TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA : GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ XUÂN ĐÀO
GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI HIỆN NAY
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐHSP
CHUYÊN NGÀNH : GDCT
Người hướng dẫn khoa học : Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
Thành phố Hồ Chí Minh 2000
MỤC LỤC
40TMỤC LỤC40T ............................................................................................................. 2
40TLỜI CẢM ƠN40T ....................................................................................................... 3
40TMỞ ĐẦU40T ............................................................................................................... 4
40TPHẦN NỘI DUNG40T ............................................................................................... 7
40TChương 1 : GIA ĐÌNH, MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI40T .............. 7
40T1.1 Khái niệm về gia đình40T ...................................................................................... 7
40T1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội 40T .............................................................. 8
40T1.3 Đặc điểm nổi bật của gia đình truyền thống Việt Nam40T ................................. 12
40TChương 2. THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI.40T .................................................................................. 18
40T2.1. Đặc điểm kinh tế- văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh40T .................................. 18
40T2.2. Thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới.40T . 20
40TChương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ40T .............................................. 35
40T3.1 Những yếu tố cần thiết tạo nên độ bền vững của gia đình40T ............................ 35
40T3.2 Những kiến nghị và giải pháp40T ........................................................................ 36
40TKẾT LUẬN40T ......................................................................................................... 42
40TDANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO40T ............................................................ 43
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học ở trường, để đạt được kết quả ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn :
Các thầy cô trường Đại Học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt là thầy cô khoa Giáo Dục Chính Trị đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt khóa học.
Thạc sĩ : Nguyền Thị Thu Hà đã hết lòng tận tâm hướng dẫn cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Cha mẹ đã nuôi dưỡng, bạn bè đã cổ vũ động viên.
Sinh viên
Trần Thị Xuân Dào
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cánh cửa của thế kỷ 21 đã mở. Nhân loại đang bước vào một thiên niên kỉ mới với biết bao tin yêu hy vọng. Đặc biệt là sự thức tỉnh của con Rồng Châu Á. Đó là một sự chuyển mình của những quốc gia nông nghiệp vốn nghèo nàn lạc hậu trở thành những đất nước công nghiệp tiên tiến. Trong đó có Việt Nam. Hòa với bước đi chung của các nước trong khu vực, Tổ quốc thân yêu của chúng ta đang từng ngày từng giờ thay da đổi thịt. Xúc động trước niềm vui đó, tôi chợt nhớ đến lời dạy của Bác Hồ kính yêu:
“Còn non, còn nước, còn người
Tháng giặc Mỹ la xây dựng hơn mười ngày nay”
Quả thật, nhờ chính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây đất nước Việt Nam có nhiều biến đổi về mọi mặt: Kinh tế -chính trị - văn hoá - xã hội . . . Nước ta đã tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn về khoa học kĩ thuật trên thế giới. Chính vì thế, đời sống vật chất của người dân được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên một số giá trị đạo đức suy giảm dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện như: phá hoại môi trường tự nhiên, ma túy, mại dâm gắn liền với bệnh AIDS đang đe dọa tính mạng con người, tình trạng ly hôn ngày càng cao . . . Đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một thành phố trẻ, đã từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông". Ngày nay, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước. Ai đã từng đến Sài Gòn trước đây và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay sẽ không khỏi ngạc nhiên trước tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa của nó. Cánh cửa thành phố Hồ Chí Minh luôn rộng mở để đón nhận những luồng gió mới của thời đại. Trước những biến đổi dồn dập như thế, chắc chắn sẽ dẫn đến những kết quả tốt đẹp cũng như những hậu quả khó tránh khỏi.
Một thiết chế xã hội lâu đời nhất, bền vững nhất, nhưng cũng nhạy cảm nhất đối với mọi biến đổi của xã hội đó là gia đình. Sự biến đổi đó lúc đầu diễn ra một cách âm thầm trong từng gia đình và dần dần lan ra tạo thành những “ý niệm” xã hội.
Gần đây, bên cạnh niềm phấn khởi trước sự đổi mới của bộ mặt thành phố, có nhiều ý kiến lo ngại cho sự bền vững của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới. Đây không chỉ là mối quan tâm của một số người mà là cả cộng đồng, trong đó có bản thân tôi. Tôi quyết tâm chọn đề tài “Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới hiện nay” với mong ước tìm hiểu về một vấn đề có tính cấp bách của xã hội, hy vọng tìm ra một giải pháp nào đó đóng góp một phần công sức vào sự phát triển của đất nước.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Không phải ngẫu nhiên mà Liên hiệp quốc đã chọn năm 1994 làm “năm Quốc tế gia đình”. Điều đó nói lên rằng vấn đề gia đình không chỉ là của riêng ai mà là mối quan tâm của toàn nhân loại từ ngàn xưa, cho đến hôm nay và mãi mãi đến mai sau.
Trong thập niên cuối của thế kĩ 20, vấn đề gia đình trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở các nước khu vực Châu Á, Đông Nam Châu Á - một khu vực vốn có những truyền thống đề cao gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chưa bao giờ vấn đề này thu hút sự nghiên cứu của giới chuyên môn cũng như các giới chính trị như thời gian này. Người ta đề cập đến sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, đến sự biến đổi về kinh tế - văn hóa - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến từng gia đình,
ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cũng có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí, sách, báo về vấn đề gia đình Việt Nam nói chung và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời kì đổi mới.
- Gia đình Việt Nam ngày nay do Lê Thi(chủ biên) - nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1996.
Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam của Lê Thi - Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội 1997.
Gia đình Việl Nam trong sự đổi mới của đất nước của Lê Thi - Tạp chí thông tin lý luận, số 8/1995.
Vấn đề gia đình và việc thực hiện hóa chức năng gia đình hiện nay - Tạp chí khoa học Phụ nữ, số 3/1995.
Tiếp cận giá trị trong việc nghiên cứu gia đình và phụ nữ Phạm Minh Hạc -Tạp chí khoa học Phụ nữ, số4/1995.
- Cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu về gia đình Việt Nam của Nguyền Khánh - Tạp chí Phụ nữ, số 7/1995.
Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh(nhận diện và dự báo) của Nguyễn Minh Hòa - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa của Lê Ngọc Văn - Nhà xuất bản Giáo dục, 1996.
Bốn năm được học dưới mái trường sư phạm, khoa Giáo Dục Chính Trị, các thầy cô đã “khai tâm” cho tôi nhiều vấn đề mới mẻ. Từ một cô học sinh non nớt với vốn kiến thức ít ỏi về vấn đề chính trị - xã hội tôi nay sắp trở thành một “kĩ sư tâm
hồn” giáo dục đạo đức - chính trị cho đàn em thân yêu. Giờ đây được tham khảo những công trình nghiên cứu lớn có ý nghĩa thiết thực về hiện trạng gia đinh Việt Nam nói chung và gia đình thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tôi thật sự háo hức muốn làm một điều gì đó để thu hoạch lại những điều mà tôi học hỏi được ở các bậc tiền nhân. Và đó cũng là lý do mà bài luận văn này ra đời.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
* Mục đích.
Luận văn không chi nghiên cứu lý luận chung về vấn dế gia đình mà còn đi sâu vào tìm hiểu vấn đề gia dinh ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới. Trong đó, nó chỉ ra những thực trạng và tìm ra những giai pháp cũng như đưa ra những kiến nghị để tăng cường sự ổn định cửa gia đình ở thành phố Hổ Chí Minh hiện nay.
* Nhiệm vụ.
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn phải thực hiện hai nhiệm vụ. Thứ nhất là nghiên cứu về gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội nói chung. Trong đó đi sâu tìm hiểu về những đặc điểm của gia đình truyền thống Việt Nam để tạo tiền đề đối chiếu với gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới. Thứ hai là tìm hiểu đánh giá thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường sự ổn định bền vững của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phướng pháp của chủ nghĩa Mác - Lê Nin - Phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn chỉ ra một số thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh, những giải pháp và kiến nghị trong việc xây dựng gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI
Trên cơ sỏ tổng hợp những kiến thức đà dược liếp lim qua các môn học ỏ nhà trường và các tài liệu tham khảo, đề tài bước đau cho thấy thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Nó như một tiếng chuông nhỏ góp phần gióng lên hồi chuông cảnh báo về thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó góp phần phát huy vị trí vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội, đất nước ta hiện nay.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : GIA ĐÌNH, MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
1.1 Khái niệm về gia đình
Từ trước đến nay gia đình vẫn được coi là tế bào của xã hội. Nó là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng cao quí của mình. Đó là nơi con người được sinh ra, được giáo dục và đào tạo đầu tiên.
Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội. Mỗi con người trong xã hội đều là một thành viên của gia đình, sinh ra và trưởng thành từ một gia đình nhất định. Vì vậy, ta có thể xem gia đình chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội.
Vấn đề này chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình . . .
Đảng và nhà nước ta nhiều năm nay đã có những chính sách, luật pháp đúng đắn về gia đình. Trong Đại hội Đảng lần VII(7/1991) có khẳng định rằng gia đình là tế bào xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người.
Thật ra coi gia đình là tế bào xã hội là quan điểm hình thành từ lâu. Rõ nhất được thể hiện trong các tác phẩm nghiên cứu có tính chất khoa học về lịch sử xã hội của nhà nhân chủng học Mỹ L.H - Moóc - gan(1818 - 1881). Sau này, chính Ăngghen đã tán đồng và phát triển quan điểm đó trong tác phẩm nổi tiếng của mình: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”(1884). Từ đó, gia đình là tế bào của xã hội được nhấn mạnh như một nguyên lý trong nội dung lí luận mác xít về hôn nhân và gia đình.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, tùy theo góc độ nhìn của mỗi môn khoa học nhân văn và xã hội.
Gia đình lúc đầu như Mác và Ăngghen nói: “là quan hệ xã hội duy nhất”(trích tài liệu “Sự tiến triển cấu trúc gia đình” do liên hiệp quốc phát hành năm Quốc tế gia đình 1994). Điều này cho thấy, trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại chưa biết đến một tổ chức xã hội nào khác ngoài gia đình. Gia đình lúc đó là cộng đồng lao động và cộng đồng sinh hoạt là khuôn khổ tồn tại và thế giới của mỗi người. Gia đình chiếm vị trí độc tôn trong chức năng xã hội hóa. Khi điều kiện kinh tế- xã hội ngày càng phát triển, gia đình cũng có những biến đổi lớn. Gia đình không còn là “quan hệ xã hội duy nhất mà trở thành quan hệ phụ thuộc”.
“Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu” - Liên hiệp quốc khẳng định như vậy.Thể chế đó lại có những hình thái khác nhau, thực hiện các chức năng khác nhau. Do đó, không có một quan niệm duy nhất về gia đình để áp dụng cho toàn cầu.
Ở phương Đông nơi có quan hệ khắt khe về gia đình theo nghĩa xưa : gia đình là một đơn vị kinh tế nhỏ, sống chung dưới một mái nhà trong cộng đồng xã hội.
Khái niệm về gia đình ở Việt Nam thông thường để dùng chỉ một nhóm xã hội được hình thành từ hai quan hệ cơ bản, đó là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, trong đó có vợ chồng và con cái do họ sinh ra, có thể bao gồm ông bà cha mẹ và anh chị em cùng chung sống một mái nhà.
Ở Việt Nam hiện nay chủ yếu có hai hình thức gia đình là gia đình mở rộng nhiều thê hệ cùng chung sống thường là ba thế hệ và gia đình hạt nhân - hai thế hệ bố mẹ và con cái sống chung.cần chú ý đến những gia đình không đầy đủ chỉ có bố hoặc mẹ ở với con cái do nhiều nguyên nhân: giá vợ, giá chồng, ly dị hay những người phụ nữ không có chồng có con ngoài giá thú. Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện các loại gia đình mà trên thế giới đã có, ví dụ gia đình độc thân, gia đình không hôn thú.
Khái niệm hộ được hiểu như một nhóm người ở chung một mái nhà, có quỹ thu chi chung. Họ có thể gồm những người quan hệ ruột thịt, họ hàng hay chỉ là bạn bè quen biết. Nhưng ở thành phố và nông thôn Việt Nam hiện nay, một gia đình thường trùng với một hộ, trong đại đa số các trường hợp.
1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
1.2.1 Gia đình là tế bào của xa hội, có tác dụng to lớn với sự tồn tại và phát triển của xã hội:
Phan Bội Châu có nói: “Nhà tức là cái nước nhỏ, nước tức là cái nhà to, nước có phép tắc thì nhà cùng phải có gia phong và gia phong trong cuộc sống gia đình không kém gì phép nước”.
Khi nói về vai trò của gia đình trong xã hội, Ăng-ghen cũng có viết: “Theo quan điểm duy vật nhân tố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất có hai loại: một là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, thức ăn, quần áo, nhà ở và những công cụ sản xuất ra những thứ đồ. Loại khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống những thiết chế xã hội. Trong đó, con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định một mặt là trình độ phát triển của lao động và mặt khác là trình độ phát triển của gia đình”! [1, 26]
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người đã tham gia vào hai loại sản xuất đó. Trong đó, tái sản xuất ra sức lao động, là loại sản xuất quan trọng nhất. Bởi lẽ điều
này không chỉ thỏa mãn nhu cầu của chính các thành viên trong gia đình mà nó đảm bảo cho xã hội có sự duy trì thường xuyên về chủ thể. Từ đó, gia đình là nguồn cung cấp sức lao động, tái tạo ra sức lao động mới cho xã hội.
Gắn liền với chức năng tái sản xuất chính là chức năng làm kinh tế, lao động sản xuất đảm bảo nguồn sinh sống cho thành viên gia đình. Tùy theo trình độ phát triển của xã hội gia đình có thể là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động chủ động và tự chủ hoặc vẫn làm kinh tế nhưng không hoạt động như đơn vị độc lập, tự chủ. Dù trong điều kiện nào thì gia đình cũng phải đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của các thành viên, thông qua đó gia đình đóng góp vào việc tái sản xuất của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Ngoài ra, gia đình còn là đơn vị tiêu dùng mà những yêu cầu đa dạng ngày càng phát triển của nó lại là yếu tố thúc đẩy sự phát triển sản xuất của xã hội.
Gia đình còn phải đảm bảo chức năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
Đây là mội chức năng hết sức quan trọng mà không một tổ chức xã hội nào thay thế được. Gia đình là nhà trường đầu tiên hình thành nhân cách gốc cho đứa trẻ. Và việc hoàn thiện củng cố nhân cách của con người ở tuổi trưởng thành đến khi về già cùng do tác động của đời sống sinh hoạt, văn hóa gia đình. Gia đình là môi trường giáo dục tốt nhất vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, thái độ việc làm của những thành viên trong gia đình. Qua đó, nhân cách trẻ được hình thành, phát triển phù hợp với yêu cầu của xã hội, lòng mong mỏi của gia đình. Đặc biệt, gia đình còn có trách nhiệm trong việc trao truyền những văn hóa dân tộc. Những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhờ có giáo dục của gia đình mà không bị mai một. Trong gia đình Việt Nam, tình nghĩa vợ chồng, lòng thủy chung, sự hiếu thảo, tính nhân hậu, đó là những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc và là nét đẹp trong đạo đức truyền thống mà người Việt Nam luôn coi trọng và truyền đạt cho các thế hệ sau giữ gìn và phát huy.
Gia đình còn đảm bảo sự cân bằng tâm lí, thỏa mãn nhu cầu tình cảm cho các thành viên. Gia đình càng chiếm vị trí quan trọng trong xã hội hiện đại. Để bảo vệ sự bền vững gia đình không chỉ là sự phụ thuộc, ràng buộc bởi các mối quan hệ về trách nhiệm. Nghĩa vụ giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, ông bà mà còn bị chi phối bởi các mối quan hệ tình cảm, tình yêu giữa đôi vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, sự đảm bảo yêu cầu về hạnh phúc, tự do dân chủ của mỗi cá nhân trong cuộc sống chung. Gia đình là nơi thể hiện tình cảm sâu sắc nhất. Đời sống nội tâm gia đình có ý nghĩa ngày càng tăng khiến cho chức năng linh cảm và giáo dục con cái của gia đình trở nên hết sức quan trọng.
