
CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Website: www.griggs.edu.vn Email: gamba@griggs.edu.vn
1/ 32
Môn học: MKTG676 Marketing Quản Trị
Lớp: GaMBA01.C02
Tên học viên: Trƣơng Minh Chiến, ID# 113408
BÀI KIỂM TRA HẾT MÔN
CHỦ ĐỀ: ĐỊNH HƢỚNG LỰA CHỌN THỊ
TRƢỜNG MỤC TIÊU CHO SẢN PHẨM TRÀ
NGỌC LINH.
GIỚI THIỆU
1 - Các thông tin cơ bản
Ngành sản suất chết biến trà tại Việt Nam là một ngành nghề quan trọng trong các ngành sản suất
chế biến lương thực tại Việt Nam và luôn được sự quan tâm giúp đở từ phía chính phủ. Tuy nhiên,
do sự cạnh tranh khốc liệt từ phía các mặt hàng trà của Trung Quốc, Malaysia, Indonexia và Nhật
Bản... cho nên trà Việt và các sản phẩm khác có liên quan đến trà vẫn chưa có giá trị kinh tế cao
đúng với giá trị và chất lượng thật của sản phẩm trà Việt Nam.
Từ năm 2004, khi tôi đang du học tại Assumption University of ThaiLand, tôi đã có những ý tưởng
về việc phát triển ngành trà tại Việt Nam cho đúng với giá trị thật của nó. Bang đầu, vì tôi quan sát
thấy dân Anh và những người từng sinh sống tại Anh có thói quen uống trà mỗi ngày. Từ đó, tôi tự
hỏi là tại sao trà Việt Nam không có mặt trên bàn uống trà của người nước ngoài mà đa số là trà
Trung Quốc hay trà Đài Loan, trà Nhật hoặc trà Nigeria (Nilgiri), Kenya.
Hình 1 Mô phỏng về chén trà Ngọc Linh sản phẩm tương lai.
Trương Minh Chiến
losedtales@yahoo.com
http://mba-programming.blogspot.com

CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Website: www.griggs.edu.vn Email: gamba@griggs.edu.vn
2/ 32
Trong giới hạn bài viết này, tôi xin trình bày về những quan điểm và suy nghĩ của riêng tôi về sản
phẩm trà Việt Nam nói chung. Hơn thế nữa, tôi xin giới thiệu về một loại sản phẩm trà mới đó là
Trà Ngọc Linh (bằng việc áp dụng công nghệ Nanobiotech mới hay công nghệ chế biến thực phẩm
Nano mới vào trong chế biến trà) nhằm sử dụng nó như một ví dụ điển hình trong việc sản suất chế
biến và kinh doanh trà Việt. Bên cạnh đó, tôi sẽ áp dụng những kiến thức trong môn học MKTG676
Quản Trị Marking để chọn lựa thị trường phù hợp cho xuất khẩu trà cũng như hoạch định chiến
lược marketing phù hợp cho trà Ngọc Linh.
Thực tế, tôi hy vọng thông qua các ý kiến nhỏ nhoi của mình có thể giúp cho giá trị trà Ngọc Linh
đạt được trên thương trường quốc tế trên 1,000 USD/1kg và nâng cao chất lượng thương hiệu Việt.
Tuy nhiên, do giới hạn quá ngắn ngũi về thời gian cũng như những hạn chế khác trong điều kiện
hoàng cảnh cuộc sống của tôi tại Việt Nam, trong bài viết sẽ còn rất nhiều sai sót và nhầm lẫn
không thể tránh khỏi. Kính mong bạn đọc thông cảm và bỏ qua cho.
2 - Mục đích
Mục đích của bài báo cáo này là nhằm phân tích, đánh giá về tiềm năng sảng suất chế biến và suất
khẩu sản phẩm trà Ngọc Linh bằng việc áp dụng những kiến thức trong môn học MKTG676 Quản
Trị Marketing của đại học Griggs. Dựa trên những kết quả này, tôi sẽ đưa ra những đề nghị về việc
ứng dụng chiến lược marketing phù hợp cho sảng phẩm trà Ngọc Linh và các sản phẩm trà khác nói
chung.
3 - Các bƣớc thực hiện
Bài báo cáo được thực hiện dựa trên các bước sau :
i. Xem sét, tập hợp thông tin và sao chép lại đề bài.
ii. Phân tích và đánh giá tình huống thực tế.
Phân tích ngành trà Việt Nam.
Giả lập dòng sảng phẩm mới Trà Ngọc Linh và các sảng phẩm đi kèm.
Áp dụng lý thuyết môn học MKTG676 – Marketing Quản trị để đánh giá thị trường.
