2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 7
I.Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 7
II.Mục đích của đề tài .................................................................................. 7
III.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu............................................ 8
IV.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 8
V.Những kết quả dự kiến đạt được .............................................................. 8
C I I I I U C U ......................................... 10
. T nh h nh ụng tài ngu ên đất đai t ên thế gi i ............................. 10
. . T nh h nh ụng tài ngu ên đất đai i t nam .............................. 14
.3 Các chương t nh kế hoạch và các chính ách về ụng đất tại
i t Nam ...................................................................................................... 17
C II C SỞ LÝ UYẾ CỦA MÔ P Á RIỂ ĐẤ
ĐAI ĐÔ Ị ............................................................................ 19
. Lý thu ết và khái ni m .......................................................................... 19
2.1.1.Ý nghĩa của từ “đô thị” .................................................................. 20
2.1.2. Không gian đô thị ......................................................................... 20
2.1.3. Vị trí đô thị ................................................................................... 21
2.1.4. Khu vực xung quanh ..................................................................... 21
. . Phân tích đô thị ................................................................................... 23
2.2.1. Các tiếp cận khác nhau ................................................................ 23
2.2.2. Hình thái học đô thị .................................................................... 26
2.2.3. Các mức phân tích ...................................................................... 27
.3 Phát t iển đô thị .................................................................................... 29
.4. Đủ chỗ _ đủ khu đô thị..................................................................... 31
.5 Nhận xét về ULDM .............................................................................. 31
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
3
.6 Phát t iển đất đai .................................................................................. 31
.7 Các mô h nh phát t iển đất và bất động ản ....................................... 34
2.7.1. Các mô hình chuỗi hoặc mô tả và chuỗi-sự kiện ........................ 36
2.7. 2 Các mô hình hành vi hoặc làm quyết định và cơ quan ................ 38
2.7. 3. Cấu trúc cung cấp hoặc các mô hình cấu trúc ............................ 39
2.7. 4 Các mô hình dựa vào sản xuất .................................................... 40
2.7. 5 Các mô hình cân bằng ................................................................. 41
2.7. 6 Tài liệu tham khảo bổ sung về các
mô hình phát triển đất đai ........................................................... 42
.8. Phát t iển đất đai và quản lý hành chính đất đai ............................... 46
.9 Phương pháp luận của mô h nh ULDM ............................................. 49
2.9.1 Phương pháp luận và nguồn số liệu ............................................... 49
2.9.2 Đặt khung mô hình thể chế ULDM ............................................... 49
. 0 Kết luận .............................................................................................. 50
C III. ÁP DỤ CÁC IẾP CẬ LÝ UYẾ VÀ IẾP CẬ
I ĐẠI RO P Â ÍC MÔ P Á RIỂ
ĐẤ ĐAI ĐÔ Ị ẠI MỘ SỐ K U ĐÔ Ị À ỘI .. 52
3. Các nghiên cứu t nh huống .................................................................. 52
3.1.1 Các khu vực nghiên cứu ............................................................... 54
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu .................................................................. 56
3. Tiếp cận nghiên cứu ............................................................................ 60
3.2.1 Quan sát hiện trường ..................................................................... 60
3.2.2 Phỏng vấn .................................................................................... 60
3.2.3 Phân tích số liệu đồ thị .................................................................. 61
3.3 Các ngu ên tắc cho qu ết định phương pháp luận ............................ 61
3.4 Nhận xét vế ULDM ............................................................................... 61
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
4
3.5 Nghiên cứu t nh huống Hà Nội ......................................................... 62
3.5.1 Giới thiệu ...................................................................................... 62
3.5.2 Khu đô thị 1, Nhân Chính 1 .......................................................... 63
3.5.3 Khu đô thị 2, Nhân Chính 2 .......................................................... 69
3.5.4 Khu đô thị 3, Làng Yên Xá ........................................................... 77
3.5.5 Khu đô thị 4, Triều khúc ............................................................... 84
3.6. Phân tích .............................................................................................. 91
3.6.1 Mô hình thể chế và ULDM ........................................................... 91
3.6.1.1. Xem xét chi tiết mô hình thể chế.......................................... 91
3.6.1.2 Mô hình thể chế và ULDM ................................................... 95
3.6.2 Phân tích nghiên cứu tình huống .................................................. 99
3.7. Điều t a ố li u thực tế tại 4 khu đô thị
minh hoạ cho mô h nh ULDM ................................................................. 101
3.7.1 Phương pháp tính toán ................................................................. 101
3.7.2 Lập bảng tính .............................................................................. 102
3.8 Kết luận .............................................................................................. 104
3.8.1 ULDM và mô hình thể chế ........................................................ 104
3.8.2 Các nghiên cứu tình huống ......................................................... 105
C 4 KẾ LUẬ VÀ KIẾ Ị .................................................... 108
4. Kết luận ............................................................................................... 108
4. Các kiến nghị ...................................................................................... 108
ÀI LI U AM K ẢO ................................................................................. 112
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
5
DA MỤC CÁC VẼ
1. Hình 2.1 Quá trình phát triển đô thị (dựa trên Madanipuor 1996,tr.135-137) 2. Hình 2.2 Quá trình phát triển đất đai và gia tăng trong giá trị đất đai (dựa trên Williamson,Enemark 2010,tr. 196-197) 3. Hình 2.3 Hệ thống quyền của người sử dụng của Buitelaar (2004) 4. Hình 2.4 Mối quan hệ giữa quản trị đất và phát triển đất 5. Hình 2.5 Biểu đồ luồng nghiên cứu toàn cục 6. Hình 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tại Hà Nội 7. Hình 3.2 Quy hoạch chi tiết thành phố Hà Nội đến 2020
DA MỤC CÁC BẢ BIỂU
1. Bảng 1.1 Diện tích của các lục địa 2. Bảng 1.2 . Các loại đất không sử dụng được cho nông nghiệp 3. Bảng 1.3 : Tỉ lệ % đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên toàn thế giới 4. Bảng 1.4 Diện tích đất và sử dụng đất trên Trái Đất (Bouwman 1988) 5. Bảng 1.5.Diện tích đất tự nhiên và đất có thể trồng trọt được ở các khu vực (FAO,1989)
6. Bảng 1.6: Diện tích đất khô hạn trên thế giới và ở các khu vực (106 ha) 7. Bảng 1.7. Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam(Theo Tổng cục Địa chính - 1994)
8. Bảng 2.1 Các viễn cảnh triết học nằm bên dưới _ lý thuyết trong địa lý học
đô thị và các ví dụ nghiên cứu (dựa trên Pacione 2005, tr. 27-33)
9. Bảng 2.2 Các mức phân tích đô thị (dựa trên Pacione 2005, tr. 32-34)
10. Bảng 2.3 Các nhóm mô hình phát triển đất đai và các mô tả của chúng bởi Gore&Nicholson (1991) và Healey (1991) 11. Bảng 3.1 Các thủ tục cho lựa chọn vùng nghiên cứu
11. Bảng 3.2 Các chỉ số và các thuộc tính của ‘khu đô thị đầy đủ’ cần được
thu thập
12. Bảng 3.3 Danh sách những người trả lời phỏng vấn Khu đô thị 1, Hà Nội
13. Bảng 3.4 Danh sách số liệu đồ thị và chi tiết của chúng, Khu đô thị 1, HN
14. Bảng 3.5 Các kết quả của việc thu thập số liệu, Khu đô thị 1, Hà Nội
15. Bảng 3.6 Danh sách những người trả lời phỏng vấn Khu đô thị 2, Nhân Chính, Hà Nội
16. Bảng 3.7 Danh sách số liệu đồ thị và các chi tiết, Khu đô thị 2, Nhân Chính, Hà Nội
17. Bảng 3.8 Các kết quả thu thập số liệu, Khu đô thị 2, Nhân Chính, Hà Nội
18. Bảng 3.9 Danh sách những người trả lời phỏng vấn, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà Nội
19. Bảng 3.10 Danh sách số liệu đồ thị và chi tiết, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà Nội
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
6
20. Bảng 3.11 Các kết quả của thu gom số liệu, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà Nội
21. Bảng 3.12 Danh sách những người trả lời phỏng vấn, Khu đô thị 4, Triều khúc, Hà Nội
22. Bảng 3.13 Danh sách số liệu đồ thị và các chi tiết, Khu đô thị 4, Triều khúc, Hà Nội
23. Bảng 3.14 Các kết quả thu gom số liệu, Khu đô thị 4, Triều khúc, Hà Nội
24. Bảng 3.15 Các phần tử của mô hình đã được củng cố (được tạo ra dựa trên Healey 1992)
25. Bảng 3.16 Các phần tử và khía cạnh được xem xét trong ULDM trong khung mô hình thể chế
26. Bảng 3.17 Đầu tư công cộng và tư nhân tóm tắt và các tác động của chúng tới phát triển đất đai
27. Bảng 3.18 Bảng tính giá đất từ giá cho thuê nhà và giá thị trường
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
7
LỜI MỞ ĐẦU
I ính cấp thiết của đề tài
Việt nam là quốc gia đông dân với nguồn tài nguyên đất đai khan hiếm cho nên
sử dụng đất đai hiệu quả là một nhu cầu cấp thiết cho phát triển kinh tế cũng như
phát triến xã hội và thực hiện các mục tiêu quan trọng khác.Một trong những biện
pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của sử dụng tài nguyên đất đai là tiếp cận kinh tế tài
nguyên thiên nhiên và môi trường.Để thực hiện nhiệm vụ này,một điều không thể
thiếu là xác định giá trị kinh tế của tài nguyên đất đai cho các sử dụng đất đai khác
nhau.Tuy nhiên, việc nghiên cứu tìm hiểu,phân tích các tiếp cận đánh giá giá trị
kinh tế của sử dụng đất đai còn gặp rất nhiều khó khăn trong điều kiện Việt Nam.
Mặt khác, đánh giá giá trị tài nguyên đất đai trong điều kiện môi trường ngày
càng có nhiều diễn biến phức tạp là một nhiệm vụ cấp bách không chỉ của Việt Nam
hiện nay nói riêng mà còn của cộng đồng quốc tế nói chung.Do vậy, việc hoàn thiện
và phát triển các tiếp cận nghiên cứu đánh giá giá trị tài nguyên đất đai là cấp thiết
cho các nhà nghiên cứu kinh tế khắp nơi trên thế giới.Nghiên cứu tình huống trong
điều kiện Việt Nam là cần thiết không chỉ cho những người đang sống và làm việc ở
Việt Nam mà nó còn có thể đóng góp thông tin cho những người có quan tâm tới
tình hình phát triển tài nguyên đất đai trong khu vực và trên thế giới.Luận văn nàylà
một trong những đóng góp vào quá trình nghiên cứu thực tế tại khu vực miền Bắc
Việt Nam (cụ thể là khu vực nội thành Hà Nội).
II Mục đích của đề tài :
Trên thực tế,chưa phổ biến rộng rãi những nghiên cứu về tính toán giá trị kinh tế
của tài nguyên đất đai trong tình hình hiện tại của Việt Nam,cho nên mục đích thứ
nhất của luận văn này là triển khai những tìm hiểu cơ bản đầu tiên cho tính toán giá
trị tài nguyên đất đai một cách khoa học và có hệ thống dựa trên những thành tựu
nghiên cứu đã có của các nhà kinh tế khắp nơi trên thế giới và Việt Nam.
Thứ hai tìm hiểu điều kiện thực tế ở các khu đô thị của Hà Nội,Việt Nam để có
thể ứng dụng những tiếp cận truyền thống cũng như hiện đại của khoa học lý thuyết
kinh tế về đánh giá giá trị tài nguyên đất đai trên thế giới nhằm phát triển phương
pháp luận nghiên cứu và đánh giá giá trị kinh tế của đất đai trong điều kiện Việt
Nam.Trên cơ sở đó,luận văn có mục đích triển khai các mô hình phân tích phát triển
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
8
đất đai đô thị và đánh giá giá trị của đất đai ứng dụng trong phát triển đô thị Hà Nội
Việt Nam.
III Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
-Để phục vụ mục đích nghiên cứu một cách đầy đủ,luận văn sử dụng tiếp cận
truyền thống cũng như hiện đại của các nhà kinh tế tài nguyên môi trường quốc
tế,dựa trên cơ sở của khoa học kinh tế phúc lợi truyền thống.
-Cụ thể,với tiếp cận truyền thống,luận văn sẽ sử dụng phương pháp đánh giá giá
trị tài nguyên đất đai dựa vào luồng giá trị mà tài nguyên đất đai tạo ra cho nền kinh
tế thông qua các dịch vụ cụ thể như phục vụ làm nơi cư trú(các khu đô thị,các khu
dân cư….),phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp cũng như xây
dựng,thương mại,du lịch…với các cơ cấu chiết khấu khác nhau.
-Hơn nữa để đáp ứng điều kiện hiện đại,cần phải chú ý tới những tác động môi
trường phức tạp,cho nên luận văn cũng cần thiết phát triển những tiếp cận hiện đại
hơn,như các mô hình đánh giá giá trị tài nguyên đất đai trong điều kiện bị ảnh
hưởng của tác động môi trường.Các tiếp cận này dựa trên các nghiên cứu của các
nhà nghiên cứu kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong những thập kỷ
gần đây.
-Trong luận văn này tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu phương pháp đánh giá mô hình
phát triển đất đai – giá trị sử dụng đất đai cho một số khu đô thị tại thành phố Hà
Nội vì luồng giá trị mà loại hình đất đai đô thị mang lại cho nền kinh tế quốc dân có
tỷ trọng lớn so với các mục đích sử dụng đất khác.
-So sánh,phân tích các kết quả phương pháp đánh giá mô hình phát triển đất đai
đô thị và giá trị kinh tế của tài nguyên đất đai của các khu vực đô thị của Hà Nội mà
luận văn đi sâu nghiên cứu.
-Tuy nhiên việc đánh giá luồng giá trị mà tài nguyên đất đai mạng lại của các loại
hình sử dụng đất khác như :nông nghiệp,công nghiệp,lâm nghiệp...đều có chung
một phương pháp và mô hình đánh giá như mô hình đánh giá giá trị đất đai cho các
khu đô thị.Do đó các vấn đề vừa nêu tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và thực hiện trong
các đề tài tiếp theo trong tương lai.
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với những mục đích đã nêu ở phần trên của luận văn này,tôi tập trung nghiên
cứu vào mô hình phát triển đất đai của các khu đô thị đã và đang xây dựng ở Hà
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
9
Nội.Dựa vào các số liệu quan sát thực tế và phương pháp luận của mô hình phân
tích đã chọn ra được 4 khu đô thị đặc trưng cho 4 loại mô hình phát triển đất đai phổ
biến nhất của Hà Nội,bao gồm :
1. Phát triển tự phát được bổ sung với hỗ trợ(KĐT Nhân Chính 2)
2. Phát triển tự phát không có hỗ trợ(Làng Triều Khúc-Thanh Trì)
3. Đã được quy hoạch và phát triển ở mức độ nhất định(Làng Yên Xá-Hà Đông)
4. Đã được quy hoạch và phát triển tốt(KĐT Nhân Chính 1)
V hững kết quả dự kiến đạt được
1.Sưu tầm tài liệu và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước để có các báo
cáo tổng quan về tình hình nghiên cứu và ứng dụng các tiếp cận đánh giá giá trị
đất đai theo các tiếp cận truyền thống cũng như hiện đại.
2.Phân tích và nghiên cứu tình hình,đặc điểm,thông tin…về hiện trạng sử dụng đất
đai trong khu vực nghiên cứu.
3.Triển khai các phương pháp áp dụng tiếp cận truyển thống và thực hành đánh
giá giá trị kinh tế của đất đai theo phương pháp truyền thống.
4.So sánh phân tích các kết quả đạt được giữa các mô hình phát triển đất
ULDM,mô hình thể chế và các đánh giá thực tế có được từ quan sát tại 4 khu đô
thị nghiên cứu và kiến nghị cho các cơ quan quản lý có trách nhiệm.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
10
C I I I I U C U
1.1 nh h nh dụng tài ngu ên đất đai t ên thế gi i:
Quả đất có bán kính trung bình 6.371 km, chu vi theo đường xích đạo 40.075 km và diện tích bề mặt của quả đất ước tính khoảng 510 triệu km2 (tương đương với 51
tỉ hecta) trong đó biển và đại dương chiếm khoảng 36 tỉ hecta, còn lại là đất liền và
các hải đảo chiếm 15 tỉ hecta.
Tổng diện tích đất tự nhiện trên thế giới chia thành 5 nhóm phổ biến nhất.
- Những vùng có khí hậu rét, lượng mưa dồi dào và điều kiện thoát nước tốt có
nhóm đất podzol.
- Những vùng khí hậu ôn hòa với rừng rụng lá theo mùa có nhóm đất alfisols có
màu nâu hoặc xám.
- Những vùng khí hậu ôn hòa và đồng cỏ bán khô hạn hình thành nhóm đất
mollisols có màu đen giàu mùn và có tầng dày.
- Nhóm đất khô hạn aridosols phát triển ở những vùng khô hạn Bắc Mỹ và Châu
Phi, nơi gần hoang mạc hoặc ở hoang mạc. Nhóm đất này rất xấu chỉ để chăn nuôi
và phát triển nông nghiệp nếu có nguồn nước tưới.
- Ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới với lượng mưa phong phú, có nhóm đất
đỏ oxisols nghèo chất dinh dưỡng.
Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAO như sau:
20% diện tích đất ở vùng quá lạnh không sản xuất được.
20% diện tích đất ở vùng quá khô, hoang mạc cũng không sản xuất được.
20% diện tích đất ở vùng quá dốc không canh tác nông nghiệp được.
10% diện tích đất ở vùng có tầng đất mỏng (núi đá, đất bị xói mòn mạnh).
10% diện tích đang trồng trọt.
20% đang làm đồng cỏ, gồm những đồng cỏ chăn thả tự nhiên và đồng cỏ
thâm canh.
Hiện nay, diện tích đất đang trồng trọt chiếm khoảng 10% nghĩa là khoảng
1.500 triệu ha và được FAO đánh giá là:
- Đất có năng suất cao: 14%
- Đất có năng suất trung bình: 28%
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
11
- Đất có năng suất thấp: 58%
Trong tương lai, có thể khai phá và đưa vào sử dụng nông nghiệp khoảng 15 ÷
20%. Nhưng rõ rang, trên phạm vi toàn thế giới, đất tốt thì ít, đất xấu nhiều và quỹ
đất ngày càng bị thoái hóa.
Bảng 1.1 Diện tích của các lục địa
Ðại lục Diện tích Ðại lục Diện tích
Châu Á Châu Nam Cực
Châu Phi Châu Âu
Bắc Mỹ Châu Úc 14.245.000 km2 9.699.550 km2 7.687.120 km2
Nam Mỹ 43.998.920 km2 29.800.540 km2 24.320.100 km2 17.599.050 km2
Theo P. Buringh, toàn bộ đất có khả năng canh tác nông nghiệp của thế giới 3,3 tỉ
hecta (chiếm 22% tổng số đất liền), còn 11, 7 tỉ hecta (chiếm 78% tổng số đất liền)
không dùng cho sản xuất nông nghiệp được là do:
Bảng 1.2 . Các loại đất không sử dụng được cho nông nghiệp
Loại đất Diện tích (ha) Loại đất Diện tích (ha)
Ðất quá dốc 2, 682 tỉ (18%) Ðất quá nóng 1, 341 tỉ (9%)
Ðất quá khô 2, 533 tỉ (17%) Ðất quá nghèo 0, 745 tỉ (5%)
Ðất quá lạnh 2, 235 tỉ (15%) Ðất quá lầy 0, 596 tỉ (4%)
Ðất đóng băng 1, 490 tỉ(10%)
Trên thế giới, Ðất trồng trọt chỉ có 1,5 tỉ hecta (chiếm 10,8% tổng số đất đai,
bằng 46% đất có khả năng nông nghiệp), còn 1,8 tỉ hecta (54%) đất có khả năng
nông nghiệp chưa được khai thác.
Về mặt chất lượng đất nông nghiệp thì:
Đất có năng suất cao chỉ chiếm 14%,
Đất có năng suất trung bình chiếm 28% và
Đất có năng suất thấp chiếm tới 58%.
Ðiều này cho thấy đất có khả năng canh tác nông nghiệp trên toàn thế giới có
hạn, diện tích đất có năng suất cao lại quá ít.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
12
Mặt khác mỗi năm trên thế giới lại bị mất 12 triệu hecta đất trồng trọt cho năng
suất cao bị chuyển thành đất phi nông nghiệp và 100 triệu hecta đất trồng trọt bị
nhiễm độc do việc sử dụng phân bón và các loại thuốc sát trùng.
Bảng 1.3 : Tỉ lệ % đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên toàn thế giới
Các Châu lục Ðất tự Ðất nông Các Châu lục Ðất tự nhiên Ðất nông
nhiên nghiệp nghiệp
Châu Á 29,5% Châu Âu 6,5% 35% 13%
Châu Mỹ 28,2% Châu Ðại 15,8% 26% 6%
Châu Phi 20,0% Dương 20%
Như vậy, trên toàn thế giới diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp càng ngày
càng giảm dần trong khi đó dân số càng ngày càng tăng.Vì vậy, để có đủ lương thực
và thực phẩm cung cấp cho nhân loại trong tương lai thì việc khai thác số đất có khả
năng nông nghiệp còn lại để sử dụng là vấn đề cần được đặt ra.Theo các chuyên gia
trong lĩnh vực trồng trọt cho rằng, với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật như
hiện nay thì có thể dự kiến cho đến năm 2075 thì con người mới có thể khai phá hết
diện tích đất có khả năng nông nghiệp còn lại đó.Tỷ trọng đất đang canh tác trên đất
có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là
36%.Nguyên nhân dẫn đến việc chưa khai thác hết diện tích có khả năng canh tác
bao gồm: Thiếu nước, khí hậu không phù hợp, tiến vốn đầu tư.
Diện tích đất toàn cầu và quy mô sử dụng đất trên Trái Đất xem bảng 1.4
Bảng 1.4 Diện tích đất và sử dụng đất trên Trái Đất (Bouwman 1988)
Diện tích (x 106 km2) T Hệ sinh thái
T
1 Rừng mưa nhiệt đới 7,11
2 Rừng nhiệt đới theo mùa 7,105
3 Rừng thường xanh vùng khí hậu ôn hòa 7,306
4 Rừng rụng lá vùng khí hậu ôn hòa 6,834
5 Rừng Taiga 7,013
6 Rừng cây gỗ, cây bụi 7,173
7 Savan 10,695
8 Đồng cỏ nhiệt đới 2,115
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
13
Đồng cỏ vùng khí hậu ôn hòa 9 10,467
Hoang mạc, bán hoang mạc 1 12,001
0
Hoang mạc khắc nghiệt 1 12,575
1
1 Đất canh tác 15,776
2
1 Đất lúa 1,45
3
1 Đầm lầy, đầm phá 2,101
4
1 Tundra (đồng rêu) 6,947
5
1 Pha tạp 15,210
6
Tổng số 130,428
Theo FAO (1989),diện tích đất tự nhiên và diện tích đất có thể trồng trọt được
phân bố ở các khu vực rất khác nhau (bảng 5).Diện tích đất tự nhiên của thế giới
khoảng 13.077 triệu ha,được phân bố nhiều nhát ở Châu Phi và Châu Á,còn ít nhất
ở Châu Âu và Châu Đại Dương.Trong đó đất có thể trồng trọt chỉ chiếm
24,4%,Châu Âu và Nam Mỹ có đất trồng trọt lớn hơn cả(36,8-38,8%)
Bảng 1.5.Diện tích đất tự nhiên và đất có thể trồng trọt được ở các khu vực
(FAO,1989)
Đất tự nhiên Đất có thể trồng trọt Khu vực 106 ha % 106 ha %
Châu Phi 2.964 22,7 734 24,8
Châu Á 2.679 20,5 627 23,4
Châu Đại Dương 843 6,4 153 18,1
Châu Âu 473 3,6 174 36,8
Bắc Mỹ 2.138 16,3 465 21,7
Nam Mỹ 1.753 13,4 681 38,8
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
14
Liên Xô cũ 2.227 17,1 356 16,0
Thế giới 13.077 100 3.190 24,4
Đất có thể trồng trọt được,có một phần diện tích thuận lợi vì đó là đát tốt và ở
nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi.Phần diện tích còn lại là đất khó khăn cho trồng
trọt do hạn,đất xấu…v.v…
Diện tích đất khô hạn được phân bố ở các khu vực như bảng 1.6.
Bảng 1.6: Diện tích đất khô hạn trên thế giới và ở các khu vực (106 ha)
Loại Thế Châu Châu Úc Châu Bắc Nam
giới Phi Á Âu Mỹ Mỹ
Rất khô hạn 978 672 277 0 0 3 26
Khô hạn 1571 504 626 303 11 82 45
Nửa khô hạn 2305 514 693 309 105 419 256
Khô ẩm 1296 269 353 51 184 232 207
Tổng số 6150 1959 1949 663 300 736 543
% thế giới 100 32 32 75 32 34 31
% lục địa 41 66 46 75 32 34 31
Lục địa khô hạn nhất thế giới là Úc,ở đây 75% diện tích là khô hạn;tiếp đó là
Châu Phi và Châu Á,ở Châu Phi có 1959 ha và Châu Á có 1949 triệu ha,chỉ hai
châu lục đã chiếm 64% đất khô hạn thế giới.
Tổng diện tích đất khô hạn thế giới là 6150 triệu ha(41% đất tự nhiên),trong đó
có 978 triệu ha là hoang mạc rất khô hạn và 5172 triệu ha là khô hạn,nửa khô hạn
và khô ẩm.
1.2. nh h nh dụng tài ngu ên đất đai Vi t nam
Tổng số đất đai tự nhiên của Việt Nam là 33 triệu ha, đứng hàng thứ 58 trên thế
giới, nhưng dân số đông cho nên bình quân đất theo đầu người thấp, khoảng 0,6 ha,
trở thành 40 nước có bình quân đất theo đầu người thấp nhất hiện nay trên thế giới.
Trong tổng số vốn đất, đất vùng đồi núi, dốc cụ thể từ đất đỏ vàng trở xuống chiếm
70%. Trên vùng đồi núi, đất loại tốt (đất bazan) có diện tích 2,4 triệu ha chiếm 7,2%
tổng diện tích. Trên vùng đồng bằng, đất phù sa loại tốt chiếm gần 3 triệu ha (8,7%
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
15
tổng diện tích). Tổng diện tích đất tốt ở các vùng khác nhau của nước ta khoảng
20%, các lại là các loại đất có nhiều trở ngại cho sản xuất như khô hạn, úng, mặn,
phèn, nghèo chất dinh dưỡng, quá mỏng…
Tình hình sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam được thể hiện qua bảng 1.7.
Bảng 1.7. Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam(Theo Tổng cục Địa chính -1994) Diện tích (106 ha ) Tỉ lệ(%) Loại đất
1. Đất tự nhiên 33,10 100,00
2. Đất sử dụng 18,88 57,04
2.1 Đất nông nghiệp 7,38 22,20
2.2. Đất lâm nghiệp 9,64 29,13
2.3. Đất chuyên dùng 1,12 3,38
2.4 Đất khu dân cư 0,77 2,33
3. Đất chưa sử dụng 14,22 42,96
Qua số liệu này có thể thấy tình hình sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam còn
nhiều điều chưa hợp lý.Quỹ đất Nông nghiệp mới được sử dụng khoảng 70% và
quỹ đất Lâm nghiệp mới được sử dụng khoảng 50%.
Chẳng hạn, Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp của cả nước
khỏang từ 10-11 triệu ha, trong đó mới chỉ sử dụng được 6,9 triệu ha đất nông
nghiệp gồm 5,6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm (lúa: 4,144 triệu ha; màu, cây
công nghiệp ngắn ngày: 1,245 triệu ha) và 1,3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và
cây lâu năm khác (cà phê, cao su, dâu tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quít...). Tất cả các
diện tích là đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đã được sử dụng,nếu ta muốn
khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp mà lại không muốn phạm vào đất
rrừng thì phải chấp nhận sử dụng đất xấu.Tuy nhiên,diện tích đất nông nghiệp cũng
chỉ có thể nâng lên tối đa tới 11 triệu ha,tức khoảng 30 % diện tích đất tự nhiên
Đánh giá chung về tài nguyên đất Việt Nam thấy rằng, đất Việt Nam phong phú
và đa dạng. Do ở vùng nhiệt đới ẩm nên đất cho phép trồng nhiều vụ. Cũng do khí
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
16
hậu nhiệt đới ẩm đất dễ bị xói mòn, mùn dễ khoáng hóa, các chất dinh dưỡng dễ bị
hòa tan và rửa trôi nên đất thoái hóa nhanh, đất xấu nhiều hơn đất tốt. Tài nguyên
đất Việt Nam là rất có hạn, vì vậy mấy năm gần đây việc khai thác, sử dụng cải tạo
và bảo vệ đất trở thành vấn đề quan tâm lớn, vấn đề chiến lược trong hoàn cảnh
thiếu hụt về lương thực và tăng nhanh về dân số. Do sự phát tiển của quá trình đô
thị hóa và sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên nơi có đất phì nhiêu thì cũng
đồng thời là nơi có mật độ dân số cao và tốc độ xây dựng lớn, dẫn đến ô nhiễm môi
trường đất ngày càng gia tăng.
Hiện nay, ở Việt Nam nguồn tài nguyên đất đang bị ô nhiễm, hủy hoại do
phương thức canh tác lạc hậu và lạm dụng hóa chất, các loại chất bảo vệ thực vật
trong nông nghiệp. Những tiến bộ kỹ thuật thân thiện với môi trường chưa được
phổ biến và áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Chất thải rắn
trong khu vực đô thị là rất lớn, những biện pháp chủ yếu là chôn lấp chưa đảm bảo
tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môi trường. Chất thải bệnh viện, trong đó có khoảng
20% là chất thải độc hại, ngoài một số bệnh viện lớn ở một số thành phố lớn là do
đốt rác cục bộ, còn lại là thu gom và đổ chung với rác thải sinh hoạt, gây nguy cơ
bùng phát dịch bệnh. Chất thải công nghiệp cho đến nay hầu hết các đô thị cũng
chưa thể kiểm soát được, phần lớn chất thải nguy hại công nghiệp cũng được chôn
lấp chung với rác thải sinh hoạt, gây ô nhiễm đất rất trầm trọng. Ngoài ra còn có các
nguyên nhân gây suy thoái đất rất phổ biến đó là xói mòn và hoang mạc hóa.
Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất chủ yếu do sự yếu kém trong sản xuất, công
nghệ lạc hậu và công tác quản lý còn nhiều bất cập của các ngành, cụ thể như sau:
-Đất đô thị:Việt Nam là một đất nước đang trong thời kỳ xây dựng và phát triển
các khu đô thị mới (quá trình đô thị hoá) do vậy việc nghiên cứu các phương án quy
hoạch tổng thể cũng như quy hoạch chi tiết cho các khu vực có liên quan đến phát
triển đô thị,định hướng quy hoạch không gian xanh,định hướng quy hoạch giao
thông,cấp thoát nước,vệ sinh môi trường,di sản kiến trúc,hạ tầng kỹ thuật.Tất cả
những việc này quyết định đến mô hình phát triển đất đai đô thị ổn định bền vững
không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất định (sự sai lệch thông tin trong quy
hoạch,khả năng đầu cơ…)
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
17
-Đất thương mại: Các điều tra về sử dụng đất ở các khu vực đô thị chỉ ra rằng
trung bình cứ mỗi 3% đất sử dụng là cho các mục đích thương mại. Thông tin trong
việc đánh giá bất động sản cũng đưa ra một kết quả tương tự.
Trong việc tính toán đất sử dụng cho các mục đích thương mại ở các khu vực dân
cư thưa thớt, nó được cho rằng dân số tạo ra hoạt động kinh doanh, thấp hơn một
chút so với dân số ở các khu vực đô thị tạo ra.(nguồn WorldBank)
- ông nghi p: do ruộng đất ít, bị chia nhỏ, manh mún, khó sản xuất tập trung;
cơ giới hóa và áp dụng các quy trình công nghệ mới còn chậm; chưa có sự hỗ trợ
tích cực, nhất là trong lĩnh vực chế biến nông sản; thị trường không ổn định, giá cả
biến động theo hướng bất lợi cho nông nghiệp; nguy cơ suy giảm nguồn gen, đa
dạng sinh học do sự ô nhiễm đất bởi thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Diện tích
đất bình quân đầu người thấp, đặc biệt là đất canh tác nông nghiệp; thoái hóa đất
phổ biến ở nhiều vùng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, mất cân bằng dinh dưỡng,
chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, hạn, úng, lũ, đất trượt và xói lở…; nhân dân còn
nghèo,trình độ canh tác thấp dẫn đến đất bị khai thác và sử dụng quá tải, không
được bảo vệ và tái tạo đúng mức.