Do đó, cùng với các dịch vụ y tế, gia đình còn phải đảm bảo chức năng bảo vệ chăm sóc sức khỏe người ốm, người già, trẻ em. Bởi vì đây không chỉ là vấn đề chữa bệnh mà còn là việc săn sóc, an ủi kịp thời về mặt tâm lí, tình cảm, đặc biệt là với trẻ em và người già.
Qua đó, ta thấy gia đình là khâu trung gian nối liền cá nhân và xã hội. Cá nhân là thành viên của xã hội nhưng trước hết là thành viên của gia đình. Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm hồn, văn hóa tức là xã hội hóa - quá trình biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con người xã hội. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách từ thuở lọt lòng cho đến lúc trưởng thành. Gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giáo dục, xã hội hóa ban đầu cũng như diễn ra liên tục suốt cả cuộc đời con người. Bởi vì, suốt cuộc đời người ta luôn luôn phải học cách thích nghi với những hình ảnh, môi trường mới. Ở đó, gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội. Thông qua gia đình mọi tác động của xã hội điều tác động đến từng cá nhân và từng cá nhân tác động đến xã hội.
1.2.2. Trong mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, xã hội có vai trò to lớn:
Trình độ phát triển về kinh tế - văn hóa - chính trị của xã hội qui định cơ cấu hình thức tổ chức và trình độ phát triển của gia đình. Ví dụ trong thời kì công xã nguyên thủy, do trình độ sản xuất còn hết sức thấp kém, kinh tế và văn hóa còn kém phát triển nên cơ cấu gia đình còn hết sức lỏng lẻo. Quan hệ hôn nhân và huyết thống, do vậy, cũng chưa rõ ràng. Trong xã hội phong kiến, với nền sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc gia đình là đơn vị sản xuất tự chủ, gia đình phải đảm nhiệm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Cho nên, gia đình cần đông con để có lực lượng lao động tại chỗ. Vì thế, trình độ phát triển của gia đình còn thấp kém.
Sự thay đổi chế độ xã hội dẫn đến thay đổi bản chất quan hệ gia đình. Ví dụ như dưới chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chức năng quan trọng của gia đình là tích lũy tài sản, của cải vật chất. Từ đó sinh ra một người chủ gia đình cả về tài sản lẫn mọi công việc, thậm chí cả việc hôn nhân của con cái. Đó là người chồng, người cha. Vì thế, ở xã hội này, chế độ phụ quyền chiếm ưu thế, gia đình chịu ảnh hướng mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo và các tư tưởng cộng đồng, làng xã. Trong hôn nhân, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Việc thờ phụng ưu tiên được đề cao và quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Trong xã hội này, quan hệ giữa các thành viên rất bất bình đẳng, dễ nảy sinh những mâu thuẫn và những rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình như việc tranh giành quyền thừa kế tài sản, thiếu sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, làm hạn chế vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội, đã đưa con người xuống địa vị thấp hèn: trẻ em phải lao động sớm, không được học hành, vui chơi và chịu sự giáo dục của gia đình. Tất cả những việc dưỡng dục trẻ em, chăm sóc người già đều do gia đình đảm nhiệm, Cơ cấu gia đình nhiều thế hệ với chế độ đa thê, cấm ly dị, quy mô gia đình lớn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ người già thấp.
Trong thời kì Pháp thuộc, Việt Nam ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, chủ nghĩa tư bản Pháp đem lại những đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa ở nước ta. Thực dân Pháp đã biến đổi nền kinh tế Việt Nam tự cung tự cấp thành nền kinh tế thị trường(sơ khai) và mở cửa buôn bán với nước ngoài. Đai bộ phận gia đình ở nông thôn vẫn giữ nếp sống cổ truyền, cuộc sống gia đình của các tầng lớp, giai cấp mới đã có những nét đổi mới. Ở đây có nét văn minh cổ truyền và văn hóa phương Tây mới
lạ. Trong hôn nhân, bắt đầu xuất hiện yếu tố tình yêu. Kiểu gia đình tư sản được hình thành. Đây là một tiến bộ trong lịch sử hôn nhân và gia đình. Lần đầu tiên trong lịch sử, hình thức hôn nhân một vợ một chồng được thừa nhận bằng pháp luật. Đây là hình thức hôn nhân tiến bộ, hơn hẳn các hình thức hôn nhân của xã hội trước đó. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tương đôi bình dẳng, cởi mở, phụ nữ độc lập về kinh tế và tham gia vào công tác xã hội. Giới trẻ tiếp thu thông tin mới mẽ, nhanh chóng, giáo dục gia đình được sự hỗ trợ của xã hội nên nó không còn độc quyền như trước.
Tuy nhiên, gia đình của những người lao động, của giai cấp công nhân thì về thực chất là một cộng đồng hôn nhân huyết thống của những người lao động làm thuê cho giai cấp tư sản. Nền đại công nghiệp, qui trình sản xuất công nghiệp tiên tiến, có thể nói đã nối dài đôi tay cho nhà tư sản bóc lột sức lao động của người công nhân, bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư do họ làm ra. Gia đình người công nhân thiếu mọi điều kiện, phương tiện để có thể bảo đảo các chức năng gia đình, thực hiệc các quyền tự do cá nhân.
Trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc(1945 - 1975), do hoàn cảnh chiến tranh, nên sự phân li giữa các thành viên trong gia đình là đặc điểm nổi bật nhất. cùng với sự chia cách hai miền, sự tồn tại giữa hai chế độ chính trị khác nhau đã đem lại bi kịch trong nội bộ gia đình, sự thù địch và hệ tư tưởng lối sống. Gia đình đảm nhiệm chức năng kinh tế để góp phần nuôi quân. Chiến tranh gây nhiều mất mát đau thương nhất là tổn thất tình cảm vợ chồng do xa cách. Tuy vậy, mối quan hệ giữa các thành trong gia đình vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp: thương yêu, kính trọng, vị tha . . .
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa từng bước mang đến sự thay đổi lớn trong mọi mặt của xã hội: trong kinh tế, trong văn hóa, trong chính trị . . . Do đó, cơ cấu, hình thức tổ chức của gia đình cũng từng bước thay đổi. Gia đình thực tế là tế bào của xã hội, gắn bó với xã hội. Gia đình không còn là đơn vị sản xuất tự chủ mà gồm những người làm thuê, công nhân viên chức, chủ xí nghiệp ... Quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái ngày càng chuyển biến theo hướng bình đẳng, tôn trọng yêu thương nhau, xã hội thừa nhận và bảo vệ quyền bình đẳng, đảm bảo cho mọi người tự do và phát triển toàn diện, lợi ích cá nhân, hạnh phúc được coi trọng, xã hội còn hỗ trợ cho việc giáo dục thế hệ trẻ, chăm sóc trẻ em, người già, chấp nhận quyền ly hôn . . . Nói chung, xã hội tạo điều kiện để gia đình hoàn thành nhiệm vụ đối với xã hội, do vậy, đã phát huy vai trò tích cực của gia đình đối với sự phát triển của xã hội.
Song, một mặt gia đình chịu sự tác động chi phối của điều kiện, trình độ văn hóa của xã hội, mặt khác gia đình cũng có tính độc lập tương đối trong quan hệ gia đình - xã hội. Nó thể hiện ở chỗ duy trì, bảo tồn nhiều yếu tố truyền thống trong quan hệ gia đĩnh, cả những yếu tố tiến bộ, tích cực lẫn yếu tố tiêu cực, lạc hậu.
Gia đình còn là đơn vị hoạt động tích cực nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của các thành viên trong gia đình như trên đã trình bày.
Ngày nay, ở các nước phương Tây con người đang rơi vào trạng thái chông chênh về tinh thần và cả vật chất. Chính hoàn cảnh ấy, xã hội đang tìm lại gia đình như một chỗ dựa cả về tinh thần lẫn vật chất cho con người. Nói cách khác là người ta đang tìm kiếm những quan hệ mới giữa xã hội và gia đình. Nhưng một nghịch lí lại xảy ra, mội tác giả phương Tây đã viết: “Nghịch lí chính là ở chỗ khi mà sự chờ đợi của xã hội đối với gia đình đang tới mức cao nhất thì những sự mong manh của gia đình hiện rõ giữa ban ngay, các vụ ly hôn cứ tăng lên ... tỉ lệ sinh đẻ tiếp tục giảm sút, tình trạng sống chung lan rộng, tuổi kết hôn tăng lên . . .” Nhiều biến đổi xã hội và tâm lí dẫn đến kiểu gia đình đương thời mà đặc trưng của nó là coi trọng hiện tại và hướng tới tương lai hơn với gia đình truyền thống.
Ở Việt Nam tình hình có khác. Vì “kiểu gia đình đương thời”chưa phát triển trừ một số đô thị lớn. Do xã hội ta cũng đang chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại nên gia đình cũng đang chuyển từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại khiến cho thể chế gia đình nói chung còn được bảo vệ khá vững chắc.
1.3 Đặc điểm nổi bật của gia đình truyền thống Việt Nam
Một học giả nổi tiếng của Nhật Bản, ông M.MicroshiMa khẳng định: “không một người nào có thể tiến lên được mà lại xem thường quá khứ của mình, quá khứ sẽ áp đặt quá trình phát triển tiếp theo của một đất nước . . . Bất kỳ một tư duy khoa học nào xã hội nào không đếm xía tới lịch sử, cho dù có thể có tác dụng như là bước tiến đầu tiên tới hiện thực, đôi khi vẫn có thể trở nên, thậm chí, là một tư duy nguy hiểm”. Vì vậy muốn hiểu được thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, ta cần tìm hiểu khái niệm và những đặc điểm của gia đình truyền thống Việt Nam. Từ đó, mới có cơ sở để đối chiếu tìm ra mấu chốt của vân đề.
1.3.1. Khái niệm gia đình truyền thống
Cho đến nay khái niệm “gia đình truyền thống” vẫn là một khái niệm rất dễ gây ra tranh luận. Vì nó có rất nhiều cách hiểu. Đôi khi người ta đồng nhất gia đình truyền thống với gia đình Nho giáo hay gia đình phong kiến và coi chúng chỉ là những bất biến thể của cùng một hình thái gia đình.
Những người khác lại loại trừ ra khỏi “gia đình truyền thống” yếu tố “Nho giáo” và “phong kiến”. Gia đình truyền thống từ rất xa trong lịch sử, dường như, xuất hiện trong trí tưởng tượng của người ta như một biểu hiện thơ mộng với tất cả sự tốt đẹp của cuộc sống gia đình: một mái ấm của tình yêu thương, sự thủy chung, hạnh phúc và trách nhiệm. Có người lại cho gia đình truyền thống là “gia đình bình dân” trong xã hội phong kiến.
Trong mấy thập niên gần đây, có những ý kiến đối lập nhau khi đánh giá gia đình truyền thống. Có người phê phán gia đình truyền thống, coi những mối quan hệ trong gia đình truyền thống là hình ảnh của xã hội phong kiến – gia trưởng với những hủ tục lạc hậu, bao thủ, là đại diện cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc . . . Người ta
muốn giải thể cơ cấu và chức năng của gia đình truyền thống để đưa sản xuất nông nghiệp Việt Nam tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên gần đây lo âu về tương lai của gia đình trước sự gia tăng của xung đột vợ chồng và ly hôn, của hiện tượng trẻ em hư, trẻ em lang thang không được chăm sóc, giáo dục, người già cô đơn, không nơi nương tựa . . . đã làm xuất hiện một khuynh hướng muốn đề cao và bảo vệ những gia đình truyền thống .Người ta cho rằng gia đình truyền thống là mẫu mực đáng mơ tưởng trong mối quan hệ giữa con người với con người, về mẫu mực giáo dục con cái.
Mặc dù, gia đình truyền thống Việt Nam với tư cách là một định chế xã hội lâu đời và ít biến đổi, tồn tại trong một thời kì lịch sử rất lâu dài, đã mang những đặc trưng khác với gia đình hiện đại cũng như khác với gia đình truyền thống ở các quốc gia trong khu vực.
1.3.2 Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam
* Thứ nhất: cơ sở kinh tế - xã hội và văn hóa hình thành gia đình truyền thống Việt Nam:
Gia đình truyền thống Việt Nam là hình thức gia đính gắn liền với xã hội nông thôn - nông nghiệp, ít biến dổi qua nhiều biến thiên của lịch sử. Tiêu biêu là đồng bằng Bắc Bộ là nông nghiệp sản xuất lúa nước trong điều kiện công cụ sản xuất hết sức thô sơ lạc hậu, phù hợp với những đơn vị sản xuất nhỏ, đó là gia đình. Hơn nữa, đó là gia đình nhỏ tức là những gia đình hạt nhân hay nữa hạt nhân hóa. Điều này khác với những gia đình lớn, nhiều thế hệ(tam tứ đại đồng đường như gia đình Trung Quốc và Nhật Bản).
Ở Việt Nam tồn tại phổ biến của gia đình nhỏ còn do tình trạng phân tán về ruộng đất. trong đó, gia đình hạt nhân trung nông chiếm đa số. Ngoài ra, còn có gia đình Nho giáo và gia đình danh giá (quan lại, giàu có).
Là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp khép kín, những con người gắn bó với nhau trong cái tổ chức gia đình bé nhỏ. Đó là hộ nông - công thương kết hợp. Trong lao dộng sản xuất, họ phân công theo giới tính. Người phụ nữ là người bạn lao động với chồng, đảm đương những công việc thủ công, quản lý tiền nông và tài sản.
Tuy nhiên, nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, bờ biển dài nên gặp nhiều thiên tai lũ lụt, dịch họa, dịch bệnh, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên. Mỗi cá nhân trở nên quá nhỏ yếu và mỏng manh trước sức mạnh của thiên nhiên. Vì thế, họ phải tin tưởng dựa vào sự nâng đỡ của cộng đồng. Trước hết là cộng đồng trong gia đình rồi đến làng xã. Niềm tin đó còn xuất phát từ yếu tố tín ngưỡng. Đối với người Việt Nam, thần Thành Hoàng là vị thần phù hộ cho cộng đồng, làng xã, quyết định số phận của mỗi thành viên trong cộng đồng. Vì gắn bó với cộng đồng nên người Việt Nam rất sợ phải bỏ cộng đồng làng xóm quê hương, “tha phương
cầu thực”, “đất khách quê người”. Khi buộc phải ra đi họ luôn thương nhớ về cha mẹ, anh em, họ hàng, làng xóm:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai giải nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
(Cadao)
Tinh thần trách nhiệm cộng đồng được đặt lên rất cao. Mỗi một thành viên có nhiều trách nhiệm: đối với người sống, người chết, với hiện tại quá khứ và tương lai, trách nhiệm làm con, làm cha, làm mẹ, làm bạn bè, làng xóm, làm dân. Luật “Tru di tam tộc”, “Tru di cửu tộc” thể hiện trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng. “Một người làm xấu cả họ mang nhơ”. Ý kiến của cá nhân phải thông qua các cấp, đại diện từ thấp đến cao: gia đình họ hàng làng xã. Sức mạnh của cá nhân hòa vào sức mạnh cộng đồng. Xã hội điều khiển, kiểm soát cá nhân thông qua gia đình. Trong tâm thức người Việt Nam, cộng đồng bao gồm những người đã chết, những người đang sống và sắp sinh ra. Do đó, người đang sống có nhiệm vụ kính trọng tổ tiên và tiếp nối tổ tiên sinh con đẻ cái. Những mối quan hệ chiều dọc(ông bà - cha mẹ - con cái) được coi trọng hơn mối quan hệ chiều ngang(vợ - chồng). Mối quan hệ thứ nhất chi phối mối quan hệ thứ hai.
