BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

NĂM 2014

Ngành: Luật kinh tế

NGUYỄN ĐÌNH THẮNG

Hà Nội - 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

NĂM 2014

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Nguyễn Đình Thắng

Người hướng dẫn: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa

Hà Nội - 2019

i

LỜI C M ĐO N

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới

sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tăng Văn Nghĩa – Trưởng Khoa

sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội. Các luận điểm, dẫn chứng, số

liệu, ví dụ trong luận văn đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực.

Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ đề tài

nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Thắng

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ

đạo nhiệt tình và quý báu của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và tập thể các thầy cô giáo

Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.

Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS, TS Tăng

Văn Nghĩa và các thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học

Ngoại thương Hà Nội. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia

đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu, tạo mọi điều

kiện tốt nhất đồng thời đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành công trình

nghiên cứu cuối khoá tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm

hiểu thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những

sai sót. Tác giả rất mong nhận đợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của Quý thầy cô,

bạn bè, đồng nghiệp và độc giả.

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Thắng

iii

D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN

Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

Bưu chính viễn thông BCVT

CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GCNĐKĐT Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

GDP Tổng sản phẩn trong nước (nội địa)

GTVT Giao thông vận tải

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

M&A Mua bán và sát nhập

NSNN Ngân sách Nhà nước

ODA Vốn vay nước ngoài

PPP Hợp đồng Hợp tác công tư

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

XHCN Xã hội chủ nghĩa

WTO Tổ chức thương mại thế giới

iv

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN

Tên luận văn: Các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:

- Đã phân tích khái niệm các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

- Đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển các hình thức đầu tư theo quy

định của pháp luật Việt Nam

- Đã phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn các

hình thức đầu tư của nhà đầu tư, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc khi lựa

chọn các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

- Đã đưa ra các đánh giá về những ưu điểm của các hình thức đầu tư theo Luật

đầu tư năm 2014, những điểm thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình

thức nào là phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

- Đã đưa ra các khuyến nghị thực thi pháp luật về: Những hình thức đầu tư mà

khi đầu tư nhà đầu tư có thể gặp phải

+ Khuyến nghị về hình thức thành lập tổ chức kinh tế

+ Khuyến nghị về hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào

tổ chức kinh tế

+ Khuyến nghị về đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

+ Khuyến nghị về đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tư (PPP)

v

MỤC LỤC LỜI C M ĐO N ...................................................................................................... I

LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... II

D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................. III

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN ................................. IV

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1

2. Tình hình nghi n cứu ....................................................................................... 2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghi n cứu .................................................................. 3

3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 3

3.2. Nhi m vụ nghiên cứu .......................................................................... 3

4. Đối tượng và phạm vi nghi n cứu ................................................................... 3

4.1. Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................ 3

4.2. Phạm vi nghiên cứu: ........................................................................... 4

5. Phư ng pháp nghi n cứu ................................................................................. 4

6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn .................................................. 5

7. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 5

CHƯƠNG 1. .............................................................................................................. 6

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ..................................................................................................................... 6

1.1. Khái quát về đầu tư ....................................................................................... 6

1.2. Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư ....................... 7

1.3. Khái quát về các hình thức đầu tư ............................................................. 11

1.3.1. Khái ni m hình thức đầu tư ........................................................... 11

1.3.2. Sự phát triển của các hình hình đầu tư ......................................... 11

1.3.3. Vai trò của các hình thức đầu tư ................................................... 29

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 ................................................................ 32

2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư ......................... 32

2.1.1. Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế .................................. 32

2.1.2. Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế ........... 34

2.1.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh .................. 37

2.1.4. Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư PPP .................. 40

vi

2.2. Đánh giá các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 ................... 46

2.2.1. Những ưu điểm ............................................................................... 46

2.2.2. Những vấn đề đặt ra khi áp dụng các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 .................................................................................................. 50

CHƯƠNG 3. ............................................................................................................ 59

KHUYẾN NGHỊ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 ....................................................................... 59

3.1. Xu hướng phát triển các hình thức đầu tư hiện nay ................................ 59

3.2. Một số khuyến nghị nh m thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 .................................................................................... 59

3.2.1. Phổ biến, tuyên truyền về hình thức đầu tư .................................. 60

3.2.2. Về năng lực thực thi của cơ quan nhà nước có thầm quyền ...... 61

3.2.3. Khuyến nghị hoàn thi n quy định về định giá tài sản góp vốn, mua cổ phần .......................................................................................................... 63

3.2.4. Khuyến nghị hoàn thi n các quy định về hợp đồng PPP ............. 63

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 69

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư tại Việt Nam được phân chia thành hình thức đầu tư trong nước

và đầu tư nước ngoài căn cứ theo nguồn gốc vốn đầu tư của các nhà đầu tư.

Các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư

nước ngoài (trước hết theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987). Nhà

đầu tư trong nước gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài thực hiện theo Luật Khuyến khích đầu tư năm 1995 (Sửa đổi

bổ sung năm 1998). Các nhà đầu tư ngước ngoài có thể lựa chọn các hình thức

đầu tư thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.

Qua nhiều năm thực hiện nhận thấy các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước

ngoài bị hạn chế hơn rất nhiều so với nhà đầu tư trong nước.

Với chính sách phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của thời đại hội

nhập, mở cửa, Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, quy định đa đạng và đổi

mới các hình thức đầu tư nhằm thu hút, khuyến khích các nguồn vốn từ các

nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhằm thu hút nguồn lực cho đất nước

phát triển, xóa bỏ sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước

ngoài, về cơ bản được thực hiện chung thông qua các hình thứ c mà Luật Đầu

tư năm 2014 quy định. Trước những đòi hỏi khách quan của xu thế thời đại,

cũng như đáp ứng nhu cầu thu hút đầu tư và phát triển kinh tế đất nước theo

nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, theo nguyên tắc tự do và bình đẳng.

Luật Đầu tư năm 2014 đã được hoàn thiện theo hướng đảm bảo tính thống

nhất, đồng bộ giữa các bộ phận pháp luật điều chỉnh về những hành vi có nội

dung tương tự cũng như sự tương thích với các Điều ước quốc tế về đầu tư và

Việt Nam tham gia.

So với các quốc gia trong khu vực, các hình thức đầu tư theo pháp luật

về đầu tư của Việt Nam tương đối phong phú, tạo nhiều sự lựa chọn phù hợp

với quy mô nguồn vốn, khả năng quản lý và tính chịu trách nhiệm về hoạt

động đầu tư nhằm kinh doanh của các nhà đầu tư.

2

Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa hội nhập quốc tế của

Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài

nhằm tìm kiếm nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam đã tham

gia rất nhiều tác tổ chức thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế trong và

ngoài khu vực như: WTO, AFTA, CPTPP, APEC, ASEAN….Điều này cũng

khiến chúng ta phải có những điều chỉnh hợp lý để phù hợp thực tiễn.

Vì những lý do trên, học viên lựa chọn vấn đề “Các hình thức đầu tư

theo Luật Đầu tư năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2. Tình hình nghi n cứu

Trong những năm qua, với chính sách mở của kinh tế nhằm thu hút đầu tư

trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều

chính sách để thu hút, kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Trước Luật Đầu tư năm 2014 ra đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu về

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như:

- Mai Ngọc Cường, “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, HN, năm 2000. Đề xuất

hoàn thiện các cơ chế trong thu hút đầu tư, khai thác được các tiềm năng, thế mạnh

của Việt Nam.

- Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), “Hình thức hợp tác công tư - PPP (Public

Private Partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam”.

Luận văn Tiến sĩ kinh tế. Nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm về hình thức hợp

tác công tư - trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Nhận diện các cơ hội của PPP từ

thực trạng đầu tư tư nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ Việt Nam và đo lường

mức độ sẵn sàng đầu tư theo hình thức PPP của khu vực tư nhân trong lĩnh vực giao

thông đường bộ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, nghiên cứu tổng quát về các hình thức đầu tư và chuyên sâu về

khung pháp lý của các hình thức đầu tư trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam thì

chưa có nhiều đề tài thực hiện nghiên cứu toàn bộ, chủ yếu các đề tài tập trung

3

nghiên cứu về một số hình thức đầu tư như: Góp vốn, mua cổ phần hay hợp đồng

đối tác công tư hoặc thành lập các tổ chức kinh tế…

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở luận giải, làm rõ cơ sở lý luận hình thức đầu tư của nhà đầu tư

nhằm đánh giá và chỉ ra những bất cập cũng như những vướng mắc, hạn chế trong

quá trình áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn đề xuất các

khuyến nghị thực thi các hình thức đầu tư liên quan tới Luật Đầu tư năm 2014.

3.2. Nhi m vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Luận giải để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức đầu

tư theo Luật Đầu tư năm 2014: Làm rõ khái niệm và nội dung của khái niệm về

quyền lựa chọn hình thức đầu tư.

- Nghiên cứu các nguyên tắc, căn cứ, nội dung và phạm vi của các hình thức

đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp

luật về các hình thức đầu tư để chỉ ra những bất cập của pháp luật, những khó khăn

trong quá trình thực thi đồng thời so sánh với các quy định có liên quan của pháp

luật nhằm nêu bật những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam.

- Luận giải cho những khuyến nghị được nêu trong Luận văn về hướng hoàn

thiện pháp luật Việt Nam về các hình thức đầu tư.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các hình thức đầu tư của nhà đầu tư

trong nước và nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam. Phần nghiên

cứu nhà đầu tư trong nước chỉ nhằm mục tiêu so sánh, đối chiếu các quy định để rút

4

ra những bất cập, đề xuất, mà không mang tính phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư

trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả nghiên cứu các hình

thức đầu tư của nhà đầu tư bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước

ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014. Luận văn chú trọng tìm hiểu các hình thức đầu tư

dựa trên các quy định của pháp luật đầu tư qua từng thời kỳ khi xem xét sự phát

triển của các hình thức đầu tư.

- Về không gian, Luận văn chỉ nghiên cứu các hình thức đầu tư đã và đang

được triển khai tại Việt Nam (theo các quy định của pháp luật). Những quy định về

hình thức đầu tư của nước ngoài có thể được xem xét làm đối tượng so sánh, chứ

không phải đối tượng nghiên cứu của luận văn.

- Về thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu các hình đầu về cơ bản từ Luật Đầu

tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật này ra đời cho đến năm 2025

trên cơ sở đề xuất một số khuyến nghị về hình thức đầu tư tại Việt Nam.

5. Phư ng pháp nghi n cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu ở trên, tác giả s

sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống, như hệ thống hóa, phân tích,

tổng hợp, đối chiếu và so sánh luật học. Cụ thể:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng đồng thời và xuyên suốt

trong toàn bộ luận văn nhằm làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của

đề tài. Đặc biệt, phương pháp này được áp dụng nhiều nhất tại Chương 1 để giúp hệ

thống hóa các công trình nghiên cứu đã công bố và có cái nhìn một cách toàn diện,

đầy đủ cũng như cụ thể về cơ sở lý luận của việc quy định các hình thức đầu tư theo

Luật Đầu tư năm 2014.

- Phương pháp luận giải và phương pháp so sánh luật học được sử dụng đặc

biệt tại Chương 1 và Chương 2 để làm phân tích và làm rõ các ưu điểm và nhược

điểm của các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014.

5

- Phương pháp tổng hợp s được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 khi đề xuất

các khuyến nghị và luận giải cho các khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư tại

Việt Nam.

6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về các hình thức đầu tư

theo Luật Đầu tư năm 2014. Các kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần bổ

sung và phát triển những vấn đề lý luận pháp luật về các hình thức đầu tư, là rõ

cơ sở khoa học nhằm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật đầu tư trên các

khía cạnh:

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề về các hình thức đầu tư theo Luật

đầu tư năm 2014

- Phân tích và làm rõ việc quy định các hình thức đầu tư trong Luật đầu tư

năm 2014 những ưu điểm và hạn chế của từng hình thức đầu tư.

- Đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư tại Việt Nam nhằm làm rõ bất cập,

hạn chế của pháp luật về đầu tư.

- Đề xuất một số khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư theo pháp luật

đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được

kết cấu thành 3 Chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và các hình thức đầu tư;

Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật về các hình thức đầu tư theo

Luật Đầu tư năm 2014;

Chương 3: Khuyến nghị thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật

Đầu tư năm 2014.

6

CHƯƠNG 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC

ĐẦU TƯ

1.1. Khái quát về đầu tư

Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực

về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm

trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở

vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác

dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư.

Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến

hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định

trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.

Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.

Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật

chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.

Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn

lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương

lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.

Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các

nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản

xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận hay

lợi ích kinh tế xã hội.

Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

- Trước hết phải có vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác

như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở

hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá

trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có

thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài

hạn, trung hạn, ngắn hạn.

7

- Thời gian đầu tư, thường tương đối dài từ 2 năm trở lên, có thể đến 50

năm, thậm chí theo luật từng nước có thể dài hơn nữa lên tới 99 năm. Những

hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư.

Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận

đăng ký đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.

- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hi n trên hai mặt: Lợi ích tài

chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu

kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi

ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích

kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.

1.2. Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư

Sau ngày 30/4/1975, nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn củng

cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lúc này, trong bối cảnh nước đi lên chủ nghĩa

xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh

lâu dài, nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vượt qua bao thử thách và khó

khăn chồng chất. Chúng ta đã có nhiều cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh,

khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất

mới; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; phát

triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thiết lập và củng cố chính quyền nhân

dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển,

sản xuất nhỏ là phổ biến và mang nặng tính chất tự cấp tự túc. Trình độ trang bị

kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng, văn hoá-xã hội lạc hậu; năng

suất lao động xã hội rất thấp. Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng một nước

nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối nặng nề trên nhiều mặt, chưa tạo được tích

luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài, chủ yếu là các nước XHCN,

đặc biệt là Liên Xô. Tình trạng chia cắt, khép kín ở từng đơn vị, từng ngành và

từng địa phương còn phổ biến. Cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp để lại

nhiều hậu quả tiêu cực. Nền kinh tế hoạt động với hiệu quả rất thấp, chủ yếu

tập trung vào sản xuất nông nghiệp và một số ngành công nghiệp phụ vụ đời

sống nhân dân.

8

Với một thực trạng kinh tế xã hội như vậy, để thực hiện được nhiệm vụ

khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đã

khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong

lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai

trò vô cùng quan trọng” (Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IV năm

1976). Thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính

phủ đã ban hành Nghị định 115/NĐ-CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài

(sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quy riêng biệt

nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Việt Nam. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, thể hiện

đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1977, mới có 2 năm sau thống nhất đất

thời kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam.

nước, nhà nước bắt tay vào công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, với một đội

ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm làm kinh tế, cũng như quản lý kinh tế, với một

cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, với một đường lối kinh tế chỉ công nhận 2

thành phần kinh tế, đó là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế Hợp tác xã.

Hơn nữa chúng ta lại là một nước xã hội chủ nghĩa, thế mà chúng ta đã mạnh

dạn đưa ra một khung pháp lý như vậy, quả là một sự cố gắng rất cao, một “tầm

nhìn xa trông rộng” hơn nhiều so với một số nước xã hội chủ nghĩa khác. Điều

này cho thấy, tuy chưa được công nhận trong các văn kiện của Đảng, cũng như

chưa được thể chế hoá trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế với Điều lệ đầu tư

năm 1977 đã phần nào minh chứng cho tư duy lúc đó chúng ta đã nghĩ tới việc

kết hợp với tư bản nước ngoài trong một khuôn khổ pháp lý để khôi phục phát

triển kinh tế. Điều lệ đầu tư năm 1977 đã đề cập đến, tạo ra được khung pháp lý

sơ khai cho hoạt động đầu tư nước ngoài, đây là những tiền đề cho những ý

tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này, ngay cả Luật Đầu tư nước

ngoài năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để

nâng cấp, hoàn thiện thêm.

9

Có thể khẳng định Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977 là

tiền đề và đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật về đầu tư sau này tại

Việt Nam.

