ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

TĂNG THỊ HƢƠNG

VĂN XUÔI VĂN THÀNH LÊ

TỪ GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8 220 121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƢƠNG – 2022

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

TĂNG THỊ HƢƠNG

VĂN XUÔI VĂN THÀNH LÊ

TỪ GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8 220 121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THANH TRUYỀN

BÌNH DƢƠNG – 2022

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Tăng Thị Hƣơng, cam đoan rằng:

Những nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này là công trình nghiên

cứu của riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Bùi Thanh Truyền.

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác khi sử dụng trong luận văn

đều đƣợc trích dẫn đầy đủ về nguồn gốc (tên tác giả, tên công trình, thời gian,

hình thức công bố).

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy

chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Tác giả luận văn

Tăng Thị Hƣơng

i

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Bùi Thanh Truyền

đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Viện Sau đại học, Chƣơng trình Văn học

Việt Nam Trƣờng Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong

quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, tổ Ngữ văn Trƣờng trung học phổ

thông Tân Phƣớc Khánh – nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian,

công việc trong quá trình tôi hoàn thành chƣơng trình đào tạo và thực hiện luận

văn.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà văn Văn Thành Lê đã dành thời gian

quý báu để trò chuyện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình sƣu tầm tƣ liệu

nghiên cứu để thực hiện luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ tôi

để tôi có thêm động lực hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.

Trân trọng!

Tác giả luận văn

Tăng Thị Hƣơng

ii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Khảo sát các kiểu cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê ............... 52

Bảng 2.2. Hai tuyến truyện song hành trong Đất vỡ ............................................ 55

Bảng 2.3. Hai tuyến truyện song hành trong Nghĩa địa có đom đóm bay ........... 56

Bảng 2.4. Hai tuyến truyện song hành trong Bến Mê .......................................... 58

Bảng 2.5. Khảo sát các kiểu kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê .................... 69

Bảng 3.1. Thống kê ngôn ngữ thông tục trong truyện Văn Thành Lê ................. 73

Bảng 3.2. Thống kê ngôn ngữ nhại trong truyện Văn Thành Lê ......................... 78

Bảng 3.3. Thống kê ngôn ngữ phì đại trong truyện Văn Thành Lê ..................... 82

Bảng 3.4. Thống kê ngôn ngữ hòa kết tả và kể trong truyện Văn Thành Lê .... 89

iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan......................................................................................................... i

Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii

Danh mục bảng ................................................................................................... iii

Mục lục ............................................................................................................... iv

MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1

2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2

3. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 12

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 12

5. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................. 13

6. Đóng góp mới của luận văn ......................................................................... 14

7. Cấu trúc luận văn ......................................................................................... 14

Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ TỰ SỰ HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

CỦA VĂN THÀNH LÊ……...………………………………………………...14

1.1. Giới thuyết chung về tự sự học ................................................................. 15

1.1.1. Khái niệm và lịch sử phát triển tự sự học .......................................... 15

1.1.2. Những phương diện nghiên cứu cơ bản của tự sự học ...................... 18

1.2. Hành trình sáng tác của Văn Thành Lê ..................................................... 24

1.2.1. Từ một người trẻ đam mê văn chương ............................................... 24

1.2.2. … Đến những trang viết “Không biết đâu mà lần” ........................... 26

1.2.3. Tính khả dụng của việc tiếp cận văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn

tự sự học ....................................................................................................... 28

Chƣơng 2. CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TỰ SỰ TRONG VĂN XUÔI

VĂN THÀNH LÊ ............................................................................................... 32

2.1. Cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê ................................................. 32

2.1.1. Khái lược về cốt truyện trong tác phẩm tự sự ................................... 32

2.1.2. Các kiểu cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê ............................ 34

2.1.2.1. Cốt truyện tuyến tính ................................................................... 34

2.1.2.2. Cốt truyện gấp khúc .................................................................... 38

iv

2.1.2.3. Cốt truyện tâm lí.......................................................................... 43

2.1.2.4. Cốt truyện kịch hóa ..................................................................... 47

2.2. Kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê ...................................................... 53

2.2.1. Khái lược về về kết cấu trong tác phẩm tự sự .................................... 53

2.2.2. Các kiểu kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê ................................. 55

2.2.2.1. Kết cấu song hành ....................................................................... 55

2.2.2.2. Kết cấu đối lập, tương phản ........................................................ 59

2.2.2.3. Kết cấu phân mảnh, lắp ghép ...................................................... 65

Chƣơng 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TỰ SỰ TRONG VĂN XUÔI

VĂN THÀNH LÊ ............................................................................................... 72

3.1. Ngôn ngữ trong văn xuôi Văn Thành Lê .................................................. 72

3.1.1. Khái lược về ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự .................................... 72

3.1.2. Các dạng thức ngôn ngữ trong văn xuôi Văn Thành Lê .................... 73

3.1.2.1. Ngôn ngữ thông tục ..................................................................... 73

3.1.2.2. Ngôn ngữ “nhại” ........................................................................ 78

3.1.2.3. Ngôn ngữ phì đại ......................................................................... 82

3.1.2.4. Ngôn ngữ hòa kết tả và kể ........................................................... 90

3.2. Giọng điệu trong văn xuôi Văn Thành Lê ................................................ 94

3.2.1. Khái lược về giọng điệu trong tác phẩm tự sự ................................... 94

3.2.2. Các kiểu giọng điệu trong văn xuôi Văn Thành Lê ........................... 95

3.2.2.1. Giọng giễu nhại, châm biếm ....................................................... 95

3.2.2.2. Giọng chiêm nghiệm, suy tư ...................................................... 101

3.2.2.3. Giọng triết luận, tự vấn ............................................................. 106

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 111

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ............................................. 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 115

v

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Tự sự học hình thành nhƣ một bộ môn đặc thù của ngành nghiên cứu

văn học từ những năm 60 – 80 của thế kỉ XX với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Việt

Nam, vào những năm cuối của thập niên 80, tự sự học đƣợc biết đến nhƣ một bộ

phận của thi pháp học. Từ khi đƣợc giới thiệu và tiếp nhận, tự sự học có bƣớc

phát triển mạnh mẽ góp phần tích cực thay đổi hệ hình tƣ duy lí luận trong

nghiên cứu văn học. Đây là bộ môn nghiên cứu hệ thống cấu trúc và các hình

thức, tầng bậc của tự sự cùng các chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp

tự sự nói chung. Vì thế, nó chính là công cụ đắc lực để khám phá và tiếp cận tác

phẩm văn học mang lại hiệu quả khoa học đáng ghi nhận. Nghiên cứu tác phẩm

văn xuôi từ góc nhìn tự sự vừa khám phá cấu trúc nội tại, cấu trúc nghĩa của tác

phẩm vừa nhận ra đƣợc sự vận động của các thể loại tự sự. Trần Đình Sử đã

khẳng định vai trò quan trọng của góc nhìn tự sự học khi soi chiếu tác phẩm:

“Cái nhìn tự sự học giúp cho việc phân tích tính tự sự của tác phẩm một cách cụ

thể, đặt các đơn vị này trong cấu trúc giao tiếp, chịu sự chi phối của mục đích

diễn ngôn” (Trần Đình Sử, 2017b, tr.493).

1.2. Văn học đƣơng đại là vƣờn hoa đa sắc. Một loạt cây bút trẻ đã và

đang nỗ lực sáng tạo không ngừng để tỏa sắc, khoe hƣơng trên mảnh đất màu mỡ

văn chƣơng. Thế hệ nhà văn 8X nhƣ Nguyễn Thị Kim Hòa, Hoàng Công Danh,

Lê Vũ Trƣờng Giang, Nguyễn Thiên Ngân, Bùi Tiểu Quyên, Đinh Phƣơng…

đang hăm hở khẳng định tên tuổi bằng tất cả năng lƣợng của mình. Và không thể

không nhắc đến Văn Thành Lê, gƣơng mặt tạo đƣợc dấu ấn sâu đậm trong lòng

độc giả thời công nghệ số. Là cây bút trẻ, niềm đam mê với nghiệp viết đã thôi

thúc Văn Thành Lê từng bƣớc tìm tòi, thể nghiệm hƣớng viết mới để khẳng định

tên tuổi. Nhà văn ấy không bao giờ cho phép mình dừng chân ở lối mòn định sẵn

mà phải trƣởng thành hơn theo từng trang viết. Bởi thế, từ khi bƣớc chân vào

làng văn, theo nhà thơ Lê Minh Quốc: “Văn Thành Lê là tác giả trẻ sung sức, viết

nhiều và hầu nhƣ ở lãnh vực nào anh cũng tạo đƣợc diện mạo của riêng mình”

(Lê Minh Quốc, 2012). Văn Thành Lê từng tâm sự: “Viết cho thiếu nhi là cơ hội

1

để “chống lại” Heraclitus (Hêraclit), rằng con ngƣời có thể tắm nhiều lần trên

dòng sông tuổi thơ”, “viết cho tuổi mới lớn là để đƣợc sống với thuở rung động

đầu đời đầy mơ mộng ngác ngơ trong sáng nhất”, còn “viết cho ngƣời lớn để thấy

mình ngổn ngang đƣơng đại” (Việt Quỳnh, 2019). Từng đạt một số giải thƣởng

về thơ nhƣng Văn Thành Lê chỉ xem đó là màn dạo đầu với chữ, văn xuôi mới là

mảnh đất để anh trình hiện hết khả năng của mình. Những tác phẩm truyện ngắn,

truyện dài của nhà văn luôn mang hơi thở của cuộc sống đƣơng thời. Văn Thành

Lê đi sâu khám phá hiện thực với những vấn đề nhức nhối hay những hoang

mang của tuổi trẻ trong một xã hội “chông chênh” bằng chất giọng riêng khó trộn

lẫn. Với lối kể chuyện dí dỏm, trẻ trung nhƣng cũng đậm chất châm biếm, giễu

nhại, Văn Thành Lê đã thả đƣợc mỏ neo vào trái tim những ngƣời yêu văn

chƣơng thời công nghệ số.

1.3. Văn xuôi Văn Thành Lê hấp dẫn ngƣời đọc nhờ cách tổ chức, sắp xếp

cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu riêng dù viết về những vấn đề chƣa hẳn đã

mới. Nhà văn luôn chú trọng kĩ thuật viết mang hơi thở hậu hiện đại để tạo nên

thế giới nghệ thuật riêng bằng cái nhìn trực diện và những trải nghiệm của chính

mình về cuộc sống. Những bài báo viết về nhà văn 8X khá nhiều nhƣng chƣa có

công trình nào nghiên cứu cụ thể, có hệ thống về văn xuôi Văn Thanh Lê từ góc

nhìn tự sự học. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Văn xuôi Văn

Thành Lê từ góc nhìn tự sự học để nghiên cứu. Vận dụng lí thuyết tự sự học,

chúng tôi mong muốn khẳng định vai trò của cấu trúc trần thuật trong việc làm

nổi bật giá trị tƣ tƣởng và ý nghĩa của tác phẩm. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để

xác định phong cách nhà văn, những cách tân, đổi mới của Văn Thành Lê trong

dòng chảy văn học đƣơng đại.

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Nghiên cứu về tự sự học ở Việt Nam

Từ khi đƣợc giới thiệu ở Việt Nam, tự sự học có sức ảnh hƣởng và lan tỏa

trong giới nghiên cứu. Đây là một nhánh của thi pháp học. Vấn đề thi pháp

truyện đƣợc đề cập đầy đủ và chi tiết trong công trình Dẫn luận thi pháp học của

nhà nghiên cứu Trần Đình Sử. Công trình này đề cập đến không gian, thời gian

2

trần thuật, cấu trúc của văn bản trần thuật và mô hình tự sự. Trong Những vấn đề

thi pháp truyện, tác giả Nguyễn Thái Hòa nghiên cứu những vấn đề cơ bản của

thể loại truyện từ góc độ ngôn ngữ học, từ khái niệm thông thƣờng đến thuật ngữ

văn học… Ở công trình này, tác giả phân biệt chuyện và truyện, lời kể và lời

thoại, không gian nhƣ một nhân tố nghệ thuật của truyện, thời gian nhƣ một nhân

tố cấu trúc nghệ thuật của truyện, giọng kể… Đây là những kiến thức nền tảng

cần thiết để chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu lí thuyết tự sự học.

Công trình nghiên cứu đầy đủ và công phu nhất về tự sự học phải kể đến

Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử gồm hai tập do nhà nghiên cứu Trần

Đình Sử chủ biên. Tập 1 của cuốn sách xuất bản năm 2007 là công trình đầu tiên

tập hợp những bài viết về tự sự học ở Việt Nam đóng vai trò gợi dẫn về một lĩnh

vực nghiên cứu còn mới lạ. Năm 2008, nhóm biên soạn tiếp tục cho ra đời tập 2

với những bài viết chuyên sâu để khẳng định tự sự học đang là lĩnh vực thu hút

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Đáng chú ý là các bài viết Giới thiệu lí

thuyết tự sự của Mieke Bal của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh, Cấu trúc tự sự

theo quan điểm của Roland Barthes của tác giả Trần Ngọc Hiếu, Vấn đề phân

loại góc nhìn trần thuật của tác giả Phƣơng Lựu, Vận dụng lí thuyết tự sự học

vào nghiên cứu các hình thái thể loại tiểu thuyết của Đỗ Văn Hiểu… (Trần Đình

Sử, 2015, tr.79, 106, 190, 209). Công trình này cung cấp những kiến thức lí

thuyết tự sự học quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài.

Trong công trình Tự sự học – Lí thuyết và ứng dụng, Trần Đình Sử và các

cộng sự giới thiệu quy mô và hệ thống về lí thuyết tự sự học và ứng dụng tự sự

học trong nghiên cứu văn học. Công trình chia làm ba phần: Tự sự học kinh điển,

Tự sự học hậu kinh điển và Tự sự học ứng dụng. Đáng chú ý là phần phụ lục với

các thuật ngữ tự sự học thuận tiện cho việc tra cứu khái niệm.

Những công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho chúng tôi những kiến

thức chính xác, cần thiết về tên gọi, lịch sử hình thành và quá trình phát triển,

những thuật ngữ đƣợc sử dụng trong tự sự học: cốt truyện, cấu trúc, điểm nhìn,

ngƣời kể chuyện, diễn ngôn tự sự… Đây chính là nền tảng vững chắc để chúng

tôi ứng dụng nghiên cứu đề tài Văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học.

3

Những năm gần đây, lí thuyết tự sự học đƣợc ứng dụng rộng rãi. Những

luận văn soi chiếu tác phẩm từ góc nhìn tự sự học ngày càng nhiều. Tác giả

Nguyễn Thị Yên Hà trong công trình Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dưới góc

nhìn tự sự học (2016) đã vận dụng lí thuyết tự sự học: cốt truyện và kết cấu,

ngƣời kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật để

tiếp cận, đánh giá giá trị của Nỗi buồn chiến tranh và khẳng định vai trò của nhà

văn trong tiến trình phát triển Văn học Việt Nam sau năm 1975.

Đáng chú ý là một loạt luận văn, luận án tập trung tiêu điểm nghiên cứu

về nghệ thuật tự sự. Trong công trình Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dạ

Ngân (2014), Lê Thị Mơ đã đề cập đến nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây

dựng nhân vật, phƣơng thức trần thuật để khám phá truyện ngắn và giải mã bút

pháp của tác giả Gia đình bé mọn. Ngô Thị Dung với công trình Nghệ thuật tự sự

trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn (2016) đã ứng dụng lí thuyết tự sự học để tìm

hiểu truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn qua ngƣời kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, kết

cấu và nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu. Từ đó, ngƣời nghiên cứu khám phá giá

trị đặc sắc của tác phẩm và dấu ấn của Bùi Ngọc Tấn khi trở lại văn đàn sau

quãng thời gian ngƣng viết. Một loạt luận văn nghiên cứu nghệ thuật tự sự khác

có thể kể đến nhƣ: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Tô Hoài sau 1945 (2010)

của Hoàng Minh Đức, Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình

Phương (2012) của Hoàng Thị Thuỳ Linh, Nghệ thuật tự sự trong truyện của

Nguyễn Nhật Ánh (2016) của Nguyễn Thị Thƣơng, Nghệ thuật tự sự trong truyện

ngắn Lê Minh Khuê (Qua hai tập truyện Nhiệt đới gió mùa và Làn gió chảy qua)

(2018) của Trần Thị Phƣơng Anh, Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Giữa dòng

chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa (2018) của Lê Thị Kim Liên, Nghệ thuật tổ chức

tự sự trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh (2019) của Đặng Việt Hƣng,…

Bên cạnh đó, một loạt bài báo ứng dụng lí thuyết tự sự học ra đời: Ngôn

ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại (2008), Giọng điệu trần

thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2010), Người kể chuyện với điểm

nhìn bên trong (2011) của Thái Phan Vàng Anh, Người kể chuyện và mối quan

hệ giữa người kể chuyện với tác giả (2012) của Cao Kim Lan, Điểm nhìn của chủ

4

thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945 (2013) của Phạm Thị

Lƣơng, Kết cấu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 (2015)

Phạm Thị Thùy Trang, Xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn

xuôi Việt Nam sau 1975 (2018) của Nguyễn Thị Tuyết Minh,…

Nhìn chung, lí thuyết tự sự học đã đƣợc các nhà nghiên cứu ứng dụng ở cả

tiểu thuyết và truyện ngắn. Các nhà nghiên cứu thƣờng tập trung khai thác cốt

truyện, kết cấu, điểm nhìn trần thuật, ngƣời kể chuyện, giọng điệu trần thuật, diễn

ngôn trần thuật… Nghiên cứu tác phẩm từ góc nhìn tự sự học mở ra cách tiếp cận

hiệu quả, khám phá chiều sâu của văn bản, phát hiện cấu trúc trần thuật, các

nguyên tắc kiến tạo diễn ngôn. Từ đó, nhận ra phong cách nhà văn cũng nhƣ sự

vận động, cách tân, đổi mới của thể loại.

2.2. Nghiên cứu về cuộc đời và sáng tác của Văn Thành Lê

Văn Thành Lê là cây bút có sức sáng tạo nổi bật trong thế hệ nhà văn 8X

ở phía Nam. Bởi thế, nhà văn đƣợc báo chí “chăm sóc khá kĩ”. Về quá trình đến

với văn chƣơng của Văn Thành Lê phải kể đến bài phỏng vấn Viết để giãi bày

cảm xúc và đo trí tưởng tượng của mình (2012) của tác giả Vƣơng Quốc Hùng.

Bài trả lời phỏng vấn có lời chia sẻ chân tình của Văn Thành Lê về bƣớc rẽ từ

giáo viên dạy sinh học trở thành nhà văn. Đến với văn chƣơng bằng thơ nhƣng

nhà văn nhận ra “nhiều ý không thể chuyển tải được trong thơ thì thử qua văn

xuôi” (Vƣơng Quốc Hùng, 2012). Bài viết cũng đề cập đến nhiều giải thƣởng mà

Văn Thành Lê đã đạt đƣợc. Đặc biệt, Giải nhì truyện ngắn báo Phụ nữ Thành phố

Hồ Chí Minh đã đƣa tên tuổi của nhà văn đến gần hơn với bạn đọc. Đây cũng là

bƣớc ngoặt lớn khi nhà văn bắt đầu ý thức hơn về những gì mình viết.

Trong Nếu chỉ có vốn sống thì ai cũng có thể viết văn (2016), An Sơn, đề

cập đến quan niệm văn chƣơng của Văn Thành Lê: mỗi ngƣời viết có một lựa

chọn riêng và năng lực tƣởng tƣợng quyết định tầm của ngƣời viết. Thúy Miên,

trong bài viết Trang văn trang sống (2016), đề cập đến những trang viết của Văn

Thành Lê ngày càng bộc lộ những khám phá mới về cuộc sống đầy thay đổi.

Sáng tác của nhà văn về đề tài giáo dục khá nhiều. Bài viết cũng đề cập đến tập

truyện Thừa ra một người với những vấn đề ngổn ngang của cuộc sống đƣơng

5

đại. Tác giả Kim Nhung với bài viết Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Định vị mình

trước khi chạm tới người khác (2018) đề cập đến quyết định tƣởng chừng “liều

lĩnh” của anh khi viết chân dung văn học. Đây là cách để nhà văn nhìn lại chính

mình, soi vào thế hệ đi trƣớc để hiểu mình, nhìn lại đƣờng văn của bản thân.

Song song đó, Văn Thành Lê còn trải lòng về nghiệp viết. Trong Viết, là

tôi đào bới, đục khoét chính tôi trên Tạp chí Sông Hƣơng số 335 ngày 27 tháng

02 năm 2017, nhà văn trẻ nói về quá trình đến với văn chƣơng, những trăn trở để

nhận diện và xác lập lối viết của mình trong thế giới văn chƣơng không ngừng

vận động. Kiểu đối thoại sâu cay của Nguyễn Huy Thiệp, cách dùng chữ nghĩa

của Nguyễn Việt Hà, ma trận huyền ảo tầng tầng ẩn dụ của Nguyễn Bình

Phƣơng, tính triết luận sắc bén của Nhật Tuấn, giọng trào lộng, châm biếm của

Hồ Anh Thái, tất cả đã giúp Văn Thành Lê định vị và nhận ra tạng viết của chính

mình, hiểu hồn cốt của tác phẩm nằm ở vốn sống và tƣ tƣởng. Bởi vậy, tác giả

luôn dấn thân, ƣa trải nghiệm, khám phá trên hành trình “thồ chữ”. Bài tham luận

Văn chương, tôi đã bước vào và tôi đang thấy của Văn Thành Lê tại Hội Nghị

những ngƣời viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 9, in trong Tạp chí Nhà văn & Tác

phẩm và Báo Văn nghệ đã bật ra trăn trở “Viết cho độc giả hay viết cho chính

mình?”. Để rồi, nhà văn 8X khẳng định những trang viết của anh đi từ những ẩn

ức cá nhân.

Sáng tác của Văn Thành Lê đề cập đến nhiều lứa tuổi: tuổi mới lớn, “tuổi

hết lớn” và nhà văn dành sự ƣu ái đặc biệt cho thiếu nhi bởi với anh “Mỗi ngƣời

lớn đều có bóng dáng trẻ con trong đó” (Việt Quỳnh, 2019). Những sáng tác

dành cho thiếu nhi của nhà văn luôn đƣợc báo chí và độc giả quan tâm đón nhận.

Ninh Sơn với bài viết Văn Thành Lê hoài niệm tuổi thơ trong Trên đồi, mở mắt

và mơ đã giới thiệu về tác phẩm mới viết cho thiếu nhi của Văn Thành Lê. Câu

chuyện bắt đầu bằng hành trình về quê nội nghỉ hè của cậu bé thành thị tên

Thành. Và một loạt bài viết khác: Nhà văn Văn Thành Lê: Mỗi người lớn đều có

bóng dáng trẻ con của Việt Quỳnh lí giải vì sao nhà văn chọn viết cho thiếu nhi,

Nhà văn Văn Thành Lê tiếp tục mê mải cùng độc giả nhỏ tuổi của Đoàn Xá, Văn

Thành Lê và câu chuyện về xứ sở thần tiên của tuổi thơ của Ái Nhi, Nhà văn Văn

6

Thành Lê: Viết cho tuổi học trò thì nên vui của Hồ Sơn, Giấc mơ tuổi thơ của

Văn Thành Lê của Thành Sơn…

Những bài viết trên phần nào cho chúng tôi tƣ liệu về cuộc đời, quan niệm

văn chƣơng của nhà văn. Từ đó, chúng tôi có những cơ sở cần thiết để thực hiện

đề tài.

2.3. Nghiên cứu về văn xuôi của Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học

Trong số những bài viết đề cập đến cuộc đời và sáng tác của Văn Thành

Lê, một số đã đi sâu soi chiếu những sáng tác của nhà văn trẻ từ góc nhìn tự sự.

Trịnh Sơn trong bài viết Có một thế hệ “Không biết đâu mà lần” trên Tạp chí

Văn nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu tháng 8/2014 đã nhận xét: “Không biết đâu mà lần

mang đậm dấu ấn tự truyện hơn là một câu chuyện hƣ cấu… Cốt truyện rất đơn

giản. Độc giả hẳn sẽ gật gù trong mơ hồ phỏng đoán. Toàn là sự đã rồi. Toàn là

lối mòn. Nhƣng, lối mòn của Văn Thành Lê không bụi mờ cỏ ụn giữa cánh đồng

hai bên đều là lúa tƣơi hoặc rơm rạ thơm” (Trịnh Sơn, 2014). Trên Báo Phụ nữ

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/03/2015, Trần Huy Minh Phƣơng trong bài viết

Không biết đâu lần khẳng định: “Truyện dài Không biết đâu mà lần của Văn

Thành Lê tạo hiệu ứng cƣời chảy tràn từ trang đầu đến trang cuối, cƣời nhƣng

mắt xốn, cƣời nhƣng nấc cụt, cƣời nhƣng nghe rát và những mảnh vỡ giáo dục cứ

bong ra theo từng trang sách” (Trần Huy Minh Phƣơng, 2015). Phan Hải Anh với

bài viết Nhưng hoang mang tuổi trẻ in trên báo Tiền Phong chủ nhật về tác phẩm

Không biết đâu mà lần, ngày 05/04/2015 đã đƣa nhận xét về cách sử dụng ngôn

ngữ của nhà văn 8X: “Xét về mặt ngôn ngữ, cuốn sách này tiếp tục là một trò

chơi chữ nghĩa của Văn Thành Lê, khi anh cố gắng viết ra những câu, tạo ra

những ý tứ dài ngoằn ngoèo tựa trò rắn săn mồi vốn một thuở làm mƣa làm gió

trên những chiếc điện thoại đen trắng của thập kỉ trƣớc” (Phan Hải Anh, 2015).

Tác giả Yến Thanh (Phan Tuấn Anh) với bài viết Trò chơi ngôn ngữ trong

Không biết đâu mà lần trên tạp chí Văn nghệ quân đội ngày 12/10/2016, sau in

trong tác phẩm Văn học Việt Nam đổi mới – Từ những điểm nhìn tham chiếu đã

nhận định Văn Thành Lê là một “ca” đặc biệt thú vị. Tác giả đã vận dụng lí

thuyết trò chơi để khám phá nội dung và hình thức của tác phẩm. Từ đó, tác giả

7

khẳng định: “Bằng việc phá vỡ đi sự tƣơng ứng giữa cái biểu đạt và cái đƣợc

biểu đạt, Văn Thành Lê đã không chỉ tạo ra một hiện thực mà luôn cố gắng giãn

nới ra nhiều hiện thực khác. Tiểu thuyết Không biết đâu mà lần do đó có sự cơi

nới, kết dẫn liên văn bản, khai mở ra nhiều không gian văn hóa khác nhau, nhiều

đề tài và chủ đề quan thiết khác của xã hội, chứ không chỉ gói gọn trong đề tài,

chủ đề bề mặt là đời sống của một anh giáo viên làng và môi trƣờng giáo dục

hiện nay” (Yến Thanh, 2016).

Bài viết Thừa ra một người – tập truyện Văn Thành Lê trên báo Văn nghệ

Đà Nẵng ngày 11/07/2016, Mỹ Ngọc đề cập đến lối viết dí dỏm, trẻ trung, những

nhân vật không có tên riêng, “cách tiếp cận và thể hiện hàng loạt đề tài bằng lối

viết nhƣ “treo ngƣợc cảm giác” chính là văn phong đậm chất “thằng tôi không ƣa

đƣờng thẳng của Văn Thành Lê. Có sự đánh đố và lắt léo trong câu chữ, có nét

ngạo ngƣợc, kiêu hành ngấm ngầm trong câu văn” (Mỹ Ngọc, 2016). Tác giả

Ngọc Lợi với bài viết Đọc “Thừa ra một người” của Văn Thành Lê: Tơ lòng

ngổn ngang trên báo Cà Mau online ngày 28/07/2016 đề cập đến những ngổn

ngang trong lòng các nhân vật trong tập truyện Thừa ra một người.

Trong bài viết Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Khi đam mê là nghiệp viết trên

báo Sài Gòn giải phóng ngày 07/01/2018, Tƣờng Vy khẳng định Văn Thành Lê

là cây bút trẻ đang lên tay với lối viết vững vàng, có nét riêng, đa dạng nhiều thể

loại. Không biết đâu mà lần là tác phẩm truyện dài đầu tay: “Một giọng văn lạ,

cách chế giễu hài hƣớc nhƣng chua cay, những chi tiết độc đáo mà chỉ có những

ngƣời trong cuộc mới có thể biết, có thể hiểu” (Tƣờng Vy, 2018). Với Trên đồi,

mở mắt và mơ, Văn Thành Lê sử dụng chất giọng trong sáng, nhẹ nhàng nhƣ một

đứa trẻ thực sự. Và tập chân dung văn học Như cánh chim trong mắt của chân

trời là tấm gƣơng để nhà văn soi lại chính mình chuẩn bị cho một điều gì đó mới

mẻ, một thử thách, một hƣớng đi mới trong sáng tác. Trong bài viết này, tác giả

cũng đƣa ra đánh giá về giọng điệu trong truyện ngắn Hạ huyệt an toàn trong tập

truyện Sa lan đỏ bãi Xanh: “một Văn Thành Lê cay nghiệt, trào lộng và đầy sâu

sắc” (Tƣờng Vy, 2018).

8

Tác giả Thụy Oanh trong bài viết Phải chăng cuộc đời là một vở hài kịch?

trên Zingnews.vn nhận xét rằng: “Phần lớn các truyện ngắn trong Sa lan đỏ bãi

Xanh đều có chất giễu nhại và châm biếm. Đó là những tác phẩm mà khi đến hồi

kết ngƣời đọc sẽ muốn tặng cho nhân vật một cái nhếch môi” (Thuỵ Oanh,

2018). Bài viết cũng đề cập đến những nhân vật biến cuộc đời thành sân khấu lớn

trong tập truyện và niềm tin vào điều thiện mặc cho đời dối lừa.

Trong Tác phẩm mới tháng 10/2018, Tạp chí Sông Hƣơng số 356 ngày

26/10/2018 đã giới thiệu về Sa lan đỏ bãi Xanh: “Tập truyện ngắn với mƣời hai

câu chuyện đa phần đậm chất trào phúng, hài hƣớc khiến độc giả đƣợc những

trận cƣời đầy ẩn ngữ. Cái tài của Văn Thành Lê là sử dụng những thủ pháp gây

cƣời bằng hình ảnh, tình huống – hoàn cảnh, sự phóng đại; yếu tố bất ngờ gây

cƣời… Cách đặt tên truyện độc đáo, đầy sức gợi…” (Tạp chí Sông Hƣơng,

2018). Bài giới thiệu đã nhấn mạnh vào ngôn ngữ và giọng điệu trào phúng, hài

hƣớc đƣợc Văn Thành Lê sử dụng trong tập truyện ngắn.

Bài viết Cười mà ngẫm, ngẫm mà đau trên Thời nay - ấn phẩm của báo

Nhân dân ngày 07/11/2018, đã đề cập đến nhân vật mang hơi thở cuộc sống

trong tập truyện Sa lan đỏ bãi Xanh. Ái Nhi đã khẳng định: “Cái hay của tác giả,

chính là cách sắp xếp, cài cắm để các nhân vật từ kiểu đại chúng trở thành chân

dung điển hình. Văn Thành Lê tinh nhạy trong lắng nghe, quan sát và nắm bắt

hơi thở cuộc sống” (Ái Nhi, 2018). Xuân Thân trong bài viết Sa lan đỏ bãi Xanh

trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 26/11/2018 đã đƣa ra nhận xét: “Văn Thành Lê

chọn cho mình một con đƣờng riêng, viết về hiện thực cuộc sống bằng giọng văn

giễu nhại, giễu cợt cuộc sống nhƣng vẫn đầy lạc quan” (Xuân Thân, 2018).

Nhà báo Hoàng Quý trong bài viết Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Buồn vui

thời mình trên báo Đại đoàn kết ngày 06/12/2018 nhận xét: “Một giọng văn riêng

với lối kể rất nhiều độc đáo, nhuần nhị cài đan cách nói dân gian đặc hữu xứ

Thanh. Anh phủ lên văn chƣơng tiếng Việt phong nhiêu, lối nói phúng dụ đáng

yêu, cách dụng chữ, sử chữ, diễn chữ chan chứa tiếng cƣời. tất cả hợp thành lớp

lớp trang văn đậm giọng riêng đặc hữu Văn Thành Lê, đậm sinh khí Văn Thành

Lê, để gọi ra những buồn vui của thời mình” (Hoàng Quý, 2018). Bài viết còn đề

9

cập đến lối kể chuyện độc đáo trong truyện ngắn Kẻ rao bán của tập truyện Thừa

ra một người: “Lối kể với những lát cắt chi li đƣợc chọn lọc sắp đặt và quánh

vón chứ không hoan ngôn nhƣ tiểu thuyết Không biết đâu mà lần” (Hoàng Quý,

2018) khiến nhân vật “hắn” trở thành nhân vật găm nhớ trong lòng tác giả.

Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu khoa học cũng ít nhiều đề cập

đến những nội dung và nghệ thuật đặc sắc trong sáng tác của nhà văn trẻ giàu nội

lực. Với bài viết Tiếng nói đối thoại về giáo dục trong Không biết đâu mà lần và

Thừa ra một người của Văn Thành Lê (2017), tác giả Hồ Thị Ngọc Tài đã đề cập

đến ngòi bút sắc lạnh, khôi hài của Văn Thành Lê khi viết về “những điều trông

thấy”, cất lên tiếng nói đối thoại, bộc lộ thẳng thắn quan điểm, phơi trải mặt trái

của nền giáo dục: giá trị của nghệ giáo, thiết chế quản lí, tấm gƣơng ngƣời thầy

bị bôi lem để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh mỗi chúng ta. Trong công trình này,

tác giả cũng đề cập đến giọng điệu giễu nhại, trào lộng làm nên “thƣơng hiệu”

của Văn Thành Lê trong truyện dài Không biết đâu mà lần và truyện ngắn Thừa

ra một người.

Trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên tập 183, số 07,

năm 2018, Phạm Thị Thu Hoài và Trần Thị Thanh với bài viết Tiếng lóng trong

truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê, đã khảo sát và thống kê chi tiết tần

xuất sử dụng tiếng lóng trong những tác phẩm viết về giáo dục của nhà văn. Từ

đó, ngƣời nghiên cứu khẳng định tiếng lóng đƣợc sử dụng với mục đích “lạ hoá”

ngôn ngữ, mang dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ở bài viết Giáo dục – Những

mảng màu sáng tối qua truyện ngắn Thừa ra một người in trong tập nghiên cứu –

phê bình Muôn nẻo đường văn, tác giả Trần Văn Nhƣợng đã đi sâu khám phá

chân dung nhân vật nàng trong môi trƣờng giáo dục bị bủa vây bởi những mảng

tối và nhắc đến ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật mang chất giễu nhại: “Thủ

pháp đối lập song trùng giữa chuyện nghề chuyện đời của một cô giáo mới vào

nghề để phản ánh những mảng hiện thực đời sống giáo dục và đời sống giáo viên

hết sức tiêu biểu, có độ khái quát cao đủ để ngƣời đọc thấy đƣợc phần nào bức

tranh sáng tối với đôi nét đậm nhạt ngƣời tốt kẻ xấu, những vấn nạn đặt ra trong

10

giáo dục. Cách kể tự nhiên vô tƣ, mạch kể trôi chảy cuốn hút; giọng văn đùa vui

hóm hỉnh tếu táo mà sâu cay” (Trần Văn Nhƣợng, 2020).

Đáng chú ý phải kể đến một loạt bài viết của Hoàng Thuỵ Anh. Trên Tạp

chí Nhật Lệ, số 326, tháng 5/2022, nhà phê bình nhắc đến chất hài hƣớc trong

sáng tác của Văn Thành Lê ở bài viết Gia đình – trong điểm nhìn lưỡng trị của

Văn Thành Lê: “Dƣới góc nhìn hài hƣớc, humour, Văn Thành Lê đã mang đến

cho ngƣời đọc tiếng cƣời lƣỡng trị, văn hoá nhƣng không văn hoá, vừa phủ định

vừa khẳng định, vừa đả phá vừa xây dựng,…” (Hoàng Thuỵ Anh, 2022b). Ở

Những trăn trở về giáo dục trong một số tác phẩm của Văn Thành Lê in trên Tạp

chí Non Nƣớc số 291, tháng 5/2022, tác giả đƣa ra nhận xét Văn Thành Lê là một

trong số cây bút trẻ khá thành công với đề tài giáo dục. Bên cạnh mổ xẻ những

ung nhọt của ngành giáo dục, Hoàng Thuỵ Anh còn đề cập đến giọng điệu giễu

nhại đặc trƣng trong sáng tác của nhà văn trẻ: “Từ những trang văn hóm hỉnh mà

sâu cay, vui nhộn mà đáo để, trơn lƣớt mà thâm thuý, lố bịch mà tê tái của anh,

ngƣời đọc nhƣ đƣợc đi đến tận cùng dây mơ rễ má, những góc khuất tối tăm…

Văn Thành Lê bỡn cợt, giễu nhại giáo dục để chứng ta cùng suy nghĩ, trăn trở và

có trách nhiệm hơn trƣớc những biến tƣớng, những tệ nạn” (Hoàng Thuỵ Anh,

2022c). Trong “Sân khấu” văn học nghệ thuật in trên Tạp chí Sông Lam, số 24,

tháng 6/2022, Hoàng Thuỵ Anh tiếp tục nhắc đến giọng điệu giễu nhại trong sáng

tác của nhà văn 8X: “Sử dụng hình thức đối lập, tƣơng phản kèm theo giọng điệu

châm biếm, hài hƣớc, tƣng tửng, những trang viết của Văn Thành Lê đã chỉ ra sự

che giấu, nguỵ biện tài tình giữa cái bên trong với cái bên ngoài, giữa nội dung

và hình thức của văn học nghệ thuật. Cái mà anh nhìn thấy không phải ở bề nổi

đèm đẹp mà ở bề sâu, ở cội nguồn của sự biến dạng, rởm đời” (Hoàng Thuỵ Anh,

2022d). Ở bài viết Những lát cắt hoạt kê đương đại in trong cuốn Tiểu luận – phê

bình Sự thật là đoá hoa lộng lẫy, Hoàng Thuỵ Anh bày tỏ lối viết bỡn cợt, bông

đùa, hóm hỉnh đã tạo nên sự khác biệt trong văn phong của Văn Thành Lê với

những cây bút trẻ 8X khác. Nhà phê bình cũng khẳng định ấn tƣợng của mình

với diễn ngôn trần thuật hóm hỉnh, tếu táo, lối viết không thể nhầm lẫn của Văn

Thành Lê trong Sa lan đỏ bãi Xanh: “Sự kết hợp giữa giọng văn mƣợt mà, giàu

11

cảm xúc pha với một chút chất giọng giễu nhại làm cho chủ đề đô thị hoá đƣợc

khai thác sâu hơn, góc cạnh hơn” (Hoàng Thuỵ Anh, 2022a).

Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng vừa bảo vệ thành công luận

văn Thạc sĩ Nghệ thuật giễu nhại trong văn xuôi Văn Thành Lê (2022). Ở công

trình này, ngƣời nghiên cứu đề cập đến nội dung giễu nhại trong văn xuôi Văn

Thành Lê với những góc tối của đời sống xã hội và bức tranh giáo dục cùng sự

tha hoá của con ngƣời. Bên cạnh đó là phƣơng thức giễu nhại: ngôn ngữ, giọng

điệu, thủ pháp lạ hoá cũng đƣợc nghiên cứu trong chƣơng ba của luận văn. Đây

là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn xuôi Văn Thành Lê một cách hệ thống

và công phu.

Nhìn chung, những bài báo, công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở

nhận xét, đánh giá chung về một khía cạnh: cốt truyện, ngôn ngữ, nghệ thuật giễu

nhại trong văn xuôi Văn Thành Lê, chƣa có một công trình nghiên cứu nào khảo

sát một cách hệ thống tìm ra những nét đặc sắc trong của văn xuôi Văn Thành Lê

từ góc nhìn tự sự học: cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu,... Tuy nhiên,

những bài viết, công trình trên trở thành nguồn tƣ liệu quý giá để chúng tôi thực

hiện đề tài Văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học. Đây là công trình thứ

hai tìm hiểu, đánh giá chuyên sâu và hệ thống về hành trình sáng tác của Văn

Thành Lê – nhà văn trẻ giàu nội lực, khát khao định vị bản thân giữa dòng chảy

văn chƣơng đƣơng đại.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài Văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học, chúng tôi muốn

khảo sát, tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn tự sự học để tìm hiểu những nét đặc sắc

về nội dung và nghệ thuật trong văn xuôi Văn Thành Lê. Từ đó, luận văn có cơ

sở để đánh giá về phong cách sáng tác cũng nhƣ vai trò của nhà văn trong dòng

chảy văn học đƣơng đại.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi vận dụng lí thuyết tự sự học về cốt truyện và kết

cấu, ngôn ngữ và giọng điệu tự sự để phân tích, đánh giá văn xuôi Văn Thành Lê.

12

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và làm rõ đối tƣợng nghiên cứu, trong phạm vi của

đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu

trong một số tác phẩm văn xuôi của Văn Thành Lê đã đƣợc xuất bản, gồm:

- Truyện dài Không biết đâu mà lần, Nhà xuất bản Trẻ, 2014.

- Tập truyện ngắn Biết tới khi nào mưa thôi rơi, Nhà xuất bản Văn học,

2015.

- Tập truyện ngắn Thừa ra một người, Nhà xuất bản Trẻ, 2016.

- Tập truyện ngắn Sa lan đỏ bãi Xanh, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh, 2018.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài Văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học, chúng

tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu sau:

5.1. Vận dụng lý thuyết tự sự học

Vận dụng lí thuyết này để phân tích, lí giải nét đặc sắc trong văn xuôi Văn

Thành Lê.

5.2. Phương pháp loại hình

Phƣơng pháp loại hình giúp chúng tôi xem xét sáng tác của Văn Thành Lê

từ góc độ loại hình văn xuôi nghệ thuật. Cụ thể khi nghiên cứu đề tài này, chúng

tôi luôn quan tâm đến nghệ thuật tự sự để tìm ra phong cách riêng của nhà văn.

5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

Luận văn sử dụng phƣơng pháp so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét

chung và nét độc đáo riêng của Văn Thành Lê so với các nhà văn đồng đại và

lịch đại trong việc sử dụng nghệ thuật tự sự. Từ đó, chúng tôi có cái nhìn sâu sắc

hơn về văn xuôi Văn Thành Lê.

5.4. Phương pháp thống kê

Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng trong quá trình khảo sát, phân loại, thống

kê ngữ liệu làm căn cứ khoa học để khám phá văn xuôi Văn Thành Lê từ góc

nhìn tự sự học.

13

5.5 Vận dụng lý thuyết thi pháp học

Vận dụng lý thuyết thi pháp học để tìm hiểu văn xuôi Văn Thành Lê từ

phƣơng diện hình thức, nhận diện những đóng góp, sáng tạo của nhà văn về cốt

truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu.

6. Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn phác thảo đầy đủ và hệ thống những đặc sắc của văn xuôi Văn

Thành Lê từ góc nhìn tự sự học. Từ đó, luận văn khẳng định phong cách riêng và

đóng góp của nhà văn trên văn đàn.

- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến vận

dụng lí thuyết tự sự học để nghiên cứu văn học và khám phá lực hấp dẫn trong

những trang viết của Văn Thành Lê.

7. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình của tác giả, Tài

liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của luận văn gồm ba chƣơng:

Chƣơng 1: Khái lược về tự sự học và hành trình sáng tác của Văn Thành Lê

Chƣơng này tập trung làm rõ lí thuyết chung về tự sự học, hành trình sáng

tác và tính khả dụng trong việc tiếp cận văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự

học.

Chƣơng 2: Cốt truyện và kết cấu tự sự trong văn xuôi Văn Thành Lê

Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các dạng thức biểu hiện của

cốt truyện cũng nhƣ các kiểu kết cấu tự sự trong văn xuôi Văn Thành Lê.

Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu tự sự trong văn xuôi Văn Thành Lê

Chƣơng này đi sâu nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ và các kiểu giọng

điệu tự sự đặc sắc trong văn xuôi của Văn Thành Lê.

14

Chƣơng 1

KHÁI LƢỢC VỀ TỰ SỰ HỌC

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VĂN THÀNH LÊ

1.1. Giới thuyết chung về tự sự học

1.1.1. Khái niệm và lịch sử phát triển tự sự học

Đƣợc định hình từ những năm 60 – 70 của thế kỉ XX ở Pháp, tự sự học đã

có những bƣớc tiến không ngừng, vƣợt qua biên giới nƣớc Pháp lan rộng ra toàn

thế giới để trở thành lĩnh vực học thuật đƣợc quan tâm nghiên cứu.

Là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, tự sự học

(narratology, narratologie) còn đƣợc gọi là trần thuật học lấy nghệ thuật tự sự

làm đối tƣợng nghiên cứu. Trong Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, nhà

nghiên cứu T.Todorov đã đề xuất khái niệm tự sự học “Tự sự học là lí luận về

cấu trúc của tự sự. Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, ngƣời nghiên

cứu tự sự đem hiện tƣợng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng

xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” (Trần Đình Sử, 2014,

tr.9).

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, tự sự là “một phƣơng thức tái hiện đời

sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực

qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện,

biến cố xảy ra trong cuộc đời con ngƣời” (Lê Bá Hán và cs., 2007, tr.385).

Từ thời cổ đại, Platon, Aristote đã chia tự sự thành hai loại: tự sự lịch sử

và tự sự nghệ thuật. Manh nha hình thành từ đầu thế kỉ XX, tự sự học hiện đại

gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc, đƣợc chia làm ba thời kì: tự sự học trƣớc cấu trúc

chủ nghĩa, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa.

Trƣớc khi chủ nghĩa cấu trúc ra đời, một số phƣơng diện cơ bản của tự sự học

đƣợc ít nhiều đề cập trong những công trình nghiên cứu: Về lí thuyết văn xuôi của

V. Shklovski, tiểu luận Lí thuyết của phương pháp hình thức của B. Eikhenbaum,

những bài phân tích về âm luật trong thơ Puskin của B. Tomachevski…Tuy

nhiên, những bài viết này chƣa có chủ đích tìm hiểu về nghệ thuật tự sự dựa trên

15

một hệ thống lí thuyết, phƣơng pháp cụ thể. Đầu thế kỉ XX, F. Saussure – cha đẻ

của lí thuyết ngôn ngữ hiện đại đã đặt nền móng cho sự phát triển của chủ nghĩa

cấu trúc với lí thuyết về kí hiệu học. Năm 1928, công trình Hình thái học truyện

cổ tích thần kì của V. Propp tìm hiểu về chức năng tự sự trong truyện cổ tích đã

xác định những quan điểm đầu tiên về vấn đề cấu trúc tự sự, phƣơng pháp phân

tích văn bản.

Từ những năm 60 – 70 của thế kỉ XX, cơ sở lí thuyết đầu tiên về tự sự học

đã chính thức xác lập khi trƣờng phái hình thức Nga hình thành với một một loạt

tên tuổi tiêu biểu: V. Shklovski, B. Eikhenbaum, B. Tomachevski….đề xuất một

số khái niệm nền tảng để nghiên cứu hình thức của tác phẩm văn học. Hoạt động

của trƣờng phái này gắn liền với Câu lạc bộ ngôn ngữ Moskva do R. Jakobson

làm chủ tịch, Hội nghiên cứu Ngôn ngữ Thi ca do V. Shklovski làm chủ tịch. Họ

cho xuất bản công trình Thi pháp học và loạt sách Những vấn đề thi pháp.

Nghiên cứu thi pháp văn xuôi tự sự, B. Tomachevski và V. Shklovski đi tìm thủ

pháp xây dựng cốt truyện và kết cấu tác phẩm. B. Tomachevski phân biệt truyện

kể (fabula, fable) và cốt truyện (sujet) “truyện kể là tập hợp những biến cố có

quan hệ với nhau đƣợc thông tin cho ngƣời đọc trong suốt chiều dài tác phẩm, nó

có thể đƣợc tóm tắt theo trật tự biên niên và nhân quả của các biến cố mà không

phụ thuộc vào thứ tự đƣợc trình bày. Còn cốt truyện thì đi theo trình tự xuất hiện

của các biến cố trong tác phẩm” (Trần Đình Sử, 2017, tr.27). Ông cho rằng tuyến

hành động liên quan đến truyện kể, còn tuyến trần thuật liên quan đến cốt truyện

và trình bày nhiều thủ pháp trong nghệ thuật trần thuật: trì hoãn, bình luận ngoại

đề, che giấu bí mật, lặp lại, đảo ngƣợc thời gian… V. Shklovski coi tác phẩm tự

sự là tổ hợp các kết cấu vòng tròn và kết cấu bậc thang, tập trung nghiên cứu các

thủ pháp nghệ thuật của văn xuôi: thủ pháp song song, thủ pháp đóng khung và

thủ pháp xâu chuỗi. Con đƣờng thứ hai chủ nghĩa hình thức là đi tìm hình thức

ngôn từ của sự trần thuật. B. Eikhenbaum chủ trƣơng “hình thức trần thuật có thể

có giá trị của một điểm xuất phát để xây dựng lí thuyết về văn xuôi” (Trần Đình

Sử, 2017, tr.29). Tuy nhiên, cuối thập niên 20 của thế kỉ XX, trƣớc những phê

phán gay gắt của xã hội, trƣờng phái hình thức Nga không còn hoàn toàn tự tin

16

vào quan niệm của mình. Dù bị lãng quên ở nƣớc Nga nhƣng trƣờng phái hình

thức Nga đã lan tỏa và có ảnh hƣởng không nhỏ, trở thành tiền đề để các nhà cấu

trúc luận kế tục và phát triển, từng bƣớc hình thành ngành khoa học về tự sự.

Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa cấu trúc đã thúc đẩy những bƣớc đi

đầu tiên của tự sự học. Bởi thế, trong giai đoạn nảy mầm, tự sự học chịu ảnh

hƣởng của chủ nghĩa cấu trúc nên định nghĩa về tự sự học bị bó hẹp lại. Chủ

nghĩa cấu trúc đi tìm mô hình cho hình thức tự sự, không quan tâm đến lời văn,

diễn ngôn với một loạt công trình: Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.

Barthes năm 1968, Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” của T. Todorov, Hình

thái học truyện cổ tích của Propp, nghiên cứu cấu trúc thần thoại của Claude

Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của R. Jakobson. Lấy ngôn ngữ học

làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự

mở rộng của ẩn dụ là đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc. Trong diễn

trình phát triển của lí thuyết tự sự học, những nhà nghiên cứu V. Propp, R.

Barthes, Tz. Todorov…coi văn bản là đối tƣợng trung tâm, đi sâu nghiên cứu cấu

trúc truyện kể. Từ đó, gợi mở một hệ hình lí thuyết cơ bản: phân tích diễn ngôn

tự sự, ngữ pháp tự sự, cấu trúc truyện… T. Todorov nhìn văn bản nhƣ một cấu

trúc ngữ pháp hoàn chỉnh, chia nó thành những đơn vị nhỏ. G. Gennette tập trung

vào diễn ngôn trần thuật: lời kể, cách kể, phƣơng thức kể chuyện.

Đến khi chủ nghĩa hậu cấu trúc ra đời, tự sự học đã có những bƣớc tiến

vƣợt bậc, không còn bó hẹp trong khuôn khổ xu hƣớng cấu trúc chủ nghĩa về trần

thuật mà mở rộng toàn diện từ hệ hình lí thuyết đến đối tƣợng nghiên cứu theo

hƣớng tiếp cận liên ngành. Không còn lấy ngôn ngữ tác phẩm văn học làm trung

tâm nghiên cứu nhƣ chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc hƣớng đến giải

mã kí hiệu ẩn sau những mô hình ngôn ngữ, lấy ngƣời kể chuyện và điểm nhìn

trần thuật làm vấn đề nghiên cứu trọng tâm. Tự sự học hậu cấu trúc cũng coi

trọng phân tích hình thức nhƣng không tán thành việc sao phỏng đơn giản các mô

hình ngôn ngữ học mà gắn liền với kí hiệu học và siêu kí hiệu học. Đại diện tiêu

biểu là Bakhtin, Iu. Lotman, Pierre Macherey…

17

Cột mốc lịch sử năm 1969 đã đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng của tự sự

học, trở thành một ngành khoa học nghiên cứu độc lập. Trải qua quá trình phôi

thai, nảy mầm và vƣơn mình, tự sự học đã đạt đƣợc những thành quả đáng ghi

nhận, trở thành một ngành khoa học “mở”, giàu tiềm năng, không ngừng vận

động và phát triển.

Tiếp nhận lí thuyết tự sự học khá muộn so với thế giới, Việt Nam cũng có

những bƣớc tiến đáng ghi nhận. Bắt đầu từ việc dịch thuật, các nhà nghiên cứu đã

tiếp nhận một hệ thống thuật ngữ chuyên môn và từng bƣớc ứng dụng lí thuyết tự

sự học trong nghiên cứu. Hai hội thảo năm 2001 và 2008 tại Đại học Sƣ phạm Hà

Nội đã mở ra hƣớng nghiên cứu văn học mới.

1.1.2. Những phương diện nghiên cứu cơ bản của tự sự học

Không ngừng mở rộng, phát triển chuyển đổi hệ hình nghiên cứu từ giai

đoạn kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc sang giai đoạn hậu kinh điển, tự sự học đã

trở thành công cụ cơ bản và sắc bén, một bộ phận không thể thiếu trong quá trình

nghiên cứu văn học. Tự sự học hiện đại cho ta thấy rõ vai trò của chủ thể trong

trần thuật khi phân biệt nội dung và phƣơng thức kể. Lí thuyết tự sự cũng chỉ ra

kết cấu của các tầng bậc trần thuật và theo đó xuất hiện các kiểu ngƣời trần thuật

khác nhau. Lí thuyết tự sự hiện đại cũng nêu ra các khái niệm về góc nhìn, điểm

nhìn để khám phá hình thức tự sự chính xác và khoa học hơn. Ra đời dƣới sự ảnh

hƣởng của chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học đã có những thay đổi hệ hình lí thuyết,

các tầng bậc và phƣơng pháp nghiên cứu tự sự.

Tự sự học kinh điển (tự sự học trƣớc chủ nghĩa cấu trúc và tự sự học chủ

nghĩa cấu trúc) tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự

kiện tạo nên truyện. Sự chuyển hƣớng nghiên cứu từ câu chuyện sang cấu trúc,

ngữ pháp truyện kể đã thu đƣợc những kết quả nhất định. V. Shklovski phân biệt

tích truyện với truyện kể (siuzhet), phân tích mối tƣơng quan của tích truyện và

truyện kể để tìm ra ý nghĩa của truyện. Xem nghệ thuật không phải là hình tƣợng

mà chỉ là hệ thống thủ pháp nhằm làm lạ hóa chất liệu, tạo cảm giác mới về đời

sống, ông cho rằng “câu chuyện (fabula) vốn đƣợc xem là nội dung của trần

thuật, chỉ là một thứ chất liệu (material), chỉ có hình thức – sự sắp xếp lại các

18

chất liệu có sẵn ấy bằng hệ thống thủ pháp để kể lại câu chuyện mới là truyện kể”

(Trần Đình Sử, 2017, tr.28). Nếu Aristote coi trọng câu chuyện nhấn mạnh tác

dụng của quy luật nhân quả của các sự kiện trong việc tạo ra bƣớc ngoặt hay sự

nhận ra của câu chuyện thì việc đối lập truyện kể với câu chuyện cho phép các

nhà tiểu thuyết có thể kể tự do các sự kiện mà không lệ thuộc vào mối liên hệ

nhân quả nào. Ngƣời kể có thể kể câu chuyện bắt đầu từ giữa hay từ sự kết thúc

rồi kể ngƣợc trở lại khiến điểm mở đầu và điểm kết thúc của câu chuyện và

truyện kể trong tiểu thuyết không trùng khít nhau.

B. Tomashevski quan niệm: “truyện kể không phải là một bộ phận của câu

chuyện nhƣ trƣớc, mà là sự sắp xếp, quan hệ đối với câu chuyện; truyện kể đối

lập với câu chuyện, cũng vẫn các sự kiện đó, nhƣng đƣợc trình bày lại, đƣợc

thông báo, đƣợc đƣa vào một trật tự khác của truyện kể” (Trần Đình Sử, 2017,

tr.29). Đi sâu vào cấu trúc vi mô của truyện kể, ông đƣa ra lí thuyết motiv.

Nghiên cứu đơn vị motiv của B. Tomashevski gắn với chủ đề. Mỗi tác phẩm đều

có motiv, các motiv liên kết với nhau tạo ra liên kết chủ đề. Ông phân loại motiv

gồm có: motiv liên kết, motiv chủ đạo, motiv động, motiv tĩnh. Từ motiv truyện

kể, B. Tomashevski nêu ra các chuỗi motiv cấu tạo theo lối kết cấu, lối hiện thực,

lối nghệ thuật, phân biệt thời gian câu chuyện và thời gian truyện kể, không gian

câu chuyện và không gian truyện kể.

V. Propp nghiên cứu các chức năng và chuỗi các chức năng của hành động

trong việc tạo thành tiến trình của truyện. Lấy chức năng làm đơn vị phân tích,

ông đã sáng tạo ra một bộ ngữ pháp và cú pháp của tác phẩm tự sự. Thế nhƣng,

nó chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp: truyện cổ tích thần kì. R. Barthes, C.

Bremond, J. Greimas đều phát triển nghiên cứu các chức năng sự kiện, logic và

ngữ nghĩa của truyện. R. Barthes kết hợp lí thuyết motiv và lí thuyết chức năng,

dùng kí hiệu học, ngôn ngữ học để tạo ra con đƣờng khám phá tác phẩm tự sự

mới. Trong Dẫn luận phân tích cấu trúc truyện kể, ông chia cấu trúc truyện kể

làm ba tầng: tầng chức năng, tầng hành động và tầng trần thuật. Tiếp nhận ảnh

hƣởng của V. Propp, C. Bremond quan tâm logic của câu chuyện nhƣ một cấu

trúc chiều sâu. Ông cho rằng đơn vị nhỏ nhất của câu chuyện không phải là chức

19

năng mà là chuỗi. Mỗi chuỗi về mặt logic có ba chức năng: một tình huống hàm

chứa khả năng hành động hay sự kiện, một hành động đƣợc thực hiện thành sự

kiện và kết quả của hành động. Tuy nhiên, truyện kể của C. Bremond thiên về

hành động, lí thuyết của ông chỉ thiên về cấu trúc logic thuần duy lí. J. Greimas

đƣa ra lí thuyết mô hình vai và hình vuông ngữ nghĩa. Trong Cấu trúc ngữ nghĩa

học và Ý nghĩa, ông đã trình bày lí thuyết tự sự có nhiều cấp độ. Cấp độ bề ngoài

chia làm hai lớp: văn bản ngôn từ và cấu trúc ngôn ngữ. Cấp độ nội tại chia làm

hai lớp: ngữ pháp bề mặt và ngữ pháp nền tảng. Không nghiên cứu nhân vật, J.

Greimas nghiên cứu vai, vai nhƣ là kẻ hành động. Một vai có thể do nhiều nhân

vật khác nhau thực hiện, một nhân vật có thể cùng một lúc đóng nhiều vai. Ông

rút gọn mô hình bảy nhân vật của V. Propp xuống còn sáu vai, chia làm ba cặp

đối lập: chủ thể và khách thể, kẻ thúc đẩy và ngƣời thụ hƣởng, trợ thủ và địch

thủ. Theo J. Greimas, ý nghĩa của văn bản tự sự có đƣợc là do nó có các loại

quan hệ. Quan hệ đó đƣợc miêu tả bằng hình vuông ngữ nghĩa: cặp đối lập sống

– chết, sƣớng – khổ và cặp mâu thuẫn phụ trợ. Đây chính là chiều sâu của tự sự,

là phƣơng thức để tƣ duy tìm nghĩa. Lí thuyết tự sự của J. Greimas chỉ quan tâm

đến không gian, chỉ xem xét cấu trúc bề sâu, bỏ qua phƣơng diện cơ bản nhất của

tự sự là thời gian và không xét đến bề mặt với tính chất thẩm mĩ của tự sự.

Lấy truyện kể làm đối tƣợng nghiên cứu, các nhà tự sự học kinh điển đầu

tiên chỉ tập trung chú ý vào hành động, sự kiện, bỏ qua việc nghiên cứu cách kể,

nhân vật và ý nghĩa của truyện và lạm dụng thuật ngữ ngữ học. Bƣớc chuyển

mình thứ hai: từ truyện kể sang diễn ngôn trần thuật đã hình thành nên tự sự học

hiện đại. Ngƣời đặt nền móng cho bƣớc chuyển lớn này chính là G. Genette.

