
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA TCKT – TRƯỜNG ĐH QLKD
HN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH LỚP 7A-01
PHẦN I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
I. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM
1. Đặc điểm hoạt động XDCB và sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
XDCB là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm
tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. XDCB là một quá trình xây dựng
mới, xây dựng lại, cải tạo hiện đại hoá, khôi phục công trình,nhà máy xí nghiệp,
đường xá, nhà cửa, nhằm khôi phục cho đời sống, sản xuất xã hội. Chi phí đầu tư
cho XDCB chiếm tỉ trọng lớn trong tổng ngân sách của nhà nước cũng như của
doanh nghiệp. Thông thường, công tác XDCB do các đơn vị xây lắp nhận thầu tiến
hành. Ngành sản xuất này có các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc… có quy mô lớn, kết cấu phức
tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài…Do vậy, việc tổ chức quản lý và
hạch toán nhất thiết phải có dự toán thiết kế thi công.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá thoả thuận với
chủ đầu tư từ trước, do đó, tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất phải di
chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm.
- Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến
theo phương thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng
hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp..). Trong
giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công
cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
- Sản xuất XDCB thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện
môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào
đó mang tính chất thời vụ.
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản
xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán trong các doanh
nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Tuy nhiên, công tác kế toán bắt
buộc vẫn phải đảm bảo yêu cầu là ghi chép, tính toán đầy đủ các chi phí giá thành

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA TCKT – TRƯỜNG ĐH QLKD
HN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH LỚP 7A-01
sản phẩm, thực hiện phù hợp với ngành nghề, đúng chức năng, cung cấp thông tin
và các số liệu chính xác và đáng tin cậy.
2. Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Việc phân tích đúng đắn các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thể dựa
trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phần mình, giá thành lại chịu ảnh hưởng của
kết quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp. Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp để xác định nội dung, phạm vi chi
phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch
chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu cấp bách trong nền kinh tế thị trường.
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả lỗ thật như một số năm trước
đây. Khi nền kinh tế đang trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp
hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá
thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác tập hợp CP và tính giá thành chỉ mang
tính hình thức.
Chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được chủ động hành động theo
phương hướng riêng và tự phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công tác hạch toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm còn phải thực hiện đúng theo quy luật khách quan. Như vậy, kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần không thể thiếu được khi
thực hiện chế độ hạch toán kế toán, hơn nữa nó có ý nghĩa to lớn và chi phối chất
lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp.
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
XÂY LẮP
1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp:
1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ ngành nghề nào đều cần phải có 3
yếu tố cơ bản trong sản xuất đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao
động. Hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp cũng dựa trên sự kết hợp của
3 yếu tố cơ bản đó. Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất tạo nên
các chi phí tương ứng và các chi phí cụ thể trong doanh nghiệp xây lắp là chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí về nhân công,
chi phí về máy móc.

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA TCKT – TRƯỜNG ĐH QLKD
HN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH LỚP 7A-01
Các khoản chi phí sản xuất xây lắp này chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình sản xuất mà
doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc xây lắp trong một kỳ nhất định.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất kinh doanh có nhiều loại, nhiều khoản khác nhau về nội dung,
tính chất, công dụng, vai trò, vị trí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Người ta có
thể đứng trên các góc độ quản lý khác nhau như góc độ chi phí tài chính, góc độ kế
toán, góc độ chủ đầu tư, phân tích để phân loại chi phí.
Để quản lý chi phí phục vụ cho việc chỉ đạo kinh doanh hàng ngày và hoạch định
các chính sách đầu tư cho tương lai thì chi phí sản xuất thường được phân loại theo
tiêu thức sau:
1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí:
Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí chúng ta giữ được tính nguyên vẹn của từng
yếu tố cũng như từng khoản mục chi phí theo mỗi yếu tố, không kể nó được phát
sinh từ đâu, có quan hệ như thế nào đến quá trình sản xuất.
Đối với doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ đều được chia
thành các yếu tố:
- Chi phí NVL: Xi măng, gạch, sắt, thép… và các vật liệu phụ khác.
- Chi phí CCDC sản xuất: Quần áo bảo hộ, mặt nạ…
- Chi phí nhiên liệu: Xăng, dầu, mỡ…
- Chi phí nhân công: là tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân
viên trực tiếp, gián tiếp thi công và quản lý.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh: nhà làm việc, máy thi công và tài sản vô hình
khác…
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh: điện thoại, điện, nước,…
- Chi phí bằng tiền khác: bao gồm các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất
ngoài các yếu tố chi phí sản xuất đã nêu trên.
1.2.2. Phân loại CPSX theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm xây lắp
Cách phân loại này dựa trên ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm, đồng
thời giúp cho người làm kế toán dễ dàng hạch toán chi phí và tính giá thành. Theo