Qua quá trình phát triển và mở rộng hội nhập quốc tế,Việt Nam đã không

nhừng hoàn thiện thể chế. Các Luật Đầu tư lần lượt được ra đời.

Năm 1987 nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đáp

ứng chủ trương đó Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban

hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của sự ra đời

hệ thống cơ sở pháp lý các hoạt động và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam. Theo thống kê trong năm 1987, Việt Nam thu hút được 213 dự án, tổng

vốn đăng ký 1,793 tỷ USD

Qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm

1987 đã bộc lộ những bất cập cần được sửa chữa và để phù hợp với tình hình

mới luật sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990; Luật sửa đổi bổ sung một

số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 lần lượt được ra đời,

khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

năm 1987. Giai đoạn này thu hút đầu tư nước ngoài đã nâng lên 459 dự án đầu

tư, với tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD, trong đó vốn FDI (Foreign Direct

Investment- Vốn đầu tư nước ngoài) tăng tốc. Làn sóng đầu tư thứ nhất bắt đầu

vào Việt Nam bắt đầu khởi sắc.

- Sau gần 10 năm triển khai và thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam năm 1987 đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 1990 và năm 1992

nhưng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đầu tư tại Việt Nam. Năm

1996 nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và

hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam trở thành thị trường thương mại có

sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, để kịp thời đón nhận được những nguồn vốn

đầu tư nước ngoài, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông

qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

10

- Nhằm tạo điều kiện xích gần giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước

ngoài, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000. Trong năm 2000 thu hút FDI có dấu

hiệu chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chỉ đạt 2,838 tỷ USD.

- Việc thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư

trong nước vẫn nằm ở hai đạo luật khác nhau và có những điều chỉnh khác biệt

trong đối xử, ưu đãi đầu tư. Để phù hợp và hài hòa với pháp luật về đầu tư của

các nước trên thế giới cũng như phù hợp với khuôn khổ pháp lý về đầu tư của

tổ chức thương mại thế giới (WTO), Luật Đầu tư năm 2005 đã được Quốc hội

thông qua ngày 29/11/2005 là văn bản pháp luật đầu tiên áp dụng thống nhất

cho cả hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, Bên cạnh dó, Luật Doanh

nghiệp năm 2005 cũng được ban hành nhằm quy định liên quan đến tổ chức và

hoạt động của doanh nghiệp hình thành trong quá trình triển khai dự án đầu tư

tại Việt Nam, việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 góp phần thu hút vốn FDI

trở lại, làn sóng đầu tư thứ hai bắt đầu, trong năm 2005, thu hút được 6,839 tỷ USD.1

- Nhằm đổi mới hơn nữa chính sách thu hút đầu tư tại Việt Nam Luật

Đầu tư năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực từ

ngày 01/01/2015. Việc ban hành luật này tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ

và hoàn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng

vốn đầu tư công, khắc phục những hạn chế, bất cập trong đầu tư công. Trong năm 2017 vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam đạt 35,88 tỷ USD2.

Sau 30 năm đổi mới đất nước để đáp ứng nhu cầu phát triển, nước ta đã

không ngừng hoàn thiện thể chế, hoàn thiện pháp luật về đầu tư để thu hút đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng

1Nội dung trên được tham khảo từ bản thảo Giáo trình Pháp luật Đầu tư do PGS, TS Tăng Văn Nghĩa làm chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này). 2 https://baodautu.vn/30-nam-fdi-du-luat-lich-su-va-nhung-chuyen-co-cho-ty-phu-d74458.html

đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

11

1.3. Khái quát về các hình thức đầu tư

1.3.1. Khái ni m hình thức đầu tư

Trải qua nhiều quy định của pháp luật về đầu tư vào Việt Nam từ trước

đến nay thì chưa có văn bản nào quy định khái niệm các hình thức đầu tư. Ở

Điều lệ đầu tư năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật

Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1990, Luật sửa đổi bổ sung một số điều

của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992... hay đến Luật Đầu tư năm

2014 chưa có Điều luật nào đưa ra khái niệm các hình thức đầu tư là gì, mà chỉ

quy định các hình thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được phép

thực hiện.

Quyền lựa chọn hình thức, phương thức đầu tư do nhà đầu tư quyết định.

Do vậy có thể hiểu: Các hình thức đầu tư là những phương thức được nhà đầu

tư lựa chọn theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: Đầu tư thành lập

doanh nghiệp, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế,

đầu tư theo hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh), đầu tư theo hợp

đồng PPP (hợp đồng đối tác công - tư) theo Luật Đầu tư năm 2014.

1.3.2. Sự phát triển của các hình hình đầu tư

Các hình thức đầu tư được nhắc đến sớm nhất trong Điều lệ đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam năm 1977 ngay sau khi Việt Nam vừa giành được độc lập

thống nhất nước nhà.

Theo các quy định tại Điều 1 của Điều lệ đầu tư năm 1977, Chính phủ

Việt Nam chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc

tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng

có lợi mà không phân biệt chế độ kinh tế chính trị của quốc gia của nhà đầu tư.

Mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được thể hiện một cách rõ

ràng. Điều lệ đầu tư năm 1977 quy định ba hình thức đầu tư đó là:

Hình thức đầu tư “hợp tác sản xuất chia sản phẩm”: là tiền đề của hình

thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày nay, theo Điều lệ đầu tư năm 1977 thì

bên nước ngoài thực hiện hình thức hợp tác chia sản phẩm s đóng góp vốn,

12

trang thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ... để xây dựng cơ sở vật chất nhằm

thực hiện chương trình hợp tác kinh tế được thỏa thuận trong hợp đồng; sản

phẩm làm ra s được chia cho các bên theo một tỷ lệ do các bên thỏa thuận;

phần sản phẩm của bên nước ngoài về nguyên tắc là để xuất khẩu, trừ trường

hợp bên Việt Nam yêu cầu thì có thể tiêu thụ tại Việt Nam một phần hoặc toàn

bộ.

Hình thức đầu tư “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp”: Đây là tiền đề của

hình thức liên doanh ngày nay, trong đó “Xí nghiệp” được định nghĩa là: Bên

nước ngoài và một tổ chức kinh tế quốc doanh Việt Nam hùn vốn lập một xí

nghiệp hoặc công ty hỗn hợp dưới hình thức công ty vô danh hoặc công ty

trách nhiệm có hạn, theo đó xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp được khẳng định là

một pháp nhân thành lập theo luật pháp Việt Nam, hoạt động theo các điều

khoản của hợp đồng hợp doanh và điều lệ của xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp.

Đồng thời quy định vốn do bên nước ngoài đầu tư vào xí nghiệp hoặc công ty

hỗn hợp được giới hạn ít nhất phải bằng 30% và nhiều nhất không quá 49%

tổng vốn đầu tư, quy định này có ý nghĩa không cho bên nước ngoài chiếm đa

số vốn dễ dẫn tới bên nước ngoài điều hành công ty, xí nghiệp. Sản phẩm của

xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp quy định là phải được xuất khẩu với một tỷ lệ

do các bên thỏa thuận.

Hình thức đầu tư “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu”:

Đây là hình thức tiền để của hình thức 100% vốn nước ngoài ngày nay, theo đó

xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, với 100% vốn nước ngoài

này cũng có tư cách pháp nhân Việt Nam, đồng thời trong này quy định rất chặt

ch rằng sản phẩm của xí nghiệp tư doanh này phải được xuất khẩu 100%. Việc

chấp nhận hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực sản

xuất hàng xuất khẩu đã chứng tỏ tính tự do và cởi mở của Điều lệ đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam năm 1977.

13

1.3.2.1. Theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987

Sau đại hội VI năm 1986 của Đảng về đường lối đổi mới đất nước toàn

diện, sâu sắc và triệt để, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta

trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập cũng như

phát triển kinh tế, Nhà nước ta thể chế đường lối bằng luật cụ thể, nhằm tiếp

tục thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã được xây dựng và ban hành. Luật

Đầu tư nước ngoài hoàn thiện 3 hình thức đầu tư mà đã được quy định một

cách sơ khai trong Điều lệ đầu tư năm 1977 với một nội dung rõ ràng hơn, khoa

học hơn, cụ thể như sau:

- Hình thức đầu tư “hợp đồng hợp tác kinh doanh”:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh được áp dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều

nước và được nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh vì rất đa dạng, linh hoạt,

hình thức này được bắt nguồn từ hình thức hợp tác sản xuất chia sản phẩm quy

định trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977. Luật Đầu tư nước ngoài năm

1987 đã chuẩn hóa và hoàn thiện lại thành hình thức hợp đồng hợp tác kinh

doanh và quy định tại Điều 5 như sau: “Bên nước ngoài và Bên Việt Nam được

hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản

xuất chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác”. Tinh thần của

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định rất rõ đặc trưng cơ bản của Hợp

đồng hợp tác kinh doanh là các bên cùng góp vốn để kinh doanh, sau đó phân

chia kết quả kinh doanh và không thành lập một pháp nhân mới như hình thức

liên doanh. Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ pháp nhân riêng của mình và tự quản lý

thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hai hệ thống luật pháp khác nhau. Bên

hợp doanh Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật trong

nước, bên hợp doanh nước ngoài thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp

Luật Đầu tư nước ngoài.

14

- Hình thức đầu tư “xí nghiệp liên doanh”:

Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 định nghĩa về hình thức xí

nghiệp liên doanh như sau : “Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp do bên nước

ngoài và bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên

doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

với Chính phủ nước ngoài”. Theo định nghĩa này Nhà nước cho phép xí nghiệp

liên doanh gồm chỉ có hai bên là bên nước ngoài và bên Việt Nam, nếu có

nhiều pháp nhân hoặc cá nhân muốn hợp tác đầu tư thì cũng cũng phải thoả

thuận lại thành một bên nước ngoài và một bên Việt Nam để liên doanh với

nhau. Ngoài ra, bên cạnh đó còn có một liên doanh được thành lập trên có sở

Hiệp định giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Việt Nam đó là liên doanh

dầu khí Việt-Xô nên định nghĩa trên đã mở rộng diện áp dụng cho cả đối tượng

liên doanh mà được thành lập trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ, trên

thực tế thì từ đó đến nay, ngoài liên doanh dầu khí Việt-Xô thì cũng không có

bất kỳ liên doanh nào tương tự như vậy.

- Hình thức đầu tư “xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”.

Hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài thực chất đã được quy định

trong Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977, nhưng thời bấy giờ

quy định rất chặt ch , bắt buộc phải xuất khẩu 100%, nên đã lấy tên hình thức

này là “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu”. Nếu quy định như

vậy s làm kém hấp dẫn của hình thức này, nên Luật Đầu tư nước ngoài năm

1987 đã đổi tên thành hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và được quy

định tại Điều 14 như sau: “Các tổ chức cá nhân nước ngoài được thành lập tại

Việt Nam xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự

kiểm soát của cơ quan Nhà nước quản lý về đầu tư nước ngoài, đuợc hưởng

các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép đầu tư. Xí

nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam”.

Như vậy theo tinh thần Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 thì xí nghiệp 100%

vốn nước ngoài là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước

ngoài do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và

15

chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, không bắt buộc phải xuất khẩu 100%

sản phẩm làm ra. Đây là bước tiến rất quan trọng so với Điều lệ Đầu tư nước

ngoài năm 1977. Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình

thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam.

1.3.2.2. Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Vi t Nam năm 1996

Sau 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng

(6/1996) nhận định đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng một

số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá

độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển

sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất nước ta thành

một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,

quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời

sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ,

mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1996 - 2000, nêu

nhiệm vụ tổng quát, những tư tưởng chỉ đạo, các chương trình và lĩnh vực phát

triển.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Xây

dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa3.

Đến năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 đã được sửa

đổi, bổ sung 2 lần vào những năm 1990, năm 1992, đó là những bước rất quan trọng

góp phần vào việc tạo lập hành lang pháp lý ngày càng hoàn chỉnh nhằm tăng tính

hấp dẫn và cải thiện môi trường đầu tư tại Việt nam, từ đó đưa đến những kết quả

3https://loigiaihay.com/khai-quat-tien-trinh-doi-moi-tu-1986-den-nay-c132a20697.html

tăng trưởng rõ rệt.

16

Luật Đầu tư nước ngoài cũng như nhiều văn bản dưới luật được ban hành

trong hoàn cảnh ta chưa có kinh nghiệm về hợp tác đầu tư trực tiếp với nước ngoài,

nhưng về cơ bản đã dựng lên được một khuôn khổ pháp lý phù hợp với đường lối

quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại. Luật Đầu tư nước ngoài đã có những quy

định vừa rộng rãi vừa chặt ch , bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài an toàn về đầu

tư và quyền tự chủ kinh doanh, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền,

tuân thủ pháp luật của Việt Nam và bình đẳng, cùng có lợi. Tuy nhiên, đến thời

điểm năm 1996, khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nhìn lại hệ thống pháp luật về đầu

tư nước ngoài, chúng ta thấy nhiều nhược điểm cần được khắc phục trong hoàn

cảnh mới. Những nhược điểm đó là: Một số quy định quá chung chung, không đủ

mức cụ thể để dễ thi hành; Thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn chồng chéo và

thiếu tính cập nhật; Thủ tục hành chính quá phức tạp, rườm rà; Chủ trương và quy

hoạch chưa đủ mức cụ thể, làm cho các nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu, làm

cho các cơ quan quản lý Nhà nước khó khăn trong việc xử lý.

Những thành tựu quan trọng của 10 năm đổi mới, đặc biệt là sự tăng trưởng

kinh tế liên tục trong nhiều năm với nhịp độ cao, việc nâng cao một bước năng lực

sản xuất xã hội, năng lực xuất khẩu, mức sống của nhân dân và sức mua của thị

trường trong nước, những cố gắng rất lớn để hình thành và hoàn thiện hệ thống

pháp luật, đã tạo ra cho Việt Nam một hình ảnh mới trên thế giới như là một thị

trường thương mại và đầu tư có sức hấp dẫn. Đây là cơ hội mà ta có thể tranh thủ

thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn để

phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài càng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng nhu cầu to lớn cho đầu tư phát triển.

Hoạt động hợp tác đầu tư của ta với nước ngoài từ 1996 trở đi đứng trước những cơ

hội và thách thức mới, số nước gia nhập vào cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước

ngoài ngày càng đông, làm cho cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn trước. Trong

cuộc cạnh tranh này, nhiều nước đã tiến hành những cải cách theo hướng thông

thoáng hơn nhằm vượt lên trên những nước khác.