Trong hôn nhân, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Các nghi lễ xung quanh việc kết hôn cho thấy hôn nhân là công việc cộng đồng chứ không phải cá nhân. Vì nó là điểm bắt đầu cho một cộng đồng gia đình mới. Cho nên, người đàn bà lý tưởng phải có sức khỏe tốt, lao động tốt để có thể đảm nhiệm một nhiệm vụ hết sức quan trọng là duy trì nòi giống cho gia đình, dòng họ nhà chồng. Từ đó, dẫn đến quan niệm “trọng nam khinh nữ”, chế độ đa thê, chế độ phụ quyền.
Gia đình truyền thống Việt Nam tuy chịu ảnh hưởng lớn của Trung Hoa do kết quả hàng ngàn năm tiếp xúc với Nho giáo. Nhưng nó không tuân thủ nghiêm ngặt những vi phạm khắt khe của giáo lý Nho giáo như người Trung Quốc. Nó có xu hướng gạt bỏ bớt những khuôn phép nặng nề của gia đình phụ quyền và duy trì phát huy những yếu tố căn bản của cộng đồng người Việt. Do đó, nếu đồng nhất gia đình truyền thống Việt Nam với gia đình truyền thống Trung Quốc và Nhật Bản thì hết sức sai lầm.
* Thứ hai là nội dung giáo dục của gia đình truyền thống Việt Nam :
Nếu như giáo dục gia đình giữ vai trò quyết định trong giáo dục truyền thống , thì giáo dục đạo đức là cốt lõi của giáo dục gia đình. Trong giáo dục đạo đức, người ta đặc biệt chú ý đến giáo dục cách ứng xử với người xung quanh. Họ dạy con “học ăn,
học nói, học gói, học mở”, “tiên học lễ hậu học văn”. Cá nhân phải ứng xử, hành động theo chuẩn mực cộng đồng chứ không phải theo cái mà anh ta cho là sai hay đúng. Vì trong gia đình truyền thống con người được sinh ra và lớn lên trong cộng đồng.
Trong gia đình truyền thống Việt Nam việc giáo dục tôn ti trật tự, thứ bậc trong gia đình được đề cao. Người ta chú ý việc giáo dục cho các thành viên phải tôn kính và thờ phụng tổ tiên khi còn sống cũng như lúc qua đời. Thờ cúng tổ tiên cũng có thể coi như là hành vi tôn giáo của gia đình người Việt và đây cũng là lý do con trai được coi trọng hơn con gái. Do mục đích “thờ phụng tổ tiên, nối dõi tông đường” mà trong gia đình truyền thống Việt Nam, con trai Cả(ở Bắc bộ), con trai út(ở Nam bộ) được giáo dục kĩ để sau này là người kế thừa tài sản gia đình, thay cha quản lý gia đình.
Gia đình truyền thống Việt Nam cũng giáo dục đạo hiếu nhưng không khắt khe như quan niệm Khổng Giáo, nó mang yếu tố nhân bản hơn nhiều. Việc con cái phụng dưỡng cha me là xuất phát từ tình cảm kính yêu và trách nhiệm, chứ không tôn sùng quyền uy một cách độc tài tuyệt đối. Vì thế, người Việt Nam quan niệm “con hơn cha nhà có phúc”. Ngoài ra, gia đình truyền thống Việt Nam còn chú ý việc giáo dục tình yêu thương đùm bọc giữa cá nhân trong gia đình. Tình cảm anh em còn được đề cao hơn tình cảm vợ chồng.
Gia đình truyền thống Việt Nam còn chú trọng đến việc giáo dục cách ứng xử trong dòng họ. Những câu ca dao, tục ngữ:
“Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn”
“Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”
chính là nói về cội nguồn, về quan hệ huyết thống của các thành viên trong gia đình, dòng họ. Cho nên, ngay từ nhỏ, trẻ em đã được ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ với họ hàng. Cơ sở của sự gắn bó dòng họ trước hết là ý thức về tổ tông, về cội nguồn. Pháp luật xưa qui định chức năng xã hội của gia tộc. Đứng đầu dòng họ là tộc trưởng, kiểm soát và chịu trách nhiệm về hành vi của các thành viên trong họ. Mọi thành viên trong dòng họ phải tuần theo những “lệ hộ” do họ đặt ra. Vì một người trong gia tộc phạm tội thì tất cả gia tộc phải liên đới trách nhiệm(“con dại cái mang”, “quýt làm cam chịu”). Chính vì thế, người trong họ phải bênh vực và bảo vệ dòng họ mình dù đúng hay sai.
Ngoài cộng đồng gia đình và họ hàng, mỗi cá nhân còn tham gia vào rất nhiều nhóm xã hội khác nhau trong khuôn khổ làng xã: phe, giáp, hội, phường, xóm, ngỏ, . . . Trong nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín với văn hóa riêng, với tôn giáo riêng, luật pháp riêng, mỗi làng là một thế giới riêng gắn bó chặt chẽ với từng cá nhân, thỏa mãn tất cả nhu cầu cuộc sống người dân cũng như đối phó với thiên tai, giặc giã, “phép Vua thua lệ làng”. Vì thế, mà đứa trẻ khi mới ra đời, nền giáo dục gia đình lo trước hết
là làmsao dể đứa trẻ nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng làng xa theo cách giáo dục trung dung, yên phận: “Ở hẹp người cười ở rộng người che”, “Ở bầu thì tròn ở ống thì dài”.
Nước ta là một nước nông nghiệp. Do đó người nông được đề cao nhất:
“Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rong
Nhất nông nhì sĩ”Một nghề nghiệp thứ hai được kính trọng ngưỡng mộ là nghề làm quan. Do đó, gia đình nào cũng cố gắng cho con cháu ăn học để đỗ đạt làm quan. Ngoài ra, còn có nghề dạy học, làm thuốc, ca hát, vẽ tranh, buôn bán nhưng không được coi trọng. Nhất là thương nghiệp, họ coi thương nhân là hạng bét trong xã hội, là những bọn ăn gian nói dối.
Chính vì những đặc điểm trên, trong giáo dục lao động và nghề nghiệp của gia đình truyền thống người ta không khuyến khích con cái làm giàu, chỉ nghĩ đến cái nghĩa, không nghĩ đến cái lợi, vui lòng với cái ít. Vì theo quan niệm của Nho giáo mỗi người đều có mệnh của mình và bằng lòng theo số mệnh đó.Ở gia đình người nông dân thường giáo dục con cái theo thói quen lao động, đức tính siêng năng, chăm chỉ cần cù, chịu khó lao động, có ý thức tôn trọng thành quả lao động và người lao động:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộngcày
Ai ơi ! Bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”
(Ca dao)
Ngoài ra, còn giáo dục con em có ý thức tiết kiệm trong tiêu dùng và tích trữ (tiền bạc, thóc gạo, vật dụng), phòng khi mất mùa đói kém “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”.
Gia đình truyền thống Việt Nam rất khắt khe trong việc giáo dục giới tính. Họ quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” nghĩa là nam nữ không được gần gũi, thân mật riêng với nhau. Như vậy là không đúng đắn, nhưng không được cha mẹ giải thích rõ ràng, cặn kẽ về vấn đề tình dục. Vì họ quan niệm đó là vấn đề thầm kín. Gia đình theo quan niệm Nho giáo, là nơi cá nhân thi hành nghĩa vụ với cộng đồng, chứ không phải thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và hạnh phúc riêng tư. Trong việc giáo dục giới tính họ còn khẳng định vai trò của người đàn ông trong gia đình và xã hội. Phụ nữ không được học hành thi cử, kế thừa tài sản, tham gia vào những hoạt dộng xã hội và bộ máy
Nhà nước. Họ được giáo dục để trở thành người phục tùng vào đàn ông, có nhiệm vụ gánh vác giang sơn nhà chồng.
* Thứ ba là phương pháp giáo dục của gia đình truyền thống
Trong gia đình truyền thống Việt Nam, người cha thường đứng đầu, có rất nhiều uy quyền đối với các thành viên trong gia đình.Từng cá nhân phải phục tùng tuyệt đối người chủ gia đình chứ không được phép tranh luận đúng, sai. Do đó, con cái cãi lời cha mẹ là tội bất hiếu lớn nhất. Vì sao người gia trưởng có uy quyền tuyệt đối như vậy? Bởi lẽ, họ là người nắm toàn bộ tư liệu sản xuất và là chủ sở hữu hợp pháp toàn bộ tài sản gia đình. Thứ hai, theo quan niệm Nho giáo, gia đình là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội. Xã hội muốn kiểm soát hành vi của các cá nhân đều thông qua gia đình, thông qua người đại diện gia đình, họ hàng. Do đó đối với trẻ em cách giáo dục đó không giúp chúng hình thành một nhân cách độc lập mà chỉ biết vâng lời, chấp hành một cách mù quáng.
Trong gia đình truyền thống Việt Nam cũng rất chú trọng đến việc giáo dục đạo làm con, đến nghĩa vụ và trách nhiệm của con cái đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thông qua những tấm gương, những câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn. Ngoài ra, họ còn giáo dục ý thức tự lao động để kiếm sống, phải cần cù lao động, phê phán kẻ lười biếng: “Tay làm hàm nhai, tai quai miệng trễ”. Họ truyền dạt những kinh nghiệm trong lao động sản xuất cho con cháu.
* Cuối cùng là tính ổn định, bền vững của gia đình truyền thống Việt Nam.
Tuy còn nhiều tư tưởng lạc hậu, bảo thủ, gia đình truyền thống Việt Nam vẫn tồn tại bền vững từ hàng nghìn năm nay. Và ngày nay, người ta cũng có xu hướng phát huy những mặt tích cực của kiểu gia đình này. Vì sao kiểu gia đình này có sức sống lâu bền trong tâm khảm người dân Việt Nam như vậy? Theo tôi, nó dựa trên một nền tảng luân lý đạo đức tốt đẹp: lòng hiếu thảo, lòng biêt ơn, lòng chung thủy . . . Các mối quan hệ trong gia đình truyền thống dựa trên nghĩa vụ, trách nhiệm giữa vợ chồng với nhau, cha mẹ và con cái, ông bà và con cháu, Ý thức trách nhiệm đó luôn gắn với nghĩa vụ được củng cố trong cuộc sống chung gia đình, lúc vui vẻ cũng như khi hoạn nạn. Mô hình lý tưởng của gia đình truyền thống Việi Nam là sự hòa thuận, sống tình nghĩa, biết hy sinh cho nhau. Tóm lại, gia đình giữ vị trí hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân nói riêng và xã hội nói chung. Tuy nhiên ở từng giai đoạn lịch sử, từng điều kiện kinh tế, xã hội, lính chất, hình thức và kết cấu gia đình có biến đổi. Gia đình truyền thống Việt Nam đã tồn tại hàng nghìn năm trên cơ sở của nền kinh tế xã hội nông nghiệp tự cung tự cấp. Trong gia đình hiện nay, dưới sự biến đổi nhiều mặt về kinh tế - văn hóa - xã hội, gia đình Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hường. Đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh - một thành phố đang trên con đường công nghiệp hóa - đô thị hóa.
Chương 2. THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI.
2.1. Đặc điểm kinh tế- văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Theo PTS. Nguyễn Minh Hòa, thành phố Sài Gòn xưa và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay là một thành phố trẻ và thành phố mở, thành phố Hồ Chí Minh là nơi “đất lành chim đậu”, cho nên nó là nơi mà người từ xứ của 53 tỉnh, thành và người nước ngoài đổ dồn về. Họ không chỉ khác nhau về dân tộc Kinh(chiếm đa số 89%), Hoa, Chăm, Khơme, Tày, Thái, Mường, Nùng, . . .) mà còn khác nhau về tôn giáo(Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo . . .), về học vấn, nghề nghiệp, mức sống, chính kiến, đặc biệt là ở họ đều có sự khác nhau về phong tục, tập quán, niềm tin, tín ngưỡng . . . Ông Trần Bạch Đằng một nhà nghiên cứu hiểu biết khá sâu sắc về thành phố này, có nhận định là: “Cũng như các thành phố lớn khác, Sài Gòn thu hút dân cư tứ xứ. Ngày nay, gọi là “Người Sài Gòn cố cựu” - sinh sống năm ba đời ở đây - chiếm một tỷ lệ thật thấp” [3, 134]. Do đó, văn hóa gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng của các văn hóa này thể hiện trong cách ăn mặc, bày trí, giao liếp, cưới xin, ma chay, giỗ chạp. Mặt khác nó cũng chịu ảnh hưởng thấp của Nho giáo.
* Về kinh tế
Từ năm 1986 thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu chuyển dần cơ chế quan liêu bao cấp và chuyển hẳn sang kinh tế thị trường. Sự thay đổi đó đã đem đến một sinh khí mới, diện mạo mới cùng với sự thay đổi về chất lượng cuộc sống của dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo tài liệu thống kê công trình nghiên cứu “lịch sử 300 năm Sài Gòn – TPHCM” do nhiều PTS - TS biên soạn. Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) năm 1997 đạt 55000 tỷ đồng, tăng rất nhiều lần so với năm 1975. Bình quân đầu người đạt 1119 đô la Mỹ gấp 3,5 lần so với cả nước và gấp 3 lần so với năm 1975. Với sự phát triển cao của tất cả các ngành công, nông, thương, ngư, lâm nghiệp. Với diện tích gần 2100km2 và số dân 5 triệu người, thành phố Hồ Chí Minh thuộc hàng những thành phố lớn ở Đông Nam Á. Là thành phố trẻ mới 300 tuổi, nhưng nhờ nằm ở vị trí thuận lợi cho giao thông trong nước, khu vực và quốc tế, tốc độ công nghiệp hóa - đô thị hóa của thành phố Hồ Chí Minh khá cao, nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế- thương mại - du lịch và dịch vụ lớn nhất nước ta. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử thành phố Hồ Chí Minh đã không có được những bước phát triển ngang tầm vị trí của mình.
Việc chuyển từ một nền kinh tế đóng sang mở đã giúp đất nước và gia đình thoát khỏi bế tắc của nạn khủng hoảng kinh tế - xã hội triền miên trong nhiều năm. Các gia đình giành được quyền chủ động trong kinh doanh, phát huy tiềm năng kinh tế(vốn, tư liệu sản xuất, kinh nghiệm làm ăn)và trí sáng tạo để kinh doanh làm giàu. Hoạt động sản xuất cùng như các mặt hoạt động khác được tự do, thoải mái linh hoạt hơn trước rất nhiều. Tiếc thay cùng với những cái tốt đẹp, thành phố ta cũng thâm nhập những
thứ rác rưởi đồi trụy, lối sống gấp, văn hóa độc hại, các quan niệm hôn nhan và gia đình không phù hợp với Việt Nam, tệ nạn xã hội đang phát triển, lối sống thực dụng xuất hiện trong đời sống xã hội, gia đình, các giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn, đặt quyền lợi cá nhân lên trên mọi đạo lý trong quan hệ giữa các thành viên gia đình, họ hàng, thân tộc, sự phân biệt giàu nghèo ngày càng lớn . . . Tác nhân chính của vấn đề này là sự vận động của nền kinh tế thị trường và những biến đổi nhiều mặt của thành phố.
Thật ra, các mặt xuống cấp trên đây còn do những nguyên nhân khác nữa. Ở nước ta muốn phát triển kinh tế quốc dân bắt buộc phải mở rộng cơ chế thị trường. Do đó chúng ta không thể loại bỏ kinh tế thị trường vì cho rằng nó mang đến nhiều mặt tiêu cực trong đời sống gia đình. Vấn đề chính là phải tìm ở trách nhiệm của các gia đình và những vấn đề tư tưởng, tổ chức, cơ chế vận hành của Nhà nước ta trong việc thi hành các chính sách còn chưa hợp lí. Ở các gia đình việc thực hiện các chức năng không đồng đều, có sự nhận thức không đúng về các giá trị, chuẩn mực đạo đức của gia đình trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay.