Chịu ảnh hƣởng từ trƣờng phái hình thức Nga, G. Genette nghiên cứu các quy tắc

kiến tạo diễn ngôn theo ngữ nghĩa học, “tôn trọng cơ chế của văn bản”, phát triển

các phạm trù của Tz. Todorov thành một hệ thống trần thuật hoàn chỉnh. Ông cho

rằng tự sự gồm ba khái niệm: lời văn trần thuật tức diễn ngôn, tình tiết câu

chuyện tức là “toàn bộ sự kiện đƣợc kể” và sự kể, hành động kể. Nghiên cứu lời

văn trần thuật là nghiên cứu mối quan hệ của nó với câu chuyện và với hành vi

kể chuyện. Mô hình tự sự của ông gồm ba phạm trù: thời gian (temps), ngữ thức

20

(mode) và ngữ thái (voix) gồm nhân xƣng, chỉ ngƣời kể chuyện và ngƣời nhận.

Từ nền tảng G. Genette xây dựng, các nhà tự sự học kế tục và bổ sung phần cấu

trúc chỉnh thể của tự sự bao gồm: sự kiện, câu chuyện, nhân vật.

Chịu ảnh hƣởng sâu sắc của chủ nghĩa cấu trúc, M. Bal định nghĩa tự sự

học là “lí luận về trần thuật, văn bản trần thuật, hình tƣợng, hình ảnh sự vật, sự

kiện cùng sản phẩm văn hóa “kể chuyện” (Trần Đình Sử, 2015, tr.12). Bà chia

văn bản tự sự thành ba lớp: văn bản trần thuật (narrative text), truyện kể (story),

chất liệu – câu chuyện (fabula) theo thứ tự tiếp xúc của ngƣời đọc từ ngoài vào

trong. Mỗi tầng gắn liền với những khái niệm hạt nhân. Văn bản bao gồm ngƣời

kể chuyện, trần thuật, bình luận phi trần thuật, miêu tả. Truyện kể bao gồm trật tự

sắp xếp, nhịp điệu, tần suất, từ ngƣời hành vi đến nhân vật, không gian, tiêu

điểm. Chất liệu bao gồm sự kiện, kẻ hành vi, thời gian và địa điểm. Lí thuyết tự

sự của M. Bal đã bao quát các lớp cơ bản của tác phẩm tự sự và đi sâu vào một

số khía cạnh. Hệ thống khái niệm định nghĩa chính xác và chặt chẽ của bà trở

thành cơ sở cho các công trình nghiên cứu tự sự. Thế nhƣng, M. Bal phủ nhận

khái niệm tác giả hàm ẩn bởi đây không phải là khái niệm riêng của tự sự.

Theo tổng kết của Martin Cortazzi, tự sự học chủ nghĩa cấu trúc quan tâm

năm vấn đề:

1. Coi tự sự học là một đối tƣợng nghiên cứu độc lập, dùng quy tắc, cấu trúc

tƣờng minh để nghiên cứu tổ chức ngữ nghĩa.

2. Chú trọng phân biệt câu chuyện và diễn ngôn.

3. Vận dụng ngữ pháp tạo sinh phân biệt cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu.

4. Xem nhân vật nhƣ là vai hoặc yếu tố hành động của tự sự.

5. Trung tâm chú ý của họ là dãy đơn vị tự sự, cách tổ chức và tầng bậc tự

sự. (Trần Đình Sử, 2015, tr.11)

Những năm 90 của thế kỉ XX, tự sự học có những chuyển biển quan trọng.

D. Herman gọi thời kì này là sự phục hƣng của tự sự học. Tự sự học hậu kinh

điển (tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa) là hƣớng nghiên cứu mở, mở ra nhiều

cách nhìn mới về hình thức và chức năng tự sự. Kế tục những thành tựu đã có, lí

thuyết tự sự giai đoạn này đề cập đến quá trình tiếp nhận văn bản tự sự, vai trò

21

đồng sáng tạo của ngƣời đọc, các vấn đề “giải tự sự”, mối quan hệ giữa cấu trúc

tự sự với hình thái ý thức xã hội. Ở giai đoạn hậu cấu trúc Tz. Todorov đề cập

đến diễn ngôn có tính quy chiếu, những bộ lọc của truyện kể, ý nghĩa và biểu

tƣợng xây dựng nhƣ một chủ đề trong Đọc tựa như xây dựng. R. Barthes chỉ ra

năm loại mã để tiếp nhận tác phẩm tự sự: mã hành động, mã nghĩa tố, mã giải

thích, mã tƣợng trƣng, mã văn hóa. Tự sự học hậu kinh điển mở ra hƣớng nghiên

cứu kết hợp với quan niệm phê bình, đề cao vai trò của ngƣời đọc, nghiên cứu

văn hóa và các lĩnh vực tự sự ngoài văn học. Những khuynh hƣớng năng động

của tự sự học hậu kinh điển phải kể đến nhƣ: tự sự học tri nhận, tự sự học nữ

quyền, tự sự học tu từ, tự sự học lịch sử, tự sự học đa phƣơng tiện…Không chỉ

chú ý đến chức năng ngữ pháp truyện, ngữ nghĩa truyện ở cấu trúc bề sâu, các

nhà tự sự hậu kinh điển quan tâm “tu từ học tự sự học nhƣ là phƣơng diện biểu

hiện tƣ tƣởng, tình cảm của tự sự. Ngoài vấn đề điểm nhìn thì kí hiệu tƣợng

trƣng, khoảng cách trần thuật là những vấn đề đƣợc quan tâm đặc biệt” (Trần

Đình Sử, 2015, tr.16). Từ những bƣớc đi đầu tiên đến nay, tự sự học không

ngừng mở rộng, phát triển và đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học.

Tự sự học trở thành bộ môn nghiên cứu liên ngành, cung cấp cho ngƣời nghiên

cứu một hệ thống lí luận phong phú để khám phá sự phức tạp của cấu trúc tự sự.

Từ khi manh nha xuất hiện, lí thuyết tự sự học đã có những đóng góp

đáng kể cho nghiên cứu văn học. Lấy nghệ thuật tự sự làm đối tƣợng nghiên cứu,

các nhà tự sự học đã tập trung tiêu điểm nghiên cứu vào các phƣơng diện: cốt

truyện, kết cấu, ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu,

không gian và thời gian nghệ thuật,… Nghiên cứu nghệ thuật tự sự, chúng ta

không thể bỏ qua điểm nhìn. Đây nhƣ là một khái niệm công cụ cơ bản nhằm xác

lập các mô hình truyện kể “Điểm nhìn chính là “mánh khóe” thuộc kĩ thuật, một

phƣơng tiện để chúng ta có thể tiến đến cái đích tham vọng nhất: sức quyến rũ

của truyện kể” (Trần Đình Sử, 2015, tr.135). Điểm nhìn là nhân tố quan trọng

phô diễn kĩ thuật “tay nghề” của nhà văn. Một loạt công trình của P. Lubblock,

G. Genette, W. Booth, R. Scholes và R. Kellogg, I. Lotman nghiên cứu điểm

nhìn đã tạo nên những bƣớc tiến dài tạo nên hệ thống lí thuyết vững chắc. Điểm

22

nhìn đƣợc xác định dựa vào ba tham tố: tiêu điểm, khoảng cách và phƣơng vị. Ba

tham tố này cung cấp dữ liệu để ta xác định và phân tích điểm nhìn của tác phẩm

tự sự.

Nghiên cứu điểm nhìn, các nhà tự sự đều tập trung vào ngƣời kể chuyện

và cách phân loại ngƣời kể chuyện: ngƣời kể chuyện ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ

ba, ngƣời kể chuyện toàn tri hoặc toàn tri một phần, ngƣời kể chuyện theo điểm

nhìn bên trong hoặc điểm nhìn bên ngoài, ngƣời kể chuyện kịch hóa hoặc phi

kịch hóa…Ngƣời kể chuyện là sản phẩm hƣ cấu của nhà văn để kể chuyện, có

thể là nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự có chức năng tổ chức các nhân vật

khác, tổ chức kết cấu của tác phẩm, dẫn dắt, định hƣớng và khơi gợi khả năng

đối thoại, tranh luận của ngƣời đọc. Ngƣời kể chuyện thống nhất nhƣng không

đồng nhất với nhà văn, giúp nhà văn bộc lộ những quan điểm của mình về cuộc

sống và nghệ thuật.

Yếu tố quan trọng bậc nhất, thành tố cốt lõi của một tác phẩm tự sự chính

là cốt truyện. Đây là sự sắp xếp thẩm mĩ, không tuân theo trật tự biên niên của sự

kiện và quan hệ nhân quả nghiêm nhặt, thống nhất theo ý đồ chủ quan của ngƣời

kể về những sự kiện của một câu chuyện nào đó, nhằm mục đích nêu bật đƣợc tƣ

tƣởng chủ đề và tạo sức hấp dẫn tối đa tới ngƣời đọc (Trần Đình Sử, 2015,

tr.180). Cốt truyện gồm năm phần: mở đầu, thắt nút, phát triển, cao trào hay bƣớc

ngoặt và mở nút. Cốt truyện tự sự chủ yếu là cốt truyện kịch tính tập trung vào

xung đột. Thế nhƣng, từ thế kỉ XX, ngƣời cầm bút đã tìm tòi, nỗ lực cách tân cốt

truyện. Cốt truyện trữ tình ra đời là minh chứng sáng tạo đặc biệt của văn xuôi

hiện đại. Truyện ngắn là nơi phô diễn những cách tân về cốt truyện hiệu quả

nhất. Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đã phân loại cốt truyện theo tiêu chí sự kiện;

tiêu chí thời gian; tiêu chí nhân vật…Cốt truyện luôn biến hóa khôn lƣờng tùy

thuộc vào tay nghề của mỗi nhà văn. Bởi thế, cuộc phiêu lƣu của cốt truyện

không bao giờ có hồi kết.

Lí thuyết tự sự chỉ ra kết cấu của các tầng bậc trần thuật. Một văn bản bao

giờ cũng có quy tắc tổ chức, sắp xếp riêng nhằm mục đích tạo nghĩa và chuyển

tải thông điệp. Yếu tố kết cấu là một mã văn bản cần đƣợc khám phá và lí giải để

23

mở ra ý nghĩa sâu xa của tác phẩm. Mỗi hình thức kết cấu đƣợc tạo ra đều gửi

gắm nội dung tƣ tƣởng hay chủ đề của tác phẩm tự sự. Lí thuyết tự sự hiện đại

cho ta thấy rõ sự biến dạng của thời gian bằng các biện pháp rút gọn, tỉnh lƣợc,

cảnh, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức thay đổi tính liên tục của sự kiện.

Mặt khác, tự sự học cũng nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ, giọng điệu tự sự

và các hình thức của nó. Dƣới ảnh hƣởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, văn xuôi

đƣơng đại dẫn dắt ngƣời chơi vào trò chơi ngôn ngữ với những thể nghiệm táo

bạo. Theo đó, nhà văn phát huy tối đa khả năng sáng tạo của bản thân, “cá tính

hoá” ngôn ngữ với cách xử lí ngôn từ, tạo lập cấu trúc ngữ pháp và đoạn văn. Phá

vỡ tính mực thƣớc, khuôn định của văn học truyền thống, văn học đƣơng đại xoá

mờ khoảng cách với độc giả bằng cách sử dụng ngôn ngữ đời sống, gia tăng khẩu

ngữ mang hơi thở đƣơng đại thông qua nhãn quan ngôn ngữ mang cá tính của

ngƣời sáng tạo để phản ánh cuộc sống đa diện, nhiều chiều. Cùng với ngôn ngữ,

giọng điệu tự sự cũng đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm bởi đây chính là yếu tố

quan trọng tạo nên phong cách nhà văn. Thông qua giọng điệu tự sự, chiều sâu tƣ

tƣởng, thái độ của nhà văn trƣớc hiện thực cuộc sống đƣợc bộc lộ rõ ràng nhất.

Đồng thời, đây cũng là thƣớc đo chuẩn xác nhất tài năng của ngƣời viết, giúp nhà

văn neo đậu mãi trong lòng độc giả.

Nhƣ vậy, trong một tác phẩm tự sự, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và giọng

điệu là những yếu tố quan trọng góp phần thể hiện nội dung tƣ tƣởng và quan

điểm nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn. Vận dụng lí thuyết tự sự học là

phƣơng pháp hữu hiệu để khám phá chiều sâu của tác phẩm và nhận diện tác giả

giữa vƣờn hoa đa sắc đƣơng đại.

1.2. Hành trình sáng tác của Văn Thành Lê

1.2.1. Từ một người trẻ đam mê văn chương…

Văn Thành Lê sinh năm 1986 tại Thanh Hóa. Sinh trƣởng trong gia đình

có truyền thống công tác trong ngành giáo dục từ bậc mầm mon đến Đại học, anh

thi đậu Đại học Sƣ phạm Huế khoa Sinh học. Suốt những năm tháng phổ thông

và những tháng ngày ngồi trên giảng đƣờng, Văn Thành Lê bắt đầu viết để thỏa

đam mê với văn chƣơng. Năm 2008, khi đang là sinh viên năm tƣ, anh đã có tập

24

truyện ngắn đầu tay. Tập truyện Hình như là tình yêu chính là bƣớc đệm kéo nhà

văn trẻ bén duyên và gắn bó dài lâu với nghiệp viết.

Những ngày tháng chờ đi dạy, chờ đƣợc làm bạn với phấn trắng, bảng

đen, Văn Thành Lê đón nhận tin vui đầu tiên trong sự nghiệp văn chƣơng của

mình, trở thành thành viên của Vòm me xanh báo Mực Tím với bút danh Me

Đâng. Nhà văn ra mắt Vòm ấn tƣợng với giải ba thơ. Tiếp nối thành công ấy là

một loạt giải thƣởng níu giữ bƣớc chân Văn Thành Lê trên mảnh đất chỉ có chỗ

cho ngƣời luôn sáng tạo: Giải Nhì truyện ngắn trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ

Chí Minh năm 2019; Giải Khuyến khích thơ Bút Mới lần 8, Báo Tuổi trẻ năm

2010; Giải Nhì truyện ngắn Văn học trẻ, Tạp chí Xứ Thanh năm 2011; Tặng

thƣởng truyện ngắn hay Tạp chí Nhà Văn, Hội Nhà văn Việt Nam, 2011, Giải

Nhì thơ Bút Mới lần 9, Báo Tuổi trẻ năm 2012; Giải B (không có Giải A), Giải

thƣởng Văn học Nghệ thuật 5 năm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2009 – 2014); Giải

Tƣ Cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Kim Đồng – Hội Nhà

văn Đan Mạch, 2015. Đến với văn chƣơng bằng thơ, thế nhƣng “nàng thơ”

không đủ sức níu giữ ngòi bút Văn Thành Lê. Nhà văn trẻ chỉ coi thơ là cuộc dạo

chơi thú vị còn văn xuôi mới là mảnh đất màu mỡ hợp “tạng” canh tác của anh,

là nơi anh gửi gắm, ƣơm mầm và gieo trồng những suy nghĩ, chiêm nghiệm về

cuộc sống đƣơng đại ngổn ngang sau hành trình dấn thân trải nghiệm.

Sau ba năm làm thầy, gắn bó với mái trƣờng phổ thông, Văn Thành Lê đã

có bƣớc chuyển đột ngột nhƣng tất yếu: từ bỏ bục giảng trở thành biên tập viên

Tạp chí Văn nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu, miệt mài với nghiệp viết để khẳng định

tên tuổi. Với anh, văn chƣơng “Là một. Là riêng. Là duy nhất” (Văn Thành Lê,

2017). Nhà văn trẻ nhận mình là “tự đeo ách khát khao cho câu chữ chạm đến tận

cùng của mình mà thôi” (Văn Thành Lê, 2017). Bén duyên với làng văn nhƣ cái

duyên tiền định, đến với văn chƣơng hồn nhiên sau tập truyện đầu tay Hình như

là tình yêu, Văn Thành Lê đã và đang chứng minh đƣợc sức viết mãnh liệt, đa

dạng của mình qua một loạt tác phẩm đƣợc công chúng đón nhận: Tập truyện

Con gái tuổi Dần, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2009; Tập truyện Trạm điện thoại ở

thiên đường, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 2011; Truyện vừa thiếu nhi Ông mặt

25

trời và mùi hương của mẹ, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2011; Tập truyện Biết tới khi

nào mưa thôi rơi, Nhà xuất bản Thời Đại, năm 2012.

1.2.2. … Đến những trang viết “Không biết đâu mà lần”

Là nhà văn trẻ thuộc thế hệ 8X, Văn Thành Lê cũng loay hoay định hình

phong cách, khẳng định chỗ đứng và lối đi riêng của mình trong dòng chảy

đƣơng đại. Nhà văn sớm nhận ra chặng đƣờng văn chƣơng dài dằng dặc chỉ in

dấu chân những ai có sự bền bỉ, dẻo dai, luôn nỗ lực, tìm tòi thể nghiệm tự làm

mới bản thân: “Đƣờng dài mới biết ngựa hay. Có biết bao cây viết tuổi hoa lên

ngựa rồi ngã ngựa, hay tự xuống ngựa tìm đƣờng khác phù hợp với tuổi mới của

mình hơn” (Văn Thành Lê, 2017). Chính vì thế, những sáng tác của anh đề cập

đến nhiều lứa tuổi: tuổi mới lớn, “tuổi hết lớn” và nhà văn dành sự ƣu ái đặc biệt

cho thiếu nhi. Sau nhiều thể nghiệm, Văn Thành Lê dần định hình đƣợc phong

cách, “tạng” văn chƣơng của mình. Nhà văn từng tâm sự: “viết cho ngƣời lớn để

thấy mình ngổn ngang đƣơng đại” (Việt Quỳnh, 2019). Trong những trang viết

“ngổn ngang đƣơng đại” ấy, Không biết đâu mà lần (truyện dài, Nhà xuất bản

Trẻ, 2014) đã tạo đƣợc dấu ấn đậm nét trên đƣờng đua văn chƣơng. Từng là một

nhà giáo, anh có cái nhìn của ngƣời trong cuộc. Văn Thành Lê không ngợi ca

giáo dục mà nhìn thẳng vào sự thật, đi sâu vào những mặt trái, những góc khuất

của nó. Lật giở từng trang sách, bức tranh giáo dục đầy những chấm đen lấm

tấm, hoen ố với những vấn đề nhức nhối đƣợc phơi bày. Ẩn sau giọng giễu nhại,

hài hƣớc là nỗi hoang mang, đau xót của nhà văn từng gắn mình với phấn trắng,

bảng đen trƣớc môi trƣờng giáo dục nghịch dị. Tác phẩm đã đƣa nhà văn trẻ đến

gần hơn với bạn đọc. Cũng trong năm 2014, Văn Thành Lê còn cho ra đời đứa

con tinh thần nữa: Tập truyện ngắn Châu lục thứ 7, Nhà xuất bản Kim Đồng.

Qua từng trang viết, Văn Thành Lê dần trƣởng thành, chọn cho mình lối đi

ít dấu chân ngƣời trong dòng chảy văn chƣơng đƣơng đại: đi sâu khai thác hiện

thực cuộc sống “ngổn ngang đƣơng đại” bằng giọng văn giễu nhại, trào lộng

không lẫn vào đâu đƣợc. Nhà văn trẻ xông xáo, dấn thân nhập cuộc, mỗi trang

viết là một “trang sống”, là những khám phá mới bằng những trải nghiệm của

bản thân. Anh khẳng định rằng: “Quá trình tôi thích ứng với cuộc sống, những

26

khúc cua, những ngã rẽ, đồng nghĩa với ngòi bút của tôi cũng thích ứng để vƣợt

thoát trên trang giấy” (Thúy Miên, 2016). Thế nhƣng, nếu chỉ có vốn sống thôi

chƣa đủ, Văn Thành Lê quan niệm nhà văn cần phải có trí tƣởng tƣợng. Đây là

năng lực quyết định tầm của ngƣời viết: “Những gì mà tôi đã “đi guốc vào bụng”

là “bột”, cộng hƣởng với tƣởng tƣợng tôi mới có thể gột nên “hồ” là tác phẩm.

Khả năng tƣởng tƣợng chỉ thực sự phát tác và có ý nghĩa khi đƣợc đứng trên nền

vốn sống/hiện thực chắc chắn” (An Sơn, 2016). Bởi thế, những trang viết của nhà

văn 8X đậm chất đời, mang hơi thở cuộc sống đƣơng đại. Anh chia sẻ: “Văn

chƣơng phải bắt nguồn và mang hơi thở của bộ mặt cuộc sống, dĩ nhiên ở đó con

ngƣời là trung tâm. Nếu không vậy, hẳn nhiên ngƣời viết sẽ tự cô lập mình với

bạn đọc. Chất sống là xƣơng sống của tác phẩm. Tƣ tƣởng làm nên hồn cốt tác

phẩm. Tác phẩm ít chất sống và tƣ tƣởng “đi vắng” sẽ là tác phẩm èo uột thiếu

sinh khí. Mọi kĩ thuật lúc này chỉ là tấm áo khoác ngoài, loay hoay lấp liếm”

(Xem phụ lục 7).

Bằng cảm quan hậu hiện đại, giải thiêng và tạo dựng thế giới ngụy tạo,

Văn Thành Lê đã gửi gắm những trăn trở, hoài nghi về cuộc đời, về những giá trị

tồn tại lâu đời, đi sâu vào lãnh địa ít ngƣời chạm tới để phơi trải cuộc sống “ngổn

ngang” nhiều chiều kích. Trong bài tham luận Văn chương, tôi đã bước vào và

tôi đã thấy, Văn Thành Lê từng trả lời câu hỏi viết cho độc giả hay viết cho

mình: “Tôi viết cho tôi, cho nhận thức của tôi, rồi mới đến cho ngƣời đọc. Những

trang viết đi ra từ ẩn ức của cá nhân. Tôi giải bài toán ẩn ức của tôi chứ không

phải bài toán viết thế này thì sách bán đƣợc bao nhiêu, viết thế kia sẽ bao nhiêu

ngƣời đọc” (Văn Thành Lê, 2016). Theo đó, nhà văn khƣớc từ những trang viết

theo thị hiếu độc giả tạo nên những cuốn sách bestseller – thứ văn ăn nhanh để

cần mẫn, kiên định với lối viết mình đã chọn. Dù viết về những vấn đề đã cũ,

nhƣng với bút pháp lạ hoá mang đậm dấu ấn hậu hiện đại đã kiến tạo nên những

trang viết đậm chất Văn Thành Lê không lẫn vào đâu đƣợc trong dòng chảy văn

chƣơng đƣơng đại.

Sau những trang viết Không biết đâu mà lần, Văn Thành Lê miệt mài viết

lách, mỗi năm anh đều có những sản phẩm chất lƣợng ra mắt công chúng. Hai

27

tập truyện Thừa ra một người, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2016 và Sa lan đỏ bãi

Xanh, Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh năm 2018 đã khẳng định hƣớng

đi đúng đắn mà nhà văn trẻ chọn lựa. Vẫn chất giọng trào lộng, giễu nhại về

những vấn đề nổi cộm trong cuộc sống thực, Văn Thành Lê đã sử dụng chữ nghĩa

nhƣ một trò chơi với sự biến hóa khôn lƣờng, khó nhầm lẫn. Càng về sau, những

tác phẩm của Văn Thành Lê càng “chất”, nỗ lực sáng tạo không ngừng để có

những nhân vật găm nhớ trong lòng ngƣời đọc, để không trở thành “ngƣời thừa”

của văn chƣơng.

Bên cạnh những tác phẩm về cuộc sống đƣơng đại, Văn Thành Lê dành sự

ƣu ái đặc biệt cho thiếu nhi. Từ khi công tác và gắn bó với nhà xuất bản Kim

Đồng, nhà văn trẻ thỏa sức đắm mình trong những giấc mơ thơ bé với giọng văn

nhí nhảnh, hồn nhiên. Năm 2017, Văn Thành Lê ra mắt độc giả nhí với truyện

dài Trên đồi, mở mắt, và mơ. Sau thành công ấy, năm 2020, tác giả tiếp tục chinh

phục độc giả với truyện dài Bên suối, bịt tai nghe gió. Nhà văn trẻ còn tạo dấu ấn

bất ngờ với hai tập chân dung văn học sắc nét Như cánh chim trong mắt chân

trời, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 2017 và Lần đường theo bóng, Nhà xuất bản

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021.

Nhƣ vậy, khi chọn lựa và sống trọn vẹn với văn chƣơng, Văn Thành Lê đã

gặt hái đƣợc những thành công nhất định. Anh vẫn miệt mài nhƣ “những cánh

chim thồ chữ” để đƣợc vui đùa cùng con chữ. Giữa dòng chảy đƣơng đại, Văn

Thành Lê giống nhƣ chú tắc kè hoa biến hóa khôn lƣờng lúc trong trẻo, tếu táo,

lúc trào lộng, giễu nhại sâu cay, không bao giờ bó buộc mình trong khuôn khổ

bởi nhà văn trẻ luôn tâm niệm: “Viết, là tôi đào bới, đục khoét chính tôi” (Văn

Thành Lê, 2017).

1.2.3. Tính khả dụng của việc tiếp cận văn xuôi Văn Thành Lê từ góc

nhìn tự sự học

Từ năm 1986 khi văn học đƣợc “cởi trói”, nhà văn bắt đầu những cuộc thể

nghiệm làm mới văn chƣơng, tạo nên những điều mới mẻ thu hút ngƣời tiếp

nhận. Một trong nhƣng nỗ lực làm mới diện mạo văn chƣơng đƣơng đại chính là

đổi mới lối viết và kĩ thuật kể chuyện. Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp,

28

Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phƣơng,… đã

thổi luồng sinh khí mới vào dòng chảy văn học. Thụ hƣởng những thành tựu của

thế hệ nhà văn tài năng, cây bút trẻ Văn Thành Lê cũng in dấu chân mình trong

vƣờn hoa đa sắc đƣơng đại. Khát khao viết, tự tìm tòi, đục khoét chính mình,

Văn Thành Lê đã kiến tạo nên những trang văn đậm chất đời, mang hơi thở cuộc

sống đƣơng đại ngổn ngang những chiều kích bằng chất giọng “trời phú” của

riêng mình. Bằng những trải nghiệm, vốn sống của bản thân, những vấn đề của

cuộc sống đƣơng đại hiện lên trong sáng tác của nhà văn 8X không phải mới: sự

đổ vỡ các giá trị truyền thống, môi trƣờng giáo dục nghịch dị với căn bệnh thành

tích ăn sâu, bén rễ tạo nên những cuộc đua không giống ai, con ngƣời trở nên tha

hoá trong vòng xoáy kim tiền… Thế nhƣng, với cái nhìn trực diện, nhìn thẳng,

nói thật về vấn đề nhƣ nó vốn có, “nội soi” vấn đề mắt thấy tai nghe, văn chƣơng

Văn Thành Lê hấp dẫn ngƣời đọc bởi lối viết mang đậm dấu ấn hậu hiện đại,

biến hoá khôn lƣờng trong từng trang viết. Thật khó để tìm thấy sự lặp lại mình

của nhà văn giàu nội lực qua từng tập truyện.

Trong Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – Lạ hoá một cuộc chơi, Thái

Phan Vàng Anh viết: “Tính chất hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại

chủ yếu nằm ở tâm thức sáng tạo, ở cảm quan về thế giới, con ngƣời, một thế

giới hỗn mang “mọi sự đều là theo cách của nó” cùng những “bản thể ngƣời” đa

trị và vụn vỡ, đơn độc, “chấn thƣơng”, hoài nghi, xa lạ với đời sống. Tinh thần

bất tín nhận thức, sự đổ vỡ những tiêu chuẩn giá trị, tính chất phi trung tâm, phi

trật tự của đời sống khiến văn học thời kì này mang cảm quan hậu hiện đại”

(Thái Phan Vàng Anh, 2017). Bén duyên và chọn lựa văn chƣơng làm bến đỗ,

khƣớc từ các đại tự sự, đi sâu khai thác cuộc sống đƣơng đại từ vốn sống và trải

nghiệm, Văn Thành Lê đã có những thử nghiệm táo bạo về lối viết để chọn lựa

phong cách phù hợp với bản thân. Cốt truyện và kết cấu tác phẩm của anh biến

đổi linh hoạt phù hợp với dụng ý nghệ thuật đề ra. Đặc biệt, nhà văn đã kiến tạo

cho mình ngôi nhà nghệ thuật riêng với cách sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu

khó trộn lẫn trong những tác phẩm, tác giả cùng thời. Khƣớc từ những trang viết

“ăn nhanh”, biến hoá ngòi bút từ những ẩn ức cá nhân, Văn Thành Lê vẫn bền bỉ

29

dệt văn, càng viết càng trƣởng thành. Nhà văn trẻ đã neo đậu trong lòng ngƣời

đọc nhờ thủ pháp mờ hoá, nghệ thuật giễu nhại, ngôn ngữ phì đại mang đậm dấu

ấn hậu hiện đại. Khả năng vận dụng ngôn ngữ sinh động, hoạt hoá, lối nói ví von

trùng điệp,… của Văn Thành Lê đã tạo những dấu ấn không thể phai mờ trong

lòng độc giả. Nhà báo Hoàng Quý đã đƣa ra lời nhận xét xác đáng về lối viết của

nhà văn 8X: “Một giọng văn hay với lối kể rất nhiều độc đáo, nhuần nhị đan cài

cách nói dân gian đặc hữu xứ Thanh. Anh phủ lên văn chƣơng tiếng Việt phong

nhiêu, lối nói phúng dụ đáng yêu, cách sử dụng chữ, sử chữ, diễn chữ chan chứa

tiếng cƣời. Tất cả hợp thành lớp lớp trang văn đậm chất giọng riêng đặc hữu Văn

Thành Lê, đậm sinh khí Văn Thành Lê, để gọi ra đƣợc những buồn vui đời mình”

(Hoàng Quý, 2018).

Ứng dụng lí thuyết tự sự học để khám phá thế giới nghệ thuật của Văn

Thành Lê là hƣớng đi sát hợp và hiệu quả. Trong công trình này, ở bình diện cấu

trúc tác phẩm, chúng tôi sử dụng lí thuyết tự sự học để tìm hiểu các kiểu cốt

truyện và kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê. Nghiên cứu nghệ thuật tự sự

trong văn xuôi Văn Thành Lê, chúng tôi còn đặc biệt nhấn mạnh vào ngôn ngữ

và giọng điệu tự sự bởi đó là “vốn liếng”, chất giọng “trời phú” của riêng nhà

văn.

* Tiểu kết Chƣơng 1

Trong chƣơng này, chúng tôi đã giới thuyết khái niệm và trình bày diễn

trình cùng những tiêu điểm nghiên cứu của tự sự học. Đồng thời, chúng tôi tìm

hiểu khái quát về hành trình sáng tác của Văn Thành Lê – gƣơng mặt 8X có sức

viết dồi dào ở khu vực phía Nam. Từ một ngƣời trẻ đam mê văn chƣơng với tập

truyện đầu tay Hình như là tình yêu, Văn Thành Lê đã trƣởng thành hơn, dần

“định vị” đƣợc mình trong trang viết thấm đẫm chất nghịch dị Không biết đâu mà

lần. Mỗi trang viết là những trải nghiệm, vốn sống đầy ắp của nhà văn trẻ trƣớc

những vấn đề ngổn ngang của guồng quay đƣơng đại. Để rồi, khi những trang

viết đậm chất đời để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả, nhà văn trẻ nhận ra

“tạng” viết phù hợp, đƣa ra quan niệm văn chƣơng để “định vị” mình trên văn

đàn. Từ đó, chúng tôi có nền tảng vững chắc để triển khai và phân tích các kiểu

30

cốt truyện và nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Văn

Thành Lê.

31

Chƣơng 2

CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TỰ SỰ

TRONG VĂN XUÔI VĂN THÀNH LÊ

Là cây bút trẻ năng động, đầy nội lực, thử sức với nhiều thể loại, văn xuôi

Văn Thành Lê hấp dẫn ngƣời đọc bởi cách nhà văn chọn lựa cốt truyện và kết

cấu cho những đứa con tinh thần của mình. Bên cạnh những cốt truyện, kết cấu

truyền thống, tác giả đã chọn lựa, mạnh dạn sử dụng những kiểu cốt truyện và kết

cấu của văn chƣơng hậu hiện đại để khám phá, đi sâu vào mọi chiều kích của

cuộc sống đƣơng đại.

2.1. Cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê

2.1.1. Khái lược về cốt truyện trong tác phẩm tự sự

Nếu nhƣ trong tác phẩm trữ tình, cốt truyện hầu nhƣ không tồn tại bởi tác

giả chủ yếu thể hiện diễn biến của tâm trạng, tình cảm thì trong tác phẩm tự sự,

cốt truyện đƣợc hiểu là bộ khung – yếu tố quan trọng không thể thiếu của câu

chuyện. Trong Từ điển Thuật ngữ văn học, cốt truyện (tiếng anh: plot) là “hệ

thống sự kiện cụ thể, đƣợc tổ chức theo yêu cầu tƣ tƣởng và nghệ thuật nhất định,

tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn

học thuộc các loại tự sự và kịch” (Lê Bá Hán và cs., 2007, tr.99).

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Cốt truyện là một

phƣơng diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, nó trỏ lớp biến cố của hình thức

tác phẩm. Chính hệ thống biến cố (tức cốt truyện) đã tạo ra sự vận động của nội

dung cuộc sống đƣợc miêu tả trong tác phẩm. Tính truyện (có cốt truyện) đã tạo

ra sự vận động của nội dung cuộc sống đƣợc miêu tả trong tác phẩm” (Lại

Nguyên Ân, 2017, tr.114).

Trần Đình Sử và các cộng sự trong Giáo trình lí luận văn học (tập II) Tác

phẩm và thể loại văn học định nghĩa “cốt truyện là chuỗi các sự kiện đƣợc tạo

dựng trong tác phẩm tự sự và kịch…Cốt truyện có hai tính chất cơ bản. Một là

tính liên tục hữu hạn trong trật tự thời gian, sự kiện này đặt sau sự kiện trƣớc và

32

cứ thế cho đến kết thúc. Hai là các sự kiện trong chuỗi có mối quan hệ nhân quả

hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa” (Trần Đình Sử và cs., 2007, tr.56).

Trong bài viết Vấn đề cách dịch thuật ngữ cốt truyện trong văn tự sự, tác

giả Lê Huy Bắc định nghĩa cốt truyện là “toàn bộ sự kiện đƣợc nhà văn kể trong

văn bản tự sự (và văn bản kịch) mà ngƣời đọc có thể kể lại. Cốt truyện là yếu tố

quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong bất kì một hình thức tự sự nào. Loại

bỏ cốt truyện văn bản tự sự lập tức chuyển sang dạng văn bản khác. Trong tác

phẩm tự sự (và cả kịch), cốt truyện là cái khung để đỡ cho toàn bộ tòa nhà nghệ

thuật ngôn từ đứng vững” (Trần Đình Sử, 2015, tr.179).

Nhƣ vậy, cốt truyện là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong tác phẩm

tự sự. Đây là hệ thống các sự kiện, biến cố nối tiếp nhau linh hoạt, đa dạng có tác

động lớn đến số phận, tính cách của nhân vật. Cốt truyện còn là phƣơng tiện để

nhà văn tái hiện các xung đột xã hội. Từ đó, làm nổi bật, sáng rõ chủ đề và tƣ

tƣởng của tác phẩm. Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là vấn đề đƣợc nhà văn

quan tâm hàng đầu bởi nó là cái lõi của truyện, thể hiện những biến cố quan

trọng, đảm bảo sự mạch lạc của diễn biến câu chuyện. Theo đó, cốt truyện góp

phần quan trọng trong việc bộc lộ các mâu thuẫn của đời sống, làm sáng rõ chủ

đề và tƣ tƣởng của tác phẩm. Những cách tân về cốt truyện đƣợc phô diễn hiệu

quả nhất trong truyện ngắn. Cốt truyện của truyện ngắn thƣờng diễn ra trong một

thời gian ngắn, không gian hạn chế. Thông qua cốt truyện, ngƣời đọc nhận ra

những triết lí sâu sắc về cuộc đời và tình ngƣời đƣợc nhà văn gửi gắm trong

những đứa con tinh thần.

Về việc phân chia cốt truyện, các nhà nghiên cứu dựa vào các tiêu chí để

đƣa ra những kiểu cốt truyện cơ bản của loại hình tự sự. Căn cứ vào sự kiện, có

năm kiểu cốt truyện: cốt truyện phân đoạn, cốt truyện liền mạch, cốt truyện

huyền ảo, cốt truyện ghép mảnh và cốt truyện siêu văn bản. Căn cứ vào thời gian

trần thuật, cốt truyện đƣợc chia thành ba kiểu: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện

khung và cốt truyện gấp khúc. Căn cứ vào nhân vật, cốt truyện chia thành năm

kiểu: cốt truyện đơn tuyến, cốt truyện đa tuyến, cốt truyện hành động, cốt truyện

tâm lí và cốt truyện dòng ý thức.

33

2.1.2. Các kiểu cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê

Trải lòng trên những trang viết, Văn Thành Lê sử dụng đa dạng, phong

phú các kiểu cốt truyện. Nhà văn đã chọn lựa kĩ lƣỡng bộ khung vững chắc cho

ngôi nhà nghệ thuật của mình. Dù sử dụng kiểu cốt truyện truyền thống hay

những kiểu cốt truyện hiện đại, cây bút trẻ này vẫn để lại dấu ấn riêng, những tín

hiệu nghệ thuật không trộn lẫn. Nhà văn đã vận dụng linh hoạt những kiểu cốt

truyện: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện nghịch đảo, cốt truyện tâm lí và cốt

truyện kịch hóa để phản ánh hiện thực cuộc sống đƣơng đại.

2.1.2.1. Cốt truyện tuyến tính

Cốt truyện tuyến tính ra đời từ thời cổ đại. Đây cũng là kiểu cốt truyện

phổ biến trong các tác phẩm tự sự. Sự vận động của cốt truyện chính là tiến trình

của các sự kiện đƣợc liên hệ với nhau theo tính chất thời gian hay nhân quả.

Mạch tự sự đƣợc triển khai theo trục tuyến tính, sự kiện nào có trƣớc đƣợc kể

trƣớc, sự kiện nào có sau đƣợc kể sau, quan hệ nhân quả đƣợc duy trì, kịch tính

đƣợc chú trọng (Trần Đình Sử, 2015, tr.186).

Khảo sát 47 truyện ngắn trong ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi thống kê có 8 truyện ngắn sử dụng cốt truyện truyền thống này. Đó là

các truyện: Xóm trọ, Sẽ trôi về đâu (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), Rũ bùn mà đi,

Tiếng vọng phía xa xăm, Xúc cảm, Mẹ, con và những khoảng trống (Thừa ra một

người), Hoàng tử tuổi xế chiều, công chúa hoàng hôn, Chung chiêng hẻm cụt (Sa

lan đỏ bãi Xanh),…

Sử dụng kiểu cốt truyện tuyến tính, các sự kiện diễn tiến trên trục nằm

ngang, có sự kiện khởi đầu, phát triển và kết thúc. Các sự kiện cứ thế nối tiếp

nhau cho đến hết truyện. Trong Xóm trọ, cuộc sống sinh viên của nhân vật tôi với

những ngƣời lao động cùng những cảm xúc với chị Lan “ngủ ngày cày đêm” lần

lƣợt hiện ra theo chiều dài thời gian. Theo lời kể của nhân vật tôi, “đặc sản” của

xóm trọ mƣời ngƣời chính là tiếng chửi nhau. Gia đình chị cắt tóc lúc bụp chát

lúc âu yếm, yêu thƣơng, tiếng “đối thoại ngày mới” về tiền nong của mụ chủ và

lão con, những mâu thuẫn giữa chị bán xôi và lão con mụ chủ Đào Kiều Ân, trận

34

cầu nảy lửa của chị bán xôi và chị hớt tóc do lão Ân châm ngòi. Một dì Hợi khá

giả nhƣng cuối đời đi thuê trọ, bán rau sống qua ngày “lầm lũi nhƣ ma xó” khiến

mọi ngƣời sờ sợ, ít tiếp xúc. Thế nhƣng, đâu đó, trong cuộc sống xô bồ, tình

ngƣời ấm áp vẫn còn. Cơn lũ cuối đông, nƣớc ngập khắp phòng, nhân vật tôi và

bạn dũng cảm bƣớc vào phòng và kê đồ giúp dì. Lời cảm ơn cùng chục trứng của

dì khiến chàng sinh viên áy náy và nhìn nhận lại chính mình. Dù mỗi ngƣời đều

có ngã rẽ của riêng mình nhƣng hình ảnh những ngƣời lao động nghèo vất vả

mƣu sinh ở xóm trọ cũ kĩ, yên tĩnh giữa lòng thành phố, vẫn vẹn nguyên trong kí

ức của nhân vật tôi.

Đến với Chung chiêng hẻm cụt, vẫn là cuộc sống trong hẻm trọ với đủ

mọi thành phần nhƣng rất khác so với Xóm trọ. Tiếp tục chọn lựa cốt truyện

tuyến tính, tác giả dẫn dắt ngƣời đọc đến những câu chuyện rất đời của những

nghệ sĩ đƣờng phố trong hẻm cụt 69. Đặc sản của hẻm là âm nhạc với mọi thể

loại “nhạc dân tộc truyền thống nghìn năm vật lộn đến nhạc tân thời hội nhập đổi

mới” (Văn Thành Lê, 2018, tr.92) và mùi thịt nƣớng thơm lừng của mẹ chủ.

Nhân vật tôi – anh viết báo dạo kèm chức danh nghệ sĩ nhiếp ảnh đã trải qua

những tháng ngày đầy ắp kỉ niệm với tay thổi kèn trong đám hiếu, cặp đôi hát

dạo và mẹ chủ. Ở đó, mối tình của mẹ chủ và lão thổi kèn nảy nở sau bữa đổ

máu, leo tƣờng rào. Cũng chính hẻm 69 đã cho nhân vật tôi cơ hội đổi đời. Bức

ảnh “chộp” màn song tấu của lão thổi kèn và cu em hát dạo trong đêm mƣa đạt

giải nhất cuộc thi ảnh Cuộc sống mến thương đã mở ra trang mới – trở thành

phóng viên thực sự của một tờ báo, chấm dứt những ngày viết dạo. Kết truyện là

buổi chia tay “vui hơn hội” với âm thanh chung chiêng huyền diệu độc nhất vô

nhị của “kèn đám ma pha guitar hát dạo” (Văn Thành Lê, 2018, tr.107) mở ra lối

đi riêng cho từng nhân vật.

Từng là sinh viên Sƣ phạm, Văn Thành Lê có đủ vốn sống để trải lòng về

thời “ét-vê” đong đầy kỉ niệm. Trong Sẽ trôi về đâu, cốt truyện tuyến tính đƣợc

sử dụng để tái hiện những năm tháng lạc bƣớc vào sƣ phạm của nhân vật hắn. Từ

buổi đầu gặp gỡ anh thầy N.P.K trong buổi sáng đầu thu của một chàng robot

đƣợc bố mẹ lập trình sẵn phải từ bỏ khát khao vào trƣờng Y đến những mùa thi

35

“Bơ phờ. Mờ mắt. Bạc râu. Dài ria” (Văn Thành Lê, 2015, tr.119). Học phần

quốc phòng với những kỉ niệm nhớ đời: trộm đồ có phụ tùng con gái và đƣợc bắn

đạn thật. Trở về trƣờng, cả đám ngơ ngác với tin sét đánh anh thầy chủ nhiệm

cƣới vợ vì nhậu say lỡ “sút nhầm cầu gôn” với hàng xóm cạnh phòng. Bao hoài

bão, khát vọng giảng viên, thạc sĩ, tiến sĩ tan biến vì phải cƣới chạy làng. Sang

năm ba, nhân vật hắn dẫn ngƣời yêu về ra mắt sau cuộc gặp định mệnh trên

chuyến xe khách ngột ngạt. Nhƣng cuộc tình ấy cũng tan biến nhẹ nhàng nhƣ khi

đến. Bốn năm sinh viên kết thúc bằng cuộc nhậu bên bờ sông Hƣơng với những

hoang mang, chông chênh của tuổi trẻ: cuộc đời mỗi ngƣời sẽ trôi về đâu?

Cốt truyện tuyến tính truyền thống không chỉ đƣợc sử dụng trong những

trang viết trải lòng về cuộc sống sinh viên, về xóm trọ, Văn Thành Lê còn chọn

lựa cốt truyện này khi cảm nhận cuộc sống đƣơng đại “ngổn ngang chiều kích”.

Trong guồng quay của xã hội kim tiền, mỗi ngƣời có một số phận, một mảnh đời

riêng: kẻ trƣợt dài trên con đƣờng tha hóa, ngƣời chìm trong điên loạn hay những

khoảng trống khó có thể lấp đầy trong gia đình… Rũ bùn mà đi bắt đầu từ lời

giới thiệu ngắn gọn theo cách truyền thống về nhân vật “Em xinh lắm. Xinh vô

địch” (Văn Thành Lê, 2016, tr.59). Để rồi, từ lời dẫn ngắn gọn, trực tiếp ấy, cuộc

đời của nhân vật em mở ra trƣớc mắt ngƣời đọc. Sự xinh đẹp của em là đầu mối

của mọi rắc rối, ảnh hƣởng sâu sắc đến cuộc đời nhân vật sau này. Đầu cấp hai,

nhiều chàng trai ao ƣớc đƣợc làm trâu, lợn, chó, mèo miễn là đƣợc em chăm sóc,

vuốt ve, yêu thƣơng. Càng lớn em càng xinh, lên cấp ba danh sách những chàng

trai theo đuổi em càng dài không thể chặt đứt y nhƣ đuôi yêu quái. Bởi thế, em

cũng là nguyên nhân của mọi cuộc ẩu đả, khiến thầy và các bạn trai trong lớp bị

kỉ luật. Trong số những ngƣời theo đuổi ấy, anh – ngƣời bạn thanh mai trúc mã

thầm thƣơng trộm nhớ, yêu thầm em, luôn bị giày vò bởi cơn ghen âm ỉ. Em

không thi đại học, trở thành cô thợ may rồi theo ngƣời chị bà con xa vào Sài Gòn

với giấc mộng đổi đời. Anh vẫn chung tình với em. Rồi em trở về trên chiếc

Mercedes với ngƣời đàn ông “rậm râu sâu mắt, thân hình phƣơng phi vừa dài vừa

to” (Văn Thành Lê, 2016, tr.71), làm lại nhà cho mẹ. Lần tiếp theo em về trên

chiếc xe Camry với thiếu gia hội tụ đủ “nhất lé nhì lùn tam hô tứ rỗ” (Văn Thành

36

Lê, 2016, tr.72) khích lệ lũ con gái mới lớn theo mình. Em quên mất lời mẹ dặn

“thân con gái nhớ giữ chắc cái cạp quần” (Văn Thành Lê, 2016, tr.72). Ngày anh

ra trƣờng, con em khoảng hơn một tuổi. Kết thúc câu chuyện là cảnh nhân vật

anh đi trên đƣờng đê nhớ kỉ niệm thơ ấu làm chú rể cô dâu, trao em nhẫn cỏ. Cốt

truyện đƣợc kể theo trình tự thời gian khiến cuộc đời nhân vật hiện ra rõ nét. Vẻ

“xinh vô địch” chính là căn nguyên khiến cuộc đời em trƣợt dài trên con đƣờng

tha hóa trở thành cô gái lấy thân nuôi miệng. Dù thế, nhân vật anh vẫn giữ trọn

mối tình đơn phƣơng trong sáng dành cho em.

Tiếng vọng phía xa xăm cũng sắp xếp các sự kiện theo thời gian tuyến

tính. Câu chuyện bắt đầu bằng sự kiện nhân vật tôi đến bệnh viện tâm thần với

ngƣời yêu khi nàng đang chăm cô bạn tên Tâm. Tôi đƣợc nàng kể lại vì sao Tâm

ở đây. Có lúc cô lên cơn ôm chặt Linh – ngƣời bạn cùng phòng – gào thét “Con

quỷ, tao phải giết mày” (Văn Thành Lê, 2016, tr.163). Khi cô lại cầm con dao

tìm Linh để giết. Tâm căm thù Linh vì thấy bạn luôn kè kè bên thầy giảng viên

trẻ đƣợc giữ lại khoa – ngƣời cô yêu thầm. Rồi mẹ Tâm vào bệnh viện, tôi và

nàng mới biết đƣợc hoàn cảnh trớ trêu của gia đình Tâm: chị gái Tâm cũng bị

tâm thần khi đang học đại học năm hai. Mẹ Tâm tìm đủ mọi cách thuốc thang

chạy chữa cho con. Từ một giáo viên, mẹ Tâm bị đƣa xuống đánh trống trƣờng

và làm tạp vụ vì trƣờng nói cô mê tín quá không thể đứng lớp. Và giờ Tâm lại

nối bƣớc theo chị. Rời bệnh viện, Tâm đƣợc bạn cùng phòng của nhân vật tôi

chữa bệnh nhƣng vì chƣa đủ công lực nên đành lực bất tòng tâm. Kết thúc truyện,

nhân vật tôi đƣợc biết Tâm lại lên cơn đúng hôm đám cƣới thầy giảng viên trẻ.

Bằng việc sử dụng cốt truyện tuyến tính, Văn Thành Lê thông qua ngòi bút đã

mở ra cuộc đời bi kịch của mẹ con Tâm. Những mảnh đời nhƣ thế cũng dễ dàng

bị lãng quên nhƣ hồi tút dài của điện thoại – tiếng vọng xa xăm chìm khuất trong

cuộc đời ngổn ngang.

Ở Mẹ, con và những khoảng trống, cốt truyện tuân theo trật tự thời gian

truyền thống lại tiếp tục đƣợc sử dụng. Nhân vật Anh cùng em gái phải vào

phƣơng Nam lập nghiệp vì lệ phí xin việc ở quê đắt đỏ. Hai anh em tích góp mua

một căn nhà đón mẹ vào ở cùng để thuận tiện chăm sóc. Thế nhƣng, khi mẹ vào

37

sống chung, những khoảng cách giữa mẹ và con cứ lớn dần bởi suy nghĩ cách

biệt, mọi thứ xáo trộn. Kết thúc truyện, cây ớt chỉ thiên mẹ trồng lúc mới vào đã

có quả chín cũng nhƣ không gì là không thể hóa giải, nhất là tình mẹ con. Câu

chuyện nhẹ nhàng nhƣng để lại nhiều suy ngẫm trong lòng ngƣời đọc: khoảng

cách thế hệ làm sao ngăn nổi hƣơng vị tình thân?

Xúc cảm là câu chuyện về những con ngƣời bám trụ lại Sài Gòn lập

nghiệp và bị cuốn theo vòng xoay vội vã của hòn ngọc Viễn Đông. Hai lăm tuổi

chị kết hôn với ngƣời chồng giỏi giang. Khi con vào lớp một, chị hết cảnh ở trọ

với căn nhà hơn trăm mét vuông ở thành phố. Rồi chị mang bầu đứa thứ hai,

cuộc sống cứ thế trôi đi, hai vợ chồng thiếu sự chia sẻ, đồng cảm, thiếu xúc cảm

dành cho nhau. Hai ngƣời mỗi ngƣời mỗi việc trong căn nhà với hạnh phúc bấp

bênh. Cốt truyện tuyến tính thật hiệu quả để kể về cuộc đời của những con ngƣời

giữa thành phố hối hả, nhộn nhịp. Họ vô tình quên đi những xúc cảm vốn có

dành cho nhau. Và cứ thế hai bốn giờ một ngày trôi qua cứ nối tiếp nhau trong sự

tẻ nhạt ấy.

Cốt truyện tuyến tính là kiểu cốt truyện truyền thống, thƣờng xuyên đƣợc

sử dụng trong tác phẩm tự sự. Việc tổ chức trần thuật theo trình tự thời gian

tuyến tính tạo cảm giác câu chuyện diễn ra tự nhiên, liền mạch. Ngƣời đọc nhƣ

đƣợc trực tiếp chứng kiến diễn biến của các sự kiện. Thế nhƣng, trên con đƣờng

tƣởng nhƣ xƣa cũ, mỗi nhà văn vẫn có những sáng tạo riêng để neo đậu trong

lòng ngƣời đọc. Văn Thành Lê cũng vậy, anh chọn cốt truyện theo trình tự thời

gian này để nói về cuộc sống đƣơng đại ngổn ngang nhƣng vẫn đầy ắp tính nhân

văn.

2.1.2.2. Cốt truyện gấp khúc

Trong những đứa con tinh thần đậm chất Văn Thành Lê, bên cạnh cốt

truyện tuyến tính, nhà văn ƣu ái chọn lựa cốt truyện gấp khúc để thỏa sức “cày

bừa”, sáng tạo. Cốt truyện gấp khúc xuất hiện vào đầu thế kỉ XX. Đây là kiểu cốt

truyện đƣợc các nhà văn đƣơng đại ƣa sử dụng để thể hiện khát khao làm chủ

thời gian, thoát khỏi cái cái nôi chật hẹp của cốt truyện tuyến tính. Trật tự thời

gian truyền thống bị phá vỡ, thay vào đó các sự kiện vị xới tung, đảo lộn, đƣợc

38

tác giả sắp xếp theo ý đồ sáng tác của mình “thời gian bị đảo ngƣợc và nhảy cóc

trong mạch tự sự, nhiều đoạn hồi cố đƣợc đan xen, tạo nên tính đồng hiện ngẫu

nhiên và lỏng lẻo của cốt truyện” (Trần Đình Sử, 2015, tr.186). Cốt truyện gấp

khúc thƣờng mở đầu bằng tình huống kết thúc truyện, ngƣời kể chuyện thông báo

kết quả trƣớc rồi mới đƣa ra những sự kiện dẫn dắt hé mở nguyên nhân của sự

việc. Từ sự việc ở hiện tại, nhà văn đƣa ngƣời đọc ngƣợc về quá khứ, lần tìm

những mắt xích, sự kiện ban đầu. Các sự kiện cứ nhƣ thế tiếp diễn đến hết truyện.

Khảo sát 47 truyện ngắn trong ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy nhà văn sử dụng kiểu cốt truyện gấp khúc dày đặc 13 truyện.

Kiểu cốt truyện này xuất hiện trong: Nghĩa địa có đom đóm bay, Quẩn quanh

dưới trời, Vá lại ngày đã qua, Hun hút cửa sông, Lão …vẫn hành quân (Biết tới

khi nào mưa thôi rơi), Kẻ rao bán..., Si sẽ lại xanh, Đời lâng lâng, Khe Mung

Lung, Thừa ra một người, Bến mê (Thừa ra một người), Sa lan đỏ bãi Xanh, Đi

nửa ngày đàng (Sa lan đỏ bãi Xanh),...

Cốt truyện gấp khúc thật đắc dụng để nhà văn trẻ mở ra những mảng sáng

– tối của cuộc sống đƣơng đại. Chọn loại cốt truyện này, cuộc sống buông thả,

trƣợt dài trên con đƣờng tha hóa của một bộ phận ngƣời trẻ dần đƣợc phơi bày

trên những trang viết của Văn Thành Lê mang đến bất ngờ cho ngƣời đọc. Nghĩa

địa có đom đóm bay bắt đầu bằng cuộc chạm trán bất ngờ của nhân vật tôi với

ngƣời bạn học. Với khuôn mặt “thồn thộn ngơ ngơ”, nụ cƣời nham hiểm, Kền

lƣớt qua tôi “nhƣ đang bận tâm điều gì khác nặng đầu lắm” (Văn Thành Lê,

2015, tr.88). Để rồi từ đó những hồi ức về Kền đƣợc mở ra. Là con của lão Kên

lắm vợ, tối tối ra đầu làng hay cuối làng tập thể dục dƣỡng sinh, Kền đƣợc thừa

hƣởng gene máu gái của bố, sát gái với lịch sử tình trƣờng dày đặc. Út Liên hay

lớp phó học tập đều bị Kền hôn. Tết năm tƣ đại học, Kền bị ép cƣới để lão Kên

thu chiến lợi phẩm trƣớc khi về vƣờn. Thế nhƣng, đêm tân hôn, vợ Kền rú lên

man dại rồi bất tỉnh đƣợc ngƣời nhà đƣa vào trạm xá khi nhận đƣợc món quà

cƣới “một thai nhi hai, ba tháng nằm trong lọ thủy tinh trong suốt” kèm theo

dòng chữ “ngày vui của anh cũng là ngày giỗ của con” (Văn Thành Lê, 2015,

39

tr.96). Hôn nhân của Kền cũng đổ vỡ. Chứng nào tật đó, Kền phải lãnh hậu quả

do tính “chim chuột” của mình. Trƣớc hôm đón dâu lần hai, Kền trốn nhà ra

nghĩa địa gặp ngƣời yêu cũ. Một lần nữa lại là tiếng rú rùng rợn vang lên, Kền bị

cắt mất của quý để khỏi đi “gieo giống” khắp nơi bằng một lƣỡi lam cực ngọt.

Đom đóm bay rợp trời nghĩa địa còn Kền thì ngẩn ngẩn, ngơ ngơ từ đó.

Truyện Kẻ rao bán... bắt đầu bằng sự kiện ở hiện tại, nhân vật hắn ra khỏi

nhà nhìn thấy những đứa trẻ giống nhau: “Những đứa trẻ có vành tai rộng và dài.

Những đứa trẻ chân đi hình chữ bát. Những đứa trẻ mũi hình túi mật. Những đứa

trẻ lông mày rậm có ánh nhìn như luôn chiếu tướng hắn” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.7). Sự việc kì lạ ấy đƣợc lí giải ở những phần tiếp theo. Những đứa trẻ giống

nhau mà hắn nhìn thấy chính là do việc rao bán tinh trùng mà ra. Sau lần bán tinh

trùng đầu tiên, nhận đƣợc số tiền nhƣ mơ, hắn trƣợt dài, thậm chí “chuyển giao

trực tiếp”. Thế nhƣng, giấc mơ về lão Khuynh, kẻ kí gửi con khắp làng trên xóm

dƣới khiến hắn thức tỉnh chạy đến bên ngƣời yêu.

Đến truyện ngắn Hun hút cửa sông, một lần nữa Văn Thành Lê sử dụng

cốt truyện gấp khúc, đảo lộn trật tự tuyến tính, nhảy cóc mạch tự sự góp phần tạo

kịch tính, gây bất ngờ cho ngƣời đọc. Truyện bắt đầu bằng sự kiện Lạc lao ra cứu

Thơ nhảy cầu tự tử trƣớc ngày Lơn Song chính thức vào lễ hội vía Ông. Từ đó,

nhà văn dẫn dắt ngƣời đọc về cuộc sống bất hạnh của Lạc – đứa trẻ bị bỏ rơi để

theo đuổi giấc mơ bên trời Tây. Đƣợc một cƣ dân theo đạo Ông nuôi nấng, Lạc

trở thành ngƣời trên đảo. Một lần, Lạc cõng Thơ – cháu đời thứ năm của Ông bị

trật chân từ lƣng chừng núi về Nhà Dài. Từ đó, Lạc và Thơ nảy nở tình cảm đặc

biệt. Cuộc sống của Lạc luôn bị ám ảnh bởi những giấc mơ khủng khiếp về bố

mẹ và chị chen chúc trong trại tị nạn, bị hãm hiếp hay phải ăn thịt ngƣời đã chết

để thoi thóp qua ngày. Thế nhƣng, trong giấc mơ, Lạc cũng luôn tin rằng bố mẹ

sẽ quay lại tìm mình bởi thế anh luôn bám trụ lại đảo. Trong khi đó, Thơ lại

muốn qua phố, chạy theo những ánh hào quang nơi thị thành tấp nập. Dù Lạc can

ngăn nhƣng Thơ vẫn nhất quyết ra đi trút bỏ bộ bà ba đen truyền thống của đạo

Ông. Để rồi, cuối cùng Thơ phải tự tử vì vòng hai to quá cỡ, đƣợc Lạc cứu sống

và dang rộng vòng tay đón Thơ về.

40

Không chỉ sử dụng cốt truyện tuyến tính để tái hiện cuộc sống buông thả

của những ngƣời trẻ, Văn Thành Lê còn sử dụng cốt truyện này để mở ra những

cảm xúc chông chênh, những mảnh đời, số phận bi kịch trong guồng quay của xã

hội kim tiền. Bến Mê là truyện ngắn khép lại tập truyện Thừa ra một người.

