
Nguyễn Thị Huyền Dương Báo Cáo Tổng
Hợp
QTKD10-HÀ NỘI Trường CĐ KTKT Công Nghiệp I
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mọi doanh
nghiệp phải hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định và tự
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không còn cách
nào khác phải biết đổi mới cho phù hợp từ việc nghiên cứu xem sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào đến việc tổ chức điều hành sản xuất ra sao để với chi
phí thấp nhất sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng đáp ứng được nhu
cầu của người tiêu dùng. Đứng trước thực tế như vậy Hacatex cũng không
ngừng vận động luôn bám sát để nắm bắt sự thay đổi của thị trường, mạnh
dạn áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, tổ
chức điều chỉnh lại cơ cấu lao động, tác phong làm việc công nghiệp trong
công ty … Với mục tiêu chất lượng sản phẩm đặt lên hàng đầu, sản phẩm của
HACATEX dù còn mới mẻ nhưng đã nhanh chóng được thị trường nội địa
chấp nhận và trong tương lai không xa sản phẩm của công ty sẽ vươn ra thị
trường khu vực và thế giới.
Trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 7 tuần thực tập tại Công ty nhưng em
đã thấy một không khí làm việc rất sôi nổi, nó giúp em hiểu được thực tế hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và của
công ty nói riêng trong cơ chế thị trường, giúp em so sánh, kiểm nghiệm và áp
dụng những gì mình đã được lĩnh hội từ các thầy cô đến thực tế sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong công ty nhất là các cô chú
trong phòng Tổ chức hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Mạnh Hùng - giảng
viên khoa Kinh tế đã nhiệt tình hướng dẫn em, giúp em hoàn thành báo cáo
thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2004

Nguyễn Thị Huyền Dương Báo Cáo Tổng
Hợp
QTKD10-HÀ NỘI Trường CĐ KTKT Công Nghiệp I
2
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Dương
PHẦN I:
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty dệt vải công nghiệp Hà
Nội.
Năm 1967 trong giai đoạn Miền Bắc đang chịu ảnh hưởng nặng nề
bởi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một nhà máy dệt chăn thuộc
Liên hiệp dệt Nam Định đã sơ tán lên Hà Nội và tạo cơ sở xản xuất chăn
chiên tại xã Vĩnh Tuy huyện Thanh Trì - Hà Nội.
Bước khởi đầu này nhà máy gặp không ít khó khăn như quy trình
công nghệ thủ công lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ ngèo nàn, hơn nữa trước
kia nhà máy tận dụng nguồn nguyên liệu từ phế liệu bông sợi rối của Liên
hiệp dệt Nam Định thì bây giờ để có nguyên liệu đảm bảo tiếp tục sản xuất
nhà máy phải thu mua nguyên liệu từ nhiều nguồn khác nhau như Dệt 8-3,
Dệt Kim đông xuân…nhưng nguồn nguyên liệu này cũng được cung cấp thất
thường không đều đặn. Chính vì vậy mà trong thời gian này nhà máy liên tục
làm ăn thua lỗ và phải trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước.
Cho đến năm 1970 trong công cuộc miền Bắc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, dưới sự giúp đỡ to lớn của nước bạn Trung Quốc một dây chuyền sản
xuất vải mành từ sợi bông để làm lốp xe đã được lắp đặt tại nhà máy, đến năm
1972 dây chuyền này chính thức đi vào hoạt động và sản xuất ổn định đã mở
ra một trang sử mới, một hướng đi mới đầy triển vọng cho nhà máy.
Sản phẩm của nhà máy cung cấp cho nhà máy cao su Sao Vàng để
làm lốp xe đạp và cung cấp cho một số công ty thương mại khác ở
miền Bắc. Sản phẩm này đã mang lại lợi nhuận cho nhà máy và góp
phần vào công cuộc xây dựng đất nước.

Nguyễn Thị Huyền Dương Báo Cáo Tổng
Hợp
QTKD10-HÀ NỘI Trường CĐ KTKT Công Nghiệp I
3
Để mở rộng sản xuất kinh doanh năm 1973 nhà máy lắp thêm dây
chuyền sản xuất vải bạt để làm bạt, giầy vải… Trong cùng thời gian
này nhà máy đã chuyển giao lại dây chuyền sản xuất chăn chiên
cho Liên hiệp Dệt Nam Định sau đó đổi tên lại thành nhà máy Dệt
vải công nghiệp Hà Nội.
Với công nghệ mới và hướng đi đúng đắn đã giúp nhà máy từ chỗ
làm ăn thua lỗ, quy mô nhỏ với tổng vốn đầu tư ban đầu chỉ
475.406VNĐ (thời giá năm 1968), số cán bộ công nhân viên chỉ 174
người trong đó có 144 công nhân trực tiếp sản xuất, đến năm 1988 -
sau hơn 10 năm hoạt động tổng vốn đầu tư đă lên tới trên 5 tỷ VNĐ
(thời giá năm 1968), tổng sản lượng đạt trên 10 tỷ VNĐ và số cán
bộ công nhân viên lên tới 1.079 người trong đó có 986 công nhân
trực tiếp sản xuất. Điều này chứng tỏ mặc dù trong cơ chế bao cấp
sản xuất kinh doanh dưới sự chỉ đạo của Nhà nước nhưng nhà máy
đã không lệ thuộc mà luôn nỗ lực phấn đấu để ngày càng phát triển.
Năm 1988 nhà máy đạt đỉnh cao về tiêu thụ sản phẩm, gồm có:
3,308 triệu m2 vải mành và 2,8 triệu m2 vải bạt các loại. Song song
với việc sản xuất nhà máy tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng như:
văn phòng, nhà xưởng, kho bãi, khuôn viên trong nhà máy cùng với
việc không ngừng đầu tư thêm máy móc thiết bị tạo điều kiện và
môi trường làm việc tốt hơn cho công nhân. Đây có thể coi là thời
kỳ tăng trưởng của nhà máy.
Trước thực trạng đất nước vào giữa thập kỷ 1980 đầy những khó
khăn gay gắt và phức tạp đã đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc
có ý nghĩa sống còn với nền kinh tế nước nhà. Đại hội lần thứ VI
của Đảng đã có sự đổi mới về tư duy kinh tế, cụ thể là trong chỉ thị
số 10 của Bộ Chính Trị đã nêu rõ: xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp

Nguyễn Thị Huyền Dương Báo Cáo Tổng
Hợp
QTKD10-HÀ NỘI Trường CĐ KTKT Công Nghiệp I
4
chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh
doanh, tự do cạnh tranh dưới sự quản lý của Nhà nước.
Vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 tình hình trên thế
giới cũng hết sức phức tạp, sự khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và
nhất là sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã đã ảnh hưởng trực tiếp đến
nền chính trị và kinh tế Việt Nam, các yếu tố đầu vào bị hạn chế như
vốn, nguyên liệu…, các sản phẩm đầu ra bị thu hẹp thị trường tiêu
thụ truyền thống.
Trước những thực tế như vậy đã mở ra cho các doanh nghiệp Việt
Nam không ít những cơ hội phát triển nhưng cũng đầy những khó
khăn và thử thách, nó đòi hỏi phải có sự thay đổi để thích ứng với
một thời cuộc mới.
Trong bối cảnh như vậy, để bóc tách khỏi sự bao cấp của Nhà nước,
tự chủ trong việc sản xuất và kinh doanh nhà máy đã đề ra hàng loạt
các giải pháp như: tinh giản bộ máy, tổ chức sắp xếp lại cơ cấu lao
động, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, tìm tòi áp dụng khoa học
kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị máy móc, nghiên
cứu thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, tập chung vào những cái thị
trường cần để đáp ứng được mọi nhu cầu đa dạng của thị trường….
Bằng tất cả những nỗ lực đó nhà máy đã hạn chế được những khó
khăn và tận dụng được những cơ hội mới để phát triển. Với cơ chế
kinh tế mới nhà máy đã dần dần khẳng định vị trí và vai trò của
mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.
Ngày28 tháng 8 năm 1994 để phù hợp với việc sản xuất kinh doanh
theo cơ chế thị trường, Bộ công nghiệp đã quyết định đổi tên Nhà
máy Dệt vải công nghiệp Hà Nội thành Công ty Dệt vải Công
nghiệp Hà Nội. Tên giao dịch của công ty là: HAICATEX viết tắt
của: Ha noi Intrustrial Cavas Textile Company.

Nguyễn Thị Huyền Dương Báo Cáo Tổng
Hợp
QTKD10-HÀ NỘI Trường CĐ KTKT Công Nghiệp I
5
Hiện nay Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một thành viên
của Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam, vẫn thuộc loại hình Công ty
Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ Luật Doanh nghiệp Nhà nước
(trước đây là Luật Công ty) và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng
công ty. Tổng công ty tạo điều kiện cho công ty mở rộng thị trường
ra nước ngoài về xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu nguyên vật liệu
vì phần lớn nguyên liệu của Công ty phải nhập từ nước ngoài.
Tuy vậy, Công ty vẫn hoạt động theo cơ chế hạch toán độc lập và
chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không
ngừng cải tiến về bộ máy quản lý cũng như công nghệ để nâng cao
năng xuất sản xuất và chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường.
Cuối những năm 1990 mặt hàng vải bạt của Công ty đã bước vào
giai đoạn suy thoái và vải mành phải cạnh tranh khốc liệt với các
sản phẩm ngoại nhập cả về chất lượng và giá cả. Đứng trước thực
trạng đó vào đầu những năm 2000, Công ty đã nghiên cứu và mạnh
dạn đầu tư, thay thế hàng loạt các máy móc thiết bị mới. Cụ thể năm
2002 đã có ba dự án đi vào hoạt động:
-Tháng 1/2002 đầu cuộn vải của dây chuyền nhúng keo được thay
thế với tổng mức đầu tư trên 2 tỷ đồng và kết quả là chấm dứt được
lỗi ngoại quan của vải mành nhúng keo như lồi, lõm bề mặt nhũn
xốp, mặt bên không phẳng, giảm 99% lỗi loại B&C….
- Tháng 9/2002 Công ty đầu tư thêm hai máy xe ALLMASAURER
của Cộng hoà liên bang Đức và một máy dệt mành PICANOL của
Bỉ vào sản xuất với tổng vốn đầu tư 21.970.494.400 VNĐ. Dây
chuyền này có năng suất tăng gấp từ 5 đến 7 lần so với dây chuyền
cũ.

