BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
NĂM 2014
Ngành: Luật kinh tế
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
NĂM 2014
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên học viên: Nguyễn Đình Thắng
Người hướng dẫn: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội - 2019
i
LỜI C M ĐO N
Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tăng Văn Nghĩa – Trưởng Khoa
sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội. Các luận điểm, dẫn chứng, số
liệu, ví dụ trong luận văn đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực.
Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ đề tài
nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ
đạo nhiệt tình và quý báu của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và tập thể các thầy cô giáo
Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.
Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS, TS Tăng
Văn Nghĩa và các thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học
Ngoại thương Hà Nội. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia
đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu, tạo mọi điều
kiện tốt nhất đồng thời đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành công trình
nghiên cứu cuối khoá tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm
hiểu thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những
sai sót. Tác giả rất mong nhận đợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của Quý thầy cô,
bạn bè, đồng nghiệp và độc giả.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
iii
D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN
Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC
Bưu chính viễn thông BCVT
CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCNĐKĐT Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
GDP Tổng sản phẩn trong nước (nội địa)
GTVT Giao thông vận tải
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
M&A Mua bán và sát nhập
NSNN Ngân sách Nhà nước
ODA Vốn vay nước ngoài
PPP Hợp đồng Hợp tác công tư
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WTO Tổ chức thương mại thế giới
iv
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN
Tên luận văn: Các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:
- Đã phân tích khái niệm các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển các hình thức đầu tư theo quy
định của pháp luật Việt Nam
- Đã phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn các
hình thức đầu tư của nhà đầu tư, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc khi lựa
chọn các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Đã đưa ra các đánh giá về những ưu điểm của các hình thức đầu tư theo Luật
đầu tư năm 2014, những điểm thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình
thức nào là phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Đã đưa ra các khuyến nghị thực thi pháp luật về: Những hình thức đầu tư mà
khi đầu tư nhà đầu tư có thể gặp phải
+ Khuyến nghị về hình thức thành lập tổ chức kinh tế
+ Khuyến nghị về hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế
+ Khuyến nghị về đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
+ Khuyến nghị về đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tư (PPP)
v
MỤC LỤC LỜI C M ĐO N ...................................................................................................... I
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... II
D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................. III
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN ................................. IV
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
2. Tình hình nghi n cứu ....................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghi n cứu .................................................................. 3
3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 3
3.2. Nhi m vụ nghiên cứu .......................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghi n cứu ................................................................... 3
4.1. Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................ 3
4.2. Phạm vi nghiên cứu: ........................................................................... 4
5. Phư ng pháp nghi n cứu ................................................................................. 4
6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn .................................................. 5
7. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 5
CHƯƠNG 1. .............................................................................................................. 6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ..................................................................................................................... 6
1.1. Khái quát về đầu tư ....................................................................................... 6
1.2. Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư ....................... 7
1.3. Khái quát về các hình thức đầu tư ............................................................. 11
1.3.1. Khái ni m hình thức đầu tư ........................................................... 11
1.3.2. Sự phát triển của các hình hình đầu tư ......................................... 11
1.3.3. Vai trò của các hình thức đầu tư ................................................... 29
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 ................................................................ 32
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư ......................... 32
2.1.1. Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế .................................. 32
2.1.2. Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế ........... 34
2.1.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh .................. 37
2.1.4. Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư PPP .................. 40
vi
2.2. Đánh giá các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 ................... 46
2.2.1. Những ưu điểm ............................................................................... 46
2.2.2. Những vấn đề đặt ra khi áp dụng các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 .................................................................................................. 50
CHƯƠNG 3. ............................................................................................................ 59
KHUYẾN NGHỊ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 ....................................................................... 59
3.1. Xu hướng phát triển các hình thức đầu tư hiện nay ................................ 59
3.2. Một số khuyến nghị nh m thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 .................................................................................... 59
3.2.1. Phổ biến, tuyên truyền về hình thức đầu tư .................................. 60
3.2.2. Về năng lực thực thi của cơ quan nhà nước có thầm quyền ...... 61
3.2.3. Khuyến nghị hoàn thi n quy định về định giá tài sản góp vốn, mua cổ phần .......................................................................................................... 63
3.2.4. Khuyến nghị hoàn thi n các quy định về hợp đồng PPP ............. 63
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 69
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư tại Việt Nam được phân chia thành hình thức đầu tư trong nước
và đầu tư nước ngoài căn cứ theo nguồn gốc vốn đầu tư của các nhà đầu tư.
Các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư
nước ngoài (trước hết theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987). Nhà
đầu tư trong nước gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thực hiện theo Luật Khuyến khích đầu tư năm 1995 (Sửa đổi
bổ sung năm 1998). Các nhà đầu tư ngước ngoài có thể lựa chọn các hình thức
đầu tư thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.
Qua nhiều năm thực hiện nhận thấy các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài bị hạn chế hơn rất nhiều so với nhà đầu tư trong nước.
Với chính sách phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của thời đại hội
nhập, mở cửa, Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, quy định đa đạng và đổi
mới các hình thức đầu tư nhằm thu hút, khuyến khích các nguồn vốn từ các
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhằm thu hút nguồn lực cho đất nước
phát triển, xóa bỏ sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước
ngoài, về cơ bản được thực hiện chung thông qua các hình thứ c mà Luật Đầu
tư năm 2014 quy định. Trước những đòi hỏi khách quan của xu thế thời đại,
cũng như đáp ứng nhu cầu thu hút đầu tư và phát triển kinh tế đất nước theo
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, theo nguyên tắc tự do và bình đẳng.
Luật Đầu tư năm 2014 đã được hoàn thiện theo hướng đảm bảo tính thống
nhất, đồng bộ giữa các bộ phận pháp luật điều chỉnh về những hành vi có nội
dung tương tự cũng như sự tương thích với các Điều ước quốc tế về đầu tư và
Việt Nam tham gia.
So với các quốc gia trong khu vực, các hình thức đầu tư theo pháp luật
về đầu tư của Việt Nam tương đối phong phú, tạo nhiều sự lựa chọn phù hợp
với quy mô nguồn vốn, khả năng quản lý và tính chịu trách nhiệm về hoạt
động đầu tư nhằm kinh doanh của các nhà đầu tư.
2
Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa hội nhập quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài
nhằm tìm kiếm nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam đã tham
gia rất nhiều tác tổ chức thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế trong và
ngoài khu vực như: WTO, AFTA, CPTPP, APEC, ASEAN….Điều này cũng
khiến chúng ta phải có những điều chỉnh hợp lý để phù hợp thực tiễn.
Vì những lý do trên, học viên lựa chọn vấn đề “Các hình thức đầu tư
theo Luật Đầu tư năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghi n cứu
Trong những năm qua, với chính sách mở của kinh tế nhằm thu hút đầu tư
trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều
chính sách để thu hút, kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trước Luật Đầu tư năm 2014 ra đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu về
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như:
- Mai Ngọc Cường, “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, HN, năm 2000. Đề xuất
hoàn thiện các cơ chế trong thu hút đầu tư, khai thác được các tiềm năng, thế mạnh
của Việt Nam.
- Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), “Hình thức hợp tác công tư - PPP (Public
Private Partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam”.
Luận văn Tiến sĩ kinh tế. Nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm về hình thức hợp
tác công tư - trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Nhận diện các cơ hội của PPP từ
thực trạng đầu tư tư nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ Việt Nam và đo lường
mức độ sẵn sàng đầu tư theo hình thức PPP của khu vực tư nhân trong lĩnh vực giao
thông đường bộ tại Việt Nam.
Tuy nhiên, nghiên cứu tổng quát về các hình thức đầu tư và chuyên sâu về
khung pháp lý của các hình thức đầu tư trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam thì
chưa có nhiều đề tài thực hiện nghiên cứu toàn bộ, chủ yếu các đề tài tập trung
3
nghiên cứu về một số hình thức đầu tư như: Góp vốn, mua cổ phần hay hợp đồng
đối tác công tư hoặc thành lập các tổ chức kinh tế…
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải, làm rõ cơ sở lý luận hình thức đầu tư của nhà đầu tư
nhằm đánh giá và chỉ ra những bất cập cũng như những vướng mắc, hạn chế trong
quá trình áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn đề xuất các
khuyến nghị thực thi các hình thức đầu tư liên quan tới Luật Đầu tư năm 2014.
3.2. Nhi m vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Luận giải để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức đầu
tư theo Luật Đầu tư năm 2014: Làm rõ khái niệm và nội dung của khái niệm về
quyền lựa chọn hình thức đầu tư.
- Nghiên cứu các nguyên tắc, căn cứ, nội dung và phạm vi của các hình thức
đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp
luật về các hình thức đầu tư để chỉ ra những bất cập của pháp luật, những khó khăn
trong quá trình thực thi đồng thời so sánh với các quy định có liên quan của pháp
luật nhằm nêu bật những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam.
- Luận giải cho những khuyến nghị được nêu trong Luận văn về hướng hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về các hình thức đầu tư.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các hình thức đầu tư của nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam. Phần nghiên
cứu nhà đầu tư trong nước chỉ nhằm mục tiêu so sánh, đối chiếu các quy định để rút
4
ra những bất cập, đề xuất, mà không mang tính phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả nghiên cứu các hình
thức đầu tư của nhà đầu tư bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước
ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014. Luận văn chú trọng tìm hiểu các hình thức đầu tư
dựa trên các quy định của pháp luật đầu tư qua từng thời kỳ khi xem xét sự phát
triển của các hình thức đầu tư.
- Về không gian, Luận văn chỉ nghiên cứu các hình thức đầu tư đã và đang
được triển khai tại Việt Nam (theo các quy định của pháp luật). Những quy định về
hình thức đầu tư của nước ngoài có thể được xem xét làm đối tượng so sánh, chứ
không phải đối tượng nghiên cứu của luận văn.
- Về thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu các hình đầu về cơ bản từ Luật Đầu
tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật này ra đời cho đến năm 2025
trên cơ sở đề xuất một số khuyến nghị về hình thức đầu tư tại Việt Nam.
5. Phư ng pháp nghi n cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu ở trên, tác giả s
sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống, như hệ thống hóa, phân tích,
tổng hợp, đối chiếu và so sánh luật học. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng đồng thời và xuyên suốt
trong toàn bộ luận văn nhằm làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của
đề tài. Đặc biệt, phương pháp này được áp dụng nhiều nhất tại Chương 1 để giúp hệ
thống hóa các công trình nghiên cứu đã công bố và có cái nhìn một cách toàn diện,
đầy đủ cũng như cụ thể về cơ sở lý luận của việc quy định các hình thức đầu tư theo
Luật Đầu tư năm 2014.
- Phương pháp luận giải và phương pháp so sánh luật học được sử dụng đặc
biệt tại Chương 1 và Chương 2 để làm phân tích và làm rõ các ưu điểm và nhược
điểm của các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014.
5
- Phương pháp tổng hợp s được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 khi đề xuất
các khuyến nghị và luận giải cho các khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư tại
Việt Nam.
6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về các hình thức đầu tư
theo Luật Đầu tư năm 2014. Các kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần bổ
sung và phát triển những vấn đề lý luận pháp luật về các hình thức đầu tư, là rõ
cơ sở khoa học nhằm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật đầu tư trên các
khía cạnh:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề về các hình thức đầu tư theo Luật
đầu tư năm 2014
- Phân tích và làm rõ việc quy định các hình thức đầu tư trong Luật đầu tư
năm 2014 những ưu điểm và hạn chế của từng hình thức đầu tư.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư tại Việt Nam nhằm làm rõ bất cập,
hạn chế của pháp luật về đầu tư.
- Đề xuất một số khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư theo pháp luật
đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu thành 3 Chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và các hình thức đầu tư;
Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật về các hình thức đầu tư theo
Luật Đầu tư năm 2014;
Chương 3: Khuyến nghị thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật
Đầu tư năm 2014.
6
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC
ĐẦU TƯ
1.1. Khái quát về đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực
về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm
trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở
vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác
dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản
xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận hay
lợi ích kinh tế xã hội.
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
- Trước hết phải có vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác
như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở
hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá
trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có
thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài
hạn, trung hạn, ngắn hạn.
7
- Thời gian đầu tư, thường tương đối dài từ 2 năm trở lên, có thể đến 50
năm, thậm chí theo luật từng nước có thể dài hơn nữa lên tới 99 năm. Những
hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hi n trên hai mặt: Lợi ích tài
chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu
kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi
ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích
kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
1.2. Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư
Sau ngày 30/4/1975, nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn củng
cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lúc này, trong bối cảnh nước đi lên chủ nghĩa
xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh
lâu dài, nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vượt qua bao thử thách và khó
khăn chồng chất. Chúng ta đã có nhiều cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh,
khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất
mới; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; phát
triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thiết lập và củng cố chính quyền nhân
dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển,
sản xuất nhỏ là phổ biến và mang nặng tính chất tự cấp tự túc. Trình độ trang bị
kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng, văn hoá-xã hội lạc hậu; năng
suất lao động xã hội rất thấp. Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng một nước
nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối nặng nề trên nhiều mặt, chưa tạo được tích
luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài, chủ yếu là các nước XHCN,
đặc biệt là Liên Xô. Tình trạng chia cắt, khép kín ở từng đơn vị, từng ngành và
từng địa phương còn phổ biến. Cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp để lại
nhiều hậu quả tiêu cực. Nền kinh tế hoạt động với hiệu quả rất thấp, chủ yếu
tập trung vào sản xuất nông nghiệp và một số ngành công nghiệp phụ vụ đời
sống nhân dân.
8
Với một thực trạng kinh tế xã hội như vậy, để thực hiện được nhiệm vụ
khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đã
khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong
lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai
trò vô cùng quan trọng” (Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IV năm
1976). Thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 115/NĐ-CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài
(sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quy riêng biệt
nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, thể hiện
đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1977, mới có 2 năm sau thống nhất đất
thời kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam.
nước, nhà nước bắt tay vào công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, với một đội
ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm làm kinh tế, cũng như quản lý kinh tế, với một
cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, với một đường lối kinh tế chỉ công nhận 2
thành phần kinh tế, đó là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế Hợp tác xã.
Hơn nữa chúng ta lại là một nước xã hội chủ nghĩa, thế mà chúng ta đã mạnh
dạn đưa ra một khung pháp lý như vậy, quả là một sự cố gắng rất cao, một “tầm
nhìn xa trông rộng” hơn nhiều so với một số nước xã hội chủ nghĩa khác. Điều
này cho thấy, tuy chưa được công nhận trong các văn kiện của Đảng, cũng như
chưa được thể chế hoá trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế với Điều lệ đầu tư
năm 1977 đã phần nào minh chứng cho tư duy lúc đó chúng ta đã nghĩ tới việc
kết hợp với tư bản nước ngoài trong một khuôn khổ pháp lý để khôi phục phát
triển kinh tế. Điều lệ đầu tư năm 1977 đã đề cập đến, tạo ra được khung pháp lý
sơ khai cho hoạt động đầu tư nước ngoài, đây là những tiền đề cho những ý
tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này, ngay cả Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để
nâng cấp, hoàn thiện thêm.
9
Có thể khẳng định Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977 là
tiền đề và đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật về đầu tư sau này tại
Việt Nam.
Qua quá trình phát triển và mở rộng hội nhập quốc tế,Việt Nam đã không
nhừng hoàn thiện thể chế. Các Luật Đầu tư lần lượt được ra đời.