- Công nghi p: do phát triển nhanh, phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, trong khi
đó năng lực sản xuất còn yếu, trình độ công nghệ thấp, quy mô nhỏ và vừa, sức
cạnh tranh yếu; mức độ chế biến thấp; phần lớn công nghiệp là tác nhân ô nhiễm
môi trường đất (điển hình là nhiệt điện, hóa chất, luyện kim, thực phẩm, giấy, dệt
nhuộm, da…); quy hoạch và quản lý theo vùng chưa có hiệu lực.
- Lâm nghi p: tuy diện tích che phủ của rừng đã được tăng lên, nhưng do công
nghệ khai thác và chế biến gỗ còn lạc hậu dẫn đến hiệu quả sử dụng rừng thấp; chất
lượng rừng tiếp tục suy giảm do khai thác trái phép và phá rừng làm nông nghiệp và
nuôi trồng thủy hải sản; còn xảy ra nạn cháy rừng, thậm chí có nơi còn để nạn cháy
rừng xảy ra nghiêm trọng; rừng mới trồng phát triển nhanh nhưng hiệu quả môi
trường thấp dẫn đến nguy cơ của các hiểm họa về môi trường và ô nhiễm đất ngày
một nghiêm trọng.
-Dịch vụ xã hội và ức khỏe:Phạm trù này bao gồm đất sử dụng cho việc quản
lý công cộng, chăm sóc sức khỏe, vườn trẻ, trung tâm giải trí cho thanh niên và các
tòa nhà cho các sự kiện văn hóa, như nhà hát, bảo tàng …. Ngoài ra, đất dành cho
nhà thờ và các tòa nhà dành cho các hoạt động tôn giáo, nghĩa trang, nhà của cha sứ
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
18
và các tòa nhà được dùng cho việc thi hành pháp luật và nội quy công cộng cũng
được tính vào.
1.3 Các chương t nh kế hoạch và các chính ách về dụng đất tại Vi t am:
- Từ năm 1994 Chính phủ đã cho triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai cả nước đến năm 2010. Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 11 đã có Nghị
quyết số 01/1997/QH9 về kế hoạch sử dụng đất đai cả nước 5 năm 1996 – 2000.
Chính phủ đã chỉ đạo rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực
thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 đã được Quốc hội khóa
XI phê duyệt tại kỳ họp thứ 5.
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh:đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: tính đến năm 2005, có trên 400 huyện, quận,
thị xã, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất (chiếm
trên 60% số đơn vị cấp huyện), trong đó chủ yếu mới lập quy hoạch sử dụng đất của
các huyện, còn quy hoạch sử dụng đất đô thị của hầu hết các tỉnh, thành phố chưa
được lập
- Tổ chức triển khai quy hoạch sử dụng đất ở trong nước giai đoạn từ 1994 đến
nay đã cơ bản hoàn thành quy hoạch sử dụng đất của nước, quy hoạch sử dụng đất
cấp tỉnh.
Tồn tại chủ yếu:
- Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta mới thực hiện ở mức độ khái quát, mang tính
định hướng (quy hoạch sử dụng đất cả nước; quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và trên
60% quy hoạch sử dụng đất cấp huyện); còn thiếu quy hoạch chi tiết (quy hoạch sử
dụng đất cấp xã mới đạt 40%).
- Về phương pháp và quy trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn nhiều bất
cập, đặc biệt chưa có quy trình quy hoạch sử dụng mang tính đặc thù đối với đô thị.
- Sự phối hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với các quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội các cấp, quy hoạch các ngành chưa đồng bộ, đặc biệt là quy hoạch đô
thị chi tiết.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
19
- Do những nguyên nhân nên chất lượng và hiệu quả quy hoạch sử dụng đất
được đánh giá thấp, quy hoạch sử dụng đất treo còn tồn tại phổ biến.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
20
C II C SỞ LÝ UYẾ CỦA MÔ P Á RIỂ
ĐẤ ĐAI ĐÔ Ị
Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên đất đai khan hiếm
nên yêu cầu sử dụng đất đai hiệu quả là một nhu cầu quan trọng đối với phát triển
kinh tế cũng như phát triển xã hội và thực hiện các mục tiêu quan trọng khác.Do đó
việc nghiên cứu phân tích các mô hình phát triển đất đai để tìm hiểu đánh giá được
các luồng giá trị do các loại hình sử dụng đất đai mang lại cho nền kinh tế quốc dân.
Ngoài việc hiểu biết về quản lý hành chính đất đai cần thiết phải nghiên cứu về đô
thị là nghiên cứu quan tâm tới phát triển đất đai về các vùng đô thị.Các lý thuyết và
khái niệm đô thị đã cung cấp một hiểu biết toàn cục về các nghiên cứu đô thị là điều
đã giúp cho việc nhận biết phân tích đô thị và phát triển đô thị là các lĩnh vực cần
phải khám phá tiếp để hỗ trợ cho nghiên cứu.Nghiên cứu phân tích đô thị cung cấp
cơ sở lý thuyết cho lựa chọn phương pháp nghiên cứu, mức độ nghiên cứu và xác
định đối tượng nghiên cứu khu đô thị.Việc đọc tài liệu về phát triển đô thị đã hỗ trợ
cho việc hiểu biết đất đai, phát triển bất động sản và đã cung cấp cơ sở nền tảng tốt
cho khám phá chi tiết thêm về các mô hình phát triển đất đai.
2 1 Lý thu ết và khái ni m:
Các tài liệu nghiên cứu về đô thị cho rằng phân tích đô thị là lĩnh vực đa ngành
liên quan đến các vấn đề xã hội kinh tế chính trị môi trường trong các thành phố và
thị trấn. Ngoài những thứ khác nó bao gồm cả kinh tế, địa lý, xã hội học, nhân khẩu
học, lịch sử, quy hoạch kiến trúc, chính trị ,v..v..Việc nghiên cứu địa lý học đô thị
này sẽ làm nòng cốt cho sơ sở lý thuyết vì :
i)Cho phép tổng hợp các đặc tính của các phát hiện và kiến thức từ nhiều chuyên
ngành khác nhau bên ngoài địa lý
ii)Các đặc tính khác nhau cho tập trung một viễn cảnh không gian khi thực hiện
phân tích đô thị. Địa lý đô thị làm việc với phân tích đô thị từ viễn cảnh không
gian xã hội và mang lại những hiểu biết sâu sắc cho hiện tượng phức tạp của các
vị trí đô thị và cung cấp hiểu biết về các môi trường sống đô thị(Pacione
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
21
2005,trang 20-21)Các khái niệm về không gian, vị trí diện tích và ý nghĩa của đô
thị là trọng tâm của nghiên cứu đô thị khi mà khái niệm “khu đô thị” là trung
tâm của nghiên cứu này.Do vậy những khái niệm này sẽ được giới thiệu trong
các mục sau.
. . .Ý nghĩa của từ “đô thị”
Ý nghĩa của từ đô thị có nghĩa là liên quan tới đặc tính của, xảy ra ở, định hình
nên, thực hiện chủ quyền đối với, cư trú ở, có bất động sản trong một thành phố
hoặc thị trấn (OED 2009) (Pacione 2005,trang 20-24) nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc phân biệt giữa đô thị như một thực thể hiện vật và như một thực thể xã hội
trừu tượng vì điều này giúp cho nhận thức được tính phức tạp và xác định các tiếp
cận khác nhau đối với hiện tượng ”đô thị”. Đô thị như một thức thể hiện vật,với các
công trình nhân tạo của nó, được nhận biết dựa trên kích thước của dân số một
vùng diện tích được coi là đô thị khi nó có hơn một số lượng xác định cư dân; cấu
trúc kinh tế tỷ lệ phần trăm xác định của dân số được gắn các hoạt động phi nông
nghiệp; biên giới hành chính cơ sở này được sử dụng nhiều hơn cho các mục đích
chính phủ và nó không thực sự thích hợp cho mục đích nghiên cứu; các định nghĩa
chức năng-khái niệm này xác định diện tích đô thị dựa trên phạm vi ảnh hưởng của
nó. Đô thị như một thực thể xã hội trừu tượng làm việc với nhận thức chủ quan của
mọi người về các thành phố và các quan hệ xã hội và các hoạt động của chúng. Đối
với việc nghiên cứu về thực thể xã hội trừu tượng này, lập bản đồ nhận thức và chủ
nghĩa đô thị như là một phong cách sống là 2 tiếp cận chính. Lập bản đồ nhận thức
là một kỹ thuật lập bản đồ trí tuệ để nghiên cứu đô thị, trong mối quan hệ với hành
vi con người và chất lượng cuộc sống.Tiếp cận thứ 2 bao gồm những viễn cảnh
khác nhau để nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị tới những người sống trong đó.Ví dụ
kích thước thay đổi như thế nào, mật độ và tính không đồng nhất ảnh hưởng đến
nền kinh tế như thế nào,và hệ thống vốn sản xuất tác động đến các đô thị như thế
nào.Các khái niệm được thảo luận trong mục này liên hệ khá chặt chẽ với khái niệm
được giới thiệu trong mục tiếp theo khái niệm về không gian.
. . . Không gian đô thị
Mặc dù định nghĩa về không gian là một trong những định nghĩa gây tranh cãi
nhất là mở cho các cuộc tranh luận triết học, đối với luận văn nàykhông gian được
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
22
hiểu là một đối tượng một không gian vật lý với các khía cạnh xã hội và tâm lý với
các đặc điểm động học về thời gian. Không gian đô thị là một không gian được
chiếm hữu bởi các thành phố hoặc thị trấn hoặc không gian đang được tạo lập, một
môi trường được xây dựng so với không gian tự nhiên(Madanipour 1996,trang 28-
30), không gian là có ở khắp nơi nhưng trong hoàn cảnh đô thị nó bị giới hạn vào
phạm vi vật lý và bị ảnh hưởng của các thành phố và trị trấn.
. .3. ị t í đô thị
Vị trí là một địa điểm duy nhất và đặc biệt được gắn trong không gian, nó không
được hiểu chỉ đơn giản là một vị trí vật lý,mà phải được nhận biết về các khía cạnh
xã hội,tâm lý,động học của nó.Vị trí như một địa điểm hoạt động của con người là
quan trọng như là một cơ sở theo nghĩa đồng nhất cũng như theo nghĩa cộng
đồng.Theo đúng nghĩa của nó vị trí là một khái niêm trung tâm trong phân tích đô
thị về việc các vùng đô thị được xây dụng như thế nào,và môi trường xây dựng có ý
nghĩa gì cho các cư dân của nó.Hơn nữa vị trí được nhấn mạnh rằng các thành phố
là các nơi mà các quan hệ xã hội xảy ra.Các cá nhân,các hộ gia đình,các công ty,các
công đồng,các cơ quan công cộng với các mối quan hệ kinh tế chính trị của họ,tồn
tại và vận hành tại các vị trí riêng(Pacione 2005,trang 25-26)
. .4. Khu vực xung quanh
(Pacione 2005, trang 672) định nghĩa vùng xung quanh như là “một quận đô thị
được định nghĩa một cách nghiêm ngặt,trong đó có một nền văn hoá nhỏ,nhận biết
được mà phần lớn các cư dân tuân thủ theo”.Tiếp theo ông đã phát biểu 5 nguyên
tắc về phát triển vùng xung quanh trong một chủ nghĩa đô thị mới như sau:
-Các vùng xung quanh cần phải là một thoả thuận ,một sử dụng hỗn hợp và thân
thiện đồng hành.
-Nhiều hoạt động của cuộc sống hàng ngày sẽ diễn ra bên trong những khoảng
cách có thể đi bộ,cho phép tính độc lập cho những cư dân không đi xe,đặc biệt là
những người cao tuổi và trẻ nhỏ.Các mạng lưới kết nối của phố xá cần được thiết
kế để khuyến khích đi bộ làm giảm số lượng và chiều dài của các tuyến xe và bảo
tồn năng lượng.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
23
-Bên trong các khu đô thị,một dải rộng có sự phân loại nhiều kiểu nhà ở và các
mức giá cả có thể thu hút mọi người từ lứa tuổi,chủng tộc và thu nhập khác nhau tới
sự tương tác hàng ngày,củng cố mối quan hệ cá nhân và công dân,là thực chất cho
một công đồng xác thực.
-Mật độ xây dựng và sử dụng đất thích hợp sẽ nằm bên trong các khoảng cách đi
bộ giữa các bến giao thông cho phép giao thông cộng cộng trở thành một phương án
khả thi.
-Độ tập trung của hoạt động công dân,thể chế thương mại cần được gắn chặt
trong các vùng xung quanh và các quận, không cô lập trong các tổ hợp xa cách và
sử dụng đơn”
Dựa trên những nguyên tắc ở trên, khái niệm đơn vị khu đô thị, là đơn vị “có các
biên giới rõ ràng, có chứa các mạng giao thông đi bộ kết nối(liên kết) đến các khu
dân cư tới trường phổ thông cơ sở, các trang thiết bị tái tạo, và các cơ hội bán lẻ địa
phương hạn chế, và kết hợp thành một mang lưới không gian mở, tất cả bên trong
một chu vi có thể đi bộ được” (Berke 2006, tr. 388) đã được chấp nhận một cách
rộng rãi và được ứng dụng trong quy hoạch sử dụng vật lý/đất đai. Jhonston (1981,
tr. 231) xác định vùng xung quanh, tương tự như Pacione, là một quận, thường
trong một khu vực đô thị, nơi mà mọi người có các mối quan hệ mặt đối mặt, bên
trong một diện tích hạn chế, và nơi mà có nền văn hóa còn tách biệt hình thành lên
các ý tưởng và các hoạt động của những người sống ở đó. Tuy nhiên, ông lý luận
rằng trong các thành phố hiện đại kiểu được định nghĩa rõ ràng này, cả theo nghĩa
cộng đồng lẫn không gian, các khu đô thị tồn tại một cách nghèo nàn, vì “cộng việc,
cửa hàng và bạn bè thường nằm bên ngoài khu đô thị và việc gắn bó với nó phản
ánh các cá nhân cảm như thấy ở nhà giữa mọi người với các cơ sở nền tảng tương
tự, là những người sẵn có tiềm năng cho tương tác xã hội. Ranh giới địa lý chính
xác là khó nhưng không quan trọng một cách tương đối cho các cư dân”. Khái niệm
“khu đô thị” được nhận biết như một đối tượng thích hợp cho mục đích của nghiên
cứu này, vì đối tượng này là thích hợp với khảo sát khi xem xét các mục đích và
tính khả thi của nghiên cứu này. Nó sẽ được thảo luận tiếp theo và nó được hiểu như
thế nào cho luận văn nàyđược xác định trong chương sau.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
24
2 2 Phân tích đô thị
Các tiếp cận, kiểu và mức phân tích đô thị khác nhau, quan điểm về phát triển đô
thị và phát triển đô thị phi chính thức đã được nghiên cứu để hỗ trợ lựa chọn các
phương pháp cần được áp dụng khi kiểm tra mô hình phát triển đất đô thị (viết tắt là
ULDM).
. . . Các tiếp cận khác nhau
Có hai tiếp cận cơ bản tạo khung cho phân tích thành phố, một tiếp cận là nghiên
cứu các hệ thống thành phố và tiếp cận kia là nghiên cứu thành phố như một hệ
thống. Tiếp cận trước quan tâm tới phân phối các thành phố và mối quan hệ của
chúng, trong khi tiếp cận sau làm việc với cấu trúc bên trong của bản thân thành phố
hoặc các vị trí đô thị. Một số học giả lý luận cho dù các thành phố có thể là các đối
tượng phân tích do sự kiện là xã hội là đô thị, trong các quốc gia đã phát triển, bất
kể mọi người sống ở đâu hoặc khái niệm đô thị như một khối của những vị trí gối
nhau và có quan hệ với nhau không có nghĩa do những lợi thế kỹ thuật như viễn
thông v.v... Mặt khác, các thành phố như các chỗ của cuộc sống xã hội, kinh tế,
chính trị văn hóa, và các tương tác vật lý vẫn còn có tầm quan trọng căn bản như
các đối tượng của phân tích (Pacione 2005, tr. 20-26).
Phạm vi địa lý của đô thị đang mở rộng khi thời gian thay đổi và do phát triển xã
hội, công nghệ và kinh tế. Các hệ thống của tiếp cận thành phố đã bắt đầu với các
nghiên cứu về các nguyên bản đô thị và tăng trưởng trong thời kỳ đầu những năm
1900 và đã mở rộng tới định cư cấp vùng lãnh thổ và phân loại của chúng, lý thuyết
chỗ trung tâm, các phong trào dân chúng, di cư, đô thị và quy hoạch vùng lãnh thổ,
vai trò của các thành phố trong kinh tế chính trị, các thành phố ở bờ cạnh, phản đô
thị hóa, di cư nông thôn đô thị trong các quốc gia thế giới thứ ba, toàn cầu hóa và
các thành phố, các thành phố khổng lồ (megacity) và trung tâm công nghệ thông tin
(technopoles). Thành phố như một tiếp cận hệ thống bắt đầu làm việc với vị trí và
tình huống định cư, cũng bắt đầu khoảng 1900, và được mở rộng với hình thái học
và sinh thái học đô thị, và phân tích vùng xã hội, sinh thái tăng nhanh, giới hạn quận
thương mại trung tâm, chuyển động của dân cư, buôn bán lẻ và tiêu dùng, quyền lực
và chính trị, các dịch vụ, các vấn đề đô thị trong hoàn cảnh cơ cấu, tái xây dựng
kinh tế, nghèo và đói, thị trường nhà cửa và bất động sản, các vấn đề giao thông đi
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
25
lại, môi trường vật lý đô thị, nhà ở, sức khỏe và nền kinh tế trong các thành phố thế
giới thứ ba, tác động toàn cầu hóa, công bằng xã hội, khả năng sống đô thị, các
thành phố bền vững và dạng đô thị tương lai (Pacione 2005, tr. 27-28). Tất các
những tiếp cận khác nhau này có các viễn cảnh triết học ẩn bên dưới của chúng là
các lý thuyết, được tóm tắt trong Bảng 2.1.
Madanipour (1996, tr. 87-88) tóm tắt ba khái niệm trong nghiên cứu của ông về
các tiếp cận khác nhau trong phân tích đô thị. “Khái niệm thứ nhất, không gian đô
thị là không gian hiện vật với các khía cạnh xã hội tâm lý của nó, và dạng đô thị là
hình học của không gian này”. Khái niệm này được mở rộng tiếp theo là sự hiểu
biết thành phố sẽ là sự gối nhau của hình học vật lý, xã hội, tâm lý tại cùng một thời
điểm và cho thấy mối quan hệ qua lại tác động của những khía cạnh này. Khái niệm
thứ hai nhấn mạnh hai viễn cảnh, một có tầm quan trọng về kinh tế chính trị với thị
trường và các khía cạnh chính sách của nó và tiếp cận khoa học, khái niệm kia có
tầm quan trọng của cuộc sống hàng ngày, tức là để hiểu không gian đô thị như cụ
thể, chứ không phải một nhà quan sát, và tính tới kinh nghiệm đòi hỏi tính thích hợp
của phân tích kinh tế-chính trị nếu nó đủ để giải thích cuộc sống xã hội. Khái niệm
sau là cần phải theo các quá trình phát triển đô thị trong khi tính đến các khía cạnh
xã hội, chính trị, vật lý và tâm lý. Khi nhìn vào những khái niệm này, rõ ràng là
chúng thực tế là giống hệt như các viễn cảnh lý thuyết được liệt kê trên bảng 2.1 .
Viễn cảnh lý thu ết Ví dụ của nghiên cứu
Môi trường : phản ánh mối quan tâm Các nguyên bản và tăng trưởng đô thị,
địa lý tổng quát hơn trong mối quan hệ các mẫu hình định cư của vùng lãnh
giữa con người và môi trường thổ, lý thuyết chỗ trung tâm, các chỗ
và tình huống đô thị, hình thái học đô
thị, sinh thái đô thị
Vị thế : được đặc trưng bởi sự gắn kết Phân loại định cư, xả thải tăng lên, cơ
với phương pháp điều tra khoa học dựa cấu đô thị, tạo lập chuyến đi và mẫu
trên kiểm định giả thiết, suy luận thống hình du lịch
kê và xây dựng lý thuyết
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
26
Hành vi: tìm cách khắc phục các giới Di dân, hành vi người tiêu dùng, tính
hạn của phân tích không gian bằng lưu động của cư dân, ưa thích cư trú,
cách nhấn mạnh vào vai trò của hành các diện tính khu đô thị nhận được,
vi con người ở môi trường đô thị hình ảnh của thành phố
Nhân văn : mang lại tầm quan trọng Hành vi xã hội con người trong các
trung tâm của nhận thức con người, cơ thành phố, xây dựng xã hội và không
quan, ý thức và tính sáng tạo và điều gian đô thị
nó có mục đích để hiểu hành vi xã hội
con người dựa trên kinh nghiệm chủ
quan của mọi người về thế giới, Nó sử
dụng nghiên cứu tình huống riêng sử
dụng các phương pháp như dân tộc học
và áp dụng nguyên tắc suy luận lô gic
chứ không phải thống kê.
Cấu trúc: được đặc trưng bởi một tập Các thành phố được nghiên cứu như
các nguyên tắc và thủ tục được thiết kế bộ phận tổng hợp của chế độ sản xuất
để làm rõ các nguyên nhân nằm bên tư bản, thay đổi thị trường đất đai đô
dưới của mẫu hình được bộc lộ của thị, đô thị hóa, phục hồi đô thị, tái phát
hành vi con người, tức là giải thích triển, các vấn đề đô thị trong hoàn
hiện tượng quan sát được không thể cảnh xây dựng, quyền lực và chính trị,
được thấy thông qua chỉ nghiên cứu các thị trường đất đai và nhà ở, các
thực nghiệm nhưng phải được bộc lộ mẫu hình định cư
bằng cách kiểm tra các cơ cấu xã hội,
kinh tế và chính trị hiện hành. Điều
này về căn bản được dựa trên tiếp cận
kinh tế chính trị hoặc tiếp cận Marx.
Quản lý: khái niệm của sự gắn kết xã Quyền lực của các nhà quản lý đô thị
hội một quá trình theo đó các nhóm xã và ảnh hưởng của chúng lên cơ cấu
hội tìm cách tối đa lợi ích của họ bằng không gian xã hội của đô thị, phân
cách hạn chế truy cập vào tài nguyên vùng, quyền lực và xung đột trong xã
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
27
và các cơ hội cho chu trình hạn chế. hội, truy cập khác nhau tới các dịch vụ
Nhận dạng được đặc trưng bởi sự phản Khác biệt, tính thống nhất và tính cá
đối lý thuyết tổng quát và nhấn mạnh nhân trong các thành phố, các nghiên
vào sự khác biệt của con người. Nó cứu về khác biệt giới trong các thị
nhận thức tính đa dạng và nhấn mạnh trường lao động đô thị của các không
nhu cầu cho các quan điểm phức tạp gian loại bỏ bị xâm chiếm bởi các
của các cá nhân và nhóm đa dạng nhóm nhỏ được xác định bởi giai cấp,
tình trạng hôn nhân, giới tính, chủng
tộc, tuổi tác và thiểu năng, đa dạng văn
hóa trong các thành phố.
Triết học đạo đức: tìm kiếm kiểm tra Bình đẳng trong phân phối các dịch vụ
một cách nghiêm ngặt các cơ sở đạo phúc lợi, các cơ hội sử dụng nhân công
đức của xã hội, trung tân của viễn cảnh và nhà ở đẹp cho vô số các nhóm xã
đạo đức là khái niệm công bằng chuẩn hội, giải thích về bất động sản bên
tắc, là điều tập trung vào cái gì cần trong-đô thị, khả năng chấp nhân xã
phải có chứ không phải cái gì đang có. hội của các điều kiện đô thị hiện có
như ô nhiễm không khí hoặc tỷ lệ tử
vong trẻ sơ sinh.
Bảng 2.1 Các viễn cảnh triết học nằm bên dưới _ lý thuyết trong địa lý học
đô thị và các ví dụ nghiên cứu (dựa trên Pacione 2005, tr. 27-33)
. . . H nh thái học đô thị
Dựa trên nghiên cứu tổng quan của các tiếp cận khác nhau và các viễn cảnh lý
thuyết của các nghiên cứu đô thị, và khi xem xét các mục đích của ULDM, hình thái
đô thị được lựa chọn để hiểu nhiều hơn về các vùng đô thị và hỗ trợ xác định đối
tượng nghiên cứu của nghiên cứu này. Hình thái đô thị là “nghiên cứu đối xứng về
dạng, hình, kế hoạch, cơ cấu và các chức năng của các công trình xây dựng của các
thị trấn và thành phố, và của nguyên bản và cách thức theo đó công trình này được
tiến hóa theo thời gian”. (Clark, Small và Witherick và Goodall ở Madanipour
(1996)). Moudon (1997) khẳng định các nghiên cứu hình thái đô thị tập trung vào
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
28
các kết quả hữu hình của các lực kinh tế-xã hội, tức là họ nghiên cứu các kết cục
của các ý tưởng và các ý định như chúng lấy hình dáng trên nền đất và định dạng
lên thành phố. Các ngôi nhà, vườn tược, đường phố, công viên, tượng đài, và trong
những thứ khác, là cá đối tượng của nghiên cứu. Phân tích hình thái đô thị được dựa
trên ba nguyên tắc:
1. Các khối nhà và các không gian mở liên quan của chúng, các mảnh đất và các
đường phố là ba phần tử vật lý căn bản xác định lên dạng của đô thị.
2. Bốn mức giải pháp chung được xác định để nghiên cứu dạng đô thị. Chúng là:
i) ngôi nhà/khối nhà, ii) đường phố/khối phố, iii) thành phố và iv) vùng.
3. Khía cạnh tức thì phải được nghiên cứu vì dạng đô thị chỉ có thể đượchiểu về
mặt lịch sử do biến chuyển và thay thế liên tục của các phần tử đô thị.
Do vậy, dạng, giải pháp và thời gian là ba cấu phần căn bản trong nghiên cứu
hình thái đô thị. ‘Miếng đất và các tòa nhà trên đó’ và ‘các không gian mở’ được coi
là những lô nhỏ nhất của thành phố. Các thuộc tính của ô và các phần tử của nó là
những phản ánh của giai đoạn thời gian và các điều kiện kinh tế-xã hội đã được
trình bày tại thời điểm phát triển đất. Một trọng tâm khác của nghiên cứu là cái-
được-gọi-là “đơn vị kế hoạch”, là các nhóm nhà, các không gian mở, các mảnh đất,
và các đường phố, “ là những thứ hình thành nên tổng thể gắn kết nước vì chúng tất
cả đều được xây dựng tại cùng một thời điểm hoặc bên trong các ràng buộc, hoặc vì
chúng cùng trong một quá trình chung của sự biến đổi”. Đơn vị kế hoạch là một
khái niệm hữu ích cần được nghiên cứu khi quyết định xác định đối tượng nghiên
cứu cho nghiên cứu này.
. .3. Các mức phân tích
Thậm chí mặc dù các nhân tố đô thị và các quá trình được phân tích không bị bao
chặt bó hẹp trong một phạm vi không gian xác định, khái niệm “mức phân tích”
được giới thiệu cho khung tổ chức để đơn giản hóa thế giới thực phức tạp và biểu
diễn mục tiêu của nghiên cứu tại các phạm vi không gian khác nhau, hoặc khá thích
hợp về mặt không gian. Có năm mức phân tích (Pacione 2005, tr. 32-34) như được
chỉ ra trong Bảng 2.2.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
29
Các mức phân tích Mô tả
Khu đô thị Đó là một diện tích trực tiếp xung quan ngôi nhà
của một cá nhân, các đặc tính của nó thường bao
gồm tính đồng nhất về kiểu nhà ở, dân tộc hoặc các
giá trị xã hội-văn hóa, các vấn đề thích hợp bao
gồm: các quá trình suy giảm hoặc phục hồi kinh tế
địa phương, sự tách biệt cư trú, các mức cung cấp
và sử dụng dịch vụ của tổ chức chính trị khu đô thị
để kiểm soát không gian đô thị, ….
Thành phố Các thành phố là các trung tâm của các hoạt động
xã hội, chính trị, văn hóa, quản lý hành chính và
kinh tế. Các nghiên cứu đô thị phân tích vai trò của
một thành phố trong nền kinh tế vùng lãnh thổ,
quốc gia và quốc tế, và dạng xã hội-không gian của
thành phố bị ảnh hưởng như thế nào bởi vai trò,
quyền lực phân phối trong thành phố, ảnh hưởng
của các lợi ích công cộng và tư nhân lên các quyết
định chính phủ …
Vùng Sự trải rộng đô thị ảnh hưởng tới các vùng nông
thôn xung quanh của nó, đặc biệt như một sự mở
rộng không gian của các thành phố, đã giới hiệu
khái niệm vùng đô thị. Phân tích bao gồm dấu chân
sinh thái của thành phố, xung đột sử dụng đất tới
vùng ngoại ô đô thị, quản lý tăng trưởng và các
dạng quản lý.
Hệ thống các thành phố Các mục tiêu được xác định ở tầm quốc gia có các
cấp quốc gia tác động lên các thành phố. Các học giả đã phải
hiểu các chính sách quốc gia và các ảnh hưởng của
chúng và các tác động lên các chỗ, giữa vị trí và
bên trong đô thị để hiểu được những khía cạnh
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
30
khác nhau của các quá trình và mẫu hình thay đổi
đô thị.
Hệ thống các thành phố Nền kinh tế chính trị toàn cầu sử dụng sự độc lập
trên thế giới giữa các quốc gia và các thành phố. Các thành phố
thế giới là mối quan tâm do vai trò của chúng như
các trung tâm kiểm soát chính trị và tài chính. Viễn
cảnh các thành phố thế giới giúp cho nhà nghiên
cứu tái xác định khung cho các vấn đề tại cấp toàn
cầu rút ra các khái niệm được xác định trong hoàn
cảnh của các thành phố và các vùng miền.
Bảng 2.2 Các mức phân tích đô thị (dựa trên Pacione 2005, tr. 32-34)
2 3 Phát t iển đô thị
Theo một nghĩa rộng hơn phát triển đô thị có thể được định nghĩa như các mẫu
hình thay đổi của các vùng đô thị như các kết quả của i) đô thị hóa, một gia tăng
trong tỷ lệ phần trăm của tổng số người sống trong các vùng đô thị; ii) tăng trưởng
đô thị, một gia tăng trong dân số của các thị trấn và các thành phố; iii) chủ nghĩa đô
thị, phạm vi của các đặc tính xã hội và hành vi của cuộc sống đô thị qua xã hội như
một tổng thể (Pacione 2005, tr. 71). Williamson, Enemark et. al. (2010, tr. 200-201)
định nghĩa phát triển đô thị nói chung như một dải rộng tiêu chí của các hoạt động
của các quy mô khác nhau, từ thiết lập các vùng đô thị mới hoặc các thị trấn, như
các vùng định cư mới. Ở mức thành phố phát triển đô thị có thể được hiểu như quá
trình sản xuất các chỗ đô thị. Một mô hình đơn giản biểu diễn quá trình này như sự
tạo lập môi trường xây dựng, các tổ chức khu vực công cộng và tư nhân, sử dụng
môi trường vật lý và xã hội qua các nhân tố phát triển của chúng như các nguồn lực,
quy tắc và các ý tưởng (Madanipour 1996, tr. 135-137). Nó có thể được mô tả như
được chỉ ra trên Hình 2.1.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
31
* Phát triển đô thị phi-chính thức
Một điều quan trọng là nhận thức được phát triển đô thị, như từ phát triển đề
xuất, không luôn là một phát triển tích cực. Một nửa số người trong các thành phố
của quốc gia đang phát triển sống trong các khu ổ chuột được coi như phát triển phi
chính thức hoặc thậm chí là phát triển bất hợp pháp và không được truy cập vào các
dịch vụ cơ bản và cơ sở hạ tầng như nước, đường, vệ sinh và cống rãnh (UN-
HABITAT 2004). “Nói chung, phát triển đô thị xảy ra bên trong phạm vi của hệ
thống quản lý hành chính đất đai nhà nước và tuân thủ các yêu cầu pháp luật và điều
chỉnh của nó được gán nhãn là “chính thức” và toàn bộ phát triển không tuân thủ
với yêu cầu này hoặc yêu cầu khác được gọi là “phi chính thức”. Các phát triển đô
thị phi chính thức thường xảy ra trong các vùng không thích hợp cho phát triển do
các thảm họa thiên nhiên hoặc các thảm họa khác, hoặc trong những vùng được bảo
vệ hoặc hạn chế cho phát triển tương lai. Tuy nhiên, có cả những khu vực phi chính
thức trong phát triển các khu đô thị cư trú thu nhập cỡ trung cấp và cao cấp. Điều
này xảy ra thông qua việc có được đất và giấy phép xây dựng trong các vùng không
được quy hoạch cho phát triển hoặc trong các vùng đã được quy hoạch, nhưng
thường phát triển không đáp ứng các yêu cầu (UN-HABITAT 2009a). Cần nhận xét
rằng cũng có những vùng “chính thức” không đủ truy cập các dịch vụ cơ bản, cơ sở
hạ tầng và một tôn trọng những kiểu này sẽ được xem xét kỹ lưỡng trong các
nghiên cứu tình huống trong chương sau.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
32
2 4 Đủ chỗ đủ khu đô thị
UN-HABITAT (2009b) cảnh báo trừ khi các biện pháp thiết thưc được sử dụng
để cung cấp các tùy chọn nhà ở đủ khả năng thanh toán và đất đai hợp pháp và an
ninh, số lượng các nhà ổ chuột sẽ tăng tới 2 tỷ vào năm 2020. Để đề cập tới điều
này và những vấn đề đô thị khác UN-HABITAT đã xác định sứ mệnh của nó theo
cách sau đây: “… xúc tiến các thị trấn và các thành phố bền vững về xã hội và môi
trường với mục tiêu cung cấp đủ chỗ ở cho tất cả mọi người”. Tiếp theo, nó làm rõ
nghĩa của từ ‘có đủ chỗ ở’ không phải chỉ là một mái nhà trên đầu của một cá nhân,
mà “nó có nghĩa là đủ sự cách biệt riêng tư cá nhân, đủ không gian, khả năng truy
cập vật lý, đủ an ninh, an toàn thuê mướn, ổn định và lâu bền về xây dựng, đủ ánh
sáng, đồ sưởi và thông gió, đủ cơ sở hạ tầng cơ bản, như cung cấp nước, vệ sinh và
các trang thiết bị quản lý chất thải, chất lượng môi trường bền vững và các nhân tố
liên quan tới sức khỏe và các vị trí đủ và có thể truy cập đối với công ăn việc làm và
các trang thiết bị cơ bản”. Một khía cạnh khác, tổ chức này đã nhấn mạnh là những
thứ ‘đủ’ này cần là sẵn có với các chi phí có thể và được xác định cùng với nhân
dân quan tâm tới xem xét triển vọng cho phát triển dần dần. Các đặc tính của chỗ ở
đầy đủ được xúc tiến bởi UN-HABITAT là thích hợp cho mục đích của nghiên cứu
này, khi tính tới các mục tiêu của ULDM và trong mối quan hệ với khu đô thị. Tuy
nhiên, những ‘đầy đủ’ này cần được nghiên cứu tỉ mỉ sao cho nó sẽ là hữu ích ở
mức khu đô thị và cho mục đích của nghiên cứu này. Điều này sẽ được thảo luận
sau trong chương sau.
