùc nghiÖm
BiÓu ®å 4.10 a: Sù ph¸t triÓn ý thøc y ®øc cña BSNT díi t¸c ®éng TN
2. Nhãm ®èi chøng
BiÓu ®å 4.10b: Sù ph¸t triÓn ý thøc y ®øc cña BSNT ở nhóm ĐC
162
* Kết quả sự phát triển Thái độ y đức của nhóm TN và nhóm ĐC
1. Nhãm thùc nghiÖm
Biểu đồ 4.11a. Sự phát triển Thái độ y đức của BSNT dưới tác động TN
2. Nhãm ®èi chøng
Biểu đồ 4.11b. Sự phát triển Thái độ y đức của BSNT ở nhóm ĐC
163
* Kết quả sự phát triển Hành vi y đức của nhóm TN và nhóm ĐC
1. Nhãm thùc nghiÖm
Biểu đồ 4.12a. Sự phát triển Hành vi y đức của BSNT dưới tác động TN
2. Nhãm ®èi chøng
BiÓu ®å 4.12b: Sù ph¸t triÓn Hµnh vi y ®øc cña BSNT ở nhóm ĐC
164
4.3.6. Đánh giá tổng hợp về kết quả thực nghiệm Bảng 4.16: kết quả tổng hợp của nhóm TN và ĐC
Phân loại
Giai đoạn 2 (Tỷ lệ %)
Giai đoạn 3 (Tỷ lệ %)
Mức tốt Mức khá Mức trung bình Mức yếu
5 (17.9%) 17 (60.7%) 6 (21.4%) 0 (0.0%)
13 (46.4%) 13 (46.4%) 2 (7.1%) 0 (0.0%)
Mức tốt Mức khá Mức trung bình Mức yếu
Giai đoạn 1 (Tỷ lệ %) Nhóm TN 2 (7.1%) 11 (39.3%) 13 (46.5%) 2 (7.1%) Nhóm ĐC 0 (0.0%) 7 (24.1%) 19 (65.5%) 3 (10.3%)
1 (3.5%) 9 (31.0%) 17 (58.6%) 2 (6.9%)
5 (17.2%) 15 (51.7%) 9 (31.1%) 0 (0.0%)
Phân tích số liệu nêu trong bảng trên, chúng tôi nhận thấy: - Kết quả mức tốt và khá ở nhóm TN trong tất cả các giai đoạn đều cao hơn nhóm ĐC. Cụ thể: Mức tốt: Nhóm TN: 7.1%); 17.9% và 46.4% trong khi đó nhóm ĐC: 0.0%; 3.5% và 17.2%; Mức khá: Nhóm TN: 39.3%; 60.7% và 46.4% trong khi đó nhóm ĐC: 24.1%; 31.0% và 51.7%.
- Trong khi đó ở nhóm ĐC, thì số thầy thuốc xếp loại trung bình và yếu lại cao hơn so với nhóm TN. Cụ thể: mức trung bình: Nhóm TN: 46.5%; 21.4% và 7.1% thấp hơn nhóm ĐC: 65.5%; 58.6% và 31.1%; Mức yếu: nhóm TN: 7.1%; 0% và 0% thấp hơn nhóm ĐC: 10.3%; 6.9% và 0%.
- Kết quả trên chứng tỏ các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay
có hiệu quả tại nhóm TN. Chúng tôi biểu diễn kết quả trên qua biểu đồ 4.13:
1. Nhóm TN
Tốt
Tốt
Tốt
Yếu
Yếu
Tốt
Khá
TB Yếu
Tố t
Khá
TB
Khá
Tốt
TB
TB
TB
Y ếu
Yếu
Y ếu
Khá
TB
Khá
Khá
Tốt: 6.45% Khá: 37.52% T B: 53.31% Yếu: 2.72%
Tố t: 4 5 .6 2 Khá: 4 5 .4 1 TB: 8 .9 7
Tố t: 1 8.1 7 Khá : 61 .6 8 % TB: 19 .9 5 %
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Giai đoạn 1 2. Nhóm ĐC
Tốt
Yếu
Tốt
Tốt
Khá
Yếu
Tốt
Tốt
Khá
Tốt
Yếu
Khá
TB
Khá
Khá
TB
TB
Y ếu
TB
Y ếu
Yếu
TB
Khá
TB
Tốt: 0.78% Khá: 24.76% T B: 71.74% Yếu: 2.72%
Tốt: 1 8 .89 % Khá : 54 .9 6 % Yếu: 2 6 .15 %
T ốt: 3.87% Khá: 33.79% T B : 61.39% Yếu: 1.15%
Giai đoạn 1
Giai đoạn 3
Giai đoạn 2
Biểu đồ: 4.13: Sự phát triển chung về y đức của BSNT nhóm TN và nhóm ĐC
165
Kết luận chương 4
Thực nghiệm khoa học được tiến hành tại Bệnh viện 103, Học viện Quân
y với nhóm TN và nhóm ĐC có các chỉ số tương đương. TN khoa học được tiến
hành với 02 biện pháp là: Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng
Hồ Chí Minh; Xây dựng môn đạo đức y học để tổ chức giảng dạy trong các nhà
trường và bồi dưỡng ở các ĐVQY. TN được chia làm 3 giai đoạn, và được đánh
giá sau mỗi lần TN để so sánh sự khác biệt giữa 2 nhóm TN và ĐC.
Kết quả TN cho phép chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
Quy trình TN đảm bảo các yêu cầu khoa học, chặt chẽ: Từ đánh giá đầu
vào đến lúc kết thúc giai đoạn TN lần 3. Các kết quả TN có độ tin cậy và các
kết quả về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức của nhóm TN đều
được xếp loại cao hơn so với nhóm ĐC. Điều này chứng tỏ mục tiêu, giả
thuyết thực nghiệm đã được chứng minh sự hợp lý và khoa học của các biện
pháp PTYĐ của người TTQĐ đã đề xuất và TN.
Phân tích kỹ hơn về các kết quả TN chúng tôi nhận thấy, kết quả kiểm
tra sự phát triển về ý thức, thái độ và hành vi y đức của người TTQĐ có sự
tương quan tỷ lệ thuận. Sự tăng lên về ý thức y đức cũng kéo theo sự tăng lên
trong thái độ y đức và hành vi y đức. Tức là, người TTQĐ có ý thức y đức
cao thì cũng có sự phát triển về thái độ y đức và hành vi y đức tương ứng.
hiện nay, sự phát triển về ý thức y đức, thái độ y đức và hành vi y đức có sự
khác nhau về tốc độ phát triển. Nếu như ý thức y đức có kết quả phát triển
nhanh, thì hành vi y đức có sự phát triển chậm hơn. Điều này cũng rất hợp lý
vì hành vi y đức là kết quả cuối cùng của công tác giáo dục hình thành,
PTYĐ, là kết quả của ý thức y đức và thái độ y đức người thầy thuốc.
Sau khi tiến hành TN, chúng tôi xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến
những cán bộ, giảng viên trực tiếp tham gia làm TN. Kết quả thăm dò được
xử lý và chúng tôi nhận thấy:
Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ
166
+ 57/60 (95.0%) giảng viên cho rằng quy trình tiến hành TN sư phạm
(chọn mẫu, mục đích, nội dung, cách thức thực hiện, cách đánh giá) là phù
hợp và đảm bảo những yêu cầu khắt khe của phương pháp TN. Chính vì vậy,
các kết quả TN chính xác và có độ tin cậy.
+ 55/60 (91.60%) giảng viên cho rằng các biện pháp PTYĐ của người
TTQĐ đưa ra và TN có hiệu quả và tạo nên những tác động lớn đến về ý thức y
đức, thái độ y đức và hành vi y đức của người thầy thuốc. Đồng thời, 100%
giảng viên cũng cho rằng những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ hiện nay
mà luận án đề xuất và được tiến hành TN sư phạm không gây ra xáo trộn quá
trình giáo dục, đào tạo và điều trị của người TTQĐ ở Học viện Quân y.
+ 58/60 (96.60%) giảng viên cho rằng việc áp dụng các biện pháp
PTYĐ của người TTQĐ đã TN là rất cần thiết cho quy trình đào tạo người
TTQĐ hiện nay, vì y đức cần phải được hình thành và phát triển ngay từ khi
người thầy thuốc đang trong quá trình đào tạo và hiệu quả hơn với đối tượng
là bác sỹ nội trú.
+ 59/60 (98.30%) giảng viên đề nghị các trường đào tạo thầy thuốc cần
tiếp tục nghiên cứu và áp dụng những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà
Luận án đã đề xuất và TN sư phạm kiểm chứng.
Như vậy, với nội dung và các biện pháp PTYĐ của người TTQĐ đã TN
của những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà công trình này đã nghiên
cứu. Đồng thời, giả thuyết khoa học của Luận án đã được kiểm chứng.
thì mục đích của TN đã đạt được khẳng định tính giá trị khoa học và hiệu quả
167
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Y đức là một trong những yếu tố cơ bản trong nhân cách của người
TTQĐ. Phát triển y đức là hoàn thiện nhân cách của người TTQĐ nhằm nâng
cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và
nhân dân, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. PTYĐ của
người TTQĐ cũng là tham gia vào xây dựng nền đạo đức mới, con người
mới, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong xã hội và
trong quân đội hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng ta về đạo đức của người cách mạng và y đức của
người TTQĐ. Luận án làm rõ sự PTYĐ thông qua trình bày các khái niệm
đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, y đức của người TTQĐ và khái niệm PTYĐ
của người TTQĐ; luận án chỉ ra vai trò của PTYĐ, làm rõ những nội dung
PTYĐ, xây dựng các tiêu chí đánh giá sự PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
Từ những đặc điểm của ngành y và đặc trưng của hoạt động khám chữa
bệnh của TTQĐ. Luận án chỉ ra những nhân tố tác động đến sự PTYĐ của
người TTQĐ. Phân tích, đánh giá tình hình PTYĐ của người TTQĐ hiện nay,
với cả hai mặt ưu điểm và hạn chế trong sự phát triển. Luận án bước đầu nhận
kinh nghiệm và dự báo xu hướng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay.
Để góp phần PTYĐ của người TTQĐ, Luận án đề xuất các biện pháp cơ
bản, chủ yếu, đồng bộ để phát triển y đức trên cả 3 mặt ý thức y đức, thái độ y
đức và hành vi y đức của người TTQĐ, đó là: Kết hợp giáo dục chính trị tư
tưởng với giáo dục pháp luật và đạo đức cho người thầy thuốc quân đội; Tăng
cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng
chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các nhà trường và bồi
dạng và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong PTYĐ, tổng kết một số
168
dưỡng ở các ĐVQY; Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của người
TTQĐ; Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các ĐVQY và thực hiện
nghiêm các quy định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội.
Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu và thời gian, điều kiện
cho phép, đề tài luận án đã được tiến hành TN sư phạm với một số biện pháp.
Kết quả TN sư phạm đã chứng minh tính khoa học, khả thi, hiệu quả của các
biện pháp mà luận án đã đề xuất.
Phát triển y đức của người TTQĐ hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa
trực tiếp, cấp bách; vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài. Đây là đề tài nghiên cứu
vừa có diện rộng, vừa có chiều sâu, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc trên
nhiều phương diện khác nhau. Từ góc độ giáo dục học, luận án đã đạt được
một số kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng
được trong thực tiễn giáo dục, rèn luyện để phát trển y đức của người thầy
thuốc công tác trong lĩnh vực y tế và môi trường quân sự. Trên cơ sở những
kết quả đã đạt được, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện,
phát triển vấn đề nghiên cứu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn cấp thiết khác có liên quan tới đề tài luận án đang đặt ra trong PTYĐ
của người TTQĐ hiện nay cần được nghiên cứu sâu hơn với tư cách là những
đề tài độc lập như: Xây dựng, phát triển, giáo dục y đức trong điều kiện kinh
giáo dục y đức, y đức cho người TTQĐ trong xã hội hiện đại như thế nào v.v.
mà chưa có điều kiện giải quyết sâu trong luận án này.
tế thị trường, mối quan hệ giữa y đức và pháp luật, chất lượng và hiệu quả của
Kiến nghị
1. Đảng, Nhà nước, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu
tranh chống tham nhũng và cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”, khắc phục có hiệu quả các tiêu cực xã hội hiện nay.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, TTQĐ nói riêng có ĐĐCM
trong sáng và lối sống trong sạch, lành mạnh làm tấm gương sáng về đạo đức
169
và về y đức; coi đây là nhiệm vụ thường xuyên để nâng cao chất lượng con
người trong ngành y quân đội, xây dựng môi trường văn hoá về y đức và xây
dựng tập thể đơn vị quân y vững mạnh toàn diện về mọi mặt.
2. Bộ Y tế, ngành Y quân đội cần tiếp tục nghiên cứu phát triển lý luận
giáo dục y đức. Biên soạn tài liệu về những chuẩn mực y đức của người thầy
thuốc và xây dựng chương trình, nội dung giáo dục đạo đức y học với tư cách
là một môn học độc lập với nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về y
đức. Đổi mới nội dung, phương pháp hình thức giáo dục, bồi dưỡng y đức
theo hướng kết hợp giữa y lý, y thuật và y đức phù hợp với đặc điểm hoạt
động của người TTQĐ.
3. Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu đề ra các chế độ, chính sách
hợp lý, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần, bảo đảm đời sống ổn
định cho đội ngũ cán bộ y tế, tương xứng với công việc đặc thù trong lĩnh vực
quân sự. Có chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ y tế ở cơ sở hợp lý và khoa
học. Có chế độ khuyến khích, ưu đãi đối với những người thầy thuốc, sinh
viên, học viên sỹ quan quân y về công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn, biên giới hải đảo xa xôi của Tổ quốc.
4. Các cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan chính trị của các cơ sở
đào tạo nhà trường, học viện quân y, các đơn vị quân y có thể xử dụng kết quả
và có thể áp dụng chương trình môn Đạo đức y học để tổ chức giáo dục cho
sinh viên ngành y, học viên quân y, cán bộ, chiến sĩ quân y, góp phần vào
việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho người TTQĐ.
nghiên cứu của luận án vào biên soạn nội dung và tiến hành công tác giáo dục
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Vũ Hoài Nam (2010), “Giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho học
viên Học viện Quân y”, Tạp chí Nhà trường quân đội, Số 5, tr.52-54, 68.
2. Vũ Hoài Nam (2011), “Giáo dục học quân sự với việc phát triển năng lực
tư duy lý luận cho học viên”, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà
Nội, tr.166-171.
3. Vũ Hoài Nam (2011), “Cán bộ, Đảng viên trong các nhà trường quân đội tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp
chí Nhà trường quân đội, Số 4, tr.03-06.
4. Vũ Hoài Nam (2012), “Định hướng giá trị xã hội - quân sự đúng cho học
viên trong quá trình đào tạo ở Học viện Quân y”, Tạp chí Khoa học
quân sự, Số 8, tr.64-66.
5. Vũ Hoài Nam (2012), “Giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong
đào tạo bác sĩ hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tr.32-34.
6. Vũ Hoài Nam (2012), “Định hướng giá trị chuẩn mực của xã hội và quân
đội cho học viên trong quá trình đào tạo”, Tạp chí Nhà trường quân
đội, Số 6, tr.43-45.
7. Vũ Hoài Nam (2013), “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội theo
tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số
8. Vũ Hoài Nam (2013), “Nâng cao việc tự học cho học viên ở các nhà trường quân
đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học quân sự, Số 8, tr.3-5.
9. Vũ Hoài Nam (2013), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi
dưỡng thế hệ cách mạng vừa “Hồng” vừa “Chuyên” vào công tác đào
tạo cán bộ quân đội”, Tạp chí Nhà trường quân đội, Số 5, tr.23-25.
10. Vũ Hoài Nam (2013), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục y
đức cho học viên sĩ quan quân y ở Học viện Quân y hiện nay”, Chủ
nhiệm đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Quân y, Hà Nội.