Năm 1987 nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đáp
ứng chủ trương đó Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban
hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của sự ra đời
hệ thống cơ sở pháp lý các hoạt động và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam. Theo thống kê trong năm 1987, Việt Nam thu hút được 213 dự án, tổng
vốn đăng ký 1,793 tỷ USD
Qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987 đã bộc lộ những bất cập cần được sửa chữa và để phù hợp với tình hình
mới luật sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990; Luật sửa đổi bổ sung một
số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 lần lượt được ra đời,
khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
năm 1987. Giai đoạn này thu hút đầu tư nước ngoài đã nâng lên 459 dự án đầu
tư, với tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD, trong đó vốn FDI (Foreign Direct
Investment- Vốn đầu tư nước ngoài) tăng tốc. Làn sóng đầu tư thứ nhất bắt đầu
vào Việt Nam bắt đầu khởi sắc.
- Sau gần 10 năm triển khai và thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 1987 đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 1990 và năm 1992
nhưng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đầu tư tại Việt Nam. Năm
1996 nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam trở thành thị trường thương mại có
sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, để kịp thời đón nhận được những nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông
qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
10
- Nhằm tạo điều kiện xích gần giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000. Trong năm 2000 thu hút FDI có dấu
hiệu chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chỉ đạt 2,838 tỷ USD.
- Việc thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư
trong nước vẫn nằm ở hai đạo luật khác nhau và có những điều chỉnh khác biệt
trong đối xử, ưu đãi đầu tư. Để phù hợp và hài hòa với pháp luật về đầu tư của
các nước trên thế giới cũng như phù hợp với khuôn khổ pháp lý về đầu tư của
tổ chức thương mại thế giới (WTO), Luật Đầu tư năm 2005 đã được Quốc hội
thông qua ngày 29/11/2005 là văn bản pháp luật đầu tiên áp dụng thống nhất
cho cả hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, Bên cạnh dó, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 cũng được ban hành nhằm quy định liên quan đến tổ chức và
hoạt động của doanh nghiệp hình thành trong quá trình triển khai dự án đầu tư
tại Việt Nam, việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 góp phần thu hút vốn FDI
trở lại, làn sóng đầu tư thứ hai bắt đầu, trong năm 2005, thu hút được 6,839 tỷ USD.1
- Nhằm đổi mới hơn nữa chính sách thu hút đầu tư tại Việt Nam Luật
Đầu tư năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2015. Việc ban hành luật này tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ
và hoàn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng
vốn đầu tư công, khắc phục những hạn chế, bất cập trong đầu tư công. Trong năm 2017 vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam đạt 35,88 tỷ USD2.
Sau 30 năm đổi mới đất nước để đáp ứng nhu cầu phát triển, nước ta đã
không ngừng hoàn thiện thể chế, hoàn thiện pháp luật về đầu tư để thu hút đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng
1Nội dung trên được tham khảo từ bản thảo Giáo trình Pháp luật Đầu tư do PGS, TS Tăng Văn Nghĩa làm chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này). 2 https://baodautu.vn/30-nam-fdi-du-luat-lich-su-va-nhung-chuyen-co-cho-ty-phu-d74458.html
đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
11
1.3. Khái quát về các hình thức đầu tư
1.3.1. Khái ni m hình thức đầu tư
Trải qua nhiều quy định của pháp luật về đầu tư vào Việt Nam từ trước
đến nay thì chưa có văn bản nào quy định khái niệm các hình thức đầu tư. Ở
Điều lệ đầu tư năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1990, Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992... hay đến Luật Đầu tư năm
2014 chưa có Điều luật nào đưa ra khái niệm các hình thức đầu tư là gì, mà chỉ
quy định các hình thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được phép
thực hiện.
Quyền lựa chọn hình thức, phương thức đầu tư do nhà đầu tư quyết định.
Do vậy có thể hiểu: Các hình thức đầu tư là những phương thức được nhà đầu
tư lựa chọn theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: Đầu tư thành lập
doanh nghiệp, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế,
đầu tư theo hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh), đầu tư theo hợp
đồng PPP (hợp đồng đối tác công - tư) theo Luật Đầu tư năm 2014.
1.3.2. Sự phát triển của các hình hình đầu tư
Các hình thức đầu tư được nhắc đến sớm nhất trong Điều lệ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam năm 1977 ngay sau khi Việt Nam vừa giành được độc lập
thống nhất nước nhà.
Theo các quy định tại Điều 1 của Điều lệ đầu tư năm 1977, Chính phủ
Việt Nam chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng
có lợi mà không phân biệt chế độ kinh tế chính trị của quốc gia của nhà đầu tư.
Mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được thể hiện một cách rõ
ràng. Điều lệ đầu tư năm 1977 quy định ba hình thức đầu tư đó là:
Hình thức đầu tư “hợp tác sản xuất chia sản phẩm”: là tiền đề của hình
thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày nay, theo Điều lệ đầu tư năm 1977 thì
bên nước ngoài thực hiện hình thức hợp tác chia sản phẩm s đóng góp vốn,
12
trang thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ... để xây dựng cơ sở vật chất nhằm
thực hiện chương trình hợp tác kinh tế được thỏa thuận trong hợp đồng; sản
phẩm làm ra s được chia cho các bên theo một tỷ lệ do các bên thỏa thuận;
phần sản phẩm của bên nước ngoài về nguyên tắc là để xuất khẩu, trừ trường
hợp bên Việt Nam yêu cầu thì có thể tiêu thụ tại Việt Nam một phần hoặc toàn
bộ.
Hình thức đầu tư “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp”: Đây là tiền đề của
hình thức liên doanh ngày nay, trong đó “Xí nghiệp” được định nghĩa là: Bên
nước ngoài và một tổ chức kinh tế quốc doanh Việt Nam hùn vốn lập một xí
nghiệp hoặc công ty hỗn hợp dưới hình thức công ty vô danh hoặc công ty
trách nhiệm có hạn, theo đó xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp được khẳng định là
một pháp nhân thành lập theo luật pháp Việt Nam, hoạt động theo các điều
khoản của hợp đồng hợp doanh và điều lệ của xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp.
Đồng thời quy định vốn do bên nước ngoài đầu tư vào xí nghiệp hoặc công ty
hỗn hợp được giới hạn ít nhất phải bằng 30% và nhiều nhất không quá 49%
tổng vốn đầu tư, quy định này có ý nghĩa không cho bên nước ngoài chiếm đa
số vốn dễ dẫn tới bên nước ngoài điều hành công ty, xí nghiệp. Sản phẩm của
xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp quy định là phải được xuất khẩu với một tỷ lệ
do các bên thỏa thuận.
Hình thức đầu tư “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu”:
Đây là hình thức tiền để của hình thức 100% vốn nước ngoài ngày nay, theo đó
xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, với 100% vốn nước ngoài
này cũng có tư cách pháp nhân Việt Nam, đồng thời trong này quy định rất chặt
ch rằng sản phẩm của xí nghiệp tư doanh này phải được xuất khẩu 100%. Việc
chấp nhận hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực sản
xuất hàng xuất khẩu đã chứng tỏ tính tự do và cởi mở của Điều lệ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam năm 1977.
13
1.3.2.1. Theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987
Sau đại hội VI năm 1986 của Đảng về đường lối đổi mới đất nước toàn
diện, sâu sắc và triệt để, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta
trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập cũng như
phát triển kinh tế, Nhà nước ta thể chế đường lối bằng luật cụ thể, nhằm tiếp
tục thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã được xây dựng và ban hành. Luật
Đầu tư nước ngoài hoàn thiện 3 hình thức đầu tư mà đã được quy định một
cách sơ khai trong Điều lệ đầu tư năm 1977 với một nội dung rõ ràng hơn, khoa
học hơn, cụ thể như sau:
- Hình thức đầu tư “hợp đồng hợp tác kinh doanh”:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh được áp dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều
nước và được nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh vì rất đa dạng, linh hoạt,
hình thức này được bắt nguồn từ hình thức hợp tác sản xuất chia sản phẩm quy
định trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977. Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã chuẩn hóa và hoàn thiện lại thành hình thức hợp đồng hợp tác kinh
doanh và quy định tại Điều 5 như sau: “Bên nước ngoài và Bên Việt Nam được
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản
xuất chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác”. Tinh thần của
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định rất rõ đặc trưng cơ bản của Hợp
đồng hợp tác kinh doanh là các bên cùng góp vốn để kinh doanh, sau đó phân
chia kết quả kinh doanh và không thành lập một pháp nhân mới như hình thức
liên doanh. Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ pháp nhân riêng của mình và tự quản lý
thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hai hệ thống luật pháp khác nhau. Bên
hợp doanh Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật trong
nước, bên hợp doanh nước ngoài thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp
Luật Đầu tư nước ngoài.
14
- Hình thức đầu tư “xí nghiệp liên doanh”:
Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 định nghĩa về hình thức xí
nghiệp liên doanh như sau : “Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp do bên nước
ngoài và bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên
doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
với Chính phủ nước ngoài”. Theo định nghĩa này Nhà nước cho phép xí nghiệp
liên doanh gồm chỉ có hai bên là bên nước ngoài và bên Việt Nam, nếu có
nhiều pháp nhân hoặc cá nhân muốn hợp tác đầu tư thì cũng cũng phải thoả
thuận lại thành một bên nước ngoài và một bên Việt Nam để liên doanh với
nhau. Ngoài ra, bên cạnh đó còn có một liên doanh được thành lập trên có sở
Hiệp định giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Việt Nam đó là liên doanh
dầu khí Việt-Xô nên định nghĩa trên đã mở rộng diện áp dụng cho cả đối tượng
liên doanh mà được thành lập trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ, trên
thực tế thì từ đó đến nay, ngoài liên doanh dầu khí Việt-Xô thì cũng không có
bất kỳ liên doanh nào tương tự như vậy.
- Hình thức đầu tư “xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”.
Hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài thực chất đã được quy định
trong Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977, nhưng thời bấy giờ
quy định rất chặt ch , bắt buộc phải xuất khẩu 100%, nên đã lấy tên hình thức
này là “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu”. Nếu quy định như
vậy s làm kém hấp dẫn của hình thức này, nên Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã đổi tên thành hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và được quy
định tại Điều 14 như sau: “Các tổ chức cá nhân nước ngoài được thành lập tại
Việt Nam xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự
kiểm soát của cơ quan Nhà nước quản lý về đầu tư nước ngoài, đuợc hưởng
các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép đầu tư. Xí
nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam”.
Như vậy theo tinh thần Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 thì xí nghiệp 100%
vốn nước ngoài là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước
ngoài do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và
15
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, không bắt buộc phải xuất khẩu 100%
sản phẩm làm ra. Đây là bước tiến rất quan trọng so với Điều lệ Đầu tư nước
ngoài năm 1977. Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam.
1.3.2.2. Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Vi t Nam năm 1996
Sau 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng
(6/1996) nhận định đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng một
số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển
sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ,
mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1996 - 2000, nêu
nhiệm vụ tổng quát, những tư tưởng chỉ đạo, các chương trình và lĩnh vực phát
triển.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa3.
Đến năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 đã được sửa
đổi, bổ sung 2 lần vào những năm 1990, năm 1992, đó là những bước rất quan trọng
góp phần vào việc tạo lập hành lang pháp lý ngày càng hoàn chỉnh nhằm tăng tính
hấp dẫn và cải thiện môi trường đầu tư tại Việt nam, từ đó đưa đến những kết quả
3https://loigiaihay.com/khai-quat-tien-trinh-doi-moi-tu-1986-den-nay-c132a20697.html
tăng trưởng rõ rệt.
16
Luật Đầu tư nước ngoài cũng như nhiều văn bản dưới luật được ban hành
trong hoàn cảnh ta chưa có kinh nghiệm về hợp tác đầu tư trực tiếp với nước ngoài,
nhưng về cơ bản đã dựng lên được một khuôn khổ pháp lý phù hợp với đường lối
quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại. Luật Đầu tư nước ngoài đã có những quy
định vừa rộng rãi vừa chặt ch , bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài an toàn về đầu
tư và quyền tự chủ kinh doanh, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền,
tuân thủ pháp luật của Việt Nam và bình đẳng, cùng có lợi. Tuy nhiên, đến thời
điểm năm 1996, khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nhìn lại hệ thống pháp luật về đầu
tư nước ngoài, chúng ta thấy nhiều nhược điểm cần được khắc phục trong hoàn
cảnh mới. Những nhược điểm đó là: Một số quy định quá chung chung, không đủ
mức cụ thể để dễ thi hành; Thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn chồng chéo và
thiếu tính cập nhật; Thủ tục hành chính quá phức tạp, rườm rà; Chủ trương và quy
hoạch chưa đủ mức cụ thể, làm cho các nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu, làm
cho các cơ quan quản lý Nhà nước khó khăn trong việc xử lý.
Những thành tựu quan trọng của 10 năm đổi mới, đặc biệt là sự tăng trưởng
kinh tế liên tục trong nhiều năm với nhịp độ cao, việc nâng cao một bước năng lực
sản xuất xã hội, năng lực xuất khẩu, mức sống của nhân dân và sức mua của thị
trường trong nước, những cố gắng rất lớn để hình thành và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, đã tạo ra cho Việt Nam một hình ảnh mới trên thế giới như là một thị
trường thương mại và đầu tư có sức hấp dẫn. Đây là cơ hội mà ta có thể tranh thủ
thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn để
phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài càng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng nhu cầu to lớn cho đầu tư phát triển.
Hoạt động hợp tác đầu tư của ta với nước ngoài từ 1996 trở đi đứng trước những cơ
hội và thách thức mới, số nước gia nhập vào cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước
ngoài ngày càng đông, làm cho cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn trước. Trong
cuộc cạnh tranh này, nhiều nước đã tiến hành những cải cách theo hướng thông
thoáng hơn nhằm vượt lên trên những nước khác.
17
Từ bối cảnh của tình hình mới và từ những nhược điểm của Luật Đầu tư
nước ngoài và trên cơ sở các mục tiêu :
- Chuẩn xác hóa các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hướng tiếp tục tăng
cường khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung vào những mục tiêu
trọng điểm trong chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- So sánh với các biện pháp khuyến khích ở các nước trong khu vực để các
điều kiện khuyến khích đầu tư ở nước ta không thể kém hấp dẫn hơn các nước trong
khu vực;
- Cụ thể hóa những quy định còn quá chung chung, bổ sung vào Luật những
qui định đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, luật hóa những quy định quan trọng
đã được kiểm nghiệm là đúng đắn nhưng chỉ mới được ban hành ở dạng văn bản
duới luật;
- Từng bước tiến tới sự nhích dần giữa hệ thống pháp Luật Đầu tư nước
ngoài và pháp Luật Đầu tư trong nước, chỉ giữ lại những khác biệt mà điều kiện
trong nước chưa cho phép loại bỏ;
- Tăng cường khâu tổ chức quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài,
tạo cơ sở pháp lý cao hơn tạo chuyển biến một cách cơ bản nhằm đơn giản hóa thủ
tục đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quốc hội khoá 9 kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1996. Luật Đầu tư nước ngoài 1996 được soạn thảo trên cơ sở kế
thừa và phát triển của pháp luật đầu tư trước đó:
Về các hình thức đầu tư quy định tại Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 1996 vẫn quy định 3 hình thức đầu tư:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh;
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
18
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 bổ sung thêm đã quy định
bổ sung thêm phương thức đầu tư Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
(BTO), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) (Điều 19), tạo điều kiện cho nước ta
s sớm có các công trình cơ sở hạ tầng theo đúng quy hoạch và ta s được bàn giao
làm chủ việc vận hành các công trình này ngay sau khi chủ đầu tư nước ngoài xây
dựng xong (BT). Để nhà đầu tư nước ngoài thu hồi được vốn và có một phần lợi
nhuận thoả đáng, phía ta s cho phép họ được phát triển một dự án khác theo đúng
Sau 4 năm thực hiện, trước những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro
quy hoạch và với những điều kiện hai bên thoả thuận (BTO)
cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi
năm 2000 đã tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế,
làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với
trước đây và so với một số nước trong khu vực. Đặc biệt về hình thức đầu tư, Luật
Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 nhằm mở rộng quyền chủ động của nhà đầu tư
trong việc lựa chọn hình thức đầu tư và tổ chức lại doanh nghiệp phù hợp với mục
tiêu và tính chất hoạt động của dự án, Điều 19 của Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996 đã bổ sung quy định mới cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
các bên hợp doanh chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, hợp nhất, sát nhập...
theo các điều kiện và thủ tục do Chính phủ quy định. Quy định nói trên không chỉ
đáp ứng yêu cầu hoạt động đa dạng của dự án đầu tư nước ngoài mà còn tạo cơ sở
pháp lý để Cơ quan cấp phép đầu tư xử lý vấn đề này một cách linh hoạt theo những
nguyên tắc của Luật doanh nghiệp hiện hành và thông lệ quốc tế.