2.5 hận xét về ULDM
Các nghiên cứu đô thị là đa ngành và điều này quan tâm tới tất cả các khía cạnh
của xã hội và thành phố, tức là các khía cạnh xã hội, kinh tế, môi trường, vật lý và
chính trị. Khi xem xét bản chất của ULDM, và sau khi nhìn vào các viễn cảnh lý
thuyết và các nghiên cứu đặc biệt có liên quan, nghiên cứu sẽ sử dụng hình thái đô
thị và nguyên tắc ‘đủ chỗ ở’ để nghiên cứu ‘khu đô thị’ ở các vùng đô thị.
2.6 Phát t iển đất đai
Trong phần phát triển đất đai này, các môi trường trong nghiên cứu đô thị, các
mô hình phát triển đất đai, là các mô hình đã được khám phá một cách rộng rãi để
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
33
so sánh với ULDM sau này, và liên kết giữa phát triển đất đai và quản lý hành chính
đất đai, được nghiên cứu. Một định nghĩa trước đây về phát triển đất đai đã nói rằng
phát triển đất đai là một hoạt động theo đó cơ sở hạ tầng và các dịch vụ được thiết
lập và đất đai được chuẩn bị sẵn sàng cho phát triển, tức là cho xây dựng các tòa
nhà (Abrams 1971). Phát triển đất đai là một quá trình thông qua đó xây dựng đô thị
mới, vì dụ các khu đô thị dân cư, các quận thương mại và các tổ hợp công nghiệp và
các cơ sở hạ tầng hiện vật mới, ví dụ như các tuyến đường điện, đường giao thông
và hệ thống cống rãnh, được thiết lập bằng cách áp dụng sử dụng đất đai hoặc các
kế hoạch phát triển. Cũng vậy, quá trình này có thể được xác định như quản lý thay
đổi trong sử dụng đất đai đô thị và nông thôn hiện có bởi các cơ chế điều chỉnh như
quy hoạch hoặc giấy phép sử dụng đất. Đó là một hoạt động đa ngành và được dựa
trên phạm vi và bản chất của phát triển, quá trình này bao gồm các hoạt động như
chiếm hữu đất đai, phân chia, đánh giá về mặt pháp luật và chấp thuận quy hoạch,
thiết kế dự án, công trình xây dựng, phân phối các động cơ phát triển và chi phí. Nó
liên quan tới các tác nhân như các chủ sở hữu đất, các nhà phát triển và các nhà đầu
cơ, các nhà kiến trúc sư, các cơ quan tiếp thị, các tổ chức công cộng, các nhà thầu
xây dựng, các bên thứ ba và các thể chế tài chính. Một định nghĩa khác về phát triển
đất đai là nó được coi là quá trình biến đổi đất chưa được phát triển thành đất đã
được phát triển và trong quá trình giá trị của đất bị tác động tức là giá trị thường
tăng lên như được chỉ ra trên Hình 2.2.
Hình trên cho thấy quá trình phát triển có bốn giai đoạn cho tình trạng đất, cụ thể
là nông thôn, đô thị, đô thị được dịch vụ và đô thị phát triển. Giá đất và tình trạng
vật lý của nó bị tác động bởi các quyết định và các hành động như khởi xướng kế
hoạch phát triển, phê chuẩn kế hoạch, và xây dựng cơ sở hạ tầng và các tòa nhà. Ở
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
34
đây một điều quan trọng là nhận xét sự gia tăng trong giá trị đất đai từ giai đoạn 1
tới 2 là kết quả của quyết định chuyển đất nông thôn thành đất đô thị, tức là kết quả
của phát triển xã hội, nhưng không là kết quả của bất kỳ phát triển vật lý nào
(Williamson, Enemark et. a. 2010). Healey đã đưa ra định nghĩa sau cho quá trình
phát triển Healey (1992) là “biến đổi dạng vật lý, gói các quyền: vật liệu, giá trị
tượng trưng của đất và các tòa nhà từ một trạng thái này tới một trạng thái khác,
thông qua nỗ lực của các người đại diện quan tâm và có mục đích trong việc có
được và sử dụng nguồn lực, các quy tắc vận hành và áp dụng và phát triển các ý
tưởng và giá trị”. Định nghĩa này khá là chi tiết và hẹp cho nghiên cứu phát triển đất
đai và bất động sản. Trước khi bắt đầu khám phá các mô hình phát triển đất đai và
bất động sản, cần thiết phải nhắc lại một cách tóm lược các mô hình liên quan tới đô
thị được nghiên cứu trong Địa lý Đô thị của Pacione.
* Sử dụng đất đô thị đối chọi với các mô hình phát triển đất đai và bất động sản
Để hiểu rõ các mô hình mà chúng ta đang quan tâm, cần phải thảo luận vắn tắt về
các mô hình phát triển đô thị. Phê phán chính đối với Pacione là ông đã giới thiệu
tăng trưởng đô thị hoặc các mô hình của thành phố hoặc các mô hình của sử dụng
đất đô thị cùng chỗ với mô hình lưu thông vốn. Các mô hình trước, được nói tới như
là các mô hình sử dụng đất đô thị, trước tiên quan tâm tới tăng trưởng dân số và
phạm vi không gian của thành phố. Chúng làm việc với những vấn đề như các mẫu
hình tăng trưởng thành phố giống như đường vành đai và chu trình đất đai, độ tập
trung và tăng trưởng hướng ngoại, tăng trưởng hướng ngoại theo ngành từ trung
tâm, tăng trưởng đa trung tâm chứ không phải xung quanh một trung tâm, và
...v..v... Những vấn đề này định hình lên chủ đề cổ điển đối với các mô hình sử
dụng đất đô thị và các mô hình khác được xây dựng lên trên những mô hình này để
cải thiện và mở rộng các mô hình trước. Những mô hình này là ví dụ về mô hình
vùng trung tâm Burgess của sử dụng đất đô thị, mô hình ngành của Hoyt về sử dụng
đất đô thị. Mô hình Harris và Ullman đa trung tâm về sử dụng đất đô thị. Các mô
hình khác được xây dựng trên các mô hình ở trên là mô hình của Mann về thành
phố Liên hợp Anh cỡ trung điển hình, mô hình Burgess được sửa đổi của Kearley,
mô hình các vương quốc đô thị của Vance v.v.. Mô hình sau, mô hình của Harvey
về lưu thông vốn tập trung vào chỗ của thành phố, hoặc vị trí của đô thị, và tìm
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
35
kiếm nó như chế độ sản xuất tư bản (Pacione 2005, tr. 139-153). Ở đây mô hình này
sẽ không được thảo luận vì nó sẽ được giải thích phần sau . Tuy nhiên, người ta
quan sát thấy có một phân biệt rõ ràng trong phạm vi, bản chất của hai kiểu mô hình
và cho mục đích của luận văn nàycác kiểu mô hình sau là quan trọng, nhưng các mô
hình kiểu trước thì không. Một quan sát khác là một số mô hình có đặc tính tổng
quát do vây, khi được nghiên cứu từ một góc nhìn này hay góc nhìn khác, phạm vi
và bản chất của nó có thể thích hợp để giải thích các hiện tượng khác nhau tại quy
mô khác, như trong trường hợp này mô hình lưu thông vốn thể hiện.
Có thể thấy cả hiện tượng phát triển đô thị lẫn đất đai là những quá trình liên
quan tới các sự kiện, các hoạt động, các tác nhân và các quan hệ phức tạp khác
nhau. Các mô hình thường được tạo ra khác nhau, ít nhất, để giải thích và mô tả, do
vậy để hiểu các quá trình và bản chất của phát triển và các nguyên nhân của nó.
Mục tiếp theo sẽ nghiên cứu về các mô hình phát triển đất và bất động sản hiện
đang tồn tại.
2.7 Các mô h nh phát t iển đất và bất động ản
Các quá trình phát triển và phát triển đất đai, xem Hình 2.1 và 2.2, và các mô
hình khác trong nghiên cứu đô thị được thảo luận trước đây trong phần này cung
cấp một hiểu biết sâu sắc về hiện tượng phát triển và các mô hình trong hoàn cảnh
đô thị. Mục này làm việc với các mô hình các đại diện của thực tế, tức là các mô
hình phát triển đất đai và bất động sản. Trong tài liệu tham khảo về phát triển đất và
bất động sản các thuật ngữ phát triển, phát triển đất đai hoặc phát triển bất động sản
được sử dụng một cách thay thế lẫn cho nhau (Healey và Barrett 1990; Gore và
Nicholson 1991; Guy và Henneberry 2000; Williamson, Enermark et al 2010), và cả
nghiên cứu này, trừ phi nó chỉ rõ một trường hợp đặc biệt. Để khám phá ra các mô
hình phát triển đất đai sẵn có các nghiên cứu tổng quan đã được sử dụng để để hiểu
thấu phạm vi và các khái niệm then chốt về mẫu hình phát triển đất đai. Hai nghiên
cứu, Gore và Nicholson (1991) và Healey (1991) và một mô hình từ Harvey (1985)
được nghiên cứu như các điểm khởi đầu để khám phá ra các mô hình khác. Sau đó
một số mô hình khác sẽ được nghiên cứu một cách vắn tắt, dựa vào các thể chế mô
hình hóa được nghiên cứu đã được nhắc tới ở trên. Tất cả các nghiên cứu tổng quan
chỉ ra các mô hình khác nhau và đặt chúng vào bốn nhóm phụ thuộc vào các tính
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
36
tương tự trong tiếp cận của chúng tới các quá trình phát triển. Viêc nhóm và mô tả
chúng được chỉ ra trên Bảng 2.3.
Có thể quan sát thấy là các định nghĩa được cho bởi hai nghiên cứu tổng quan về
các mô hình chuỗi hoặc mô tả, các mô hình hành vi hoặc làm quyết định và mô hình
cơ quan, cấu trúc của cung cấp và các mô hình cấu trúc là có thể so sánh một cách
hợp lý, và có thể được nói tới, trong một hoàn cảnh rộng rãi hơn, xấp xỉ như cùng
các nhóm. Như đối với các mô hình dựa vào sản xuất và cân bằng, như được định
nghĩa bởi các tác giả, các tiếp cận mô hình hóa và nhóm như được chỉ ra bởi hai
nghiên cứu tổng quan này sẽ được nghiên cứu và thảo luận trong các đoạn sau.
Các nhóm tiếp cận mô h nh hóa
Gore&Nicholson (1991) Healey (1991)
Các mô h nh chuỗi hoặc mô tả mô Các mô h nh chuỗi- ự ki n tập
tả quá trình phát triển như một chuỗi trung vào quản lý các giai đoạn trong
theo thứ tự thời gian của các giai đoạn, quá trình phát triển. Chúng được rút ra
tại mỗi một giai đoạn có các sự kiện cụ trước hết từ ngành quản lý bất động
thể sản với việc quản lý quá trình phát
triển
Các mô h nh cơ quan tập trung vào Các mô h nh hành vi hoặc làm-
qu ết định nhấn mạnh vào các vai trò các tác nhân trong quá trình phát triển
của các tác nhân khác nhau trong quá và các mối quan hệ của chúng. Những
trình và tầm quan trọng của các quyết mô hình này đã được phát triển trước
định mà họ làm trong việc bảo đảm hết là bởi các nhà nghiên cứu tìm cách
vận hành trơn chu công việc. mặc dù mô tả quá trình phát triển từ quan điểm
họ thường giữa lại một định dạng hành vi hoặc thể chế.
chuỗi, các sự kiện nói chung được
trình bày như là thứ cấp cho các quyết
định
Các mô h nh dựa-vào ản xuất mô Các mô h nh cân bằng giả thiết
tả quá trình phát triển như một dạng hoạt động phát triển được cấu trúc bởi
chuyên môn hóa của hoạt động kinh tế các tín hiệu kinh tế về cầu hiệu quả,
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
37
sản xuất, và có xu hướng nghiên cứu như được phản ánh trong tô kinh tế,
nó từ viễn cảnh của nền kinh tế như năng suất, …. Chúng được rút ra trực
một tổng thể _ tức là, chúng có xu tiếp từ truyền thống kinh tế tân-cổ điển
hướng là của các mô hình kinh tế vĩ trong kinh tế học.
mô.
Các mô h nh cơ cấu tập trung vào Các mô h nh cơ cấu hoặc cung
cấp tranh luận rằng các kiểu phát triển các lực tổ chức lên các mối quan hệ
khác nhau được đặc trưng bởi các của quá trình phát triển và tạo động lực
khung thể chế, tài chính, và pháp lý cho chúng. Những mô hình này được
khác nhau, và theo nghĩa đen nghiên đặt nền móng trong nền kinh tế chính
cứu cho mô hình có thể áp dụng chung trị đô thị.
của quá trình phát triển là không hiệu
quả. Thay vào đó mỗi kiểu phát triển
được nhìn nhận là có “cấu trúc cung
cấp” riêng của mình, mà các đặc điểm
của nó có thể được xây dựng vào mô
hình riêng. Điều này hàm ý rằng cuối
cùng sẽ chỉ có một mô hình của quá
trình phát triển, nhung có một tập đầy
đủ các mô hình cá biệt.
Bảng 2.3 Các nhóm mô hình phát triển đất đai và các mô tả của chúng bởi
Gore&Nicholson (1991) và Healey (1991)
2.7.1. Các mô h nh chuỗi hoặc mô tả và chuỗi ự ki n
Các mô hình chuỗi hoặc mô tả và chuỗi sự kiện, sau đây sẽ được gọi là các mô
hình “chuỗi”, có thể mô tả càng đơn giản càng tốt bốn giai đoạn của phát triển, là
tính toán, chuẩn bị, ứng dụng và đề xuất. Kiểu phổ thông của một mô hình như vậy
là biểu đồ luồng, nó có thể chỉ ra các quá trình chung, hoặc đặc biệt, của phát triển,
trong khi chuỗi tuyến tính các sự kiện và quyết định được mô tả. Quá trình phát
triển không luôn là chuỗi các sự kiện đơn giản, thậm chí không nhất thiết là chuỗi
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
38
có trật tự chặt chẽ. Các biểu đồ luồng đã giới hạn các khả năng để chỉ ra khía cạnh
động, tức là bản chất chu trình của phát triển, tách biệt phát triển khỏi những thứ
còn lại của môi trường xây dựng và tác nhân bên ngoài khác, như chính sách, cung
cấp tài chính và thay đổi nhân khẩu (Gore và Nicholson, 1991). Mặc dù, các mô
hình chuỗi cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc cho các hoạt động được thực hiện
khắp cả quá trình phát triển, chúng không đưa ra định dạng của các tác nhân và các
mối quan tâm do vậy ít giúp cho việc giải thích tại sao quá trình phát triển được
hình thành theo một cách thức cụ thể trong những tình huống cụ thể (Healey 1991).
Bản chất phức tạp của quá trình phát triển và việc mô hình hóa nó có thể được hiểu
theo cách chúng được nhóm lại bởi hai nghiên cứu tổng quan này như thế nào.
Healey (1991) đã sử dụng các mô hình Goodchild và Munton, là “một mô hình mô
tả của quá trình phát triển đất đai” để giải thích các mô hình kiểu chuỗi, trong khi
Gore và Nicholson (1991) đã sử dụng cùng một mô hình này để mô tả các mô hình
hành vi hoặc làm quyết định. Cả hai giải thích từ quan điểm của chúng đều đúng, vì
cả hai mô hình đều mô tả các chuỗi, giống như Healey (1991) trích dẫn Goodchild
và Munton:
Quá trình phát triển bắt đầu khi một mảnh đất được coi là thích hợp cho sử dụng
khác hoặc thâm canh hơn, được hoàn thiện khi các thay đổi cần thiết được tiến hành
và đất được tái chiếm hữu …
1) “Sự chín muồi của các tình huống” là điều làm cho một thay đổi có
thể xảy ra trong sử dụng đất, ví dụ xây dựng một con đường mới hoặc
lựa chọn một khu định cư hoặc mở rộng.
2) Mua một khoảnh đất bởi một cá nhân được chuẩn bị để phát triển nó
3) Việc chiếm dụng nó hoặc bởi nhà phát triển, một chủ sở hữu mới hoặc
một người thuê đất
Và các hành vi hoặc các quyết định như Gore và Nicholson phát biểu rằng
Goodchild và Munton đã đưa mô hình của họ lên “hai điểm quyết định then chốt, cụ
thể là:
1) Nhận biết đất đai như là thích hợp cho phát triển
2) Khởi xướng xây dựng công trình trên khu đất đó”.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
39
Đối với sự rõ nghĩa và hiểu biết tốt hơn, và biểu diễn mục đích qua các mô hình
khác nhau. Ví dụ về mô hình chuỗi hoặc mô hình mô tả, là mô hình “mô tả của quá
trình phát triển đất đai” được xây dựng bởi Goodchild và Munton, được nhóm lại
dưới tiếp cận chuỗi bởi Gore và Nicholson (1991) và trong tiếp cận cơ quan bởi
Healay (1991). Tiếp theo các mô hình hành vi và làm quyết định và cơ quan được
thảo luận.
2.7. 2 Các mô h nh hành vi hoặc làm qu ết định và cơ quan
Các mô hình hành vi hoặc làm quyết định và cơ quan tiếp theo sẽ được coi là các
mô hình cơ quan. Những mô hình này là các mô hình nơi mà các tác nhân, vai trò
của họ, các quyết định, các quan hệ và các lợi ích là những điểm trung tâm. Tiếp
cận của các mô hình kiểu này có thể được phân chia thành hai phân loại, một phân
loại là tiếp cận cá nhân, là tiếp cận tìm kiếm các tác nhân như các tác nhân độc lập
không có các tương quan với các tác nhân khác trong quá trình, tiếp cận kia là
tương tác, tức là, các tương tác và các quan hệ giữa các tác nhân được mô hình hóa.
Việc xem xét nhanh chóng và có chất lượng về tính cá nhân có thể được thấy từ
Bryant và quá trình bảo tồn đất của những người khác,nói về chuyển đổi từ đất đai
nông thôn sang đô thị và cho thấy những giai đoạn khác nhau với các tác nhân tham
gia. Một ví dụ của mô hình tương tác là mô hình từ Drewett được trình bày trong
dạng đồ thị và bảng gắn kèm với nó, nơi mà nó đưa ra thông tin nhiều hơn về các
giai đoạn của phát triển, mô tả của các sự kiện, các quyết định có liên quan, các tác
nhân và nguồn có thể của việc cung cấp tài chính. Trong mô hình này người phát
triển được nhìn nhận như đối thủ chính (Gore và Nicholson 1991). Theo Healey
(Healey 1991), nhà phân tích đã cố gắng phát triển các mô hình cơ quan theo ba
cách, cách thứ nhất liên quan tới các tác nhân then chốt, nhà phát triển, chủ sở hữu
đất và nhà kế hoạch, các vai trò, tới hai sự kiện then chốt, nhận biết và khởi xướng .
Cách thứ hai nhấn mạnh độ đa dạng của các quan hệ tác nhân-sự kiện. Nó làm hài
hòa các sự kiện song hành và tính động học của quá trình. (như được thông báo
trong đoạn trước tiếp cận này được coi là mô hình chuỗi bởi Gore và Nicholson
(1991). Tiếp cận cuối cùng là tiếp cận được xây dựng trên các lợi ích của các đại
diện, các lợi ích này được liên kết tới các quan hệ xã hội của các tác nhân bên trong
chế độ sản xuất và hệ thống xã hội chính trị. Ở đây, sự phát triển được nhìn nhận
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
40
như quá trình sản xuất, trong đó các tác nhân hành động dựa trên các lợi ích của họ.
Ví dụ của mô hình cơ quan dựa trên lợi ích của các tác nhân. Thực chất của các mô
hình cơ quan là khá đa nguyên và chúng chỉ đưa ra các phương pháp để mô tả các
quan hệ phức tạp của quá trình phát triển, và do vậy thiếu đi các viễn cảnh động học
thúc đẩy phát triển (Healey 1991). Phần lớn sự chú ý được đưa cho các tác nhân,
các quyết định của họ, các vai trò và mối quan hệ, làm yếu đi tầm quan trọng của
các lực hoặc các nhân tố khởi xướng và thúc đẩy các quyết định và các hành vi
(Gore và Nicholson 1991). Đoạn sau đây sẽ nghiên cứu cấu trúc của cung cấp và
các mô hình cấu trúc được coi là cung cấp các hiểu biết sâu sắc hơn so với các mô
hình trước đó, vào quá trình phát triển.
2.7. 3 Các mô h nh cấu t úc.
Sản xuất và tiêu dùng, đó là cung cấp của môi trường xây dựng không chỉ là một
quá trình vật lý, mà còn là một quá trình xã hội kinh tế, do vậy các mô hình cấu trúc
cố gắng hòa hợp các cấu trúc thể chế và các cấu trúc khác và các đại diện xã hội
đang nằm bên trong các cấu trúc. Các đề nghị cho các mô hình này là :
1) Các quan hệ xã hội, khung luật pháp và các thỏa thuận tài chính,
2) Các đại diện xã hội được xác định bởi mối quan hệ kinh tế với cung cấp,
3) Các kiểu cung cấp tòa nhà khác nhau có các tổ hợp khác nhau của các phần tử
và các quan hệ riêng của chúng,
4) Nội dung của các cấu trúc cung cấp có thể được nhận biết chỉ bởi nghiên cứu thế
giới thực với sự chú ý tập trung vào các đại diện xã hội và các quan hệ của họ,
5) Cấu trúc cung cấp là tác động do những thay đổi trong quan hệ xã hội. Những
mô hình này có thể được sửa đổi, phù hợp theo các đề nghị nói trên,
Để phân tích các kiểu cung cấp khác, ví dụ như các tòa nhà công nghiệp, bằng
cách sửa đổi các phần tử như các quan hệ, các đại diện và các lợi ích (Gore và
Nicholson 1991). Các mô hình cấu trúc chủ yếu được rút ra từ nguồn Marxist và
chúng quan tâm tới “phân tích các quá trình sản xuất của môi trường xây dựng”.
Các mô hình cấu trúc đặt những quá trình sản xuất này vào mô hình tổng quát của
một nền kinh tế tư bản. Một mô hình là sự hỗn hợp nào đó của các mô hình cơ quan
và cấu trúc. Nó liên kết nhà nước, các ngành xây dựng, tài chính, mô tả các quan hệ
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
41
và một số nhân tố. Một số mô hình cấu trúc được dựa trực tiếp lên kinh tế học
Marxist, ví dụ mô hình từ Boddy, là mô hình được xây dựng trên sự quay vòng vốn
công nghiệp, thương mại và lợi ích (mô hình này được coi là liên quan tất cả ba
dạng này của vốn,nhận biết mô hình “mô hình xây dựng trong cấu trúc của các quan
hệ giữa vòng quay nguyên thủy, thứ cấp, và cấp ba của vốn” bởi Harvey như đóng
góp của ý nghĩa nhất cho phân tích và hiểu biết sản xuất bất động sản trong nền
kinh tế tư bản. Dựa trên quay vòng vốn Harvey (1985) đã phát triển mô hình đặt sản
xuất của môi trường xây dựng, trong hoàn cảnh của ba vòng quay i) vòng quay
nguyên thủy hoặc sản xuất, nơi mà các hàng hóa được sản xuất tiêu dùng, và giá trị
thặng dư từ vòng quay này sau đó được đầu tư vào hai lĩnh vực khác nhau, lĩnh vực
thứ nhất là vốn cố định, giống như máy móc, các tòa nhà … được sử dụng cho sản
xuất, và lĩnh vực thứ hai là quỹ tiêu dùng, tức là hàng hóa người tiêu dùng và những
ngôi nhà để ở …. Giá trị thặng dư này hoặc đầu tư được dẫn theo kênh qua thị
trường vốn được tạo điều kiện thuận lợi bởi các trung gian tài chính và nhà nước tới
vòng quay thứ cấp, ii) vòng quay thứ cấp là vũ đài đầu tư của vốn cố định ,quỹ tiêu
dùng và nó tạo ra một sự thiết lập làm thay đổi môi trường tự nhiên và xây dựng nơi
mà các hoạt động kinh tế xã hội xảy ra, iii) vòng quay thứ ba rơi vào bầu khí quyển
của các công việc công cộng, nơi mà các loại thuế từ các vòng quay nguyên thủy và
thứ cấp được đầu tư vào các phát triển công nghệ ,khoa học và phúc lợi xã hội.
Quan trọng là, mô hình chỉ ra mối quan hệ phức tạp giữa vốn sản xuất, là đất đai và
bất động sản cho sử dụng, thị trường vốn (đất đai và bất động sản cho đầu tư) và
nhà nước với vai trò của nó cho phát triển kinh tế xã hội và công nghệ khoa học. Cả
hai nghiên cứu tổng quan đều nhìn mô hình Harvey là rất quan trọng, nhưng khá
rộng và tất cả đều chặt chẽ do vậy thiếu đi các đặc tính cho các ứng dụng thực
nghiệm (Gore và Nicholson 1991; Healey 1991). Bây giờ các tiếp cận còn lại, đầu
tiền là dựa vào sản xuất từ Gore và Nicholson và cuối cùng là mô hình từ Healey sẽ
được thảo luận.
2.7. 4 Các mô h nh ựa vào ản xuất
Gore và Nicholson (1991) lý luận là các mô hình dựa trên sản xuất được xây
dựng, hầu như hoàn toàn, trên nền tảng cơ sở của Marxist về sản xuất trong chủ
nghĩa tư bản, như Healey đã làm (1991). Vì các chi tiết của hai mô hình này đã
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
42
được thảo luận trong đoạn trước, chúng sẽ không thảo luận ở đây nữa. Tuy nhiên,
cần lưu ý là hai nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra những mô hình này như đại diện cho
các tiếp cận khác nhau. Healey đã phân loại chúng như các mô hình cấu trúc và
Gore và Nicholson như dựa vào sản xuất. Một lần nữa, thực tế không thể nói ai
đúng ai sai. Điều này là do sự kiện là những mô hình này có thể được nói như dựa
vào sản xuất, vì phân tích nhấn mạnh vào sản xuất của môi trường xây dựng được
thực hiện như thế nào, nhưng chúng cũng có thể được nhóm vào các mô hình cấu
trúc, vì chúng quan tâm tới các thể chế liên quan tới giống như các các công việc
công cộng, thị trường tài chính … và mối quan hệ của chúng và đặt chúng vào một
viễn cảnh rộng hơn của phát triển xã hội. Và cả hai tập các phần tử này có thể được
quan sát từ lý thuyết nằm bên dưới của vòng quay vốn. Cả hai tác giả nhìn vào các
mô hình này từ viễn cảnh của họ. Đối với mục đích của luận văn nàychúng có thể
được nhìn nhận như các mô hình kinh tế xã hội và được xem xét từ viễn cảnh của
ULDM đã được đề xuất.
2.7. 5 Các mô h nh cân bằng
Healey giải thích (1991) rằng những mô hình này được dựa trên cung cầu và giả
thiết là nhân tố thúc đẩy cho phát triển là cầu đối với đất đai. Các mô hình cân bằng
nhìn các hoạt động phát triển như các quá trình của cung và cầu thị trường. Tuy
nhiên, chúng không đề cập một cách đúng đắn các dạng khác nhau của cầu như lợi
ích phi kinh tế của người sử dụng hoặc nhà đầu tư như các cấp chính quyền quan
tâm tới các vấn đề xã hội và môi trường. Chúng cũng không xem xét bản chất phức
tạp của quá trình phát triển, vì những mô hình này không xem xét các tập sự kiện
khác nhau, giai đoạn thời gian có ý nghĩa được chi ra cho thực hiện phát triển, và tất
cả các tác nhân khác nhau. Những mô hình này là thích hợp hơn cho phân tích các
kiểu dự án phát triển chuẩn trong các điều kiện tương đối ổn định với thị trường bất
động sản tích cực, là những thị trường không bị thống trị bởi một số ít các tác nhân
lớn. Bất kỳ mô tả minh họa nào hoặc công thức nào cho tiếp cận này đã không được
đưa vào nghiên cứu của bà ta.