Trong tác phẩm này, cốt truyện gấp khúc rất phù hợp để gợi nhắc mối tình sâu

đậm hồi sinh viên của chị và anh ở bến Mê. Câu chuyện bắt đầu vào ngày hội

lớp, anh – ngƣời yêu cũ của chị là MC. Từ sự kiện ở hiện tại, chị nhớ lại kỉ niệm

ngọt ngào thời sinh viên: anh tỏ tình mình ở bến Mê. Sau đoạn hồi cố là hiện tại,

chị nhận đƣợc tin nhắn của anh, bị các bạn cùng phòng trêu chọc. Anh và chị

chia tay vì khoảng cách dù còn yêu nhau. Rồi chị cƣới chồng, sau bảy năm anh

cũng yên bề gia thất. Truyện kết thúc bằng sự kiện chị và anh gặp nhau ở bến Mê

sau tin nhắn của anh.

Khe Mung Lung bắt đầu bằng việc giới thiệu về khe Gáo Bại (Đồng Mọc),

nơi Trang sinh ra, cho chồng sắp cƣới nghe. Khe đã đi vào những trang nhật kí

của cô với cái tên khe Mung Lung. Liền sau đó là hồi ức của Trang về năm tháng

tuổi thơ không có bố, tƣởng khe Gáo Bại là bố mình nhƣ lời mẹ nói. Cô lớn lên

ngoan ngoãn, tin tƣởng tuyệt đối vào mẹ dù mẹ làm nghề bùa ngãi. Và ngƣời bố

bỏ mẹ con Trang đi xuất khẩu lao động theo giấc mơ vàng rồi có vợ nơi xứ

ngƣời, trở về xin lỗi mẹ con Trang. Tối ấy, mẹ Trang đem hình nhân ra đốt và từ

đó bỏ nghề. Truyện khép lại bằng giây phút ở thực tại, Trang và chồng sắp cƣới

lên đầu nguồn con khe, quyết định mai đi mời bố về dự đám cƣới.

Trong Đời lâng lâng, nhân vật tôi và Văn là đôi bạn với công việc và vị trí

xã hội khác nhau. Văn là giảng viên đại học còn tôi là ngƣời thợ sửa xe sinh ra

trong gia đình “danh gia vọng tộc”. Thế nhƣng cả hai đều rơi vào bi kịch vỡ

mộng. Để thể hiện hết những cảm xúc, tâm trạng của nhân vật, Văn Thành Lê sử

dụng kiểu cốt truyện gấp khúc. Câu chuyện bắt đầu từ hiện tại Văn và tôi có cuộc

hội ngộ bất ngờ tại một quán nhậu. Tiếp đến là một đoạn hồi cố kể lại thời Văn

và tôi đi học. Lúc ấy, Văn ngƣỡng mộ gia đình tôi, coi đó là thƣớc đo để hƣớng

tới. Còn tôi chọn học nghề sửa xe máy vì thấy không thể khoác chiếc áo quá khổ

“đại học” và hiểu rõ danh vị xã hội hơn ngƣời của bố mẹ từ đâu mà ra “từ phó

41

tiến sĩ, bố tôi trở thành tiến sĩ chỉ sau một đêm, không cần học hành đề tài đề tọt”

(Văn Thành Lê, 2016, tr.81), mẹ tiến thân cũng nhờ quan hệ. Sau đoạn hồi cố,

câu chuyện quay trở về hiện tại, Văn và tôi trên bàn nhậu và những câu chuyện

quá khứ và sự vỡ mộng ở hiện tại. Với cốt truyện gấp khúc, nhà văn đã gợi ra bi

kịch của con ngƣời trong cuộc sống hiện đại với cuộc chạy đua bằng cấp đầy

nhục nhã.

Truyện Thừa ra một người bắt đầu bằng sự kiện ở hiện tại bên đống lửa

trại tắt dần sau buổi tối quậy tƣng bừng, nàng tá hỏa khi nghe chú bảo vệ báo tin

học sinh lớp nàng nhảy lầu tự tử. Tiếp đó, nhà văn xen vào một đoạn hồi cố về

ngày nàng mới ra trƣờng cũng trong hội trại, một nữ sinh lớp nàng chơi trò tăng

dân số. Nàng vào phòng y tế mới vỡ lẽ vì bị từ chối tình cảm nên Nguyên – lớp

trƣởng lớp nàng nhảy lầu để dọa cho bạn sợ mà nhận lời. Rồi một loạt sự kiện

diễn ra trong ba năm đi dạy của nàng hiện ra trƣớc mắt ngƣời đọc, toàn những sự

cố trên trời rơi xuống: học sinh bỏ học đi lấy chồng, học sinh bị bắt vì cƣớp tiệm

vàng. Câu chuyện của nàng ở hiện tại lại tiếp tục với cuộc gặp gỡ cô hiệu phó với

nhận xét nàng phải xem lại mình “chuyện không phân biệt đâu là cô đâu là trò”

(Văn Thành Lê, 2016, tr.145). Một lần nữa, nhà văn để nhân vật hồi cố lại cuộc

sống ở khu tập thể, chuyện hiệu trƣởng mới là vua thành tích với những mùa hội

giảng. Hay những câu chuyện với Lãm về những mảng tối của giáo dục. Câu

chuyện khép lại bằng sự kiện năm học kết thúc, hiệu trƣởng háo danh méo mặt vì

không đạt đƣợc mọi chỉ tiêu đề ra, Lãm bỏ nghề đi làm phóng viên, chỉ còn nàng

trở nên lạc lõng nhƣ ngƣời thừa ở một ngôi trƣờng.

Văn Thành Lê tiếp tục sử dụng cốt truyện gấp khúc để thức tỉnh mọi

ngƣời về sự đổ vỡ những giá trị truyền thống trong xã hội kim tiền. Si sẽ lại xanh

bắt đầu bằng sự kiện gây chấn động làng: cây si chết. Liền sau đó, nhà văn đƣa

ngƣời đọc trở về quá khứ với hai lần đốn hạ cây si để chạy theo sở thích của các

ông lớn, các bà đại gia bất thành, những ngƣời cƣa cây gặp họa. Rồi si đƣợc nâng

niu, bảo vệ nhƣ di sản vì ngƣời ta có di tích mình cũng phải có. Vậy mà, cây si

chết, những kẻ hám danh ra sức cứu cây bằng mọi giá. Kết thúc truyện là sự kiện

cây si trẻ con mọc lên trên nền cây si cũ.

42

Sa lan đỏ bãi Xanh mở đầu bằng hình ảnh Yên đi về phía bãi Xanh trong

bộ đồ ngủ màu trắng sữa. Từ đó, nhà văn mở ra hành trình trở về quê để giữ lại

bãi Xanh – mảnh đất in dấu bao kỉ niệm và tâm huyết cả đời và mộ phần của bố

mẹ Yên “bãi Xanh là nơi bất khả xâm phạm. Của gia đình. Và của riêng Yên.

Đấy là bảo tàng của kí ức. Miên viễn. Xác tín rõ ràng” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.119). Trở về bãi Xanh, Yên nhớ đến mối tình đầu với Khái, nhớ cơn lũ quét ám

ảnh làng, củ mài nơi bãi Xanh đã cứu gia đình Yên và ngƣời dân làng và cũng

chính cánh hoa sa lan đã cứu Yên thoát chết khi bị rắn độc cắn. Vậy mà trƣớc

vòng xoáy kim tiền, ngƣời mua và khai thác quặng đến tấp nập, làng thay đổi

chóng mặt: cổng làng bị đạp đổ, cây sanh hơn trăm tuổi bị quật lên thay vào đó là

cái cổng đá kệch cỡm. Bản sắc văn hóa và những giá trị truyền thống bị đạp đổ

trong tích tắc. Miếu thờ tƣớng công đƣợc xây mới với kiến trúc chùa nhiều miếu

ít. Còn tƣợng tƣớng công cũ bị quăng nằm chỏng chơ. Nghĩ đến mối tình mới

nhú đã “ứa nhựa”, Yên suy nghĩ về cuộc hôn nhân không hạnh phúc, thiếu tình

yêu và sự sẻ chia của mình. Truyện kết thúc với sự kiện Yên gặp Khái ngay tại

bãi Xanh với khát khao níu giữ vùng đất chất chứa linh hồn của làng.

Cốt truyện gấp khúc giúp nhà văn khắc họa nhân vật toàn diện hơn, thể

hiện đƣợc những lát cắt của cuộc sống trong khuôn khổ ngắn gọn của thể loại.

Việc đảo ngƣợc trật tự thời gian tuyến tính tạo nên những điều bất ngờ, thú vị khi

khám phá những trang viết về mảng tối, góc khuất đƣơng đại.

2.1.2.3. Cốt truyện tâm lí

Xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XIX, cốt truyện tâm lí đã khẳng định ƣu thế

của mình trong hành trình sáng tạo của các nhà văn. Cốt truyện này cho phép nhà

văn xây dựng tác phẩm theo định hƣớng của riêng mình, không cần tuân thủ theo

trật tự không gian, thời gian nhƣ cốt truyện truyền thống. Trong Vấn đề cách dịch

thuật ngữ cốt truyện tự sự, nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đã đƣa ra bảng phân loại

cốt truyện dựa vào các tiêu chí: sự kiện, thời gian, nhân vật. Cốt truyện tâm lí dẫn

dắt ngƣời đọc trôi theo dòng cảm xúc của nhân vật chính “truyện đƣợc triển khai

dựa trên tâm lí của nhân vật với những bức xúc, dằn vặt nội tâm, sự vận động nội

tâm đó là cơ sở thúc đẩy truyện phát triển” (Trần Đình Sử, tập 2, 2015, tr.187).

43

Cốt truyện tâm lí mở ra thế giới nội tâm phong phú với những diễn biến tinh vi,

phức tạp của cảm xúc, cảm giác con ngƣời. Sự kiện trong kiểu truyện này rất ít,

không nhiều xung đột căng thẳng, dựa vào kí ức hoặc giấc mơ, nỗi niềm để bộc

lộ tính cách nhân vật. Sự kiện xuất hiện đóng vai trò khơi gợi cho mạch nguồn

tâm lí tuôn trào. Lấy diễn biến tâm lí của nhân vật làm cơ sở cho sự phát triển của

câu chuyện, nhà văn khám phá thế giới tƣ tƣởng, tình cảm, tính cách của nhân

vật. Trong dòng chảy văn học Việt Nam, kiểu cốt truyện này đã phát huy đƣợc

sức mạnh của nó trong những trang viết của Thạch Lam, Nam Cao.

Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy kiểu cốt truyện tâm lí đƣợc Văn Thành Lê sử dụng trong 14

truyện: Tuổi hai mươi khác trở về, Biết tới khi nào mưa thôi rơi, Thư gửi người

bạn thân, Thiên đường gọi tên, Hoa núi, Ánh trăng trên ô cửa toa tàu, Người đàn

bà hát tình ca trong mưa, Ghi chú về những giấc mơ, Biến mất không đều (Biết

tới khi nào mưa thôi rơi), Giấc mơ bị đánh cắp, Người canh sương, Chim cánh

cụt biết bay, Khúc mơ hoang, Buổi sáng khác lạ (Thừa ra một người),…

Là một cây bút thuộc thế hệ 8X đang nỗ lực khẳng định mình giữa dòng

chảy văn chƣơng đƣơng đại, Văn Thành Lê sử dụng nhuần nhuyễn cốt truyện

tâm lí để đi sâu vào thế giới nội tâm của những ngƣời trẻ với những hoang mang,

chông chênh khi bƣớc vào ngƣỡng cửa cuộc đời. Tuổi hai mươi khác trở về là

những xúc cảm của nhân vật Lê với cảm giác sợ hãi trƣớc va vấp đầu đời. Cùng

Thạo Miên đến khoa Sản, Lê vừa run vừa hổ thẹn, sợ bị ngƣời khác phán xét sau

“phút huy hoàng”. Cảm giác mình sắp có con bủa vây khiến Lê cảm thấy bức

bách với những ý nghĩ không tốt: liệu Thạo Miên có ai khác. Ý nghĩ ấy khiến Lê

day dứt, đầu óc nhƣ muốn nổ tung. Từ đó, đêm mƣa định mệnh ùa về, điện mất,

Lê và Thạo Miên quấn vào nhau, khi tiếng sét xé toang bầu trời, “dòng nham

thạch xé toạc tuổi hồn nhiên” (Văn Thành Lê, 2015, tr.28). Lê hình dung ánh mắt

nghiêm khắc của mẹ Thạo Miên, sự thất vọng của ba mẹ dành cho mình cùng

tƣơng lai mờ mịt phía trƣớc. Ôm Thạo Miên vào lòng, Lê rùng mình nghĩ đến bài

báo về ngƣời đàn ông chuyên nhặt những thai nhi bị bỏ rơi, cảm nhận rõ ràng về

44

hành động vô nhân đạo ấy. Thế nhƣng, cả hai đều chƣa sẵn sàng. Hình ảnh thai

nhi hai tháng chập chờn đi vào giấc ngủ của Lê. Và âm thanh tiếng dao kéo ở

phòng khám hôm ấy đã trở thành nỗi ám ảnh theo Lê và Thạo Miên đến suốt

cuộc đời. Sau khi chôn con, nhiều ngày sau, đêm nào Lê cũng bị ám ảnh bởi

tiếng kêu cứu và tiếng khóc. Sự cố về đứa con khiến Lê và Thạo Miên thay đổi,

đi chùa thƣờng xuyên để nhẹ lòng và bắt đầu lại tuổi hai mƣơi.

Trong Giấc mơ bị đánh cắp, toàn bộ tâm trạng hoang mang của nhân vật

hắn khi có con mắt thứ ba ở sau gáy có thể nhìn thấu tất cả hiện lên thật sống

động. Có con mắt thứ ba, hắn còn nhìn thấy bờ ngực lấp ló sau lớp áo của phụ

nữ. Từ đó, hắn nhớ lại sự việc xảy ra chiều qua ở nhà viện trƣởng, hắn bị “những

chồng tài liệu dày nhƣ cục gạch rơi đôm đốp vào đầu” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.28). Đây phải chăng chính là nguyên nhân khiến hắn có con mắt thứ ba. Để rồi,

hắn ngơ ngác, không thể tập trung làm việc suốt buổi sáng. Thậm chí, nỗi lo sợ bị

bắt về phòng thí nghiệm bủa vây tâm trí, chỉ cần nghe tiếng còi xe công an hay

bệnh viện, hắn toát mồ hôi hột “tóc gáy hắn dựng lên” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.31). Kết quả, hắn bị đâm vào xe tải khi tập trung thị lực của con mắt thứ ba

theo cô em bên đƣờng. Câu chuyện kết thúc với cảm giác tiếc nuối khi bị nàng

đánh thức. Thông qua cốt truyện tâm lí, tác giả muốn ngƣời đọc nhìn nhận về

thói mê gái, những dục vọng tiềm ẩn đối với phái nữ của những chàng trai hiện

đại. Con mắt thứ ba khiến hắn hoang mang, bất an và suýt chút nữa tính mạng

cũng không còn.

Tƣơng tự nhƣ thế, truyện Người canh sương là những cảm xúc, cảm giác

rất thật của doanh nhân trẻ giữa cuộc sống ngổn ngang, đầy những cám dỗ.

Chuyến hành trình đến thế giới ảo của xứ sở sƣơng mù đã giúp anh nhận thức

đƣợc cuộc sống của mình ở thực tại. Cốt truyện tâm lí trở nên đắc dụng để nhà

văn tạo ra một thế giới huyền ảo của xứ sở sƣơng mù với ngƣời canh sƣơng dẫn

đƣờng cho nhân vật anh. Đi qua cửa Thanh Lọc, anh cảm thấy ngƣời nhƣ nhẹ

hẳn đi, mọi thứ đều trống rỗng, mọi phiền não, ƣu tƣ đều tan biến. Đến ngã ba

Nhận Dạng, anh phải chọn lựa con đƣờng đi, dù trong cảm nhận của chính mình

nhân vật chỉ thấy sƣơng mỗi lúc một dày hơn. Vƣợt qua những mê hoặc của sông

45

Mê, anh đƣợc thƣởng thức quả Ghi Nhận, cảm nhận vị mát lạnh với đủ mùi vị

“chua chua, cay cay, nhần nhận đắng, nhai thì bùi bùi và ngọt hậu” (Văn Thành

Lê, 2016, tr.51). Trải qua những cung bậc cảm xúc ở xứ sở sƣơng mù với ngƣời

canh sƣơng dẫn đƣờng, anh suy ngẫm về cuộc sống ở thế giới mặt trời của mình,

thèm có đƣợc những giây phút làm việc nhẹ nhàng, thoải mái nhƣng rất hiệu quả

nhƣ thế. Nhân vật anh còn cảm nhận rõ ràng cuộc sinh tồn mệt mỏi trong thế giới

ngột ngạt “ngồn ngộn mệt mỏi. Chất ngất toan tính. Loay hoay giữa những ngột

ngạt do chính loài của mình bày ra với nhau” (Văn Thành Lê, 2016, tr.53).

Không chỉ thế, anh còn cảm nhận đƣợc hƣơng thơm ngất ngây, quyến rũ tỏa ra từ

ngƣời canh sƣơng. Thế nhƣng, anh đã vƣợt qua cám dỗ, vƣợt thoát khỏi cảm giác

đàn ông trỗi dậy trƣớc vẻ đẹp của ngƣời canh sƣơng để “trở thành sứ giả của xứ

sở sƣơng mù ở thế giới mặt trời” (Văn Thành Lê, 2016, tr.57). Kết thúc truyện

đầy bất ngờ, anh bị tai nạn, đang cấp cứu ở bệnh viện, cuộc du hành ở xứ sở

sƣơng mù là chuyến đi trong tiềm thức. Hành trình của anh với ngƣời canh sƣơng

chỉ là một giấc mơ nhƣng những nhận thức về cuộc đời hiện lên thật rõ ràng nhƣ

một thƣớc phim quay chậm. Cốt truyện tâm lí thật hiệu quả để nhà văn nắm bắt

diễn biến tâm lí tinh vi của con ngƣời và nhắn nhủ chúng ta cần phải thanh lọc

tâm hồn, chọn lựa hƣớng đi, vƣợt qua mê hoặc, cám dỗ để nếm đƣợc trái ngọt

trong cuộc sống với những mảng tối – sáng đƣơng đại.

Với Buổi sáng khác lạ, Văn Thành Lê muốn gửi gắm thông điệp về sự đổ

vỡ lòng tin của thế hệ trẻ về môi trƣờng giáo dục mình đang sống. Cốt truyện tâm

lí một lần nữa lại đƣợc sử dụng để khám phá cảm xúc con ngƣời trong guồng

quay đƣơng đại. Truyện bắt đầu bằng cảm giác ngao ngán, mệt mỏi trƣớc vòng

tuần hoàn lặp đi, lặp lại nhàm chán của cuộc sống: bị đánh thức bởi chuông nhà

thờ hay tiếng kêu thê thiết của chú lợn sắp chết, ngáp dài, đi đƣờng quyền, lao

vào nhà tắm “làm cuộc tẩy trần”, ăn sáng và xách ba lô tới trƣờng. Một ngày trôi

qua, những giá trị tinh thần dần bị ăn mòn biến bạn trở thành cỗ máy, một con

robot đƣợc lập trình sẵn. Sự hồ hởi nhƣ ngày mới ra trƣờng không còn thay vào

đó là cảm giác nhƣ chết đuối giữa đám học trò “Đã đâm lao cố mà theo lao” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.177). Phải “sống nhăn răng” với những ca dạy liên tiếp, “buổi

46

chiều phải lao theo mấy ca phụ đạo hay dạy thêm”, “chạy ù vào trung tâm Anh

ngữ”, “22 giờ mới lê đƣợc xác về nhà” (Văn Thành Lê, 2016, tr.177), mỗi ngày

cứ đều đặn trôi qua nhƣ thế, vô vị, tẻ nhạt. Cảm giác chơi vơi xâm chiếm khi

nhận ra câu thoại xã giao từ những ngƣời bạn cũ, đồng nghiệp chỉ là “bè” không

phải “bạn”, không thể trút bầu tâm sự. Trong vòng quay cuộc sống, con ngƣời

mất dần sự hồn nhiên, ngại mở lòng “rơi tự do, không định vị nổi chính mình”

(Văn Thành Lê, 2016, tr.183).

Trong Biết tới khi nào mưa thôi rơi, những suy nghĩ, cảm nhận của Quỳnh

về mảnh đất nơi mình đang sống hiện lên sống động, chân thực thông qua cốt

truyện tâm lí. Với tâm trạng trống rỗng, Quỳnh – cô gái 27 tuổi một mình bám

trụ thành phố “tìm sự lạc loài của bản thân” (Văn Thành Lê, 2015, tr.42) lao đi

trong cơn mƣa Sài Gòn. Nghe cuộc điện thoại của mẹ, Quỳnh lập tức phóng xe

về nhà sau hai tiếng đồng hồ. Cảm giác ấm áp khi đƣợc rúc vào nách mẹ nhƣ xua

đi những mệt mỏi trong guồng quay và sức hút của Sài Gòn.

Cốt truyện tâm lí là một phƣơng tiện đắc lực để nhà văn phản ánh hiện

thực đa chiều của cuộc sống với những mảng tối – sáng đƣơng đại. Thông qua

cốt truyện, con ngƣời có cái nhìn sâu sắc về mọi mặt đời sống. Những đảo lộn

của xã hội đƣơng thời với những chiều kích ngổn ngang khiến con ngƣời cảm

thấy hoang mang, bất an.

2.1.2.4. Cốt truyện kịch hóa

Văn chƣơng đƣơng đại là một thế giới mở. Trên mảnh đất màu mỡ này,

ngƣời sáng tạo luôn nỗ lực thể nghiệm lối viết. Bởi thế, những lằn ranh thể loại

trở nên nhòe mờ. Sự tƣơng tác thể loại chính là những biến chuyển bƣớc ngoặt để

phát huy tối đa sự sáng tạo trong nghiệp viết. Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn

đƣơng đại xuất hiện những đƣờng biên thể loại dần bị xóa nhòa: sự giao thoa,

tƣơng tác giữa thơ và truyện ngắn, giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, truyện ngắn

và kịch tạo nên tính tổng hợp của văn học hiện đại. Để tạo ra tác phẩm tự sự mới,

nhà văn có xu hƣớng “trữ tình hóa” tác phẩm, “tiểu thuyết hóa” tác phẩm và

“kịch hóa” tác tác phẩm. Bằng các thủ pháp của kịch, các nhà văn hiện đại đã xây

dựng nên môi trƣờng đầy kịch tính, xung đột. Cốt truyện kịch hóa thƣờng lấy

47

một hành động nhân vật làm nòng cốt “Sự kiện, hành động tập trung trong một

tình huống điển hình nhất. Mâu thuẫn, xung đột thƣờng đƣợc đẩy tới đỉnh điểm

và đòi hỏi phải kết thúc thật bất ngờ” (Nguyễn Văn Đấu, 2001, tr.52). Trong

dòng chảy văn học hiện đại, nếu Thạch Lam nổi bật với truyện ngắn “trữ tình

hóa”, Nam Cao là cây bút truyện ngắn “tiểu thuyết hóa” thì Nguyễn Công Hoan

– bậc thầy châm biếm và ông vua phóng sự đất Bắc Vũ Trọng Phụng đã in đậm

dấu ấn trong lòng ngƣời đọc với một loạt truyện ngắn “kịch hóa”. Cốt truyện kịch

hóa đƣợc các nhà văn sử dụng để phơi bày muôn mặt đời sống một cách chân

thực nhất. Một màn kịch với những “vai diễn” hiện ra rõ ràng trƣớc mắt ngƣời

đọc về cuộc sống ngổn ngang đƣơng đại. Trong cốt truyện kịch hóa, sự kiện

thƣờng gắn với hành động bên ngoài của nhân vật, “đƣợc xây dựng dựa trên sự

dồn nén hàng loạt cử chỉ, động tác nhanh mạnh và lời đối thoại gay gắt của nhân

vật trong quan hệ đối kháng. Nhƣ một màn kịch, truyện ngắn “kịch hóa” thƣờng

tập trung cao độ vào một vấn đề, một chuyện nhất định trong một thời điểm nhất

định” (Nguyễn Văn Đấu, 2001, tr.68). Luật “tam duy nhất” trong kịch cổ điển

đƣợc sử dụng: thời gian duy nhất, địa điểm duy nhất và hành động duy nhất.

Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy kiểu cốt truyện kịch hoá đƣợc sử dụng trong 13 truyện: Bao

giờ đi hết giấc mơ, Đất vỡ, Thoát nghèo (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), Nụ hôn

ảo (Thừa ra một người), Đầu năm đi chùa, Hạ huyệt an toàn, Vỏ anh hùng, Lấy

chồng à? Chuyện nhỏ? (Sa lan đỏ bãi Xanh), Không biết đâu mà lần,…

Trong Đất vỡ, đám tang thím Lung trở thành một trò diễn phơi trải sự

xuống cấp về đạo đức của một bộ phận trong vòng quay kim tiền. Từ khi có

quặng, làng đổi thay chóng mặt. Không hề đau buồn, tiếc thƣơng trƣớc sự ra đi

của thím Lung, thay vào đó là những tiếng tán tỉnh nhau, tán phét đủ chuyện trên

đời, thậm chí đánh ghen trong tiếng khóc của gia đình có đám. Đó là cái giá của

sự đổi thay không dễ gì định lƣợng trƣớc sức hút đồng tiền. Cũng khắc hoạ đám

tang nhƣ một màn kịch nhƣng trong Hạ huyệt an toàn (Sa lan đỏ bãi Xanh), nhà

văn đã xoáy ngòi bút sắc lạnh vào chân dung của những kẻ cơ hội nhƣ Can, lột tả

48

chân thực, sống động nhất. Cốt truyện kịch hóa đƣợc Văn Thành Lê sử dụng

khiến ngƣời đọc liên tƣởng đến tang gia hạnh phúc trong Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng. Truyện bắt đầu bằng tình huống đầy kịch tính: Can – ngƣời đứng đầu tờ

báo tỉnh lăn đùng ra chết đầu năm âm lịch giữa lúc pháo hoa bay rợp trời, những

khúc nhạc xuân vang vọng khắp trong nhà, ngoài ngõ. Một đám tang hoành

tráng, chuyên nghiệp diễn ra. Nhƣng điều đáng nói là gia quyến – vợ Can dƣờng

nhƣ vô cảm với cái chết của chồng “mặt lạnh tanh không mảy may biểu hiện xúc

cảm” (Văn Thành Lê, 2018, tr. 37). Từ một kẻ học đến lớp Bảy bỏ học đi kéo

cày, Can đƣợc điều đi học lái xe. Nhờ khiếu “đi tắt đón đầu”, Can có bằng đại

học tại chức trở thành Chánh Văn phòng rồi Phó tổng tờ báo. Bằng sự lọc lõi của

mình, Can thoát tất cả mọi tội lỗi, sau mỗi lần sau phạm, sự trừng phạt Can nhận

đƣợc là leo lên chức cao hơn. Đám tang của Can lớn nhất vùng với những tiếng

xì xào quanh cuộc đời Can và cái chết vì “thƣợng mã phong”. Cuối truyện, ngƣời

đọc mới ngã ngửa, Can “về miền giun dế” là việc đúng đắn để “hạ cánh an toàn”

khi bị thanh tra tài chính với hàng loạt sai phạm.

Đến với Vỏ anh hùng, cốt truyện kịch hóa tiếp tục đƣợc sử dụng để vén

màn “đội lốt” anh hùng trục lợi. Luật “tam duy nhất” của kịch đƣợc vận dụng

hiệu quả: địa điểm duy nhất – hội trƣờng, thời gian duy nhất – buổi sáng và sự

kiện duy nhất – buổi giao lƣu, kể chuyện chiến công của ngƣời anh hùng duy

nhất của huyện. Trong khi anh hùng Khoán say sƣa kể lại những trận đánh,

những chiến công thì 350 sinh thể dƣới hội trƣờng chẳng hề chú ý: chúi mũi vào

điện thoại, nói chuyện riêng, đọc báo, mã hóa mặt bàn… Thế nhƣng, thật bất

ngờ, để có anh hùng sống lên mặt với huyện khác, cuộc hoán đổi ngoạn mục của

Khoan – ngƣời em chân lấm tay bùn thành Khoán – ngƣời anh hùng đã hi sinh

dƣới sự tiếp tay của cán bộ huyện với lí lẽ “anh Khoan với anh Khoán một nhà.

Hơn nhau có dấu sắc ai nói gì nào. Lọt sàng xuống nia. Gà cùng một mẹ cơ mà.

Chúng ta cần một anh hùng sống để còn giáo dục còn truyền lửa cho thế hệ sau”

(Văn Thành Lê, 2018, tr.78). Màn kịch hƣ danh bắt đầu, Khoan trở thành diễn

viên tua đi tua lại những câu chuyện đã thuộc từ ngƣời anh trai sinh đôi tên

Khoán đã mất. Trong lúc Khoan say sƣa diễn thuyết thì ở dƣới cuộc ẩu đã của

49

học sinh còn rôm rả hơn. Dù không muốn diễn vai anh hùng, Khoan vẫn phải

diễn vai Khoán để “giúp làng giúp nƣớc, giúp cho nhiệm vụ chung. Có bác có

danh xƣng của bác để cho lớp trẻ nhìn vào” (Văn Thành Lê, 2018, tr.86).

Ở Nụ hôn ảo, Văn Thành Lê dồn nén cốt truyện trong khoảng thời gian

cực ngắn của một nụ hôn. Truyện bắt đầu bằng nụ hôn dài và sâu của hắn với

nàng nhƣng hắn lại không có cảm giác gì, lƣỡi nàng trở nên vô vị, trong đầu hắn

hiện lên hình ảnh con ma lƣỡi dài. Từ đó, hắn quay trở về quá khứ ngày xƣa, nhớ

lại lời dọa về con trăn “lƣỡi dài cả mét, thò ra thụt vào nhanh nhƣ chớp” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.131). Hắn tƣởng tƣợng lƣỡi của nàng cứ thoắt đen, thoắt đỏ

nhƣ con trăn và cảm thấy sợ. Hắn tiếp tục nhớ lại ngày ra trƣờng đi dạy trở thành

kẻ thọc gậy bánh xe trong mắt thầy cô cùng trƣờng vì hay ý kiến. Sự kiện lại

quay trở về thực tại với ý nghĩ về cái lƣỡi trong lúc hôn nàng, tƣởng tƣợng mình

là hạt mƣa. Câu chuyện kết thúc với cảm giác đê mê của hắn trong nụ hôn dài với

nàng. Nhƣng cảm giác kia “chỉ là một phép ảo giữa đời quăng vào hai ngƣời

trong vài phút” (Văn Thành Lê, 2016, tr.138). Nhƣ vậy, thời gian của truyện chỉ

diễn ra trong vài phút của nụ hôn dài. Việc chọn lựa cốt truyện kịch hóa giúp nhà

văn gợi ra đƣợc những hoang mang của nhân vật hắn trong cuộc sống.

Trong truyện dài Không biết đâu mà lần, cốt truyện kịch hoá trở nên đắc

dụng để nhà văn phơi trải những mảng tối của xã hội, đặc biệt là những chính

sách, chủ trƣơng kệch cỡm của giáo dục. Dƣới lăng kính nghịch dị, chuyện

trƣờng, chuyện lớp của nhân vật Anh giống nhƣ một vở bi hài kịch. Những mâu

thuẫn giữa ngƣời thầy tâm huyết và những kẻ mang danh thầy nhƣng tha hoá,

biến chất đƣợc bóc trần nhƣ trạng thái vốn có của nó trong đời sống đƣơng đại

khiến ngƣời đọc cƣời ra nƣớc mắt. Không gian truyện đƣợc thu hẹp trong một

ngôi trƣờng huyện đƣợc bao phủ bởi những ruộng rau xanh mƣớt đầy vẻ “nguỵ

tạo”. Tại đây, những sự kiện giàu kịch tính đƣợc sử dụng để làm nền cho biến cố

lớn với những ngƣời thầy tâm huyết: Kha chuyển nghề, Anh quyết định đi du

học. Trƣờng học biến thành sân khấu kịch với những trò diễn khiến không gian

ấy trở nên ngột ngạt, u tối với căn bệnh thành tích khó chữa, những chính sách

nửa mùa. Không gian cao nhã, tinh khiết của trƣờng học biến thành nơi kệch

50

cỡm, lố bịch của những con ngƣời háo danh, ƣa thành tích đòi cấp bằng công

nhận văn hoá cho trƣờng học - nơi dạy văn hóa, đào tạo ra những con ngƣời toàn

diện có đức, có tài để cống hiến cho đất nƣớc để phù hợp với cuộc chạy đua của

toàn xã hội “Làng văn hóa. Ấp văn hóa. Khu phố văn hóa. Gia đình văn hóa”

(Văn Thành Lê, 2014, tr.47). Thêm vào đó là những chính sách nhƣ trò hề của

những kẻ mang danh nhà giáo dục: cộng điểm thi đại học cho mẹ Việt Nam anh

hùng dù chiến tranh đã lùi xa sau gần ba lăm năm: “Mới phát động tuần lễ học

tập suốt đời, sẽ thành truyền thống hàng năm. Có khi ra quy định ấy để khuyến

khích các mẹ các cụ chống gậy đi học tiếp” (Văn Thành Lê, 2014, tr.47). Chính

sách lố bịch này đƣợc sản sinh từ những con ngƣời bất tài, thích khoe mẽ, giƣơng

cao ngọn cờ cỗ vũ phong trào học tập suốt đời nhƣng viển vông, phi thực tế.

Chƣa dừng lại ở đó, cuộc chạy đua thành tích mà ngƣời đứng đầu là hiệu

trƣởng háo danh khiến học sinh, giáo viên khổ sở, quay cuồng trở thành con rối

bị giật giây: “Học trò phờ phạc lao theo. Giáo viên phạc phờ mắt nhắm mắt mở

cố cƣời nham nhở xốc tới. Chỉ vì hai chữ thi đua” (Văn Thành Lê, 2014, tr.98).

Mùa hội giảng – ngày hội giảng dạy trở thành nỗi ám ảnh, ức chế của giáo viên

và học sinh cũng phải gồng mình trong tiết học: “Hội giảng tổ bộ môn. Hội giảng

toàn trƣờng. Hội giảng cụm các trƣờng trong khu vực. Hội giảng toàn tỉnh. Đến

hẹn lại lên. Mùa chim làm tổ. Mùa thầy cô hùng hùng hổ hổ. Lịch hàng năm cố

định. Cứ thế rầm rầm bƣớc chân ta đi. Rung chuyển ngành giáo dục này. Nghe

bảo còn có hội giảng toàn quốc nữa. Quy mô và rầm rộ lắm nhƣ đoàn quân ra

trận. Hừng hực hừng hực hừng hực” (Văn Thành Lê, 2014, tr.83). Thêm vào đó

là quy định giờ dạy giỏi nhất thiết phải có ứng dụng công nghệ thông tin tạo nên

những trận cƣời ra nƣớc mắt. Giáo viên ra sức chạy theo xu hƣớng, ứng dụng

công nghệ mà chẳng quan tâm nội dung bài học có phù hợp hay không. Đổi mới

phƣơng pháp dạy học từ đọc – chép sang chiếu – chép. Học sinh chỉ quan tâm

đến những hình động vui mắt ở trên màn hình mà chẳng hề đả động đến nội dung

bài học “Tha hồ xuýt xoa bài giảng đẹp quá. Ồ! thầy nhiều chim quá. Ồ! Cô

nhiều bƣớm quá. Bƣớm cô xinh quá. Chim thầy đẹp quá!” (Văn Thành Lê, 2014,

tr.88,89). Nhƣ thế, tiết dạy thất bại hoàn toàn, không đạt đƣợc mục tiêu giáo dục.

51

Trƣờng học trở thành sân chơi của những kẻ kiến thức hạn hẹp, thủ đoạn vô biên,

lắm chiêu nhiều trò. Căn bệnh thành tích ấy đã ngấm sâu, bào mòn tất cả khiến

môi trƣờng giáo dục trở nên lệch lạc, méo mó. Vì thành tích, những tiết dạy

không đƣợc góp ý đàng hoàng để ngƣời dạy rèn giũa tay nghề mà thay vào đó là

những lời khen sáo mòn, trống rỗng phù hợp với xu thế, làm “đẹp lòng” mọi

ngƣời: “từ trong trƣờng đóng cửa bảo nhau thành trong Sở bảo nhau đóng cửa

đến trong Ngành cửa đóng bảo nhau. Và rồi khen thƣởng. Và rồi vỗ tay. Và rồi

ngất ngây. Và rồi lên mây… Cả làng vui” (Văn Thành Lê, 2014, tr.90). Một tiết

dạy mà chỉ quy lại hai từ “cái ấy”, “cái này” của thầy trƣởng bộ môn Thể dục –

Quốc phòng đã phơi bày sự xuống cấp của một nền giáo dục. Vậy mà tiết học ấy

vẫn đƣợc đánh giá giỏi mới khiến ngƣời đọc bật ngửa bởi “Mốt bây giờ là cái gì

cũng phải… tốt” (Văn Thành Lê, 2014, tr.86). Nhƣ vậy, thi đua không còn giá

trị, nó chỉ là đƣờng đua cho những kẻ háo danh thực hiện mƣu đồ của mình.

Chƣa hết, căn bệnh thành tích cũng biến môi trƣờng giáo dục thành nơi lố

lăng, bất chấp chất lƣợng đào tạo, ăn mòn đạo đức giáo chức. Để đạt chuẩn quốc

gia, giáo viên phải đánh đổi lƣơng tâm nghề nghiệp, bằng mọi giá phải cho điểm

để học trò lên lớp nhƣ thầy hiệu trƣởng yêu cầu bất chấp chất lƣợng đầu vào luôn

nằm trong tốp đầu của tỉnh, tính từ dƣới lên: “Trƣờng ta đã đăng ký phấn đấu đạt

chuẩn quốc gia. Để điểm của học trò nhƣ thế này làm sao có thể đạt chuẩn. Bằng

mọi giá không thể để tỉ lệ điểm kiểm tra này tổng kết đƣợc. Không thể để tình

trạng học trò lƣu ban và thi lại nhiều nhƣ những năm trƣớc” (Văn Thành Lê,

2014, tr.93). Sống trong một môi trƣờng nhƣ thế, những giáo viên tâm huyết nhƣ

Kha và Anh phải cay đắng chuyển nghề hoặc tìm hƣớng đi mới vì không thể hoà

nhập, diễn trò. Thông qua lăng kính nghịch dị của Văn Thành Lê – ngƣời từng là

giáo viên, những mảnh vỡ, vệt đen của giáo dục cứ thế bóc ra khiến ngƣời đọc

nhức nhối, chua chát. Một môi trƣờng giáo dục nghịch dị nhƣ thế liệu thế hệ trẻ

sẽ đi về đâu?

Cốt truyện kịch hóa là lựa chọn tối ƣu của Văn Thành Lê để tái hiện thực

trạng cuộc sống đƣơng đại nhƣ nó vốn có. Trong vòng xoáy cuộc đời, con ngƣời

52

giống nhƣ những con rối bị giật dây. Cuộc đời là một vở diễn mà bất cứ ai cũng

có thể trở thành diễn viên đại tài bất cứ lúc nào.

Nhƣ vậy, trong văn xuôi Văn Thành Lê, cốt truyện đƣợc sử dụng rất đa

dạng. Ở mỗi tập truyện, nhà văn chọn một cốt truyện chủ đạo để gửi gắm dụng ý

nghệ thuật của chính mình (Xem bảng 2.1).

Bảng 2.1. Khảo sát các kiểu cốt truyện trong văn xuôi Văn Thành Lê

Cốt truyện

Tuyến tính Gấp khúc Tâm lí Kịch hóa Tên tập truyện

Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %

2 25 5 38.46 9 64.29 25.00 3

4 50 6 46.15 5 35.71 8.33 1

2 25 2 15.39 0 0.00 66.67 8

Biết tới khi nào mưa thôi rơi Thừa ra một người Sa lan đỏ bãi Xanh Tổng cộng 8 13 14 12

Số liệu thống kê ở bảng 2.1 cho thấy Biết tới khi nào mưa thôi rơi sử dụng

cốt truyện tâm lí nhiều nhất để gửi gắm những suy tƣ, hoang mang của tuổi trẻ.

Trong Thừa ra một người, nhà văn trẻ lại sử dụng tƣơng đƣơng cốt truyện gấp

khúc và tâm lí để phơi trải cuộc sống đƣơng đại ngổn ngang. Còn ở Sa lan đỏ bãi

Xanh, cốt truyện kịch hóa chiếm ƣu thế để nhấn mạnh những đổ vỡ về giá trị văn

hoá.

2.2. Kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê

2.2.1. Khái lược về về kết cấu trong tác phẩm tự sự

Trong ngôi nhà nghệ thuật ngôn từ, kết cấu là yếu tố quan trọng của hình

thức. Tổ chức, sắp xếp tác phẩm có chủ ý chính là cách để nhà văn chứng minh

tài năng, in đậm dấu ấn của chính mình trong dòng chảy văn chƣơng. Tùy thuộc

vào dụng ý nghệ thuật, nhà văn lựa chọn kết cấu phù hợp nhất. Trong Từ điển

thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán và cộng sự định nghĩa kết cấu (tiếng pháp:

composition) là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” (Lê Bá

53

Hán và cs., 2007, tr.156). Tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định.

Đây là phƣơng tiện cơ bản và tất yếu của tác phẩm nghệ thuật “Kết cấu đảm

nhiệm các chức năng rất đa dạng: triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện, cấu

trúc hợp lí hệ thống tính cách, tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả, tạo ra tính

toàn vẹn của tác phẩm nhƣ là một hiện tƣợng thẩm mĩ” (Lê Bá Hán, 2007,

tr.157).

Trong Giáo trình Lí luận văn học (tập II) Tác phẩm và thể loại văn học,

Trần Đình Sử và các cộng sự định nghĩa kết cấu là “phƣơng diện cơ bản của hình

thức tác phẩm văn học, là sự tổ chức, sắp xếp, biểu hiện của nội dung văn học.

Trong quá trình quan sát đời sống, tích lũy tài liệu, hình thành ý đồ sáng tác, nhà

văn đã bắt đầu vận dụng các nguyên tắc kết cấu để tổ chức nên văn bản tác

phẩm” (Trần Đình Sử và cs., 2007, tr.101).

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học đƣa ra quan niệm về kết cấu:

“Sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác

phẩm, tuỳ theo nội dung và thể tài. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và

phối thuộc chúng với tƣ tƣởng” (Lại Nguyên Ân, 2017, tr.208).

Có thể hiểu kết cấu là sự tổ chức, sắp xếp các thành phần một cách có chủ

ý để thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đồng thời, kết cấu còn là phƣơng

tiện cơ bản và tất yếu để biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm tự sự. Thông qua kết cấu,

tƣ tƣởng của tác phẩm, những thông điệp tác giả muốn gửi gắm đƣợc thể hiện rõ

nét. Nhờ kết cấu, nhà văn xây dựng nhân vật mang đậm cá tính sáng tạo của cá

nhân. Kết cấu cũng góp phần tạo nên tính chỉnh thể của hình thức văn bản, tăng

sức hấp dẫn và khơi gợi những suy tƣởng trong lòng ngƣời tiếp nhận. Trong

dòng chảy văn chƣơng, đề tài, cốt truyện vẫn có sự trùng lặp bởi thế trên mảnh

đất chỉ có chỗ cho sự sáng tạo, nhà văn cần có cách thể hiện mới. Việc sắp xếp

kết cấu sáng tạo, theo chủ ý, dẫn dắt ngƣời đọc vào trò chơi kết cấu của chính

mình là cách hữu hiệu để nhà văn in dấu ấn trong dòng chảy văn chƣơng đƣơng

đại.

54

2.2.2. Các kiểu kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê

2.2.2.1. Kết cấu song hành

Trong quá trình vận động và đổi mới văn học, sự tƣơng tác thể loại là hệ

quả tất yếu. Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn dần lên ngôi và khẳng định đƣợc

vị thế của mình. Không chỉ biến hóa không ngừng về dung lƣợng, nội dung phản

ánh, kĩ thuật viết pha trộn, xóa nhòa đƣờng biên thể loại cũng đƣợc các nhà văn

đƣơng đại chú trọng. Trong sự giao thoa, tƣơng tác ấy, kết cấu của tác phẩm tự

sự cũng biến đổi không ngừng. Khƣớc từ mọi khuôn mẫu, bằng nhãn quan tinh

tƣờng, các nhà văn đƣơng đại xây dựng truyện đa tuyến với từ hai tuyến truyện

trở lên. Kết cấu song hành đƣợc sử dụng trong các tác phẩm tự sự gồm hai tuyến

truyện, hai tuyến nhân vật song song hoặc lồng ghép vào nhau tạo nên những

mảnh ghép xoắn kép, trùng điệp. Với kiểu kết cấu này, muốn khám phá thế giới

nghệ thuật, “ngƣời đọc có thể “nhảy cóc” để tìm thấy cốt truyện của từng mạch

hoặc đọc từ đầu đến cuối đan xen các mạch để tìm thấy cảm giác về một hiện

thực “rối bời”, không thể nào nắm bắt” (Hoàng Cẩm Giang, 2015). Lằn ranh giữa

các mạch truyện trong kết cấu song hành rất mong manh, mơ hồ. Đôi khi lằn

ranh ấy có thể đƣợc nhận biết thông qua hình thức phông chữ thay đổi: in

nghiêng, in thẳng.

Khám phá những mảng tối, góc khuất của cuộc sống đƣơng đại, Văn

Thành Lê chọn lựa kết cấu song hành để xóa nhòa lằn ranh thể loại giữa truyện

ngắn và tiểu thuyết. Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào

mưa thôi rơi, Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết

đâu mà lần, chúng tôi nhận thấy kiểu kết cấu song hành đƣợc sử dụng 16 truyện:

Thiên đường gọi tên, Bao giờ đi hết giấc mơ, Đất vỡ, Nghĩa địa có đom đóm bay,

Quẩn quanh dưới trời (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), Si sẽ lại xanh, Người canh

sương, Rũ bùn mà đi, Đời lâng lâng, Nụ hôn ảo, Tiếng vọng phía xa xăm, Bên mê

(Thừa ra một người), Đầu năm đi chùa, Hoàng tử tuổi xế chiều, công chúa tuổi

hoàng hôn, Vỏ anh hùng, Lấy chồng à? Chuyện nhỏ (Sa lan đỏ bãi Xanh),…

Đất vỡ đƣợc kết cấu với hai tuyến truyện song hành nhau. Tuyến thứ nhất

là câu chuyện về cái chết và đám ma của thím Lung – mẹ của Linh vào chiều

55

mùng hai tết. Một đám tang đã phơi bày sự xuống cấp trong nhân cách, đạo đức

của một lớp thanh niên sau khi Nam tiến. Thấp thoáng đâu đó, ngƣời đọc nhận ra

đám tang có một không hai trong “Số đỏ” với những giai thanh, gái lịch “chim

nhau, cƣời tình với nhau”. Hành trình đƣa thím Lung về miền cực lạc đã biến

thành một màn kịch mà ở đó những thanh niên tự gắn cho mình cái mác tiến bộ,

thanh lịch phô diễn sự xuống cấp về đạo đức của mình. Tuyến truyện thứ hai kể

về làng của nhân vật tôi nằm dƣới chân núi Nƣa với hai tộc ngƣời: ngƣời Kinh và

ngƣời Thƣợng. Tuổi thơ của nhân vật trôi qua thật yên bình. Thế nhƣng, cuộc

sống ấy đã đổi khác từ khi có quặng, núi Nƣa biến thành bãi khai thác với đủ

hạng ngƣời, làng bắt đầu thay da đổi thịt, khoác lên mình chiếc áo của nền văn

minh mới. Những giá trị truyền thống trở nên lu mờ trƣớc vòng xoáy kim tiền.

Cây si trăm tuổi bị đào lên để đổi lấy năm mƣơi triệu. Để rồi, khi gốc si già bị bật

lên, làng bao trùm bởi chết chóc “hết chết bất đắc kì từ đến chết bệnh…Một năm

làng chết gần chục ngƣời vì ung thƣ” (Văn Thành Lê, 2015, tr.201). Bãi quặng

đóng cửa, thanh niên trai tráng bỏ làng ra đi. Đó là cái giá của sự đổi thay mà

ngƣời ta không nhìn ra vì bị sức hút của đồng tiền che mờ. Hai tuyến truyện chạy

song song với nhau đến cuối tác phẩm. Cấu trúc truyện đƣợc chia làm 7 mục.

Mục 1, 3, 5, 7 là cái chết và đám ma của thím Lung. Xen vào tuyến truyện đó là

mục 2, 4, 6 kể về quá trình hình thành và sự thay đổi của làng khi có quặng. Hai

tuyến truyện đƣợc phân biệt bằng dấu hiệu hình thức phông chữ: Tuyến truyện 1

chữ in thẳng, tuyến truyện 2 chữ in nghiêng (xem bảng 2.2).

Bảng 2.2. Hai tuyến truyện song hành trong Đất vỡ

Tuyến truyện 3 2 4 5 6 7 1

Tuyến truyện 1: Cái chết và đám x x x x

ma của thím Lung

Tuyến truyện 2: Quá trình hình

thành và sự thay đổi của làng khi x x x

có quặng

56

Với kết cấu song hành, ngƣời tiếp nhận có thể “nhảy cóc” để hiểu cốt

truyện của từng mạch. Tuyến truyện 1 xuất hiện, tuyến truyện 2 tạm thời bị dán

đoạn. Việc lồng ghép cốt truyện nhƣ vậy chính là thử nghiệm sáng tạo của những

nhà văn đƣơng đại để tạo cảm giác về một hiện thực ngổn ngang, rối bời trong

vòng xoáy kim tiền.

Trong những trang viết của Văn Thành Lê, số lƣợng tác phẩm dễ nhận

diện kết cấu song hành nhƣ Đất vỡ không nhiều. Đa số, nhà văn trẻ tạo kết cấu

song hành bằng những lằn ranh mơ hồ vẫy gọi ngƣời đọc vào quá trình đồng

sáng tạo. Đến với Nghĩa địa có đom đóm bay, ngƣời đọc nhận ra hai tuyến truyện

xen vào nhau (xem bảng 2.3). Mục 1 và 5 là câu chuyện của nhân vật tôi trở về

làng nhận ra sự đổi thay của quê hƣơng sau bao năm xa cách, gặp lại Kền –

ngƣời bạn thuở nào lƣớt qua với khuôn mặt “thồn thộn, ngơ ngơ”. Qua câu

chuyện với bà dì, nhân vật tôi thở dài, ngẩn ngơ hiểu ra mọi chuyện. Xen vào

giữa mục 1 và 5 là tuyến truyện về nhân vật Kền chạy xuyên suốt ở mục 2, 3, 4

trong kí ức của nhân vật tôi. Kền là con của lão Kên – tay khét tiếng trong vùng

“ăn với con vợ sề ở nhà, tối tối lại ra phía đầu làng hay xuống cuối làng. Đấy là

hai cái ổ ủ lão…Đấy là nơi lão Kên tập thể dục, tập dƣỡng sinh mỗi tối” (Văn

Thành Lê, 2015, tr.89). Thừa hƣởng gene máu gái của bố, Kền sát gái từ khi còn

nhỏ, tán gái nhƣ xiếc với những chiến công oanh liệt. Sau khi cuộc hôn nhân đầu

tiên không thành khi ngƣời yêu cũ Kền gửi lọ thủy tinh có thai nhi hai, ba tháng

với dòng chữ “Ngày vui của anh cũng là ngày dỗ của con”, Kền tiếp tục lấy vợ.

Thế nhƣng, bản tính máu gái khiến Kền lãnh hậu quả. Hẹn ngƣời yêu cũ ở nghĩa

địa, Kền “trần truồng ôm hạ bộ trên tấm áo mƣa nhàu nhĩ, xộc xệch” (Văn Thành

Lê, 2015, tr.97) với tiếng rú rùng rợn trong không gian rợp trời đom đóm.

Bảng 2.3. Hai tuyến truyện song hành trong Nghĩa địa có đom đóm bay

Tuyến truyện 1 2 3 4 5

Tuyến truyện 1: Nhân vật tôi về làng, x x

gặp Kền

Tuyến truyện 2: Cuộc đời của Kền x x x

57

Nhìn vào bảng 2.3, trong tuyến truyện 1, nhân vật tôi đóng vai ngƣời trần

thuật kể về câu chuyện của nhân vật Kền. Đan xen hai tuyến truyện, nhà văn lí

giải cuộc đời của một con ngƣời không tránh khỏi quả báo do mình tạo ra, gieo

nhân nào ắt gặt quả đó.

Trong Bao giờ đi hết giấc mơ, Văn Thành Lê tạo ra hai mạch truyện, hai

thế giới mà nhân vật sống: hiện tại và quá khứ lồng ghép, hòa trộn vào nhau tạo

nên sự nhòe mờ để lên án lối sống buông thả, tha hóa của con ngƣời đƣơng đại.

Ở mục 1 và 10 là thời gian hiện tại, lão Hạng ngồi vót nan rổ, rúm ró mặc kệ tất

cả mọi chuyển động xung quanh. Xen vào giữa 2 mục ở hiện tại là mục 3, 4, 5, 6,

7, 8, 9 quãng thời gian trong quá khứ coi trời bằng vung của lão. Năm 16 tuổi,

lão nhìn trộm sơn nữ tắm bị tống đi chăn bò nhƣng lão cảm thấy may mắn vì

không bị đóng bè chuối trôi sông. Nhìn mông bò ba năm, lão trở thành ngƣời đầu

tiên của tỉnh bắt đƣợc phi công Mỹ, một bƣớc từ tội đồ trở thành anh hùng, đƣợc

đƣa sang làm thủ kho của hợp tác xã, miệng thét ra lửa. Rồi từng bƣớc trở thành

loa phát thanh của làng, đƣợc cung phụng, săn đón, lão quay cuồng trong thú vui

tính dục “có đêm lão Hạng làm tới vài cua. Mệt bã. Nhƣng sƣớng” (Văn Thành

Lê, 2015, tr.177), quan hệ bất chính với chủ nhiệm hợp tác xã có chồng đi chiến

trƣờng. Bị kiểm điểm nhƣng lão vẫn chứng nào tật đấy, vẫn sống nhăn răng dù bị

sét đánh. Ngoài ba mƣơi tuổi, lão lấy vợ, có hai đứa con đẹp nhƣ tranh nhƣng “ú

ớ ngu ngơ”. Vì đứa con gái bị “ểnh bụng” không biết của ai khiến lão “rụng cái

bịch” khi đang ở chức trƣởng công an xã. Lão vào rẫy ở, vợ lão hóa điên rồi treo

cổ tự tử ở cây si đầu làng, con trai lão lao xuống giếng gần gốc si chết. Từ đó, lão

Hạng trở nên câm lặng. Kết cấu song hành giữa quá khứ và hiện tại trong hai

mạch truyện đã mở ra hai chiều tồn tại của nhân vật, lí giải, bổ sung cho nhau.

Khám phá mạch truyện, ngƣời đọc nhận ra việc lão Hạng ngồi rúm ró, vô hồn đó

chính là cái giá lão phải trả sau những tháng ngày cậy quyền thế tung hoành thỏa

mãn tính dục.

Kết cấu song hành với hai mạch truyện xen lẫn giữa quá khứ và hiện tại

cũng thể hiện sống động, hiệu quả trong Bến mê. Các mục 1, 3, 5 kể về ngày hội

lớp sau bao năm ra trƣờng, gặp lại những ngƣời bạn thân thiết trong đó có cả anh.

58

Để rồi từ hiện tại, những đoạn hồi cố về mối tình dang dở của anh và chị đƣợc

mở ra ở mục 2 và 4 (xem bảng 2.4). Những kỉ niệm một thời ùa về, anh ngỏ lời

yêu và chị “đánh rớt nụ hôn ngƣợng ngùng ở bến Mê vào đêm cuối tháng, tháng

cuối năm, không trăng không sao” (Văn Thành Lê, 2016, tr.201). Thế nhƣng,

tình yêu đó tan vỡ khi cả hai ra trƣờng. Lí trí của cả anh và chị đã chiến thắng

con tim bởi mỗi ngƣời một quê, chị muốn gần bố mẹ và anh cũng vậy. Chị yên

bề gia thất, sau bảy năm để tang tình yêu anh cũng yên bề. Thế nhƣng, những tiếc

nuối của mối tình dang dở khiến chị và anh tìm đến bến Mê một lần nữa. Đến để

chấm dứt tất cả những luyến lƣu khi cả hai không đủ dũng khí sống trọn vẹn với

tình cảm, vƣợt qua khoảng cách địa lí để đến với nhau. Đến để gỡ bỏ những day

dứt trong lòng rồi “ai ở đâu lại về chỗ đó” (Văn Thành Lê, 2016, tr.205).

Bảng 2.4. Hai tuyến truyện song hành trong Bến Mê

Tuyến truyện 1 3 2 5 4

Tuyến truyện 1: Buổi họp lớp ở hiện tại x x x

Tuyến truyện 2: Mối tình của anh và

chị trong quá khứ khi còn là sinh viên x x

Đồng hiện hai mạch truyện, hai chiều kích thời gian quá khứ và hiện tại cứ

thế đan cài, xoắn vặn vào nhau. Mạch truyện hiện tại xuất hiện, mạch truyện quá

khứ bị dán đoạn đã góp phần lột tả cảm giác tiếc nuối, hụt hẫng của nhân vật.

Thế giới nội tâm chất chứa khát khao đƣợc một lần dũng cảm đối diện với tình

yêu tan vỡ hiện rõ dƣới lăng kính của nhà văn.

Nhƣ vậy, sử dụng kết cấu song hành, nhà văn đã tạo nên sự trùng điệp các

lớp văn bản “vẫy gọi” ngƣời tiếp nhận “đồng sáng tạo”. Để khám phá những tác

phẩm theo lối kết cấu này, phải đọc thật kĩ để thẩm thấu, chiêm nghiệm những

lớp tầng khuất lấp của cuộc sống ngổn ngang với cái nhìn đa chiều.

2.2.2.2. Kết cấu đối lập, tương phản

Nếu nhƣ kết cấu bề mặt là sự tổ chức lời văn và hình tƣợng thì kết cấu bề

sâu chính là cấu trúc bên trong văn bản. Trong Thi pháp học cấu trúc, J. Culler

đã nhận định “điều quan trọng nhất trong cách phân tích cấu trúc là tìm các cặp

59

đối lập” (Trần Đình Sử, 2007, tr.111). Đó có thể là cặp nhân vật đối lập, đối lập

không gian, thời gian hoặc cặp đối lập giữa trật tự trần thuật và trật tự biên niên

của sự kiện. Các cặp đối lập chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa khám phá ý

nghĩa bề sâu, chủ đề tƣ tƣởng của tác phẩm.

Kết cấu đối lập, tƣơng phản là kiểu kết cấu truyền thống của văn học. Nhà

văn thƣờng xây dựng cặp nhân vật chính diện và phản diện căn cứ vào mối quan

hệ thuận hay nghịch giữa nhân vật với tƣ tƣởng xã hội hay lí tƣởng thẩm mĩ. Tiếp

bƣớc Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phƣơng,… cây bút thuộc thế hệ

8X Văn Thành Lê đã không ngần ngại phô ra một “thế giới xô lệch” với sự tha

hóa, lệch chuẩn, xấu xí của con ngƣời đƣơng đại giữa vòng xoáy cuộc sống. Đặc

biệt là những mảng tối, những bất cập trong giáo dục với cái nhìn của ngƣời

trong cuộc. Trong những đứa con tinh thần của mình, tác giả chọn lựa kết cấu đối

lập, tƣơng phản để phản ánh chân thực cuộc sống đƣơng đại, phơi trải những mặt

trái, góc khuất ít ngƣời chạm đến.

Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy kiểu kết cấu đối lập, tƣơng phản sử dụng ở 10 truyện: Không

biết đâu mà lần, Lão… vẫn hành quân, Thoát nghèo (Biết tới khi nào mưa thôi

rơi), Thừa ra một người, Buổi sáng khác lạ (Thừa ra một người), Đầu năm đi

chùa, Hạ huyệt an toàn, Ngoài mọi quy luật, Giăng lưới bắt chim, Làm gì có báo

lá cải? (Sa lan đỏ bãi Xanh),…

Từng là giáo viên, với cái nhìn của ngƣời trong cuộc, Văn Thành Lê chọn

lựa kết cấu đối lập, tƣơng phản để vén tấm màn nhung đầy những vết hoen ố, từ

đó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh mỗi chúng ta về môi trƣờng giáo dục nghịch

dị trong thời đại số. Xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập: những giáo viên trẻ

tràn đầy nhiệt huyết nhƣng đành bất lực trở thành “ngƣời thừa” trong “thế giới xô

lệch” và những ông thầy tha hóa, biến chất đam mê dục vọng, quyền lực. Nếu

Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm là những ngƣời thầy đƣợc bao thế hệ nể trọng,

trở thành tƣợng đài mẫu mực thì trong những trang viết Không biết đâu mà lần,

Văn Thành Lê đã khắc chạm nên chân dung của những ông thầy tha hóa, biến

60

chất với phần “con” lấn át phần “ngƣời”. Họ sống theo bản năng, mặc kệ quan

điểm đạo đức xã hội. Nhân vật trong tác phẩm không đƣợc gọi tên cụ thể mà

định danh theo nghề nghiệp: thầy dạy Sinh, thầy trƣởng khoa, thầy Huyện, thầy

dạy phƣơng pháp… Đây là những con ngƣời khiến tƣợng đài giáo dục với những

ngƣời thầy mẫu mực, cao quý, uy nghi, đạo mạo bỗng sụp đổ. Sự biến dạng, méo

mó trong nhân cách ngƣời thầy bị bóc trần khiến ngƣời đọc phải nhíu mày suy

ngẫm. Đó là thầy dạy Sinh tiền nhiệm thích thỏa mãn tính dục với học trò nữ nên

“thầy chuẩn bị khoác áo sọc đen trắng của đội bóng Juventus” (Văn Thành Lê,

2014, tr.52). Sở thích bệnh hoạn, không chế ngự đƣợc phần “con” đã khiến thầy

phải trả giá đắt: rơi vào vòng lao lý, sự nghiệp tiêu tan. Một thầy trƣởng khoa ẩn

sau vẻ ngoài đạo mạo là một con thú đội lốt ngƣời khát khao tính dục. Thông qua

lăng kính nghịch dị, thực trạng nhức nhối gạ tình đổi điểm đƣợc phơi bày “Dẫu

chân râu chân ria đã bạc nhƣng tóc vẫn còn xanh. Có khi đấy là dấu hiệu của cái

miệng làm việc nhiều hơn cái đầu?” (Văn Thành Lê, 2014, tr.71). Đâu chỉ có thế,

thầy dạy Phƣơng pháp cũng là một con ngƣời tha hóa, vừa yếu chuyên môn vừa

biến chất về đạo đức. Bài giảng của thầy toàn những ngôn ngữ nhạy cảm đúng

nhƣ bản chất con ngƣời thầy: cặp bồ, có con riêng “Thế này nhé, bƣớc 1… he he.

Ngon lành chƣa các em? Bƣớc 2 thì…he he. Ngọt nhƣ mía lùi chƣa các em?

Bƣớc 3 thì…he he. Êm và mƣợt nhƣ da em bé chƣa các em? Bƣớc 4 thì …he he.

Tuyệt cái con vời vợi chƣa các em” (Văn Thành Lê, 2014, tr.74). Đây là chân

dung một tiến sĩ giấy thực sự, chuyên môn yếu kém lại ích kỉ, nhỏ nhen, thù dai,

chèn ép sinh viên sống dở chết dở.

Bên cạnh những ông thầy đặt bản năng tính dục lên trên bất chấp luân

thƣờng đạo lí, trong Không biết đâu mà lần, Văn Thành Lê còn châm biếm ông

hiệu trƣởng năng lực có hạn mà “thủ đoạn có thừa” – háo danh, mắc căn bệnh

thành tích. Thầy biến trƣờng học thành đƣờng đua Monter Carlo ở công quốc

Monaco của giải đua xe công thức 1 Grand Prix “cả trƣờng cắm cổ lao vào

những hoạt động bề nổi với hết thi đua này đến phong trào nọ” (Văn Thành Lê,

2014, tr.95). Thầy cũng kịp thời “sáng tác” thành công sáng kiến kinh ngạc

“Hiện thực hóa ứng dụng Toán học vào nông nghiệp thông qua cách thức tính

61

diện tích đất canh tác” để chào mừng ngày… quốc tế thiếu nhi. Cái ghế hiệu

trƣởng thầy đang ngồi phải chăng có đƣợc là do “tiền tệ” và “quan hệ”? Hàng

loạt chân dung biếm họa kì quái về những ông thầy ham tính dục, mê thành tích

bị lột trần làm đảo lộn mọi giá trị dƣới ngòi bút châm biếm của Văn Thành Lê.

Theo thang giá truyền thống, thầy giáo là những ngƣời có đạo đức, phẩm chất

thanh cao mới có thể giáo dục những thế hệ học trò ƣu tú. Thế nhƣng, tấm gƣơng

ấy đã bị bôi lem, vấy bẩn. Với những ông thầy tha hóa, biến chất nhƣ vậy, liệu

giáo dục sẽ đi về đâu? Đây chính là nỗi niềm trăn trở, day dứt, đau đớn của nhà

văn trẻ – một ngƣời từng làm thầy khi “mắt thấy, tai nghe” những ung nhọt của

ngành giáo dục trong guồng quay của cuộc sống đƣơng đại.

Đối lập với những ông thầy tha hóa là thế hệ giáo viên trẻ nhƣ nhân vật

Anh, Kha, Linh và những ngƣời bạn trong nhóm F5: Long, Ly, Quy, Phụng. Rời

mái trƣờng sƣ phạm, háo hức trở về quê hƣơng, cuộc chạy đua công chức khốc

liệt khiến nhân vật anh phải bỏ xứ vào Nam. Vẫn gắn đời mình với phấn trắng

bảng đen, bao mơ ƣớc về một môi trƣờng giáo dục thoải mái, dạy học nhƣ tâm

tình, nói chuyện “học phải vui, hào hứng. Chứ ép nhau học làm sao mà vào đầu

đƣợc” (Văn Thành Lê, 2014, tr.35) dƣờng nhƣ sụp đổ bởi những kỉ luật thép của

trƣờng, những mùa Hội giảng trở thành sân khấu kịch với những diễn viên bất

đắc dĩ, bệnh thành tích trong giáo dục… Anh trăn trở, suy nghĩ, thƣơng lũ học trò

nhƣ những chú gà công nghiệp “bảnh mắt đã bị nhồi nhét muốn sặc sụa chữ

muốn ngộ độc lời” (Văn Thành Lê, 2014, tr.102). Sống trong môi trƣờng giáo

dục nghịch dị nhƣ thế, nhân vật Anh, Kha không thể đƣợc sống là chính mình,

không thể nuôi dƣỡng đam mê gieo con chữ đúng nghĩa. Bởi thế, khép lại tác

phẩm, cả hai đều chọn cho mình hƣớng đi riêng, từ bỏ môi trƣờng mình từng

xem là lí tƣởng.

Tƣơng tự nhƣ truyện dài Không biết đâu mà lần, Văn Thành Lê tiếp tục sử

dụng kết cấu tƣơng phản đối lập trong truyện ngắn Thừa ra một người. Vẫn là

hai thế đối cực giữa những nhà giáo dục trong một môi trƣờng học đƣờng lấm

lem. Hiệu trƣởng Cấu với tấm bằng tại chức “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” lên làm

quản lí nổi tiếng là ông vua thành tích, chuyên gia quy hoạch cho đúng phong

62

thủy để bòn rút của công. Những ông thầy nhƣ Cấu biến trƣờng học thành một lễ

hội hóa trang, bục giảng trở thành sân khấu kịch. Trái ngƣợc với đó là nhân vật

nàng và Lãm – những giáo viên trẻ nhiệt huyết với nghề. Khƣớc từ những mùa

hội giảng vì không muốn tự biến thành diễn viên bất đắc dĩ, không chạy theo

thành tích, nàng luôn hƣớng đến những tiết học khiến học trò “tâm phục khẩu

phục” nhƣng cũng đành bất lực, cảm thấy chông chênh, nhận ra mình là “ngƣời

thừa” trong môi trƣờng giáo dục đầy những vết hoen ố.

Không chỉ sử dụng kết cấu đối lập, tƣơng phản khi viết về giáo dục, Văn

Thành Lê còn phơi bày sự thoái hóa, biến chất của những kẻ cơ hội “ăn trên ngồi

trốc” trong xã hội kim tiền. Trong Hạ huyệt an toàn, một không gian đối lập

đƣợc xây dựng: đêm giao thừa pháo hoa rợp trời, tiếng nhạc rộn rã và đám ma

của Can – ngƣời đứng đầu tờ báo Tỉnh. Đám tang rình rang nhất tỉnh nhƣng điều

đáng nói là thái độ của vợ Can, không chút đau đớn trƣớc cái chết của chồng

“mặt lạnh tanh không mảy may biểu hiện cảm xúc” (Văn Thành Lê, 2018, tr.37).

Để rồi từ đó, nhà văn hé mở cái chết vì “thƣợng mã phong” của Can, lật giở lối

sống của kẻ bất tài nhƣng dùng nhiều mƣu mẹo, sự lọc lõi để leo lên những vị trí

cao hòng trục lợi cá nhân. Từ một kẻ bỏ học “theo trâu ngắm đƣờng cày”, Can

đƣợc điều đi học lái xe. Rồi từ lính lái xe, hắn đƣợc thủ trƣởng cất nhắc. Với

bằng đại học tại chức, hắn nghiễm nhiên trở thành Phó chánh văn phòng, Phó

Tổng tờ báo huyện. Kiến thức có hạn nhƣng thủ đoạn có thừa, Can có những pha

nhảy cóc ngoạn mục sau những sai phạm tƣởng chết đến nơi. Thế nhƣng, con

ngƣời lọc lõi ấy cũng không thể thoát khỏi ải mĩ nhân, chết vì đàn bà. Hơn thế

nữa, cái chết ấy cũng là cách hoá giải tốt nhất khi Can bị thanh tra tài chính với

hàng loạt sai phạm. Đến với Ngoài mọi quy luật, kết cấu tƣơng phản đối lập đƣợc

sử dụng để khắc chạm chân dung những con ngƣời ham mê vật chất, khát khao

tính dục trong guồng quay của xã hội đƣơng đại. Nàng và chàng hoàn toàn đối

lập nhau về tuổi tác, địa vị xã hội. Trong khi nàng 52 tuổi là bà hoàng của giới

thời trang thì chàng chỉ mới 25 tuổi, xuất thân “chân lấm tay bùn”, học hết phổ

thông lên thành phố lao động chân tay kiếm sống “sáng khuân hàng ở chợ đầu

mối, tối tối bƣng bê phục vụ nhà hàng” (Văn Thành Lê, 2018, tr.139). Sở hữu

63

khuôn mặt nam tính “Ánh mắt lạnh. Thân hình lêu nghêu cao hơn mét tám. Ngực

và mông đầy tiềm năng triển vọng”, chàng lọt vào mắt xanh của nàng, một bƣớc

thành sao và trở thành phi công trẻ để thoã mãn dục vọng của nàng – ngƣời đang

bƣớc vào tuổi hồi xuân. Thế nhƣng, mối tình lệch chuẩn ấy kết thúc đầy bất ngờ

trƣớc cái chết bất thình lình của chàng. Còn nàng tiếp tục những cuộc tình mới

với phi công trẻ khác.

Trong Đi chùa đầu năm, kết cấu đối lập đƣợc sử dụng để gióng lên hồi

chuông cảnh tỉnh về nét đẹp văn hoá tâm linh đang dần bị con ngƣời làm cho

hoen ố trong xã hội xô bồ. Thế giới Tiên Phật thanh tịnh nơi cửa chùa giờ đây là

đích đến cho những kẻ “tâm không tịnh”. Họ đến cửa chùa chỉ vì khuôn viên đẹp

hay sự tò mò đƣợc chiêm ngƣỡng thầy trụ trì trẻ đẹp có bằng quản trị kinh doanh

trƣớc khi quy y cửa Phật. Ngay từ tên ngôi chùa “Ọc Trô” đã hé mở một thế giới

ô trọc núp bóng tính ngƣỡng. Chùa trở thành “Công ty trách nhiệm hữu hạn” của

đại gia sau khi hô biến am nhỏ thành khu du lịch sinh thái. Bắt kịp xu hƣớng con

ngƣời “lung lạc niềm tin” tìm đến thánh thần, đại gia phù phép am thành chùa

“Phật ùn ùn kéo về. Phật đứng. Phật nằm. Phật ngồi. Phật ở mọi tƣ thế” (Văn

Thành Lê, 2018, tr.30). Đƣờng lên cửa Phật bày bán đủ các loại đặc sản thú rừng.

Còn hòm công đức tuỳ tâm phật tử giờ đây là những két sắt vì sợ trộm nẫng mất.

Một thế giới xô bồ đƣợc nhà văn trẻ vẽ ra ngay giữa chốn linh thiêng. Sự nhã

nhặn, từ tốn khi đứng giữa chốn linh thiêng bay biến thay vào đó là sự chen lấn,

xô đẩy để “cắm bằng đƣợc thẻ hƣơng” mong Phật chứng dám cho lòng thành.

Dâng hƣơng lễ phật nhƣng tâm không tịnh chỉ nghĩ đến sự hấp dẫn từ lời nói,

mùi thơm toát ra từ tờ khăn giấy của đồng nghiệp nữ “Ôi! Lời của Khin mới dễ

thƣơng làm sao. Khăn giấy trong tay Khin mới thơm làm sao” (Văn Thành Lê,

2018, tr.28). Ngƣời ngƣời “chổng mông trật hết cạp quần với phụ tùng phía trong

ra để xin tí lộc” (Văn Thành Lê, 2018, tr.33) ở giếng nƣớc Thánh. Thế nhƣng,

niềm tin uống nƣớc thánh để tiêu tan bệnh tật chắc sẽ chẳng còn khi những con

ngƣời sùng tín ngƣỡng biết nguồn nƣớc ấy vẫn bị trâu bò “giẫm đạp, đái ỉa tùm

lum” (Văn Thành Lê, 2018, tr.33).

64

Nhƣ vậy, với kết cấu đối lập, Văn Thành Lê dùng chất sống dồi dào để mở

ra trƣớc mắt ngƣời đọc một thế giới ô trọc, xô bồ nhƣ nó vốn có trong vòng xoáy

kim tiền bằng ngôn ngữ và giọng điệu giễu nhại đặc trƣng. Kết cấu này giống

nhƣ chiếc ống kính lia cận cảnh chân dung của những con ngƣời tha hoá, những

mảng tối, góc khuất của xã hội đƣơng đại.

2.2.2.3. Kết cấu phân mảnh, lắp ghép

Bên cạnh kết cấu song hành và kết cấu tƣơng phản, đối lập, trong những

trang viết đậm chất đời của mình, Văn Thành Lê còn lựa chọn kết cấu phân

mảnh, lắp ghép mang đậm dấu ấn văn chƣơng hậu hiện đại. Chối bỏ đại tự sự,

văn học đƣơng đại dẫn dắt ngƣời đọc vào trò chơi kết cấu nhằm giải thiêng, phá

vỡ cấu trúc truyền thống. Sử dụng thủ pháp mờ hóa kết cấu, nhà văn đã khƣớc từ

kết cấu tuyến tính, sắp xếp những mảnh vỡ lắp ghép tƣởng chừng rời rạc để độc

giả cùng tham gia vào trò chơi, tự xâu chuỗi để tạo thành câu chuyện hoàn chỉnh.

Theo đó, phân mảnh chính là thử nghiệm mới mẻ để nhà văn tái hiện thực tại

ngổn ngang, nhiều chiều kích. Kết cấu phân mảnh, lắp ghép là kiểu kết cấu thông

dụng trong sân khấu, điện ảnh thế kỉ XX. Kiểu kết cấu này đƣợc nhà văn sử dụng

rất hiệu quả để làm mờ sự kiện, hành động của nhân vật, khiến ngƣời đọc không

thể biết trƣớc đƣợc điều gì sẽ xảy ra và câu chuyện kết thúc nhƣ thế nào. Sử dụng

kết cấu này, nhà văn xáo trộn những biến cố, sự kiện, lắp ghép chúng không theo

trình tự thời gian. Đây là kết cấu lắp ghép, phân mảnh bằng cách đảo lộn, xáo

trộn, phá vỡ trật tự thời gian truyền thống. Tác phẩm thƣờng mở đầu bằng tình

huống kết thúc truyện, ngƣời kể chuyện thông báo kết quả trƣớc rồi mới đƣa ra

những sự kiện dẫn dắt hé mở nguyên nhân của sự việc. Từ sự việc ở hiện tại, nhà

văn đƣa ngƣời đọc ngƣợc về quá khứ, lần tìm những mắt xích, sự kiện ban đầu.

Các sự kiện cứ nhƣ thế tiếp diễn đến hết truyện. Do đó, đƣờng viền thời gian trở

nên nhòe mờ dần.

Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy kiểu kết cấu lắp ghép, phân mảnh đƣợc sử dụng ở 23 truyện:

Xóm trọ, Tuổi hai mươi khác trở về, Biết tới khi nào mưa thôi rơi, Thư gửi người

65

bạn thân, Hoa núi, Sẽ trôi về đâu, Ánh trăng trên ô cửa toa tàu, Người đàn bà

hát tình ca trong mưa, Ghi chú về những giấc mơ, Vá lại ngày đã qua, Hun hút

cửa sông, Biến mất không đều (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), Kẻ rao bán…,

Giấc mơ bị đánh cắp, Chim cánh cụt biết bay, Khe Mung Lung, Khúc mơ hoang,

Nụ hôn ảo, Mẹ, con và những khoảng trống (Thừa ra một người), Chung chiêng

hẻm cụt, Sa lan đỏ bãi Xanh, Đi nửa ngày đàng, Nhà thơ cấp nước (Sa lan đỏ bãi

Xanh). Kết cấu lắp ghép, phân mảnh bằng cách đảo lộn trục thời gian quá khứ và

hiện tại thật đắc dụng khi nhà văn trẻ viết về những mảng sáng – tối của cuộc

sống đƣơng đại.

Trong văn xuôi Văn Thành Lê, sự phân mảnh, lắp ghép thể hiện trƣớc hết

ở bề mặt văn bản qua phân chia văn bản thành từng đoạn và đánh số thứ tự cho

từng mục tạo nên những câu chuyện rời rạc, phi logic, không liền mạch. Nhà văn

trẻ lắp ghép, phân mảnh Kẻ rao bán... thành bảy mục, đánh số thứ tự cho từng

mục.

Mục 1. Truyện bắt đầu bằng sự kiện ở hiện tại, nhân vật hắn ra khỏi nhà

nhìn thấy những đứa trẻ giống nhau “Những đứa trẻ có vành tai rộng và dài.

Những đứa trẻ chân đi hình chữ bát” (Văn Thành Lê, 2016, tr.7).

Mục 2. Cú click chuột lúc nửa đêm dẫn dắt hắn vào con đƣờng rao bán

tinh trùng của hắn.

Mục 3. Hắn đi xét nghiệm, thực hiện phi vụ đầu tiên

Mục 4. Khách hàng muốn hắn “chuyển giao trực tiếp” để sinh con tự

nhiên.

Mục 5. Hắn nghĩ đến nàng và thực hiện bán tinh trùng trực tiếp mà không

hề dằn vặt, suy nghĩ.

Mục 6. Giấc mơ về lão Khuynh – ngƣời kí gửi con khắp làng trên xóm

dƣới khiến hắn thức tỉnh chạy đến bên ngƣời yêu, thấy những đứa trẻ giống nhau.

Mục 7. Kết thúc truyện với 3 tình huống xảy ra với cuộc đời hắn. Tình

huống thứ nhất, hắn và nàng tổ chức đám cƣới, sống hạnh phúc sau biến cố. Tình

huống thứ hai, hắn và nàng sống êm ấm, hòa thuận nhƣng không có con, phải

nhận con nuôi. Và tình huống thứ ba đó là nàng đi tu, hắn cƣới ngƣời khách hàng

66

muốn lấy hắn. Sau ba năm, hắn bảo vệ xong luận án tiến sĩ, bị vợ đuổi ra khỏi

nhà, hắn trở nên điên loạn rồi cũng đi tu. Với những mảnh vỡ lắp ghép và kết

thúc mở, nhà văn đã khƣớc từ vai trò độc tôn của chủ thể sáng tạo. Thay vào đó

là những khoảng trống để ngƣời đọc chủ động tham gia vào tiến trình tự sự và

thể hiện những suy ngẫm của riêng mình để viết tiếp câu chuyện.

Tƣơng tự nhƣ thế, những mảnh vỡ kết cấu tiếp tục đƣợc Văn Thành Lê sử

dụng trong Nụ hôn ảo. Nhà văn phân mảnh, lắp ghép truyện thành năm mục và

đánh số thứ tự.

Mục 1. Hắn hôn nàng nhƣng không có cảm giác. Nhà văn xen vào đoạn

thống kê khoa học về nụ hôn kiểu Pháp.

Mục 2. Hắn nhớ lại con ma lƣỡi dài “lƣỡi dài cả mét, thò ra thụt vào

nhanh nhƣ chớp” (Văn Thành Lê, 2016, tr.131), tƣởng tƣợng lƣỡi của nàng cứ

thoắt đen, thoắt đỏ nhƣ con trăn và cảm thấy sợ.

Mục 3, 4. Hắn nhớ lại ngày ra trƣờng đi dạy trở thành kẻ thọc gậy bánh xe

trong mắt thầy cô cùng trƣờng vì hay ý kiến.

Mục 5. Hắn nghĩ về cái lƣỡi, tiếp tục hôn nàng.

Nhƣ vậy, thời gian của truyện chỉ diễn ra trong vài phút của một nụ hôn

dài. Qua việc phân mảnh, lắp ghép kết cấu, nhà văn gợi ra những hoang mang, đổ

vỡ trong tâm hồn nhân vật hắn, những cảm xúc, cảm giác của con ngƣời có lúc

biến mất thật bất ngờ trong cuộc sống ngổn ngang đƣơng đại. Đó cũng là tâm

trạng khủng hoảng trầm trọng của bao ngƣời trẻ giữa xã hội đảo điên với những

thang giá truyền thống bị đảo lộn.

Thừa ra một người trong tập truyện cùng tên cũng đƣợc tạo nên từ những

mảnh vỡ lắp ghép trong trò chơi kết cấu của cây bút trẻ. Truyện ngắn đƣợc chia

làm chín mục xoay quanh nhân vật trung tâm “nàng” một giáo viên trẻ mới đi

dạy đƣợc ba năm.

Mục 1. Học sinh lớp nàng nhảy lầu tự tử trong đêm hội trại.

Mục 2. Những sự cố trên trời rơi xuống trong ba năm đi dạy của nàng.

Năm đầu tiên, học sinh bỏ học đi lấy chồng. Năm thứ hai, học sinh bị bắt trong

vụ cƣớp tiệm vàng.

67

Mục 3. Nàng gặp cô hiệu phó vì vụ tự tử của học sinh.

Mục 4. Câu chuyện của nàng trong khu tập thể giáo viên

Mục 5. Hiệu trƣởng mới trƣờng nàng.

Mục 6. Mùa hội giảng.

Mục 7. Câu chuyện về Lãm – ngƣời ở cùng khu tập thể với nàng

Mục 8. Câu chuyện bên bàn nhậu ở khu tập thể.

Mục 9. Năm học kết thúc, Lãm bỏ nghề làm phóng viên, nàng cảm thấy

lạc lõng nhƣ một ngƣời thừa.

Thông qua những mảnh vỡ lắp ghép tƣởng chừng rời rạc, nhà văn phơi

bày một môi trƣờng giáo dục nghịch dị với hiệu trƣởng Cấu ƣa thành tích, tham

nhũng của công, những mùa hội giảng nhƣ một sân khấu hài kịch, giáo viên trở

thành diễn viên bất đắc dĩ. Trong bức tranh giáo dục lấm lem ấy, nàng trở thành

“ngƣời thừa”, cảm thấy hoang mang, chênh vênh trong môi trƣờng mình từng

xem là lí tƣởng.

Không chỉ phân mảnh văn bản thành từng đoạn trên bề mặt văn bản, Văn

Thành Lê còn lắp ghép ngẫu nhiên, đan cài những câu chuyện vụn vặt về những

mảnh đời nhỏ bé giữa guồng quay đƣơng đại. Đó là những con ngƣời bƣớc ra từ

cuộc sống đời thƣờng trong Xóm trọ. Thủ pháp lắp ghép của điện ảnh trở nên hữu

dụng để nhà văn trẻ khắc chạm những gƣơng mặt đời thƣờng trong hồi ức của

nhân vật tôi. Trong xóm trọ, phòng đầu tiên là gia đình chị cắt tóc quê ở miền

Trung với điệp khúc yêu thƣơng, âu yếm nhau mỗi lần anh chồng lái xe đƣờng

dài về thăm nhà nhƣng gần ngày đi lại “chửi nhau, mánh khoé, đụng độ, thập chí

bụp chát” (Văn Thành Lê, 2015, tr.7). Tiếp đến là gia đình anh thợ điện và chị

bán xôi vất vả mƣu sinh từ sáng sớm đến tối mịt. Còn chị Lan ngày ngủ bù, chiều

“đi ra đi vào. Hết sơn móng tay lại nhổ lông mày. Chán thì bói bài tú lơ khơ”

(Văn Thành Lê, 2015, tr.7) nhƣng tối đến thì luôn “khoá trái cửa”. Một dì Hợi

lầm lũi nhƣ ma xó, buôn rau ở chợ. Dù có nhiều con cháu, gia đình khá giả

nhƣng cuối đời lại phải đi thuê trọ. Trong xóm trọ còn có bà chủ nhà và lão con

tên Đào Kiều Ân keo kiệt, bủn xỉn, sáng nào cũng chào ngày mới bằng một trận

cãi lộn về tiền đi chợ hôm trƣớc. Một xóm trọ đủ mọi thành phần, tầng lớp trong

68

xã hội. Cuộc sống xô đẩy những thân phận, mảnh đời ấy gặp nhau, dù đôi lúc cãi

vã nhƣng cuối cùng đọng lại vẫn là tình ngƣời trong hồi ức của nhân vật tôi.

Tƣơng tự nhƣ thế, trong Chung chiêng hẻm cụt, mảnh ghép của lão thổi kèn, đôi

bạn trẻ làm nghề hát dạo, mẹ chủ và con gái đƣợc đặt cạnh mảnh đời của tôi, viết

báo dạo kiêm nhiếp ảnh nghiệp dƣ. Qua lời kể của nhân vật tôi, từng mảnh đời

hiện lên nhƣ một thƣớc phim quay chậm. Lão thổi kèn đám hiếu li hôn vợ, sống

ở hẻm cụt đƣợc nửa năm. Lão vất vả mƣu sinh cùng khoản trợ cấp thƣơng binh

để lo tiền nhà trọ và duy trì năng lƣợng sáng tạo. Lão mê mẹ chủ trọ bán bún thịt

nƣớng ở đầu hẻm bị chồng bỏ đi theo gái không để lại dấu vết. Mẹ có thằng con

trai bị sốc thuốc chết, đứa con gái kiếm đƣợc mảnh chồng nhƣng thằng chồng

“hở tí là tìm đƣờng chấm mút ngoài luồng” (Văn Thành Lê, 2018, tr.99) nên căm

thù đàn ông. Hai mảnh ghép tƣởng chừng không thể kết dính cuối cùng lại xích

lại gần nhau, trở thành một cặp. Trong xóm trọ, cặp đôi hát dạo bán kẹo kéo ở

các quán nhậu tạo nên không khí sôi động cho hẻm, sáng nào cũng “rửa tai bằng

âm nhạc trƣớc khi súc miệng đánh răng” (Văn Thành Lê, 2018, tr. 92). Còn nhân

vật tôi “đụng đâu viết đấy” để kiếm sống qua ngày. Nhờ tấm ảnh chụp màn song

tấu của cu em hát dạo và lão thổi kèn trong đêm mƣa, nhân vật tôi có cơ hội đổi

đời, đƣợc mời về một tờ báo làm việc, đồng thời chuyển trọ, kết thúc những ngày

tháng đầy ắp kỉ niệm cùng những ngƣời nghệ sĩ đƣờng phố ở hẻm 69. Tất cả đều

là những thân phận vô danh, không tên gọi, đƣợc định danh bằng nghề nghiệp

nhƣ bao thân phận bọt bèo giữa cuộc sống ngổng ngang đƣơng đại.

Xem văn học là một sân chơi, Văn Thành Lê cùng các nhà văn đƣơng đại

đã làm mờ kết cấu bằng cách lắp ghép, phân mảnh, trật tự thời gian truyền thống

bị phá vỡ. Thay vào đó, các sự kiện bị xới tung, đảo lộn kết hợp những đoạn hồi

cố đan xen đƣợc tác giả sắp xếp theo ý đồ sáng tác để phản ánh sự tha hóa về đạo

đức hay thân phận bé mọn của con ngƣời trong xã hội kim tiền. Đồng thời, việc

mờ hóa bằng những mảnh vỡ kết cấu cũng kích thích trí tƣởng tƣợng, khả năng

khám phá để độc giả đồng sáng tạo. Nhà văn lúc này hoá thành ngƣời đạo diễn

tài năng kiến tạo nên những thƣớc phim chân thực nhất về đời sống ngổn ngang

những chiều kích.

69

Nhƣ vậy, không chỉ có cốt truyện, kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê

cũng rất đa dạng. Mỗi tập truyện, nhà văn sử dụng một kiểu kết cấu nổi bật để

phục vụ dụng ý nghệ thuật của chính mình (xem bảng 2.5).

Bảng 2.5. Khảo sát các kiểu kết cấu trong văn xuôi Văn Thành Lê

Song hành Tên tập truyện Kết cấu Tƣơng phản đối lập

Phân mảnh lắp ghép Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %

Biết tới khi nào mưa thôi rơi 5 33.33 2 22.22 12 54.55

7 3 15 46.67 20.00 2 5 9 22.22 55.56 6 4 22 27.27 18.18

Thừa ra một người Sa lan đỏ bãi Xanh Tổng cộng

Trong Biết tới khi nào mưa thôi rơi, kết cấu lắp ghép phân mảnh chiếm ƣu

thế để tái hiện cuộc sống đầy bất trắc, chông chênh của con ngƣời giữa dòng đời.

Tập truyện Thừa ra một người sử dụng cả kết cấu song hành và kết cấu phân

mảnh, lắp ghép để khám phá cuộc sống đƣơng đại với những mảng tối, góc

khuất, nỗi hoang mang, bất an trở thành căn bệnh thời đại. Kết cấu tƣơng phản,

đối lập đƣợc sử dụng nhiều nhất trong Sa lan đỏ bãi Xanh để bóc trần lớp vỏ

nguỵ tạo trong xã hội, phơi trả sự băng hoại đạo đức của con ngƣời.

* Tiểu kết Chƣơng 2

Nghiên cứu văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học, chúng tôi nhận

thấy nhà văn 8X sử dụng linh hoạt, đa dạng các kiểu cốt truyện để phục vụ dụng

ý nghệ thuật của mình. Sử dụng những kiểu cốt truyện truyền thống nhƣ cốt

truyện tuyến tính hay những kiểu cốt truyện hiện đại xuất hiện đầu thế kỉ XX: cốt

truyện gấp khúc, cốt truyện tâm lí và cốt truyện kịch hoá, tác giả vẫn để lại

những dấu ấn riêng khó trộn lẫn. Cốt truyện tuyến tính đƣợc sử dụng tạo nên

những câu chuyện liền mạch, tự nhiên để ngƣời viết trải lòng về cuộc sống đã

qua đầy ắp tình ngƣời và kỉ niệm. Trong khi đó, cốt truyện gấp khúc giúp nhà

văn trẻ phơi trải cuộc sống đƣơng đại ngổn ngang những chiều kích. Còn cốt

70

truyện tâm lí gửi gắm nỗi hoang mang của con ngƣời trong vòng xoay của cuộc

sống kim tiền. Cốt truyện kịch hoá lại mở ra những “tấn trò đời” cƣời ra nƣớc

mắt.

Bên cạnh đó, đi sâu khám phá kết cấu phong phú trong những trang viết của

nhà văn 8X, chúng tôi nhận thấy dấu ấn hậu hiện đại rõ nét. Bên cạnh kết cấu

song hành, kết cấu tƣơng phản đối lập, Văn Thành Lê còn sử dụng dày đặc kết

cấu phân mảnh, lắp ghép của điện ảnh dẫn dắt ngƣời đọc vào trò chơi kết cấu. Từ

đó, nhà văn “nội soi” hiện thực với nhiều góc khuất, những chiều kích ngổn

ngang của xã hội hiện đại.

Cách tổ chức cốt truyện và kết cấu đa dạng, phong phú trong văn xuôi Văn

Thành Lê là minh chứng rõ ràng nhất cho những nỗ lực sáng tạo, khát khao định

vị phong cách, khẳng định tài năng của bản thân trong dòng chảy văn chƣơng

đƣơng đại.

71

Chƣơng 3

NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TỰ SỰ

TRONG VĂN XUÔI VĂN THÀNH LÊ

Nếu hội họa là khúc biến tấu của màu sắc thì văn chƣơng là bữa tiệc thịnh

soạn của ngôn ngữ và giọng điệu. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật là hai yếu tố

quan trọng để định vị phong cách nhà văn. Trong những đứa con tinh thần của

mình, Văn Thành Lê đã chọn lựa ngôn ngữ và giọng điệu riêng biệt để đan dệt

nên bức tranh cuộc sống xã hội đa chiều.

3.1. Ngôn ngữ trong văn xuôi Văn Thành Lê

3.1.1. Khái lược về ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự

Văn chƣơng là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ chính là chất liệu,

nền tảng để xây dựng nên tác phẩm văn học. Đồng thời, nó cũng là cầu nối để

nhà văn neo đậu mãi trong lòng độc giả. Mỗi thể loại văn học có cách tổ chức,

sắp xếp ngôn ngữ riêng. Thơ trữ tình khai thác ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc, kịch

chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại thì tác phẩm tự sự trong đó có truyện ngắn,

truyện dài chủ yếu sử dụng ngôn ngữ trần thuật.

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi định nghĩa ngôn ngữ trần thuật là “Phần lời văn độc thoại thể hiện quan

điểm tác giả hay quan điểm ngƣời kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối

với cuộc sống đƣợc miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn

và sử dụng các phƣơng tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” (Lê Bá Hán và cs.,

2007, tr.212, 213). Ngôn ngữ trần thuật có vai trò then chốt trong phƣơng thức tự

sự. Đây còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, cá tính của tác giả

“Cùng một kho từ vựng nhƣng mỗi ngƣời lại có những cách thiết tạo cấu trúc cú

pháp/ ngữ đoạn khác nhau. Ngôn ngữ, qua sự sàng lọc và sáng tạo của nhà văn có

khả năng tạo sinh tƣ tƣởng” (Lê Hƣơng Thuỷ, 2019, tr.188). Ngôn ngữ trần thuật

có thể có một giọng hoặc có khi hai giọng: lời nhại, mỉa mai, lời nửa trực tiếp thể

hiện sự đối thoại với ý thức khác về cùng một đối tƣợng miêu tả.

72

Nhƣ vậy, chúng tôi có thể hiểu ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của tác

giả, bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn. Ngôn ngữ trần

thuật có vị trí quan trọng trong tác phẩm tự sự. Sự phát triển của cốt truyện và

tính cách nhân vật đƣợc bộc lộ đậm nhạt đều phụ thuộc vào ngôn ngữ trần thuật.

Để làm chủ ngòi bút, nhà văn phải có vốn từ phong phú, ngôn ngữ mới lạ. Ngôn

ngữ là chất liệu cơ bản để đan dệt nên lâu đài nghệ thuật mang đậm dấu ấn riêng

của nhà văn “Thợ mộc cần gỗ, thợ may cần vải, thợ hồ cần xi măng, còn nhà văn

chỉ cần… chữ. Mà chữ là thứ nguyên liệu chẳng phải bỏ tiền ra mua” (Hội Nhà

văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr.21). Trong quá trình lao động nghệ thuật,

nhà văn đã dồn hết tài năng và bút lực trong việc sáng tạo ngôn ngữ bởi đó là

cách duy nhất hiện thực hoá “chiến thuật” kể chuyện. Ngôn ngữ là giai đoạn cuối

cùng của quy trình sáng tạo nhƣng lại là khởi nguồn của quy trình tiếp nhận. Bởi

thế, nó có vai trò quan trọng trong các phƣơng thức tự sự.

3.1.2. Các dạng thức ngôn ngữ trong văn xuôi Văn Thành Lê

3.1.2.1. Ngôn ngữ thông tục

Văn xuôi đƣơng đại bƣớc vào cuộc thử nghiệm ngôn ngữ táo bạo để phản

ánh cuộc sống gai góc với những mối quan hệ đa chiều. Không còn những ngôn

ngữ trang nghiêm, kiểu cách, khuôn sáo mà thay vào đó là ngôn ngữ thông tục,

suồng sã. Viết về những mảng tối, góc khuất của xã hội đƣơng đại hỗn tạp trong

những đứa con tinh thần của mình, Văn Thành Lê lựa chọn pha trộn giữa ngôn

ngữ văn chƣơng và ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày. Đây là xu hƣớng chung của

văn xuôi đƣơng đại “Khác với sự “mĩ hóa” thế giới trong văn xuôi giai đoạn

1945 – 1975, văn xuôi sau 1975 có xu hƣớng diễn tả thực tại trong những trạng

thái tục tằn thô nhám nhất của nó” (Phùng Gia Thế, 2016, tr.255). Trong văn

xuôi đƣơng đại, các nhà văn công nhiên thông tục hóa phi thẩm mĩ ngôn từ, phá

vỡ tính chuẩn mực của ngôn ngữ văn học truyền thống. Khát khao khám phá tận

cùng đời sống phồn tạp, đa chiều, ngƣời nghệ sĩ ngôn từ phải có một nhãn quan

mới – nhãn quan hiện thực “Chƣa bao giờ ngôn ngữ văn chƣơng gần với ngôn

ngữ sinh hoạt – thế sự đến thế. Chƣa bao giờ trong văn chƣơng (kể cả thơ), trong

nghệ thuật (nhƣ kịch và phim), những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi,

73

vạch vòi xuất hiện nhiều đến thế… Không còn lối văn đạo mạo của ngƣời rao

giảng đạo đức, ngôn ngữ hiện nay quan tâm đến sự chính xác, đến nhu cầu gọi

đúng tên sự vật” (Trần Đình Sử, 2017, tr.320). Việc “lạ hoá” ngôn ngữ là đòi hỏi

tất yếu để nhà văn đƣơng đại vƣợt thoát khỏi lối viết cũ, thoả sức phát huy sự

sáng tạo. Với nhãn quan ngôn ngữ mới, văn chƣơng đƣơng đại đã có những đổi

thay đáng kể. Nếu Nguyễn Huy Thiệp hấp dẫn ngƣời đọc bởi thứ ngôn ngữ miêu

tả hiện thực đời sống nhƣ nó vốn có, trần trụi, thông tục thì Hồ Anh Thái lại “bỏ

bùa” ngƣời tiếp nhận với lớp ngôn ngữ thị dân đậm đặc.

Tiếp bƣớc thế hệ đi trƣớc, Văn Thành Lê cũng sử dụng ngôn ngữ đậm

chất đời, mang hơi thở cuộc sống đƣơng đại. Mang cảm quan hậu hiện đại, cách

hành ngôn mang tính khẩu ngữ – “viết nhƣ nói” đƣợc sử dụng dày đặc, tiếng chửi

thề, văng tục, tiếng lóng – biệt ngữ xã hội đƣợc vận dụng tự nhiên, nhuần nhị

khiến ngôn ngữ trong văn xuôi Văn Thành Lê biến hóa khôn lƣờng. Dƣới đây là

bảng thống kê ngôn ngữ thông tục trong 4 tập truyện của tác giả.

Từ mới Từ lóng Bảng 3.1. Thống kê ngôn ngữ thông tục trong truyện Văn Thành Lê Từ chỉ bộ phận kín Từ chửi thề văng tục STT Tên tác phẩm

Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %

3 9.38 9 13.43 81 36.32 9 9.78 1

18 56.25 14 20.90 26 11.66 52 56.52 2

1 3.13 30 44.78 91 40.81 27 29.35 3

10 31.25 14 20.90 25 11.21 4 4.35 4

32 67 223 92 Không biết đâu mà lần Biết tới khi nào mưa thôi rơi Thừa ra một người Sa lan đỏ bãi Xanh Tổng cộng

74

Nhìn vào bảng 3.1, cách hành ngôn “viết nhƣ nói”, ngôn ngữ đƣờng phố

trong Không biết đâu mà lần đƣợc sử dụng dày đặc “có việc gì đâu mà làm, tao

đánh rắm cái là xong”, “lầy lội cứt trâu cứt bò mà rống tƣớng lên”, “gió phe phẩy

cành nhƣ con mụ hàng cá phe phẩy quạt đuổi ruồi”, “muốn dựng lông chân”, “có

mà xụi lơ”, “hắc xì dầu quá”, “sểnh ra”, “láo nháo đập phát chết giờ”, “he he”,

“con chó mới đẻ vú vê sữa siếc dài lòng thòng cắn rát lỗ tai”, “chình ình” (Văn

Thành Lê, 2014)... Lớp ngôn ngữ thông tục, thô nhám này đã góp phần phản ánh

chân thực môi trƣờng giáo dục hỗn tạp. Đồng thời, ngôn ngữ đƣờng phố ấy cũng

bóc mẽ nhân cách của đội ngũ giáo chức – tầng lớp trí thức vốn không đƣợc dùng

kiểu ngôn ngữ đƣờng phố (Xem phụ lục 3).

Trong tập truyện Thừa ra một người, từ ngữ “viết nhƣ nói” mang hởi thở

cuộc sống xuất hiện với tần xuất lớn: “lơ tơ mơ”, “lô xích xông”, “tê tê”, “xất bất

xang bang”, “chúi mắt chúi mũi”, “thằng nhóc ranh”, “xu chiêng”, “hôn vào

mông xe tải”, “băm bổ”, “ngoác miệng cƣời”, “trống huơ trống hoác”, “rối tung

rối mù”, “kì quái kì quặc kì cục kì dị kì kì”, “múa may quay cuồng”, “tá hỏa”,

“cƣời hề hề phô răng trắng hếu phô lợi đỏ hều”, “lòe thiên hạ”, “tí toáy”, “Ha ha.

He he. Hê hê”, “không thể thua thằng khác đƣợc”, “ông trời xỏ lá”, “trán hói

bụng phệ môi thâm mắt có đuôi”, “tận đẩu tận đâu”, “phẹt rẹt phẹt rẹt rẹt rẹt”,

“thằng oắt con”, “xôm tụ”, “ngồn ngộn mệt mỏi”, “cƣời cắn chỉ”, “nẫu ruột”,

“thèm nhỏ dãi”, “chặt đuôi”, “nói toẹt ra là đi đái”, “xử đẹp”, “nhảy tƣng tƣng

khỏi lồng ngực”, “Rét lạ rét lùng. Rét tàn rét bạo”, “bật nhạc oang oang”, “rổn

rang”, “kiểu lật đật dở hơi”, “tìm chỗ đặt đít”, “tóe loe”, “cứt lộn lên đầu”,

“phang”, “hai thằng đực rựa”, “sang đếch gì”, “cọc cạch đếch gì”, “mấy cái tàu

há mồm trong nhà”, “học sống học chết”, “đề tài đề tọt”, “đánh đu với gái”,

“ngang phè phè”, “sống sờ sờ”, “sống nhăn răng”, “sốt xình xịch”, “bu vào”,

“tuyệt cái con vời”, “một đống to tú ụ”, “dính chƣởng”, “nhảy tót lên xe”, “bu

đen bu đặc”, “cắn lƣỡi chết đi cho nhẹ đời”, “nói cho vuông”, “tỏ ra sành sỏi hoa

lá cành” (Văn Thành Lê, 2016)… Ngôn ngữ “viết nhƣ nói” đƣợc sử dụng với

mật độ dày đặc làm cho những vấn đề gai góc của hiện thực trở nên chân thực,

gần gũi. Với những khẩu ngữ mang đậm phong vị cuộc sống, nhân vật dƣờng

75

nhƣ là những con ngƣời trong cuộc sống ngổn ngang đƣơng đại bƣớc vào tác

phẩm (Xem phụ lục 2).

Cùng với đó là những ngôn từ liên quan đến thân thể đặc biệt là những bộ

phận nhạy cảm của con ngƣời “mông”, “gò bồng đảo”, “chim”, “bƣớm” cũng

đƣợc nhà văn sử dụng không ngần ngại: “ban đêm thầy mổ trên đối tƣợng họ

Homo Sapiens, là ngƣời, để chứng minh tính tự động của…chim”, “chống bóng

bổng với đôi gò bồng đảo của cô em xinh xinh”, “Ồ! thầy nhiều chim quá. Ồ! Cô

nhiều bƣớm quá. Bƣớm cô xinh quá. Chim thầy đẹp quá!”, “vung chim đi đánh

gái ngƣời”, “Mẹ! phải tận mắt đƣợc thẩm mông trông vú mới thấu hết đƣợc cái

thú đời trai” (Văn Thành Lê, 2014)… Dùng ngôn ngữ chỉ hạ tầng thân xác, nhà

văn lột tả xuất sắc chân dung những ông thầy ham mê sắc dục, suy đồi đạo đức.

Không chỉ thế, tiếng chửi thề, văng tục cũng đi vào trang viết của Văn

Thành Lê một cách tự nhiên nhƣ cuộc sống vốn có: “Tao lấy gì nhà mày hả con

đĩ già mồm!”, “Chỉ có đĩ mới có cách làm tình nhƣ lợn” (Văn Thành Lê, 2015,

tr.12), “Đếch biết phải mình là con gái không? Hay mình lƣỡng tính mẹ nó rồi”

(Văn Thành Lê, 2015, tr.52), “Đồ khốn nạn mày hại đời tao” (Văn Thành Lê,

2015, tr.182), “Mẹ kiếp! Cƣời cái lông nách ông” (Văn Thành Lê, 2015, tr.286),

“Thiên hạ thối mồm thích chỏ mũi nó chả eo éo lên rác tai lắm” (Văn Thành Lê,

2018, tr.67), “Ranh con nồn. Náo nồn. Đi nhanh cho bà bán nồn. Sáng ra đã ám

nồn” (Văn Thành Lê, 2018, tr.98), “Á. Nồn nồn. Bớ ngƣời ta. Nồn. Bắt lấy. Nồn”

(Văn Thành Lê, 2018, tr.100), “Rõ là đẻ con ra khôn mát l. rƣời rƣợi, đẻ con dại

thảm hại cái l” (Văn Thành Lê, 2018, tr.185).

Cuộc sống hiện đại với sự bùng nổ của công nghệ thông tin sản sinh ra lớp

từ ngữ mới. Là nhà văn thuộc thế hệ 8X, Văn Thành Lê luôn thể nghiệm cách

dùng từ ngữ mới để phản ánh hiện thực đa chiều của xã hội đƣơng đại. Ngôn ngữ

nƣớc ngoài, đặc biệt là tiếng Anh nguyên dạng hoặc tiếng Anh phiên âm tiếng

Việt đƣợc sử dụng nhiều trong tác phẩm: “click”, “link”, “chat”, “wed camera”,

“Ok”, “IQ. EQ”, “Ak”, “Log off” , “AQ”, “Ferrari”, “Karaoke”, “camera”,

“game”, “viagra”, “Triumph, Calvin Klein, H & M, Marks & Spencer, Im

petus,”, “Audi, Lexus”, “To be or not to be”, “ Ok”, “vi-rút”, “Đông - ki” (Văn

76

Thành Lê, 2016)… Sự xâm lấn của ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ “bàn phím” cũng

để lại dấu ấn trong những trang viết Văn Thành Lê: “teo nhà tóp cửa” (Văn

Thành Lê, 2015, tr.13), “nơm nớp lo, nôn nao sợ” (Văn Thành Lê, 2014, tr.62),

“xấu cả nguyên con hổ” (Văn Thành Lê, 2014, tr.63), “bị biểu thì phát thôi” (Văn

Thành Lê, 2015, tr.146), “tuyệt cái con vời vợi” (Văn Thành Lê, 2015, tr.93),

“chim phải trời cá phải nƣớc” (Văn Thành Lê, 2016), “Nguyễn Y Vân” – vẫn y

nguyên, “Vũ Nhƣ Cẩn” – vẫn nhƣ cũ (Văn Thành Lê, 2014, tr.90), “Gáo Bại” –

gái bạo, “Ọc Trô” – Ô trọc, “thơ Vũ Ca” – thơ vả cu (Văn Thành Lê, 2018)… Hệ

thống ngôn ngữ này góp phần diễn tả cuộc sống hiện đại với guồng quay gấp

gáp, vội vã (Xem phụ lục 2).

Chƣa dừng lại ở đó, tiếng lóng – biệt ngữ xã hội cũng đƣợc Văn Thành Lê

tận dụng tối đa để tái hiện những mảng tối, những góc khuất của xã hội đƣơng

đại ngổn ngang, lộn xộn, nhốn nháo. Trong Không biết đâu mà lần, viết về quyết

định Nam tiến của nhân vật Anh, nhà văn sử dụng từ “nhảy dù” – chuyển chỗ ở,

nơi làm việc. Để khắc họa chân dung của ông thầy sở khanh chính hiệu, Văn

Thành Lê sử dụng một loạt tiếng lóng: “Trong mỗi tiết dạy, mắt thầy chiếu tƣớng

góc phải, chọc khe chính giữa, tạt qua biên góc trái. Thuần thục nhƣ cặp kính là

gọng chiếu sắc. Càng ngày càng sắc sảo. Học trò nữ đƣợc thầy quan tâm sâu sát

mắt la mày liếc nhƣ cáo già rình gà non. Ôi những con gà ri, gà nhà, gà giò mới

lớn, không thuốc kích thích vỗ béo, không sâu bệnh, cắn miếng cứ gọi là ấm tận

chân răng, căng tràn nhựa sống, lồng lộng suối lòng ” (Văn Thành Lê, 2014,

tr.54). Thay vì sử dụng từ “nhìn”, “liếc”, nhà văn trẻ khéo léo sử dụng “chiếu

tƣớng”, “chọc khe”, “tạt qua biên” để châm biếm ánh nhìn nhuốm màu sắc nhục

dục của ông thầy “dê xồm” với học sinh nữ. Hay “con gà ri, gà nhà, gà giò mới

lớn” dùng để chỉ học trò nữ mới lớn, biến thầy dạy Sinh trở thành con cáo rình

mồi, bộc lộ đầy đủ bản chất “trâu già thích gặm cỏ non” (Xem phụ lục 3).

Trong Kẻ rao bán…, “vách ngăn” dùng để chỉ màng trinh, “khách hàng

chƣa hẳn đã “đậu” nhƣ mong muốn” chỉ việc có thai. Nhà văn nói về cái chết:

“Có chăng là khi vợ chồng khách hàng sắp đi tàu sáu ván, muốn trả lại sự thật

cho hậu thế may ra mới trăng trối” (Văn Thành Lê, 2016, tr.11). Nhân vật hắn

77

không chỉ rao bán tinh trùng để thụ tinh ống nghiệm cho những cặp vợ chồng

hiếm muộn mà còn “chuyển giao trực tiếp”, cụm từ này chỉ quan hệ trực tiếp để

có con. Ở Giấc mơ bị đánh cắp, để chỉ cái chết, nhà văn dùng “vài li rƣợu cuốc

lủi pha cồn chấm thuốc sâu cùng nải chuối xanh”. Với Khúc mơ hoang, những cô

gái bán hoa đƣợc gọi là gà móng đỏ: “Cô gái mặc bộ váy đỏ bó sát ngƣời với tóc

đỏ, môi đỏ, móng chân móng tay đỏ, có lẽ phụ tùng nội thất cũng đỏ, còn có gà

móng đỏ hay không thì chƣa dám kết luận” (Văn Thành Lê, 2016, tr.121). Trong

Thừa ra một người, nhân vật nàng mắng học sinh khi tự tử vì tình: “Mày nhu lắm

em ạ”, từ “nhu” chính là ngu để tránh bị học sinh kiện cáo. Khi bàn về giáo dục,

Văn Thành Lê viết: “Giáo dục là quốc sách, hàng đầu, là vơ-đét đấy” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.157), vơ-đét có nghĩa là quan trọng. Hay nhân vật Lãm uống

rƣợu: “Hôm ấy, Lãm mới đƣa đƣợc hai chén qua cửa khẩu chƣa kịp để ai hỏi đã

nói thơ…” (Văn Thành Lê, 2016, tr.156), cửa khẩu là miệng. Viết về việc Can

(Hạ huyệt an toàn) chết vì thƣợng mã phong trong đêm giao thừa, Văn Thành Lê

sử dụng cụm từ “Du xuân tour miền cực lạc” (Văn Thành Lê, 2018, tr.38). Trong

Ngoài mọi quy luật, nhà văn trẻ dùng cụm từ “Đi thẳng một mạch về miền giun

dế” (Văn Thành Lê, 2018, tr.146) để chỉ cái chết nhanh chóng của chàng sau khi

hứng trọn mấy cây sắt ở cầu vƣợt đang thi công. Tiếng lóng khiến cho ngôn ngữ

văn xuôi Văn Thành Lê sinh động, hài hƣớc, dí dỏm, mang hơi thở cuộc sống xô

bồ, hỗn tạp.

Với những trải nghiệm và chất sống dồi dào, Văn Thành Lê đã kiến tạo

nên ngôi nhà nghệ thuật của mình bằng ngôn ngữ mang nhãn quan hiện thực đời

thƣờng. Khát khao phơi trải hiện thực cuộc sống nhƣ nó vốn có, nhà văn trẻ

không ngần ngại sử dụng lớp ngôn ngữ thông tục với mức độ dày đặc. Nhìn

thẳng, nó thật những điều mắt thấy tai nghe với cách xử lí ngôn ngữ riêng thấm

đẫm chất giễu nhại, tác giả thực sự đã để lại dấu ấn đậm nét trên mảnh đất thô

nhám, đậm đặc chất đời mà những cây bút trẻ khác lãng quên.

3.1.2.2. Ngôn ngữ “nhại”

Bên cạnh lớp ngôn ngữ thông tục, không khó để nhận ra những trang viết

Văn Thành Lê tràn ngập ngôn ngữ “nhại” (Xem bảng 3.2). Trong Từ điển tiếng

78

Việt, nhại là “bắt chƣớc tiếng nói hay điệu bộ của ngƣời khác để trêu chọc, giễu

cợt” hoặc “bắt chƣớc, phỏng theo lời bài thơ có sẵn để làm ra bài mới, thƣờng để

giễu cợt, châm biếm” (Hoàng Phê, 2006, tr. 703). Lại Nguyên Ân trong công

trình 150 thuật ngữ văn học định nghĩa “nhại là sự bắt chƣớc một cách hài hƣớc

đối với một hay một nhóm tác phẩm nghệ thuật” (Lại Nguyên Ân, 2017, tr.301).

Đây là phƣơng thức nghệ thuật dùng để châm biếm, kiểu ngôn ngữ khá phổ biến

của văn học hậu hiện đại. Nhà văn dùng ngôn ngữ “nhại” để châm biếm, thể hiện

cái nhìn mới về con ngƣời và cuộc sống phức tạp, đa chiều, ngổn ngang. Khƣớc

từ ngôn ngữ trang nghiêm, kiểu cách, khuôn sáo, Văn Thành Lê đã xóa mờ

đƣờng viền ngôn ngữ thông qua việc sử dụng phép “nhại” dẫn dắt ngƣời đọc vào

một cuộc chơi thú vị. Dƣới đây là bảng thống kê ngôn ngữ nhại trong 4 tập

truyện của nhà văn trẻ.

Bảng 3.2. Thống kê ngôn ngữ nhại trong truyện Văn Thành Lê

Ngôn ngữ nhại STT Tên tác phẩm

1 Không biết đâu mà lần 2 3 4 Biết tới khi nào mưa thôi rơi Thừa ra một người Sa lan đỏ bãi Xanh Tỷ lệ % 41.18 13.45 21.01 24.37

Tổng cộng Số lƣợng 49 16 25 29 119

Trong những trang viết đậm chất đời của Văn Thành Lê, ngôn ngữ “nhại”

đƣợc sử dụng ở nhiều cấp độ (Xem phụ lục 4). Một loạt thành ngữ, tục ngữ xuất

hiện với mật độ dày đặc trong tác phẩm: “chết đuối vớ đƣợc cọc”, “buồn ngủ gặp

chiếu manh”, “trên răng dƣới cát tút”, “ môi hở răng lạnh”, “vơ đũa cả nắm”, “ăn

sung mặc sƣớng”, “qua cầu rút ván”, “đem con bỏ chợ”, “chân ƣớt chân ráo”,

“ngậm miệng ăn tiền”, “vẽ đƣờng cho hƣơu chạy” (Văn Thành Lê, 2014), “thẳng

tƣng nhƣ ruột ngựa”, “ăn không ngồi rồi”, “chết không kịp ngáp”, “lẩn nhƣ

chạch”, “ngồi mát ăn bát vàng”, “ăn cỗ đi trƣớc lội nƣớc theo sau”… (Văn Thành

Lê, 2015), “nói cho nó vuông”, “chim bay bƣớm lƣợn”, “lấm lƣng trắng bụng”,

“xôi hỏng bỏng không”, “hoa nhài cắm bãi cứt trâu”, “ăn tƣơi nuốt sống”, “thọc

gậy bánh xe”… (Văn Thành Lê, 2016), “vàng thau lẫn lộn”, “đâm bị thóc chọc bị

79

gạo”, “thọc gậy bánh xe”, “mò kim đáy bể”, “thuận vợ thuận chồng tát biển

Đông vẫn cạn”, “quá lỡ lứa thì”… (Văn Thành Lê, 2018). Việc lồng ghép thành

ngữ, tục ngữ với tần xuất lớn một cách nhuần nhị, có chủ đích đã góp phần

không nhỏ tạo nên hơi thở cuộc sống trong những trang viết của nhà văn trẻ. Văn

Thành Lê khẳng định: “Chính ngôn ngữ dân gian, kể cả dân gian đƣơng đại, đi

vào trang viết sẽ góp phần khiến văn và đời, đời và văn bện chặt thành một. Theo

đó, một cách tự nhiên, sự ngân rung của tác phẩm nhƣ có thêm ăng – ten để chạm

đến sự ngân rung trong lòng ngƣời đọc” (Xem phụ lục 7).

Trong Không biết đâu mà lần, “chắc nhƣ keo dính chuột” (Văn Thành Lê,

2014, tr. 43) nhái lại câu thành ngữ “chắc nhƣ đinh đóng cột”. Hay khi châm

biếm bản chất lì lợm, ham của “lạ” của thầy dạy Sinh, nhà văn nhại theo câu thơ

của Bà Huyện Thanh Quan kết hợp câu tục ngữ, ca dao chế “Thầy trơ gan cùng

tuế nguyệt. Lòng thầy vẫn vững nhƣ kiềng ba chân”, “Thứ trâu ta ăn cỏ đồng ta,

nếu là đồng bạn thì qua tha về” (Văn Thành Lê, 2014, tr.56). Để thể hiện sự liều

lĩnh của nhân vật Anh khi tổ chức buổi sinh hoạt cho câu lạc bộ Sức khỏe sinh

sản vị thành niên, Văn Thành Lê “nhại” theo Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của

Nguyễn Đình Chiểu kết hợp chế thành ngữ “Anh liều mình nhƣ chẳng có. Quyết

vẽ đƣờng cho hƣơu chạy một phen” (Văn Thành Lê, 2014, tr.62), “nam nữ thụ

thụ sát thân hoặc… bán thân” (Văn Thành Lê, 2014, tr.68). Đây chính là sự “nhại

lại đến tận cùng ngôn ngữ đời sống” (Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thuỳ, 2011).

Ca dao, thơ đƣợc biến tấu rất phù hợp với văn cảnh. Trong Thừa ra một

người, hiệu trƣởng Cấu ƣa thành tích vừa về trƣờng đã thay mới toàn bộ để trục

lợi cá nhân “Tiền ơi tiền rơi bị thầy/ Thầy để thầy xài chứ thầy không ăn” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.152) – nhại lại truyện Tấm Cám: “Thị ơi thị rụng bị bà/ Bà để

bà ngửi chứ bà không ăn”. Hình ảnh thầy hiệu trƣởng với chân dung kệch cỡm

sống lâu lên lão làng “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng nhƣ không” nhại lại hình ảnh Mã

Giám Sinh sỗ sàng khi mua Kiều. Hay bài thơ của Nguyễn Bảo Sinh dùng để chỉ

tình cảnh của Lãm khi ngƣời yêu bỏ rơi anh lấy chồng giàu sang: “Khi mê bùn

chỉ là bùn/ Ngộ ra mới biết trong bùn có sen/ Khi mê tiền chỉ là tiền/ Ngộ ra mới

biết trong tiền có tâm/ Khi mê dâm chỉ là dâm/ Ngộ ra mới biết trong dâm có

80

tình…” (Văn Thành Lê, 2016, tr.154). Câu thơ của Nguyễn Bính đƣợc “nhại” lại

“Nhà anh ở cách nhà em/ Cách nhau có một dây phơi quần áo” (Văn Thành Lê,

2016, tr.63). Trong Rũ bùn mà đi, những cuộc ẩu đả vì nhân vật em chính là

“Tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn con gái của làng” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.65) – bắt chƣớc theo “Tinh thần độc lập tự do và toàn vẹn

lãnh thổ”. Ở Thừa ra một người, bài hát Năm anh em trên một chiếc xe tăng của

nhạc sĩ Doãn Nho đã đƣợc chế lời thành bài thơ về vật giá leo thang trong khi

tiền lƣơng giáo viên ít ỏi vẫn giậm chân tại chỗ: “Năm anh em trên một chiếc xe

tăng/ Xăng, Ga, Điện, Nƣớc với Lƣơng lên đƣờng/ Khi xuất kích cả năm ngƣời

nhƣ một/ Thống nhất cao đoàn kết với yêu thƣơng/ Nhƣng sáng nay các mẹ ở hậu

phƣơng/ Giật thót tim khi nghe Lƣơng rớt lại” (Văn Thành Lê, 2016, tr.158).