17

Từ bối cảnh của tình hình mới và từ những nhược điểm của Luật Đầu tư

nước ngoài và trên cơ sở các mục tiêu :

- Chuẩn xác hóa các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hướng tiếp tục tăng

cường khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung vào những mục tiêu

trọng điểm trong chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- So sánh với các biện pháp khuyến khích ở các nước trong khu vực để các

điều kiện khuyến khích đầu tư ở nước ta không thể kém hấp dẫn hơn các nước trong

khu vực;

- Cụ thể hóa những quy định còn quá chung chung, bổ sung vào Luật những

qui định đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, luật hóa những quy định quan trọng

đã được kiểm nghiệm là đúng đắn nhưng chỉ mới được ban hành ở dạng văn bản

duới luật;

- Từng bước tiến tới sự nhích dần giữa hệ thống pháp Luật Đầu tư nước

ngoài và pháp Luật Đầu tư trong nước, chỉ giữ lại những khác biệt mà điều kiện

trong nước chưa cho phép loại bỏ;

- Tăng cường khâu tổ chức quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài,

tạo cơ sở pháp lý cao hơn tạo chuyển biến một cách cơ bản nhằm đơn giản hóa thủ

tục đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Quốc hội khoá 9 kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư

nước ngoài năm 1996. Luật Đầu tư nước ngoài 1996 được soạn thảo trên cơ sở kế

thừa và phát triển của pháp luật đầu tư trước đó:

Về các hình thức đầu tư quy định tại Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam năm 1996 vẫn quy định 3 hình thức đầu tư:

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Doanh nghiệp liên doanh;

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

18

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 bổ sung thêm đã quy định

bổ sung thêm phương thức đầu tư Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh

(BTO), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) (Điều 19), tạo điều kiện cho nước ta

s sớm có các công trình cơ sở hạ tầng theo đúng quy hoạch và ta s được bàn giao

làm chủ việc vận hành các công trình này ngay sau khi chủ đầu tư nước ngoài xây

dựng xong (BT). Để nhà đầu tư nước ngoài thu hồi được vốn và có một phần lợi

nhuận thoả đáng, phía ta s cho phép họ được phát triển một dự án khác theo đúng

Sau 4 năm thực hiện, trước những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro

quy hoạch và với những điều kiện hai bên thoả thuận (BTO)

cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi

năm 2000 đã tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước

ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế,

làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với

trước đây và so với một số nước trong khu vực. Đặc biệt về hình thức đầu tư, Luật

Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 nhằm mở rộng quyền chủ động của nhà đầu tư

trong việc lựa chọn hình thức đầu tư và tổ chức lại doanh nghiệp phù hợp với mục

tiêu và tính chất hoạt động của dự án, Điều 19 của Luật Đầu tư nước ngoài năm

1996 đã bổ sung quy định mới cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,

các bên hợp doanh chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, hợp nhất, sát nhập...

theo các điều kiện và thủ tục do Chính phủ quy định. Quy định nói trên không chỉ

đáp ứng yêu cầu hoạt động đa dạng của dự án đầu tư nước ngoài mà còn tạo cơ sở

pháp lý để Cơ quan cấp phép đầu tư xử lý vấn đề này một cách linh hoạt theo những

nguyên tắc của Luật doanh nghiệp hiện hành và thông lệ quốc tế.

1.3.2.3. Theo Luật Đầu tư năm 2005

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự

thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo một sân chơi bình đẳng, không

phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện

thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội

nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư.

Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có hiệu lực từ 01/7/2006, Luật Đầu

19

tư năm 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong

nước. Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu tư năm 2005

được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư,

còn các nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì

chuyển sang Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyển sang

quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung mang tính chất đặc thù

thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyên nghành điều chỉnh.

So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước

trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tư như:

Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của

nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư

trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp

đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua cổ

phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư và Đầu tư thực hiện việc sáp

nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh tế

bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập

tại Việt Nam được hợp tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành

lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về

doanh nghiệp. Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh

giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh trên

được tiếp tục liên doanh với nhà đầu trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư

thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có

liên quan. Tính theo cách thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005 có thể chia thành

đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:

(1) Các hình thức đầu tư trực tiếp

+ Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100%

vốn của nhà đầu tư nước ngoài.

Căn cứ Luật đầu tư năm 2005, nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ

chức kinh tế sau đây:

20

a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;

b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ

chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;

c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch

vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;

d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài các tổ chức kinh tế trên, nhà đầu tư trong nước được đầu tư để thành

lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ

kinh doanh theo quy định của pháp luật.

+ Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà

đầu tư nước ngoài.

Nhà đầu tư nước ngoài liên kết với nhà đầu tư trong nước, bao gồm các

doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty như công ty

trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần...

Việc liên kết đó đã tạo ra các tổ chức kinh tế liên doanh giữa một bên là doanh

nghiệp trong nước và một bên là nhà đầu tư nước ngoài.

+ Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp

đồng BT.

Hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh): Hợp đồng hợp tác kinh

doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh

phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

Hợp đồng BOT (Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao): Hợp đồng

BOT là hình thức đầu tư được ký giữa nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân

chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

Hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh) là hình

thức đầu tư ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng

công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công

21

trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh

công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

Hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao) là hình thức đầu tư được ký

giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ

tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt

Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu

tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.

Điều 23 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng

BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức

hợp tác kinh doanh khác.

Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách

nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên

thỏa thuận và ghi trong hợp đồng.

Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ

quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện

đại hoá và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và

kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng

Chính phủ quy định.

+ Đầu tư phát triển kinh doanh.

Đầu tư phát triển kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn để

mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát

triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu

tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và

phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát triển kinh doanh bao gồm

các hình thức cụ thể là: Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh

(thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị trực thuộc...); Đổi mới công

nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường.

Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức kinh

doanh sau đây:

22

- Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;

- Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi

trường.

+ Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt

Nam. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh

vực, ngành, nghề do Chính phủ quy định.

Đến năm 2005, với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu

tư năm 2005 thì nhà đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà

đầu tư trong nước, cả về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần. Riêng với ngân hàng

thương mại Việt Nam, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày

20/4/2007 và Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007 hướng dẫn Nghị

định số 69/2007/NĐ-CP đã quy định thu hẹp đối tượng được các nhà đầu tư nước

ngoài mua cổ phần, chỉ là các ngân hàng thương mại mà không bao gồm tất cả các

tổ chức tín dụng Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước cổ phần

hóa thì nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần với tỷ lệ được quy định riêng tại

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100%

vốn Nhà nước thành công ty cổ phần. Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày

15/04/2009 cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ 49% tổng số cổ phiếu của

công ty cổ phần đại chúng. Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/06/2009 được

ban hành có một số quy định thay đổi như việc bãi bỏ hạn chế tỷ lệ tham gia của

nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam...

Về hình thức góp vốn, mua cổ phần nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn,

mua cổ phần: Nhà đầu tư nước ngoài “mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản

lý hoạt động đầu tư” thì được coi là hình thức “đầu tư trực tiếp”.

+ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.

Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc

chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số

23

công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp

nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo đó

nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp

có thanh toán. Từ phương diện luật cạnh tranh, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là

hành vi của doanh nghiệp thuộc nhóm hành vi tập trung kinh tế.

Việc đầu tư thông qua thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tiềm ẩn

khả năng tạo lập vị trí thống lĩnh và cao nhất là vị trí độc quyền của doanh nghiệp

trên thị trường hàng hóa, dịch vụ; Làm giảm chỉ số cạnh tranh, thậm chí triệt tiêu

cạnh tranh của thị trường. Vì l đó, khi sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, ngoài

việc phải đáp ứng các điều kiện quy định bởi Luật Đầu tư, các nhà đầu tư còn phải

tuân thủ các quy định của pháp luật cạnh tranh và các quy định pháp luật có liên

quan.

Những năm trước đây, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và xu thế hội

nhập, nhiều đạo luật quan trọng liên quan đã được ban hành. Chẳng hạn Luật Cạnh

tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng

khoán năm 2006 việc ban hành các đạo luật nói trên đã đáp ứng được nhu cầu xác

lập vị trí pháp lý, điều tiết các quan hệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các

nguồn vốn từ bên ngoài của các loại doanh nghiệp nói chung, trong đó có việc sáp

nhập và mua lại doanh nghiệp. Trước khi có Luật Đầu tư năm 2005, hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được quy

định trong một số điều khoản, việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp các doanh

nghiệp tư nhân (Điều 103 Luật Doanh nghiệp 1999), việc sáp nhập và mua lại

doanh nghiệp các doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 103/1999/NĐ-CP; Nghị

định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh Doanh

nghiệp nhà nước.

Luật Đầu tư năm 2005 đã ghi nhận việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là

một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại

doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức:

24

(i) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý

hoạt động đầu tư;

(ii) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động;

(iii) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Mặc dù hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

có nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, thống nhất, tuy nhiên những quy định pháp luật

hiện hành là cơ sở quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường việc sáp nhập và mua lại

doanh nghiệp nói chung, thu hút FDI qua thị trường việc sáp nhập và mua lại doanh

nghiệp nói riêng.

(2) Đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,

trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định

chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý các

hoạt động đầu tư.

Sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức đầu tư trực tiếp và các hình thức đầu

tư gián tiếp là mức độ, phạm vi quản lí và kiểm soát của chủ đầu tư đối với hoạt

động kinh doanh. Trong các hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không trực tiếp

tham gia quản lí, điều hành quá trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đầu tư.

Nhà đầu tư gián tiếp về cơ bản chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu

tư. Đầu tư gián tiếp bao gồm những hình thức phổ biến như: Đầu tư thông qua mua

chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác); Đầu tư

thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; Đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo

hiểm...

Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây:

+ Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Việc mua cổ

phần mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư được coi là

“đầu tư gián tiếp”

+ Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;

25

+ Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.

Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác

của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định

của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

1.3.2.4. Theo Luật Đầu tư năm 2014

Sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên,

Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ

sung; cụ thể như sau:

Một là, với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ hoạt động đầu tư,

gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước và đầu

tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, Luật Đầu tư về cơ bản bảo đảm thực

hiện chức năng như một luật khung điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong

tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, sau khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành,

một số đạo luật liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành hoặc

sửa đổi (như Luật Chứng khoán, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm,

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật

Kinh doanh bất động sản...). Trong bối cảnh đó, Luật Đầu tư cần được xem xét sửa

đổi để xác định rõ nguyên tắc áp dụng giữa các Luật nhằm đảm bảo tính thống nhất

trong hệ thống pháp luật về đầu tư, đặc biệt là các quy định liên quan đến điều kiện

đầu tư, thủ tục đầu tư và ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.

Hai là, thực tiễn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 trong thời gian qua cho

thấy, những vướng mắc trong quá trình hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà

đầu tư có nguyên nhân phát sinh từ một số khái niệm chưa được quy định cụ thể

trong Luật (như khái niệm lĩnh vực đầu tư có điều kiện, điều kiện đầu tư, nhà đầu tư

nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...). Các lĩnh vực, ngành nghề

ưu đãi đầu tư cũng như đối tượng ưu đãi đầu tư chưa được quy định thống nhất giữa

Luật Đầu tư với các luật thuế và một số luật chuyên ngành. Quy định về một số lĩnh

vực đầu tư có điều kiện còn thiếu minh bạch, dẫn đến cách hiểu không thống nhất

giữa các cơ quan quản lý và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, những biện pháp bảo đảm đầu

26

tư theo quy định của Luật cũng chưa được cập nhật và phản ánh đầy đủ cam kết của

Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các điều ước quốc tế được ký kết trong thời gian

qua, trong đó có cam kết trong WTO.

Ba là, Luật Đầu tư năm 2005 còn tồn tại một số quy định khác biệt giữa nhà

đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh nghiệp và

thực hiện dự án đầu tư, đồng thời chưa xác định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy

chứng nhận đầu tư và triển khai thực hiện dự án. Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây

dựng chưa được quy định thống nhất giữa các luật nên đã dẫn đến sự chồng chéo về

mục tiêu, nội dung quản lý cũng như cơ quan thẩm định, phê duyệt. Cộng đồng

doanh nghiệp cho rằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng là chuỗi thủ tục tồn tại

nhiều khó khăn nhất cho doanh nghiệp và là một trong những “nút thắt” phải tháo

gỡ nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Bốn là, các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư theo quy

định của Luật chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnh thực hiện chế độ phân

cấp. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về đầu tư còn tồn tại một số bất cập từ công tác xây dựng cơ chế,

chính sách, xúc tiến đầu tư đến cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và

quản lý hoạt động đầu tư.

Năm là, Luật Đầu tư 2005 chưa phân định những hoạt động đầu tư ở nước

ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và những hoạt động thuộc

phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư. Mặt khác, các quy định về

quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, dẫn đến khó

xác định thẩm quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý trong

việc quyết định đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài.

Những hạn chế nêu trên đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn

đối với các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với xu

hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế

giới và trong khu vực. Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, so với một số

nước trong khu vực thì hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính của nước ta vẫn

27

chưa thật sự đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc

nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội

nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải

tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong đó có Luật Đầu tư để thích

ứng với đòi hỏi cao hơn của quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện

cam kết quốc tế về tự do hóa đầu tư. Xuất phát từ những hạn chế trên thì Luật Đầu

tư năm 2014 đã được ban hành để giải quyết các vấn đề trên.

Luật đầu tư năm 2014 quy định các hình thức đầu tư

- Về đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (Khoản 1 Điều 22)

Nhằm xóa bỏ một số hạn chế, phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài

trong việc thành lập doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư, góp phần tạo mặt

bằng pháp lý thống nhất về quyền thực hiện hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định một số nội dung

sau:

Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế phù hợp

với tất cả loại hình tổ chức kinh tế. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư

nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký

đầu tư (Khoản 1 Điều 22).

Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế

trong doanh nghiệp Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước

quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều). Như vậy,

theo các quy định nêu trên, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt

động theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài đã

được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu tư.4

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, cổ phần của doanh

4 Nguồn: http://moj.gov.vn/Pages/home.aspxTrang thông tin điện tử Bộ Tư pháp

nghiệp (Điều 25, Điều 26)

28

Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung quy định về vấn đề này theo hướng

khẳng định quyền của nhà đầu tư trong việc góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ

phần của doanh nghiệp phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở

đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại Luật này. Doanh nghiệp

nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện

thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

về doanh nghiệp.

Luật Đầu tư năm 2014 cũng quy định cụ thể trường hợp phải thực hiện thủ

tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, cụ thể:

- Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức

kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với

nhà đầu tư nước ngoài;

- Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ

chức kinh tế có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 51%, nắm giữ từ 51%

vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP

Luật Đầu tư năm 2014 bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng

PPP phù hợp với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển các

công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27). Theo đó, nhà đầu

tư ký kết Hợp đồng PPP với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng mới

hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng

hoặc cung cấp dịch vụ công.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC

Luật Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu tư năm 2005 về

hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh -BCC. Hợp đồng BCC được ký

kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài

hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký

đầu tư. Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp

29

đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa

thuận.

1.3.3. Vai trò của các hình thức đầu tư

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia. Để thực hiện

và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước s có những chính sách và những bước đi

phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phải trả lời câu

hỏi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế ở đâu và cách thức để huy động những

nguồn lực ấy như thế nào? Thật vậy, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay,

muốn tồn tại và phát triển được mỗi nền kinh tế đều phải phát huy nội lực trong

nước kết hợp với các nguồn lực bên ngoài. Thực tiễn 30 năm đổi mới kinh tế ở Việt

Nam cho thấy, hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài luôn phải song

hành và hoạt động vì mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Đầu tư là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng, nó làm gia tăng của cải

vật chất cho xã hội, không có đầu tư nền kinh tế s khó có thể tăng trưởng và xã hội

s chậm phát triển.

Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định đến cả sự ra đời,

tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra

đời của bất kì cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua

sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và

thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở

vật chất kĩ thuật vừa được tạo tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư.

Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt

động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hỏng. Để duy trì

được sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để

thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu

cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế

cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư. Với mỗi loại hình

đầu tư có vị trí, vai trò khác nhau trong sự phát triển của các doanh nghiệp, mỗi loại

hình lại phù hợp và mang lại hiệu quả khác nhau đối với doanh nghiệp.

30

- Về đầu tư thành lập tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), doanh nghiệp có vị

trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm

trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước

phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và

phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và

tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải

quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo...

- Về mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng các dịch

vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của nước ta trong thời gian hiện nay. Dự án

hợp tác công tư vừa trở thành đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên

môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ cơ

sở hạ tầng tại Việt Nam, vừa mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân.

- Về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế (các

doanh nghiệp) tại Việt Nam góp phần to lớn cho việc tăng vốn vào thị trường kinh

doanh, sản xuất, đưa doanh nghiệp trong nước có khả năng tiếp cận với những

nguồn công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới, góp phần mở rộng thị trường, tăng

cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế và tăng

trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách.

- Về hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) có vai trò vô cùng quan trọng trong

việc giúp các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian và công sức do không phải thành lập

thêm pháp nhân mới mà vẫn đạt được hiệu quả quản lý trong đầu tư.

Đầu tư nước ngoài đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và nhà đầu tư nước

ngoài. Đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam khả năng thu lợi cao

hơn, phân tán được rủi ro.