170
1, tr.27-30.
11. Vũ Hoài Nam (2014), “Một số yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục y đức cho học viên, sinh viên ở Học viện Quân y hiện nay”, Tạp
chí Nhà trường quân đội, Số 4, tr.35-37.
12. Vũ Hoài Nam (2014), “Xây dựng y đức cách mạng của người thầy thuốc
quân đội trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
quân sự, số 4, tr.50-3.
13. Vũ Hoài Nam (2014), “Nâng cao y đức của người thầy thuốc quân đội
hiện nay”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 9, tr.31-34.
14. Vũ Hoài Nam (2014), “Xây dựng và phát triển y đức người thầy thuốc quân
đội trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Y học Quân sự, Số 301, tr.37-39.
15. Vũ Hoài Nam (2015), “Một số yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục y đức trong đào tạo bác sĩ ở Học viện Quân y hiện nay”, Tạp chí
Khoa học giáo dục, Số 1, tr.170-174.
16. Vũ Hoài Nam (2015), “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong đào tạo
người thầy thuốc ở Học viện Quân y hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo khoa
171
học (Bộ Công an - Bộ Quốc phòng), Tháng 4, năm 2015, tr.305-309.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TIẾNG VIỆT
1. Bộ Quốc phòng, Cục Quân y (1996), Lịch sử Quân y Việt Nam, Nxb
QĐND, Hà Nội.
2. Bộ Y tế (1996), 12 điều y đức, Qui định về y đức, HN.
3. Bộ Y tế (1998), Bàn về y đức, Nxb Y học, HN.
4. Bộ Y tế (1999), Quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu, Nxb Y học, HN.
5. Bộ Y tế (2006), Kiến thức - thái độ - kỹ năng cần đạt khi tốt nghiệp bác sĩ
đa khoa, Nxb Y học, HN.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục
trong thời kỳ đổi mới, HN.
7. Nguyễn Thị Hoà Bình (2004), Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Lương y như
từ mẫu”, Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, (Số 2), tr.27-30.
8. Nguyễn Thị Hoà Bình (2006), “Phát huy vai trò của trí thức ngành y tế Việt
Nam trong công cuộc đổi mới”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
9. Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1993), Pháp lệnh hành nghề y -
dược tư nhân, HN.
10. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong
điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay , Nxb CTQG, HN.
11. Cao Văn Cường (2004), “Kế thừa và phát huy y đức, y thuật của đại danh y
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ”, Tạp chí Đông y, (Số 358), tr.10-11.
13. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb CTQG, Hà Nội.
14. Phan Việt Dũng - Trần Văn Thụy (2003), “Quán triệt quan điểm về y đức
của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngành Y tế Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Lý luận chính trị, (Số 3), tr.3-6.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X , Nxb CTQG, HN.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X1, Nxb CTQG, HN.
172
12. Cục Nhà trường (2006), Từ điển Giáo dục học quân sự, Nxb QĐND, HN.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb CTQG, HN.
18. Đảng cộng sản (2013), Quan điểm của Đảng về GD&ĐT trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập, Nxb CTQG, Hà Nội.
19. Đảng bộ Học viện Quân y (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ
Học viện Quân y lần thứ XVIII, Hà Tây.
20. Đảng bộ Học viện Quân y (2001), Nghị quyết về Xây dựng y đức, chống
tiêu cực ở hai bệnh viện, Hà Tây.
21. Đảng bộ Học viện Quân y (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ
Học viện Quân y lần thứ XIX, Hà Tây.
22. Đảng bộ Học viện Quân y (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ
Học viện Quân y lần thứ XX, Hà Tây.
23. Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Văn hoá Thông tin, HN.
24. Đại học Y Hà Nội (2002), Quản lý và chính sách y tế, Nxb Y học, HN.
25. Đại học Y Hà Nội (2010), Đại cương đạo đức y học, HN.
26. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo
(2014), Nxb ĐHSP, HN.
27. Nguyễn Hồng Giang (2009), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công
tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội trong
tình hình mới, ĐTKH cấp BQP, HN.
28. Nguyễn Thị Thanh Hà (2000), Giao tiếp của bác sỹ quân y với NB trong
29. Phạm Minh Hạc (1995), Nghiên cứu con người, giáo dục, phát triển và thế
kỷ XXI, Kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc tế, HN.
30. Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1997), Hải Thượng Y tông Tâm
lĩnh, tập 1, Nxb Y học, HN.
31. Nguyễn Văn Hiền (1992), Đạo đức Y học và y đức Việt Nam, Nxb Y học, HN.
32. Học viện Chính trị (2011), Giáo dục học quân sự với sự nghiệp xây dựng
quân đội về chính trị, Nxb Chính trị - Hành chính, HN.
33. Học viện Chính trị (2013), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo trong nhà trường quân đội hiện nay, Nxb QĐND, HN.
173
quá trình KCB, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, HN.
34. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Giáo trình Đạo đức
học, Nxb CTQG, HN.
35. Học viện Quân y (2002), Một số vấn đề cơ bản về y đức quân sự, Nxb
QĐND, HN.
36. Học viện Quân y (2008), Báo cáo tổng kết về “Phong trào thi đua quyết
thắng năm học 2007- 2008 và tổng kết 10 năm xây dựng đơn vị vững mạnh
toàn diện giai đoạn 1999-2008”, HN.
37. Học viện Quân y (2008), Chương trình giáo dục đại học, HN.
38. Học viện Quân y (2010), Báo cáo tổng kết về Phong trào thi đua quyết
thắng năm học (2009- 2010), HN.
39. Mai Xuân Hợi (2005), Vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện
KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, HN.
40. Phạm Mạnh Hùng (2005), “Suy nghĩ về vinh dự và trách nhiệm của nghề
nghiệp y tế”, Tạp chí Khoa giáo, (Số 2), tr.16-18.
41. Nguyễn Bá Hùng (2010), Giáo dục ĐĐNN cho học viên sư phạm trong nhà
trường quân sự hiện nay, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, HN.
42. Vũ Khiêu (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh truyền thống và nhân loại, Nxb
Khoa học xã hội, HN.
43. Vũ Đăng Khiên (2011), Nghiên cứu giải pháp nâng cao phẩm chất và
năng lực của đội ngũ cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện KTTT
hiện nay, Đề tài cấp BQP, HN.
Hà Nội, tr.354-378.
45. Lịch sử Học viện Quân y (1949-1999), Nxb QĐND, Hà Nội, 1999.
46. Lịch sử Học viện Quân y (1949-2009), Nxb QĐND, Hà Nội, 2009.
47. Nguyễn Thị Liên (2007), Vai trò của giá trị đạo đức truyền thống với xây
dựng đạo đức của con người Việt Nam trong nền KTTT hiện nay, Luận văn
Thạc sĩ Triết học, HN.
48. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Lút Vích Phoi- ơ-bắc và sự cáo chung của triết
học cổ điển Đức, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, HN, tr.387-528.
174
44. V.I. Lênin (2005), Nhiệm vụ đoàn thanh niên, Toàn tập, tập 41, Nxb CTQG,
49. Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân (1975), Nxb QĐND, HN.
50. Hồ Chí Minh về đạo đức (1993), Nxb CTQG, HN.
51. Hồ Chí Minh (2004), Sửa đổi lối làm việc, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG,
HN, tr.229-306.
52. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị quân y, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, HN, tr.395-396.
53. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc, Toàn tập,
tập 7, Nxb CTQG, HN, tr.88-89.
54. Hồ Chí Minh (2004), Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, Toàn tập, tập 7, Nxb
CTQG, HN, tr.476-477.
55. Hồ Chí Minh (2004), ĐĐCM, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, HN, tr.28-293.
56. Hồ Chí Minh (2004), Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách người tốt,
việc tốt, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, HN, tr.547-559.
57. Hồ Chí Minh (2004), Nâng cao ĐĐCM, quét sạch chủ nghĩa cá nhân,
Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, HN, tr.438-439.
58. Nguyễn Chí Mỳ (1999), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền
KTTT với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý nước ta hiện nay,
Nxb CTQG, HN.
59. Lê Văn Ngọc (2005), “Một số yêu cầu khắc phục ảnh hưởng của lối sống
thực dụng đối với các học viên ở các nhà trường quân đội”, Thông tin
60. Phạm Văn Nhuận (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐCM của người cán
bộ quân đội, Nxb QĐND, HN.
61. Hoàng Thị Kim Oanh (2008), Y đức và vấn đề nâng cao hiệu quả giáo dục
y đức cho sinh viên ngành y, Tạp chí Triết học, (Số 5), tr.75-77.
62. Philip Burnard ( 2001), Các kỹ năng giao tiếp có hiệu quả của cán bộ y tế, Nxb
Y học, HN.
63. Bùi Đình Phong (2006), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân”, Tạp chí Khoa giáo, (Số 3), tr.12-13.
175
Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, (Số 101), tr.38-40.
64. Nguyễn Quang Phúc (2008), Các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua
dạy học các môn y học chuyên ngành, Đề tài khoa học cấp ngành, HN.
65. Đỗ Nguyên Phương (1996), Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay, Nxb Y học, HN.
66. Đỗ Nguyên Phương (1998), Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển
ở Việt Nam, Nxb Y học, HN.
67. Đỗ Nguyên Phương (1999), Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb
Y học, HN.
68. Đào Duy Quát (2007), Giữ vững ổn định chính trị- xã hội khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, Nxb QĐND, HN, tr.18-28.
69. Nguyễn Huy Quang (2010), Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế
ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ Quản lý hành chính công, Hà Nội.
70. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1998), Luật bảo vệ sức khỏe
nhân dân, HN.
71. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (2009), Luật Khám chữa bệnh, Nxb
Y học, HN.
72. Nguyễn Đức Thắng (2007), “Giáo dục, rèn luyện ĐĐCM cho cán bộ,
chiến sĩ quân đội theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Quân
huấn, (Số 3), tr.13-15.
74. Tổ chức Y tế thế giới (2001), Những hướng dẫn của WHO về bảo đảm chất lượng
giáo dục y học cơ bản trong khu vực Tây Thái bình dương, Nxb Y học, HN.
75. Tổng cục Chính trị (2001), Giáo trình Đạo đức học quân sự, Nxb QĐND, HN.
76. Tổng cục Chính trị (2001), Nâng cao ĐĐCM của đội ngũ sĩ quan cấp phân
đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb QĐND, HN.
77. Tổng cục Chính trị (2002), Nâng cao y đức cách mạng của cán bộ, nhân
viên trong các viện quân y hiện nay, Nxb QĐND, HN.
78. Tổng cục Chính trị (2010), Kỷ yếu phương pháp dạy học các môn
KHXH&NV của các NTQĐ, Nxb QĐND, HN.
176
73. Lê Ngọc Trọng (1997), Y đức, Quản lý bệnh viện, Nxb Y học, HN.
79. Tổng cục Chính trị (2013), Giáo dục học quân sự, Nxb QĐND, HN.
80. Tổng hội Y học Việt Nam (2013), Bác Hồ với cán bộ y tế - Cán bộ y tế
với Bác Hồ, Nxb Từ diển bách khoa, HN.
81. Tuệ Tĩnh và nền y dược cổ truyền Việt Nam (1975), Nxb Y học, HN.
82. Nguyễn Văn Thăng (1996), “Phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác bảo đảm quân y”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, TCTC.
83. Ngô Minh Tuấn (2007), Những nét tâm lý-xã hội cần có ở người Việt Nam khi
hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, Nxb QĐND, HN, tr.179-184.
84. Nguyễn Anh Tuấn (2008), Những biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên sư
phạm trong nền KTTT ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Giáo dục học, HN.
85. Nguyễn Văn Thưởng (1996) “Niềm tự hào nửa thế kỷ xây dựng, phục vụ và
trưởng thành của Cục Quân y”, Tạp chí Y học quân sự, Cục Quân y.
86. Nguyễn Văn Tường, Lê Nam Trà, Đỗ Đức Vân và cộng sự (2006), Đạo đức
trong nghiên cứu y sinh học, Nxb Y học, HN.
87. Quý Long - Kim Thư (2013), Những bậc thầy nổi danh về y đức, Nxb
Y học, HN.
88. Nguyễn Quang Uẩn (1995), Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và
giáo dục giá trị, Đề tài KX-07 cấp nhà nước, HN.
cho sĩ quan trẻ hiện nay, Nxb QĐND, HN.
90. Nguyễn Văn Việt (2006), Vấn đề định hướng giá trị đạo đức trong nghiên cứu
và ứng dụng y - sinh học hiện đại, Tạp chí Triết học, (Số 3), tr. 41- 45.
91. Phạm Viết Vượng (2012), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb
ĐHQG, HN.
92. Phạm Viết Vượng (2014), Giáo dục học, Nxb ĐHSP, HN.
93. Vụ Khoa học và đào tạo - Bộ Y tế (2001), Giáo dục và đào tạo nhân lực y
tế, Nxb Y học, HN.
177
89. Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự (2010), Bồi dưỡng lối sống XHCN
II. TIẾNG ANH
94. Dodson J. A., Keller A. S. (2004), Medical Student Care of Indigent
Populations, JAMA 29, pg.121.
95. John Rees P., Gwyn Wiliams D. (1995), Ethics, Principles of clinical
medicine, London, pg, 6-8.
96. Johnston C., Haughton P. (2007), Medical students' perceptions of their
ethics teaching, J. Med. Ethics 33, pg. 418-422.
97. Pappworth M. H. (1978), Ethical Precepts, A Primer of Medicine,
Butterworths Heinemann, pg. 1-6.
98. Nuremberg code. (1949) Regulations and Ethical Guidelines,Pg.5-6.
99. Nigel C. H. Stott (1983), The Refuge: Ethics, practices and problems,
Primary Health care, Verlag Berlin Heidelberg, pg. 93-111.
100. Robert K., Mc Kinley and Pauline A. Mc Avoy (1996), Ethics in practice,
Clinical Method, Butterworth Heinemann, pg. 50-165.
101. Falk R (1999), Predatory globalisation: a critique, New York: Polity Press.
102. Ferris L. E., Singer P. A., Naylo C. D. (2004), Better government in
academic health sciences centres: moving beyond the Olivieri/Apotex
Affair in Toronto, J. Med. Ethics 30, pg.25-29.
103. World Health Organization (2005), Handbook for Good clinical
Research Practice (GCP), Guidance for implementation.
104. Global adminstrative law cases and materials (2006), University of
105. Richard C.W.Hall MD. ”Ethical and Legal implications of Managed
care”, Pubmed 1997 May;19(3):p.200-208
106. World Medical Association (2008), Declaration of Helsinki 59th DOH/Oct.2008
107. The Canon of Medicine of Avicenna (1973), Ams Press, Manufacture in
the United State of America.
108. Babylonian Law - The Code of Hammurabi – Yale University -
http://avalon.law.yale.edu/ancient/hammpre.asp.
109. Code of Hammurabi - Yale University - http://www.commonlaw.
com/Hammurabi.html.
178
Rome "La Sapienza" Public Law Institue.
M.01
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho thầy thuốc công tác ở tuyến bệnh viện trung ương)
Thưa đồng chí!
Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.
Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.
Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy
2. Quan trọng 4. Không quan trọng
thuốc quân đội?
1. Rất quan trọng 3. Bình thường 5. Phân vân Câu 2. Lý do đồng chí trở thành người thầy thuốc quân đội?
TT
Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội
Hoàn toàn sai
Nửa đúng, nửa sai
Hoàn toàn đúng
Sai nhiều hơn đúng
Đúng nhiều hơn sai
1 Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với
quân đội, xã hội
2 Đây là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát
triển nghề nghiệp
4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên
môn
6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan
hệ xã hội
9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm
sóc gia đình
Lý do khác ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………
179
Câu 3. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân
đội hiện nay là:
TT Biểu hiện y đức của người thầy thuốc
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
quân đội
Rất không đồng ý
1 Thể hiện rõ phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với
chuẩn mực y học và luật pháp
3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng,
hết sức cứu chữa bệnh nhân
7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà
người bệnh được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân và
gia đình bệnh nhân
12 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám chữa bệnh
16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám
chữa bệnh
17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.
