intTypePromotion=3

LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Chia sẻ: Ly Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:63

0
139
lượt xem
75
download

LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống các nguồn lực trong đó vốn là nguồn lực không thể thay thế. Vốn ở đây bao gồm tiền tệ, vật tư, kỹ thuật, tri thức, khoa học.. Trong cơ chế thị trường với các quan hệ kinh tế được tiền tệ hoá thì tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất. Vì vậy việc tìm kiếm những giải pháp huy động vốn cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng. Một...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
  2. Lời Mở đầu Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống các nguồn lực trong đó vốn là nguồn lực không thể thay thế. Vốn ở đây bao gồm tiền tệ, vật tư, kỹ thuật, tri thức, khoa học.. Trong cơ chế thị trường với các quan hệ kinh tế được tiền tệ hoá thì tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất. Vì vậy việc tìm kiếm những giải pháp huy động vốn cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng. Một trong các nguồn huy động vốn cơ bản là từ dân cư được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại. Là một Ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam, vấn đề Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hết sức quan tâm là làm thế nào để huy động tối đa nguồn vốn trong dân nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất nước. Vì vậy sau một số năm công tác tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và được bổ sung thêm kiến thức sau khóa học chuyển đổi tại Học viện Ngân hàng, bản thân thấy sáng tỏ thêm nhiều vấn đề, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”. Kết quả của nghiên cứu này còn nhiều hạn chế do thời gian và kiến thức của tôI còn có hạn. Song với ý thức cầu tiến, ham học hỏi, tôi vẫn mạnh dạn trình bày những suy nghĩ của mình trong chuyên đề này. Rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để có được nhận thức toàn diện hơn về vấn đề này. Chuyên đề này được kết cấu theo các nội dung sau: Phần I: Ngân hàng thương mại với vấn đề huy động vốn trong dân cư phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Phần II: Thực trạng công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
  3. Phần III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
  4. Chương I Ngân hàng thương mại với vấn đề huy động vốn trong dân cư phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá - hiện đạI hóa đất nước Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là bước đi tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới. Đó chính là quá trình dịch chuyển căn bản, toàn diện của hoạt động kinh tế-xã hội, đòi hỏi phải tập trung cao độ sức người, sức của của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu này, điều tiên quyết là phải tạo vốn cho nền kinh tế và nguồn vốn đó phải được sử dụng một cách có hiệu quả. 1. Vai trò của vốn đầu tư trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Chúng ta đã biết vốn là giá trị của các tài sản xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. Chính vì vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất và tiến bộ xã hội nên vốn là yếu tố không thể thiếu được để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp CNH - HĐH. 1.1. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành kinh tế nói riêng có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp với tỷ trọng ngành Nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng ngành Công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Muốn đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu đó, yêu cầu chúng ta phải xác định rõ cơ cấu vốn đầu tư một cách hợp lý cho từng nghành kinh tế, từng vùng, từng khu vực kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế này không phải một sớm môt chiều là thực hiện ngay được
  5. mà cần phải có một thời gian đủ lớn với số lượng vốn đầu tư không nhỏ. Thông qua việc xác định cơ cấu vốn đầu tư cho từng Ngành, từng vùng kinh tế, Ngân hàng chủ động cung cấp các khoản tín dụng trung, dài hạn theo các dự án, các chương trình phát triển, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hợp lý và từ đó khai thác triệt để mọi thế mạnh của từng ngành, thúc đẩy tốc độ CNH-HĐH đất nước. 1.2. Góp phần xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng: Hiện nay, Việt nam bị đánh giá là nước có cơ sở hạ tầng tương đối yếu kém. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là sự thiếu hụt trầm trọng vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Mặc dù hàng năm, Chính phủ đã trích một phần lớn ngân sách quốc gia để xây dựng và phát triển các công trình trọng yếu như hệ thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc... Chính vì vậy, công tác huy động vốn đầu tư từ tất các nguồn là giải pháp tốt để nhanh chóng xây dựng một cơ sở hạ tầng vững chắc, hợp lý, tạo điều kiện cho kiến trúc thượng tầng phát triển. 