Đối với Việt Nam hiển nhiên là việc thu hút đầu tư nước ngoài mang lại

nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế. Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay không chỉ

tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà còn được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác như y

tế, giáo dục, khoa học công nghệ, thể dục thể thao...Nỗ lực của Việt Nam trong việc

31

thu hút đầu tư là rất lớn. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến

Luật Đầu tư năm 2014 chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Thứ nhất, đầu tư nước ngoài nói riêng và đầu tư nói chung đã trở thành một

trong những nguồn lực quan trọng góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi

các mục tiêu kinh tế - xã hội và đầu tư cho phát triển;

Thứ hai, đầu tư trong nước và nước ngoài đã góp phần đưa nước ta ra khỏi

cuộc khủng hoảng kinh tế, mang lại cho ta thế và lực trên trường quốc tế;

Thứ ba, đầu tư góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở ra nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới;

Thứ tư, đầu tư nước ngoài giúp cho chúng ta nâng cao năng lực quản lý, tác

phong công nghiệp, trình độ và chất lượng công nghệ cũng được phát triển, có cơ

hội tiếp xúc với nhiều kỹ thuật tiến bộ;

Thứ năm, thu hút đầu tư nước ngoài giúp chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế

với nhiều nước, tích cực hội nhập sâu rộng (Nguyễn Văn Luật 2004, tr19).

32

CHƯƠNG 2.

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU

TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014

2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư

2.1.1. Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một trong những hình thức cơ bản trong

đầu tư kinh doanh nói chung. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 22),

nhà đầu tư có quyền thành lập các loại hình tổ chức kinh tế5. Tổ chức kinh tế là tổ

chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm

các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác

thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Điều này có nghĩa, các nhà đầu tư bao gồm

các nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài6.

Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế được quy định tại Điều 22 Luật

Đầu tư năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 44 Nghị định số

118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn

thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực

hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ chức

khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Cùng với đầu tư theo hợp đồng thì đầu

tư thành lập tổ chức kinh tế là một hình thức đầu tư trực tiếp mà ở đó nhà đầu tư trực

5 Khoản 16, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014 đề cập tới khái niệm “Tổ chức kinh tế”, theo đó là “tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. 6Nội dung trên được tham khảo từ bản thảo Giáo trình Pháp luật Đầu tư do PGS, TS Tăng Văn Nghĩa làm chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này).

tiếp bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia hoạt động quản lý.

33

So sánh với các hình thức đầu tư gián tiếp khác như: Mua cổ phiếu, trái

phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư… thì đầu tư thành lập tổ chức kinh tế s

phức tạp và đòi hỏi nhiều thủ tục đầu tư chặt ch hơn.

Chủ thể được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế bao gồm: Nhà đầu tư trong

nước; Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Nhà đầu tư nước ngoài.

Điều kiện để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế như sau:

* Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà

đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận

đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện:

- Nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư;

- Thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;

- Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ:Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ

không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại

chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy

định của pháp luật về chứng khoán;

+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định

của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

+ Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại nêu trên

thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện

hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

34

Đối với nhà đầu tư trong nước: Nhà đầu tư trong nước khi thành lập tổ chức

kinh tế có thể làm thủ tục đăng ký Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nếu muốn, điều

này không bắt buộc theo Khoản 2 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014. Trường hợp có

nhu cầu cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đối với dự án đầu tư, nhà đầu tư thực

hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư theo Điều 37 của Luật Đầu tư năm

2014.

2.1.2. Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế là một hình thức

đầu tư cơ bản theo Luật Đầu tư năm 2014. Hình thức này thể hiện nhu cầu tất yếu

và con đường đầu tư của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu của họ. Nhà đầu tư

trong nước và nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện đầu tư theo hình thức này

(Điều 24). Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư nước ngoài, khi họ đầu tư theo hình thức

này phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo Điều 25 và Điều 26 Luật Đầu tư7.

Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư năm 2014 quy định:

1. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp

vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức

kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với

nhà đầu tư nước ngoài;

b) Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài,

tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều

lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Khi đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam

theo hình thức này. Trước tiên, nhà đầu tư nước ngoài cần xem xét ngành, nghề

7Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.

kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài dự định góp vốn.

35

Thông tin này được kiểm tra thông qua lộ trình mở cửa của Việt Nam tại biểu cam

kết dịch vụ WTO và các văn bản pháp luật chuyên ngành trong nước. Các vấn đề s

xem xét cụ thể:

- Ngành nghề bị hạn chế nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư, kinh

doanh. Chẳng hạn, ngành hoạt động thăm dò dư luận (mã CPC 86402), các hoạt

động liên quan đến ghi âm, giáo dục phổ thông (CPC 922)… là các ngành mà hiện

nay Việt Nam chưa cam kết cho nhà đầu tư nước ngoài hiện diện thương mại tại

Việt Nam. Do đó, trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có các ngành này thì

doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thay đổi (bỏ) các ngành nghề này trước khi nhà

đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, nếu không nhà

đầu tư nước ngoài s không được chấp thuận đầu tư.

- Ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam bị giới hạn tỷ lệ vốn

góp đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp có giới hạn thì nhà đầu tư nước

ngoài chỉ được được góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong giới hạn cho phép.

Đến nay, đa số ngành nghề đã được gỡ bỏ giới hạn tỷ lệ vốn đầu tư, trừ một số

ngành nghề liên quan đến dịch vụ vận tải, dịch vụ giải trí, dịch vụ nghe nhìn như

sản xuất, phát hành, chiếu phim… Trường hợp không giới hạn hoặc có giới hạn tỷ

lệ vốn góp nhưng nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư, nắm giữ từ 51% vốn điều lệ

của doanh nghiệp Việt Nam thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn,

mua cổ phần, phần vốn góp.

- Ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài. nhà

đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện để được đầu tư theo biểu cam kết dịch vụ

WTO như quốc tịch của nhà đầu tư phải thành viên của WTO đối với một số ngành

như hoạt động kiến trúc, lắp đặt hệ thống,…

Ngoài ra, nếu ngành nghề thuộc danh mục ngành nghề có điều kiện được ban

hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

phải đáp ứng điều kiện trước khi kinh doanh. Chẳng hạn, các ngành nghề liên quan

đến hoạt động bán buôn hàng hóa là ngành nghề có điều kiện đối với nhà đầu tư

36

nước ngoài nên sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, để hoạt

động thì doanh nghiệp phải xin Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa

và hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định

tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP, Thông tư 08/2013/TT-BCT, Công văn số

12933/BCT-KH hướng dẫn về việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần,

phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện hoạt động mua bán hàng

hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp tới mua bán hàng hóa.

Trong trường hợp ngành nghề có điều kiện thì không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn

góp, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần,

phần vốn góp trước khi đầu tư.

Về thủ tục đầu tư đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà

đầu tư

Nhìn chung, đối với trường hợp đầu tư theo thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ

phần phần vốn góp, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam phải thực

hiện ít nhất 2 bước bắt buộc sau tại Cơ quan đăng ký kinh doanh:

Bước 1: Nhà đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn/mua cổ phần/phần vốn góp

tại Sở kế hoạch và đầu tư nơi doanh nghiệp Việt Nam đặt trụ sở.

Bước 2: Sau khi nhà đầu tư nước ngoài được Sở kế hoạch và đầu tư cấp văn

bản chấp thuận góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp thì các bên tiến hành việc góp

vốn, chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp. Doanh nghiệp Việt Nam thực hiện thủ

tục thành lập doanh nghiệp; hoặc thông báo thay đổi cổ đông sáng lập công ty cổ

phần nếu cổ đông sáng lập thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần trong vòng 3 năm

kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; hoặc đăng ký thay đổi

thành viên đối với trường hợp công ty TNHH.

Trong trường hợp thành viên/cổ đông công ty chuyển nhượng vốn góp/cổ

phần dẫn đến việc không đáp ứng số thành viên luật định thì công ty phải thực hiện

thủ tục đăng ký thay đổi loại hình doanh nghiệp. Việc thay đổi đăng ký thay đổi

37

thành viên/thông báo thay đổi cổ đông sáng lập được thực hiện đồng thời với thủ

tục thay đổi loại hình doanh nghiệp.

Trường hợp thành viên, cổ đông chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp/cổ

phần trong công ty là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và công ty

không thuê người này làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nữa thì

đồng thời với thủ tục trên, công ty phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi người đại

diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Luật Đầu tư năm 2014 có nhiều điểm mới để đơn giản hóa thủ tục đầu tư và

khuyến khích đầu tư nước ngoài. Theo đó:

- Các dự án của nhà đầu tư trong nước s không phải thực hiện thủ tục cấp

giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mà chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp là đủ.

- Các dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mà nhà đầu tư

nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ và ngành nghề

đầu tư không có điều kiện s được đối xử như dự án của nhà đầu tư trong nước, tức

không phải xin giấy chứng nhận đầu tư.

- Dự án của doanh nghiệp (FDI) mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài và/hoặc

doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% (dưới 100%) vốn điều lệ hoặc dưới 51% nhưng

ngành nghề đầu tư có điều kiện thì không phải xin Giấy phép đầu tư mà thực hiện

thủ tục đầu tư là đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trước khi đầu tư.

2.1.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

2.1.3.1. Khái ni m về hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC (Business Cooperation Contract) là hợp

đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận,

phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế (Điều 3 khoản 9, Luật Đầu

tư năm 2014). Như vậy có thể hiểu bản chất của hợp đồng BCC là giữa hai hay

nhiều chủ thể có chung một dự án kinh doanh muốn liên kết cùng nhau thực hiện.

38

Tuy nhiên, nếu họ không muốn thành tổ chức kinh tế, thì lúc này họ có thể thành

lập hợp đồng hợp tác kinh doanh dạng BCC để thể hiện sự liên kết đầu tư giữa hai

bên.

Đây là hình thức đầu tư được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia.

Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng

BCC mà không thành lập pháp nhân. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều

phối do các bên thỏa thuận. Hình thức đầu tư này đang ngày càng được nhà đầu tư

trong và ngoài nước lựa chọn khi thực hiện các hoạt động đầu tư bởi chính ưu điểm

như: do không thành lập pháp nhân nên nhà đầu tư thường chủ động, linh hoạt hơn

và ít phụ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự án đầu tư. Tuy nhiên

hình thức này cũng có một số nhược điểm: do không thành lập pháp nhân

nên không có con dấu riêng… và các nhà đầu tư s phải thỏa thuận lựa chọn một

trong con dấu của các nhà đầu tư để phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư

điều này có thể s gây rắc rối và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.

Hợp đồng BCC là một dạng đầu tư trực tiếp rất hiệu quả và được dùng phổ

biến và được quy định tại Điều 28,29 của Luật Đầu tư năm 2014. Hợp đồng hợp tác

kinh doanh BCC là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh

doanh tại Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và kết quả kinh doanh cho mỗi

bên. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng hợp tác kinh doanh bao gồm:

- Là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư trên cơ sở hợp

đồng để thực hiện hoạt động đầu tư nhưng không làm phát sinh việc thành lập một

tổ chức kinh tế - pháp nhân mới;

- Chủ thể tham gia hợp đồng không giới hạn về số lượng, có thể bao gồm các

nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam8.

2.1.3.2. Nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Thứ nhất: tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia

8Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.

hợp đồng hợp tác kinh doanh; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án.

39

Thứ hai: Mục tiêu và phạm vi kinh doanh.

Thứ ba: Đóng góp của các bên hợp doanh, việc phân chia kết quả đầu tư,

kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng.

Thứ tư: Tiến độ thực hiện dự án.

Thứ năm: Thời hạn hợp đồng.

Thứ sáu: Quyền, nghĩa vụ của các bên hợp doanh.

Thứ bảy: Các nguyên tắc tài chính.

Thứ tám: Thể thức sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng.

2.1.3.3. Hình thức của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng BCC phải bằng văn bản trong trường hợp dự án đầu tư bằng hợp

đồng BBC phải làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư. Còn hợp đồng

BCC không phải làm thủ tục đăng đăng ký đầu tư thì có thể được thể hiện dưới hình

thức lời nói hoặc hành vi cụ thể.

2.1.3.4. Vai trò của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh có những vai trò cơ bản như sau:

– Không phải thành lập pháp nhân mới, các bên không phải tiến hành thủ tục

thành lập doanh nghiệp nên nhanh chóng tiến hành hoạt động kinh doanh đặc biệt

với dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

– Giúp các nhà đầu khắc phục được điểm yếu của mình và sử dụng được hầu

hết các lợi thế trong kinh doanh.

– Khi ký hợp đồng BCC các bên độc lập và nhân danh chính mình trong quá

trình hoạt động.

Nội dung quan hệ đầu tư theo Hợp đồng BCC là những thỏa thuận thể hiện

tính “hợp tác kinh doanh”, bao gồm các thỏa thuận bỏ vốn để cùng kinh doanh,

cùng chịu rủi ro, cùng phân chia kết quả kinh doanh. Đây chính là đặc thù của hợp

đồng hợp tác kinh doanh trong sự so sánh với các hợp đồng khác trong thương mại.

40

Dựa vào bản chất pháp lý của Hợp đồng BCC, có thể thấy hợp đồng hợp tác

kinh doanh là hình thức đầu tư dễ tiến hành, thích hợp với các dự án cần triển khai

nhanh, thời hạn đầu tư ngắn. Xét về lợi thế, đầu tư theo hình thức hợp tác kinh

doanh giúp sớm thu được lợi nhuận vì các nhà đầu tư không mất thời gian đầu tư

xây dựng cơ sở sản xuất mới. Do không phải thành lập doanh nghiệp mới để thực

hiện dự án nên thủ tục đầu tư cũng đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chi phí, quy

mô dự án cũng có thể rất linh hoạt. Hiện nay, ở Việt Nam, hình thức hợp đồng hợp

tác kinh doanh được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí,

lĩnh vực bưu chính viễn thông, in ấn, phát hành báo chí với sự tham gia góp vốn của

nhà đầu tư nước ngoài. Kể từ khi được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam, hình

thức này góp phần hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế nước ta.

2.1.4. Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư PPP

Cho đến nay,chưa có một khái niệm chính xác về hình thức hợp tác công tư.

Một cách hiểu chung nhất thì hợp tác công tư hay đối tác công tư (Public – Private

Partnership, viết tắt là PPP) mô tả mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân trong

việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công trong một quốc gia.

Trong đó, Nhà nước bao gồm Chính phủ, cơ quan trực thuộc Chính phủ như Bộ

ngành, thành phố, doanh nghiệp nhà nước. Tư nhân là doanh nghiệp trong nước

hoặc nước ngoài, các nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài (có thể là cá nhân, tổ

chức có chuyên môn về kỹ thuật, tài chính).

Theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015, Đầu tư theo hình thức đối

tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà

nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện quản lý, vận hành

dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.

Hình thức PPP là một thoả thuận hợp tác trên cơ sở hợp đồng giữa khu vực

công và khu vực tư để thực hiện các hoạt động đầu tư thuộc trách nhiệm của khu

vực công trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định trong đó các nguồn

lực, rủi ro, trách nhiệm, lợi ích được chia sẻ giữa hai bên nhằm đạt được mục tiêu

chung.

41

Như vậy, đúng như tên gọi, nguyên lý của PPP là sự hợp tác giữa chính

quyền và các đối tác tư nhân để thiết kế, tài trợ xây dựng, quản lý, khai thác hoặc

bảo tồn một dự án công ích. PPP đòi hỏi phải có sự chia sẻ trách nhiệm, sở hữu và

lợi ích giữa nhà nước và khu vực tư nhân, với nhiều cách thức hợp tác trong nhiều

lĩnh vực liên quan tới độc quyền tự nhiên như: cấp nước sạch, thoát nước và xử lý

nước thải, giao thông, viễn thông, năng lượng và cả một số lĩnh vực liên quan đến

giáo dục và đào tạo.

Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có luật riêng về PPP mà chỉ được quy định

tại Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về hình thức đầu

tư đối tác công tư, tuy nhiên đây là lĩnh vực được nhà nước quan tâm, định hướng

thúc đẩy trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và hội nhập quốc tế.