20 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi
ích tài chính của cá nhân
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy
(cấp trên) của mình
180
TT Biểu hiện y đức của người thầy thuốc
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
quân đội
Rất không đồng ý
23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với đồng
nghiệp
24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp
làm việc khám, chữa bệnh
25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh
26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo dục
sức khoẻ cộng đồng
28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..
Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị của đồng chí quan tâm đến việc giáo
2. Quan tâm
1. Rất quan tâm
4. Ít quan tâm
3. Bình thường
6. Khó trả lời
5. Không quan tâm
dục, bồi dưỡng y đức cho đội ngũ thầy thuốc trong đơn vị ở mức độ nào?
Câu 5. Xin đồng chí cho biết sự nhất trí của bản thân về các vấn đề
dưới đây:
TT
Nội dung
Hoàn toàn sai
Sai nhiều hơn đúng
Đúng nhiều hơn sai
Hoàn toàn đúng
1
Nửa đúng, nửa sai
2
3
4
5
Tôi luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị ( Bộ môn, Khoa) Tôi luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh Tôi luôn là người có thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong khám, chữa bệnh Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là “Lương y như từ mẫu”
181
TT
Nội dung
Hoàn toàn sai
Sai nhiều hơn đúng
Đúng nhiều hơn sai
Hoàn toàn đúng
6
Nửa đúng, nửa sai
7
8
9
Tôi mong muốn có sự phản hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám, chữa bệnh của mình Tôi rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn Tôi luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp Tôi cảm thấy thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn
10 Tôi thực sự yêu thích công việc
mình đang đảm nhiệm
11 Tôi luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề thầy thuốc quân đội
Câu 6. Theo đồng chí, các thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực
hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh:
TT
Nội dung
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn
2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh
3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với
bệnh nhân
4
Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về
chế độ, chính sách
5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh
6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân
7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và GĐ bệnh nhân
9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,
chữa bệnh
10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh
11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn
182
Nội dung
TT
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn
lợi ích tài chính của cá nhân
14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.
15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho
đồng nghiệp
19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với
đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh
21 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh của đồng nghiệp
22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
25 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
Câu 7. Lãnh đạo, chỉ huy ở đơn vị đồng chí công tác đã thực hiện
các công việc sau đây như thế nào?
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức cách mạng, đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc
2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc
3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì người bệnh cho đội ngũ thầy thuốc 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho đội ngũ thầy thuốc
183
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
5 Coi trọng GD truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc 6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục phát triển y đức cho đội ngũ thầy thuốc
7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng, phát triển y đức phù hợp với đối tượng
9
8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội Phát triển y đức trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc
10 Xây dựng ở người thầy thuốc quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh
11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh 12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự trau dồi, rèn luyện y đức
13 XD tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức
Câu 8. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở
đơn vị mình hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào:
TT
Nội dung đánh giá
Kém
Yếu
Khá
Tốt
Trung bình
1 Lập trường tư tưởng
2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y
3 Năng lực chuyên môn
4 Tinh thần trách nhiệm
5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao
6 Lòng yêu nghề
7 Tình yêu thương người bệnh
8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao
trình độ chuyên môn
9 Tính dân chủ
10 Tính kỷ luật
11 Tính khiêm tốn
184
TT
Nội dung đánh giá
Kém
Yếu
Khá
Tốt
Trung bình
12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,
chữa bệnh
16 Tích cực đấu tranh chống các biểu
hiện tiêu cực
Câu 9. Theo đồng chí, những nhân tố nào dưới đây đang tác động
làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:
Mức độ tác động
TT
Bình
Rất
Các yếu tố tác động
Rất yếu
Yếu
Mạnh
thường
mạnh
1 Mặt trái của cơ chế thị trường
Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa
2
đế quốc
Thiếu tích cực, chủ động, tự giác
trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của
3
đội ngũ thầy thuốc
Sự bất cập trong công tác quản lý,
4
giáo dục y đức
Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn
5
nhiều khó khăn
6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm
Yếu tố khác: ………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………..
Câu 10. Nguyện vọng của đồng chí hiện nay? 1. Tiếp tục công tác bình thường 2. Đi học nâng cao trình độ chuyên môn 3. Được công tác tại các bệnh viện tuyến sau 4. Được chuyển vùng công tác 5. Chuyển công tác sang Bệnh viện dân sự 6. Xuất ngũ theo chế độ 7. Nguyện vọng khác ………………………………………………
185
Câu 11. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện
nay, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?
Rất
Không
Lưỡng
Đồng ý
Rất
TT
không
đồng ý
lự
đồng ý
Các biện pháp
đồng ý
Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng
với giáo dục pháp luật và đạo đức
1
cho người thầy thuốc quân đội.
Tăng cường giáo dục y đức cách
2
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xây dựng chương trình môn đạo
đức y học để giảng dạy trong các
3
nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn
vị quân y
Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn
luyện y đức của người thầy thuốc
4
quân đội
Xây dựng môi trường y đức lành
mạnh trong các đơn vị quân y và
5
thực hiện nghiêm các quy định của
pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội
Biện pháp khác………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………..
Câu 12. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Đồng chí quan sát thấy một đồng nghiệp đang thực hành lâm sàng sai về mặt
chuyên môn. Đồng chí biết rằng thực hành sai như vậy gây ảnh hưởng đến bệnh nhân. Tuy
nhiên, mức độ sai sót không lớn và sẽ không gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Can thiệp ngay để bệnh nhân không chịu ảnh hưởng, cho dù hậu quả không lớn.
2. Đợi đồng nghiệp làm xong, sau đó sẽ trao đổi rút kinh nghiệm chuyên môn.
3. Báo cáo với cấp trên về sai sót này.
4. Không làm gì bởi vì sai sót không lớn và không gây hậu quả nghiêm trọng.
5. Khó trả lời.
186
Sau đợt đánh giá của đoàn kiểm tra bao gồm các chuyên gia lâm sàng trong lĩnh
vực đồng chí đang làm việc, đồng chí bị xếp vào nhóm thầy thuốc có chất lượng khám và
điều trị kém trong đơn vị.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Yêu cầu xem lại mức độ chính xác của những thông tin mà dựa trên đó đoàn
kiểm tra sử dụng để đánh giá.
2. Đề nghị họp đối chất với đoàn kiểm tra.
3. Quyết định dành thêm thời gian cho công tác thăm khám lâm sàng.
4. Quyết định học thêm, đọc thêm tài liệu để cải thiện chất lượng công việc.
5. Không làm gì, bởi vì điều đó không quan trọng đối với đồng chí.
Câu 13. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Một bệnh nhân đang được đồng chí điều trị, người bệnh nhân đó cùng người nhà đến
thăm đồng chí và biếu một món quà nhỏ (ít có giá trị về vật chất) để cảm ơn. Trong quá trình
điều trị, đồng chí biết rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế trung bình.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Vui vẻ nhận vì đó là nét phong tục của người Việt Nam và mọi người đều làm
như thế.
2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.
3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.
Câu 14. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Một bệnh nhân đã được đồng chí điều trị khỏi bệnh, người bệnh nhân đó cùng người nhà
đến thăm đồng chí và gửi một chiếc phong bì để cảm ơn. Trong quá trình điều trị, đồng chí biết
rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế không đến mức quá khó khăn.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Vui vẻ nhận vì đồng chí đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi cho bệnh nhân đó.
2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.
3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.
187
Câu 15. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Câu 16. Trong 3 năm qua, đồng chí có trực tiếp gặp phải trường
hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng tại nơi đồng chí công
Nếu có, trong trường hợp gần đây, đồng chí đã làm gì?
a. Không trao đổi với đồng nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan.
b. Báo cáo trường hợp đó với cơ quan hoặc người có trách nhiệm.
c. Trao đổi riêng với bác sĩ đó về những sai sót đã xảy ra.
tác không?
Vì sao đồng chí đã không làm gì?
(chỉ trả lời câu này nếu nhất trí với mục a của câu 16).
a. Sợ bị trả thù
b. Không biết phải báo cáo với ai
c. Nghĩ rằng đã có ai đó giải quyết vấn đề này rồi
d. Tin rằng báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì
e. Nghĩ rằng đó không phải là trách nhiệm của mình
f. Cho rằng sai sót đó cũng có thể xảy ra với mình
g. Sợ bị mọi người đánh giá là người không tốt
h. Sợ rằng người đó sẽ bị xử lý nặng nếu mình báo cáo
i. Vì người đó có tuổi đời, tuổi quân, tuổi nghề nhiều hơn đồng chí
k. Lý do khác: ………………………………………………………
1. Đồng chí tốt nghiệp trường:
Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;
Năm tốt nghiệp: ……………..
2. Hiện nay là: GS ; PGS ; Tiến sĩ ; Thạc sĩ ; BSCKII ; BSCKI ; BS
; Dược sĩ ĐH ; Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Y tá ;
Chức vụ khác
3. Giới tính:
Nam:
Nữ
Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
188
M.02
Phụ lục 2: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho thầy thuốc công tác ở tuyến bệnh viện cơ sở)
Thưa đồng chí!
Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.
Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.
Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy
2. Quan trọng 4. Không quan trọng
thuốc quân đội?
1. Rất quan trọng 3. Bình thường 5. Phân vân Câu 2. Lý do đồng chí trở thành người thầy thuốc quân đội?
TT
Lý do trở thành người thầy thuốc quân đội
Hoàn toàn sai
Nửa đúng, nửa sai
Hoàn toàn đúng
Sai nhiều hơn đúng
Đúng nhiều hơn sai
1 Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với
quân đội, xã hội
2 Đây là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát
triển nghề nghiệp
4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành
chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan
hệ xã hội
9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm
sóc gia đình
Lý do khác ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………
189
Câu 3. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân
đội hiện nay là:
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Rất không đồng ý
1
Thể hiện rõ phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”
2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với
chuẩn mực y học và luật pháp
3 Có thái độ nghiêm túc trong khám
chữa bệnh
4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân 7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà
người bệnh được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và gia đình bệnh nhân
12 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám chữa bệnh
16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám
chữa bệnh
17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.
20 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn lợi
ích tài chính của cá nhân
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
190
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Rất không đồng ý
23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với
đồng nghiệp
24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh
26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
Biểu hiện khác: …………………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………………………….
Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị của đồng chí quan tâm đến việc giáo
2. Quan tâm
1. Rất quan tâm
4. Ít quan tâm
3. Bình thường
6. Khó trả lời
5. Không quan tâm
dục, bồi dưỡng y đức cho đội ngũ thầy thuốc trong đơn vị ở mức độ nào?
Câu 5. Xin đồng chí cho biết sự nhất trí của bản thân về các vấn đề
dưới đây:
Hoàn toàn sai
Hoàn toàn đúng
TT
Nội dung
Nửa đúng, nửa sai
Đúng nhiều hơn sai
Sai nhiều hơn đúng
1 Tôi luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị ( Bộ môn, Khoa)
2 Tôi luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh
3 Tôi luôn là người có thái độ nghiêm
túc trong khám, chữa bệnh
4 Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong
khám, chữa bệnh
5 Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là
“Lương y như từ mẫu”
191
Hoàn toàn sai
Hoàn toàn đúng
TT
Nội dung
Nửa đúng, nửa sai
Đúng nhiều hơn sai
Sai nhiều hơn đúng
6 Tôi mong muốn có sự phản hồi từ người bệnh để điều chỉnh hoạt động khám, chữa bệnh của mình
7 Tôi rất tích cực tự học tập nâng cao
trình độ chuyên môn
8 Tôi luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp
9 Tôi cảm thấy thoải mái khi tham gia
các hoạt động chuyên môn
10 Tôi thực sự yêu thích công việc
mình đang đảm nhiệm
11 Tôi luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề thầy thuốc quân đội
Câu 6. Theo đồng chí, các thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực
hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh:
TT
Nội dung
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên
môn
2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh
3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với
bệnh nhân
4
Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về
chế độ, chính sách
5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh
6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân
7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và GĐ bệnh nhân
9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,
chữa bệnh
10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh
11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn
192
Nội dung
TT
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn
lợi ích tài chính của cá nhân
14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.
15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho
đồng nghiệp
19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với
đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh
21 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong khám, chữa bệnh của đồng nghiệp
22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
25 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
Câu 7. Lãnh đạo, chỉ huy ở đơn vị đồng chí công tác đã thực hiện
các công việc sau đây như thế nào:
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức cách mạng, đạo đức nghề y cho đội ngũ thầy thuốc
2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho đội ngũ thầy thuốc
3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì người bệnh cho đội ngũ thầy thuốc 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho đội ngũ thầy thuốc
193
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho đội ngũ thầy thuốc
6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục phát triển y đức cho đội ngũ thầy thuốc
7 Xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng, phát triển y đức phù hợp với đối tượng
9
8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội Phát triển y đức trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc
10 Xây dựng ở người thầy thuốc quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh
11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh
12 Phát huy tính tích cực chủ động của người thầy thuốc trong tự trau dồi, rèn luyện y đức
13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức
Câu 8. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở
đơn vị mình hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào:
Kém
Yếu
Khá
Tốt
TT
Nội dung đánh giá
Trung bình
1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao
trình độ chuyên môn
9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn
194
Kém
Yếu
Khá
Tốt
TT
Nội dung đánh giá
Trung bình
12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,
chữa bệnh
16 Tích cực đấu tranh chống các biểu
hiện tiêu cực
Câu 9. Theo đồng chí, những nhân tố nào dưới đây đang tác động
làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội:
TT
Các yếu tố tác động
Rất yếu
Yếu
Mạnh
Mức độ tác động Bình thường
Rất mạnh
1 Mặt trái của cơ chế thị trường
2
3
4
5
Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn
6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm
Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..
195
Câu 10. Nguyện vọng của đồng chí hiện nay? 1. Tiếp tục công tác bình thường 2. Đi học nâng cao trình độ chuyên môn 3. Được công tác tại các bệnh viện tuyến sau 4. Được chuyển vùng công tác 5. Chuyển công tác sang Bệnh viện dân sự 6. Xuất ngũ theo chế độ 7. Nguyện vọng khác ………………………………………………
Câu 11. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện
nay, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?
Đồng ý
Không đồng ý
Lưỡng lự
Rất đồng ý
TT
Các biện pháp
Rất không đồng ý
Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng
với giáo dục pháp luật và đạo đức
1
cho người thầy thuốc quân đội.
Tăng cường giáo dục y đức cách
2
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xây dựng chương trình môn đạo
đức y học để giảng dạy trong các
3
nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn
vị quân y
Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn
luyện y đức của người thầy thuốc
4
quân đội
Xây dựng môi trường y đức lành
mạnh trong các đơn vị quân y và
5
thực hiện nghiêm các quy định của
pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội
Biện pháp khác……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..
Đồng chí quan sát thấy một đồng nghiệp đang thực hành lâm sàng sai về mặt
chuyên môn. Đồng chí biết rằng thực hành sai như vậy gây ảnh hưởng đến bệnh nhân. Tuy
nhiên, mức độ sai sót không lớn và sẽ không gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Can thiệp ngay để bệnh nhân không chịu ảnh hưởng, cho dù hậu quả không lớn.
2. Đợi đồng nghiệp làm xong, sau đó sẽ trao đổi rút kinh nghiệm chuyên môn.
3. Báo cáo với cấp trên về sai sót này.
4. Không làm gì bởi vì sai sót không lớn và không gây hậu quả nghiêm trọng.
5. Khó trả lời.
196
Câu 12. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Sau đợt đánh giá của đoàn kiểm tra bao gồm các chuyên gia lâm sàng trong lĩnh
vực đồng chí đang làm việc, đồng chí bị xếp vào nhóm thầy thuốc có chất lượng khám và
điều trị kém trong đơn vị.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Yêu cầu xem lại mức độ chính xác của những thông tin mà dựa trên đó đoàn
kiểm tra sử dụng để đánh giá.