1.3. Góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nguồn vốn đầu tư có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển năng lực công nghệ của quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, những nước có trình độ phát triển công nghệ thấp kém như nước ta. Nguồn vốn đầu tư một mặt tạo điều kiện cho nước ta tiến nhanh, tiến kịp trình độ của các nước phát triển trên thế giới bằng cách đi tắt, đón đầu, tạo ra bước nhảy vọt thông qua con đường chuyển giao công nghệ, hiện đại hoá trang thiết bị, áp dụng phương pháp quản lý tiên tiến... nhằm giải phóng sức lao động, giải phóng năng lực sản xuất, mặt khác góp phần củng cố và phát triển năng lực công nghệ nội sinh. 1.4. Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Cùng với việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nguồn vốn đầu tư còn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế. Thực tế cho thấy, đối với các thành phần kinh tế, việc cung cấp các nguồn vốn này chính là sự đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp mua sắm thêm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, cải tiến và nâng cao năng lực quản lý. Nhờ đó các doanh nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả quản lý sản
  6. xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế... 1.5. Góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nguồn vốn đầu tư còn được sử dụng vào việc phát triển giáo dục, y tế, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường ... đảm bảo mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy vốn đầu tư có vai trò quyết định đối với toàn bộ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, tạo ra mối quan hệ tương quan, ràng buộc, phụ thuộc giữa tốc độ tăng trưởng - phát triển của nền kinh tế với khả năng huy động - sử dụng vốn đầu tư. Vì thế các Ngân hàng thương mại cần nắm bắt ngay nhu cầu cấp thiết này để từ đó có thể điều chỉnh cơ cấu huy động vốn mà trong đó nguồn vốn huy động từ khu vực dân cư chiếm tỷ trọng lớn. 2. Nguồn vốn trong dân cư và ý nghĩa của công tác huy động vốn trong dân cư 2.1. Đánh giá chung về nguồn vốn trong dân cư. 2.1.1. Tiềm năng của nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Theo điều tra và ước tính của bộ Kế hoạch - Đầu tư và Tổng cục thống kê, nguồn vốn trong dân cư hiện nay có khoảng 14 đến 15 tỷ USD, con số này một mặt khẳng định tiềm năng to lớn về nguồn lực vốn có thể huy động trong dân cư, mặt khác lại cho thấy khả năng yếu kém về công tác huy động vốn trong dân cư ở Việt Nam, dẫn tới việc lãng phí một lượng vốn đáng kể để dùng cho đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Muốn xoay chuyển tình thế, khai thác triệt để nguồn lực sẵn có này thì phải tìm tòi, phân tích và đưa ra các biện pháp khuyến khích dân chúng bỏ tiền đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau. 2.1.2 Tính vững chắc và ổn định của nguồn vổn trong dân cư Đây là một ưu điểm vượt trội mà các nguồn vốn khác không thể có được. Nó cho phép huy động vốn một cách liên tục, thường xuyên và lâu dài. Thêm vào đó, nguồn vốn trong dân cư không ngừng tăng lên theo thời gian do nền kinh tế ngày càng
  7. phát triển, thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng lên rõ rệt. Điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về vốn đầu tư của quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. 2. 2. ý nghĩa của việc tăng cường huy động vốn trong dân cư. Trên phương diện lý luận chung, bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển bền vững, độc lập tự chủ thì phải dựa vào sức mình là chính. Muốn vậy phải có những cơ chế, chính sách khuyến khích và huy động tối đa nguồn tiềm năng sẵn có của đất nước cho đầu tư phát triển với phương châm “đầu tư nước ngoài là quan trọng, đầu tư trong nước là quyết định”. Công tác huy động trong nước cho đầu tư phát triển kinh tế có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó việc khơi tăng nguồn vốn từ khu vực dân cư đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa đất nước và cần được nâng lên tầm chiến lược quốc gia vì những lý do chủ yếu sau: Thứ nhất: Việc khai thác vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ tránh được tình trạng lãng phí một nguồn lực được coi là khan hiếm bậc nhất của nền kinh tế. Thứ hai: Đối với người dân, khi nguồn vốn của họ được khơi thông sẽ mang lại cho họ nhiều lợi ích như số vốn gốc được bảo toàn, được hưỏng lãi, được hưởng các dịch vụ của Ngân hàng. Hơn nữa, khi số vốn này được đưa vào đầu tư sẽ tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và mức sống của họ. Thứ ba: Đối với toàn bộ nền kinh tế, việc khơi thông nguồn vốn sẽ giúp cho việc cân đối giữa cung và cầu về vốn, giúp cho cỗ máy kinh tế được bôi trơn, hoạt động một cách nhịp nhàng và có hiệu quả, đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội như đã nêu tại mục 1 chương này. 3. Ngân hàng thương mại với hoạt động huy động vốn trong dân cư 3.1. Vài nét khái quát về Ngân hàng thương mại: Ngân hàng là một lĩnh vực không thể thiếu của mỗi quốc gia, vì sự phát triển của ngành Ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Có thể nói, ngành Ngân hàng ra đời là sự kết tinh của nền sản xuất hàng hoá, chính ngành Ngân hàng lại là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển.