Sau một thời gian thực hiện theo phương thức vừa học vừa làm đối với các

dự án PPP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015

về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày

17/03/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà

đầu tư đã có hiệu lực. Nghị định 15/2015/NĐ-CP được xem là một quy định tương

đối toàn diện thay thế cho các quy định pháp lý hiện hành đưa ra một khuôn khổ

pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân vào các dự án

hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam.

Một trong những khác biệt lớn giữa Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày

14/02/2015 với các quy định trước đó về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT,

BTO và BT, là việc đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực đầu tư dành cho PPP, không

chỉ hạn chế trong hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, mà

còn trong các lĩnh vực như:

- Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan;

- Hệ thống chiếu sáng, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, hệ

thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nghĩa

trang;

42

- Nhà máy điện, hệ thống truyền tải điện;

- Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể

thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;

- Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng

thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông

tin tập trung, ứng dụng công nghệ thông tin;

- Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển

liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;

- Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 cũng đã quy định các hình

thức hợp đồng đầu tư dự án như BOT, BTO và BT là hình thức PPP, (trước đó được

quy định tại các văn bản khác nhau, thậm chí được coi là những hình thức đầu tư

riêng biệt so với hình thức PPP đang trong giai đoạn thí điểm), chịu sự điều chỉnh

thống nhất của cùng một luật định, từ Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.

Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, trên thực tế các loại dự án PPP ở Việt

Nam bao gồm:

Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT): Là hợp đồng mà theo

đó, đối tác tư nhân s bỏ vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng mới của dự

án, đối tác tư nhân s sở hữu toàn bộ tài sản trong thời gian vận hành dự án. Đến

cuối thời hạn của hợp đồng, quyền sở hữu tài sản s được chuyển giao toàn bộ cho

Nhà nước. Theo hợp đồng này, đối tác tư nhân phải gánh chịu mức độ rủi ro cao vì

phải bỏ vốn đầu tư ban đầu. Tuy nhiên, để giảm thiểu rủi ro và gánh nặng nợ cho

đối tác tư nhân thì Chính phủ s mua sản lượng đầu ra (lớn hơn hoặc bằng sản

lượng hòa vốn) để bù đắp chi phí tối thiểu. Hợp đồng này thường được áp dụng

trong lĩnh vực xây dựng cầu đường, công trình thủy lợi….

Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - kinh doanh (BTO) là hợp đồng được ký

kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết

cấu hạ tầng, sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà

43

nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn

nhất định.

Hợp đồng Xây dựng chuyển giao (BT) là hợp đồng dược ký kết giữa cơ quan

nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà đầu tư

chuyển giao công trình đó cho nhà nước có thẩm quyền và được thành toán bằng

quỹ đất để thực hiện dự án.

Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) đây là hình thức đầu tư

mới được quy định trong Luật Đầu tư và là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà

nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi hoàn thành

công trình nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một

thời gian nhất định.

Ngoài ra còn có các loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ

(BTL) và Kinh doanh - Quản lý (O&M).

Trước khi có Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/20159, trên thực tế

Việt Nam đã có khá nhiều dự án áp dụng một số hình thức của PPP như: Mô hình

xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT); Mô hình xây dựng - chuyển giao - vận

hành (BTO) và mô hình xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO). Trong đó, mô hình

BOT được áp dụng khá phổ biến tại ngành giao thông đường bộ, xây dựng cơ sở hạ

tầng, xây lắp điện…

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32

dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ

USD. Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu. Hai lĩnh vực đầu tư chiếm tỷ

trọng lớn nhất là điện và viễn thông. Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự

án thực hiện theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như:

BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ

9Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư.

và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO.

44

Trong giai đoạn trước khi có Luật Đầu năm 2005, theo thống kê của Cục đầu

tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2010 tổng số dự án cấp mới được

đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT,

BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng dự án cấp

mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án,

chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư. Có rất nhiều dự án áp

dụng mô hình BOT đã đem lại hiệu quả đáng khích lệ, đáp ứng mục tiêu đầu tư và

giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước. Đặc biệt, các công trình giao thông trọng

yếu và có vốn đầu tư lớn, như mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa – Cần Thơ, với

chiều dài 1.319km thì có 606 km áp dụng hình thức BOT (chiếm gần 50%); Ngành

Điện cũng là ngành có vốn đầu tư lớn được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chẳng hạn

như mới đây Tập đoàn Toyo Ink (Malaysia) và Tổng cục Năng lượng đã ký biên

bản phát triển Dự án BOT Nhiệt điện sông Hậu 2 với công suất dự kiến 2.000 MW,

tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 3,5 tỷ USD, được xây dựng tại huyện Châu Thành,

Hậu Giang. Ngoài ra, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện

có khoảng 500 hệ thống cấp nước sạch nông thôn trong khuôn khổ hợp tác PPP, cấp

nước cho hơn 500.000 người dân. Bên cạnh đó, số lượng, quy mô và vốn đầu tư tại

các dự án của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng lên, điển hình như tỉnh Hà Nam

có 11 doanh nghiệp, Thái Bình có 17 doanh nghiệp đăng ký đầu tư với tổng số vốn 1.085 tỷ đồng10

Trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, nhu cầu về vốn đầu tư của Việt

Nam đến năm 2020 là rất lớn, trung bình hàng năm cần nguồn vốn đầu tư trên

117.000 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 7,4 tỷ USD. Nhu cầu là lớn như vậy, nhưng khả năng

đáp ứng của các nguồn vốn hiện có cho đầu tư hạ tầng GTVT(giao thông vận tải)

như: Ngân sách, ODA, trái phiếu chính phủ… chỉ đáp ứng khoảng 20 – 30% nhu

cầu. Đó là chưa kể các nguồn phát sinh cho chi phí vận hành, bảo trì hằng năm…

10http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/khung-chinh-sach-cho-mo-hinh-hop-tac-

cong-tu-o-viet-nam-54404.html

Trong tương lai gần, với những thay đổi không ngừng trong cơ cấu kinh tế, bao

45

gồm cả quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hội nhập toàn cầu, nhu cầu về các

dịch vụ cơ sở hạ tầng tại các lĩnh vực trọng yếu như giao thông vận tải ở Việt Nam

s tăng mạnh…

Theo ước tính của Bộ GTVT thì tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu

hạ tầng giao thông Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 là khoảng 1.015.000 tỷ đồng

(khoảng 48 tỷ USD). Trong đó, vốn đầu tư phân theo các lĩnh vực lần lượt là:

Đường bộ khoảng 651.000 tỷ đồng, đường sắt khoảng 119.000 tỷ đồng, hàng không

khoảng 101.000 tỷ đồng, hàng hải 68.000 tỷ đồng và đường thủy nội địa hơn 33.000

tỷ đồng.

Trong khi đó, khả năng đáp ứng nhu cầu từ nguồn ngân sách dự kiến của Bộ

GTVT khoảng 28%; còn theo hướng dẫn xây dựng Kế hoạch đầu tư công giai đoạn

2016 - 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) thì khả năng ngân sách đáp ứng

chỉ khoảng 7% nhu cầu (66 nghìn tỷ đồng). Như vậy, theo ước tính của Bộ GTVT,

khoảng hơn 300.000 tỷ đồng (14 tỷ USD) s phải huy động từ nguồn ngoài ngân

sách, đặc biệt là vốn đầu tư từ nước ngoài theo cơ chế PPP.

Theo thông tin của Vụ Đầu tư, Bộ Tài chính (tháng 12/2016) nhu cầu đầu tư

của Việt Nam trong thời gian tới là khá lớn, giai đoạn 2016 -2020 vào khoảng 480

tỷ USD. Trong đó, đầu tư vào 11 dự án nhà máy điện theo hình thức BOT, với công

suất 13.200 MW, số vốn đầu tư khoảng 40 tỷ USD; khoảng 1.380 km đường bộ cao

tốc với khoảng 11 tỷ USD; các dự án về môi trường, y tế, giáo dục khoảng 29 tỷ

USD.

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã có sự tăng trưởng

cao so với các nước trong cùng khu vực, thu nhập bình quân đầu người tăng lên…

điều đó đồng nghĩa nguồn vốn vay ưu đãi ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng, giao

thông s giảm đi. Rõ ràng thúc đẩy PPP trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và

trong lĩnh vực hạ tầng giao thông là hết sức quan trọng.

46

2.2. Đánh giá các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

2.2.1. Những ưu điểm

2.2.1.1. Đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014 kết hợp với Luật doanh nghiệp năm

2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã tiếp tục hoàn thiện các quy định về cải cách

các thủ tục thành lập doanh nghiệp có nhiều điểm mới, tiến bộ.

Điểm mới của Luật Đầu tư 2014 so với Luật đầu tư 2005 là trước khi thành

lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục

cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở hữu

vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viên. Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn

điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp hạn chế theo quy

định của pháp luật về chứng khoán, về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên11.

Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành về đăng ký thành lập doanh nghiệp

nhìn chung về cơ bản là đã kịp thời, khá đầy đủ và có nội dung phù hợp tạo điều

kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình gia nhập thị trường. Điều này góp

phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp cho nhà đầu

tư nói riêng và hệ thống pháp luật doanh nghiệp nói chung.

2.2.1.2. Đối với hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào

tổ chức kinh tế

Theo quy định, hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua

cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư. Nhà đầu

tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ

chức kinh tế thực hiện theo quy định về: Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn,

11Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau-tu-2014/.

mua cổ phần, phần vốn góp.

47

Luật Đầu tư năm 2014 sử dụng khái niệm “Đầu tư kinh doanh” (Khoản 5,

Điều 3) để thay thế hai khái niệm trước đây là “Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp”

(Khoản 2, 3, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2005). Việc phân tách giữa hai định nghĩa

này trên thực tế gây ảnh hưởng tới sự tự do kinh doanh của các nhà đầu tư. Trong

nhiều trường hợp, một nhà đầu tư có thể vừa góp vốn quản lý, vừa có thể mua cổ

phiếu, chứng chỉ quỹ từ trung tâm chứng khoán, khi đó việc phân chia này làm cho

việc quản lý, sở hữu của họ trở nên phức tạp khi phải tách bạch giữa đầu tư gián

tiếp, đầu tư trực tiếp mặc dù đây chỉ là cách thức đầu tư của nhà đầu tư để kiếm lợi

nhuận.

Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp giúp nhà đầu tư

nước ngoài dễ dàng tham gia vào thị trường Việt Nam. Với hình thức này, nhà đầu

tư nước ngoài không phải thành lập tổ chức kinh tế mà s trở thành thành viên, cổ

đông của một tổ chức kinh tế khi thực hiện mua cổ phần, mua vốn góp hoặc góp

vốn vào một tổ chức kinh tế đang hoạt động. Ngoài ra, hình thức đầu tư này giúp

doanh nghiệp nước ngoài có thể tiếp cận với một số ngành nghề đòi hỏi điều kiện

nghiêm ngặt.

2.2.1.3. Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC

So với Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định chi tiết về

điều kiện, thủ tục đầu tư, các nội dung chủ yếu của hợp đồng BCC.

Hợp đồng BCC không yêu cầu phải thành lập pháp nhân được xem là ưu

điểm nổi bật đối với các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư nước ngoài nói

riêng. Nhà đầu tư và đối tác có thể thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ thông

qua hợp đồng với tư cách là nhà đầu tư độc lập mà không bị ràng buộc bởi một

pháp nhân chung.

Nhà đầu tư s tiết kiệm được thời gian, chi phí cho việc thành lập và vận

hành một pháp nhân mới, không phải phụ thuộc vào quyết định của đối tác khi nhà

đầu tư muốn chuyển nhượng hoặc bán đi phần của mình trong một số trường hợp cụ

thể. Thêm vào đó, khi dự án kết thúc, nhà đầu tư cũng không phải lo lắng về vấn đề

giải thể.

48

Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC cũng là một trong những lựa chọn tối

ưu cho các nhà đầu tư nước ngoài khi có ý định đầu tư vào một thị trường mới

nhưng vẫn nhanh chóng tiếp cận được thông tin dưới sự am hiểu về thị trường thông

qua những đối tác trong nước. Đồng thời, nhà đầu tư trong nước cũng được đối tác

hỗ trợ về vốn, công nghệ hiện đại trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay phát

triển dự án đầu tư. Hình thức đầu tư này phù hợp với các dự án đầu tư ngắn hạn và

tiến độ thực hiện nhanh. Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có nhiều ưu điểm,

như:

Thứ nhất, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có thể giúp các nhà đầu tư

tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và tiền bạc do không phải thành lập tổ

chức kinh tế.

Thứ hai, với hình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những

thiếu sót, yếu điểm của nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các nhà đâu tư

bằng sự am hiểu về thị trường quen thuộc của mình và những thị trường mà bên đối

tác chưa nắm rõ có thể giúp đỡ nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường, ngoài ra có

thể chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hiện đại, hướng dẫn về mô hình tổ chức quản

lý… Để hai bên cùng hoạt động hiệu quả, cùng đạt được lợi ích mà mình mong

muốn.

Thứ ba, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách

pháp lý độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tư

cách pháp lý độc lập giúp các bên không phụ thuộc vào nhau, tạo sự linh hoạt chủ

động trong hoạt động kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, không ràng buộc.

2.2.1.4. Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng PPP

Như đã đề cập, Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung hình thức đầu tư theo hợp

đồng đối tác công tư (hợp đồng PPP). Theo đó, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án s

ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu

tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình

kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế đây chỉ là việc gom

những hợp đồng trên thành một trong những hình thức của hợp đồng PPP. Theo quy

49

định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về

đầu tư theo hình thức hợp tác công tư thì hợp đồng dự án trong đầu tư bao gồm hợp

đồng quy định tại khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 3 và các hợp đồng tương tự khác

theo quy định tại khoản 3 Điều 32 của Nghị định này. Các dạng hợp đồng PPP bao

gồm BOT, BTO, BT và bổ sung thêm các dạng hợp đồng mới bao gồm BOO, BTL,

BLT, O&M. Điều này đã tạo ra sự lựa chọn đa dạng và khuyến khích các nhà đầu tư

mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt là dịch vụ công, giao thông hoặc phục vụ

phát triển cơ sở hạ tầng.

Báo cáo đánh giá công tác đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, Bộ Giao thông

Vận tải, giai đoạn 2011 - 2015, Bộ GTVT đã huy động được khoảng 186.660 tỷ

đồng để đầu tư 62 dự án theo hình thức hợp đồng BOT và BT. Đã hoàn thành đưa

vào vận hành khai thác 26 dự án với TMĐT (tổng mức đầu tư) 74.806 tỷ đồng.

Đang triển khai đầu tư 36 dự án với TMĐT 111.854 tỷ đồng. Lĩnh vực cảng biển là

một trong những lĩnh vực thu hút vốn đầu tư tư nhân khá sớm và khá thành công

theo hình thức doanh nghiệp đầu tư trực tiếp.

Ngoài những dự án hạ tầng giao thông do Bộ GTVT quản lý, có nhiều dự án

hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do các địa phương quản lý. Tổng

mức đầu tư của các dự án này là rất lớn so với tỷ lệ vốn huy động của các dự án đầu

tư công nói chung, cũng như những dự án hạ tầng giao thông nói riêng. Đơn cử như

theo thống kê số dự án hoạt động đầu tư theo hình thức PPP nói chung (bao gồm cả

các dự án hạ tầng giao thông) trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh tuy

chỉ chiếm tỷ lệ 5% so với số dự án đầu tư công nhưng nguồn vốn huy động của các

dự án PPP tại Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị gấp 5 lần nguồn lực của đầu tư

công. Đây có thể coi là những thành công bước đầu khi huy động được nguồn lực

(vốn, kinh nghiệm quản lý…) của khu vực tư nhân vào phát triển các dịch vụ công

nói chung, cũng như đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông nói riêng.