2. Đề nghị họp đối chất với đoàn kiểm tra.
3. Quyết định dành thêm thời gian cho công tác thăm khám lâm sàng.
4. Quyết định học thêm, đọc thêm tài liệu để cải thiện chất lượng công việc.
5. Không làm gì, bởi vì điều đó không quan trọng đối với đồng chí.
Câu 13. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Một bệnh nhân đang được đồng chí điều trị, người bệnh nhân đó cùng người nhà đến
thăm đồng chí và biếu một món quà nhỏ (ít có giá trị về vật chất) để cảm ơn. Trong quá trình
điều trị, đồng chí biết rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế trung bình.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Vui vẻ nhận vì đó là nét phong tục của người Việt Nam và mọi người đều làm
như thế.
2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.
3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.
Câu 14. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Một bệnh nhân đã được đồng chí điều trị khỏi bệnh, người bệnh nhân đó cùng người nhà
đến thăm đồng chí và gửi một chiếc phong bì để cảm ơn. Trong quá trình điều trị, đồng chí biết
rằng bệnh nhân này có mức độ kinh tế không đến mức quá khó khăn.
Trong tình huống này đồng chí sẽ làm gì? (Khoanh tròn vào số tương ứng. Chọn 1
ý duy nhất).
1. Vui vẻ nhận vì đồng chí đã bỏ nhiều công sức để điều trị khỏi cho bệnh nhân đó.
2. Thấy ái ngại nhưng chấp nhận vì bệnh nhân và người nhà quá nhiệt tình.
3. Từ chối vì đồng chí không muốn như vậy.
197
Câu 15. Giả sử đồng chí gặp tình huống sau:
Câu 16. Trong 3 năm qua, đồng chí có trực tiếp gặp phải trường
hợp đồng nghiệp có sai sót khi thực hành lâm sàng tại nơi đồng chí công
Nếu có, trong trường hợp gần đây, đồng chí đã làm gì?
a. Không trao đổi với đồng nghiệp hoặc người có trách nhiệm liên quan.
b. Báo cáo trường hợp đó với cơ quan hoặc người có trách nhiệm.
c. Trao đổi riêng với bác sĩ đó về những sai sót đã xảy ra.
tác không?
Vì sao đồng chí đã không làm gì?
(chỉ trả lời câu này nếu nhất trí với mục a của câu 16).
a. Sợ bị trả thù
b. Không biết phải báo cáo với ai
c. Nghĩ rằng đã có ai đó giải quyết vấn đề này rồi
d. Tin rằng báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì
e. Nghĩ rằng đó không phải là trách nhiệm của mình
f. Cho rằng sai sót đó cũng có thể xảy ra với mình
g. Sợ bị mọi người đánh giá là người không tốt
h. Sợ rằng người đó sẽ bị xử lý nặng nếu mình báo cáo
i. Vì người đó có tuổi đời, tuổi quân, tuổi nghề nhiều hơn đồng chí
k. Lý do khác: ………………………………………………………
1. Đồng chí tốt nghiệp trường:
Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;
Năm tốt nghiệp: ……………..
2. Hiện nay là: GS ; PGS ; Tiến sĩ ; Thạc sĩ ; BSCKII ; BSCKI ; BS
; Dược sĩ ĐH ; Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Y tá ;
Chức vụ khác
3. Giới tính:
Nam:
Nữ
Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
198
M.03
Phụ lục 3: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho cán bộ, giảng viên giảng dạy ở Học viện (nhà trường) quân y)
Thưa đồng chí!
Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù hợp với quan điểm của mình.
Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.
Câu 1. Theo đồng chí, giáo dục y đức cho học viên có vai trò như thế nào
đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của người thầy thuốc quân đội tương lai?
1. Rất quan trọng
3. Bình thường
2. Quan trọng 4. Không quan trọng
5. Phân vân
Câu 2. Theo đồng chí, nội dung biểu hiện y đức của người thầy
thuốc quân đội hiện nay là:
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Rất không đồng ý
1 Thể hiện rõ phẩm chất anh“Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y
học và luật pháp
3 Có thái độ nghiêm túc trong khám
chữa bệnh
4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa bệnh nhân 7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà
8
người bênh được hưởng Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân
9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh
199
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Rất không đồng ý
11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và GĐ bệnh nhân
12 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám chữa bệnh
16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực
trong khám chữa bệnh
17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.
20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi
ích cá nhân
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho
đồng nghiệp
24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh
26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………….
200
Câu 4. Lãnh đạo, chỉ huy Học viện (nhà trường) quan tâm đến việc
2. Quan tâm
giáo dục y đức cho học viên ở mức độ nào?
1. Rất quan tâm
4. Ít quan tâm
3. Bình thường
6. Khó trả lời
5. Không quan tâm
Câu 5. Đánh giá của đồng chí về mức độ phù hợp của nội dung chương
1. Rất phù hợp
2. Khá phù hợp
trình giáo dục y đức cho học viên của Học viện (nhà trường) hiện nay?
3. Phù hợp
4. Ít phù hợp
6. Khó trả lời
5. Rất không phù hợp
Câu 6. Đánh giá của đồng chí về mức độ phù hợp của phương pháp
1. Rất phù hợp
2. Khá phù hợp
3. Phù hợp
4. Ít phù hợp
6. Khó trả lời
5. Rất không phù hợp
giáo dục y đức cho học viên của Học viện (nhà trường) hiện nay ?
Câu 7. Theo đồng chí, các giảng viên đồng thời là thầy thuốc ở đơn vị đồng chí đã thực hiện các nội dung sau đây như thế nào trong quá trình tham gia khám, chữa bệnh?
TT
Nội dung
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên
môn
2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh
3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với
bệnh nhân
4 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách
mà bệnh nhân được hưởng
5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người
bệnh
6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân
7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và GĐ bệnh nhân
9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,
chữa bệnh
10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh
201
Nội dung
TT
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn
13 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi
ích cá nhân
14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.
15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm cho
đồng nghiệp
19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với
đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh
21 Đấu tranh với những biểu hiện tiêu
cực trong khám, chữa bệnh
22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
25 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
Câu 8. Lãnh đạo, chỉ huy ở Học viện (nhà trường) đã thực hiện các
công việc sau đây như thế nào trong quá trình đào tạo?
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Giáo dục đạo đức cách mạng, đạo
đức nghề y cho học viên
2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho học viên
3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy
sinh vì người bệnh cho học viên
202
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm trách nhiệm cho học viên 5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, ngành y tế và đơn vị cho học viên 6 Nêu các tấm gương tiêu biểu về y đức để giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức cho học viên
7 Xây dựng chương trình, nội dung giáo dục y đức phù hợp với đối tượng
9
8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội cho học viên Phát triển y đức cho học viên trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc
10 Xây dựng ở người học viên - y, bác sĩ tương lai tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh
11 Trang bị cho học viên kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh 12 Phát huy tính tích cực chủ động của học viên trong tự trau dồi, rèn luyện y đức
13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức Câu 9. Đánh giá của đồng chí về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở
Học viên (nhà trường) hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào?
TT
Nội dung đánh giá
Kém
Yếu
Khá
Tốt
Trung bình
1 Lập trường tư tưởng
2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y
3 Năng lực chuyên môn
4 Tinh thần trách nhiệm
5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao
6 Lòng yêu nghề
7 Tình yêu thương người bệnh
8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao
trình độ chuyên môn
203
TT
Nội dung đánh giá
Kém
Yếu
Khá
Tốt
Trung bình
9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,
chữa bệnh
16 Tích cực đấu tranh chống các biểu
hiện tiêu cực
Câu 10. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội cho học
viên, đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây?
Đồng ý
Không đồng ý
Lưỡng lự
Rất đồng ý
TT
Các biện pháp
Rất không đồng ý
Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng
với giáo dục pháp luật và đạo đức
1
cho người thầy thuốc quân đội.
Tăng cường giáo dục y đức cách
2
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xây dựng chương trình môn đạo
đức y học để giảng dạy trong các
3
nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn
vị quân y
Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn
luyện y đức của người thầy thuốc
4
quân đội
Xây dựng môi trường y đức lành
mạnh trong các đơn vị quân y và
5
thực hiện nghiêm các quy định của
pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội
Biện pháp khác………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………..
204
Câu 11. Theo đồng chí, trong điều kiện hiện nay những nhân tố nào
đang tác động làm hạn chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc
quân đội?
TT
Các yếu tố tác động
Rất yếu
Yếu
Mạnh
Mức độ tác động Bình thường
Rất mạnh
1 Mặt trái của cơ chế thị trường
2
3
4
5
Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn
6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm
Yếu tố khác: ………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………..
1. Đồng chí tốt nghiệp trường:
Học viện quân y ; Trường, lớp quân y khác ; Trường y, dược dân sự ;
Năm tốt nghiệp: ……………..
2. Hiện nay là: Thạc sĩ BS ; BSCKI ; BS ; Dược sĩ ĐH ;
Y sĩ ; Dược sĩ trung cấp ; Chức vụ khác
3. Giới tính:
Nam:
Nữ
Câu 17. Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
205
M.04
Phụ lục 4: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho học viên các trường Y, Dược quân đội)
Đồng chí thân mến!
Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển
y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời
các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù
hợp với quan điểm của mình.
Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí
không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác
của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.
Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy
1. Rất quan trọng
2. Quan trọng
3. Bình thường
4. Không quan trọng
5. Phân vân
thuốc quân đội?
Câu 2. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân
đội hiện nay là:
TT
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Rất không đồng ý
1
Phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”
2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với
chuẩn mực y học và luật pháp
3
Thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh
4
Lòng yêu người, yêu nghề
5
Trình độ chuyên môn cao
6
Tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa người bệnh
7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà
người bệnh được hưởng
8
Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh
nhân
9 Không gây phiền hà cho bệnh nhân
10 Thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh
206
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Các phẩm chất
Rất không đồng ý
11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và gia đình bệnh nhân
12 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám, chữa bệnh
16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám,
chữa bệnh
17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.
20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi
ích cá nhân
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với
đồng nghiệp
24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh
26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………..
207
2. Quan tâm
Câu 3. Theo đồng chí nhà trường đã quan tâm đến việc giáo dục y
4. Ít quan tâm
đức cho học viên ở mức độ nào? 1. Rất quan tâm
3. Bình thường
6. Khó trả lời
5. Không quan tâm
Câu 4. Theo đồng chí, thầy thuốc quân đội hiện nay đã thực hiện
các nội dung dưới đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh?
TT
Nội dung
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên
môn
2 Luôn tỏ thái độ tôn trọng người bệnh 3 Có lương tâm và trách nhiệm cao với
4
bệnh nhân Phổ biến rõ ràng cho bệnh nhân về chế độ, chính sách
5 Có thái độ ân cần, chu đáo với người
bệnh
6 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh
nhân
7 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây
phiền hà cho bệnh nhân
8 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và GĐ bệnh nhân
9 Có thái độ nghiêm túc trong khám,
chữa bệnh
10 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người
bệnh
11 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
12 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 13 Đặt lợi ích của bệnh nhân cao hơn
lợi ích tài chính của cá nhân
14 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra với bệnh nhân đó trong quá trình thăm khám và điều trị.
15 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
16 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
17 Luôn khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ 18 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho
đồng nghiệp
208
Nội dung
TT
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
19 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp khám, chữa bệnh của đồng nghiệp 20 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với
đồng nghiệp trong khám, chữa bệnh
21 Dũng cảm đấu tranh với những hành vi trái với qui định trong khám, chữa bệnh 22 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
23 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
24 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
25 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
Câu 5. Đơn vị đồng chí đang học tập, công tác đã thực hiện các
công việc sau đây như thế nào?
TT
Nội dung công việc
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo
đức cách mạng, đạo đức nghề y cho
học viên
2 Quán triệt luật pháp y tế, quy chế chuyên
môn, quy định y đức cho học viên
3 Giáo dục đức tính biết hy sinh vì
người bệnh cho học viên
4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp,
lương tâm trách nhiệm cho học viên
5 Coi trọng giáo dục truyền thống đạo
đức tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân
đội, ngành y tế và đơn vị cho học viên
6 Nêu các tấm gương tiêu biểu mẫu
mực về y đức cho học viên học tập
7 Xây dựng chương trình, nội dung
giáo dục, phát triển y đức phù hợp
với đối tượng
8
Sử dụng nhiều hình thức giáo dục,
phát triển y đức cho học viên
209
Nội dung công việc
TT
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
9
Phát triển y đức cho học viên trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc
10 Xây dựng ở học viên quyền tôn trọng con người, sự thiện tâm và công bằng trong khám, chữa bệnh
11 Trang bị cho học viên những kiến thức về giao tiếp tích cực với người bệnh
12 Phát huy tính tích cực chủ động của học viên trong tự trau dồi, rèn luyện y đức
13 Xây dựng tập thể quân y vững mạnh, phát huy vai trò của các thiết chế y đức trong xây dựng môi trường y đức
Câu 6. Đồng chí đánh giá như thế nào về thực trạng học viên đang
học tập tại trường hiện nay theo các nội dung sau đây như thế nào?
Kém
Yếu
Khá
Tốt
TT
Nội dung đánh giá
Trung bình
1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao
trình độ chuyên môn
9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật 11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám,
chữa bệnh
16 Tích cực đấu tranh chống các biểu
hiện tiêu cực
210
Câu 7. Theo đồng chí, những nhân tố nào đang tác động làm hạn
chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay?
TT
Các yếu tố tác động
Rất yếu
Yếu
Mạnh
Mức độ tác động Bình thường
Rất mạnh
1 Mặt trái của cơ chế thị trường
2
3
4
5
Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn
6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm
Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..
Câu 8. Để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay,
Đồng ý
đồng chí nhất trí với các biện pháp nào sau đây? Không đồng ý
TT
Lưỡng lự
Rất đồng ý
Các biện pháp
Rất không đồng ý
Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng
với giáo dục pháp luật và đạo đức
1
cho người thầy thuốc quân đội.
Tăng cường giáo dục y đức cách
2
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xây dựng chương trình môn đạo
đức y học để giảng dạy trong các
3
nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn
vị quân y
Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn
luyện y đức của người thầy thuốc
4
quân đội
Xây dựng môi trường y đức lành
mạnh trong các đơn vị quân y và
5
thực hiện nghiêm các quy định của
pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội
Biện pháp khác……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
211
M.05
Phụ lục 5: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho bệnh nhân)
Thưa đồng chí!
Để giúp chúng tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về “Phát triển
y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay”, xin đồng chí vui lòng trả lời
các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống bên phải cho phù
hợp với quan điểm của mình.
Các số liệu thu được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, đồng chí
không phải ghi bất cứ thông tin nào về cá nhân trên phiếu này. Sự cộng tác
của đồng chí góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài.
Câu 1. Theo đồng chí, y đức có vai trò như thế nào đối với người thầy
1. Rất quan trọng
2. Quan trọng
3. Bình thường
4. Không quan trọng
5. Phân vân
thuốc quân đội?
Câu 2. Theo đồng chí, biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân
đội hiện nay là:
TT
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Rất không đồng ý
1
Phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”
2 Hoạt động chuyên môn phù hợp với
chuẩn mực y học và luật pháp
3
Thái độ nghiêm túc trong khám, chữa bệnh
4
Lòng yêu người, yêu nghề
5
Trình độ chuyên môn cao
6
Tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa người bệnh
7 Đảm bảo đúng chế độ, chính sách mà
người bệnh được hưởng
8
Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân
9 Không gây phiền hà cho bệnh nhân
10 Thái độ ân cần, chu đáo với người
bệnh
212
TT
Không đồng ý
Lưỡng lự
Đồng ý
Rất đồng ý
Các phẩm chất
Rất không đồng ý
11 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và gia đình bệnh nhân
12 Không phân biệt đối xử trong khám,
điều trị bệnh nhân
13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ,
năng lực khám, chữa bệnh
16 Đấu tranh chống tiêu cực trong khám,
chữa bệnh
17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn đã xảy ra trong quá trình khám và điều trị.