* Về văn hóa - xã hội:
Mặt này cũng có những biến đổi đáng kể. Điều đầu tiên là vấn đề dân trí - giáo dục được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhiều chương trình kế hoạch, biện pháp cải tạo đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được triển khai Các loại trường lớp ngày càng đa dạng hóa. Hình thức nội dung giáo dục cũng đổi mới cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh xã hội hiện đại. Triển khai quá trình xã hội hóa giáo dục - đào tạo, trường lớp và số lượng giáo viên ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập.
Mặt khác, ta còn chú ý đầu tư lớn vào ngành y tế để tạo điều kiện cơ sở vật chất tốt, đào tạo những y bác sĩ lành nghề đáp ứng nhu cầu chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Nhà nước đã dành một khoảng đầu tư lớn cho ngành y tế mỗi năm để mua sắm những trang thiết bị y tế mới hiện đại, phục vụ cho việc khám và chữa bệnh.
* Về văn hóa – nghệ thuật - sản xuất và báo chí:
Các lĩnh vực này phát triển một cách rầm rộ. Nam bộ nói chung, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là vùng đất mới, nhưng là nơi giao lưu với nhiều dòng chảy của các nền văn hóa khác nhau. Sài Gòn một mặt đã tiếp nhận và tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa ấy, mặt khác, không ngừng tạo ra những giá trị văn hóa phù hợp với truyền thống văn hóa cộng đồng dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử hàng nghìn năm. Nhiều đoàn kịch nói, cải lương, các hội chuyên nghiệp được hình thành, một số hãng phim mới được thành lập. Hệ tư tưởng văn hóa cũng phát triển mạnh. Các nhà sản xuất báo, tạp chí ra đời, đài truyền hình có hai kênh kết hợp với đài phát thanh để đáp ứng nhu cầu học hỏi giải trí của nhân dân. Nhiều nhà bảo tàng lịch sử được xây dựng: Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng cách mạng, Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng . . . Thành phố còn tổ chức những hoạt động văn hóa sôi nổi, đặc biệt các lể hội truyền
thống:Giỗ tổ Hùng Vương, cúng đình, Lễ Nghinh Ông, hội hoa xuân, lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ ở Bến Dược(Củ Chi). . .
Các hoạt động thể dục thể thao cũng rất sôi nổi, đạt nhiều kết quả cao trong những kì thi quốc gia và thế giới, Đặc biệt phong trào tập thể dục buổi sáng phát triển sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
Thành phố ta cũng có tiềm năng lớn về khoa học công nghệ, lực lượng khoa học kĩ thuật chiếm 85% cả nước với trên 1000 cán bộ có trình độ đai học, có người được đào tạo ở nước ngoài.
2.2. Thực trạng của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới.
2.2.1. Về khái niệm gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh .
Trước hết ta cần tìm hiểu về khái niệm gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh không phải là gia đình truyền thống vì “gia đình truyền thống chắc hẳn là gia đình ở nông thôn gia đình ở những xã hội nông nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh. Như vậy, đó cũng là kiểu gia đình nông nghiệp, là một định chế gắn liền với nền nông nghiệp cổ truyền” [4, 9].
Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh cũng không phải là gia đình hiện đại, vì gia đình hiện đại chắc hẳn là sản phẩm của một thành phố công nghiệp phát triển, dân cư có lối sống đô thị và đạt đến một trình độ văn minh đô thị khá cao, trong khi đó thì thành phố của chúng ta vẫn còn trong giai đoạn tiền công nghiệp, văn minh nông nghiệp vẫn còn mang đậm trong đời sống văn hóa của mỗi người dân.
Cho nên, gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có thể được coi là
“gia đình quá độ” đang trong bước chuyển từ xã hội tiền công nghiệp sang xã hội công nghiệp thực thụ.
Bên cạnh đó cũng cần phân biệt rõ cụm từ “gia đình thành phố Hồ Chí Minh” không trùng khớp với khái niệm “gia đình Nam bộ”, mặc dù thành phố Hồ Chí Minh thuộc Nam bộ. Trong khái niệm “gia đình thành phố Hồ Chí Minh” chúng ta có thể thấy có mặt đầy đủ cả đặc trưng của gia đình - gia đình Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ.
Gia đình thành phố Hồ Chí Minh cũng không phải là gia đình người Kinh vì ngoài dân tộc Kinh ra còn có hơn mười dân tộc khác nữa cùng chung sống trên địa bàn thành phố. Mỗi dân tộc tuy có những nét văn hóa riêng nhưng ta vẫn có thể tìm thấy những nét văn hóa khá chung ở trong một gia đình.
Tóm lại, thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố có đặc tính đa văn hóa(do có nhiều nhóm nhập cư), do đó rất khó đưa ra một khái niệm gia đình hoàn hảo được.
Theo PTS. Nguyền Minh Hòa: khái niệm “gia đình thành phố Hồ Chí Minh” có lẽ đơn giản được hiểu là một khái niệm dùng để chỉ các gia đình nói chung sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nó không dùng để chỉ rõ gia đình của một dân tộc, một tôn giáo hay của một nhóm người cụ thể nào. Do vậy, khái niệm “gia đình thành phố Hồ Chí Minh” nên được hiểu trong sự linh hoạt và mở cửa khái niệm này.
2.2.2. Thực trạng của gia đình thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới
Tất cả những đặc điểm về kinh tế - văn hóa - xã hội trên đã ảnh hưởng sâu rộng đến thực trạng gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trên nhiều bình diện.
* Thứ nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh hình thành nhiều kiểu gia đình khác nhau
- Các kiểu gia đình cơ bản:
+ Gia đình hạt nhân (hay còn gọi là gia đình đơn). Đó là kiểu gia đình chỉ có cha mẹ và con cái do chính họ sinh ra. Kiểu gia đình này phổ biến ở các đô thị lớn, tập trung ở các tầng lớp công nhân viên chức, trí thức, lực lượng vũ trang. Ưu điểm cơ bản của nó là sự thoát ly của con cái khi đã trưởng thành lập nên gia đình hạt nhân mới, độc lập về chỗ ở và quan hệ kinh tế, cơ cấu gọn nhẹ dễ cơ động, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội. Do đó kiểu gia đình này sẽ tăng lên trong xã hội công nghiệp hóa - đô thị hóa. Tuy nhiên, vì gia đình chỉ có hai thế hệ nên các mối quan hệ gia đình không chặt chẽ, ảnh hưởng của các thế hệ tới nhau rất ít. Cha mẹ không kiểm soát được hành vi của con cái, không hỗ trợ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, khả năng tự vệ đối với xã hội thấp.
+ Gia đình mở rộng(gia đình kép): Đây là kiểu gia đình tồn tại ba thế hệ trở lên. Ông bà - cha mẹ - con cái(tam, tứ, đại đồng đường). Kiểu gia đình này thịnh hành ở nông thôn Châu Á. Ưu điểm của nó là sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống, giữ gìn được những truyền thống tốt đẹp, các thành viên có điều kiện giúp đỡ nhau về tinh thần lẫn vật chất. Tuy nhiên sự khép kín trong nội bộ thân tộc dễ đưa đến thái độ cự đoan, bảo trì những tập tục lạc hậu giữa các thế hệ già trẻ thường nảy sinh những mâu thuẫn, cơ cấu gia đình phức tạp nên không phù hợp hoàn cảnh và điều kiện sống của xã hội hiện đại. Vì thế, kiểu gia đình này sẽ giảm dần trong xã hội công nghiệp hóa - đỗ thị hóa. Nhưng không có nghĩa là nó mất hẳn.
Các kiểu gia đình biến thái
+ Gia đình pha trộn: gồm những đôi kết hôn sau một vài lần ly hôn, họ đã có một hoặc hai dòng con ở các cuộc hôn nhân trước và những đứa con của cuộc hôn nhân này. Loại gia đình này chiếm tỷ lệ không cao. Kiểu gia đình này khá phức tạp trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thường là không thuận thảo. Do đó, phần lớn là không bền vững. Kiểu gia đình này sẽ tăng chậm.
+ Gia đình chỉ có cha hoặc mẹ độc thân: đời sống của những gia đình này khá neo đơn, con cái không được chăm sóc đầy đủ vì do bố mẹ ly dị hoặc chết, hoặc con ngoài giá thú. Kiểu gia đình này tiếp tục tăng do tỷ lệ ly hôn tăng.
+ Kiểu gia đình tồn tại trên thực tế: Kiểu gia đình gọi là “hôn nhân thực tế” nhưng không có chứng thực của pháp luật (tái hôn, vợ lẽ, nam nữ độc thân sống chung như vợ chồng). Kiểu gia đình này sẽ tăng.
+ Kiểu gia đình thiếu: Chỉ có vợ chồng không có con cái do vô sinh hoặc không muốn có con. Tỷ lệ này ở các đô thị lớn khá cao, nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Kiểu gia đình này sẽ giảm.
+ Số hộ ông bà già cô đơn: Chỉ có một ông(bà) hoặc con cảhai ông bà nhưng không có con cháu chung sống nên đời sống vất vả. Đời sống kinh tế có thể được cải thiện nhưng đời sống tinh thần thì không.
+ Các cặp đồng tính luyến ái: Những cặp này độ bền vững không cao, pháp luật ta không thừa nhận kiểu hôn nhăn này và các cấp xã hội cần quản lý để họ không gây phiền phức cho xã hội.
* Thứ hai là quy mô gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh
Có nhiều lý do ảnh hưởng đến quy mô gia đình như:
Yếu tố khách quan: Do tác động trực tiếp của công nghiệp hóa - đô thị hóa và kinh tế thị trường, quy mô gia đình hạt nhân thường nhỏ(số lượng con ít 1- 2 con). Vì thực tế là đông con khó sống ở thành phố(nhu cầu ăn, mặc, ở đều cao, thu nhập của công nhân viên chức lại thấp). Gia đình không còn là đơn vị kinh tế độc lập(như xã hội nông nghiệp), mỗi thành viên trong gia đình là công nhân viên chức của Nhà nước . . . Khi đó gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng sản phẩm xã hội và sử dụng các dịch vụ xã hội. Trẻ em không còn là lực lượng sản xuất mà được học hành, vui chơi. Do đó, tính chất gia trưởng và nhu cầu tìm kiếm con trai giảm đi đáng kể, tuổi kết hôn cũng muộn hơn. Giờ đây người ta không tự hào vì có “con đàn cháu đống” mà tự hào vì có điều kiện vật chất cao. Hơn nữa xã hội công nghiệp đòi hỏi đơn vị gia đình phải có tính cơ động nhanh để di chuyến theo nghề nghiệp.
- Yếu tố chủ quan: Do tác động của các nhân tố tâm lý tộc người, tâm lý tôn giáo và mức sống.
Theo thống kê của PTS. Nguyễn Minh Hòa, so với cả nước thì tỷ lệ dân số tự nhiên của thành phố là thấp(1,73%)(cả nước là 2,30%). Nhưng xét từng phần cục bộ thì sự tăng giảm rất khác nhau. ví dụ như:
+ Nhóm cư dân người Hoa; Tập trung ở ba quận: quận 5, quận 6, quận 11. Chiếm khoảng hơn 10% dân số thành phố. Họ quan niệm việc sinh đẻ là lẽ tự nhiên, “hào con hào của” . . . Mặt khác, do tâm lý “tha phương”, họ muốn cho dòng họ ngày
càng mạnh lên để hỗ trợ nhau trong cuộc sống, nhất là họ muốn có con trai để có người “nối dõi tông đường”, kế thừa tài sản, hương khói. Vì vậy, cộng đồng này mức tăng dân số quá nhanh, 74% số hộ muốn có 3 con trở lên (theo tài liệu phỏng vấn 100% hộ gia đình của PTS Nguyễn Minh Hòa)
+ Nhóm dân cư người Chăm : không nhiều nhưng tỉ lệ sinh sản rất cao. Do quan niệm của đạo Hồi: trách nhiệm của mọi người là lấy vợ chồng sinh con đẻ cái, không được nạo thai. Cũng theo tài liệu thống kê của PTS. Nguyễn Minh Hòa, tỉ lệ muốn có ba con trở lên là 50% trong đó có 17% muốn có năm con trở lên. Đặc biệt, họ thích sinh con gái(60%), do chế độ mẫu hệ.
+ Nhóm cư dân người nghèo : Chiếm 30% - 40% dân số thành phố. Họ làm đủ các công việc chân tay nhưng đời sống thấp kém(thu nhập một tháng không quá 50 ngàn đồng đến 70 ngàn đồng một đầu người). Theo logic thì họ phải có ít con , nhưng ngược lại họ đẻ rất nhiều con (47% muốn có 3 con trở lên).
+ Ngược lại các nhóm dân cư trên, dân cư người Kinh có mức sống cao lại có quy mô gia đình nhỏ(hai con : 68%- 72%).
- Quy mô gia đình mở rộng ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm không cao do đòi hỏi tính cơ động và gọn nhẹ của đơn vị gia đình ở đô thị. Do đó, những người từ vùng khác đến chủ yếu là những người độc thân hay gia đình đơn với quy mô nhỏ để dễ bề đối phó với bất trắc. Tâm lí cha mẹ già ngày nay cũng không thích nhờ vả con cái. Với những người làm cán bộ công nhân viên chức Nhà nước thì họ hưởng lương hưu; còn người buôn bán, sau khi lo cho con cái xong thì họ dành dụm để lo tuổi già. Có những ông bà già muốn sống chung với con cái nhưng do điều kiện nhà cửa chật hẹp hoặc con cái “hẹp lòng”. Thế hệ trẻ ngày nay cũng không thích chung sống với người già, họ thích sống độc lập cả tinh thần lẫn vật chất nhưng họ vẫn không quên bổn phận con cái đối với cha mẹ. Đây là điều khác với giới trẻ Phương Tây. Sự lựa chọn này là tối ưu đối với thế hệ trẻ Việt Nam vì nó kết hợp hai thế mạnh của Châu Âu là “tự do” và Châu Á là “bổn nhận”. Truyền thống chăm sóc những người cao tuổi bị rạn rứt, do đó chính phủ các nước Châu Á đã tìm ra nhiều chính sách xã hội. Chẳng hạn như ở Trung Quốc xử phạt nặng đối với những con cái bạc đãi cha mẹ, ở Xingapo nếu hộ gia đình nào có nuôi dưỡng người già thì được miến giảm một số loại thuế, được ưu tiên mua nhà giá rẻ, ở Đài Loan, những nhà máy, công ty nào nhận người cao tuổi vào làm việc thì sẽ được giảm thuế...
* Thứ ba là chức năng của gia đình ở Thành Phố Hồ Chí Minh cũng có những biến đổi.
Gia đình là một thiết chế xã hội xuất hiện sớm nhất và có lẽ là bền vững nhất của nhân loại. Trước những thăng trầm của lịch sử và biến thiên của dòng thời gian, các chức năng cơ bản nhất của gia đình vẫn không biến mất, hỏi lẽ tự nhiên và đơn giản là nếu một tổ chức nào mất chức năng thì không có lý do gì để tồn tại nữa. Tuy nhiên, khi điều kiện và hoàn cảnh của xã hội có sự thay đổi lớn thì nhất định sẽ đưa đến thay
đổi ít nhiều một vài chức năng nào đó, Điều nhận thấy đầu tiên là từ gia đình đa chức năng sang gia đình đơn chức năng(chuyên môn hóa). Gia đình lúc đầu là một “đơn vị xã hội duy nhất” (Mác- Ăngghen), gia đình là cộng đồng sinh hoạt, cộng đồng là khuôn khổ tồn tại và là thế giới của mỗi người. Dần dần, cùng với sự phát triển của phân công lao động và các quan hệ xã hội, các chức năng của gia đình được chuyên môn hóa và trở thành tương đối độc lập với xã hội và bị xã hội chi phối.