50

2.2.2. Những vấn đề đặt ra khi áp dụng các hình thức đầu tư theo Luật

Đầu tư năm 2014

2.2.2.1. Về các hình thức đầu tư

Hình thức đầu tư theo quy định của Việt Nam có sự khác biệt với một số quy

định của thế giới. Theo Luật Đầu tư năm 2014, các hình thức đầu tư bao gồm thành

lập tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp vào

tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng (PPP, BCC). Trong khi đó, các tổ

chức quốc tế sử dụng hình thức đầu tư mới và M&A(mergers and acquisitions -

Mua bán và sát nhập), đầu tư ra và đầu tư vào hay đầu tư chiều ngang, đầu tư chiều

dọc. Do đó, khả năng hiểu FDI có sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước. Luật

pháp quy định mang tính khái quát cao cho nên cần có văn bản hướng dẫn và dễ dẫn

đến cách giải thích khác nhau. Điều này dẫn đến một số khó khăn như:

- Hình thức đầu tư không phản ánh hết bản chất và không bao trùm hết phạm

vi nội hàm khái niệm đầu tư;

- Tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp đầu tư hoặc mâu thuẫn giữa tranh chấp đầu tư

với các tranh chấp khác mang đặc điểm hay bản chất đầu tư.;

- Hình thành tính khác biệt của đầu tư so với giao dịch khác dẫn đến cách

ứng xử thiếu thống nhất;

- Khó hội nhập hiệu quả ít nhất về tính chất pháp lý hình thức và bản chất

pháp trị của thể chế kinh tế thị trường;

Những khó khăn, tranh chấp, vướng mắc khi thực hiện thủ tục đăng ký thành

lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như:

+ Xác định ngành nghề kinh doanh: Đối với một tổ chức kinh tế có nhà đầu

tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp muốn bổ

sung một ngành nghề kinh doanh mà Việt Nam chưa cam kết theo các điều ước

quốc tế và pháp luật Việt Nam chưa có quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu

tư nước ngoài, thì trình tự, thủ tục đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh chưa

được giải quyết. Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành dường

51

như chưa dự liệu được tình huống này, do đó chưa có các quy định hướng dẫn cụ

thể, gây cản trở cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

+ Vấn đề giải trình đáp ứng các điều kiện đầu tư. Luật đầu tư quy định chỉ

thẩm định dự án đầu tư ở cấp bộ, song thực tế tại một số điện phương, dù bộ đã

chấp thuận nhưng khi về đến địa phương thì có thêm khâu hỏi ý kiến của các sở và

thường các sở yêu cầu giải trình thêm. Việc này s gây thêm khó khăn cho nhà đầu

tư.

+ Về vấn đề địa điểm thực hiện dự án đầu tư. Thực tế hiện nay có rất nhiều

Tòa nhà khi xây dựng xong nhưng chưa hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận

Quyền sở hữu công trình. Khi Nhà đầu tư tiến hành thuê thường không biết việc này

vì bên cho thuê cam kết s được chấp nhận của cơ quan Nhà nước hoặc s hỗ trợ tối

đa. Song thực tế đòi hỏi quá nhiều giấy tờ mà gần như không thể đáp ứng.Từ đó dẫn

đến tất cả hồ sơ hoàn chỉnh, duy nhất có địa điểm trụ sở không thể đáp ứng và

không được cấp phép.

+ Về vấn đề tiến trình thực hiện góp vốn: Có rất nhiều trường hợp do chậm

tiến độ góp vốn vì lý do khách quan nhưng để được góp vốn sau khi phát hiện ra là

quá hạn thì rất khó thực hiện. Sau đó, Sở kế hoạch và đầu tư buộc phải tiến hành

thanh tra, phạt vi phạm rồi điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư liên quan đến

thời hạn góp vốn mới được chuyển vốn. Trong khi đó, UBND luôn kêu gọi nguồn

vốn nước ngoài nhưng cách triển khai thì gần như ngăn chặn.

2.2.2.2. Về thủ tục đăng ký đầu tư

Theo số liệu của hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài, trong 10 tháng đầu

năm 2016, cả nước có 2.061 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng

vốn đăng ký là 12,265 tỷ USD, bằng 98,7% so với cùng kỳ năm 2015. Những con

số này đã mình chứng cho những tác động tích cực của luật đầu tư đến môi trường

kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, Luật Đầu tư năm 2014 vẫn còn

nhiều nội dung còn bất cập, chồng chéo, đòi hỏi phải được sửa đổi. Mà bất cập nổi

cộm nhất có thể nói đến là quy định giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư.

52

Theo quy định giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư thì đối với dự án được cấp

giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư phải

đề xuất bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư khi giãn tiến độ thực hiện các

mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư và tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá

24 tháng, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng.

Tuy nhiên, quy định nêu trên lại không được hướng dẫn chi tiết trong các văn

bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2014, dẫn tới việc áp dụng

không thống nhất tại các địa phương. Theo đó, nhiều cơ quan quản lý về đầu tư chỉ

cho phép nhà đầu tư thực hiện 1 lần giãn tiến độ với tổng thời gian không quá 24

tháng; có nơi lại cho phép nhà đầu tư thực hiện 2 đến 3 lần (thậm chí nhiều hơn 3

lần) giãn tiến độ với tổng thời gian không quá 24 tháng.

Ngoài ra, việc áp dụng một mức tổng thời gian giãn tiến độ thực hiện dự án

đầu tư cho tất cả các dự án đầu tư cũng gây bất lợi cho các nhà đầu tư, nhất là các

nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn. Thực tế cho thấy công

tác bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng… của nhiều dự án đầu tư quy mô

lớn thường kéo dài, dẫn tới tiến độ thực hiện dự án đầu tư cũng bị chậm lại, không

đúng với tiến độ thực hiện dự án mà các nhà đầu tư đã cam kết khi thực hiện thủ tục

đăng ký đầu tư. Hệ quả là nhiều nhà đầu tư dù chưa hoàn thành công tác bồi thường,

thu hồi đất, giải phóng mặt bằng… đã phải xin gia hạn tiến độ thực hiện dự án đầu

tư.

Luật Đầu tư năm 2014 được đánh giá là đột phá khi rút ngắn thời gian cấp

giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cụ thể, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu

tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là 5 ngày làm việc

kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; còn đối với các dự án

khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ. Tuy nhiên,

trên thực tế, rất ít trường hợp nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

đúng thời hạn rút ngắn theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014.

Hơn nữa, đối với những dự án đầu tư trong lĩnh vực có điều kiện thì ngoài

giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được cấp, nhà đầu tư cần đáp ứng được các điều

53

kiện kinh doanh trước khi đi vào hoạt động. Do đó, việc rút ngắn thời gian cấp giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 s không mang tính “đột

phá” trên thực tế nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành không được sửa đổi

tương ứng và được áp dụng đồng bộ. Nếu không, nhà đầu tư s rơi vào tình trạng

“đầu xuôi” nhanh nhưng “đuôi lọt” chậm.

Có thể nói, đến thời điểm này các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư

đã cơ bản đầy đủ. Nhưng vấn đề vướng mắc ở đây là “luật mới nhưng tư duy cũ”.

Ví dụ là vẫn có cơ quan quản lý đầu tư gửi công văn xin ý kiến của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư về ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà nhà đầu tư nước ngoài đăng ký

hoạt động do ngành nghề kinh doanh này chưa có trong biểu cam kết WTO, trong

khi ngành nghề kinh doanh này đã được quy định theo pháp luật chuyên ngành

trong nước.

Ngoài ra, chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đối với trường hợp bổ

sung ngành nghề kinh doanh của các tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài đầu

tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, mà ngành nghề kinh doanh

dự kiến bổ sung đó thuộc trường hợp phải xin ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 118/NĐ-CP ngày

12/11/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014.

2.2.2.3. Về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế

Cụ thể, theo quy định tại Điều 46, Nghị định 118/CP và Điều 26 Luật Đầu tư

năm 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần,

phần vốn góp trong tổ chức kinh tế trong nước không phải thực hiện thủ tục để

được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cùng với đó, Nghị định 139/2007/NĐ-

CP hướng dẫn một số điều của Luật Doanh nghiệp (2004) cũng quy định là trường

hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không

quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của

Luật Doanh nghiệp và Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ – tức giống như

đối với dự án đầu tư trong nước. Người nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam phải

có dự án được duyệt và được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới được phép

54

hoạt động. Nhưng công ty nước ngoài được hình thành bằng cách góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp của các Công ty trong nước nên họ cũng giống như các công ty

trong nước và trở thành chủ sở hữu các dự án sử dụng đất mà không phải qua thẩm

định của các cơ quan hữu quan và không phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký

đầu tư.

2.3.2.4. Về hợp đồng BCC

Dù có nhiều ưu điểm, tuy nhiên việc không thành lập pháp nhân cũng là

hạn chế đối với hình thức đầu tư này. Việc thực hiện những hợp đồng, giao

dịch bên lề nhằm phục vụ cho Hợp đồng BCC cũng s gây phân vân cho bên

thứ ba khi không tồn tại một đại diện – một công ty liên doanh giữa các nhà

đầu tư.

Thứ nhất, chính vì không thành lập một doanh nghiệp mới, do đó dự án

đầu tư s gặp khó khăn khi thực hiện các hợp đồng phục vụ cho hợp đồng hợp

tác kinh doanh. Cũng chính vì không có một doanh nghiệp liên doanh mới ra

đời giữa các nhà đầu tư, do đó, s không có con dấu riêng, và đương nhiên, các

nhà đầu tư s phải thỏa thuận lựa chọn một trong con dấu của các nhà đầu tư để

phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư. Việc không phải thành lập pháp

nhân mới trong nhiều trường hợp nếu các nhà đầu tư không nghiên cứu kỹ, lựa

chọn sai hình thức đầu tư thì nó lại trở thành một hạn chế rất lớn, gây ra nhiều

rủi ro mà các nhà đầu tư không lường trước được.

Ngoài ra, nếu thành lập một pháp nhân mới thì quyền quản lý pháp nhân

mới đó s được phân chia theo tỷ lệ số vốn góp do các nhà đầu tư bỏ ra. Nhưng

vì không có doanh nghiệp mới ra đời, do đó, quyền quản lý dự án đầu tư s

được chia đều cho tất cả các nhà đầu tư, như vậy s có lợi cho các nhà đầu tư

bỏ ra ít vốn hơn nhưng lại không công bằng với các nhà đầu tư bỏ nhiều vốn

hơn.

Thứ hai, đầu tư theo hợp đồng BCC s khó thu hút đầu tư đối với những

lĩnh vực còn khó khăn và cần phát triển lâu dài, chỉ thực hiện được đối với một

số lĩnh vực dễ sinh lợi và sinh hoạt nhanh. Đầu tư theo hợp đồng BCC thường

55

được áp dụng để thực hiện một số dự án cụ thể, nên việc quản lý, kinh doanh

đối với dự án lâu dài s không phù hợp khi lựa chọn hình thức đầu tư theo hợp

đồng BCC.

Thứ ba, pháp luật chưa có các quy định cụ thể về trách nhiệm của các

bên và bên thứ ba khi một bên giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong quá trình

thực hiện hợp đồng BCC.

Thứ tư, nhiều điều khoản quan trọng của hợp đồng hợp tác kinh doanh

cần thông qua Đại hội cổ đông hoặc ít nhất là Hội đồng quản trị của các bên, do

vậy có thể phải tiến hành một đại hội cổ đông bất thường để thông qua nội

dung của hợp đồng. Việc thương lượng phân chia tỷ lệ góp vốn đồng nghĩa với

tỷ lệ lợi nhuận được hưởng s kéo dài vì bên nào cũng muốn có nhiều quyền

lợi. Nên việc ký hợp đồng có thể bị chậm hơn dự kiến. Việc phê duyệt dự án

phải có tất cả các bên góp vốn (hợp doanh) cùng phê duyệt cũng là một trở ngại

gây chậm quá trình thực hiện dự án.

2.3.2.5. Về hợp đồng PPP

Một trong những vấn đề phức tạp nhất của các dự án đầu tư theo hình

thức hợp đồng đối tác công - tư (PPP) là rủi ro và chia sẻ rủi ro. Rủi ro có

nhiều loại không chỉ rủi ro về chính sách, thể chế, chính trị tỷ giá hối đoái, rủi

ro trong quá trình xây dựng. Các dự án PPP trong giao thông và xây dựng cơ sở

hạ tầng về cơ bản là rất phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên, tính rủi ro cao,

thời gian kéo dài, chi phí lớn…Vì vậy, việc các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư

dự án PPP hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp đó có khả

năng đánh giá hiệu quả đầu tư, dự báo các rủi ro trong quá trình thực hiện dự

án để tối ưu hóa quản lý rủi ro, giảm thiểu rủi ro.

Nghiên cứu về tình hình triển khai dự án PPP tại Việt Nam và các nước

trong khu vực Đông Nam Á, một số chuyên gia của OECD cho biết, thực tế cho

thấy, nhà đầu tư tư nhân vẫn chưa thực sự mặn mà với dự án PPP. Nguyên nhân

là do có độ rủi ro cao, sự thay đổi về chính sách, pháp luật…

56

Ngoài ra, nếu thực hiện đầu tư các tuyến đường cao tốc bằng hình thức

BOT thì nhà đầu tư cũng s đối diện với nhiều yếu tố rủi ro như: chi phí đầu tư

xây dựng cao, mức độ tăng trưởng lưu lượng giao thông không ổn định (một

phần do mức phí giao thông trên các tuyến đường cao tốc hiện nay tương đối

cao, các phương tiện lưu thông có thể phải cân nhắc khi lựa chọn lộ trình lưu

thông) dẫn đến thời gian thu phí hoàn vốn kéo dài, hoặc không có khả năng thu

hồi vốn...Với các dự án BT, hiện nay, phương án hoàn vốn đầu tư thông qua

việc trả bằng tiền ngân sách nhà nước không còn được phép áp dụng; chỉ được

áp dụng hình thức hoàn vốn thông qua việc hoàn trả bằng quyền sử dụng đất để

thực hiện dự án khác.

Khó khăn lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án: Không chỉ về vấn đề

hoàn vốn, công tác lựa chọn nhà đầu tư cũng gặp phải một số khó khăn đối với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đó là phải bố trí nguồn vốn để lập dự án đầu

tư, lập hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư, chi phí tổ chức lựa chọn nhà đầu

tư… Bên cạnh đó, hiện nay công tác lập hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư

cũng chưa có hướng dẫn và quy định cụ thể về các tiêu chí để lựa chọn nhà đầu

tư phù hợp về năng lực, kinh nghiệm cũng như có nhiều thế mạnh đặc thù đối

với tính chất của mỗi dự án… Do đó, trên thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm

quyền cũng đang lúng túng trong việc xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu

tư khi lập hồ sơ mời thầu.

Hiện nay, khi xem xét năng lực tài chính để lựa chọn nhà đầu tư thực

hiện dự án, cơ quan quản lý nhà nước thường xem xét việc đáp ứng nguồn vốn

chủ sở hữu của nhà đầu tư, trong đó thực hiện việc đối chiếu, so sánh tổng

nguồn vốn chủ sở hữu mà nhà đầu tư đang có (thể hiện trên báo cáo tài chính

đã được kiểm toán) phải đáp ứng nguồn vốn chủ sở hữu được phân bổ vào các

dự án đang và s triển khai thực hiện. Tuy nhiên, các nhà đầu tư thường chỉ

chuẩn bị nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng thực hiện các dự án đang triển khai,

rất ít nhà đầu tư chuẩn bị sẵn nguồn vốn chủ sở hữu “để chờ” được thực hiện

đầu tư các dự án tiếp theo. Việc chứng minh vốn chủ sở hữu do vậy gặp rất

nhiều trở ngại.