20 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi
ích cá nhân
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc
thầy (cấp trên) của mình
23 Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm với
đồng nghiệp
24 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp làm việc, khám, chữa bệnh 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng
nghiệp trong khám chữa bệnh
26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
27 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
28 Tích cực tham gia công tác xã hội, khám chữa bệnh miễn phí, hiến máu nhân đạo …
Biểu hiện khác: ……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………..
213
Câu 3. Theo đồng chí, thầy thuốc quân đội hiện nay đã thực hiện
các nội dung dưới đây như thế nào trong quá trình khám, chữa bệnh?
TT
Nội dung
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Tôn trọng pháp luật và qui định
chuyên môn
2 Có lương tâm và trách nhiệm cao với
bệnh nhân
3 Giúp bệnh nhân hiểu về chế độ,
chính sách
4 Có thái độ ân cần, chu đáo với người
bệnh
5 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh
nhân
6 Niềm nở khi tiếp xúc với bệnh nhân
và gia đình bệnh nhân
7 Có thái độ nghiêm túc trong khám,
chữa bệnh
8 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người
bệnh
9 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn
đẩy trách nhiệm
10 Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi
ích cá nhân
11 Thông báo cho bệnh nhân những sai sót chuyên môn trong quá trình thăm khám và điều trị.
12 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách
nhiệm
13 Không phân biệt đối xử trong khám,
14
điều trị bệnh nhân Dũng cảm đấu tranh với những hành vi trái với qui định trong khám, chữa bệnh
15 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới
hoàn thành nhiệm vụ
16 Tích cực tham gia tuyên truyền giáo
dục sức khoẻ cộng đồng
17 Đòi tiền thù lao ngoài qui định từ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân 18 Có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho
bệnh nhân
19 Kê đơn, gợi ý mua thuốc ngoài tiêu
chuẩn
20 Kê thuốc đắt tiền, làm xét nghiệm
không phù hợp
21 Thờ ơ, thiếu chu đáo trong khám,
chữa bệnh
22 Hạch sách, coi thường bệnh nhân
214
Câu 4. Theo đồng chí, những nhân tố nào đang tác động làm hạn
chế việc phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay ?
TT
Các yếu tố tác động
Rất yếu
Yếu
Mạnh
Mức độ tác động Bình thường
Rất mạnh
1 Mặt trái của cơ chế thị trường
2
3
4
5
Chiến lược “DBHB” của các thế lực phản động Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức của đội ngũ thầy thuốc Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn
7
6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm Do bệnh nhân muốn được ưu ái trong khám, chữa bệnh
Yếu tố khác: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………..
215
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
Phụ lục 6: PHIẾU TỌA ĐÀM, PHỎNG VẤN
(Dành cho bác sĩ, cán bộ quản lý bệnh viện)
1. Địa điểm toạ đàm, phỏng vấn 2. Ngày, tháng, năm, toạ đàm, phỏng vấn 3. Lần toạ đàm, phỏng vấn 4. Người toạ đàm, phỏng vấn 5. Tên người được toạ đàm, phỏng vấn 6. Thâm niên công tác, cấp bậc, chức vụ, đơn vị người được toạ đàm,
phỏng vấn.
4. Theo đồng chí, cơ chế thị trường có những ảnh hưởng như thế nào đến
216
NỘI DUNG TỌA ĐÀM, PHỎNG VẤN Chủ đề: “Y đức của người thầy thuốc quân đội trong thời kinh tế thị trường” 1. Đồng chí đánh giá như thế nào về vấn đề y đức của người thầy thuốc trong thời kinh tế thị trường hiện nay?. 2. Những người thầy thuốc mang quân hàm xanh dù ở bất cứ nơi đâu, nhất là những đồng chí đang công tác ở vùng sâu, vùng xa nơi biên giới và ngoài các đảo xa đã thực hiện lời Bác Hồ dạy “lương y như từ mẫu”. Theo đồng chí, điều gì đã tạo dựng nên hình ảnh những người thầy thuốc như mẹ hiền giữa thời kinh tế thị trường như vậy?. 3. Bên cạnh những người thầy thuốc rất đáng trân trọng, hiện nay vẫn còn nhiều bệnh nhân phàn nàn về thái độ nhũng nhiễu của một số thầy thuốc. Có những bệnh nhân vào viện trong tình trạng bệnh rất nguy cấp nhưng không được điều trị ngay chỉ vì họ chưa kịp bồi dưỡng cho bác sĩ. Thưa đồng chí, tình trạng này có diễn ra ở bệnh viện đồng chí không?. đời sống của người thầy thuốc?. 5. Thời gian qua, bệnh viện luôn quan tâm nâng cấp các trang thiết bị để phục vụ người bệnh một cách tốt nhất và đẩy mạnh công tác chống tiêu cực trong bệnh viện. Xin đồng chí cho biết cụ thể vấn đề này?.
Phụ lục 7: PHIẾU QUAN SÁT
1. Địa điểm quan sát 2. Ngày, tháng, năm, quan sát 3. Lần quan sát 4. Người quan sát 5. Đối tượng được quan sát 6. Thâm niên công tác, cấp bậc, chức vụ, đơn vị người được quan sát
NỘI DUNG QUAN SÁT
Quan sát thầy thuốc trong hoạt động thực tiễn: phương pháp, tác phong,
cử chỉ, lời nói và hành động trong công việc, trong tiếp xúc với bệnh nhân,
người nhà bệnh nhân, với đồng nghiệp, với xã hội cộng đồng.
HÌNH THỨC QUAN SÁT
Quan sát tham dự: Người quan sát tham gia vào các hoạt động khám,
chữa bệnh của người thầy thuốc và trong hoạt động thực tiễn giảng dạy.
Quan sát không tham dự: Người quan sát đứng ngoài để quan sát người
217
thầy thuốc trong hoạt động thực tiễn khám, chữa bệnh.
Phụ lục 8: Tæng hîp kÕt qu¶ kh¶o s¸t thùc tr¹ng PTY§ 1. Nhận thức vai trò PTYĐ đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của người TTQĐ
Kết quả khảo sát (N=453)
TT
Vai trò của y đức
SL 254 157 26 10 6
% 56.1 34.7 5.7 2.2 1.3
1 2 3 4 5 6 7 8
Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Ít quan trọng Không quan trọng Độ lệch chuẩn Hệ số tương quan 2 nhóm Điểm trung bình
0.242 R = 0.73 4.21
2. Lý do trở thành người TTQĐ Lý do trở thành người TTQĐ
ĐTB 4.47 1.38 3.16 1.93 3.87 3.43 3.49 3.33 1.97
Thứ bậc 1 9 6 8 2 4 3 5 7
TT 1 Nghề y có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội 2 Nghề y là nghề có thu nhập cao 3 Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 4 Không phải kiếm sống ngoài nghề 5 Có những đóng góp cho ngành chuyên môn 6 Được tôn trọng 7 Có điều kiện khẳng định bản thân 8 Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 9 Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình
TBC
ĐLC 0.32 0.78 1.04 1.10 0.94 1.19 1.16 1.35 1.14 3.96
Lý do
Tần suất
%
Giá trị % sau hiệu chỉnh
53 400 453
11.7 88.3 100.0
11.7 88.3 100.0
243 184 26 453
53.6 40.6 5.7 100.0
53.6 40.6 5.7 100.0
6.0 5.7 41.1 30.0 17.2 100.0
6.0 5.7 41.1 30.0 17.2 100.0
37.1 25.6 31.3 6.0 100.0
37.1 25.6 31.3 6.0 100.0
1. Đây là nghề có ý nghĩa to lớn đối với quân đội, xã hội Đúng nhiều hơn sai Hoàn toàn đúng Tổng hợp 2. Đây là nghề có thu nhập cao Hoàn toàn sai Sai nhiều hơn đúng Đúng nhiều hơn sai Tổng hợp 3. Có cơ hội học tập, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp 27 Hoàn toàn sai 26 Sai nhiều hơn đúng 186 Nửa đúng, nửa sai 136 Đúng nhiều hơn sai 78 Hoàn toàn đúng Tổng hợp 453 4. Không phải kiếm sống ngoài nghề 168 Hoan toan sai 116 Sai nhieu hon dung 142 Nua dung nua sai 27 Hoan toan dung 453 Total 5. Có những đóng góp cho ngành chuyên môn Sai nhieu hon dung Dung nhieu hon sai
11.0 39.3
50 178
11.0 39.3
218
225 453
49.7 100.0
49.7 100.0
5.3 11.0 30.7 20.8 32.2 100.0
5.3 11.0 30.7 20.8 32.2 100.0
6.0 11.0 9.1 45.7 28.3
148 147 117 41 453
32.7 32.5 25.8 9.1 100.0
Hoan toan dung Total 6. Được tôn trọng 24 Hoan toan sai 50 Sai nhieu hon dung 139 Nua dung nua sai 94 Dung nhieu hon sai 146 Hoan toan dung Total 453 7. Có điều kiện khẳng định bản thân 6.0 27 Hoan toan sai 11.0 50 Sai nhieu hon dung 9.1 41 Nua dung nua sai 45.7 207 Dung nhieu hon sai Hoan toan dung 28.3 128 8. Có điều kiện giao tiếp, thiết lập quan hệ xã hội 32.7 Hoan toan sai 32.5 Sai nhieu hon dung 25.8 Nua dung nua sai 9.1 Hoan toan dung Total 100.0 9. Có thời gian nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình Hoan toan sai Sai nhieu hon dung Nua dung nua sai Hoan toan dung Total
32.7 32.5 25.8 9.1 100.0
148 147 117 41 453
32.7 32.5 25.8 9.1 100.0
3. Mức độ nhất trí về các biểu hiện y đức của người TTQĐ hiện nay
Biểu hiện y đức của người thầy thuốc quân đội
TT 1 Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 6 Tinh thần TN cao, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 7 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, CS được hưởng 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho BN 10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh 11 Niềm nở khi tiếp xúc với BN và GĐ bệnh nhân 12 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 13 Thái độ công bằng, trung thực 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 19 Thông báo những sai sót xảy ra trong quá trình KCB 20 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân
ĐTB ĐLC 0.23 4.74 0.25 4.26 0.39 4.13 0.21 4.32 0.41 4.24 0.50 4.48 0.41 4.21 0.55 4.11 0.84 4.12 0.49 4.43 0.49 4.33 0.49 4.54 0.48 4.38 0.49 4.54 0.49 4.59 0.50 4.48 0.49 4.58 0.49 4.52 1.01 3.94 0.50 4.49
Thứ bậc 1 15 18 13 16 7 17 20 19 8 12 4 11 4 2 7 3 5 21 6
219
21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên) 23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 24 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB 26 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ 27 Tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khỏe cộng đồng 28 Tích cực tham gia CT XH, KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo
4.27 4.24 4.48 4.41 4.52 4.42 4.43 4.48
0.44 0.43 0.50 0.49 0.49 0.49 0.49 0.50
14 16 7 10 5 9 8 7
Điểm trung bình
4.24
4. Thực trạng phát triển về niềm tin y đức của người TTQĐ
ĐTB
ĐLC
TT
Nội dung đánh giá
4.04 3.75 3.71 3.74 3.81 3.73
Thứ bậc 1 3 5 6 2 4
1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 2 Nhiệt tình, trách nhiệm trong KCB 3 Lý tưởng nghề nghiệp là “Lương y như từ mẫu” 4 Thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 5 Thực sự yêu thích công việc đang đảm nhiệm 6 Nếu được lựa chọn lại nghề, vẫn chọn nghề TTQĐ
TBC
0.437 0.501 0.462 0.701 0.705 0.46 3.78
5. Thực trạng phát triển ý chí y đức của người TTQĐ
ĐTB
ĐLC
TT
Nội dung đánh giá
3.73 3.98 3.52 3.70 3.75 4.01
Thứ bậc 3 2 6 4 5 1
1 Có thái độ phê phán những hành vi vi phạm QĐ trong KCB 2 Là người có thái độ nghiêm túc trong KCB 3 Mong muốn có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh hoạt động KCB 4 Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn 5 Luôn ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp 6 Có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
TBC
0.59 0.589 0.542 0.751 0.72 0.586 3.76
6. Thực trạng mức độ phát triển ý thức y đức của người TTQĐ
ĐTB 3.91 3.96 3.78 3.76
Thứ bậc 2 1 3 4
TT Nội dung đánh giá phát ý thức triển y đức của TTQĐ 1 Về tri thức y đức của người TTQĐ. 2 Về tình cảm y đức của người TTQĐ. 3 Về niềm tin y đức của người TTQĐ 4 Về ý chí y đức của người TTQĐ
TBC
3.85
7. Thực trạng phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc với NB
Tự đánh giá của thầy thuốc
Đánh giá của BN
Nội dung
TT 1 Nhiệt tình, trách nhiệm, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 2 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với NB 3 Niềm nở khi tiếp xúc với NB và gia đình BN 4 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 5 Không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho BN 6 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân
ĐTB 3.34 3.04 2.98 3.45 3.32 3.26
Thứ bậc ĐTB Thứ bậc 3.31 2.99 2.96 3.63 2.92 2.86
2 3 4 1 5 6
2 5 6 1 3 4
3.23
3.11
TBC
3.17
220
8. Thực trạng phát triển thái độ y đức với đồng nghiệp, bậc thầy
Nội dung
Tôn trọng cấp trên, tôn trọng tổ chức Luôn tỏ thái độ kính trọng bậc thầy (cấp trên) của mình Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp Ủng hộ việc đối mới phương pháp KCB của đồng nghiệp Tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB
ĐTB 3.81 3.31 2.85 2.87 2.89
ĐLC 0.77 0.93 0.82 0.69 0.83
Thứ bậc 1 2 5 4 3
(cấp trên) của mình TT 1 2 3 4 5
TBC
3.14
9. Thực trạng phát triển thái độ y đức với xã hội, cộng đồng
Nội dung
ĐTB 3.07 2.87 3.02 3.03
ĐLC 1.02 0.92 0.86 0.87
Thứ bậc 1 4 3 2
TT 1 Sẵn sàng nhận nhiệm vụ nới khó khăn, nguy hiểm 2 Tích cực tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng 3 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB 4 Tích cực tham gia KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo
TBC
3.00
10: Thực trạng phát triển thái độ y đức với công việc, với bản thân
TT Biểu hiện thái độ y đức của người TTQĐ đối với
ĐTB ĐLC
Thứ bậc
3.82 3.12 3.17 3.24 3.56 3.38 3.06 3.22
0.73 0.21 0.24 0.36 0.58 0.49 0.19 0.32
1 7 6 4 2 3 8 5
công việc, với bản thân 1 Có lòng yêu nghề, say mê với công việc 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 4 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 5 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 6 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 7 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 8 giữ gìn phẩm giá, danh dự bản thân trong hành nghề
Điểm trung bình
3.29
ĐTB
TT
3.17 3.14 3.00 3.29
11. Thực trạng phát triển thái độ y đức của TTQĐ Nội dung đánh giá phát triển thái độ y đức của người thầy thuốc quân đội
Thứ bậc 2 3 4 1
1 Thái độ của người thầy thuốc với người bệnh 2 Thái độ của người với đồng nghiệp, bậc thầy (cấp trên) của mình 3 Thái độ của người thầy thuốc với xã hội, cộng đồng 4 Thái độ với công việc; với chính bản thân của người thầy thuốc
TBC
3.15
12. Thực trạng phát triển hành vi y đức đối với quá trình tự bồi
dưỡng, tự rèn luyện y đức của bản thân người TTQĐ
Nội dung
ĐTB ĐLC Thứ bậc 2.92 0.55
5
TT 1 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn 2 Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “học tập, làm theo tấm
2.99 0.63
4
gương đạo đức Hồ Chí Minh”
2 3 6 1
3.52 0.71 3 Thường xuyên trau dồi đạo đức người QN cách mạng 3.02 0.53 4 Kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm qui định trong KCB 2.76 0.94 5 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích cá nhân người thầy thuốc 6 Chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 3.78 0.58
TBC
3.17
221
13. Thực trạng phát triển hành vi y đức về chấp hành các QĐ, ĐL và PL của
người TTQĐ
Nội dung
ĐTB ĐLC Thứ bậc 3.54 3.42 2.65 3.26 3.08
0.43 0.54 0.95 0.76 0.83
1 2 5 3 4
TT 1 Có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, QĐ của đơn vị 2 Tôn trọng pháp luật, qui chế chuyên môn 3 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, chính sách 4 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 5 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 6 Thông báo cho BN những sai sót chuyên môn đã xảy ra
2.46
1.03
6
với BN đó trong quá trình thăm khám và điều trị.