Gia đình từ một đơn vị sản xuất tự chủ, độc lập ở một số nước(chủ yếu các nước phát triển) chuyển dần thành một đơn vị tiêu dùng là chủ yếu. Và việc tổ chức sản xuất kinh doanh do các tổ chức xã hội tư nhân và Nhà nước chịu trách nhiệm là chính. Nhiều chức năng gia đình được các thiết chế xã hội khác san sẻ trách,nhiệm như giáo dục trẻ em, săn sóc người ốm, bảo vệ các thành viên gia đình.
Ở thành phố Hồ Chí Minh sự biến đổi này diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với những biến đổi đang diễn ra ở lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội?
Chức năng sản xuất ra sức lao động.
Cuối thê kí XX khoa học đã đại đến những bước tiến dài trong lĩnh vực sinh sản như sinh con trong ống nghiệm, ngân hàng tinhtrùng, phôi, mangthai hộ . . . Nó cũng có mặt tích cực nhưng nếu lạm dụng qúa mức là điều hết sức nguy hại cho xã hội.
Vậy ở Việt Nam nói chung thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thì chức năng này giảm hay biến mất? Theo PTS. Nguyễn Minh Hòa thì chức năng tái sản sinh xã hội của gia đình ở thành phố hiện nay không có gì đáng lo lắng vì sẽ không có gì thay đổi đáng kể ít nhất là cho đến giữa thế kỉ tới. Những kỹ thuật sinh sản mới chỉ được áp dụng ở những trường hợp bất khả kháng, chứ tâm lý phụ nữ Việt Nam không thích kiểu sinh sản này. Theo giáo sư Lê Thi chức năng sinh đẻ từ một quá trình tự nhiên sang qua trình xã hội tự giác. Trước đây, không có sự tách rời giữa chức năng sinh đẻ của gia đình với sự thỏa mãn tình dục của đôi vợ chồng chức năng sinh đẻ ra khỏi nhu cầu đáp ứng về tình dục. Do việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chức năng này cũng giảm dầm.
Chức năng kinh tế:
Tiến trình công nghiệp hóa - đô thị hóa và kinh tế thị trường chỉ mới khơi động ở Thành Phố Hồ Chí Minh được vài năm nay nhưng thực tế nó đã tác động sâu rộng đến tất cả mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Một trong những chức năng ảnh hưởng sâu sắc là chức năng hoạt động kinh tế gia đình.
Trong xã hội nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chức năng kinh tế của gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng vì gia đình thật sự là một đơn vị kinh tế độc lập, khép kín. Mỗi một gia đình tự đảm nhiệm trọn vẹn một qui trình gồm có “sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Khi chuyển sang xã hội công nghiệp và đô thị hóa thì gia đình vẫn làm kinh tế nhưng không hoạt động như một đơn vị độc lập tự chủ.
+ Gia đình nông dân ở vùng đô thị hóa mới :
Trước đây, các gia đình này là một đơn vị sản xuất độc lập vì chủ yếu họ sống bằng nghề nông. Do tiến trình công nghiệp hóa - độ thị hóa các gia đình bị mất dần đi chức năng là một đơn vị kinh tế. Các nông dân bị mất đất canh tác, nông thôn trở thành đô thị, nông dân trở thành công nhân, buôn bán nhỏ, tạp vụ, làm thuê mướn và kể cả “vô sản lưu manh”(như Mác gọi). Tiến trình công nghiệp hóa,đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới khởi động nhưng những hệ qủa của nó diễn ra theo đúng trình tự như những gì đã từng xảy ra ở các nước đi trước.
+ Hộ gia đình làm kinh tế trong khu vực nội thành.
Ở nội thành các gia đình cũng mất đi chức năng là một đơn vị kinh tế độc lập và trở thành đơn vị tiêu thụ sản phẩm và tiêu dùng các dịch vụ xã hội - hỏi lẽ, do không đủ sức cạnh tranh với các công ty lớn, công nghệ tiên tiến. Các đơn vị sản xuất tiểu thủ công và công nghiệp nhỏ với quy mô gia đình bị tan vỡ hàng loạt. Hoặc họ phải liên kết với nhau thành đơn vị sản xuất lớn hơn như công ty, tổ hợp . . . hoặc làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống . . .xu thế này sẽ còn tiếp tục diễn ra nhanh và mạnh hơn ở thành phố Hồ Chí Minh. Đó là xu thế tất yếu do quy hoạch biến ngoại thành thành nội thành. Điều quan trọng là làm sao cho quá trình này ít gây tổn thất nhất cho nhân dân. Vì vậy những dự án công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải quan tâm đến mặt vật chất lẫn mặt xã hội(chuẩn bị tốt về tư tưởng cho người nông dân, tính toán tiến độ đền bù hợp lí có kế hoạch dạy nghề cho dân cư nhất là đối với thanh niên, tạo điều kiện cho những gia đình còn muốn tiếp tục sản xuất nông nghiệp).
Tuy nhiên, ờ thành phố Hồ Chí Minh chức năng kinh tế hỗ trợ gia đình không hoàn loàn bị triệt tiêu nó còn tồn tại dai dẳng trong nhiều năm và Nhà nước cần có chính sách xã hội tương ứng để hỗ trợ quá trình chuyến đổi này nhằm duy trì sản xuất hộ gia đình trong những điều kiện cho phép với hình thức mới và chất lượng mới.
- Chức năng xã hội hóa :
Xã hội hóa là một chức năng cơ bản nhất của gia đình và nó cũng là một trong các chức năng bị biến đổi mạnh nhất dưới tác động của ngoại cảnh.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, khi chuyển sang xã hội công nghiệp - đô thị thì chức năng này của gia đình bắt dầu có những biến đổi đáng kể. Biểu hiện như sau :
+ Sự chuyển giao từ giáo dục truyền thống gia đình sang cho giáo dục công nghệ của hệ thống trường học.
Gia đình truyền thống rất chú ý đến việc giáo dục những giá trị đạo đức cho các thành viên trong gia đình thông qua những câu ca dao, tục ngữ, truyện ngụ ngôn, giáo dục những kỹ năng hoạt động nghề nghiệp thông qua lối truyền nghề trực liếp bằng kinh nghiệm từ thực tiễn lao động. Bên cạnh đó, lối giáo dục này thường thiên về tình cảm. Do đó nó thường không có kế hoạch, quy mô nhỏ, không đồng bộ . . . khi chuyển
sang xã hội công nghiệp - đô thị thì những thế mạnh như trên đã nêu bị triệt tiêu đi và dần dần được chuyển giao từng phần cho xã hội Phó thủ tướng Nguyễn Khánh đề cập đến trong hội nghị “gia đình và xã hội” năm 1995, ông nhận định rằng: “gia đình Việt Nam hiện nay có những mặt tiến bộ hơn so với trước đây, nhưng cũng có những một sút kém hơn. Đặc biệt là sự sút kém về vai trò và hiệu quả giáo dục của gia đình. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội mà gia đình không ngăn ngay từ đầu”.
Hiện tượng giảm dần chức năng giáo dục của gia đình được thể hiện ở các chiều kích thích sau :
Hiện tượng trẻ em bị bứt khỏi gia đình sớm hơn các thế hệ trước và thời gian bị tách khỏi môi trường gia đình lâu hơn theo thống kê của nhóm giáo sư, PTS, TS trong công trình nghiên cứu “lịch sử 300 năm Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh”, hiện nay phụ huynh gởi con vào trường bán trú ngày càng tăng cao theo từng năm :
Năm 1994-1995: thành phố có 89 trường bán trú với 739 lớp
Năm 1995 -1996: có hơn 104 trường với hơn 1000 lớp.
Thống kê 300 hộ gia đình thành phố thấy 70% con cái họ gởi vào trường trung học trong thời gian đi làm việc.
Trong xã hội công nghiệp hóa - đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, quỹ thời gian của các thành viên trở nên eo hẹp đến mức họ không còn thời gian để chăm lo giáo dục con cái, mặc dù họ rất muốn như vậy. Tình trạng này đã đưa đẩy nhiều con cái tham gia các băng cướp giật, quậy phá, hút chích mà cha mẹ hoàn toàn không biết.
Do đó, trường học ngày càng hoàn thiện thì phạm vi giáo dục gia đình ngày càng thu hẹp. Để đảm báo chức năng giáo dục, nhà trường đã thay đổi phương pháp giáo dục theo tính chất công nghệ kiểu phương Tây. Đây là một lối giáo dục đáp ứng được yêu cầu của xã hội kĩ thuật hiện đại. Đặc biệt là việc trang bị các kiến thức chuyên môn, tay nghề, kỹ năng học vấn hiện đại. Tuy nhiên, nó cũng là kiểu giáo dục đồng loạt, cứng nhắc, ít cảm xúc thiên về kĩ thuật và hướng tới bề rộng.
Mặc khác, quá trình xã hội hóa cá nhân cũng nảy sinh một mâu thuẫn lớn. Đó là việc cha mẹ ngày càng phó mặc việc giáo dục cho nhà trường. Họ nghĩ rằng mình chỉ cần đáp ứng những nhu cầu vật chất là đủ. Trong khi đó thì các nhà trường lại quá tải vì việc truyền thụ kiến thức đã ngốn thời gian vì chương trình ngày càng quá nặng(nhiều bài, nhiều môn). Việc giáo dục đạo đức bị giảm sút, mối quan hộ giữa thầy trò càng lõng lẻo.
Thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh chúng ta chưa chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất, tinh thần của giáo viên - phụ huynh để tiến hành chuyển từ giáo dục truyền thống sang giáo dục theo kiểu công nghệ nên xảy ra hiện tượng hụt hẫng, dẫn đến sự “tụt hậu về
văn hóa”.Thế nên, trẻ em rơi vào tình huống là có những khoảng trống phi giáo dục và như thế chúng bị ban bè xấu lôi kéo là điều tất nhiên.
- Chức năng chăm sóc sức khỏe của các thành viên khác trong gia đình
Trong xã hội nông nghiệp và tiền công nghiệp thì gia đình và những người thân thuộc bao giờ cũng đóng vai trò chính yếu trong việc bảo bọc, giúp đỡ người thân của mình trong những lúc đau ốm, tai nạn, khó khăn về kinh tế, cưới hỏi, ma chay . . . nhưng khi chuyển sang xã hội công nghiệp - đô thị thì người dân đô thị bắt đầu chuyển dần chức năng này cho các loại dịch vụ tổ chức xã hội(nhà nước, tư nhân, tôn giáo, hội từ thiện, ngân hàng,...). Trước đây, họ xem những người thân là chỗ nương tựa chủ yếu khi có hữu sự nhưng nay họ chuyển dần sang các tổ chức xã hội. theo thống kê của PTS.Nguyễn Minh Hòa trong 600 hộ ở thành phố Hồ Chí Minh có 26% hộ cho rằng gia đình có gặp bất trắc thì họ trông cậy nhiều hơn vào cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, . . Tỉ lệ này đặc biệt cao ở các nhóm công nhân viên chức Nhà nước và các đô thị sầm uất như quận 1, quận 3 lí do là hiện nay ai cũng bận bịu việc mưu sinh nên họ không muốn phiền hà và tôn kém những người thân. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là truyền thống “Chị ngã em nâng”, “Bán bà con xa mua, láng giềng gần” bị biến mất mà nó chuyển sang một hình thái khác.
Mặc dù, các loại dịch vụ xã hội có phát triển đến đâu thì chức năng này vẫn rất cần thiết trong cuộc sống của các thành viên. Trong điều kiện các phúc lợi công cộng của nhà Nước bị giảm sút thì việc chăm sóc người già, người tàn tật trở thành trách nhiệm nặng nề của các gia đình và họ gánh chịu những chi phí rất tốn kém. Ngày nay, gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh còn đảm nhận cả công việc nuôi dưỡng trẻ mồ côi, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ tại nhà. Bởi lẽ có một số gia đình ở đô thị lớn có điều kiện về kinh tế tốt, họ muốn làm những công tác từ thiện, xã hội. Điều này nói lên vai trò và trách nhiệm lớn của gia đình phải đảm nhiệm. Nhờ đó mà động viên khai thác các nguồn lực tiềm năng như vốn liếng, tài sản, sáng kiến, đầu óc tổ chức và quản lí kinh doanh để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống gia đình, đổi mới được bộ mặt thành phố, nông thôn góp phần quyết định và thắng lợi của công cuộc đổi mới hiện nay.
Trong thời kì bao cấp, chúng ta đề cao vai trò của tập thể, của xã hội, gia đình bị lu mờ. Ngày nay cách nhìn đó đã thay đổi vì chúng ta nhận ra là tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà phạm việc phân công và phối hợp giữa gia đình và các thể chế xã hội khác, có những xê dịch trong việc quản lí sản xuất, trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con người, bảo hiểm xã hội và y tế. Nhưng kinh nghiệm của nước ta thời gian qua, cũng như nhận định của thế giới cho rằng sự phân công giữa gia đình và xã hội sẽ tồn tại lâu dài. Bởi lẽ, mặc dù nhân loại đã và đang đạt được nhiều thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến cũng không thể nào thay thế được vai trò của gia đình.
- Chức năng đảm bảo sự cân bằng tâm lí thỏa mãn nhu cầu tình cảm của các thành viên trong gia đình
Suốt một ngày “đầu tắt mặt tối” với công việc người thành phố trở về với mái ấm gia đình với mong muốn được giải tỏa những căng thẳng, được nghỉ ngơi, giải trí, tổ chức những sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao, tiếp khách, tham quan.
Nhịp độ của xã hội công nghiệp khiến cho “qũy thời gian” chúng ta rất ít ỏi. Trước đây trong gia đình thường quây quần bên nhau trong bữa cơm. Đó là dịp để họ trao đổi với nhau về công ăn việc làm, việc học hành của con cái, nhưng tâm tư tình cảm . . . Giờ đây, do yêu cầu công việc, họ không còn thời gian để ngồi chung với nhau trong một mâm cơm họ gặp đâu ăn đấy, bằng những loại thức ăn nhanh. Khuôn viên gia đình trở nên nhỏ bé, ngột ngạt không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của các thành viên trong, gia đình. Cho nên, họ tìm đến địa điểm sinh hoạt ngoài gia đình để nghỉ ngơi, cân bằng tâm lí như ở rạp hát, công viên, câu lạc bộ, vùng ngoại thành, quán ăn, nhà thờ, chùa chiền . . . nhất là những ngày nghỉ lễ, chủ nhật. Điều này, một mặt cho thấy nhu cầu về tinh thần ngày càng tăng và về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cũng phát triển mạnh mẽ để đáp ứng những nhu cầu đó. Đồng thời cũng cho thấy sự giảm dần chức năng cân bằng tâm lí, thỏa mãn những nhu cầu tình cảm của các thành viên trong gia đình. Nếu chúng ta quá lạm dụng việc sinh hoạt tinh thần ở phạm vi ngoài gia đình sẽ làm cho gia đình không còn là “tổ ấm” mà trở thành “quán trọ”(nói như PTS.Nguyễn Minh Hòa). Một vấn đề khác nữa là các thành viên trong gia đình có khi không cùng ngày nghỉ dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm điều này dẫn đến hành vi cá nhân hoặc cha mẹ không quản lí được những nơi vui chơi của con cái lúc tuổi dậy thì.