57

Ngoài ra, thẩm quyền thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định và phê

duyệt đối với các bước thực hiện dự án có nhiều thay đổi và chưa được quy

định thật sự rõ ràng. Do đó cũng gây ra một số khó khăn, lúng túng trong việc

tổ chức thực hiện của các nhà đầu tư cũng như cơ quan nhà nước có thẩm

quyền, đặc biệt đối với các dự án có thời gian thực hiện kéo dài, dự án phải xử

lý chuyển tiếp…

Ngoài ra, quy định về công tác giám sát nhà nước đối với các dự án BT,

BOT đã được đề cập tại Điều 47 và Điều 48 của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP,

tuy nhiên vẫn chưa rõ ràng và cụ thể, dễ gây trùng lặp với công tác giám sát

chất lượng công trình (do đơn vị tư vấn giám sát của nhà đầu tư thực hiện). Bên

cạnh đó, định mức chi phí tổ chức thực hiện công tác giám sát nhà nước chưa

được ban hành, gây khó khăn khi tổ chức thực hiện.

Thu hút đầu tư nước ngoài dưới hình thức PPP còn thấp, kém hiệu quả:

trong thời gian qua mô hình PPP đã thu hút được một số các nhà đầu tư lớn

quan tâm tìm hiểu, song các ưu đãi, thỏa thuận giá đầu vào, lợi ích các bên

chưa được làm rõ, mục tiêu dự án còn chung chung dẫn đến khó triển khai dự

án… Chính vì vậy, tỷ lệ các nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu rồi rời bỏ là khá

cao như: Dự án nước sạch tại TP Hồ Chí Minh do nhà đầu tư Malaysia hay dự

án nhiệt điện từ than cám của nhà đầu tư Mỹ. Hay như dự án phát triển điện

gió. Trong khi giá thành mỗi kw/h của điện gió vào khoảng 13 cent thì Chính

phủ chỉ chấp nhận mua của các nhà đầu tư là 7 cent, cùng lắm cộng thêm 1 cent

thành 8 cent….. Trong giai đoạn tới đây khi Việt Nam tham gia vào Cộng đồng

kinh tế ASEAN và các Hiệp định tự do hóa thương mại thế hệ mới như EVFTA

và CPTPP, đang mở ra những triển vọng cho việc thúc đẩy PPP có sự tham gia

của các nhà đầu tư nước ngoài.

Việc huy động vốn cho các dự án PPP gặp nhiều khó khăn: Các nhà đầu

tư tham gia các dự án giao thông chủ yếu là các nhà đầu tư trong nước có năng

lực tài chính chưa mạnh, vay vốn chủ yếu trong nước nên có chỉ số tín nhiệm

thấp. Trong khi đó, để thực hiện các dự án đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng giao

thông đòi hỏi phải có nguồn vốn dài hạn bởi thời gian thu hồi vốn của các dự

58

án này thường dài hơn so với các dự án khác. Do vậy, đây là một khó khăn

không nhỏ đối với các nhà đầu tư tư nhân.

Việc huy động vốn dài hạn đang là một thách thức đối với nhà đầu tư

trong nước và cả ngân sách nhà nước. Để có nguồn vốn dài hạn, trong điều kiện

thị trường chứng khoán chưa phát triển, các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu phải

vay vốn của các ngân hàng thương mại, song thực tế ngân hàng thương mại

Việt Nam lại rất hạn chế đối với những khoản vay dài hạn này, đặc biệt trong

giai đoạn chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng. Nếu có ngân hàng đều đòi

hỏi điều kiện đảm bảo khoản vay rất chặt ch như bảo lãnh Chính phủ. Tuy

nhiên hiện nay theo quy định của Chính phủ, Nhà nước không bảo lãnh các

khoản vay thương mại trong nước của doanh nghiệp. Kênh huy động vốn dài

hạn đặc biệt dành cho các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng giao thông

vẫn còn hạn chế.

Các quy định về đầu tư theo hình thức PPP chưa hoàn thiện, tính pháp lý

chưa cao. Hình thức đầu tư hợp đồng BOT còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn dẫn

đến các quy định pháp luật chưa bao quát được đầy đủ các tình huống phát sinh

trong quá trình thực hiện. Các cơ quan quản lý nhà nước còn thiếu kinh nghiệm

quản lý, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thực sự hiệu quả. Các Bộ,

ngành và địa phương chưa thực sự quyết liệt, chủ động trong quá trình triển

khai, vẫn còn tư tưởng trông chờ vào nguồn vốn đầu tư công. Chưa làm rõ trách

nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền,

tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện các quy trình, thủ tục đầu tư các dự

án theo hình thức hợp đồng BOT, thiếu kiên quyết trong xử lý các tình huống

phát sinh, chưa tổ chức tổng kết, đánh giá triển khai mô hình nhưng đã cho

phép thực hiện đầu tư nhiều dự án.

Trên đây là một số hạn chế, những vấn đề cơ bản đặt ra khi áp dụng các

hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014. Trên thực tế, tùy theo từng ngành,

địa phương còn có thể xuất hiện những bất cập khác do áp dụng hình thức đầu

tư theo quy định mới này.

59

CHƯƠNG 3.

KHUYẾN NGHỊ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014

3.1. Xu hướng phát triển các hình thức đầu tư hiện nay

Toàn cầu hóa, tự do hóa đầu tư quốc tế là một trong những xu hướng trong

giai đoạn hiện nay, nó góp phần nhằm cắt giảm hoặc loại bỏ những rào cản, cản trở

hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác để tạo nên một môi trường đầu

tư có tính cạnh tranh và bình đẳng hơn tạo sự thuận lợi, thông thoáng cho việc di

chuyển các nguồn vốn đầu tư giữa các quốc gia. Điều này dẫn đến xuất hiện ngày

càng nhiều những hình thức đầu mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu

tư, đặc biệt là đầu tư nước này sang nước khác.

Tại Việt Nam, Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp nhằm khuyến khích và

thu hút đầu tư thông qua việc mở rộng danh mục các lĩnh vực đầu tư, ngành nghề

mà nhà đầu tư nước ngoài có thể được phép đầu tư; danh mục các lĩnh vực được ưu

đãi đầu tư và được phép đầu tư có điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam tăng lên đáng kể.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham gia một loạt các hiệp ước về kinh tế,

gia nhập một loạt các tổ chức kinh tế như: WTO; ASEAN; AFTA...Đây là điều kiện

thuận lợi để chúng ta hội nhập sâu rộng với quốc tế và thu hút được nhiều nhà đầu

tư nước ngoài vào đầu tư trên tất cả các lĩnh vực. Điều này cũng đòi hỏi Việt Nam

cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, đa dạng hóa hình thức đầu tư cũng như hình

thức đầu tư phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam

nhằm thu hút tốt hơn đầu tư nước ngoài cũng như khuyến khích đầu tư trong nước.

3.2. Một số khuyến nghị nh m thực thi các quy định về hình thức đầu tư

theo Luật Đầu tư năm 2014

Mặc dù Chính phủ đã ban hành các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết

để thi hành Luật Đầu tư, tuy nhiên trong việc triển khai các quy định về hình thức

60

đầu tư như đã đề cập vẫn còn những hạn chế nhất định. Mặc dù đã có nhiều văn bản

hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, tuy nhiên những hướng dẫn và quy định chi tiết

vẫn chưa bao quát được mọi vẫn đề trong quá trình thực thi các quy định về hình

thức đầu tư.

3.2.1. Phổ biến, tuyên truyền về hình thức đầu tư

Do Luật Đầu tư năm 2014 quy định các hình thức đầu tư mới, nên việc phổi

biến để nâng cao nhận thức về hình thức đầu theo Luật này đối với nhà đầu tư (kể

cả nhà đầu tư tiềm năng) là hết sức cần thiết. Các hoạt động cần được tiến hành bao

gồm:

- Thường xuyên tổ chức các Hội nghị, Hội thảo về giáo dục nâng cao nhận

thức cho nhà đầu tư và kiến thức tài chính để thông qua đó các nhà đầu tư, những

người chuẩn bị đầu tư hiểu được các hình thức đầu tư được pháp luật quy định và

ưu, nhược điểm của các loại hình để có lựa chọn loại hình đầu tư phù hợp nhất cho

mình.

- Công khai các dịch vụ công cơ bản trên Cổng thông tin bao gồm đăng ký

doanh nghiệp qua mạng điện tử; dịch vụ khai thác thông tin đăng ký doanh nghiệp

và công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp. Với một kênh thông tin trên Cổng Hệ

thống Thông tin QGVĐKDN (thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp), toàn bộ

thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp s là kênh thông tin chính thức cung

cấp, công bố thông tin về hồ sơ, biểu mẫu, công khai danh mục ngành, nghề cấm

đầu tư kinh doanh; danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện…cho

doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và chuẩn bị. Điều này góp phần làm minh bạch hóa

môi trường kinh doanh, tạo sự an toàn, tin cậy cho các doanh nghiệp trong quá trình

hoạt động. Đồng thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được cụ thể, nhanh chóng và đầy

đủ nhất về việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư theo nhu cầu của mình.

Khi hiểu biết về pháp luật đầu tư của nhà đầu tư nói chung và pháp luật bề

lưa chọn các hình thức đầu tư nói riêng được nâng cao thì nhà đâu tư có thể lựa

61

chọn hình thức đầu tư phù hợp với năng lực và nguyện vọng của mình để triển khai

dự án đầu tư mang lại hiệu quả thiết thực cho nhà đầu tư cũng như tránh những lãng

phí, thất thoát nguồn lực của xã hội.

3.2.2. Về năng lực thực thi của cơ quan nhà nước có thầm quyền

Cần tiếp tục triển khai đồng bộ các chủ trương và định hướng về tái cơ cấu

đầu tư; các cấp, các ngành, các địa phương phải thực hiện đúng các quy định của

pháp luật về đầu tư. Chú trọng từ khâu chọn lọc dự án, đến thẩm định, phê duyệt và

các thủ tục, trình tự phải thực hiện; triển khai đồng bộ các quy định này và hoàn

thiện về các tiêu chuẩn, định mức về xây dựng; nâng cao chất lượng về công tác

quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội.Cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường công

tác kiểm toán, kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với tất cả các khâu để đảm bảo các

quyết định lựa chọn đầu tư; bố trí vốn phải phù hợp với tình hình thực tế phát triển

cũng như khả năng thu xếp vốn của từng dự án, không làm kéo dài dự án.

Việc công khai, minh bạch hóa thông tin về đăng ký doanh nghiệp s giúp

tăng cường vai trò giám sát của nhà nước, xã hội đối với doanh nghiệp, thúc đẩy sự

tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp cũng như đơn giản hóa thủ tục hành chính đối

với doanh nghiệp đồng thời huy động được các nguồn lực cùng tham gia vào phát

triển kinh tế thị trường.

Việc công khai các thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sau

khi doanh nghiệp đăng ký thành lập là hết sức cần thiết, tạo cơ sở cho các chủ thể

có liên quan đến doanh nghiệp tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của doanh

nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Bên cạnh đó,

việc công khai các thông tin đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư cần được thực

hiện tập trung tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, một cấu phần của

hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, nhằm xây dựng một cơ sở dữ

liệu đầy đủ, chính xác và thống nhất các thông tin về doanh nghiệp, đảm bảo khả

năng làm đầu mối cung cấp thông tin pháp lý về đăng ký doanh nghiệp của Hệ

thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia nêu tại Quyết định số 419/QĐ-TTg

62

ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới quản lý nhà

nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập. Từ đó góp phần tạo điều kiện cho

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan có thể giám sát hoạt động của doanh

nghiệp trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp đăng ký đầu tư.

Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong các cơ

quan quản lý để đáp ứng được yêu cầu hội nhập trong tình hình mới.

Thực hiện công khai, minh bạch thông tin đối với đầu tư, đặc biệt là các dự

án đầu tư BOT trong lĩnh vực giao thông; Tăng cường công tác giám sát thực hiện

kế hoạch đầu tư và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư cụ thể; Thực hiện

nghiêm chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư định kỳ hoặc đột xuất

theo chế độ báo cáo quy định; Việc giám sát được thực hiện cả từ cơ quan quản lý,

các nhà chuyên môn và công chúng.

Xây dựng hệ thống cán bộ đăng ký kinh doanh chắc về nghiệp vụ, vững về

chuyên môn đồng đều ở các cấp; triển khai quán triệt cụ thể, đầy đủ và thống nhất

các quy định về đăng ký kinh doanh cùng các văn bản hướng dẫn thi hành tới từng

bộ phận nghiệp vụ; thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho

các cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh, đào tạo cho cán bộ quản lý, vận hành,

khai thác sử dụng phần mềm tin học hóa, giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh theo

cơ chế một cửa liên thông:

Kiên quyết thay thế ngay những cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu

cầu công việc, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhũng

nhiễu, tiêu cực, gây cản trở, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định

thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp và thủ tục đầu tư.

Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn qua các lớp tập huấn hoặc bằng văn bản

từ cơ quan cấp Bộ cho các cán bộ ở địa phương. Sự hỗ trợ kịp thời về mặt chuyên

môn s giúp tránh gián đoạn hoạt động của các Phòng ĐKKD (đăng ký kinh

doanh), không làm ứ đọng hồ sơ của doanh nghiệp.

63

3.2.3. Khuyến nghị hoàn thi n quy định về định giá tài sản góp vốn, mua

cổ phần

Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 quy định Bộ Tài

chính hướng dẫn về việc định giá góp vốn bằng sở hữu trí tuệ nhưng đến nay vẫn

chưa có một văn bản hướng dẫn nào của Bộ Tài chính về vấn đề này. Do vậy, Bộ

Tài chính cần ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết cho việc góp vốn bằng

nhãn hiệu hàng hóa nhằm tránh việc trục lợi và tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn,

qua đó có những căn cứ để đánh giá giá trị của nhãn hiệu. Mặt khác, một Thông tư

hướng dẫn về phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình nói chung, thương hiệu

nói riêng cũng là điều cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực

hiện góp vốn, mua cổ phần bằng tài sản vô hình.

- Doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng việc góp vốn, mua cổ phần để được cấp

đất đầu tư, kinh doanh và thâu tóm các vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng (vấn

đề đã xảy ra với Đà Nẵng). Kiến nghị đối với việc mua cổ phần, phần vốn góp của

nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, trong trường hợp dự án có

sử dụng đất, cơ quan đăng ký đầu tư tổ chức thẩm định, lấy ý kiến của các bộ,

ngành và các cơ quan có liên quan theo quy định trước khi thông báo bằng văn bản

nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.

- Xây dựng hệ thống phần mềm liên thông giữa Đăng ký kinh doanh và việc

thông báo đủ điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước

ngoài vào tổ chức kinh tế tại Việt Nam, giúp cơ quan quản lý Nhà nước cập nhật kịp

thời thông tin doanh nghiệp trong nước chuyển đổi thành doanh nghiệp nước ngoài

để có cơ chế chính sách phù hợp, đảm bảo thu hút nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn

giữ được lợi ích dân tộc và phát triển kinh tế bền vững.

3.2.4. Khuyến nghị hoàn thi n các quy định về hợp đồng PPP

Vấn đề bất cập hiện nay là trình tự, thủ tục chung về đầu tư PPP đã được quy

định tại Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 về đầu tư theo hình thức

64

PPP, tuy nhiên nhiều bước trong quá trình xây dựng phụ thuộc vào quy định của các

luật nhưng chưa phù hợp với dự án PPP. Để giải quyết vấn đề này, cần thiết kế quy

định về trình tự, thủ tục tại Luật về PPP thay cho Nghị định nói trên và văn bản

hướng dẫn kèm theo, đồng thời quy định nguyên tắc trường hợp có quy định khác

giữa Luật này và các luật khác về trình tự, thủ tục thì áp dụng Luật về PPP.

Về nguồn vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án, quy định về loại nguồn

vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án đã có tại Nghị định số 63/2018/NĐ-CP. Tuy

nhiên, cần bổ sung quy định cụ thể hơn về cách thức lập, giải ngân, tổ chức thực

hiện xuyên suốt. Để giải quyết những bất cập này, Luật cần quy định cụ thể về

nguồn vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án.