TBC
3.17
Nội dung
14. Thực trạng PT hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của người TTQĐ Thứ bậc 1 2 3 5 4 6
ĐLC 0.94 0.82 1.19 0.94 1.04 0.72
ĐTB 3.22 2.97 2.93 2.88 2.91 2.76
TT 1 Luôn tôn trọng cấp trên và bậc thầy của mình 2 Đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp trong khám chữa bệnh 3 Tôn trọng, ân cần, chu đáo với người bệnh 4 Luôn tôn trọng, giúp đỡ cấp dưới thực hiện nhiệm vụ 5 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 6 Đặt lợi ích của bệnh nhân trên lợi ích cá nhân
TBC
2.94
15. Thực trạng PT hành vi y đức về lương tâm,TN trong HT, CT, điều trị
Nội dung
ĐTB 3.21 3.36 2.96 2.70 3.03 3.02
Thứ bậc 2 1 5 6 3 4
TT 1 Hết lòng cứu chữa, chăm sóc người bệnh 2 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3 Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của NB 4 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 5 Sử dụng phác đồ điều trị có lợi nhất cho BN 6 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong KCB
TBC
ĐLC 0.57 1.1 0.74 0.82 0.87 0.86 3.05
16. Thực trạng phát triển hành vi y đức của TTQĐ
ĐTB Thứ bậc
TT
Nội dung đánh giá phát triển hành vi y đức của TTQĐ
3.17 3.07 2.94 3.05
1 2 4 3
1 Hành vi y đức đối với quá trình tự BD, tự RL y đức của người TTQĐ. 2 Hành vi y đức trong chấp hành các QĐ, ĐL và PL của người TTQĐ. 3 Hành vi y đức trong giao tiếp, ứng xử của đội ngũ TTQĐ. 4 Hành vi y đức về lương tâm và trách nhiệm trong HT, CT và ĐT.
TBC
3.06
17. Thực trạng PTYĐ của người TTQĐ hiện nay
ĐTB
Thứ bậc
Xếp loại
TT
Nội dung đánh giá thực trạng phát triển y đức của TTQĐ
3.85 3.15 3.06
1 2 3
Cao Trung bình Trung bình Trung bình
1 Mức độ phát triển ý thức y đức của TTQĐ 2 Mức độ phát triển thái độ y đức của TTQĐ 3 Mức độ phát triển hành vi y đức của TTQĐ
TBC
3.35
222
18. Thực trạng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo
dục, bồi dưỡng y đức và xây dựng môi trường y đức của người TTQĐ
TT
Nội dung công việc
ĐTB
3.65 3.53 3.48 3.50 3.68 3.20 3.05 2.92 3.06 3.26 3.37 3.20 3.47
Thứ bậc 2 3 5 4 1 9 11 12 10 8 7 9 6
1 Giáo dục chính trị tư tưởng và ĐĐCM, ĐĐNN cho người TTQĐ 2 Quán triệt PL về y tế, quy chế chuyên môn, quy định y đức cho người TTQĐ 3 Giáo dục, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho người TTQĐ 4 Rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm TN cho người TTQĐ 5 GD truyền thống ĐĐ tốt đẹp của DT, của Đảng, QĐ, ĐV cho người TTQĐ 6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để GD, BD PTYĐ 7 XD chương trình, ND bồi dưỡng, PTYĐ phù hợp với đối tượng 8 Tổ chức các hình thức giáo dục, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành lâm sàng của người thầy thuốc 10 XD thái độ tôn trọng NB, sự thiện tâm, công bằng trong KCB 11 Trang bị cho thầy thuốc những kiến thức về giao tiếp tích cực với NB 12 Phát huy tính TC chủ động của người TT trong tự trau dồi, RL y đức 13 XD TTQY, phát huy VT của các thiết chế y đức trong XD MT y đức TBC
3.34
19. Mức độ tự đánh giá của bản thân thầy thuốc về y đức
ĐTB ĐLC
TT
Nội dung
Rất tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn
1 Luôn có ý thức chấp hành nghiêm nội qui, qui định của đơn vị 4.74 0.43 4.14 0.59 2 Luôn có thái độ phê phán những hành vi vi phạm QĐ trong KCB 4.38 0.58 3 Tôi luôn là người có thái độ nghiêm túc trong KCB 4.16 0.49 4 Tôi rất nhiệt tình, trách nhiệm trong khám, chữa bệnh 5 Lý tưởng nghề nghiệp của tôi là “Lương y như từ mẫu” 4.11 0.45 6 Mong có sự phản hồi từ NB để điều chỉnh HĐ KCB của mình 4.06 0.53 4.08 0.75 7 3.90 0.71 8 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 4.05 0.69 9 Cảm thấy thoải mái khi tham gia các hoạt động chuyên môn 4.21 0.70 10 Tôi thực sự yêu thích công việc mình đang đảm nhiệm 4.37 0.58 11 Luôn có ý thức cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao 3.94 1.26 12 Nếu được lựa chọn lại nghề, tôi vẫn chọn nghề TTQĐ ĐTB 4.17 0.30
Thứ bậc 1 6 2 5 7 9 8 12 10 4 3 11 20. Thực trạng phát triển y đức TTQĐ theo các biểu hiện cụ thể
TT
Thực trạng y đức của người thầy thuốc QĐ
3.99 0.78 1 Thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” 3.66 1.17 2 Hoạt động chuyên môn đúng với y học và luật pháp 3.54 1.11 3 Có thái độ nghiêm túc trong khám chữa bệnh 3.34 0.91 4 Có lòng yêu người, yêu nghề 5 Có trình độ chuyên môn cao 3.38 0.91 6 Có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức cứu chữa BN 3.41 0.88 7 Phổ biến rõ ràng cho BN về chế độ, chính sách được hưởng 3.24 1.01 3,31 1.01 8 Tôn trọng bí mật riêng tư của bệnh nhân 3.34 1.03 9 Không có thái độ ban ơn, hoặc gây phiền hà cho bệnh nhân 3.30 1.18 10 Có thái độ ân cần, chu đáo với người bệnh
ĐTB ĐLC Thứ bậc 1 2 3 7 6 5 12 9 8 10
223
19 11 18 16 20 13 14 17 27 26 28 21 4 25 24 23 22 15
3.11 1.11 11 Niềm nở khi tiếp xúc với BN và GĐ bệnh nhân 3.27 1.02 12 Không phân biệt đối xử trong khám, điều trị BN 3.15 0.80 13 Thái độ công bằng, trung thực 3.19 0.83 14 Khiêm tốn học hỏi cầu tiến bộ 3.11 0.85 15 Tích cực tự học tập nâng cao trình độ, năng lực KCB 3.23 0.86 16 Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong khám chữa bệnh 3.23 0.86 17 Chẩn đoán, xử lý kịp thời, không đùn đẩy trách nhiệm 3.16 0.74 18 Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 2.92 0.73 19 Thông báo cho BN những sai sót trong quá trình KCB 2.95 0.71 20 Đặt lợi ích của BN cao hơn lợi ích tài chính của cá nhân 2.89 0.83 21 Khi có thiếu sót tự giác nhận trách nhiệm 3.09 0.95 22 Luôn tỏ thái độ kính trọng các bậc thầy (cấp trên) của mình 3.66 0.82 23 Sẵn sàng truyền thụ kinh nghiệm cho đồng nghiệp 2.98 0.70 24 Luôn ủng hộ việc đối mới PP KCB của đồng nghiệp 3.08 0.82 25 Đoàn kết, tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp trong KCB 3.09 0.95 26 Luôn tôn trọng và giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ 27 Tích cực tham gia tuyên truyền GD sức khỏe cộng đồng 3.09 0.94 28 Tích cực tham gia CTXH, KCB miễn phí, hiến máu nhân đạo 3.22 1.24 ĐTB 3.22 0.34
21. Lãnh đạo, chỉ huy thực hiện các công việc phát triển y đức
TT
Nội dung công việc
ĐTB ĐLC Thứ bậc 2 5 3 4 1 9 12 13 11 8 7 10 6
3.65 0.74 1 GD chính trị tư tưởng và ĐĐCM, y đức cho người thầy thuốc 2 Quán triệt PL y tế, quy chế chuyên môn, QĐ y đức cho người TTQĐ 3.49 0.81 3 GD, xây dựng đức tính biết hy sinh vì NB cho đội ngũ thầy thuốc 3.51 0.94 3.50 0.88 4 RL bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm TN cho người TTQĐ 3.68 0.96 5 GD truyền thống ĐĐ tốt đẹp của DT, của Đảng, QĐ, ĐV cho người TTQĐ 3.20 0.76 6 Sử dụng các tấm gương tiêu biểu về y đức để GD, PTYĐ 7 XD chương trình, ND bồi dưỡng, PTYĐ phù hợp với đối tượng 3.05 0.75 2.91 0.84 8 Tổ chức các HTGD, bồi dưỡng PTYĐ của người TTQĐ 3.06 0.84 9 PTYĐ trong các tình huống thực hành LS của người TTQĐ 3.25 0.83 10 XD quyền tôn trọng NB, sự thiện tâm, công bằng trong KCB 3.36 0.73 11 Trang bị cho TT những kiến thức về giao tiếp với NB 3.18 0.85 12 Phát huy tính TC của người TT trong tự trau dồi, RL y đức 3.47 0.80 13 XD TTQY, phát huy VT của các thiết chế y đức trong XD MT y đức ĐTB 3.32 0.27
22. Đánh giá về thực trạng đội ngũ thầy thuốc ở đơn vị
ĐTB ĐLC
TT
Nội dung đánh giá
1 Lập trường tư tưởng 2 Năng lực tổ chức, chỉ huy quân y 3 Năng lực chuyên môn 4 Tinh thần trách nhiệm 5 Yên tâm với nhiệm vụ được giao 6 Lòng yêu nghề 7 Tình yêu thương người bệnh 8 Ham học hỏi, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn 9 Tính dân chủ 10 Tính kỷ luật
3.89 0.90 3.98 0.82 3.44 0.82 3.59 0.75 3.41 0.80 3.18 0.65 3.35 0.79 3.54 0.76 3.36 0.58 3.27 0.71
Thứ bậc 2 1 8 4 9 15 12 5 11 13
224
11 Tính khiêm tốn 12 Tính trung thực 13 Tinh thần đoàn kết, hợp tác 14 Tính sáng tạo 15 Tính tiết kiệm, hiệu quả trong khám, chữa bệnh 16 Tích cực đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực
10 6 7 14 16 3
3.37 0.67 3.50 0.74 3.47 0.81 3.23 0.87 3.03 0.72 2.82 0.77 ĐTB 3.34 0.33
ĐTB ĐLC
TT
C¸c yÕu tè t¸c ®éng
23. Yếu tố tác động đến phát triển y đức của người thầy thuốc QĐ Thứ bậc 6 1 3 2 4 5
1 Mặt trái của cơ chế thị trường 2 Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc 3 Thiếu tích cực, chủ động, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện y đức 4 Sự bất cập trong công tác quản lý, giáo dục y đức 5 Đời sống đội ngũ thầy thuốc còn nhiều khó khăn 6 Xử lý vi phạm kỷ luật chưa nghiêm
4.09 1.05 2.90 0.85 3.57 1.00 3.81 0.95 3.56 0.99 3.47 0.74 ĐTB 3.56 0.42
24. Biện pháp phát triển y đức
TT
C¸c biÖn ph¸p
ĐTB ĐLC Thứ bậc
4.58 0.49
1
1
4.51 0.50
2
2
4.42 0.95
4
3
4.28 0.73
6
4
4.50 0.50
3
5
Kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với giáo dục pháp luật và đạo đức cho người thầy thuốc quân đội. Tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng chương trình môn đạo đức y học để giảng dạy trong các nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn vị quân y. Tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội. Xây dựng môi trường y đức lành mạnh trong các đơn vị quân y và thực hiện nghiêm các qui định của pháp luật về y tế và kỷ luật quân đội.