Hơn nữa, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ngày nay đã thay đổi cùng với việc Đảng và Nhà nước ta đề cao quyền dân chủ trong nước và tiếp xúc với nền văn minh thế giới. Trong đó, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình, quyền của trẻ em, quyền tự do và lợi ích cá nhân được Nhà nước bảo vệ và xã hội coi trọng. Nhu cầu muốn được hưởng hạnh phúc của mỗi cá nhân trong gia đình là chính đáng và cấp bách. Do đó, muốn củng cố sự bền vững gia đình cần hết sức coi trọng chức năng giữ gìn sự cân bằng tâm lí tình cảm cho các thành viên, quan tâm đúng mức đến cuộc sống, nhu cầu, nguyện vọng của mỗi thành viên.
Tóm lại, gia đình Việt Nam nói chung và gia đình thành phố Hồ Chí Minh nói riêng rõ ràng đang phải đảm nhận các chức năng nặng nề, phức tạp hơn trước rất nhiều. Để các gia đình thực hiện tốt các chức năng đó, Đảng và Nhà nước ta đã tạo ít nhiều điều kiện. Quan trọng nhất là việc chuyển đổi nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Các gia đình hiện nay không có tư tưởng ỷ lại trông chờ vào Nhà nước mà đang chủ động vươn lên, phát huy các nguồn lực, tiềm năng trước đây chưa được động viên, khai thác để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống gia đình. nhờ đó mà bộ mặt thành phố, nông thôn, nhiều nơi có những biến đổi nhanh chóng không thể lường trước được. Chính công sức, tiền bạc và sự quan tâm của họ đã góp phần quyết định và thắng lợi của công cuộc đổi mới hiện nay.
* Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều biến đổi
Mối quan hệ gia đình gồm có quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và các cháu. Các mối quan hệ để tạo thành cấu trúc một gia đình. Mối quan hệ đó trong gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh như thế nào là vấn dề chúng ta cần tìm hiểu. Tuy nhiên, ờ đây chủ yếu là tìm hiểu mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và còn cái với nhau. vì gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là gia đình hạt nhân.
- Vai trò giữa vợ và chồng trong gia đình :
Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó chứa đựng nhiều mối quan hệ xã hội và các dạng hoạt động phức tạp. Trong cái tiểu xã hội đó các thành viên chủ chốt của nó đóng vai trò như thế nào?
Như ở mục 1.3 đã nói về gia đình truyền thống Việt Nam nói riêng, ở Châu Á nói chung, trong gia đình thường người đàn ông làm gia trưởng(người chồng hoặc con trai Trưởng, con trai Út). Họ đóng vai trò chủ chốt có trách nhiệm lớn trong việc quyết định sự vận động và phát triển của gia đình. Do đó, họ thường đứng tên chủ hộ. Nhưng có gia đình thì quyền hành thực tế lại là của người vợ. Theo thống kê của PTS.Nguyễn Minh Hòa trong 900 hộ gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh thì có 56% hộ là người chồng đóng góp ngân sách cho gia đình. Nhưng người quản lí ngân sách ấy lại là các bà vợ(gần 70%). Đó là truyền thống tốt đẹp “của chồng công vợ” không như các nước phương Tây tiền ai nấy giữ. Họ thường nói đến vai trò của hai vợ chồng trong gia đình nhưng thực tế nó vẫn lệch sang một phía nào đấy khi đối mặt với những vấn đề quan trọng.
Đặc điểm chung của các gia đình trong môi trường công nghiệp hóa và đô thị hóa là sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Thành phố Hồ Chí Minh của chúng ta cũng vậy. Tuy nhiên, đặc tính bình đẳng lại tỷ lệ nghịch với mức độ bền vững gia đình: sự hình đẳng khá cao nhưng độ bền vững lại thấp so với các khu vực khác trong nước. sự bình đẳng giữa vợ chồng thể hiện trong khi quyết định những vân đề lớn như: việc chi tiêu, học hành của con cái, đi du lịch . . .Đặc biệt vai trò người phụ nữ không kém đàn ông bao nhiêu. Vì ngày nay người phụ nữ có trình độ học vấn cao. Họ có một vị trí quan trọng trong xã hội và cùng đóng góp vào việc tìm ra kinh tế cho gia đình. Hơn ai hết người đàn ông phải nhận ra điều đó, để có thái độ cư xử cho phù hợp.
Dù sao trong những việc quan trọng phần lớn cả hai vợ chồng thường bàn bạc với nhau để đi đến quyết định. Mặt khác, học vấn có vai trò quyết định của việc bình đẳng trong mối quan hệ vợ chồng. Thực tế cho thấy tỷ lệ các cặp vợ chồng có học vấn cao đối xử bình đẳng cao hơn. Gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh thường có học vấn cao hơn ở nông thôn. Dù gia đình và xã hội đã coi trọng quyền bình dẳng trong quan hệ vợ chồng, người phụ nữ vẫn xem chồng là người chủ của gia đình. Có lẽ do ảnh hướng sâu nặng của gia đình truyền thống Châu Á nổi chung. Cũng có mội số gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh không tránh khỏi sự bất bình đẳng nhưng không quá
đáng như kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Thường là có một số đức ông chồng kiếm được rất nhiều tiền và họ nghĩ rằng mình chỉ có nhiệm vụ mang tiền về cho vợ là đủ mà không cần quan tâm làm công việc nội trợ giúp đỡ người vợ. Họ coi đó là nhiệm vụ đương nhiên mà phụ nữ phải gánh vác. Vậy mà, người phụ nữ không cảm thấy đó là điều vất vả tủi nhục gì cả. Cho nên, họ cũng không hề buồn rầu hay than vãn gì cả. Có lẽ họ nghĩ người chồng làm việc vất vả nên cần nghỉ ngơi nhiều hơn.
Tóm lại, kiểu gia đình cả hai người làm chủ ngày nay chiếm tỷ lệ cao. Theo thống kê ở thành phố Hồ Chí Minh của PTS. Nguyền Minh Hòa là 71,6%. Các thế hệ trẻ thích kiểu gia đình này hơn. Tuy nhiên mức độ bền vững của nó kém hơn gia đình gia trưởng.
- Quan hệ giữa cha mẹ và con cái:
Tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái thật vô bờ bến. Nhưng tình cảm đó ngày xưa không được thể hiện một cách vồ vập, thân thiết. Con cái không chỉ kính trọng cha mẹ mà còn sợ sệt nữa. Giữa con cái và cha mẹ dường như có một khoảng cách vô hình nào đó. Cho nên, con cái thường không dám bộc bạch những tâm tư tình cảm, chính kiến của mình cho cha mẹ nghe. Lời nói của cha mẹ có một sức mạnh kỳ lạ buộc con cái phải luôn luôn vâng lời dù là nói sai. Ngày nay, tuy trẻ em bị bứt ra khỏi gia đình sớm và cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến con cái. Nhưng giữa họ đã thiết lập mối quan hệ mềm dẻo hơn. Con cái có thể tự bộc bạch những tâm tư tình cảm của mình cho cha mẹ nghe. Trong giới trí thức, tình hình đánh đập con cái giảm. Nhưng trong giới lao động tình trạng ấy vẫn còn.
Cuộc sống quả phức tạp, một vấn đề nào cũng có hai mặt của nó. Sự bình đẳng và dân chủ trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái đã nảy sinh một hiện tượng là con cái cãi lại cha mẹ để thể hiện thái độ không đồng ý một vấn đề nào đó(loại trừ hành động chửi bới lăng nhục). Theo thống kê có hơn 50% con cái cãi lại cha mẹ. Theo quan niệm truyền thống:
“Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”
(Ca dao)
Nhưng ngày nay có người cho rằng chuyện đó là bình thường vì tuổi trẻ không hiểu nhiều về cuộc đời nên nghĩ rằng mình đúng. Cũng có thể là chúng đúng thật nhưng vì cha mẹ áp đặt, không đồng ý với những yêu cầu đó. Theo PTS. Nguyễn Minh Hòa những vấn đề khiến con cái hay cãi lại cha mẹ nhiều nhất là về thị hiếu, sở thích cá nhân(49,59%), quan hệ bạn bè, tình yêu(24,6%). Ngoài ra còn có vấn đề học hành, nghề nghiệp, tiền bạc, quan điểm chính trị, xã hội.
Theo tôi, việc con cái cãi lại cha mẹ cũng có lý do riêng của nó không có nghĩa là con cái bất hiếu. Bởi lẽ, mỗi một thời đại, mỗi thế hệ có một quan niệm
riêng. Thế hệ già không thể tự cho mình có :”cái quyền định đoạt tất cả niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ của thế hệ trẻ “(nói như Ăng-ghen cách đây 150 năm).
Tóm lại, cha mẹ cần là tấm gương, chỗ dựa cho con cái về vật chất lẫn tinh thần. Cha mẹ không nên quá cứng nhắc trong những quan niệm và cần phải có sự đối xử công bằng.
* Hiện tượng ly hôn có xu hướng gia tăng :
Hiện tượng ly hôn thực ra không phải là hiện tượng mới mẽ nhưng ở mỗi thời đại nó lại diễn ra khác nhau về hình thức, qui mô và tính chất thái độ của mỗi người đối với hiện tượng này cũng khác nhau: người thì hoang mang, lo lắng, người thì cho là bình thường .
Trong những thập niên gần đây, hiện tượng ly hôn trở nên phổ biến, phổ quát trong mọi tầng lớp xã hội, mọi quốc gia và nhất là ở các nước phương Tây ( Mỹ 50%, Anh 40% . . .). Hiện tượng phân rã gia đình này cũng dần sang các nước Châu Á nó không diễn ra mạnh mẽ mà âm thầm và lại nhích dần lên theo thời gian . Nó tỷ lệ thuận với quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa . Do phong tục tập quán, dư luận xã hội nên ở Châu Á hiện tượng này ít hơn ở Châu Âu.
Còn ở thành phố Hồ Chí Minh thì sao? Hiện tượng ly hôn bắt đầu gia tăng khi thành phố ta bước vào cơ chế thị trường và công cuộc công nghiệp hóa -hiện đại hóa (1990 - 1996) theo tài liệu thống kê của phó tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa toàn thành phố số vụ ly hôn trên 5000 vụ trong một năm(1990 - 1991), trong khi từ (1985 -1990 chỉ trên 5000 vụ), tăng lên gần 2000 vụ, nếu so sánh với dân số thành phố là 4.795.000 và trên 100.000 hộ gia đình thì con số này không đáng kể nhưng nếu so sánh giữa tỷ lệ kết hôn và ly hôn mỗi năm thì con số ấy thật to lớn . Tính trung bình ở thành phố trong năm 1995 - 1996 là 31,40% thì nó là cứ ba đôi kết hôn có một đôi ly hôn (cao hơn các nước trong khu vực). Trong thời gian chiến tranh, đời sống luôn luôn bị xáo trộn bởi bom đạn nhưng gia đình rất bền vững dù người trụ cột không có ở nhà. Có lẽ do họ phải đối mặt với sự sống và cái chết nên khả năng tự vệ của gia đình nâng cao . Ngày nay, ta phải đối mặt với nhiều xung lực, vỏ bọc bảo vệ gia đình chưa được rèn luyện trong môi trường đó nên dễ tan vỡ.
Một điều cần nói là trong các vụ ly hôn đa số là phụ nữ đứng đơn vì không chịu nỗi những cách đối xử của chồng. Người đàn ông nếu gặp bế tắc trong hôn nhân họ còn có cho để giải tỏa như bạn bè, rượu chè, phụ nữ khác còn phụ nữ thì không còn cách cứu cánh nào ngoài giải phóng “tự giải phóng” mình bằng ly hôn. PTS. Nguyền Minh Hòa cho rằng thành phần công nhân viên chức là thành phần có tỷ lệ ly hôn cao nhất(31%), thứ hai là dịch vụ, thương mại(26,5%), ít nhất là lực lượng vũ trang, công an(không,9%). Vì giới trí thức hay tự ái và có bệnh “sĩ”, về độ tuổi ly hôn thì từ 30 - 50 chiếm tỉ lệ cao nhất (55, 56%). Lý do là họ đã có mâu thuẫn từ những năm đầu sinh sống, nhưng thường họ cố gắng chịu đựng nhau để con cái trưởng thành rồi mới chính thức ly hôn. Sự chịu đựng này thật phi thường so với người Châu Âu. Thứ hai là
người Việt Nam không thích ly hôn vì những hậu quà của nó, cho nên, họ cố gắng cứu vãn hạnh phúc đến mức tối đa. Một điều nữa là việc phân chia tài sản khi tiến hành thủ tục ly hôn cũng rắc rối khó xử. Vì quan niệm người Việt Nam “của chồng công vợ”, họ không có tài sản riêng và không nghĩ đến lúc phải chia tài sản. Còn ở phương Tây thì tài sản của ai người ấy giữ nên dễ dàng hơn, điều đó cũng là nguyên nhân kéo dài sự sống chung không tự nhiên ra. Lại có những gia đình khi nghèo thì sống rất đằm thắm hạnh phúc, nhưng khi khá giả rồi thì cả hai đều sinh tật dẫn đến sự “tan đàn xẻ nghé”.
Vì sao tỷ lệ ly hôn lại tăng cao? Trước hết là nguyên nhân khách quan. Đó là sự thay đổi của xã hội dẫn đến nhiều tình trạng như: sự tự do kết hôn, kết hôn sớm, có thai trước khi cưới . . . Mặt khác phụ nữ lại có địa vị trong xã hội đôi khi hơn cả nam giới. Họ có một trình độ học vấn nhất định, được nhiều tổ chức xã hội bảo vệ. Do đó họ không còn lệ thuộc vào người chồng như trước. Họ có thể độc lập về kinh tế, vị trí xã hội và tự quyết định được số phận của mình.
Một nguyên nhân khách quan khác là do điều luật về ly hôn không đặt nặng vấn đề thuận tình cả hai phía mà chủ yếu là xét đời sống hôn nhân thực tế. Dù có một bên không đồng ý tòa án cũng quyết định cho ly hôn nếu xét thấy “đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Một điều nữa là dư luận xã hội ngày nay chấp thuận ly hôn chứ không bị họ hàng làng xóm phản đối mãnh liệt nữa. Hơn nữa, vấn đề nhân quyền ngày nay được đề cao nhất là cuộc cách mạng giải phóng tình dục, giải phóng phụ nữ và sự phát triển của khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm tăng tỷ lệ ly hôn.
Bên cạnh đó, còn nhiền nguyên nhân chủ quan khác. Nổi bật nhất làa mâu thuẫn trong gia đình do bị đối xử tàn bạo, do cá tính trái ngược nhau(37,33%), do không hòa hợp về tình dục, việc giáo dục chăm sóc con cái (29,33%), sở thích cá nhân(25,33%).
Đời sống kinh tế thấp kém cũng là một nguyên nhân gây mâu thuẫn gia đình và vì thế tăng tỷ lệ ly hôn.
Trong vài năm gần đây đời sống các gia đình trở nên khá giả hơn, họ có điểu kiện kinh tế để xây dựng nhà cửa, mua sắm những tiện nghi trong gia đình, chăm sóc con cái hơn. Tuy nhiên, nhìn chung đời sống của nhân dân vẫn còn thấp. Theo kết quả điều tra cho thấy có hơn nữa số dân dưới mức nghèo khổ. Do cả hai phải đối đầu với kinh tế nên vợ chồng không có thời gian chăm sóc nhau, tìm hiểu nhau. Họ cũng cáu gắt với nhau khi kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên ta cần thấy rằng kinh tế sung túc không phải đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hạnh phúc gia đình mà cần phải có sự hòa hợp tâm lý của các thành viên cũng như việc giáo dục con cái.
Người phụ nữ và con cái của họ phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất sau khi ly hôn. Người mẹ chủ yếu phải nuôi con một mình, rất ít hoặc không có sự giúp đỡ của người bố.