Căn cứ bối cảnh xây dựng chính sách và các kinh nghiệm quốc tế cho thấy,

việc xây dựng được khung pháp lý cao, thống nhất, đồng bộ, hạn chế rủi ro về mặt

thay đổi chính sách là một trong những điều kiện quan trọng để thu hút, hấp dẫn

được các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Các nhóm chính sách được Chính phủ

thông qua để xây dựng dự án Luật là nâng cao hiệu quả đầu tư dự án PPP, trách

nhiệm quản lý Nhà nước đối với dự án PPP, công khai, minh bạch thông tin, quy

trình, thủ tục thực hiện dự án và các biện pháp thu hút đầu tư.

Việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về PPP cần dựa trên các mục tiêu

chính sách về PPP mà Chính phủ hướng tới, cụ thể như sau:

- Đảm bảo dự án PPP đóng góp thực hiện mục tiêu phát triển hạ tầng giao

thông theo quy hoạch, các mục tiêu kinh tế và xã hội toàn diện của Chính phủ.

- Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và thể chế hiệu quả để xác định, chuẩn bị, thực

hiện và quản lý các dự án PPP.

- Có một quy trình thực hiện nhằm đảm bảo các dự án PPP được đánh giá

theo chuẩn mực và chỉ các dự án khả thi về kinh tế và tài chính mang lại hiệu quả

mới được đề xuất nhằm mục tiêu:

65

+ Đạt giá trị đồng tiền cho Nhà nước bằng việc phân bổ rủi ro cho bên nào

xử lý và quản lý tốt nhất.

+ Khả thi tài chính về khía cạnh bền vững ngân sách, chuyển giao cam kết

liên quan đến quyết toán công và tiềm năng thu hồi của đầu tư tư nhân.

+ Tối ưu hóa các lợi ích của hiệu quả, kiến thức, linh hoạt và sáng kiến tư

nhân.

+ Khả thi về tài chính.

+ Cân bằng về các lợi ích kinh tế và xã hội và các chi phí.

+ Khuyến khích đầu tư các dự án theo quy hoạch và tăng cường hiệu quả

kinh tế, cải thiện an toàn của các công trình, cơ sở hạ tầng.

+ Đảm bảo có sự tham gia của một cơ quan nhà nước như một nhà đầu tư

hoặc cung cấp dịch vụ, tạo các điều kiện thiết lập một mặt bằng sân chơi giữa các

doanh nghiệp như vậy và các công ty tư nhân cạnh tranh.

Xây dựng môi trường pháp lý, qui định và chính sách thuận lợi là yếu tố tối

quan trọng cho một mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân bền vững. Ở mức độ

ban đầu, cần phải có một môi trường pháp lý có thể hỗ trợ sự tham gia của khu vực

tư nhân trong các lĩnh vực dịch vụ quan trọng. Môi trường pháp lý này cần giảm

thiểu sự xuất hiện của tham nhũng và phải đủ tin cậy để khuyến khích đầu tư và sự

tham gia của tư nhân. Nếu môi trường luật pháp và môi trường tư pháp không được

xác định, các nhà đầu tư và những người tham gia dự án s đánh giá dự án là không

thể dự đoán được và có độ rủi ro cao. Một cách công bằng, các nhà đầu tư tiềm

năng cần phải có sự tin tưởng rằng luật pháp và các hợp đồng s được tôn trọng và

có thể được thúc đẩy thực thi tại tòa án hoặc thông qua trọng tài nếu cần thiết

(Nguyễn Hồng Thái, 2013).

Tại Việt Nam, khung pháp lý của PPP bắt đầu mở ra khi Quyết định

71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 được ban hành dù chỉ là thí điểm. Thực tiễn cho

thấy, khung pháp lý thí điểm này tồn tại quá nhiều hạn chế, vướng mắc, không cụ

66

thể để áp dụng, đã cản trở việc triển khai hình thức PPP trong thời gian qua. Sự ra

đời của Nghị định 15/2015/NĐ-CP mở ra những nguyên tắc then chốt cho việc đầu

tư áp dụng theo hình thức PPP đã khắc phục được khá nhiều hạn chế của Quyết

định 71/2010/QĐ-TTg. Tuy nhiên, với hệ thống văn bản pháp luật về PPP tại Việt

Nam cho đến thời điểm này và thực tiễn áp dụng PPP thì vẫn còn một số vấn đề cần

lưu ý và xem xét xây dựng, hoàn thiện thêm về khung pháp lý, cụ thể:

Thứ nhất: trong dài hạn, việc xây dựng một đạo luật về PPP là cầnthiết nhằm

luật hóa các quy định đã được áp dụng ổn định và khả thi về PPP, nhưng quan trọng

hơn là đạo luật về PPP cho phép quy định những cơ chế đặc thù chỉ áp dụng cho dự

án PPP, mà chưa được nêu hoặc quy định thông thường tại Luật Đầu tư, Luật Đấu

thầu, Luật Xây dựng...Luật về PPP s là cơ sở bảo đảm cho quyền và lợi ích của nhà

đầu tư tư nhân được bảo đảm cao nhất, qua đó khuyến khích nhà đầu tư tham gia

vào lĩnh vực yêu cầu vốn đầu tư lớn và nhiều rủi ro tiềm ẩn, chưa được chia sẻ rõ

ràng.

Thứ hai: Trong ngắn hạn, trước những bất cập của Nghị định số

15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, sau 3 năm thực hiện, Chính phủ đã ban hành

Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 để thay thế nhằm khắc phục tình

trạng chưa có sự liên thông giữa Luật Đầu tư công đối với Nghị định số

15/2015/NĐ-CP; đảm bảo nguồn lực bố trí chuẩn bị cho dự án cũng như phần đối

ứng của NSNN tham gia vào dự án PPP; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của

các đầu mối, cán bộ thực hiện dự án tại các Bộ, ngành, địa phương. Nghị định số

63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 s góp phần đảm bảo công khai, minh bạch thẩm

quyền quyết định dự án đầu tư theo hình thức PPP, giảm thiểu thủ tục hành chính

cho nhà đầu tư và các cơ quan có thẩm quyền… nhằm tạo niềm tin cho các nhà đầu

tư.

Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 quy định rõ hơn về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư đối với dự án PPP trên cơ sở

đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư công. Nghị định cũng mở

67

rộng nguồn vốn được sử dụng làm phần Nhà nước tham gia thực hiện dự án, theo

đó, ngoài vốn NSNN, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa

phương, vốn ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, có thể sử dụng

nhiều nguồn lực khác để tham gia, hỗ trợ nhà đầu tư trong dự án PPP như: Giá trị

quyền sử dụng đất, tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng, quyền kinh doanh khai thác

công trình, dịch vụ...

Việc quy định trách nhiệm quản lý, phối hợp của các Bộ, ngành về đầu tư

theo hình thức PPP đã được quy định riêng tại Chương X "Trách nhiệm quản lý nhà

nước về đầu tư theo hình thức đối tác công tư", tuy nhiên cần có một cơ quan liên

ngành chuyên trách có sự tham gia của từng bộ, ngành chuyên môn có liên quan để

thực hiện vai trò điều phối, tham mưu về cơ chế chính sách cũng như kiến nghị các

giải pháp có tính hiệu quả.

Cần có đề án bồi dưỡng nhận thức, kiến thức về PPP cũng như hiểu biết về

pháp luật và năng lực triển khai dự án, góp phần nâng cao trình độ cho các cán bộ

quản lý nhận thức đúng về loại hình đầu tư này để phát huy các lợi thế của nó.

Thành lập Ủy ban giám sát các dự án PPP để đảm bảo các dự án được thực

hiện theo đúng chuẩn của mô hình này, tránh những lãng phí, tiêu cực rất dễ xảy ra.

Ngoài ra, công tác tổ chức các bộ máy vận hành, bảo dưỡng dự án cần gọn nhẹ, hệ

thống, khoa học, tránh tình trạng vừa thừa vừa thiếu.

Về căn cứ khoa học để quyết định phương án đầu tư, phương án chia sẻ lợi

ích/rủi ro, cần có quy định bắt buộc nghiên cứu chuyên sâu, phân tích, dự báo,

lượng hóa các tác động đến việc thực hiện dự án PPP, trên cơ sở đó quyết định cơ

chế chia sẻ lợi ích/rủi ro, cơ chế xác định giá/phí dịch vụ, phương án quản lý, cơ chế

giám sát và cơ chế ưu đãi phù hợp cho từng trường hợp để vừa bảo đảm yêu cầu của

Nhà nước vừa bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, có như vậy mới thúc đẩy

đầu tư theo PPP và thực sự mang lại hiệu quả.

68

Cùng việc xây dựng đạo luật về PPP, các đạo luật liên quan khác cũng cần

được xem xét, sửa đổi, bổ sung vào thời điểm thích hợp, nhằm tạo sự đồng bộ và

nhất quán trong hành lang pháp lý;

Bảo đảm điều kiện về ngân sách cho việc chuẩn bị và triển khai dự án PPP

đúng cam kết và đúng tiến độ, đặc biệt là phần tham gia của Nhà nước, chi phí đền

bù giải phóng mặt bằng..

Ngoài ra, các nội dung liên quan khác theo đặc thù của từng dự án cũng cần

được quan tâm, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong thu hút đầu tư theo

hình thức PPP.

69

KẾT LUẬN

Sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014 đánh dấu bước phát triển mới của pháp

luật đầu tư Việt Nam trong việc không ngừng cải thiện môi trường pháp lý về đầu

tư. Những quy định mới về hình thức đầu tư không chỉ đảm bảo cho các dự án đầu

tư được vận hành hiệu quả mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện

dự án đầu tư tại Việt Nam.

Luật Đầu tư năm 2014 quy định về hình thức đầu tư và các điều kiện cần

thiết khác để tiến hành dự án đầu tư nhằm bảo đảm sự tuân thủ đúng pháp luật về

hình thức đầu tư cũng như bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, bảo vệ lợi ích chung

của xã hội.

Quy định về ưu đãi đầu tư, mở cửa thị trường thuộc phạm vi điều chỉnh của

nhiều luật chuyên ngành và cam kết quốc tế. Việc tiếp tục giữ các thủ tục xin phép

theo Luật Đầu tư đang gây khó khăn gia nhập thị trường cho các nhà đầu tư trong

và ngoài nước. Sự lòng vòng của các thủ tục đăng ký doanh nghiệp và đăng ký đầu

tư càng làm cho chi phí gia nhập thị trường của người dân, doanh nghiệp ngày một

cao, tạo cơ hội cho tham nhũng đồng thời tạo tâm lý, cảm giác không an toàn khi

thực hiện đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp cùng với thành lập mới doanh

nghiệp.

Để hoàn thiện hơn nữa về pháp luật đầu tư tại Việt Nam cần hoàn thiện chi

tiết các quy định về các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là việc

thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần, việc đầu tư theo hợp đồng, hình thức đầu tư

M&A; đề xuất xây dựng Luật riêng để điều chỉnh lĩnh vực đầu tư theo mô hình hợp

tác công tư (PPP).

Để có được kết quả trên, một lần nữa học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành

đến giáo viên hướng dẫn PGS, TS Tăng Văn Nghĩa đã hướng dẫn và giúp đỡ học

viên trong quá trình thu thập, tìm hiểu, phân tích và xử lý thông tin, học viên xin gửi

lời cảm ơn đến những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện để học viên có

thể hoàn thành được đề tài và mục tiêu đặt ra.

70

Mặc dù học viên đã cố gắng nỗ lực trong việc tìm tài liệu, nghiên cứu để làm

sáng rõ vấn đề và đưa ra những giải pháp, kiến nghị thiết thực, có giá trị song do

điều kiện còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, học viên rất

mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để có được những chỉnh sửa và

nghiên cứu sâu sắc, hoàn thiện hơn.

D NH MỤC TÀI LIỆU TH M KHẢO

Tiếng Việt

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Thông tư 03/2011/TT-BKHĐT

ngày27/01/2011 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số

108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009 về đầu tư theo hình thức hợp

đồng BOT, BTO, BT, Hà Nội.

2. Chính phủ (2006), Nghị định 108/2006/NĐ-CPngày 22/09/2006 về việc

quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội.

3. Chính phủ (2009), Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 về đầutư

theo hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây

dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng - chuyển giao

(BT), Hà Nội.

4. Chính phủ (2010), Quyết định số 71/2010/QĐ-TTgngày 09/11/2010 củaThủ

tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối

tác công - tư, Hà Nội.

5. Chính phủ (2012), Quyết định số 1597/QĐ-TTg ngày 26/10/2012 của

Thủtướng Chính phủ ban hành cơ chế quản lý và thực hiện Dự án đầu tư xây

dựng đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết thí điểm theo hình thức đối tác

công tư, Hà Nội.

6. Chính phủ (2014), "Dự thảo Nghị định về hợp tác công tư",

www.chinhphu.vn, ngày 20/8/2014.

7. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ-CPngày 26/6/2014 quy định

chitiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Hà Nội.

8. Chính phủ (2015), Nghị định số 15/2015/NĐ-CPngày 14/02/2015 về đầu tư

theo hình thức hợp tác công tư, Hà Nội.

9. Chính phủ (2015), Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/2015 quyđịnh

chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, Hà

Nội.

10. Huỳnh Thế Du (2011), "Hợp tác công-tư, chiếc đũa thần"

www.thesaigontimes.vn, ngày 19/01/2011.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lầnthứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

12. Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), Hình thức hợp tác công tư (Public

PrivatePartnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Việt

Nam,luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.

13. Nguyễn Duy Hà (2014), "Hợp tác công tư - Giải pháp thu hút các nguồn lực

từ khu vực tư nhân", http://bacninhbusiness.gov.vn, ngày 20/04/2014.

14. Nguyễn Hồng Thái (2013), "Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng", www.cauduongonline.com.vn, ngày 30/12/2013

15. "Mô hình PPP là giải pháp tối ưu cho đô thị Việt Nam" (2011),

www.diaocvietonline.vn, ngày06/3/2011.

16. Phạm Quốc Trường (2014), “Khung chính sách cho mô hình Hợp tác công tư

ở Việt Nam”, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-

luan/khung-chinh-sach-cho-mo-hinh-hop-tac-cong-tu-o-viet-nam-54404.html

17. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

18. Quốc hội (2005), Luật đầu tư, Hà Nội.

19. Quốc hội (2013), Luật đấu thầu, Hà Nội.

20. Quốc hội (2014), Luật đầu tư, Hà Nội.

21. Mỹ Quyên (2013),"Cẩn trọng chọn dự án PPP", http://dddn.com.vn, ngày

10/10/2013.

22. Nguyễn Hồng Thái (2013), "Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng", www.cauduongonline.com.vn, ngày 30/12/2013.

23. Tiếng nh

24. ADB (2000), Developing best practices for promoting private

sectorinvestment in infrastructure, Asian Development Bank, p. 167-190.

25. ADB (2006), Public private partnership (PPP) handbook, p. 142-155.

26. Akintoye, A., Hardcastle, C., Beck, M., Chinyio, E., and Asenova, D. (2003),

Achieving Best Value in Private Finance Iniative Project

Procurement,Construction Management and Economic, July 2003, p. 461-

470.

27. Một số trang Web:

28. https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nguoi-trung-quoc-loi-dung-ke-ho-

trong-dau-tu-de-duoc-o-vn-727216.html

29. http://congly.vn/dau-tu/nam-2018-viet-nam-thu-hut-35-46-ty-usd-dau-tu-

truc-tiep-nuoc-ngoai-282146.html

30. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/kinh-te/thanh-lap-gop-von-vao-doanh-nghiep-

trong-ldn-nam-2014-han-che-va-kien-nghi

31. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/kinh-te/thanh-lap-gop-von-vao-doanh-nghiep-

trong-ldn-nam-2014-han-che-va-kien-nghi

32. https://dautunuocngoai.gov.vn/tinbai/105/Qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-

trien-cua-Luat-Dau-tu-nuoc-ngoai-tai-Viet-Nam

33. http://enternews.vn/nguoi-trung-quoc-thau-tom-dat-da-nang-khong-de-lap-

lai-mot-formosa-100433.html

34. Tham khảo tại: https://luatduonggia.vn/cac-hinh-thuc-dau-tu-theo-luat-dau- tu-2014/.