ĐTB 3.45 0.46
Tình huống 1: Đồng nghiệp thực hành sai khi khám lâm sàng
Tình huống 2: Thái độ khi bị đánh giá kém chuyên môn
Tình huống 3: Nhận quà của bệnh nhân trong quá trình điều trị
Tình huống 4: Nhận quà của bệnh nhân sau điều trị
Tình huống 5: Thái độ khi đồng nghiệp có sai sót trong khám lâm sàng
N
Khách thể
453
453
453
453
453
Lỗi
Điểm trung bình Trung vị Độ lệch chuẩn Độ khác biệt Hàm Skewness Độ lệch chuẩn Skewness Độ biến thiên Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
0 2.3311 2.0000 .92928 .864 1.755 .115 4.00 1.00 5.00
0 3.2450 4.0000 1.44501 2.088 -.474 .115 4.00 1.00 5.00
0 1.9912 2.0000 .81735 .668 .016 .115 2.00 1.00 3.00
0 2.1413 2.0000 .80507 .648 -.262 .115 2.00 1.00 3.00
0 2.7395 3.0000 .43938 .193 -1.095 .115 1.00 2.00 3.00
225
25. Kết quả xử lý tình huống
Tần suất
Giá trị %
Tỷ lệ %
% lũy tiến
Tình huống 1: Đồng nghiệp thực hành sai khi khám lâm sàng
Valid
6.0
6.0
6.0
27
Can thiệp ngay không để BN ảnh hưởng
Đợi đồng nghiệp làm xong
74.4
80.4
74.4
337
Báo cáo với cấp trên
6.8
87.2
6.8
31
Không làm gì sai sót nhở
6.2
93.4
6.2
28
Khó trả lời
6.6
100.0
6.6
30
Tổng số
100.0
100.0
453
Tần suất
Tỷ lệ %
Giá trị % % lũy tiến
Tình huống 2: Thái độ khi bị đánh giá kém chuyên môn
Valid
Yêu cầu kiểm tra lại thông tin
21.2
21.2
21.2
96
Đề nghị họp đối chất
12.1
12.1
33.3
55
Dành thêm thời giời cho công tác thăm khám
6.8
6.8
40.2
31
Học thêm nâng cao trình độ chuyên môn
40.6
40.6
80.8
184
Không làm gì ví điều đó không quan trọng
19.2
19.2
100.0
87
Tổng số
100.0
100.0
453
Tần suất
Giá trị %
Tỷ lệ %
% lũy tiến
Tình huống 3: Nhận quà của bệnh nhân trong quá trình điều trị Vui vẻ nhận phong bì
33.8
33.8
153
Valid
33.8
Ngại nhưng vẫn nhận
33.3
151
33.3
67.1
Từ chối không nhận
32.9
149
32.9
100.0
Tổng số
100.0
453
100.0
Tần suất
Tỷ lệ %
Giá trị %
% lũy tiến
Tình huống 4: Nhận quà của bệnh nhân sau điều trị Phương án 1
26.3
119
Valid
26.3
26.3
Phương án 2
33.3
151
33.3
59.6
Phương án 3
40.4
183
40.4
100.0
Tổng số
100.0
453
100.0
Tần suất
Giá trị %
Tỷ lệ %
% lũy tiến
Tình huống 5: Thái độ khi đồng nghiệp có sai sót trong khám lâm sàng Báo cáo cấp trên
26.0
26.0
118
Valid
26.0
Trao đổi với đồng nghiệp
335
74.0
74.0
100.0
Tổng số
453
100.0
100.0
226
Phụ lục 9: Sơ đồ 4.1. SƠ ĐỒ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
CHUẨN BỊ THỰC NGHIỆM
Bồi dưỡng cộng tác viên
Phân tích, chương trình, biên soạn nội dung TN Xây dựng các tiêu chí đánh giá, thang đánh giá Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp , đối tượng TN
TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM
Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho nhóm TN Kiểm tra trình độ ban đầu của nhóm TN và ĐC Giáo dục, bồi dưỡng y đức theo chương trình cho nhóm TN
KẾT THÚC THỰC NGHIỆM
Phân tích kết quả TN Rút ra các kết luận sư phạm
Kiểm tra kết thúc các giai đoạn TN
227
Phụ lục 10: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG VỀ PT Ý THỨC Y ĐỨC, THÁI ĐỘ Y ĐỨC, HÀNH VI Y ĐỨC CỦA BSNT Ở NHÓM TN VÀ ĐC
1. Trước khi vào trường để theo học nghề y, đồng chí nghĩ như thế nào
về nghề y? Đây là một nghề: A. Rất cao quý C. Bình thường như các nghề khác B. Cao quý D. Dành cho những người kém cỏi
2. Đồng chí quyết định theo học nghề y vì: - Rất mong muốn được trở thành người thầy thuốc chân chính; - Sức ép của cha mẹ; - Dễ xin việc; - Được xã hội tôn vinh; - Phù hợp với khả năng của bản thân; - Hoàn cảnh thực tế gia đình; - Bạn bè khuyên bảo; - Yêu công việc vì cứu giúp được nhiều người. 3. Sau khi tham dự lễ kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2 đầu tiên,
B. Cao quý D. Dành cho những người kém cỏi
- Có lý tưởng y đức cao đẹp, thế giới quan khoa học; - Có trình độ văn hoá trong ứng xử, giao tiếp; - Có kiến thức chuyên môn y nghiệp giỏi; - Lối sống trung thực, giản dị, chan hoà với mọi người; - Có năng lực sư phạm khi chuyền nghề; - Có khả năng tự học, tự bồi dưỡng, y nghiệp và y đức; - Có lòng yêu nghề, đồng cảm với người bệnh; - Quan tâm, tận tình, chu đáo trong chăm sóc người bệnh;
- Có quan hệ rộng với nhiều tầng lớp trong xã hội;
228
cảm nghĩ của đồng chí như thế nào về nghề y? A. Rất cao quý C. Bình thường như các nghề khác 4. Theo đồng chí người TTQĐ cần có những phẩm chất y đức gì? Hãy liệt kê 5. Đồng chí hãy xếp thứ tự quan trọng của những phẩm chất y đức nêu trên: 6. Trước khi vào trường theo học nghề y đồng chí đã có những phẩm chất nào? Trong những phẩm chất nêu trên? 7. Theo đồng chí y đức của người thầy thuốc được biểu hiện như thế nào? Hãy đánh dấu vào đầu dòng nếu đồng chí đồng ý:
- Say mê nhiệt tình với công việc chuyên môn;
- Có niềm tin y nghiệp;
- Có khả năng tổ chức điều hành công việc trong đơn vị;
- Có ý chí vươn lên, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.
8. Theo đồng chí các môn y học chuyên ngành có vai trò như thế nào đối
với việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc?
A. Rất quan trọng B. Quan trọng
C. Bình thường như các môn khác D. Không có ý nghĩa gì
9. Theo đồng chí các môn khoa học xã hội và nhân văn có vai trò như thế
nào đối với việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc?
A. Rất quan trọng B. Quan trọng
C. Bình thường như các môn khác D. Không có ý nghĩa gì
10. Theo đồng chí y đức của người thầy thuốc được hình thành, phát triển:
A. Trước khi vào học nghề y B. Trong quá trình học nghề y
C. Khi đã công tác trong nghề y D. Cả ba ý trên
11. Đồng chí hãy xếp theo thứ tự tầm quan trọng của các môi trường
trong việc hình thành, phát triển y đức của người thầy thuốc:
A. Trong quá trình học nghề y B. Khi đã công tác trong nghề y
12. Để hình thành, PTYĐ của người TTQĐ, cần phải tiến hành:
- Giáo dục lòng yêu nghề y;
- Giáo dục lòng thương yêu, đồng cảm, tinh thần hết lòng vì người bệnh;
- Giáo dục ý thức học tập, trau dồi chuyên môn y nghiệp;
- Giáo dục ý thức rèn luyện tay nghề của người thầy thuốc;
- Giáo dục tác phong mẫu mực, lịch thiệp, gần gũi, tế nhị;
- Giáo dục đức tính khiêm tốn, cẩn trọng, cầu thị, thật thà, dũng cảm;
- Giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác khi ở những nơi khó khăn;
- Giáo dục ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức và chuyên môn;
- Giáo dục ý thức phối hợp quân dân – y trong khám chữa bệnh.
- Giáo dục lòng vị tha, nhân ái với người bệnh của người thầy thuốc;
13. Đồng chí hãy xếp theo thứ tự quan trọng của các nội dung giáo dục nêu trên: - Giáo dục lòng yêu nghề y; - Giáo dục lòng thương yêu, đồng cảm, tinh thần hết lòng vì người bệnh; - Giáo dục ý thức học tập, trau dồi chuyên môn y nghiệp;
229
- Giáo dục ý thức rèn luyện tay nghề của người thầy thuốc; - Giáo dục lòng vị tha, nhân ái với người bệnh của người thầy thuốc; - Giáo dục tác phong mẫu mực, lịch thiệp, gần gũi, tế nhị; - Giáo dục đức tính khiêm tốn, cẩn trọng, cầu thị, thật thà, dũng cảm; - Giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác khi ở những nơi khó khăn; - Giáo dục ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức và chuyên môn; - Giáo dục ý thức phối hợp quân dân – y trong khám chữa bệnh. 14. Theo đồng chí những lực lượng nào tham gia vào công tác giáo dục,
bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc? - Cán bộ quản lý học viên; - Giảng viên dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; - Giảng viên dạy các môn y học chuyên ngành; - Tổ chức Đoàn cơ sở; - Ban giám hiệu, thủ trưởng đơn vị quân y; - Đảng uỷ Học viện, nhà trường, Đảng uỷ đơn vị quân y; - Phòng, Ban, cơ quan chức năng ở đơn vị quân y; - Các tổ chức chính trị - xã hội; - Gia đình; - Tập thể đơn vị cơ sở, chi đoàn; - Cán bộ đơn vị cơ sở, cán bộ Đoàn. 15. Theo đồng chí những lực lượng này có vai trò như thế nào trong công tác giáo dục, bồi dưỡng y đức cho người thầy thuốc? Hãy xếp theo thứ tự:
- Cán bộ quản lý học viên; - Giảng viên dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; - Giảng viên dạy các môn y học chuyên ngành; - Tổ chức Đoàn cơ sở; - Ban giám hiệu, thủ trưởng đơn vị quân y; - Đảng uỷ Học viện, nhà trường, Đảng uỷ đơn vị quân y; - Phòng, Ban, cơ quan chức năng ở đơn vị quân y; - Các tổ chức chính trị - xã hội; - Gia đình; - Tập thể đơn vị cơ sở, chi đoàn; - Cán bộ đơn vị cơ sở, cán bộ Đoàn. 16. Sau thời gian đi thực tế đơn vị và quá trình học BSNT tại bệnh viện,
đồng chí cảm nhận như thế nào về nghề y?
- Rất thích công việc của người thầy thuốc;
230
- Thích công việc của người thầy thuốc; - Công việc của người thầy thuốc cũng bình thường như những công việc khác; 17. Sau thời gian đi thực tế đơn vị và quá trình học BSNT tại bệnh viện,
đồng chí suy nghĩ như thế nào về nghề y?
- Yêu thích nghề y hơn; - Thích thú với công việc; - Chững chạc và tự tin hơn; - Không yêu mà cũng không coi thường nghề y; - Coi thường nghề y; - Nghề y là nghề cao quý; - Nghề y là một nghề vất vả; - Nghề y là một nghề đòi hỏi tính khoa học, nghệ thuật và sáng tạo; - Chỉ dạy nghề y mà không trực tiếp điều trị là công việc buồn chán.
18. Theo đồng chí để phát triển y đức của người TTQĐ, có thể sử dụng
- Giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị, pháp luật và đạo đức cho người
- Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng
- Thiết kế chương trình, nội dung môn đạo đức y học trong đào tạo
- Coi trọng công tác tổ chức quản lý bằng pháp luật trong ngành y tế và chăm lo
các biện pháp nào dưới đây: thầy thuốc quân đội; theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở người thầy thuốc quân đội; người thầy thuốc quân đội; - Tích cực hoá hoạt động tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội, gắn với xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh; đời sống, đảm bảo tốt chính sách cho người thầy thuốc quân đội
19. Đồng chí hãy xếp thứ tự vai trò của các biện pháp phát triển y đức
- Giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị, pháp luật và đạo đức cho người
- Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện y đức cách mạng
- Thiết kế chương trình, nội dung môn đạo đức y học trong đào tạo
của người thầy thuốc quân đội: thầy thuốc quân đội; theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở người thầy thuốc quân đội; người thầy thuốc quân đội;
231
- Coi trọng công tác tổ chức quản lý bằng pháp luật trong ngành y tế và chăm lo
- Tích cực hoá hoạt động tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội, gắn với xây dựng môi trường y đức thực sự trong sạch, lành mạnh; đời sống, đảm bảo tốt chính sách cho người thầy thuốc quân đội
20. Sau khi tốt nghiệp, đồng chí muốn được làm việc tại đâu? Vì sao? - Ở các bệnh viện tuyến cuối của quân đội; - Nơi có thu nhập cao; - Nơi có điều kiện sống tốt; - Gần nhà; - Nơi có rất nhiều khó khăn; Vì:…………………………………….. 21. Nếu được phân công ở nơi công tác xa rất nhiều khó khăn, đồng chí sẽ: - Vui vẻ nhận công tác; - Nhận công tác một thời gian sau đó tìm cách chuyển công tác về nới tốt hơn; - Chống quyết định và tìm cách để được nhận công tác ở những nới tốt hơn: - Chán nản và không muốn theo đuổi nghề y.
22. Sau khi tốt nghiệp, đồng chí có muốn mở một phòng khám riêng không? Vì sao? 2.3. Có thầy thuốc bên cạnh công việc chuyên môn họ còn làm ăn, buôn
bán và giàu có một cách chính đáng, đồng chí sẽ: A. Đồng ý B. Phân vân C. Không nên D. Phản đối
24. Đồng chí cảm thấy như thế nào nếu một thầy thuốc làm nhiệm vụ
giảng dạy lại giấu nghề và không truyền nghề cho học viên của mình? A. Phẫn nộ C. Không cảm thấy gì D. Thông cảm B. Coi thường
25. Khi học lâm sàng tại BV, gặp phải BN đang sốt cao (dễ lây nhiễm bệnh) bác
sĩ chỉ đạo, yêu cầu đồng chí theo dõi chăm sóc BN đó. Đồng chí cảm thấy: A. Cảm thông, vui vẻ B. Đó là trách nhiệm C. Sợ
D. Trốn tránh 26. Một đồng nghiệp luôn đề cao giá trị vật chất coi thường y đức. Đồng chí sẽ:
A. Đồng ý
B. Phân vân
C. Phản đối
27. Một đồng nghiệp rất nghèo nhưng vừa cố gắng học và đề cao y đức. Đồng chí
cảm thấy: A. Khâm phục
B. Bình thường
C. Coi thường
28. Gặp một người thường chê bai nghề y, thầy thuốc. Đồng chí cảm thấy:
A. Phẫn nộ
B. Coi như không biết
C. Đồng tình
232
29. Thấy một thầy thuốc là giảng viên nghèo nhưng lại say sưa với công
việc, suốt ngày chỉ tập trung viết sách và soạn giáo án. Đồng chí sẽ: A. Kính nể
C. Coi thường B. Bình thường 30. Đồng chí tham gia học lâm sàng tại bệnh viện như thế nào?
A. Rất tích cực B. Tích cực C. Bình thường D. Sao nhãng
31. Trong các kỳ thi học phần, hết môn, đồng chí thường:
A. Không bao giờ sử dụng tài liệu C. Nhiều lần sử dụng B. Thi thoảng sử dụng D. Rất thường xuyên sử dụng tài liệu
32. Việc học tập của đồng chí ở bệnh viện, ký túc xá như thế nào:
B. Học cối để thi qua là được
A. Chủ động học C. Lúc nào thích thì học, không thì thôi D. Không học 33. Khi học thực hành làm bệnh án, đồng chí sẽ?
A. Cẩn thận B. Vừa phải C. Cho qua chuyện D. Mượn của bạn để chép
34. Đoàn TNCSHCM tổ chức các hoạt động XH: hiến máu, tình nguyện
về nguồn khám, chữa bệnh, văn nghệ, thể thao. Đồng chí thường tham gia: A. Rất tích cực B. Thường xuyên C. Thi thoảng
D. Không bao giờ 35. Giờ học trên lớp nhưng không phải môn chuyên ngành, đồng chí sẽ:
A. Học từ đầu cho đến cuối C. Ngủ trong lớp
B. Lúc nào hay thì nghe, không thì thôi D. Bỏ về 36. Gia đình dành cho 3 triệu đồng và yêu cầu đồng chí mua điện thoại
di động để tiện liên lạc, đồng chí sẽ: A. Mua theo yêu cầu của gia đình C. Dùng tiền đó để mua sách, tài liệu B. Dùng để ăn uống D. Đánh đề, lô tô, xổ số, phỏm
233
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
Phụ lục 11: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN, THẦY THUỐC VỀ TN SƯ PHẠM
1. Theo đồng chí việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã đảm bảo
các yêu cầu của TN khoa học ở mức nào? A. Rất tốt C. Đạt yêu cầu B. Tốt D. Chưa đạt yêu cầu
2. Theo đồng chí việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã : A. Chứng minh giả thuyết khoa học B. Chưa chứng minh giả thuyết khoa học
3. Việc tổ chức TN sư phạm của Luận án đã tiến hành các nội dung như
thế nào? A. Đủ các nội dung đã đặt ra B. Chưa đầy đủ các nội dung
4. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà
đồng chí nhận thấy có hiệu quả nhất trong quá trình TN sư phạm.
5. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà
đồng chí nhận thấy ít có hiệu quả trong quá trình TN sư phạm.
6. Đồng chí hãy liệt kê những biện pháp PTYĐ của người TTQĐ mà
đồng chí nhận thấy không có hiệu quả nhất trong quá trình TN sư phạm.
7. Theo đồng chí trong thực tế tình hình xã hội, quân đội như hiện
nay cần bổ sung thêm những biện pháp PTYĐ nào? Đồng chí hãy kể tên.
8. Đồng chí đánh giá như thế nào về kết quả làm việc của các cộng
tác viên trong quá trình TN sư phạm?
A. Rất phù hợp C. Không phù hợp và cần bổ sung, sửa chữa
B. Phù hợp
- Thực hiện linh hoạt và sáng tạo những yêu cầu TN đã đặt ra; - Thực hiện đúng những yêu cầu TN đã đặt ra; - Thực hiện một cách máy móc những yêu cầu TN đã đặt ra; - Không thực hiện đầy đủ những yêu cầu TN đã đặt ra. 9. Theo đồng chí các phương pháp xử lý kết quả TN sư phạm là: - Khoa học, hợp lý và chính xác; - Một số điểm chưa thực khoa học, hợp lý và chính xác; - Không khoa học, hợp lý và chính xác. 10. Theo đồng chí việc biểu đạt các kết quả TN trong luận án là:
11. Theo đồng chí các kết luận rút ra sau quá trình TN và xử lý các kết quả TN là: - Rất chính xác, khoa học và phản ánh đúng trình độ của các nghiệm thể; - Tương đối chính xác và khoa học; - Không phản ánh đúng diễn biến và trình độ của các nghiệm thể. 12. Đồng chí có đề xuất gì về quá trình tổ chức TN sư phạm của luận án?