1.3.2.3. Theo Luật Đầu tư năm 2005
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự
thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo một sân chơi bình đẳng, không
phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện
thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư.
Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có hiệu lực từ 01/7/2006, Luật Đầu
19
tư năm 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước. Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu tư năm 2005
được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư,
còn các nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì
chuyển sang Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyển sang
quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung mang tính chất đặc thù
thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyên nghành điều chỉnh.
So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước
trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tư như:
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của
nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp
đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua cổ
phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư và Đầu tư thực hiện việc sáp
nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh tế
bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập
tại Việt Nam được hợp tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành
lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về
doanh nghiệp. Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh
giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh trên
được tiếp tục liên doanh với nhà đầu trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư
thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có
liên quan. Tính theo cách thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005 có thể chia thành
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
(1) Các hình thức đầu tư trực tiếp
+ Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100%
vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
Căn cứ Luật đầu tư năm 2005, nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ
chức kinh tế sau đây:
20
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ
chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch
vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài các tổ chức kinh tế trên, nhà đầu tư trong nước được đầu tư để thành
lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ
kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư nước ngoài liên kết với nhà đầu tư trong nước, bao gồm các
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty như công ty
trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần...
Việc liên kết đó đã tạo ra các tổ chức kinh tế liên doanh giữa một bên là doanh
nghiệp trong nước và một bên là nhà đầu tư nước ngoài.
+ Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp
đồng BT.
Hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh): Hợp đồng hợp tác kinh
doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh
phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Hợp đồng BOT (Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao): Hợp đồng
BOT là hình thức đầu tư được ký giữa nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân
chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh) là hình
thức đầu tư ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công
21
trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh
công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
Hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao) là hình thức đầu tư được ký
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.
Điều 23 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng
BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức
hợp tác kinh doanh khác.
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách
nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên
thỏa thuận và ghi trong hợp đồng.
Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện
đại hoá và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và
kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng
Chính phủ quy định.
+ Đầu tư phát triển kinh doanh.
Đầu tư phát triển kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn để
mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát
triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và
phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát triển kinh doanh bao gồm
các hình thức cụ thể là: Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh
(thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị trực thuộc...); Đổi mới công
nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường.
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức kinh
doanh sau đây:
22
- Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
- Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi
trường.
+ Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt
Nam. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh
vực, ngành, nghề do Chính phủ quy định.
Đến năm 2005, với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu
tư năm 2005 thì nhà đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà
đầu tư trong nước, cả về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần. Riêng với ngân hàng
thương mại Việt Nam, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày
20/4/2007 và Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007 hướng dẫn Nghị
định số 69/2007/NĐ-CP đã quy định thu hẹp đối tượng được các nhà đầu tư nước
ngoài mua cổ phần, chỉ là các ngân hàng thương mại mà không bao gồm tất cả các
tổ chức tín dụng Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước cổ phần
hóa thì nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần với tỷ lệ được quy định riêng tại
Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100%
vốn Nhà nước thành công ty cổ phần. Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày
15/04/2009 cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ 49% tổng số cổ phiếu của
công ty cổ phần đại chúng. Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/06/2009 được
ban hành có một số quy định thay đổi như việc bãi bỏ hạn chế tỷ lệ tham gia của
nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam...
Về hình thức góp vốn, mua cổ phần nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn,
mua cổ phần: Nhà đầu tư nước ngoài “mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản
lý hoạt động đầu tư” thì được coi là hình thức “đầu tư trực tiếp”.
+ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số
23
công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp
nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo đó
nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp
có thanh toán. Từ phương diện luật cạnh tranh, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là
hành vi của doanh nghiệp thuộc nhóm hành vi tập trung kinh tế.
Việc đầu tư thông qua thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tiềm ẩn
khả năng tạo lập vị trí thống lĩnh và cao nhất là vị trí độc quyền của doanh nghiệp
trên thị trường hàng hóa, dịch vụ; Làm giảm chỉ số cạnh tranh, thậm chí triệt tiêu
cạnh tranh của thị trường. Vì l đó, khi sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, ngoài
việc phải đáp ứng các điều kiện quy định bởi Luật Đầu tư, các nhà đầu tư còn phải
tuân thủ các quy định của pháp luật cạnh tranh và các quy định pháp luật có liên
quan.
Những năm trước đây, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và xu thế hội
nhập, nhiều đạo luật quan trọng liên quan đã được ban hành. Chẳng hạn Luật Cạnh
tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng
khoán năm 2006 việc ban hành các đạo luật nói trên đã đáp ứng được nhu cầu xác
lập vị trí pháp lý, điều tiết các quan hệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các
nguồn vốn từ bên ngoài của các loại doanh nghiệp nói chung, trong đó có việc sáp
nhập và mua lại doanh nghiệp. Trước khi có Luật Đầu tư năm 2005, hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được quy
định trong một số điều khoản, việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp các doanh
nghiệp tư nhân (Điều 103 Luật Doanh nghiệp 1999), việc sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp các doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 103/1999/NĐ-CP; Nghị
định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh Doanh
nghiệp nhà nước.
Luật Đầu tư năm 2005 đã ghi nhận việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là
một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức:
24
(i) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý
hoạt động đầu tư;
(ii) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động;
(iii) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp.
Mặc dù hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
có nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, thống nhất, tuy nhiên những quy định pháp luật
hiện hành là cơ sở quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường việc sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp nói chung, thu hút FDI qua thị trường việc sáp nhập và mua lại doanh
nghiệp nói riêng.
(2) Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định
chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý các
hoạt động đầu tư.
Sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức đầu tư trực tiếp và các hình thức đầu
tư gián tiếp là mức độ, phạm vi quản lí và kiểm soát của chủ đầu tư đối với hoạt
động kinh doanh. Trong các hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lí, điều hành quá trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đầu tư.
Nhà đầu tư gián tiếp về cơ bản chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu
tư. Đầu tư gián tiếp bao gồm những hình thức phổ biến như: Đầu tư thông qua mua
chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác); Đầu tư
thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; Đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo
hiểm...
Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây:
+ Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Việc mua cổ
phần mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư được coi là
“đầu tư gián tiếp”
+ Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
25
+ Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác
của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định
của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
1.3.2.4. Theo Luật Đầu tư năm 2014
Sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên,
Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung; cụ thể như sau:
Một là, với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ hoạt động đầu tư,
gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước và đầu
tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, Luật Đầu tư về cơ bản bảo đảm thực
hiện chức năng như một luật khung điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong
tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, sau khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành,
một số đạo luật liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành hoặc
sửa đổi (như Luật Chứng khoán, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm,
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật
Kinh doanh bất động sản...). Trong bối cảnh đó, Luật Đầu tư cần được xem xét sửa
đổi để xác định rõ nguyên tắc áp dụng giữa các Luật nhằm đảm bảo tính thống nhất
trong hệ thống pháp luật về đầu tư, đặc biệt là các quy định liên quan đến điều kiện
đầu tư, thủ tục đầu tư và ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.
Hai là, thực tiễn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 trong thời gian qua cho
thấy, những vướng mắc trong quá trình hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà
đầu tư có nguyên nhân phát sinh từ một số khái niệm chưa được quy định cụ thể
trong Luật (như khái niệm lĩnh vực đầu tư có điều kiện, điều kiện đầu tư, nhà đầu tư
nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...). Các lĩnh vực, ngành nghề
ưu đãi đầu tư cũng như đối tượng ưu đãi đầu tư chưa được quy định thống nhất giữa
Luật Đầu tư với các luật thuế và một số luật chuyên ngành. Quy định về một số lĩnh
vực đầu tư có điều kiện còn thiếu minh bạch, dẫn đến cách hiểu không thống nhất
giữa các cơ quan quản lý và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, những biện pháp bảo đảm đầu
26
tư theo quy định của Luật cũng chưa được cập nhật và phản ánh đầy đủ cam kết của
Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các điều ước quốc tế được ký kết trong thời gian
qua, trong đó có cam kết trong WTO.
Ba là, Luật Đầu tư năm 2005 còn tồn tại một số quy định khác biệt giữa nhà
đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh nghiệp và
thực hiện dự án đầu tư, đồng thời chưa xác định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy
chứng nhận đầu tư và triển khai thực hiện dự án. Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây
dựng chưa được quy định thống nhất giữa các luật nên đã dẫn đến sự chồng chéo về
mục tiêu, nội dung quản lý cũng như cơ quan thẩm định, phê duyệt. Cộng đồng
doanh nghiệp cho rằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng là chuỗi thủ tục tồn tại
nhiều khó khăn nhất cho doanh nghiệp và là một trong những “nút thắt” phải tháo
gỡ nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Bốn là, các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư theo quy
định của Luật chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnh thực hiện chế độ phân
cấp. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về đầu tư còn tồn tại một số bất cập từ công tác xây dựng cơ chế,
chính sách, xúc tiến đầu tư đến cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và
quản lý hoạt động đầu tư.
Năm là, Luật Đầu tư 2005 chưa phân định những hoạt động đầu tư ở nước
ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và những hoạt động thuộc
phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư. Mặt khác, các quy định về
quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, dẫn đến khó
xác định thẩm quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý trong
việc quyết định đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài.
Những hạn chế nêu trên đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với xu
hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế
giới và trong khu vực. Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, so với một số
nước trong khu vực thì hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính của nước ta vẫn
27
chưa thật sự đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc
nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội
nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải
tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong đó có Luật Đầu tư để thích
ứng với đòi hỏi cao hơn của quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện
cam kết quốc tế về tự do hóa đầu tư. Xuất phát từ những hạn chế trên thì Luật Đầu
tư năm 2014 đã được ban hành để giải quyết các vấn đề trên.
Luật đầu tư năm 2014 quy định các hình thức đầu tư
- Về đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (Khoản 1 Điều 22)
Nhằm xóa bỏ một số hạn chế, phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài
trong việc thành lập doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư, góp phần tạo mặt
bằng pháp lý thống nhất về quyền thực hiện hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định một số nội dung
sau:
Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế phù hợp
với tất cả loại hình tổ chức kinh tế. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư
nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư (Khoản 1 Điều 22).
Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế
trong doanh nghiệp Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều). Như vậy,
theo các quy định nêu trên, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt
động theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài đã
được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu tư.4
- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, cổ phần của doanh
4 Nguồn: http://moj.gov.vn/Pages/home.aspxTrang thông tin điện tử Bộ Tư pháp
nghiệp (Điều 25, Điều 26)
28
Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung quy định về vấn đề này theo hướng
khẳng định quyền của nhà đầu tư trong việc góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ
phần của doanh nghiệp phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở
đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại Luật này. Doanh nghiệp
nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện
thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
về doanh nghiệp.
Luật Đầu tư năm 2014 cũng quy định cụ thể trường hợp phải thực hiện thủ
tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, cụ thể:
- Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức
kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với
nhà đầu tư nước ngoài;
- Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ
chức kinh tế có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 51%, nắm giữ từ 51%
vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP
Luật Đầu tư năm 2014 bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng
PPP phù hợp với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển các
công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27). Theo đó, nhà đầu
tư ký kết Hợp đồng PPP với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng mới
hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng
hoặc cung cấp dịch vụ công.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC
Luật Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu tư năm 2005 về
hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh -BCC. Hợp đồng BCC được ký
kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài
hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư. Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp
29
đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa
thuận.
1.3.3. Vai trò của các hình thức đầu tư
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia. Để thực hiện
và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước s có những chính sách và những bước đi
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phải trả lời câu
hỏi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế ở đâu và cách thức để huy động những
nguồn lực ấy như thế nào? Thật vậy, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay,
muốn tồn tại và phát triển được mỗi nền kinh tế đều phải phát huy nội lực trong
nước kết hợp với các nguồn lực bên ngoài. Thực tiễn 30 năm đổi mới kinh tế ở Việt
Nam cho thấy, hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài luôn phải song
hành và hoạt động vì mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng, nó làm gia tăng của cải
vật chất cho xã hội, không có đầu tư nền kinh tế s khó có thể tăng trưởng và xã hội
s chậm phát triển.
Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định đến cả sự ra đời,
tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra
đời của bất kì cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua
sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và
thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở
vật chất kĩ thuật vừa được tạo tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt
động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hỏng. Để duy trì
được sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để
thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu
cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế
cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư. Với mỗi loại hình
đầu tư có vị trí, vai trò khác nhau trong sự phát triển của các doanh nghiệp, mỗi loại
hình lại phù hợp và mang lại hiệu quả khác nhau đối với doanh nghiệp.
30
- Về đầu tư thành lập tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), doanh nghiệp có vị
trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm
trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước
phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và
phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và
tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải
quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo...
- Về mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng các dịch
vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của nước ta trong thời gian hiện nay. Dự án
hợp tác công tư vừa trở thành đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên
môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ cơ
sở hạ tầng tại Việt Nam, vừa mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân.
- Về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế (các
doanh nghiệp) tại Việt Nam góp phần to lớn cho việc tăng vốn vào thị trường kinh
doanh, sản xuất, đưa doanh nghiệp trong nước có khả năng tiếp cận với những
nguồn công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới, góp phần mở rộng thị trường, tăng
cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế và tăng
trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách.
- Về hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) có vai trò vô cùng quan trọng trong
việc giúp các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian và công sức do không phải thành lập
thêm pháp nhân mới mà vẫn đạt được hiệu quả quản lý trong đầu tư.
Đầu tư nước ngoài đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và nhà đầu tư nước
ngoài. Đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam khả năng thu lợi cao
hơn, phân tán được rủi ro.
Đối với Việt Nam hiển nhiên là việc thu hút đầu tư nước ngoài mang lại
nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế. Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay không chỉ
tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà còn được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác như y
tế, giáo dục, khoa học công nghệ, thể dục thể thao...Nỗ lực của Việt Nam trong việc
31
thu hút đầu tư là rất lớn. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến
Luật Đầu tư năm 2014 chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài nói riêng và đầu tư nói chung đã trở thành một
trong những nguồn lực quan trọng góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi
các mục tiêu kinh tế - xã hội và đầu tư cho phát triển;
Thứ hai, đầu tư trong nước và nước ngoài đã góp phần đưa nước ta ra khỏi
cuộc khủng hoảng kinh tế, mang lại cho ta thế và lực trên trường quốc tế;
Thứ ba, đầu tư góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở ra nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới;
Thứ tư, đầu tư nước ngoài giúp cho chúng ta nâng cao năng lực quản lý, tác
phong công nghiệp, trình độ và chất lượng công nghệ cũng được phát triển, có cơ
hội tiếp xúc với nhiều kỹ thuật tiến bộ;
Thứ năm, thu hút đầu tư nước ngoài giúp chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế
với nhiều nước, tích cực hội nhập sâu rộng (Nguyễn Văn Luật 2004, tr19).