  8. Trong thời kỳ đầu, các ngân hàng xuất hiện và hoạt động một cách độc lập, không chịu sự ràng buộc lẫn nhau với các nghiệp vụ chủ yếu là đổi tiền và giữ hộ tài sản, tiền bạc. Hoạt động này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu phát tiển và giao lưu thương mại. Sản xuất phát triển đã đưa hoạt động thương mại vượt ra ngoài phạm vi mỗi lãnh địa, mỗi vùng, gây ra sự khó khăn cho thương gia do sự lưu hành các loại tiền khác nhau. Vì vậy các tổ chức ngân hàng sơ khai xuất hiện do những thương gia giàu có thành lập để thực hiện chức năng đổi tiền. Lúc này, ngân hàng phải là nơi an toàn để cất giữ các loại tiền, là nơi có khả năng đảm bảo chất lượng các loại tiền được đưa vào lưu thông, vì thế nó nơi được dân chúng tin tưởng gửi tài sản, tiền bạc của mình. Theo đó dịch vụ giữ hộ tài sản, dịch vụ thanh toán hộ dần phát triển. Lúc này các ngân hàng nhận thấy họ không cần nhất thiết phải duy trì 100% số tiền mà khách hàng ký gửi vì luôn tồn tại một số dư tiền tệ nhất định. Đây là cơ sở để ngân hàng mở rộng thêm nghiệp vụ triết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng... Như vậy ngân hàng đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế với tư cách là một trung gian tài chính liên kết giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Ngành Ngân hàng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế và Chính phủ mỗi nước thấy cần phải can thiệp vào ngành Ngân hàng nhằm định hướng vĩ mô cho phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội. Hệ thống ngân hàng ngày nay là hệ thống ngân hàng hai cấp, bao gồm: - Ngân hàng Nhà nước: làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô, thanh tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của toàn bộ ngành, định hướng chiến lược, đưa ra các chính sách tiền tệ, tín dụng và thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền tệ. - Các Ngân hàng thương mại: là các ngân hàng với chức năng chủ yếu là kinh doanh tiền tệ thu lợi nhuận, thực hiện các nghiệp vụ trung gian và chấp hành sự quản lý, điều tiết của Ngân hàng Nhà nước. Nói một cách đầy đủ và chính xác hơn: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện triết khấu và làm phương tiện thanh toán” (Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/5/1990). 3.2. Nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng thương mại
  9. 3.2.1. Vốn tự có 3.2.2.1. Vốn điều lệ Là số vốn lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định (vốn tối thiểu để thành lập một ngân hàng), được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với Ngân hàng Quốc doanh thì nguồn vốn này do Nhà nước cung cấp. Nếu là Ngân hàng cổ phần thì nguồn vốn được hình thành từ sự đóng góp từ các cổ đông. 3.2.1.1 Vốn tích luỹ (quỹ dự trữ) Là số vốn do ngân hàng tạo ra từ kết quả kinh doanh tổng hợp và các hoạt động của ngân hàng. Theo pháp lệnh của Ngân hàng và dự thảo luật Ngân hàng thì mọi Ngân hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam đều phải thành lập quỹ dự trữ sau: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Theo quy định của Nhà nước, hàng năm ngân hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này. Quỹ được lập cho đến khi bằng 50% vốn điều lệ tại thời điểm trích lập quỹ. - Quỹ dự trữ đặc biệt: Là bộ phận quỹ dùng để dự phòng bù đắp cho các rủi ro trong quá trình hoạt động, được trích lập hàng năm bằng 10% lợi nhuận ròng. Quỹ này được trích lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ thực có tại thời điểm trích lập quỹ. Ngoài ra vốn tích luỹ còn bao gồm: lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do đánh giá lại tài sản, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi. 3.2.2. Vốn huy động Vốn huy động là phương tiện tiền tệ do các ngân hàng quản lý và huy động từ chức năng và nghiệp vụ nhận tiền gửi của các đối tượng giao dịch với ngân hàng. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn ngân hàng (khoảng 70-80%). Tuy nhiên các Ngân hàng thương mại không được phép huy động quá 20 lần vốn tự có. Nguồn vốn huy động của một Ngân hàng thương mại được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: qua việc mở tài khoản thanh toán, huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn, huy động thông qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, huy động từ các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư...