Cuộc đời Khái (Sa lan đỏ bãi Xanh) nhƣ bị ông Tạo trêu đùa: tình yêu đẹp với

Yên tan vỡ, học xong trung cấp phải đối mặt với vấn nạn xin việc. Câu thơ “Có

ba trăm lạng việc này mới xuôi” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đƣợc “nhại”

lại để bóc trần nguyên tắc tuyển dụng coi trọng “tiền tệ” hơn “trí tuệ”. Thế

nhƣng, bƣớc qua va vấp, hụt hẫng, Khái quyết tâm xây dựng trang trại cho riêng

mình. Nhà văn “nhại” lại câu văn bất hủ về chí lớn của ngƣời anh hùng Lê Lợi

trong Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi: “Cứ nhƣ trời thử lòng trao cho mệnh

lớn” (Văn Thành Lê, 2018, tr.129) để khẳng định chân lí “lửa thử vàng, gian nan

thử sức”. Trang trại hình thành trên những quả đồi xanh mƣớt là sự đền bù thoả

đáng cho những nỗ lực không ngừng của Khái.

Không chỉ thế, tác giả đƣa cả những tên ca khúc, tên tác phẩm văn học

vào trong cách kể nhƣ: “chị dạy kiểu ngẫu hứng lý ngựa ô”, “buồn nhƣ một thời

xa vắng nào đó đổ bộ về”, “tắm cảnh bình minh nơi cuối cùng tổ quốc”, “giáo

viên xa xả bài ca hi vọng”, “mọi ngƣời cứ ru mãi ngàn năm điệu ấy”, “mọi thứ

nhẹ nhàng cuốn theo chiều gió”, “Một áo đỏ. Một áo đen. Cứ nhƣ kiếp đỏ đen

đang tiến về phía bàn chúng tôi” (Văn Thành Lê, 2016). Một loạt bài hát chế

cũng đƣợc sử dụng khéo léo: “vùng ngoại ô tôi có ngôi trƣờng nâu, tuy bé nhƣng

thật xinh, tháng ngày sống trong yên bình” “nhại” theo bài hát “Vùng ngoại ô”

của Lê Minh Bằng. Hay “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn tới chọn lui hết

81

cha một ngày” (Văn Thành Lê, 2014, tr.74) – “nhại” lại bài hát của Trịnh Công

Sơn, “em vẫn từng đợi anh. Nhƣ anh từng đợi nó. Nhƣ nó đợi thằng kia. Nhƣ

thằng kia mong con đó” (Văn Thành Lê, 2014, tr.77) – chế theo lời bài hát “Hoa

sữa”, “đƣờng sá mùa này phố cũng nhƣ sông, nƣớc lút ngập mông em đi chơi

không phải mặc quần” – “nhại” theo bài hát “Hà Nội mùa này vắng những cơn

mƣa”, “gọi nắng cho em phơi quần, trời cao có hay” (Văn Thành Lê, 2014, tr.80)

– chế lại theo lời bài hát “Hạ trắng”. Hay nỗi lòng của thầy cô khi mùa hội giảng

đến đƣợc gửi trọn trong câu văn chế theo bài hát “Nỗi buồn hoa phƣợng”: “mỗi

năm đến mùa lòng tôi thấy rầu” (Văn Thành Lê, 2014, tr.82). Ca từ đẹp, du

dƣơng trong Bài ca không quên của tác giả Phạm Minh Tuấn đã hoá thành câu

hát chế về loài chim duy nhất không có trong hệ thống phân loại động vật “Có

một loài chim không bao giờ bay” (Văn Thành Lê, 2016, tr.99) sau hiện tƣợng lạ,

đàn chim cánh cụt biết bay đổ bộ xuống thành phố.

Với ngôn ngữ “nhại”, nhà văn đã phá vỡ tính mực thƣớc, nghiêm trang,

khuôn mẫu của ngôn ngữ văn học truyền thống, thể hiện lớp ngôn ngữ bình dân

đem đến tính sinh động, chân thực cho tác phẩm. Đồng thời, nhà văn cũng kích

thích trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc để khám phá giá trị thực của tác phẩm.

3.1.2.3. Ngôn ngữ phì đại

“Lạ hóa” là nhu cầu tất yếu của văn học nghệ thuật bởi nếu đi theo lối

mòn định sẵn đồng nghĩa tự xóa tên mình khỏi văn đàn. Trong cảm quan hậu

hiện đại, “lạ hóa” không đơn thuần là nhu cầu mà trở thành “nguyên tắc” để vƣợt

thoát khỏi lối viết cũ kĩ, xáo mòn. Bên cạnh sự lên ngôi, xuất hiện dày đặc của

ngôn ngữ thông tục và ngôn ngữ nhại, hiện tƣợng bành trƣớng ngôn ngữ chính là

một thử nghiệm “lạ hóa” lối viết của nhà văn khi khám phá và phô trọn hiện thực

phì đại, thậm phồn của thế giới ngụy tạo đƣơng đại “văn bản hậu hiện đại thƣờng

chứng kiến sự phì đại ngôn ngữ, bên cạnh xu hƣớng của chủ nghĩa cực hạn có xu

hƣớng thiểu tố hóa ngôn ngữ. Các câu văn có xu hƣớng bành trƣớng, chú ý đến

sự diễn trò, sự tách rời giữa chữ và nghĩa, lời và vật” (Yến Thanh, 2016). Ngôn

ngữ gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt. Trong Lí thuyết văn học hậu

hiện đại, nhà nghiên cứu Phƣơng Lựu khẳng định: “Chủ nghĩa hậu hiện đại rất

82

sùng bái “cái biểu đạt” này, phóng đại vai trò to lớn của nó đến vô hạn, dẫn đến

việc tùy tiện trong ghép từ, tạo câu, bất kể về mặt nội dung. Ngôn từ trở thành

ngọn nguồn của mọi thứ, văn bản mà nó đan dệt nên là tất cả” (Phƣơng Lựu,

2011, tr.70). Nhƣ vậy, sự bành trƣớng ngôn ngữ là đặc trƣng cơ bản của văn học

hậu hiện đại. Văn chƣơng trở thành sân chơi ngôn từ - nơi nhà văn thể hiện tài

năng và bản lĩnh của mình.

Sau năm 1986, văn học đƣợc “cởi trói”, ngôn ngữ phì đại đậm dấu ấn hậu

hiện đại xuất hiện trong những trang viết của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị

Hoài. Đến Đặng Thân, Nguyễn Bình Phƣơng sự phóng đại cái biểu đạt càng rõ

rệt, cách lắp ghép từ, tạo câu tùy tiện tạo sự vô nghĩa trống rỗng đã trở thành đặc

điểm nhận dạng riêng của ngƣời sáng tạo.

Trên hành trình định vị bản thân, Văn Thành Lê chọn lối viết hậu hiện đại

để phản ánh những vấn đề gai góc của cuộc sống đƣơng đại. Trong những trang

viết của nhà văn trẻ, điều cuốn hút ngƣời đọc chính là lối diễn trò ngôn ngữ với

những câu văn “lắm lời, ngộ chữ”, phì đại cái biểu đạt để xóa nhòa lằn ranh giữa

văn học và cuộc sống. Cách diễn đạt dài dòng ấy chứa đựng trọn vẹn dụng ý

nghệ thuật của tác giả khi viết về cuộc sống ngụy tạo đƣơng đại. Dƣới đây là

bảng thống kê ngôn ngữ phì đại trong các tập truyện của nhà văn trẻ.

Bảng 3.3. Thống kê ngôn ngữ phì đại

trong truyện Văn Thành Lê

STT Tên tác phẩm Ngôn ngữ phì đại Số lƣợng Tỷ lệ %

1 Không biết đâu mà lần 2 3 4 Biết tới khi nào mưa thôi rơi Thừa ra một người Sa lan đỏ bãi Xanh 30.93 11.34 23.71 34.02

Tổng cộng 30 11 23 33 97

Khảo sát 47 truyện ngắn của ba tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi,

Thừa ra một người, Sa lan đỏ bãi Xanh và truyện dài Không biết đâu mà lần,

chúng tôi nhận thấy nhà văn thuộc thế hệ 8X thƣờng sử dụng ngôn ngữ phì đại

83

khi phản ánh mặt trái của vòng xoáy xã hội (Xem phụ lục 5). Khƣớc từ những

câu chuyện tình éo le, hài hƣớc với hình thức đơn giản, Văn Thành Lê thử

nghiệm táo bạo với chữ nghĩa, tạo ra sân chơi ngôn từ vẫy gọi độc giả vào quá

trình đồng sáng tạo. Tiếp biến lối viết phì đại lắm lời của Nguyễn Huy Thiệp,

Phạm Thị Hoài, Đặng Thân, nhà văn trẻ biến hóa ngòi bút với tƣ duy tƣởng

chừng ngẫu hứng nhƣng chất chứa dụng ý nghệ thuật độc đáo của chính mình.

Cây bút giàu nội lực đã và đang thực hiện đúng tinh thần trò chơi của văn chƣơng

hậu hiện đại. Với khát vọng phản ánh hiện thực đa diện nhiều chiều kích, theo

khảo sát của chúng tôi, Văn Thành Lê sử dụng nhiều biện pháp để tạo nên hiện

tƣợng phì đại ngôn ngữ: sử dụng một loạt từ láy; chêm xen quảng cáo, số liệu; lối

ví von, liệt kê, phép điệp, phá cách cấu trúc câu, hạn chế dấu câu và kết hợp từ

ngữ lắt léo.

Trƣớc hết, Văn Thành Lê sử dụng một loạt từ láy liên tiếp để tạo sự bành

trƣớng ngôn ngữ, khơi gợi trí tƣởng tƣợng và khả năng liên tƣởng của ngƣời đọc.

Không khó để nhận ra việc bành trƣớng ngôn ngữ bằng từ láy trong Không biết

đâu mà lần. Rời trƣờng đại học, nhân vật Anh tràn đầy niềm tin sẽ góp sức kiến

thiết quê hƣơng. Tâm trạng vui sƣớng, hạnh phúc đƣợc lột tả qua một loạt từ láy

“Anh hồ hởi hân hoan háo hức hừng hực đi về miền đất mẹ”, “Anh rưng rức râm

ran rạo rực. Ngỡ mọi sự vẽ ra trƣớc mắt, giản đơn nhƣ đánh đáo chơi khăng, nhƣ

nhảy dây trốn tìm và trò trận giả, hả hê cƣới phô hàm răng sún tuổi thơ mơ mộng

hão huyền (Văn Thành Lê, 2014, tr.9). Thế nhƣng, đời không nhƣ là mơ bởi chỉ

tiêu công chức lèo tèo lại ƣu tiên con em gia đình chính sách nên nhân vật Anh

đành phải Nam tiến.

Trong Tuổi hai mươi khác trở về (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), viết về

đêm mƣa xứ Huế - đêm định mệnh khiến Lê và Thạo Miên “xé toạc tuổi hồn

nhiên” dẫn đến việc phải từ bỏ đứa con ngoài ý muốn khi cả hai còn quá trẻ, chƣa

sẵn sàng để làm bố, làm mẹ, Văn Thành Lê sử dụng từ láy với mật độ dày đặc

cùng những liên tƣởng độc đáo “Năm nào cũng vậy, mƣa về là dầm dề, lê thê,

dùng dằng và ảo não. Không hiểu nƣớc ở đâu ra lắm thế. Cứ nhƣ ông trời có bao

nhiêu nƣớc dồn lại rồi trút xuống Huế. Hay cái bàng quang của ông trời chiếu

84

theo phƣơng thẳng đứng xuống là đúng Huế. Khi ông trời tè là trút cho hả hê.

Trút cho ê chề” (Văn Thành Lê, 2015, tr.26). Câu văn phì đại chứa đựng những

từ láy chỉ tâm trạng đã lột tả sự “dùng dằng”, “ê chề” của những ngƣời trẻ khi

không thể kìm chế bản thân trong đêm mƣa. Để rồi day dứt, ân hận khi phải dắt

nhau đến phòng khám sản, làm việc có lỗi với đứa con vừa tƣợng hình trong

bụng. Đến với Buổi sáng khác lạ (Thừa ra một người), nhà văn trẻ tiếp tục sử

dụng từ láy để khắc chạm tâm trạng của ngƣời trẻ trong cuộc sống ngổn ngang

đƣơng đại, cảm giác rợn ngợp nhƣ đang lọt thỏm vào hố đen vũ trụ “Bạn thấy

mình nhƣ bị rơi vào hố đen của vũ trụ. Đúng hơn là hố đen của vũ trụ là phòng

học 50m2 mà bạn đứng trên bục nhƣ đứng trên mép hố. Chới với. Chơi vơi. Và

liêu xiêu. Và quay cuồng. Thiếu tỉnh táo một chút là rơi tuột vào. Hun hút hun

hút. Không trọng lƣợng” (Văn Thành Lê, 2018, tr.176). Bành trƣớng ngôn ngữ tỏ

ra hữu dụng để nhà văn khơi gợi cảm giác của những ngƣời thầy có tâm với nghề

trên sân khấu học đƣờng đầy rẫy lấm lem. Vẫn lối viết phì đại ấy, một loạt từ láy

trong Hạ huyệt an toàn (Sa lan đỏ bãi Xanh) góp phần tái hiện những âm thanh

lẫn lộn, pha tạp trong đám ma của Can “Mặc sƣ thầy áo vàng lẩm bẩm ê a lên

trầm xuống bổng khi ngân nga thong thả khi giật cục gấp gáp bài kinh bằng tiếng

Phạn, có khi thầy cũng chẳng hiểu hết, theo nghi lễ trƣớc khi các đô tùy nâng

quan tài hạ huyệt, phía ngoài từng nhóm nhỏ vẫn chƣa hết chuyện, hay là xì xào

nhƣ buôn bạc giả cho đỡ nhạt miệng (Văn Thành Lê, 2018, tr.51-52). Theo khảo

sát của chúng tôi, việc sử dụng từ láy dày đặc để tạo ra sự bành trƣớng ngôn ngữ

đƣợc sử dụng nhiều nhất trong tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi.

Trò diễn ngôn từ trong những trang viết của Văn Thành Lê còn đƣợc tạo

nên từ việc chêm xen quảng cáo, số liệu tạo ấn tƣợng về sự trống rỗng trong câu

văn. Đến với truyện dài Không biết đâu mà lần, quảng cáo kẹo kéo mặc nhiên

xuất hiện để tái hiện không gian xô bồ, hỗn tạp ở quán nhậu nhân vật Anh và

Kha ngồi “Xin lỗi anh Hai chị Ba, em xin có vài lời. Đây là kẹo kéo càng kéo

càng dài càng nhai càng ngọt, ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Cô nào

chồng bỏ chồng chê. Ăn cây kẹo kéo chồng mê, chồng về. Anh nào vợ dỗi bỏ bê.

Ăn cây kẹo kéo vợ phê, vợ về. Kẹo kéo ăn béo đỏ da. Thuốc Tây thuốc Ta thua

85

xa kẹo kéo. Xin kính mời anh chị” (Văn Thành Lê, 2014, tr.18). Khi giới thiệu về

nhân vật Long – thầy dạy Vật lí, nhà văn dùng những câu văn “lắm lời”, ngộ chữ

“Thời sinh viên, đôi vai rộng và bè của Long đã oằn trĩu vì vài cuộc tính tƣởng

chắc như keo dính chuột, sản phẩm của trung tâm công nghệ hóa màu có địa chỉ

ở băng cassette rao vặt khắp hang cùng ngõ hẻm bất chấp thời tiết nắng mƣa

sáng trƣa chiều tối, nhƣng đã tan vỡ nhƣ bong bóng trẻ em vẫn đòi bố mẹ mua để

chổng mông lấy hơi thổi với công dụng hai trong một vừa chơi vừa luyện phổi

mong một ngày dậy thì giọng cao chót vót nhảy phắt lên thành ca sĩ gây náo

động showbiz vốn dĩ đã rối nhƣ múa rối cạn” (Văn Thành Lê, 2014, tr.44).

Ghi chú về những giấc mơ (Biết tới khi nào mưa thôi rơi) viết về con

đƣờng đến trƣờng ở Tây Nguyên vào hai mùa mƣa và nắng, Văn Thành Lê khiến

ngƣời đọc cƣời ra nƣớc mắt trƣớc những khó khăn mà thầy cô giáo phải trải qua

trên hành trình gieo chữ, tận tụy với nghề “Ngôi trƣờng cách trung tâm huyện lị

khoảng mƣời lăm kilomet. Quần áo tóc tai nhuộm đỏ bụi, cứ nhƣ bị sơn bởi sơn

Nippon sơn đâu cũng đẹp. Mùa mƣa lết ra tới thị trấn phải mất gần hai giờ đồng

hồ. Liều mạng chạy xe máy kiểu gì cũng nhận án tử. Cách duy nhất là chờ để nhờ

ném xe máy và ngƣời lên xe ba càng của bà con vào ra rẫy cà phê. Một loại xe tự

chế như công nông ở xuôi, nhưng động cơ khỏe và gầm cao, có khả năng thích

ứng với mọi địa hình mọi thời tiết cao nguyên” (Văn Thành Lê, 2015, tr.209).

Hay trong Hoàng tử tuổi xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn (Thừa ra một

người), viết về việc công chức về hƣu sớm nhƣờng chỗ cho những cử nhân trẻ,

ngƣời viết xen quảng cáo nƣớc mía: “Một công chức về sớm là cứu vớt đƣợc một

cử nhân khỏi phải chạy bàn nƣớc mía sạch 5 nghìn một ly nhỏ 7 nghìn một ly lớn

hay dán quảng cáo khoan cắt bê tông với thông hầm cầu siêu tốc hay dắt xe che

biển số trong khách sạn nhà nghỉ 24/7 theo giờ theo phút (Văn Thành Lê, 2018,

tr.58).

Bên cạnh chêm xen quảng cáo, Văn Thành Lê còn xen số liệu thống kê tạo

nên những cấu trúc dài lê thê. Trong Nụ hôn ảo (Thừa ra một người), viết về nụ

hôn giữa hắn và nàng, nhà văn chêm xen số liệu thống kê về nụ hôn kiểu Pháp:

“Theo một thống kê khoa học, nụ hôn kiểu Pháp thế này kéo dài mỗi phút có thể

86

làm mỗi người tiêu tốn 6 đến 7 kilo calo, đồng thời trao đổi cho nhau tới 45 ngàn

kí sinh trùng, huy động đến hơn ba mƣơi cơ mặt. Vậy nên ngƣời trong cuộc lịm

đi vì ngây ngất là hiển nhiên. Phải, ngây ngất” (Văn Thành Lê, 2016, tr.129). Số

liệu thống kê tỉ lệ dân số mắc bệnh thần kinh ở Việt Nam cũng đƣợc chêm xen

vào trang viết Tiếng gọi phía xa xăm (Thừa ra một người) của nhà văn trẻ khi

viết về Tâm – cô gái đƣợc đƣa vào viện tâm thần khi có những cử chỉ không bình

thƣờng với ngƣời bạn cùng phòng đang say ngủ sau khi đƣợc tiêm thuốc “Theo

thống kê Việt Nam có khoảng 15% dân số có vấn đề về sức khỏe tâm thần, tức là

hơn chục triệu “bệnh nhân tâm thần”. Trong số tiềm ẩn bùng phát “điên nặng”

đó, có cả những giáo sƣ tiến sĩ, đại trí thức do nhiều nguồn nguyên nhân. Từ nghĩ

ngợi, lo toan, tham vọng đến xúc cảm và những ý tƣởng lớn mà bị tâm thần, sang

chấn tâm lí” (Văn Thành Lê, 2016, Tr.167). Đến với Hạ huyệt an toàn (Sa lan đỏ

bãi Xanh), khi khắc họa cảnh đƣa tang nhƣ màn bi hài kịch của Can – ngƣời

đứng đầu tờ báo của Tỉnh, chết vì “thƣợng mã phong”, Văn Thành Lê đƣa số liệu

thống kê về tai nạn giao thông và trăn trở nếu thống kê cả tai nạn giƣờng chiếu

thì không biết bao nhiêu ngƣời chết “Xe tang lƣợn vòng quanh biển, khách sạn

nhà hàng san sát, toàn địa chỉ đỏ nơi Can lừng lẫy chiều lòng các sếp lớn một

thời. Gió từ Thái Bình Dƣơng thổi vào. Mát mặt. Xe chạy vòng qua cơ quan cũ

của Can. Thời điểm ấy trang online của báo dẫn lại tin, theo thống kê từ Ủy ban

An toàn giao thông Quốc gia, cho biết, trong 7 ngày nghỉ Tết toàn quốc xảy ra

427 vụ tai nạn giao thông, làm chết 246 người, bị thương 415 người. Có ngƣời

bất giác cƣời, nói nếu thống kê cả tai nạn giƣờng chiếu thì không biết bao nhiêu”

(Văn Thành Lê, 2018, tr.51).

Một trong những cách thức tạo nên sự phì đại ngôn ngữ đƣợc Văn Thành

Lê sử dụng nhiều nhất trong những trang viết của mình chính là lối ví von, liệt

kê, phép điệp, phá cách cấu trúc câu, hạn chế dấu câu và kết hợp từ ngữ lắt léo.

Theo khảo sát của chúng tôi, truyện dài Không biết đâu mà lần sử dụng lối viết

hậu hiện đại với sự bành trƣớng ngôn ngữ nhiều nhất. Không khó để nhận ra

ngôn ngữ phì đại, trƣơng nở cái biểu đạt trong truyện dài viết về bức tranh giáo

dục lấm lem với những vết hoen ố. Vấn nạn chạy chọt, xin việc đƣợc thể hiện

87

thật sinh động thông qua những liên tƣởng thú vị và cách diễn đạt dài dòng, liệt

kê “Đâu đâu cũng thấy chạy. Ngƣời ngƣời chạy. Nhà nhà chạy. Chạy nƣớc rút.

Chạy marathon từ trƣớc đó. Nhƣ thể chạy là truyền thống là bản sắc. Vậy mà oái

oăm sao làm sao, trớ trêu thế nào đấy, thật không thể hiểu đƣợc, môn điền kinh

của nƣớc nhà chỉ lon ton quẫy đạp luẩn quẩn ở vùng đặc biệt trũng Sea Games

chứ đấu trƣờng Asiad và Olympic vẫn là… mơ về nơi xa lắm” (Văn Thành Lê,

2014, tr.10).

Việc liệt kê một loạt từ cùng trƣờng nghĩa kết hợp thủ pháp ví von trùng

điệp khiến câu văn nhƣ đƣợc kéo dài ra đến vô tận. Tái hiện lại cảnh thầy dạy

sinh tiền nhiệm ham mê sắc dục chạy chọt để thoát khỏi cảnh tù tội vì “ăn trái

cấm” với trẻ vị thành niên mà còn có thái độ khiêu khích với dân phòng, Văn

Thành Lê viết: “Thầy chạy đôn chạy đáo. Chạy ngược chạy xuôi. Chạy ngang

chạy dọc. Chạy xiên chạy xéo. Chân nam đá chân chiêu. Nhƣ chuột bị chích điện.

Chứ không phải chuột sa chĩnh gạo. Vẫn không gỡ đƣợc” (Văn Thành Lê, 2014,

tr.59). Câu văn dài lê thê gợi cho ta tâm trạng sợ hãi, rối bời của ngƣời thầy tha

hóa, tất tả lo toan để thoát khỏi vòng lao lí. Hay tâm trạng choáng ngợp, ngỡ

ngàng của nhân vật Anh trƣớc những câu hỏi về sức khỏe sinh sản vị thành niên

táo bạo của học trò đƣợc gửi gắm qua việc liệt kê các từ cùng trƣờng “Rồi thì bơi

thật. Anh bơi. Anh ngụp lặn với chúng. Bơi sải. Bơi ngửa. Bơi bướm. Bơi ếch.

Lặn tốc độ. Lặn khí tài. Lặn chân vịt đôi. Lặn vòi hơi chân vịt… Nghĩa là tất tần

tật những kiểu những cách có thể để đồng hành, có thể đôi bạn cùng tiến, với học

trò” (Văn Thành Lê, 2014, tr.66).

Bên cạnh truyện dài Không biết đâu mà lần, trong truyện ngắn, Văn

Thành Lê cũng không ngần ngại sử dụng lối viết phì đại mang đậm bản sắc cá

nhân. Ở Bao giờ đi hết giấc mơ (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), lối ví von trùng

điệp đƣợc sử dụng khi nhà văn nói về dáng ngồi của lão Hạng sau những biến cố

gia đình: con gái “chửa hoang”, vợ và con trai tự tử. Đó là cái giá lão phải trả sau

những chuỗi ngày “xem trời bằng vung”, cậy quyền trƣợt dài với ham mê sắc dục

“Lão ngồi đúng giờ cứ nhƣ quỳnh tới khắc ấy mới bung hoa, thủy triều đến giờ

nƣớc mới dâng; nhƣ chớm xuân cây mới nảy lộc; tiếng chim cuốc kêu là chớm

88

hạ; vào thu cây mới thay lá; sang đông bàng mới trần trụi giữa đời” (Văn Thành

Lê, 2015, tr.167). Trong Si sẽ lại xanh (Thừa ra một người), cái đƣợc biểu đạt là

cây si có từ thời anh cu mõ, dƣới ngòi bút Văn Thành Lê đã biến thành câu văn

dài lê thê: “Nghe kể, chỉ là nghe kể, không lấy gì làm chắc chắn, không biết kĩ

thuật xác định niên đại bằng đồng vị cacbon trong trƣờng hợp này có đúng

không, nhƣng nếu đúng cũng chẳng ai rỗi hơi mà đi làm, rằng-thì-là cây si có từ

thời…anh cu mõ. Mỗi khi trên có lệnh, làng có việc, tiếng “chiềng làng, chiềng

chạ...” luôn bắt đầu từ cây si. Cu mõ đi vòng quanh làng, trở lại cây si, trèo hẳn

lên cây si, làm một hồi rao nữa mới chốt hạ buổi phát thanh trên sóng phát thanh

làng có tần-số-miệng-anh-cu-mõ” (Văn Thành Lê, 2016, tr.34). Không chỉ thế,

cách tách ghép từ, linh hoạt trong sử dụng cấu trúc cú pháp và ngữ đoạn tạo ấn

tƣợng mạnh về sự hỗn tạp của thế giới đƣơng đại. Đến với cái chết bất ngờ của

Can – ngƣời đứng đầu tờ báo Tỉnh trong đêm giao thừa khiến ngƣời đọc không

khỏi tò mò. Dƣờng nhƣ, nhà văn đã vận dụng tối đa “vốn liếng” ngôn từ để tạo

nên những câu văn phì đại ấn tƣợng “Thế mà Can chết. Chết không kịp ngáp.

Chết trần chết truồng. Chết ngẩn chết ngơ. Chết không nửa tiếng ú ớ. Sáng ra

mọi ngƣời mới hay. Tin lan nhanh hơn dịch virus tả” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.35). Hay việc chêm xen những cung bậc của tiếng cƣời, từ tiếng Anh tạo cảm

giác câu văn trở nên cồng kềnh: “Ảnh chàng nàng tình tứ nằm phơi nắng. Hị hị.

Ảnh hai ngƣời trên thảm cỏ. Hơ hơ. Ảnh trong phòng ngủ. Hờ hờ vv…. Kèm

theo đấy là những dòng tâm trạng thăng hoa ƣớt át mặc kệ lỗi chính tả vẫn dƣ sức

hút cả nghìn lƣợt like và hàng trăm comment. Nhất định phải kèm theo hi hi hị hị

he he hơ hơ hờ hờ cho thêm phần... hơ hớ” (Văn Thành Lê, 2018, tr.145).

Nhƣ vậy, trong văn xuôi Văn Thành Lê, ngôn ngữ giống nhƣ một sân chơi

mà ở đó đề cao vai trò của ngƣời sáng tạo. Ngôn ngữ phì đại, bành trƣớng cái

biểu đạt, lấn át hình tƣợng là công cụ đắc lực để nhà văn xây dựng thế giới quan

của mình: một thế giới hỗn độn với những giá trị truyền thống đổ vỡ, một thế

giới ngụy tạo với những con ngƣời tha hóa sau tấm màn nhung cuộc đời… Dấu

ấn hậu hiện đại trong sáng tác của nhà văn trẻ 8X trở nên đậm nét với ngôn ngữ

phì đại.

89

3.1.2.4. Ngôn ngữ hòa kết tả và kể

Cùng với ngôn ngữ phì đại, trong những trang viết của mình, Văn Thành

Lê còn sử dụng ngôn ngữ hòa kết tả và kể (Xem phụ lục 6). Trong tác phẩm tự

sự, lời kể và lời tả là những nhân tố quan trọng không thể thiếu để phản ánh cuộc

sống đa diện nhiều chiều. Ngôn ngữ kể dùng để tƣờng thuật lại sự kiện, hành

động. Còn ngôn ngữ tả dùng để mô tả, làm rõ đặc điểm của các hiện tƣợng đời

sống. “Kể” và “tả” có mối quan hệ thống nhất trong một tác phẩm tự sự “mặc dù

“tả” có thể độc lập với “kể” nhƣng có thể nói ngƣời ta không bao giờ thấy nó tồn

tại ở trạng thái tự do; “kể” không thể thiếu “tả”, nhƣng sự phụ thuộc ấy không

gây trở ngại cho “tả” (Phan Mạnh Hùng, 2017, tr.206). Hòa kết ngôn ngữ tả và

kể góp phần tái hiện cuộc sống, bộc lộ thế giới tâm hồn con ngƣời sinh động hơn.

Đồng thời, sự phối kết hợp giữa tả và kể tạo nên những câu văn dài, tràn dòng

mang dụng ý nghệ thuật riêng của chính nhà văn 8X trƣớc những vấn đề của

cuộc sống đƣơng đại lắm chiều kích. Dƣới đây là bảng thống kê ngôn ngữ hoà

kết tả và kể trong các tập truyện của cây bút giàu nội lực.

Bảng 3.4. Thống kê ngôn ngữ hòa kết tả và kể trong truyện Văn Thành Lê

STT Tên tác phẩm

Tỷ lệ %

1 Không biết đâu mà lần Ngôn ngữ hòa kết tả và kể Số lƣợng 10 13,89 %

2 Biết tới khi nào mưa thôi rơi 24 33,33 %

3 Thừa ra một người 25 34,72 %

4 Sa lan đỏ bãi Xanh 13 18,06 %

Tổng cộng 72

Nhìn vào bảng 3.4, ngôn ngữ hoà kết tả và kể đƣợc sử dụng với tần xuất

lớn trong hai tập truyện Biết tới khi nào mưa thôi rơi (33,33 %) và Thừa ra một

người (34,72 %). Trong mạch trần thuật, câu chuyện dù đƣợc kể theo ngôi thứ

nhất hay thứ ba đều sử dụng lời kể và lời tả. Sử dụng ngôn ngữ hòa kết tả và kể

90

với tần suất cao, Văn Thành Lê tạo ấn tƣợng về tính cách, số phận của nhân vật

trong lòng ngƣời đọc. Trong Xóm trọ (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), sự hòa kết

lời tả trong mạch kể chuyện ngôi thứ nhất về dì Hợi – ngƣời phụ nữ nhân vật tôi

ít dám tiếp xúc trong xóm trọ sinh viên gây ấn tƣợng mạnh: “Ngƣời đàn bà cỡ

sáu mươi. Mặt gãy. Gầy. Tóc xoăn đuôi. Mắt trắng, sâu hóm. Dì ít nói, đi rất nhẹ,

nhƣ mèo. Nghe lão chủ nhà nói dì có nhiều con cháu, khá giàu. Không hiểu sao

cuối đời lại đi thuê phòng trọ ở” (Văn Thành Lê, 2015, tr.8). Với vẻ ngoài ấy, dì

Hợi khiến ngƣời đối diện cảm thấy sợ. Dáng vẻ bên ngoài của dì in hằn những

nhọc nhằn, cơ cực, đắng cay nên trong xóm dì sống âm thầm, lủi thủi một mình

không giao tiếp với ai. Đến với Chung chiêng hẻm cụt (Sa lan đỏ bãi Xanh),

ngôn ngữ hòa kết tả và kể tiếp tục đƣợc sử dụng tạo ấn tƣợng về vẻ ngoài trái

ngƣợc của lão thổi kèn và mẹ chủ “Trông lão nhƣ dải khoai lang héo. Nhƣ mới

bƣớc thẳng một bƣớc từ mùa hè đói năm Ất Dậu 1945 về hẻm này. Nhƣ chính

chiếc kèn gầy heo hắt giắt cạp quần bao năm của lão. Mẹ chủ ngƣợc lại, trông

phốp pháp màu mỡ như cây xúc xích Đức. Khúc nào khúc nấy, nần nẫn. Nhiều

lần lão đƣa bún nhầm lên mũi chỉ vì cây xúc xích ấy” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.97). Trong khi lão thổi kèn gầy ốm, thiếu sức sống thì mẹ chủ nhà mập mạp

“phốp pháp”. Thế nhƣng, lão thổi kèn lại thích mẹ chủ, dù thƣờng xuyên chửi

nhau nhƣng cuối truyện lão cũng chinh phục và tính chuyện dọn về ở chung với

mẹ chủ.

Không chỉ sử dụng ngôn ngữ hòa kết tả và kể trong khắc họa nhân vật,

Văn Thành Lê còn dùng để miêu tả thiên nhiên từ đó gửi gắm tâm trạng con

ngƣời. Trong Biến mất không đều (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), nhà văn trẻ gợi

ấn tƣợng về không gian tối tăm, lộng gió trong lời kể ngôi thứ ba về nhân vật hắn

“Lan can lộng gió. Trời đầu tháng tối đen như mực. Có vài vì sao lạc nhƣng

chẳng đủ sáng, lóe lên từ phía xa xăm. Chỉ gió là hào phóng, ràn rạt thổi, đập

qua hàng me cổ thụ phía ngoài, xào xạc. Hắn vẫn không thôi cảm giác nhồn nhột

bên nách phải (Văn Thành Lê, 2015, tr.279). Không gian ấy nhƣ lột tả tâm trạng

hoang mang, chìm khuất trong những lo âu của hắn khi mắc phải căn bệnh lạ -

lông nách biến mất. Đến với Sa lan đỏ bãi Xanh (Sa lan đỏ bãi Xanh), ngòi bút

91

Văn Thành Lê đã chạm khắc nên bức tranh đêm tháng ba huyền ảo, ma mị với

bóng áo trắng của Yên “Tháng ba. Đêm mềm như tấm lụa đen phủ xuống làng.

Ánh trăng non về sáng chừng nhƣ thức khuya nên ra dáng ngái ngủ khiến không

gian trở mình sang vẻ huyễn hoặc hơn. Mỗi gió là nóng. Gió quăng quật từ bãi

quặng vào. Gió cuốn sạch bách hơi sương. Không chút phân vân. Chẳng mảy

may cân nhắc. Thành ra hanh và khô. Trơ ráp. Ngƣợc chiều gió, giữa loãng lếch

đêm, là phảng phất bóng áo trắng. Lầm lũi đi. Hay là bay? Dễ gì phân biệt. Chấp

chới. Nửa như muốn tan vào đêm. Nửa như muốn hiện hơn rõ trong đêm. Lúc lúc

lại có tiếng chó cắn hƣớng về bóng trắng, lan ra, mất hút, vừa nhƣ đồng lõa vừa

nhƣ phản kháng màn đêm tĩnh mịch” (Văn Thành Lê, 2018, tr.109, 110). Không

gian ấy đƣợc tái hiện qua lời kể ở ngôi thứ ba chất chứa tâm trạng của Yên khi

theo tiếng gọi bí ẩn ra bãi Xanh – nơi lƣu giữ bao kí ức đẹp của Yên và Khái, nơi

bố mẹ Yên dành cả đời để nâng niu, chăm sóc và yên nghỉ. “Hành nghề giữ kí ức

cho khắp nơi” nhƣng Yên lại bất lực với chính nơi mình sinh ra. Màn đêm ấy

chất chứa nỗi buồn của một con ngƣời khát khao giữ lại bãi Xanh, giữ những giá

trị văn hóa truyền thống, hồn vía của làng đƣợc chƣng cất qua thời gian trƣớc

vòng xoáy nhƣ thác lũ của đồng tiền.

Hòa kết ngôn ngữ tả và kể, Văn Thành Lê từng bƣớc xây dựng nên thế

giới ngụy tạo thấm đẫm tinh thần hậu hiện đại trong những trang viết của mình.

Trong Không biết đâu mà lần, hình ảnh ngôi trƣờng nhân vật Anh sắp nhận công

tác nằm giữa những cánh đồng ra xanh mƣớt đƣợc tái hiện thông qua lời kể ngôi

thứ ba:

“- Vùng này là xứ xở của rau – Kha giới thiệu – Xanh quanh năm. Mướt

mắt. Nhìn là thấy màu hi vọng, màu sự sống. Còn thực hƣ thế nào tao không biết.

Nhiều khi thấy vậy mà không phải vậy.

- Ừ, Xanh. Mơn mởn. Căng tràn nhựa sống. Không biết liệu có toàn thân

căng tràn thuốc kích thích mà hóa chất nồng nặc đậm đà bản sắc dân tộc? (Văn

Thành Lê, 2014, tr.23)

Thế nhƣng, liệu lớp vỏ ngoài xanh mƣớt ấy có phải đƣợc tạo nên từ việc

ngậm hóa chất. Cuộc sống đƣơng đại với thật giải lẫn lộn khiến con ngƣời hoang

92

mang. Từ cánh đồng rau xanh mƣớt nhà văn đã mở ra thế giới ngụy tạo – môi

trƣờng học đƣờng nghịch dị chìm khuất sau vẻ ngoài hào nhoáng, đẹp đẽ. Trong

Không biết đâu mà lần, thầy trƣởng khoa đƣợc miêu tả: “thầy có giọng nói hiền

từ nụ cƣời nhân hậu, bƣớc đi nhẹ nhƣ có phép cân đẩu vân. Sinh viên năm nhất

nhƣ Anh hồi ấy dáo dác nhìn và giật mình ngỡ ông Bụt trong truyện cổ tích thời

còn đái dầm hóa ra có thật à?” (Văn Thành Lê, 2014, tr.71). Thế nhƣng, ẩn sau

vẻ ngoài đạo mạo là một con thú đội lốt ngƣời khát khao tính dục. Mới gặp mặt,

nhân vật Anh tƣởng rằng thầy là ông Bụt trong truyện cổ tích. Từ vẻ ngoài đó,

nhà văn lột trần chân dung một lão thầy tha hóa, chuyên đi gạ tình sinh viên nữ.

Đến với Đời lâng lâng (Thừa ra một người), hình mẫu gia đình danh gia vọng

tộc đƣợc lột tả nhờ sự phối kết hợp ngôn ngữ tả và kể qua lời trần thuật ngôi thứ

nhất. Bên ngoài, gia đình nhân vật tôi có một lớp vở bọc hào nhoáng khiến mọi

ngƣời ngƣỡng mộ: bố tiến sĩ, mẹ công chức. Thế nhƣng, đó thực chất chỉ là cái

vỏ ngụy tạo bởi ngƣời bố vì thiếu cân không đủ điều kiện đi bộ đội, lại có ông là

liệt sĩ nên nhận đƣợc suất đi học nƣớc ngoài. Đi buôn nhiều hơn học nhƣng hết

thời gian đào tạo, ngƣời bố vẫn có bằng nhƣ ai: “Hết năm hết tháng cũng xong

cái phở tái sống – phó tiến sĩ” (Văn Thành Lê, 2016, tr.80). Thừa thắng xông lên,

ngƣời bố có bằng tiến sĩ chỉ sau một đêm, chẳng cần có công trình nghiên cứu.

Còn ngƣời mẹ, cũng nhờ quen biết nên mới đƣợc nhận vào làm hành chính ở

phòng công tác sinh viên. Trong khi Văn ngƣỡng mộ gia đình học thức của nhân

vật tôi thì ngƣời trong cuộc lại cảm thấy chẳng có gì vẻ vang “tôi chỉ muốn nói,

bố mẹ vậy nên chắc chắn chỉ số thông minh của tôi chẳng lấy gì làm hơn ngƣời.

Tôi chỉ cỡ sát mép sàn. Vậy mà bố tôi nhiều lần thở dài, nói buồn, tiếc cho thằng

con trai không biết phát huy trí tuệ, truyền thống gia đình. Tôi chẳng biết nói sao.

Chỉ im. Ngậm cười” (Văn Thành Lê, 2016, tr.81).

Sử dụng ngôn ngữ hòa kết tả và kể, Văn Thành Lê đã tạo điểm ngừng cho

mạch trần thuật của mình. Cũng có khi sử dụng phối kết hợp tả và kể để tạo nhịp

điệu nhanh, diễn tả sự chớp nhoáng, phân mảnh mang hơi thở nhịp sống đƣơng

đại, thật giả, trắng đen lẫn lộn. Với lăng kính hậu hiện đại, nhà văn trẻ lia máy

93

quay và chọn điểm dừng phù hợp để mở ra trƣớc mắt ngƣời đọc những thƣớc

phim chân thực, đậm chất đời.

3.2. Giọng điệu trong văn xuôi Văn Thành Lê

3.2.1. Khái lược về giọng điệu trong tác phẩm tự sự

Giọng điệu trần thuật chính là phần hồn của tác phẩm. Đây là yếu tố cơ

bản trong nghệ thuật kể chuyện. Giọng điệu còn có vai trò quan trọng trong việc

thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Nó đƣợc thiết lập từ mối quan hệ giữa

ngƣời kể với ngƣời nghe từ thế giới sự kiện đƣợc miêu tả và tạo thành giọng điệu

trần thuật.

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi định nghĩa giọng điệu (tiếng Anh: tone) là “thái độ, tình cảm, lập

trƣờng tƣ tƣởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tƣợng đƣợc miêu tả thể hiện

trong lời văn quy định cách xƣng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách

cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,...” (Lê

Bá Hán, 2007, tr.134).

Trần Đình Sử trong Giáo trình Lý luận văn học (tập II) Tác phẩm và thể

loại văn học cho rằng giọng điệu là “phƣơng thức biểu đạt bằng những cách

xƣng hô, gọi tên sự vật, hệ thống từ vựng và cảm hứng chủ đạo của tác giả”

(Trần Đình Sử, 2007, tr.65).

Nhƣ vậy, giọng điệu là yếu tố đặc trƣng của hình tƣợng tác giả, mang chất

giọng, thái độ, tình cảm riêng của ngƣời sáng tạo. Tùy vào những tiêu chí khác

nhau, ngƣời ta có thể chia giọng điệu thành những kiểu khác nhau. Xét về mặt

cấu trúc có giọng chính, giọng phụ. Về khuynh hƣớng tƣ tƣởng có giọng thông

cảm hay lên án, yêu thƣơng hay tố cáo, khẳng định hay phủ định. Nếu phân loại

theo tiêu chí biểu hiện cảm xúc, sắc thái tình cảm thì giọng điệu khá đa dạng:

giọng trữ tình sâu lắng, giọng hài hƣớc châm biếm, giọng triết lí, giọng trào

phúng sâu cay,... Mỗi loại giọng điệu lại thể hiện tâm trạng khác nhau của ngƣời

kể chuyện với nhân vật hoặc giữa nhân vật với nhau. Bằng việc phân biệt giọng

điệu, ngƣời đọc có nhiều điều kiện hơn trong việc phân tích những ý đồ tƣ tƣởng

94

của tác giả. Giọng điệu trần thuật chính là chìa khóa để mở tác phẩm, là cách xác

định khuôn mặt của nhà văn, khu biệt phong cách tác giả.

3.2.2. Các kiểu giọng điệu trong văn xuôi Văn Thành Lê

3.2.2.1. Giọng giễu nhại, châm biếm

Giễu nhại là một hình thức rất quen thuộc trong đời sống và đi vào văn

chƣơng nhƣ một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng. Đó là kỹ thuật bắt chƣớc lại lời

của ngƣời khác nhằm mục đích châm biếm, mỉa mai. Giọng giễu nhại xuất hiện

trong hầu hết các tác phẩm văn xuôi sử dụng nghệ thuật nghịch dị. Qua giọng

điệu, nhà văn thể hiện thái độ, tâm tƣ, tình cảm của mình “Những tác phẩm viết

trên lối mới có một giọng điệu đặc biệt, một thứ giọng kể có vẻ “không nghiêm

túc”, thậm chí nhƣ đùa giỡn, vừa coi điều mình kể là thành thực, vừa coi nó nhƣ

chẳng có gì là quan trọng. Tính chất “nửa đùa nửa thật” ấy không chỉ làm tăng

thêm sự phong phú và vẻ thoải mái, lôi cuốn của giọng kể mà còn làm nhòa đi

những đối lập triệt để về nghĩa, về tƣ tƣởng và do đó làm giàu thêm tinh thần của

tác phẩm” (Phạm Thùy Trang, 2016). Giễu nhại có hai đặc điểm chính: nhại – bắt

chƣớc và giễu – châm biếm.

Trong những trang viết đậm chất đời, Văn Thành Lê đã phát huy sức

mạnh của giọng điệu giễu nhại, chủ yếu nhại cái cao sang thành cái thô tục để

phơi bày sự giả tạo, kệch cỡm của những con ngƣời làm nghề cao quý – thầy

giáo. Khám phá văn xuôi Văn Thành Lê, ngƣời đọc không còn thấy những thầy

giáo đạo mạo, mẫu mực, xứng đáng với nghề cao quý mà mình đã chọn. Thay

vào đó, nhà văn giễu nhại, châm biếm những ông thầy tha hóa, biến chất với

phần con lấn át phần ngƣời, sống theo bản năng, mặc kệ quan điểm đạo đức xã

hội. Đó là viện trƣởng trong Giấc mơ bị đánh cắp chấm điểm dựa trên độ đẹp của

sinh viên, thu thập những tiểu luận chẳng cần nội dung chất đầy nhà để ra vẻ ta

đây làm việc, nghiên cứu nhiều: “Viện trƣởng đi thỉnh giảng ở các trƣờng đại

học, khi làm tiểu luận sinh viên chỉ việc nhận một chủ đề, lên mạng tìm tài liệu,

tải về đóng thành tập rồi nộp lại. Không cần phân loại, hay phân tích gì. Nếu sinh

viên nào lƣời, chỉ cần đƣa một lô “từ khóa”, thuê thằng nhóc ranh vài tuổi đầu

nghiện game online vào mạng kiếm cũng xong. Tập tiểu luận dày một gang trở

95

lên cho 10 điểm. Dày trên một gang, cộng xinh đẹp, cho 10 điểm cộng. Để sinh

viên thấy đƣợc giá của cái đẹp. Chắc để cuối đời con cái tổng kết lại những đóng

góp của ông với công cuộc giáo dục và nền khoa học nƣớc nhà. Ai nói bóng gió

gì ông mặc kệ” (Văn Thành Lê, 2016, tr.28.29). Ở Rũ bùn mà đi, nhà văn châm

biếm ông thầy ham mê tính dục, tán tỉnh học sinh, chẳng còn tôn ti trật tự, bị

chặn đánh vẫn không chừa: “Thầy đã có bộ sƣu tập khá nhiều “tiền án tiền sự”

với học sinh. Đến nỗi đêm đêm ƣớt nhƣ chuột lột vì bị chặn đƣờng cho tắm sông

là chuyện thƣờng nhƣ cơm bữa. Tối thầy vào làng đừng gọi là thầy, cứ xƣng anh

– em, không thanh niên làng biết chúng xử đẹp thì toi” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.63). Hay châm biếm giễu nhại những đổi mới nửa vời của nền giáo dục, triệt

tiêu tƣ duy phản biện của học sinh “Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học,

thì enter trình chiếu cho học sinh chép. Từ đọc chép thành chiếu chép. Có hai

nguyên tắc dạy học đã nhét vào đầu học sinh, thấm vào tận tủy từ thời học bảng

chữ cái, bảng cửu chƣơng. Đó là, nguyên tắc một: thầy cô luôn đúng. Nguyên tắc

hai: Nếu thầy cô sai, xem lại nguyên tắc một” (Văn Thành Lê, 2016, tr.135).

Trong Thừa ra một người, hình ảnh hiệu trƣởng Cấu hiện lên qua giọng điệu

châm biếm nhẹ nhàng mà sâu cay của nhà văn – một kẻ cơ hội, bất tài, mua bằng

để có thể “ăn trên ngồi trốc”; “Học hết cấp ba trƣờng huyện, thi rớt đại học, Cấu

vào lính. Huấn luyện xong đúng lúc chiến sự biên giới phía Bắc xảy ra, Cấu

trong đoàn hành quân về phía ấy. Nghe tiếng súng rát quá Cấu tự bắn mình bị

thƣơng để vào quân y. Cấu thành anh giáo thể dục có giọng hô vang khắp trƣờng.

Học theo phƣơng châm nhậu nhẹt với thầy là mục tiêu, xin điểm là chủ yếu. Có

tấm bằng tại chức là ghế trên ngồi tót sỗ sàng, làm quản lí. (Tại cái chức nên phải

học)” (Văn Thành Lê, 2016, tr.150). Trong truyện ngắn này, nhà văn còn giễu

nhại vấn nạn xin việc làm của sinh viên sƣ phạm khi ra trƣờng, nhất thiết phải có

quan hệ, tiền tệ, tài năng sau cùng: “Xin việc ngoài ấy, nhất là công chức giáo

dục, khó hơn tìm ôxi trên mặt trăng” (Văn Thành Lê, 2016, tr.154). Hay sống

trong môi trƣờng giáo dục nhƣ đang diễn một vở kịch, ngƣời giáo viên bất đắc dĩ

trở thành diễn viên “Cuộc sống là một vở kịch, xã hội này, những gì diễn ra ở

trƣờng mình cũng là màn kịch. Chúng ta là diễn viên, dù muốn hay không”,

96

“Toàn ngƣời biết tuốt. Có mỗi một thứ không biết, là không biết đỏ mặt” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.155). Môi trƣờng giáo dục nghịch dị nhƣ thế sẽ sản sinh ra

những thế hệ học sinh khù khờ, thụ động, thiếu kiến thức và kĩ năng cần thiết để

vào đời: “HIV là một loại chất rắn không màu, không mùi, không vị. Em nữ

khác, mang trên mình chiếc áo pull màu đen phun ảnh ngƣời mẫu ngành điện lực

(hình đầu lâu, kí hiệu nguy hiểm chết ngƣời trên các cây cột điện) xung phong

giải cứu giúp bạn, nói: HIV là chất gây nghiện, hình thành khi các đôi tình nhân

quan hệ tình dục với nhau không an toàn. Bạn chết lặng. Chết đứ đừ. Chết mà

không kịp ngáp. Chết mà miệng há hốc, mắt dựng ngƣợc” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.175).

Trong Không biết đâu mà lần, Văn Thành Lê đã phát huy sức mạnh của

giọng điệu giễu nhại để phơi bày sự giả tạo, kệch cỡm của những con ngƣời làm

nghề cao quý – thầy giáo. Chân dung thầy hiệu trƣởng hám danh, biến trƣờng

học thành trƣờng đua thành tích đƣợc lột tả: “Sống lâu lên lão làng. Ghế trên

ngồi tót sỗ sàng nhƣ không. Không lâu sau nhảy phắt lên phó hiệu trƣởng rồi

hiệu trƣởng” (Văn Thành Lê, 2014, tr.97). Lật giở 135 trang sách, nhà văn giễu

cợt, châm biếm, đả kích những ông thầy sống bản năng, đậm màu “sắc dục”. Khi

thầy dạy Sinh tiền nhiệm đi tù, một cô đổ lỗi do nhà trƣờng chƣa tách tổ bộ môn

“Tại sao cứ để các tổ ghép. Ừ thì Sử – Địa – Giáo dục công dân cũng đƣợc đi,

Toán – Tin cũng đƣợc đi, nhƣng ai lại ghép Sinh học, Công nghệ với Thể dục –

Quốc phòng thành một tổ, có phải vậy thành Công nghệ - Sinh – Dục không?

Thầy ở tổ Công nghệ – Sinh – Dục thì phải phát huy bản sắc cốt lõi của tổ” (Văn

Thành Lê, 2014, tr.60). Một lí do nực cƣời để biện bác cho sự tha hóa đáng báo

động của thầy.

Hay khi phơi bày cuộc cải cách giáo dục thời đại công nghệ số, nhà văn

vẫn trung thành với giọng châm biếm, giễu nhại: “những cú thay sách đổi mới

chƣơng trình xỉa lƣng, giảm tải chƣơng trình vỗ mặt… Thiếu sống dở chết dở,

vừa bơi vừa thở khó nhọc mong đủ tuổi hƣu nhƣ trẻ con mong mẹ đi chợ về thuở

nào. Giờ lại thêm cú áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học, thay đổi phƣơng

pháp từ đọc – chép sang chiếu – chép thì đúng là muốn ngã ngựa” (Văn Thành

97

Lê, 2014, tr.86). Giáo viên chạy theo thành tích với những bài giảng đạt giải vô

hồn nhƣ “bò nhai lại”. Dự giờ học hỏi kinh nghiệm trở thành chuyện xa xỉ, cho

mƣợn giáo án chép để mọi ngƣời cùng “khỏe”. Câu cửa miệng và cũng là nhan

đề của tác phẩm “không biết đâu mà lần” đƣợc lặp lại hai mƣơi lần và đƣợc nhấn

mạnh cuối mỗi chƣơng chất chứa giọng điệu giễu nhại nhƣng cũng đầy chua

chát, suy tƣ về những gì đang diễn ra trong môi trƣờng giáo dục hỗn độn, nhốn

nháo với mọi thang giá bị đảo lộn. Một tấn bi hài kịch về giáo dục đƣợc phô diễn

trọn vẹn, những thứ hào nhoáng về môi trƣờng trong sạch, thanh bình trong quan

niệm của con ngƣời trƣớc đó hoàn toàn bay biến. Chỉ còn lại một môi trƣờng

lệch chuẩn, phi giáo dục. Giọng điệu giễu nhại trở thành giọng văn chủ đạo trong

những trang viết về đề tài giáo dục để nhà văn tẩy những mảng tối đang tồn tại

trong môi trƣờng giáo dục đƣợc bao bọc trong lớp vỏ ngụy tạo hào nhoáng khiến

ngƣời ta lầm tƣởng. Ẩn sau giọng điệu ấy là sự chua chát đến cùng cực của nhà

văn trƣớc những ung nhọt của ngành giáo dục. Từ đó, Văn Thành Lê muốn gióng

lên hồi chuông cảnh tỉnh những ngƣời đang đứng trên bục giảng ƣơm mầm tri

thức: đừng biến trƣờng học thành trƣờng đua thành tích, đừng biến học sinh

thành những con gà công nghiệp, đừng đổi mới giáo dục nửa vời về hình thức,

đừng để những con sâu giả danh trí thức tồn tại… Văn Thành Lê sẵn sàng vén

tấm màn nhung hào nhoáng che lấp những vết đen bên trong để chúng ta cùng

tìm ra cách làm mờ và xóa nhòa những lấm lem trả lại sự trong sáng, lành mạnh

cho môi trƣờng giáo dục.

Chƣa dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng giọng điệu giễu nhại khi phản ánh

đời sống của những ngƣời trẻ – những trí thức đƣợc coi là tƣơng lai của đất nƣớc

nhƣng có lối sống lệch chuẩn hay những quan chức dùng thủ đoạn, sự lọc lõi để

bƣớc vào chốn quan trƣờng. Trong Kẻ rao bán …, một học viên cao học ngành

tâm lí mà sẵn sàng rao bán tinh trùng để các cặp vợ chồng hiếm muộn thụ tinh

trong ống nghiệm rồi sẵn sàng phản bội ngƣời yêu để “chuyển giao trực tiếp”.

Nhà văn phê phán, đả kích lối sống thực dụng để đồng tiền che mờ mắt, đánh mất

nhân cách: “Mở đƣờng mới khó chứ đi trên đƣờng mòn thƣờng dễ. Khai hoang

mới khó chứ thâm canh thì đơn giản hơn. Nói trắng ra nhƣ ông bà đúc kết là

98

ngựa quen đƣờng cũ” (Văn Thành Lê, 2016, tr.13). Một kẻ rao bán với lối sống

buông thả sản sinh ra những đứa trẻ giống nhau, vô trách nhiệm với những đứa

con mình tạo ra đáng bị loại bỏ trong xã hội này: “Hắn vò đầu. Hắn bứt tóc. Hắn

xoa tai. Râu ria thi nhau đâm ra tua tủa. Mắt trũng xuống. Ngớ ngẩn thay. Hắn

từng cƣời vào những tin sản sinh con ngƣời vô tính giống nhau. Giờ chính hắn là

kẻ sản sinh những con ngƣời hữu tính na ná nhau” (Văn Thành Lê, 2016, tr.19).

Đến với Hạ huyệt an toàn (Sa lan đỏ bãi Xanh), nhà văn cƣời cợt, chế giễu thân

hình của bộ phận công chức với những cái bụng ngày càng phình to: “hùng hậu

nhất là bộ phận công chức không ai bảo ai, nhất loạt bụng mỗi ngày lại phình ra

nhƣ ăn nhầm bột nở hay kiểu trẻ con lâu ngày không xổ giun sán thế kỉ trƣớc.

Cộng hƣởng với chiều cao vô cùng khiêm tốn nên ai nấy đi đi lại lại y chang lật

đật dở hơi” (Văn Thành Lê, 2018, tr.36). Lời tuyên ngôn của nhân vật Can chất

chứa giọng điệu giễu nhại của chính tác giả về đội ngũ quan chức bất tài với lối

sống hƣởng thụ, đục khoét của dân, xu nịnh cấp trên để leo lên chức cao hơn:

“Dễ nhất là làm… lãnh đạo. Đƣợc ăn đƣợc nói đƣợc gói mang về. Ăn có ngƣời

đƣa tận miệng. Nói có ngƣời chấp bút. Gói có ngƣời mang tận nhà. Để lên vị trí

lãnh đạo có khó không? Nói không khó là khoác lác, nhƣng nói khó thì cũng

không hẳn. Chẳng có việc gì khó. Miễn đƣợc lòng sếp” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.45).

Là ngƣời trong cuộc, ngòi bút sắc lạnh, tỉnh rụi của nhà văn lách sâu vào

tận “hang cùng ngõ hẻm” lật tẩy sự giả dối, thiếu đạo đức nghề nghiệp của một

bộ phận nhà báo thời công nghệ số trong Làm gì có báo lá cải!. Giọng văn bỡn

cợt, châm biếm đƣợc sử dụng để phơi bày trƣớc ánh sáng thực trạng báo lá cải

tràn lan khiến môi trƣờng báo chí ô nhiễm nghiêm trọng. Kha và Khẩn “hoài

thai” tờ Yêu và Công lý với những thông tin giật gân, phơi bày bí mật phòng the

để câu khách ngay tại quán cafe, trên bàn nhậu. Họ là một trong vô số những kẻ

đang làm nhiễu loạn hoạt động báo chí: “Khẩn gặp Kha nhƣ diều gặp gió. Kha

gặp Khẩn nhƣ gió gặp diều. Diều không có gió diều nằm ở xó. Gió có diều để

biết gió ra sao, mạnh hay yếu, loay hoay chiều nào. Xung quanh Kha có vài Khẩn

và những Khẩn phẩy tƣơng tự nhƣ thế” (Văn Thành Lê, 2018, tr.169, 170). Với

99

những nhà báo thiếu đạo đức nhƣ thế, báo chí biến thành một sân khấu kịch với

đủ chiêu trò “bình cũ rƣợu mới”: “Không biết, ở cả đất nƣớc này, bao nhiêu

những “hai ngƣời” nhƣ vậy. Trong khi các sạp báo ở mọi ngóc ngách thành phố

vẫn rực rỡ ƣỡn ẹo phơi mình với những bài những tin về cƣớp hiếp giết là chủ

đạo, sao xẹt là chủ yếu…” (Văn Thành Lê, 2018, tr.176).

