
Luận văn
Đánh giá thành quả hoạt động
tại Công ty cổ phần Dầu thực vật
Tường An

1
LỜI MỞ ĐẦU
1) Sự cần thiết của đề tài
Môi trường kinh doanh của Việt Nam luôn thay đổi trong suốt những năm
gần đây. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh
ngày càng cao và phức tạp. Vì vậy, yêu cầu cần phải có những đổi mới trong việc
quản lý và kinh doanh, đặc biệt là công việc đánh giá thành quả hoạt động của
doanh nghiệp. Để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải có
những thước đo tài chính và phi tài chính. Những thước đo truyền thống như: lợi
nhuận, vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover), vòng quay tài sản, tỷ suất
sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total asset –ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ
phần (Return on equity – ROE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), ...v.v được các
nhà quản lý sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp trên nhiều khía
cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh thì ngoài mục tiêu lợi nhuận
doanh nghiệp còn theo đuổi mục tiêu giá trị, vì vậy, sử dụng các thước đo truyền
thống trên để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế:
Thứ nhất, hầu hết các thước đo truyền thống không tính đến chi phí sử dụng
vốn, đặc biệt là chi phí sử dụng vốn chủ - là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn
vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy, chúng chưa chỉ ra được liệu rằng doanh nghiệp
có tạo ra giá trị cho mình và cổ đông hay không.
Thứ hai, cơ sở để xác định các thước đo truyền thống đều dựa trên số liệu kế
toán. Nhưng số liệu kế toán được ghi nhận lại dựa trên một số giả định và tuân thủ
các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy, sẽ dẫn đến một số hạn chế
như: hạn chế trong việc xác định lợi nhuận, hạn chế trong việc phản ánh vốn đầu
tư,....v.v. Đặc biệt nhà quản lý có thể thông qua đó để bóp méo số liệu kế toán phục
vụ cho mục đích của mình.
Thứ ba, để theo đuổi mục tiêu giá trị thì các thước đo truyền thống không
thích hợp vì chúng chủ yếu sử dụng số liệu quá khứ trên báo cáo kế toán, trong khi
để tính chính xác giá trị mà doanh nghiệp tạo ra thì phải tính theo giá trị thị trường.

2
Sử dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động sẽ khắc phục được
những hạn chế vốn có của các thước đo truyền thống, giúp cho các nhà quản lý cũng
như những nhà đầu tư biết được giá trị thật sự được tạo ra từ thành quả hoạt động
của doanh nghiệp. Khi được xây dựng, tính toán một cách chính xác, khách quan thì
EVA sẽ là người dẫn đường cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và cổ đông đánh
giá về sự thành công trong tương lai của một doanh nghiệp. Ngoài ra, EVA còn là
thước đo tốt nhất để đánh giá và khen thưởng cho những nhà quản lý các bộ phận,
giúp cho các nhà quản lý bộ phận hướng mục tiêu của bộ phận vào mục tiêu chung
của toàn doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc nhận diện thước đo EVA là một thước đo
thành quả hoạt động hữu hiệu nhất và áp dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả
hoạt động của doanh nghiệp còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Khi giai đoạn thị trường phát triển mạnh như hiện nay thì việc nhận diện và việc
vận dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động của các doanh nghiệp ở
Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An nói riêng là yêu
cầu cần thiết.
2) Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là :
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến thước đo EVA:
+ Tổng quan về thước đo EVA.
+ Vận dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động.
+ Kết hợp EVA với ABC vào việc đánh giá thành quả hoạt động.
- Phân tích thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu
thực vật Tường An.
- Vận dụng thước đo EVA và kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá
thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An.
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thước đo EVA
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng đánh giá thành quả
hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An.

3
4) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch, kết hợp giữa phân
tích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
5) Những đóng góp của luận văn
Về cơ sở lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến
thước đo EVA, kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá thành quả hoạt động
doanh nghiệp.
Về ý nghĩa thực tiễn: (1) Đánh giá xem Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường
An có tạo ra giá trị cho các cổ đông hay không, (2) Đánh giá thành quả hoạt động
của Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An bằng các thước đo truyền thống như
lợi nhuận, ROI, EPS, v.v... và thước đo thành quả hoạt động mới là EVA, (3) Kết
hợp thước đo EVA với ABC để đánh giá thành quả hoạt động Công ty Cổ phần dầu
thực vật Tường An.
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
- CHƯƠNG 1: Cở sở lý luận về thước đo giá trị kinh tế tăng thêm
(Economic Value Added – EVA)
- CHƯƠNG 2: Thực trạng về đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty
Cổ phần dầu thực vật Tường An
- CHƯƠNG 3: Vận dụng giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value
added – EVA) trong việc đánh giá thành hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu
thực vật Tường An.

4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM
(ECONOMIC VALUE ADDED – EVA)
1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM
(ECONOMIC VALUE ADDED – EVA)
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thước đo EVA
Thuật ngữ giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added-EVA) xuất hiện
từ rất sớm vào năm 1989 (Finegan, 1989). Tuy nhiên, nó nhận được ít sự quan tâm
cho đến tháng 9/1993 khi bài báo trong tạp chí Fortune (Tully, 1993) giới thiệu chi
tiết khái niệm EVA, được xây dựng bởi công ty tư vấn Stern Stewart, và việc vận
dụng thành công trong các tập đoàn lớn ở Mỹ. Tiếp sau thành công của bài báo
trong tạp chí Fortune viết về EVA như là một thước đo thành quả hoạt động mới thì
hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA đã được công bố ví dụ: Walbert, 1993;
Birchard, 1994; Brossy and Balkcom, 1994; McConville, 1994; Bennett, 1995;
Ochsner, 1995; Stewart, 1995; Birchard, 1996; Davies, 1996; Gapenski, 1996; Lehn
and Makhija, 1996. Mặc dù EVA là thước đo tài chính khá mới, tuy nhiên nền tảng
khái niệm của nó thì không mới, nó có nguồn gốc từ khái niệm lợi nhuận còn lại
(Residual Income - RI) mà nhiều doanh nghiệp đã sử dụng trước đây. Điển hình là
công ty General Electric (GE) đã sử dụng RI trong những năm 1950-1960 để đánh
giá thành quả hoạt động. GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợi nhuận
thuần và chi phí sử dụng vốn, nó là phần thặng dư của lợi nhuận thuần sau khi trừ đi
chi phí sử dụng vốn” (Salomons, 1965).
Công ty Stern Stewart được coi là người sáng lập đầu tiên công thức EVA –
cho đến nay đã tư vấn cho hơn 200 doanh nghiệp thực hiện, áp dụng thước đo EVA
để đánh giá thành quả hoạt động và xây dựng chính sách khuyến khích khen thưởng
(Stern Stewart & Co., 1997). Danh sách một số công ty tại Hoa Kỳ áp dụng EVA
như: Allied Holdings, Briggs & Stratton, Coca Cola, CSX, Dun & Bradstreet, Eli