  10. 3.2.3. Vốn vay Vốn vay là nguồn vốn được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước thể hiện ở các hình thức sau: - Vay các Ngân hàng hương mại: Đó là khoản vốn vay giữa các Ngân hàng thương mại trên thị trường liên ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng với nhau. - Vay Ngân hàng Nhà nước: Các Ngân hàng thương mại vay vốn của Ngân hàng Nhà nước thông qua các hình thức như: vay bổ sung vốn tín dụng ngắn hạn; thực hiện tái triết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá trị chưa đến hạn thanh toán của Ngân hàng thương mạI, vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng thương mại... 3.2.4. Vốn trong thanh toán Vốn trong thanh toán là vốn do ngân hàng tạo lập được khi thực hiện làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế. Quá trình thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân đã hình thành các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời. 3.2.5. Vốn khác Ngoài những nguồn vốn nêu trên, ngân hàng còn có thể nhận được những nguồn vốn khác như: vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư và các nguồn vốn khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, nhìn một cách tổng quát, ta có thể kết luận rằng nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn huy động trong quá trình tập trung một bộ phận tiền tệ của khu vực dân cư, của các tổ chức kinh tế. Nguồn vốn này là nền tảng cơ bản nhất để ngân hàng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp để huy động được nhiều nhất, đặc biệt từ khu vực dân cư, với chi phí bỏ ra là thấp nhất mà vẫn đem lại hiệu quả cao.
  11. 3.3. Vai trò của ngân hàng trong công tác huy động vốn từ khu vực dân cư: Hiện nay tiền mặt được tích trữ trong dân để phục vụ cho chi tiêu rất lớn. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng. Có những nguyên nhân chính sau: - Hầu hết các khoản chi tiêu hàng ngày đều dùng tiền mặt. - Người ta muốn giữ một lượng tiền mặt để chi tiêu trong các trường hợp đột xuất cần thiết như ốm đau, tai nạn... - Các công cụ thanh toán chuyển khoản chưa được phổ biến rộng rãi và bộc lộ nhiều yếu kém. - Sự hiểu biết và lòng tin của người dân đối với ngân hàng còn hạn chế nên họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng. Để thu hút được lượng tiền mặt nhàn rỗi trong dân cư, ta cần phải tìm cách tác động làm thay đổi quan niệm của người dân đối với việc giữ tiền mặt trong nhà. Trong những nguyên nhân kể trên, quan tâm chủ yếu của của chúng ta là nguyên nhân thứ ba, thứ tư nêu trên. Chúng ta cần phải xây dựng được niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng và làm cho dân chúng hiểu được lợi ích của việc gửi tiền ở ngân hàng và vai trò của ngân hàng trong việc huy động tiền gửi là thoả mãn cao nhất yêu cầu của người dân có tiền và yêu cầu của nền kinh tế. Xét trên phương diện người gửi tiền, ngân hàng phải đảm bảo giữ được những vai trò sau đây khi huy động vốn trung và dài hạn trong dân cư: 3.3.1. Đảm bảo khả năng sinh lời của đồng vốn: Trong kháng chiến, về công tác vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm chúng ta nêu khẩu hiệu “ ích nước, lợi nhà ”, “ Một đồng gửi vào quỹ tiết kiệm là một viên đạn bắn vào quân thù, là một viên gạch xây dựng Chủ nghĩa xã hội”. Lợi ích cá nhân đặt vào hàng thứ yếu. Nay trong nền kinh tế thị trường, người gửi tiền luôn quan tâm đến lãi suất tiền gửi, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất huy động cũng khiến cho họ chuyển sang gửi tiền ở ngân hàng có lãi suất cao hơn. Vì vậy phải đảm bảo cho người gửi tiền một mức