32
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU
TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư
2.1.1. Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một trong những hình thức cơ bản trong
đầu tư kinh doanh nói chung. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 22),
nhà đầu tư có quyền thành lập các loại hình tổ chức kinh tế5. Tổ chức kinh tế là tổ
chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm
các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Điều này có nghĩa, các nhà đầu tư bao gồm
các nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài6.
Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế được quy định tại Điều 22 Luật
Đầu tư năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 44 Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực
hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ chức
khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Cùng với đầu tư theo hợp đồng thì đầu
tư thành lập tổ chức kinh tế là một hình thức đầu tư trực tiếp mà ở đó nhà đầu tư trực
5 Khoản 16, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014 đề cập tới khái niệm “Tổ chức kinh tế”, theo đó là “tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. 6Nội dung trên được tham khảo từ bản thảo Giáo trình Pháp luật Đầu tư do PGS, TS Tăng Văn Nghĩa làm chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này).
tiếp bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia hoạt động quản lý.
33
So sánh với các hình thức đầu tư gián tiếp khác như: Mua cổ phiếu, trái
phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư… thì đầu tư thành lập tổ chức kinh tế s
phức tạp và đòi hỏi nhiều thủ tục đầu tư chặt ch hơn.
Chủ thể được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế bao gồm: Nhà đầu tư trong
nước; Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Nhà đầu tư nước ngoài.
Điều kiện để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế như sau:
* Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà
đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện:
- Nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư;
- Thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
- Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ:Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ
không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:
+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại
chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy
định của pháp luật về chứng khoán;
+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định
của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;
+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại nêu trên
thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện
hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
34
Đối với nhà đầu tư trong nước: Nhà đầu tư trong nước khi thành lập tổ chức
kinh tế có thể làm thủ tục đăng ký Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nếu muốn, điều
này không bắt buộc theo Khoản 2 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014. Trường hợp có
nhu cầu cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đối với dự án đầu tư, nhà đầu tư thực
hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư theo Điều 37 của Luật Đầu tư năm
2014.
2.1.2. Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế là một hình thức
đầu tư cơ bản theo Luật Đầu tư năm 2014. Hình thức này thể hiện nhu cầu tất yếu
và con đường đầu tư của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu của họ. Nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện đầu tư theo hình thức này
(Điều 24). Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư nước ngoài, khi họ đầu tư theo hình thức
này phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo Điều 25 và Điều 26 Luật Đầu tư7.
Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư năm 2014 quy định:
1. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp
vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp sau đây:
a) Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức
kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với
nhà đầu tư nước ngoài;
b) Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài,
tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều
lệ trở lên của tổ chức kinh tế.
Khi đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam
theo hình thức này. Trước tiên, nhà đầu tư nước ngoài cần xem xét ngành, nghề
7Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.
kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài dự định góp vốn.
35
Thông tin này được kiểm tra thông qua lộ trình mở cửa của Việt Nam tại biểu cam
kết dịch vụ WTO và các văn bản pháp luật chuyên ngành trong nước. Các vấn đề s
xem xét cụ thể:
- Ngành nghề bị hạn chế nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư, kinh
doanh. Chẳng hạn, ngành hoạt động thăm dò dư luận (mã CPC 86402), các hoạt
động liên quan đến ghi âm, giáo dục phổ thông (CPC 922)… là các ngành mà hiện
nay Việt Nam chưa cam kết cho nhà đầu tư nước ngoài hiện diện thương mại tại
Việt Nam. Do đó, trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có các ngành này thì
doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thay đổi (bỏ) các ngành nghề này trước khi nhà
đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, nếu không nhà
đầu tư nước ngoài s không được chấp thuận đầu tư.
- Ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam bị giới hạn tỷ lệ vốn
góp đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp có giới hạn thì nhà đầu tư nước
ngoài chỉ được được góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong giới hạn cho phép.
Đến nay, đa số ngành nghề đã được gỡ bỏ giới hạn tỷ lệ vốn đầu tư, trừ một số
ngành nghề liên quan đến dịch vụ vận tải, dịch vụ giải trí, dịch vụ nghe nhìn như
sản xuất, phát hành, chiếu phim… Trường hợp không giới hạn hoặc có giới hạn tỷ
lệ vốn góp nhưng nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư, nắm giữ từ 51% vốn điều lệ
của doanh nghiệp Việt Nam thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp.
- Ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài. nhà
đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện để được đầu tư theo biểu cam kết dịch vụ
WTO như quốc tịch của nhà đầu tư phải thành viên của WTO đối với một số ngành
như hoạt động kiến trúc, lắp đặt hệ thống,…
Ngoài ra, nếu ngành nghề thuộc danh mục ngành nghề có điều kiện được ban
hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
phải đáp ứng điều kiện trước khi kinh doanh. Chẳng hạn, các ngành nghề liên quan
đến hoạt động bán buôn hàng hóa là ngành nghề có điều kiện đối với nhà đầu tư
36
nước ngoài nên sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, để hoạt
động thì doanh nghiệp phải xin Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa
và hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định
tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP, Thông tư 08/2013/TT-BCT, Công văn số
12933/BCT-KH hướng dẫn về việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện hoạt động mua bán hàng
hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp tới mua bán hàng hóa.
Trong trường hợp ngành nghề có điều kiện thì không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn
góp, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp trước khi đầu tư.
Về thủ tục đầu tư đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà
đầu tư
Nhìn chung, đối với trường hợp đầu tư theo thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ
phần phần vốn góp, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam phải thực
hiện ít nhất 2 bước bắt buộc sau tại Cơ quan đăng ký kinh doanh:
Bước 1: Nhà đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn/mua cổ phần/phần vốn góp
tại Sở kế hoạch và đầu tư nơi doanh nghiệp Việt Nam đặt trụ sở.
Bước 2: Sau khi nhà đầu tư nước ngoài được Sở kế hoạch và đầu tư cấp văn
bản chấp thuận góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp thì các bên tiến hành việc góp
vốn, chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp. Doanh nghiệp Việt Nam thực hiện thủ
tục thành lập doanh nghiệp; hoặc thông báo thay đổi cổ đông sáng lập công ty cổ
phần nếu cổ đông sáng lập thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần trong vòng 3 năm
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; hoặc đăng ký thay đổi
thành viên đối với trường hợp công ty TNHH.
Trong trường hợp thành viên/cổ đông công ty chuyển nhượng vốn góp/cổ
phần dẫn đến việc không đáp ứng số thành viên luật định thì công ty phải thực hiện
thủ tục đăng ký thay đổi loại hình doanh nghiệp. Việc thay đổi đăng ký thay đổi
37
thành viên/thông báo thay đổi cổ đông sáng lập được thực hiện đồng thời với thủ
tục thay đổi loại hình doanh nghiệp.
Trường hợp thành viên, cổ đông chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp/cổ
phần trong công ty là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và công ty
không thuê người này làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nữa thì
đồng thời với thủ tục trên, công ty phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Luật Đầu tư năm 2014 có nhiều điểm mới để đơn giản hóa thủ tục đầu tư và
khuyến khích đầu tư nước ngoài. Theo đó:
- Các dự án của nhà đầu tư trong nước s không phải thực hiện thủ tục cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mà chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp là đủ.
- Các dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mà nhà đầu tư
nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ và ngành nghề
đầu tư không có điều kiện s được đối xử như dự án của nhà đầu tư trong nước, tức
không phải xin giấy chứng nhận đầu tư.
- Dự án của doanh nghiệp (FDI) mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài và/hoặc
doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% (dưới 100%) vốn điều lệ hoặc dưới 51% nhưng
ngành nghề đầu tư có điều kiện thì không phải xin Giấy phép đầu tư mà thực hiện
thủ tục đầu tư là đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trước khi đầu tư.
2.1.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
2.1.3.1. Khái ni m về hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC (Business Cooperation Contract) là hợp
đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận,
phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế (Điều 3 khoản 9, Luật Đầu
tư năm 2014). Như vậy có thể hiểu bản chất của hợp đồng BCC là giữa hai hay
nhiều chủ thể có chung một dự án kinh doanh muốn liên kết cùng nhau thực hiện.
38
Tuy nhiên, nếu họ không muốn thành tổ chức kinh tế, thì lúc này họ có thể thành
lập hợp đồng hợp tác kinh doanh dạng BCC để thể hiện sự liên kết đầu tư giữa hai
bên.
Đây là hình thức đầu tư được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia.
Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng
BCC mà không thành lập pháp nhân. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều
phối do các bên thỏa thuận. Hình thức đầu tư này đang ngày càng được nhà đầu tư
trong và ngoài nước lựa chọn khi thực hiện các hoạt động đầu tư bởi chính ưu điểm
như: do không thành lập pháp nhân nên nhà đầu tư thường chủ động, linh hoạt hơn
và ít phụ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự án đầu tư. Tuy nhiên
hình thức này cũng có một số nhược điểm: do không thành lập pháp nhân
nên không có con dấu riêng… và các nhà đầu tư s phải thỏa thuận lựa chọn một
trong con dấu của các nhà đầu tư để phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư
điều này có thể s gây rắc rối và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.
Hợp đồng BCC là một dạng đầu tư trực tiếp rất hiệu quả và được dùng phổ
biến và được quy định tại Điều 28,29 của Luật Đầu tư năm 2014. Hợp đồng hợp tác
kinh doanh BCC là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh
doanh tại Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và kết quả kinh doanh cho mỗi
bên. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng hợp tác kinh doanh bao gồm:
- Là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư trên cơ sở hợp
đồng để thực hiện hoạt động đầu tư nhưng không làm phát sinh việc thành lập một
tổ chức kinh tế - pháp nhân mới;
- Chủ thể tham gia hợp đồng không giới hạn về số lượng, có thể bao gồm các
nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam8.
2.1.3.2. Nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh
Thứ nhất: tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia
8Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.
hợp đồng hợp tác kinh doanh; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án.
39
Thứ hai: Mục tiêu và phạm vi kinh doanh.
Thứ ba: Đóng góp của các bên hợp doanh, việc phân chia kết quả đầu tư,
kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng.
Thứ tư: Tiến độ thực hiện dự án.
Thứ năm: Thời hạn hợp đồng.
Thứ sáu: Quyền, nghĩa vụ của các bên hợp doanh.
Thứ bảy: Các nguyên tắc tài chính.
Thứ tám: Thể thức sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng.
2.1.3.3. Hình thức của hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng BCC phải bằng văn bản trong trường hợp dự án đầu tư bằng hợp
đồng BBC phải làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư. Còn hợp đồng
BCC không phải làm thủ tục đăng đăng ký đầu tư thì có thể được thể hiện dưới hình
thức lời nói hoặc hành vi cụ thể.
2.1.3.4. Vai trò của hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh có những vai trò cơ bản như sau:
– Không phải thành lập pháp nhân mới, các bên không phải tiến hành thủ tục
thành lập doanh nghiệp nên nhanh chóng tiến hành hoạt động kinh doanh đặc biệt
với dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
– Giúp các nhà đầu khắc phục được điểm yếu của mình và sử dụng được hầu
hết các lợi thế trong kinh doanh.
– Khi ký hợp đồng BCC các bên độc lập và nhân danh chính mình trong quá
trình hoạt động.
Nội dung quan hệ đầu tư theo Hợp đồng BCC là những thỏa thuận thể hiện
tính “hợp tác kinh doanh”, bao gồm các thỏa thuận bỏ vốn để cùng kinh doanh,
cùng chịu rủi ro, cùng phân chia kết quả kinh doanh. Đây chính là đặc thù của hợp
đồng hợp tác kinh doanh trong sự so sánh với các hợp đồng khác trong thương mại.
40
Dựa vào bản chất pháp lý của Hợp đồng BCC, có thể thấy hợp đồng hợp tác
kinh doanh là hình thức đầu tư dễ tiến hành, thích hợp với các dự án cần triển khai
nhanh, thời hạn đầu tư ngắn. Xét về lợi thế, đầu tư theo hình thức hợp tác kinh
doanh giúp sớm thu được lợi nhuận vì các nhà đầu tư không mất thời gian đầu tư
xây dựng cơ sở sản xuất mới. Do không phải thành lập doanh nghiệp mới để thực
hiện dự án nên thủ tục đầu tư cũng đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chi phí, quy
mô dự án cũng có thể rất linh hoạt. Hiện nay, ở Việt Nam, hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí,
lĩnh vực bưu chính viễn thông, in ấn, phát hành báo chí với sự tham gia góp vốn của
nhà đầu tư nước ngoài. Kể từ khi được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam, hình
thức này góp phần hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế nước ta.
2.1.4. Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư PPP
Cho đến nay,chưa có một khái niệm chính xác về hình thức hợp tác công tư.
Một cách hiểu chung nhất thì hợp tác công tư hay đối tác công tư (Public – Private
Partnership, viết tắt là PPP) mô tả mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân trong
việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công trong một quốc gia.
Trong đó, Nhà nước bao gồm Chính phủ, cơ quan trực thuộc Chính phủ như Bộ
ngành, thành phố, doanh nghiệp nhà nước. Tư nhân là doanh nghiệp trong nước
hoặc nước ngoài, các nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài (có thể là cá nhân, tổ
chức có chuyên môn về kỹ thuật, tài chính).
Theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015, Đầu tư theo hình thức đối
tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện quản lý, vận hành
dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
Hình thức PPP là một thoả thuận hợp tác trên cơ sở hợp đồng giữa khu vực
công và khu vực tư để thực hiện các hoạt động đầu tư thuộc trách nhiệm của khu
vực công trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định trong đó các nguồn
lực, rủi ro, trách nhiệm, lợi ích được chia sẻ giữa hai bên nhằm đạt được mục tiêu
chung.
41
Như vậy, đúng như tên gọi, nguyên lý của PPP là sự hợp tác giữa chính
quyền và các đối tác tư nhân để thiết kế, tài trợ xây dựng, quản lý, khai thác hoặc
bảo tồn một dự án công ích. PPP đòi hỏi phải có sự chia sẻ trách nhiệm, sở hữu và
lợi ích giữa nhà nước và khu vực tư nhân, với nhiều cách thức hợp tác trong nhiều
lĩnh vực liên quan tới độc quyền tự nhiên như: cấp nước sạch, thoát nước và xử lý
nước thải, giao thông, viễn thông, năng lượng và cả một số lĩnh vực liên quan đến
giáo dục và đào tạo.
Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có luật riêng về PPP mà chỉ được quy định
tại Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về hình thức đầu
tư đối tác công tư, tuy nhiên đây là lĩnh vực được nhà nước quan tâm, định hướng
thúc đẩy trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế.
Sau một thời gian thực hiện theo phương thức vừa học vừa làm đối với các
dự án PPP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày
17/03/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà
đầu tư đã có hiệu lực. Nghị định 15/2015/NĐ-CP được xem là một quy định tương
đối toàn diện thay thế cho các quy định pháp lý hiện hành đưa ra một khuôn khổ
pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân vào các dự án
hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam.