Cuối cùng cả hai tác giả kết luận rằng không có mô hình phát triển tổng quát và
luôn đúng, là mô hình có thể hòa hợp những phức tạp của quá trình. Gore và
Nicholson (1991) coi là các mô hình được trình bày đã đủ tốt trong mục đích của
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
43
chúng sao cho chúng cung cấp khái niệm giới thiệu tốt cho các quá trình phức tạp
của phát triển, nhưng không có cách nào có khả năng cung cấp kiến thức một cách
sâu sắc, vì chúng không đề cập một cách thích hợp tất cả các khía cạnh cần thiết của
các viễn cảnh kinh tế xã hội và pháp lý, các tác nhân và các mối quan hệ qua lại của
chúng, các động lực và v.v.. Nói một cách đơn giản, tính quen thuộc với một chuỗi
các mô tả sơ đồ hoặc các mô hình cách điệu là không đủ tốt, do vậy, để hiểu một
cách đầy đủ quá trình, cần thiết phải xây dựng “khảo sát chi tiết của các tổ chức,
vận hành, các cơ chế tài chính, nhân sự, và phần cứng có liên quan, của khung vận
hành trong đó chúng làm việc, và các cách thức theo đó tất cả những điều này thích
hợp tại cùng một chỗ”. Họ phát biểu rằng tiếp cận các mô hình cấu trúc, là tiếp cận
thích hợp nhất để tổ chức một khảo sát như vậy. Khảo sát này là một nhiệm vụ lớn,
do vậy nó sẽ đòi hỏi một chương trình nghiên cứu trong đó các nhà khảo sát sẽ làm
việc bên trong khung mô hình cấu trúc và sử dụng các kết quả cho hiểu biết hoàn
chỉnh hơn sự phát triển. Trong kết luận của bà, Healey (Healey 1991) đặt tất cả các
tiếp cận trong hoàn cảnh của kinh tế học và khẳng định rằng các mô hình được
giảng dạy dựa trên nền tảng lý thuyết hoc của Marxist, hoặc tân cổ điển, và rằng
hai trường phái này có xu hướng kết thúc bằng việc thảo luận những vấn đề tương
tự nhau..Sau đó bà tuyên bố là mô hình cấu trúc với viễn cảnh thể chế cải tiến, được
dựa bởi Marxist của nó và nền tảng kinh tế chính trị có liên quan, là thích hợp nhất
để cố gắng phát triển một mô hình mô tả cho phân tích các vấn đề phức tạp của
hiện tượng phát triển. Tiếp theo, một mô hình thể chế được đề xuất bởi Healey và
một số vấn đề khác về phát triển đất đai sẽ được nghiên cứu tóm tắt trong mục tiếp
theo
2.7. 6 Tài li u bổ ung về các mô h nh phát t iển đất đai
Sau khi đã làm quen với khung của các mô hình phát triển và các tiếp cận khác
nhau từ các nghiên cứu tổng quan ở trên, chúng ta thấy cần thiết phải có thêm thông
tin viễn cảnh về phát triển đất đai và các mô hình của nó, tìm hiểu liên kết có thể
giữa quản lý hành chính đất đai và phát triển đất đai. Do vậy một số vấn đề về phát
triển đất đai, chủ yếu với sự tập trung vào khung nghiên cứu của nó, được xem xét,
trong khi nghiên cứu hỗ trợ có thể của chúng cho nghiên cứu này.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
44
Healey (1991) đã nghiên cứu các mô hình của quá trình phát triển, xem các mục
2.7 và đã đề xuất một mô hình thể chế mô tả của quá trình phát triển, với mục đích
cố gắng đưa ra mô hình có khả năng chỉ ra các chi tiết của các sự kiện và các đại
diện có liên quan tới quá trình các dạng khác nhau của các quá trình như các kết quả
của các tình huống khác nhau, và trong khi đó có khả năng liên kết các quá trình
bên trong khung của các lực kinh tế xã hội và chính trị rộng lớn hơn. Mô hình là
một mô hình nhiều mặt nghiên cứu bốn mức i) mô tả các sự kiện quá trình phát triển
và các tác nhân thực hiện các quá trình này, ii) chỉ ra các vai trò của các tác nhân và
các quan hệ quyền lực giữa chúng, iii) một đánh giá về các chiến lược và các lợi ích
hình thành lên các vai trò này, cách thức mà những vai trò này được hình thành bởi
các nguồn lực, các quy tắc và các ý tưởng, iv) quan hệ giữa các nguồn lực, quy tắc
ý tưởng này và xã hội rộng lớn hơn. Bà tuyên bốn rằng mô hình thực hiện tập các
mục tiêu của nó, tuy nhiên nghiên cứu là rất cần thiết khi thực hiện khảo sát qua
mức 1 tới 3. Thậm chí mặc dù các cuộc khảo sát hoặc thu thập số liệu từ những mức
này là rất cần thiết, đồng thời, chúng có tầm quan trọng vô giá, vì chúng cung cấp
các số liệu chi tiết và tối quan trọng cho nghiên cứu để hiểu về các dạng khác nhau
của phát triển và ngăn chặn các bức tranh quá đơn giản của các hoạt động phát triển.
Một tuyên bố khác được thực hiện bởi bà là mô hình bổ sung giá trị cho cả thực
hành và lý thuyết. Mức chi tiết của khảo sát cung cấp điều tốt trong suy nghĩ sâu sắc
về các sự kiện và các tác nhân cho các nhà nghiên cứu, là những người thường
xuyên thiếu thốn hiểu biết chi tiết, và khung toàn cục bên trong hoàn cảnh kinh tế
xã hội và chính trị rộng lớn hơn mang lại cho các quan chức địa phương và các nhà
chuyên nghiệp các khả năng đặt và hiểu các khía cạnh các lực rộng lớn hơn của phát
triển (Healey 1992), Mô hình này đặt sự nhấn mạnh lên các sự kiện, các tác nhân,
các quan hệ và môi trường của chúng, hoàn cảnh kinh tế xã hội và chính trị, trong
đó quá trình xảy ra, và nó thống nhất các đặc điểm đặc trưng của tất cả các mô
hình, tức là các mô hình chuỗi, cơ quan, cấu trúc và kinh tế. Một khía cạnh khác,
của mô hình này, là điều thích hợp cho mô hình ULDM là các đầu ra và phần tử các
tác động. Các đầu ra và các tác động được quan tâm với các lợi nhuận thu được bởi
các công ty xây dựng và phát triển đất đai, và các nhà cung cấp nguyên liệu xây
dựng và các công việc được tao ra, … trong quá trình phát triển đất đai. Điều này là
thích hợp cho tác động bội của ULDM, và cho thấy rằng có thể tìm được các bằng
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
45
chứng lý thuyết và thực nghiệm nào đó của tác động này. Chắc chắn, vấn đề tác
động bội là đáng được khám phá tiếp. Tuy nhiên, nghiên cứu phải giới hạn phạm vi
của nó khi đã biết khung thời gian, do vậy điều này sẽ không được thực hiện tiếp
trong nghiên cứu này.
Guy và Henneberry (2000) thấy là các nghiên cứu của phát triển đất đai hoặc sản
xuất môi trường xây dựng đô thị đã được thực hiện thực sự từ viễn cảnh kinh tế học,
là điều có thể được phân chia thành hai nhóm rộng lớn, kinh tế học chính thống và
các tiếp cận Marxist. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi khi các học giả đã phê phán
các tiếp cận kinh tế vì đưa ra sự chú ý không thích hợp cho các cơ quan và các mối
quan hệ qua lại của chúng. Đã có lý luận rằng đối với nhu cầu phân tích quá trình
phát triển từ góc rộng hơn trong hoàn cảnh thể chế. Các tác giả nghiên cứu tổng
quan một cách có phê phán các khung nghiên cứu được đề xuất, chủ yếu là các
khung của Healey (Healey 1992) và Ball (Ball 1998), và đề nghị rằng phân tích
kinh tế và xã hội cần được áp dụng. Trong khi phân tích kinh tế cải thiện một cách
đáng kể sự hiểu biết về việc môi trường xây dựng được tạo ra như thế nào cung và
cầu tác động như thế nào tới các quá trình phát triển, phân tích xã hội làm giàu có
sự hiểu biết các hoàn cảnh xã hội, các cơ quan, các hành vi của chúng và các tương
quan qua lại và những điều này tác động như thế nào tới quá trình phát triển. Các
khía cạnh xã hội của các nghiên cứu cần đề cập bản chất thay đổi hoặc động học
của các quá trình và các tác nhân, các mối quan hệ qua lại của các tác nhân và các
nhóm, mức phân tích nếu nói về một cá nhân hoặc nhóm các cá nhân hoặc mức xã
hội rộng lớn hơn và các khía cạnh văn hoá của chúng.
Các tác giả tìn tưởng rằng các nghiên cứu của họ đã giúp họ “tái khái niệm hoá
phát triển bất động sản như một quá trình biến đổi không gian, thông qua tương tác
của mạng lưới tác nhân và các thực tế không giantức thì khác nhau của họ, là điều
không được đề cập ở đây. Tuy nhiên, khung được đề xuất nằm trong sự kiện, như
bản thân các tác giả đã thừa nhận, các nghiên cứu sâu hơn cho các khía cạnh kinh tế
và xã hội như được đề xuất bởi Guy và Henneberry (2000), trong khi tiến hành
nghiên cứu các mối quan tâm hiện hành của phát triển bền vững.
Samsura, van der Krabben et al. (2010) đã đề cập các quá trình phát triển đất đai
từ một tiếp cận lý thuyết trò chơi. Quá trình phát triển được nhìn nhận như tình
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
46
huống xã hội nơi mà các tương tác của tác nhân và các nhóm tác nhân của nó là một
trong những phần tử chính. Các chiến lược và các quyết định của các tác nhân, và
tác động của các quyết định lên mỗi tác nhân khác và các kết cục có được được
nghiên cứu. Các tác giả dựa khung lý thuyết của họ vào Ball (Ball 1998), là người
đã đề xuất tiếp cận lý thuyết trò chơi bên trong kinh tế học chính thống từ viễn cảnh
thể chế như một cách thức nghiên cứu quá trình phát triển. Lý thuyết trò chơi xuất
phát từ lý thuyết quyết định và đó là “một lý thuyết về việc làm quyết định phụ
thuộc lẫn nhau trong đó những người làm quyết định có liên quan có những ưa thích
xung đột và kết cục của các quyết định của họ không thể được xác định bởi chỉ một
bên hoặc tác nhân”. Tiếp cận này tự bản thân không phải là một khung mô hình
khái niệm, mà đó là kỹ thuật mô hình hoá hỗ trợ hợp lý hoá việc làm quyết định.
Mô hình đã được áp dụng cho trường hợp phát triển nhà ở xanh. Các bên hữu quan,
các chiến lược và các quyết định của họ, các ưa thích đã được mô hình hoá và mô
hình đã được sử dụng để tìm ra tình huống nơi mà tất cả các bên hữu quan được
thoả mãn, tức là tình huống cân bằng. Kỹ thuật mô hình hoá này đã được chứng tỏ
là một công cụ hỗ trợ quyết định tốt để hiểu tình huống lý tưởng nào có thể có khi
tất cả các bên hữu quan là hợp lý và có tất cả các thông tin cần thiết. Các tác giả tin
rằng mô hình là một tiếp cận nhiều hứa hẹn để đề cập tới tính phức tạp của quá trình
phát triển và các giả thiết được đưa ra trong mô hình có thể thích hợp về mặt thực
nghiệm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là mô hình là tổng quát hoá của thế
giới thực và nó không xem xét tính không thể dự báo kỳ quặc đặc biệt và các chi tiết
không thể được thấy trong các tác nhân.
Dựa trên các nghiên cứu được thảo luận trong mục này, có thể quan sát thấy là
tiêu điểm của các mô hình về phát triển đất đai đã dịch chuyển theo thời gian từ các
khía cạnh kinh tế về thực chất tới kinh tế xã hội và thể chế. Sau này, có một số nỗ
lực sử dụng tiếp cận lý thuyết trò chơi, là lý thuyết rơi vào bên trong tiếp cận kinh tế
thể chế (Ball 1998; Samsura, van der Krabben et al. 2010), để mô hình hoá quá trình
phát triển trong cân bằng, tức là khi tất cả các bên hữu quan được tốt hơn hẳn, để hỗ
trợ việc làm quyết định. Tiếp theo có thể quan sát thấy là phát triển đất đai tự bản
thân là môn học đa-ngành chủ yếu rơi vào kinh tế học bất động sản thực và các môn
học quy hoạch, nhưng bây giờ ngày càng tổng hợp thêm các nghiên cứu xã hội. Nói
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
47
chung, tức là không chính xác trong một chuỗi thời gian rất nghiêm ngặt, dòng chảy
theo thời gian của phát triển trong nghiên cứu phát triển đất đai cho thấy rằng mô
hình mô tả đơn giản dưới dạng sơ đồ hoạt động đã tiến hoá thành mô tả các sự kiện,
các quá trình và các bên hữu quan từ quan điểm kinh tế, và sau đó sự chú ý được
dịch chuyển tới các cấu trúc gắn chặt với các quá trình và các bên hữu quan, cuối
cùng được bổ sung với các nghiên cứu xã hội phức tạp hơn nhìn vào các hành vi,
việc làm quyết định và các tương quan quyền lực, cuối cùng để thêm vào các vấn đề
phức tạp hơn các học giả nhận thấy tầm quan trọng của các khía cạnh động học hay
thời gian. Điều này khớp rất nhiều với một trong những khái niệm cơ bản của
nghiên cứu đô thị , là điều nhấn mạnh rằng các nghiên cứu không cần chỉ nhìn vào
các đặc tính vật lý, mà còn cần vào các khía cạnh xã hội, tâm lý và thời gian của nó.
Cuối cùng có thể kết luận là không có một mô hình chung nào về phát triển đất đai
có thể được áp dụng cho tất cả các kiểu tình huống khác nhau trong việc tạo ra môi
trường xây dựng, bất kể các nỗ lực được thực hiện bởi các học giả, tuy nhiên các
mô hình có thể được sửa đổi và được áp dụng cho các trường hợp đặc biệt giống
như ULDM và đóng góp vào lời giải thích của nó. Điều này sẽ được thực hiện trong
phần sau.
2.8 Phát t iển đất đai và quản lý hành chính đất đai
Trong khi nghiên cứu tài liệu tham khảo về các mô hình phát triển đất đai không
có tài liệu nào thảo luận công khai mối quan hệ giữa phát triển đất đai và quản lý
hành chính đất đai hoặc các trường hợp tương tự với nghiên cứu này. Do vậy, một
số tài liệu nghiên cứu tham khảo thêm nữa cần được nghiên cứu tổng quan để thấy
mối quan hệ giữa phát triển đất đai và quản lý hành chính đất đai.
Đầu tiên một số tài liệu tham khảo quản lý hành chính đất đai được nghiên cứu
tổng quan. Dale và McLaughlin (2000, tr. 2-11) coi là cấu phần điều chỉnh của các
chức năng quản lý hành chính đất đai liên quan tới kiểm soát sử dụng đất và sự tuân
thủ của nó với các kế hoạch về phát triển đất đai và bất động sản. Họ cũng khẳng
định rằng các quyền sử dụng đất đai và bất động sản được bảo đảm và được ghi lại
một cách công khai là tối quan trọng cho sử dụng của họ như ký quỹ và chuyển
nhượng và các cải thiện cho đất đai. UNEEC (2005) định nghĩa quản lý hành chính
đất đai như các quá trình ghi lại và phổ biến thông tin về quyền sở hữu, giá trị và sử
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
48
dụng đất và các nguồn lực kèm theo của nó. Nói chung, quản lý hành chính đất đai
quan tâm tới phát triển đô thị chỉ khi nó quan tâm tới biên soạn và duy trì các hồ sơ
đất đai. Tuy nhiên, “một sự hiểu biết về các khía cạnh rộng rãi hơn của quản lý đất
đai và cải cách đất đai là thực chất cho quản lý hành chính đất đai đúng đắn, nhưng
không phải là bản chất của nó”. Từ tài liệu này có thể hiểu được là sự chiếm hữu an
toàn và đăng ký nó là trọng tâm hoặc điểm bắt đầu cho quản lý hành chính đất đai.
Theo nghĩa chiếm hữu an toàn phát triển đất đai, cho dù là quyền sở hữu nó hoặc
quyền thuê mướn, vận hành trong quản lý hành chính đất đai hiệu quả, sẽ bảo đảm
các quyền cho đất đai và phục vụ như lời chứng mình quỳên sở hữu, mở ra các khả
năng có thể cho sử dụng đất hoặc các quyền sở hữu như ký quỹ cho cung cấp tài
chính, hỗ trợ các giao dịch nhanh chóng, trơn chu và chi phí thấp, và hỗ trợ phát
triển quy hoạch đô thị với quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, thông tin giá trị trong
sự kết hợp với số liệu kinh tế-xã hội và môi trường. Williamson, Enemark (2010)
phát biểu rằng quản lý hành chính đất đai được liên quan trong phát triển đất đai
bằng việc kiểm soát các đề nghị phát triển và thay đổi sử dụng đất bên trong các
điều chỉnh quy hoạch và các luật sử dụng đất đai, kể cả xác định các biên bất động
sản cho chỗ phát triển. Thêm nữa, đoạn sau đây cung cấp một số hiểu biết sâu sắc
hơn ở những nơi có liên kết giữa quản lý hành chính đất đai và phát triển đất đai.
Buitelaar (2004) đã thực hiện các nghiên cứu về chi phí giao dịch xuất hiện trong
việc ứng dụng các dự án phát triển. Ông đã giới thiệu khung sắp đặt thể chế bằng
cách tập trung vào chế độ quyền sở hữu, là cái mà ông tuyên bố là rất quan trọng
cho quy hoạch và phát triển sử dụng đất đai. Ông giải thích chế độ quyền người sử
dụng, xem Hình 2.3 là một tập các quy tắc chính thức xác định và điều chỉnh quyền
cho sử dụng đất. Nó bao gồm các quyền sở hữu, là cái có nghĩa là tạo điều kiện
thuận lợi cho giao dịch đất đai, và chế độ quy hoạch không gian, là điều cung cấp
các phương tiện để ràng buộc quyền sở hữu cho các mối quan tâm công cộng bằng
cách phân vùng hoặc các kế hoạch sử dụng đất.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
49
Có thể thấy là quyền sở hữu, một trong những phần tử trung tâm của hệ thống
quản lý hành chính đất đai như được thảo luận trong đoạn trước, là các cơ sở thể
chế quan trọng cho quá trình phát triển đất đai. Các nghiên cứu của Gore và
Nicholson (1991) và Healey (1991; Healey 1992) đã trình bày nhiều kiểu mô hình
khác nhau, nhưng trong những mô hình này có các cuộc nói chuyện công khai về
quản lý hành chính đất đai. Điều này là tự nhiên vì mối quan tâm của họ là phát
triển đất đai chứ không phải quản lý hành chính đất đai. Tuy nhiên đối với việc xem
xét chặt chẽ tới các mô hình này, nó có thể tiết lộ rằng đa số các mô hình kết hợp
các quyền sở hữu hoặc các vấn đề quyền sở hữu quan trọng là có thể suy luận ra là
tất cả những mô hình này được xây dựng trên giả thiết các giao dịch về quyền sở
hữu làm việc thông thường không có vấn đề.
Các quyền sở hữu hoặc chiếm hữu đất, cho dù là quyền sở hữu hoặc quyền cho
thuê và các ràng buộc tạo ra mối liên hệ giữa quản lý hành chính đất đai và phát
triển đất đai, xem Hình 2.4. Trong khi chiếm hữu đất đai nằm tại bản chất của quản
lý hành chính đất đai, đó là phần tử quan trọng cho hoạt động chức năng trơn chu
của phát triển đất đai.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
50
2.9 Phương pháp luận của mô hình ULDM
2.9. Phương pháp luận và nguồn ố li u
Phần này mô tả các phương pháp đã được sử dụng, các hoạt động được thực
hiện, và số liệu được yêu cầu để kiểm tra tính thích hợp của ULDM được đề xuất.
Thứ nhất tính khả thi về mặt kinh tế của mô hình đã được khảo sát dựa trên một
khung khái niệm hiện có mô hình thể chế của mô hình phát triển đất đai. Sau đó các
nghiên cứu tình huống từ Hà Nội, Việt nam đã được sử dụng để nhận được khả
năng áp dụng thực nghiệm của mô hình. Cuối cùng các kết quả của so sánh với mô
hình thể chế và các phát hiện thực nghiệm được tổng hơp và phân tích đối với các
mục đích của ULDM. Luồng nghiên cứu toàn cục được chỉ ra trên hình 2.5
2.9.2 Đặt khung mô h nh thể chế ULDM
Dựa trên tài liệu tham khảo đã được xem xét ở trên, mô hình thể chế của quá
trình phát triển, cụ thể là “mô hình thống nhất của quá trình phát triển”, từ nay trở đi
mô hình này sẽ được gọi là mô hình thể chế, được đề xuất bởi Healey (Healey
1992) được lựa chọn để phát triển ULDM, vì mô hình này cung cấp một cơ sở nền
tảng để kiểm tra tính hoàn chỉnh của ULDM. Như trên đã đề xuất mô hình này đã
củng cố, thống nhất hoặc tổng hợp các đặc điểm đặc trưng của các mô hình chuỗi,
cơ quan, cấu trúc và kinh tế được mô tả trong Mục 2.2 và cung cấp danh sách đầy
đủ các khía cạnh và phần tử cần được xem xét khi kiểm tra một quá trình phát triển.
Các phần tử cần được khảo sát dựa trên bốn mức mô hình thể chế i) các sự kiện và
các bên hữu quan, ii) các vai trò và các quan hệ quyền lực, iii) các chiến lược và các
lợi ích về các vai trò và các nguồn lực, các quy tắc và các ý tưởng iv) quan hệ giữa
các tài nguyên, các quy tắc các ý tưởng và xã hội rộng lớn hơn. Thứ nhất, mô hình
thể chế được mô tả chi tiết hơn để giải thích các mức và các khía cạnh được xem xét
trong đó. Thứ hai, các phần tử của ULDM được tổng hợp và đặt vào khung của mô
hình thể chế. Sau đó, phân tích sẽ cố gắng xác định mô hình đề cập hoàn chỉnh như
thế nào những vấn đề phức tạp của quá trình phát triển và mô hình có thể hoàn
thành các mục tiêu của nó hiệu lực như thế nào. Cuối cùng, đánh giá được thực hiện
về việc mô hình thể chế thích hợp như thế nào cho ULDM.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
51
2.10 Kết luận
Có nhiều kiểu mô hình phát triển đất đai khác nhau, mỗi mô hình được thiết kế
để đề cập một trường hợp riêng, nhưng cũng có những nỗ lực tạo ra một mô hình
tổng quát sẽ bao gồm tất cả các tình huống khác nhau trong phát triển đất đai và
đồng thời là có thể áp dụng cho các nghiên cứu thực nghiệm. Tuy nhiên, điều này là
rất khó do bản chất rất phức tạp của quá trình phát triển đất đai. Một tiếp cận có
thể là nhận biết một mô hình thích hợp với các mục tiêu của trường hợp đang xét và
sửa đổi nó để hỗ trợ cho việc thực hiện phân tích và giải thích trường hợp này. Một
tiếp cận khác có thể là sử dụng mô hình thể chế được đề xuất bởi Healey (1992), vì
mô hình này cung cấp một danh sách đầy đủ các khía cạnh cần được xem xét khi
phân tích quá trình phát triển đất đai. Mặc dù nó có thể là rất cần thiết, những khía
cạnh này có thể được sử dụng như các tham số được sử dụng để phát triển một quá
trình phát triển đặc biệt hoặc, có thể dễ dàng hơn, chúng có thể được sử dụng để so
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
52
sánh với một mô hình khác để xác định mô hình đề cập đầy đủ như thế nào tới
những sự phức tạp của quá trình phát triển, và mô hình hoàn thành các mục tiêu
của nó một cách có hiệu lực như thế nào. Tiếp cận sau sẽ được sử dụng cho mục
đích của luận văn này. Một phát hiện quan trọng là công trình của Harvey (1985),
về đô thị hoá vốn và mô hình của nó được trình bày như các vòng quay vốn nguyên
thủy, thứ cấp và cấp ba. Mô hình này có thể đưa ra những hiểu biết sâu sắc hữu ích
và đều nằm bên dưới về mặt lý thuyết cho ULDM và suy nghĩ tạo vốn của nó. Một
phát hiện quan trọng khác là từ mô hình thể chế của Healey (1992). Bà đã thảo
luận về các kết cục và các tác động trong mô hình của họ, là những thứ cung cấp
các xem xét thích hợp cho tác động bội của ULDM. Tuy nhiên, hai khía cạnh này sẽ
là không được xử lý với luận văn này, khi đã biết khung thời gian và vì nó sẽ dẫn
tới một nghiên cứu khác, nhưng chắc chắn chúng cần chú ý và thảo luận nhiều hơn
nữa trong hoàn cảnh của ULDM. Quản lý hành chính đất đai và phát triển đất đai
được liên kết thông qua chiếm hữu đất đai. Chiếm hữu đất đai, với các quyền và
ràng buộc của nó, là trung tâm cho quản lý hành chính đất đai, trong khi các thể
chế chiếm hữu đất an toàn và có hiệu lực nằm bên dưới phát triển đất đai trơn chu.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
53
C III ÁP DỤ CÁC IẾP CẬ LÝ UYẾ VÀ IẾP CẬ
I ĐẠI RO P Â ÍC MÔ P Á
RIỂ ĐẤ ĐAI ĐÔ Ị ẠI MỘ SỐ K U ĐÔ Ị
À ỘI
3.1 Các nghiên cứu t nh huống
Nghiên cứu tình huống được thực hiện tại Hà Nội để kiểm tra ULDM về mặt
thực nghiệm.
Hình 3.1 : Hiện trạng sử dụng đất tại Hà Nội
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
54
Hình 3.2 Quy hoạch chi tiết thành phố Hà Nội đến 2020
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
55
3.1. Các khu vực nghiên cứu
Sau khi phân tích các khu đô thị ở Hà Nội để lựa chọn kiểu diện tích,tiêu chuẩn
lựa chọn là i) chiếm hữu an toàn và ii) mẫu hình phát triển và iii) sử dụng đất cư trú.
Khu vực có chiếm hữu an toàn có nghĩa là, bất kể nó được sở hữu hoặc được thuê,
diện tích đó không là vùng phi chính thức ,tức là nó không phải gánh chịu tình trạng
thiếu an toàn của chiếm hữu. Các kiểu khu vực tiềm năng được nhận biết là thích
hợp cho nghiên cứu là:
1. Phát triển tự phát được bổ sung với hỗ trợ : đây sẽ là trường hợp của
khu vực khởi đầu được phát triển tự phát bởi các hộ gia đình hoặc các cá
nhân, nhưng ở giai đoạn sau của phát triển quy hoạch công cộng hoặc phát
triển hỗ trợ được cung cấp. Ví dụ, điều này có thể là một khu vực nơi mà
mọi người đã bắt đầu xây dựng các ngôi nhà để ở có chất lượng khác nhau
và các doanh nghiệp nhỏ không có kế hoạch và có thể không có giấy phép.
Sau đó các cấp chính quyền khu vực công cộng đã can thiệp với các kế
hoạch và đã hỗ trợ với một số cơ sở hạ tầng cơ bản như đường, điện, nước
và các dịch vụ xã hội như trường học. Có khả năng là một số trong những
công trình này cũng có thể được cung cấp bởi khu vực tư nhân.
2. Phát triển tự phát không có hỗ trợ : đây sẽ là trường hợp phát triển
không có bất cứ quy hoạch nào, không có cơ sở hạ tầng và dịch vụ cơ bản,
nhưng có chiếm hữu an toàn. Đã có đề nghị là ngành công cộng đã không
đưa ra bất kỳ kế hoạch nào hoặc đã hỗ trợ với các đầu tư vào cơ sở hạ tầng
cơ bản và các dịch vụ xã hội. Khu vực tư nhân đã xây dựng nhà ở nhiều
kiểu và chất lượng khác nhau, một số nhỏ doanh nghiệp đã được thiết lập.
3. Đã được quy hoạch và phát triển ở một mức độ nhất định : đây sẽ là
trường hợp nơi mà sử dụng đất đã được quy hoạch và diện tích được cung
cấp với một số cơ sở hạ tầng cơ bản (đường, điện, nước …) và các dịch vụ
xã hội (nhà trẻ, trường học). Phát triển các ngôi nhà cư trú nó đã được thực
hiện hoặc bởi bản thân các hộ gia đình hoặc các nhà phát triển tư nhân.
4. Đã được quy hoạch và phát triển tốt : đây sẽ là trường hợp khi mà
phát triển đã được hiện thực hoá đầy đủ và chính thức theo các quy hoạch.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
56
Khu vực sẽ có đầy đủ cơ sở hạ tầng cơ bản và các dịch vụ xã hội. Thông
thường các kiểu diện tích này là cho những người có thu nhập cao và nhà
phát triển đã xây dựng tất cả kể cả cơ sở hạ tầng cơ bản.
Các bư c Mô tả No
.
1. Xác định tiêu Chiếm hữu an toàn, sử dụng đất đai cư trú và mẫu
chuẩn cho lựa hình phát triển, tuân theo một trong bốn kiểu được
chọn khu vực định nghĩa trong No.2 dưới đây, là tiêu chuẩn lựa
nghiên cứu chọn chính cho khu vực nghiên cứu.
2. Xác định mẫu Trong việc tư vấn với HUD(Tổng công ty xây dựng
hình phát triển cần phát triển nhà Hà Nội) , bốn kiểu mẫu hình phát
quan tâm triển khác nhau đã được nhận biết. Chúng là i) phát
triển tự phát được bổ sung với hỗ trợ, ii) phát triển tự
phát không có hỗ trợ, iii) đã được quy hoạch và phát
triển tới một mức độ xác định, và iv) đã được quy
hoạch và phát triển tốt. Bước này đã được thực hiện
đồng thời với bước 1.
3. Khảo sát sơ bộ Sử dụng Google Earth và hình ảnh quá khứ và chức
và nhận biết các năng lớp, là công cụ cung cấp ảnh vệ tinh trong các
vùng nghiên cứu năm khác nhau và các ảnh của khu vực, để nhận biết
tiềm năng sở bộ các khu vực cần quan tâm, phương pháp này
đặc biệt là hữu ích trong trường hợp ở Hà Nội vì nó
cung cấp sự hiểu biết hợp lý của vùng và thành phố
cho nhà nghiên cứu.
4. Tham quan tại Sau khi tư vấn với HUD , một số khu vực có các đặc
chỗ và phỏng vấn tính trùng lặp đã được loại bỏ khỏi những khu vực
được chọn sơ bộ. Số lượng khu vực còn lại là 4 khu
vực. Các khu vưc đã được chọn sơ bộ này sau đó
được kiểm tra tại chỗ về tính khả thi và mục đích
nghiên cứu. Chúng được quan sát tại hiện trường và
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
57
các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện.
5. Lựa chọn cuối Dựa trên các hoạt động được thực hiện trong No. 4 ở
cùng các khu vực trên, bốn vị trí đã được lựa chọn dựa trên sự tuân thủ
được nghiên cứu của các khu vực với tiêu chuẩn được đặt ra ở No.1 ở
trên, và các thoả thuận thực thế như truy cập dễ dàng
để có chủ quyền và khoảng cách đi lại.
Bảng 3.1 Các thủ tục cho lựa chọn vùng nghiên cứu
Lựa chọn thực tế cuối cùng các khu vực được nghiên cứu đã được thực hiện dựa
trên quan sát ảnh vệ tinh, tư vấn với HUD, và tham quan tại chỗ và phỏng vấn. Sau
khi chỉ ra số lượng các khu vực tiềm năng trên ảnh vệ tinh, những khu vực này đã
được thảo luận và làm tương ứng với 4 kiểu mẫu hình phát triển được mô tả ở trên.
Sau đó các cuộc tham quan tại chỗ và kế hợp với phỏng vấn ngắn đã được thực hiện
tại những khu vực này để thực hiện lựa chọn cuối cùng cho các khu vực nghiên cứu.
Các hoạt động chi tiết được tổ chức cho lựa chọn được tóm tắt trên Bảng 4.1. Việc
xác định “đối tượng nghiên cứu” đã được thực hiện đồng thời trong thi tiến hành ba
bước đầu cho lựa chọn vùng nghiên cứu. Mục tiếp theo sẽ mô tả đối tượng nghiên
cứu đã được xác định như thế nào.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trước khi tiến hành công việc ngoài hiện trường, trong khi xem xét các tiêu
chuẩn cho lựa chọn sơ bộ các khu vực nghiên cứu, đồng thời cần thiết phải xác định
đối tượng nghiên cứu và các thuộc tính của nó một cách kịp thời để chuẩn bị đầy đủ
cho công việc ngoài thực địa. Do vậy theo quan điểm mục tiêu của ULDM, các tài
liệu tham khảo nghiên cứu đô thị và tính khả thi, khu đô thị đã được chọn như là đối
tượng nghiên cứu dựa trên mức phân tích trong địa lý đô thị. Khái niệm đơn vị quy
hoạch của hình thái học đô thị được hỗ trợ để xác định các ràng buộc của khu đô thị
cần phải được khảo sát. Dựa trên nguyên tắc ‘đầy đủ chỗ ở’ các chỉ số cho ‘khu đô
thị đầy đủ’ được định nghĩa và làm chi tiết trong Bảng 3.2, Khó có thể xác định cái
gì là ‘đủ’ và UN-HABITAT đã không đưa ra mức chính xác hoặc chuẩn cho định
nghĩa của nó. Tuy nhiên, đối với mục đích của nghiên cứu này, mức chính xác
không là quan trọng. Luận văn này sẽ được quan tâm nếu các chỉ số của ‘sự đầy đủ’
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
58
được trình bày trong các khu nghiên cứu và những chỉ số này được nhận thức như
thế nào bởi các cư dân, tức là nó là tốt hay xấu, nhận thức nào khác mà các cư dân
có thể có. Các chỉ số này sẽ hỗ trợ đánh giá toàn cục của các vùng nghiên cứu theo
nghĩa đầu vào bởi các khu vực tư nhân công cộng và cố gắng để thế chúng tác động
tới khu đô thị như thế nào.
Khu đô thị đầ đủ
No. Các chỉ ố Các thuộc tính cần được thu thập
1. Nhà và chất Mô tả tổng quát về vật lý, chất lượng và cấu trúc,
lượng miếng đất ai xây dựng và chúng được xây dựng như thế nào,
tài chính do ai cung cấp, ai tài trợ nâng cấp
2. Điện Nếu khu đô thị có điện, chất lượng của điện, hệ
thống điện được xây dựng lắp đặt cho ai và như thế
nào, điện được cung cấp tài chính và bảo dưỡng
như thế nào.
3. Cung cấp nước Nếu khu đô thị có cung cấp nước, chất lượng của
nước, cung cấp nước được lắp đặt bởi ai và như
thế nào, cung cấp nước được cung cấp tài chính và
bảo dưỡng như thế nào
4. Cống rãnh Nếu khu đô thị có hệ thống cống rãnh, chất lượng
của nó, hệ thống cống được ai xây dựng và lắp đặt
như thế nào, hệ thống này được cung cấp tài chính
và bảo dưỡng như thế nào
Lò sưởi 5.