  12. lãi suất hợp lý. Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản tiền gửi bằng tỷ lệ lạm phát cộng với một tỷ lệ lãi suất thực. Do đó, ngoài phần vốn gốc mà người gửi tiền được đảm bảo, họ còn được hưởng một tỷ lệ lãi suất nhất định. Ngoài ra, đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì mức lãi suất càng cao. 3.3.2. Đảm bảo tính thuận tiện cho người gửi tiền. Thuận tiện là một tiêu chí mà nhiều khi người gửi tiền còn quan tâm hơn cả mức lãi suất, vì ai cũng muốn mình được phục vụ nhanh nhất và tiết kiệm thời gian nhất. Tiền gửi của người dân phải được rút ra bất kỳ lúc nào và tại bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng khi họ có nhu cầu. Các ngân hàng thương mại cần phải tổ chức lại hoạt động, cung ứng các dịch vụ một cách tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của người gửi tiền, phát huy tính tự nguyện của khách hàng, khuyến khích khách hàng sử dụng các tiện ích của ngân hàng có lợi cho cả hai bên. Ngân hàng thì có nguồn vốn để cho vay thu lãi còn người dân có nơi cất giữ tài sản an toàn, sử dụng linh hoạt tài sản của mình nhằm mục đích sinh lợi tối đa. 3.3.3. Đảm bảo tiêu chí an toàn cho đồng tiền. Dân gian có câu “ Đồng tiền liền khúc ruột ” và “ Chọn mặt gửi vàng ” nên khi đặt tiền vào bất cứ nơi nào thì nơi đó phải thực sự an toàn, không bị mất mát, hao mòn, suy giảm giá trị. Cần hiểu tính an toàn ở đây còn bao hàm cả yếu tố giá trị của đồng tiền được ổn định năm này qua năm khác, lúc rút ra, tiền vẫn bảo tồn giá trị, không bị thiệt do mất giá. Ngân hàng luôn cố gắng thỏa mãn các tiêu chí này. Chính những bảo đảm nêu trên đã giúp ngân hàng ngày càng phát huy được thế mạnh của mình - một trung gian tài chính lớn nhất của nền kinh tế đưa những nguồn vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH- HĐH đất nước. 4. Các hình thức huy động vốn trong dân cư của các Ngân hàng thương mại 4.1. Tài khoản cá nhân Chủ tài khoản được quyền sử dụng toàn bộ số tiền trên tài khoản và tuỳ theo yêu cầu của việc chi trả, chủ tài khoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua ngân
  13. hàng hoặc rút tiền mặt để sử dụng. Tài khoản này còn có tên gọi khác nữa là tài khoản séc cá nhân vì đa số các giao dịch của người chủ tài khoản đều được thực hiện bằng séc. Đối tượng mở tài khoản cá nhân bao gồm tất các cá nhân có năng lực hành vi và năng lực pháp lý có nhu cầu mở tài khoản. Lý do chủ yếu để khách hàng mở tài khoản cá nhân là để đảm bảo tính “thế năng” của đồng vốn khi cần đến. Đối với hầu hết các khách hàng, việc hưởng lãi suất từ tài khoản này chỉ là thứ yếu mà chủ yếu là họ được hưởng các dịch vụ của ngân hàng mà không phải trả phí. Nhìn chung, tiền gửi của khách hàng qua tài khoản cá nhân là một nguồn vốn mà ngân hàng có được với chi thấp vì người gửi tiền sẵn sàng bỏ qua một số tiền lãi để có được một tài sản lỏng nhằm dễ dàng sử dụng trong thanh toán. Tuy nhiên, cũng có những bất lợi phát sinh trong việc sử dụng nguồn này vì tính ổn định thấp, hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh cũng như tin dùng của khách hàng. Do đó ngân hàng kém chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này. Dù thế nào chăng nữa, có một điều không thể phủ nhận được là nguồn tiền gửi này sẽ làm tăng đáng kể quy mô vốn của ngân hàng và có ý nghĩa rất lớn trong việc mở rộng uy tín và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. 4.2. Tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành của cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng trong tương lai nhưng tạm thời gửi vào ngân hàng để hưởng lãi. Đây là một nguồn vốn quan trọng của ngân hàng phục vụ chủ yếu nhu cầu cho vay đối với mọi thành phần kinh tế. Mục đích chính của tiền gửi tiết kiệm không phải để để sử dụng trong giao dịch mà để hưởng lãi qua các khoản tích luỹ được. Tiền gửi tiết kiệm gồm các khoản sau: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