Mặc dù mấy năm nay tỷ lệ ly hôn có tăng lên. Chủ yếu ở thành phố. Nhưng ta cùng phải thấy được gia đình Việt Nam nói chung, gia đình thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng có sự ổn định tương đối. Bởi vì dù có sự ảnh hưởng của cách suy nghĩ và lối sống nước ngoài vào Việt Nam. Nhưng người Việt Nam vẫn giữ những truyền thống tốt đẹp của mình. Việc kết hôn của đôi nam nữ vẫn được coi trọng, với sự công nhận về pháp lý của Nhà nước, sự chấp nhận của cha mẹ họ hàng với các nghi lễ mang tính dân tộc và màu sắc tôn giáo. Điều đó nói lên sự hòa giải, nhu nhượng nhau giữa thế hệ già và trẻ, giữa phong tục truyền thống và nếp sống hiện đại. Tình trạng các đôi nam nữ chung sống tự do, không kết hôn còn ít xảy ra và chưa được dư luận xã hội ủng hộ, Trong một số trường hợp, việc không kết hôn chính thức là do hoàn cảnh bó buộc mà thường không phải là phương thức lựa chọn của họ như ở phương Tây.
Ở đây tôi xin nêu một số tài liệu mới nhất của cục thống kê thành phố về ình trạng hôn nhân của nhân dân thành phố để ta thấy rõ thêm vấn đề.
+ Số người kết hôn năm 1998.
Ghi chú:
+ Tình trạng ly hôn năm 1998 :
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ
3.1 Những yếu tố cần thiết tạo nên độ bền vững của gia đình
Mức độ bền vững của gia đình được đo bằng tỉ lệ ly hôn thấp hay cao, nhưng không có nghĩa là ít vụ ly hôn là có nghĩa là nhiều gia đình hạnh phúc và ngược lại. Muốn đưa ra những giải pháp và những kiến nghị để tăng cường độ bền vững của gia đình, là cần tìm hiểu những yếu tố nào tạo nên độ bền vững của gia đình.
Trước hết, theo tôi đó là hôn nhân cần dựa trên cơ sở tình yêu. Trải qua một Ihời gian yêu nhau, họ có điều kiện tiếp xúc, trao đổi để càng hiểu nhau hơn(cả những tính tốt lẫn xấu, cả những sở thích phù hợp hay không phù hợp). Và khi đã quyết định đi đến hôn nhân thì họ phải chấp nhận những cái hòa hợp lẫn không hòa hợp. Đã gọi là sở thích, cá tính, quan niệm sống của cá nhân thì cần phải được tôn trọng. Và ta phải yêu cả những sở thích khác nhau đó hoặc xây dựng sao cho người vợ(hoặc chồng) từ bỏ những thói hư tật xấu để “Đôi ta tuy hai mà một”. Diều đó quả thật, phải nhờ cứu cánh của tình yêu, họ mới đủ dũng khí để vượt qua. Tình yêu thương nhau cũng giúp họ thức tỉnh khi có cơ hội “phản bội” mà giữ lòng chung thủy với nhau đến “đầu bạc răng long”. Một điều thiết nhgĩ cũng cần phải nói đến là sự hòa hợp về tình dục. Đây là mội vấn đề gây ra cho không ít cặp vợ chồng. Trong gia đình truyền thống có nhiều người phải chịu đau khổ cả đời vì sự không hòa hợp này, Theo thống kê của PTS. Nguyễn Minh Hòa có 78% giáo viên và 84,78% công nhân cho rằng quan hệ tình dục chỉ có ý nghĩa khi có tình yêu. Như vậy, rõ ràng tình yêu là một yếu tố hàng đầu trong việc bảo đảm hạnh phúc gia đình.
Những đứa con là lần lượt ra đời. Đó chính là kết qủa của tình yêu của đôi vợ chồng. Nhưng vấn đề giáo dục chúng ta không đơn giản. Một gia đình hạnh phúc là một gia đình nuôi dạy con cái ngoan ngoãn, thành đạt trong cuộc sống, trở thành những người hữu ích cho xã hội. Một gia đình có những đứa con hư hỏng không thể có hạnh phúc được. Sự thống nhất quan niệm nuôi dạy con cái trở thành những “con ngoan, trò giỏi” cũng là một yếu tố tạo nên độ bền vững của gia đình.
Muốn nuôi dạy con cái tốt không chỉ đòi hỏi cha mẹ có trình độ, sự thống nhất trong cách giáo dục mà còn phải có một điều kiện kinh tế tương đối đầy đủ . khó có được một hạnh phúc trọn vẹn nếu các thành viên trong gia đình cứ phải “đầu tắt mặt tối” không dám chơi ngày nào mà vẫn nghèo đói. Có những đôi bạn trẻ khi yêu nhau thì lí tưởng hóa cuộc sống mà không nghĩ đến yếu tố kinh tế khi xây dựng hôn nhân. Họ quyết định lấy nhau khi còn quá trẻ hoặc công ăn việc làm chưa ổn định. Họ không lường hết những yêu cầu cần thiết tối thiểu cho một cuộc sống gia đình. Và giấc mộng về “một mái nhà tranh hai quả tim vàng” nhanh chóng tan thành mây khói. Thế nhưng, có những đôi bạn trẻ hoặc bố mẹ họ lại xem kinh tế là “thủ tục đầu tiên” trong hôn nhân, bất kể cả yếu tố tình yêu. Điều đó cũng dẫn đến không biết bao nhiêu thảm cảnh đau lòng. Vì thực tế nhiều gia đình rất giàu có nhưng chưa chắc hạnh phúc và nuôi dạy con cái tốt. Trẻ em ngày nay hư hỏng lại rơi nhiều vào những gia đình ấy.
Vấn đề này lại tùy thuộc vào phong cách sống, hoàn cảnh sống, trình độ văn hóa, quan niệm về hạnh phúc của đôi vợ chồng. Ngày nay, có nhiều người có cách sống vội,
sống gấp. Khi vừa có điều kiện kinh tế một chút là họ đã vội lo hưởng thụ, không lo trao dồi kiến thức, sống bê bối cẩu thả cho qua ngày đoạn tháng.tất cả những điều đó đều ảnh hưỏng đối với con cái - về phong cách sống phải tổ chức thật khoa học, đảm bảo được nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, mà vai trò quan trọng nhất là người phụ nữ. Họ phải có trình độ nhất định mới chăm lo cho gia đình về mọi mặt. Về quan niệm sống vợ chồng cần phải bàn bạc để đi đến thống nhất, tránh đề cao cá nhân và bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng.
Cả hai phải quan tàm chăm sóc tôn trọng lẫn nhau để làm gương cho con cái.
Nhất là những người con trưởng thành, để họ chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân sau này.
3.2 Những kiến nghị và giải pháp
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội, từ thực trạng gia đình thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới luận văn đề ra một số kiến nghị và giải pháp để tăng cường độ bền vững của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
3.2.1 Những kiến nghị
Gia đình có vai trò rất lớn trong sự tồn tại và phát triển của xã hội nhưng ngược lại gia đình muốn bền vững cũng phải nhờ sự hỗ trợ của xã hội. Do đó, trước hết nhà nước cần quan tâm nhiều hơn nữa trong sự phát triển của gia đình bằng những biện pháp thiết thực , cụ thể.
Bất kỳ một chính sách của Đảng và nhà nước đề ra đều tác động trực tiếp đến từng gia đình mà các thành viện trong đó là người sẽ thực hiện. Nếu các chủ trương chính sách không phù hợp với tân tư, tình cảm của nhân dân, không khả thi thì nhân dân khó thông suốt và thực hiện tốt được. Do đó, khi đề ra một chính sách về kinh tế - văn hóa - xã hội, nhà nước cần quan tâm đến lợi ích của toàn dân. Nhất là kinh tế. Vì Ihành phố Hồ Chí Minh là một thành phố phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để giúp đỡ khó khăn về kinh tế về sức lao động thông qua các tổ chức, chính quyền địa phương. Đồng thời thấy được những biến động trong gia đình để có sự điều chỉnh ứng phó kịp thời.
* Thứ hai là phải đổi mới phương pháp giáo dục. Sao cho kết hợp được hai yếu tố truyền thống và hiện đại.
Bất kì một dân tộc nào, một nền giáo dục nào cũng có truyền thống, có quá khứ. Biến đổi là quy luật của đời sống. Nhưng biến đổi không phải bao giờ cũng đồng nhất với tiến độ, cũng không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn quá khứ. Thực ra truyền thống luôn luôn tồn tại ở hiện tại. Đó là tính liên tục của đời sống xã hội. Nếu không giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện tại sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng trong những mối quan hệ gia đình và xã hội, của con người và tự nhiên làm mai một đi bản sắc dân tộc, hủy hoại môi trường xã hội và môi trường sinh thái.
Có một số người cho rằng cách giáo dục truyền thống quá khuôn mẫu, cứng nhắc một chiều, hạn chế việc phát huy tính năng động sáng tạo của trẻ em. Do đó, họ cắt đứt hẳn với truyền thống. Trong xã hội hiện đại, quyền tự do dân chủ của thế hệ trẻ được đề cao. Cha mẹ, thầy cô không còn là người áp đặt những công thức cho con cái thực hiện mà chỉ như là “cố vấn” hướng dẫn cho con trẻ từng bước đi vào đời. Vậy thì phương pháp giáo dục nào đúng đắn hơn? Theo tôi cách giáo dục nào cũng có ưu va khuyết điểm của nó. Chúng ta cần phải biết chọn lọc những cái hay của giáo dục truyền thống và uyển chuyển cho nó phù hợp với hoàn cảnh mới. Không hiểu sao tôi lại thích cách giáo dục nghiêm khắc của gia đình truyền thống hơn. có lẽ xuất phát từ thực tế trong gia đình tôi và ngoài xã hội hiện nay. Chính sự nghiêm khắc của cha tôi mà anh em tôi được nên người. Còn thực tế xã hội thì ngày xưa trẻ em ít hư hỏng hơn ngày nay (tất nhiên ngoài phương pháp giáo dục còn có nhiều nguyên nhân khác nữa). Sự nuông chiều quá mức đến với trẻ em đã mang lại những hậu quả đáng tiếc trong xã hội phương Tây, ví dụ như cha mẹ chỉ cần tác tai người con khi nó có hành vi hỗn láo thì cha mẹ bị bắt ờ tù và nộp tiền phạt Học sinh đến trường không để học mà quậy phá. Thầy cô giáo không kiểm soát được chúng. Rõ ràng sự xa rời truyền thống sẽ dẫn đến sự suy đồi về đạo đức. Ở Việt Nam, tuy trẻ em được đề cao nhưng chưa đến nỗi như thế, con cái vẫn chịu lệ thuộc nhiều vào sự quản lí và giáo dục của gia đình. Đó cũng là cái hay của lối giáo dục kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của dân tộc ta. vấn đề là chúng ta xác định những yếu tố nào của gia đình truyền thống Việt Nam cần được khai thác, bảo vệ, tiếp thu, kế thừa và tăng cường trong xã hội hiện nay. Điều đó chúng ta sẽ bàn trong phần những giải pháp.
* Mặt Khác, hiện nay tình trạng ly hôn ngày càng tăng, trẻ em phạm pháp nhiều, một bộ phập đang suy thoái về đạo đức, một phần cũng do các thành viên trong gia đình chưa nắm rõ luật pháp. Tất cả sự biến đổi đó đều ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội. Do đó việc giáo dục pháp luật cho mọi người là một việc hết sức cần thiết. Một xã hội mà mạnh ai nấy sống, việc ai nấy làm không theo một tôn ti trật tự gì cả thì xã hội tất loạn. Một trong những cứu cánh của chúng ta là pháp luật. Nó có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế những hành vi sai trái, tội lỗi của con người. Con người hiện đại vừa phải biết kế thừa truyền thống vừa phải biết “sống và làm việc theo pháp luật”. Nhất là việc giáo dục hôn nhân và gia đình cho nam nữ thanh niên. Họ cần phải có một kiến thức cơ bản về tình yêu, tình dục, những mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ, anh em, nuôi dạy con cái để chuẩn bị cho cuộc sống chung sau này.
3.2.2 Những giải pháp
Để thực hiện những kiến nghị trên ta cần có những giải pháp sau:
* Trước hết về phương diện gia đình cần khôi phục lại những mối quan hệ truyền thống trong gia đình, họ hàng như quan hệ giữa ông bà và con cháu, cha mẹ và con cái, bà con dòng họ với nhau. Tuy những mối quan hệ này của kiểu gia đình mở rộng có phức tạp hơn kiểu gia đình hạt nhân nhưng mức độ bền vững lại cao hơn. Điều đó cũng cho thấy tỷ lệ ở nông thôn thấp hơn ở thành phố vì kiểu gia đình mở rộng chiếm tỷ cao hơn ở thành phố. Chính nhờ những mối quan hệ đan chéo ấy làm cho các thành viên trong gia đình thấy gần gủi và có trách nhiệm với nhau hơn .Tinh thần trách nhiệm chính là truyền thống qúy báu của dân tộc ta .Trong gia đình là trách
nhiệm làm con cháu, làm cha mẹ, làm vợ chồng, làm chị em, làm ông bà . . . Trách nhiệm đối với người đang sống và người đã chết(tổ tiên). Tinh thần trách nhiệm của các cá nhân trong gia đình chính là một nhân tố góp phần cho sự bền vững của gia đình.
Theo quan niệm truyền thống ông bà, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cháu nên người. Ngược lại con cháu phải có bổn phận lắng nghe những lời dạy bảo cửa ông bà, cha mẹ, tự trao dồi rèn luyện để trở thành “con ngoan trò giỏi”, thành đạt trong xã hội, để cha mẹ nở mày nở mặt. Đừng làm gì xấu hổ, mất danh dự khiến cha mẹ phải đau lòng. Hơn nữa bổn phận làm con phải phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già bóng xế, hầu đền đáp công lao to lớn của cha mẹ:
“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
(Ca dao)
36THiện nay với lối sống thực dụng của xã hội công nghiệp và đô thị, con cháu thường tỏ ra ít quan tâm đến bổn phận làm con cháu đối với ông bà cha mẹ. Họ chỉ biết đón nhận một chiều. Thậm chí, họ còn có hành vi tỏ ra bất hiếu với ông bà, cha mẹ. Do đó, việc giáo dục lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là một vấn đề cấp bách, mội mặt nhằm bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam, mặt khác nhằm ngăn chặn sự sa sút về đạo đức, nhân cách con người.
36THơn nữa, cần tạo mối liên kết giữa gia đình và dòng họ để tranh thủ sự can thiệp của họ khi cần thiết
36T* Thứ hai là đối với xã hội cần có những giải pháp cụ thể để hỗ trợ gia đình trong việc cũng cố sự bền vững của gia đình.
36TTrước hết, Đảng và Nhà nước cần có những điều chỉnh về luật hôn nhân và gia đình sao cho hợp lí hơn nghĩa là không có những khoảng trống để một trong hai lợi dụng thúc ép người kia. Ví dụ như vấn đề chu cấp cho con sau ly hôn. Có nhiều trường hợp sau khi tuyên án xong, người chồng không thi hành nghĩa vụ đối con cái. Mọi gánh nặng đều đổ lên vai người phụ nữ. Pháp luật không có biện pháp gì để buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Hoặc có những tuyên án ghi không rõ ràng khiến người chồng có muốn thực hiện nghĩa vụ của mình cùng rất nhiêu khê. Ví dụ có bản tuyên án như sau: “người cha phải chu cấp tiền nuôi con đến khi đứa bé có công ăn việc làm ổn định”. Đến khi nào đứa bé mới có cồng ăn việc làm ổn định? Ngộ nhỡ đến năm ba
Tất cả những việc làm đó đều xuất phát từ tình cảm chân thành chứ không gượng ép vì trách nhiệm, anh em trong gia đình cần phải yêu thương, nhường nhịn đùm bọc nhau khi “Tối lửa tắt đèn” để “Hai thân vui vầy”.