6. Thu gom rác Nếu rác được thu thập, ai thu thập, chất lượng và
cung cấp tài chính được thực hiện như thế nào
7. Vệ sinh đường Nếu đường phố được làm sạch, ai làm sách và tài
phố chính được cung cấp như thế nào
8. Chiếu sáng Nếu đường phố được chiếu sáng, chất lượng và tài
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
59
chính được cung cấp như thế nào
9. An ninh Khu đô thị được bảo đảm an ninh như thế nào
10. Khả năng tiếp Các khu phố có cung cấp khả năng tiếp cận đúng
cận về mặt vật lý đắn không về khía cạnh không gian và chất lượng,
tới các ngôi nhà và không xung đột với các khu đô
thị khác
11. Đường phố Cấu trúc và chất lượng của các con phố, không
gian đi bộ và giao thông, ai đã xây dựng và lắp đặt
như thế nào, nó được cung cấp tài chính và bảo
dưỡng như thế nào
12. Công viên và các Khu đô thị có công viên hoặc nơi giải trí không?
khu giải trí Ai xây dựng và lắp đặt như thế nào, ai cung cấp tài
chính
13. Sân chơi Khu đô thị có sân chơi cho trẻ không, chất lượng
của nó, ai xây dựng và lắp đặt như thế nào, tài
chính được cung cấp như thế nào?
14. Trường học Khu đô thị có trường học cho trẻ em không? Nó
được xây dựng lắp đặt như thế nào ? Tài chính
được cung cấp như thế nào?
15. Tính sẵn có của Cửa hiệu tạp hoá và các cửa hàng và dịch vụ nhu
dịch vụ cơ bản cầu cơ bản
16. Chiếm hữu đất đai Chiếm hữu an toàn, kiểu chiếm hữu, và quá trình
nó có được
17. Quy hoạch Nếu có bất kỳ quy hoạch nào, quy hoạch phát triển
như vậy khi cư trú đã bắt đầu và cho tương lai, sử
dụng đất…
18. Động học phát triển Khu đô thị đã được phát triển như thế nào, nó được
bắt đầu như thế nào và nó dần được cải thiện hoặc
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
60
xuống cấp như thế nào
Bảng 3.2 Các chỉ số và các thuộc tính của ‘khu đô thị đầy đủ’ cần được thu thập
Hai nghiên cứu tình huống từ luận văn này làm việc với khu đô thị đã được
kiểm tra cho phương pháp luận của chúng đối với các ý tưởng có thể và cải thiện
của nghiên cứu hiện hành. Một trong số chúng là làm việc với cái gọi là “khu đô thị
suy thoái kinh tế”, là các vùng đô thị được đặc trưng bởi các con đường chật hẹp,
dân cư đông đúc và các ngôi nhà được trang bị tồi tàn, các công dân có thu nhập
thấp và những người di trú từ nông thôn ra, chiếm hữu đất đai không rõ ràng nhà
nước hay tập thể. Tuy nhiên, các vùng diện tích này trông tươm tất và các dịch vụ
công cộng như trường học, bệnh xá và các trang thiết bị khác đều có cả. Luận văn
nàyđã nhìn vào các khu đô thị này từ một viễn cảnh mới khi xem xét các viễn cảnh
vật lý, xã hội, kinh tế và pháp lý. Đối với các viễn cảnh vật lý nó đã phát triển các
chỉ số cho các điều kiện vật lý dựa trên “Chuẩn của thiết kế khu đô thị” được công
bố bởi Bộ Xây dựng và các điều chỉnh từ các cấp chính quyền địa phương. Đây là
hữu ích để thấy tỷ lệ sử dụng đất đai được quy định, ví dụ bao nhiêu đất đai cho cư
trú, thương mại, đường xá, ... là điều được điều chỉnh bởi tổ chức thích hợp của cấp
chính quyền địa phương. Luận văn nàyđã sử dụng các mức chi tiết này và các chỉ số
đã được phát triển cho việc sử dụng tiếp theo và nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật
GIS cho phân tích các điều kiện vật lý cho các mục tiêu đô thị mới (Rui 2003). Một
nghiên cứu tình huống khác mà luận văn làm việc là các con phố và phát triển của
chúng trong các khu đô thị được chọn lọc. Luận văn nàyđã nhận biết các giai đoạn
khác nhau, chuyển đổi nông thôn sang đô thị, của phát triển khu phố và số liệu thu
thập được về các đặc tính của nó. Nó bao gồm các số liệu như chiếm hữu và sử
dụng đất đai, các lý do, quy hoạch, tỷ lệ thay đổi trong giai đoạn biến đổi, kiểu nhà
ở, cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẵn có, an ninh, tổ chức cộng đồng, thuế và …. Luận
văn này đã được thực hiện thông qua quan sát thực địa, khảo sát, phỏng vấn và bảng
hỏi (Inoka Suranganie 2009). Luận văn này là tương tự cho nghiên cứu đang được
tiến hành ở chỗ cả hai đều liên quan tới các khảo sát thực địa tại chỗ mở rộng và
phỏng vấn, và kiểu số liệu nguyên thuỷ thu thập được. Tuy nhiên, khác biệt là trong
các đối tượng của chúng, một nghiên cứu quan tâm tới các con phố, và các chi tiết
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
61
của chúng như chiều dài, độ rộng, và ‘nơi sinh’ của chúng, và nghiên cứu kia tập
trung và đánh giá khu đô thị và các phương pháp mới sử dụng GIS .
Bây giờ, sau khi đã quyết định lựa chọn các vùng nghiên cứu như thế nào và
cần nghiên cứu gì từ chúng, cần thiết phải thiết lập các phương pháp về việc nghiên
cứu như thế nào. Mục sau sẽ mô tả các phương pháp được sử dụng
3.2 iếp cận nghiên cứu
Ba kiểu tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đã được chỉ ra i) quan sát hiện
trường, ii) phỏng vấn, và iii) phân tích số liệu đồ thị. Hai tiếp cận đầu là số liệu
nguyên thủy thu thập được một cách trực tiếp, và tiếp cận sau là số liệu thứ cấp
được thu thập từ các nguồn internet, các nhà quan chức địa phương và các cư dân.
Mỗi một trong những tiếp cận này được mô tả dưới đây trong các mục sau.
3.2. Quan át hi n t ường
Các vùng nghiên cứu đã được tham quan khảo sát và kiểm tra một cách kỹ
lưỡng, trong khi đi bộ dọc theo các con phố, về các đặc tính vật lý của chúng để thu
thập các số liệu nguyên thủy theo danh sách các chỉ số, tham khảo Bảng 3.2. Danh
sách các chỉ số được phục vụ như danh sách kiểm tra cho thu thập số liệu. Không
phải tất cả các chỉ số, như No. 16-18 trong Bảng 3.2, là thích hợp cho quan sát thực
địa. Các tấm ảnh vệ tinh từ Google Earth đã được sử dụng cho định hướng, nhận
biết các đối tượng và thảo luận với các cư dân và các quan chức. Băng video và
chụp ảnh các bộ phần điển hình của mỗi vùng nghiên cứu đã được thực hiện cho
khảo sát tương lai có thể. Quan sát thực địa đã được tiến hành mà không gặp trở
ngại nào.
3.2. Phỏng vấn
Các cuộc phỏng vấn đã được tiến hành với các cư dân, các quan chức địa
phương và các đại diện của các công ty phát triển. Danh sách các chỉ số, Bảng 3.2,
đã phục vụ như danh sách kiểm tra cho các câu hỏi. Từ mỗi vùng 2-5 cư dân đã
được phỏng vấn, phụ thuộc vào số liệu có được từ các phỏng vấn khác, quan sát
thực địa và số liệu đồ thị, và sự tuân thủ của chúng với nhau. Các quan chức đất đai
địa phương và phát triển đô thị, và các quan chức chính quyền địa phương đã được
phỏng vấn dựa trên tình trạng sẵn có của họ. Một đại diện của các công ty phát
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
62
triển, là người đã phát triển các khu vực đã được quy hoạch và phát triển tốt ở Hà
Nội đã được phỏng vấn. Những cư dân được phỏng vấn là những người sống lâu
năm ở khu vực nghiên cứu, trong tất cả các vùng nghiên cứu ít nhất có môt cư dân
bản địa được phỏng vấn. Trong mỗi khu vực nghiên cứu một lãnh đạo cộng đồng đã
được chỉ ra và đã được phỏng vấn. Tất cả các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện
theo phương pháp mặt-đối-mặt. Mỗi cuộc phỏng vấn được kéo dài từ 15 phút tới 2
giờ tùy thuộc vào điều kiện có thể. Thái độ của những người được phỏng vấn nói
chung là cởi mở.
3.2.3 Phân tích ố li u đồ thị
Các ảnh vệ tinh, các bản đồ các không ảnh và các quy hoạch sử dụng và phát
triển đất đã có được để hỗ trợ cho nghiên cứu. Các hình ảnh cũ đã có được trên
internet. Bản đồ và các kế hoạch sử dụng và phát triển đất có được từ các cơ quan
quản lý đất đai địa phương hoặc phát triển đô thị địa phương.
3.3 Các ngu ên tắc cho qu ết định phương pháp luận
Hai nguyên tắc cơ bản đã được áp dụng trong việc quyết định các phương pháp
luận và tiếp cận được sử dụng trong nghiên cứu này. Nguyên tắc đầu tiên là các
phương pháp luận và tiếp cận được mô tả trong các mục 3.2, và 3.3, đã được quyết
định chặt chẽ dựa vào tiềm năng của chúng đóng góp cho nghiên cứu. Yêu cầu là
‘phương pháp và tiếp cận sẽ bổ sung giá trị gì để tìm ra tác động nào mà các đầu
vào tư nhân và công cộng có tên phát triển đất đô thị?’. Ghi nhớ câu hỏi này trong
đầu cho việc nghiên cứu điều tra, tuy nhiên đôi khi cũng sử dụng thêm một số
phương pháp khác.
3.4 hận xét về ULDM
Trong luận văn này hai tiếp cận rộng rãi hơn đã được áp dụng. Tiếp cận thứ
nhất là tính thích hợp lý thuyết của ULDM sẽ được kiểm định đối với khung khái
niệm hiện có một mô hình thể chế về phát triển đất đai. So sánh này sẽ giúp cho
việc xác định mô hình đề cập đầy đủ như thế nào những phức tạp của quá trình phát
triển, và mô hình có thể thực hiện các mục tiêu của nó hiệu lực như thế nào. Tiếp
cận khác là nghiên cứu tình huống. Nghiên cứu tình huống sẽ được tổ chức để kiểm
định tính đúng đắn của mô hình vê mặt thực nghiệm. Các vùng nghiên cứu, các đối
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
63
tượng nghiên cứu, và các phương pháp luận và tiếp cận cho các nghiên cứu tình
huống được chọn dựa trên hai nguyên tắc i) phương pháp luận và tiếp cận đơn giản
nhất và rõ ràng nhất được chọn bằng cách hỏi ‘phương pháp hoặc tiếp cận sẽ bổ
sung giá trị gì để tìm ra tác động nào mà các đầu vào tư nhân và công cộng có cho
phát triển đất đai đô thị’ và ii) tính đơn giản, tức là phương pháp và tiếp cận được
chọn là đơn giản nhất, tuy nhiên chúng có tính tới việc cung cấp đầy đủ số liệu cho
phân tích.
3.5 ghiên cứu t nh huống à ội
3.5. Gi i thi u
Khởi đầu có 10 khu đô thị được đem ra xem xét, và 8 trong số đó được được
lựa chọn để tiếp tục kiểm tra sau khi tư vấn với HUD. Quan sát hiện trường và
phỏng vấn sơ bộ đã giúp cho việc lựa chọn chính thức những khu đô thị nào. Tất cả
đều thích hợp, nhưng cuối cùng chỉ có bốn khu đô thị được lựa chọn do ràng buộc
thời gian và mẫu hình phát triển trùng lặp nhau. Các nguyên nhân cho lựa chọn các
khu đô thị 1 và 2 ở khu vực Nhân Chính thuộc quận Thanh xuân là khả năng hỗ trợ
của bộ máy quản lý hành chính, tức là sự hỗ trợ bởi các cấp chính quyền về đất đai
và phát triển đô thị cấp Quận và dưới Quận trong việc cung cấp số liệu cần thiết và
sắp đặt các cuộc phỏng vấn. Quyết định lựa chọn Khu đô thị 3 ở Làng Yên Xá của
quận Hà đông và 4 ở Triều khúc thuộc huyện ngoại thành Thanh trì được thực hiện
sau khi phỏng vấn ở khu đô thị 1 và 2 đã được thực hiện, cho vị trí của các vùng
nghiên cứu tại Hà Nội. Rõ ràng từ những phỏng vấn các cư dân và các nhà lãnh đạo
cộng đồng này, có thể có đủ số liệu được thu thập, khi kết hợp với quan sát thực địa.
Do vậy, thậm chí mặc dù không có hỗ trợ của quản lý hành chính trong hai khu đô
thị sau này, chúng tôi đã quyết định lựa chọn chúng cho nghiên cứu. Chúng nằm
gần với nhau, dễ tiếp cận, và cung cấp các trường hợp nghiên cứu lý thú. Các cuộc
phỏng vấn với các quan chức, được sắp đặt qua hỗ trợ của bộ máy quản lý hành
chính, đã được sử dụng như là kiểm tra kép đối với điều đã được tìm thấy trên thực
địa. Nói chung, các vùng nghiên cứu ở Hà Nội đã cung cấp đủ số liệu. Quá trình thu
thập số liệu từ mỗi khu đô thị được trình bày dưới đây. Quan sát thực địa và các
cuộc phỏng vấn đã được thực hiện bằng cách sử dụng các chỉ số “khu đô thị đầy
đủ” như một danh sách kiểm tra cho quan sát hoặc phỏng vấn. Số liệu đồ thị đã
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
64
được sử dụng để kiểm tra chỗ phát triển, so sánh các hình ảnh và bản đồ, và so sánh
số liệu đồ thị với những điều xảy ra trên thực địa. Khả năng sẵn có của không ảnh
so với các khu đô thị được chọn đã được kiểm tra với cấp chính quyền, là nơi cung
cấp không ảnh, tuy nhiên không ảnh thích hợp đã không được tìm thấy, hoặc do giai
đoạn mà các bức ảnh được chụp hoặc thiếu vắng sự bao phủ thích hợp. Công việc
thực địa đã được thực hiện tốt, không có vấn đề gì xảy ra. Tất cả các người được
phỏng vấn đã có thái độ vui vẻ, cởi mở và thân thiện. HUD đã tạo điều kiện cho
công việc thực địa.
3.5. Khu đô thị , Nhân Chính
Khu đô thị 1 nằm tại Nhân Chính, quận Thanh xuân ở tây nam Hà Nội, là khu
vực kề với khu vực trung tâm lớn của thành phố. Khu đô thị này là vùng được quy
hoạch và xây dựng tốt. Nó nằm ở một vùng có nhiều hoạt động phát triển đang được
tiến hành. Đây là vùng đất phẳng, không có hồ đầm, được bao quanh bởi các trục
đường chính ở phía bắc, tây và nam, còn ở phía đông thị được tách biệt bởi một con
đường nhỏ hơn khỏi một vùng kế bên. Kế hoạch đã được thực hiện và tuân thủ một
cách nghiêm ngặt, ngoại trừ một một số tòa nhà có hình dáng khác lạ trên nền đất so
với kế hoạch,Khu đô thị 1, Nhân Chính,trước đây, đất đai là cách đồng lúa, và đã
được chấp thuận phát triển vào năm 2000 và quá trình phát triển được bắt đầu vào
năm 2002 và đã được hoàn thành vào năm 2007. Các ranh giới của khu đô thị này
đã được xác định dựa trên kế hoạch phát triển. Cơ sở hạ tầng bên ngoài đã được
cung cấp bởi nhà nước. Toàn bộ cơ sở hạ tầng tại chỗ đã được phát triển bởi nhà
phát triển. Phát triển đã được thực hiện bởi môt nhóm lớn các công ty, bao gồm các
công ty đầu tư, xây dựng , bảo dưỡng và dịch vụ. Toàn bộ bảo dưỡng và dịch vụ
được cung cấp bởi một công ty dịch vụ và bảo dưỡng, cũng thuộc nhóm công ty
này. Nhóm là một công ty cổ phần với sở hữu Nhà nước là 51% (Vinaconex công ty
mẹ, đầu tư, Vinahud xây dựng, Vinasinco dịch vụ và bảo dưỡng). Khu đô thị bao
gồm các chung cư cao tầng lớn cũng như các ngôi nhà cao cấp khác. Toàn bộ cơ sở
hạ tầng cơ bản, các dịch vụ và bảo dưỡng có chất lượng cao. Công ty dịch vụ thậm
chí cung cấp dịch vụ an ninh, và tại mỗi góc đều có sỹ quan an ninh đứng gác. Các
căn hộ và các ngôi nhà là dành cho những người có thu nhập rất cao. Thậm chí một
trường học và một vườn trẻ đã được xây dựng bởi nhà phát triển, nhưng chúng là
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
65
của tư nhân và chỉ có những người có khả năng mới có thể gửi con cái của họ đến
học ở đó. Các tầng ngầm của các chung cư lớn đều được cho thuê để tiến hành các
hoạt động thương mại, ngân hàng, cửa hàng, cửa hiệu tạp hóa, cửa hàng ăn, salon
sắc đẹp v.v.v... Mặc dù được quy hoạch tốt và được phát triển tốt nhưng khu đô thị
này thiếu công viên và sân chơi, là những nơi mà trẻ em và người lớn cùng các em
bé có thể tới để thư giãn, và những người già cũng có thể đến để gặp mặt. Các sân
của các tòa nhà chỉ được lát như vỉa hè và trông thẳng ra đường, không thích hợp để
sử dụng như sân chơi hoặc chỗ giải trí như công viên. Phố xá sạch sẽ, có đủ không
gian và cây xanh. Đối với phát triển này, các đầu vào nhà nước là toàn bộ kế hoạch
phát triển, cơ sở hạ tầng chính bên ngoài theo kế hoạch phát triển và đất đai tổng
thể. Các đầu vào bởi các khu vực tư nhân, tức là các đầu vào thanh toán thông qua
các cư dân cho ngôi nhà hoặc căn hộ của họ là toàn bộ cơ sở hạ tầng tại chỗ và tất
cả các phát triển khác như căn hộ, nhà, cây cối v.v...
Quan sát hiện trường :được tiến hành không có vấn đề gì. Khu đô thị đã được
quan sát và phỏng vấn bốn lần. Đường phố, các tòa nhà, con người, cơ sở hạ tầng đã
được quan sát theo danh sách các chỉ số cho khu đô thị đầy đủ.
Phỏng vấn : lãnh đạo cộng đồng, hai cư dân, đại diện của công ty phát triển, các
quan chức phường Nhân Chính và quận Thanh xuân đã được phỏng vấn. Các cuộc
phỏng vấn được tiến hành từ 15 phút tới 2 giờ 10 phút. Các cuộc phỏng vấn với cư
dân ngắn hơn, một phỏng vấn với lãnh đạo cộng đồng và các quan chức được thực
hiện đồng thời. Các cuộc phỏng vấn và gặp mặt ngoại trừ các cư dân đã được bố trí
bởi Chủ tịch phường Nhân Chính trên cương vị của phát triển và quản lý hành chính
đất sau khi được Phòng Phát triển Tài nguyên Môi trường (NRED) quận Thanh
xuân. Tất cả các cuộc phỏng vấn đã diễn ra trôi chảy, chủ tịch phường, cùng với
HUD, đã bố trí tất cả các cuộc gặp mặt được yêu cầu với những cá nhân cần thiết.
Một số số liệu đồ thị như kế hoạch phát triển và bản đồ địa chính đã được yêu cầu
trong quá trình phỏng vấn, dưới dạng báo cáo hoặc ảnh. Bảng 3.3 cho ra danh sách
các phỏng vấn và một số chi tiết.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
66
Th
ời hận xét N hững người
gian o. t ả lời phỏng vấn
(phút)
1 Lãnh đạo cộng 55 Đã cung cấp thông tin rất chi tiết về khu đô
đồng thị
2 Cư dân 1 15 Anh đã tới đây từ 2004 khi căn hộ của anh
được xây dựng, thỏa mãn với khu đô thị, an
ninh, và dịch vụ, không phàn nàn gì, không
có con nhỏ
3 Cư dân 2 15 Chị đã đến từ 2004, khi căn hộ được xây
dựng, thỏa mãn với khu đô thị, an ninh và
dịch vụ, phàn nàn về sự thiếu thôn của sân
chơi và công viên, không có đủ trường học
và vườn trẻ chỉ có các cơ sở tư nhân và đắt
đỏ, đã có một trẻ em
4 Quan chức địa 20 Đã cung cấp bản đồ địa chính, thông tin về
chính, NRED kế hoạch phát triển quận, kế hoạch sử dụng
đất
5 Trưởng phòng 85 Cuộc hẹn được thực hiện thông qua chủ tịch
Phòng an ninh, phuơng, mặc dù anh ta phụ trách an ninh
Vinasinco trong khu, anh ta đã tham gia vào phát triển
các khu vực từ 2003 và đã có hiểu biết tốt về
vị trí phát triển và khu đô thị
6 Cán bộ phụ trách 130 Các cuộc phỏng vấn được liệt kê trong 6, 7
phát triển đô thị và và 8 đã được giới thiệu cùng một chỗ. Đã
quản lý hành chính cung cấp bản đồ địa chính, thông tin về các
đất đai, Nhân Chính đầu tư và kế hoach công cộng, kế hoach sử
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
67
dụng đất, chiếm hữu đất, thông tin tổng quát
về cai quản, bất động sản và tham nhũng.
7 Cán bộ phụ trách 130 Xem điểm 6 ở trên
nước và đầu tư,
Nhân Chính
8 Cán bộ địa chính 130 Xem điểm 6 ở trên
Nhân Chính
Bảng 3.3 Danh sách những người trả lời phỏng vấn Khu đô thị 1, Hà Nội
Phân tích số liệu đồ thị : Các hình ảnh vệ tinh của Googel earth từ 2000 tới 2008,
bản đồ địa chính của Nhân Chính từ 1994, bản đồ sử dụng đất từ 2006 và kế hoạch
phát triển từ 2002 đã được sử dụng. Bản đồ địa chính, các quy hoạch sử dụng và
phát triển đất đai đã được sử dụng như những tài liệu tham khảo và được so sánh
với các hình ảnh vệ tinh. Các hình ảnh vệ tinh đã được phân tích cho việc phát triển
những thay đổi và so sánh tình huống thực địa với những thứ đã được phát hiện
trong các cuộc điều tra. Sơ đồ này, chủ yếu là các ảnh vệ tinh đã bổ sung thêm định
hướng, thương lượng với các phỏng vấn, và nhận biết các đối tượng cần quan tâm.
Tất cả các phân tích số liệu đã được phân tích không sử dụng các phần mềm và
phần cứng nào. Bảng 3.4 cung cấp các chi tiết về số liệu đồ thị.
N Kiểu ố Được cung Chi tiết
o. li u cấp b i
1 Ảnh vệ tinh Google Earth Ảnh từ 2000-2008. Google earth cung
cấp một số ảnh về vùng này. Các ảnh đã
hữu ích để có được ý tưởng về khu đô
thị trước đây.
2 Bản đồ địa NRED và Từ 1994
chính phường Nhân
Chính
3 Quy hoạch NRED Từ 2006, nghiên cứu tổng quan về sử
sử dụng đất dụng đất của quận năm 2006
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
68
4 Quy hoạch Lãnh đạo cộng Từ tháng Sáu 2002, hữu ích cho việc so
phát triển đồng sánh với ảnh vệ tinh để thấy kế hoạch đã
được triển khai như thế nào
Bảng 3.4 Danh sách số liệu đồ thị và chi tiết của chúng, Khu đô thị 1, Hà Nội
Các kết quả :các kết cục lấy số liệu, thông qua các quan sát, phỏng vấn thực địa
và phân tích số liệu đồ thị, được tóm tắt dưới dạng bảng dựa bên các chỉ số ‘khu đô
thị đầy đủ’
Khu đô thị 1, à ội
N Các chỉ ố Các thuộc tính
o.
1. Chất lượng nhà và Các ngôi nhà và căn hộ mới, chất lượng cao, các căn
đất hộ đầu đã được sử dụng từ 2003 và các căn hộ cuối
cùng vào 2007, một số ngôi nhà đã được rào xung
quanh
2. Điện Chất lượng tốt, mỗi tòa nhà trong khu đô thị có máy
phát điện riêng của mình, được vận hành bởi nhiên
liệu hoặc khí gas trong trường hợp cắt điện, bảo
dưỡng tốt bởi công ty đầu tư phát triển
3. Cung cấp nước Chất lượng tốt, bảo dưỡng tốt bởi công ty đầu tư
phát triển
4. Cống rãnh Chất lượng tốt, bảo dưỡng tốt bởi công ty đầu tư
phát triển
5. Sưởi ẩm Hệ thống lò sưởi không được yêu cầu vì Hà Nội nằm
ở khu vực nhiệt đới
6. Thu gom rác Chất lượng tốt, công ty dịch vụ cung cấp, phí được
thanh toán bởi các cư dân
7. Làm sạch đường Các đường phố được lảm sạch và bảo dưỡng tốt bởi
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
69
phố công ty, phí được thanh toán bởi các cư dân
8. Chiếu sáng Chiếu sáng tốt, được bảo dưỡng tốt bởi công ty đầu
tư phát triển .
9. An toàn Không có vấn đề, công ty an ninh chăm sóc an toàn
trong toàn bộ khu đô thị
Đi lại Có khả năng truy cập đúng tới các ngôi nhà và căn 1
hộ và bảo dưỡng đường xá, chất lượng tốt 0.
Đường phố Đường phố có đủ không gian cho đường xá và vỉa hè 1
cho người đi bộ, chất lượng tốt, nhà phát triển đã xây 1.
dựng và thanh toán trong quá trình phát triển, bảo
dưỡng tốt
1 Công viên hoặc Không
2. giải trí
1 Sân chơi Không có
3.
1 Trườnghọc và nhà Trường học và nhà trẻ tư, đắt đỏ
4. trẻ
1 Khả năng sẵn có Tất cả dịch vụ cơ bản, kể cả cửa hàng tạp hóa và
5. của các dịch vụ cơ dịch vụ
bản
1 Chiếm hữu đất đai Chiếm hữu an toàn, được đăng ký và có được khi
mua căn hộ và nhà ở 6.
1 Quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển đất từ
2002 khi phát triển được bắt đầu 7.
1 Chi tiết phát triển Nhà nước đã bố trí đất theo các thỏa thuận với công
8. và động học ty đầu tư phát triển , Vinaconex JSC với 51% cổ
phần của nhà nước vào năm 2000, phát triển đã bắt
đầu vào 2002, đã được phát triển hoàn chỉnh vào
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
70
2007, hai chung cư lớn đã được bàn giao cho nhà
nước để đền bù cho người dân, Toàn bộ cơ sở hạ
tầng tạichỗ đã được phát triển và cung cấp tài chính
bởi nhà phát triển, cơ sở hạ tầng bên ngoài được
cung cấp bởi chính phủ. Đối với phát triển này, các
đầu vào của nhà nước là quy hoạch phát triển tổng
thể, cơ sở hạ tầng bên ngoài phù hợp với quy hoạch
phát triển tổng thể, và đất đai. Các đầu vào của khu
vực tư nhân, tức là các đầu vào qua thanh toán của
cư dân cho nhà ở hoặc căn hộ của họ, là toàn bộ cơ
sở hạ tầng tại chỗ và tất cả các phát triển khác như
căn hộ, nhà ở, cây cối v.v..
Bảng 3.5 Các kết quả của việc thu thập số liệu, Khu đô thị 1, Hà Nội
3.5.3 Khu đô thị , Nhân Chính
Khu đô thị 2 được bố trí tại Nhân Chính, quận Thanh xuân ở vùng tây nam Hà
Nội, là vùng nằm cạnh khu vực trung tâm lớn của thành phố. Khu đô thị có vị trí ở
đông nam của Khu đô thị 1. Vùng này được coi là một trong những vùng phát triển
tự phát không được hỗ trợ, ngoài hỗ trợ ban đầu trong giai đoạn bắt đầu của phát
triển. Khu đô thị này ban đầu là một làng xung quanh là ruộng lúa, nhưng từ năm
1991 làng đã bắt đầu chuyển thành vung,khu vực thổ cư và được phát triển dần cho
tới ngày nay. Những người nông dân đã chia nhỏ đất đai của họ và bán cho những
người mới tới, mà không có bất kỳ quy hoạch hoặc điều chỉnh và giấy phép nào.
Phát triển ngày nay hoặc là xây lên cao theo chiều thẳng đứng hoặc trên cơ sở cải
thiện cơ sở hạ tầng. Khu đô thị được chọn bên trong các biến giới khu vực trong
trách nhiệm của người lãnh đạo cộng đồng, Khu đô thị 2, Nhân Chính. Khu đô thị
này chật chội với các tòa nhà ở, có đường phố rất chật hẹp, không thích hợp cho xe
hơi, chỉ có xe máy và người đi bộ có thể sử dụng được, nhưng đồng thời không có
vỉa hè riêng cho người đi bộ. Nó rơi vào một khu diện tích lớn hơn có cùng các đặc
tính, được vây quanh bởi các con đường nhỏ hơn về phía đông, tây và bắc, và một
con đường lớn ở phía nam hơi lệch về phía tây. Địa hình ở đây bằng phẳng, không
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
71
có ao hồ bên trong. Các ngôi nhà có chất lượng khác nhau, một số do được xây
dựng gần đây, rất tốt và cao tới 5 tầng, và một số ít là những ngôi nhà một tầng rất
cũ. Hầu như không có không gian mở cho mỗi miếng đất, chỉ có ít ngôi nhà có một
không gian mở nhỏ phía trước mặt. Khu đô thị có điện, cung cấp nước và cống
rãnh, là những trang thiết bị có chất lượng đủ tốt, nhưng cũng có một số phàn nàn
về chất lượng của những khoản mục này. Ở đó cơ sở hạ tầng được cải thiện dần dần
từng bước bởi chính quyền địa phương. Một số thời gian trước đây một công ty sở
hữu nhà nước đã cung cấp điện với chất lượng kém và giá cao, nhưng vào năm 2004
nhà nước đã lãnh trách nhiệm và bắt đầu cung cấp điện nước với chất lượng tốt hơn
và chi phí thấp hơn. Các đường dây điện treo trên không và hàng bó dây điện mắc
lộn xộn nối các ngôi nhà và trung tâm. Cung cấp nước trước kia được cung cấp bởi
các giếng khoan, nhưng bây giờ được cung cấp bởi công ty tập trung của nhà nước.
Đa số các đường phố là sạch sẽ, rác thải được thu gom, có hệ thống chiếu sáng nhỏ.
Về tổng thể, khu đô thị có các con phố bên trong và một con phố nằm trên trục
đường lớn hơn, và con đường này được giành cho xe máy dẫn tới những con đường
lớn bên ngoài khu đô thị. Dọc theo đường này, có một con phố rất nhộn nhịp với
một cái chợ. Vấn đề an ninh không đến nối quá phức tạp. Dịch vụ cơ bản như cửa
hàng tạp hóa không phải là một vấn đề do có chợ. Mỗi ngôi nhà đối mặt với đường
lớn hơn có một cửa hiệu nhỏ, ví dụ như bán thực phẩm, quần áo hoặc hiệu may, ….
Khu vực này thiếu các khu sân chơi và giải trí, và có đủ trường học, nhưng không
đủ nhà trẻ và đang có thảo luận ở cấp chính quyền để xây dựng nhà trẻ mới bằng
cách lấp một cái hồ ở gần đó. Có một quy hoạch cho một con đường mới qua khu
đô thị này, do vậy một số cư dân có dự kiến hoặc đúng hơn là ‘mong muốn’ chiếm
hữu sử dụng nó. Không có các đầu vào của chính phủ cho tới năm 1997, ngoại trừ
điện. Tình huống này đã được cải thiện từ năm 1997 từ khi quận Thanh xuân được
thành lập và khu đô thị trở thành một bộ phận của nó. Dần dần đã có các đầu vào,
và hiện vẫn đang được phát triển, dưới dạng các cải thiện trong cơ sở hạ tầng từ
năm 1997, và các điều chỉnh cho phân chia và xây dựng từ năm 2002, từ phía nhà
nước. Các đầu vào từ khu vực tư nhân, tức là từ các cư dân, là các ngôi nhà của họ,
cũng đang dần được cải thiện.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
72
Quan sát thực địa: được tiến hành không có vấn đề gì. Khu đô thị đã được tham
quan 5 lần để quan sát và phỏng vấn. Các con phố, tòa nhà, dân chúng, và cơ sở hạ
tầng và các trang thiết bị khác đã được quan sát phù hợp với danh sách các chỉ số
cho khu đô thị đầy đủ.
Phỏng vấn: lãnh đạo cộng đồng, hai cư dân và một cặp vợ chồng mới cưới, đại
diện của công ty phát triển, các quan chức phường Nhân Chính và quận Thanh xuân
đã được phỏng vấn. Các phỏng vấn đã được thực hiện từ 20 phút tới 2 giờ. Các cuộc
phỏng vấn cho cư dân là ngắn hơn và phỏng vấn lãnh đạo và các quan chức được
tiến hành cùng một chỗ. Danh sách các chỉ số khu đô thị đầy đủ đã được sử dụng
cho danh sách kiểm tra câu hỏi. Các cuộc phỏng vấn và gặp mặt, ngoại trừ phỏng
vấn cá nhân, đã được sắp đặt bởi chủ tịch phường Nhân Chính phụ trách phát triển
đô thị và quản lý hành chính đất đai sau khi được giới biểu bởi NRED. Tất cả các
phỏng vấn đã diễn ra trôi chảy, chủ tịch phường, cùng với HUD đã bố trí tất cả các
cuộc gặp mặt được yêu cầu với những người có liên quan. Một số số liệu đồ thị như
quy hoạch phát triển, bản đồ thiết kế và bản độ địa chính đã được yêu cầu trong các
cuộc phỏng vấn, hoặc trên giấy hoặc bởi các bức ảnh. Bảng 3.6 đưa ra danh sách
các phỏng vấn và chi tiết.
No. hững người hời hận xét
t ả lời phỏng gian
vấn (phút)
1 Lãnh đạo cộng 110 Đã cung cấp thông tin rất chi tiết về khu đô
đồng thị, thông tin về cuộc sống trước 1997, đã bố
trí các cuộc phỏng vấn với hai cư dân
2 Cư dân 1 35 Anh đã tới vào năm 1997, đã mua một miếng
đất với hai ngôi nhà nhỏ, phá chúng và xây
dựng một ngôi nhà mới trong thời gian 1997-
1999, cần có được giấy phép để xây dựng từ
văn phòng kiến trúc sư của quân, hệ thống
tiêu/cống rãnh cần được cải thiện, cống rãnh
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
73
bị tràn khi mưa
3 Cư dân 2 30 Sống ở đây từ trước 1997, bà đã có một mảnh
đất rộng lớn được chia nhỏ và thu nhập từ việc
bán đất đã được sử dụng để tái xây dựng ngôi
nhà cũ vào năm 1997. Bà đã có giấy phép xây
dựng từ chính quyền quận. Hệ thống cống
rãnh tiêu và đường cần được cải thiện.
4 Các cư dân, cặp 25 Đến khu vực này từ năm 1969, đã có ruộng
vợ chồng lúa và một số ngôi nhà nhỏ, không có cơ sở hạ
tầng, đã xây nhà của họ vào năm 1987, đang
dần được cải thiện, cống rãnh tiêu là có vấn đề
5 Cán bộ địa 20 Đã cung cấp bản đồ địa chính, thông tin về
chính, NRED quy hoạch phát triển quận, quy hoạch sử dụng
đất đai
6 Chủ tịch phụ 130 Các phỏng vấn được liệt kê trong 6, 7 và 8 đã
trách phát triển được tiến hành cung chỗ. Đã cung cấp bản đồ
đô thị và quản địa chính, thông tin về các đầu tư công cộng,
lý hành chính quy hoạch sử dụng đất, chiếm hữu đất, thông
đất đai, Nhân tin tổng quan về các giấy phép xây dựng dưới
Chính quận. Các thảo luận được tổ chức rất cởi mở .
7 Chủ tịch phụ Xem Xem phần 6 ở trên
trách tài chính phần 6
và đầu tư, Nhân ở trên
Chính
8 Cán bộ địa Xem Xem phần 6 ở trên
chính, Nhân phần 6
Chính ở trên
Bảng 3.6 Danh sách những người trả lời phỏng vấn Khu đô thị 2, Nhân Chính,HN
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
74
Phân tích số liệu đồ thị :Ảnh vệ tinh Google earth từ 2000 tới 2008, bản đồ địa
chính của Nhân Chính từ 1994, quy hoạch sử dụng đất từ 2006 và bản đồ tóm tắt về
khu đô thị từ tháng 12/ 2008 đã được sử dụng. Bản đồ địa chính, các quy hoạch sử
dụng và phát triển đất đã được sử dụng như tài liệu tham khảo và được so sánh với
các ảnh vệ tinh. Các ảnh vệ tinh đã được phát triển cho phát hiện thay đổi và so
sánh tình hình đất đai với điều đã được phát hiện trong các phỏng vấn. Những số
liệu đồ thị này, chủ yếu là các ảnh vệ tinh đã giúp cho định hướng, thảo luận với
những những người trả lời phỏng vấn, và nhận biết các đối tượng cần quan tâm. Tuy
nhiên, do không có ảnh, cả vệ tinh lẫn không ảnh, từ những năm trước đó, nên khó
phân tích về thay đổi phát triển nhà cửa ở đây. Toàn bộ phân tích số liệu là thủ
công, không sử dụng các phầm mềm và phần cứng nào. Bảng 3.7 cung cấp các chi
tiết về số liệu đồ thị.
Kiểu ố li u Được cung Chi tiết
cấp b i No
1 Ảnh vệ tinh GoogelEarth Các ảnh từ 2000 – 2008
2 Bản độ địa NRED,phưòng Từ 1994
chính Nhân Chính
3 Quy hoạch sử NRED Từ 2006, tổng quan sử dụng đất vào
dụng đất 2006
4 Bản đồ tóm tắt Lãnh đạo cộng Từ tháng 12/ 2008, đã cung cấp tổng
đồng quan tốt về các vị trí ngôi nhà và đường
phố được sử dụng cho các lãnh đạo cộng
đồng trong công việc hàng ngày
Bảng 3.7 Danh sách số liệu đồ thị và các chi tiết, Khu đô thị 2, Nhân Chính, HN
Các kết quả: các kết cục thu thập số liệu, thông qua các quan sát phỏng vấn hiện
trường và phân tích số liệu đồ thị, được tóm tắt trong dạng bảng dựa trên các chỉ số
‘khu đô thị đầy đủ’. Bảng 3.8 cung cấp tóm tắt.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
75
No. Khu đô thị 2, Nhân Chính, à ội
Chỉ ố Các đặc tính
1. Chất lượng Những ngôi nhà có chất lượng rất khác nhau. Một số rất cũ
nhà và đất kỹ, một tầng và điều kiện kém cỏi, và một số có chất lượng
tốt, có tới 5 tầng, trong đa số các trường hợp ranh giới mảnh
đất chính là ranh giới ngôi nhà, một số ngôi nhà có sân nhỏ
phía trước với kích thước 3x3m, nhiều ngôi nhà được xây
dựng sau khi phá hủy những ngôi nhà cũ.
2. Điện Trước năm 1980 không có điện, nhưng sau đó điện được
cung cấp bởi một công ty. Từ 2005 nhà nước cung cấp điện
với chất lượng tốt hơn và chi phí thấp hơn, điện bị cắt khi
chính quyền quận bảo dưỡng, các đường dây điện treo trên
không trung, và các ngôi nhà nối đường điện với trung tâm
đặt ở góc phố, được tài trợ bởi nhà nước
3. Cung cấp Không có phàn nàn, cho tới năm 2006 nước giếng trên các
nước mảnh đất được sử dụng, nhưng sau đó nhà nước đã cung cấp
nước, khi cần chính quyền quận sẽ sửa chữa và bảo dưỡng,
đường ống dẫn nước được cung cấp trong các khu phố và
được thanh toán bởi nhà nước, đường ống dẫn nước được
nối với các ngôi nhà từ đường ống chính
4. Cống rãnh Mặc dù được cung cấp vào năm 2006, hệ thống cống rãnh
cần được cải thiện nhiều hơn, hệ thống này bị tràn khi có
mưa lớn, khởi đầu được lắp đặt vào 1975 bởi nhà nước, khi
cần chính quyền quận sẽ bảo dưỡng, các đường ống cống
được cung cấp bên trong các khu phố và được thanh toán
bởi nhà nước, từ các phố các ngôi nhà kết nối các đường ống
cống rãnh của họ
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
76
5. Lò sưởi Hệ thống lò sưởi không được yêu cầu vì Hà Nội nằm tại
vùng nhiệt đới
6. Thu gom rác Không có phàn nàn, rác được thu gom bởi chính quyền
quận, phí được dân cư thanh toán
7. Làm sạch Việc dọn sạch đường phố được thực hiện bởi công ty, phí
đường phố được trả bởi các cư dân, không có phàn nàn
8. Chiếu sáng Chiếu sáng ở các con phố nhỏ được cung cấp bởi nhà nước
9. An ninh Không có quá nhiều vấn đề, nhưng có những vấn đề nghiện
ngập và trộm cắp, đã được cải thiện từ 2007
10. Đi lại Đi lại bằng xe máy hoặc đi bộ, khó đi lại trong giờ cao
điểm vì tắc nghẽn giao thông, chất lượng đường là khá tớt
trong khu đô thị, đường đi bên ngoài có chất lượng xấu
11. Đường phố Không có đủ không gian, những người đi bộ, đi xe đap, đi
xe máy đi trên cùng một con đường, không có cây, ngoại trừ
ở cửa các ngôi nhà, đường đi rất hẹp, đông người và nhiều
dây điện treo trên đầu
12. Công viên và Không
nơi giải trí
13. Sân chơi Không
14. Trường học Có đủ trường học, không có đủ vườn trẻ, đang thảo luận
và vườn trẻ xây dựng nhà trẻ mới bằng cách lấp hồ bên cạnh
15. Các dịch vụ Tất cả các dịch vụ cơ bản, kể cả cửa hàng tạp hóa và các
cơ bản dịch vụ
16. Chiếm hữu Chiếm hữu an toàn, các mảnh đất đã được đăng ký
đất
17. Quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất, không chi tiết, các khu vực chỉ được
ghi trên bản đồ là khu vực dân cư cùng với các khu đô thị
xung quanh có cùng các đặc tính
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
77
18. Các chi tiết Khu đô thị đã là một làng nhỏ được vây quanh bởi đồng lúa
phát triển và từ trước 1969 không có cơ sở hạ tầng, đã có nhiều ngôi nhà
động học được xây dựng lên từ 1987, hệ thống cống rãnh tiêu đã được
xây dựng vào 1975, điện được cung cấp sau 1980, cung cấp
nước được tập trung hóa từ 1997 và vẫn đang được triển
khai, chỉ có một số con đường được lá cho tới 1997 và việc
lát tất cả các con đường được hoàn thiện vào 2009, toàn bộ
cơ sở hạ tầng đang dần được cải thiện từ khoảng 1997, khi
quận được thành lập. Nâng cấp các đường điện đã được thực
hiện vào 2000 đã kéo dài trong 3 tháng, hệ thống cống đã
được nâng cấp vào 2007 được thực hiện trong 4 ngày. Tất cả
những lắp đặt khởi đầu và các cải thiện sau đó đã được thực
hiện và thanh toán bởi nhà nước, các tuyến cơ sở hạ tầng
được cung cấp bên trong các khu phố, từ đường phố các cự
dân kết nối với các ngôi nhà của họ, từ phố tới những ngôi
nhà khoảng cách là vào khoảng từ 2 tới 3 mét. Các ngôi nhà
dân được chương trình từ những ngôi nhà nhỏ 1 tầng thành
những ngôi nhà to 5 tầng. Các cư dân tự thanh toán cho
chương trình nhà và xây dựng những ngôi nhà mới. Khu vực
này được đặc trưng hóa như phát triển tự phát lúc ban đầu
không được hỗ trợ gì, nhưng từ khi trở thành một bộ phận
của quận mới được thành lập, nhà nước đã bắt đầu cải thiện
và cung cấp các đầu vào như đầu tư và điều chỉnh. Đã có
những đầu vào dần dần, đang được tiến hành, dưới dạnh các
đầu tư vào cơ sở hạ tầng từ 1997, và các điều chỉnh cho
phân chia và xây dựng từ 2002, từ phía nhà nước. Các đầu
vào bởi khu vực tư nhân, tức là các cư dân, là các ngôi nhà
của họ, cũng đang dần được cải thiện.
Bảng 3.8 Các kết quả thu thập số liệu, Khu đô thị 2, Nhân Chính, Hà Nội
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
78
3.5.4 Khu đô thị 3, Làng Yên Xá
Khu đô thị 3 có vi trí ở Làng Yên Xá của quận Hà đông, là nơi nằm ở phía tây
nam Hà Nội so với hai khu đô thị nói trên. Vùng này là một khu đô thị được quy
hoạch và phát triển ở một mức độ nhất định. Vùng này có địa hình phẳng phiu, có
một số hồ đầm nước ở phía nam và phía bắc của nó có một khu dân cư cũ, và ở phía
bắc là một khu vực mới đang phát triển. Phần còn lại của khu vực được bao quanh
bởi các cánh đồng lúa. Vùng này đã là khu ruộng lúa cho tới 2005, nhưng từ 2003
khu đô thị này đã được quy hoạch cho phát triển. Từ 2005 khu này đã được phát
triển tới một mức độ nhất định, và các mảnh đất cư trú đã được phân bổ cho những
người nông dân từ vùng này. Những người nông dân được trả ít hơn một ngàn đô la
như một khoản phí cho phát triển. Không có kế hoạch nào cho khu đô thị này vì ở
phía nam là một khu đất được sử dụng đặc biệt và đối tượng (là một trạm phát
thanh) đã được bố trí, do vậy đất đai đang có chỉ được sử dụng như là đất ruộng.
Các ranh giới của khu đô thị này được chọn dựa trên đất đã được phân bổ cho
những người nông dân, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, và 4, Triều khúc. Những người
nông dân có các ngôi nhà nguyên thủy của họ ở Làng Yên Xá, về phía nam từ khu
đô thị mới được phát triển. Một số nông dân đã bán đất của họ, một số tự xây những
ngôi nhà mới, và một số giữ đất để cho tương lai hoặc vì không có tiền để xây
dựng. Một số nông dân đã bán nhà của họ trong ngôi làng cũ và xây dựng ngôi nhà
mới trên khu đất mới được phân. Khu đô thị đang được phát triển nhanh với những
ngôi nhà lớn tốt lên tới 5 tầng. Các ngôi nhà không có không gian mở, chúng đối
mặt trực tiếp với khu phố, biên giới của mảnh đất là biên giới của ngôi nhà. Toàn bộ
cơ sở hạ tầng cơ bản được cung cấp, điện được dẫn theo dây trên cột (không được
trôn dưới đất), từ các trung tâm đầu khu phố với những cuộn dây chằng chịt. nước
và hệ thống cống rãnh được cung cấp, nhưng một bộ phận cống rãnh trong khu đô
thị không được kết nối với hệ thống cống rãnh chính ở ngoài khu vực, do vậy úng
lụt thường xảy ra khi có mưa. Đa số tầng dưới cùng của các ngôi nhà được sử dụng
cho các mục đích thương mại giống như cửa hàng tạp hóa, cửa hàng ăn, cửa hiệu
thực phẩm.v.v.. Chúng được vận hành hoặc bởi các chủ nhân của ngôi nhà ,chủ
được thuê. Các dịch vụ như thu gom rác là làm sạch đường phố được cung cấp bởi
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
79
chính quyền quận, nhưng vẫn chưa được điều chỉnh. Chiếu sáng hiện chưa có trong
bên trong khu phố, tuy nhiên khu đô thị qua các khu phố đã được chiếu sáng. Khu
đô thị có đường đi lối lại từ bên ngoài khá tốt và các ngôi nhà có đường đi qua lại
thích hợp. Phố xá có chất lượng tốt, đã được lát đầy đủ, có đủ không gian cho giao
thông và đi bộ. Không có công viên, chỗ vui chơi giải trí, hoặc sân chơi. Tuy nhiên,
các cư dân nói rằng trong các khu bên cạnh những trang thiết bị này là sẵn có. Có
đủ trường học và vườn trẻ ở xung quanh. Chiếm hữu đất là an toàn, đất được phân
bổ theo kế hoạch. Đầu vào bởi nhà nước là quy hoạch hoặc quyết định phát triển và
phân bổ đất cho những người nông dân, nhà nước đã đầu tư vào cả cơ sở hạ tầng
bên ngoài lẫn bên trong. Đầu vào của khu vực tư nhân, tức là của các cư dân, là các
ngôi nhà của họ, họ kết nối các ngôi nhà của họ với cơ sở hạ tầng tại chỗ.
Quan sát thực địa : đã được tiến hành mà không có vấn đề gì, khu đô thị đã được
tham quan ba lần để quan sát và phỏng vấn. Các khu phố, các ngôi nhà, người dân,
cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị khác đã được quan sát phù hợp với danh sách các
chỉ số cho khu đô thị đầy đủ.
Phỏng vấn: lãnh đạo cộng đồng và ba cư dân đã được phỏng vấn. Các cuộc
phỏng vấn cần 20 phút cho tới 1 giờ 30. Các cuộc phỏng vấn với các cư dân ngắn
hơn, và một với lãnh đạo cộng đồng được thực hiện đồng thời và dài hơn. Danh
sách các chỉ số khu đô thị đầy đủ đã được sử dụng cho danh sách kiểm tra của các
câu hỏi. Lãnh đạo cộng đồng, những người sống trong làng gần với khu đô thị, đã
được thấy cho cuộc gặp mặt với một nỗ lực tìm kiếm không đáng kể. Hai cuộc
phỏng vấn trước với các lãnh đạo cộng đồng đã chứng tỏ là phỏng vấn với họ là rất
quan trọng để có được những hiểu biết sâu sắc về khu đô thị và nhịp độ phát triển
của nó. Khu đô thị mới, cùng với ngôi làng nơi mà những nông dân đã đến từ trước,
nằm trong trách nhiệm của một lãnh đạo cộng đồng, là người đã được phỏng vấn.
Tất cả các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện mà không có vấn đề gì. Các cuộc
phỏng vấn từ khu đô thị này đã là các phỏng vấn cuối cùng. Một số số liệu như bản
đồ chỉ ra các cộng đồng khác nhau, và bản đồ phác thảo của khu đô thị, đã có được
trong khi phỏng vấn với lãnh đạo cộng đồng, dưới dạng giấy hoặc ảnh chụp tại chỗ.
Bảng 3.9 cho thấy danh sách của các cuộc phỏng vấn và một số chi tiết.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
80
hận xét N hững Th
o. người t ả lời ời
phỏng vấn gian
(phút)
1 Lãnh đạo 80 Đã cung cấp thông tin rất chi tiết về khu đô thị,
cộng đồng tình hình sống trong khu vực từ trước khi phân bổ
và phát triển đất đai được bắt đầu
2 Cư dân 1 40 Là người nông dân bản địa có đất đai được thu hồi
để phát triển mở rộng. Bà đã nhận được mảnh đất
của mình vào 2005 và đã xây ngôi nhà mới vào
2008, các công trình nội thất vẫn chưa được hoàn
thiện. Bà giữ lại ngôi nhà cũ của bà trong ngôi
làng cũ, phàn nàn về ngập lụt do hệ thống cống tại
chỗ không được kết nối với hệ thống bên ngoài,
việc làm sạch đường phố và thu gom rác không
được tiến hành đều đặn
3 Cư dân 2 35 Là người dân bản địa có đất đai được trưng dụng
cho phát triển mở đường. Bà đã nhận được đất của
mình vào 2003 và công việc xây dựng ngôi nhà
mới đã được hoàn thiện vào 2008. Bà ta vẫn còn
giữ một mảnh đất nhỏ, về phía nam của khu đô thị
ở diện tích mà sử dụng đặc biệt sẽ được tiến hành,
và phàn nàn về ngập lụt do hệ thống cống rãnh
hành động không tốt
4 Cư dân 3 20 Gia đình cô đã mua đất vào 2004 và đã xây nhà
của họ. Cô thỏa mãn với khu đô thị, khu đô thị là
an toàn, khi so với khu đô thị cũ (là khu đô thị 4
trong nghiên cứu này), là nơi cách đó chỉ khoảng
50 mét, là nơi có vấn nạn trộm cắp
Bảng 3.9 D.sách những người trả lời phỏng vấn, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá,HN
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
81
Phân tích số liệu đồ thị : Ảnh vệ tinh Google earth từ 2000 tới 2008, bản đồ chỉ
ra các cộng đồng khác nhau, và bản đồ phác họa của khu đô thị đã được sử dụng.
Bản đồ các cộng đồng và bản đồ phác thảo đã được sử dụng như tài liệu tham khảo
và so với các ảnh vệ tinh. Các ảnh vệ tinh đã được phát triển cho phát hiện thay đổi
và so sánh tình huống thực địa với điều đã được tìm thấy bởi các cuộc phỏng vấn.
Trong trường hợp này các ảnh vệ tinh đã chỉ ra quá trình phát triển từ khu vực nông
nghiệp tới khu vực xây dựng. Các số liệu đồ thị này, chủ yếu là các ảnh vệ tinh đã
giúp cho việc định hướng, thảo luận với những người trả lời phỏng vấn, và chỉ ra
các đối tượng cần quan tâm. Toàn bộ phân tích số liệu đã được thực hiện bằng tay,
không sử dụng bất kỳ phần cứng và phần mềm nào. Bảng 3.10 cung cấp các chi tiết
về số liệu đồ thị này.
No Kiểu ố li u Được Chi tiết
. cung
cấp b i
1 Ảnh vệ tinh Google Các ảnh từ 2000-2008, rất hữu ích cho phát hiện
Earth những thay đổi và phát triển theo thời gian
2 Bản đồ cộng Lãnh Đây là bản đồ vẽ chỉ ra cộng đồng 9, trong đó
đồng khu đô thị đang nghiên cứu được phân bổ. Nó đạo
đã chỉ ra tất cả các miếng đất của khu đô thị 3. cộng
đồng Từ bản đồ này có thể thấy cộng đồng 9, không
gống như 11 cộng đồng khác thuộc về cùng một
đơn vị quản lý hành chính, vì cộng đồng 9 bao
gồm diện tích tách biệt, khu đô thị mới và một
làng cũ
3 Bản đồ phác Lãnh Từ tháng Mười hai 2008, đã cung cấp tổng quan
thảo tốt về các ngôi nhà, được xây dựng cho tới khi đạo
đó, các vị trí và các đường phố, được sử dụng cộng
đồng cho các công việc hàng ngày của các lãnh đạo
cộng đồng
Bảng 3.10 Danh sách số liệu đồ thị và chi tiết, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, HN
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
82
Các kết quả : các kết cục thu gom số liệu, thông qua quan sát phỏng vấn thực địa
và phân tích các số liệu đồ thị được tóm tắt trong dạng bảng về các chỉ số ‘khu đô
thị đầy đủ’. Bảng 3.11 cung cấp tóm tắt này.
N Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà ội
o. Các chỉ ố Các thuộc tính
1 Chất lượng nhà và đất Các ngôi nhà là những ngôi nhà mới có chất
lượng tốt và trông rất đẹp. Tất cả các ngôi nhà đã
được xây dựng từ 2006. Ngôi nhà thương 4-5
tầng. Nhiều tầng trệt của các ngôi nhà được sử
dụng cho mục đích thương mại, giống như cửa
hàng nhỏ, cửa hàng ăn uống, … Một số trong
chúng được vận hành bởi các chủ sở hữu, và một
số cho thuê tầng trệt của họ và sống ở các tầng
trên. Các ngôi nhà không nằm trên các miếng đất
mở, biên giới của nhà là biên giới mảnh đất
2 Điện Điện được cung cấp bởi nhà nước, cả bên ngoài
lẫn bên trong, khi đất đai được phát triển, kết nối
bên trong các khu phố với các ngôi nhà được
thực hiện bởi các cư dân, chất lượng là tốt, nhưng
vẫ được cung cấp theo cách tương tự như trong
khu đô thị 2, tức là dây điện vẫn được treo trên
không trung, nối với các trung tâm ở góc phố,
nhưng không dày đặc như khu đô thị 2, không có
phàn nàn gì
3 Cung cấp nước Được cung cấp bởi nhà nước, cả bên ngoài lẫn
bên trong khu phố, khi đất đai được phát triển,
kết nối từ bên trong khu phố với các ngôi nhà
được thực hiện bởi các cư dân, chất lượng tốt,
không có phàn nàn
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
83
4 Cống rãnh Được cung cấp bởi nhà nước cả bên ngoài lẫn
bên trong các khu phố, khi đất đai được phát
triển, kết nối từ bên trong khu phố tới các ngôi
nhà được thực hiện bởi cư dân, cống rãnh hoạt
động không tốt, khi mưa, vì hệ thống bên trong
không được kết nối với hệ thống bên ngoài
5 Lò sưởi Không cần thiết vì Hà Nội ở vùng nhiệt đới
6 Thu gom rác Được thu thập bởi chính quyền cấp quận, phí
được cư dân thanh toán, phàn nàn vì không được
thu gom thường xuyên
7 Làm sạch phố Làm sạch được thực hiện bởi chính quyền quận,
phí được cư dân trả, phàn nàn về làm sạch không
thường xuyên
8 Chiếu sáng Không có chiếu sáng đường phố, đường chính có
chiếu sáng, nhưng ở khu phố mới có chiếu sáng
đầy đủ cả bên trong lẫn bên ngoài các khu phố
9 An ninh Không có vấn đề, nhưng chỉ cách khoảng 50-60
mét so vớikhu đô thị khác này là một khu đô thị
khác, là khu đô thị 4 trong nghiên cứu này, có
vấn đề với tệ nạn trộm cắp
1 Đi lại Đường đi lối lại tốt, chất lượng tốt, độ rộng
0 đường thích hợp khi kết nối với đường chính,
đường nội bội có chất lượng tốt, có vỉa hè đi bộ.
1 Đường phố Có đủ không gian cho giao thông và người đi bộ,
1 không có cây trong đường phố nội bộ, dây điện
treo trên không trung
1 Công viên và chỗ giải Không, nhưng các cư dân tuyên bố có thể tiếp
2 trí cận tới các công viên và chỗ giải trí ở khu đô thị
bên cạnh
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
84
1 Sân chơi Không, nhưng có thể sử dụng ở khu đô thị bên
cạnh 3
1 Trường học và vườn Có đủ trường học và nhà trẻ
4 trẻ
1 Dịch vụ cơ bản Có tất cả các dịch vụ cơ bản, nhưng thu gom rác
5 và làm sạch không được thường xuyên
1 Chiếm hữu đất An toàn, các mảnh đất đều được đăng ký
6
1 Quy hoạch Không có quy hoạch mở rộng cho phát triển
7 tương lai
1 Chi tiết phát triển và Khu vực này đã là ruộng lúa, vào 2003 quyết
8 động học định phát triển đã được đưa và và kế hoạch đã
được thiết lập. Đất đai của những người nông dân
đã được trưng dụng và đền bù với đất đai cư trú,
cộng với một số tiền để từ bỏ làm ruộng. quy
hoạch phân bổ đất đai đã được tiến hành và phân
bổ cho các nông dân. Đất đai đã được phát triển
tới một mức độ nhất đinh, tức là nước, điện, cống
rãnh và đường xả, cả bên trong lẫn bên ngoài, đã
được thiết lập và cung cấp bởi nhà nước. Những
người nông dân đã được đền bù với đất cư trú
cho đất làm ruộng của họ đã có những ngôi nhà
của họ trong ngôi làng cũ khoảng 1km so với nơi
ở mới. Do vậy một số ngôi nhà cũ của họ đã
được bán và họ đã xây dựng ngôi nhà mới tại chỗ
mới, và một số vấn giữ lại đất cũ cho sử dụng
tương lai hoặc cho con cháu họ. Các ngôi nhà đã
được xây dựng từ 2006 bởi các cư dân, vào tháng
Mười 2009 trên hơn 2/3 các miếng đất, các ngôi
nhà được xây cao và phát triển vẫn đang tiếp diễn
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
85
nhanh chóng. Khu đô thị này là một ví dụ tốt của
một vùng được quy hoạch và phát triển tới một
mức độ nhất định. Đầu vào bởi nhà nước là quy
hoạch hoặc quyết định phát triển và phân bổ đất
cho nông dân, nhà nước đã đầu tư vào cả cơ sở
hạ tầng cơ bản bên ngoài lẫn bên trong. Đầu vào
của khu vực tư nhân, tức là các cư dân, là các
ngôi nhà của họ, họ kết nối các ngôi nhà của họ
với cơ sở hạ tầng tại chỗ.
Bảng 3.11 Các kết quả của thu gom số liệu, Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà
Nội
3.5.5 Khu đô thị 4, T iều khúc
Khu đô thị 4 được bố trí tại Triều khúc của huyện Thanh trì, chỉ ngay bên cạnh
với khu đô thị 3, là vị trí nằm ở phía tây nam của Hà Nội. Khu vực này bằng phẳng,
có một ruộng lúa nhỏ nằm ở phía đông bắc. Phần còn lại của khu vực được bao
quanh bởi các khu vực dân cư, các khu vực phát triển mới tại phía tây và nam làng
chính Triều khúc, mà từ đó khu đô thị đã được xây dựng. Khu đô thị này được coi là
khu vực phát triển tự phát không được bổ sung bởi hỗ trợ. Vào cuối những năm
1980, khi dân số của ngôi làng cổ Triều khúc đã tăng lên, do vậy chính quyền quản
lý hành chính làng đã quyết định phân bổ đất cho thế hệ tiếp theo của các cư dân
trong làng. Khu vực này nằm ở phía tây, nơi mà đã có một số ,các sân phơi thóc,
một xưởng sản xuất dệt nhỏ và các khu chăn nuôi, đã được phân bổ vào năm 1990.
Đất đai đã không có cơ sở hạ tầng nào, nhưng có điện. Bộ phận quản lý hành chính
của làng đã chia nhỏ các miếng đất, khoảng 120 mét vuông một mảnh, nhưng sau
năm 2000, nếu bất kỳ cải thiện hoặc thay đổi nào được thực hiện trên mảnh đất, cần
phải có được sự chấp thuận của các cấp chính quyền. Cơ sở hạ tầng cơ bản tại chỗ,
ngoại trừ điện, đã được xây dựng dần dần bởi các cư dân. Khởi đầu tất cả các ngôi
nhà chỉ có một tầng, dần dần được cải thiện, các ngôi nhà từ ba cho tới năm tầng đã
được xây dựng từ 2000. Điện đã được lắp đặt trong vùng diện tích này khi định cư
được bắt đầu vào 1990. Nước được cung cấp từ các giếng khoan trên các mảnh đất
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
86
và sau đó được kết nối với cung cấp tập trung bởi chính phủ. Ngày nay nước và
điện được cung cấp bởi một cơ quan, chất lượng rất kém cỏi. Cống rãnh vả đường
xá đã được xây dựng bởi bản thân các cư dân hoặc thuê người khác dần dần từ 1993
tới 1996. Các dịch vụ cơ bản, như thu gom rác và làm sạch đường phố được thực
hiện bởi chính quyền cấp quận, chất lượng là tốt. Phố xá được chiếu sáng, nhưng
chất lượng kém cỏi, an ninh có vấn đề, do những vấn nạn trộm cắp. Khu đô thị có
chất lượng tốt, nhưng đường phố bên trong các khu phố chật hẹp dẫn tới đường
chính có chất lượng rất kém nằm ở phiá nam, và con đường tốt mới xây dựng ở phía
tây. Khu đô thị này không có công viên và các khu xanh, các cư dân đã tự xây dựng
các sân chơi vào 2000. Các trường học và nhà trẻ là có đủ. Chiếm hữu đất là an toàn
và có đăng ký. Có một số quy hoạch để cải thiện hệ thống cống rãnh vì nó bị ngập
lụt khi trời mưa, và cải thiện đường đang ở trong các điều kiện rất kém cỏi. Đối với
khu đô thị này, đầu vào từ khu vực công cộng là đất đai và điện. Đầu vào từ khu
vực tư nhân, tức là các cư dân, là các con đường nhỏ trong khu phố, hệ thống cống
rãnh và cung cấp nước.
Quan sát hiện trường : đã được tiến hành mà không có vấn đề gì, khu đô thị đã
được tham quan bốn lần để quan sát và phỏng vấn. Đường phố, nhà cửa, người dân,
cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị được quan sát theo danh sách các chỉ số cho khu
đô thị đầy đủ.
Phỏng vấn : lãnh đạo cộng đồng và ba cư dân đã được phỏng vấn. Các phỏng vấn
đã chiếm từ 30 phút tới 1 giờ 30 phút. Các cuộc phỏng vấn với các cư dân là ngắn
hơn, và một cuộc phỏng vấn được tiến hành với lãnh đạo cộng đồng với thời gian
dài hơn. Danh sách các chỉ số khu đô thị đầy đủ đã được sử dụng để kiểm tra các
câu hỏi. Lãnh đạo cộng đồng, là người đã sống trong làng chính Triều khúc đã tỏ ra
rất hữu ích. Ông ta đã tiếp xúc với các quan chức cấp phường và có được quy hoạch
cho cải thiện hệ thống cống rãnh. Lãnh đạo cộng đồng phụ trách cả làng cũ Triều
khúc lẫn khu định cư mới, khu đô thị 4. Tất cả các cuộc phỏng vấn đã được thực
hiện mà không có vấn đề gì
Trụ sở đất đai và phát triển đô thị quận đã được tiếp xúc theo đường HUD, tuy
nhiên không có phỏng vấn nào được thực hiện với họ vì không còn thời gian, nhưng
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
87
bản đồ địa chính của vùng đã có được. Bảng 3.12 cho biết danh sách các cuộc
phỏng vấn và một số chi tiết.
hận xét N gười t ả lời Th
o phỏng vấn ời
gian
(phút)
1 Lãnh đạo cộng 80 Đã cung cấp thông tin rất chi tiết về khu đô
đồng thị, các cuộc sống trước khi phân bổ đất cho
thế hệ sau trong khu vực mới
2 Cư dân 1 40 Đến khu vực này từ 1999, đã mua đất và nhà,
nhà của bà bị tác động bởi quy hoạch để cải
thiện và mở rộng đường, không vui vì đền bù
được như đề nghị
3 Cư dân 2 40 Là dân bản địa của Triều khúc, nhận đất đai
từ quản lý hành chính cấp phường, rất hạnh
phúc có được đất hầu như miễn phí , xây
dựng nhà của anh ta, dần được cải thiện từ
ngôi nhà nhỏ thành ngôi nhà lớn, lần cải thiện
cuối cùng vào năm 1998
4 Cư dân 3 30 Là dân bản địa Triều khúc, nhận đất từ quản
lý hành chính cấp phường, đầu tiên anh ta có
một ngôi nhà nhỏ một tầng, đã làm việc chăm
chỉ để cải thiện nó cuối cùng thành ngồi nhà
to bốn tầng vào năm 2009
Bảng 3.12 Danh sách những người trả lời phỏng vấn, Khu đô thị 4, Triều
khúc, Hà Nội
Phân tích số liệu đồ thị : Ảnh vệ tinh Google Earth từ 2000 tới 2008, bản đồ địa
chính, quy hoạch cải thiện hệ thống cống rãnh đã được sử dụng. Những ngôi nhà
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
88
xây dựng chật chội và các phát triển hầu như theo chiều cao không cho phép phát
hiện những thay đổi sử dụng ảnh vệ tinh. Số liệu đồ thị chủ yếu được sử dụng cho
tham khảo, định hướng và thảo luận. Toàn bộ phân tích số liệu đã được thực hiện
thủ công, không sử dụng phần mềm và phần cứng nào. Bảng 3.13 cung cấp các chi
tiết về số liệu đồ thị
Kiểu ố Được cung Chi tiết N
o. li u cấp b i
1 Ảnh vệ tinh Google Các ảnh từ 2000-2008, không rất hữu ích
Earth để phát hiện các thay đổi và phát triển
theo thời gian
2 Quy hoạch Chính Quy hoạch đã được dựa trên bản đồ địa
cải thiện cống quyền cấp chính và cho thấy các chi tiế của các cải
rãnh phường qua thiện quy hoạch cho toàn bộ khu làng, kể
lãnh đạo cộng cả khu đô thị
đồng
3 Bản đồ địa Quản lý Bản đồ này đã có được bằng các phương
chính hành chính đất tiện điện từ tới cuối giai đoạn công tác
đai quần và hiện trường, và nó đã không được sử
cấp chính dụng
quyền phát
triển đô thị
Bảng 3.13 Danh sách số liệu đồ thị và các chi tiết, Khu đô thị 4, Triều khúc,
Hà Nội
Các kết quả : các kết cục thu gom số liệu, thông qua quan sát và phỏng vấn thực
địa và phân tích số liệu đồ thị được tóm tắt dưới dạng bảng dựa trên cac chỉ số ‘khu
đô thị đầy đủ’. Bảng 3.14 cung cấp tóm tắt
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
89
No. Khu đô thị 4, à ội
Chỉ ố Các thuộc tính
1 Nhà cửa và đất Các ngôi nhà có chất lượng khác nhau, một số là nhà cũ
đai một tầng từ 1990 và một số là nhà mới từ 2009. Các ngôi
nhà luôn đang cải thiện. Đa số các ngôi nhà có diện tích
mở ở phía trước, xấp xỉ 14x4 m. Các ngôi nhà đối mặt
với đường chính về phía nam và phía tây không có
không gian mở, chúng được xây dựng bên đường và tất
cả chúng đều có cửa hàng kinh doanh ở tầng trệt
2 Điện Được cung cấp bởi công ty, đã không có điện từ khi bắt
đầu vào 1999, các đường điện/trạm điện đã được lắp đặt
bên trong các khu phố, từ các khu phố các cư dâng kết
nối điện vào nhà của họ
3 Cung cấp nước Ban đầu nước được lấy từ các giếng khoan bên trong các
mảnh đất, từ 2000 tới 2003 trạm nước đã được thiết lập ở
gần đó và được cung cấp bởi công ty, chất lượng là
không tốt, cả các đường ống bên ngoài cũng như bên
trong, các cư dân đã kết nối các đường ống dẫn nước vào
các ngôi nhà của họ ở trong các khu phố
4 Cống rãnh Được xây dựng bởi các cư dân từ 1993 đến 1996, hệ
thống cống rãnh hoạt động không tốt khi có mưa, lần
cuối được cải thiện vào 2007 bởi những cư dân, vẫn bị
ngập lụt khi trời mưa, đã được phản ánh lên cấp quận,
quy hoạch cho cải thiện và lần này nhà nước có thể thanh
toán cho cải thiện
5 Lò sưởi Không cần thiết vì Hà Nội ở vào khu nhiệt đới
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
90
6 Thu gom rác Được thu bởi công ty, phí được thanh toán bởi các cư
dân, không có phàn nàn nào
7 Làm sạch Làm sạch được thực hiện bởi công ty, phí được thanh
đường phố toán bởi người dân, không có phàn nàn
8 Chiếu sáng Có chiếu sáng trong các khu phố, đường chính được
chiếu sáng, cả hai đều có chất lượng tồi
9 An ninh Vấn nạn trộm cắp rất phức tạp
10 Đi lại Vấn đề đi lại khá tươm tất, từ hai con đường lớn có các
con phố hẹp có thể đi lại tốt. Một trong những đường
chính có chất lượng rất kém và nó kết nối với khu đô thị
với làng cũ, một con đường khác là mới xây dựng, chất
lượng tốt và kết nối khu đô thị với đường chính, đi lại từ
đường lớn vào các ngôi nhà trong phố là đủ tốt, và các
ngôi nhà liên lạc với nhau bởi các đường phố hẹp hơn
11 Phố xá Hai con phố lớn. Một ở phía tây của khu đô thị có chất
lượng tốt có vỉa hè và cây xanh, có đủ không gian. Một
con phố ở phía nam không có chất lượng đủ tốt, đường
xá bị phá hủy nặng nề, ngập lụt, chật hẹp tại một số chỗ,
và không có vỉa hè, ít cây cối. Các con phố bên trong là
rất hẹp, chỉ đủ hoặc thậm chí không đủ cho hai xe máy
tránh nhau, nhưng chất lượng tốt, và sạch.
12 Công viên và Không
nơi giải trí
13 Sân chơi Có, các cư dân tự mình đã xây dựng một sân chơi
14 Trường học và Khu đô thị có đủ trường học và nhà trẻ
nhà trể
15 Dịch vụ cơ bản Tất cả các dịch vụ cơ bản đều sẵn có
16 Chiếm hữu đất An toàn, các mảnh đất đều có đăng ký
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
91
17 Quy hoạch Có quy hoạch cho chương trình đường và cống rãnh
18 Các chi tiết Khu đô thị ban đầu là chỗ cất giữ, chuồng trại chăn nuôi
phát triển và và sân phơi thóc, nhưng do tăng trưởng dân số cho nên
động học các cấp chính quyền đã quyết định chuyển đổi sử dụng
thành nơi định cư. Các dân cư đã được phân bổ đât cho
mục đích cư trú vào 1990, khoảng 120 mét vuông một hộ
gia đình. Khu vực này đã có điện vào thời kỳ bắt đầu từ
một công ty, các cư dân từ 1993 đến 1996 đã lát các con
phố, đã xây dựng các hệ thống cống rãnh, nước đã được
cung cấp từ các giếng khoan trong khu đô thị. Tất cả các
ngôi nhà ban đầu là các ngôi nhà nhỏ một tầng, chũng đã
được cải thiện dần dần, liên tục, và cơ sở hạ tầng cơ bản
cũng được cải thiện dần dần và liên tục. Tất cả các đầu tư
này cho đến nay đã được thực hiện bởi các cư dân, ngoại
trừ điện đã có từ lúc ban đầu. Vào cuối 2003, cung cấp
nước tập trung đã được sắp đặt bởi một công ty. Lần cải
thiện cuối cùng vào 2007, khi các cư dân đã cải thiện lát
đường các con phố. Như khởi đầu đã nhận thấy, sau khi
phỏng vấn khó có thể quyết định khu đô thị này là phát
triển tự phát với hỗ trợ hay không vì phát triển đã khá
được điều chỉnh bởi các cấp chính quyền theo quyết định
chuyển đổi diện tích thành khu định cư và bởi phân bổ
đất đai. Tuy nhiên trường hợp là thích hợp nhiều cho
nghiên cứu. Đầu vào bởi nhà nước là quy hoạch và quyết
định chuyển đổi dất nông nghiệp thành đất định cư và
phân bổ đất cho những người được phép, và điện từ lúc
bắt đầu và nước trong giai đoạn sau. Đầu vào của khu
vực tư nhân, tức là các cư dân, là các ngôi nhà của họ,
các con phố bên trong và hệ thống cống rãnh, và trong
thời điểm cả nước nữa.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
92
Bảng 3.14 Các kết quả thu gom số liệu, Khu đô thị 4, Triều khúc, Hà Nội
3.6. Phân tích
Phần này đầu tiên cung cấp phân tích về so sánh của ULDM với mô hình thể
chế, xem mục 3.1, và thứ hai tóm tắt phân tích các kết quả nghiên cứu tình huống.
Cuối cùng, các kết quả của so sánh ULDM với mô hình thể chế và các phát hiện
thực nghiệm được tổng hợp và phân tích phản ánh về các đối tượng của ULDM.
3.6. Mô h nh thể chế và ULDM
Đầu tiên, mô hình thể chế được mô tả chi tiết hơn để giải thích các phần tử và các
khía cạnh của nó. Thứ hai, các phần tử của ULDM được đặt vào khung của mô hình
thể chế. Điều này sẽ cho phép phân tích hệ thống về ULDM trong việc so sánh với
mô hình thể chế. Bằng cách so sánh hai mô hình chúng ta sẽ cố gắng xác định mô
hình đề cập một hoàn chỉnh như thế nào những vấn đề phức tạp của quá trình phát
triển, và mô hình có thể hoàn thành một cách có hiệu lực như thế nào các mục tiêu
của nó.
3.6. . . Xem xét chi tiết mô h nh thể chế
Healey (1992) đã nỗ lực để tạo ra một mô hình thể chế mô tả, là sự nắm bắt toàn
bộ và có khả năng ứng dụng tổng quát, khi cố gắng hiểu một cách đầy đủ bản chất
phức tạp và các quá trình phát triển, xem mục 2.6.6. Có một số phê phán đối với mô
hình này. Ball (1998) đã nghiên cứu tổng quát mô hình và chỉ ra là sự nhấn mạnh
của mô hình vào thể chế cơ quan cấu trúc, nhưng không có mô tả chính xác nào
được chỉ ra cấu trúc là gì, cơ quan và thể chế, cấu trúc dường như là khung rộng
hơn mà bên trong đó các đại diện vận hành, và các đại diện dường như là những
người chủ chốt làm việc trong thể chế, và thể chế có thể là các tổ chức khác nhau
hoặc các quy tắc và điều chỉnh rộng hơn. Sự phê phán hình thành của ông là toàn bộ
dựa trên những sự mơ hồ phát sinh từ sự thiếu vắng lời giải thích và định nghĩa
chính xác của những khía cạnh then chốt này. Ông đã phát biểu là mô hình “có một
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
93
số thiếu sót, nhưng trong một phạm vi nào đó, các khó khăn phụ thuộc vào cái được
nỗ lực với mô hình … . Điều này cũng dường như là tiếp cận là thành công nhất khi
được sử dụng trong các nghiên cứu dựa vào thực tế…”. Sau đó Guy và Henneberry
(2000) đã nghiên cứu tổng quan mô hình và đã chỉ ra hai vấn đề chính. Một vấn đề
là nỗ lực tạo lập một sự nắm bắt toàn cục mô hình tổng quát, là mô hình đồng thời
có khả năng điều hòa và vận hành các đặc điểm của tất cả các kiểu tình huống địa
phương khác nhau, và phát biểu rằng điều này là do Healey sử dụng tiếp cận kinh tế
chính trị cho khung mô hình của bà ta. Một vấn đề khác là sự thiếu vắng sự quan
tâm chú ý nhiều hơn tới thể chế, là điều có thể dẫn tới việc xem xét thể chế chỉ như
mối liên kết giữa cấu trúc và cơ quan, và họ trích dẫn Hooper, 1992 như sau “… sự
nguy hiểm là ‘thể chế’ có thể được nhận thức đơn giản như một liên kết trung gian
giữa cấu trúc và cơ quan, yêu cầu chỉ lý thuyết hóa theo nghĩa các quan hệ xã hội và
sau đó được tái kết nối với thế giới vật chất qua một liên kết với sản xuất”. Họ tiếp
tục thảo luận thêm một số nhược điểm của mô hình, nhưng chúng tất cả đều xuất
phát từ hai vấn đề đã được nhắc tới ở đây. Tuy nhiên, họ nhận thấy là Healey đã tiết
lộ các cách thức thay thế cho nhau một cách tiềm năng (so với kinh tế học chính
thống) để hiểu các quá trình của phát triển đất đai bằng cách sử dụng các tiếp cận
khác nhau bên ngoài lĩnh vực bất động sản, những tiếp cận này bao gồm địa lý, kinh
tế, quy hoạch và xã hội học. Thêm vào nhận thức bởi Ball (1998) và Guy và
Henneberry (2000) rằng mô hình của Healey là thích hợp cho sử dụng khi phân tích
các nghiên cứu địa phương hoặc đặc biệt và sử dụng các tiếp cận viễn cảnh khác
nhau một cách tương ứng, nguyên Nhân Chính cho lựa chọn mô hình này là mô
hình này đã tổng hợp tất cả các đặc tính của các kiểu mô hình khác nhau trong phát
triển đất đai và do vậy cung cấp một danh sách đầy đủ các khía cạnh cần được xem
xét khi phân tích mô hình phát triển đất đai. Các phần tử của mô hình được giải
thích dưới đây, dựa trên các khái niệm lý thuyết và nghiên cứu tình huống được
thực hiện bởi Healey, trong Bảng 3.15, mô tả đầy đủ về mô hình đã được củng cố
và ví dụ của nó.
Các Mô tả
phần t
Các sự Chúng là danh sách các hoạt động, trong một trật tự kế tiếp, được
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
94
kiện thực hiện qua quá trình phát triển. Sẽ khó khăn và gây tranh cãi khi
đồng ý về danh sách tối thiểu các kiểm soát, do vậy nghiên cứu cẩn
thận là cần thiết cho mỗi trường hợp để nhận biết các sự kiện có ý
nghĩa cho biến đổi trong trật tự của nó.
Đầu vào: Chúng là các nguồn lực hiện vật được sử dụng trong quá trình phát
các nhân triển hoặc sản xuất, và chúng bao gồm quyền sử dụng đất, lao động,
tố sản vốn tài chính, thông tin và trình độ chuyên môn. Healey nhấn mạnh
xuất rằng bản chất của các nguồn lực sẵn có sẽ biểu diễn các cấu trúc
kinh tế bao quanh các quan hệ sản xuất và trao đổi nói chung và sản
xuất bất động sản nói riêng. Bà nói về mô hình của Harvey đối với
các vòng quay của vốn, và phát biểu rằng mô hình này đề xuất việc
lý thuyết hóa tổng quát có giá trị của các luồng tài nguyên hiện vật,
nhưng phản ánh các tình trạng trong nền kinh tế tư bản.
Đầu ra và Các đầu ra là các sản phẩm của quá trình phát triển giống như các
tác động: tòa nhà có các giá trị hiện vật (cho tiêu dùng nhà để sống trong đó,
các sản sản xuất và đầu tư các tòa nhà được sử dụng cho sản xuất và đầu tư
phẩm và tiếp theo giống như các nhà máy, các trụ sở, …), các giá trị trừu
kết cục tượng giống như các gói các quyền sở hữu, và cấu trúc hữu hình vật
lý với các giá trị biểu tượng và thẩm mỹ.Các tác động là các kết cục
và các tác động của sản xuất hoặc quá trình phát triển. Điều này có
thể là lợi nhuận từ giao dịch đất đai, phát triển và xây dựng, hoặc nó
có thể là các công ăn việc làm được tạo ra trong quá trình sản xuất
và các dịch vụ kèm theo và công trình xây dựng, tác động của vùng
được phát triển có thể tác động những vùng khác. Nói cách khác,
các kết cục và các tác động của toàn bộ quá trình phát triển có thể
tạo ra cầu cho các sản phẩm và dịch vụ khác.
Các vai Những vai trò này là các vai trò của các đại diện trong sản xuất và
trò trong chúng có thể được nhóm lại dựa trên các nhân tố sản xuất. Quyền sở
sản xuất hữu đất đai vai trò có thể là người kiểm soát quyền sở hữu hoặc
người kiểm soát quyền phát triển. Lao động vai trò có thể là công ty
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
95
làm sạch đất đai, nhà sản xuất nguyên vật liệu xây dựng hoặc công
ty đấu thầu, người cung cấp cơ sở hạ tầng, đại lý bán hàng, cố vấn
chuyên gia v,v,, Vốn vai trò có thể là nhà cung cấp vốn từ tiết kiệm
hộ gia đình và tài sản cá nhân, vốn sản xuất, vốn thương mại, vốn tài
chính, nhà đầu tư công cộng giống như từ doanh thu thuế, và nhà
cung cấp máy móc.
Các vai Các vai trò này là các vai trò của các đại diện trong các kết cục hoặc
trò trong tiêu dùng sản phẩm và các giá trị tương ứng của chúng. Các giá trị
tiêu dùng hiện vật các vai trò có thể là tiêu dùng các giá trị hiện vật trong quá
trình sản xuất như quá trình công nghiệp, thương mại … hoặc trong
quá trình tiêu dùng/sử dụng như nhà ở, dịch vụ và trang thiết bị giải
trí, và trong các quá trình đầu tư. Các giá trị trừu tượng (quyền sử
dụng đất) các vai trò có thể là chủ sở hữu của ngôi nhà, người chủ
cho thuê nhà, người thế chấp …. Các vai trò tiêu dùng có thể cũng
liên quan tới môi trường, ví dụ người bảo vệ chất lượng môi trường,
giống như các nhóm áp lực, các cơ quan quy hoạch, các cơ quan bảo
tồn đặc biệt ….
Các vai Các vai trò trong sản xuất và tiêu dùng được kiểm tra và các mối
trò và các quan hệ tương hỗ được kiểm tra. Điều này là quan trọng để nhận bết
mối quan các quan hệ quyền lực trong và giữa những người sản xuất và những
hệ người tiêu dùng. Việc sắp xếp các vai trò mang lại sự chỉ ra lợi ích
của các người đại diện.
Các chiến Cần thiết phải chỉ ra các chiến lược và các mối quan tâm của các tác
lược và nhân, nói riêng đối với các tập mối quan hệ có ý nghĩa nhất bên
các mối trong quá trình phát triển. Điều này sẽ giúp cho việc tìm ra các
quan tâm nguyên nhân cho các vai trò khác nhau được đóng và các mối quan
hệ được phát triển là gì. Sau khi đã tìm được các nguyên nhân (nếu
có thể tìm được), đánh giá cần được liên hệ với các tài nguyên, các
quy tắc và các ý tưởng cai quản phát triển.
Quy tắc Các quy tắc là các quy tắc của tổ chức thể chế và điều chỉnh chính
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
96
tài nguyên trị cai quản cách thức tài nguyên được sử dụng. Những quy tắc này
ý tưởng có thể được hình thức hóa trong luật và thủ tục quản lý hành chính
hoặc tồn tại như tập tục và thực hành. Các quy tắc quan trọng là cai
quản quyền sở hữu và kiểm soát các tài nguyên.Cácýtưởng tạo nên
phát triển các tài nguyên,các quy tắc và thông báo các mối quan
tâm, chiến lược cho các tác nhân. Những ý tưởng này mang theo các
giả thiết về bản chất của các thành phố, tương lai kinh tế và tổ chức
xã hội, về các giá trị môi trường, về các quan hệ thích hợp giữa các
lĩnh vực công cộng và tư nhân. Tất cả những điều này có tác động
cấu trúc tối quan trọng tới cách thức mà các đại diện nhận thức các
mối quan tâm của họ và thiết lập ra các chiến lược của họ.
Chế độ Đây là mức phân tích cuối cùng và nó liên quan tới lý thuyết hóa
sản xuất bản chất của các chế độ của sản xuất và điều chỉnh, của ý thức hệ và
Chế độ của các quan hệ giữa chúng và mô tả của các tình huống xã hội cụ
điều thể. Điều này sẽ cho phép khám phá ra các nội dung trong đó các
chỉnh quá trình phát triển có các dạng khác nhau trong nền kinh tế và xã
hội cụ thể đó. Việc lý thuyết hóa này của các quan hệ xã hội bao Ý thức hệ
gồm các chiến lược và mối quan tâm của các tác nhân, và các tài
nguyên, các quy tắc và các ý tưởng sẵn có cho chúng do vậy trở
thành một khung bên trong đó để quan sát
Bảng 3.15 Các phần tử của mô hình đã được củng cố (được tạo ra dựa trên
Healey 1992)
Dưới đây, trong mục tiếp theo các phần tử của ULDM được mô tả trong khung
mô hình thể chế.
3.6.1.2 Mô h nh thể chế và ULDM
Các phần tử và lý thuyết hóa của ULDM được so sánh với mô hình thể chế. Bảng
được tạo ra trong mục trước, Bảng 3.16, được sử dụng cho so sánh này. Thêm vào
các phần tử của bảng này có thêm một phần tử, bên hữu quan, được bổ sung vào.
Các Mô tả
phần
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
97
t
Các 1. Cung cấp đất. Đất đai có được bởi khu vực công cộng, tư nhân
sự kiện 2. Đầu tư vào đất đai. Khu vực tư nhân đầu tư vào các tòa nhà và các
mảnh đất, các đầu tư tạichỗ. Khu vực công cộng đầu tư vào cơ sở hạ
tầng bên ngoài và các trang thiết bị công cộng, như giáo dục và dịch
vụ cơ bản, công viên, ….
3. Tạo lập khu vực đô thị mong muốn. Các nỗ lực đồng thời được
thực hiện bởi khu vực công cộng và tư nhân tạo ra các khu vực đô thị
bền vững, là điều tạo ra nhiều của cải hơn.
Các 1. Khu vực tư nhân, có nhiều bên hữu quan khu vực tư nhân, ví dụ,
bên hữu chủ sở hữu đất đai tư nhân, là người đầu tư, xây dựng các ngôi nhà
quan của họ, các công ty xây dựng, các tổ chức tài chính vân vân. Tuy
nhiên, đối với ULDM, trừ phi phát biểu một cách đặc biệt, khu vực tư
nhân sẽ được hiểu là chủ sở hữu đất đai tư nhân, là người đầu tư và
xây dựng ngôi nhà của anh ta.
2. Khu vực công cộng, một lần nữa có nhiều bên hữu quan khu vực
công cộng, ví dụ nhà nước với chính sách nhà ở của chính phủ, các
cấp chính quyền địa phương, là những người ứng dụng các chính
sách, các tổ chức công cộng khác nhau như quy hoạch, điều chỉnh, địa
chính v.v... Tuy nhiên, đối với ULDM, trừ phi phát biểu riêng, khu
vực công cộng sẽ được hiểu là chính phủ kể cả tất cả chức năng và tổ
chức của nó.
Các 1. Đất đai :dưới dạng vật lý và dạng trừu tượng quyền sở hữu đất đai,
đầu được cung cấp bởi các khu vực tư nhân và công cộng
vào: 2. Lao động : bởi khu vực tư nhân trong xây dựng, nó có thể là cả các
Các cá nhân tư nhân, bản thân xây dựng, hoặc công ty xây dựng. Lao động
nhân tố công cộng như các nỗ lực được thực hiện trong quy hoạch, kiểm soát
sản xuất đối với các phát triển vân vân.
3 .Vốn : các đầu tư tiền bạc bởi các cá nhân tư nhân và các công ty
tư nhân, và khu vực công cộng
Các đầu 1.Vùng đô thị mong muốn, kể cả một khu đô thị đầy đủ
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
98
ra và 2.Quyền sở hữu, an toàn hơn và với giá trị cao hơn do phát triển
các tác 3.Các tác động tới xã hội như một tổng thể là khá lớn. Về nguyên
động: thủy, các tác động là các lợi ích cho những bên hữu quan trung gian
các sản như ngành tư nhân các cư dân hưởng thụ sinh kế đầy đủ theo nghĩa
phẩm chất lượng cuộc sống, giáo dục, và bất động sản giá trị thêm vào. Các
và các bên hữu quan trực tiếp khác là các bên tham gia trong phát triển như
kết cục các công ty xây dựng, và những người hưởng lợi của tác động bội như
những người sản xuất nguyên vật liệu xây dựng. Sau đó tác động của
toàn bộ quá trình là chu kỳ tạo vốn liên tục. Các khu vực đô thị là
những người sản xuất lớn của tài sản, và lợi nhuận và thu nhập thuế
lại được đầu tư cho phát triển để tạo ra nhiều của cải và vốn hơn nữa.
Các 1, Ngành tư nhân đóng nhiều vai trò trong sản xuất. Các cá nhân tư
vai trò nhân là những người kiểm soát và những người nắm giữ các quyền sở
trong hữu đất, những nhà đầu tư và những nhà xây dựng các ngôi nhà của
sản xuất họ. Các công ty xây dựng để xây dựng các công trình công cộng
2. Khu vực công cộng có vai trò của người tiêu dùng các trang thiết
bị công cộng cho cung cấp giáo dục và cung cấp các dịch vụ cơ bản
của nó. Nó cũng có vai trò bảo dưỡng và bảo vệ của các trang thiết bị
công cộng, giống như các con phố, công viên, và trường học, ….
Các vai ULDM xem xét có các mối quan hệ giữa các khu vực tư nhân và công
trò và cộng, họ hỗ trợ lẫn nhau để đạt được phát triển, mặc dù có thể có áp
mối lực, nếu nó không có ở đó, bởi khu vực tư nhân cho cơ sở hạ tầng bên
quan hệ ngoài, các trang thiết bị và dịch vụ công cộng từ khu vực công cộng,
điều này có thể được thực hành bởi áp lực hoặc liên hệ với các nhà
chính trị
Các Các mối quan tâm của khu vực tư nhân là được cung cấp với cơ sở hạ
chiến tầng bên trong, các trang thiết bị và dịch vụ công cộng từ khu vực
lược và công cộng, và chiến lược của khu vực công cộng là cung cấp cơ sở hạ
các mối tầng bên ngoài, các trang thiết bị và dịch vụ công cộng từ khu vực
quan công cộng càng hiệu quả càng tốt tại mức chi phí thấp nhất
tâm
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
99
Các quy Trong ULDM một quy tắc hoặc giả thiết được xem xét. Người ta có
tắc – tài đất là trong tay của khu vực tư nhân có tình trạng chiếm hữu an toàn
nguyên và đất đai được đăng ký. Chế độ chiếm hữu có thể cả là quyền sở hữu
– ý lẫn quyền cho thuê, và những người giữ quyền chiếm hữu hưởng
tưởng quyền tự do phân phối và chuyển nhượng các quyền của họ mà không
cần đăng ký. Các chuẩn mực và các tiêu chuẩn được chấp nhận chung,
ví dụ giống như các nguyên tắc phát triển bền vững
Chế độ Lý thuyết hóa nằm bên dưới của ULDM là khu vực công cộng và tư
sản xuất nhân đầu tư đồng thời cho phát triển đất đô thị, được thúc đẩy bởi lợi
ích của họ để đạt được sinh kế đầy đủ cho khu vực tư nhân và phát Chế độ
triển bền vững cho công cộng, tức là, xã hội. Trong trường hợp này điều
chế độ sản xuất, điều chỉnh và ý thức hệ không được xem xét thực tế, chỉnh
nhưng khung kinh tế-xã hội toàn cục bên trong đó nghiên cứu được Ý thức thực hiện là các nền kinh tế đang chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập hệ trung sang nền kinh tế thị trường.
Bảng 3.16 Các phần tử và khía cạnh được xem xét trong ULDM trong khung
mô hình thể chế
Có thể quan sát được rằng tất cả các phần tử của phát triển đất đai được đề xuất
bởi mô hình thể chế có thể được thấy trong ULDM. Một số phần tử của ULDM có
thể được thấy rõ từ mô tả của nó, và một số là khá ẩn tàng và bị che dấu, nhưng có
thể được tìm thấy trong mô tả của nó. Dưới đây là các phần tử được thảo luận theo
từng bước một.
Các sự kiện trong ULDM được trình bày, nhưng khá tổng quát, nó chỉ chỉ ra quá
trình phát triển hình vòm từ đất đai để trống hoặc đất đai nông nghiệp thành đất đai
được phát triển theo một cách tương tự như được mô tả trong Hình 2.1 trong
Chương 2. Trong hoàn cảnh nghiên cứu, nó chỉ ra có một đầu tư từ khu vực công
cộng, tư nhân vào đất đai và đã tạo ra khu đô thị đầy đủ. Các bên hữu quan, một lần
nữa, chỉ hai bên hữu quan quan trọng nhất, khu vực công cộng, có nghia là Chính
phủ kể tất cả các chức năng và tổ chức của nó, và khu vực tư nhân, có nghĩa là chủ
sở hữu đất đai cá nhân, là người đầu tư và xây dựng ngôi nhà của anh ta,chị ta. Một
cách ẩn ý, ULDM, đặc biệt khi nó xem xét tác động bội kinh tế, nó xem xét số lớn
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
100
các bên hữu quan tư nhân như các công ty xây dựng và nhà cung cấp vật liệu xây
dựng v.v... Các đầu vào là các nhân tố sản xuất, và mô hình chỉ ra rõ ràng đất đai và
đầu tư là các đầu vào, nhưng một cách ẩn ý vốn sản xuất như các tòa nhà và trang
thiết bị được sử dụng bởi khu vực xây dựng. Các đầu ra và các tác động, các đầu ra
được chỉ ra một cách rõ ràng, có những khu vực đô thị, và trong hoàn cảnh của
nghiên cứu đó là khu đô thị đầy đủ. Một cách ẩn ý, tác động của các đầu tư công
cộng và tư nhân và tác động tổng quát hơn của tạo vốn của các khu vực đô thị là các
tác động của ULDM. Các vai trò của các bên hữu quan, cả trong sản xuất lẫn tiêu
dùng, không được phản ánh nhiều trong ULDM, nhưng các vai trò của chúng có thể
được suy ra, dựa trên mô hình thể chế. Các vai trò của chúng có thể được nhận biết
như các nhà đầu tư, các chủ sở hữu đất đai, những người sử dụng và những người
bảo vệ trong và của khu đô thị và các chất lượng của nó. Các mối quan hệ giữa công
cộng và tư nhân không thể thực sự được thấy từ ULDM, nhưng giả thiết là có một
mối quan hệ thích hợp và tốt giữa chúng sao cho nó tạo ra khu đô thị đầy đủ. Mặc
dù các chiến lược của chúng có thể khác nhau hoặc khá chung theo cách là cả khu
vực công cộng vả tư nhân đều mong muốn chi ra các khoản đầu tư tối thiểu để đạt
được khu đô thị đầy đủ, tức là chiến lược của công cộng là đặt càng nhiều gánh
nặng lên khu vực tư nhân càng tốt và chiến lược của khu vực tư nhân là để cho công
cộng đầu tư càng nhiều càng tốt. Các quy tắc-tài nguyên-ý tưởng là giả thiết rằng
chiếm hữu đất đai là an toàn và được đăng ký, và phát triển xảy ra bên trong ý thức
hệ được chấp nhận chung của phát triển bền vững. Các chế độ sản xuất, điều chỉnh
và ý thức hệ được coi là trong khung các nền kinh tế toàn cục đang chuyển đổi từ kế
hoạch hóa tập trung sang định hướng thị trường, và trong khung này là hoàn cảnh
của cả nghiên cứu nữa.
3.6. Phân tích nghiên cứu t nh huống
Trong mục này các nghiên cứu tình huống được tóm tắt trong một dạng bảng là
cố gắng nhìn thấy nhịp điệu và mẫu hình phát triển và nhận thức được các trường
hợp hỗ trợ hoặc loại bỏ các giả thiết khu đô thị đầy đủ là hàm số của đầu tư tư nhân
và công cộng như thế nào.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
101
nh huống ban Đầu tư công Đầu tư tư Tình huống vào
đầu và bắt đàu tha cộng nhân tháng 10/2009 và các
đổi nhận xét
Khu đô thị 1, Nhân Chính, Hà Nội : được quy hoạch và thực hiện tốt
Ruộng lúa cho tới Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ Được phát triển đầy
khi bắt đầu phát triển bên ngoài một tầng tại chỗ đủ vào 2007, thiếu sân
vào 2002, quyết định lần, đất đai các ngôi nhà, chơi và công viên.
chính phủ để phát và các trang
triển vùng thiết bị công
cộng khác một
lần
Khu đô thị 2, Nhân Chính, Hà Nội : phát triển đồng thời không có hỗ trợ
Khu định cư nhỏ bao Cơ sở hạ tầng Đầu tư trong Được phát triển một
quanh bởi các ruộng bên ngoài tới cơ sở hạ tầng phần, hệ thống cống
lúa vào đầu các khu phố bên tại chỗ từ các rãnh cần cải thiện,
1969,1997 khu đô thị trong của khu đô phố bên trong thiếu thốn nghiêm
trở thành một bộ thị, cung cấp cơ tới các ngôi trọng không gian
phận của quận Thanh sở hạ tầng cơ nhà của họ, và đường phố, thiếu sân
xuân mới được thành bản đã được các ngôi nhà chơi và công viên, các
lập, và khu vực bắt phát triển dần từ được cải thiện ngôi nhà đang trong
đầu đầu tư vào phát 1975 tới 2009 dần dần quá trình hoàn thiện
triển.
Khu đô thị 3, Làng Yên Xá, Hà Nội : quy hoạch và phát triển tới một mức độ
xác định
Ruộng lúa cho đến Cơ sở hạ tầng Đầu tư trong Đã được phát triển
2006, từ đó phát bên ngoài cho cơ sở hạ tầng tốt, một số ít miếng
triển nhà ở đã được tới các con phố tại chỗ từ các đất vẫn còn để trống,
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
102
bắt đầu, vào 2003 bên trong của con phố bên hệ thống cống rãnh
quyết định phát triển khu đô thị được trong tới các không được vận hành
đô thị đã được thực cung cấp một ngôi nhà của đầy đủ, thiếu thốn sân
hiện bởi chính phủ lần, đất đai, và họ, và các ngôi chơi và công viên
các trang thiết bị nhà được xây
giáo dục công dựng dần dần
cộng
Khu đô thị 4, Triều khúc, Hà Nội : Phát triển tự phát được bổ sung bởi hỗ trợ
Trang thiết bị nông Có điện từ lúc Đầu tư tại chỗ Được phát triển một
nghiệp cho tới 1990, bắt đầu, nước từ và đường sá phần, hệ thống cống
vào 1990 quản lý 2003, đường sá bên trong khu rãnh và tuyến đường
hành chính của làng bên ngoài, trang phố, hệ thống chính cần cải thiện,
đã đưa ra quyết định thiết bị giáo dục cống rãnh tại thiếu thốn nghiêm
chuyển đổi vùng này công cộng, và chỗ,và các trọng không gian
thành vùng thổ cư và đất đai ngôi nhà đang đường phố, thiếu công
đã phân bổ đất đai được nâng cấp viên.
dần dần .
Bảng 3.17 Đầu tư công cộng và tư nhân tóm tắt
và các tác động của chúng tới phát triển đất đai
3 7 Điều t a ố li u thực tế tại 4 khu đô thị minh hoạ cho mô h nh ULDM
3 7 1 Phương pháp tính toán
*Qua điều tra số liệu thực tế tại bốn khu đô thị (Nhân Chính 1,Nhân Chính
2,Làng Yên Xá,Làng Triều Khúc) trên nền tảng là các cơ sở hạ tầng của 4 khu đô
thị này là tương đối như nhau.Nhưng giá thị trường của đất đô thị tại các khu vực
nói trên bị ảnh hưởng nhiều bởi mức độ đường xá.Tôi đã chia các khu vực thành 4
cấp độ để điều tra giá thị trường của các hình thức sử dụng đất như :nhà ở,nhà cho
thuê làm văn phòng,kinh doanh,nhà ở kết hợp kinh doanh…
-Cấp độ 1 : là khu vực gần đường có lòng rộng ≥ 5m
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
103
-Cấp độ 2 : là khu vực gần đường có lòng rộng 3m ÷ 5m
-Cấp độ 3 : là khu vực gần đường có lòng rộng 1,5m ÷ 3m
-Cấp độ 4 : là khu vực gần đường có lòng rộng ≤ 1,5 m
*Dựa vào phương pháp tính giá trị ròng NPV với các mức tỷ lệ lãi suất là
10%,12% và 15% quy đổi từ năm 1 đến năm thứ 1000 (coi như ∞) kết hợp với các
số liệu thực tế điều tra được tôi đã lập bảng tính để so sánh với giá trị hiện tại của
thị trường tại các khu vực được điều tra nghiên cứu.
3 7 2 Lập bảng tính
Áp dụng công thức :
NPV= -
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện tại ròng
Bt: Tổng thu nhập của đất đai trong năm thứ t
Ct: Tổng chi phí duy tu bảo dưỡng nhà đất trong năm thứ t
t: Thời điểm tính toán, thường là cuối các năm, t=1, 2, 3, 4…n
n: ∞ (ở đây tính đại diện đến năm thứ 1000 vì những năm về sau giá trị 1/(1+r)t
→0 khi t →∞)
r: Tỷ lệ chiết khấu (10%,12% và 15%)
Các kết quả được thể hiện trong bảng 3.18
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
104
*Nhân xét kết quả tính toán:
- Qua nghiên cứu quan sát hiện trường trong bốn khu đô thị mà luận văn nghiên
cứu,từ bảng tính toán 3.18 ta có một số nhận xét như sau:
+Khu đô thị làng Yên Xá –Hà Đông và làng Triều Khúc – Thanh Trì,trước
đây tại những khu đô thị này là các làng cổ của nông dân Việt Nam,do tình hình
phát triển gia tăng dân số nhanh mà các cấp chính quyền địa phương và thành phố
có quyết định chuyển đổi một số diện tích đất nông nghiệp thành khu dân cư và đi
kèm dtheo là sự đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu.Do vậy luồng giá trị mang lại từ đất
đai đã thay đổi tăng so với khi khu vực này vẫn được sử dụng cho mục đích nông
nghiệp.Tuy nhiên đối với làng Triều Khúc do sự phát triển không có định hướng,các
lô đất bị chia rẽ manh mún,cơ sở hạ tầng kém nên khu vực này không có khả năng
tự phát triển tiếp để nâng lên thành khu đô thị hiện đại hơn.Vì những lý do này nên
giá giao dịch đất tại khu vực này có tính bất định cao,thường là giá bán cao vượt
hơn hẳn giá trị thật của mảnh đất đó nên các giao dịch sẽ khó thực hiện.
+Khu đô thị :1 và 2 Nhân Chính,đối với khu đô thị 1 Nhân Chính vì đã có
quy hoạch xây dựng về không gian,cơ sở hạ tầng đủ đáp ứng được yêu cầu mà một
khu đô thị cần có,nhưng khu đô thị này vẫn còn có những phần còn thiếu như :công
viên cây xanh,sân chơi chung,nhà văn hoá … nên giá giao dịch đất đai và nhà ở tại
khu này rất ổn định và sát với giá trị thực của đất đai và nhà ở.Còn đối với khu
Nhân Chính 2 cũng được phát triển từ một làng cổ của nông thôn Việt Nam,mới
được hỗ trợ những cơ sỏ hạ tầng ban đầu như đường giao thông,hệ thống điện,hệ
thống nước sạch,cống rãnh … nhưng chưa có các quy hoạch chi tiết về xây dựng
định hướng phát triển thành một khu đô thị đạt tiêu chuẩn mà vẫn là phát triển tự
phát nên sự bất định trong giá giao dịch đất đai vẫn còn lớn hơn nhiều so với giá trị
thực của nó.Do vậy các giao dịch đất đai khó xảy ra.
- Trong Chương 2 Phương pháp luận, đã có bốn kiểu khu vực khác nhau được đề
xuất để được lựa chọn và nghiên cứu. Các kiểu khu vực nghiên cứu dựa trên ‘mẫu
hình phát triển’ đã được thảo luận trước đây đã không chứng tỏ là khớp một cách
chính xác với mẫu hình được giả thiết. Tuy nhiên, các thảo luận khởi đầu với các
đối tác ở Hà Nội đã cung cấp nền tảng khẳng định cho lựa chọn các trường hợp
thích hợp. Do vậy, nghiên cứu tình huống đã không bị cản trở và tác động xấu bởi
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
105
các tìm hiểu sau này là các khu đô thị không chính xác khớp với các giả thiết khởi
đầu về mẫu hình phát triển. Ngược lại, nó giúp cho việc hiểu được các mẫu hình
phát triển có thể thay đổi rộng như thế nào, và rằng luôn có một số động lực và các
phần tử khác nhau ảnh hưởng tới việc phát triển của các khu vực. Trong tương lai,
có thể sẽ là rất lý thú để phát hiện ra hai hoặc nhiều khu vực tương tự, là những nơi
đã bắt đầu phát triển gần như cùng một thời điểm, trong một tình huống kinh tế-xã
hội, môi trường và chính trị tương tự nhau. Điều này sẽ là trường hợp lý tưởng cho
nghiên cứu. Mặt khác, nếu sẽ có một phương pháp luận cải thiện và khái niệm hóa
khu đô thị đầy đủ và khái niệm tạo thành về ‘tỷ lệ chi tiêu công cộng và tư nhân và
tình huống khu đô thị’,để kiểm tra ULDM, thì nó sẽ khá là dễ dàng để kiểm tra bất
kỳ khu đô thị nào, sẽ không có nhu cầu tìm kiếm các trường hợp lý tưởng.
- Rõ ràng là Khu đô thị 2 và 4 ở Hà Nội, không có các điều chỉnh công cộng khởi
đầu cho kiểm soát phát triển. Như một kết quả, các khu đô thị đã rất chật chội và
thiếu vắng bất kỳ không gian công cộng nào trên các con phố. Khu đô thị 3 đã cho
thấy một ví dụ tốt của phát triển có quy hoạch, ít nhất ở mức mảnh đất, và đã cho
thấy một mẫu hình tốt ở mức khu phố. Rõ ràng là, sự thiếu vắng điều chỉnh công
cộng thậm chí trong Khu đô thị 1 được phát triển và xây dựng tốt ở Hà Nội, vì khu
vực tư nhân đã không có quy hoạch nào về không gian cho sân chơi và công viên
hoặc khu vực xanh. Có thể quan sát thấy là nếu công cộng không cưỡng bức các
điều chỉnh thay mặt các lợi ích công cộng, khu đô thị sẽ thiếu đi một số trang thiết
bị như không gian đô thị tươm tất, sân chơi và các khu xanh. Một quan sát quan
trọng khác là sự thiếu vắng các điều chỉnh công cộng dưới dạng quy hoạch, cưỡng
chế, và tầm nhìn phát triển tương lai, tạo ra gánh năng cho khu vực công cộng, như
các ví dụ từ Hà Nội cho thấy các vấn đề trưng dụng và đền bù liên quan tới xây
dựng các con đường mới hoặc cải thiện các con đường cũ.
3.8 Kết luận
3.8.1 ULDM và mô h nh thể chế
So sánh các phần tử của ULDM với mô hình thể chế cho thấy ULDM không đưa
vào một cách công khai các chi tiết, là những điều làm việc với các vai trò, các mối
quan hệ, các chất lượng và lợi ích, và một phần các quy tắc-tài nguyên-ý tưởng, và
các chế độ sản xuất và điều chỉnh và ý thức hệ. Tất cả các phần tử này, là những
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
106
điều được đề cập một cách yếu kém và cục bộ trong ULDM, được đưa ra bởi sự
nhấn mạnh của Healey (1992) tới các đại diện và các cấu trúc và thể chế. Mô hình
thể chế đã hữu ích để tìm ra cái gì không được nghiên cứu chi tiết trong ULDM.
Danh sách đầy đủ các phần tử và khía cạnh được đề xuất bởi mô hình thể chế là hữu
ích để nghiên cứu ULDM kỹ lưỡng hơn và xác định những hiện tượng nào sẽ được
quan sát và số liệu nào cần thu thập, khi thực hiện công trình hiện trường thực
nghiệm. Tuy nhiên, vì mô hình ULDM vẫn còn đề cập một cách hoàn chỉnh vũ đài
nghiên cứu và các mục tiêu của nó, mô hình là đủ tốt để khái niệm hóa phát triển
đất đai đô thị như một hàm số của đầu tư tư nhân và công cộng. Như là giành cho
tính thích hợp của mô hình thể chế cho ULDM, đây là một sự hỗ trợ tốt cho ULDM
theo cách thức nó lấp đầy một số lỗ hổng của ULDM. Danh sách các phần tử và các
chức năng của chúng, và ví dụ của các trường hợp mô hình thể chế, cung cấp minh
họa xuất sắc của cái là cần thiết phải tính tới khi nghiên cứu một quá trình phát
triển. Cuối cùng, đã có kết luận là mỗi mô hình, kể cả ULDM và thể chế, như tên
của nó hàm ý, mục tiêu của nó là tập trung và thể chế, được thiết kế cho một mục
đích đặc biệt trong đầu và bên trong một hoàn cảnh kinh tế-xã hội và chính trị hoặc
bất kỳ hoàn cảnh xã hội khác nào và chúng cố gắng đề cập những vấn đề trong đầu
càng chính xách càng tốt. Điều này có thể được biểu diễn bởi các lời nói của Gore
và Nicholson (1991) là “Mặc dù rõ ràng là các kiểu mô hình khác nhau đưa ra các
mức hiểu biết khác nhau, không có lý do nào loại bỏ bất kỳ mô hình nào khỏi tay”.
Do vậy các mô hình phục vụ mục tiêu riêng của chúng, và nó được coi là ULDM
phục vụ các mục tiêu của nó một cách vừa đủ.
3.8. Các nghiên cứu t nh huống
Tất cả các nghiên cứu tình huống cho thấy đối với phát triển các khu vực nhà ở
luôn có đầu tư cả từ khu vực công cộng lẫn tư nhân. Điều này là đúng thậm chí
trong trường hợp các Khu đô thị ở Hà Nội, nơi mà các cư dân là đủ giàu có và có
thể thanh toán để mua các ngôi nhà và căn hộ của họ trong các khu vực chất lượng
tương đối cao. Trong những trường hợp như vậy, công cộng đầu tư vào cơ sở hạ
tầng bên ngoài. Một trường hợp, Khu đô thị 4 ở Hà Nội, cho thấy một mẫu hình lý
thú. Đó là trường hợp nơi mà khu vực tư nhân đã đầu tư trong việc lát hè phố bên
trong khu phố và hệ thống cống rãnh và sân chơi. Có thể cần có giả thiết là việc xây
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
107
dựng hệ thống cống rãnh là tương đối dễ dàng, và việc lát các con phố nhỏ hẹp là
tương đối rẻ, và có một nhu cầu rất khẩn thiết cho sân chơi và khá là rẻ trong việc
xây dựng chúng. Cho dù thế nào đi chăng nữa, kiểu trường hợp này cần được khám
phá chi tiết hơn nữa để hiểu được công việc phát triển như vậy. Các trường hợp
khác cho thấy các khu đô thị đạt tới trạng thái hiện tại của chúng như các kết quả
của đầu tư công cộng. Một trường hợp, Khu đô thị 1 từ Hà Nội, là ví dụ của trường
hợp khi khu vực tư nhân có đủ tiền, nó có thể mua nhà ở một cách đầy đủ, nhưng
điều này vẫn cho thấy nhu cầu cho đầu tư công cộng là cần thiết dưới dạng cơ sở hạ
tầng bên ngoài. Cũng vậy, trường hợp này cho thấy nhu cầu đối với can thiệp công
cộng trong quy hoạch chi tiết và thực hiện các quy hoạch phát triển. Công cộng sẽ
phục vụ như những người bảo vệ phúc lợi của nhân dân, trong trường hợp này bằng
cách cưỡng bách việc xây dựng các khu vực công cộng như sân chơi và công viên
nhỏ hoặc khu vực xanh, là một thiếu sót của khu đô thị.
Các trường hợp ở Hà Nội, kể cả Khu đô thị 4, nơi mà họ cuối cùng cũng đã nhận
được cung cấp nước từ công cộng và nơi mà các cư dân đã tự xây dựng sân chơi, đã
chỉ ra là các khu đô thị đang ở trong một mức chấp nhận được một cách hợp lý, mặc
dù họ thiếu nghiêm trọng không gian công cộng trên các con phố, các công viên và
sân chơi. Mức chấp nhận được một cách hợp lý này được gán cho chất lượng của
các ngôi nhà, cung cấp cơ sở hạ tầng cơ bản (cung cấp nước, điện, hệ thống cống
rãnh và đường sá cả bên trong lẫn bên ngoài các con phố). Mức này đạt được, như
các kết quả của đầu tư công cộng vào cơ sở hạ tầng cơ bản và các đầu tư tư nhân
vào các ngôi nhà. Một quan sát đáng lưu ý là tất cả các khu đô thị đang trong giai
đoạn cải thiện mở rộng. Vì công cộng cung cấp cơ sở hạ tầng cơ sở tốt hơn, khu vực
tư nhân đã bắt đầu cải thiện các ngôi nhà của họ.
Một số trường hợp từ các quốc gia khác cũng đang chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang định hướng thị trường cho thấy các khu đô thị có thể nằm
dưới mức chấp nhận được. Tất các các khu đô thị thiếu cơ sở hạ tầng cơ sở ngoại
trừ điện và tuyến đường chính. Thậm chí trong một số khu đô thị, nơi mà cơ sở hạ
tầng là sẵn có ở vùng lân cận, chỉ có ít hộ gia đình có thể có khả năng kết nối với
chúng. Không giống như trường hợp ở Hà Nội, nơi mà các cư dân có cơ sở hạ tầng
sẵn có trong nội bộ khu phố của họ, trong khu đô thị này các cư dân phải xây dựng
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
108
cơ sở hạ tầng bên trong như các con phố và các ngôi nhà của mình. Các khu đô thị
thiếu một cách nghiêm trọng dịch vụ , bảo dưỡng phố xá, sân chơi và công viên
hoặc các khu xanhv.v... Các trang thiết bị giáo dục không sẵn có trong các khu đô
thị này. Ở đó, có thể thấy là khu vực tư nhân đang đầu tư vào tài sản đất đai của họ
và cải thiện dần dần, tuy nhiên không có đầu tư công cộng, ngoại trừ điện và tuyến
đường chính tại thời điểm khởi đầu và điều này tạo ra khu đô thị dưới mức chấp
nhận. Có những đô thị ở các quốc gia đó, hầu như không có thay đổi gì trong một
khoảng thời gian dài , không gì thay đổi ngoại trừ các ngôi nhà to hơn và mới hơn
trên những miếng đất, phố xá vẫn còn nguyên trong điều kiện tồi tàn.
Mẫu hình toàn cục của các trường hợp phát triển đất đai quan sát thấy ở Hà Nội
khẳng định giả thiết rằng khu đô thị đầy đủ là một hàm số của đầu tư tư nhân và
công cộng. Nó cho thấy nếu công cộng không đầu tư, khu đô thị không phát triển.
Đánh giá này là một đánh giá định tính dựa trên xét đoán trí tuệ. Cần có bổ sung và
khẳng định cho đánh giá này với tính toán định lượng hệ thống. Thêm nữa, trở nên
rõ ràng là, trong khi đề cập mối quan tâm trực tiếp của nghiên cứu, tức là kiểm tra
các giả thiết, có nhiều hơn các khía cạnh cần xem xét. Có những câu hỏi như vận
hành các khác biệt và các đặc điểm địa phương của các quốc gia khác nhau như thế
nào, vai trò của quy hoạch và kiểm soát công cộng trong phát triển đất đai, các tác
động của các can thiệp chính trị, độ đa dạng của các mẫu hình phát triển, khái niệm
hóa thuật ngữ khu đô thị đầy đủ, áp dụng các tình huống nghiên cứu trong hoàn
cảnh các quốc gia đã phát triển
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
109
C 4 KẾ LUẬ VÀ KIẾ Ị
4 1 Kết luận
Qua những phân tích và đánh giá của luận văn,có thể kết luận rằng việc phân tích
đánh giá mô hình phát triển đất đai và giá trị của nó đã đạt được những mục tiêu mà
luận văn đã đề ra là :
1.Sưu tầm tài liệu và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước để có các báo
cáo tổng quan về tình hình nghiên cứu và ứng dụng các tiếp cận đánh giá giá trị
đất đai theo các tiếp cận truyền thống cũng như hiện đại.
2.Phân tích và nghiên cứu tình hình,đặc điểm,thông tin…về hiện trạng sử dụng đất
đai trong 4 khu vực nghiên cứu là khu đô thị Nhân Chính 1,Nhân Chính 2,Làng
Triều Khúc,Làng Yên Xá.
3.Áp dụng các phương pháp tiếp cận truyển thống,hiện đại và thực hành đánh giá
giá trị kinh tế của đất đai cho 4 khu đô thị nói trên.
4.So sánh phân tích các kết quả đạt được giữa các mô hình phát triển đất
ULDM,mô hình thể chế và các kết quả thực tế có được từ quan sát tại 4 khu đô
thị nghiên cứu và kiến nghị cho các cơ quan quản lý có trách nhiệm.
Phương pháp đánh giá mô hình phát triển đất đai và giá trị của nó theo mô hình
ULDM đã tỏ ra phù hợp với điều kiện của Hà Nội,do đó đối với quy hoạch và phát
triển các khu đô thị khác,không chỉ ở Hà Nội nói riêng mà còn có thể áp dụng mô
hình phát triển đất đai cho các đô thị ở những khu vực khác tại Việt Nam nói chung.
4 2 Các kiến nghị
- Mặc dù luận văn đã trả lời tất cả các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu và mục tiêu
đã nêu, các kết quả đã mở ra một số mối quan tâm cần đề cập và nghiên cứu tiếp để
thích hợp một cách đầy đủ và củng cố về mặt lý thuyết. Các nghiên cứu này là các
phản ánh về nghiên cứu tình huống.
-Như là các kết quả của các nghiên cứu tình huống, nhiều vấn đề đã được nhận
biết cho khám phá thêm hoặc cải thiện thêm. Chúng là nhu cầu nghiên cứu định
lượng kết hợp với các phương pháp định lượng tổng hợp và khái niệm hóa thuật
ngữ khu đô thị đầy đủ, để xác định một cách chính xác cái gì cần được hiểu trong
chiếm hữu đất và đăng ký đất và các vấn đề liên quan tới tình huống này là như thế
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
110
nào trong các khu vực nghiên cứu tình huống, lựa chọn các khu vực nghiên cứu và
các mẫu hình phát triển khác nhau, vai trò điều chỉnh của công cộng trong phát triển
đất đai, tác động của can thiệp chính trị, các đặc điểm của các tình huống địa
phương và tính tương thích của các trạng thái từ các quốc gia khác nhau. Ba khoản
mục cuối cùng trên thực tế là những vấn đề ít được đề cập trong ULDM, nó trở
thành rõ ràng không chỉ từ các nghiên cứu tình huống, mà còn từ mô hình thể chế,
và những khoản mục này có các tác động quan trọng lên phát triển đất đai. Chúng
cần được đề cập và làm việc với và mối quan tâm này được thảo luận trong các
nghiên cứu tiếp theo.
- Cải thiện phương pháp luận cho các nghiên cứu tình huống
Đánh giá hiện nay là đáng tin cậy dựa vào đánh giá định tính và diễn giải trí tuệ
về các kết quả của nghiên cứu tình huống, và nó không cung cấp một đánh giá trực
tiếp và có thể nhận biết một cách rõ ràng liệu khu đô thị đầy đủ có là hàm số của
đầu tư tư nhân và công cộng hay không. Do vậy, cần thiết phải làm việc về phương
pháp luận, là điều bổ sung cho đánh giá định lượng. Điều này sẽ bắt đầu, trước hết,
với việc khái niệm hóa thuật ngữ ‘khu đô thị đầy đủ’. Nghiên cứu hiện nay đã đủ
với khái niệm khu đô thị (Johnston 1981; Pacione 2005) được thấy trong tài liệu
tham khảo về đô thị và thuật ngữ nhà ở đầy đủ như được định nghĩa bởi UN-
HABITAT (1996). UN-HABITAT (2009b) đã định nghĩa chỗ ở đầy đủ một cách
chi tiết là “… đủ tính riêng tư, không gian đầy đủ, dễ đi lại, an ninh đầy đủ, an toàn
chiếm hữu, ổn định và lâu bền về mặt cấu trúc, đủ chiếu sáng, sưởi ấm và thông gió,
đủ hạ tầng cơ sở, như cung cấp nước, các trang thiết bị vệ sinh và quản lý chất thải,
chất lượng môi trường bền vững và các nhân tố liên quan tới sức khỏe và sắp đặt
đầy đủ và dễ dàng tới nơi làm việc và các trang thiết bị cơ bản …”. Dựa trên danh
sách và các chỉ số nói trên được sử dụng cho nghiên cứu này, danh sách các chỉ số
cho khu đô thị đầy đủ cần phải được hoàn thành. Khi đó, sử dụng các chuẩn hiện có,
vì đối với chuẩn của thiết kế Khu đô thị được sử dụng bởi Rui (2003) trong các
nghiên cứu của bà ta, hoặc các tiêu chuẩn thể chế khác được ưa thích hơn, xác định
mức chấp nhận được hoặc chất lượng của các chỉ số. Mức hoặc chất lượng này sẽ
định hình lên khái nhiệm ‘khu đô thị đầy đủ’ và phục vụ như dấu chuẩn theo đó tình
huống căn bản được so sánh và đánh giá. Tuy nhiên, mức chấp nhận được và chất
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
111
lượng này sẽ là một chuẩn chung duy nhất, là điều sẽ được điều chỉnh cho các điều
kiện địa phương dựa trên các chuẩn địa phương. Đồng thời, sẽ là cần thiết thiết lập
các tiêu chuẩn cho mỗi chỉ số để cho phép đánh giá định lượng. Điều này không là
một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng một khi phương pháp luận như vậy được phát triển,
một cách hy vọng là, nó sẽ cung cấp nhiều đánh giá trực tiếp và có thể nhận biết dễ
dàng của các điều kiện vật lý của khu đô thị, một ví dụ của một đánh giá như vậy có
thể được thấy trong phương pháp luận được sử dụng bởi Rui (2003), khi đánh giá
các điều kiện vật lý tại khu đô thị. Sau khi các điều kiện vật lý được tính toán, sẽ là
cần thiết xem xét các điều kiện vật lý hiện tại được hình thành như thế nào như các
kết quả của đầu tư công cộng và tư nhân. Điều này hàm ý sẽ có một nhu cầu cho
tính toán chính xác về việc cần phải chi tiêu bao nhiêu cho cái nào và cho ai, điều
này, hy vọng, có thể được thực hiện với các phương pháp từ công nghiệp xây dựng
và bởi thu thập số liệu từ các tổ chức thích hợp, và các xem xét về hoặc kinh tế-xã
hội, chính trị và môi trường.
Cần có một câu hỏi là tại sao tất cả những vấn đề này không được vận hành trong
nghiên cứu hiện tại. Khởi đầu có những xem xét cho nhiều kiểu tính toán khác nhau
để đánh giá chính xác khối lượng đầu tư công cộng và tư nhân, tỷ lệ không gian của
các đầu tư công cộng và tư nhân, sử dụng tính toán đa tiêu chuẩn. Tuy nhiên, xem
xét nhu cầu khám phá các chủ đề tương đối mới về các mô hình nghiên cứu đô thị
và phát triển đất đai để hỗ trợ nghiên cứu, và các nghiên cứu tình huống, đã có
quyết định sử dụng phân tích mô tả định lượng và thu thập số liệu thực địa mở rộng
để thực hiện tính toán ,cho phép thu thập đủ số liệu tính toán định tính và hiểu biết
sâu sắc hơn quá trình phát triển đất đai. Tuy nhiên, thông qua công việc nghiên cứu,
tất cả những khía cạnh này đã được đưa ra ý tưởng để phát triển và thảo luận thêm.
- Chiếm hữu và đăng ký đất đai
Vấn đề chiếm hữu và đăng ký đất đai ở Hà Nội bảo đảm quyền sử dụng lâu dài
và khả năng chuyển nhượng. Đó là những điều kiện rất phù hợp cho chiếm hữu và
đăng ký đất đai, là những nền tàng cần thiết cho các tiêu chuẩn giống như ‘khu đô
thị đầy đủ’. Tuy nhiên, không phải quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi nền
kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang định hướng thị trường nào cũng có được điều
kiện như vây.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
112
Sự kiện này nhấn mạnh tới nhu cầu phải bỏ ra nhiều sự quan tâm hơn nữa cho
chiếm hữu và đăng ký đất đai, và nhu cầu cho những điều nằm bên dưới lý thuyết
và thực nghiệm của giả thiết ULDM là chiếm hữu đất đai là an toàn và quyền đối
với đất đai được đăng ký. Điều này sẽ được thực hiện cho cả quyền sở hữu lẫn
quyền cho thuê. Chỉ sau khi điều này được thực hiện nghiên cứu có thể là hữu ích.
Do vậy, cần có nhu cầu tổ chức nhiều nghiên cứu hơn để hỗ trợ giả thiết của
ULDM, ví dụ khẳng định rằng những người cho thuê bất động sản giống như ở Hà
Nội có quyền sử dụng dài hạn và có thể chuyển nhượng, cũng giống như quyền sở
hữu, tức là những người cho thuê bất động sản, nhưng được coi là các chủ sở hữu.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
113
TÀI LI U AM K ẢO
iếng Vi t
1. Nguyễn Trung Dũng. Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường. NXB Khoa
học tự nhiên và công nghệ, 2010.
2. Nguyễn Ngọc Dung. Quản lý tài nguyên và môi trường, NXBXD Hà Nội, 2008
3. Nguyễn Văn Chọn. Kinh tế xây dựng. NXB Nông nghiệp, 2000
4. Đặng Kim Chung, Đinh Văn Đãn.Kinh tế nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông
Nghiệp Hà Nội, 2006
5. Đào Văn Khiêm.Bài giảng Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường nâng
cao. 2010
6. Lê Văn Khoa. Sinh thái và môi trường đất. NXBĐHQG Hà Nội, 2004
7. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Cự, Trần thiện Cương, Nguyễn Đình Giáp. Giáo
trình ô nhiễm môi trường đất và biện pháp xử lý. NXBĐHQG Hà Nội, 2010
8. Lê Thị Nguyên, Nguyễn Trọng Hà. Bài giảng Hướng tới sử dụng tối ưu tài
nguyên đất và nước, năm 2009
9. Trần Kông Tấu. Tài nguyên đất. NXBĐHQG Hà Nội, 2006
10. Đào Châu Thu. Đánh giá đất. NXBNN, 1998
11. Đỗ Anh Tuân. Kinh tế tài nguyên Rừng, NXB Nông nghiệp, 2009
12. Hội khoa học đất. Đất Việt Nam. NXBNN, 2000
iếng Anh
1.Kompas, T. (2002), 'Market reform, productivity and efficiency in Vietnamese
rice production', Working paper, Paper presented to the Economic Division,
Research School of Pacific and Asian Studies, Australian National University.
2. Marsh, S. P. and T. G. MacAulay (2002), 'Land reform and the development of
commercial agriculture in Vietnam: policy and issues', Agribusiness Review.
3. World Bank in Vietnam (1998), Advancing Rural Development from Vision to
Action, World Bank, Hanoi, Vietnam.
Họ c viên : Nguyễ n Hà Huy
Lớp : Cao học 16 K
114
4. Vo, Dang Hung. 1997. ‘Land administration reform in Vietnam.’ Presented at
FIG Commission 7 Symposium.
5. SMERU Research Team. 2002. ‘An impact evaluation of systematic land
titling under the Land Administration Project(LAP).’ Mimeo.
6. Hayami, Yujiro. 1993. ‘Strategies for the reform of land property relations in
Vietnam.’ Mimeo.
7.Hung, NM, 2008,The Economics of Land Fragmentation in the North of VietNam
8.Terry Grissom, 2005, Property economics:growth theory and valueation of
sustainable development options.
9. Knack, Steven, and Philip Keefer. 1995.‘Institutions and economic
performance:Cross- country tests using alternative measures.’ Economics and
Politics 7: 207–227.