  14. + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có đặc trưng chung giống như các loại tiền gửi khác. Ngoại trừ người gửi tiền có thể rút tiền ra một phần hoặc toàn bộ vào bất kỳ lúc nào. + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những người chưa xác định chính xác nhu cầu chi tiêu trong tương lai, hoặc không mấy tin tưởng vào sự ổn định của đồng tiền. Họ gửi tiền vào ngân hàng để mong được hưởng một chút lãi và được ngân hàng giữ hộ tiền mà vẫn có thể rút ra khi cần thiết. + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có một bất lợi riêng vì sự biến động của nó. Do vậy ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ lượng tiền này cho các chương trình của mình. Trên thực tế có thể khảo sát và tính toán được tỷ lệ ổn định tương đối mà ngân hàng có thể sử dụng thông qua chuyển hoán kỳ hạn. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn + Đây là loại tiền gửi dựa trên cơ sở thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời hạn gửi tiền cũng như lãi suất. Thông thường người gửi tiền chỉ được phép rút tiền khi đến hạn. Nhưng để khuyến khích người dân gửi tiền, các ngân hàng vẫn cho phép ngươì dân rút tiền trước kỳ hạn với điều kiện là họ chịu một mức lãi suất bằng lãi suất của tiết kiệm không kỳ hạn. + Do tính kỳ hạn của loại tiền gửi này mà nó trở thành nguồn vốn mang tính ổn định của ngân hàng. Ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng, thuận lợi trong việc cho vay nhất là cho vay với thời hạn tương ứng. Ngân hàng cũng có thể sử dụng một phần từ nguồn tiền này giành cho tín dụng dài hạn. + Với loại hình tiết kiệm này, mục đích chính của người gửi là sinh lời, cho nên lãi suất là vấn đề quan trọng. Muốn thu hút được nhiều từ nguồn này, các ngân hàng cần phải sử dụng đòn bẩy lãi suất để kích thích mục đích lợi ích của dân chúng. Ngân hàng cần đưa ra nhiều thời hạn gửi tiền tiết kiệm khác nhau để người gửi có điều kiện lựa chọn thời hạn phù hợp nhất đối với mình (3, 6, 9 tháng; 1, 2, 3, 5 năm...). Với mỗi loại kỳ hạn, có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. - Tiền gửi tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng, bằng Ngoại tệ mạnh:
  15. + Tiết kiệm có đảm bảo giá trị là một hình thức hấp dẫn để huy động vốn trung và dài hạn vì nó loại bỏ tâm lý lo sợ đồng tiền bị mất giá của người dân. Nó đặc biệt có tác dụng trong việc huy động vốn trung và dài hạn. + Theo hình thức này, số tiền gửi vào ngân hàng sẽ được quy đổi ra lượng vàng tương đương hay ngoại tệ mạnh hoặc mức lãi suất thay đổi đảm bảo lãi thực dương. + Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, khi mà Đồng Việt Nam luôn có nguy cơ bị trượt giá thì hình thức này có một sức thu hút rất lớn. Chính vì thế các ngân hàng cần tận dụng ưu điểm của hình thức này để khơi tăng nguồn vốn trong dân khi cần. - Tiết kiệm có mục đích: + Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 15/QĐ-NH1 về tiết kiệm xây dựng nhà ở. Đó là hình thức tiết kiệm trung dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở theo đó những người tham gia hình thức tiết kiệm này sẽ được ngân hàng cho vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở với mức lãi suất trung bình bằng với lãi suất tiền gửi cộng thêm chi phí hoạt động ngân hàng (tối đa 3%). + Hình thức tiền gửi có mục