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!
234
Phụ lục 12: TỔNG HỢP KẾT QUẢ TN CỦA BSNT Ở NHÓM TN VÀ ĐC (Nhóm thực nghiệm: 28 đồng chí)
STT Họ tên
Sinh
Cấp bậc
Năm
Gđ1 Gđ2 Gđ3
PTD NTM HTL NTS THX NHC TTNK VTMT NND DDDL LTH DVN NVPT DSH TQD VVN NTL PQT DCT NDT LTD NAT LTHV PQT NBM PTTH NTT VBN
12/11/87 23/10/87 03/4/87 30/11/87 28/7/87 03/8/87 07/12/87 16/7/87 06/8/88 12/12/87 26/01/87 17/09/87 01/8/87 02/2/87 05/9/87 13/12/86 31/10/87 03/10/87 9/7/87 10/3/87 17/10/87 19/06/87 13/09/87 10/1/86 06/11/86 3/6/88 01/4/88 27/6/88
Yt yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 7 7 7 5 5 5 5 8
Qh yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 7 5 5 5 5 8
2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012 2012
Hv yd1 8 8 8 8 7 7 7 6 6 6 6 6 6 5 5 5 5 6 6 6 6 6 4 5 4 5 5 8
Yt yd2 8 8 8 10 7 8 7 6 9 6 8 6 6 8 8 6 6 8 6 6 8 7 7 7 8 7 7 10
Qh yd2 9 9 9 9 8 7 8 6 7 6 7 6 6 7 6 6 7 6 7 6 7 6 7 6 6 6 6 9
Hv yd2 6 8 6 9 9 7 7 6 7 6 7 7 7 7 5 7 5 6 7 6 6 7 4 6 4 6 6 9
Yt yd3 10 10 10 8 8 7 8 8 8 7 8 6 6 8 8 6 6 7 7 7 8 7 8 8 8 7 7 10
Qh yd3 9 9 9 9 8 8 8 6 8 6 8 6 7 7 7 8 7 6 7 6 8 6 8 6 7 7 7 9
Hv yd3 8 9 10 8 6 8 6 9 6 6 7 7 7 7 6 7 5 5 8 7 7 7 5 6 5 7 7 9
1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 4 3 3 3
1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3
2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân Dân Dân
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
(Nhóm đối chứng: 29 đồng chí)
STT Họ tên
Sinh
Cấp bậc
Năm
Gđ1 Gđ2 Gđ3
13/3/88 27/5/88 19/9/88 3/9/1989 01/10/88 20/11/88 24/8/88 20/4/88 08/1/88 06/4/88 03/9/87 23/5/88 21/9/88 23/7/88 05/10/89 01/8/89 19/4/87 6/12/88 25/7/86 01/7/88 28/01/88 31/12/88 23/9/88 10/9/88 18/9/88 16/9/88 16/9/88 20/12/89 06/5/88
2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân Dân 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ 2/ Dân 2/
2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013 2013
1 NTP 2 TAH 3 NTT 4 NTH 5 ĐVB 6 NTHO 7 BVN 8 NNN 9 NTD 10 LTT 11 ĐDT 12 NMH 13 NMN 14 NTT 15 BQT 16 NTVA 17 TDT 18 NDT 19 TQH 20 NQH 21 NVT 22 DTN 23 NVM 24 LVD 25 LTH 26 NDT 27 DVH 28 NTCT 29 NTH
Yt yd1 8 8 8 8 8 8 8 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 7 6 6 6 6 5 5 5 5 5 5
Qh yd1 8 8 8 7 7 7 6 6 6 7 6 7 7 6 6 7 6 7 6 6 5 6 6 5 5 5 5 5 5
Hv yd1 8 8 8 7 7 7 6 6 6 7 6 7 7 6 5 7 6 7 6 6 5 6 6 4 5 5 5 4 5
Yt yd2 8 6 8 8 6 8 6 8 7 7 6 7 6 8 9 9 8 6 8 7 6 6 6 6 7 6 7 6 6
Qh yd2 9 9 9 8 8 8 6 7 6 7 7 7 7 7 7 7 6 7 7 7 7 6 6 6 6 6 6 5 5
Hv yd2 8 9 8 6 7 8 6 6 6 8 6 7 8 6 5 5 5 7 6 4 5 6 6 4 5 5 5 4 5
Yt yd3 8 8 8 8 8 7 8 7 7 6 7 7 7 9 8 9 7 7 8 7 6 6 7 7 5 7 6 5 7
Qh yd3 9 9 7 7 8 8 7 7 6 7 6 6 7 6 7 5 6 6 7 7 7 7 7 5 6 6 6 6 5
Hv yd3 8 9 8 7 7 7 6 7 6 7 6 8 8 6 5 5 5 7 6 5 5 6 6 6 5 6 5 6 5
4 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 3 3 4 3
1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 4 3 3 3 4 3 3 3 3 3
1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3
2
Phụ lục 13: LỜI THỀ HYPPOCRAT
Tôi xin thề trước Appolon thần chữa bệnh, trước Esculape thần y học,
trước thần Hygie và Panacéc và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ
thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam
kết sau đây:
- Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra
tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng
những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ xem con của thầy như anh em ruột thịt
của tôi, và nếu họ muốn học nghề y tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà
cũng không dấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài
học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của
thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời cam kết và một
lời thề đúng với y luật mà không truyền cho một ai khác.
- Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chi tiết có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và
sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.
- Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và
cũng không tự mình gợi ý cho họ; Cũng như vậy, tôi sẽ không trao cho bất cứ
người phụ nữ nào những thuốc sẩy thai.
- Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết. Tôi sẽ không thực
hiện những phẫu thuật mở bàng quan mà dành việc đó cho những người
chuyên nghiệp.
mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất, tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự
do hay nô lệ. Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài
lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần
để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.
Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng
một cuộc sống sung sướng và sẽ hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của
mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu
một số phận khổ sở ngược lại.
5
- Dù vào bất kỳ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh
Phụ lục 14
9 ĐIỀU Y HUẤN CÁCH NGÔN CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông
lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn
nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hoá, thu nhập
được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không
phạm sai lầm.
2- Được mời đi thăm bệnh: nên tuỳ bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt
đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước
chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không
thành thật, thì khó mong thu được kết quả.
3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, goá phụ, ni cô... cần phải có người nhà
bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho
đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không
nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.
4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý
cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có
bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng
con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"
5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu
chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước
biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự
mình cũng không hổ thẹn.
6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách
Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng
phương mà bào chế, hoặc tuỳ bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải
phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để
thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế
sẵn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.
7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hoà nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng;
6
rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ
người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.
8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, goá bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tuỳ sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.
7
9- Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu: “Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng”, “Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp: bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!”
Phụ lục 15
LỜI THỀ TỐT NGHIỆP CỦA NGƯỜI CÁN BỘ Y TẾ VIỆT NAM
Sau nhiều năm học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được các thầy
cô giáo hết lòng dạy dỗ, dìu dắt, được các bạn đồng nghiệp chân tình giúp đỡ.
Trong buổi lễ tốt nghiệp trọng thể này.
Dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc,
Trước các thầy giáo, cô giáo và các cán bộ CNVC kính mến,
Trước các bạn đồng học thân thiết.
Tôi xin thề:
- Một: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN, phấn đấu
hết sức mình để bảo vệ và xây dựng đất nước thân yêu. Sẵn sàng đi bất cứ nới
đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến.
- Hai: Luôn luôn tôn trọng hiến pháp và luật pháp của Nhà nước, thực
hiện nghiêm chỉnh các quan điểm và quy định của ngành y tế Việt nam,
không bao giờ có những hành động làm ảnh hưởng đến truyền thống nhà
trường, trái với lương tâm của người cán bộ y tế nhân dân.
- Ba: Giữ gìn bí mật nghề nghiệp, tôn trọng phẩm chất người bệnh, hết
lòng hết sức phục vụ sức khoẻ nhân dân, làm đúng lời dạy của Hồ Chủ tịch:
”Lương y như từ mẫu”
- Bốn: Khiêm tốn, đoàn kết và hợp tác chân thành với các đồng nghiệp,
- Năm: Vì sự nghiệp tạo nên sức khoẻ và đem lại hạnh phúc cho
nhân dân, tôi nguyện tích cực lao động và học tập, phấn đấu không mệt
mỗi nâng cao trình độ chính trị khoa học kỹ thuật, góp phần xây dựng nền
y học Việt Nam.
Tôi nguyện giữ trọn lời thề trong bất cứ hoàn cảnh nào để xứng đáng
với công ơn to lớn của Đảng, của nhân dân, nhà trường và gia đình.
8
yêu ngành, yêu nghề, tự hào chính đáng với các công việc của chính mình.
Phụ lục 16: QUY ĐỊNH VỀ Y ĐỨC
(TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC Y TẾ)
Ban hành kèm theo Quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 1 năm 1996
của Bộ trưởng Bộ Y tế
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện
ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc
người bệnh, coi họ đau đơn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó
khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền
Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo
đức được xã hội thừa nhận.
1- Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện
đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải
có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao
phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực
nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi
khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
2- Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên
môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương
tế và sự chấp nhận của người bệnh.
3- Tôn trọng quyền được khám bệnh chữa bệnh của nhân dân. Tôn
trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần
bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính
sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử người bệnh. Không được có
thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải
trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
4- Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở,
tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải
9
pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y
giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác
điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người
bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi
phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu
chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.
5- Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được
đun đẩy người bệnh.
6- Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm
chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.
7- Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí
kịp thời các diễn biến của người bệnh.
8- Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục
điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ.
9- Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và
hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.
10- Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy,
sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.
11- Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình,
không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.
chống dịch bệnh cứu chữa người bị tai hạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu
thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.
10
12- Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phòng
Phụ lục 17
TIÊU CHUẨN “ ĐƠN VỊ QUÂN Y 5 TỐT”
1. Phục vụ chiến đấu, SSCĐ, huấn luyện xây dựng đơn vị, thực
hiện nề nếp chính quy tốt
- Xây dựng và thường xuyên kiện toàn kế hoạch bảo đảm quân y theo
nhiệm vụ của đơn vị, các phân đội quân y cơ động thường xuyên sẵn sàng
luyện tập và sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi có tình huống.
- Thực hiện nghiêm các chế độ: trực chỉ huy, trực ban, trực chuyên môn
nghiệp vụ và trực SSCĐ đủ số lượng, đúng thành phần, nắm chắc được nhiệm
vụ và xử trí tốt các tình huống xảy ra theo phân cấp nhiệm vụ.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên vững vàng về chính trị tư tưởng
và y đức, giỏi chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng đơn vị là một khối thống
nhất, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Bảo đảm an toàn đơn vị, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật
tự xã hội trong khu vực đóng quân. Tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh,
các tổ chức quần chúng (Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn) đạt vững mạnh.
- Có kế hoạch tổ chức triển khai phong trào thi đua của Ngành, thực
hiện tốt chế độ báo cáo thi đua theo định kỳ.
2. Có nếp sống vệ sinh, khoa học, đảm bảo quân số khỏe tốt
- Thực hiện tốt các biện pháp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội, đảm
- Thường xuyên cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
thương, bệnh binh và cán bộ, nhân viên trong đơn vị.
- Không có các trường hợp vi phạm các tệ nạn xã hội trong đơn vị.
- Có kế hoạch và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp cần thiết xử
lý chất thải, bảo vệ môi trường.
bảo quân số khỏe và vượt chỉ tiêu theo phân cấp quy định.
3. Quản lý sức khỏe và cấp cứu, điều trị tốt
- Công tác quản lý sức khỏe tốt, có sổ theo dõi ghi chép đầy đủ tình
hình sức khỏe của toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trong toàn đơn vị, nhất là các đồng
11
chí có bệnh mãn tính. Hàng năm, tổ chức khám sức khỏe đinh kỳ đạt 100%
quân số có mặt tại đơn vị.
- Thực hiện và vượt chỉ tiêu thu dung cấp cứu, điều trị theo quy định.
- Thực hiệm nghiêm 44 chế độ bệnh viện, 25 chế độ bệnh xá theo quy
định của Ngành. Phát huy cao nhất năng lực chuyên môn kỹ thuật hiện có
trong thu dung cấp cứu, điều trị, hạn chế đến mức thấp nhất những tai nạn, tai
biến trong điều trị.
- Làm tốt công tác đào tạo huấn luyện, chỉ đạo tuyến.
- Các cơ sở được phép khám, chữa bệnh cho nhân dân có thu một phần
viện phí và bệnh nhân bảo hiểm y tế ngoài quân đội phải thực hiện theo đúng
các quy định của Bộ Quốc phòng và hướng dẫn của Cục Quân y.
4. Kết hợp Y dược học hiện đại với Y dược học cổ truyền tốt
4.1. Đối với quân y tuyến đại đội, tiểu đoàn, các bệnh xá, đội điều trị
và tương đương cần đạt một số tiêu chuẩn cụ thể sau
- Có vườn thuốc nam diện tích 150 - 200 m², đủ 50 cây thuốc theo 10
nhóm cây thuốc chữa bệnh thông thường.
- Đạt tiêu chuẩn thu hái dược liệu theo quy định.
- Đạt chỉ tiêu 10% tỉ lệ giường bệnh cho y học cổ truyền của tuyến
bệnh xá, đội điều trị.
- Đạt chỉ tiêu điều trị bằng thuốc nam, châm cứu khỏi đạt 10 - 15%
- Tổ chức học tập về y học cổ truyền cho các đối tượng 10 - 15 giờ/ năm.
4.2 Đối với Bệnh viện, Viện y học cổ truyền
- Có vường thuốc mẫu > 150 - 200 m², đủ 10 nhóm cây thuốc thường
dùng, để huấn luyện, hướng dẫn cán bộ, nhân viên y dược của bệnh viện, sinh
viên thực tập và các lớp tập huấn chuyên ngành. Tổ chức thu hái phục vụ điều
trị cho bệnh nhân.
- Điều trị y học cổ truyền đơn thuần đạt 70% tổng số thu dung bệnh
nhân ở khoa YHCT.
12
tổng số thu dung.
- Thực hiện có hiệu quả nghiên cứu, kế thừa ứng dụng vào chẩn đoán,
điều trị cho bệnh nhân.
- Sử dụng có hiệu quả trang bị, bào chế, sản xuất thuốc thành phẩm,
nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.
5. Quản lý và sử dụng thuốc, trang thiết bị y tế
- Chấp hành nghiêm các quy chế quản lý thuốc, trang thiết bị y tế; sử
dụng thuốc hợp lý, an toàn, tiết kiệm.
- Thực hiện giữ tốt, dùng bền và có hiệu quả thuốc, trang thiết bị y tế,
không để thuốc quá hạn, thuốc giả, thuốc kém phẩm chất trong đơn vị.
- Bố trí xắp xếp thuốc, trang thiết bị y tế gọn gàng, khoa học; giám sát chặt
chẽ chế độ quản lý, sử dụng thuốc độc, thuốc gây nghiện theo đúng quy định.
- 100% cán bộ, nhân viên quân y nắm vững tính năng, công dụng, cách
sử dụng thuốc, trang thiết bị hiện đại có trong đơn vị theo phân cấp nhiệm vụ
chuyên môn kỹ thuật và sử dụng thành thạo.
- Các cơ sở pha chế phải đảm bảo các yêu cầu quy định, có quy trình
pha chế và có sổ sách ghi chép đầy đủ.
- 100% máy y tế có lịch theo dõi, bảo quản và định kỳ được ghi chép,
(Trích: Chỉ thị số 1253/HC-39 ngày 26/9/2006 của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần)
13
đánh giá chất lượng.