Không chỉ thế, trƣớc những thang giá truyền thống bị đảo lộn, nhà văn trẻ

giễu cợt thói ham hƣ danh, đua nhau nguỵ tạo di tích để hàng xóm hết vênh váo

bởi “kém miếng khó chịu” trong Si sẽ lại xanh. Cây si cổ thụ sau hai lần chết hụt

vì sở thích của các ông lớn bỗng đƣợc nâng niu để xếp hạng di tích cấp tỉnh:

“Cây si xứng đáng di tích cấp tỉnh, thậm chí cấp quốc gia. Xứng đáng lâu rồi, giờ

làm là chậm. Ở hành lang, bác quản lí văn hóa nói phen này mấy đơn vị hàng

xóm hết phét lác vênh váo là chúng có di tích này di tích nọ. Ai bảo chúng có mà

mình không có nào. Thích những chuyện lâm li bi đát gắn liền với di tích thì có

ngay chứ khó gì” (Văn Thành Lê, 2016, tr.39). Thật lố bịch, kệch cỡm, chỉ vì hƣ

danh mà tìm đủ mọi cách để cứu cây khi nó chết bất đắc kì tử. Giọng giễu nhại

đƣợc sử dụng để lên án những ông sếp hám danh, trục lợi: “Các sếp loạn lên.

Kiểu này thì xôi hỏng bỏng không. Miếng ăn đến miệng rồi mà còn mất à. Quả

ông trời xỏ lá” (Văn Thành Lê, 2016, tr.40).

Ham hƣ danh, Ca (Nhà thơ cấp nước) quyết tâm vào Hội trung ương (Hội

cấp quốc gia) dù bản thân chỉ “dắt lƣng” đƣợc ít chữ học lén. Từ một anh “khố

rách áo ôm” có xuất thân “bân bẩn”, Ca nghiễm nhiên trở thành đại gia bất động

sản khi dạt vào Nam “cắm cọc nhận đất hoang làm vƣờn” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.215). Vung tiền cho quê hƣơng để lên mặt “ta đây” đã là doanh nhân thành đạt,

Ca vẫn bị coi thƣờng bởi ít chữ nên hắn nhất quyết trở thành nhà thơ, trở thành

anh hay chữ nhất làng, “làm xiếc với chữ”. Những câu thơ “rởm đời” bắt đầu sản

sinh trên bàn nhậu. Chất giọng giễu nhại, bông đùa đặc trƣng tiếp tục đƣợc nhà

văn sử dụng để phê phán, đả kích những kẻ “nôn ra thơ” rồi vung tiền mua giải

nhƣ Vũ Thi Ca. Dù “vò đầu bứt tóc cho chữ rơi ra. Thơ phú văng toé tung, bay

nhƣ muồm muỗm mùa gặt” nhƣng Vũ Thi Ca vẫn đƣợc xƣớng tên ở lễ trao giải

các cuộc thi: “Hỏi ra mới biết đó là cuộc thi do mấy tên buôn chữ bán thơ đứng

100

ra tổ chức. Các tác giả vào giải phải đóng tiền để ban tổ chức làm giải và in tuyển

tập thơ cho cuộc thi. Cách thức tổ chức đầy chất… thơ” (Văn Thành Lê, 2018,

tr.223). Với chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh”, Ca chen chân vào Hội Nhà

văn, trở thành con sâu đục khoét, “góp vốn” làm mục rỗng, xuống cấp nền văn

học nghệ thuật nƣớc nhà. Ngay nhan đề Nhà thơ cấp nước đã thấm đẫm chất trào

lộng, giễu nhại, “giải thiêng” hình tƣợng nhà thơ, biến sự thanh cao, nho nhã trở

nên lố bịch, kệch cỡm.

Giọng điệu giễu nhại, châm biếm là công cụ đắc lực để nhà văn lật tẩy

những mảng tối, những góc khuất diễn ra trong cuộc sống với những giá trị tinh

thần đang dần bị mai một, đảo lộn. Thế nhƣng, đằng sau đó, nhà văn muốn gieo

niềm tin, sự lạc quan vào cuộc đời thiện lƣơng dù còn nhiều chiều kích ngổn

ngang.

3.2.2.2. Giọng chiêm nghiệm, suy tư

Khát vọng khám phá chiều sâu của cuộc sống đƣơng đại khiến nhà văn suy

tƣ, muốn lí giải những vấn đề mình quan tâm trong cõi nhân sinh. Giọng điệu

chiêm nghiệm, suy tƣ chính là công cụ hữu hiệu để nhà văn bày tỏ lập trƣờng thái

độ, sự trải nghiệm cũng nhƣ thể hiện cách nhìn nhận đa chiều của mình về cuộc

đời. Chiêm nghiệm, suy tƣ là giọng điệu phổ biến trong truyện ngắn đƣơng đại.

Để có đƣợc những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, nhà văn phải có những trải

nghiệm, quan sát tinh tế, biết gạn lọc để đan cài vào từng trang viết.

Mỗi nhà văn đều có cách nhìn, cách cảm riêng về cuộc đời. Là một ngƣời

trẻ ƣa trải nghiệm, khám phá, với vốn sống có đƣợc, Văn Thành Lê cũng gửi gắm

những chiêm nghiệm, suy tƣ của mình về cách đối nhân xử thế, về mối quan hệ

giữa ngƣời với ngƣời trong từng trang viết. Trong Mẹ, con và những khoảng

trống, sau những đổ vỡ, khoảng cách thế hệ giữa mẹ và con khi đón mẹ ở quê

vào sống chung, nhân vật anh nhận ra ai cũng có cái đúng riêng tuỳ theo cách

nhìn nhận, đánh giá vấn đề: “Không phải cái đúng nào cũng là duy nhất…Mỗi

ngƣời có cái đúng của riêng mình. Và có ngƣời chẳng thèm đoái hoài đến cái

đúng của ngƣời khác. Mẹ nói nhƣ mẹ mới đúng. Anh nói nhƣ anh mới đúng. Anh

biết nếu đi trƣng cầu… ý dân thì đa số sẽ đứng về cái đúng của anh. Nhƣng

101

chuyện trong nhà ai đem “vạch áo cho ngƣời xem lƣng” (Văn Thành Lê, 2016,

tr.196). Thấu hiểu đƣợc điều đó anh cảm thấy nhẹ nhõm, không gì có thể chia cắt

đƣợc tình mẹ con, cần gì phải cứ rạch ròi đúng sai với mẹ. Đến với Vá lại ngày

đã qua, Văn Thành Lê tiếp tục lồng ghép những suy ngẫm, chiêm nghiệm của

mình về sợi dây tình thân vô hình thông qua nhân vật tôi. Từng bị ruồng bỏ, hắt

hủi phải bỏ xứ đi nhƣng khi nhận đƣợc lá thƣ xin lỗi của ông với mong muốn

đƣợc gặp lại cháu, ngƣời mẹ khóc, cãi lại lời bố quyết định cho chị em tôi về

nhận họ hàng. Trƣớc sự bao dung của mẹ, nhân vật tôi nhận ra: “kỉ niệm rách

nát. Nhƣng lúc này thì tôi nghĩ, cái gì rách cũng nên vá lại, kể cả tháng ngày”

(Văn Thành Lê, 2015, tr.241). Để rồi, nhân vật khát khao đƣợc trở lại quê hƣơng

chữa lành nỗi đau và thực hiện lời hứa với Minh – ngƣời bạn duy nhất dám chơi

với mình bất chấp sự khinh rẻ của mọi ngƣời.

Hay suy ngẫm sâu sắc về tình yêu đƣợc Văn Thành Lê gửi gắm trong Buổi

sáng khác lạ. Tình yêu là điều bí ẩn mà con ngƣời khát khao giải mã nhƣng

không thể mổ xẻ đƣợc: “Tình yêu ấy mà. Đừng bao giờ nên mổ xẻ. Mổ xẻ đƣợc

thì lại là thứ khác rồi. Bảy năm. Mọi thứ đã ngủ quên ở một miền xa ngái nào đó.

Tình yêu thành kí ức. Kí ức là những thứ đã trải qua, đã diễn ra, hay chính là lịch

sử. Chí ít là lịch sử của riêng bạn. Mà bản thân lịch sử thì không có lỗi” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.182). Mƣợn hình thức viết thƣ, nhân vật trong Thư gửi người

bạn thân tự bày tỏ những suy ngẫm, trăn trở của mình về tình yêu: “Chắc ở đời

không thể tồn tại mãi cái thứ tình yêu thƣơng hại và mô hình gia đình thƣơng hại

mày nhỉ?”. Sau những dùng dằng, cố gắng duy trì mối quan hệ tình cảm dù thiếu

cảm xúc, nhân vật buông tay, dứt khoát không thể tiếp tục mối quan hệ tình cảm

dựa trên sự thƣơng hại đó nữa.

Cuộc sống đƣơng đại đòi hỏi con ngƣời phải biết cách sống, thích nghi để

không bị gạt ra khỏi vòng xoáy ấy. Sau những trải nghiệm, nhân vật hắn trong

Giấc mơ bị đánh cắp đã tìm đƣợc cho mình chân lí sống: thích những gì vừa phải

nhƣng phải giữ đƣợc cá tính giữa đám đông: “Hắn vẫn thích những gì vừa vừa

phải phải. Nghĩa là đừng có quá. Hình nhƣ cái gì hơi quá cũng mất vui, mất hay.

Nhất là thời nay. Ví nhƣ đẹp quá nhìn chỉ tổ mờ mắt, nhọc đầu. Xấu quá thì quả

102

đau mắt. Giỏi quá thì khéo thành ngƣời thừa của thiên hạ. Đến chết may ra mới

đƣợc hậu sinh lục lại, xới lên, và thừa nhận thiên tài… Ngƣợc lại. Kém quá lại bị

qui về họ hàng nhà khỉ chƣa tiến hóa đúng theo qui luật tự nhiên... Vậy nên tốt

nhất là vừa phải. Miễn sao đừng cá mè một lứa lẫn giữa đám đông là đƣợc” (Văn

Thành Lê, 2016, tr.22,23). Hơn thế nữa, cần phải có niềm tin vào cuộc đời, vào

chính bản thân mình thì dù sống trong xã hội đảo điên, cuộc sống của bản thân

vẫn ổn “Khi nào vẫn còn tin vào mình là vẫn còn đƣợc phải không” (Văn Thành

Lê, 2015, tr.67). Trong Hoa núi, nhân vật Miên suy ngẫm về cuộc đời mình ở

tuổi hai sáu với mong muốn tìm ra nghiệm đúng – một tấm chồng. Làm theo lời

mẹ dặn, cô gái phố núi dù đƣợc nhiều chàng trai theo đuổi nhƣng vẫn không

động lòng với ai vì muốn “về ăn rau núi, uống nƣớc suối và chết dƣới chân núi”

(Văn Thành Lê, 2015, tr.80). Hai mƣơi sáu tuổi, Miên bắt đầu thấy sợ, mắc bệnh

lƣời yêu bởi nhận ra quy luật cuộc đời: “Hoa nở mãi rồi cũng tới hồi tàn. Đời phù

du lắm”. Bởi thế, cô quyết tâm vƣợt thoát khỏi phố núi, dấn thân đến vùng đất

mới để lòng bớt ngổn ngang.

Tƣơng tự nhƣ thế, trong Ghi chú về những giấc mơ, nhân vật hắn tƣởng

tƣợng mình đang ngồi trên chiếc bàn xoay với bốn con ngƣời: “nội, ông bụng

ỏng đít beo thờ sờ, anh bạn đồng nghiệp hay làm thơ và cô nàng ngƣời yêu chồng

yếu sinh lí” (Văn Thành Lê, 2015, tr.222). Bị xoay vần trong bàn xoay cuộc đời,

nhân vật hắn xót xa, day dứt nhận ra những gì đẹp đẽ trong quá khứ thì nên lƣu

giữ, còn không thì nên quên đi: “Hắn nghĩ, môi trƣờng đã ô nhiễm quá rồi, đừng

làm quá khứ ô nhiễm, xuống cấp theo. Nếu vậy con ngƣời sẽ chẳng còn nơi nào

để lƣu trú tâm hồn mình, khi thể xác đã hết chỗ đi về” (Văn Thành Lê, 2015,

tr.222). Quá khứ đẹp chính là nơi chốn trở về của con ngƣời nhƣng cần để nó ngủ

yên, coi đó là “học phí phải trả” để viết tiếp cuộc đời mình. Chấp nhận tất cả

những bài học bất ngờ từ cuộc sống, hắn tự tin, hăm hở trên hành trình cuộc đời:

“Bƣớc đi là sẽ khác. Bƣớc đi là sẽ tới. Dù điểm tới ấy là mông lung vô định”

(Văn Thành Lê, 2015, tr.224). Cuộc sống luôn chờ đợi những ngƣời ƣa trải

nghiệm, không ngại va vấp. Dù rằng đổi thay luôn tiềm ẩn những may rủi khôn

103

lƣờng nhƣng nếu quyết tâm dấn thân, chúng ta sẽ in dấu chân mình trên những

con đƣờng mới.

Từng là thầy giáo dạy Sinh học, Văn Thành Lê thấu hiểu bức tranh giáo dục

lấm lem đƣơng đại, nhƣng đâu đó, nhà văn vẫn tin vào những điều tốt đẹp. Suy

ngẫm sâu sắc về nền giáo dục lôm nhôm với những chính sách chủ trƣơng nửa

mùa đƣợc gửi gắm trong Thừa ra một người qua lời tâm sự của thầy hiệu trƣởng

cũ khi nàng vừa ra trƣờng: “Giáo dục giờ ruỗng quá. Mình cũng chỉ là con sâu

cái kiến, là con tốt trong cái guồng quay quay cuồng nên mình cố gắng hoàn

thành trách nhiệm với học sinh ở mức lƣơng tâm cho phép. Cái gì làm đƣợc để

giáo viên dễ thở hơn mình sẽ cố. Tiết chế, tinh giảm bớt áp lực cho giáo viên

đƣợc bao nhiêu mình sẽ làm. Chứ thi đua này học tập kia đâu có thực. Giáo dục

giờ nhƣ cái búi bùi nhùi, nhƣ tổ quạ. Buồn là ngƣời ta cứ tƣởng là tổ chim công

tổ họa mi, cứ bắt múa cứ bắt hót” (Văn Thành Lê, 2016, tr.150). Một ngƣời có tài

nhƣ Văn (Đời lâng lâng) đành phải chua chát chấp nhận trở thành “tiến sĩ giấy”

để đánh đu với thời đại. Tấm bằng ấy là “tờ giấy thông hành” sáng giá để làm ăn,

thoát khỏi nỗi “nhục nhiều chữ”. Văn cay đắng “vỡ lẽ” không có bằng cấp sẽ bị

ngƣời ta khinh: “Ở đâu chứ, nƣớc mình, bằng cấp vẫn đang là thứ ngƣời ta phải

luỵ” (Văn Thành Lê, 2016, tr.86). Quyết định từ bỏ việc đi dạy để lập công ty,

chạy theo cơ chế thị trƣờng khiến Văn chẳng còn đƣợc sống là chính mình.

Chƣa dừng lại ở đó, giọng điệu chiêm nghiệm, suy tƣ còn đƣợc sử dụng để

nhà văn trẻ trải lòng về cuộc sống đƣơng đại đa diện, nhiều chiều với những

mảng tối, góc khuất. Nhân vật hắn (Quẩn quanh dưới trời) luôn khắc ghi lời dạy

của bố khi bƣớc vào đời: “Nhƣng mày phải nhớ rằng, đời cũng chó lắm, mày

chơi nó đƣợc một thì hắn cũng cắn lại một nhát chẳng kém đâu, không khéo là

nhát của chó dại, thành ngƣời điên. Vậy nên đừng có xỏ với đời, không ăn không

gì của đời đƣợc đâu” (Văn Thành Lê, 2015, tr.107). Cuộc đời vốn dĩ nhƣ thế, có

vay có trả, có va vấp, khổ đau, có cả niềm vui và hạnh phúc nên cứ sống là chính

mình, đừng sợ tổn thƣơng, những bài học cuộc đời sẽ giúp chúng ta trƣởng

thành.

104

Ở Nụ hôn ảo, cây bút 8X gửi gắm thông điệp cuộc sống ngổn ngang, bộn

bề, mọi giá trị bị đảo lộn nên cần phải giữ mình, uốn lƣỡi bảy lần trƣớc khi nói để

tránh rƣớc hoạ vào thân: “Thời giờ phúc từ miệng mà ra, họa cũng có thể từ

miệng mà đến” (Văn Thành Lê, 2016, tr.134). Trong Đi chùa đầu năm, hành

trình đi Chùa chứng kiến đủ hỉ nộ, ái ố, sự giành giật, chen lấn, cƣớp bóc nơi linh

thiêng nguỵ tạo, nhân vật Lữ chiêm nghiệm, trăn trở không hiểu tại sao ngôi chùa

tự dựng của vị đại gia lại đông ngƣời kéo về đến thế. Có lẽ, do niềm tin bị đổ vỡ,

họ muốn đi chùa để tịnh tâm nhƣng tâm không tịnh: “Có lẽ ngài Thích – ca Mâu

– ni chẳng thể tƣởng tƣợng đƣợc sau hơn hai nghìn năm với biết bao tiến bộ văn

minh con cháu lại phó thác hết cuộc đời cho ngài theo nghĩa mong cầu đƣợc ƣớc

thấy nhƣ vậy” (Văn Thành Lê, 2018, tr.31).

Trƣớc cái chết vì thƣợng mã phong của Can (Hạ huyệt an toàn) trong đêm

giao thừa rợp trời pháo hoa, nhà văn gửi gắm suy ngẫm sâu sắc về cái giá phải trả

của những con ngƣời đi ngƣợc lại luân thƣờng đạo lí, ham mê sắc dục: “Có leo

cao đến mấy cũng không leo qua đƣợc đũng quần đàn bà con gái. Thằng đàn ông,

chui ra từ đấy, đi đâu rồi cũng nhớ đến cội đến nguồn, rồi lại về chết ở đấy” (Văn

Thành Lê, 2018, tr.52). Trong nhan đề Làm gì có báo lá cải! nhà văn trẻ 8X đã

gửi gắm trăn trở về sự nhốn nháo, nhiễu loạn của báo chí trong vòng xoáy kim

tiền. Kha – tay viết kì cựu trong làng báo tổ chức chuyên đề: “Phân tích sự nhiễu

loạn và hệ luỵ của báo lá cải gây ra cho đời sống xã hội trên báo” (Văn Thành

Lê, 2018, tr.171). Thế nhƣng, hắn cùng Khẩn lại chính là những con ngƣời sản

sinh ra những tờ báo lá cải với tiêu chí “sốc – sến – sex”. Liệu với những nhà báo

thiếu đạo đức nghề nghiệp nhƣ thế nền báo chí nƣớc nhà sẽ đi về đâu?

Qua giọng chiêm nghiệm, suy tƣ, Văn Thành Lê gửi gắm sự “vỡ lẽ” khi đi

sâu khám phá những chiều kích ngổn ngang của cuộc sống đƣơng đại. Đồng thời,

nhà văn trẻ tự bày tỏ nỗi lo âu về cuộc sống con ngƣời trong xã hội với những

thang giá đảo lộn. Nói thẳng, viết thật nhƣng vẫn chất chứa những suy ngẫm sâu

sắc về cuộc đời đã giúp Văn Thành Lê chạm đến trái tim độc giả. Đâu đó, họ

nhận ra những suy ngẫm của chính mình trong từng trang viết.

105

3.2.2.3. Giọng triết luận, tự vấn

Nếu giọng điệu giễu nhại là phƣơng thức để phản ánh đời sống thì giọng

triết luận, tự vấn gửi gắm những thông điệp sâu sắc, những trăn trở nhà văn muốn

đối thoại với độc giả. “Giọng điệu triết luận là giọng điệu thiên về luận bàn, lí

giải những vấn đề của đời sống, nhằm khám phá bản chất, quy luật của nó. Sự

khám phá này bắt đầu từ những hiện tƣợng cụ thể để đạt tới chân lí mang tầm

phổ quát” (Trần Văn Hải, 2019). Không khó để nhận ra giọng điệu triết luận, tự

vấn trong dòng chảy văn học đƣơng đại Việt Nam. Với khát khao khám phá

chiều sâu của cuộc sống ngổn ngang, nhà văn đƣơng đại chọn giọng điệu triết

luận, tự vấn để đặt nhân vật của mình vào những suy tƣ, dằn vặt. Từ đó, lí giải,

luận bàn thật sâu sắc những vấn đề phức tạp của cõi nhân sinh. Dấn thân trải

nghiệm cuộc sống, khám phá những chiều kích ngổn ngang, Văn Thành Lê đã có

vốn sống nhất định. Để rồi từ đó những trăn trở suy tƣ về cuộc đời của nhà văn

trẻ đƣợc lồng ghép khéo léo trong từng trang viết.

Khám phá những trang viết đậm chất đời của tác giả, không khó để nhận ra

những triết luận về cuộc đời, về cõi nhân sinh của những ngƣời trẻ sau những trải

nghiệm. Trong Hoa núi, Văn Thành Lê gửi gắm triết lý còn trẻ phải dấn thân

nhƣng không đƣợc quên cội nguồn gốc gác thông qua lời dạy của bố: “Trong tay

Miên văng vẳng tiếng bố: “ừ, vậy cuối cùng mày cũng quyết. Còn trẻ đủ sức thì

cứ đi”. “Nhƣng đừng quên mày lớn lên luống cày gốc rạ”, mẹ nói thêm” (Văn

Thành Lê, 2015, tr.85). Dù đi đâu, làm gì, bao thế hệ ngƣời Việt vẫn không thể

quên cội nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn. Điều đó đã trở thành truyền thống quý

báu của dân tộc ta. Đây sẽ là hành trang theo chân Miên đến những miền đất mới,

ở đó Miên đƣợc sống trọn vẹn với chính mình, đƣợc tự do, gạt bỏ những suy nghĩ

ngổn ngang đè nặng: phải kiếm đƣợc nghiệm đúng của cuộc đời – lấy đƣợc tấm

chồng nhƣ ý. Đến với Biết tới khi nào mưa thôi rơi, giọng điệu triết luận, tự vấn

đã mở ra những suy nghĩ của nhân vật Quỳnh khi cố gắng bám trụ lại Sài Gòn để

thoát khỏi cảnh nghèo. Lời khuyên của các bậc thánh nhân về sự siêng năng, kiên

trì để chinh phục con đƣờng thành công, in dấu chân mình trong cuộc đời một lần

nữa đƣợc khẳng định “Đời mà. Đƣờng còn dài lắm. Đƣờng xa vạn dặm. Thành

106

công không đến với những kẻ lƣời nhác và thiếu kiên trì. Thánh nhân dạy thế.

Thế là phải bám. Quyết tâm bám để gột đi cái chất cả mấy chục đời bần cố nông,

văn minh ruộng đồng” (Văn Thành Lê, 2015, tr.47). Thế nhƣng, những lúc va

vấp, những lúc lòng trĩu nặng, Quỳnh vẫn trở về bên mẹ để đƣợc thanh thản, nhẹ

lòng hơn. Tƣơng tự nhƣ Quỳnh, hắn (Ghi chú về những giấc mơ) xách ba lô lên

Tây Nguyên để gieo chữ, đem tri thức đến với bản làng. Nhƣng, những đƣờng

lối, chủ trƣơng thi đua của ông hiệu trƣởng thờ sờ khiến hắn phải cất lên lời tự

vấn: “Có không những con ngƣời đi khai sáng chữ nghĩa hay làm kinh tế ở các

vùng thâm sơn cùng cốc từng nghe từng đọc trên đài báo. Liệu có thật họ đều

xung phong, nhiệt huyết?” (Văn Thành Lê, 2015, tr.223). Để rồi từ đó, hắn soi lại

chính mình, chấp nhận dấn thân với nhiệt huyết và năng lƣợng vốn có của tuổi

trẻ. Hình ảnh “con đƣờng óng ánh lên, cũng ngoằn ngoèo và khúc khuỷu” ẩn

chứa những khó khăn, trở ngại nhƣng cũng tràn đầy hi vọng để hắn có thể tiếp

tục vừng bƣớc trên con đƣờng mình đã chọn.

Trong Tuổi hai mươi khác trở về, sau khi cùng Miên đến phòng khám sản

từ bỏ đứa con vì cả hai còn quá trẻ, chƣa chuẩn bị tâm lí để làm bố, làm mẹ, Lê

đi chôn con trên núi N. lúc 12 giờ khuya với những trăn trở: “Từ trƣớc tới giờ,

trong cái đầu ƣơng ngạnh của mình, Lê vẫn nghĩ không có âm phủ hay thiên

đƣờng nào hết. Chết là hết. Vậy thôi. Không hiểu sao giờ Lê lại tin có thiên

đƣờng đến thế, và Lê mong, cầu cho đứa con của mình sẽ về đƣợc miền ấy” (Văn

Thành Lê, 2015, tr.35). Giọng điệu triết luận, tự vấn đƣợc sử dụng để nhà văn

phơi trải quan niệm của nhân vật về cái chết và mở ra tia hi vọng về một thế giới

mới cho đứa con chƣa thành hình của mình. Sau những va vấp đầu đời, Lê thấy

nhận ra mình rõ hơn, dần trƣởng thành, bƣớc qua nỗi đau mất con để bắt đầu lại

tuổi hai mƣơi: “Có vẻ nhƣ sau tất cả, Lê bắt đầu nhận ra mình rõ hơn. Và tuổi hai

mƣơi nhƣ lại mới bắt đầu…” (Văn Thành Lê, 2015, tr.39).

Trong cuộc sống, mỗi ngƣời đều có nỗi cô độc của riêng mình, để bình yêu

chúng ta cần có gia đình: là vợ, là con. Triết luận về vai trò quan trọng của gia

đình trong cuộc sống của mỗi ngƣời đƣợc Văn Thành Lê khẳng định: “Mỗi ngƣời

là một tiểu vũ trụ, càng tiến lên thì càng bỏ xa vũ trụ lớn này. Nhƣ những ngƣời

107

nghệ sĩ đấy. Họ khóc họ cƣời trên sân khấu đấy. Nhƣng sau khi ánh điện sàn diễn

tắt, sau những tràng pháo tay, những bó hoa, những bài báo trên trời, lúc họ về

nhà nghỉ, phòng trọ, ai dám chắc họ không phải đối mặt với sự cô độc…Bạn bị

xoáy vào khoảng từ trƣờng bi kịch ấy. Bạn chới với! Cái gì có thể kéo bạn lại gần

sự bình yên? Ấy là gia đình. Là vợ. Là con” (Văn Thành Lê, 2016, tr.180,181).

Đến với Sa lan đỏ bãi Xanh, ngƣời đọc nhận ra giọng điệu triết luận, tự vấn đƣợc

sử dụng dày đặc. Triết lí về cuộc đời con ngƣời đƣợc đan cài trong mối quan hệ

vợ chồng Yên. Sự khác nhau về quan điểm sống đã đẩy mối quan hệ của hai

ngƣời đến bờ vực. Cùng làm nghề “lƣu giữ kí ức” nhƣng Yên và chồng lại khác

nhau trong cách làm việc và cách sống. Trong khi Yên trân trọng, nâng niu

những giá trị truyền thống thì chồng Yên chỉ cần có tiền chung chi trong các đề

án là đủ. Trải qua những bất đồng, Yên nhận ra: “Tình yêu – hôn nhân – gia đình

hoá ra không nhƣ phép toán. Dù ở đấy đòi hỏi phải có phép cộng của tình thƣơng

tình yêu, phép trừ của những thiếu sót cần bù đắp cho nhau, phép nhân của sự

cảm thông và chia sẻ, phép chia của tổn thƣơng và mất mát” (Văn Thành Lê,

2018, tr.117, 118). Tình cảm vợ chồng sẽ đổ vỡ, rạn nứt nếu không có sự cảm

thông, chia sẻ xuất phát từ tình yêu thƣơng: “Chia sẻ và cảm thông là ở tính

ngƣời, là từ thƣơng yêu. Nếu không hiểu nhau chỉ tổ để thiết lập mảng miếng,

thêm chiêu bài phủ định nhau” (Văn Thành Lê, 2018, tr.118). Không chỉ triết

luận về tình yêu, hôn nhân, qua sự “vỡ lẽ” của nhân vật Yên, nhà văn trẻ còn gửi

gắm quan niệm “Dò sông dò bể dễ dò/ Mấy ai lấy thƣớc để đo lòng ngƣời”. Con

ngƣời có thể tính toán với tất cả mọi thứ nhƣng không bao giờ có thể đo đƣợc

lòng ngƣời nông, sâu. Chƣa dừng lại ở đó, tƣ tƣởng “trọng nam khinh nữ” vẫn

hiện tồn trong những ngƣời có tuổi ở làng nói riêng và trong xã hội nói chung.

Trƣớc sự lột xác “nhôm nhoam” của làng, Yên khát khao giữ gìn nét đẹp văn

hoá, những giá trị truyền thống thì nhận đƣợc cái “phủi tay”, coi thƣờng, khinh

miệt của cụ cao niên có tiếng nói quan trọng nhất làng: “Đàn bà con gái biết gì,

dân ngụ cƣ ở góp mà ý kiến ý cò? Cái gì, bản sắc với văn hoá à, truyền thống với

giá trị tinh thần à? Gì thì cũng phải để làng mở mày mở mặt, đi lên với ngƣời ta

chứ” (Văn Thành Lê, 2018, tr.121).

108

Trong Vỏ anh hùng (Sa lan đỏ bãi Xanh), Văn Thành Lê gửi gắm triết lý

cuộc đời nhƣ một màn kịch mà bất cứ ai cũng có thể trở thành diễn viên: “Vốn dĩ

cuộc đời này là sân khấu lớn, ai đó từng nói vậy. Bất kể ai cũng phải diễn, theo

cách nào đó. Vấn đề là diễn nhƣ thế nào thôi” (Văn Thành Lê, 2018, tr.85). Nhân

vật Khoan trong truyện cũng vậy, đội lốt anh hùng thay ngƣời anh tên Khoán đã

mất, Khoan đƣợc mời đến các buổi mitting giao lƣu gặp gỡ, nói chuyện truyền

thống để “tiếp lửa cho thế hệ sau”. Chƣa một ngày tham chiến, Khoan đóng vai

ngƣời anh đã mất kể lại các chiến công, những trận đánh chỉ để huyện có một

anh hùng còn sống. Trò diễn này đƣợc dựng lên từ chính những ngƣời đƣơng

chức, đƣơng quyền ở địa phƣơng để ra oai với các huyện khác.

Đến với Nghĩa địa có đom đóm bay (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), triết lý

dân gian “ác giả ác báo” đƣợc gửi gắm trong suy ngẫm của nhân vật tôi khi

chứng kiến bi kịch của nhân vật Kền – ngƣời bạn cùng lớp. Thừa hƣởng “gene

máu gái của bố, Kền có lịch sử tình trƣờng dày đặc. Bản tính ham mê sắc dục

khiến Kền phải trả giá: Bị ngƣời yêu cũ cắt của quý khi chuẩn bị lấy vợ lần thứ

hai khiến hắn cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, phải chịu cảnh tuyệt tự. Giọng điệu triết

luận tự vấn đƣợc nhà văn sử dụng: “Tôi thở dài. Vậy là hết sao Kền? Có phải khi

mình luỵ cái gì đó thì bị nó hành lại không? Đời sòng phẳng thật không ăn quỵt

ai gì cả, phải không? Nhƣng sòng phẳng kiểu ấy kể cũng hơi ác. Mà chẳng biết

thế có phải ác? Liệu có phải nhƣ thế là may, may để không phải có những có đứa

con mang gene di truyền của ông và bố nó” (Văn Thành Lê, 2015, tr.98).

Thông qua giọng điệu triết luận, tự vấn, ngƣời nghệ sĩ ngôn từ bày tỏ rõ

ràng lập trƣờng, quan điểm, thái độ và suy ngẫm của chính mình. Bên cạnh đó,

giọng điệu triết luận, tự vấn cũng phô trọn vốn sống, những trải nghiệm quý giá

cùng chiều sâu tƣ tƣởng và bảo chứng tài năng đƣơng độ chín của nhà văn.

Những trải nghiệm từ góc nhìn đa diện, nhiều chiều về cuộc sống đã tạo nên

những cuộc tranh luận hấp dẫn trên từng trang viết. Không chỉ cất lên tiếng lòng

của chính mình, nhà văn còn chạm đến trái tim và khơi gợi suy ngẫm từ độc giả.

109

* Tiểu kết Chƣơng 3

Khám phá văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học, chúng tôi nhận

thấy nhà văn trẻ đã nỗ lực cách tân ngôn ngữ và tạo nên chất giọng riêng khó trộn

lẫn. Ở chƣơng này, chúng tôi đã trình bày nét đặc sắc về ngôn ngữ tự sự trong

những trang viết đậm chất đời của nhà văn 8X. Lựa chọn lối viết hiện thực, phơi

trải những gì vốn có của cuộc sống đƣơng đại, nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ

thông tục mang hơi thở cuộc sống. Những lớp từ ngữ đời thƣờng, thành ngữ, tục

ngữ, tiếng lóng, lớp từ mới đƣợc sử dụng với mật độ dày đặc tạo ấn tƣợng về một

thế giới xô bồ, hỗn tạp, nhốn nháo đƣơng đại. Mang tâm thức hậu hiện đại, trang

viết Văn Thành Lê còn sử dụng ngôn ngữ “nhại” để đả kích, châm biếm những

mặt trái, góc tối của xã hội với những con ngƣời tha hoá, biến chất. Cùng với đó

là ngôn ngữ phì đại, bành trƣớng cái biểu đạt, lối viết nhƣ kiểu “lắm lời ngộ chữ”

để tạo ấn tƣợng về thế giới hỗn độn, nguỵ tạo. Ngôn ngữ hoà kết tả và kể cũng

đƣợc nhà văn sử dụng hiệu quả để tái hiện nhịp sống đƣơng đại.

Cùng với ngôn ngữ, giọng điệu tự sự trong văn xuôi Văn Thành Lê cũng rất

đa dạng, phong phú. Với cảm quan hậu hiện đại, nhà văn trẻ sử dụng giọng điệu

giễu nhại, châm biếm, trào lộng xen lẫn giọng điệu chiêm nghiệm, suy tƣ để phơi

bày những chiều kích cuộc sống đƣơng đại. Giọng điệu triết luận, tự vấn cũng

đƣợc cất lên sau những trải nghiệm, va vấp để nhận ra những triết lí cuộc đời.

Trên hành trình khám phá vùng đất bị các nhà văn trẻ lãng quên, Văn Thành

Lê đã từng bƣớc kiến tạo ngôi nhà nghệ thuật với ngôn ngữ và giọng điệu riêng

để “nhận diện” mình trong dòng chảy văn chƣơng.

110

KẾT LUẬN

1. Từ khi đƣợc giới thiệu và tiếp nhận, tự sự học đã không ngừng mở

rộng, phát triển, đạt đƣợc những thành tựu đáng ghi nhận. Là bộ môn đặc thù của

nghiên cứu văn học, tự sự học lấy nghệ thuật tự sự làm đối tƣợng nghiên cứu, tập

trung tiêu điểm khám phá cấu trúc tầng sâu của văn bản. Thuộc thế hệ nhà văn

8X có sức viết dồi dào, Văn Thành Lê luôn làm mới chính mình, trở thành chú

“tắc kè hoa” biến hoá đa dạng với nhiều thể loại. Từ truyện viết cho thiếu nhi đến

những trang văn khai thác hiện thực đời sống hay chân dung văn học, Văn Thành

Lê đều để lại dấu ấn riêng. Dõi theo hành trình sáng tạo của nhà văn trẻ, từ tập

truyện đầu tay Hình như là tình yêu đến tập chân dung văn học Lần đường theo

bóng, mỗi tác phẩm trình làng là những thể nghiệm để định vị phong cách của

chính mình. Trƣởng thành qua từng trang viết, văn xuôi Văn Thành Lê hấp dẫn

ngƣời đọc bởi kĩ thuật tự sự, lối tƣ duy nhạy bén, sắc sảo và chất sống dồi dào.

2. Từ góc nhìn tự sự, chúng tôi nhận thấy điểm nổi bật góp phần làm nên

thành công của nhà văn chính là việc chú trọng xây dựng cốt truyện. Bên cạnh

cốt truyện truyền thống: cốt truyện tuyến tính tuân thủ trật tự thời gian, những

kiểu cốt truyện hiện đại: cốt truyện gấp khúc, cốt truyện kịch hoá và cốt truyện

tâm lí cũng đƣợc nhà văn chọn lựa để phản ánh, cảm nhận hiện thực thông qua

lăng kính của riêng mình. Nếu cốt truyện gấp khúc giúp nhà văn phơi trải cuộc

sống đƣơng đại đa diện, nhiều chiều thì cốt truyện tâm lí lại gợi ra những hoang

mang trong vòng xoay cuộc sống. Còn cốt truyện kịch hoá dựng lên những màn

bi hài kịch cƣời ra nƣớc mắt, “ngẫm mà đau”. Việc vận dụng linh hoạt các kiểu

cốt truyện khiến những trang viết về cuộc đời trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

Cùng với cốt truyện, văn xuôi Văn Thành Lê còn có nhiều thể nghiệm mới

mẻ ở nghệ thuật kết cấu. Với cảm quan hậu hiện đại, nhà văn trẻ đã dẫn dắt

ngƣời đọc vào trò chơi kết cấu, vẫy gọi độc giả đồng sáng tạo. Với kết cấu song

hành, Văn Thành Lê đồng hiện hai mạch truyện với những lằn ranh mong manh

đòi hỏi ngƣời tiếp nhận phải đọc thật kĩ mới có thể thẩm thấu. Cùng với đó, kết

cấu tƣơng phản, đối lập đƣợc sử dụng để khám phá những mảng tối, góc khuất

của xã hội kim tiền. Nhằm giải thiêng, phá vỡ cấu trúc truyền thống, Văn Thành

111

Lê sử dụng kết cấu phân mảnh, lắp ghép của điện ảnh để ngƣời đọc tự xâu chuỗi

trở thành ngƣời đồng sáng tạo. Sự thay đổi kết cấu linh hoạt phù hợp với dụng ý

nghệ thuật của mình chính là điểm sáng trong những trang viết đậm đặc chất đời

của nhà văn trẻ ƣa thể nghiệm.

Khám phá văn xuôi Văn Thành Lê từ góc nhìn tự sự học, sẽ thật thiếu sót

nếu bỏ qua ngôn ngữ và giọng điệu tự sự. Trong những trang viết hôm nay,

ngƣời đọc dễ dàng nhận ra ngôn ngữ và chất giọng đặc trƣng của Văn Thành Lê.

Nếu truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn trẻ trong sáng, nhẹ nhàng phù hợp với

tâm lí lứa tuổi thì những trang viết khám phá đời sống đƣơng đại, chúng tôi nhận

thấy một Văn Thành Lê rất khác, nói thẳng, nói thật bằng giọng giễu nhại, trào

lộng đặc trƣng mang dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại. Khát khao phơi trải hiện

thực nhƣ nó vốn có, văn xuôi Văn Thành Lê sử dụng đậm đặc ngôn ngữ thông

tục mang hơi thở cuộc sống và ngôn ngữ “nhại”. Cùng với đó là ngôn ngữ phì đại

và ngôn ngữ hoà kết tả và kể rất phù hợp để tái hiện những chiều kích của cuộc

sống với guồng quay hối hả.

Đi cùng với ngôn ngữ là giọng điệu tự sự biến đổi linh hoạt, kết hợp

nhuần nhị tạo nên tính đa thanh. Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tƣ gửi gắm

những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời sau những trải nghiệm. Còn giọng điệu triết

luận, tự vấn ẩn chứa những triết lí nhân sinh đƣợc đan cài khéo léo. Và giọng

điệu giễu nhại đặc trƣng – hƣớng đi anh định vị mình khi chọn gắn bó với nghiệp

viết đã tạo những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng độc giả. Trong khi thế hệ

cùng thời chọn lối viết hƣớng nội, khuynh hƣớng viễn mơ thì Văn Thành Lê kiên

định với lối viết hiện thực, bám riết cuộc sống ngổn ngang đƣơng đại để tạo nên

những trang viết đậm chất đời. Những nỗ lực cách tân, đổi mới lối viết không

ngừng nghỉ qua ngôn ngữ và giọng điệu tự sự đã giúp nhà văn 8X từng bƣớc

khẳng định mình trên mảnh đất văn chƣơng chỉ dung nạp những ngƣời luôn sáng

tạo.

3. Bằng sự duyên dáng, sắc sảo của ngòi bút đã neo đậu trong lòng độc giả

thời công nghệ số, Văn Thành Lê khéo léo đánh lừa độc giả, tƣởng chừng chỉ là

những câu chuyện bình thƣờng trong cuộc sống đa chiều nhƣng đằng sau đó là

112

những mặt trái, những vệt đen khiến bản thân không khỏi cay đắng, xót xa. Một

cuộc sống hỗn độn, ngổn ngang với mọi giá trị bị đảo lộn khiến con ngƣời hoang

mang, day dứt, trăn trở đƣợc mở ra qua ngòi bút biến hoá linh hoạt, hóm hỉnh, “lạ

hoá” những điều mắt thấy, tai nghe. Qua những trang viết đậm chất đời, Văn

Thành Lê đã mở ra vùng giao thoa tích cực, “vẫy gọi” ngƣời đọc cùng tham gia

vào quá trình sáng tạo.

Trong khuôn khổ của luận văn, một số tiêu điểm nghiên cứu của lí thuyết

tự sự chƣa đƣợc khai thác, đi sâu nên ít nhiều vẫn còn những mặt tồn tại. Tuy

nhiên, qua công trình này, chúng tôi hi vọng có thêm những phƣơng pháp tiếp

cận mới để khám phá chiều sâu văn xuôi Văn Thành Lê.

113

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

1. Tăng Thị Hƣơng. (2021). “Nhân vật chấn thương trong Mười ba bến

nước của Sương Nguyệt Minh với Bến đàn bà của Nguyễn Mạnh Hùng – những

điểm tương đồng và khác biệt”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học

viên sau đại học lần thứ V – 2021. Đại học Thủ Dầu Một, tr.2201 – 2211.

2. Tăng Thị Hƣơng, Lê Thị Hòa & Lê Thị Nga. (2021). “Văn học thiếu nhi

với việc giáo dục trẻ em hôm nay (trường hợp sáng tác của Võ Diệu Thanh và

Văn Thành Lê)”. Tạp chí Khoa học Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí

Minh, Tập 18, số 10 (2021), tr.1867 – 1878.

3. Tăng Thị Hƣơng. (2021). “Thủ pháp mờ hóa trong tập truyện Thừa ra

một người của Văn Thành Lê”. Hội thảo Khoa học quốc tế Văn hóa và Giáo dục

lần thứ II (ICCE - 2021). Đại học Sƣ phạm Huế, tr.711 – 721.

4. Tăng Thị Hƣơng. (2022). “Chất nghịch dị trong Không biết đâu mà lần

của Văn Thành Lê”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học viên sau đại

học lần thứ VI – 2021. Đại học Thủ Dầu Một, tr.533 – 545.

114

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tác phẩm đƣợc khảo sát trong luận văn

1. Văn Thành Lê. (2014). Không biết đâu mà lần. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà

xuất bản Trẻ.

2. Văn Thành Lê. (2015). Biết tới khi nào mưa thôi rơi. Hà Nội: Nhà xuất bản

Văn học.

3. Văn Thành Lê. (2016). Thừa ra một người. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất

bản Trẻ.

4. Văn Thành Lê. (2018). Sa lan đỏ bãi xanh. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất

bản Tổng hợp.

II. Tài liệu in

chí Văn học nghệ thuật. Số 335 (tháng 5 năm 2012).

5. Bùi Thanh Truyền, Lê Biên Thùy. (2011). Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu hiện đại. Tạp

6. Bùi Việt Thắng. (2011). Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể

loại. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia.

7. Đàm Thị Thanh Trà. (2016). Nghệ thuật giễu nhại trong tiểu thuyết Ba Ngôi

Của Người của Nguyễn Việt Hà. Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn. Đại học Huế.

8. Đặng Việt Hƣng. (2019). Nghệ thuật tổ chức tự sự trong truyện ngắn Sương

Nguyệt Minh. Luận văn Thạc sĩ. Đại học Thái Nguyên.

9. Đoàn Vũ Công Hoài. (2017). Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 –

1985. Luận án Tiến sĩ. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Hà Nội.

10. Đồng Nguyễn Minh Hằng. (2015). Đặc điểm ngôn ngữ người trần thuật

trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống. số 8 (238).

11. Hoàng Dĩ Đình. (2015). Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau

1975. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

12. Hoàng Thị Thuỳ Linh. (2012). Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn

Bình Phương. Luận văn Thạc sĩ. Đại học Quốc gia Hà Nội.

13. Hoàng Thuỵ Anh. (2022a). Sự thật là đoá hoa lộng lẫy. Hà Nội: Nhà xuất

bản Hội Nhà văn.

115

14. Hoàng Thuỵ Anh. (2022b). Gia đình – trong điểm nhìn lƣỡng trị của Văn

Thành Lê. Tạp chí Nhật Lệ. Số 326, 5/2022.

15. Hoàng Thuỵ Anh. (2022c). Những trăn trở về giáo dục trong một số tác phẩm

của Văn Thành Lê. Tạp chí Non Nước. Số 291, 5/2022.

16. Hoàng Thuỵ Anh. (2022d). “Sân khấu” văn học nghệ thuật. Tạp chí Sông

Lam. Số 24, 6/2022.

17. Hồ Thị Ngọc Tài. (2017). Tiếng nói đối thoại về giáo dục trong Không biết

đâu mà lần và Thừa ra một người của Văn Thành Lê. Báo cáo Khoa học Trƣờng

Đại học Sƣ Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

18. Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. (2022). Nhà văn nói về nghề. Thành

phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn học.

19. Huỳnh Thị Thu Hậu. (2017). Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam

từ 1986 đến 2012. Luận án Tiến sĩ Văn học Việt Nam. Đại học Huế.

20. Lại Nguyên Ân. 150 thuật ngữ văn học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc

gia.

21. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007). Từ điển thuật ngữ văn

học. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Giáo dục.

22. Lê Huy Bắc. (2012). Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và tiếp nhận. Hà Nội:

Nhà xuất bản Đại học Sƣ Phạm.

23. Lê Hƣơng Thuỷ. (2019). Truyện ngắn Việt Nam đương đại - Diễn trình và

động hướng. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia.

24. Lê Thị Quyên. (2019). Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Mắt bão, Ngựa thép,

Luật chơi của Phan Hồn Nhiên. Luận văn Thạc sĩ. Viện Hàn lâm Khoa học Xã

hội Việt Nam.

25. Ngô Thị Dung. (2016). Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn.

Luận văn Thạc sĩ Văn học. Đại học Quốc gia Hà Nội.

26. Nguyễn Đăng Mạnh. (1994). Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà

văn. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

27. Nguyễn Đức Toàn. (2016). Văn xuôi Việt Nam đương đại – hiện tượng và bút

pháp. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

116

28. Nguyễn Hồng Dũng, Nguyễn Xuân Thành. (2018). Ngôn ngữ giễu nhại trong

văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Huế. Tập 127. Số

6C. Trang 158-166.

29. Nguyễn Minh Châu, Tôn Phƣơng Lan. (2002). Trang giấy trước đèn. Hà Nội:

Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

30. Nguyễn Thị Minh Hằng. (2022). Nghệ thuật giễu nhại trong văn xuôi Văn

Thành Lê. Luận văn Thạc sĩ. Đại học Huế.

31. Nguyễn Thị Thu Thủy. (2016). Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể. Hà

Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

32. Nguyễn Thị Yên Hà. (2016). Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dưới góc nhìn

tự sự học. Luận văn Thạc sĩ Lí luận văn học. Đại học Quốc gia Hà Nội.

33. Nguyễn Văn Dân. (2004). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Hà Nội:

Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

34. Nguyễn Văn Đấu. (2001). Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại

(Trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945). Luận án Tiến

sĩ. Đại học Sƣ phạm Hà Nội.

35. Nguyễn Văn Nhƣợng. (2020). Muôn nẻo đường văn. Hà Nội: Nhà xuất bản

Thanh Niên.

36. Nguyễn Xuân Thành. (2020). Nhân vật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam

đƣơng đại. Tạp chí khoa học và công nghệ. Tập 15, Số 3. Trƣờng Đại học Huế.

37. Phạm Thị thu Hoài, Trần Thị Thanh. (2018). Tiếng lóng trong truyện về đề

tài giáo dục của Văn Thành Lê. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái

Nguyên. Tập 183 (7). Trang 9-14.

38. Phạm Thị Thùy Trang. (2016). Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt

Nam từ 1986 đến 2000. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh.

39. Phan Mạnh Hùng. (2017). Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ trước

1932. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí

Minh.

117

40. Phùng Gia Thế. (2016). Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong

văn xuôi Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986 - 2012). Hà Nội: Nhà xuất bản Đại

học quốc gia.

41. Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa,

Thành Thế Thái Bình. (2006). Lí luận văn học. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

42. Phƣơng Lựu. (2011). Lí thuyết văn học hậu hiện đại. Hà Nội: Nhà xuất bản

Đại học Sƣ Phạm.

43. Thái Phan Vàng Anh. (2017). Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – Lạ hoá

một cuộc chơi. Huế: Nhà xuất bản Đại học Huế.

44. Trần Đình Sử. (2007). Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử (tập 1).

Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm.

45. Trần Đình Sử. (2015). Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử (tập 2).

Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm.

46. Trần Đình Sử. (2017a). Dẫn luận thi pháp học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại

học sƣ phạm.

47. Trần Đình Sử. (2017b). Tự sự học – Lý thuyết và ứng dụng. Hà Nội: Nhà xuất

bản Giáo dục Việt Nam.

48. Trần Thị Phƣơng Anh. (2018). Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Lê Minh

Khuê (Qua hai tập truyện Nhiệt đới gió mùa và Làn gió chảy qua). Luận văn

Thạc sĩ. Đại học Thái Nguyên.

49. Trần Thị Phƣơng Loan. (2010). Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Sương

Nguyệt Minh. Luận văn Thạc sĩ. Trƣờng ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại

học Quốc gia Hà Nội.

50. Trần Văn Hải. (2019). Giọng điệu tự sự trong tiểu thuyết Đỗ Tiến Thuỵ. Tạp

chí Khoa học Đại học Sài Gòn, số 63, tr.69-77.

51. Văn Thành Lê. (2016). Văn chƣơng, tôi bƣớc vào và tôi đã thấy. Tham luận

tại Hội Nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX.

52. Văn Thành Lê. (2017). Viết, là tôi đang đào bới, đục khoét chính tôi. Tạp chí

Sông Hương (335).

III. Tài liệu trên internet

118

53. Ái Nhi. (2018). Cười mà ngẫm, ngẫm mà đau. Khai thác từ :

https://nhandan.vn/baothoinay-vanhoavannghe-docsach/cuoi-ma-ngam-ngam-

ma-dau-340286. Ngày truy cập: 05/07/2021.

54. An Sơn. (2016a). Nhà văn Văn Thành Lê: Đường văn là đường chạy

marathon. Khai thác từ : https://zingnews.vn/nha-van-van-thanh-le-duong-van-

la-duong-chay-marathon-post628729.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

55. An Sơn. (2016b). Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Nếu chỉ có vốn sống thì ai cũng

có thể viết văn. Khai thác từ : https://anninhthudo.vn/nha-van-tre-van-thanh-le-

neu-chi-co-von-song-thi-ai-cung-co-the-viet-van-post268303.antd. Ngày truy

cập: 05/07/2021.

56. Hoàng Quý. (2018). Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Buồn vui thời mình. Khai

thác từ :

http://daidoanket.vn/tinh-hoa-viet/nha-van-tre-van-thanh-le-buon-vuithoi-minh-

tintuc424589. Ngày truy cập: 05/07/2021.

57. Hồ Sơn. (2021). Nhà văn Văn Thành Lê: Viết cho tuổi học trò thì nên vui.

Khai thác từ : https://www.sggp.org.vn/nha-van-van-thanh-le-viet-cho-tuoi-hoc-

tro-thi-nen-vui-707880.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

58. Khánh Hùng. (2018). Vòm me xanh và những tháng ngày xanh cùng câu chữ.

Khai thác từ:

http://teen360.muctim.com.vn/view/Vom_me_xanh_va_nhung_thang_ngay_xan

h_cung_cau_chu-54347.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

59. Kim Nhung. (2018). Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Định vị mình trước khi chạm

tới người khác. Khai thác từ: http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-

nghe/nha-van-van-thanh-le-dinh-vi-minh-truoc-khi-cham-toi-nguoi-khac-

11543_5431.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

60. Lê Minh Quốc. (2012). Thơ Văn Thành Lê. Khai thác từ:

https://leminhquoc.vn/the-loai-khac/tac-pham-cua-ban-be/1131-tho-van-thanh-

le.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

119

61. Mỹ Ngọc. (2016). Thừa ra một người – Tập truyện của Văn Thành Lê. Khai

thác từ : https://vannghedanang.org.vn/thua-ra-mot-nguoi-tap-truyen-van-thanh-

le-1240.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

62. Ngọc Lợi. (2016). Đọc “Thừa ra một người” của Văn Thành Lê: Tơ lòng

ngổn ngang. Khai thác từ: https://zingnews.vn/phai-chang-cuoc-doi-la-mot-vo-

hai-kich-post884135.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

63. Ninh Thanh. Văn Thành Lê hoài niệm tuổi thơ trong “Trên đồi, mở mắt và

mơ”. Khai thác từ: https://vnexpress.net/van-thanh-le-hoai-niem-tuoi-tho-trong-

tren-doi-mo-mat-va-mo-3667083.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

64. Phan Hải Anh. (2015). Không biết đâu mà lần: Cuốn sách về những hoang

mang của tuổi trẻ. Khai thác từ:

https://theamazingeggplant.blogspot.com/2015/01/khong-biet-au-ma-lan-cuon-

sach-ve-nhung.html. Ngày truy cập: 10/07/2021.

65. Phùng Gia Thế. (2013). “Tính chất các-na-va trong ngôn ngữ văn xuôi Việt

Nam đương đại”. Khai thác từ: https://toquoc.vn/tinh-chat-cacnavan-trong-ngon-

ngu-van-xuoi-viet-nam-duong-dai-99113906.htm. Ngày truy cập: 10/07/2021.

66. Quỳnh Anh. (2021). Tắc kè hoa hiền lành. Khai thác từ:

http://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Van-hoa/993201/tac-ke-hoa-hien-lanh. Ngày truy

cập: 05/07/2021.

67. Thanh Trịnh. (2012). Văn Thành Lê: “Tôi là người thích tưởng tượng”. Khai

thác từ: https://tuoitre.vn/van-thanh-le-toi-la-nguoi-thich-tuong-tuong-

506501.htm. Ngày truy cập: 10/07/2021.

68. Thái Phan Vàng Anh. Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại. Khai thác từ: http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-

hoa/nhin-ra-the-gioi/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/1379-giong-dieu-tran-thuat-

trong-tieu-thuyet-viet-nam-duong-dai. Ngày truy cập: 10/07/2021.

69. Thụy Oanh. (2018). Phải chăng cuộc đời là một vở hài kịch. Khai thác từ:

https://zingnews.vn/phai-chang-cuoc-doi-la-mot-vo-hai-kich post884135.html.

Ngày truy cập: 05/07/2021.

120

70. Thúy Miên. (2016). Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Trang văn trang sống. Khai

thác từ: https://thoibaonganhang.vn/nha-van-tre-van-thanh-le-trang-van-trang-

song-46332.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

71. Trần Đình Sử. Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay Khai

thác từ: https://phebinhvanhoc.com.vn/khai-niem-dien-ngon-trong-nghien-cuu-

van-hoc-hom-nay/. Ngày truy cập: 15/07/2021.

72. Trần Huy Minh Phƣơng. (2015). Không biết đâu mà lần. Khai thác từ:

https://www.phunuonline.com.vn/khong-biet-dau-ma-lan-a77269.html. Ngày

truy cập: 05/07/2021.

73. Trịnh Sơn. (2014). Có hay không một thế hệ “Không biết đâu mà lần”. Khai

thác từ: https://toquoc.vn/co-hay-khong-mot-the-he-khong-biet-dau-ma-lan-

99124942.htm. Ngày truy cập: 10/07/2021.

74. Tƣờng Vy. (2018). Nhà văn trẻ Văn Thành Lê: Khi đam mê là nghiệp viết.

Khai thác từ: https://www.sggp.org.vn/nha-van-tre-van-thanh-le-khi-dam-me-la-

nghiep-viet-492715.html. Ngày truy cập: 05/07/2021.

75. Việt Quỳnh. (2019). “Nhà văn Văn Thành Lê: Mỗi người lớn đều có bóng

dáng trẻ con”. Khai thác từ: http://daidoanket.vn/nha-van-van-thanh-le-moi-

nguoi-lon-deu-co-bong-dang-tre-con-438462.html. Ngày truy cập: 10/07/2021.

76. Vƣơng Quốc Hùng. (2012). Viết để giãi bày cảm xúc và đo trí tưởng tượng

của mình. Khai thác từ: https://toquoc.vn/viet-de-giai-bay-cam-xuc-va-do-tri-

tuong-tuong-cua-minh-99110181.htm. Ngày truy cập: 10/07/2021.

77. Yến Thanh. (2016). “Trò chơi ngôn ngữ trong “Không biết đâu mà lần” của

Văn Thành Lê”. Khai thác từ: http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-

nghe/tro-choi-ngon-ngu-trong-khong-biet-dau-ma-lan-cua-van-thanh-le

9544_676.html. Ngày truy cập: 10/07/2021.

121

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

BẢNG KHẢO SÁT CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU

TRONG VĂN XUÔI VĂN THÀNH LÊ

Cốt truyện

Tên truyện

Tuyến tính Gấp khúc Tâm lí Kịch hóa Song hành

Kết cấu Tƣơng phản đối lập Phân mảnh lắp ghép

3 5 2 12 2 9 5

x x

x x

x x

x x

x x x x

x x

x x x x

x x

x x

x x

x x

x x

x x x x x x x x x x

4 5 1 6 2 7 6

Tập truyện: Biết tới khi nào mưa thôi rơi 1. Xóm Trọ 2. Tuổi hai mươi khác trở về 3. Biết khi nào mưa thôi rơi 4. Thư gửi người bạn thân 5. Thiên đường gọi tên 6. Hoa núi 7. Nghĩa địa có đom đóm bay 8. Quẩn quanh dưới trời 9. Sẽ trôi về đâu 10. Ánh trăng trên ô cửa toa tàu 11. Người đàn bà hát tình ca trong mưa 12. Bao giờ đi hết giấc mơ 13. Đất vỡ 14. Ghi chú về những giấc mơ 15. Vá lại ngày đã qua 16. Hun hút cửa sông 17. Lão…vẫn hành quân 18. Thoát nghèo 19. Biến mất không đều Tập truyện: Thừa ra một người 1. Kẻ rao bán 2. Giấc mơ bị đánh cắp x x x x

P1

Cốt truyện

Tên truyện

Tuyến tính Gấp khúc Tâm lí Kịch hóa Song hành

x x x Kết cấu Tƣơng phản đối lập Phân mảnh lắp ghép x x x x x

x x

x x x x x x x x

x x

x x x

x x

x x

2 2 5 4 8 0 3

x x x x

x x

x x x x x x x x x x x x

x x

x x x

3. Si sẽ lại xanh 4. Người canh sương 5. Rũ bùn mà đi 6. Đời lâng lâng 7. Chim cánh cụt biết bay 8. Khe Mung Lung 9. Khúc mơ hoang 10. Nụ hôn ảo 11. Thừa ra một người 12. Tiếng vọng phía xa xăm 13. Buổi sáng khác lạ 14. Xúc cảm 15. Mẹ, con và những khoảng trống 16. Bến mê Tập truyện: Sa lan đỏ bãi Xanh 1. Đầu năm đi chùa 2. Hạ huyệt an toàn 3. Hoàng tử tuối xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn 4. Vỏ anh hùng 5. Chung chiêng hẻm cụt 6. Sa lan bãi cỏ xanh 7. Ngoài mọi quy luật 8. Giăng lưới bắt chim 9. Làm gì có báo lá cải 10. Lấy chồng à? Chuyện nhỏ! 11. Đi nửa ngày đàng 12. Nhà thơ cấp nước Không biết đâu mà lần Không biết đâu mà lần Tổng cộng 8 x 1 x 13 14 1 x 10 23 13 14

PHỤ LỤC 2

P2

BẢNG KHẢO SÁT NGÔN NGỮ THÔNG TỤC TRONG TRUYỆN VĂN THÀNH LÊ

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

14 18 26 52 31

Thọt của quý (tr.11) Tập truyện: Biết tới khi nào mưa thôi rơi 1. Xóm Trọ Đối thoại ngày mới (tr.10)

Đào Kiều Ân Đào cần yêu (tr.10) Teo nhà tóp cửa (tr.13) Ngực chạm ngực (tr.14) Trận cầu nảy lửa (tr.11)

Tao lấy gì nhà mày hả con đĩ già mồm! (tr.12) Chỉ có đĩ mới có cách làm tình nhƣ lợn (tr.12)

U u minh minh (tr.21)

2. Tuổi hai mươi khác trở về Rối tung rối mù (tr.24)

Romantic (tr.22)

Điệp khúc chào buổi sáng (tr.18) Một phút huy hoàng (tr.20) Cái ngàn vàng (tr.21) Thiên lôi tập thể dục (tr.27) Vùng thiêng liêng (tr.28) Đúng lúc ấy, tiếng sét rạch toang hoác bầu trời. Thạo Miên giật mình.