36TMột vấn đề nữa là trong nhân dân vẫn còn nhiều người chưa hiểu dược giá trị của giấy chứng nhận kết hôn về mặt pháp lí. Họ nghĩ rằng chỉ có sự đồng ý của cha mẹ đôi bên, có tổ chức đám cưới rình rang trước sự chứng kiến của bà con làng xóm là cuộc hôn nhân đó có giá trị. Điều đó cũng gây ra nhiều điều phiền toái khó giải quyết. Trong cuộc thi tìm hiểu về “luật hôn nhân gia đình” do báo pháp luật tổ chức. vấn đề này vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau. Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thủy thẩm phán tòa án nhân dân tỉnh Long An thì cần có biện pháp chế tài trong vấn đề này. Theo tôi hiểu là những đôi vợ chồng nào chung sống mà không đăng kí kết hôn thì Nhà nước phải có biện pháp xử phạt hành chính.
36TVậy Đảng và Nhà nước ta cần tổ chức những cuộc vận động tuyên truyền sâu rộng để toàn dân thấy rõ ý nghĩa pháp lí của giấy chứng nhận kết hôn. Chính quyền nơi cấp giấy kết hôn cần có một thời gian và cách thức trao giấy kết hỗn mang ý nghĩa. Cưng như mỏ những lớp về luật hôn nhân và gia đình để bạn trẻ chuẩn bị tinh thần tốt khi bước vào cuộc sống chung. Kết hợp với việc khám sức khỏe trước khi kết hôn.
36TMặt khác, cần nâng cao hoạt động của các cộng đồng tổ chức công đoàn, phụ nữ, tổ hòa giải, tôn giáo để làm cố vấn cho những gia đình có nguy cơ tan rã.
36TCần quan tâm nhiều đến chị em phụ nữ. vì phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Gia đình có yên ấm hòa thuận phần lớn là do người phụ nữ. Đảng và Nhà nước cần có những chính sách nâng cao, phát huy vai trò vị trí của nngười phụ nữ. Cụ thể là thông qua những buổi tập huấn, tọa đàm, hội nghị . . . nâng cao kiến thức của người phụ nữ về cuộc sống, hôn nhân, nuôi dạy con cái, kế hoạch hóa gia đình, quản lí kinh doanh . . . đảm bảo vị trí lãnh đạo của người phụ nữ và những chính sách xã hội nhằm giảm gánh nặng cho người phụ nữ.
36THơn nữa, gia đình là một đơn vị kinh tế của xã hội. Muốn kinh tế đất nước phát triển trước hết phải phát triển kinh tế gia đình. Muốn thế Nhà nước cần có các chính sách tương trợ vốn cho các gia đình có nhu cầu sản xuất với lãi xuất ưu đãi,tạo điều kiện cho các gia đình tổ chức thành những nhóm sản xuất tránh tình trạng hộ gia đình chạy theo kinh doanh nhất thời dẫn đến tình trạng kinh tế hộ thất bại. Việc nhập máy móc công nghiệp cũng cần thận trọng. Vì có những máy móc làm bóp chết sản xuất gia đình, đẩy họ vào cảnh khốn đốn. Nhà nước cũng cần quan tâm đến những hộ này, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, chú ý đến việc đào tạo nghề cho dân cư vùng công nghiệp hóa đô thị hóa nhất là tầng lớp thanh niên.
36TBên cạnh đó, nhà nước cũng cần có những xử lý nnghiêm khắc đối với một số gia đình làm giàu bất hợp pháp: buôn bán lừa lọc, sống sa hoa đàng điếm bằng của cải vơ vét bất chính, để tránh gây tâm lý bất mãn trong các gia đình làm ăn lương thiện mà vẫn nghèo.
36TKinh tế gia đình có phát triển thì họ mới giải quyết một nhu cầu bức thiết hiện nay là nhà ở. Ở thành phố Hồ Chí Minh do sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, khiến
mươi tuổi nó cũng chỉ lo ăn chơi không thì sao. Hoặc có bản tuyên án buộc người cha chu cấp tiền ăn học, thuốc men, mua sắm đồ tết, đi chơi . . . nhưng mức chu cấp là bao nhiêu thì không ghi rổ ràng. Thật khó mà thực hiện được.
36T* Như trên đã kiến nghị cần phải đổi mới phương pháp giáo dục sao cho có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Muốn thực hiện được điều này, gia đình, nhà trường và xã hội cần hợp tác với nhau trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
36TMối quan hệ này đã được đặt ra và thực hiện ở nước ta từ lâu tuy nhiên hiệu qủa phối hợp chưa tốt nên đã ảnh hưởng đến chất lượng hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ gia đình và nhà trường là hai thiết chế cùng thực hiện chức năng xã hội hóa cá nhân nhưng đặc trưng của từng thiết chế có phần khác nhau lại cần được bổ sung cho nhau.Gia đình giữ vai trò quan trọng trong chức năng xã hội hóa, hình thành nhân cách con người. Nhưng gia đình thực hiện không phải chỉ bằng sức mạnh riêng của mình mà là sức mạnh của xã hội. Nếu xã hội không chăm lo giáo dục con người thì gia đình không có nền tảng để thực hiện chức năng xã hội hóa. Xã hội có dạy lễ nghĩa, kĩ cương, phép tắc thì gia đình mới có cơ sở để dạy con.
36TTuy nhiên, các bậc phụ huynh không nên quá ỉ lại vào nhà trường mà cần phải quan tâm nhiều hơn đến con cái nhất là việc học tập. Nhà trường có thể dạy kiến thức, dạy luân thường đạo lí nhưng giáo viên không thể thay thế cha mẹ trong việc nuôi dạy chăm sóc những đứa trẻ dược. Hiện nay nhiều trẻ em được đến trường nhưng tình trạng bỏ học cũng tăng cao. Thông qua các họat động trong gia đình và các họat động vui chơi giải trí, cha mẹ kết hợp giáo dục đạo đức cho con cái theo quan niệm truyền thống “Tiên học lễ hậu học văn”, “kính trên nhường dưới”, “lá lành đùm lá rách”. Nhất là kiểm soát những sinh hoạt học tập, vui chơi giải trí cũng như quan hệ bạn bè của con cái. Đối với những người con trưởng thành cha mẹ cần chú ý trong việc giáo dục đạo đức hôn nhân theo quan niệm truyền thống “Thủy chung, hòa thuận yêu thương nhau”, kết hợp với quan niệm hiện đại “bình đẳng, tôn trọng tự do cá nhân” cũng như những kiến thức tối thiểu về tình yêu hôn nhân và gia đình mà cơ sở vững chắc nhất của hôn nhân là phải trên cơ sở tự nguyện và tình yêu chân chính. Người xưa thường nói “con hư lại mẹ, cháu hư lại bà”, theo tôi điều đó cùng có phần đúng vì người phụ nữ thường gần gủi với con cháu hơn. Đối với con gái, người mẹ phải chú ý đến giáo dục tứ đức theo quan niệm truyền thống là “công dung ngôn hạnh” đối với con trai phải “nhân lễ nghĩa trí tín”. Cho nên, ông bà, cha mẹ là tấm gương tốt cho con cái. Nhất là lối sống phải có trật tự kĩ cương trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
36TĐối với nhà trường phải đổi mới nội dung giáo dục sao cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội hiện đại. Nghĩa là phải đào tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, có kỹ năng lập thán, lập nghiệp, biết làm giàu cho bản thân, cho xã hội. Vì giáo dục truyền thông xem vấn đề giáo dục một con người chấp hành hơn việc giáo dục con người có sáng kiến riêng. Ngoài việc giáo dục văn hóa nhà trường cần chú ý đến việc giáo dục
giá cái nhà đất tăng cao, có một số người giàu lên nhanh chóng vì nắm bắt được điều này. Nhưng đa số khác lại lâm vào cảnh khốn đốn do không có nhà ở hoặc phải sống trong những căn hộ chật chội tối tăm, thiếu vệ sinh. Có gia đình cả ba thế hệ phải sinh hoạt cùng không gian. Họ không có những phòng riêng cho nhu cầu cá nhân. Từ đó thường nảy sinh những mâu thuẫn đến mức chỉ còn có ly hôn(dù nó không phải là biện pháp tối ưu). Vì vậy, làm thế nào để họ có được những gia đình rộng rải, thoáng mát để nó trở thành tổ ấm là một vấn đề không chỉ của gia đình mà là mối quan tâm của toàn xã hội.
36TTóm lại, gia đình và nhà trường phải thống nhất về mục đích giáo dục, nội dung hoạt động giáo dục ở nhà và ở trường(vừa dạy kiến thức vừa dạy đạo đức) cũng như phương pháp truyền thụ và lĩnh hội phải thống nhất giữa giáo dục và tự giáo dục. Muốn vậy, gia đình và nhà trường phải có những trao đổi với nhau thông qua hội phụ huynh, sổ liên lạc.
36TNgoài ra các đoàn thể tổ chức cũng cần phải có những đóng góp để củng cố sự bền vững của gia đình. Thời gian gần đây tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hàng năm thường có những cuộc hội n nghị biểu dương cho những “con ngoan trò giỏi”, “gương hiếu thảo”, câu lạc bộ ông bà cháu. Những hoạt động đó góp phần thiết thực vào việc giáo dục đạo đức thế hệ trẻ cần phát huy. Bên cạnh đó cần tổ chức nhiều lớp học về luật pháp, hôn nhân, gia đình, văn hóa ứng xử, tìm hiểu về truyền thống đạo đức của dân tộc . . . Các tổ chức đoàn thể như Đoàn, Đội... các tổ chức xã hội như: Hội phụ nữ, Hội từ thiện, các câu lạc bộ .. . cũng phải có những hoạt động thích hợp hỗ trợ cho việc giáo dục trẻ em để tránh cho chúng sử dụng thời gian rỗi vào những hoạt động vô bổ, phải biết kết hợp hài hòa giữa học tập và vui chơi, giải trí. Có thể nói việc giải trí là một phần hoạt động sống cần thiết cho những đứa trẻ bình thường.
36TTóm lại, giáo dục con người không phải là công việc riêng của từng gia đình hay của xã hội mà kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội. Tuy nhiên xây dựng môi trường gia đình thành một môi trường giáo dục qủa là không đơn giản, nó đòi hỏi sự nhận thức đúng đắn của người làm cha làm mẹ và cũng đòi hỏi không ít điều kiện, thời gian, công sức, vật chất, có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội.
36TNhư chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “vì sự nghiệp trăm năm trồng người”, cố gắng đến mức cao nhất để phát huy thế mạnh của môi trường giáo dục gia đình. Đó là yêu cầu khẩn thiết của mỗi gia đình và của toàn xã hội. Điều này không thể tách rời sự hợp tác giữa gia đình và các thiết chế xã hội khác. Đồng thời đòi hỏi từ phía nhà nước cần có sự hỗ trợ thích đáng, thông qua hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn.
36TNhững kiến nghị và giải pháp được đề xuất trong luận văn một mặt nhằm ngăn chặn, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường, những mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tác động đến sự biến đổi tiêu cực của gia đình. Mặt khác, nhằm tăng cường củng cố độ bền vững ổn định của gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
cho học sinh, thông qua các môn học và những hoạt động ngoại khóa như giáo dục lòng hiếu thảo, tình nhân ái, lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm. Nhà trường cần đưa nội dung giáo dục về gia đình vào chương trình học tập của học sinh, sinh viên các trường đại học. Mặt khác, nhà trường cần giảm bớt sự đóng góp của gia đình về vật chất, kết hợp với nhà trường các cấp chính quyền, nâng cao đời sống giáo viên để họ có thể an tâm giảng dạy tốt, tránh tình trạng để cho giáo viên phải “chân ngoài dài hơn chân trong”.
36TTrên thế giới có những lúc người ta nói đến sự suy thoái của gia đình, chỉ còn cá nhân và xã hội – nhưng ở Việt Nam qua sự nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ta đều thấy rằng gia đình đang giữ một vị trí rất quan trọng, là cầu nối, là khâu trung gian tích cực giữa cá nhân và xã hội. Nó đang chứa đựng một tiềm lực phát triển mạnh mẽ. Thông qua các chức năng của nó, gia đình là yếu tố bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nhân loại, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
36TDưới tác động của quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa gia đình Việt
36TNam nói chung, gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang có sự thay đổi lớn. Bên cạnh những mặt tích cực của nó nãy sinh nhiều mặt tiêu cực, làm đảo lộn nhiều giá trị chuẩn mực đạo đức sinh ra nhiều tệ nạn đáng tiếc. Đặc biệt là hiện tượng ly hôn và con cái hư hỏng.
36TDù có những cái tốt lẫn mặt xấu như vậy ta vẫn tin tưởng vào độ bền vững của gia đình Việt Nam. Bởi lẽ dân tộc ta vốn truyền thống văn hóa, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước ta chắc chắn chúng ta sẽ tìm ra được những giải pháp hợp lý để bảo vệ sự bền vững của gia đình . Dù có những hỗ trợ của xã hội nhưng vai trò quan trọng vẫn phụ thuộc vào từng gia đình . Do đó phải có những kiến thức cơ bản nhằm bảo vệ , ngăn chặn những mầm móng tiêu cực để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Từ đó mới tạo nên hạnh phúc cho xã hội, sự phồn vinh của đất nước.
36TTrong khi đề ra mục tiêu nhiệm vụ của năm 2000 Đảng cộng sản Việt Nam đã đặt gia đình vào một tiêu điểm quan trọng phấn đấu sao cho “xây dựng gia đình no ấm , bình đắng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người”.
KẾT LUẬN
36T[1]. F. Ăngnghen, nguồn góc của gia đình , của sở hữu tư nhân và của nhà nước. Ăngghen tuyển tập, tập IV, Nxb sự thật, Hà Nội 1984.
36T[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần 7, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991
36T[3]. Trần Bạch Đằng, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1987
36T[4]. Đỗ Thái Đồng, Tạp chí xã hội học, số 9, 1990
36T[5]. Phạm Minh Hạc, Tiếp cận giá trị trong việc nghiên cứu gia đình và phụ nữ, Tạp chí khoa học phụ nữ, số4/1995
36T[6]. Nguyễn Minh Hòa, hôn nhân và gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
36T[7]. Trần Đình Hựu, gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng nho giáo.
36T[8]. Nguyễn Khánh, vấn đề gia đình hiện nay, tạp chí cộng sản, 5/1995.
36T[9]. Vũ Ngọc Khánh, Văn hóa gia đìng Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc 1998
36T[10]. C. Mác và F.Ăgghen, Gia đình thần thánh, tập 1, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1980.
36T[11]. C. Mác và Ăngghen, hệ tư tưởng Đức, tuyển tập, tập I, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1980.
36T[12]. Đặng Kim Nhung, kinh tế thị trường với độ bền vững gia đình ở khu vực đô thị Việt Nam, tạp chí thông tin lý luận,3/1997.
36T[13]. Lê Phương, tình hình ly hôn hiện nay và ý nghĩa của nó, tạp chí xã hội học 2/1986.
36T[14]. Lê Thi(chủ biên ), gia đình Việt Nam ngày nay, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1996
36T[15]. Lê Thi, vai trò gia đìng trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam, nhà xuất bản phụ nữ , Hà Nội, 1996.
36T[16]. Lê Thi, gia đình và vấn đề giáo dục gia đình, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
36T[17]. Trần Bình Trọng, Mai Ngọc Cường, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, tạp chí cộng sản 4/1992
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
36T[18]. Nguyễn Đình Xuân, Giáo dục đời sống gia đình, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội 1997
36T[19]. Lê Ngọc Văn, Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, Nxb Giáo dục, 1996
36T[20]. Lê Ngọc Văn. Những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam, tạp chí khoa học và phụ nữ, số 1 (31)/1998.