Áp dụng lý thuyết Quản trị tài chính và Kế toán quản trị nhằm lựa chọn thị trường.
Áp dụng lý thuyết môn học MKTG676 – Marketing Quản trị để đề xuất chiến lược Marketing.
iii. Kết luận chung và định hướng tương lai.
Trương Minh Chiến
losedtales@yahoo.com
http://mba-programming.blogspot.com

CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Website: www.griggs.edu.vn Email: gamba@griggs.edu.vn
3/ 32
ĐỂ BÀI và TRẢ LỜI
Đề bài tình huống :
Hãy nghiên cứu một sản phẩm ưa thích và đưa ra định hướng lựa chọn thị trường mục tiêu cho sản
phẩm đó.
PHÂN TÍCH NGÀNH TRÀ VIỆT NAM
1. Giới thiệu về thực trạng ngành sản suất trà tại Việt Nam
Hiện nay có trên 600 công ty sảng suất và xuất khẩu trà tại Việt Nam, thống kê của hiệp hội trà Việt
Nam Vitas [Tài liệu tham khảo 19]. Các công ty này hoạt động tương đối lõng lẻo và độc lập. Đôi
khi giữa các công ty trà Việt còn có sãy ra cạnh tranh khốc liệt về nhãn hiệu, thương quyền và kinh
doanh trà trong nước cũng như ngoài nước.
Hiện nay, nước ta có 5 công ty mạnh nhất trong ngành trà và được phân hạng tuần tự như sau công
ty trà Thế Hệ Mới (Future generation – FGT), tổng công ty trà Việt Nam (Vietnam National Tea
Corporation), công ty trà Lâm Đồng (Lamdong Tea), hợp tác xã trà Thái Nguyên (công ty TNHH
chè Sông Công Thái Nguyên và hợp tác xã chè Thắng Lợi), và công ty trà Thái Bình. Đứng đầu về
xuất khẩu trà là công ty trà Thế Hệ Mới (FGT), trong khi về thương hiệu trong nước là công ty trà
Thái Nguyên (TNT), nhưng tổng lượng hàng hóa phân phối trong nước và nước ngoài là tổng công
ty trà Việt Nam (VNT).
Hình 2 Phân vùng trồng trọt và sảng xuất trà tại Việt Nam
Trương Minh Chiến
losedtales@yahoo.com
http://mba-programming.blogspot.com

CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Website: www.griggs.edu.vn Email: gamba@griggs.edu.vn
4/ 32
Ngành trà của nước ta mỗi năm trung bình sảng suất được trên 110,000 tấn trà khô và chủ yếu là
phục vụ cho việc suất khẩu với trên gần 87000 tấn/ năm. Chúng ta mới chỉ trồng được ở các vùng
cao nguyên Bắc Bộ và khu vực cao nguyên Nam Bộ như hình 2 bên trên.
Nhìn chung, chất lượng sảng phẩm trà còn ít và kém chất lượng. Giá thành sảng phẩm cao (từ
250,000VND/1kg đến 500,000/1kg trà hạng 1). Dây chuyền sảng suất củ kỹ (dây chuyền mới nhất
cũng là nhập về từ Đài Loan năm 2005) và kiểu dáng mẫu mã bao bì kém.
2. So sánh xu thế cạnh tranh của Trà Việt trên thị trƣờng quốc tế
Nước ta chưa thể trồng và sảng suất các loại trà chất lượng cao như trà Darjeeling của Bengal Ấn
Độ (giá gần 3,300 USD/1kg) hay trà Keemun Hao Ya (giá từ 40 USD/1kg đến 60 USD/ 1kg hạng 1
và 2) và trà Tieguanyin (giá trên 1,700 USD/1kg) của Trung Quốc hoặc trà Ô Long (Giá từ 8.25
USD/1kg đến 12.5 USD/1kg.
Thật ra, đa số trà Việt chỉ suất khẩu sang nước khác để rồi tái chế đống hộp lại hay bán lại cho các
đại lý ở nước ngoài để rồi họ bán lẽ theo trà Trung Quốc. Chính điều này đã làm giãm giá trị thật tế
của thương hiệu Trà Việt rất nhiều. Nói theo cách khác, thương hiệu trà Việt hoàng toàn ít được biết
đến trên thế giới và gần như là không có. Thật vậy, các bạn có thể lên các website B2B hay B2C
hay đến trực tiếp các cửa hàng bán trà trên vùng đông Âu, Nga hoặc bắc Mỹ mà hỏi trà Việt thì
người bán hàng sẽ không biết được nhưng nói đến trà Ấn Độ hay trà Trung Quốc thì họ chắc chắn
biết đến.
GIỚI THIỆU VỀ TRÀ NGỌC LINH
1. Tóm tắc sơ lƣợc về ý tƣởng Trà Sâm Ngọc Linh.
Trà Ngọc Linh là trà xanh kết hợp với hoa và đọt của cây nhân sâm Ngọc Linh với ứng dụng của
công nghệ chế biến thực phẩm Nano (Nanobiology) mà chế tạo thành. Tôi có ý tưởng về trà Ngọc
Linh khi đọc về các dạng cây trồng thực vật tại Việt Nam trong cuống từ điển về đông dược của gia
đình và sau khi đọc một số bài báo về việc nuôi trông sâm Ngọc Ninh tại Nam Định và Lâm Đồng.
Hình 3 Cây sâm Ngọc Linh và đọt hoa của sâm sẽ được dùng làm nguyên liệu chính.
Trương Minh Chiến
losedtales@yahoo.com
http://mba-programming.blogspot.com

CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Website: www.griggs.edu.vn Email: gamba@griggs.edu.vn
5/ 32
Tôi chỉ ứng dụng công nghệ ủ nhiệt Nano bằng rượu vào dùng để sao chế trà xanh và đồng thời
công nghệ Nano trong việc trộn các phần tử sâm Ngọc Linh vào rượu dùng để ủ và phân hủy enzim
của trà. Như vậy, trà Ngọc Linh sẽ qua 2 khâu sảng suất Nano cơ bản là sơ chế sâm ngọc linh rồi
hòa tang vào rượu, và sào trà xanh kết hợp với công nghệ ủ Nano bằng rượu để rồi trộn ly tâm lần
cuối với ngọn hoa của cây sâm Ngọc Linh. Nói cách khác, chúng ta chỉ tốn rất ít rễ sâm (cây nhân
sâm giá trị cao) và đọt hoa của sâm (thứ phế phẩm bỏ đi từ việc thu hoạch và sơ chế sâm) để tạo ra
một dạng sảng phẩm trà chất lượng cao.
TRÀ XANH + ĐỌT HOA CỦA SÂM NGỌC LINH + RƢỢU SÂM NGỌC LINH = TRÀ NGỌC LINH
(rất nhiều tỷ lệ 1/20) (sâm được xây bột rồi trộn
vào rượu với tỷ lệ 1/320)
Hình 4 Áp dụng công nghệ Nano trong chế biến trà Ngọc Linh
2. Nanotechnology (NT) là gì ?
Ngày nay, mặc dù công nghệ nano đã được biến đến nhiều tại nước Việt Nam ta nhưng đa số mọi
người đều vẫn còn bở ngở và chưa hiểu rõ về công nghệ NT này. Để hiểu thấu đáo định nghĩa và
công dụng của công nghệ này, tôi xin được nhắc đến định nghĩa và giãi thích của công nghệ Nano
của hai tổ chức USA National Nanotechnology Standardization Laboratory (NSL) và USA National
Nanotechnology Initiative (NNI), vì Mĩ là cha đẻ và là nơi khởi điểm của công nghệ này.
Theo định nghĩa của NNI : “công nghệ Nano là sự học hỏi, thấu hiểu và điều khiển các vật chất có
kích thước nhỏ từ khoản 100 cho đến 1 nanometer” (1 nanometer = 10-9 meter và được tính theo
đơn vị của hệ thống đo lường quốc tế International Unit System - SI) - [Tài liệu tham khảo 4,5].
Nói tóm lại, Nanotechnology là quá trình quan sát, đo lường, xử lý và chế tạo các vật thể hay sảng
phẩm theo chuẩn mực kích thước phân tử và nguyên tử (nanometer scale). Để hiểu rõ hơn về công
nghệ Nano mới mẽ này, bạn đọc có thể theo đường dẩn đến trang website sau :
“http://www.sciencedaily.com/releases/2009/09/090907141912.htm”.
3. Ứng dụng công nghệ Nano trong thực phẩm nhƣ thế nào ?
Công nghệ nano ở nước ta còn mới mẻ và chưa bắt kiệp tiến bộ chung cử NT trên thế giới. Tuy
nhiên, chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện ứng dụng công nghệ nano vào 4 thành tố quan trọng
trong chế biến thực phẩm là : sảng xuất nguồn nguyên liệu nano, dây chuyền tiêu chuẩn nano dùng
trong chế tạo thực phẩm, thành phẩm và xuất sưởng theo chuẩn nano, và bảo quản an toàn vệ sinh
thực phẩm theo công nghệ nano như hình 3 bên dưới. [Tài liệu tham khảo 7,8]
Trương Minh Chiến
losedtales@yahoo.com
http://mba-programming.blogspot.com