P3

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Cần ăng-ten (tr.53)

3. Biết tới khi nào mưa thôi rơi Thẳng tƣng nhƣ ruột ngựa (tr.46) Và Lê cũng hốt hoảng, vỡ òa dòng nham thạch, xé toạc tuổi hồn nhiên (tr.28) Lần sau có muốn sƣớng thì nhớ bắt nó "đi ủng" vào nhé (tr.33) Niềm vui thƣờng xuyên à kéo ga hết cỡ (tr.42)

Ăng-ten (tr.54) Lên chiến mã (tr.43)

Đếch biết phải mình là con gái không? Hay mình lƣỡng tính mẹ nó rồi (tr.52) Nhiều khi tao còn đếch khiến đƣợc tao nữa là (tr.52) Bye bye (tr.54)

Lại thêm một con cá nữa bị úp vào nơm và chuẩn bị lên thớt (tr.50) Khách sạn ngàn sao (tr.50) Quỳnh nói

P4

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

với bạn bè là "ổ chó" của mình (tr.54) Căn phòng sẽ đƣợc mặc áo mới (tr.55)

ăn không ngồi rồi (tr.58) 4. Thư gửi người bạn thân

Click (tr.57) Và mình tha hồ xổ ra hết những gì đã học với học sinh (tr.59)

Email và chat (tr.57) Bó tay toàn tập (tr.59) Bầu ngực (tr.69) 5. Thiên đường gọi tên

Ngực (76)

Bác sĩ bảo sắp đi rồi (tr.70) Một nửa hồn mất, một nửa hồn hóa dại khờ (tr.73)

Trân trân vào ngực nàng (tr.76) 6. Hoa núi

Bách niên giai lão (tr.79) Thay da đổi thịt (tr.79)

Thò lò mũi xanh (tr.79) Lấy chông từ thuở mƣời ba, tới khi mƣời tám em đà năm con (tr.82)

7. Nghĩa Thằng xỏ Răng thì còn Ngỏm củ Thừa sống

P5

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

lá (tr.93) tỏi (tr.92) thiếu chết (tr.92) địa có đom đóm bay

mà các tút chẳng còn (tr.97) Trông sạch mắt (tr.97) Của thiên trả địa (tr.97)

Đáng đời, chim chuột lắm vào, giờ lãnh án (tr.96)

Ngực (tr.100) Email (tr.100) 8. Quẩn quanh dưới trời Tả xung hữu đột (tr.102) Đếch có mấy ngƣời nhƣ anh (tr.106)

Chim teo (tr.106) Blog (tr.100)

Chết không kịp ngáp (tr.105)

Facebook (tr.100) Đồng ra đồng vào (tr. 105) Cuộc tổng tiến công thu chiến lợi phẩm rồi về là êm (tr.95) Đóng cửa kiểm kê "thu nhập cá nhân" (tr.95) Răng thì còn mà các tút chẳng còn (tr.97) Vậy anh còn thích con chó cái này nữa không? (tr.100) Khởi công động thổ cái ao có ba bờ hình tam giác cỡ chiếc lá sung rồi thả vào đó vài nghìn con hình thù giống nòng nọc là xong (tr.103) Vậy anh còn thích con chó cái Chỉ ngực và mông phát triển

P6

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.106)

này nữa không? (tr.109)

9. Sẽ trôi về đâu Híc hic. Hí hí (tr.121)

Coi trời bằng vung (tr.106) Vắng tanh nhƣ chùa bà đanh (tr.118) Áo ních vào ngực căng nhƣ chim cu cu (tr.121)

Hu hu (tr.123) Chó chui gầm chạn (tr.127)

Sờ tốp (tr.131)

Bụt chùa nhà không thiêng (tr.132)

Ét - vê (tr.134)

Sƣớng củ gì (tr.135) Hắn luôn đƣợc xem là "Sao" của trƣờng về thành tích học tập (tr.113) Đã rơi vào thế "thôi rồi Lƣợm ơi" (tr.114) Anh thầy có ghi bàn. Nhƣng là một cú phản lƣới nhà. Hay sút không chính xác. Nhầm cầu gôn (tr.124) Và tạch. Thế là hết đời trai (tr.126) Hộ pháp (tr.126)

Gà què ăn quẩn cối xây (tr.132) Bụt chùa nhà không thiêng (tr.132) Tốt mái hại trống (tr.133)

Hắn là có tí mắm tí muối (tr.132) Gà què

P7

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Hehe (tr.142) Đông nhƣ kiến (tr.139)

10. Ánh trăng trên ô cửa toa tàu

(tr.132) Phòng không vƣờn trống (tr.132) Chàng chợt nghĩ không biết có cặp nào đi tàu thế này mà làm đƣợc cái việc kia không? (tr.153)

Bị "biểu" thì phải "phát" thôi (tr.146)

Xem nhƣ chỉ để…làm cảnh (tr.158)

11. Người đàn bà hát tình ca trong mưa

Vitamin gâu gâu (tr.163) Tòa thiên nhiên (tr.170) Sống nhăn răng (tr.179) 12. Bao giờ đi hết giấc mơ Bầu ngực trắng nõn (tr.169)

Chó nối đuôi (tr.170) Nói trƣớc quên sau (tr.180) Bả cái đét vào mông (tr.176)

Biết mùi đời (tr.171) Đem chim đi (tr.180) Xem trời bằng vung (tr.185)

Hùng hục húc vào Ông đếch cần vẫn bắt đƣợc Mỹ (tr.174) Ai bảo chơi trò mất dạy. Thất đức (tr.181) Đồ khốn nạn mày hại đời tao (tr.182) Mất dạy. Cút

P8

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ

Từ chửi thề văng tục (tr.182)

xong (tr.176) Đem chim đi…đánh nhà ngƣời chán (tr.180)

13. Đất vỡ Ễnh bụng (tr.181)

Tức ông cái cục cứt không thối. Không có ông thì làng này héo lâu rồi, héo rũ rƣợi. Chúng mày phải cảm ơn ông mới đúng, nhá. Không có ông, nhá, cả lũ vợ chúng mày có phùng phùng, phơn phởn, tƣơi rói đến lúc này mà đón chúng mày về không, nhá (tr.182) Đƣợc cái giàu đếch chịu đƣợc (tr.197) Chết không kịp ngáp (tr.200)

Mắt mũi mông má mềm mềm mong mỏng mòng mọng, nhìn đã thấy sƣớng rồi (tr.197) Rồi da rồi Mẹ, quân Chết bất

P9

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ

vú (tr.201) đắc kỳ tử (tr.201)

Từ chửi thề văng tục có tiền mắt bao giờ cũng sáng (tr.197) Bố thằng có tiền nào mà chịu ngồi yên nổi (tr.197) Đau khổ cứt khô (tr.207) Thế lực thù địch (tr.208) Lẩn nhƣ chạch (tr.211)

14. Ghi chú về những giấc mơ "Ao" (tr.209)

Tàu há mồm (tr.210)

Ngồi mát ăn bát vàng (tr.224) Ăn cỗ đi trƣớc lội nƣớc theo sau (tr.224)

Ngƣời chứ gà đâu mà năm nào cũng đẻ (tr.211) Sau vụ mấy cô bị thập diện mai phục đã đồng loạt hiệp đồng tung chiêu lá thƣ gửi trọn nghĩa tình lên trên (tr.213)\ Sinh sản vô tính (tr.214)

P10

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Cũng giáo viên giỏi cấp tỉnh đấy. Chiến sĩ thi đua vài năm rồi đấy. Giờ làm coi nhƣ là zê rô hết. Về mo (tr.215) Cơ thể suy nhƣợc èo uột (tr.218)

15. Vá lại ngày đã qua

Rét tháng ba bà già chết cóng (tr.227)

Thà mày cứ ỉa vào mặt tao còn hơn (tr.230) Mâm son làm gì có chỗ để đựng đũa mốc (tr.229)

16. Hun hút cửa sông

Xe nghé tan đàn (tr.245) Máu mủ ruột rà (tr.246) Bán thốc bán tháo (tr.252)

Laptop (tr.278)

17. Lão…vẫn hành quân 18. Thoát nghèo 19. Biến mất không đều

Mẹ kiếp! Cƣời cái lông nách ông (tr.286) Ram (tr.278) Mozill

P11

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Log off (tr.279)

30 1 91 27 73

Tập truyện: Thừa ra một người 1. Kẻ rao bán Đi tàu sáu ván (tr.11) Mang nặng đẻ đau (tr.6)

Vách ngăn (tr.14)

Nhân-cách- phòng-thí- nghiệm (tr.6) Con-ngƣời- ít-tính-nhân- văn (tr.6) Lơ tơ mơ (tr.7) Đau nhƣ búa bổ (tr.11) Thập tử nhất sinh (tr.21)

Click (tr.7)

Link (tr.7)

Chat (tr.8)

Giấc mơ ƣớt nƣớc thuở mƣời ba (tr.15) Sáng ra quần dùi kịp có vài tảng "bánh đa khô" với mùi nồng nàn hăng hắc (tr.16) Khách hàng chƣa hẳn đã "đậu" nhƣ mong muốn (tr.18) Sau lần "chuyển giao trực tiếp" (tr.18) Chat (tr.8) Web camera

P12

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.9) Ok (tr.9) Một lô xích xông (tr.10) Tê tê (tr.11) Link (tr.13) Email (tr.13) Chat (tr.13) Ok (tr.13) Hihi (tr.14) Ak (tr.14) Log off (tr.15) Barie (tr.15) Khóc bù lu bù loa (tr.19) Xất bất xang bang (tr.20) Karaoke (tr.25) Bờ ngực (tr.26) Cá mè một lứa (tr.23) 2. Giấc mơ bị đánh cắp

Núm cau (tr.27) Nơ-ron thần kinh (tr.26)

Chúi mắt chúi mũi (tr.26)

Vài li rƣợu cuốc lủi pha cồn chấm thuốc sâu cùng nải chuối xanh (tr.23) Tinh thần AQ khi gặp những thứ chẳng lấy làm vui (tr.23) Bệ đỡ núi đôi (tr.32)

Camera (tr.26) Handycam (tr.26) Sony (tr.26) Klein, H&M, Marks &

P13

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

3. Si sẽ lại xanh Thằng oắt con (tr.42) Spencer, Impetus (tr.30) Leo lét xanh (tr.32) Lủng bủng xám (tr.32) Rằng-thì-là (tr.34)

Tần-số- miệng-anh- cu-mõ (tr.34) Chim phải trời cá phải nƣớc (tr.35)

Xem trời bằng vung (tr.39) Nâng trứng hứng nhƣ hứng hoa (tr.39) Xôi hỏng bỏng không (tr.41)

Ha ha. He he. Hê hê (tr.39) Phẹt rẹt phẹt rẹt rẹt rẹt (tr.41)

4. Người canh sương 5. Rũ bùn mà đi Hai núm cau (tr.64)

Nói toẹt ra là đi đái (tr.61) A lô xô xáp vào nhau (tr.62) Xả nƣớc cứu thân (tr.61) Gửi tình yêu vào đất (tr.61) Chết đi sống lại (tr.60) Ăn tƣơi nuốt sống (tr.62)

Ra ngơ vào ngẩn (tr.65)

Loài chim không bao giờ bay (tr.66) Ngực chạy xuống mông, vòng ba to (tr.66) Vòng con nuôi, vòng Mercedes cáu cạnh màu trắng trang nhã (tr.71) Camry, Audi, Cởi trần tắm mƣa

P14

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.65)

mang con, vòng sinh con (tr.66) Bờ ngực thiếu nữ (tr.70) Thọc gậy bánh xe (tr.65-66)

Mông (tr.72) Lexus, Mercedes (tr.72) Cuộc sống nó xô em. Hoàn cảnh nó đẩy em (tr.73) Ú ớ ù ờ (tr.73)

Đít (tr.76)

6. Đời lâng lâng Ha hả (tr.79) Cảm ứng từ (tr.79)

Ném đá sau lƣng (tr.65-66) Theo đóm ăn tàn (tr.65-66) Ra tấm ra miếng (tr.67) No lƣng ấm cật (tr.67) Nhà cao cửa rộng (tr.71) Nở mày nở mặt (tr.71) Nhất lé nhì lùn tam hô tứ rỗ (tr.72) Đục nƣớc béo cò (tr.72) Bắt cua bỏ giỏ (tr.72) Liễu yếu đào tơ (tr.73) Nhất phao câu nhì cổ cánh (tr.77)

P15

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Ha hả (tr.79) Phở tái Vòng một (tr.76) Cứt lộn lên đầu (tr.77)

sống (tr.80) Vòng ba to (tr.76) Ù ù cạc cạc (tr.81)

Mông (tr.76) Hat trick (tr.82)

Ngực (tr.76)

Gà móng đỏ (tr.99) Chim (tr.91) Chắc nhƣ đinh đóng cột (tr.77) Tán hƣơu tán vƣợn (tr.78) Vai u thịt bắp mồ hôi dầu (tr.78) Chim sa cá lặn (tr.91) 7. Chim cánh cụt biết bay

Đống to tú ụ (tr.93) Sứt đầu mẻ trán (tr.94)

Cứt (tr.94)

Nhanh nhƣ tên bắn (tr.95)

Vòng-kim- cô-nhục (tr.86) Nhấn nha nhấn nhá nhả từng chữ, ra chiều đắc ý (tr.90) Sốt xình xịch với vi rút cúm gia cầm đấy (tr.91) H5N1, H7N9, hay hát hát gì đó (tr.91) Ù ạc cạc cạc (tr.93) Không phân thắng bại (tr.95)

Cứt gà cứt vịt cứt chim câu (tr.94) Cứt bò cứt trâu (tr.94)

Tuyệt cái con vời vợi (tr.93) A ma tơ (tr.98) Thọc gậy bánh xe (tr.98) Té nƣớc theo mƣa (tr.98)

Mƣa phân hăng hắc nồng nồng đậm đặc (tr.99) Quăng bom vãi

P16

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Chim cò (tr.116) Cà-vạt (tr.103) Gáo Bại (tr.101) 8. Khe Mung Lung

Con khe (tr.117) đạn (tr.98) Chối tai gai mắt (tr.103) Con đàn cháu đống (tr.105)

Con khe thơ thái mềm mại (tr.117)

Ngoáy đít (tr.120) 9. Khúc mơ hoang Cái-mặt- quả-bóng (tr.119)

Mông (tr.121)

Chim sa cá nhảy (tr.105) Tan đàn xẻ nghé (tr.107) Trâu chậm là uống nƣớc đục (tr.110) Lời hứa gió bay (tr.113) Đầu đội trời chân đạp đất (tr.120) Đụng chân đụng tay (tr.122)

Mông (tr.121) Đồng cam cộng khổ (tr.122)

Chân đạp trời đầu đội đất. Rồi có khi nào thành đầu đất không? (tr.120) Ca nhạc, ca thì ít nhạc thì nhiều (tr.120) Bù lu bù loa (tr.121)

Động mồ động mả (tr.124) Tam giác Bermuda

P17

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.122) Câu hỏi nhảy lambada trong đầu nàng (tr.125) Ú ớ (tr.133) Món cháo 10. Nụ hôn ảo Thọt chim (tr.132) lƣỡi (tr.130)

Con chim (tr.132) Ọt ẹt ọt ẹt (tr.133)

Bung biêng (tr.137)

Chim (tr.152) Ò í e (tr.142) Tăng dân số (tr.140) 11. Thừa ra một người

Híp hop (tr.144) Giảm dân số (tr.140) Khô khồng khộng nhƣ bò nhai rơm (tr.130) Giữ mồm giữ miệng (tr.134) Chọc gậy bánh xe (tr.135) Trứng đòi khôn hơn vịt (tr.135- 136) Lấy trứng chọi với đá (tr.136) Thằng tre chƣa già mà măng đòi mọc (tr.136) Ngậm miệng ăn tiền (tr.136) Trời đánh thánh vật (tr.140) Tai vách mạch rừng (tr.145) Chim thầy bƣớm cô sao đẹp miên man

P18

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.153) Poppping (tr.144) Lãnh đủ (tr.140)

Ha hả (tr.149)

Có bột mới gột nên hồ (tr.156) Rối nhƣ canh hẹ (tr.157)

Mày nhu lắm em ạ (tr.141) Hàng tồn kho chất lƣợng cao (tr.149)

Sau thời gian thấy các cuộc tập kích có dấu hiệu trèo cột mỡ, đổ vỡ nhƣ các công trình công bị rút ruột thì lại dần dà lui ra ở ngoài (tr.149)

Tại chức là…tại cái chức nên phải học (tr.151) Tên Cấu lại thích Kim Giao, không lẽ hiệu trƣởng định họa các cô trong trƣờng?! Giáo viên ngồi trong phòng nghỉ giờ ra chơi đƣợc phen cƣời lộn ruột (tr.152) Cascadeur (tr.152)

Enter (tr.153)

Ti toe (tr.154)

Mấy anh hàng tồn kho ấy (tr.149) Đƣa đƣợc hai cái chén qua cửa khẩu (tr.156) Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là vơ-vét đấy

P19

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.157)

Sờ sờ (tr.155) Ù ù cạc cạc (tr.156) Rục rịch (tr.157) Rục rịch (tr.157) Ngo ngoe (tr.160)

12. Tiếng vọng phía xa xăm

Chết đuối cứ có cái cọc nào cứ bám vào đã (tr.170)

Tịt ngòi (tr.160) Yêu ọt (tr.160) A lô xô (tr.174) 13. Buổi sáng khác lạ

Bạn sẽ phải cày năm tiết (tr.175) Đứ đừ (tr.175)

Ôi! To be or not to be (tr.177) Điệu lam- ba-đa (tr.177) Hổ lốn (tr.177)

Chết mà không kịp ngáp (tr.175) Đâm lao cố mà theo lao (tr.177) Sống nhăn răng (tr.177) Khô nhƣ ngói (tr.183) Toát mồ hôi hột (tr.183)

14. Xúc cảm Ì ùng (tr.177) Show (tr.187)

Sứt đầu cũng mẻ trán (tr.186) Chỉ tay

P20

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Ham hố phố phƣờng gì (tr.192) 15. Mẹ, con và những khoảng trống

Í ới (tr.200) 16. Bến mê Ngực (tr.202)

Ngực (tr.202) Xả stress (tr.200)

Anh tự AQ (tr.201)

năm ngón (tr.187) Ngồi mát ăn bát vàng (tr.188) Ra đụng vào chạm (tr.189) Giang sơn một cõi (tr.192) Chỉ lo phần lạc nghiệp (tr.193) Dây cà ra dây muống (tr.195) Vạch áo cho ngƣời xem lƣng (tr.196) Thân ai nấy lo (tr.202) Nồi nào cũng có vung (tr.204) Ngựa quen đƣờng cũ (tr.205)

Vai cascadeur (tr.203) Tính hồi teen à (tr.204) Khỉ gì (tr.205)

Tập 14 10 25 4 106

P21

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Sạch nƣớc (tr.14) truyện: Sa lan đỏ bãi Xanh 1. Đầu năm đi chùa Khi an cƣ và lạc nghiệp

Một lũ chíp hôi. Hôi nhƣ chuột chù (tr.17) A lô xô (tr.14)

Còm-men (tr.18)

Xi-nê (tr.19)

Vụng chèo khéo chống (tr.20) Ngựa non háu đá mắt nhắm mắt mở cảm tử lao vào nơi hầm tối (tr.23) Cháy nhà mới ra mặt chuột (tr.23)

2. Hạ huyệt an toàn Đầu thừa đuôi thẹo (tr.39)

Du xuân tour miền cực lạc (tr.38) Rờ-mooc (tr.23) Xăng-đan (tr.23) Khít khìn khịt (tr.34) Orionton made in Hungari (tr.40) Ôm vô-lăng (tr.40)

Bỏ mẹ (tr.60) Vô-lăng xe V.I.P (tr.44) Muối với tiêu tiêu với muối (tr.68) Có mắt nhƣ mù (tr.40) Giật gấu vá vai (tr.51) Khua chân đập tay (tr.55) 3. Hoàng tử tuối xế chiều,

P22

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Kẻ đón ngƣời đƣa (tr.55) công chúa tuổi hoàng hôn

Thiên hạ thối mồm thích chỏ mũi nó chả eo éo lên rác tai lắm (tr.67)

4. Vỏ anh hùng Mông (tr.76) Mùi khói nicotin (tr.82) Ngƣời hóng kẻ hớt (tr.55- 56) Hậu ủng tiền hô (tr.56) Ăn cây nào rào cây đó (tr.56) May mắn phúc đức (tr.56) Ham sống sợ chết (tr.57) Chân run tay mỏi (tr.58) Cố đấm ăn xôi (tr.58) Bu đen bu đỏ (tr.60) Còn nƣớc còn tát (tr.67) Vào sinh ra tử (tr.69) Răng long đầu bạc (tr.71) Trèo đầu cƣỡi cổ nhau

P23

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Mông (tr.76)

Chim (tr.103) 5. Chung chiêng hẻm cụt Nghe giá là muốn són đái (tr.95) (tr.73) Run nhƣ cầy sấy (tr.77) Cày sâu cuốc bẩm (tr.77) Ôm rơm nặng bụng (tr.78) Nuốt không trôi (tr.78) Lọt sàng xuống nia (tr.78) Gà cùng một mẹ cơ mà (tr.78) Bút sa gà chết (tr.81) Lƣỡi không xƣơng nhiều đƣờng lắt léo (tr.86) Ăn tƣơi nuốt sống (tr.89)

Tìm đƣờng chấm mút ngoài luồng (tr.98) Chim (tr.103) Chết đƣờng chết chợ (tr.93)

Thiếu món đấy đếch sáng tạo đƣợc (tr.94) Ranh con nồn. Náo nồn. Đi nhanh cho bà bán nồn. Sáng ra đã ám nồn (tr.98) Cha bố Vắt mũi

P24

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ

chƣa sạch (tr.96) Thọc gậy bánh xe (tr.97)

Chó ngáp phải ruồi (tr.104)

Từ chửi thề văng tục nồn. Biến (tr.98) Á. Nồn nồn. Bớ ngƣời ta. Nồn. Bắt lấy. Nồn (tr.100) Ôi trời nồn. Bình tĩnh nồn. Làng lƣớc nồn cứu con tôi (tr.105)

6. Sa lan bãi cỏ xanh Độn mông nâng ngực (tr.122) Chó ngáp phải ruồi (tr.105) Thọc gậy bánh xe (tr.106) Thọc gậy bánh xe (tr.107) Vàng thau lẫn lộn (tr.113)

Kiểu ngồi mát mà mơ…bát vàng (tr.112)

Đâm bị thóc chọc bị gạo (tr.117)

Thoáng ở ngực nở hậu nở mông (tr.128)

Thọc gậy bánh xe (tr.117) Mò kim đáy bể (tr.118) Thuận vợ

P25

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Ngực (tr.141) Ma-nơ-canh (tr.134) thuận chồng tát biển Đông vẫn cạn (tr.118) Yên giấc nghìn thu (tr.119) Quá lỡ lứa thì (tr.121) Thay da đổi thịt (tr.121) Vai u thịt bắp (tr.126) Trói gà chƣa chặt (tr.126) Chân ƣớt chân ráo (tr.127) Đi mây về gió (tr.128) Chết đuối vớ đƣợc cọc (tr.131) Vắt mũi chƣa sạch (tr.132) 7. Ngoài mọi quy luật

Đi thẳng một mạch về miền giun dế (tr.146) Mông (tr.141) Chíp hôi (tr.134)

Tille (tr.143) Thƣợng vàng hạ cám, vàng thau lẫn lộn (tr.134- 135) Tốt gỗ hơn tốt nƣớc

P26

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Hi hi (tr.145)

Hị hị (tr.145)

Hơ hơ (tr.145)

sơn (tr.135) Mƣa dầm thấm lâu (tr.137) Trời long đất lở (tr.140) Thừa thắng xông lên (tr.146)

Hờ hờ (tr.145) Hi hi hị hị he he hơ hơ hờ hờ(tr.145) Hơ hớ (tr.145) Chim (tr.158) 8. Giăng lưới bắt chim

Bƣớm (tr.158)

Phú quý không chỉ sinh lễ nghĩa (tr.151) Phàm tu tục tử (tr.152) Đắt nhƣ tôm tƣơi (tr.152)

Chim sa…bƣớm nhảy (tr.159) Mông (tr.159)

Đốt lửa chăn trâu (tr.152) Nở mày nở mặt (tr.153) Ngƣời đẹp không chỉ vì lụa (tr.153)

P27

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

9. Làm gì có báo lá cải

Vô thứ hầm bà lằng (tr.172)

10. Lấy chồng à? Chuyện nhỏ! Chim trời cá nƣớc (tr.153) Mở cờ trong bụng (tr.153) Ăn dầm nằm dề (tr.155) Thọc gậy bánh xe (tr.155) Mồm miệng đỡ tay chân (tr.155) Đem con bỏ chợ (tr.159) Ngọt nhƣ mía lùi (tr.159) Vô công rồi nghề (tr.160) Bôi son trét phấn (tr.164) Thuận theo tự nhiên (tr.172) Bình mới rƣợu cũ (tr.175) Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống (tr.177)

Cha bố chị. Chồng cho chị chứ chồng cho tôi đấy à? Cái gì cũng mẹ (tr.185)

P28

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ

Nƣớc sôi lửa bỏng (tr.177)

Từ chửi thề văng tục Rõ là đẻ con ra khôn mát l. rƣời rƣợi, đẻ con dại thảm hại cái l (tr.185)

11. Đi nửa ngày đàng

Ỉa đái (tr.193) Cú ỉa (tr.193)

Xôi hỏng bỏng không (tr.177) Chịu thƣơng chịu khó (tr.181) Mỏng nhƣ lá lúa (tr.185) Ngọt hơn mía lùi bếp than (tr.188) Lời nói gió bay (tr.188) Lời ong tiếng ve (tr.188) Tắt lửa nhà ngói cũng nhƣ nhà tranh (tr.189) Hớt hơ hớt hải (tr.193) Đi một ngày đàng học một sàng khôn (tr.196)

P29

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Sạch nƣớc (tr.212) 12. Nhà thơ cấp nước

Thơ Vũ ca, nói ngƣợc lại là thơ vả cu (tr.225) Nhất mẹ nhì con (tr.196) Con gà tức nhau tiếng gáy (tr.198) Kém miếng khó chịu (tr.198) Thuận vợ thuận chồng mới tát cạn biển Đông (tr.199) Của chồng công vợ (tr.199) Đâm bì thóc chọc bì gạo (tr.200) Thƣợng cẳng chân hạ cẳng tay (tr.200) Ác giả ác báo (tr.206) Tỉnh nhƣ sáo(tr.206) Sáng mắt sáng lòng (tr.210) Tay phải làm hàm tay trái mới có cái nhai

P30

Từ mới Tiếng lóng Tên truyện Từ chỉ bộ phận kín Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

(tr.212- 213) Dai nhƣ đỉa (tr.213) Khố rách áo ôm (tr.215) Vàng thau lẫn lộn (tr.215) Vinh quy bái tổ (tr.215) Ghen ăn tức ở (tr.225) Ném đá sau lƣng (tr.225) Thọc gậy bánh xe (tr.226) Gắp lửa bỏ tay ngƣời (tr.226) Đƣợc ăn đƣợc nói đƣợc gói mang về (tr.227) Mắt thấy tai nghe (tr.230) Vinh quy bái tổ (tr.230)

P31

PHỤ LỤC 3

BẢNG KHẢO SÁT NGÔN NGỮ THÔNG TỤC

TRONG KHÔNG BIẾT ĐÂU MÀ LẦN CỦA VĂN THÀNH LÊ

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Mẹ (Tr.107) Xa lơ xa lắc Từ chỉ bộ phận kín Mông (Tr.16) (Tr.8) Bẻ gãy sừng trâu (Tr.8)

Đếch (108) Ngoáy đít (Tr.8) Giấy trắng mực đen (Tr.10) Chim (Tr.29) Khoác áo sọc đen trắng của đội bóng Juventus (Tr.52) Con gà ri, gà nhà gà giò (Tr.54)

Chim (Tr.55) Mất mẹ chim cò (Tr.108) Chết đuối vớ đƣợc cọc (Tr.13) Bái bai (Tr.8) Chân không che miệng. Nhất là chân phụ (Tr.56)

Hả hê (Tr.9) Động tác Chim (Tr.60) Buồn ngủ gặp chiếu manh (Tr.13)

Trên răng dƣới cát tút (Tr.13) Mông (Tr.76)

chống bóng bổng với đôi gò bồng đảo của cô em xinh xinh (Tr.57) Đánh bắt xa bờ và xâm phạm lãnh thổ gia đình khác (Tr.75)

Đất vƣờn bé tin hít bằng vài khoanh mông trâu gầy đói (Tr.11) Đánh rắm (Tr.11) Lụt giáo án (Tr.89) Khua chiêng gõ mõ (Tr.13)

Mung lung (Tr.13) Chà đi chà lại (Tr.90) Lầy lội cứt trâu cứ bò (Tr.13)

Cà tàng cà rịch (Tr.14) Môi hở răng lạnh (Tr.19)

Tút tát (Tr.17) Rút thẻ đỏ truất quyền thi đấu (Tr.107) Thắt cà vạt đít (Tr.111) Vơ đũa cả nắm (Tr.26) Ngực nở mông cong (Tr.76) Vung chim đi đánh gái ngƣời (Tr.107) Thẩm mông trông vú (Tr.107) Dái trâu bƣớm bò (Tr.108)

P32

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Từ chỉ bộ phận kín

Góp gạo thổi cơm chung (Tr.26)

Dựng tóc gáy (Tr.27)

Điệu bộ xăng pha nhớt lẫn dầu diezen (Tr.17) Nói giọng basso lúc thì baritone, khi thì tenor khi thì contralto, lúc lại mezzo soprano lúc lại soprano (Tr.17) Vê-kép-xê (Tr.25)

Muốn dựng lông chân (Tr.27) Ăn sung mặc sƣớng (Tr.28)

Đoán già đoán non (Tr.28)

Cãi vã-hòa giải-đoàn kết- yêu thƣơng (Tr.30) Tốc váy-tung quyền-văng tục-bắt tay- ôm chầm nức nở (Tr.30) Bé tí ti (Tr.30)

Xụi lơ (Tr.30)

Hắc xì dầu quá (Tr.35)

Chết gần hết (Tr.35) Láo nháo (Tr.37) Đập phát chết giờ (Tr.37)

Đồng tiền đi trƣớc là đồng tiền khôn (Tr.35) Qua cầu rút ván (Tr.44) Tình cũ không rủ cũng trở lại (Tr.44) Lầm đƣờng lạc lối (Tr.44) Nửa đƣờng đứt gánh (Tr.44) Có mắt nhƣ mù có tai nhƣ điếc có đầu nhƣ không (Tr.44)

P33

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chửi thề văng tục

Từ chỉ bộ phận kín Đào tơ (Tr.40)

F5 (Tr.45)

Góp gạo thổi cơm chung (Tr.45) Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa (Tr.56) Thọc gậy bánh xe (Tr.57) Liễu yếu đào tơ (Tr.59)

Đem con bỏ chợ (Tr.61)

Chọn mặt gửi vàng (Tr.62) Chân ƣớt chân ráo (Tr.62) Vẽ đƣờng cho hƣơu chạy (Tr.62)

Ngậm miệng ăn tiền (Tr.63) Há miệng mắc quai (Tr.66) Nhìn mặt mà bắt hình dong (Tr.73)

Refresh (Tr.45) Pho chuyện đồ sộ ẻo à ẻo uột (Tr.53) Tanh tách tành tạch (Tr.53) Vẫn bầm vẫn dập (Tr.55) Vẫn xác vẫn xơ (Tr.55) Lơ tơ mơ là xơ xác dập bầm nhƣ bã trầu trong miệng bà lão tám mƣơi nuốt chục quả hồng (Tr.55) Án kết cái oạch (Tr.59) Thầy rụng cái bịch (Tr.59) Oai lắm thêm dấu sắc thành oái. Oai oái là thế (Tr.59) Nơm nớp lo (Tr.62)

Nơm nớp sợ (Tr.62)

Xấu cả nguyên con Bƣớc thấp bƣớc cao (Tr.75) Loạng chà loạng choạng (Tr.75) Sống dở chết dở (Tr.75)

P34

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chỉ bộ phận kín Từ chửi thề văng tục

Ba chìm bảy nổi chín cái nhấp nhô (Tr.75) Mảnh tình rách vắt vai (Tr.77)

Ăn trắng mặc trơn (Tr.77)

Một sƣơng hai nắng (Tr.82)

Sống dở chết dở (Tr.86)

Cù bất cù bơ (Tr.89)

hổ (Tr.63) Nam nữ thụ thụ sát thân hoặc…bán thân (Tr.68) Giao lƣu hợp tác chúng gọi tắt là giao hợp, ngoan ngoãn và cố gắng là ngoan cố (Tr.68) Thầy cực kỳ sâu sắc trong giáo dục. Thế mà về sau ai đó bố láo lại gọi tắt thành cực kỳ sắc dục (Tr.71) Ngoại hình sạch nƣớc cản từng lọt vào khe ngắm của thầy (Tr.72) Phƣơng pháp dạy học, còn gọi là môn giáo pháp (Tr.74) "Thế này nhé, bƣớc 1…he he. Ngon lành chƣa các em? Bƣớc 2 thì…he he. Ngọt nhƣ mía lùi chƣa các em? Bƣớc 3 thì…he he. Êm và mƣợt nhƣ da em bé

P35

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chỉ bộ phận kín Từ chửi thề văng tục

Lời cứ nói, gió cứ bay (Tr.89) Sống lâu lên lão làng (Tr.97) Chân đất mắt toét (Tr.103)

chƣa các em? Bƣớc 4 thì…he he. Tuyệt cái con vời vợi chƣa các em? Mặc xác sự đời (Tr.79) Tiếc muốn đứt…ruột thừa (Tr.79) Tơ lòng…thòng (Tr.81) Cái ấy (Tr.85)

Cái này (Tr.85) Nảy tƣng tƣng (Tr.85)

Enter (Tr.86)

Khỏe nhƣ voi (Tr.113) Lọt sàng xuống nia (Tr/123) Chạy trời không khỏi nắng (Tr.132) Con sâu làm rầu nồi canh (Tr.133) Chân cứng đá mềm (Tr.133)

Xỉa lƣng (Tr.86) Enter (Tr.87) Enter (Tr.87) Enter (Tr.87) Enter (Tr.87) Enter (Tr.88) Chình ình (Tr.88) Slide chiếu (Tr.88) Nguyễn Y Vân. Vẫn y nguyên (Tr.90) Vũ Nhƣ Cẩn. Vẫn nhƣ cũ (Tr.90)

P36

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chỉ bộ phận kín Từ chửi thề văng tục

Chim phải ở trời nhƣ cá phải ở nƣớc (Tr.90) Cháy khét lẹt (Tr.96) Lẹt đà lẹt đẹt (Tr.96) Ấm ức tức khí với đời (Tr.96) Văng tí mẹt (Tr.96) Nhảy phắt (Tr.97) Vân vân và vô cùng vân vân (Tr.98) Xụi lơ (Tr.99) Hú vía (Tr.99) Trƣợt chỏng vó vỏ chuối (Tr.99) Tuyệt vời tuyệt vời vợi (Tr.103) Bát nháo nhào nhào (Tr.103) Pờ-rồ-phét-xơ ra pờ-rồ-phét- xơ, ê-le-vơ ra ê-le-vờ. Ê- côn-lờ ra ê- côn-lờ, cờ-lát ra cờ-lát. Ê- tuy-bi-ê ra ê- tuy-bi-ê, du ê ra du-ê (Tr.104) A-Lịch-Sơn

P37

Từ mới Tiếng lóng Thành ngữ Từ chỉ bộ phận kín Từ chửi thề văng tục

Đắc-Lộ (Tr.104) Khoái khẩu khoái chí khoái trá và hợp nhãn hợp thính với ngoại (Tr.105) Bu đen bu đỏ bu xúm bu xít (Tr.106) Vèo cái (Tr.106) Xớ rớ (Tr.106) Hỉ hả (Tr.111) To tú ụ, có đỉnh (Tr.118) Cƣời muốn lòi rốn. Cƣới muốn lộn ruột. Cƣời chảy nƣớc mắt (Tr.126) Thâm nhọ nhọ đít (Tr.128) Lấy mông trâu làm thƣớc ngắm hoa (Tr.130) Cƣời hỉ hả. Cƣời hô hố. Cƣời ha ha. Cƣời he he. Cƣời hi hi (Tr.131)

P38

PHỤ LỤC 4

BẢNG KHẢO SÁT NGÔN NGỮ NHẠI

TRONG TRUYỆN VĂN THÀNH LÊ

Tên truyện Ngôn ngữ nhại

Tập truyện: Biết tới khi nào mưa thôi rơi 1. Xóm Trọ 2. Tuổi hai mươi khác trở về 3. Biết tới khi nào mưa thôi rơi

4. Thư gửi người bạn thân 5. Thiên đường gọi tên

6. Hoa núi

Thành công không đến với những kẻ lƣời khác và thiếu kiên trì (Tr.47) Hi sinh đời bố cũng củng cố đời con (Tr.47) Những con nai vàng ngơ ngác, chui ra khỏi lũy tre làng, não thì bằng quả nho mà chân tay to nhƣ cây chuối hột cũng bị ma lực ánh sáng phố thị hấp thụ về. Tất cả đổ xô vào. Rồng rồng rắn rắn (Tr.48) Một nửa hồn mất, một nửa hồn hóa dại khờ (Tr.73) Ở mảnh đất mà câu: "Lấy chồng từ thuở mƣời ba, tới khi mƣời tám em đã năm con" vẫn chƣa đƣa vào xếp hạng di tích lỗi thời thì Miên đích thị có vấn đề rồi.

7. Nghĩa địa có đom đóm bay 8. Quẩn quanh dưới trời 9. Sẽ trôi về đâu

10. Ánh trăng trên ô cửa toa tàu

Càng về đêm mật độ càng cao, với đủ tƣ thế, ngồi trên xe, ngồi trên cỏ, ngồi trong thau, nằm trên cỏ, rồi nằm trên trong…Với đủ tần số phát: rinh rích, ƣ hự, e é… (Tr.135) Cũng từng "vang bóng một thời" lắm, nghiêng dình đổ bến sông lắm (Tr.147) Chàng chỉ biết yêu thông chẳng biết gì (Tr.154) Tiếng xƣa là…quán nhậu (Tr.163)

11. Người đàn bà hát tình ca trong mưa 12. Bao giờ đi hết giấc mơ 13. Đất vỡ

"Tiền là tiền nhiêu khi không mà có, tiền là tiền nhiều lúc có cũng nhƣ không", hay "Yêu anh đi, nhà anh có đàn gà rù…" rồi: "Đêm đêm rọi pin vào khu giếng nhà nàng, thấy nàng đang ngồi tắm" (Tr.193) Chết trùng tang đã sợ, đằng này lại cùng một ngày. Cứ nhƣ phim kiếm hiệp của Tàu, chàng

P39

Tên truyện

Ngôn ngữ nhại và thiếp sinh khác năm khác tháng khác ngày nhƣng nguyện sẽ chết cùng ngày cùng tháng cùng năm (Tr.199-200) Thì thầm với mùa xuân (Tr.212)

14. Ghi chú về những giấc mơ

15. Vả lại ngày đã qua 16. Hun hút cửa sông 17. Lão…vẫn hành quân 18. Thoát nghèo 19. Biến mất không đều

Thập diện mai phục (Tr.213) Là thƣ gửi trọn nghĩa tình (Tr.213) Trong mơ hắn nắm tay nàng đi dọc bờ sông. Con sông dùng dằng nhƣ không buồn chảy (Tr.219) Chiều biên giới anh thèm thuốc lào, sờ trong túi không còn điếu nào. Vặt lông nách anh làm thuốc lào (Tr.280)

Tập truyện: Thừa ra một người 1. Kẻ rao bán 2. Giấc mơ bị đánh cắp

tay. Đã xung

3. Si sẽ lại xanh 4. Người canh sương 5. Rũ bùn mà đi

Ôi cuộc sống mến thƣơng (Tr.23) Năm em trên một chiếc xe tăng. Nhƣ năm bông hoa nở cùng một cội. Nhƣ năm ngón tay trên một bàn trận cả năm thằng…quăng chạy (Tr.25) Giọt sƣơng trên mi mắt (Tr.54) Nhà anh ở cạnh nhà em. Cách nhau có một dây phơi áo quần (Tr.63) Dạy cho một bài học tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn con gái của làng (Tr.65) Em giạng chân dang tay đầu hàng, tận hƣởng. Thì đây. Em diện váy. Váy ngắn váy dài. Váy bó váy buông. Em vẫn nhớ lời mẹ dặn cần phải giữ cạp. Nhƣng khổ, váy không đáy, giữ cạp cũng bằng không (Tr.73)

6. Đời lâng lâng 7. Chim cánh cụt biết bay Có một loài chim không bào giờ bay (Tr.99) 8. Khe Mung Lung

9. Khúc mơ hoang 10. Nụ hôn ảo 11. Thừa ra một người Vị mặn dâng cho đời buồn vui đầy lại vơi (Tr.103) Ru mãi ngàn năm (Tr.135) Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phƣợng à (Tr.141)

P40

Tên truyện

Ngôn ngữ nhại Lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn (Tr.144) Bài ca hi vọng (Tr.146) Tiếng sâm cầm nhỏ vỗ cánh bay về (Tr.148) Một con vịt xòe ra hai cái cánh nó kêu rằng cáp cáp cáp cạp cạp cạp (Tr.149) Thầy hiệu trƣởng ấy đi khỏi trƣờng cũ giáo viên trƣờng vui nhƣ dân làng Vũ Đại tiễn đƣa cha con Bá Kiến về nơi an nghỉ cuối cùng (Tr.150) Tại cái chức nên phải học (Tr.151) Hóa đơn hiệu trƣởng đƣa đều ở trên chín tầng trời. Đúng là tiền ơi tiền rơi bị thầy, thầy để thầy xài chứ thầy không ăn (Tr.152) Khi mê bùn chỉ là bùn. Ngộ ra mới biết trong bùn có sen. Khi mê tiền chỉ là tiền. Ngộ ra mới biết trong tiền có tâm. Khi mê dâm chỉ là dâm. Ngộ ra mới biết trong dâm có tình. Khi mê tình chỉ là tình. Ngộ ra mới biết trong tình có dâm (Tr.154-155) Dù ngồi ở bất cứ đâu. Chỉ đít đổi chỗ chứ đầu thì không (Tr.156) Năm anh em trên một chiếc xe tăng Xăng, Gas, Điện, Nƣớc với Lƣơng lên đƣờng Khi xuất kích cả năm ngƣời nhƣ một Thống nhất cao đoàn kết với yêu thƣơng Nhƣng sáng nay các mẹ ở hậu phƣơng Giật thót tim khi nghe Lƣơng rớt lại Xe vẫn tiếng băng băng về phía trƣớc Lƣơng bây giờ chẳng biết ở nơi đâu Xăng, Gas, Điện, Nƣớc bảo...ghìm thƣơng đau Đợi Lƣơng thì e thời cơ vụt mất. Thêm lẫn nữa Lƣơng cù bơ cù bất. Biết bao lần tiếc nuối, hẹn lần sau (Tr.158)

12. Tiếng vọng phía xa xăm 13. Buổi sáng khác lạ

14. Xúc cảm Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu (Tr.176) Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua (Tr.182) Ghé mắt trông ngang (Tr.184) Độc lập-tự do để chuyển sang giai đoạn cộng

P41

Tên truyện Ngôn ngữ nhại

sinh-hạnh phúc (Tr.186)

Mong ƣớc kỉ niệm xƣa hả? (Tr.203)

15. Mẹ, con và những khoảng trống 16. Bến mê Tập truyện: Sa lan đỏ bãi Xanh 1. Đầu năm đi chùa

2. Hạ huyệt an toàn

3. Hoàng tử tuối xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn

4. Vỏ anh hùng

Vẫy tay chào bạn hiền ơi xin chúc (Tr.18) Alo cháy máy (Tr.21) Sóng trên môi ngƣời râm ran khó tả. Gió trên má ngƣời khó tả râm ran (Tr.35) Trên đồng cạn dƣới đồng sâu, mò cua bắt cá quát trâu cấy cày (Tr.38) Anh em trong đội xe răm rắp dƣới trƣớng. Ai cũng gọi dạ bảo vâng lễ phép ngoan nhất nhà (Tr.42) Can tổ chức rút xăng có quy mô cho đầu nậu tiêu thụ ra ngoài chợ đen thì, dồn thêm cú nữa, đàn em ghen ăn tức ở cho "Can Lộ Lộ" chuyện Can vận chuyển gỗ lậu thƣờng xuyên bằng xe công vụ trong các chuyến đƣa sếp đi công tác. Oạch. Can nhận quyết định nghỉ đội trƣởng đội xe (Tr.44) Cọ xòe ô che nắng của Can hạ cánh an toàn vui thú điền viên từ lâu. Mỗi ngƣời mỗi vẻ mƣời phân vẹn mƣời (Tr.60) Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (Tr.61) Để gió cuốn đi (Tr.63) Đƣờng ra trận mùa này đẹp lắm, đâu có giặc là ta cứ đi (Tr.69) Toàn vẹn lãnh địa gia đình chàng (Tr.70) Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan (Tr.70) Ong tỏ đƣờng đi lối về (Tr.75) Em hồn nhiên rồi em sẽ bình yên (Tr.76) Ngồi xó bếp giƣơng cung bắn mèo (Tr.80)

6. Sa lan đỏ bãi Xanh

5. Chung chiêng hẻm cụt Cha mẹ cho tôi một hình hài, tôi chƣa may mắn đƣợc chứng kiến, cũng chƣa gặp sách vở nào bày kỹ năng tán gái có nhắc đến chiêu dùng kèn đám ma. Nghe ai oán não nề sƣớt mƣớt hơn cả mùa Ngƣu Lang-Chức Nữ cặp kè đánh quả (Tr.97) Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông vẫn cạn để có thể mò ra, chứ lòng ngƣời, dài vài mét, xem ra dò đƣợc bƣớc sóng nhau vô cùng khó (Tr.118)

P42

Tên truyện

7. Ngoài mọi quy luật

8. Giăng lưới bắt chim

Ngôn ngữ nhại Cứ nhƣ trời thử lòng trao cho mệnh lớn (Tr.129) Rũ bùn đứng dậy sáng lòa (Tr.136) Vai năm tấc rộng thân mƣời thƣớc cao, Từ Hải có sống dậy uống thêm sữa hƣơu cao cổ cũng không bằng (Tr.138) Ngƣời về từ lòng đất (Tr.147) Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh (Tr.149) Trời xanh xanh bao la mây trắng trắng xóa của ngày nắng và thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng lắm nỗi truân chuyên lúc trái gió trở trời (Tr.149) Vừa đi vừa nghĩ về ngày mai tƣơi sáng rạng ngời (Tr.153) Những ngƣời cùng khổ (Tr.172) Giật mình mình lại thƣơng mình xót xa (Tr.179)

9. Làm gì có báo lá cải 10. Lấy chồng à? Chuyện nhỏ! 11. Đi nửa ngày đàng 12. Nhà thơ cấp nước

Lên Tƣợng xuống Tuất (Tr.215) Nhớ em bồi hổi bồi hồi. Hết đi đến đứng rồi ngồi không yên (Tr.219)

P43

PHỤ LỤC 5

BẢNG KHẢO SÁT NGÔN NGỮ PHÌ ĐẠI

TRONG TRUYỆN VĂN THÀNH LÊ

Tên truyện Ngôn ngữ phì đại

Tập truyện: Biết tới khi nào mưa thôi rơi 1. Xóm Trọ 2. Tuổi hai mươi khác trở về

Năm nào cũng vậy, mƣa về là dầm dề, lê thêm dùng dằng và ảo não. Không hiểu nƣớc ở đâu ra lắm thế. Cứ nhƣ ông trời có bao nhiêu nƣớc dồn lại rồi trút xuống Huế. Hay cái bàng quang của ông trời chiếu theo phƣơng thẳng đứng xuống là đúng Huế. Khi ông trời tè là trút cho hả hê, trút cho ê chề.

4. Thư gửi người bạn thân 5. Thiên đường gọi tên 6. Hoa núi 7. Nghĩa địa có đom đóm bay

3. Biết tới khi nào mưa thôi rơi Rồi thì quay cuồng. Rồi thì ngủ gật ngay trên máy. Kim đâm phải tay. Máy cán phải chân. Đụng tí sẽ phải lãnh đủ những lời cay độc, thóa mạ của những thằng cha quản lí ngoại quốc chỉ biết bóc lột sức lao động, xem con ngƣời rẻ nhƣ bèo. Rồi thì lúc nhúc trong khu nhà trọ nóng nhƣ chảo rang (Tr.48-49) Là đồng tiền bát gạo, là bụi bặm phố phƣờng, là tắc đƣờng lụt phố, là con đến trƣờng, là vợ sổ mũi nhức đầu, là cuối ngày đi nhậu, là chuyển chỗ lao đao (Tr.86)

8. Quẩn quanh dưới trời 9. Sẽ trôi về đâu 10. Ánh trăng trên ô cửa toa tàu 11. Người đàn bà hát tình ca trong mưa 12. Bao giờ đi hết giấc mơ

Lão ngồi đúng giờ cứ nhƣ quỳnh tới khắc ấy mới bung hoa, thủy triều đến giờ nƣớc mới dâng; nhƣ chớm xuân cây mới nảy lộc; tiếng chim cuốc kêu là chớm hạ; vào thu cây mới thay lá; sang đông bàng mới trần trụi giữa đời (Tr.167) Lão Hạng vẫn phải lẹt quẹt lẹt quẹt. Nhƣng đã khác xƣa. Xƣa chân lão Hạng

P44

Tên truyện

13. Đất vỡ 14. Ghi chú về những giấc mơ

Ngôn ngữ phì đại lẹt quẹt, miệng lão cũng lẹt quẹt. Giờ chân lẹt quẹt nhƣng miệng hét ra lửa. Nhất thủ tƣớng nhì thủ kho. Mà lẹt quẹt lại hóa hay (Tr.175) Hai hình nhân cƣỡi trên chiếc xe Wave liên hợp quốc lắp ráp trong nƣớc nhƣng đầu Tàu đít Nhật khung Thái Lan, in ỉn chạy vào. Chẳng khác nào cuộc đua xe đƣờng trƣờng qua các hoang mạc vùng Tây Á. (Tr.205-206) Hai hình nhân đứng tỉ tê, miên man truyện cũ, ủ rủ chuyện hiện tại, bải hoải chuyện tƣơng lai. Gần một giờ thì mƣa ngớt. Chiếc Wave liên hợp quốc tiếp tục in ỉn thẳng tiến. Động cơ xe ngày một rú lên, gắt gỏng nhƣ mụ nhà quê mất gà, mà chẳng tiến đƣợc là bao. Xe quày ngang. Xe úp dọc. Lớp bụi đỏ đƣờng khi nãy giờ biến thành bùn đỏ. Thứ bùn chết ngƣời. Trơn nhẫy và bết bát. Bó tới một phần ba bánh xe. Chiếc xe hực lên giãy đành đạch và chết máy. Hơi nóng từ động cơ phả ra hầm hập do bị cƣỡng bức làm việc quá tải. Nhìn phía trƣớc vẫn chỉ có bùn đỏ và ngút ngát cà phê với cao su (Tr.207) Ban đầu hắn ngỡ chắc xuất ở lại giảng dạy tại Khoa. Ai ngờ có một "thế lực thù địch" từ trên rót xuống, cùng tranh chấp. Chƣa kịp "diễn biến hòa bình", hạt nhân bắn phá, hắn bị văng ra. Thế là "ao". Vác hồ sơ về quê. Không một chỉ tiêu. Thành ngƣời rơi tự do. Hắn tặc lƣỡi gật đầu khi đứa bạn hỏi có nộp hồ sơ lên Tây Nguyên không. Nghĩ đôi khi thiên đƣờng và mặt đất cũng gần nhau ghê ghớm (Tr.208- 209) Quần áo tóc tai nhuộm đỏ bụi, cứ nhƣ bị sơn bởi sơn Nippon sơn đâu cũng đẹp. Mùa mƣa lết ra tới thị trấn phải mất gần hai giờ đồng hồ. Liều mạng chạy xe máy kiểu gì cũng nhận án tử. Cách duy nhất là chờ để nhờ ném xe máy và ngƣời lên xe

P45

Tên truyện

15. Vả lại ngày đã qua 16. Hun hút cửa sông

Ngôn ngữ phì đại ba càng của bà con vào ra rẫy cà phê (Tr.209) Hôm nay dòng ngƣời đổ về đào Lơn Song nhiều không kể xiết. Nƣờm nƣợp. Ô tô. Xe máy. Xe đạp. Xe đạp máy. Xe lớn. Xe nhỏ. Xe vừa vừa. Xe công. Xe tƣ. Biển số xanh. Biển số trắng. Cả xe mới mua đang chờ biển số hoặc cũ rích biển số rơi đâu không rõ. Hết thảy vàng thau lẫn lộn, lắc lƣ, khi nối đuôi nhau, khi chen vai thích cánh, qua cầu (Tr.243-244) Tay không thôi mân mê dây chuyền bạc có hình đầu sƣ tử đƣợc khắc tinh xảo, kiểu cách đặc biệt, nhƣ thể đặt làm riêng, không thể lẫn với bất kỳ dây bạc nào khác. Tháo ra rồi đeo vào. Đeo vào lại tháo ra. Không biết bao nhiêu lần. Hy vọng rồi thất vọng. Thất vọng lại hy vọng. Cảm giác ấy cứ chập chờn, lóa lên và vụt tắt trong Lạc, hòa theo dòng ngƣời về với Lơn Song (Tr.243-244)

17. Lão…vẫn hành quân 18. Thoát nghèo 19. Biến mất không đều Tập truyện: Thừa ra một người 1. Kẻ rao bán 2. Giấc mơ bị đánh cắp

Vừa dừng xe trƣớc đèn đỏ ở ngã tƣ, hắn thoáng thấy hai thằng nhóc chạy phía sau vẫn kéo căng tay ga, kiểu trên đƣờng đua công thức một nhƣ Michael Schumacher huyền thoại của đội đua Ferrari ngày nào, hắn liền lách xe sang bên phải. Hai thằng oắt Schumacher lao vèo lên, đánh võng vƣợt qua kẽ hở của hai ngƣời phía trƣớc, sang tuốt bên kia đƣờng. Hắn cảm giác nhƣ vừa bị văng lại trần gian từ cửa thứ chín cửa địa ngục (Tr.24) Không biết có phải màn luyện mắt bằng game dạo đầu hay màn luyện não cập nhật thông tin sập hầm lò than thổ phỉ ở Trung Quốc, căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên, hay bạo động Trung Quốc, hay giao

P46

Tên truyện

3. Si sẽ lại xanh

4. Người canh sương

5. Rũ bùn mà đi Ngôn ngữ phì đại thông trong nƣớc, dự tiệc của sao, cũng có thể là một tờ rao của mấy hãng bao cao su, viragra...Hai chị em gái có vẻ gần xong công đoạn nặn mụn, đang chỉnh trang lại y phục cho ngay ngắn và khởi động máy làm việc (Tr.26) Nghe kể, chỉ là nghe kể, không lấy gì làm chắc chắn, không biết kĩ thuật xác định niên đại bằng đồng vị cacbon trong trƣờng hợp này có đúng không, nhƣng nếu đúng cũng chẳng ai rỗi hơi mà đi làm, rằng-thì-là cây si có từ thời…anh cu mõ. Mỗi khi trên có lệnh, làng có việc, tiếng "chiềng làng, chiềng chạ..." luôn bắt đầu từ cây si. Cu mõ đi vòng quanh làng, trở lại cây si, trèo hẳn lên cây si, làm một hồi rao nữa mới chốt hạ buổi phát thanh trên sóng phát thanh làng có tần-số- miệng-anh-cu-mõ (Tr.34) Lá si ngả vàng Và rụng Rụng lần lƣợt Rụng nhẹ nhàng Rụng tơi tả Rụng cho tới khi trơ trụi (Tr.35) Bay đi đâu thì đi, kiếm ăn tán tỉnh ở đâu thì cứ việc, chứ tối đến cây si là nhà là gia đình là êm ấm. Chim đâu muốn phơi mình ra. Đâu phải khi nào phơi mình ra cũng tốt. Phơi mình lúc cần thiết mới quan trọng. Lúc ẩn lúc hiện. Ngƣời có khi còn phải học...chim (Tr.35) Càng kì quái kì quặc kì cục kì dị kì kì càng hay (Tr.37) Thế mà si lăn đùng ra chết. Chết bất đắc kì tử. Các sếp loạn lên. Kiểu này thì xôi hỏng bỏng không. Miếng ăn đến miệng rồi còn mất à. Quả ông trời xỏ lá (Tr.40) Điểm nào cần nổi lên, đã nổi. Điểm nào cần hóp vào, đã hóp. Đƣờng cong, nhấn nhá, thật chuẩn (Tr.45) Em xinh lắm. Xinh vô địch. Khắp làng

P47

Tên truyện

6. Đời lâng lâng

7. Chim cánh cụt biết bay

8. Khe Mung Lung

Ngôn ngữ phì đại trên xóm dƣới. Khắp xã trong xã ngoài. Đều khen. Em biết. Em chỉ cƣời e lệ. Nụ cƣời cắn chỉ. Em càng cƣời đám con trai choai choai càng nẫu ruột ra, thèm nhỏ dãi (Tr.59) Mẹ em há miệng nhe, dù tuổi cao, tuyến nƣớc bọt không còn mạnh, nhƣng bị cuối theo lời chị, không kịp nuốt suýt sặc tại trận. Ngƣời ta có thể ăn uống gì đó bất cần hấp tấp vội vàng, sặc là lẽ thƣờng. Mẹ em ăn lời mà sặc, quả là hi hữu. Thiếu nữa tí bệnh viện phải cấp cứu một ca đặc biệt chƣa bao giờ gặp trong lịch sử y học hiện đại, ngất sặc vì...lời (Tr. 67- 68) Tết năm ấy rét. Rét lạ rét lùng. Rét tàn rét bạo. Cứ nhƣ trời đất là cái tủ lạnh khổng lồ. Lạnh quá. Món gì cũng có cảm giác nhƣ thịt nấu đông (Tr.69) Khúc củi bật vào mắt cá chân. Đau tê tái. Lạnh. Đau. Đau lặn vào trong. Nhói buốt (Tr.69) Văn là thằng có chất. Và có chí. Do có chất, có chí nên sinh ra tính ngang. Ngƣời đời thƣờng vậy. Những anh không có chất, thiếu chí thì ngoan. Còn có chất, có chí thƣờng ngang. Cái ngang làm rõ hơn cái chất và cái chí ấy (Tr.79) Không ngờ vài ngày sau một đoàn ngƣời tới nhà anh, tự giới thiệu là ngƣời của sở thú. Hết ồ đến à. Săm soi. Nhìn ngó. Giật mình. Sung sƣớng. Nhƣ gặp cụ tổ đội mồ vƣợt thời gian nghìn trùng xa cách trở về với hậu thế (Tr.95) Đến đoạn thƣơng lƣợng để đƣa chim về sở thú thì đoàn ngƣời khác đến. Hiệp hội bảo tồn động vật qúi hiếm. Lại nhìn ngó săm soi. Lại à rồi ồ. Giật mình nhƣ gặp lại mối tình đầu đẹp lúng liếng giữa nơi không ngờ tới (Tr.95) Bông cỏ may tím bầm tím giập. Tím hoảng hốt. Tím lơ ngơ. Không phải sắc tím thơ thái. Những gốc sim già thƣa