đích là hình thức tương đối mới mẻ nhưng đã phần nào phát huy tác dụng của nó và tỏ ra phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam khi vấn đề nhà ở cho những người thu nhập thấp đang là câu hỏi khó đang được Nhà nước và các cấp các ngành quan tâm tìm lời giải đáp. + Thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm có mục đích, một mặt giúp cho ngân hàng có nhiều nguồn vốn trung dài hạn, mặt khác góp phần vào xây dựng và phát triển nhà ở cho các tầng lớp nhân dân, làm cải thiện và nâng cao chất lượng sống của người dân. 4.3. Kỳ phiếu ngân hàng
  16. Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân một cách linh hoạt, đáp ứng nhu cầu cho đầu tư sản xuất, cho một số chương trình, một số dự án kinh tế hoặc kinh doanh của ngân hàng. Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành theo từng đợt và được gọi là kỳ phiếu có mục đích. Ngân hàng căn cứ vào nguồn vốn và nhu cầu mở rộng tín dụng để phát hành kỳ phiếu. Do tính chủ động của kỳ phiếu nên ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất cao hơn so với mức gửi tiền tiết kiệm và có áp dụng phương thức trả lãi hết sức đa dạng đáp ứng nhu cầu khác nhau về sản phẩm của khách hàng. Hơn thế, kỳ phiếu ngân hàng có tính lỏng cao, khách hàng có thể dễ dàng chuyển kỳ phiếu thành tiền mặt hoặc các công nợ khác. Xét về mặt bản chất, kỳ phiếu là công cụ huy động ngắn hạn nhưng trên thực tế nó còn được dùng như một công cụ huy động vốn trung dài hạn (thời hạn huy động từ 12 tháng đến 60 tháng). Kỳ phiếu ngân hàng là hình thức huy động có hiệu quả vì có lãi suất ưu đãi, thích hợp với sự biến động theo thời gian và tình trạng thực tế về nguồn vốn của ngân hàng. 4.4. Trái phiếu ngân hàng Theo nghĩa chung nhất, chứng khoán có giá trị xác nhận nợ của chủ thể phát hành với cam kết: - Thanh toán một số tiền nhất định vào một ngày xác định trong tương lai; - Với mức lãi suất xác định tương ứng với các thời hạn xác định. Căn cứ vào những tiêu thức phân loại khác nhau mà người ta chia trái phiếu thành nhiều loại như: trái phiếu vô danh và trái phiếu ký danh; trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu có lãi suất cố định... Tuy nhiên tất cả các trái phiếu này đều mang những đặc điểm sau:
  17. - Có mệnh giá: Mệnh giá là giá trị ghi trên trái phiếu, nó quy định số tiền mà người phát hành phải trả cho người chủ sở hữu vào ngày đáo hạn trái phiếu ngân hàng thường có mệnh giá rất lớn. - Có ngày đáo hạn: Ngày đáo hạn là ngày cuối cùng mà người phát hành phải trả toàn bộ số tiền ghi trên trái phiếu. - Có ghi mức lãi suất: Mức lãi suất là tỷ lệ lãi suất ấn định khi phát hành. - Có phương thức thanh toán: + Đối với trái phiếu Coupon: trái chủ sẽ được hưởng lãi định kỳ (có thể là nửa năm hay một năm) trên cơ sở lãi suất đã công bố. + Đối với trái phiếu triết khấu (Discount): trái chủ được quyền lĩnh lãi trước, hay nói cách khác người mua trái phiếu sẽ nua với giá thấp hơn mệnh giá, đến ngày đáo hạn sẽ được thanh toán đầy đủ số tiền theo mệnh giá. Trái phiếu ngân hàng được phát hành theo quy mô lớn và đồng loạt trong cả hệ thống. Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng sẽ huy động được một lượng vốn lớn có tính ổn định lâu dài. Vì thế ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này để cho vay trung dài hạn cũng như đầu tư vào các mục tiêu chiến lược khác. Việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngoài mục đích chính là huy động vốn còn có tác dụng ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần hình thành và phát triển thị trường vốn - đỉnh cao của quá trình lưu thông vốn đầu tư.