Một trong những khác biệt lớn giữa Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày
14/02/2015 với các quy định trước đó về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT,
BTO và BT, là việc đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực đầu tư dành cho PPP, không
chỉ hạn chế trong hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, mà
còn trong các lĩnh vực như:
- Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan;
- Hệ thống chiếu sáng, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, hệ
thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nghĩa
trang;
42
- Nhà máy điện, hệ thống truyền tải điện;
- Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể
thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
- Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng
thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông
tin tập trung, ứng dụng công nghệ thông tin;
- Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển
liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
- Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 cũng đã quy định các hình
thức hợp đồng đầu tư dự án như BOT, BTO và BT là hình thức PPP, (trước đó được
quy định tại các văn bản khác nhau, thậm chí được coi là những hình thức đầu tư
riêng biệt so với hình thức PPP đang trong giai đoạn thí điểm), chịu sự điều chỉnh
thống nhất của cùng một luật định, từ Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.
Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, trên thực tế các loại dự án PPP ở Việt
Nam bao gồm:
Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT): Là hợp đồng mà theo
đó, đối tác tư nhân s bỏ vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng mới của dự
án, đối tác tư nhân s sở hữu toàn bộ tài sản trong thời gian vận hành dự án. Đến
cuối thời hạn của hợp đồng, quyền sở hữu tài sản s được chuyển giao toàn bộ cho
Nhà nước. Theo hợp đồng này, đối tác tư nhân phải gánh chịu mức độ rủi ro cao vì
phải bỏ vốn đầu tư ban đầu. Tuy nhiên, để giảm thiểu rủi ro và gánh nặng nợ cho
đối tác tư nhân thì Chính phủ s mua sản lượng đầu ra (lớn hơn hoặc bằng sản
lượng hòa vốn) để bù đắp chi phí tối thiểu. Hợp đồng này thường được áp dụng
trong lĩnh vực xây dựng cầu đường, công trình thủy lợi….
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - kinh doanh (BTO) là hợp đồng được ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng, sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà
43
nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn
nhất định.
Hợp đồng Xây dựng chuyển giao (BT) là hợp đồng dược ký kết giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà đầu tư
chuyển giao công trình đó cho nhà nước có thẩm quyền và được thành toán bằng
quỹ đất để thực hiện dự án.
Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) đây là hình thức đầu tư
mới được quy định trong Luật Đầu tư và là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi hoàn thành
công trình nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một
thời gian nhất định.
Ngoài ra còn có các loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ
(BTL) và Kinh doanh - Quản lý (O&M).
Trước khi có Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/20159, trên thực tế
Việt Nam đã có khá nhiều dự án áp dụng một số hình thức của PPP như: Mô hình
xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT); Mô hình xây dựng - chuyển giao - vận
hành (BTO) và mô hình xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO). Trong đó, mô hình
BOT được áp dụng khá phổ biến tại ngành giao thông đường bộ, xây dựng cơ sở hạ
tầng, xây lắp điện…
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32
dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ
USD. Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu. Hai lĩnh vực đầu tư chiếm tỷ
trọng lớn nhất là điện và viễn thông. Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự
án thực hiện theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như:
BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ
9Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư.
và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO.
44
Trong giai đoạn trước khi có Luật Đầu năm 2005, theo thống kê của Cục đầu
tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2010 tổng số dự án cấp mới được
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT,
BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng dự án cấp
mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án,
chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư. Có rất nhiều dự án áp
dụng mô hình BOT đã đem lại hiệu quả đáng khích lệ, đáp ứng mục tiêu đầu tư và
giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước. Đặc biệt, các công trình giao thông trọng
yếu và có vốn đầu tư lớn, như mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa – Cần Thơ, với
chiều dài 1.319km thì có 606 km áp dụng hình thức BOT (chiếm gần 50%); Ngành
Điện cũng là ngành có vốn đầu tư lớn được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chẳng hạn
như mới đây Tập đoàn Toyo Ink (Malaysia) và Tổng cục Năng lượng đã ký biên
bản phát triển Dự án BOT Nhiệt điện sông Hậu 2 với công suất dự kiến 2.000 MW,
tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 3,5 tỷ USD, được xây dựng tại huyện Châu Thành,
Hậu Giang. Ngoài ra, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện
có khoảng 500 hệ thống cấp nước sạch nông thôn trong khuôn khổ hợp tác PPP, cấp
nước cho hơn 500.000 người dân. Bên cạnh đó, số lượng, quy mô và vốn đầu tư tại
các dự án của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng lên, điển hình như tỉnh Hà Nam
có 11 doanh nghiệp, Thái Bình có 17 doanh nghiệp đăng ký đầu tư với tổng số vốn 1.085 tỷ đồng10
Trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, nhu cầu về vốn đầu tư của Việt
Nam đến năm 2020 là rất lớn, trung bình hàng năm cần nguồn vốn đầu tư trên
117.000 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 7,4 tỷ USD. Nhu cầu là lớn như vậy, nhưng khả năng
đáp ứng của các nguồn vốn hiện có cho đầu tư hạ tầng GTVT(giao thông vận tải)
như: Ngân sách, ODA, trái phiếu chính phủ… chỉ đáp ứng khoảng 20 – 30% nhu
cầu. Đó là chưa kể các nguồn phát sinh cho chi phí vận hành, bảo trì hằng năm…
10http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/khung-chinh-sach-cho-mo-hinh-hop-tac-
cong-tu-o-viet-nam-54404.html
Trong tương lai gần, với những thay đổi không ngừng trong cơ cấu kinh tế, bao
45
gồm cả quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hội nhập toàn cầu, nhu cầu về các
dịch vụ cơ sở hạ tầng tại các lĩnh vực trọng yếu như giao thông vận tải ở Việt Nam
s tăng mạnh…
Theo ước tính của Bộ GTVT thì tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 là khoảng 1.015.000 tỷ đồng
(khoảng 48 tỷ USD). Trong đó, vốn đầu tư phân theo các lĩnh vực lần lượt là:
Đường bộ khoảng 651.000 tỷ đồng, đường sắt khoảng 119.000 tỷ đồng, hàng không
khoảng 101.000 tỷ đồng, hàng hải 68.000 tỷ đồng và đường thủy nội địa hơn 33.000
tỷ đồng.
Trong khi đó, khả năng đáp ứng nhu cầu từ nguồn ngân sách dự kiến của Bộ
GTVT khoảng 28%; còn theo hướng dẫn xây dựng Kế hoạch đầu tư công giai đoạn
2016 - 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) thì khả năng ngân sách đáp ứng
chỉ khoảng 7% nhu cầu (66 nghìn tỷ đồng). Như vậy, theo ước tính của Bộ GTVT,
khoảng hơn 300.000 tỷ đồng (14 tỷ USD) s phải huy động từ nguồn ngoài ngân
sách, đặc biệt là vốn đầu tư từ nước ngoài theo cơ chế PPP.
Theo thông tin của Vụ Đầu tư, Bộ Tài chính (tháng 12/2016) nhu cầu đầu tư
của Việt Nam trong thời gian tới là khá lớn, giai đoạn 2016 -2020 vào khoảng 480
tỷ USD. Trong đó, đầu tư vào 11 dự án nhà máy điện theo hình thức BOT, với công
suất 13.200 MW, số vốn đầu tư khoảng 40 tỷ USD; khoảng 1.380 km đường bộ cao
tốc với khoảng 11 tỷ USD; các dự án về môi trường, y tế, giáo dục khoảng 29 tỷ
USD.
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã có sự tăng trưởng
cao so với các nước trong cùng khu vực, thu nhập bình quân đầu người tăng lên…
điều đó đồng nghĩa nguồn vốn vay ưu đãi ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng, giao
thông s giảm đi. Rõ ràng thúc đẩy PPP trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và
trong lĩnh vực hạ tầng giao thông là hết sức quan trọng.
46
2.2. Đánh giá các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
2.2.1. Những ưu điểm
2.2.1.1. Đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014 kết hợp với Luật doanh nghiệp năm
2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã tiếp tục hoàn thiện các quy định về cải cách
các thủ tục thành lập doanh nghiệp có nhiều điểm mới, tiến bộ.
Điểm mới của Luật Đầu tư 2014 so với Luật đầu tư 2005 là trước khi thành
lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục
cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở hữu
vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên. Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn
điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp hạn chế theo quy
định của pháp luật về chứng khoán, về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên11.
Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành về đăng ký thành lập doanh nghiệp
nhìn chung về cơ bản là đã kịp thời, khá đầy đủ và có nội dung phù hợp tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình gia nhập thị trường. Điều này góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp cho nhà đầu
tư nói riêng và hệ thống pháp luật doanh nghiệp nói chung.
2.2.1.2. Đối với hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế
Theo quy định, hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua
cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư. Nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ
chức kinh tế thực hiện theo quy định về: Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn,
11Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.
mua cổ phần, phần vốn góp.
47
Luật Đầu tư năm 2014 sử dụng khái niệm “Đầu tư kinh doanh” (Khoản 5,
Điều 3) để thay thế hai khái niệm trước đây là “Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp”
(Khoản 2, 3, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2005). Việc phân tách giữa hai định nghĩa
này trên thực tế gây ảnh hưởng tới sự tự do kinh doanh của các nhà đầu tư. Trong
nhiều trường hợp, một nhà đầu tư có thể vừa góp vốn quản lý, vừa có thể mua cổ
phiếu, chứng chỉ quỹ từ trung tâm chứng khoán, khi đó việc phân chia này làm cho
việc quản lý, sở hữu của họ trở nên phức tạp khi phải tách bạch giữa đầu tư gián
tiếp, đầu tư trực tiếp mặc dù đây chỉ là cách thức đầu tư của nhà đầu tư để kiếm lợi
nhuận.
Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp giúp nhà đầu tư
nước ngoài dễ dàng tham gia vào thị trường Việt Nam. Với hình thức này, nhà đầu
tư nước ngoài không phải thành lập tổ chức kinh tế mà s trở thành thành viên, cổ
đông của một tổ chức kinh tế khi thực hiện mua cổ phần, mua vốn góp hoặc góp
vốn vào một tổ chức kinh tế đang hoạt động. Ngoài ra, hình thức đầu tư này giúp
doanh nghiệp nước ngoài có thể tiếp cận với một số ngành nghề đòi hỏi điều kiện
nghiêm ngặt.
2.2.1.3. Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC
So với Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định chi tiết về
điều kiện, thủ tục đầu tư, các nội dung chủ yếu của hợp đồng BCC.
Hợp đồng BCC không yêu cầu phải thành lập pháp nhân được xem là ưu
điểm nổi bật đối với các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư nước ngoài nói
riêng. Nhà đầu tư và đối tác có thể thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ thông
qua hợp đồng với tư cách là nhà đầu tư độc lập mà không bị ràng buộc bởi một
pháp nhân chung.
Nhà đầu tư s tiết kiệm được thời gian, chi phí cho việc thành lập và vận
hành một pháp nhân mới, không phải phụ thuộc vào quyết định của đối tác khi nhà
đầu tư muốn chuyển nhượng hoặc bán đi phần của mình trong một số trường hợp cụ
thể. Thêm vào đó, khi dự án kết thúc, nhà đầu tư cũng không phải lo lắng về vấn đề
giải thể.
48
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC cũng là một trong những lựa chọn tối
ưu cho các nhà đầu tư nước ngoài khi có ý định đầu tư vào một thị trường mới
nhưng vẫn nhanh chóng tiếp cận được thông tin dưới sự am hiểu về thị trường thông
qua những đối tác trong nước. Đồng thời, nhà đầu tư trong nước cũng được đối tác
hỗ trợ về vốn, công nghệ hiện đại trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay phát
triển dự án đầu tư. Hình thức đầu tư này phù hợp với các dự án đầu tư ngắn hạn và
tiến độ thực hiện nhanh. Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có nhiều ưu điểm,
như:
Thứ nhất, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có thể giúp các nhà đầu tư
tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và tiền bạc do không phải thành lập tổ
chức kinh tế.
Thứ hai, với hình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những
thiếu sót, yếu điểm của nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các nhà đâu tư
bằng sự am hiểu về thị trường quen thuộc của mình và những thị trường mà bên đối
tác chưa nắm rõ có thể giúp đỡ nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường, ngoài ra có
thể chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hiện đại, hướng dẫn về mô hình tổ chức quản
lý… Để hai bên cùng hoạt động hiệu quả, cùng đạt được lợi ích mà mình mong
muốn.
Thứ ba, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách
pháp lý độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tư
cách pháp lý độc lập giúp các bên không phụ thuộc vào nhau, tạo sự linh hoạt chủ
động trong hoạt động kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, không ràng buộc.
2.2.1.4. Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng PPP
Như đã đề cập, Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung hình thức đầu tư theo hợp
đồng đối tác công tư (hợp đồng PPP). Theo đó, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án s
ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu
tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình
kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế đây chỉ là việc gom
những hợp đồng trên thành một trong những hình thức của hợp đồng PPP. Theo quy
49
định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về
đầu tư theo hình thức hợp tác công tư thì hợp đồng dự án trong đầu tư bao gồm hợp
đồng quy định tại khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 3 và các hợp đồng tương tự khác
theo quy định tại khoản 3 Điều 32 của Nghị định này. Các dạng hợp đồng PPP bao
gồm BOT, BTO, BT và bổ sung thêm các dạng hợp đồng mới bao gồm BOO, BTL,
BLT, O&M. Điều này đã tạo ra sự lựa chọn đa dạng và khuyến khích các nhà đầu tư
mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt là dịch vụ công, giao thông hoặc phục vụ
phát triển cơ sở hạ tầng.
Báo cáo đánh giá công tác đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, Bộ Giao thông
Vận tải, giai đoạn 2011 - 2015, Bộ GTVT đã huy động được khoảng 186.660 tỷ
đồng để đầu tư 62 dự án theo hình thức hợp đồng BOT và BT. Đã hoàn thành đưa
vào vận hành khai thác 26 dự án với TMĐT (tổng mức đầu tư) 74.806 tỷ đồng.
Đang triển khai đầu tư 36 dự án với TMĐT 111.854 tỷ đồng. Lĩnh vực cảng biển là
một trong những lĩnh vực thu hút vốn đầu tư tư nhân khá sớm và khá thành công
theo hình thức doanh nghiệp đầu tư trực tiếp.
Ngoài những dự án hạ tầng giao thông do Bộ GTVT quản lý, có nhiều dự án
hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do các địa phương quản lý. Tổng
mức đầu tư của các dự án này là rất lớn so với tỷ lệ vốn huy động của các dự án đầu
tư công nói chung, cũng như những dự án hạ tầng giao thông nói riêng. Đơn cử như
theo thống kê số dự án hoạt động đầu tư theo hình thức PPP nói chung (bao gồm cả
các dự án hạ tầng giao thông) trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh tuy
chỉ chiếm tỷ lệ 5% so với số dự án đầu tư công nhưng nguồn vốn huy động của các
dự án PPP tại Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị gấp 5 lần nguồn lực của đầu tư
công. Đây có thể coi là những thành công bước đầu khi huy động được nguồn lực
(vốn, kinh nghiệm quản lý…) của khu vực tư nhân vào phát triển các dịch vụ công
nói chung, cũng như đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông nói riêng.
50
2.2.2. Những vấn đề đặt ra khi áp dụng các hình thức đầu tư theo Luật
Đầu tư năm 2014
2.2.2.1. Về các hình thức đầu tư
Hình thức đầu tư theo quy định của Việt Nam có sự khác biệt với một số quy
định của thế giới. Theo Luật Đầu tư năm 2014, các hình thức đầu tư bao gồm thành
lập tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng (PPP, BCC). Trong khi đó, các tổ
chức quốc tế sử dụng hình thức đầu tư mới và M&A(mergers and acquisitions -
Mua bán và sát nhập), đầu tư ra và đầu tư vào hay đầu tư chiều ngang, đầu tư chiều
dọc. Do đó, khả năng hiểu FDI có sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước. Luật
pháp quy định mang tính khái quát cao cho nên cần có văn bản hướng dẫn và dễ dẫn
đến cách giải thích khác nhau. Điều này dẫn đến một số khó khăn như:
- Hình thức đầu tư không phản ánh hết bản chất và không bao trùm hết phạm
vi nội hàm khái niệm đầu tư;
- Tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp đầu tư hoặc mâu thuẫn giữa tranh chấp đầu tư
với các tranh chấp khác mang đặc điểm hay bản chất đầu tư.;
- Hình thành tính khác biệt của đầu tư so với giao dịch khác dẫn đến cách
ứng xử thiếu thống nhất;
- Khó hội nhập hiệu quả ít nhất về tính chất pháp lý hình thức và bản chất
pháp trị của thể chế kinh tế thị trường;
Những khó khăn, tranh chấp, vướng mắc khi thực hiện thủ tục đăng ký thành
lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như:
+ Xác định ngành nghề kinh doanh: Đối với một tổ chức kinh tế có nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp muốn bổ
sung một ngành nghề kinh doanh mà Việt Nam chưa cam kết theo các điều ước
quốc tế và pháp luật Việt Nam chưa có quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu
tư nước ngoài, thì trình tự, thủ tục đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh chưa
được giải quyết. Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành dường
51
như chưa dự liệu được tình huống này, do đó chưa có các quy định hướng dẫn cụ
thể, gây cản trở cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
+ Vấn đề giải trình đáp ứng các điều kiện đầu tư. Luật đầu tư quy định chỉ
thẩm định dự án đầu tư ở cấp bộ, song thực tế tại một số điện phương, dù bộ đã
chấp thuận nhưng khi về đến địa phương thì có thêm khâu hỏi ý kiến của các sở và
thường các sở yêu cầu giải trình thêm. Việc này s gây thêm khó khăn cho nhà đầu
tư.
+ Về vấn đề địa điểm thực hiện dự án đầu tư. Thực tế hiện nay có rất nhiều
Tòa nhà khi xây dựng xong nhưng chưa hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
Quyền sở hữu công trình. Khi Nhà đầu tư tiến hành thuê thường không biết việc này
vì bên cho thuê cam kết s được chấp nhận của cơ quan Nhà nước hoặc s hỗ trợ tối
đa. Song thực tế đòi hỏi quá nhiều giấy tờ mà gần như không thể đáp ứng.Từ đó dẫn
đến tất cả hồ sơ hoàn chỉnh, duy nhất có địa điểm trụ sở không thể đáp ứng và
không được cấp phép.
+ Về vấn đề tiến trình thực hiện góp vốn: Có rất nhiều trường hợp do chậm
tiến độ góp vốn vì lý do khách quan nhưng để được góp vốn sau khi phát hiện ra là
quá hạn thì rất khó thực hiện. Sau đó, Sở kế hoạch và đầu tư buộc phải tiến hành
thanh tra, phạt vi phạm rồi điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư liên quan đến
thời hạn góp vốn mới được chuyển vốn. Trong khi đó, UBND luôn kêu gọi nguồn
vốn nước ngoài nhưng cách triển khai thì gần như ngăn chặn.
2.2.2.2. Về thủ tục đăng ký đầu tư
Theo số liệu của hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài, trong 10 tháng đầu
năm 2016, cả nước có 2.061 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng
vốn đăng ký là 12,265 tỷ USD, bằng 98,7% so với cùng kỳ năm 2015. Những con
số này đã mình chứng cho những tác động tích cực của luật đầu tư đến môi trường
kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, Luật Đầu tư năm 2014 vẫn còn
nhiều nội dung còn bất cập, chồng chéo, đòi hỏi phải được sửa đổi. Mà bất cập nổi
cộm nhất có thể nói đến là quy định giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư.
52
Theo quy định giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư thì đối với dự án được cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư phải
đề xuất bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư khi giãn tiến độ thực hiện các
mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư và tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá
24 tháng, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng.
Tuy nhiên, quy định nêu trên lại không được hướng dẫn chi tiết trong các văn
bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2014, dẫn tới việc áp dụng
không thống nhất tại các địa phương. Theo đó, nhiều cơ quan quản lý về đầu tư chỉ
cho phép nhà đầu tư thực hiện 1 lần giãn tiến độ với tổng thời gian không quá 24
tháng; có nơi lại cho phép nhà đầu tư thực hiện 2 đến 3 lần (thậm chí nhiều hơn 3
lần) giãn tiến độ với tổng thời gian không quá 24 tháng.
Ngoài ra, việc áp dụng một mức tổng thời gian giãn tiến độ thực hiện dự án
đầu tư cho tất cả các dự án đầu tư cũng gây bất lợi cho các nhà đầu tư, nhất là các
nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn. Thực tế cho thấy công
tác bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng… của nhiều dự án đầu tư quy mô
lớn thường kéo dài, dẫn tới tiến độ thực hiện dự án đầu tư cũng bị chậm lại, không
đúng với tiến độ thực hiện dự án mà các nhà đầu tư đã cam kết khi thực hiện thủ tục
đăng ký đầu tư. Hệ quả là nhiều nhà đầu tư dù chưa hoàn thành công tác bồi thường,
thu hồi đất, giải phóng mặt bằng… đã phải xin gia hạn tiến độ thực hiện dự án đầu
tư.
Luật Đầu tư năm 2014 được đánh giá là đột phá khi rút ngắn thời gian cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cụ thể, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là 5 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; còn đối với các dự án
khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ. Tuy nhiên,
trên thực tế, rất ít trường hợp nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
đúng thời hạn rút ngắn theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014.
Hơn nữa, đối với những dự án đầu tư trong lĩnh vực có điều kiện thì ngoài
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được cấp, nhà đầu tư cần đáp ứng được các điều
53
kiện kinh doanh trước khi đi vào hoạt động. Do đó, việc rút ngắn thời gian cấp giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 s không mang tính “đột
phá” trên thực tế nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành không được sửa đổi
tương ứng và được áp dụng đồng bộ. Nếu không, nhà đầu tư s rơi vào tình trạng
“đầu xuôi” nhanh nhưng “đuôi lọt” chậm.
Có thể nói, đến thời điểm này các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư
đã cơ bản đầy đủ. Nhưng vấn đề vướng mắc ở đây là “luật mới nhưng tư duy cũ”.
Ví dụ là vẫn có cơ quan quản lý đầu tư gửi công văn xin ý kiến của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư về ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà nhà đầu tư nước ngoài đăng ký
hoạt động do ngành nghề kinh doanh này chưa có trong biểu cam kết WTO, trong
khi ngành nghề kinh doanh này đã được quy định theo pháp luật chuyên ngành
trong nước.
Ngoài ra, chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đối với trường hợp bổ
sung ngành nghề kinh doanh của các tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, mà ngành nghề kinh doanh
dự kiến bổ sung đó thuộc trường hợp phải xin ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 118/NĐ-CP ngày
12/11/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014.
2.2.2.3. Về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế
Cụ thể, theo quy định tại Điều 46, Nghị định 118/CP và Điều 26 Luật Đầu tư
năm 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp trong tổ chức kinh tế trong nước không phải thực hiện thủ tục để
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cùng với đó, Nghị định 139/2007/NĐ-
CP hướng dẫn một số điều của Luật Doanh nghiệp (2004) cũng quy định là trường
hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không
quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của
Luật Doanh nghiệp và Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ – tức giống như
đối với dự án đầu tư trong nước. Người nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam phải
có dự án được duyệt và được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới được phép
54
hoạt động. Nhưng công ty nước ngoài được hình thành bằng cách góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp của các Công ty trong nước nên họ cũng giống như các công ty
trong nước và trở thành chủ sở hữu các dự án sử dụng đất mà không phải qua thẩm
định của các cơ quan hữu quan và không phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư.
2.3.2.4. Về hợp đồng BCC
Dù có nhiều ưu điểm, tuy nhiên việc không thành lập pháp nhân cũng là
hạn chế đối với hình thức đầu tư này. Việc thực hiện những hợp đồng, giao
dịch bên lề nhằm phục vụ cho Hợp đồng BCC cũng s gây phân vân cho bên
thứ ba khi không tồn tại một đại diện – một công ty liên doanh giữa các nhà
đầu tư.
Thứ nhất, chính vì không thành lập một doanh nghiệp mới, do đó dự án
đầu tư s gặp khó khăn khi thực hiện các hợp đồng phục vụ cho hợp đồng hợp
tác kinh doanh. Cũng chính vì không có một doanh nghiệp liên doanh mới ra
đời giữa các nhà đầu tư, do đó, s không có con dấu riêng, và đương nhiên, các
nhà đầu tư s phải thỏa thuận lựa chọn một trong con dấu của các nhà đầu tư để
phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư. Việc không phải thành lập pháp
nhân mới trong nhiều trường hợp nếu các nhà đầu tư không nghiên cứu kỹ, lựa
chọn sai hình thức đầu tư thì nó lại trở thành một hạn chế rất lớn, gây ra nhiều
rủi ro mà các nhà đầu tư không lường trước được.
Ngoài ra, nếu thành lập một pháp nhân mới thì quyền quản lý pháp nhân
mới đó s được phân chia theo tỷ lệ số vốn góp do các nhà đầu tư bỏ ra. Nhưng
vì không có doanh nghiệp mới ra đời, do đó, quyền quản lý dự án đầu tư s
được chia đều cho tất cả các nhà đầu tư, như vậy s có lợi cho các nhà đầu tư
bỏ ra ít vốn hơn nhưng lại không công bằng với các nhà đầu tư bỏ nhiều vốn
hơn.
Thứ hai, đầu tư theo hợp đồng BCC s khó thu hút đầu tư đối với những
lĩnh vực còn khó khăn và cần phát triển lâu dài, chỉ thực hiện được đối với một
số lĩnh vực dễ sinh lợi và sinh hoạt nhanh. Đầu tư theo hợp đồng BCC thường
55
được áp dụng để thực hiện một số dự án cụ thể, nên việc quản lý, kinh doanh
đối với dự án lâu dài s không phù hợp khi lựa chọn hình thức đầu tư theo hợp
đồng BCC.
Thứ ba, pháp luật chưa có các quy định cụ thể về trách nhiệm của các
bên và bên thứ ba khi một bên giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong quá trình
thực hiện hợp đồng BCC.
Thứ tư, nhiều điều khoản quan trọng của hợp đồng hợp tác kinh doanh
cần thông qua Đại hội cổ đông hoặc ít nhất là Hội đồng quản trị của các bên, do
vậy có thể phải tiến hành một đại hội cổ đông bất thường để thông qua nội
dung của hợp đồng. Việc thương lượng phân chia tỷ lệ góp vốn đồng nghĩa với
tỷ lệ lợi nhuận được hưởng s kéo dài vì bên nào cũng muốn có nhiều quyền
lợi. Nên việc ký hợp đồng có thể bị chậm hơn dự kiến. Việc phê duyệt dự án
phải có tất cả các bên góp vốn (hợp doanh) cùng phê duyệt cũng là một trở ngại
gây chậm quá trình thực hiện dự án.
2.3.2.5. Về hợp đồng PPP
Một trong những vấn đề phức tạp nhất của các dự án đầu tư theo hình
thức hợp đồng đối tác công - tư (PPP) là rủi ro và chia sẻ rủi ro. Rủi ro có
nhiều loại không chỉ rủi ro về chính sách, thể chế, chính trị tỷ giá hối đoái, rủi
ro trong quá trình xây dựng. Các dự án PPP trong giao thông và xây dựng cơ sở
hạ tầng về cơ bản là rất phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên, tính rủi ro cao,
thời gian kéo dài, chi phí lớn…Vì vậy, việc các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư
dự án PPP hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp đó có khả
năng đánh giá hiệu quả đầu tư, dự báo các rủi ro trong quá trình thực hiện dự
án để tối ưu hóa quản lý rủi ro, giảm thiểu rủi ro.
Nghiên cứu về tình hình triển khai dự án PPP tại Việt Nam và các nước
trong khu vực Đông Nam Á, một số chuyên gia của OECD cho biết, thực tế cho
thấy, nhà đầu tư tư nhân vẫn chưa thực sự mặn mà với dự án PPP. Nguyên nhân
là do có độ rủi ro cao, sự thay đổi về chính sách, pháp luật…
56
Ngoài ra, nếu thực hiện đầu tư các tuyến đường cao tốc bằng hình thức
BOT thì nhà đầu tư cũng s đối diện với nhiều yếu tố rủi ro như: chi phí đầu tư
xây dựng cao, mức độ tăng trưởng lưu lượng giao thông không ổn định (một
phần do mức phí giao thông trên các tuyến đường cao tốc hiện nay tương đối
cao, các phương tiện lưu thông có thể phải cân nhắc khi lựa chọn lộ trình lưu
thông) dẫn đến thời gian thu phí hoàn vốn kéo dài, hoặc không có khả năng thu
hồi vốn...Với các dự án BT, hiện nay, phương án hoàn vốn đầu tư thông qua
việc trả bằng tiền ngân sách nhà nước không còn được phép áp dụng; chỉ được
áp dụng hình thức hoàn vốn thông qua việc hoàn trả bằng quyền sử dụng đất để
thực hiện dự án khác.
Khó khăn lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án: Không chỉ về vấn đề
hoàn vốn, công tác lựa chọn nhà đầu tư cũng gặp phải một số khó khăn đối với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đó là phải bố trí nguồn vốn để lập dự án đầu
tư, lập hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư, chi phí tổ chức lựa chọn nhà đầu
tư… Bên cạnh đó, hiện nay công tác lập hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư
cũng chưa có hướng dẫn và quy định cụ thể về các tiêu chí để lựa chọn nhà đầu
tư phù hợp về năng lực, kinh nghiệm cũng như có nhiều thế mạnh đặc thù đối
với tính chất của mỗi dự án… Do đó, trên thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cũng đang lúng túng trong việc xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu
tư khi lập hồ sơ mời thầu.
Hiện nay, khi xem xét năng lực tài chính để lựa chọn nhà đầu tư thực
hiện dự án, cơ quan quản lý nhà nước thường xem xét việc đáp ứng nguồn vốn
chủ sở hữu của nhà đầu tư, trong đó thực hiện việc đối chiếu, so sánh tổng
nguồn vốn chủ sở hữu mà nhà đầu tư đang có (thể hiện trên báo cáo tài chính
đã được kiểm toán) phải đáp ứng nguồn vốn chủ sở hữu được phân bổ vào các
dự án đang và s triển khai thực hiện. Tuy nhiên, các nhà đầu tư thường chỉ
chuẩn bị nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng thực hiện các dự án đang triển khai,
rất ít nhà đầu tư chuẩn bị sẵn nguồn vốn chủ sở hữu “để chờ” được thực hiện
đầu tư các dự án tiếp theo. Việc chứng minh vốn chủ sở hữu do vậy gặp rất
nhiều trở ngại.
57
Ngoài ra, thẩm quyền thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định và phê
duyệt đối với các bước thực hiện dự án có nhiều thay đổi và chưa được quy
định thật sự rõ ràng. Do đó cũng gây ra một số khó khăn, lúng túng trong việc
tổ chức thực hiện của các nhà đầu tư cũng như cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, đặc biệt đối với các dự án có thời gian thực hiện kéo dài, dự án phải xử
lý chuyển tiếp…
Ngoài ra, quy định về công tác giám sát nhà nước đối với các dự án BT,
BOT đã được đề cập tại Điều 47 và Điều 48 của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP,
tuy nhiên vẫn chưa rõ ràng và cụ thể, dễ gây trùng lặp với công tác giám sát
chất lượng công trình (do đơn vị tư vấn giám sát của nhà đầu tư thực hiện). Bên
cạnh đó, định mức chi phí tổ chức thực hiện công tác giám sát nhà nước chưa
được ban hành, gây khó khăn khi tổ chức thực hiện.
Thu hút đầu tư nước ngoài dưới hình thức PPP còn thấp, kém hiệu quả:
trong thời gian qua mô hình PPP đã thu hút được một số các nhà đầu tư lớn
quan tâm tìm hiểu, song các ưu đãi, thỏa thuận giá đầu vào, lợi ích các bên
chưa được làm rõ, mục tiêu dự án còn chung chung dẫn đến khó triển khai dự
án… Chính vì vậy, tỷ lệ các nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu rồi rời bỏ là khá
cao như: Dự án nước sạch tại TP Hồ Chí Minh do nhà đầu tư Malaysia hay dự
án nhiệt điện từ than cám của nhà đầu tư Mỹ. Hay như dự án phát triển điện
gió. Trong khi giá thành mỗi kw/h của điện gió vào khoảng 13 cent thì Chính
phủ chỉ chấp nhận mua của các nhà đầu tư là 7 cent, cùng lắm cộng thêm 1 cent
thành 8 cent….. Trong giai đoạn tới đây khi Việt Nam tham gia vào Cộng đồng
kinh tế ASEAN và các Hiệp định tự do hóa thương mại thế hệ mới như EVFTA
và CPTPP, đang mở ra những triển vọng cho việc thúc đẩy PPP có sự tham gia
của các nhà đầu tư nước ngoài.
Việc huy động vốn cho các dự án PPP gặp nhiều khó khăn: Các nhà đầu
tư tham gia các dự án giao thông chủ yếu là các nhà đầu tư trong nước có năng
lực tài chính chưa mạnh, vay vốn chủ yếu trong nước nên có chỉ số tín nhiệm
thấp. Trong khi đó, để thực hiện các dự án đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng giao
thông đòi hỏi phải có nguồn vốn dài hạn bởi thời gian thu hồi vốn của các dự
58
án này thường dài hơn so với các dự án khác. Do vậy, đây là một khó khăn
không nhỏ đối với các nhà đầu tư tư nhân.
Việc huy động vốn dài hạn đang là một thách thức đối với nhà đầu tư
trong nước và cả ngân sách nhà nước. Để có nguồn vốn dài hạn, trong điều kiện
thị trường chứng khoán chưa phát triển, các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu phải
vay vốn của các ngân hàng thương mại, song thực tế ngân hàng thương mại
Việt Nam lại rất hạn chế đối với những khoản vay dài hạn này, đặc biệt trong
giai đoạn chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng. Nếu có ngân hàng đều đòi
hỏi điều kiện đảm bảo khoản vay rất chặt ch như bảo lãnh Chính phủ. Tuy
nhiên hiện nay theo quy định của Chính phủ, Nhà nước không bảo lãnh các
khoản vay thương mại trong nước của doanh nghiệp. Kênh huy động vốn dài
hạn đặc biệt dành cho các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng giao thông
vẫn còn hạn chế.
Các quy định về đầu tư theo hình thức PPP chưa hoàn thiện, tính pháp lý
chưa cao. Hình thức đầu tư hợp đồng BOT còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn dẫn
đến các quy định pháp luật chưa bao quát được đầy đủ các tình huống phát sinh
trong quá trình thực hiện. Các cơ quan quản lý nhà nước còn thiếu kinh nghiệm
quản lý, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thực sự hiệu quả. Các Bộ,
ngành và địa phương chưa thực sự quyết liệt, chủ động trong quá trình triển
khai, vẫn còn tư tưởng trông chờ vào nguồn vốn đầu tư công. Chưa làm rõ trách
nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền,
tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện các quy trình, thủ tục đầu tư các dự
án theo hình thức hợp đồng BOT, thiếu kiên quyết trong xử lý các tình huống
phát sinh, chưa tổ chức tổng kết, đánh giá triển khai mô hình nhưng đã cho
phép thực hiện đầu tư nhiều dự án.
Trên đây là một số hạn chế, những vấn đề cơ bản đặt ra khi áp dụng các
hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014. Trên thực tế, tùy theo từng ngành,
địa phương còn có thể xuất hiện những bất cập khác do áp dụng hình thức đầu
tư theo quy định mới này.
59
CHƯƠNG 3.
KHUYẾN NGHỊ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014
3.1. Xu hướng phát triển các hình thức đầu tư hiện nay
Toàn cầu hóa, tự do hóa đầu tư quốc tế là một trong những xu hướng trong
giai đoạn hiện nay, nó góp phần nhằm cắt giảm hoặc loại bỏ những rào cản, cản trở
hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác để tạo nên một môi trường đầu
tư có tính cạnh tranh và bình đẳng hơn tạo sự thuận lợi, thông thoáng cho việc di
chuyển các nguồn vốn đầu tư giữa các quốc gia. Điều này dẫn đến xuất hiện ngày
càng nhiều những hình thức đầu mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư, đặc biệt là đầu tư nước này sang nước khác.
Tại Việt Nam, Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp nhằm khuyến khích và
thu hút đầu tư thông qua việc mở rộng danh mục các lĩnh vực đầu tư, ngành nghề
mà nhà đầu tư nước ngoài có thể được phép đầu tư; danh mục các lĩnh vực được ưu
đãi đầu tư và được phép đầu tư có điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam tăng lên đáng kể.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham gia một loạt các hiệp ước về kinh tế,
gia nhập một loạt các tổ chức kinh tế như: WTO; ASEAN; AFTA...Đây là điều kiện
thuận lợi để chúng ta hội nhập sâu rộng với quốc tế và thu hút được nhiều nhà đầu
tư nước ngoài vào đầu tư trên tất cả các lĩnh vực. Điều này cũng đòi hỏi Việt Nam
cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, đa dạng hóa hình thức đầu tư cũng như hình
thức đầu tư phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam
nhằm thu hút tốt hơn đầu tư nước ngoài cũng như khuyến khích đầu tư trong nước.
3.2. Một số khuyến nghị nh m thực thi các quy định về hình thức đầu tư
theo Luật Đầu tư năm 2014
Mặc dù Chính phủ đã ban hành các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết
để thi hành Luật Đầu tư, tuy nhiên trong việc triển khai các quy định về hình thức
60
đầu tư như đã đề cập vẫn còn những hạn chế nhất định. Mặc dù đã có nhiều văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, tuy nhiên những hướng dẫn và quy định chi tiết
vẫn chưa bao quát được mọi vẫn đề trong quá trình thực thi các quy định về hình
thức đầu tư.
3.2.1. Phổ biến, tuyên truyền về hình thức đầu tư
Do Luật Đầu tư năm 2014 quy định các hình thức đầu tư mới, nên việc phổi
biến để nâng cao nhận thức về hình thức đầu theo Luật này đối với nhà đầu tư (kể
cả nhà đầu tư tiềm năng) là hết sức cần thiết. Các hoạt động cần được tiến hành bao
gồm:
- Thường xuyên tổ chức các Hội nghị, Hội thảo về giáo dục nâng cao nhận
thức cho nhà đầu tư và kiến thức tài chính để thông qua đó các nhà đầu tư, những
người chuẩn bị đầu tư hiểu được các hình thức đầu tư được pháp luật quy định và
ưu, nhược điểm của các loại hình để có lựa chọn loại hình đầu tư phù hợp nhất cho
mình.
- Công khai các dịch vụ công cơ bản trên Cổng thông tin bao gồm đăng ký
doanh nghiệp qua mạng điện tử; dịch vụ khai thác thông tin đăng ký doanh nghiệp
và công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp. Với một kênh thông tin trên Cổng Hệ
thống Thông tin QGVĐKDN (thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp), toàn bộ
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp s là kênh thông tin chính thức cung
cấp, công bố thông tin về hồ sơ, biểu mẫu, công khai danh mục ngành, nghề cấm
đầu tư kinh doanh; danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện…cho
doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và chuẩn bị. Điều này góp phần làm minh bạch hóa
môi trường kinh doanh, tạo sự an toàn, tin cậy cho các doanh nghiệp trong quá trình
hoạt động. Đồng thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được cụ thể, nhanh chóng và đầy
đủ nhất về việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư theo nhu cầu của mình.
Khi hiểu biết về pháp luật đầu tư của nhà đầu tư nói chung và pháp luật bề
lưa chọn các hình thức đầu tư nói riêng được nâng cao thì nhà đâu tư có thể lựa
61
chọn hình thức đầu tư phù hợp với năng lực và nguyện vọng của mình để triển khai
dự án đầu tư mang lại hiệu quả thiết thực cho nhà đầu tư cũng như tránh những lãng
phí, thất thoát nguồn lực của xã hội.
3.2.2. Về năng lực thực thi của cơ quan nhà nước có thầm quyền
Cần tiếp tục triển khai đồng bộ các chủ trương và định hướng về tái cơ cấu
đầu tư; các cấp, các ngành, các địa phương phải thực hiện đúng các quy định của
pháp luật về đầu tư. Chú trọng từ khâu chọn lọc dự án, đến thẩm định, phê duyệt và
các thủ tục, trình tự phải thực hiện; triển khai đồng bộ các quy định này và hoàn
thiện về các tiêu chuẩn, định mức về xây dựng; nâng cao chất lượng về công tác
quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội.Cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường công
tác kiểm toán, kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với tất cả các khâu để đảm bảo các
quyết định lựa chọn đầu tư; bố trí vốn phải phù hợp với tình hình thực tế phát triển
cũng như khả năng thu xếp vốn của từng dự án, không làm kéo dài dự án.
Việc công khai, minh bạch hóa thông tin về đăng ký doanh nghiệp s giúp
tăng cường vai trò giám sát của nhà nước, xã hội đối với doanh nghiệp, thúc đẩy sự
tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp cũng như đơn giản hóa thủ tục hành chính đối
với doanh nghiệp đồng thời huy động được các nguồn lực cùng tham gia vào phát
triển kinh tế thị trường.
Việc công khai các thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sau
khi doanh nghiệp đăng ký thành lập là hết sức cần thiết, tạo cơ sở cho các chủ thể
có liên quan đến doanh nghiệp tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của doanh
nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
việc công khai các thông tin đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư cần được thực
hiện tập trung tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, một cấu phần của
hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, nhằm xây dựng một cơ sở dữ
liệu đầy đủ, chính xác và thống nhất các thông tin về doanh nghiệp, đảm bảo khả
năng làm đầu mối cung cấp thông tin pháp lý về đăng ký doanh nghiệp của Hệ
thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia nêu tại Quyết định số 419/QĐ-TTg
62
ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập. Từ đó góp phần tạo điều kiện cho
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan có thể giám sát hoạt động của doanh
nghiệp trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp đăng ký đầu tư.
Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong các cơ
quan quản lý để đáp ứng được yêu cầu hội nhập trong tình hình mới.
Thực hiện công khai, minh bạch thông tin đối với đầu tư, đặc biệt là các dự
án đầu tư BOT trong lĩnh vực giao thông; Tăng cường công tác giám sát thực hiện
kế hoạch đầu tư và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư cụ thể; Thực hiện
nghiêm chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư định kỳ hoặc đột xuất
theo chế độ báo cáo quy định; Việc giám sát được thực hiện cả từ cơ quan quản lý,
các nhà chuyên môn và công chúng.
Xây dựng hệ thống cán bộ đăng ký kinh doanh chắc về nghiệp vụ, vững về
chuyên môn đồng đều ở các cấp; triển khai quán triệt cụ thể, đầy đủ và thống nhất
các quy định về đăng ký kinh doanh cùng các văn bản hướng dẫn thi hành tới từng
bộ phận nghiệp vụ; thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho
các cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh, đào tạo cho cán bộ quản lý, vận hành,
khai thác sử dụng phần mềm tin học hóa, giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh theo
cơ chế một cửa liên thông:
Kiên quyết thay thế ngay những cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu
cầu công việc, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhũng
nhiễu, tiêu cực, gây cản trở, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định
thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp và thủ tục đầu tư.
Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn qua các lớp tập huấn hoặc bằng văn bản
từ cơ quan cấp Bộ cho các cán bộ ở địa phương. Sự hỗ trợ kịp thời về mặt chuyên
môn s giúp tránh gián đoạn hoạt động của các Phòng ĐKKD (đăng ký kinh
doanh), không làm ứ đọng hồ sơ của doanh nghiệp.
63
3.2.3. Khuyến nghị hoàn thi n quy định về định giá tài sản góp vốn, mua
cổ phần
Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 quy định Bộ Tài
chính hướng dẫn về việc định giá góp vốn bằng sở hữu trí tuệ nhưng đến nay vẫn
chưa có một văn bản hướng dẫn nào của Bộ Tài chính về vấn đề này. Do vậy, Bộ
Tài chính cần ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết cho việc góp vốn bằng
nhãn hiệu hàng hóa nhằm tránh việc trục lợi và tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn,
qua đó có những căn cứ để đánh giá giá trị của nhãn hiệu. Mặt khác, một Thông tư
hướng dẫn về phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình nói chung, thương hiệu
nói riêng cũng là điều cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực
hiện góp vốn, mua cổ phần bằng tài sản vô hình.
- Doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng việc góp vốn, mua cổ phần để được cấp
đất đầu tư, kinh doanh và thâu tóm các vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng (vấn
đề đã xảy ra với Đà Nẵng). Kiến nghị đối với việc mua cổ phần, phần vốn góp của
nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, trong trường hợp dự án có
sử dụng đất, cơ quan đăng ký đầu tư tổ chức thẩm định, lấy ý kiến của các bộ,
ngành và các cơ quan có liên quan theo quy định trước khi thông báo bằng văn bản
nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
- Xây dựng hệ thống phần mềm liên thông giữa Đăng ký kinh doanh và việc
thông báo đủ điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài vào tổ chức kinh tế tại Việt Nam, giúp cơ quan quản lý Nhà nước cập nhật kịp
thời thông tin doanh nghiệp trong nước chuyển đổi thành doanh nghiệp nước ngoài
để có cơ chế chính sách phù hợp, đảm bảo thu hút nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn
giữ được lợi ích dân tộc và phát triển kinh tế bền vững.
3.2.4. Khuyến nghị hoàn thi n các quy định về hợp đồng PPP
Vấn đề bất cập hiện nay là trình tự, thủ tục chung về đầu tư PPP đã được quy
định tại Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 về đầu tư theo hình thức
64
PPP, tuy nhiên nhiều bước trong quá trình xây dựng phụ thuộc vào quy định của các
luật nhưng chưa phù hợp với dự án PPP. Để giải quyết vấn đề này, cần thiết kế quy
định về trình tự, thủ tục tại Luật về PPP thay cho Nghị định nói trên và văn bản
hướng dẫn kèm theo, đồng thời quy định nguyên tắc trường hợp có quy định khác
giữa Luật này và các luật khác về trình tự, thủ tục thì áp dụng Luật về PPP.
Về nguồn vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án, quy định về loại nguồn
vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án đã có tại Nghị định số 63/2018/NĐ-CP. Tuy
nhiên, cần bổ sung quy định cụ thể hơn về cách thức lập, giải ngân, tổ chức thực
hiện xuyên suốt. Để giải quyết những bất cập này, Luật cần quy định cụ thể về
nguồn vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án.
Căn cứ bối cảnh xây dựng chính sách và các kinh nghiệm quốc tế cho thấy,
việc xây dựng được khung pháp lý cao, thống nhất, đồng bộ, hạn chế rủi ro về mặt
thay đổi chính sách là một trong những điều kiện quan trọng để thu hút, hấp dẫn
được các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Các nhóm chính sách được Chính phủ
thông qua để xây dựng dự án Luật là nâng cao hiệu quả đầu tư dự án PPP, trách
nhiệm quản lý Nhà nước đối với dự án PPP, công khai, minh bạch thông tin, quy
trình, thủ tục thực hiện dự án và các biện pháp thu hút đầu tư.
Việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về PPP cần dựa trên các mục tiêu
chính sách về PPP mà Chính phủ hướng tới, cụ thể như sau:
- Đảm bảo dự án PPP đóng góp thực hiện mục tiêu phát triển hạ tầng giao
thông theo quy hoạch, các mục tiêu kinh tế và xã hội toàn diện của Chính phủ.
- Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và thể chế hiệu quả để xác định, chuẩn bị, thực
hiện và quản lý các dự án PPP.
- Có một quy trình thực hiện nhằm đảm bảo các dự án PPP được đánh giá
theo chuẩn mực và chỉ các dự án khả thi về kinh tế và tài chính mang lại hiệu quả
mới được đề xuất nhằm mục tiêu:
65
+ Đạt giá trị đồng tiền cho Nhà nước bằng việc phân bổ rủi ro cho bên nào
xử lý và quản lý tốt nhất.
+ Khả thi tài chính về khía cạnh bền vững ngân sách, chuyển giao cam kết
liên quan đến quyết toán công và tiềm năng thu hồi của đầu tư tư nhân.
+ Tối ưu hóa các lợi ích của hiệu quả, kiến thức, linh hoạt và sáng kiến tư
nhân.
+ Khả thi về tài chính.
+ Cân bằng về các lợi ích kinh tế và xã hội và các chi phí.
+ Khuyến khích đầu tư các dự án theo quy hoạch và tăng cường hiệu quả
kinh tế, cải thiện an toàn của các công trình, cơ sở hạ tầng.
+ Đảm bảo có sự tham gia của một cơ quan nhà nước như một nhà đầu tư
hoặc cung cấp dịch vụ, tạo các điều kiện thiết lập một mặt bằng sân chơi giữa các
doanh nghiệp như vậy và các công ty tư nhân cạnh tranh.
Xây dựng môi trường pháp lý, qui định và chính sách thuận lợi là yếu tố tối
quan trọng cho một mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân bền vững. Ở mức độ
ban đầu, cần phải có một môi trường pháp lý có thể hỗ trợ sự tham gia của khu vực
tư nhân trong các lĩnh vực dịch vụ quan trọng. Môi trường pháp lý này cần giảm
thiểu sự xuất hiện của tham nhũng và phải đủ tin cậy để khuyến khích đầu tư và sự
tham gia của tư nhân. Nếu môi trường luật pháp và môi trường tư pháp không được
xác định, các nhà đầu tư và những người tham gia dự án s đánh giá dự án là không
thể dự đoán được và có độ rủi ro cao. Một cách công bằng, các nhà đầu tư tiềm
năng cần phải có sự tin tưởng rằng luật pháp và các hợp đồng s được tôn trọng và
có thể được thúc đẩy thực thi tại tòa án hoặc thông qua trọng tài nếu cần thiết
(Nguyễn Hồng Thái, 2013).
Tại Việt Nam, khung pháp lý của PPP bắt đầu mở ra khi Quyết định
71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 được ban hành dù chỉ là thí điểm. Thực tiễn cho
thấy, khung pháp lý thí điểm này tồn tại quá nhiều hạn chế, vướng mắc, không cụ
66
thể để áp dụng, đã cản trở việc triển khai hình thức PPP trong thời gian qua. Sự ra
đời của Nghị định 15/2015/NĐ-CP mở ra những nguyên tắc then chốt cho việc đầu
tư áp dụng theo hình thức PPP đã khắc phục được khá nhiều hạn chế của Quyết
định 71/2010/QĐ-TTg. Tuy nhiên, với hệ thống văn bản pháp luật về PPP tại Việt
Nam cho đến thời điểm này và thực tiễn áp dụng PPP thì vẫn còn một số vấn đề cần
lưu ý và xem xét xây dựng, hoàn thiện thêm về khung pháp lý, cụ thể:
Thứ nhất: trong dài hạn, việc xây dựng một đạo luật về PPP là cầnthiết nhằm
luật hóa các quy định đã được áp dụng ổn định và khả thi về PPP, nhưng quan trọng
hơn là đạo luật về PPP cho phép quy định những cơ chế đặc thù chỉ áp dụng cho dự
án PPP, mà chưa được nêu hoặc quy định thông thường tại Luật Đầu tư, Luật Đấu
thầu, Luật Xây dựng...Luật về PPP s là cơ sở bảo đảm cho quyền và lợi ích của nhà
đầu tư tư nhân được bảo đảm cao nhất, qua đó khuyến khích nhà đầu tư tham gia
vào lĩnh vực yêu cầu vốn đầu tư lớn và nhiều rủi ro tiềm ẩn, chưa được chia sẻ rõ
ràng.
Thứ hai: Trong ngắn hạn, trước những bất cập của Nghị định số
15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, sau 3 năm thực hiện, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 để thay thế nhằm khắc phục tình
trạng chưa có sự liên thông giữa Luật Đầu tư công đối với Nghị định số
15/2015/NĐ-CP; đảm bảo nguồn lực bố trí chuẩn bị cho dự án cũng như phần đối
ứng của NSNN tham gia vào dự án PPP; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của
các đầu mối, cán bộ thực hiện dự án tại các Bộ, ngành, địa phương. Nghị định số
63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 s góp phần đảm bảo công khai, minh bạch thẩm
quyền quyết định dự án đầu tư theo hình thức PPP, giảm thiểu thủ tục hành chính
cho nhà đầu tư và các cơ quan có thẩm quyền… nhằm tạo niềm tin cho các nhà đầu
tư.
Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 quy định rõ hơn về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư đối với dự án PPP trên cơ sở
đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư công. Nghị định cũng mở
67
rộng nguồn vốn được sử dụng làm phần Nhà nước tham gia thực hiện dự án, theo
đó, ngoài vốn NSNN, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa
phương, vốn ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, có thể sử dụng
nhiều nguồn lực khác để tham gia, hỗ trợ nhà đầu tư trong dự án PPP như: Giá trị
quyền sử dụng đất, tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng, quyền kinh doanh khai thác
công trình, dịch vụ...
Việc quy định trách nhiệm quản lý, phối hợp của các Bộ, ngành về đầu tư
theo hình thức PPP đã được quy định riêng tại Chương X "Trách nhiệm quản lý nhà
nước về đầu tư theo hình thức đối tác công tư", tuy nhiên cần có một cơ quan liên
ngành chuyên trách có sự tham gia của từng bộ, ngành chuyên môn có liên quan để
thực hiện vai trò điều phối, tham mưu về cơ chế chính sách cũng như kiến nghị các
giải pháp có tính hiệu quả.
Cần có đề án bồi dưỡng nhận thức, kiến thức về PPP cũng như hiểu biết về
pháp luật và năng lực triển khai dự án, góp phần nâng cao trình độ cho các cán bộ
quản lý nhận thức đúng về loại hình đầu tư này để phát huy các lợi thế của nó.
Thành lập Ủy ban giám sát các dự án PPP để đảm bảo các dự án được thực
hiện theo đúng chuẩn của mô hình này, tránh những lãng phí, tiêu cực rất dễ xảy ra.
Ngoài ra, công tác tổ chức các bộ máy vận hành, bảo dưỡng dự án cần gọn nhẹ, hệ
thống, khoa học, tránh tình trạng vừa thừa vừa thiếu.
Về căn cứ khoa học để quyết định phương án đầu tư, phương án chia sẻ lợi
ích/rủi ro, cần có quy định bắt buộc nghiên cứu chuyên sâu, phân tích, dự báo,
lượng hóa các tác động đến việc thực hiện dự án PPP, trên cơ sở đó quyết định cơ
chế chia sẻ lợi ích/rủi ro, cơ chế xác định giá/phí dịch vụ, phương án quản lý, cơ chế
giám sát và cơ chế ưu đãi phù hợp cho từng trường hợp để vừa bảo đảm yêu cầu của
Nhà nước vừa bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, có như vậy mới thúc đẩy
đầu tư theo PPP và thực sự mang lại hiệu quả.
68
Cùng việc xây dựng đạo luật về PPP, các đạo luật liên quan khác cũng cần
được xem xét, sửa đổi, bổ sung vào thời điểm thích hợp, nhằm tạo sự đồng bộ và
nhất quán trong hành lang pháp lý;
Bảo đảm điều kiện về ngân sách cho việc chuẩn bị và triển khai dự án PPP
đúng cam kết và đúng tiến độ, đặc biệt là phần tham gia của Nhà nước, chi phí đền
bù giải phóng mặt bằng..
Ngoài ra, các nội dung liên quan khác theo đặc thù của từng dự án cũng cần
được quan tâm, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong thu hút đầu tư theo
hình thức PPP.
69
KẾT LUẬN
Sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014 đánh dấu bước phát triển mới của pháp
luật đầu tư Việt Nam trong việc không ngừng cải thiện môi trường pháp lý về đầu
tư. Những quy định mới về hình thức đầu tư không chỉ đảm bảo cho các dự án đầu
tư được vận hành hiệu quả mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện
dự án đầu tư tại Việt Nam.
Luật Đầu tư năm 2014 quy định về hình thức đầu tư và các điều kiện cần
thiết khác để tiến hành dự án đầu tư nhằm bảo đảm sự tuân thủ đúng pháp luật về
hình thức đầu tư cũng như bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, bảo vệ lợi ích chung
của xã hội.
Quy định về ưu đãi đầu tư, mở cửa thị trường thuộc phạm vi điều chỉnh của
nhiều luật chuyên ngành và cam kết quốc tế. Việc tiếp tục giữ các thủ tục xin phép
theo Luật Đầu tư đang gây khó khăn gia nhập thị trường cho các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Sự lòng vòng của các thủ tục đăng ký doanh nghiệp và đăng ký đầu
tư càng làm cho chi phí gia nhập thị trường của người dân, doanh nghiệp ngày một
cao, tạo cơ hội cho tham nhũng đồng thời tạo tâm lý, cảm giác không an toàn khi
thực hiện đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp cùng với thành lập mới doanh
nghiệp.
Để hoàn thiện hơn nữa về pháp luật đầu tư tại Việt Nam cần hoàn thiện chi
tiết các quy định về các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là việc
thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần, việc đầu tư theo hợp đồng, hình thức đầu tư
M&A; đề xuất xây dựng Luật riêng để điều chỉnh lĩnh vực đầu tư theo mô hình hợp
tác công tư (PPP).
Để có được kết quả trên, một lần nữa học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến giáo viên hướng dẫn PGS, TS Tăng Văn Nghĩa đã hướng dẫn và giúp đỡ học
viên trong quá trình thu thập, tìm hiểu, phân tích và xử lý thông tin, học viên xin gửi
lời cảm ơn đến những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện để học viên có
thể hoàn thành được đề tài và mục tiêu đặt ra.
70
Mặc dù học viên đã cố gắng nỗ lực trong việc tìm tài liệu, nghiên cứu để làm
sáng rõ vấn đề và đưa ra những giải pháp, kiến nghị thiết thực, có giá trị song do
điều kiện còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, học viên rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để có được những chỉnh sửa và
nghiên cứu sâu sắc, hoàn thiện hơn.
D NH MỤC TÀI LIỆU TH M KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Thông tư 03/2011/TT-BKHĐT
ngày27/01/2011 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số
108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009 về đầu tư theo hình thức hợp
đồng BOT, BTO, BT, Hà Nội.
2. Chính phủ (2006), Nghị định 108/2006/NĐ-CPngày 22/09/2006 về việc
quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội.
3. Chính phủ (2009), Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 về đầutư
theo hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây
dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng - chuyển giao
(BT), Hà Nội.
4. Chính phủ (2010), Quyết định số 71/2010/QĐ-TTgngày 09/11/2010 củaThủ
tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối
tác công - tư, Hà Nội.
5. Chính phủ (2012), Quyết định số 1597/QĐ-TTg ngày 26/10/2012 của
Thủtướng Chính phủ ban hành cơ chế quản lý và thực hiện Dự án đầu tư xây
dựng đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết thí điểm theo hình thức đối tác
công tư, Hà Nội.
6. Chính phủ (2014), "Dự thảo Nghị định về hợp tác công tư",
www.chinhphu.vn, ngày 20/8/2014.
7. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ-CPngày 26/6/2014 quy định
chitiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Hà Nội.
8. Chính phủ (2015), Nghị định số 15/2015/NĐ-CPngày 14/02/2015 về đầu tư
theo hình thức hợp tác công tư, Hà Nội.
9. Chính phủ (2015), Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/2015 quyđịnh
chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, Hà
Nội.
10. Huỳnh Thế Du (2011), "Hợp tác công-tư, chiếc đũa thần"
www.thesaigontimes.vn, ngày 19/01/2011.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lầnthứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), Hình thức hợp tác công tư (Public
PrivatePartnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Việt
Nam,luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Duy Hà (2014), "Hợp tác công tư - Giải pháp thu hút các nguồn lực
từ khu vực tư nhân", http://bacninhbusiness.gov.vn, ngày 20/04/2014.
14. Nguyễn Hồng Thái (2013), "Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng", www.cauduongonline.com.vn, ngày 30/12/2013
15. "Mô hình PPP là giải pháp tối ưu cho đô thị Việt Nam" (2011),
www.diaocvietonline.vn, ngày06/3/2011.
16. Phạm Quốc Trường (2014), “Khung chính sách cho mô hình Hợp tác công tư
ở Việt Nam”, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-
luan/khung-chinh-sach-cho-mo-hinh-hop-tac-cong-tu-o-viet-nam-54404.html
17. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
18. Quốc hội (2005), Luật đầu tư, Hà Nội.
19. Quốc hội (2013), Luật đấu thầu, Hà Nội.
20. Quốc hội (2014), Luật đầu tư, Hà Nội.
21. Mỹ Quyên (2013),"Cẩn trọng chọn dự án PPP", http://dddn.com.vn, ngày
10/10/2013.
22. Nguyễn Hồng Thái (2013), "Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng", www.cauduongonline.com.vn, ngày 30/12/2013.
23. Tiếng nh
24. ADB (2000), Developing best practices for promoting private
sectorinvestment in infrastructure, Asian Development Bank, p. 167-190.
25. ADB (2006), Public private partnership (PPP) handbook, p. 142-155.
26. Akintoye, A., Hardcastle, C., Beck, M., Chinyio, E., and Asenova, D. (2003),
Achieving Best Value in Private Finance Iniative Project
Procurement,Construction Management and Economic, July 2003, p. 461-
470.
27. Một số trang Web:
28. https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nguoi-trung-quoc-loi-dung-ke-ho-
trong-dau-tu-de-duoc-o-vn-727216.html
29. http://congly.vn/dau-tu/nam-2018-viet-nam-thu-hut-35-46-ty-usd-dau-tu-
truc-tiep-nuoc-ngoai-282146.html
30. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/kinh-te/thanh-lap-gop-von-vao-doanh-nghiep-
trong-ldn-nam-2014-han-che-va-kien-nghi
31. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/kinh-te/thanh-lap-gop-von-vao-doanh-nghiep-
trong-ldn-nam-2014-han-che-va-kien-nghi
32. https://dautunuocngoai.gov.vn/tinbai/105/Qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-
trien-cua-Luat-Dau-tu-nuoc-ngoai-tai-Viet-Nam
33. http://enternews.vn/nguoi-trung-quoc-thau-tom-dat-da-nang-khong-de-lap-
lai-mot-formosa-100433.html
34. Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau- tu-2014/.