P48

Tên truyện

9. Khúc mơ hoang

10. Nụ hôn ảo

11. Thừa ra một người

12. Tiếng vọng phía xa xăm

Ngôn ngữ phì đại thớt, đìu hiu, mỏi mắt mới nhìn ra. Hoa ngũ sắc lác đác nhƣ lạc vào nơi xƣa chính là vƣơng quốc của mình (Tr.109) Chân dẻo và khéo léo. Cứ nhƣ chân hắn là đôi chân của Ronaldo, cầu thủ đội Brasil thuở nào, còn mặt hắn là quả bóng. Đôi chân hắn làm xiếc với cái-mặt-quả- bóng (Tr.119) Theo một thống kê khoa học, nụ hôn kiểu Pháp thế này kéo dài mỗi phút có thể làm mỗi ngƣời tiêu tốn 6 đến 7 kilo calo, đồng thời trao đổi cho nhau tới 45 ngàn kí sinh trùng, huy động đến hơn ba mƣơi cơ mặt. Vậy nên ngƣời trong cuộc lịm đi vì ngây ngất là hiển nhiên. Phải, ngây nhất (Tr.129) Hắn thấy nhƣ teo lại. Teo mà vẫn không có cảm giác gì. Cứ nhƣ một dải khoai lang tƣơi teo lại trong lửa. Mẩu khoai quắt lại từ phía ngoài. Tốc độ mỗi lúc một nhanh. Nhanh theo độ nóng của lửa. Hắn thấy mình ú ớ (Tr.132) Thêm quán cầm đồ kết hợp sửa điện thoại, xe đạp với câu quảng cáo đẹp nhƣ hai vế đối "Mua xe đạp/ điện thoại cũ giá cao. Bán xe đạp/ điện thoại cũ giá thấp" khiến nàng tủm tỉm cƣời. Kinh doanh vậy lỗ to à? Làm từ thiện à? Thật toàn những ngƣời vui tính (Tr.147) Thời giờ đa số ai muốn lên đều phải xuống trƣớc đã. Nằm hay qùi là tùy. Sấp hay ngửa cũng tùy ngƣời, tùy giới tính. Mà ở đời có cái gì lên lại không xuống xuống lại không lên. Muốn lên mãi không xuống chỉ có nƣớc lên thiên đàng. Muốn xuống mà không lên chỉ có xuống âm phủ (Tr.149) Theo thống kê Việt Nam có khoảng 15% dân số có vấn đề về sức khỏe tâm thần, tức là hơn chục triệu "bệnh nhân tâm thần". Trong số tiềm ẩn bùng phát "điên nặng" đó, có cả những giáo sƣ tiến sĩ, đạo trí thức do nhiều nguồn nguyên nhân. Từ

P49

Tên truyện

13. Buổi sáng khác lạ

Ngôn ngữ phì đại nghĩ ngợi, lo toan, tham vọng đến xúc cảm và những ý tƣởng lớn mà bị tâm thần, sang chấn tâm lí (Tr.167) Bạn thấy mình nhƣ bị rơi vào hố đen của vũ trụ. Đúng hơn là hố đen của vũ trụ là phòng học 50m2 mà bạn đứng trên bục nhƣ đứng trên mép hố. Chới với. Chơi vơi. Và liêu xiêu. Và quay cuồng. Thiếu tỉnh táo một chút là rơi tuột vào. Hun hút hun hút. Không trọng lƣợng (Tr.176)

14. Xúc cảm 15. Mẹ, con và những khoảng trống 16. Bến mê Tập truyện: Sa lan đỏ bãi Xanh

1. Đầu năm đi chùa

Dọc đất nƣớc hình chữ ét-xì này, vài năm gần đây, từ phố thị ồn ào đến lao xao rừng rú, từ cơ quan nhà nƣớc nhiều ngƣời ít việc đến công ty tƣ nhân nhiều việc ít ngƣời, từ tập đoạn nghìn nghịt dự án ma đến xí nghiệp sinh ra để lách thuế, đâu đâu cũng nô nức chùa chiền rộn ràng miếu mạo nhộn nhịp đền đài. Công đoàn cơ quan, ngoài việc tổ chức những phi vụ kiểu này, hình nhƣ không biết làm gì nữa. Dù công đoàn, nghe đâu là tổ chức sinh ra để đấu tranh bảo vệ cho quyền lợi của công nhân viên chứ không phải để kêu gọi...bù khú (Tr.16) Tuổi mơ màng õng ẹo uốn éo lãng mạn mà phải đi rửa đít vắt nƣớc mũi cho bé con suốt ngày khóc nhè, dù chƣa có cảm giác mang nặng đẻ đau, lại đƣợc khuyến mãi thêm từ "mẹ" kêu eo éo suốt ngày, thì đúng là cực hình (Tr.24) Trùng triềng trùng triềng. Tròng trành tròng trành. Nƣớc mấp mé sát mép thành đò nhƣ chực chờ sơ sểnh là liếm mép ồ ạt đổ xô vào trong. Từng có ngƣời qua đò mà ngáp ngủ, suýt lộn cổ hỏi thăm cơ ngơi Long Vƣơng (Tr.25) Thêm tập đoàn ăn xin chuyên nghiệp đƣợc lực lƣợng chăn dắt trang bị, hóa

P50

Tên truyện

2. Hạ huyệt an toàn

Ngôn ngữ phì đại trăng kín kẽ. Ngƣời gãy tay. Ngƣời dãy chân. Ngƣời mù mắt. Ngƣời lê lết. Ngƣời nằm cho ruồi bu. Ngƣời hát rong. Ngƣời thổi sáo. Ngƣời mở băng Nam mô a di đà (Tr.26) Thế mà Can chết. Chết không kịp ngáp. Chết trần chết truồng. Chết ngẩn chết ngơ. Chết không nửa tiếng ú ớ. Sáng ra mọi ngƣời mới hay. Tin lan nhanh hơn dịch virus tả (Tr.35) Thật. Đừng dại dột vỗ ngực ta đây với chữ "ngờ". Đầy tréo ngoe và lắt léo. Đầy ảo diệu và khó lƣờng. Khó lƣờng hơn cả thời tiết sau khi nghe dự báo của đài khí tƣợng quốc gia. Can phƣơng chi đạo mạo. Mặt tràn đầy, da căng lẳn. Giọng vang và lạnh. Tƣớng ấy, thầy nhân tƣớng học nào xem cũng gật gù trầm ngâm rồi thảng thốt mạnh miệng phán, không vật chết voi cũng đủ sức vờn với hổ (Tr.36) Từ thủ trƣởng nhỏ đã thành thủ trƣởng vừa vừa rồi thủ trƣởng lớn, sau nữa là thủ trƣởng hết lớn, cao nhất địa phƣơng (Tr.41) Những pha nhảy cóc của Can ƣớc chừng đẹp hơn cú sút má ngoài chân trái huyền thoại bóng đá hình quả chuối của danh thủ lùn Roberto Carlos ở xứ sở vũ điệu samba thuở nào. Mọi thứ nhƣ đƣợc lập trình sẵn. Can chi việc bƣớc vào. Điểm nhiên đợi. Đến hẹn thì lên (Tr.43) Xe tang lƣợn vòng quanh biển, khách sạn nhà hàng san sát, toàn địa chỉ đỏ nơi Can lừng lẫy chiều lòng các sếp lớn một thời. Gió từ Thái Bình Dƣơng thổi vào. Mát mặt. Xe chạy qua vòng qua cơ quan cũ của Can. Thời điểm ấy trang online của báo dẫn lại tin, theo thống kê từ Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, cho biết, trong 7 ngày nghỉ Tết toàn quốc chỉ xảy ra 247 vụ tai nạn giao thông, làm chết 246 ngƣời, bị thƣơng 415 ngƣời. Có ngƣời bất giác cƣời, nói nếu thống kê cả

P51

Tên truyện

3. Hoàng tử tuối xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn

4. Vỏ anh hùng

Ngôn ngữ phì đại tai nạn giƣờng chiếu thì không biết bao nhiêu (Tr.51) Mặc sƣ thầy áo vàng lẩm bẩm ê a lên trầm xuống bổng khi ngân nga thong thả khi giật cục gấp gáp bài kinh bằng tiếng Phạn, có khi thầy cũng chẳng hiểu hết, theo nghi lễ trƣớc khi các đo tùy nâng quan tài hạ huyệt, phía ngoài từng nhóm nhỏ vẫn chƣa hết chuyện, hay là xì xào nhƣ buôn bạc giả cho đỡ nhạt miệng (Tr.51-52) Cởi áo, kiểm tra lại dây rút khóa quần, rồi ầm, vào mênh mông bình minh biển cả. Quần đi quần lại vài vòng, Bơi bƣớm. Bơi ếch. Bơi ngửa. Bơi chó. Thuần thục. Đủ hết. Tùy thời tiết với thời điểm mà tự biết phải bơi kiểu gì (Tr.54) Chỉ tập thể dục khi trong mình ủ đầy đủ gout với tiểu đƣờng, tràn trề tiền đình với huyết áp, sẵn sàng nổi cơn lôi đình giúp thân chủ bất thình lình lên tiên theo cái nghĩa quy tiên (Tr.57) Một công chức về sớm là cứu vớt đƣợc một cử nhân khỏi phải chạy bàn nƣớc mía sạch 5 nghìn một ly nhỏ 7 nghìn một ly lớn hay dán quảng cáo khoan cắt bê tông với thông hầm cầu siêu tốc hay dắt xe che biển số trong khách sạn nhà nghỉ 24/7 theo giờ theo phút (Tr.58) Trên bờ, nàng uyển chuyển với các động tác thái cực quyền. Trƣớc mắt thả lỏng xa xa nơi chân trời đỏ au áu. Giờ mặt đỏ au áu thả ánh nhìn cách chân mình vẻn vẹn hơn năm mƣơi mét. Tọa độ ấy có chàng đang sải những sải tay nhƣ Chữ Đồng Tử, Thạch Sanh chứ nhất định không là Lý Thông hay Lý Toét, lâu lâu lại ngụp lặn, lúc trồi đầu khi nổi phao câu, dập dềnh theo sóng (Tr.66) Biết nhiệm vụ phải hoàn thành. Anh hùng Khoán nhƣ nhai lời của chính mình. Cục sụn ở yết hầu lên xuống nhịp nhàng lúc dồn dập khi khoan thai. Để dễ hiểu, xin

P52

Tên truyện

5. Chung chiêng hẻm cụt

6. Sa lan đỏ bãi Xanh

7. Ngoài mọi quy luật

Ngôn ngữ phì đại cứ tƣởng tƣợng cục sụn ấy nhƣ dạ dày, nó co bóp tiêu hóa dồn dập lời của chủ nhân. Mỗi tội đã bao năm, xung trận bao lần, chẳng mấy khi anh hùng dám nhìn thẳng vào ngƣời nghe. Cứ trần nhà mà ngắm. Y nhƣ lũ thằn lằn và mạng nhện là đối tƣợng anh hùng muốn truyền tải chứ không phải ngƣời nghe ở dƣới (Tr.77) Làm lam làm lũ lẫn lam nham trong sinh hoạt (Tr.77-78) Bolero lâm li bi đát mùi mẫn lẫn nhạc trẻ remix xập xình lạo xạo nghe mà lục phủ ngũ tạng nhƣ muốn tập thể dục theo (Tr.92) Đám đông mới lớn thấy ảnh rực rỡ liền bu vào. Toàn các em xinh long lanh lóng lánh. Đong đƣa hô hố khen. Đảo điên háo hức hẹn. Thế là thành mẫu. Thế là tha hồ thả ga ngắm gái xinh nõn nƣờng (Tr.96) Trông lão nhƣ dải khoai lang héo. Nhƣ mới bƣớc thẳng một bƣớc từ mùa hè đói năm Ất Dậu 1945 về hẻm này. Nhƣ chính chiếc kèn gầy heo hắt giắt cạp quần bao năm của lão. Mẹ chủ ngƣợc lại, trông phốp pháp màu mỡ nhƣ cây xúc xích Đức. Khúc nào khúc nấy, nần nẫn. Nhiều lần lão đƣa bún nhầm lên mũi chỉ vì cây xúc xích ấy (Tr.97) Cuộc chuyện đầu đêm chẳng thể đi đến đích. Phải bỏ lửng giữa lƣng chừng. Lƣng chừng rệu rã. Lƣng chừng rũ rƣợi. Dù cái đích vô cùng giản dị (Tr.100) Ngƣời dƣới xuôi đàn đàn lũ lũ kéo nhau đến. Lán trại. Nhấp nhô. Lố nhố. Đào bới. Lố nhố. Nhấp nhô. Cả vùng rộng lớn lỗ chỗ nhƣ mặt trăng. Riêng nhiệt độ nhƣ ở xứ mặt trời (Tr.120) Những cánh tay chí chóe chỉ từ xa, ồ và à, á và há, biểu lộ cảm xúc nguyên thủy văn minh lúa nƣớc hồn nhiên (Tr.133) May các cụ ở trên quyết tâm báo cáo tổ chức giáo dục thế giới chiến lƣợc phổ cập trung học nên tất cả đều đƣợc lùa vào tốt

P53

Tên truyện

8. Giăng lưới bắt chim

Ngôn ngữ phì đại nghiệp cho kịp chỉ tiêu đúng thời hạn (Tr.139) Từ sàn catwalk bƣớc sang phim trƣờng. Thời buổi phim truyền hình sản xuất đại trà lúc nhúc nhƣ tằm ăn lên, một kiểu sên sến đầu Việt đuôi Hàn pha lƣng lửng lƣớt thƣớt Đài Loan yêu cầu diễn viên không quái đản xấu vào vai ha thì phải đẹp lạ kiểu nhân vật chính. Nhiều ngƣời mẫu đƣợc đƣa qua diễn xuất. Chàng không nằm ngoài dòng chảy thời đại đó (Tr.141) Một bƣớc chàng từ bƣng bê bốc vác thành ngƣời mẫu. Một bƣớc chàng từ lấm lem bùn đất lên sân khấu sáng lóa nhạc xập xình. Một bƣớc từ vô danh tiểu tốt thành kẻ ngƣời ngƣời biết mặt nhà nhà biết tên (Tr.141) Ảnh chàng nàng tình tứ nằm phơi nắng. Hị hị. Ảnh hai ngƣời trên thảm cỏ. Hơ hơ. Ảnh trong phòng ngủ. Hờ hờ vv….Kèm theo đấy là những dòng tâm trạng thăng hoa ƣớt át mặc kệ lỗi chính tả vẫn dƣ sức hút cả nghìn lƣợt like và hàng trăm comment. Nhất định phải kèm theo hi hi hị hị he he hơ hơ hờ hờ cho thêm phần... hơ hớ (Tr.145) Những khoảng khắc vàng. Ngập ngụa viên mãn. Phủ phê niềm vui. Ứ đầy hạnh phúc. Tràn lên mặt. Thiếu điều vƣợt mặt. Chỉ tổ béo mấy tay phóng viên salon đói bài ngại tƣ duy lƣời vận động mút mùa ngồi máy tính rình rập độc giật title sốc câu view (Tr.146) Nhƣng chống mắt nhìn khắp làng thì trai tráng lứa trƣớc, lứa sau, thất học lẫn có học ít nhiều đều vù đi hết, vào Nam ra Bắc sang Lào đi Cam đánh đu cùng dâu bể, xa hơn nữa là vi vút trời Tây xuất khẩu lao động hả hê vỗ mông ví tiền ngoại quốc (Tr.148) Mỗi vợ chồng Khoan dửng dƣng, lừng khừng trôi dọc tháng ngày ngày tháng

P54

Tên truyện Ngôn ngữ phì đại

9. Làm gì có báo lá cải 10. Lấy chồng à? Chuyện nhỏ! 11. Đi nửa ngày đàng 12. Nhà thơ cấp nước

(Tr.149) Một ngày của Khoan thật bình lặng. Dù gió Lào có thổi. Dù nằng quá có lên cơn. Dù bão có động cỡn về. Nghĩa là bốn mùa xuân hạ thu đông thời tiết có thế nào Khoan vẫn sáng dậy lèn chặt dạ dày bát cơm nguội với quả cà tí nắm hay khúc cá kho mặn rồi xuống đồng ra bãi, sau lên đồi bẫy chim kiếm tí đạm cải thiện bữa cơm vợ chồng mãi còn son (Tr. 149) Chim lớn chim bé. Chim trống chim mái. Chim quý hiếm chim bầy đàn. Tùy nhu cầu tùy sở thích tùy túi tiền tùy giới tính mà tậu chim. Anh hai chị cả nhƣ vành khuyên, yểng, khƣớu, vẹt,…Bình bình nhƣ cu gáy, sáo sậu, chào mào, chích chỏe, chìa vôi,…Dân dã nhƣ bìm bịp ngâm rƣợu, chim sẻ rô ti (Tr.152) Nhiều nhạc sĩ giúp ca từ trong thơ Vũ Thi Ca đi vào nhiều dòng nhạc nhiều thể loại. Từ ông ổng giật cục đến gào thét rên rỉ hay lả lƣớt ỡm ờ. Các em xinh tƣơi lên sân khấu hát thì ngoáy đít thì nhiều, tiếng vỗ tay ràn rạt vang lên. Không hiểu tiếng vỗ tay dành cho ca khúc phổ thơ Vũ Thi Ca hay dành cho vòng một vòng ba nóng hôi hổi nhờ phẫu thuật bơm vá của mấy em phong nhũ phì độn (Tr.224) Khuôn viên rộng mƣời nghìn mét vuông. Kiến trúc thập cẩm Đông-Tây kết hợp. Một chút Tàu một chút Trung Đông một chút Ý một chút Pháp. Lọt giữa mớ hổ lốn kiến trúc là đá. Bạt ngàn các thể loại đá đƣợc đƣa từ khắp nƣớc về. Đá Thanh Hóa. Đá Nghệ An. Đá Đà Nẵng. Đá Ninh Bình. Đá Hà Giang. Đá Quảng Bình....Trắng. Xanh. Đen. Đỏ. Nâu...Trên ấy là thơ. Bạt ngàn thơ. Đá kèn cựa thơ. Thơ bức tử đá. Những giọt thơ tinh túy của nhân loại đƣợc chƣng cất qua thời

P55

Tên truyện

Ngôn ngữ phì đại gian. Những Tagore, Neruda, Aragon, Rimbaud, Đỗ Phủ, Lý Bạch...đƣợc tập hợp điểm danh. Ngổn ngang và nghiêng ngả. Việt Nam chỉ đóng góp hai đại diện, là Nguyễn Du và ...Vũ Thi Ca (Tr.226)

P56

PHỤ LỤC 6

BẢNG KHẢO SÁT NGÔN NGỮ HOÀ KẾT TẢ VÀ KỂ

TRONG TRUYỆN VĂN THÀNH LÊ

Tên truyện Ngôn ngữ hòa kết tả kể

Tập truyện: Biết tới khi nào mưa thôi rơi 1. Xóm Trọ

Kể ra giữa thành phố ồn ào này mà còn sót lại xóm trọ nhƣ vậy cũng hiếm. Yên tĩnh. Nếu không muốn nói là rùng rợn, nhất là về đêm. Rùng rợn bởi khu vƣờn rộng, rất nhiều cây vú sữa. Lá vú sữa trùm kín nóc nhà. Ra sau nữa là vƣờn. Vƣờn cỏ hoang. Toàn cây hoa cứt lợn, hoa lòi tói, mà nhiều ngƣời lãng mạn vẫn gọi là hoa đồng nội (Tr.5) Ngƣời đàn bà cỡ sáu mƣơi. Mặt gãy. Gầy. Tóc xoăn đuôi. Mắt trắng, sâu hóm. Dì ít nói, đi rất nhẹ, nhƣ mèo. Nghe lão chủ nhà nói dì có nhiều con cháu, khá giàu. Không hiểu sao cuối đời lại đi thuê phòng trọ ở (Tr.8)

2. Tuổi hai mươi khác trở về 3. Biết tới khi nào mưa thôi rơi 4. Thư gửi người bạn thân

5. Thiên đường gọi tên 6. Hoa núi 7. Nghĩa địa có đom đóm bay

Tiếp nhận hồ sơ là lão mắt híp, môi thâm, trán ngắn, má phệ và có nốt ruồi to đùng, nhƣ con ve chó đóng dấu thƣơng hiệu bên mép cằm. Trên "con ve chó" thêm vài sợ lông đung đƣa nhƣ cần ăng-ten, mà giống râu loài gián thì đúng hơn (Tr.53) Hôm nay anh có thể mời em dùng bữa ở khách sạn W. chứ? Vừa nói lão vừa đƣa cặp mắt, chắc chắn là hết quả lai cải tiến qua nhiều thế hệ giữa loài cú vọ, diều hâu và quạ đen, về phía Quỳnh, ánh mắt kéo dần từ cổ xuống ngực rồi đóng khung lại ở nơi chiều áo lá đang phập phồng (Tr.53) Cổng làng vẫn thế. Rêu và mấy thân tầm gửi bám xanh rì, mốc meo. Cây đa kế bên trùm kín cửa cổng tạo thế vững chắc, ung dung tự tại nhƣ chẳng thèm suy suyễn gì trong hành trình chạy đua với thời gian. Nhƣng bƣớc qua cổng làng thì choáng. Làng đâu còn nhƣ trƣớc nữa. Nhà

P57

Tên truyện

Ngôn ngữ hòa kết tả kể nhà ngóc lên, ngạo nghễ, cái thụt cái thò, xanh đỏ tím vàng, đủ màu nhƣ lễ hội hóa trang. Đƣờng sá bê tông. Cầu cống bê tông. Nhẵn thín. Tới nghĩa địa ở gò nổi của làng cũng lổ màu mè với nhiều kiểu nhà táng thiết kế tầm cỡ kiến trúc hẳn hoi chứ đâu còn sè sè nắm đất nâu (Tr.87)

8. Quẩn quanh dưới trời 9. Sẽ trôi về đâu 10. Ánh trăng trên ô cửa toa tàu 11. Người đàn bà hát tình ca trong mưa

Chiều nay ngƣời đàn bà ấy vẫn ngồi đó. Trên bậu cửa sổ những chùm tƣờng vi khẽ đung đƣa, hồng lên nhạt nhòa trong mƣa. Phố bắt đầu lên đèn. Tiếng xe vẫn còn nhộn nhịp lắm. Không biết có ai chạy xe mà nghe vắng theo tiếng guita hòa trong lời bản nhạc Khúc thụy du ấy không (Tr.165)

13. Đất vỡ 14. Ghi chú về những giấc mơ

12. Bao giờ đi hết giấc mơ Vâng, lão tên Hạng, một chân bị teo, đi cà thọt cà nhắc nên vẫn gọi là Hạng cà thọt, gọn hơn là Hạng thọt. Nhƣng lão Hạng là con ai, quê ở đâu, tại sao lại đến làng này thì chỉ lão biết. Mà chƣa hẳn lão Hạng biết. Bởi chƣa thấy khi nào lão Hạng nói ra nửa lời về gốc gác của lão. Lão Hạng nhƣ khúc thân sẵn, ngọn mía cắm xuống đất làng rồi tự mọc rễ mà sống, mà lớn lên, chứ chẳng phải từ cái hạt mọc cỏ gốc rễ từ nƣớc (Tr.168) Mƣời sáu tuổi, lúc ấy, lão Hạng là gã trai lún phún vài cọng ria mép và còn lông măng trên mặt, ngƣời chỉ có bộ khung, kiểu thiếu ăn, chƣa bao giờ đƣợc tận mắt thấy cả tòa thiên nhiên thế này chứ nói gì tới mùi vị con gái. Trong mắt lão mới thấy chó nối đuôi, trâu bò cƣỡi nhau hay gà trống đạp gà mái (Tr.170) Đấy chính là hình ảnh ngày hắn về trƣờng nhận công tác. Con đƣờng ám vào giấc ngủ hắn hàng đêm. Đƣờng bụi mù. Đƣờng bùn nhão nhoét. Lại thêm ngôi trƣờng vẹo vọ. Hắn thò đầu vào trƣờng, mấy giáo viên ở khu tập thể kế bên giật mình tƣởng anh nào đi tiếp thị sản phẩm bán hàng đa cấp (Tr.208)

P58

Tên truyện

15. Vả lại ngày đã qua

Ngôn ngữ hòa kết tả kể Cả trƣờng giật mình sửng sốt. Học sinh hỏi giáo viên. Giáo viên này hỏi giáo viên kia. Ngƣời cƣời. Kẻ lắc. Sân trƣờng thì chắc chắn không có miệng để hỏi. Trơ ra. Không còn bóng mát. Nắng chang chang nhƣ nghĩa địa (Tr.213) Trong mơ hắn thấy hình nhân sáng cắp cặp đi trƣa cắp cặp về. Chiều chiều vào khu tập thể đánh bài tú lơ khơ nhậu chơi, tối về ôm vợ. Dáng đi của hình nhân lờ đờ nhƣ không trọng lƣợng, nhƣ đi trên mặt trăng. Khuôn mặt nhàu nhò rất khó đoán tuổi, khó đoán tâm trạng. Cứ nhƣ tâm hồn treo lơ lửng trên gốc đa chỗ chú Cuội ngồi hằng ngàn đời hay (Tr.214) Anh nói bạt mạng, tào lao thiên đế, nhiều khi chẳng đâu vào đâu, mung lung khó hiểu, nhƣng có vần có vè, câu sáu tám hẳn hoi. Tê tê rồi là tiêu hóa hết (Tr.215) Riêng dáng đi của anh đồng nghiệp thƣờng xuyên đi vào giấc ngủ của hắn. Dặt dẹo và chênh vênh. Không biết rồi anh sẽ đi tới đâu. Mảnh đất cheo leo miền sơn cƣớc đã giết bao nhiêu tâm hồn trẻ nhƣ vậy. Hắn tự hỏi rồi đây hắn có lọt thỏm vào cái hố sâu hun hút nhƣ bao ngƣời vậy không?! (Tr.216) Hắn thấy con đƣờng óng ánh lên, cũng ngoằn nghèo và khúc khuỷu. Có vẻ nhƣ không hề đơn giản, nếu bƣớc về phía đó. Hắn chỉ biết rằng bƣớc đi là sẽ khác. Bƣớc đi là sẽ tới (Tr.224) Tôi xuất hiện khi cuộc nhậu sắp tàn. Đúng hơn là tôi ở đó từ đầu, nấp dƣới mấy xị rƣợu và khô mực nƣớng. Tôi thò mặt ra vào thời điểm đất trời nhá nhem, gà chuẩn bị lên chuồng. Tấm hình anh phóng viên chụp tôi khá nét, với nụ cƣời tƣơi và sáng. Nhƣng tôi trƣớc mặt ông với bộ dạng cƣời nham nhở, lấm lem tƣơng ớt rơi vãi và vết cháy đen của mực nƣớng quá lửa (Tr.225-226) Tôi bế cu em, muốn vẹo hông, đi dặt dẹo trên đƣờng làng hai bên đầy hoa cỏ may. Cu em vừa tè ƣớt quần nên phải cởi quần ra. Chim cu tím tái vì lạnh sun lại nhƣ quả ớt chỉ thiên bị sâu (Tr.227) Mẹ siêng thắp hƣơng trên bàn thờ bà nội hơn.

P59

Tên truyện

16. Hun hút cửa sông

17. Lão…vẫn hành quân

Ngôn ngữ hòa kết tả kể Những vòng khói quẩn quanh bàng bạc, bay lờ đờ nhƣ chính ánh mắt hay thất thần của mẹ. Những que hƣơng cháy đến đâu là cuộn vòng lại thành hình dấu hỏi. Cứ vậy. Hết nén hƣơng này đến nén hƣơng khác. Số dấu hỏi ngày một nhiều lên (Tr.232) Một nửa Lơn Song hƣớng ra biển. Nửa còn lại tựa vào cửa sông. Bốn về mênh mông nƣớc. Bên mặn bên lợ. Nên gọi là đảo, chứ chẳng phải đảo kiểu xa xôi giữa biển khơi trời xanh nƣớc xanh không thấy đâu là bờ nhƣ định nghĩa trong sách vở (Tr.245) Lạc cho ghe chạy dọc khúc cửa sông bao quanh đảo. Ghe xuyên vào khu rừng ngập mặn với những bụi đƣớc ken dày. Thơ ngã ngƣời sang vai Lạc. Ghe tắt máy. Hai ngƣời quấn vào nhau. Trùng triềng. Trùng Triềng. Áo bà ba đen trên ngƣời Thơ đƣợc nới ra, dần dần, từng nấc một. Ánh trăng non xiên qua những kẽ lá đƣớc, hắt lên thân hình hai ngƣời đã nhƣ một, một chấm vàng li ti, lấp lóa. Dƣới nƣớc, từng đôi cá lùa nhau, vật nhau bum bũm, lao cả vào thành ghe và rễ đƣớc. Púp...púp...púp... Cá cái phóng ra những luồng trứng gợi tình mê hoặc phía trƣớc. Cá đực lao theo rải nửa còn lại vào nƣớc mong kết hợp với trứng hứa hẹn mùa sinh sôi. Khối núi lửa trong Lạc nhƣ đƣợc kích nổ, dòng nham thạch xối xả tuôn trào. Trùng triềng. Trùng triềng. Lạc nhƣ thấy mình đã bƣớc cả hai chân vào Nhà Dài (Tr.257-258) Lão cho bi đông đựng nƣớc-kỷ vật đời chiến duy nhất còn lại-vào túi xách, rồi nở nụ cƣời độ lƣợng, nửa nhƣ hàm ơn, nửa nhƣ chiến thắng, xen lẫn hi vọng, với vợ con. Và lão bƣớc nhanh ra ngõ. Thời tiết bữa nay đẹp. Trời trong. Nắng sạch. Lão thấy phấn chấn. Lão càng tin vào chiến thắng của cả chuyến đi (Tr.262) Vết thƣơng trong ngƣời cựa quậy. Lão không thấy đau ở đấy nữa. Lão thấy đau, đau hơn ở phía ngực trái. Nỗi đau âm ỉ, kéo dài. Vết nhăn trên mặt lão xô lại, đan xen, níu kéo, chằng chịt nhƣ những con đƣờng mòn trong rừng thuở

P60

Tên truyện Ngôn ngữ hòa kết tả kể

18. Thoát nghèo

19. Biến mất không đều

trƣớc (Tr.267) Bà cụ chào, lững thững bƣớc đi. Phố lƣng chừng buổi sáng, vắng bóng ngƣời xe, những tia nắng lọt qua tàng cây kín hai bên đƣờng hắt hiu trên mái tóc bạc của bà cụ. Chị đứng nơi cửa nhà, nhìn theo, bần thần hồi lâu (Tr.273) Đám tang bà cụ chỉ lèo tèo vài ngƣời. Heo hắt buồn. Heo hắt lạnh. Lạnh nhƣ những hạt mƣa thản nhiên lả tả rơi dọc phố do thời tiết bất thƣờng độ này. Đến tiếng nhạc trong đám tang nghe cũng nhƣ lạc nhịp vấp váp và se thắt hơn (Tr.274) Lan can lộng gió. Trời đầu tháng tối đen nhƣ mực. Có vài vì sao lạc nhƣng chẳng đủ sáng, lóa lên từ phía xa xăm. Chỉ gió là hào phóng, ràn rạt thổi, đập qua hàng me cổ thụ phía ngoài, xào xạc. Hắn vẫn không thôi cảm giác nhồn nhột bên nách phải (Tr.279)

Tập truyện: Thừa ra một người 1. Kẻ rao bán 2. Giấc mơ bị đánh cắp

3. Si sẽ lại xanh

4. Người canh sương

Sáng nay trời đẹp. Không cao không thấp. Không leo lét xanh. Không lủng lảng xám. Một bầu trời trung tính. Hắn vẫn thích những gì vừa vừa phải phải. Nghĩa là đừng có quá. Hình nhƣ cái gì hơi quá cũng mất vui, mất hay (Tr.22) Đàn kiến cũng không nghĩ thế. Cây trút hết lá. Nắng bốn bề xối vào cây, là nơi bao đời họ hàng nhà kiến qui tụ trở nên nóng bức quá thể. Đàn kiến co cụm lại. Hình nhƣ chúng đang họp, tranh cãi về một vấn đề hệ trọng gì đấy. Có vẻ nhƣ khá căng, và quyết liệt (Tr.35-36) Những chỏm đầu xanh lẫn trong những chỏm đầu bạc. Mặt nhăn nhó. Mặt căng thẳng. Mặt xám xịt. Mặt đầy lông tơ. Lúc nha lúc nhúc. Hỏi hỏi. Nói nói. Ấp a ấp úng. Lúng la lúng liếng. Trơn mép dẻo môi. Khoa chân múa tay. Trầm tƣ suy tƣởng. Đủ các sắc thái biểu cảm và toan tính (Tr.40) Trời lạnh. Màn sƣơng mịn, dày đặc. Nhƣ không thể nhịn và đặc hơn đƣợc nữa. Xứ xở này vốn thế.

P61

Tên truyện

5. Rũ bùn mà đi

6. Đời lâng lâng 7. Chim cánh cụt biết bay

8. Khe Mung Lung

Ngôn ngữ hòa kết tả kể Cô gái bƣớc ra từ màn sƣơng màu sữa dê, khẽ mỉm cƣời. Anh nhìn quanh, không thấy thêm ai, chỉ anh và cô gái lọt thỏm giữa bảng lảng sƣơng mù, lúc này anh mới tin rằng cô gái cƣời với mình. Anh cƣời, nụ cƣời từ tốn, đáp trả (Tr.43) Khuôn mặt cô gái sáng hơn lúc trƣớc. Đẹp lạ lùng, mơ màng, tinh khôi. Giới tính đàn ông trong anh trỗi dậy. Hai tay anh nắm tay cô gái nhƣ không còn vô tƣ nữa (Tr.55) Lần sau em về trên chiếc Mercedes cáu cạnh màu trắng trang nhã. Bên em là ngƣời đàn ông rậm râu sâu mắt, thân hình phƣơng phi vừa dài vừa to. Hình thức đập vào mắt vậy, chứ lục phũ ngũ tạng, hay bộ phận khác quần áo che rồi, to dài thế nào chỉ em và ông ta biết (Tr.71) Chim cánh cụt. Đúng. Là chim cánh cụt. Con chim đứng bình thản vô tƣ lự dƣới giàn tƣờng vi trong sân nhà anh. Ánh mắt ngơ ngác ngái ngủ buổi sớm mai của anh chạm ánh mắt ngác ngơ tỉnh bơ của nó (Tr.89) Đầu và lƣng chúng màu đen, bụng và chân màu trắng, ngực màu vàng nhạt và tai màu vàng tƣơi. Cơ thể thuôn dài. Khác chút là đôi cánh dài và nhẹ nhàng hơn. Cơ thể cũng thon gọn và trọng lƣợng, có lẽ bé hơn so với đồng loại Nhƣng đích thị vẫn là chim cánh cụt, họ Spheniscidace, nhƣ anh nhanh tay vào mạng tìm hiểu (Tr.93) Ngƣời ngƣời kéo nhau đến nhà anh xem sinh vật lạ. Khoảng sân bé tin hít trở thành quá tải, chật chội. Bụi hoa tƣờng vi dẫm nát bét. Mấy bụi hoa khác vàng vàng tim tím không biết tên, tạm gọi là hoa vàng mấy độ, hoa tím ngoài sân, bị chà đạp không thƣơng tiếc (Tr.96) Hai bông trang đỏ ối, phủ phục từng chùm, sà xuống chớm mặt nƣớc hai bên bờ khe. Đỏ đau đáu. Đỏ ray rứt. Đỏ nhƣ chƣa bao giờ đƣợc đỏ. Nhƣ chƣa bao giờ đỏ đến thế. Chiều cũng rực đỏ dƣới núi. Đấy là những buổi chiều hằn vào

P62

Tên truyện

9. Khúc mơ hoang

tay

Ngôn ngữ hòa kết tả kể trí nhớ Trang từ thuở chập chững lớn, chập chững tiếp nhận những thứ bủa vây xung quanh mình (Tr.103) Cò lần Trang ngô nghê thắc mắc, mẹ cƣời, nói bố con là khe, khe đỡ con, có ông bố nào lại muốn giết con không? Trang tin sái cổ. Không buồn để ý sau câu nói ấy, hình nhƣ mắt mẹ ầng ậc nƣớc, ngƣời dại đi, nhƣng hàm răng nhƣ nghiến lại, kèn kẹt (Tr.105) Từ ngày còn đạp bụng mẹ, vụng về trở đầu khiến tràng hoa quấn cổ, mẹ đã gọi tên Trang trong những lời ru của mình, bởi mẹ thích bông trang. Có phải vậy mà càng lớn Trang càng đẹp ra? Phảng phất chút hoang dã. Phảng phất chút e ấp. Tƣởng là lồ lộ mà lại kín đáo. Rất đằm. Nhƣ hoa bông trang khoe sắc bên bờ khe (Tr.107) Những cánh hoa bông trang bầm giập đỏ ối phủ kín mặt nƣớc khe, trôi xuôi trong đắng đót và xót xa. Nhƣ thể hoa thắp lửa cho khe lần cuối trƣớc giây phút tiễn biệt chia li. Mẹ Trang đứng trên nhà nhìn xuống khe, đƣợc lúc, nhƣ thể thấy không nỡ, đành quay vào (Tr.115) Tối qua hắn quên kéo cửa sổ. Gió làm tấm rèm màu mỡ gà, với họa tiết một loài hoa gì đó không biết tê, bay lất phất Ánh nắng râm ran đầu ngày lƣớt vào theo Hắn mắt nhắm mắt mở làm quen với ánh sáng, cứ nhƣ vừa từ tầng 18 của địa ngục trở về. Hai chân hắn xoa vào nhau, hai xoa một đập. Miệng hắn giãn ra hết cỡ, hít một hơi dài, giữ lại trong phổi một nhịp rồi tống tất cả ra, với lực đủ mạnh để giải phóng lũ vi khuẩn ăn chơi nháy múa tán tỉnh nhau trong miệng suốt đêm bật ra với tốc độ gần bằng một cú hắt xì (Tr.118-119) ra ban công Hắn đẩy cửa, bƣớc Ngƣớc lên, hắn thấy trăng sáng vằng vặc. Không có một sợi gió. Cây lá vẫn rung rinh. Chuồn chuồn bay cao. Chim chao lƣợn sát đất. Ngƣời hắn thƣ thái nhẹ nhàng (Tr.120-121) Ở góc ngã ba kia, cách hắn không xa, cô gái mặc bộ váy đỏ bó sát ngƣời với tóc đỏ, môi đỏ, móng chân móng tay đỏ, có lẽ phụ tùng nội thất

P63

Tên truyện

10. Nụ hôn ảo

11. Thừa ra một người

Ngôn ngữ hòa kết tả kể cũng đỏ, còn có phải gà móng đỏ hay không thì chƣa dám kết luận. Cô gái ngồi trên xe Attila màu đỏ-có đuôi là nữ hoàng xứ sở sƣơng mù- Elizabeth nhƣ ngồi trên bò tót ở Tây Ban Nha về. Mở ngoặc là xứ sƣơng mù ngày xƣa thôi, giờ hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ toàn cầu tăng không biết sƣơng mù còn đƣợc mấy nữa, có khi cảnh mờ mờ nhân ảnh đã ngủ say trong những câu chuyện cổ rồi (Tr.121) Thuở ấy, để dọa cho trẻ con ngủ trƣa, tránh đầu trần chang nắng, ngƣời lớn thƣờng kháo nhau giờ giữa trƣa ở phía bìa rừng có con trăn trăm lẻ một tuổi, mình dài cả chục thƣớc, thân xù xì rên xanh rì mọc trên ngƣời. Con trăn có lƣỡi dài cả mét, thò ra thụt vào nhanh nhƣ chớp. Với lƣỡi đen ngòm ấy nó có thể vơ một lần vài đứa trẻ trong nháy mắt. Phía đầu làng, trên cây si, đích thị là nơi cƣ ngụ của con ma lƣỡi dài mét hai (Tr.131) Hắn nghĩ cái lƣới mạnh mẽ, đầy sức lôi cuốn của nàng, cứ thoắt đen rồi đỏ. Mềm dẻo và ƣớt rƣợt. Bện lấy hắn. Hắn không cƣỡng lại đƣợc. Hắn chết ngạt mất. Hắn bị nuốt mất. Hắn thấy đuối lắm rồi. Chết không ngừng. Cái lƣỡi. Trời ơi. Cái lƣỡi dài mét hai (Tr.132) Gốc lƣỡi hắn dần cụt đi, muốn mất luôn gốc. Lƣỡi nàng, không, lƣỡi đỏ lƣỡi đen, lại đƣa sâu vào, ngo ngoe, bỏng rát. Không chịu đƣợc nữa. Khéo hắn tan chảy ra mất. Có mà thành nƣớc. Nƣớc thì không sợ gì nữa. Nƣớc có thể chảy tới mọi ngóc ngách. Dẫu ƣớc có biến dạng kiểu gì, bị tác động kiểu gì, ô nhiễm kiểu gì, rồi cũng sẽ bốc hơi, rồi lại ngƣng tụ thành mây, nặng quá rơi thành hạt mƣa, mây mƣa. Lại tinh khiết. Nƣớc mƣa luôn tinh khiết, luôn làm sạch mọi thứ, cuốn trôi mọi thứ (Tr.137) Đống lửa trại tắt dần. Củi cũng đã hết. Thi thoảng vài tàn lửa gặp gió bốc lên, bay lả tả, nổ lép bép. Những củ khoai lang, khoai mì, khoai tây…đƣợc học trò moi ra từ hồi nảo hồi nào. Nếu còn sót lại chắc vừa kịp thành carbon. Một số bắt đầu uể oải về trại riêng của lớp (Tr.139) Đến nhà học trò. Thấy cám cảnh quá. Trong

P64

Tên truyện

Ngôn ngữ hòa kết tả kể nhà chẳng có gì, ngoài gió lùa tứ bề. Vƣờn cỏ mọc tùm lum. Cỏ nhiều và cao hơn cả mấy cây rau. Bố mẹ đều đi làm thuê. Vẫn cố cho con học với ngƣời. "Nó lấy chồng giờ thì biết gì? Làm đƣợc gì? Không lẽ lại khổ hơn đời bố mẹ" (Tr.143)

13. Buổi sáng khác lạ 14. Xúc cảm

15. Mẹ, con và những khoảng trống

16. Bến mê

12. Tiếng vọng phía xa xăm Tâm nằm đó. Co ro và ngoan ngoãn. Nhìn vào chẳng ai biết đây là một sinh viên năm hai. Tôi và nàng ngẩn ngơ nhìn theo biểu hiện của các bệnh nhân tâm thần khác phía dãy nhà đối diện qua cửa sổ, sau khi nàng đã kể xong câu chuyện về Tâm cùng những tiếng thở dài, thì Tâm tỉnh lại (Tr.165) Anh ngoài miền Trung vào. Chị ở miền Tây lên. Hai ngƣời lọt thỏm giữa hòn ngọc Viễn Đông. Là nói theo lối ví von hồi xƣa. Chứ hòn ngọc giờ nóng nực, bụi mù ngột ngạt, óng ánh theo kiểu khác (Tr.185) Dạo này trông mẹ gầy đi. Da sạm hơn. Mẹ ăn ít. Chắc chắn ngủ cũng ít. Anh hiểu mẹ. Mẹ là ngƣời hay nghĩ. Chuyện gì cũng nghĩ. Nghĩ vẩn vơ. Dây cà dây muống. Chuyện chẳng có gì cũng nghĩ (Tr.195) Cái bến rộng với thảm cỏ xanh và mƣợt. Trên bờ kè mọc lên những cội hoa thạch thảo và xuyến chi, đảm bảo cô gái nào nhìn vào cũng phải thốt lên thích thú. Ngƣời dân bao đời ở thành phố này truyền miệng nhau rằng, những cặp đôi yêu nhau mà đến bến Mê sẽ chẳng bao giờ đến đƣợc với nhau (Tr.201)

Tập truyện: Sa lan đỏ bãi Xanh 1. Đầu năm đi chùa

2. Hạ huyệt an toàn

Mỗi lần động thổ khởi công dự án từ hàng phó phòng trở lên đều đƣợc bắt-buộc-vinh-dự cùng sếp ngồi đội lễ nghiêm cẩn đủ tuần hƣơng, mặc kệ không gian thời gian, nửa đêm gà gáy mƣa lâm thâm hay giữa trƣa nằng cháy hầm hập (Tr.12) Thành phố biển sóng vẫn dịu êm gió vẫn chan hòa. Sóng trên môi ngƣời râm ran khó tả. Gió trên má ngƣời khó tả râm ran. Trong nhà, ti vi lúc lúc lại sôi lên với bài hát Happy New Year

P65

Tên truyện

3. Hoàng tử tuối xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn

4. Vỏ anh hùng Ngôn ngữ hòa kết tả kể của ban nhạc ABBA huyền thoại. Ngoài phố, góc nào cũng mồm-văn-hóa, gọi tên cúng cơm là loa công cộng, chõe lên nền trời xanh văn xanh vắt, Tết Tết tết tết tết đến rồi lại hạ nửa tông xuống Mùa xuân sang ta chúc nhau. Tết và xuân quần nhau uỳnh uỵch với đề-xi-ben lớn muốn vỡ màng nhĩ trái xuyên qua màng nhĩ phải, hoặc ngƣợc lại (Tr.36) Sáng sáng chàng đi bộ ra biển. Áo pull thể thao. Quần short thể thao. Một cây. Trắng từ trên xuống dƣới. Tinh khôi xen lẫn tinh khiết. Từ nhà ra đến biển, tay vung chân đá, miếng há một hai một hai, nhún nhảy, xem nhƣ xong công đoạn khởi động. Cởi áo, kiểm tra lại dây rút khóa quần, rồi ầm, vào mênh mông bình minh biển cả. Quần đi quần lại vài vòng, Bơi bƣớm. Bơi ếch. Bơi ngửa. Bơi chó. Thuần thục. Đủ hết. Tùy thời tiết với thời điểm mà tự biết phải bơi kiểu gì. Chàng kinh nghiệm đầy mình. Bao nhiêu năm đƣơng chức bơi cạn, bơi khắp dự án này đến đƣờng ngang ngõ tắt khác còn làm đƣợc, huống hồ trò khua chân đập tay bùm bũm của trẻ con. Muỗi nhé (Tr.54-55) Bình minh bắng nhắng. Biển không động cũng chẳng lặng thinh. Ì oạp sóng vờn nhau ƣỡn ờ bập bờ bập bãi. Nàng uốn éo chầm chậm đƣa cây quạt có loằng ngoằng câu thƣ pháp Việt, là lời bài hát của nhạc sĩ tài danh biết lời đẹp hơn cả thơ "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không Để gió cuốn đi", theo bài thái cực quyền hay cực bắc cực nam gì đấy, bỗng nhiên lăn đùng ngã ngữa. Cú tiếp đất nhẹ nhàng uyển chuyển nhƣ động tác của bài tập (Tr.62) Trời ạ! Hoàng tử xế chiều đây chứ đâu. Bờ ngực chắc nịch. Cánh tay rắn rỏi. Không mảy may dấu hiệu mệt mỏi. Thành phố bé tí hin ngƣời thƣa thoáng đãng, đầu này hô cƣớp giật đầu kia đã nghe, tƣởng nhƣ ai ai cũng thuộc mặt nhau đƣợc, sao giờ nàng mới gặp chàng? Ông trời ác (Tr.63)

P66

Tên truyện

5. Chung chiêng hẻm cụt

6. Sa lan đỏ bãi xanh

Ngôn ngữ hòa kết tả kể Lão nhìn tôi, máy mắt, ánh mắt long lanh nhƣ của con đực vào mùa đạp mái. Nhƣng mẹ chủ thì không. Giọng mẹ có quãng rộng, the thé, kiểu vắng hơi chồng đã lâu nên cứ loãng lếch, công với lẫn lộn l và n, lại nhịu lại nồn (Tr.98) Tháng ba. Đêm mềm nhƣ tấm lụa đen phủ xuống làng. Ánh trăng non về sáng chứng nhƣ lúc khuya nên ra dáng ngái ngủ khiến không gian trở mình sang vẻ huyễn hoặc hơn. Mỗi gió là nóng. Gió quăng quật từ bãi quặng vào. Gió cuốn sạch bách hơi sƣơng. Không chút phân vân. Chẳng mảy may cân nhắc. Thành ra hanh và khô. Trơ ráp. Ngƣợc chiều gió, giữa loãng lếch đêm, là phảng phất bóng áo trắng. Lầm lũi đi. Hay là bay? Dễ gì phân biệt. Chấp chới. Nửa nhƣ muốn tan vào đêm. Nửa nhƣ muốn hiện hơn rõ trong đêm. Lúc lúc lại có tiếng chó cắn hƣớng về bóng trắng, lan ra, mất hút, vừa nhƣ đồng lòa vừa nhƣ phản kháng màn đêm tĩnh mịch (Tr.99- 100) Những chiều gối đầu lên cỏ non bên cạnh vạt sa lan để mặc tƣởng tƣợng bay nhảy theo gập ghềnh trăm nẻo vạn đƣờng mới thật là dễ chịu. Những chiều gom cánh sa lan lƣng lửng nón rồi xuống suối thả cho ánh nhìn dập dìu trôi theo vệt đỏ. Những chiều gió quẩn hất ngƣợc từng cánh sa lan bay rối hoàng hôn tím sẫm (Tr.116) Bữa ấy mƣa. Mƣa núi. Nhanh. Mạnh. Bạo liệt. Nhƣ đánh úp. Chiếc áo mỏng manh của Yên càng trở nên mỏng manh hơn trƣớc sức nƣớc nhà trời. Những đƣờng cong dần hiện ra. Ẩn chƣa năng lƣợng xuân thì. Mƣa. Núi đồi đồng bãi mờ mờ ảo ảo. Mƣa. Nhấp nhô núi đồi nơi Yên ảo ảo mờ mờ. Căng tràn nhựa sống. Khái nữa. Vồng ngực chàng trai mƣời bảy dáng vóc Thạch Sanh cựa quậy. Sa lan bời bợi rụng theo mƣa. Trôi. Trôi theo miền hoan lạc. Trôi. Trôi. Trôi. Ngút ngát. Miên man. Rồi khựng lại bởi gặp barie, là anh thứ của Yên, ngƣời anh cục mịch chẳng hiểu sao luôn ganh tị với Yên từ bé lại xuất hiện đúng lúc ấy (Tr.126) Thời điểm ấy nàng còn lo công chuyện làm ăn 7. Ngoài mọi quy luật

P67

Tên truyện

8. Giăng lưới bắt chim 9. Làm gì có báo lá cải

10. Lấy chồng à? Chuyện nhỏ!

11. Đi nửa ngày đàng

Ngôn ngữ hòa kết tả kể phía trời Tây. Chàng đi diễn về khuya. Đƣờng vắng hoe thi thoảng mới loe ngoe vài ngƣời. Ngang qua khu vực đang thi công cầu vƣợt nhằm giảm tải ở một ngã tƣ. Đèn đƣờng cột có cột mất. Vàng ệch nhƣ dát nghệ úng nƣớc. Mấy cây sắt rủ nhau tìm hiểu về lực hấp dẫn, học theo quả táo của Newton, rơi xuống. Chàng tất nhiên không phải Newton, hứng trọn. Đi thẳng một mạch về miền giun dế, nhanh hơn đi tàu cao tốc (Tr.146) Buổi sáng ấy thành phố vẫn bình thƣờng nhƣ mọi ngày. Nắng đỏng đảnh. Gió đong đƣa. Có hai ngƣời ủ mƣu toan tính về ấn phẩm mới cho thị trƣờng báo chí. Không biết, ở cả đất nƣớc này, có bao nhiêu những "hai ngƣời" nhƣ vậy. Trong khi các sạp báo ở mọi ngóc ngách thành phố vẫn rực rỡ ƣỡn ẹo phơi mình với những bài những tin về cƣớp hiếp giết là chủ đạo, sao xẹt là chủ yếu (Tr.176) Bữa ấy bình thƣờng nhƣ bao ngày không có gì bất thƣờng ở thành phố này. Nghĩa là gió thổi cứ thổi, chim kêu cứ kêu, sóng biển vỗ cứ vỗ. Ngƣời cứ thế, quay đều quay đều quay đều. Với công việc nhƣ hôm trƣớc, và cũng chắc nhƣ ngày sau. Mỗi ngày sống là mỗi ngày lặp lại mình, nhàn nhạt (Tr.182) Ba giờ ba mƣơi phút. Màn đêm đen kịt. Làng nằm dƣới thung lũng nên bình minh trở mình chậm hơn nơi khác. Huống hồ lúc này còn là giờ của cõi âm. Đen kìn kịt. Nhƣ mọi ngày chắc chắn lặng nhƣ tờ. Đến ma trơi cũng không còn. Và chó thì cũng đã cắn mỏi mồm, lăn sâu vào giấc ngủ lâu rồi. Riêng hôm nay khác. Chiếc xe ô tô 32 chỗ ngồi đậu chình ình nơi gốc si giữa làng bóp còi inh ỏi nhƣ tiếng gọi đò đêm. Khác chăng tiếng gọi đò nhẹ nhàng thánh thót tan vào không gian lăng lắc, còn tiếng còi xe rè rè chói tai và ngang phè phè. (Tr.193) 12. Nhà thơ cấp nước

P68

PHỤ LỤC 7

BÀI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA NHÀ VĂN VĂN THÀNH LÊ

GỬI TÁC GIẢ LUẬN VĂN

1. Tác giả luận văn: Đƣợc biết anh từng là giáo viên dạy Sinh học, cơ duyên

nào dẫn dắt anh đến với văn chƣơng?

Nhà văn Văn Thành Lê:

Tôi đến với văn chƣơng vô cùng hồn nhiên. Nhƣ mọi đứa trẻ quê quen leo

đồi lội ruộng, chơi đủ trò trên đồng dƣới bãi, tôi còn bày đặt ngẩn ngơ chế những

câu có vần có vè cho lũ bạn mục đồng cùng đọc lên chọc lỗ nhĩ chơi. Từ nói

miệng đến bí mật chép lại những nghĩ suy vụng về vào cuốn sổ tay be bé. Từ tới

tấp viết rồi “bỏ bom” các tòa soạn đến tác phẩm đầu tiên đƣợc lên báo. Từ tập

truyện đầu tiên nhiều non tơ lắm thơ dại đến những cuốn sách sau, càng ngày

càng tự biết dọn ngòi bút sạch sẽ hơn. Đấy là hành trình dằng dặc dài với cá nhân

tôi. Khởi đi từ thuở hoa niên trộn phất phơ mơ màng trong lung linh ảo mộng.

Văn chƣơng đã rộng lòng đón cậu bé quê, là tôi, nhƣ vậy. Lắng lòng, nghĩ lại,

vẫn thấy tƣơi ròng xúc cảm thuở ngày xƣa chƣa xa.

Còn việc từng học và dạy học môn Sinh học, tôi nghĩ cũng hết sức bình

thƣờng. Văn chƣơng luôn sẵn lòng đón đợi và rộng cửa với mọi cá nhân, từ khắp

các ngành nghề, lĩnh vực, minh chứng là các nhà thơ, nhà văn Vũ Quần Phƣơng,

Đỗ Hồng Ngọc và Phan Thị Vàng Anh học Y khoa, Nguyễn Quang Lập và

Nguyễn Thành Phong học Bách Khoa, Bảo Ninh và Y Ban học Sinh học, Hồ

Anh Thái học Ngoại giao, Trần Đức Tiến và Tô Hải Vân học Kinh tế, Vƣơng

Trọng, Thạch Quỳ và Đặng Hấn học Toán, Nguyễn Vĩnh Tiến và Đặng Thiều

Quang học Kiến trúc, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Thị

Châu Giang, Ly Hoàng Ly và Vũ Đình Giang học Mỹ thuật, Hoàng Công Danh

và Chu Thuỳ Anh học Vật lý v.v…

2. Tác giả luận văn: Từng bƣớc xác lập tên tuổi trên văn đàn, anh có thể

chia sẻ quan niệm về văn chƣơng của mình?

Nhà văn Văn Thành Lê:

P69

Với chữ nghĩa, văn chƣơng, tôi nghĩ cánh cửa bƣớc vào thì rộng, thì

không quá khó. Vui chơi thoáng chốc thôi, thì nhẹ nhàng lắm, giản đơn lắm.

Nhƣng để đi đƣờng dài, để sống chết dấn bƣớc, thật không dễ dàng gì. Hoang

mang. Thậm chí có thời đoạn sẽ bế tắc. Nhiều khi nhƣ ngƣời nhắm mắt đi trên xa

lộ, hồi hộp và run rẩy. Nhƣng, chính sự còn hoang mang và run rẩy mới khiến tôi

viết tiếp đƣợc. Khi đã hết hoang mang và run rẩy, chắc tôi sẽ toàn tâm cho việc

khác chứ không phải viết văn.

Văn chƣơng, ngỡ xa tầm với mà lại gần, bởi xét đến cùng, đấy là con

đƣờng nhận diện cái tôi của mình. Tôi viết, là tôi đang đào bới đục khoét vào

chính tôi. Mọi thứ xuất phát trên vạch ẩn ức cá nhân. Tôi không nhân danh hay

mang vác sứ mệnh gì, dù lớn hay bé. Nếu có, thì đấy là tự mình đeo ách khát

khao cho câu chữ chạm đến tận cùng của mình mà thôi.

Tôi cứ hình dung văn chƣơng thật vô cùng, là cả chân trời rộng. Ngƣời

viết nhƣ những cánh chim thồ chữ về phía ấy. Đến đây thì tôi nhớ câu thơ của thi

sĩ Hoàng Nhuận Cầm, rằng: “Nhƣ cánh chim trong mắt của chân trời/ Ta đã

chán, lời vu vơ giả dối/ Hót lên! Dù đau xót một lần thôi.”

Sau cùng, tôi nghĩ, tự biết con chữ của mình luôn là cảnh giới khó nhất với

mỗi ngƣời viết.

3. Tác giả luận văn: Đọc các tác phẩm của anh, không khó để nhận thấy rất

nhiều thành ngữ, tục ngữ đƣợc khai thác, lồng ghép, xoắn bện một cách tự

nhiên trong các tác phẩm. Đây là có phải là dụng ý nghệ thuật? Anh có thể

chia sẻ về điều này?

Nhà văn Văn Thành Lê:

Không chỉ thành ngữ, tục ngữ, mà còn khẩu ngữ, lời bài hát, lời nhạc chế

v.v… đều khiến tôi hào hứng và “lai dắt” vào tác phẩm khi thấy hợp không khí.

Chính ngôn ngữ dân gian, kể cả dân gian đƣơng đại, đi vào trang viết sẽ góp

phần khiến văn và đời, đời và văn bện chặt thành một. Theo đó, một cách tự

nhiên, sự ngân rung của tác phẩm nhƣ có thêm ăng – ten để chạm đến sự ngân

rung trong lòng ngƣời đọc.

P70

4. Tác giả luận văn: Trên hành trình định vị mình, tại sao anh lại chọn lựa

lối viết hiện thực?

Nhà văn Văn Thành Lê:

Tôi bắt đầu với hiện thực trần trụi. Đã từng tìm tòi, thể nghiệm với hiện

thực huyền ảo (một số truyện trong tập Thừa ra một người). Nhƣng dù viết gì,

viết nhƣ thế nào thì cũng đứng trên cái nền hiện thực, của cuộc sống, hoặc đƣơng

đại hoặc kí ức đã qua.

Tôi quan niệm những gì mà tôi đã “đi guốc vào bụng” là “bột”, cộng

hƣởng với tƣởng tƣợng tôi mới có thể gột nên “hồ - tác - phẩm”. Khả năng tƣởng

tƣợng chỉ thực sự phát tác và có ý nghĩa khi đƣợc đứng trên nền vốn sống/hiện

thực chắc chắn, nghĩa là đứng chân trên những gì mình “thuộc” nhất. Văn

chƣơng phải bắt nguồn và mang hơi thở của bộ mặt cuộc sống, dĩ nhiên ở đó con

ngƣời là trung tâm. Nếu không vậy, hẳn nhiên ngƣời viết sẽ tự cô lập mình với

bạn đọc.

Chất sống là xƣơng sống của tác phẩm. Tƣ tƣởng làm nên hồn cốt tác

phẩm. Tác phẩm ít chất sống và tƣ tƣởng “đi vắng” sẽ là tác phẩm èo uột thiếu

sinh khí. Mọi kĩ thuật lúc này chỉ là tấm áo khoác ngoài, loay hoay lấp liếm.

Tác giả luận văn: Chân thành cảm ơn anh!

P71

PHỤ LỤC 8

HÌNH ẢNH TRANG BÌA TÁC PHẨM CỦA VĂN THÀNH LÊ

ĐƢỢC KHẢO SÁT TRONG LUẬN VĂN

Trang bìa tác phẩm Không biết đâu mà lần của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

P72

Trang bìa tác phẩm Biết tới khi nào mưa thôi rơi của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

Trang bìa tác phẩm Thừa ra một người của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

P73

Trang bìa tác phẩm Sa lan đỏ bãi Xanh của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

P74

Trang bìa bốn tác phẩm của Văn Thành Lê đƣợc khảo sát trong luận văn

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

Trang bìa các tác phẩm của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

P75

Trang bìa hai cuốn Chân dung văn học của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

Bản kí tặng cuốn sách Lần đường theo bóng của Văn Thành Lê

(Nguồn: Tác giả luận văn chụp)

P76