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA TCKT – TRƯỜNG ĐH QLKD
HN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH LỚP 7A-01
cách này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 3 khoản mục chính: Chi phí
NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Nhưng do đặc
thù của sản xuất xây lắp có chi phí máy thi công lớn, phức tạp nên chi phí sản xuất
sản phẩm xây lắp được chia thành 4 khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
* Ngoài ra còn có các cách phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức:
- Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các
đối tượng chịu chi phí được chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng
công việc hoàn thành bao gồm: chi phí sản xuất cố định và chi phí biến đổi
2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
2.1. Khái niệm về giá thành sản phẩm xây lắp:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động
vật hoá và các chi phí bằng tiền khác mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn
thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình theo quy định.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động tiền vốn
trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành.
2.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
*Theo thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành, chỉ tiêu giá thành trong xây lắp
bao gồm: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
- Giá thành dự toán: là toàn bộ các chi phí để hoàn thành khối lượng công tác
xây lắp theo dự toán. Như vậy, giá thành dự toán là một bộ phận của giá trị dự toán
của từng công trình xây lắp riêng biệt và được xác định từ giá trị dự toán không có
phần lợi nhuận định mức
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - lợi nhuận định mức
Giá thành dự toán được xây dựng và tồn tại trong một thời gian nhất định, nó
được xác định trong những điều kiện trung bình về sản xuất thi công, về tổ chức

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA TCKT – TRƯỜNG ĐH QLKD
HN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH LỚP 7A-01
quản lý, về hao phí lao động vật tư… cho từng loại công trình hoặc công việc nhất
định. Giá thành dự toán có tính cố định tương đối và mang tính chất xã hội.
- Giá thành kế hoạch: là giá thành được xác định từ những điều kiện và đặc
điểm cụ thể của một doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ kế hoạch nhất định
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành
Giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu để doanh nghiệp xây lắp tự phấn đấu để thực
hiện mức lợi nhuận do hạ giá thành trong kỳ kế hoạch.
- Giá thành thực tế: là toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh để thực hiện
hoàn thành quá trình thi công do kế toán tập hợp được. Giá thành thực tế biểu hiện
chất lượng, hiệu quả về kết quả hoạt động của doanh nghiệp xây lắp.
So sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch cho thấy mức độ hạ giá thành kế
hoạch của doanh nghiệp
So sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán, phản ánh chỉ tiêu tích luỹ của
doanh nghiệp, từ đó có thể dự định khả năng của doanh nghiệp trong năm tới.
* Bên cạnh đó, theo phạm vi của chỉ tiêu giá thành, giá thành sản phẩm xây lắp
bao gồm: giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong DN xây lắp:
1.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất: là phạm vi giới hạn mà các chi phí
sản xuất cần được tổ chức tập hợp theo đó. Trong sản xuất xây lắp, do đặc điểm
sản phẩm có tính đơn chiếc nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thường là
theo từng đơn đặt hàng hoặc cũng có thể đó là một công trình, hạng mục công
trình, một bộ phận của một hạng mục công trình,nhóm hạng mục công trình.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng có tác dụng phục vụ tốt cho việc
tăng cường quản lý sản xuất và chi phí sản xuất, cho công tác hạch toán kinh tế nội
bộ và hạch toán kinh tế toàn doanh nghiệp, phục vụ cho công tác tính giá thành sản
phẩm được kịp thời, chính xác.
1.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Có thể khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước:
- Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng CT, HMCT