  18. Chương II Thực trạng công tác huy động vốn trong dân cư của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 1. Vài nét về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 1.1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 115-CP ngày 30 tháng 12 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ và được Ngân hàng Nhà nước ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 ngày 21 tháng 9 năm 1996 thành lập lại theo mô hình Tổng công ty Nhà nước quy định tại Quyết định số 90/TTG ngày 07 tháng 3 năm 1994 theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất của Việt Nam và là Ngân hàng đứng hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Thời gian qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tăng cường mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phát triển các công ty và văn phòng đại diện. Năm 1988, Ngân hàng Ngoại thương có 9 Chi nhánh. Đến nay, hệ thống tổ chức của Ngân hành Ngoại thương đã được mở rộng, bao gồm Hội sở chính, Sở giao dịch tại Thủ đô Hà Nội, 22 Chi nhánh trong nước, Công ty cho thuê tài chính, Công ty đầu tư và khai thác tài sản, 3 đơn vị liên doanh với nước ngoàI, Công ty tài chính Hồng Công, 3 Văn phòng đại diện tại các nước Nga, Pháp, Singapore, trên 20 phòng giao dịch tại Trung ương và các Chi nhánh. 1.2. Sơ lược tình hình hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
  19. Nét nổi bật của Ngân hàng Ngoại thương trong những năm qua là đã thay đổi phương pháp quản lý, tập quán kinh doanh và tư duy kinh tế. Cơ chế thị trường đặt ra một yêu cầu bức súc cho Ngân hàng Ngoại thương là phải năng động, nhạy bén và sáng tạo mới thích nghi được với môi trường mới. a) Về công tác huy động vốn. Sự tăng trưởng nguồn vốn trong 10 năm qua (1991-2000 - được thể hiện qua biểu đồ dưới đây: Tỷ đồng 70000 60000 50000 40000 30000 20000 10000 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Ghi chú: VNĐ  Tổng nguồn vốn X Ngoại tệ quy VNĐ * Sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời (năm 1990), nhiều Ngân hàng thương mại được phép hoạt động ngoại tệ. Hàng loạt Ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh hoạt động tại Việt Nam. Vì thế Ngân hàng Ngoại thương không còn thế độc quyền kinh doanh ngoại tệ như trước và phải chấp nhận hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Vốn tiền gửi của khách hàng, nhất là vốn ngoại tệ bị phân tán sang các ngân hàng khác. Trong bối cảnh ấy, chính sách huy động vốn của Ngân hàng ngoại thương cũng thay đổi và phát triển cả bề sâu lẫn bề rộng. Do có uy tín lớn và việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương, hàng năm tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương vẫn tăng nhanh. Đến cuối tháng 12/2000 tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 66.618 Tỷ quy Đồng Việt
  20. Nam, tăng 45,3% so với cuối năm 1999. Nếu loại trừ yếu tố tỷ giá thì tổng nguồn vốn vẫn tăng ở mức 41,7%. Nguồn vốn Ngoại tệ phát triển mạnh, đạt 3395 triệu USD (tương đương 49.229 tỷ VNĐ) chiếm tỷ trọng 74,9% tổng nguồn vốn. Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nguồn vốn ngoại tệ lớn đang tạo lợi thế cho Ngân hàng Ngoại thương, tuy nhiên về lâu dài, Ngân hàng Ngoại thương cần phải có sách lược nâng tỷ trọng nguồn vốn VND lên để đảm bảo sự phát triển bền vững của mình. b) Về sử dụng vốn Ngân hàng Ngoại thương đã từng bước đa dạng hoá các hình thức sử dụng vốn. Ngoài hình thức cho vay vốn lưu động thông thường, Ngân hàng Ngoại thương đã sử dụng vốn để cho thuê tài chính, mua trái phiếu kho bạc Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh, hỗ trợ vốn cho Ngân hàng chính sách, tham gia tích cực trên thị trường liên Ngân hàng. Vốn của Ngân hàng Ngoại thương được đầu tư cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau với đối tượng khác nhau; từ lĩnh vực thương mại xuất nhập khẩu, sản xuất, dịch vụ đến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.. với doanh số cho vay tăng liên tục: từ 974 tỷ đồng năm 1988 đến 22.500 tỷ đồng năm 1998 và 28.395 tỷ đồng năm 1999. Vốn tín dụng đầu tư cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, với những đối tượng khác nhau. Tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương đã tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các Tổng công ty lớn của Nhà nước, các lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu, các dự án và các vùng được Nhà nước khuyến khích và ưu tiên như dầu khí, đường dây tải điện 500 KV, mở rộng mạng lưới điện lực phía Nam, thuê mua máy bay của Việt Nam Arilines, Hiện đại hoá Ngành Bưu chính viễn thông, xuất khẩu lương thực, lâm hải sản...Riêng doanh số cho vay xuất nhập khẩu chiếm 70% doanh số cho vay. Từ đó đã góp phần khai thác tốt tiềm năng kinh tế của các địa phương, tạo nhiều việc làm cho người lao động, mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước. Một trong những hình thức hỗ trợ vốn quan trọng của Ngân hàng Ngoại thương là bảo lãnh. Ngay từ thời kỳ đầu thành lập, hàng năm, Ngân hàng Ngoại thương đã bảo

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản