ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
DƢƠNG NGỌC MINH KHÁNH
Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
U N VĂN THẠC S
BÌNH DƢƠNG – 2023
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
DƢƠNG NGỌC MINH KHÁNH
Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
U N VĂN THẠC S
NGƢỜI HƢỚNG D N KHOA HỌC:
TIẾN S TẠ ANH THƢ
BÌNH DƢƠNG – 2023
i
ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những tƣ
liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn gốc cụ thể. Kết
quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất cứ công trình nghiên cứu nào
từng công bố.
Tác giả
ii
Dƣơng Ngọc Minh Khánh
ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, bản thân tôi đã nhận đƣợc sự hỗ trợ, giúp đỡ tận
tình từ quý thầy cô, cơ quan, gia đình và bạn bè thân thiết. Qua đây, tôi xin đƣợc
gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Lãnh đạo trƣờng Đại học Thủ Dầu Một, Phòng Đào tạo Sau đại học,
Chƣơng trình Thạc sĩ Văn học Việt Nam vì đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành luận văn.
- Các thầy, cô giáo trong và ngoài trƣờng đã giảng dạy, bổ trợ cho tôi
những tri thức quý giá trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trƣờng
Đại học Thủ Dầu Một.
- Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Tạ Anh Thƣ - ngƣời cô đáng
kính đã tận tụy, yêu thƣơng và dành toàn tâm sức để hƣớng dẫn, chỉ bảo, trang
bị cho tôi những tri thức, kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành luận văn tốt
nhất.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những ngƣời
luôn quan tâm và động viên tôi vƣợt qua mọi trở ngại để hoàn thành luận văn
này.
Tác giả
ii
Dƣơng Ngọc Minh Khánh
MỤC ỤC
ỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. ii
ỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. ý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. ịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
2.1 Các công trình nghiên cứu về phái tính ........................................................ 2
2.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ
.............................................................................................................................. 11
2.2.1 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông Nam Bộ
nói chung ............................................................................................................. 11
2.2.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về từng nhà thơ nữ Đông
Nam Bộ ................................................................................................................ 15
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 20
3.1 Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 20
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu, ................................................................................... 20
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 21
4.1 Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 21
4.2 Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 21
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 22
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................... 24
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 24
iii
Chƣơng 1 ............................................................................................................. 25
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG
THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020 ........................ 25
1.1. Giới thuyết về phái tính và nữ quyền ........................................................ 25
1.1.1. Ý thức phái tính ......................................................................................... 25
1.1.2. Ý thức nữ quyền ........................................................................................ 28
1.2 Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam từ trung đại đến hiện đại ........ 32
1.2.1. Ý thức phái tính trong thơ nữ trung đại .................................................. 32
1.2.2. Ý thức phái tính trong thơ nữ hiện đại .................................................... 36
1.3 Quá trình phát triển ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ đƣơng
đại......................................................................................................................... 42
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000 ..................................................... 42
1.3.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2020.............................................................. 47
Chƣơng 2 ............................................................................................................. 55
BIỂU HIỆN Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ
NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020 .................................................................................. 55
2.1 Ý thức về cái tôi bản thể .............................................................................. 55
2.1.1 Ý thức về vẻ đẹp nữ tính ............................................................................. 55
2.1.2 Ý thức về vẻ đẹp cá tính .............................................................................. 60
2.1.3 Ý thức thân thể ........................................................................................... 65
2.1.4. Ý thức về thiên chức làm mẹ .................................................................... 68
2.2 Ý thức về tình yêu ......................................................................................... 74
2.2.1 Khát khao yêu thương mãnh liệt, cháy bỏng ............................................ 75
iv
2.2.2 Mạnh mẽ đối diện với cô đơn, đau khổ, bất hạnh .................................... 80
2.2.3 Khát vọng giải phóng tính dục khỏi những ràng buộc ............................ 88
Chƣơng 3 ............................................................................................................. 97
MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THU T THỂ HIỆN Ý THỨC PHÁI
TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020
.............................................................................................................................. 97
3.1 Hệ thống biểu tƣợng mang tính nữ ............................................................ 97
3.1.1 Biểu tượng Đất và các biến thể của Đất ................................................... 97
3.1.2 Biểu tượng Nước và các biến thể của Nước ........................................... 100
3.1.3 Biểu tượng bóng Đêm và các biến thể của Đêm ..................................... 101
3.2 Ý thức phái tính và giọng điệu .................................................................. 102
3.2.1 Giọng tha thiết, tâm tình .......................................................................... 103
3.2.2. Giọng hoài nghi, cô đơn ......................................................................... 106
3.2.3 Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ .................................................................... 111
3.2.4 Giọng giễu nhại ........................................................................................ 114
3.2.5 Giọng vô âm sắc ....................................................................................... 117
3.3 Ý thức phái tính và ngôn ngữ .................................................................... 120
3.3.1 Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính ...................................................................... 120
3.3.2 Ngôn ngữ mang tính "phồn thực" .......................................................... 123
KẾT U N ....................................................................................................... 126
v
PHỤ ỤC .......................................................................................................... 137
MỞ ĐẦU
1. ý do chọn đề tài
Nếu nhƣ ngày trƣớc, Clarlotte Bronte phải đổi bút danh thành Currer Bell
để giống nam giới mới có thể đặt chân vào thế giới văn học, ký đƣợc hợp đồng
với nhà xuất bản thì ngày nay, ta bắt gặp khá nhiều tác phẩm của các tác giả nữ
đƣợc bày bán trên những kệ sách mà họ không cần phải thay đổi tên họ của
mình. Không biết từ bao giờ, quan niệm “Văn chƣơng không phải là nơi cho
một ngƣời phụ nữ luận bàn” đã bị xem là một quan niệm cổ hủ, phiến diện.
Những ngƣời đàn bà mặc váy, múa bút đã kiêu hãnh thể hiện tài năng của mình
trên hầu hết các trận địa văn học, nghệ thuật, với đầy đủ những phong cách đa
dạng, từ cao khiết sáng trong đến trần tục, nhục dục. Họ không ngại ngần gửi
gắm tất cả tâm sự thầm kín của bản thân vào thơ và dùng thơ để mƣu cầu khát
khao hạnh phúc, bày tỏ cảm xúc, biểu hiện cách nhìn với cuộc sống. Tiếng nói
phái tính trỗi dậy mãnh liệt nhƣ một nhu cầu tất yếu phải xảy ra. Tìm hiểu về ý
thức phái tính trong thơ nữ có thể xem là một dấu hiệu trong quá trình dân chủ
hóa, bình đẳng giới.
Nhắc đến vùng đất Đông Nam Bộ, mọi ngƣời vẫn thƣờng hay nhớ đến đó
là một “miền Đông gian lao mà anh dũng”. Các nghiên cứu về địa lý, lịch sử,
văn hóa, kinh tế,… khá dồi dào. Riêng ở mảng văn xuôi, đã có không ít những
bài chuyên luận nghiên cứu về tác giả, tác phẩm. Nhƣng đặc biệt ở khía cạnh
nghiên cứu thơ ca thì tôi cho rằng còn nhiều bỏ ngõ. Trong khi đó, khoảng 10
năm gần đây, thơ nữ Đông Nam Bộ lại có sự bùng nổ nhiều hiện tƣợng, gƣơng
mặt liên tiếp phá vỡ hệ thẩm mỹ truyền thống, buộc ngƣời đọc phải tiếp nhận
với thái độ và tƣ duy khác. Cùng với văn chƣơng mạng, tôi cho rằng thơ ca
đang dần nhận đƣợc nhiều hƣởng ứng từ phía công chúng. Hiện nay, Đông
Nam Bộ lại là đầu mối giao lƣu của các tỉnh thành phía Nam với cả nƣớc và
quốc tế, là vùng đƣợc định hƣớng trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực
Đông Nam Á. Vì vậy, sự phát triển ấy sẽ kéo theo nhiều đổi khác về tƣ duy, thị
hiếu, xu thế đón nhận. Tôi cho rằng nghiên cứu về thơ ca Đông Nam Bộ là một
cơn lốc mới rất hấp dẫn những ngƣời nghiên cứu phê bình trẻ. Đặc biệt ở thời
điểm từ năm 2010 đến năm 2020 - một giai đoạn mang tính cập nhật, gần đây
1
nhất với chúng ta.
Trên ý nghĩa nhƣ vậy, việc nghiên cứu “Ý thức phái tính trong thơ nữ
Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020” là điều cần thiết, có ý nghĩa khoa
học và thực tiễn. Với đề tài này, tôi hy vọng sẽ bổ sung thêm vài điểm nhìn mới
về thơ nữ đƣơng đại Việt Nam nói chung và thơ nữ vùng Đông Nam Bộ nói
riêng. Đồng thời chỉ ra những đóng góp riêng biệt của các nhà thơ nữ trong việc
diễn đạt tinh thần thời đại, khẳng định chỗ đứng cá nhân trong thi đàn văn
chƣơng. Thơ nữ cần nhiều hơn sự quan tâm, tri ân, đồng cảm và sự công nhận
mang tính khoa học với các sáng tạo của nhà thơ.
2. ịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về phái tính
Vấn đề giới tính hay lý thuyết nữ quyền vốn đã thâm nhập vào văn học
Việt Nam từ lâu, thế nhƣng chúng chƣa nhận đƣợc sự quan tâm sâu sắc, đúng
mực ở góc độ học thuật. Mãi đến đầu thế kỷ XX, mới thấy xuất hiện khá nhiều
các bài viết mang tính chuyên luận bàn về vấn đề này. Dựa trên đó, lịch sử
nghiên cứu về vấn đề phái tính của giới lý luận phê bình văn học Việt Nam có
thể chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất từ những năm đầu thế kỷ XX đến
năm 1998; giai đoạn thứ hai từ năm 1999 đến năm 2005; giai đoạn thứ ba từ
năm 2006 đến nay.
Giai đoạn thứ nhất thuộc về sự ý thức của các “nữ sĩ tiên phong cổ súy
phong trào nữ quyền qua hoạt động báo chí và văn học” nhƣ Sƣơng Nguyệt
Anh, Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phƣơng nữ sử, Hằng Phƣơng,… Đặc biệt phải
kể đến sự đóng góp của Phan Khôi. Khi trên tờ Phụ nữ tân văn, Phan Khôi mở
chuyên mục Văn học với nữ tánh thì ngƣời phụ nữ mới trở thành trung tâm của
cuộc bàn luận văn chƣơng. Tuy nhiên khẳng định của ông mới dừng lại ở cấp
độ định đoán: “Theo trình độ tiến hóa của loài ngƣời ngày nay, thì về phe phụ
nữ ta cũng phải có một nền văn học. Bởi vì phải xem cái tình thế trong các nƣớc
hiện thời, loài ngƣời đã gần đến ngày bình đẳng rồi, bên nam bên nữ cũng đều
gánh vác công việc với xã hội nhƣ nhau, thì sự học vấn tri thức, có lẽ đâu chỉ để
riêng cho đờn ông mà thôi hay sao?” (Phan Khôi, 1929a). Và cũng theo Phan
Khôi, phụ nữ Việt Nam có những tính cách phù hợp với văn học “Chúng ta có
2
những cái tánh trầm tĩnh, nhẫn nại, dùng những cái tánh ấy mà nghiên cứu văn
học, thì không gì hạp cho bằng, có lẽ chúng ta theo nghề văn học còn dễ dàng
hơn đờn ông nữa. Còn có một điều thích hiệp nữa, là văn học chuyên trọng về
đƣờng tình cảm, mà chúng ta là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông, thì thật là
tiện lợi cho chúng ta biết mấy” (Phan Khôi, 1929b). Ông đã nhận ra giữa phụ
nữ và văn học có mối liên đới đặc biệt. Ngƣời phụ nữ biểu trƣng cho cái đẹp mà
văn học cũng nhƣ các loại hình nghệ thuật khác luôn có khuynh hƣớng mỹ cảm,
lấy cái đẹp làm đối tƣợng khai thác, là ngọn nguồn khơi gợi cảm hứng sáng tác.
Hơn thế, thiên tính đặc trƣng của phụ nữ là sự nhạy cảm, mềm yếu, nghiêng về
thể hiện tình cảm bên trong, mà đây cũng chính là thuộc tính và khuynh hƣớng
của văn học, vì vậy ngƣời phụ nữ sẽ dễ dàng thâm nhập vào địa hạt văn chƣơng
một cách sâu sắc khi họ cầm bút sáng tác.
Manh Manh nữ sĩ (Nguyễn Thị Kiêm) cũng bày tỏ quan điểm của mình
thông qua bài viết Nữ lưu và văn học, đăng trên Phụ nữ tân văn, số 131, ngày
26/5/1932. Trong bài viết, bà cho rằng: “…cái địa vị của đàn bà ở trong văn học
cũng không phải là thấp thỏi gì, theo nhƣ nhiều ngƣời đã tƣởng. Và cái ảnh
hƣởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tao sĩ cũng rất là nặng nề thâm
thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng” (Nguyễn Thị Kiêm, 1932). Có thể
thấy quan điểm của nữ sĩ có phần giống với tƣ tƣởng của Phan Khôi. Nhƣng
điều đáng nói ở đây là quan điểm này lại xuất phát từ ý thức của một ngƣời phụ
nữ, đại diện cho phát ngôn của phụ nữ trong việc khẳng định vị thế nữ giới ở
lĩnh vực văn chƣơng.
Sau đó, có khá nhiều trào lƣu văn học nổi dậy, diễn ra cực kỳ sôi động,
chủ yếu xoay quanh các nhóm Thơ mới, Tự lực văn đoàn, cuộc tranh luận Thơ
mới- thơ cũ,… trong khi đối tƣợng nghiên cứu văn học là nữ giới lại khá hiếm
hoi và đơn độc nên nhanh chóng bị lu mờ.
Từ năm 1945 đến năm 1975, ở miền Bắc, do yêu cầu cổ vũ phong trào
cách mạng của dân tộc, ý thức về giới đƣợc đồng nhất với ý thức công dân, vì
thế vấn đề nữ quyền nghiễm nhiên đƣợc thừa nhận. Ở miền Nam, sự cởi mở du
nhập các ấn phẩm lý thuyết phê bình văn học phƣơng Tây đã phần nào thu hút
các nghiên cứu về phái tính hay nữ quyền.
3
Đến năm 1986, vấn đề này lại đƣợc khơi dậy bởi các ý kiến của Võ Phiến,
Trƣơng Chính, Phƣơng Lựu,… Năm 1988, trong Tổng quan văn học miền
Nam, Võ Phiến đã đề cập đến lối viết nữ trong văn học miền Nam giai đoạn
1954-1975. Ông viết: “Đứng về phƣơng diện phái tính, văn học miền Nam thời
kì 54-75 càng ngày càng nghiêng về nữ phái… Thoạt đầu trên văn đàn nghe
tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo” (Võ Phiến, 1988). Theo Võ Phiến, các
nhà văn nữ giai đoạn này đều hơi ồn. Đó là giọng “ồn trong cái yêu” trong tiểu
thuyết của Nguyễn Thị Hoàng, giọng “bù lu bù loa” trong tiểu thuyết của Nhã
Ca. Những nhận định này đã mơ hồ chỉ ra đặc trƣng về thi pháp giọng điệu
trong sáng tác của các nhà văn nữ nhƣng chƣa đủ toàn diện và sâu sắc để làm rõ
âm hƣởng phái tính nhƣ một phƣơng diện mang tính đặc thù. Điều này chỉ thực
sự đƣợc bàn đến nhƣ một vấn đề trung tâm để nghiên cứu trong bài viết của
Phƣơng Lựu với tựa đề Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ (Phƣơng Lựu, 1998)
đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, số 6/1996. Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra thể
loại tự truyện chiếm ƣu thế trong văn học lúc này, đề tài của họ chủ yếu là tình
yêu. Quan điểm đó đã khái quát đƣợc đặc điểm của văn học nữ đƣơng thời
nhƣng chƣa có tính khu biệt rõ ràng. Cũng trong năm ấy, quyển sách “Giới thứ
hai” của nhà văn nữ quyền luận ngƣời Pháp Simone de Beauvoir đƣợc dịch và
giới thiệu ở Việt Nam đã giúp cho giới phê bình nghiên cứu nƣớc nhà tiếp cận
với tƣ tƣởng nữ quyền phƣơng Tây. Điều này có ý nghĩa lớn, phần nào tác động
đến tầm nhìn hạn hẹp của đại bộ phận lúc bấy giờ, khi quan niệm tòng phụ,
“nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” ăn sâu vào gốc rễ ngƣời Việt.
Tổng quan, phong trào nghiên cứu về ý thức phái tính giai đoạn đầu còn
mờ nhạt và nhiều hạn chế cả về đối tƣợng nghiên cứu cũng nhƣ ngƣời nghiên
cứu. Lí do là các nhà thơ nữ thuộc thế hệ 7x, 8x lúc này chƣa có điều kiện tiếp
xúc nhiều với ý thức nữ quyền. Các học giả Việt chƣa đủ kiến thức để hiểu
đƣợc ý nghĩa của văn học nữ giới. Thế nên chƣa đủ tầm sức để khuấy động
không khí nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ đƣơng thời.
Giai đoạn thứ hai đƣợc xem là “giai đoạn bùng nổ” (Nguyễn Thị Thanh
Xuân, 2013) của phê bình nữ quyền ở Việt Nam. Nguyên nhân là do có sự tiếp
xúc với chủ thuyết nữ quyền, dòng văn học hải ngoại có bƣớc đột phá lớn trong
việc nghiên cứu về phái tính. Tiêu biểu là chuyên đề “Tình yêu, tình dục và phái
4
tính trong văn học”, chuyên đề “Văn học nữ quyền”, chuyên đề “Giới tính”,…
trên trang báo điện tử damau.org, tienve.org,…
Trong luận án Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới, Hồ Tiểu
Ngọc (2019) đã đề cập đến các bài viết nhƣ “Nữ quyền luận”, “Nữ quyền và
đồng tính luận”, “Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Hƣng Quốc. Nguyễn Hƣng Quốc đã chỉ ra muốn giải
phóng đƣợc nữ giới, phải giải phóng cho họ về ngôn ngữ, chống lại sự nam hóa
trong ngôn ngữ và rất nhiều khía cạnh khác. Hoặc trong bài viết “Phụ nữ và văn
chương” của Châm Khanh đăng trên trang tienve.org, tác giả đã thống kê trong
hơn 750 hội viên chính thức của Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957 đến năm
1997, có hơn 70 tác giả nữ, chiếm tỉ lệ chƣa tới 10% nhƣng đã cao hơn trƣớc.
Tác giả Châm Khanh đề cập đến sự cần thiết trong vấn đề nghiên cứu, cũng nhƣ
chỉ ra điểm khác giữa văn học nữ giới và nam giới. Sự cá biệt lớn nhất thực chất
là vấn đề nữ quyền.
Trong luận văn Về một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính
(Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh) của Nguyễn Thị Hồng
Giang (2009), tác giả có đề cập: “Hoàng Ngọc Tuấn viết Dục tính trong văn
chương và vấn đề đạo đức, Nguyễn Hoàng Đức viết Dục tính: Chân móng hay
đỉnh tháp của văn chương?, Nguyễn Hữu Lê với Tình dục trong văn học Việt
Nam dưới cách nhìn của đạo lý hồn nhiên và của đạo lý học thuyết, Đỗ Minh
Tuấn với Thúy Kiều và khát vọng giải sex... đều đề cập đến cuộc giải phóng phụ
nữ, giải phóng tình dục”. Hoàng Ngọc Tuấn cho rằng lúc này, đàn bà đã biết nói
về khát vọng dục tính của mình trong các sáng tác. Ở một số tiểu thuyết, họ còn
xây dựng hình ảnh đàn ông nhƣ công cụ phục vụ dục tính. Phải chăng thái độ ấy
là hệ quả của một quá trình dài ngƣời phụ nữ bị kiềm hãm về phát ngôn, tƣ
tƣởng, bị áp chế từ định kiến cổ hũ của xã hội phong kiến? Những phản kháng
mang tính nhất thời ấy không kéo dài lâu, về sau, các nhà văn, nhà thơ nữ đã trở
nên bình tĩnh và sáng suốt hơn trƣớc những vấn đề giải phóng ý thức phụ nữ
khỏi ràng buộc về phái tính, dục tính, để có thể hƣớng về những giá trị khác nhƣ
hạnh phúc, trách nhiệm, tự do, tình yêu, gia đình, xã hội,… Đó mới là thời điểm
họ bộc lộ ý thức phái tính một cách nhuần nhị và ý nghĩa.
Ngoài ra, còn phải kể đến các bài bình luận “Văn tự và phái tính” của Tú
5
Ân, “Phái tính trong ngôn ngữ học và văn học” của Phan Việt Thủy. Những
bài nghiên cứu dẫn nhập chi tiết lý thuyết văn học nữ quyền và thuyết phụ nữ
nhƣ: “Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvoir đến Judith Butler” của Đặng
Phùng Quân, “Dày dày đúc sẵn một tòa… văn chương” của Đinh Từ Bích
Thúy, “Tiếng cười của nàng Medusa” của Mary Klages,… Nhìn chung, các bài
lý luận trên mang tính chất khơi mở, góp phần gợi hƣớng tìm hiểu ý thức phái
tính nhƣng chƣa đủ nghiên cứu cụ thể vấn đề phái tính trong thơ nữ Việt Nam.
Giai đoạn thứ ba, từ năm 2006, vấn đề nghiên cứu về văn học nữ giới khởi
sắc khi các nghiên cứu về phái tính trong văn học nữ xuất hiện ngày càng nhiều,
đa dạng, phong phú cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng. Tôi đồng tình với ý kiến của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân trong công trình “Vấn đề phái tính và âm
hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” khi phân loại các bài viết
về văn học nữ quyền giai đoạn này thành ba khuynh hƣớng chính: nghiên cứu
văn học nữ thiên về dục tính/ sex; nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/ thiên
tính nữ; nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền.
Khuynh hƣớng nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex chính là
những bài viết lấy đối tƣợng là yếu tố sex trong sáng tác của những cây bút nữ.
Văn học trƣớc đây rất ít hoặc luôn né tránh khai thác vấn đề này. Nếu đƣợc đề
cập, thì các tác giả của chúng ta phải dùng những uyển ngữ, nhã ngữ để phủ một
“màn sƣơng duy mĩ” lên đối tƣợng. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gọi đề tài sex
trong văn học Việt Nam là “hiểm địa”, là vùng cấm. Do đó, Nguyễn Huy Thiệp
đánh giá cao việc các tác giả nữ khai thác đề tài tính dục mà hiện tƣợng Bóng đè
trong tác phẩm cùng tên của Đỗ Hoàng Diệu là một ví dụ điển hình cho văn
chƣơng viết về sex ở Việt Nam. Theo bài viết Tản mạn về dục tính và nữ quyền
của Nguyễn Vy Khanh (2012), tác giả đã lấy các sáng tác ở đô thị miền Nam
nhằm đƣa ra khái quát: …“ từ cuối thập niên 1960, ngƣời viết nữ đã mạnh bạo
đi xa hơn, tự tin hơn với những vấn đề phụ nữ đƣợc chính thức trƣơng lên chữ
nghĩa”. Không những thế, Nguyễn Vy Khanh còn cho rằng: “Văn chƣơng dục
tính hay có dâm tính lại do ngƣời nữ viết hình nhƣ hấp dẫn hơn vì cũng hình
nhƣ có tính tự thuật nhiều hơn. Vì từ nay, ngƣời nữ làm chủ con ngƣời, tƣ duy,
tình cảm và cuộc đời của họ trong văn chƣơng”. Ngoài việc nhận thấy nét đổi
mới trong văn học của ngƣời phụ nữ, Nguyễn Vy Khanh còn phát hiện ra sự
6
chân thực trong văn chƣơng của nữ giới trong sự phản ánh những rung động
bên trong của con ngƣời, nhất là từ trái tim ngƣời nữ. “Xƣa kia nhà văn nam
viết, phân tích tâm lí mọi ngƣời thì nay các nhà văn nữ muốn phân tâm đàn ông
và tự phân tâm! Một loại “văn hóa” mới, năng động và cách tân phái tính” và
tác giả cũng nhận định “Văn chƣơng dục tính có khuynh hƣớng đi với nữ
quyền”.
Trang Vietnamnet mở cả một chuyên đề về Sex trong văn học. Đối tƣợng
hƣớng tới là sex trong văn học nữ. Chẳng hạn các bài: Tính dục trong văn học
hôm nay, Dục tính và những ranh giới mong manh (Nguyễn Huy Thiệp), Văn
học sex : chấp nhận để tìm cách đổi khác? (Vƣơng Trí Nhàn), Lịch sử - văn hóa
và sex trong văn chương (Nguyễn Hòa), Tính dục đơn thuần chi ở cấp thấp (Lê
Đạt), Các cây bút nữ giữa trào lưu sex (Tâm Huyền), Tình dục trong văn
chương đương đại: Chuyện không có gì mà ầm ĩ thế (Võ Thị Hảo), Sex trong
văn học trẻ thoái trào (Phƣơng Quyên)… Những bài viết thiên về dục tính/sex
nở rộ vào giai đoạn này đã bƣớc đầu làm rõ đƣợc vấn đề sex trong sáng tác của
các nhà văn nữ đƣơng đại. Tuy nhiên, ngƣời viết với góc nhìn chủ quan, còn lấy
quan điểm đạo đức truyền thống văn hóa Á Đông làm điểm tựa phân tích, chƣa
nâng đƣợc vấn đề sex trong văn học nữ thành vấn đề phái tính. Và nếu vận dụng
không tỉnh táo sẽ dẫn đến tình trạng chỉ nhìn thấy một phƣơng diện của vấn đề,
làm nghèo nàn giá trị ý nghĩa của bộ phận văn học nữ. Mặt khác, khi chỉ nhìn
các cây bút nữ đƣơng đại với góc độ sex, ta sẽ dễ sa vào đánh đồng phái tính là
dục tính- một sự đánh tráo khái niệm rất nhầm lẫn.
Về sau, với sự xuất hiện của các bài viết “Yếu tố tính dục trong thơ nữ
cách tân Việt Nam đương đại” của Nguyễn Đức Hạnh và Dƣơng Hoài Thƣơng
(2020), “Sex trong văn học đương đại” của Lệ Trinh (2020), “Tính dục trong
thơ Nôm Hồ Xuân Hương” của Trần Hồ Ngọc Trƣờng (2019), “Diễn ngôn thân
thể trong thơ nữ đương đại Việt Nam” của Hồ Tiểu Ngọc (2020), “Ý thức về
thân thể nữ giới trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại” của Nguyễn Hữu
Minh đƣợc in trong Kỷ yếu Hội thảo khao học Quốc gia Văn học và Giới năm
2019;… dần dần, ngƣời nghiên cứu đã có cái nhìn bao quát, chuẩn xác hơn đối
với văn học nữ thiên về dục tính/sex. Quả thực, thơ mang yếu tố này chỉ thực sự
có đƣợc chỗ đứng khi nó hƣớng con ngƣời tới những giá trị tốt đẹp, cái đẹp
7
thể xác và tâm hồn, khát khao về sự hạnh phúc và sinh sôi nảy nở.
Khuynh hƣớng nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/ thiên tính nữ tập
hợp những ý kiến bàn luận đến nữ tính/ thiên tính nữ trong văn học nữ, xem đó
nhƣ là đặc trƣng của giới quy định nội dung sáng tác của văn học nữ ở Việt
Nam. Vấn đề đó đƣợc tìm thấy trong các bài viết: “Ý thức phái tính trong văn
xuôi nữ đương đại” của Nguyễn Thị Bình (2011); “Những quan niệm đương
đại về giới nữ Việt Nam” của John C. Schafer (2013); “Thiên tính nữ và góc
nhìn giới tính trong văn chương Việt Nam đương đại” của Nguyễn Thị Năm
Hoàng (2018); “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi
của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay” của Hồ Khánh Vân (2012) hay
“Thiên tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh” của tác giả Nguyễn Phƣơng Hà- Lê Thị
Quỳnh An đƣợc in trong quyển Văn học và giới nữ năm 2016;… Những chuyên
luận của các nhà nghiên cứu nhƣ Lại Nguyên Ân, Đặng Anh Đào, Phạm Xuân
Nguyên, Vƣơng Trí Nhàn, Nguyễn Việt Phƣơng, Tuấn Anh…
Nhìn phái tính nhƣ là tính nữ và sự tự ý thức về tính nữ, Lê Thị Tuân trong
bài viết “ Phái tính hóa hệ thống biểu tượng tự nhiên nước - lửa - đất trong các
phim Trăng nơi đáy giếng, Cánh đồng bất tận và Bi, đừng sợ” (2017) đã cho
rằng: “Nhìn ở nghĩa rộng: phái tính có thể coi là phạm trù giới tính để chỉ sự
khác biệt sinh lí, tự nhiên giữa nam và nữ, giữa giống đực và giống cái. Nó khu
biệt con ngƣời thành hai giống, đặc điểm thiên về tự nhiên, do khách quan quy
định nhƣ: sinh lí, tâm lí, tính cách… Theo nghĩa hẹp hơn, có thể hiểu, phái tính
là sự tự ý thức của chính chủ thể. Nó không bị chi phối bởi tính khách quan, trở
thành yếu tố chủ đạo khu biệt đặc tính nữ và đặc tính nam”.
Hoặc ở bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học
Việt Nam đương đại” của Nguyễn Đăng Điệp (2006), “Mỹ học tính dục và cuộc
phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật” của Tuấn Anh
(2008). Tác giả Tuấn Anh đi sâu vào luận điểm dựa trên thiên tính nữ. Còn
Nguyễn Đăng Điệp đặt vấn đề phái tính, vấn đề văn học nữ nhƣng lại giải quyết
bằng văn học viết về ngƣời nữ. Tác giả dùng khái niệm “văn học nữ tính” để chỉ
ra những nguyên nhân, dấu hiệu cơ bản của âm hƣởng nữ quyền trong tác
phẩm. Nhìn chung, bài viết khơi sâu nghiên cứu âm hƣởng nữ quyền trong văn
học chứ chƣa chú trọng nhiều đến khái niệm phái tính. Tác giả kết luận: “Vấn
8
đề phái tính và âm hƣởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tƣ tƣởng chung của
thời đại chứ chƣa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tƣ cách là
ngƣời thiết tạo nên những tƣ tƣởng nghệ thuật riêng của mình” (Nguyễn Đăng
Điệp, 2006).
Trong Văn học và giới nữ (2016, tr.406) của Phùng Gia Thế và Trần Thiện
Khanh (biên soạn), Dƣơng Thị Thúy Hằng với bài viết “Ý thức phái tính trong
thơ nữ Việt Nam sau 1975” đã cho rằng: “Ý thức về phái tính đồng nghĩa với
việc ý thức về nhân vị cá nhân, bản thể, bản ngã của ngƣời phụ nữ đƣợc phát
triển. Đó là khi họ từ giã những không gian rộng lớn, mang vóc dáng thời đại,
trở về với ngôi nhà, với căn bếp, với hạnh phúc, mong mỏi nhỏ bé của phái nữ,
với hạnh phúc và hi sinh, thiên chức và những ẩn ức thẳm sâu”. Đi sâu vào xem
xét thể loại tự truyện, một thể loại vốn là thế mạnh của các nhà văn nữ cũng đã
thu hút một số nhà nghiên cứu. Hồ Khánh Vân trong bài viết “Một vài lí giải về
hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt nam từ 1990
đến nay” đã biện giải nhƣ sau: “Trong quá trình tự thuật, ngƣời phụ nữ viết văn
vừa bộc lộ và thể hiện bản thân, vừa sáng tạo ra chính mình thông qua thế giới
hình tƣợng. Tự thuật vừa là khởi nguồn, là chất liệu của sáng tạo, đồng thời
cũng vừa là đích đến, là sản phẩm sinh ra từ hành trình sáng tạo ấy. Đây chính là
phƣơng thức tự sự đặc trƣng, là mô thức tự sự gắn liền với hoạt động sáng tác
của nữ giới” (Hồ Khánh Vân, 2012). Từ nhận định này tác giả đã chỉ ra đƣợc
một vài nét đặc thù trong thể loại văn xuôi của nhà văn nữ.
Khuynh hƣớng nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền thƣờng
đƣợc tiến hành song song với nghiên cứu những biểu hiện phái tính trong văn
học nữ. Bởi vì cái gọi là nữ quyền luận trong văn học Việt Nam mới dừng lại ở
những biểu hiện rải rác trong các sáng tác của những nhà văn, nhà thơ và đôi
khi ngay cả trong bản thân họ, những biểu hiện của nữ quyền cũng không mấy
thuần nhất. Tiếp nối phần bình luận về bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng
nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại” (2006) của Nguyễn Đăng Điệp ở
phần trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã dùng cụm từ “âm hƣởng nữ
quyền” mà không dùng “Chủ nghĩa nữ quyền” nhƣ một cách khẳng định ở Việt
Nam, chƣa hẳn đã có một chủ nghĩa nữ quyền đầy đủ theo đúng ý nghĩa của nó.
Tác giả khẳng định “âm hƣởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành
9
một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại và hậu hiện
đại”. Điều này đã đƣợc tiếp tục kế thừa và phát triển trong luận án “Vấn đề phái
tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” (2013) của
Nguyễn Thị Thanh Xuân. Đây là công trình có đối tƣợng nghiên cứu là sáng tác
của một số nhà văn nữ tiêu biểu cho văn xuôi Việt Nam đƣơng đại từ cái nhìn
của phái tính và âm hƣởng nữ quyền. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân đã cung
cấp một cái nhìn khái quát về lý thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới cũng
nhƣ sự xuất hiện của nó trong văn học Việt Nam.
Tiểu luận “Ý thức nữ quyền trong thơ đương đại” của Lƣu Khánh Thơ
viết về thơ nữ đƣơng đại từ góc nhìn nữ quyền/giới tính. Tác giả nhận định
“Việc tiếp nhận và ảnh hƣởng ý thức nữ quyền đã đem đến cho thơ nữ đƣơng
đại những phẩm chất mới, một lối viết mới. Họ không chỉ làm đẹp cho đời bằng
chính thiên chức, bổn phận của mình mà còn bằng cả tiếng nói thơ ca riêng”
(Nguyễn Thành và Hồ Thế Hà chủ biên, 2017, tr.539)
Ngoài ra, ta còn bắt gặp“Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam” của
Bùi Thị Thủy có hơi hƣớng tiếp bƣớc ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp, “Phê bình
văn học nữ quyền” của Lý Lan thể hiện góc nhìn lịch sử về các trào lƣu phê
bình văn học nữ quyền thế giới, “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt
Nam đương đại” của Trần Huyền Sâm dẫn luận các khái niệm của các nhà nữ
quyền Pháp: S. de Beauvoir, J. Kristeva, A. Fouque, H. Cixous, L. Irigaray
nhằm nghiên cứu tinh thần nữ quyền của tiểu thuyết nữ Việt Nam đƣơng
đại…
Đứng trƣớc sự phong phú của nguồn tƣ liệu khảo sát, tôi nhận thấy càng
ngày có khá nhiều công trình nghiên cứu là các luận án, luận văn chọn đề tài
phái tính trong thơ làm đối tƣợng khai phá. Tiêu biểu nhƣ:
Các luận văn: “Tư duy thơ nữ sau 1975” (2005) của Hoàng Thùy Linh
phác họa lại dòng thơ nữ sau 1975 đậm đà chất nữ tính phong phú, mạnh mẽ;
“Phái tính trong thơ nữ sau 1975” (2007) của Nguyễn Ngọc Thùy Anh khảo
sát những sáng tác của các nhà thơ nữ sau 1975, phác họa diện mạo chung của
thơ nữ hiện đại; “Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại” (2018)
của Nguyễn Thị Thuận làm rõ những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữ
10
Việt Nam đƣơng đại ở hai phƣơng diện nội dung và nghệ thuật; “Về một đặc
điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính (Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng
Ly, Vi Thùy Linh)” (2009) của Nguyễn Thị Hồng Giang chỉ ra đặc điểm trong
thơ nữ qua các tác phẩm của ba nhà thơ mà tác giả khảo sát, tiếp nhận thơ nữ từ
góc nhìn về một đặc điểm tƣ duy của họ sẽ cho thấy những khát vọng hạnh
phúc, khát khao giải phóng của phái nữ; “Ý thức phái tính trong thơ nữ đương đại
(Khảo sát qua hai tác giả Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên)” (2016) của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng đã đi sâu vào tìm hiểu sáng tác của hai nhà thơ Tuyết Nga
và Phạm Thị Ngọc Liên, bƣớc đầu nhìn nhận một trong những đặc điểm tiêu biểu
của thơ nữ Việt Nam sau 1975: viết với ý thức của một ngƣời nữ.
Các luận án: “Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi
mới căn bản” (2015) của Đặng Thu Thủy đã chỉ ra một số đặc điểm đổi mới cơ
bản trong thơ ca Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay dựa trên các phƣơng diện
đổi mới quan niệm, cảm hứng và một số hình thức nghệ thuật; “Thơ nữ Việt
Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới” (2019) của Hồ Tiểu Ngọc đã lý giải
những cơ sở lịch sử, xã hội, văn hóa của ý thức giới/phái tính/ và âm hƣởng nữ
quyền trong thơ nữ Việt Nam 1986-2015, từ đó chỉ ra ý nghĩa chúng trong tiến
trình dân chủ hóa xã hội và văn học, thấy đƣợc đóng góp của các nhà thơ nữ vào
nền thơ ca hiện đại Việt Nam từ góc nhìn giới và lối viết nữ; “Ý thức nữ quyền
và thơ nữ Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay” (2019) của Nguyễn Thị Hƣởng
đi sâu nghiên cứu các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam
giai đoạn từ 1986 đến nay và một số phƣơng thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ
quyền trong thơ nữ vào giai đoạn đó.
Tựu trung lại, các kiến giải trên là những gợi mở cần thiết và hữu ích để
tôi có thể tìm hiểu thêm về ý thức phái tính trong thơ nữ. Theo dòng chảy của
thời gian, vấn đề ý thức phái tính trong văn học đã dần đƣợc quan tâm nhiều
hơn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng khoảng trống của vấn đề còn rất lớn.
Và văn học cần thêm nhiều hạt giống mới, thanh âm mới để đóng góp vào
những khoảng vùng còn đang bị bỏ hoang ấy.
2.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông
Nam Bộ
11
2.2.1 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về thơ nữ Đông
Nam Bộ nói chung
Tính đến thời điểm hiện nay, số lƣợng các bài viết nghiên cứu riêng về
mảng thơ nữ ở Đông Nam Bộ vẫn còn ít, đặc biệt nghiên cứu về ý thức phái tính
trong thơ nữ Đông Nam Bộ dƣới góc nhìn tổng quát lại hiếm hoi hơn, nếu có
nhắc đến, đa phần chỉ mang tính chất điểm qua tên tuổi một số tác giả nữ, trào
lƣu sáng tác, hiện tƣợng nổi cộm, xuất hiện rải rác trong các chuyên luận lớn
nghiên cứu chung về thơ ca Nam Bộ hoặc thơ ca đƣơng đại. Vì vậy, để thấy
xuất phát điểm của thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần khái quát đôi dòng về văn học
Nam Bộ. Và để đánh giá thơ nữ Đông Nam Bộ, ta cần có sự góp nhặt từ các
nghiên cứu của những công trình khác có phạm vi rộng lớn hơn.
Nhƣ ta biết, văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối thế kỉ XIX
đến đầu thế kỷ XX với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết. Từ năm 1932 trở
đi, văn học có nhiều dấu hiệu khởi sắc với hai đòn bẩy lớn. Thứ nhất là phong
trào Thơ mới đƣợc mở ra từ tờ Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn do Phan Khôi và nữ
sĩ Manh Manh chủ trì. Thứ hai là nhóm Tự lực văn đoàn đƣợc thành lập ở Hà
Nội do Nhất Linh, Khái Hƣng đứng đầu. Trong giai đoạn 1932-1945, thơ nữ
Nam Bộ ghi dấu bởi sự góp mặt của nhóm Phụ nữ tân văn (Nguyễn Thị
Kiêm, Vân Đài,…); nhóm Hà Tiên (nữ sĩ Mộng Tuyết,…). Đây cũng là giai
đoạn xuất hiện các cây bút nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp nhƣ:
Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế, Trúc Hà, Phan Văn Hùm, Ca Văn Thỉnh,… Kiều
Thanh Quế trong quyển Đàn bà và nhà văn (2011) đã khẳng định sự tồn tại
của những bóng hồng trong văn chƣơng: “Địa vị ngƣời đàn bà trong văn
chƣơng kể cũng to tát thay. Những bài thơ ít đƣợc ngâm ngợi, có lẽ là những
bài thơ thiếu hẳn cái hơi hƣớm của một ngƣời đàn bà. Những cuốn tiểu thuyết
kém độc giả nhất dễ thƣờng là những cuốn không đả động đến ngƣời đàn bà.
Cho nên trong văn chƣơng Đông - Tây, đâu đâu cũng có ít nhiều bƣớc kinh
qua của ngƣời đàn bà”. Tuy nhiên đó vẫn là nói chung đến vị trí ngƣời đàn bà
trong văn học Việt Nam, còn lại là các bài phê bình xoay quanh việc đánh giá
các quan điểm nghệ thuật, nghiên cứu văn học cổ Nam Bộ, phê bình các sáng
tác của nhóm Tự lực văn đoàn hoặc phong trào Thơ mới,… Trong bài viết
Văn học Nam Bộ 1932-1945 một cái nhìn toàn cảnh của Đoàn Lê Giang
12
(2011), tác giả có viết “Văn học Nam Bộ 1932 – 1945 là một bộ phận máu
thịt của văn học Việt Nam, là một phần của đời sống tinh thần và tâm hồn của
ngƣời Việt ở Nam Bộ. Tuy nhiên từ trƣớc đến nay, việc nghiên cứu về mảng
văn học này chƣa đƣợc chú ý vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu là do khó khăn
về tƣ liệu và thói quen thƣởng thức”. Nếu nhƣ văn học Nam Bộ là máu thịt
của văn học Việt Nam thì văn học Đông Nam Bộ lại chính là một phần xƣơng
cốt của vùng đất Nam Bộ. Một giai đoạn dài, hầu nhƣ chúng ta bỏ quên mất
sự tồn tại của văn học Nam Bộ, thơ ca Đông Nam Bộ cũng vì vậy trở thành
hạt ngọc hiếm trong thi đàn.
Sau 1945, sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam là tiền đề văn hóa và xã hội
thuận lợi để các nữ sĩ khẳng định tiếng nói của mình. Tuy nhiên, đời sống tinh
thần của nữ giới mới đƣợc khai thác ở khía cạnh xã hội, chƣa có sự nhìn nhận,
đánh giá về phƣơng diện giới, hay chƣa có sự nhìn nhận cụ thể về đặc điểm tâm
lý giới tính ảnh hƣởng thế nào trong các sáng tác của họ, các đặc điểm nghệ
thuật riêng biệt,… đến nay vẫn còn nhiều khoảng trống.
Giai đoạn 1954-1975, văn học chính thống ở miền Nam là văn học đô
thị. Vấn đề “Giới” nhận đƣợc khá nhiều sự quan tâm. Trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Quốc gia Văn học và Giới (2019, tr.268), tác giả Võ Chân Cửu với
bài viết Thơ nữ miền Nam trước 1975: Những “Hóa thân” để vinh danh nữ
giới đã cho rằng: “Đặc điểm chung của phần lớn các nhà thơ nữ Miền Nam
trƣớc 1975 là họ không cần phải so đo về vị trí “chiếu trên, chiếu dƣới” nhƣ đa
phần ngƣời cầm bút thuộc phái mạnh. Các chị cũng rất ít tham gia tranh luận về
bút pháp, nghệ thuật thơ. Thơ nữ cứ lẳng lặng đi sâu vào lòng ngƣời đọc”. Điều
thú vị của bài viết là tác giả đề cập đến văn học từ sau 1963 - khi cuộc chiến
tranh mở rộng, là sự xuất hiện của nhiều cây bút giả danh là nữ. Lý do là họ
đang trốn lính, đào ngũ nên phải lấy bút danh là nữ để khỏi bị phát giác. Điều
này trái ngƣợc với tƣ tƣởng của văn học trung đại trƣớc đây - vốn đề cao vị
thế nam giới, họ không bao giờ chịu ẩn thân hay khuất bóng sau nữ giới trên
mọi trận địa. Giai đoạn thơ 1975-2000, bên cạnh các nhà thơ hƣớng ngòi bút
đến nền thơ cách mạng với những đổi mới theo hƣớng phi sử thi hóa và thế sự
hóa thì một bộ phận khác, đã có những nhà thơ trở về tiếng nói trữ tình cá nhân;
tiếp tục trăn trở hiện đại hóa trên hành trình đã đƣợc mở ra từ đầu thế kỉ XX.
13
Những điều đó đã dẫn đến sự biến đổi quan niệm nghệ thuật, phƣơng thức thể
hiện theo hƣớng hiện đại hóa. Càng về sau, khi đất nƣớc trở lại trạng thái thời
bình thì tiếng nói khẳng định cái tôi cá nhân càng trở nên quan trọng. Thơ nữ
lúc này có nhiều thay đổi và đa dạng hơn về phong cách. Trong Thơ tình với
Sài Gòn của Ngô Thị Hạnh (2014, tr.77), Hoài Hƣơng đánh giá: “Sau ngày
miền Nam giải phóng tháng 4-1975, nhiều gƣơng mặt thơ nữ TP.HCM đã tạo
nên nhan sắc thi ca của phƣơng Nam suốt hơn 20 năm nhƣ Lê Thị Kim, Phạm
Thị Ngọc Liên, Thanh Nguyên, Tôn Nữ Thu Thủy, Lê Hoàng Anh, P.N.
Thƣờng Đoan, Lê Tú Lệ,… để thƣơng để nhớ đến bao ngƣời. Cuối những
năm 1990 đến đầu 2000, Ly Hoàng Ly nhƣ một nàng thơ xinh đẹp của Thành
phố nhƣng khá lẻ loi”. Trong bài viết Diện mạo của văn học Đông Nam Bộ từ
1975 đến nay (2017) của Hà Thanh Vân. Tác giả có đề cập những thành tựu
văn học đóng góp cho nền văn học dân tộc từ sau năm 1975, các thế hệ và
thành quả sáng tác của các cây bút miền Đông Nam Bộ. Hà Thanh Vân cho
rằng “thơ ca là tiếng lòng, là tình cảm của con ngƣời. Do vậy những rung
động xao xuyến tình yêu, những tâm tƣ tình cảm, những dằn vặt tâm hồn...
đều đƣợc thể hiện trọn vẹn trong thơ của các nhà thơ miền Đông”.
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, thơ ca nữ miền Đông Nam Bộ sôi động
hơn với những tên tuổi mới. Họ “ăn sóng nói gió” tƣởng nhƣ ngang hàng với
đấng mày râu nhƣng sâu thẳm trong họ chất chứa nỗi cô đơn, khát khao chia
sẻ và cũng nhiều yếu mềm. Đầu năm 1993, Hoàng Hƣng dự báo sẽ có “phiên
đổi gác” trong thơ ca và quả thực điều đó đã xảy ra. Sự xuất hiện những nhà
thơ nữ Thanh Xuân, Phƣơng Lan, Lynh Bacardi, Khƣơng Hà và Nguyệt
Phạm, Ngô Thị Hạnh, Kiều Maily,... đã tạo nên cơn dƣ chấn thơ trẻ Sài Gòn.
Tên tuổi họ có đầy trên các trang báo tienve.org, vietbao.vn,
vannghequandoi.com. Inrasara trong bài viết Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi
hậu tố “nữ” đã gọi “đó là những gương mặt đang nỗ lực phá giới” (2015,
tr.21).
Nếu Tây Nam Bộ ảnh hƣởng bởi văn hóa sông nƣớc thì Đông Nam Bộ
chịu tác động từ văn hóa đô thị. Thơ nữ Đông Nam Bộ mang hơi thở của đời
sống thị thành, nhiều phức tạp, bộn bề. Độc giả biết nhiều hơn đến thơ nữ là
nhờ vào thành tựu Internet phát triển, kéo theo hàng loạt website văn học,
14
mạng xã hội, blog, audio,… ra đời. Nhà thơ Nguyễn Thiên Ngân khởi duyên
sáng tác với truyện nhƣng sau đó lại gặt hái tiếng tăm từ thơ. Thiên Ngân có
tận 3 trang ngƣời hâm mộ là Nomad Nguyễn Thiên Ngân, Thơ Nguyễn Thiên
Ngân và Trang thơ Nguyễn Thiên Ngân. Nhà thơ Vũ Thanh Hoa có một
website riêng mang tên Vũ Thanh Hoa - Văn học nghệ thuật do chính thi sĩ
làm chủ. Liêu Hà Trinh mở Audio Book và còn rất nhiều “nhà thơ mạng” nhận
đƣợc sự quan tâm của công chúng. Chƣa bao giờ ta thấy thơ nữ phát triển dồi
dào và có sức nóng mạnh mẽ trên khắp trận địa nhƣ hiện nay. Sách giấy, đôi
khi chỉ là một thứ quà tặng, một sự cụ thể hóa niềm yêu thích tác phẩm trên
mạng. Tuy nhiên, bên cạnh những bài thơ hay cả về nội dung lẫn hình thức
biểu đạt thì văn chƣơng mạng cũng tồn tại một số nhƣợc điểm. Nói nhƣ Khải
Thiên “Tốc độ là đặc tính của công nghệ số, do vậy, đời sống trên mạng phụ
thuộc vào khả năng tƣơng tác và tạo dựng giá trị có tính thời điểm, ngắn
hạn… có thể thấy một hệ giá trị khác, một hệ thống tiêu chí, quan niệm khác
đã đƣợc xác lập, khác với hệ giá trị mà giới hàn lâm, tinh hoa đang cổ suý”
(2016).
Tóm lại, thơ nữ Đông Nam Bộ đang ngày một phát triển với tốc độ
nhanh, đa dạng và phong phú. Ý thức phái tính tro ng thơ nữ Đông Nam Bộ,
mà đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh đang cựa mình để thoát kén. So với các
mảng văn học khác, tôi cho rằng các nhà thơ nữ vẫn miệt mài sáng tác giai
đoạn này chính là những ngƣời đang dấn sâu vào công cuộc nở nhụy khai hoa
của thơ nữ trẻ. Sự triển khai trên là tiền đề để tôi tìm hiểu sâu hơn về từng nhà
thơ nữ Đông Nam Bộ
2.2.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá về từng nhà thơ nữ
Đông Nam Bộ
Thân phận ngƣời phụ nữ làm thơ đã lắm bấp bênh, thân phận ngƣời phụ
nữ phƣơng Đông làm thơ lại càng vấp phải nhiều vất vả. Thế nhƣng, dù vất vả,
vẫn không thể phủ nhận sự góp mặt của những cây bút này đã mang đến cho nền
văn chƣơng Đông Nam Bộ một luồng gió mới mẻ. Với đối tƣợng nghiên cứu là
các nhà thơ: La Mai Thi Gia, Ngô Thị Hạnh, Tạ Anh Thƣ, Nguyệt Phạm,
Khƣơng Hà, Nguyễn Thúy Hằng, Nồng Nàn Phố, Vũ Thanh Hoa, Liêu Hà
Trinh, tôi xin đề cập một số công trình nghiên cứu, bài viết phê bình, đánh giá
15
về những nhà thơ này.
La Mai Thi Gia - một giảng viên nhiều duyên nợ với văn học dân gian,
hiện sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhật Chiêu trong bài
viết Đọc Thơ trắng của La Mai Thi Gia (2020) đã không tiếc lời khen tặng
“Ngƣời đàn bà hát thơ nhƣ mình là thơ, cắm hoa nhƣ mình là hoa… Ngƣời đàn
bà cất lên tiếng hát bằng làn da, hát ca bằng thân xác ngân nga, cƣời khóc mà la
mai thi gia”. Đoàn Lê Giang cho biết: “Tôi rất ấn tƣợng khi đọc thơ của nữ tác
giả La Mai Thi Gia trên trang facebook cá nhân của nữ nhà thơ này và thấy
độc giả trên mạng xã hội rất tán thƣởng cô ấy. Phong cách làm thơ của Thi
Gia là rất đàn bà” (2018). Trang website Văn chương phương Nam giới thiệu
La Mai Thi Gia- Nhặt nhạnh từng kí ức (2019). La Mai Thi Gia gây ấn tƣợng
bởi giọng thơ tha thiết, đậm đà sắc màu phái tính, phảng phất dƣ vị dân gian.
Chất hiện đại cộng hƣởng với cổ điển, vẻ mới mẻ hòa điệu cùng những thi
liệu dân gian mƣợt mà trong thơ Thi Gia là một dòng suối ngọt lành tƣới mát
những bụi bặm Sài Gòn.
Ngô Thị Hạnh (sau này lấy bút danh là Hạnh Ngộ) - ngƣời đi qua sự đa
đoan của văn chƣơng. Hạnh Ngộ quê ở Hƣng Yên, học Trung học ở Tây Ninh
và sau đó sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.
Trong bài viết Hạnh Ngộ - Hơn 15 năm vẫn chung tình với thơ (2022), Lê
Thiếu Nhơn nhận xét: “Ngô Thị Hạnh là một gƣơng mặt nữ tiêu biểu của văn
chƣơng trẻ ở TP.HCM suốt 20 năm qua”. Võ Công Liêm Đọc thơ Ngô Thị
Hạnh (2023) đã không tiếc lời tán dƣơng “Ngữ ngôn và chất liệu trong thơ
của thi sĩ họ Ngô là một đánh dấu lớn (…) Cổ nhân có nói trong thơ có họa,
trong họa có thơ. Ngô Thị Hạnh làm đƣợc điều đó (…) Đó là những câu thơ
đẹp, đẹp từ ý lẫn lời, nhƣng nếu đọc từng câu một ta thấy đƣợc tác giả gói
trọn tâm tƣ vào từng con chữ; một cái gì say sƣa, một cái gì vồn vã nhƣ cùng
chung sống với thi sĩ, rất giản đơn nhƣng rất tƣợng hình”. Đây là một tiếng
thơ nữ đằm sâu, đa cảm, rất say nồng. Trong khi một số nhà thơ dùng thơ để
tác nghiệp thì tôi có cảm giác Hạnh Ngộ dùng thơ để nuôi sống chính trái tim
mình.
Tạ Anh Thƣ - nhà thơ hóa thân lắng nghe những thanh âm cuộc sống. Tạ
Anh Thƣ là một nhà thơ trẻ hiện đang sinh sống và làm việc tại Bình Dƣơng.
16
Đọc thơ Tạ Anh Thƣ, ta thấy thi sĩ “hình nhƣ làm thơ bằng đôi mắt của một
nghệ sĩ nhiếp ảnh xen lẫn hội họa, chộp lấy những khoảnh khắc tinh tế cộng
hƣởng phối màu sáng tối, vừa hiện thực vừa mơ hồ, buồn và đẹp, quyến rũ và
thăng hoa trong sắc thái biểu cảm con chữ riêng mình” (VHSG, 2019), Quỳnh
Nhƣ trong bài viết Tạ Anh Thư với tập thơ “Người lạ” (2018) đã nhận xét “Thơ
của Tạ Anh Thƣ tả thực nên nhiều bài đọc lên nhƣ một câu chuyện, một
chuyện kể bằng thơ thật nhẹ nhàng và sâu lắng”). Tạ Anh Thƣ là một cơn gió
mới, dồi dào bút lực trong dòng chảy thơ nữ đƣơng đại. Tiếng nói phái tính
trong thơ Tạ Anh Thƣ là vũ khúc của thanh âm, hƣơng sắc, mà sự đồng cảm
chính là sợi dây kết nối lòng ngƣời với tình ngƣời.
Nguyệt Phạm - ngƣời gọi thức những giấc mơ. Giấc mơ là thi tứ trong
thơ của Nguyệt Phạm. Sau nhiều biến cố của cuộc sống, thi sĩ trở lại với thơ
bằng tập Phơi riêng tư (Nguyệt Phạm, 2019). Nhà thơ quê ở Đồng Nai nhƣng
hiện sống ở Bình Dƣơng. Inrasara trong bài viết Thơ nữ trong hành trình cắt
đuôi hậu tố “nữ” (2015, tr.13) nhận xét: “Cùng thế hệ Ngô Thị Hạnh, Nhật
Quỳnh nhƣng Thanh Xuân, Lynh Bacardi, Nguyệt Phạm, Phƣơng Lan, Khƣơng
Hà Bùi hết còn nền nếp khép nép mình trong khuôn phép, họ “quậy” hơn, phá
phách táo bạo hơn. Để có mặt.”. Phần lớn các phê bình nghiên cứu về thơ của
Nguyệt Phạm đều gắn với hai chữ “nổi loạn”. Tôi còn cho rằng, đằng sau sự
nổi loạn đó là một cái tôi tinh tế và cũng rất lạnh lùng, vừa đam mê, vừa ngông
nghênh và nhiều dự cảm. Nguyệt Phạm cũng yêu, cũng say nhớ, cũng mạnh mẽ
thể hiện bản ngã và khát vọng chinh phục trên tất cả các phƣơng diện của đời
sống bằng cái tôi của nghệ thuật.
Khƣơng Hà - sợi kim tuyến đỏ của thời đại. Khƣơng Hà tên thật là Bùi
Khƣơng Thanh Hà, nhà thơ sinh ra ở Đồng Nai nhƣng sinh sống và làm việc
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khƣơng Hà đã xuất bản tập thơ Kim tuyến đỏ
(2009) và gần đây nhất là tập Những rời và rạc (2019). Inrasara trong bài viết
Khương Hà Bùi, thơ như là một sự phát triển tinh thần (2015, tr.173) đã tìm
thấy ở Khƣơng Hà “sự phát triển tinh thần, đồng thời là sự phát triển thi pháp
thơ”, “thơ lăn lóc bụi bặm Sài Gòn, nhập cuộc vào dòng chảy sôi động của
Sài Gòn luôn sôi động, mới mẻ và bấp bênh”. Lê Thùy Nhung trong luận án
Thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách tân (2021) nhận xét “Không
17
thích sự sáo mòn, lặp lại mà dụng công tìm kiếm những thi liệu mới sau
những con chữ, nhiều nhà thơ nữ đã tạo ra những thể nghiệm đột phá, phản
ánh kịp thời những biến chuyển của thời đại mới, hòa nhập cùng với sự phát
triển của văn học thế giới… đó là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thƣ, Ly Hoàng
Ly, Nguyễn Ngọc Tƣ, Từ Huy, Khƣơng Hà Bùi, Thanh Xuân,…”. Khƣơng
Hà mạnh mẽ, bộc trực nhƣng đôi khi cũng rất lành, yếu đuối. Sở dĩ tôi gọi
Khƣơng Hà là sợi kim tuyến đỏ âu cũng vì thơ của Khƣơng Hà ngồn ngộn
hiện thực đời sống. Đây là tiếng thơ nữ quyền, mang màu sắc mới, mãnh liệt
và cá tính.
Nguyễn Thúy Hằng - một nhà văn, nhà thơ và nghệ sĩ tạo hình. Nhà thơ
sinh ra, lớn lên ở Thành phố Hồ Chí Minh nhƣng hiện tại hoạt động nghệ
thuật cả ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Nguyễn Chí Hoan trong bài
viết Họ- bột hư ảo Nguyễn Thúy Hằng: Sau 3 năm sống tại Hà Nội (2012) đã
nhận xét “bằng thứ ngôn từ giản dị một cách đặc biệt, đem lại một sự tiếp xúc
hầu nhƣ thực thể, hoàn toàn tƣơi mới, với các thứ chất liệu vật liệu trên đời
này ta vẫn quen dùng. Đây là một vẻ đẹp làm biến đổi hoàn toàn những thói
quen hùng biện và đa cảm của thơ.”. Trong luận án Thơ nữ Việt Nam
1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới (2019) của Hồ Tiểu Ngọc, tác giả cho rằng
“Về phƣơng diện phƣơng thức biểu hiện, các nhà thơ nữ cũng đã nỗ lực làm
mới thơ mình trên cơ sở học hỏi và ứng dụng các hệ hình lý thuyết thơ đƣơng
đại trên thế giới. Họ vừa tự thức tỉnh trƣớc mình vừa hƣớng đến tầm đón đợi
của ngƣời đọc để cách tân thơ. Vì vậy mà các nhà thơ nữ trẻ, sau thời gian đầu
có vẻ tự do bung phá, càng về sau họ lại cân bằng và tìm đến tiếng nói chung, dễ
hòa điệu và vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận (…) Nguyệt Phạm, Nguyễn Thúy
Hằng… là những nhà thơ nhƣ thế”. Tôi cho rằng ma lực của thơ Nguyễn Thúy
Hằng chính là thông qua hệ thống vi ba ngôn từ. Các thể loại điêu khắc, sắp
đặt, múa, điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc quy tụ trong thơ Nguyễn Thúy Hằng nhƣ
một bức tranh đa chiều.
Nồng Nàn Phố - lời thơ ngọt đắng từ trái tim đàn bà. Nồng Nàn Phố tên
thật là Phạm Thiên Ý, hiện sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thơ
Nồng Nàn Phố là thứ thơ dễ cảm và dễ say. Độc giả biết đến Nồng Nàn Phố
từ thời blog thịnh hành (khoảng giữa năm 2014) với tập thơ Anh ngủ thêm đi
18
anh, em phải dậy lấy chồng (2014). Tập thơ nhận đƣợc hƣởng ứng mạnh mẽ
từ giới nữ. Phố thừa thắng xông lên, tiếp tục cho ra đời tập thơ Yêu lần nào
cũng đau (2015). Sau đêm ra mắt đầu tiên, thi phẩm bán đƣợc hơn 1000 cuốn.
Quả đúng thật, “Thơ Phố mang gƣơng mặt đàn bà. Một gƣơng mặt đẹp và lạ.
Bài thơ nào của Phố cũng mang bóng dáng đàn bà, tâm tƣ đàn bà, khát khao
đàn bà, tình yêu và nỗi đau đàn bà… dù cho trong nhiều bài có danh xƣng là
“anh” đi nữa” (Phan Tùng Sơn, 2015). Nhà báo, nhà thơ Vũ Quỳnh Hƣơng
(2014) trong bài viết Chất đàn bà trong thơ Nồng Nàn Phố cũng nhận xét
“Nồng Nàn Phố có sự phân tách rất rạch ròi giữa con ngƣời và thơ. Bên ngoài
tác giả là cô gái dễ thƣơng, trong sáng, chƣa vƣớng lụy tình ái. Nhƣng thơ cô
ẩn chứa những suy nghĩ, nỗi niềm “già trƣớc tuổi””. Thơ Nồng Nàn Phố vui
bình dị, buồn quặn lòng. Tiếng thơ của Phố đậm đà ý thức phái tính, mang
tinh thần của ngƣời phụ nữ hiện đại.
Vũ Thanh Hoa - ngƣời đàn bà làm thơ bên biển. Nhà thơ quê gốc Hà
Nội nhƣng sinh sống và làm việc lâu dài tại Vũng Tàu. Thanh Hoa sáng tác
thơ từ khi 8 tuổi, đã in nhiều tác phẩm văn thơ, phê bình văn học trong nhiều
tuyển tập và trên các tạp chí Trung ƣơng, địa phƣơng. Từ sau năm 2000, Vũ
Thanh Hoa liên tục cho ra đời 5 tập thơ và sắp tới đây còn hứa hẹn thêm nhiều
sáng tác mới. Phan Hoàng (2012) trong bài viết Vũ Thanh Hoa “giấu buổi
chiều cô độc vào đêm” đã nhận xét “Từ phố biển Vũng Tàu, gần đây có một
giọng thơ nữ mới đã vững vàng cất lên. Nhà thơ Hoàng Quý vốn cẩn trọng
khen chê, cũng phải thốt lên: “Có một ngƣời đàn bà khác trong Vũ Thanh
Hoa, đó là ngƣời đàn bà thơ của tín ngƣỡng thơ mới, hiện đại và mạnh mẽ -
đó là thơ quyết tìm hƣớng khác với ngôn ngữ, thi ảnh và nhịp điệu đang thúc
bách để ứng xử tƣơng thích với thời đại không giống hôm qua. Ngƣời đàn bà
khác ấy có tự vấn thì cũng tự vấn và tự trả lời không thể nhƣ cái nếp sống
chậm, mơ mơ của văn hóa đình làng, bến nƣớc, cây đa và tre lũy, hay nhịp
một hai trong đô thị nho nhỏ, xinh xinh với ôn hòa trƣớc đó” (Trịnh Sơn,
2015). Đây là một tiếng thơ nữ cực kì già dặn.
Liêu Hà Trinh - ngƣời viết sách để trị liệu cảm xúc. Công chúng biết đến
Liêu Hà Trinh với vai trò MC, ngƣời truyền cảm hứng và là tác giả trẻ của
nhiều ấn phẩm có sức ảnh hƣởng trên cộng đồng mạng. Liêu Hà Trinh là một
19
cây bút trẻ, rất trẻ của Thành phố Hồ Chí Minh. Ngƣời yêu văn chƣơng biết
đến Liêu Hà Trinh từ năm 2016 với tập thơ, tản văn đầu tay Tự tình lúc 0 giờ.
Điều này cũng đồng nghĩa với các công trình phê bình nghiên cứu về thơ Liêu
Hà Trinh chƣa có nhiều. Lời thơ không đẽo gọt cầu kì, khơi nhiều đồng cảm
“giống nhƣ lời tƣ vấn trực tiếp của một ngƣời từng đi qua nhiều đổ vỡ, trƣởng
thành và mạnh mẽ để đƣa ra lời khuyên cho ngƣời đọc, đặc biệt là những cô
gái trẻ đang ở giai đoạn “mắc kẹt” với nỗi buồn. Cô chọn cách khoác lên nỗi
buồn “lớp áo” thi vị để thấy cuộc sống ở nốt trầm cũng có giá trị
riêng” (P.C.Tùng, 2015). Ngƣời đọc tìm đến thơ Liêu Hà Trinh nhƣ tìm thấy
bản ngã chính mình. Ý thức phái tính trong thơ Liêu Hà Trinh thể hiện trong
những con chữ bình dị, mang tâm thế của một ngƣời đàn bà hiện đại. Họ biết
tự khép vết thƣơng lòng để bắt đầu một tình yêu mới, cuộc sống mới.
Nhìn chung, tất cả các bài viết nghiên cứu, phê bình, đánh giá trên đều
gián tiếp hoặc trực tiếp cho thấy ý thức phái tính trong những sáng tác của các
nhà thơ nữ Đông Nam Bộ. Do đây là các tập thơ xuất bản trong thời gian gần,
và phần đông các nhà thơ nữ ở độ tuổi trẻ, nên bề sâu nghiên cứu về thơ họ
còn cần rất nhiều sự bổ sung, góp nhặt ở hiện tại và tƣơng lai. Tuy nhiên, các
luận điểm, luận cứ của các công trình nghiên cứu, phê bình, đánh giá trên đã
giúp cho tôi gợi mở nhiều đồng cảm trong tiếp nhận và triển khai đề tài ở
những khía cạnh bổ sung.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài “Ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm 2010
đến năm 2020”, tôi muốn đi sâu tìm hiểu những biểu hiện và các phƣơng thức
thể hiện ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020
trên nhiều bình diện. Để từ đó thấy đƣợc đóng góp của các cây bút nữ đối với
thi đàn Đông Nam Bộ, phác họa diện mạo chung của thơ nữ Đông Nam Bộ
trong khoảng thời gian mƣời năm gần đây nhất. Với luận văn này, tôi mong
muốn đem lại cho ngƣời đọc một số giá trị mới và giá trị bổ sung, làm đầy nghĩa
cho thơ nữ Đông Nam Bộ nhìn từ khía cạnh ý thức phái tính.
20
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu,
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần phải giải quyết
những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu giới thuyết chung về phái tính và ý thức phái tính trong văn học
Việt Nam. Từ đó, chỉ ra một số đặc điểm về ý thức phái tính trong thơ nữ Đông
Nam Bộ đƣơng đại.
- Phân tích những biểu hiện và phƣơng thức thể hiện ý thức phái tính trong
thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020 trên nhiều bình diện.
- Từ đó đƣa ra cái nhìn tổng quát về ý thức phái tính trong thơ nữ Đông
Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng mà ngƣời viết tập trung nghiên cứu ở đây là những tập thơ
đƣợc xuất bản trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 của các nhà thơ nữ
sinh ra và lớn lên ở Đông Nam Bộ, hoặc sinh sống và làm việc lâu dài ở Đông
Nam Bộ. Các tập thơ này phải thể hiện đƣợc ý thức phái tính một cách rõ
ràng, sâu sắc, vừa đậm đà bản sắc riêng, vừa mang hơi thở thời đại.
Với khả năng còn hạn hẹp của mình cũng nhƣ khuôn khổ luận văn, tôi xin
đi sâu tìm hiểu một số đặc điểm của ý thức phái tính trên phƣơng diện nội dung
và nghệ thuật giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên phƣơng diện địa lý, vùng đất Đông Nam Bộ bao gồm năm tỉnh và một
thành phố: Bình Phƣớc, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu
và Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, có thể thấy Thành phố Hồ Chí Minh là
một thành phố lớn, đi đầu trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ
thuật... Số lƣợng các tác giả nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh với các tập thơ ra đời
giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 có phần áp đảo hơn so với các khu vực
khác. Và ngƣợc lại, ở một số tỉnh, số lƣợng nhà thơ nữ cho ra đời các tập thơ
trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 lại vô cùng khan hiếm. Vì thế, trong
21
khuôn khổ giới hạn đề tài, điều kiện thực tiễn, luận văn đề xuất nghiên cứu 16
tập thơ của 9 nhà thơ nữ sau: La Mai Thi Gia, Ngô Thị Hạnh, Tạ Anh Thƣ,
Nguyệt Phạm, Khƣơng Hà, Nguyễn Thúy Hằng, Nồng Nàn Phố, Vũ Thanh Hoa,
Liêu Hà Trinh.
- Thơ trắng, La Mai Thi Gia, Nxb Hội Nhà Văn, 2017
- Gia ơi, đời xanh đấy!, La Mai Thi Gia, Nxb Hội Nhà Văn, 2018
- Nắng từ những ngón chân, Ngô Thị Hạnh, Nxb Thanh niên, 2010
- Thơ tình với Sài Gòn, Ngô Thị Hạnh, Nxb Thanh niên, 2014
- Người lạ, Tạ Anh Thƣ, Nxb Thanh niên, 2017
- Người có sẵn lòng mang vết thương?, Tạ Anh Thƣ, Nxb Văn hóa Văn
nghệ, 2018
- Phơi riêng tư, Nguyệt Phạm, Nxb Hội Nhà Văn, 2019
- Những rời và rạc, Khƣơng Hà, Nxb Đà Nẵng, 2019
- Họ, bột hư ảo, Nguyễn Thúy Hằng, Nxb Văn học, 2012
- Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng, Nồng Nàn Phố, Nxb Văn
học, 2014
- Yêu lần nào cũng đau, Nồng Nàn Phố, Nxb Trẻ, 2015
- Mang san hà đổi lấy duy nhất một người thương, Nồng Nàn Phố, Nxb
Lao động, 2018
- Lời cầu hôn đêm qua, Vũ Thanh Hoa, Nxb Hội Nhà Văn, 2012
- Lục Bát Phố, Vũ Thanh Hoa, Nxb Hội Nhà Văn, 2015
- Cúc họa mi, Liêu Hà Trinh, Nxb Thế giới, 2018
- Em, Liêu Hà Trinh, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2020
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Từ hƣớng tiếp cận và mục tiêu của đề tài trên, tôi vận dụng các phƣơng
22
pháp nghiên cứu sau đây để triển khai luận văn:
- Phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành: Phương pháp phê bình nữ
quyền là bệ đỡ chính làm căn cứ tìm hiểu ý thức phái tính; phương pháp phê
bình thi pháp học phân tích những nét đặc thù trong thơ, logic của hình thức
nghệ thuật, từ đó thấy đƣợc mùi vị văn chƣơng ở mỗi ngòi bút; phương pháp
phê bình ý thức thám hiểm chiều sâu trong sáng tác của nữ giới, nhập vào ý
thức của tác giả để thấu minh tác phẩm.
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: khám phá ý thức phái tính trong
thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn mới đặt trong bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội
cụ thể; vận dụng lý thuyết liên ngành nhƣ: xã hội học, văn hóa học, phân tâm
học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Hậu hiện đại nhằm giải mã nội dung và
phƣơng thức nghệ thuật thể hiện trong thơ nữ từ góc nhìn ý thức phái tính, xem
xét các yếu tố tác động, ảnh hƣởng đến việc hình thành ý thức phái tính trong
thơ, khẳng định sự đóng góp, cũng nhƣ các hạn chế trong khung thời đại của
chính họ.
- Phƣơng pháp hệ thống: đƣợc sử dụng trong việc hệ thống hóa những
quan điểm về phái tính, sự vận động của ý thức phái tính và các biểu hiện của ý
thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn 2010-2020.
- Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp: phƣơng pháp phân tích đƣợc dùng
để tiếp nhận sáng tác của những nhà thơ nữ trên các phƣơng diện nội dung,
nghệ thuật. Sau đó, tôi tiến hành sắp xếp, xâu chuỗi, khái quát hóa, tổng hợp
kết quả phân tích dựa trên các ngữ liệu này thành những luận đề lớn. Kết quả
tổng hợp là kết quả cuối cùng có ý nghĩa lí luận và thực tiễn.
- Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu: một vấn đề văn học không bao giờ tồn
tại một cách biệt lập. Vì vậy, ta cần đặt đối tƣợng vào mối quan hệ đa chiều, đa
dạng, đồng đại và lịch đại. Trong đề tài này, tôi thực hiện so sánh một số vấn đề
của thơ nữ với thơ của nam giới, so sánh giữa thơ nữ với thơ nữ, và thơ nữ khu
vực Đông Nam Bộ trong tiến trình vận động, phát triển nền thơ Việt Nam. Để
từ đó thấy đƣợc tƣ duy nghệ thuật riêng hay sự gần gũi về phong cách sáng tác
của các nhà thơ nữ, đánh giá và củng cố vị trí thơ nữ ngày nay.
- Phƣơng pháp thống kê: đƣợc sử dụng trong việc thống kê các hệ thống
23
biểu tƣợng gắn với ngƣời phụ nữ.
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt học thuật, lí luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ những biểu
hiện, phƣơng diện nghệ thuật thể hiện ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam
Bộ giai đoạn 2010-2020. Đồng thời, thấy đƣợc các đóng góp, vị thế của thơ nữ
trong nền thơ ca Đông Nam Bộ từ góc nhìn giới và lối viết nữ. Từ đó, chỉ ra sức
ảnh hƣởng, sự lan tỏa của bộ phận thơ này đối với tiến trình thơ nữ Việt Nam
nói chung và thơ vùng Đông Nam Bộ nói riêng.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần làm phong phú thêm nguồn tƣ liệu
nghiên cứu thơ ca Đông Nam Bộ. Tìm hiểu ý thức phái tính trong thơ nữ là một
bƣớc tiến trong quá trình dân chủ hóa, bình đẳng giới mà các nhà thơ nữ thể
hiện một cách hiệu quả qua lối viết giàu tính nhân văn, thẩm mỹ.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03
chƣơng:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ý thức phái tính trong thơ nữ
Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020
Chƣơng 1, từ lịch sử nghiên cứu về phái tính và thơ nữ Đông Nam Bộ,
luận văn giới thuyết về phái tính và nữ quyền. Sau đó khái quát sự vận động,
phát triển của ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại.
Cuối cùng là nêu lên một số đặc điểm nổi bật về ý thức phái tính trong thơ nữ
Đông Nam Bộ đƣơng đại, làm tiền đề đi sâu phân tích các biểu hiện của ý thức
phái tính ở chƣơng tiếp theo.
Chương 2: Biểu hiện ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm
2010 đến năm 2020
Chƣơng 2, nghiên cứu biểu hiện thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm
2010 đến năm 2020 dựa trên ba khía cạnh: ý thức về cái tôi bản thể; ý thức về tình
yêu. Thông qua các tác phẩm, những nhà thơ nữ Đông Nam Bộ đã thể hiện thái độ,
tình cảm, ý thức, nhận thức, các cung bậc cảm xúc của mình thể trƣớc cuộc sống,
24
tình yêu và quá trình thấu hiểu bản thân, làm thành giá trị tƣ tƣởng, nhân văn, thẩm
mỹ.
Chương 3: Một số phƣơng thức nghệ thuật thể hiện ý thức phái tính trong
thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020
Chƣơng 3, Ý thức phái tính không chỉ thể hiện thông qua cảm xúc, thái độ,
tâm tình ngƣời viết mà còn ở một số phƣơng thức nghệ thuật nhƣ: hệ thống biểu
tượng mang tính nữ; ý thức phái tính và giọng điệu; ý thức phái tính và ngôn ngữ.
Đó chính là chiếc chìa khóa giải mã ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ
cũng nhƣ cho thấy sự mới mẻ, phát triển ở thơ nữ Đông Nam Bộ hiện nay.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ý THỨC PHÁI TÍNH
TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020
1.1. Giới thuyết về phái tính và nữ quyền
Trong cuộc sống thƣờng nhật, chúng ta thƣờng nghe những câu châm
biếm “Anh chàng đó giống đàn bà! Cô kia y như đàn ông!” hay “đàn ông sao
Hỏa, đàn bà sao Kim”. Những câu nói đó đã phản ánh quan niệm, cách nhìn
của chúng ta về phái tính (phái nam- phái nữ) rất rõ ràng. Trong những cuộc
đấu tranh đòi bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ, ngƣời ta nhắc nhiều đến phái
tính và phái tính trong văn học luôn đƣợc nhìn nhận nhƣ một minh chứng
sống động. Có thể thấy, văn học là nơi phái tính thể hiện một cách rõ nét nhất
và cũng là thứ khí giới đắc lực để các nhà nữ quyền giành lại sự công bằng
cho giới nữ. Dƣới sự tiến bộ của ý thức con ngƣời, thiết chế xã hội mà ý thức
phái tính và ý thức nữ quyền ở mỗi giai đoạn mang một màu sắc khác nhau.
Luận văn xem việc giới thuyết về phái tính và nữ quyền là một bƣớc quan
trọng để nhận biết quá trình phát triển của ý thức phái tính trong thơ nữ Đông
Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.
1.1.1. Ý thức phái tính
Thuật ngữ phái tính đƣợc nhắc đến khá nhiều trong các nghiên cứu gần
đây nhƣng đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa chính xác, toàn diện, thống nhất
25
về thuật ngữ này. Nhiều ý kiến cho rằng phái tính là sự tổng hòa nghĩa của
những từ “giống”, “phái”, “giới tính” mang lại. Nếu chiết tự từ “phái tính”, ta
sẽ hiểu rõ hơn. Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, tính
có thể đƣợc hiểu theo ba nghĩa: Một là những đặc trƣng tâm lí ổn định riêng
của mỗi ngƣời (tính nóng, mát tính, tính cách, tâm tính, thiên tính, thú tính...);
hai là đặc điểm riêng của sự vật (tính chất, ác tính, bản tính, cá tính, đặc tính,
nhân tính, phẩm tính...); ba là giới (đồng tính, đơn tính, lưỡng tính, nam tính,
nữ tính...) (Nguyễn Nhƣ Ý, 1999, tr.1651). Ở đây, chúng ta nên hiểu đơn giản
từ tính theo nghĩa thứ ba, là yếu tố thuộc về giới. Còn từ phái, cũng theo Đại
từ điển tiếng Việt, ở góc độ danh từ, nó có thể đƣợc hiểu nhƣ một “tập hợp
những người đứng ở phía này, phe này hay phía khác, phe khác: chia bè chia
phái, các phái đấu tranh gay gắt với nhau” (Nguyễn Nhƣ Ý, 1999, tr.1315).
Ngƣời ta hay nói đến các từ nhƣ: phái nam, phái nữ, phái mạnh, phái yếu,
phái tả, phải hữu... Ở góc độ này, phái là sự tƣơng tác với từ tính, tạo sinh tính
thành hai phạm trù: tính nam - tính nữ. Nhƣ vậy, chúng ta sẽ thấy phái tính là
một biến thể mở rộng của giới tính.
John J Macionis trong cuốn Xã hội học cho rằng: “Giống phái ám chỉ sự
phân chia con ngƣời thành những nhóm sinh học gồm nam và nữ” (John J
Macionis, 2003, tr.384). Theo cách hiểu ban đầu, phái tính tƣơng đƣơng giới
tính. Trên thực tế, những khái niệm này có một số đặc điểm chung, nhƣng dù
giống nhau ở nhiều điểm vẫn sẽ có sự phân định rõ ràng. Có thể thấy, khái
niệm phái tính có nội hàm rộng hơn giới tính. Giới tính bị quy chế bởi các yếu
tố sinh lý, xã hội, còn phái tính chứa đựng trong đó ý thức của chính chủ thể
về bản thân và giới tính của mình. Điều này đƣợc chi phối bởi xã hội, môi
trƣờng sống, kinh tế, chính trị, giáo dục,… Nó đƣợc nhận diện không ngừng
trong đời sống, cũng nhƣ trong khoa học, từ tôn giáo, tâm lý học, nhân chủng
học,… đến văn học. Cao hơn nữa, phái tính còn chứa đựng trong đó những
yếu tố trội để xác định bình đẳng giới.
Nếu giới là một khái niệm khách quan thì phái tính là một khái niệm chủ
quan, thuộc về ý thức. Theo triết học Mác- Lê nin, ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan, phản ánh vào bộ óc con ngƣời thông qua lao
động, ngôn ngữ, các quan hệ xã hội, là một hiện tƣợng xã hội. Mặt khác, các
26
nhà triết học duy vật biện chứng đã khẳng định rằng: ý thức là hình thức phản
ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con ngƣời, là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì
con ngƣời đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan. Ý
thức bao gồm các yếu tố nhƣ tri thức, cảm xúc, tình cảm, lòng tin, lý trí,… Nó
đƣợc bắt rễ từ trong vô thức, tiềm thức và ý thức của con ngƣời. Vậy, ý thức
phái tính là quá trình con ngƣời tự ý thức về giới của mình khi soi lại bản thể
cá nhân.
Thế nhƣng ở một số khác, phái tính còn bị nhầm lẫn với tính nữ. Nhắc
đến tính nữ, ta hiểu đó là những đặc trƣng riêng về giới tính của phái nữ, đối
trọng với tính nam. Tuy nhiên, một câu hỏi đƣợc đặt ra: Tại sao chúng ta
không hiểu phái tính tƣơng tự với tính nam mà lại đẩy nó sang bên tính nữ?
Trong Kinh Thánh, đàn bà đƣợc sinh ra từ xƣơng sƣờn của đàn ông, điều đó
có nghĩa đàn bà trở thành kẻ phái sinh, kẻ phụ tá trong cuộc đời của đàn ông.
Theo Virginia Woolf và Simone de Beauvoir, nền văn hóa mà chúng ta đang
sống là nền văn hóa phụ hệ. Tức là, nam giới sẽ đồng nghĩa với nhân loại
(nam), đồng nhất với lịch sử, còn phụ nữ thì bị nhìn nhƣ một “cái Khác”
(Other), ở trong tâm thế phụ thuộc vào nam giới mới định nghĩa đƣợc chính
mình. Vì thế, nam giới luôn coi mình là trung tâm, là yếu tố tiên quyết, còn
phụ nữ chỉ là “một ngẫu nhiên, phi yếu tính đối lập với yếu tính”. Những điều
đó tồn tại một cách thƣờng trực và tự nhiên trong vô thức, tiềm thức, làm cho
phái nữ luôn mặt cảm là sự phái sinh của phái nam, và tính nữ chỉ là “giới tính
thứ hai”. Điều này phản ánh một sự bất công trong phân hóa xã hội cũng nhƣ
quyền lợi của nữ giới. Ở cấp độ này, phái tính có thể đƣợc định nghĩa là tính
nữ kết hợp với sự ý thức sâu sắc về tính nữ, nhất là trong sự đối sánh với tính
nam, một cách tự giác, mạnh mẽ và bình đẳng.
Từ sự phân tích trên, ta có thể thấy phái tính đƣợc hiểu theo hai nghĩa,
rộng và hẹp: Nghĩa rộng là giới tính kết hợp với ý thức về giới tính (hay gọi
cụ thể là lí tính); nghĩa hẹp của nó là tính nữ và sự ý thức tính nữ (trong tƣơng
quan đối sánh với tính nam). Trong nhiều nghiên cứu gần đây, khái niệm phái
tính đƣợc gắn liền với ý thức nữ quyền. Tuy vậy, chúng không phải là một
cặp sinh đôi hoàn toàn giống nhau. Bởi cốt lõi, ý thức phái tính là ý thức về
những gì gắn bó nhất với mỗi phái về mặt bản thể. Ngƣời phụ nữ đƣơng đại
27
đấu tranh cho nữ quyền là quan trọng, nhƣng xét đến thời điểm hiện nay, họ
còn muốn đƣợc sống với tất cả sự tự do về giới tính. Trong thơ ca đƣơng đại,
ý thức phái tính trỗi dậy mạnh mẽ, đầy ấn tƣợng, phong phú và táo bạo.
1.1.2. Ý thức nữ quyền
Văn học nữ nói chung và thơ nữ nói riêng đang tự khẳng định mình trong
dòng chảy văn học Việt Nam. Dựa trên lịch sử phát triển của xã hội và tƣ duy
thơ nữ gần đây, khái niệm phái tính thƣờng gắn liền với ý thức nữ quyền. Nhìn
chung, vấn đề ý thức phái tính đƣợc xác lập từ bình diện cá nhân sau đó nâng
lên thành ý thức nữ quyền. Trong luận văn này, tôi xin phép giới thuyết về ý
thức nữ quyền dƣới góc độ liên quan, nhằm bổ sung và làm bệ đỡ cho nghiên
cứu vấn đề ý thức phái tính trong thơ nữ.
Thuật ngữ nữ quyền (Féminisme) do Fourer (1722- 1823) đƣa ra vào năm
1830. Đến năm 1837, khái niệm nữ quyền hay còn gọi là chủ nghĩa nữ quyền
chính thức xuất hiện trong từ điển tiếng Pháp.
Có ý kiến cho rằng vấn đề nữ quyền đƣợc hiểu nhƣ “chủ nghĩa nữ giới”,
“chủ nghĩa nữ quyền”, “chủ nghĩa duy phụ nữ” hay “lý thuyết về phụ nữ”…
Trên thực tế, các lý thuyết nữ quyền đƣợc đề xƣớng nhằm đáp ứng các phong
trào nữ quyền. Theo cách hiểu thông thƣờng, “nữ quyền” chính là nói về
quyền lợi của ngƣời phụ nữ. Chủ nghĩa nữ quyền là một hiện tƣợng hết sức
phức tạp gồm nhiều xu hƣớng và giai đoạn khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu
chủ nghĩa nữ quyền thì quá trình phát triển của chủ nghĩa nữ quyền có thể đƣợc
khái quát thành ba xu hƣớng tƣơng ứng với ba làn sóng nữ quyền sau:
Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The First Wave of feminism) diễn ra vào
cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Phong trào nữ quyền thời kỳ này đƣợc ghi dấu
với sự ra đời của cuốn sách A Vindication of the Rights of Woman (tạm dịch:
Biện minh cho quyền phụ nữ) của Mari Wollstonerast vào năm 1792. Tiếp đó là
tác phẩm A Rom of One’s Own (tạm dịch: Một căn phòng riêng) của Viginia
Woolf vào năm 1929. Đây chính là quyển sách đƣợc xem nhƣ khởi đầu của phê
bình nữ quyền, với những khái niệm mở khẳng định quyền bình đẳng của phụ
28
nữ và đàn ông trong xã hội.
Làn sóng nữ quyền thứ hai (The Second Wave of feminism) xuất hiện
sau thế chiến thứ II. Ngƣời khởi xƣớng của làn sóng nữ quyền giai đoạn này là
nhà văn nữ Simone de Beauvoir với tác phẩm Le Deuxième Sexe (tạm dịch:
Giới tính thứ hai) xuất bản năm 1949. Đây có thể xem là ngƣời tiên phong đầu
tiên cho các phong trào về nữ quyền phƣơng Tây, nhằm giải phóng ngƣời phụ
nữ về mọi mặt, đặc biệt là sự “tự giải tỏa” về tính dục. Cho nên, bà có định đề
nổi tiếng “Người ta sinh ra không phải là đàn bà, mà trở thành đàn bà”. Từ đó,
phong trào nữ quyền không chỉ chú ý đến giới tính mà chủ yếu là phái tính. Phái
tính của ngƣời phụ nữ không chỉ đƣợc hình thành từ các điều kiện sinh học, mà
còn từ điều kiện văn hóa - xã hội. Mặc dù cuốn Le Deuxième Sexe đƣợc đón đọc
một cách rộng rãi nhƣng sự kiện đƣợc đánh dấu nổi bật trong thời kỳ này là sự
ra đời của quyển Feminine Mystique (tạm dịch: Bí ẩn nữ tính) của Betty
Friedan năm 1963. Quyển sách đƣợc xem nhƣ một bản tuyên ngôn cho nữ giới
ở Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung.
Làn sóng nữ quyền thứ ba (The Third Wave of feminism) kéo dài từ năm
1968. Song, nó thực sự phát triển mạnh vào những năm 90 của thế kỉ XX trong
bối cảnh toàn cầu hóa. Tác phẩm Sự thống trị của nam giới đƣợc xem là quyển
sách đã “hóa giải hàng loạt các áp đặt tƣ duy ấy bằng những dẫn chứng sinh
động, phổ quát, thực tiễn” (P.Bourdieu, 2011). Tác giả đã chỉ ra những sai lầm,
lệch lạc trong các quan niệm, thiết chế xã hội dẫn đến tình trạng bất bình đẳng
nam nữ và phân chia quyền lực không đồng đều. Thời điểm này, các ấn phẩm
về phụ nữ, về giới đƣợc xuất bản rộng rãi khắp nơi. Họ đòi quyền bình đẳng cho
phụ nữ trên tất cả lĩnh vực. Những nội dung trên đƣợc đề cập một cách khái
quát trong cuốn Gender Inequality (tạm dịch: Cuốn sổ tay vàng) ra đời vào năm
1962 của Doris Lesing.
Trong phong trào phụ nữ cuối thế kỉ XX, tác phẩm Có hai giới tính: lý luận
về khoa học phụ nữ (1989 - 1995) của Antoinette Fouque đã nhắc đến vị trí của
ngƣời phụ nữ trong xã hội. Tƣ tƣởng tiến bộ, mới mẻ của quyển sách này nằm ở
chỗ tác giả không đi sâu vào sự xóa nhòa ranh giới của giới tính mà nhấn mạnh
sự khác biệt, ƣu điểm về giới tính. Bà cho rằng xã hội chỉ có thể bình đẳng nếu
nhƣ họ hiểu đƣợc những sự khác biệt của phụ nữ so với đàn ông. Antoinette
29
Fouque nhấn mạnh từ “cái” (femelle) để ca ngợi những đặc điểm riêng chỉ có ở
nữ giới, chẳng hạn nhƣ thiên chức làm mẹ. Từ đó, bà lên án mạnh thuyết Phân
tâm học của Frued khi ông cho rằng phụ nữ chỉ là một người đàn ông không
hoàn chỉnh. Kế đó, ngƣời thứ hai phê phán thuyết Phân tâm học của Frued
chính là Luce Irigaray. Bà không đồng tình với cách nghĩ cơ thể đàn bà chỉ
được coi như một hố đen. Đồng thời, bà cũng khẳng định rằng: giải pháp cho
vấn đề nữ quyền không phải là đồng hóa mà là dị biệt.
Qua ba làn sóng nữ quyền, lý thuyết nữ quyền phƣơng Tây ngày càng sâu
sắc và có tính hệ thống. Cụ thể, lý thuyết nữ quyền quan tâm đến: ý thức về bản
sắc và bản thể nữ; ý thức về bản thân, nhìn nhận lại mình, truy tìm bản thể; sự
tương tác phức tạp giữa nội tâm và các yếu tố bên ngoài để xác lập tình cảm,
địa vị của nữ giới, chủng tộc, đồng tính luyến ái,…; cuối cùng là đi đến sự bình
đẳng và người phụ nữ phải tự ý thức về phái tính của mình (Hồ Tiểu Ngọc,
2019).
Vậy nên, từ thuyết nữ quyền nói chung, mọi ngƣời bắt đầu tìm cách ứng
dụng nó vào những lĩnh vực riêng mà văn chƣơng chính là con đƣờng nhanh
nhất và hiệu quả nhất để lan tỏa điều này. Do đó, các nhà nữ quyền và những
nhà nghiên cứu văn học đã nâng lên thành phƣơng pháp ứng dụng trong nghiên
cứu văn học. Gọi tắt là Phê bình nữ quyền/ Phê bình văn học nữ quyền.
Các nhà nữ quyền thuộc “thế hệ thứ ba” còn xây dựng lý thuyết phê bình nữ
quyền thông qua hệ thống “kí hiệu” và “biểu tƣợng”. Julia Kristeva quan tâm
đến vấn đề chủ thể lời nói. Barbra Johnson xem “vấn đề giới tính thực chất là
vấn đề ngôn ngữ”. Đây cũng chính là tiền đề cho việc tìm hiểu ý thức phái tính
trong thơ nữ cần dựa trên các yếu tố biểu tƣợng, ngôn ngữ mà tôi sẽ đề cập ở
chƣơng cuối của luận văn.
Quay trở lại việc giải thích khái niệm nữ quyền, khi nhắc đến cụm từ này,
tức là ta đang nhấn mạnh khía cạnh quyền lợi của ngƣời phụ nữ. Tuy nhiên, do
đặc thù lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội,… mà phong trào nữ quyền ở phƣơng
Tây và phƣơng Đông sẽ có điểm khác nhau. Ở phƣơng Tây, phụ nữ đặt trong
thế đối lập với nam giới. Ở Việt Nam, phong trào nữ quyền gắn với phong trào
cứu quốc và nữ giới đồng hành cùng nam giới trong cuộc chiến tranh lịch sử
30
của dân tộc. Chính vì vậy, trào lƣu nữ quyền ở Việt Nam không diễn ra một
cách quyết liệt, độc lập, càn quét nhƣ vũ bão. Đó cũng không phải là sự đấu
tranh giữa giới này với giới kia mà là của một cộng đồng xã hội có tƣ tƣởng cấp
tiến với một bộ phận xã hội còn giữ quan điểm cổ hũ, lệch lạc, muốn áp bức, hạ
thấp ngƣời phụ nữ. Chính vì vậy, ý thức nữ quyền ở phƣơng Đông tồn tại và
chiến đấu trong thầm lặng, kín đáo và có tính chất của một ý thức xã hội.
Trong sáng tác, phê bình, nghiên cứu văn học đƣơng đại, khái niệm nữ
quyền thƣờng đƣợc nhắc cùng với các khái niệm “giới”, “phái tính”, “nữ tính”.
Các khái niệm này đều là công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái nam và nữ.
Mặt khác, ở phần giới thuyết về ý thức phái tính, tôi đã trình bày khái niệm
“phái tính” là sự tổng hợp của hai khái niệm “giới” và “tính nữ”. Nhƣ vậy, khái
niệm nữ quyền nếu hiểu theo nghĩa hẹp chính là hƣớng đến sự bình quyền nam
- nữ và tạo ra hệ quy chuẩn riêng của giới nữ. Khái niệm nữ quyền cũng có sự
liên đới mật thiết với phái tính.
Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, ý thức về giới/ phái tính và đấu
tranh nữ quyền ở Việt Nam diễn ra muộn. Nhƣng từ xa xƣa, trong lịch sử và
truyền thống, những mầm mống của quyền phụ nữ đã biểu hiện rõ trong văn
học với các hình thái khác nhau. Đến thời điểm hiện nay, vấn đề trên trở thành
hiện thực mạnh mẽ mà thơ ca nữ là một hình thái ý thức thẩm mỹ, nhân văn,
mới mẻ đƣợc bạn đọc quan tâm.
Vào mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, dòng chảy văn học theo đó cũng
có ít nhiều đổi thay, ý thức nữ quyền biểu hiện ở nhiều cấp độ đậm nhạt, mang
màu sắc mới, thanh âm khác với ban đầu. Cụ thể, nếu trong văn học dân gian, ý
thức nữ quyền xuất hiện qua một vài tiếng nói cá nhân, đầy đơn lẻ, rời rạc, cảm
tính. Thì đến giai đoạn sau 1986, ý thức nữ quyền trở lại với vai trò cốt lõi, đƣợc
nhiều ngƣời tìm đến. Lúc này, ý thức nữ quyền trong văn học đƣợc thể hiện
thông qua tiếng nói của phái tính. Mỗi nhà thơ nữ mang trong mình sự nhạy
cảm, trăn trở, suy tƣ trƣớc những thăng trầm cuộc sống cũng nhƣ khao khát tìm
hiểu, lý giải giá trị cá thể, giá trị cuộc đời. Họ bày tỏ những quan điểm về vị trí,
vai trò, quyền lợi của giới mình, ƣớc vọng giải phóng những ẩn ức tinh thần
thông qua cái nhìn mang đậm cảm quan về giới. Để rồi từ đó, văn chƣơng đề
31
cao vẻ đẹp thể xác cũng nhƣ vẻ đẹp tâm hồn của ngƣời phụ nữ, khẳng định bản
sắc riêng, tiếng nói riêng của phái nữ. Nhƣ vậy, giới thuyết về ý thức nữ quyền
chính là tiền đề quan trọng để làm sáng tỏ vấn đề ý thức phái tính trong thơ nữ.
1.2 Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam từ trung đại đến hiện đại
Khổng Tử có câu: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học, ba mươi tuổi trụ
vững, bốn mươi thì hết ngờ,…” (Hữu Ngọc, 2018). Cuộc đời của con ngƣời
đƣợc chia thành nhiều giai đoạn gắn với quá trình trƣởng thành và kết thúc theo
vòng xoay sanh-lão-bệnh-tử. Dòng chảy văn học cũng chia thành từng giai
đoạn, nhƣng mỗi sự tàn lụi của thời kỳ này lại là hiển sinh cho một chặng đƣờng
khác. Trong văn học dân gian, ý thức thân phận của ngƣời phụ nữ chủ yếu thể
hiện qua những lời than thân tha thiết, não nề. Thế nhƣng, suy cho cùng, đó vẫn
là những lời hát không tên cất lên từ những tâm hồn quẫn bách, bé nhỏ, không
có tác giả, lƣu truyền bằng hình thức truyền miệng. Đến giai đoạn văn học trung
đại, tiếng nói nữ giới đƣợc thể hiện qua các sáng tác cụ thể hơn. Với phạm vi đề
tài đƣợc xác định trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020, nhƣng để
có cái nhìn liền mạch, và thấy đƣợc sự phát huy, tiếp nối của ý thức phái tính
trong thi ca, tôi xin mở rộng trình bày ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam từ
trung đại đến hiện đại, khu biệt ở các sáng tác có tác giả cụ thể và những hiện
tƣợng văn học nổi trội.
1.2.1. Ý thức phái tính trong thơ nữ trung đại
Xã hội Việt Nam duy trì chế độ phong kiến hơn mƣời thế kỉ. Lúc này, Nho
giáo giữ vai trò độc tôn, thống trị trên nhiều phƣơng diện tƣ tƣởng, văn hóa, xã
hội. Tâm lí “trọng nam khinh nữ” đã làm hạn chế sự nghiệp sáng tác văn
chƣơng của nữ giới. Trong văn học trung đại, về cơ bản, giới cầm bút vẫn thuộc
về đàn ông. Ngƣời phụ nữ không có điều kiện đƣợc học hành, chịu đựng sự áp
chế từ lễ giáo phong kiến cũng nhƣ nhiều bất công trong xã hội. Các cuộc thi
thố tài năng bấy lâu dƣờng nhƣ chỉ dành riêng cho nam nhân. Văn học nữ xuất
hiện hiếm hoi, có thể kể đến một số tác giả: Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Ỷ Lan,
Nguyễn Thị Bích Châu,… Đây đƣợc xem nhƣ là những nữ kỳ tài hiếm hoi nƣớc
Việt, thông tuệ văn chƣơng, am tƣờng thi phú. Phần lớn các tác phẩm của họ
chƣa thể hiện đƣợc ý thức phái tính mà mang tính chất của văn học chức năng.
32
Điều đó cũng dễ hiểu vì văn học giai đoạn này chƣa đề cập nhiều đến bản ngã,
đa phần hƣớng đến giúp vua trị nƣớc, lời thơ viết ra nhƣ tâm huyết của một vị
anh hùng, hoặc xem đạo nghĩa thánh hiền là trên hết.
Từ nửa sau thế kỉ XV, thơ nhắc đến vẻ đẹp của ngƣời phụ nữ, in dấu ở các
sáng tác của Ngô Chi Lan. Có thể thấy, thơ của nữ học sĩ không khuôn sáo, gò
ép, cũng không quá đặt nặng tính chức năng, lễ nghi nhƣ văn học trƣớc. Lời
thơ tiết ra nhƣ phun châu nhả ngọc, vừa dung chứa cảnh sắc hữu tình, lại cũng
tƣờng tận hiện thực cuộc sống. Bà đề cập khá nhiều đến vẻ đẹp diễm kiều,
duyên dáng của ngƣời phụ nữ. Điều đó phần nào thể hiện sự trân trọng giá trị
con ngƣời. Ví nhƣ vẻ đẹp của cô gái đi hái sen trong bài thơ Thái liên khúc:
Tiểu cô, kiều bất ngữ,
Ðái tiếu học sanh thuyền.
(Thái liên khúc - Ngô Chi Lan)
Nét đẹp hài hòa về tâm hồn lẫn dáng hình của ngƣời phụ nữ trong thơ
Ngô Chi Lan đƣợc thể hiện qua thi pháp ƣớc lệ - đặc điểm thơ trung đại.
Thế nhƣng, nếu nói thơ nữ trung đại bừng nở thì phải đến thế kỉ XVIII -
XIX, sự xuất hiện của Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hƣơng, Lê Ngọc Hân, Bà
Huyện Thanh Quan,... nổi lên nhƣ một làn gió mới, quét đi rất nhiều tàn tích của
thế hệ trƣớc. Sự khủng hoảng trầm trọng kéo dài của chế độ phong kiến đã làm
sống dậy trong thi ca những ý thức nhân văn, nhân đạo chủ nghĩa, ngƣời phụ nữ
ý thức hơn về nhân phẩm, số phận, hạnh phúc của mình.
Ngƣời đọc cảm thấy tim mình vỡ ra từng mảnh khi đọc Chinh phụ ngâm
khúc (Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm). Ngoài việc lên án chiến tranh phong
kiến phi nghĩa, ta còn bắt gặp niềm tâm sự khắc khoải, cô liêu của ngƣời vợ trót
để chồng ra chiến trận để rồi hối hận “Thà khuyên chàng đừng chịu tước
phong”. Lời thơ của bà cào xé ruột gan, ánh nồng niềm khao khát tình yêu,
hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Khi đối diện chiếu chăn lạnh lẽo, ngƣời phụ nữ đã
cảm nhận mối sầu nghìn dặm, tuổi xuân héo mòn. Nàng chẳng còn tha thiết
điểm phấn tô son, đành buông xuôi phận mình theo ngày tháng “lệch làn tóc
rối, lỏng vòng lưng eo”. Tiếng thơ của bà đã nói hộ bao ngƣời phụ nữ có chồng
33
ra chiến trận, bà lấp đầy khoảng trống văn chƣơng bằng sự đồng cảm của một
ngƣời trong cuộc. Nếu Đoàn Thị Điểm đau xót vì những tháng ngày vò võ ở
nhà chờ chồng thì Lê Ngọc Hân nƣớc mắt lƣng tròng vì chồng mình từ trần đột
ngột. Tác phẩm Ai tư vãn của công chúa Ngọc Hân chất chứa nỗi đau đớn thấu
trời. Kể từ khi chồng mất, nàng đối diện những tháng ngày quạnh vắng, buồng
khuê nay đoạn tuyệt bóng chàng “Mối sầu riêng ai gỡ cho xong”. Phần lớn, ý
thức phái tính giai đoạn này thể hiện qua tấm lòng ngƣời vợ, giọng thơ tha thiết
hé lộ tâm tƣ và khát vọng chân chính ngƣời phụ nữ.
Trong đám văn nhân tài tử, Hồ Xuân Hƣơng nổi lên nhƣ một “hiện tƣợng
văn học”: ngƣời phụ nữ làm thơ và thơ viết về ngƣời phụ nữ trong xã hội phong
kiến. Bà là một trong những đại biểu ƣu tú nhất của văn học mang tƣ tƣởng đấu
tranh giành quyền sống, quyền hƣởng hạnh phúc của con ngƣời trong thời kì
này. Hồ Xuân Hƣơng đã phá tan lớp băng của sự phi ngã ở thế kỉ trƣớc, vƣợt lên
26 ngƣời phụ nữ làm thơ (thống kê theo cuốn Nữ sĩ Việt Nam (Nhƣ Hiên và
Nguyễn Ngọc Hiền, 2006). Bà mở lối cho một nhận thức độc lập của phụ nữ về
chính thân thể và bản ngã tinh thần. Thời ấy, khái niệm “phái tính” còn chƣa
xuất hiện, nhƣng bà đã viết bằng kinh nghiệm và trái tim của một ngƣời phụ nữ.
Đối với bà, vẻ đẹp ngƣời phụ nữ không chỉ là “tấm lòng son”, mà còn phải là tất
cả sự thanh tân, tƣơi mới, quyến rũ:
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hƣơng)
Nếu Nguyễn Du ngày trƣớc miêu tả thân thể Kiều ẩn hiện sau bức trƣớng
hồng “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” (Truyện Kiều), thì Xuân Hƣơng
không cần che đậy gì cả, bà cứ thế phô diễn hình thể ngƣời “Thiếu nữ ngủ
ngày”. Bởi lẽ bà cho rằng, cơ thể ngƣời phụ nữ chính là biểu hiện của cái đẹp. Ở
Đoàn Thị Điểm, đời sống bản năng của ngƣời chinh phụ thể hiện qua những
ƣớc ao thầm kín, chúng chỉ có thể giải tỏa trong giấc mơ, hoài niệm, viễn tƣởng.
Nhìn thấy cảnh thiên nhiên hòa điệu “Hoa dãi nguyệt nguyệt in một tấm/
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông” (Chinh phụ ngâm khúc, bản diễn Nôm:
Đoàn Thị Điểm) mà tâm can ngƣời vợ trẻ nhƣ thiêu nhƣ đốt. Đó cũng là khát
34
vọng đời sống ái ân vợ chồng. Đến Hồ Xuân Hƣơng, nhiều bài thơ của nữ sĩ còn
ngụ ý tả cảnh giao hợp nam nữ, những bộ phận nhạy cảm của cơ thể phụ nữ (bài
thơ Quả mít, Con ốc nhồi, Đánh đu,…). Thế nhƣng nếu chỉ dừng lại ở đó thì
văn chƣơng chỉ là sự thô tục, một miếng mỡ khiến ngƣời ta phát ngấy. Cái hay
trong thơ bà là ở các ý nghĩa biểu đạt trong quá trình tiếp nhận. Lê Đạt cho rằng
ngƣời viết về tính dục khá nhất Việt Nam là Hồ Xuân Hƣơng. Thơ Hồ Xuân
Hƣơng chứa đựng ý thức giải phóng tính dục, tạo nên một hệ thống ngôn ngữ
nhiều ẩn dụ tính dục. Hệ thống danh từ: đôi gò Bồng đảo, lạch đào nguyên, yếm
đào, nước trong, con cò, hang, rêu, cọc, vỏ, múi,… Hệ thống động từ: ngậm,
nhổ, đóng cọc, mân mó, nặn, rủ, đúc, nứt, sờ, bóc,… kết hợp một cách hài hòa,
sống động đã thể hiện rõ nét cảm quan tính dục, gợi nhớ đến một văn hóa phồn
thực hồn hậu. Ở thời điểm đó, bà đã cất cao tiếng nói phản kháng chế độ đa thê:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” (Kiếp lấy chồng chung); bênh vực
những cô gái không chồng mà chửa: “Không có nhưng mà có mới ngoan”
(Không chồng mà chửa); mỉa mai bọn nam nhân dài lƣng tốn vải: “Lại đây cho
chị dạy làm thơ” (Lũ ngẩn ngơ). Đây rõ ràng là đi ngƣợc lại với quan điểm của
lễ giáo phong kiến hà khắc, cổ hủ. Bà thấu cảm hơn ai hết cái phận hồng nhan
“trơ với nước non” (Tự tình (II)). Bà xƣng “em” và cũng xƣng “chị”, đằng sau
nỗi đau Hồ Xuân Hƣơng là bản lĩnh Hồ Xuân Hƣơng. Xã hội phong kiến chà
đạp ngƣời phụ nữ bao nhiêu thì tiếng thơ của bà đã lấy lại danh dự, oai thế của
phụ nữ bấy nhiêu. Bà khát khao bình quyền, nhƣng rõ ràng, đặt trong vòng kìm
hãm của một thể chế “trọng nam khinh nữ” thì một cánh chim không cứu nổi
buổi trời chiều, bà phẫn uất muốn mình sinh ra là nam nhi để thỏa chí tang
bồng:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
(Đề đền Sầm Nghi Đống - Hồ Xuân Hƣơng)
Hồ Xuân Hƣơng không xuất hiện nhƣ cái bóng lu mờ bên chồng. Bà thông
minh, mẫn tiệp, yêu đời, khát khao hạnh phúc thì suốt đời mệnh bạc, cô đơn giữa
cõi trần. Thơ Hồ Xuân Hƣơng là tiếng hát của trái tim Hồ Xuân Hƣơng. Đó là
những vần thơ viết cho ngƣời phụ nữ. Văn chƣơng bà in rõ sắc màu giới tính và
cảm nhận bằng cái nhìn đầy cá tính. Ngƣời phụ nữ trong thơ bà là những cô gái
35
bình dân. Ngôn ngữ trong thơ bà vừa gai góc, sắc nhọn vừa đời thƣờng, gần gũi.
Ý thức phái tính hồn hậu, lăn trải trong từng trang thơ thấm đƣợm khát vọng
hạnh phúc lứa đôi. Ngƣời đọc nhận thấy đƣợc nguyên nhân bi kịch của cuộc đời
ngƣời phụ nữ là vì họ sinh ra là kiếp đàn bà, là vì chế độ nam quyền vắt kiệt nƣớc
mắt của họ.
Nếu Hồ Xuân Hƣơng là một cá tính gai góc, gồ ghề thì Bà Huyện Thanh
Quan ngƣợc lại. Ý thức phái tính trong thơ bà mang âm hƣởng dịu dàng, trang
trọng, chứa chan nữ tính và màu sắc Đƣờng thi. Đọc những bài thơ Qua đèo
ngang hay Thăng Long thành hoài cổ, ngƣời đọc bị thôi miên phong cảnh hữu
tình và đắm chìm trong nỗi niềm quá vãng. Khát khao về một gia đình sum vầy
đầm ấm trở thành niềm mong chờ đau đáu trong tâm hồn của bà “Thương nhà
mỏi miệng cái gia gia” (Qua đèo Ngang). Niềm cô đơn, khắc khoải hiển hiện
trong phong khí Đƣờng thi cổ kính, ngôn từ mĩ lệ, có sức quyến rũ đắm say.
Đúng nhƣ nhà nghiên cứu Đặng Tiến từng nói: “Nữ tính (trong thơ Bà Huyện
Thanh Quan) dồi dào đến nỗi từ tình cảm đến cảm giác, đến ngôn ngữ, nhạc
điệu trong thơ bà, đều là một thứ da thịt quyến rũ” (Đặng Tiến, 2009, tr.119).
Vào những năm cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, thơ nữ đã cho thấy khát
vọng đƣợc khẳng định tiếng nói tự chủ của họ. Họ ý thức về vẻ đẹp, về quyền
sống, quyền hƣởng hạnh phúc. Họ thổ lộ đời sống nội tâm, nguyện vọng thầm
kín thông qua các hình ảnh thiên nhiên, thi pháp trung đại. Khi ngƣời phụ nữ
dùng thơ để phơi bày hiện thực mà họ phải gánh chịu, khiến cho nhân loại chú ý
thì tức là đã có dấu hiệu của ý thức nữ quyền, ý thức giới trên trang viết. Ý thức
về giới là một trong những vấn đề then chốt, cốt lõi tạo thành cơ sở hạt nhân cho
ý thức phái tính. Tuy nhiên, cảm hứng chung cho các sáng tác của nữ giới giai
đoạn này vẫn là tâm trạng buồn bã, lẻ loi, bất mãn trƣớc hiện thực, một tiếng nói
bé nhỏ, cô đơn, đòi quyền từ vị thế kẻ yếu, còn bị động và phụ thuộc, chủ yếu
gợi lòng thƣơng cảm là chính. Các hiện tƣợng đặc biệt thể hiện ý thức giới chỉ
đếm trên đầu ngón tay, mang tính đơn lẻ, tự phát. Thế nên, nếu đòi hỏi thơ phải
gồng gánh tinh thần nữ quyền hay hội tụ đầy đủ ý thức phái tính thời điểm này
là một yêu cầu quá sức. Ta chỉ có thể nhìn nhận thơ nữ thời gian này có những
đặc trƣng giới sâu sắc, mới mẻ hơn ở thời điểm trƣớc.
36
1.2.2. Ý thức phái tính trong thơ nữ hiện đại
Đến những năm đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hƣởng của làn sóng tân thƣ, sự
du nhập từ văn hóa phƣơng Tây cùng nhiều cởi mở trong khuynh hƣớng sáng
tác mà các nhà thơ nữ đã thoải mái hơn trong việc khẳng định tiếng nói phái
tính của mình trong thi ca, dù chƣa đạt đến đỉnh cao nhƣng đã có tác dụng khích
lệ, thức tỉnh ngƣời phụ nữ. Ý thức phái tính cũng nhƣ âm hƣởng nữ quyền đƣợc
đặt trong nhiều hoạt động văn học nghệ thuật. Ở báo chí, phải kể đến các tên
tuổi: Đạm Phƣơng, Trần Thị Nhƣ Mân, Sƣơng Nguyệt Anh, Nguyễn Thị
Kiêm,… Trong văn học, có các cây bút nữ: Thu Hồng, Ngân Giang, Mộng
Tuyết, Vân Đài, Anh Thơ, Mai Đình,… Ban đầu, nữ giới công khai đăng đàn
diễn thuyết, đấu tranh cho nữ quyền trên các tờ Nữ giới chung, Đàn bà, Phụ nữ
tân văn, Phụ nữ thời đàm. Manh Manh nữ sĩ cất cao tiếng nói đòi quyền bình
đẳng nam nữ, đây cũng là một trong số những ngƣời đi tiên phong tạo nên sự
thắng thế cho Thơ mới, nói nhƣ Hoài Thanh, đây là “Một nữ sĩ có tài và có
gan” (Hoài Thanh và Hoài Chân, 1997, tr.22). Đạm Phƣơng nữ sử dùng thơ,
diễn thuyết để bảo vệ, nâng tầm hiểu biết, nhận thức của phụ nữ. Cũng giống
nhƣ những nhà thơ nữ ý thức về giá trị bản thân, chùm thơ gồm bốn bài: Người
đẹp chơi đàn, Người đẹp câu cá, Người đẹp tiễn bạn, Người đẹp điểm trang
của Đạm Phƣơng tạo nhiều cảm hứng thú vị. Ngoài ra, họ còn làm thơ vịnh sử,
cỗ vũ tinh thần yêu nƣớc. Ngƣời phụ nữ mang dáng dấp anh hùng nhƣng thiên
tính nữ không hề bị triệt tiêu (Trưng Nữ Vương - Ngân Giang). Nhìn chung, vì
trong giai đoạn đầu thức tỉnh nên ý thơ chủ yếu hƣớng đến sự bình quyền và
khẳng định chỗ đứng của nữ giới trên nhiều lĩnh vực. Về sau, phong trào Thơ
mới nổ ra cùng sự góp mặt không nhỏ của các tác giả nữ trẻ ở cả hai miền Nam,
Bắc. Phía Bắc có Vân Đài, Hằng Phƣơng, Anh Thơ,… Phía Nam có: Manh
Manh, Mộng Tuyết, Mai Đình,… Tất cả đều gây ấn tƣợng, làm cho làng thơ
càng có nhiều thanh âm rộn ràng. Điều đó đã tạo nên một phong khí mới đầy sôi
nổi và tràn trề sức sống thời đại, với những tình cảm nồng ấm về gia đình, con
ngƣời, phong cảnh đất Việt : “Sự xuất hiện của họ đã khiến cho diện mạo văn
học từ đây trở nên đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn, với nhiều nét vẻ, giọng điệu, thanh
âm và hình hài, được tạo nên từ sự đa dạng về giới chứ không còn là hành trình
đơn lẻ và độc chiếm của các tác giả nam như chuỗi thế kỷ dài trong quá khứ”
(Hoàng Ngọc Hiến, 2006, tr.31). Các nữ sĩ Thơ mới dƣới cảm nhận nhạy cảm
37
của ngƣời phụ nữ, cái tôi cá nhân hiện lên cô đơn, bơ vơ, đầy hoang hoải:
“Mênh mang nước biển mây giời!/ Càng đi càng thấy cõi đời vắng tanh” (Tóc
sương - Mộng Sơn).
Giai đoạn 1945- 1975, trong nền văn học Cách mạng, Xuân Quỳnh, Ý
Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn,… cũng góp vào đấy những
tiếng thơ anh hùng. Ngƣời phụ nữ xuất hiện với ý thức công dân. Họ miệt mài
từng đƣờng kim mũi chỉ may áo trấn thủ (Áo trấn thủ, Vân Đài). Họ mạnh mẽ
hy sinh hạnh phúc riêng cho sự nghiệp chung của dân tộc (Nói chuyện với con
trước khi đi - Phan Thị Thanh Nhàn). Ngay cả thơ tình yêu của phái nữ cũng
gắn liền nhiệm vụ cách mạng (Viết trên đường 20, Xuân Quỳnh). Trong nhiều
nhà thơ nữ miền Nam 1954-1975, Nhã Ca là nhà thơ có ý thức về phái tính
mạnh mẽ nhất qua bài thơ Đàn bà là mặt trời. Từng câu chữ đều khẳng định
vị thế, vẻ đẹp nữ tính rõ nét. “Chúng ta, mỗi người phải là một nàng công
chúa/ Người đàn bà nào cũng đẹp/ Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta/
Chúng ta ban phát ái tình/ Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi”. Nhã Ca
đề cao thiên chức của ngƣời phụ nữ “Cám ơn Thượng đế đã cho tôi đôi vú/ cho
tôi da mịn và tóc dài/ cho tôi rực rỡ như mặt trời/ để tôi làm ra ái tình và rượu
ngọt/ tràn trên trái đất”. Nhìn nhận một cách công tâm, những trang viết về tình
dục của các tác giả nữ miền Nam giai đoạn sơ khởi còn nhiều vụng về, nó thể hiện
những phản ứng có phần kịch liệt đối với sự trói buộc tính dục nữ. Họ đạp đổ bức
tƣờng giam giữ giới tính chứ chƣa dựng xây bản sắc giới tính. Sự kích tiến này
phải chăng là tâm thế chuẩn bị cho một cuộc thay đổi của đội ngũ thơ nữ giai đoạn
sau ?
Giai đoạn 1975- 1986, khi hòa bình lập lại, đất nƣớc thoát khỏi chiến tranh,
ngƣời phụ nữ trở về với cái tôi trữ tình thấm đẫm ý thức cá nhân. Vẫn là thơ
Xuân Quỳnh, nhƣng bây giờ, độc giả nhận thấy cái tôi ấy nhiều rung cảm, suy
tƣ và giàu nữ tính hơn rất nhiều. Có lẽ khi trải qua cuộc chiến sinh tử của dân
tộc, thơ nữ trƣởng thành hơn, đằm sâu và cũng máu lửa hơn. Vẻ đẹp phái tính
trong thơ Xuân Quỳnh thể hiện qua tình cảm yêu thƣơng, gắn bó mà Quỳnh
dành cho gia đình (Trời trở rét, Mẹ của anh), trong tình yêu và cuộc sống đời
thƣờng (Anh, Viết cho mình và những người con gái khác) . Ý thức phái tính
trong thơ Xuân Quỳnh lúc này gần nhƣ là “thiên tính nữ”. Thơ Xuân Quỳnh
38
tràn đầy tình yêu và nỗi nhớ. Thi sĩ mang một cái tôi nồng cháy, tha thiết,
khao khát (Thuyền và biển, Sóng); cái tôi chủ động, bản lĩnh (Lại bắt đầu, Tự
hát) và cũng nhiều hoài nghi, khắc khoải, cô đơn (Chuồn chuồn báo bão, Hoa
cỏ may). Đó là tiếng lòng của một ngƣời phụ nữ thời đại mới, với biết bao
cảm nhận về tình yêu và cuộc đời thế sự. Sự tha thiết, mãnh liệt và mong
manh ấy giống các nhà thơ khác nhƣ Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn,
Ý Nhi,… Họ nhƣ cánh chuồn kim ngày bão nổi, họ thể hiện tiếng thơ da diết,
sôi nổi, trẻ trung, luôn thủy chung và yêu hết mình. Nhƣng đôi khi, trong họ
vẫn còn phảng phất nét khiêm nhƣờng hay mặc cảm phái tính. Trong tận cùng
nỗi nhớ, cô đơn, yêu là thứ quyền đƣợc ban phát: “đã đƣợc yêu”. Nhà thơ Ý
Nhi nhận thấy tâm hồn ngƣời phụ nữ là một tiểu vũ trụ phức tạp. Thi sĩ cố tìm
câu trả lời bằng hình tƣợng “Người đàn bà ngồi đan” nhƣng không có lời đáp.
Rõ ràng, việc phơi bày đời sống cá nhân đã cho thấy sự trỗi dậy của một ý
thức nữ khát khao tình yêu, mong ƣớc về cuộc sống đích thực. Bên cạnh đó,
thơ nữ giai đoạn này còn chứa đựng cảm quan thế sự - đời tƣ. Ngƣời phụ nữ
chƣa bao giờ thờ ơ hay nằm ngoài chiến tuyến. Thơ nữ những năm đầu thời
hậu chiến thấm đẫm nƣớc mắt. Những ảo tƣởng trƣớc đây về một cuộc sống
đủ đầy thời hậu chiến dần tan vỡ. Tàn dƣ chiến tranh để lại quá nhiều mát mát,
đau thƣơng, tổn thất. Ngƣời lính hôm qua là anh hùng mà hôm nay trở về với
đời thƣờng, họ ngơ ngác, lạc lõng. Con ngƣời trở nên ích kỉ, nhỏ nhen, lãnh
đạm với nhau hơn. Thơ nữ cũng nhuốm màu buồn se sắt, nỗi buồn cất lên từ
ngày đói khổ, chật vật “quần của con xuống gấu/ gạo hết, lo xếp hàng” (Ngày
thường - Ý Nhi) hay “Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây/ Gạo, mắm,
củi, dầu chia thế nào cho đủ” (Thơ vui về phái yếu - Xuân Quỳnh). Sự vất vả,
lo toan ấy nhuộm vào ý thức bổn phận - mang tính truyền thống và thiên chức.
Đó là nghĩa vụ, là trách nhiệm của phụ nữ bao đời chăng? “Mãi lo cơm áo đời
thường/ Em xin tạ lỗi con đường cùng anh” (Nguyễn Thị Xuân). Có lẽ vì vậy,
mà có lần, họ mơ ƣớc “Nếu tôi là đàn ông/ tôi sẽ sống một ngày/ không cần
biết đến/ thời gian, gia đình, bữa ăn, giấc ngủ” (Nếu - Bùi Kim Anh). Trạng
thái tâm lí cùng hoàn cảnh xã hội thời bình là nguyên nhân khiến ý thức phái
tính của thơ nữ giai đoạn này có nhiều đổi khác. Họ thể hiện sâu sắc những
suy tƣ, chiêm nghiệm, đánh giá về thời đại mà họ đang sống. Đồng thời, bản
sắc giới tính có sự chi phối của văn hóa truyền thống.
39
Nếu nhƣ ở Trung Quốc, vào những năm 80 của thế kỉ XX, đặc biệt là sau
Đại hội phụ nữ thế giới lần thứ tƣ tổ chức tại Bắc Kinh 1995, phong trào nghiên
cứu văn học nữ trở nên sôi nổi thì ở Việt Nam, văn học giai đoạn từ sau 1986 là
thời kì phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính, số lƣợng những nhà thơ cầm bút
là giới nữ xuất hiện ngày càng nhiều. Ngay ở thể loại văn xuôi, ta có thể thấy
những tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Dƣơng Thu Hƣơng, Phan Thị Vàng Anh,
Lý Lan, Y Ban, Trầm Hƣơng… cất lên tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ, quyết liệt.
Nhƣ một sự tiếp nối dòng mạch ấy, ở thể loại thơ ca, khoảng 20 năm gần đây,
thơ nữ Việt Nam bùng nổ nhiều hiện tƣợng, nhiều khuôn mặt tiếp tục dồn sức
phá vỡ hệ thẩm mỹ truyền thống. Có ngƣời còn cho rằng đây là thời kì “âm
thịnh dƣơng suy” với sự góp mặt của những ngòi bút mang âm sắc nữ quyền rất
rõ. Khoảng cách từ Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lê Thị Mây, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn
Thị Hồng Ngát đến Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thƣ, Phạm Thị Ngọc Liên,
Trần Lê Sơn Ý, Lê Thị Kim Liên, Trƣơng Gia Hòa, Ly Hoàng Ly, Khƣơng Hà,
Nguyễn Thúy Hằng, Đào Phong Lan, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thanh Vân, La Mai
Thi Gia, Nồng Nàn Phố,… là một bƣớc tiến khá dài và xa. Ngoài ra, còn có
những đóng góp tích cực của các nhà thơ hải ngoại: Nguyễn Thị Khánh Minh,
Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Hoàng Bắc,... Nhờ các phƣơng tiện thông tin
hiện đại mà các cây bút xa quê hƣơng đã thể hiện đƣợc vị thế của mình trong
dòng chảy của thơ ca Việt Nam đƣơng đại.
Những cây bút trẻ đã mang đến cho nền văn chƣơng Việt Nam đƣơng đại
một luồng gió mới mẻ. Các nhà thơ nữ ý thức đƣợc mình là ngƣời đàn bà làm
thơ. Họ không ngại ngần đề cập đến những vấn đề thầm kín, những câu chuyện
hằng ngày, những tin tức thời sự. Họ dùng thơ nhƣ một vũ khí sắc bén, đóng
mộc cuộc đời tuyên bố với thế giới rằng phụ nữ cũng có vị thế riêng. Họ đòi
quyền bình đẳng, hạnh phúc cho giới mình. Họ sẵn sàng làm ngƣời thể nghiệm
trong những xu thế, quan điểm mới, nên đôi khi bị ghép là “thời thƣợng”, “lai
căng”, “lệch chuẩn”. Ý thức phái tính trong thơ họ thể hiện qua cái tôi trẻ trung,
tự chịu trách nhiệm trƣớc những biến thiên đời sống. “Trong thơ, họ nói lên
tiếng nói cá nhân tuyệt đích và biểu lộ tƣ tƣởng của mình về đời sống. Những
quan niệm, luận giải, đúc kết về nhân sinh, thế sự qua lăng kính của chính
những va đập với cuộc đời. Đó là nhu cầu của bản thể với những dằn vặt, suy tƣ,
tự vấn, muốn lột xác câu chữ, thoát khỏi những đơn điệu thƣờng ngày” (Lƣu
40
Khánh Thơ, 2017, tr.111). Họ khẳng định ý thức về bản ngã, nhu cầu truy tìm
bản thể đƣợc các nhà thơ quan tâm thể hiện một cách mới mẻ. Hãy lắng nghe
tiếng thơ của Vi Thùy Linh:
Khi bị gọi nhầm tên
Tôi không nói gì
Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp
- Tôi bỏ đi
…
Tôi là tôi
Một bản thể đầy mâu thuẫn
(Tôi - Vi Thùy Linh)
Đó là một cái tôi cá tính, đa chiều, nhiều phức cảm. Thế nhƣng, ở một
góc cạnh khác, Vi Thùy Linh còn là một ngƣời đàn bà rất nồng cháy, mãnh
liệt, dịu dàng. Vi Thùy Linh chủ động đặt mình vào phái yếu khi thi sĩ gắn kết
phái yếu với nữ tính, sự mỏng manh. Cũng giống nhƣ La Mai Thi Gia gắn sự
nữ tính trong thơ với giọng điệu nhẹ nhàng, mềm mại, với thi liệu dân gian cổ
điển. Dù cho thơ họ nhẹ nhàng hay mạnh mẽ, gai góc hay dịu êm, đơn thuần
hay làm xiếc câu từ, các thể loại sáng tác theo phƣơng thức nghệ thuật mới
nhƣ Tân hình thức, Thị giác, Trình diễn, Sắp đặt… cũng đƣợc các nhà thơ nữ
tập trung khám phá. Họ đem đến nhiều hình thức độc đáo so với hình thức thơ
truyền thống. Inrasara (2015) với bài viết “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi
hậu tố nữ” đã đề cao và chứng minh những cách viết mới, táo bạo của các nhà
thơ nữ đƣơng đại. Tác giả khẳng định “Nhà thơ nữ hôm nay đang vƣợt thoát
khỏi mặc cảm thân phận, khỏi trở lực nếp nhà đầy quy ƣớc gò bó của ngôn ngữ
Việt, sẵn sàng vƣơn đến nơi đến chốn sự vô ngại trong cõi sáng tạo” (Inrasara,
2015, tr.33). Sự giải phóng thân xác, giải phóng bản năng tính dục cũng đạt
đƣợc một số thành tựu ở giai đoạn này.
Thêm vào đó, các nhà thơ nữ hiện đại ngày càng tham gia nhiều hơn, cởi
mở, năng động hơn với các hoạt động xã hội, thậm chí còn giữ chức vụ cao
trong bộ máy chính trị. Điều đáng nói là chính những sự thay đổi thuận lợi ấy đã
41
giúp ngƣời phụ nữ đƣợc tự do thể hiện cái tôi cá nhân, cá tính độc đáo của mình.
Ý thức phái tính/ ý thức về giới một cách tự giác đã ngầm ăn sâu vào tâm thức
những ngƣời sáng tác và tạo nên âm hƣởng nữ quyền trong văn học. Điều ấy đã
góp phần làm phong phú thêm cho diện mạo nền văn học nƣớc nhà, lấy lại thế
cân bằng trong sáng tác của các tác giả nam - nữ.
1.3 Quá trình phát triển ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ
đƣơng đại
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000
Nhƣ ta biết, hậu của 30 năm chiến tranh (1945 – 1975), miền Nam chịu
tổn thất hết sức nặng nề. Tiếp theo, giai đoạn từ 1975 đến 1986, nhân dân miền
Nam lại tiếp tục đối diện với khó khăn, chật vật khác. “Lúc đấy, có bo bo,
khoai mì ăn đặng cầm hơi sống qua ngày là may phƣớc. Bữa nào đƣợc ăn
cơm trắng hay bánh trái thì bữa đấy đƣợc gọi là “ăn sang” (Xuân Ngọc,
2016). Vào năm 1986, đất nƣớc bắt đầu bƣớc vào công cuộc đổi mới toàn
diện, nhằm xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình
thành cơ chế thị trƣờng có sự quản lí của nhà nƣớc. Đồng thời, Nhà nƣớc thực
hiện chính sách mở cửa và hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở
rộng sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế. Sự thay đổi đó là cơ
hội lớn giúp phát triển Nam Bộ nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng.
Cái đói, cái khát cộng hƣởng cùng cái khổ thiếu thốn vật chất kéo dài triền
miên từ tháng 4/1975 đến tháng 4/1989 ở Đông Nam Bộ mới thật sự kết thúc.
Có thể nhận thấy trong gần 40 năm qua, thành tựu về văn xuôi ở Đông
Nam Bộ có phần trội hơn thi ca, âu có lẽ vì hiện thực cuộc sống lúc này ngồn
ngộn quá, mà đôi khi thể loại văn xuôi mới lột tả đƣợc hết. Kể từ lúc đất nƣớc
đổi mới, văn nghệ đƣợc cởi trói, các nhà thơ trẻ có xu hƣớng từ bỏ thi pháp
truyền thống, thậm chí là ngƣng nói về cuộc chiến vừa qua. Nếu có, chiến
tranh sẽ đƣợc nhìn ở những góc độ khác. Thơ của họ là những tiếng nói thầm,
rất khiêm tốn, đôi khi giấu mình nhƣng lại ẩn chứa rất nhiều thổn thức, say mê.
Trong đó có sự góp mặt của Đặng Nguyệt Anh da diết nỗi lòng, Lê Hoàng Anh
man mác nỗi buồn, Tôn Nữ Thu Thủy ngọt ngào, sâu lắng và Lê Thị Kim với
những vần thơ nhẹ nhàng, thanh thoát,... Những khát khao tình yêu nồng nàn,
42
mãnh liệt, những cảm xúc dung dị, bình thƣờng, những đòi hỏi bé nhỏ của một
tâm hồn muôn đời nhạy cảm với tình yêu, với gia đình, cuộc sống xung quanh
đã thể hiện rất rõ trong các thi phẩm của những nhà thơ nữ giai đoạn này. Thơ
nữ gắn với những câu chuyện đời thƣờng, thiên chức ngƣời mẹ, và cả những
cảm xúc nội tâm.
Các tập thơ ra đời giai đoạn 1986-2000 đa phần thuộc về thế hệ các nhà
thơ nữ lớn lên, trƣởng thành trong cuộc chiến tranh dân tộc (1945- 1975), vì
vậy, hồn thơ vẫn còn đó những chân chất, dịu dàng, dung dị. Màu sắc phái
tính trong thơ thể hiện qua giọng điệu mƣợt mà, da diết, ru vỗ tâm hồn ngƣời
đọc bằng những cảm xúc rất nhẹ, rất miên man. Thơ nữ vừa chất chứa cái tôi
cá nhân nhiều rung cảm, vừa man mác nỗi niềm với cuộc sống. Thi sĩ gieo nỗi
nhớ, gieo niềm cô đơn, gieo tình ái nhƣ gieo mạ vào lòng ngƣời đọc. Sáng tác
của các nhà thơ nữ là sự khám phá chính thân phận mình cũng nhƣ là phƣơng
tiện giúp họ bộc bạch, giải tỏa tâm tƣ. Tôn Nữ Thu Thủy là một nhà thơ không
chú trọng đánh bóng ngôn từ, nét dịu dàng pha lẫn trầm tƣ là một thế mạnh
trong thơ của thi nhân. Bản thân Tôn Nữ Thu Thủy sinh ra ở Huế nhƣng phạm
vi hoạt động văn học khá rộng, cả Huế , Nha Trang và Thành phố Hồ Chí Minh.
Giọng thơ Thu Thủy mang đậm căn tính nữ, nhẹ nhàng, dịu dàng, nhiều lắng
đọng, dƣ ba nhƣ ngƣời con gái Huế nền nã. Thu Thủy dùng thơ để tự thổ lộ tâm
tình. Trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy, phụ nữ, trẻ em, những ngƣời lao động…
xuất hiện tƣơng đối nhiều. Nhƣ khi bắt gặp một em nhỏ trên đƣờng, Thu Thủy
viết: “Mẹ đi bán rau, mẹ vẫn chưa về/ Em ngồi chơi với đồng tiền lá…/ Mẹ đi
đâu chưa về mẹ ơi/ Mẹ nói ba không còn ở trên đời/ Làm sao con đi một mình
không có mẹ/ Con đói quá, con mệt quá/ Con buồn ngủ quá…”. Tôn Nữ Thu
Thủy gây ấn tƣợng với độc giả bằng lời thơ dung dị, chân tình nhƣ chính tâm
hồn thi nhân. Còn trang thơ của Lê Hoàng Anh thì ngọt lành, nhiều màu sắc,
trong trẻo, đặc biệt là khi nhắc đến tình cảm gia đình. Lê Hoàng Anh nhƣ một
con ong hút mật, lặng thầm đem lại chất ngọt cho đời. Trƣớc năm 2000, Lê
Hoàng Anh sáng tác hai tập thơ và sau 2000 sáng tác thêm 3 tập thơ, ngoài ra,
còn hoạt động văn chƣơng ở lĩnh vực phê bình khảo cứu. Có thể thấy, đây là
một cây bút nữ sáng tác rất say sƣa và miệt mài. Có đƣợc sự cống hiến ấy, âu
bởi vì nhà thơ tâm niệm: “Còn thi ca nghĩa là còn lòng nhân từ trên trái đất”
43
(Lê Hoàng Anh, 2019).
Các nhà thơ viết cho quê hƣơng, gia đình, cho những khoảng trời kỉ
niệm quá vãng bằng một tình cảm quyến luyến, tha thiết nhƣ mới chia xa
ngày hôm qua. Họ cảm nhận sự đổi thay của thiên nhiên, đất trời, hay trong
chính họ. Lê Thị Kim nhớ về Hà Nội, mơ về Sài Gòn với tất cả nỗi niềm “Sài
Gòn đông đến thật rồi/ Buốt vai em nhỏ buốt người tôi thương” (Sài Gòn -
bất chợt mùa đông - Lê Thị Kim). Đặng Nguyệt Anh bộc lộ tình cảm tha
thiết, sâu lắng của mình đối với sông Cầu, sông Thƣơng để lại bao lƣu luyến.
Dù viết về điều gì, các nhà thơ nữ của chúng ta vẫn mang nét dịu dàng, nữ
tính: da diết nỗi đời, nỗi ngƣời, nỗi nhân tình thế thái. Nhà thơ Đoàn Văn Mật
đã dành tặng cho Nguyệt Anh những lời khen chân tình: “Thơ Đặng Nguyệt
Anh nồng đƣợm ở cái tình, đôn hậu ở cái nghĩ và sâu lắng, nhiều chiêm
nghiệm ở chất đời. Thơ chị, dù viết ở chiến trƣờng hay trong những năm
tháng hòa bình, dù viết về quá khứ hay thực tại thì ta vẫn thấy ở đó những
cung bậc của cảm xúc yêu thƣơng cho mình và cho ngƣời” (Đoàn Văn Mật,
2022).
Bên cạnh cảm hứng thế sự, thơ nữ còn thể hiện những xúc cảm đời tƣ,
họ bộc lộ những rung động, trở trăn, đau khổ trong tình yêu:
Nếu mai này
ta không còn nhau
(…)
Đừng cứu rỗi hồn em
bằng nhà thương của những người trái tính
cứ để em lang thang
khắp phố phường
gọi mãi tên anh...
Em
là người điên hạnh phúc
(Người điên hạnh phúc - Đặng Nguyệt Anh)
Ngƣời đàn bà yêu cái tình yêu cô độc, buồn cái thờ ơ ngƣời đời, nên lời
thơ cũng bàng bạc nỗi nhớ, cồn cào xót đau (Hạnh phúc chẳng nguyên lành -
44
Đinh Thị Thu Vân). Xem tình yêu là một sự thể hiện của ý thức phái tính, các
nhà thơ nữ Đông Nam Bộ thể hiện cái tôi trữ tình khao khát yêu thƣơng và cũng
chấp nhận đau thƣơng, ngang trái, sự tan vỡ, cô đơn, bất hạnh. Các nhà thơ nữ
dùng thơ để thổ lộ tiếng lòng, đó là tiếng lòng đƣợc nhìn bằng cảm quan của lớp
ngƣời trƣớc, lời thơ vì thế rất mộc mạc, chân tình.
Nhớ lại quá khứ của vùng đất miền Đông “gian lao mà anh dũng”, đây là
thời điểm nhân dân ta đối diện nhiều khó khăn, thiếu thốn, bỡ ngỡ nhƣng ta
lại tìm thấy “Rất ít trong thơ chị những trang “miêu tả hiện thực”, vắng hẳn
chuyện “thế sự đời thƣờng” cơm áo gạo tiền, không thấy những biến cố, sự
kiện “thời sự”, ít khi bắt gặp những rắc rối trần thế ngoài câu chuyện duyên
phận. Hƣớng nội toàn tâm làm cõi nhân gian trở nên khép kín, trong khi cõi
nhân duyên trong tâm hồn mở hết biên độ. Đó là thế mạnh và cũng là điểm
yếu của thơ Đinh Thị Thu Vân” (Lê Thành Nghị, 2021).
Bên cạnh đó, ta còn thấy các tiếng thơ khác nhƣ Đào Phong Lan với tập
thơ Giêng hai (1995), Ly Hoàng Ly với tập thơ Cỏ trắng (1999),… Đào
Phong Lan sinh ở Gia Lai, học ở Hà Nội, hiện sống và làm việc tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Thi sĩ cho ra đời tập Giêng hai khi nàng 20 tuổi. Ấy thế mà lời
thơ đã rất mặn nồng, tha thiết. Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn (2021) nói về Đào
Phong Lan bằng những cảm tình chân thành: “Tôi rất yêu chất dân dã của thơ
cô. Những câu lục bát nhuần nhuyễn, ý tứ, lung linh. Thơ Đào Phong Lan đầy
nữ tính, thật dịu dàng e ngại và chờ mong khắc khoải. Đào Phong Lan có hồn
thơ, và cô dƣờng nhƣ đã yêu, đã nắm đƣợc cái dịu ngọt, lúng liếng, tình tứ,
mênh mang của ca dao”. Đọc các câu thơ, lòng ta bỗng dậy lên những cảm xúc
thân quen, gần gũi xiết bao:
Là quên cái dậu cúc tần
Ta trồng mà chẳng một lần trổ bông
Người đi về phía mênh mông
Bỏ quên con sáo trong lồng bơ vơ
(Giêng hai - Đào Phong Lan)
Đến những câu thơ của Ly Hoàng Ly, cảm xúc và thể từ lại nhảy vọt
45
theo một hƣớng khác. Thi sĩ không chỉ lắng nghe thanh âm của đêm mà còn
cảm nhận đƣợc cái mùi đêm lẫn vào mùi hoa ngọc lan. Tâm hồn thi nhân mở
rộng để đón nhận tất cả vẻ đẹp cuộc đời:
Mùi ngọc lan lẫn vào mùi đêm
Lẫn vào trong mưa
Lẫn vào trong tôi
Đuổi nhau,
Hát
(Mưa hát - Ly Hoàng Ly)
Không phải ngẫu nhiên Ly Hoàng Ly quan niệm: “Tôi làm nghệ thuật là
để khám phá thế giới quanh mình và khám phá chính mình” (Ly Hoàng Ly,
2004). Ly Hoàng Ly nhấn mạnh sứ mệnh của ngƣời làm nghệ thuật, nhƣng từ
đó cũng cho thấy quan niệm sáng tác của cái tôi tận hiến, dù nó có đi ngƣợc
với quan niệm của nhiều cây bút truyền thống, nhƣng giá trị hƣớng đến rất
đáng trân trọng. Thơ Ly Hoàng Ly mang vẻ đẹp “đọc chậm theo đúng nguyên
nghĩa của nó khi cái đẹp chầm chậm mở ra, mở đến tận cùng, mở cho đến khi
sự khao khát cất tiếng kêu bất lực. Ly Hoàng Ly bƣớc đầu đã tạo cho mình
một giọng thơ riêng, một bản lĩnh riêng rất đáng chú ý- điều mà không phải
cây bút trẻ nào cũng khẳng định đƣợc” (Nguyễn Thị Bình, 2011). Có thể thấy,
các tập thơ này ra đời vào những năm gần cuối thế kỉ XX nên xét về tứ thơ,
cách thức thể hiện, có vài phần mới hơn, linh hoạt hơn các nhà thơ nữ trƣớc
đó.
Mỗi một tiếng nói của bất kì nhà thơ nữ nào đều là cất lên từ trái tim ngƣời
đàn bà đa cảm. Các nhà thơ nữ giai đoạn này đã góp phần làm phong phú thêm
vƣờn thơ Đông Nam Bộ. Ngƣời ta thích đọc thơ nữ, tìm đến thơ nữ vì ở đó họ
thấy đƣợc sự gần gũi, thân quen. Chất nữ tính đằm sâu, dung dị, hiền hòa chạm
đến trái tim ngƣời đọc, rung động tâm hồn độc giả bằng nhiều cảm xúc sâu
lắng, da diết.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, tuyển tập thơ và tiểu luận Gieo & Mở
(1995-1996) ra hai tập rồi ngƣng. Sau đó đến Thơ Tự do (1999) xuất hiện, rồi
đến Tuyển tập Văn chương ra mắt số đầu tiên vào năm 1999. Nhận xét một
46
cách công tâm, tiếng nói phái tính trong thơ nữ giai đoạn này có nổi lên
nhƣng chƣa đủ mạnh để tạo thành cơn lốc. Từ phƣơng diện nội dung đến hình
thức nghệ thuật thể hiện còn nhiều chông chênh. Lúc này, phần đông mọi
ngƣời lao vào kiếm tiền, tìm cơ hội mới, mƣu sinh kiếm sống nên có lẽ vì vậy
mà đời sống tinh thần chƣa nhận đƣợc nhiều sự quan tâm sâu sắc. Tuy nhiên,
sự cởi mở của văn học giai đoạn này là điều kiện tốt để bồi đắp, vun trồng
những hạt giống mới ở thế hệ tiếp. Họ đang bắt đầu tiếp nhận, lĩnh hội kiến
thức, văn hóa, văn học, học thuật từ phƣơng Tây. Nên đây có thể xem là giai
đoạn mở rộng công cuộc tiếp nhận. Những nhà thơ đƣợc sinh ra ở giai đoạn
này sẽ là thành phần kiến tạo hệ thẩm mĩ trong tƣơng lai. Còn hiện tại, dƣờng
nhƣ tất cả vẫn đang dọ dẫm trong con đƣờng tìm cách thay da đổi thịt thơ ca.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2020
Đây là giai đoạn tôi cho rằng thơ ca đang tiến hành một cuộc giải phẫu
cho chính mình. Thơ không còn là sản phẩm riêng của giới mày râu, mà ngay
cả những ngƣời bình dân vẫn thuộc thơ và yêu thơ bất diệt. Cùng với thơ nữ
trẻ, ý thức phái tính trong thơ nữ ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm. Tuyển
tập Phái đẹp, cuộc đời và cây bút (2015), Văn học và giới nữ (Một số vấn đề
lý luận và lịch sử) (2016) và gần đây nhất là Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc
gia Văn học và Giới (2019) mở ra thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình trẻ
là minh chứng chân thực và sâu sắc nhất. Trong dòng chảy của thơ nữ đƣơng
đại nói chung, thơ nữ Đông Nam Bộ đang dần khẳng định một cái tôi mới. Nói
nhƣ Trần Hoàng Thiên Kim “Thơ của thế hệ mới bên cạnh những đề tài cũ,
thể loại cũ, họ đi sâu khai thác bản thể, khám phá những chuyển động của bản
thể căng phồng sự sống, khám phá tình yêu, nhục cảm, cái tôi cá nhân bí ẩn
và đầy bất trắc” (Trần Hoàng Thiên Kim, 2014).
Rõ ràng, môi trƣờng nào thì thơ ca đấy. Hậu đổi mới, miền Bắc có những
nỗ lực cách tân nhƣng xem ra còn nhiều do dự. Nguyên nhân có lẽ là từ sự chi
phối khá nhiều bởi khuôn phép hệ mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa và lối làm
thơ đòi hỏi sự trau chuốt công phu. Ngƣợc lại, khu vực Đông Nam Bộ đã có
những bƣớc phát triển vƣợt bậc mang tính biến động. Các nhà thơ nữ trẻ mang
tâm thế trẻ trung, sôi nổi tháo tung cƣơng ngựa non mà ra sức vẫy vùng. Họ gạt
qua mọi định kiến xã hội, thẳng thắn phô bày cái tôi chủ quan. Tiếng nói thơ
47
giai đoạn này đa dạng, phong phú, mang đậm ý thức phái tính theo một thể
nghiệm khác. Trong khuôn khổ đề tài, ở đây tôi xin giới thuyết một số đặc điểm
về ý thức phái tính trong thơ nữ, trên các khu vực: Bình Phƣớc, Bình Dƣơng,
Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh thuộc
Đông Nam Bộ.
Khu vực Bình Phƣớc, thơ nữ đƣợc ghi dấu bởi sự đóng góp của Dƣơng
Thiên Lý, Đoàn Thu Hiền, Kim Dung,… Nhà thơ nữ Kim Dung là vợ của nhà
thơ Nguyễn Kình, hai vợ chồng ra chung tập thơ “Sóng nổi” năm 2019. Nhà
thơ nữ Dƣơng Thiên Lý đƣợc xem là “ngƣời sáng lập CLB Thơ ca đầu tiên
của tỉnh Bình Phƣớc” (Ban Thông tin truyền thông, 2017), bà viết dồi dào,
sáng tác trên nhiều thể loại văn học. Tuy nhiên gần đây Thiên Lý vƣớng phải
một số tin tức không tốt về bản quyền tác phẩm. Nhìn chung, thơ nữ khu vực
Bình Phƣớc hoạt động còn khá êm đềm, ý thức phái tính trong thơ nhƣ mặt
nƣớc hồ thu trong trẻo. Các đề tài chủ yếu xoay quanh viết về đất nƣớc, hải
đảo, con ngƣời, cuộc sống,...
Khu vực Bình Dƣơng, ta có các nhà thơ nữ Lý Lan, Cát Du, Tạ Anh
Thƣ, Thạch Thảo, Nguyễn Minh Ngọc Hà,… Nếu Lý Lan là người đàn bà
hồn nhiên với chữ, Cát Du là người đàn bà đi trong mê lộ, thì Tạ Anh Thƣ lại
đƣợc biết đến nhƣ người đàn bà hóa thân, thơ nữ của Tạ Anh Thƣ chính là
cơn gió mới của Thơ nữ hiện đại. Bình Dƣơng hiện nay là một khu vực khá
phát triển. Sự phát triển ấy đã khiến tiếng thơ nữ trẻ ngày một đa dạng, nhận
đƣợc nhiều quan tâm hơn. Đây có thể xem là một khu vực tiềm năng, với một
số tiếng thơ nữ đủ chín và sâu.
Khu vực Đồng Nai, thơ nữ đƣợc biết đến với Minh Hạ, Trần Thị Bảo
Thƣ, Dƣơng Thị Thu Hƣờng,… Thơ của Trần Thị Bảo Thƣ đằm thắm, nặng
lòng, nặng tình, nhắc nhớ nhiều về nguồn cội xứ Huế của thi nhân, đó là một
tiếng thơ đa đoan nhƣ cơn giông trở dạ. Trong khi đó, hồn thơ Minh Hạ trẻ
trung, tƣơi xanh và chân thực. Hồn thơ ấy tự bạch: “Lòng vui như sông chảy/
Tình mong như suối nguồn” (Minh Hạ, 2016). “Đồng Nai cũng là tỉnh đi tiên
phong trong việc xây dựng một Hội Văn học Nghệ thuật vững mạnh, là bệ
phóng cho nhiều cây bút trẻ” (Hà Thanh Vân, 2017). Các nhà thơ nữ dùng thơ
48
để thổ lộ tâm tình, đó là tiếng lòng đƣợc nhìn bằng cặp mắt, cảm quan của lớp
ngƣời trƣớc, lời thơ vì thế có đơn thuần, tƣơi sáng. Tuy nhiên khoảng mƣời
năm gần đây, các nhà thơ nữ không có nhiều tập thơ đƣợc xuất bản.
Khu vực Tây Ninh, ta bắt gặp các nhà thơ nữ: Mai Tuyết, Đan Thụy,
Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Hồng Liễu, Trần Nhã My, Ngọc Tình, Nguyễn
Thị Kim Liên,… Thơ Nguyễn Thị Kim Liên là “lời tự sự đằm thắm, dịu
dàng” (Nguyễn Đức Thiện, 2007) khi nhắc về tình yêu, gia đình, cuộc sống.
Và Trần Nhã My với những vần thơ đầy tính nữ và “điều quan trọng hơn vẫn
là “tính lặn”, tức chiều sâu của thơ. Nhất là thơ nghiêng về nỗi buồn, một nỗi
buồn thuần khiết nhƣ từng con chữ rƣng rƣng thở” (Nguyễn Thánh Ngã,
2017). Sau năm 2004, văn học Tây Ninh có bƣớc khởi sắc với nhiều tác phẩm
văn chƣơng liên tiếp ra đời. Nhìn chung, lớp nữ sáng tác khá dày, phong phú,
đa dạng, nhƣng còn cần thêm một số bổ khuyết ở thể tài.
Khu vực Bà Rịa- Vũng Tàu, ta có các nhà thơ nữ: Thảo Vi, Vũ Thanh
Hoa, Nguyễn Thị Kim Nhung, Ngô Quỳnh Lan, Nguyễn Thị Hồng Vân, Võ
Kim Phƣợng, Nguyễn Thị Ngọc Hà,… Nguyễn Vũ Quỳnh (2014) trong bài
viết Tiếng thì thầm trong Nắng và em (*) đã nhận xét “Thơ Hồng Vân không
chải chuốt, không cầu kỳ hình thức trong ngôn ngữ, không sắp đặt ý tứ mà rất
tự nhiên. Thơ, Hồng Vân bung ra trong tâm thức tự trào, vừa thật, vừa êm
không dằn hắt”. Nguyễn Văn Hòa (2021) trong bài Vũ Thanh Hoa- hành trình
thơ cô đơn và đầy tự tin đã viết: “Thơ Vũ Thanh Hoa thể hiện rõ nét đó là một
giọng thơ nhân ái giầu nữ tính nét nữ tính trong thơ chị cũng tạo ra đƣợc chất
giọng riêng khó lẫn với những thi sĩ khác trong nền thơ ca đƣơng đại”. Tiếng
thơ nữ ở khu vực này khá sôi nổi, có một số gƣơng mặt nổi trội, tạo ấn tƣợng
tốt trong giới văn chƣơng.
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, đây đƣợc xem là khu vực quy tụ
nhiều cây bút trẻ, giàu tiềm lực nhất trong toàn bộ vùng Đông Nam Bộ. Trong
bài viết Thơ nữ Sài Gòn của báo Văn nghệ (2021) đã viết: “Mỗi tác giả là một
mạch nguồn thơ, một bƣớc sóng trào, có cả suy lý tầng sâu, có cả bồng bột
nỗi niềm, có cả sự giản dị của ngôn từ đến sự cách tân lạ lẫm, huyền hoặc.
Chính vì vậy mà thơ nữ Sài Gòn đã thực sự là một cánh đồng tràn ngập hoa
cùng nắng gió mênh mang trên một vùng đất đai phì nhiêu thật hấp dẫn, đầy
49
mời dụ những tâm hồn yêu thơ…”. Tiếng thơ của Khƣơng Hà, Ngô Thị Hạnh,
Phạm Phƣơng Lan, Đào Phong Lan, Ly Hoàng Ly, Nguyệt Phạm, Liêu Hà
Trinh, Nồng Nàn Phố, La Mai Thi Gia, Nguyễn Thúy Hằng,… là minh chứng
cho điều ấy. Từ nỗ lực phá giới, thơ nữ đã nỗ lực “cắt đuôi hậu tố nữ”
(Inrasara, 2015), “từ chỗ vị thế kẻ lệ thuộc, thứ yếu, phụ nữ biết “tự yêu mình”,
và bây giờ đã và đang khắc phục, giải thoát khỏi thiên tính nữ để chấm dứt mọi
sự phân biệt về giới tính (Hoàng Thụy Anh, 2019). Với sự phát triển, hội nhập,
giao lƣu kinh tế, văn hóa, xã hội,… khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thu hút
nhiều sáng tác trẻ đam mê cống hiến, sáng tác, các hoạt động văn chƣơng diễn
ra cực kì sôi nổi. Do đó, đây cũng là nơi xuất hiện nhiều nhà thơ nữ với những
tác phẩm có giá trị nhất trong khu vực Đông Nam Bộ.
Nếu xét theo chiều lịch đại, giai đoạn những năm đầu của thế kỉ XXI, khi
tất cả cái mới đã bị các nhà thơ hiện đại khai thác cạn kiệt, thì thi ca muốn phát
triển buộc phải thoát kén, tìm đến một chiếc tổ mới. Tôi gọi đây là thời văn
chƣơng phong dật. Sự buông thả, phóng túng trong thi ca đã tạo nên không ít
xáo động, ngƣời khen kẻ chê, hệt nhƣ thời tranh đấu giữa Thơ cũ - Thơ mới.
Tuy nhiên, nếu Thơ mới toàn thắng, đạt đƣợc nhiều thành tựu vƣợt bậc, đƣợc
hầu hết bạn trẻ ủng hộ thì giai đoạn văn học hậu hiện đại này lại vấp phải nhiều
ý kiến trái chiều hơn, diễn ra trong thời gian ngắn và chỉ đƣợc một bộ phận độc
giả đón nhận. Trong khi các nhà thơ hiện đại thể hiện tinh thần độc sáng, đa
phần là thơ tự do, tránh tối đa thể thơ truyền thống thì các nhà thơ hậu hiện đại
không khu xử, phân biệt truyền thống hay hiện đại. Họ nhìn cuộc sống cả bề nổi
lẫn bề chìm; nhấn về bề mặt, sự trồi lên. Họ cho rằng mỗi văn bản là một liên
văn bản. Thế giới nhƣ một mớ hỗn độn, mọi bảng giá trị đều đỗ vỡ, sẽ không
có một khuôn vàng thƣớc ngọc hay định hƣớng gì cả. Và đôi khi, vì quá khác
lạ nên một số tác phẩm gây phản cảm, khó tiêu thụ. Nhiều tác phẩm vấp phải
búa rìu dƣ luận. Họ khao khát đi tìm một thể thức mới để thể hiện đến mức xem
đó là ƣu tiên hàng đầu. Họ cho rằng “Thà làm thơ mới dở còn hơn làm thơ cũ
hay” ( Hoàng Thụy Anh, 2019). Điều này cũng dễ hiểu, vì đó là thời kì văn
chƣơng đang bƣớc những nấc thang đầu tiên của hành trình kiến tạo giá trị thẩm
mĩ mới, mà bƣớc chân đầu thì bao giờ cũng nghiêng ngả, chông chênh. Thơ nữ
cũng không nằm ngoài điều đó. Phía tác giả nam có Lý Đợi, Bùi Chát,…; phía
nữ có Lê Thị Thấm Vân, Lynh Barcadi, Ly Hoàng Ly,… Thế nhƣng, bên cạnh
50
đó vẫn có những bài thơ để lại ấn tƣợng tốt với ngƣời đọc, những tập thơ trở
thành hiện tƣợng văn học đáng chú ý. Với cảm quan tinh tế của một nữ thi sĩ, ý
thơ của Ly Hoàng Ly là một liên tƣởng thú vị. Hãy lắng nghe tâm tƣ của Ly
Hoàng Ly trong những dòng thơ sau: “Chị lao công trầm mình trong hương vị
của rác/ Mùi cuộc sống trên tóc chị là trung thực nhất/ Con đường nồng nặc
mùi Chanel số 5/ 100 cô gái vứt mùi thật của mình vào đống rác và rưới lên
thân thể mình mùi của xa xỉ nước Pháp/ Đi ngang qua sự hôi thối của chính
mình/ Họ bịt mũi” (Ảo giác) hay “Tôi lặng lờ trôi vào đường hầm thời gian/
Ánh sáng và bóng tối chỉ là chất liệu cho những gì diễn ra bên trong cơ thể/
Như nồi súp đặc quánh nhiều gia vị lờ lợ/ Tôi sôi lên lọc bọc bằng lửa của
mình…” (Sóng đêm). Thơ của Ly Hoàng Ly là sự hội tụ giữa thâm trầm và
thuần khiết, tuyệt vọng với khát khao, bi kịch với giễu nhại. Thế giới mà tác giả
thể hiện trong thơ nhiều mâu thuẫn, đan xen giữa bóng tối và ánh sáng, đôi khi
là ảo ảnh nhƣ lớp kính đa màu (Tập thơ Lô Lô (2005)). Ly Hoàng Ly rất ý thức
về những vấn đề phái tính trong hoạt động sáng tạo. Thi sĩ tâm niệm “Dòng
máu chảy trong tôi là dòng máu của ngƣời phụ nữ Việt Nam sống trong xã hội
ngày hôm nay, vì vậy, chắc chắn những tác phẩm tôi làm sẽ phản ánh tinh thần
đó” (Ly Hoàng Ly, 2004). Thật sai lầm nếu nhƣ cho rằng hậu hiện đại chống lại
truyền thống. Hậu hiện đại chấp nhận truyền thống, nhƣng không biến truyền
thống thành gánh nặng. Hậu hiện đại chấp nhận tồn tại bên lề của văn học dòng
chính qua internet, photocopy. Đó là cuộc giải trung tâm toàn triệt thơ Việt lâu
nay gò bó mình trong một khuôn, vùng chật hẹp. “Trong khi hầu hết các tác giả
đƣơng thời xem hoạt động và tác phẩm dòng chính lƣu mới là văn chƣơng thì
tác giả hậu hiện đại chọn đứng ngoài lề - nhƣ là cách thế hủy trung tâm và giải
trung tâm quyết liệt nhất” (Inrasara, 2014, tr.66).
Ý thức phái tính trong thơ nữ giai đoạn này mở rộng hơn về chủ đề cũng
nhƣ cách thể hiện, nhà thơ khƣớc từ duy cảm mà hƣớng đến duy lí. Họ cũng
tiên phong thử nghiệm ở sự lai ghép thơ với nghệ thuật trình diễn (Performance
photo- Ly Hoàng Ly). Trong khi ở Tây phƣơng hậu hiện đại đã qua ba thập kỉ,
thì ở Việt Nam, đây lại là một trào lƣu đang vận động. Ở một khía cạnh khác,
tôi nghĩ những ngƣời tiên phong này mang sứ mệnh mở đƣờng. Trần Thị Hoài
Thanh trong luận văn Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ
XXI đã nhận xét đây là trào lƣu “mang trong mình khả tính cách mạng sau bao
51
nỗ lực tìm tòi, khai phá. Nó đƣợc khơi mào từ giữa thập niên cuối của thế kỉ XX
và nở rộ cùng văn chƣơng mạng tiếng Việt (…) Nó đã làm nên một cuộc thay
đổi lớn” (Trần Thị Hoài Thanh, 2016, tr.17). Mọi sự thiếu sót, gồ ghề, chông
chênh trong thơ họ biết đâu chừng sẽ là nơi để lớp thơ sau hoàn chỉnh.
Inrasara nhận xét: “Hậu hiện đại khai sinh và nở rộ liên tục trong năm năm
(2002-2006), từ cuối năm 2006, cao trào đi xuống và lắng lại” (Inrasara, 2014,
tr.65). Giai đoạn từ sau năm 2006 là thời kì hậu hiện đại mới. Thế hệ thi sĩ này
thừa nhận nhiều thành quả mở đƣờng của trào lƣu hậu hiện đại. Họ sống trong
khí hậu thơ giải trung tâm và chính họ cũng giải trung tâm cả nơi cƣ trú. Thành
phố Hồ Chí Minh lúc này là nơi du nhập nhiều dân nhập cƣ từ tứ xứ đổ về. Họ
tự xuất bản, in thơ và đăng thơ ở bất kì đâu. Họ vƣợt qua rào cản tâm lí, không
còn dè chừng nhƣ thế hệ trƣớc.
Khi bƣớc sang xã hội hiện đại, nữ giới có cơ hội phát triển sự nghiệp của
mình. Bản thân ngƣời phụ nữ sống trong hoàn cảnh xã hội khác biệt với những
thay đổi về nhận thức, học vấn, điều kiện kinh tế ,… đã giúp cho ngƣời phụ nữ
có nhận thức đúng đắn về bản thân và đủ bản lĩnh để thể hiện giá trị, khát vọng
cá nhân. Thơ nữ mở rộng đề tài, đổi mới phƣơng thức biểu hiện. Bắt kịp nhịp
sống thời đại cùng với cách diễn đạt phong phú đã khiến cho các nhà thơ nữ mỗi
ngƣời một màu sắc riêng không thể nhầm lẫn. Tiếng thơ của Ly Hoàng Ly, Tiểu
Anh, Phạm Phƣơng Lan, Khƣơng Hà, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Trần Lê Sơn
Ý, Lynh Bacardi, Ngô Thị Hạnh, Tạ Anh Thƣ, Vũ Thanh Hoa,... là một dấu ấn
cực kì ấn tƣợng. Tôi gọi họ là thế hệ nhà thơ nữ trẻ có nhiều thể nghiệm độc đáo.
Họ ít có sự ràng buộc bởi truyền thống, có cơ hội tiếp xúc những luồng tƣ tƣởng,
xu hƣớng nghệ thuật mới của thế giới cho nên những tìm tòi, cách tân trong thơ
đƣợc đẩy xa hơn, khác lạ hơn.
Đôi khi, họ mƣợn thi ca nhƣ một thứ trang sức để tránh sự giam cầm của
nỗi cô đơn. Nếu nhƣ trái ngang là mẫu số chung của các nhà thơ nữ thì bây giờ
đây, thơ họ đau khổ nhƣng không bi lụy, dẫu có thất vọng trong tình yêu, họ vẫn
kiêu hãnh để đón nhận nỗi cô độc. Và nếu anh không thể cho em một bến bờ
hạnh phúc thì “Anh cứ ngủ đi anh/ Em phải dậy lấy chồng” (Nồng Nàn Phố). Ý
thức phái tính thể hiện qua cảm xúc và tâm thế khi các nhà thơ nữ đón nhận tình
yêu và thể hiện nó trong thơ thật đa dạng. Cát Du tự thú: “Em như con diều bị
52
đứt dây/ Chúi nhủi giữa từng trời/ Không biết tựa vào đâu/ Để ngã”. Sự
chông chênh trong trái tim ngƣời đàn bà thuở nào cũng có. Biết trái tim mình
đa sầu, cuộc đời mình lắm truân chuyên nên khi muốn bƣớc vào tình yêu, Tạ
Anh Thƣ hoài nghi tự vấn “Người biết đấy trần gian tất bật/ Người ấp ôm
những chuyện phi thường/ Roi đời vốn chẳng nương kẻ mộng/ Người có sẵn
lòng mang vết thương”. Thế nhƣng dù trải qua nhiều mất mát, hoài nghi, họ
vẫn yêu say đắm, chủ động, làm chủ chính tình yêu của mình “Hôm nay trời
không nắng/ Nhưng mắt vẫn phải trong/ Người không thương mình nữa/ Tim
vẫn phải rực hồng” (Liêu Hà Trinh).
Cái tôi bản thể thật đa dạng. Trần Nhã My buồn giữa hai bờ thực ảo,
Trầm Hƣơng buồn kiêu hãnh với nỗi đau. Ta biết ngƣời đàn bà tự thú Cát Du,
ngƣời đàn bà hóa thân Tạ Anh Thƣ và ngƣời đàn bà với những cuộc yêu tinh
tế lạnh lùng Nguyệt Phạm. Các nhà thơ không ngại ngần đề cập đến những vấn
đề thầm kín, những câu chuyện hằng ngày, những tin tức thời sự. Ngô Thị Hạnh
viết hẳn một tập Thơ tình với Sài Gòn (2014) để tỏ niềm yêu mến với mảnh đất
thân thƣơng này. Thế mới thấy, các nhà thơ nữ của Đông Nam Bộ lấy chất liệu
hiện thực xây dựng cho ý thơ của mình. Thế nhƣng, “bình cũ rƣợu mới”, vẫn là
“Sài Gòn” nhƣng khoảng cách từ thơ của Lê Thị Kim đến Ngô Thị Hạnh rất xa.
“Sài Gòn” nhiều đổi thay, lòng ngƣời mƣu sinh nơi phố thị cũng nhiều trăn trở.
Không biết từ bao giờ, ngƣời ta yêu nơi mình gắn bó nhƣ thể đó là nơi họ sinh
ra.
Không chỉ tìm mới trong chính những đề tài cũ, các nhà thơ nữ trẻ còn
phải tự làm mới nó trong cách thể hiện những đề tài này. Họ khác với ngƣời
khác, khác với cả chính bản thân họ ngày hôm qua. Điều đáng trân quý ở đây
chính là ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn này không hề
một màu. Các nhà thơ đã thể hiện nó dƣới nhiều hình thức rất đặc biệt. Các nhà
thơ nữ trẻ Đông Nam Bộ luôn biết tự làm mới chính thơ của họ. Thơ nữ trƣởng
thành và bứt phá theo năm tháng, họ đã và đang từng ngày thay da đổi thịt thơ
ca. Đó là sứ mệnh hay là duyên nợ của bản thân họ với văn chƣơng?
Tiểu kết
Thông qua một số công trình phê bình nghiên cứu và các kiến giải trên, tôi
53
nhận thấy thơ nữ Đông Nam Bộ càng về sau đã thể hiện đúng với tinh thần thời
đại. Thơ ca vừa phản ánh sắc thái đời sống, vừa mô tả các cung bậc tinh vi của
cảm xúc cá thể. Thơ nữ trở về tiếng nói đầy nữ tính, thể hiện bản thể mới mẻ, đa
dạng, táo bạo nhƣng cũng không kém phần duyên dáng, hiện đại. Đây chính là
giai đoạn khai hoa nở nhụy của thơ nữ. Họ đã kế thừa tinh hoa từ những lớp
ngƣời đi trƣớc, thu nạp những kiến thức mới từ thế giới để kiến tạo nên hồn thơ
riêng.
Trong nghiên cứu trên, phần giới thuyết về phái tính và nữ quyền là tiền
đề quan trọng để làm sáng tỏ vấn đề ý thức phái tính trong thơ nữ. Đồng thời hỗ
trợ tìm hiểu ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam. Để từ đó đi sâu nghiên cứu
quá trình phát triển thơ nữ Đông Nam Bộ đƣơng đại. Có thể nói, thơ nữ Đông
Nam Bộ hiện nay đã đƣợc làm mới cả về nội dung lẫn hình thức. Đặc biệt, ý
thức sáng tạo luôn tồn tại trong những nhà thơ nữ.
Ý thức phái tính dù tồn tại dƣới dạng thức nào, hoàn cảnh nào đi nữa thì
nó vẫn đƣợc cấu tạo từ trái tim của ngƣời phụ nữ. Điểm gặp gỡ giữa thơ nữ
Đông Nam Bộ ở các thời kì chính là các nhà thơ nữ luôn có ý thức phấn đấu, nỗ
lực, sáng tạo không ngừng. Họ dùng thơ nhƣ vũ khí sắc bén để nâng cao bình
đẳng, hạnh phúc cho giới nữ. Và thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010
đến năm 2020 đã làm đƣợc điều đó. Việc tổng quan tình hình nghiên cứu, các
giá trị đạt đƣợc của ý thức phái tính qua từng thời kì, khái quát một số đặc điểm
về ý thức phái tính trong thơ nữ qua nhiều giai đoạn là hoạt động cần thiết để đi
54
sâu phân tích các vấn đề ở chƣơng kế tiếp.
Chƣơng 2
BIỂU HIỆN Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ
NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020
2.1 Ý thức về cái tôi bản thể
Với ngƣời phụ nữ, làm thơ là “tự ăn mình”, là soi đời mình trên trang
giấy, là xác tín căn cƣớc trong con đƣờng văn chƣơng của họ. Nếu cái tôi cá thể
là giai đoạn đầu ý thức cá nhân mới trỗi dậy, họ đi tìm mình trong thế giới thì
cái tôi bản thể lại không đặt nặng điều đó, họ đi tìm thế giới trong mình. Cái
tôi bản thể ngoài giải phóng cảm xúc còn là những băn khoăn về lí tính, mang
màu sắc triết học. Con ngƣời sẽ tự ý thức về giới của mình khi soi lại bản thể
cá nhân.
Ở đây, ý thức phái tính thể hiện qua ý thức về nhân vị cá nhân, bản thể,
bản ngã của ngƣời phụ nữ. Trong đó, ngƣời nữ ý thức về vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp
cá tính, vẻ đẹp thân thể và ý thức về thiên chức làm mẹ. Tìm hiểu ý thức về cái
tôi bản thể là chìa khóa mở cánh cửa về giới, xác lập bản thể nữ, xác tín cá biệt
nữ. Nhƣ vậy, hành trình cách tân của thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm
2010 đến năm 2020 chính là sự cách tân, làm mới bên trong chính bản thân
mình của chủ thể sáng tạo.
2.1.1 Ý thức về vẻ đẹp nữ tính
Vẻ đẹp nữ tính ở đây gắn với thiên tính nữ, có thể là đặc điểm giới tính
bẩm sinh, trời phú cho ngƣời nữ, hoặc là xu hƣớng nghiêng về tính nữ. Trong bài
viết Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió in trong Những ngả đường vào
Văn học (2006), Hoàng Ngọc Hiến đã cụ thể hoá khái niệm thiên tính nữ: “Đó là
tấm lòng bao dung và hào phóng với tất cả mọi người; đó là thiên tính làm mẹ,
tình cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp. Đó là sự đau khổ với
những giọt nước mắt trong lành và màu nhiệm. Đó là tấm lòng bao la sẵn sàng
thông cảm với mọi người, kể cả những con người độc ác” (Hoàng Ngọc Hiến,
2006, tr.23). Gọi “vẻ đẹp nữ tính”, tức chúng ta đang nhìn nhận những phẩm chất
tốt đẹp thuộc về nữ giới, mà từ vẻ đẹp đó ánh lên những giá trị nhất định. Ý thức
55
phái tính ở đây đƣợc hiểu nhƣ sự ý thức tính nữ, ý thức về vẻ đẹp nữ tính của nữ
giới đƣợc thể hiện trong các tác phẩm thi ca.
Từ lúc mới lọt lòng, ngƣời con gái đã đƣợc ngƣời chị, ngƣời mẹ, ngƣời bà
của mình dạy dỗ phải đi, đứng, ăn, nói thế nào cho duyên dáng, cho giống phái
nữ. Sau này lớn lên, chúng ta chịu sự ảnh hƣởng, tác động từ bạn bè, giáo dục,
môi trƣờng sống,… và tự lựa chọn cho mình xu hƣớng về giới. Nữ tính là một
nhánh của tính nữ. Nhắc đến vẻ đẹp nữ tính, ta hiểu đó là vẻ đẹp toát lên từ sự
duyên dáng, đằm thắm, mong manh, là sự hồn nhiên, dịu ngọt, trong trẻo nhƣ
dòng suối mát đầu nguồn. Hãy đọc những dòng thơ của La Mai Thi Gia:
Lấp lánh ánh trời
trên chiếc nón tơi loang loáng
nắng nhảy múa cười trên vai em tôi thon thon
từng nhịp, từng nhịp em đi
dịu dàng, dịu dàng trên vai đôi gánh mạ non
(Em tôi qua đọt mù u - La Mai Thi Gia)
Đọc thơ Thi Gia, ta thấy phảng phất hình ảnh của những cô gái thôn quê e
ấp, thùy mị (những bài thơ: Con gái theo chồng, Có còn giấu được nỗi đau, Em
tôi qua đọt mù u,…). Sự dịu dàng, mềm mại, uyển chuyển ấy phải chăng là vẻ
đẹp không thể nào nhầm lẫn của phái nữ? Hình ảnh ngƣời con gái trong bài thơ
trên hiện lên trong sáng, ngời ngời dƣới ánh nắng quê hƣơng, trong nhịp sống
lao động cần mẫn và say sƣa. Đôi khi, sự hồn nhiên, trong trẻo, tinh nghịch,
ngây thơ ấy sẽ khiến chúng ta muốn nâng niu, yêu thƣơng, che chở họ.
Ở một góc cạnh khác, vẻ đẹp nữ tính toát lên từ sự mỏng manh, từ một cái
tôi hồn hậu, chờ đợi, yêu thƣơng và tận tụy:
Chỉ bàn tay trần
em se sợi
những sợi gai
lẫn vào lòng em rối
những sợi gai
56
ủ qua bóng tối
lóng lánh bất ngờ
dệt áo
cho anh.
(Bàn tay trần - Tạ Anh Thƣ)
Phải chăng bản tính muốn chăm sóc ngƣời khác là đặc tính của phái nữ?
Ý thức về vẻ đẹp nữ tính giai đoạn mới có sự gặp gỡ với quan điểm truyền
thống về ngƣời phụ nữ ở phẩm chất hiền lƣơng, đảm đang, tháo vát, ấm áp, thùy
mị, luôn cảm thông, dịu dàng. Ngƣời phụ nữ là hậu phƣơng vững chắc, chịu
thƣơng chịu khó, nhiều khi họ nhận cả thiệt thòi về mình. Ý thơ có phần tòng
thuộc, chấp nhận chia sẻ, hi sinh để đổi lấy hạnh phúc của ngƣời mình yêu:
Anh thích sắm đồng hồ em sẽ để dành mua
Anh muốn có một bữa cơm ngon, em sẽ chăm vào bếp
Anh không thích đồ nhăn, em sẽ là vào nếp
Chỉ cần anh ấm lòng, tay chai chút cũng đành
(Đã cố - Liêu Hà Trinh)
Ngƣời phụ nữ là thế, chấp nhận yêu và sống hết mình với điều đó không
hề nuối tiếc. Họ hay mơ về một mái ấm gia đình đầy yên ả và yêu thƣơng.
Chuyện tình yêu phải thành hạnh phúc gia đình mà ngƣời phụ nữ sẽ đóng vai
trò vun vén, gìn giữ:
Em muốn một ngày sẽ nhẹ nhàng diễn ra
Anh dậy sớm thơm lên má em đang hì hục pha sữa
Con gái mình nghịch hoa ở cửa
Bi bô bảo rằng: Hông vợ chài nhà này “có duyên”
(Chồng à! Em muốn… - Nồng Nàn Phố).
Họ nhạy cảm, dễ xúc động và hay xa xót. Theo các nhà giải phẫu học, nữ
giới thƣờng tƣ duy nghiêng về bán cầu não phải - một bộ phận nặng về tình
cảm, tƣởng tƣợng, có khả năng phối hợp cảm xúc, ghi nhận hình ảnh và thƣởng
thức âm nhạc. Vậy, tƣởng tƣợng là thế mạnh của nữ giới trong sáng tác văn
57
chƣơng chăng? Trí tƣởng tƣợng giúp cho ngƣời nữ cảm nhận mọi thứ rất nhanh
nhạy. Trái ngƣợc với nam giới thiên về quan sát theo diện rộng, ngƣời phụ nữ đi
sâu vào sự sâu sắc, tỉ mỉ, chi tiết, mô tả đời sống tâm hồn nhiều cung bậc cảm
xúc thật tế vi. Nói nhƣ nhà nghiên cứu văn học Đặng Anh Đào là “họ tự ăn
mình”. Cái tôi bản thể mới thật e ấp, nhạy cảm, đa đoan:
Em chẳng có gì ngoài một trái tim
Nhạy cảm và run rẩy
Chỉ một chiếc lá vàng thôi cũng làm em thổn thức
Trắc ẩn đa đoan lèn chặt hết tim mình
(Chẳng có gì ngoài chính em thôi - La Mai Thi Gia)
Ngƣời phụ nữ hay sợ hãi, nhƣng cũng nhiều khao khát, dâng hiến. Có lúc
mãnh liệt, nồng nàn, có khi yếu đuối, chơi vơi. Trái tim ngƣời đàn bà giàu trắc
ẩn nhƣ sợi dây đàn mong manh, gảy lên một nhịp mà vang ngân xa vợi. Những
khi trái gió trở trời, hay cảm thấy trống vắng trong tâm hồn, họ lại cần lắm sự
chở che, yêu thƣơng. Thế nhƣng không có giấc mơ nào là trọn vẹn, họ trở về
với những thổn thức, dự cảm chẳng lành. Rõ ràng, trong thơ các nhà thơ trẻ, ý
thức phái tính có những khía cạnh bộc lộ khác với các nhà thơ nữ lớp trƣớc. Họ
có sự dùng dằng, mơ hồ giữa tiềm thức và vô thức:
Rồi khi những điềm báo bỏ đi
Em thường quay mặt vào tường và khóc với khoảng lưng trống không
(Trống - Nguyệt Phạm).
Bởi vì nhạy cảm, tinh tế nên họ dễ dàng nắm bắt những sự đổi thay dù là
bé nhỏ. Chính vì vậy, họ cũng mang nhiều băn khoăn, lo lắng, bất an.
Tuy nhiên, cuộc sống buộc ngƣời đàn bà phải mạnh mẽ. Sự mạnh mẽ,
kiên cƣờng này có lẽ cũng vì xuất phát từ năm tháng chiến tranh chống giặc,
ngƣời phụ nữ chƣa bao giờ đứng ngoài cuộc chiến, dù ở tiền tuyến hay hậu
phƣơng, họ vẫn mạnh mẽ đối diện với chính mình, tự giải quyết những xáo
động, bi kịch ngấm ngầm diễn ra trong tâm trí. Nay trong thời đại mới, ngƣời
phụ nữ vẫn chƣa bao giờ thoát khỏi điều ấy, thậm chí khi tri thức nâng cao, họ
còn ý thức hơn về bản thể cá nhân. Tận cùng đêm tối cô đơn, “bóng đổ dài trên
58
bức tường lạnh”, ngƣời phụ nữ tìm thấy bản ngã, đối diện lòng mình nhƣ một
cuộc độc thoại nội tâm:
Tôi vẽ một hình nhân tôi
bóng đổ dài bức tường lạnh
tôi khóc tôi cười
hình nhân thinh lặng
(Tôi vẽ một hình nhân tôi - Vũ Thanh Hoa).
Trong hình nhân ấy, nhà thơ thấy “bóng”, “bão”, “mùa”, “mơ”. Hình nhân
ấy là phản chiếu từ nội tâm và cảm xúc phức tạp của thi sĩ chăng? Nội tâm ấy
vừa mãnh liệt, vừa yếu mềm, vừa đấu tranh vừa hòa thuận, vừa muốn nổ tung
vừa tự kìm nén.
Nếu nhƣ ngày trƣớc, hình mẫu ngƣời phụ nữ thủy chung, sắt son đƣợc
nhiều ngƣời ca ngợi, xem nhƣ một phẩm chất của giới nữ (từ hòn Vọng Phu cho
đến ngƣời chinh phụ trong Chinh phụ ngâm) thì bây giờ trong thơ ca, ta lại bắt
gặp những ngƣời phụ nữ ngoại tình, là ngƣời thứ ba. Lời thơ của Nồng Nàn Phố
phê phán kịch liệt những ngƣời đàn bà nhƣ thế:
Kẻ thứ ba tồn tại gian nan
Ôm đống tro tàn mà lập thiên đàng huyễn mộng
Người ta trao toàn tay không mà say đắm sống
Ngu thân một đời thế chân.
(Kẻ chen chân - Nồng Nàn Phố)
Trƣớc nhiều cám dỗ của đời sống thị thành, nhiều khi ngƣời phụ nữ lại
quên lãng đi hoặc xóa nhòa mất những căn tính nữ đáng quý.
Nhớ lại những năm đầu của thế kỉ XX, khi phái nữ hô hào, kêu gọi đòi nữ
quyền, bình đẳng nam nữ, lúc này tiếng thơ thiên về đấu tranh. Manh Manh nữ
sĩ là là một trong những đại diện phát ngôn cho phong trào này. Tiếp đến giai
đoạn sau 2000, thơ nữ lại một lần cựa mình quẫy đạp, họ nổi loạn, muốn khẳng
định bản thể riêng. Đôi khi vì vậy, họ đã làm rơi rớt những hạt bụi vàng thuộc
59
về đức tính thiên bẩm của giới nữ. Mãi đến sau này, khi công cuộc nữ quyền đã
nhận đƣợc hồi đáp, thơ nữ đồng hành qua nhiều giai đoạn lịch sử của dân tộc,
trƣởng thành hơn với chính mình năm xƣa, ngƣời ta lại tìm về những đặc tính
cố hữu của nữ giới, tôn tạo, đề cập đến nó nhƣ gặp lại tri kỉ. Họ nhìn về bản thể
của mình dịu dàng, tin yêu nhƣ đối diện với cố nhân.
Tôi cho rằng khi ngƣời phụ nữ sống đúng với cảm xúc của trái tim, có ý
thức về vẻ đẹp nữ tính thì tức là họ đang rất thấu cảm bản thân mình và trân
trọng giá trị bản thể của họ. Sự ý thức về vẻ đẹp nữ tính là một biểu hiện của ý
thức phái tính. Mỗi ngƣời phụ nữ có thể mang những đặc điểm tính cách khác
nhau nhƣng sự nữ tính là hằng số chung của họ.
2.1.2 Ý thức về vẻ đẹp cá tính
Từ xa xƣa, khi nói đến cái đẹp, phái đẹp, chúng ta thƣờng có một hệ tiêu
chuẩn hoặc “qui chuẩn” thành các giá trị nhất định. Nếu không phải “Một
thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên” (Mười thương) thì
cũng công, dung, ngôn, hạnh “Gái thì giữ chuyện trong nhà/ Khi vào canh cửi
khi ra thêu thùa” (Ca dao). Nói nhƣ vậy để ta thấy đƣợc, mọi ngƣời hay áp
chế hoặc đánh giá ngƣời phụ nữ với tính tình duyên dáng, nền nã, tƣ chất
mỏng manh, yếu đuối; những hành động ôn nhu, nhẹ nhàng, thùy mị. Bản
thân chúng ta đã có những “tiền giả định” về cách nhìn nhận nữ giới. Chính vì
vậy, khi phê bình thơ nữ, sự ràng buộc của những tiền niệm đó vô tình làm
ngƣời phê bình dễ sa vào đánh giá, nhận xét một cách khiên cƣỡng, chủ quan.
Với nhịp sống giai đoạn mới từ năm 2010 đến năm 2020, giới nữ Đông Nam
Bộ đã có sự vƣợt phá, thể hiện cái tôi đầy cá tính không chỉ thể hiện ở đời sống
xã hội mà còn ăn sâu vào văn chƣơng.
Theo nghĩa rộng, cá tính là tính cách riêng biệt ở mỗi ngƣời, mang những
đặc trƣng riêng không nhầm lẫn với bất kì ai. Đó là biểu hiện của sự tự thể hiện,
thoát khỏi những chuẩn mực thông thƣờng để thể hiện cái tôi riêng biệt và mạnh
mẽ. Ngƣời cá tính có lập trƣờng, phong cách và qui chuẩn riêng. Ở ngƣời phụ nữ,
cá tính đôi khi bị hiểu nhầm là sự đối kháng với nữ tính. Nhƣng thực chất, chính ở
cá tính, ngƣời ta lại nhận thấy nhiều hơn sắc màu nữ tính. Cũng chính ở cá tính,
ngƣời phụ nữ thể hiện rõ phái tính của mình, ý thức về bản ngã và giới mình, đồng
60
thời khẳng định vị thế, vai trò của ngƣời phụ nữ.
Thơ nữ Đông Nam Bộ là tiếng nói của những khát vọng đƣợc khẳng
định, và khi đó, cái tôi cá nhân ý thức bản thể của chính mình. Sự cá tính đó
thể hiện ngay trong cách các nhà thơ đặt tên cho tác phẩm, nhan đề các tập
thơ, chẳng hạn nhƣ: Phơi riêng tư (Nguyệt Phạm), Anh ngủ thêm đi anh, em
phải dậy lấy chồng (Nồng Nàn Phố), Em (Liêu Hà Trinh),… Đó là những tựa
đề thể hiện sự phơi trải cái tôi bản thể, chất chứa một cách nhìn, cách nghĩ rất
khác, đầy cá tính và tự tin. Không chỉ vậy, họ còn thể hiện sự mạnh mẽ trong
nỗ lực cách tân, khao khát đƣợc dấn thân qua lối viết tự do, phóng khoáng với
những dấu ấn riêng biệt. Đọc thơ họ, ta thấy phụ nữ không chỉ biết thêu thùa
đan vá mà còn có thể đảm đƣơng những công việc nhƣ nam giới; không chỉ
biết nấu những món ngon, cơm lành canh ngọt mà còn có thể bánh mì Sài
Gòn nhai trệu trạo, cà phê, trà đá, vỉa hè; ngƣời phụ nữ ấy tay nâng chén rƣợu,
tay cầm hoa hồng; vừa có thể đợi anh, vừa không thể đợi anh.
Thi nhân làm chủ từ trong suy nghĩ đến hành động, kể cả trong việc thu
vén, sắp xếp nỗi buồn của mình:
Bỏ lại cái gối ôm nằm xõa sượi trên gác hẹp
Bỏ lại trò chơi của ba chiếc kim đồng hồ cạnh tranh nhau bằng những vòng tròn bất tận
Em mang con mắt dao của mình đi lang thang
Cứa đứt vầng mặt trời cuối tuần đang tìm đường tẩu thoát
(Sài Gòn ngày không anh - Khƣơng Hà)
Phải chăng đó là những vẫy vùng, quẫy đạp của một cái tôi nữ giới đầy cá
tính và mạnh mẽ. Một ý nghĩ thật điên rồ và ngông cuồng. Vầng mặt trời của
tự nhiên có ánh dao nào mà cứa đƣợc. Thế mà, “con mắt dao” của nàng làm
đƣợc điều ấy. Thi sĩ đang nỗ lực tìm đƣờng giải phóng cho nỗi cô đơn.
Ngƣời phụ nữ truyền thống hay chờ đợi, thụ động trong tình cảm, họ trông
cậy vào nam giới, nhƣng ngƣời phụ nữ hiện đại thì khác. Đôi khi, họ gạt bỏ yếu
mềm, không ở vai phụ thuộc mà còn là điểm tựa cho ngƣời mình yêu:
Về nhà mình đi, tạm quên cơn mệt mỏi
61
Em ở đây rồi, làm điểm tựa cho anh
(Về nhà của chúng mình đi anh - Liêu Hà Trinh)
Chẳng những vậy, họ còn rất kiên định làm chủ cảm xúc, biết phân định đúng
sai, không quan tâm lời nói ngƣời ngoài, chỉ tập trung vào những ngƣời mình
thƣơng quí (Chúc vui - Liêu Hà Trinh). Trong công việc, giao tiếp xã hội, họ
biết tự cân bằng mọi thứ bằng thái độ tự tin, điểm tĩnh đến lạ (Cân - Liêu Hà
Trinh). Đối mặt những đỗ vỡ, tan nát, bất hạnh, lòng xây xát vết thƣơng, các
nhà thơ nữ của chúng ta vẫn đủ dũng khí kiên cƣờng, bƣớc tiếp những bƣớc đi
độc lập, đầy kiêu hãnh, tự trọng, không yếu mềm, quỵ lụy, “vì yêu anh nên mới
chẳng giữ anh” (Để anh đi - Liêu Hà Trinh). Một sự kiêu hãnh rất đàn bà. Sự
kiêu hãnh bắt nguồn từ tâm thế của một ngƣời phụ nữ hiện đại, không giả tạo
yếu mềm để đƣợc cuộc đời bao dung ( Tập thơ Em- Liêu Hà Trinh).
Họ tự băng bó những tổn thƣơng rời rạc:
Tôi đành tự liếm vết thương
Nghe khan giọng một con mắt cất lời than ảo não
Có loài hoa nào tưởng niệm niềm tin?
(Vô lý - Khƣơng Hà)
Họ có thể xƣng “em” và cũng có thể xƣng “tôi”, thậm chí còn gọi chính
tên mình trong thơ (Gia ơi! Đời xanh đấy - La Mai Thi Gia, Ý à! - Nồng Nàn
Phố). Thi nhân đã đẩy sự tự do đến đầu mút bên kia để phơi bày. Phái nữ tự
kiến tạo giá trị và cơ hội cho chính mình, họ đi tìm tình yêu đích thực mà
không sợ hãi phải gặp chỉ trích nhƣ nàng Kiều khi xƣa tìm Kim Trọng (Em
muốn - La Mai Thi Gia). Họ mơ về mái ấm gia đình, làm tất cả mọi thứ vì tổ
ấm đó (Đến mức đấy sao - Liêu Hà Trinh). Và nếu nhƣ không có ai để kết hôn,
không có ai khiến họ tin tƣởng, họ sẽ tự thành thân với mình:
trong giấc mơ đêm qua
tôi cầu hôn tôi
tôi kết một chiếc nhẫn
đeo vào ngón tay mình
tôi nói: “đồng ý”
tôi biết
62
cuộc hôn nhân này không bao giờ li dị
(Lời cầu hôn đêm qua - Vũ Thanh Hoa)
Thế hệ nào cũng xem hôn nhân là đích đến của tình yêu, nhƣng rõ ràng cái
yêu thời nay muôn hình vạn trạng, nếu không may mắn tìm đƣợc hạnh phúc
trong hôn nhân thì họ vẫn lại đặt niềm tin vào bản thân họ. Tôi nghĩ đó là một
suy nghĩ mới và nhân văn, khi con ngƣời biết yêu bản thân và yêu cả những lỡ
dở chính mình, không quan tâm đến những lời ra tiếng vào của xã hội về áp lực
phải có hôn nhân thì mới hạnh phúc, và nếu có lỡ đặt chân vào hôn nhân rồi mà
tuyệt vọng cũng hãy can đảm dám bƣớc ra (Dối trá đủ rồi - Nồng Nàn Phố).
Ngƣời phụ nữ không chờ đợi để đƣợc ban phát tình yêu, họ cũng biết thờ
ơ khi thấy mình không đƣợc trân trọng:
Anh có vẻ bất ngờ
vì gương mặt em thờ ơ
khi anh nói rằng anh rất tiếc
một ngày trọng đại thế này
một ngày hai kẻ từng yêu nhau ly biệt.
(Bất ngờ - Tạ Anh Thƣ)
Cô gái trong bài thơ trên thờ ơ vì bận “nghĩ về luống hoa”, “nghĩ về câu
hát cũ”, “nghĩ về những ngƣời hối hả”, “nghĩ về đôi bồ câu” - dù chúng bé nhỏ,
vụn vặt - nhƣng nhất là… nó quan trọng hơn nghĩ về anh.
Hơn ai hết, họ ý thức đƣợc xuân sắc rồi cũng phai tàn, cuối cùng thì chỉ còn bản
thân là hiện hữu. Dám cho yêu và cũng can đảm trả lại những điều không thuộc
về mình (Chẳng có gì ngoài chính em thôi - La Mai Thi Gia).
Từ xa xƣa, những giá trị về ngƣời nữ đều do xã hội nam quyền áp chế,
kiến tạo. Vì vậy, đôi khi những thứ gọi là khuôn vàng thƣớc ngọc để đong đo
phẩm hạnh ngƣời nữ lại nhằm mang lại lợi ích cho nam giới. Các đức tín đƣợc
xã hội nam quyền tung hô và ngợi ca nhƣ đức hi sinh, lòng vị tha, tiết hạnh,…
đã trở thành những chiếc vòng kim cô đầy ngọt ngào giam hãm ngƣời nữ bao
lâu nay, biến họ thành một nô lệ, công cụ dễ sai khiến. Tuy nhiên, đến thời điểm
63
ngày nay, trong xã hội mới, ngƣời phụ nữ đã dần tiếp nhận có chọn lọc những
phẩm tính này. Họ có cái nhìn phản biện/ phản - nữ tính nhằm xóa tan sự áp chế
đó. Mà biểu hiện trƣớc tiên là ở khát vọng thành thực trong việc bộc lộ cá tính.
Thế là họ dùng thơ để thể hiện cái tôi bản thể, bằng tiếng nói riêng thật phong
phú.
Theo quan niệm ngày trƣớc, ngƣời phụ nữ không đƣợc uống rƣợu,
không đƣợc nghêu ngao, không đƣợc phóng túng. Nhƣng rõ ràng, ngƣời phụ
nữ Đông Nam Bộ đang bắt nhịp rất nhanh đời sống thị thành. Khi buồn, họ có
thể hút thuốc (Say - Nồng Nàn Phố), uống cạn ly (Quán rượu - Tạ Anh Thƣ)
rồi “trả lại anh bản Roman ngày nào” (Cho năm tháng qua đi - Khƣơng Hà).
Phái yếu đang dần thoát ra khỏi những định kiến cổ hủ. Những hành động đó
không làm cho họ trở nên xấu đi, vì họ hoàn toàn chủ động, ý thức và kiểm
soát đƣợc điều mình đang làm. Tôi cho rằng, đó là một cái tôi cực kì quyết
liệt, bản lĩnh, nhiều trải nghiệm. Đôi khi phải kinh qua nhiều thứ, ngƣời ta
mới hiểu và biết trân quý giá trị hiện tại hơn. Tôi gọi đó là phẩm tính đã qua
lựa chọn.
Cái tôi bản thể ấy thật thẳng thắn khi đối diện với tiểu vũ trụ bên trong
chính mình, kết hợp với việc tổ chức các phƣơng tiện biểu hiện của thơ, thi
nhân tạo nên một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang dấu ấn cá thể. Lời
thơ vì thế tƣơi mới, hấp dẫn, tự nhiên (chứ không phải cầu kì, lập dị, bí hiểm).
Dƣờng nhƣ cuộc đời dành cho mỗi nhà thơ một cơ hội riêng và mỗi ngƣời có
cách vƣợt riêng của họ. Chẳng trách lời thơ của Nguyễn Thúy Hằng trong tập
Họ, bột hư ảo rất đặc biệt:
tôi theo thuyết định mệnh,
và tôi là dấu hiệu thứ 7 trong tử vi Tây phương - chòm sao Thiên Bình nên
tôi cực kỳ ma quái khi yêu
(Họ, bột hư ảo - Nguyễn Thúy Hằng)
Lauren Grahem - nữ diễn viên, tác giả ngƣời Mỹ đã nói về sự mạnh mẽ
của ngƣời phụ nữ: “Có thể bên trong bạn là người nhạy cảm, nhưng nhìn bên
ngoài, tôi thấy bạn là một chiến binh”. Và tôi nghĩ các nhà thơ nữ của Đông
64
Nam Bộ ngày nay đều mang tinh thần ấy. Nếu sự nữ tính trong thơ họ khiến
ngƣời đọc trân trọng, đồng cảm thì vẻ đẹp cá tính trong thơ họ là một chất xúc
tác cần thiết để tạo dựng tiếng nói cá nhân, bổ sung và thăng hoa thêm sự nữ
tính cố hữu. Các nữ thi sĩ Đông Nam Bộ ngày nay đã không làm cho màu sắc
phái tính bị khô cứng mà ngƣợc lại khiến nó trở nên thú vị, hấp dẫn, mới lạ hơn.
Đó là sứ mệnh thiêng liêng và cũng là dấu ấn sáng tạo riêng của ngƣời cầm bút
thế hệ mới.
2.1.3 Ý thức thân thể
Trong lịch sử triết học và mĩ học “thân thể” là một phạm trù thƣờng
đƣợc đặt trong thế tƣơng quan với phạm trù “tinh thần”. “Tinh thần” luôn là
cái đƣợc đề cao, còn “thân thể” là hạ đẳng, thấp kém. Mãi đến thời văn nghệ
Phục Hƣng (từ thế kỉ XIX), "thân thể" mới tìm lại đƣợc vị trí của mình. Ngƣời
phụ nữ truyền thống đề cao vẻ đẹp tâm hồn “cái nết đánh chết cái đẹp” thì ngƣời
phụ nữ hiện đại chú trọng vẻ đẹp nội tâm lẫn hình thể.
Trong văn học nghệ thuật, thân thể đã đƣợc nhắc đến khá lâu. Nó thể
hiện qua “cổ tay trắng như ngà”, “miệng cười như hoa ngâu” (Khuyết danh),…
Đến thời Hồ Xuân Hƣơng, hình mẫu ngƣời đẹp của thi nhân vẫn là “tròn”,
“trắng”, là “yếm đào”, “bồng đảo”,… Tuy nhiên, phải đến chủ nghĩa nữ quyền,
vấn đề “thân thể” mới thực sự trở thành đối tƣợng trung tâm, thành phƣơng
thức nghệ thuật đặc thù, thậm chí, thành một lối viết.
Một số nhà văn, nhà thơ đƣơng đại đã ý thức rất rõ về tầm quan trọng
của thân thể, họ chú tâm kiến tạo thân thể trong sáng tác văn học. Trong
nghiên cứu xã học hội gần đây, nhu cầu chiêm ngƣỡng thân thể nữ cũng tăng
đáng kể. Ảnh nude trở thành một loại hình nghệ thuật. Ở đây, tôi chƣa bàn đến
tính chất đúng mực hay lệch chuẩn dƣới góc độ đạo đức, nhƣng điều ấy là minh
chứng cho giá trị của thân thể ngày càng đƣợc quan tâm. Ngƣời phụ nữ đƣợc
tạo hóa ban cho sắc vóc với những đƣờng nét gợi cảm. Vì thế, phái nữ hay đƣợc
gọi là phái đẹp. Khi ngƣời phụ nữ có sự ý thức về thân thể mình nhƣ một ƣu thế
thiên tạo thì đó chính là một sự giác ngộ cao về giá trị của giới nữ.
Các nhà thơ nữ yêu từng đƣờng cong quyến rũ của cơ thể họ. Họ hiểu
đƣợc thế mạnh giới mà tạo hóa ban tặng, sức hấp dẫn của vẻ đẹp vĩnh cửu mang
65
tên bản thể nữ. Vì vậy, họ tự tin đến thản nhiên phô diễn vẻ đẹp ngoại hình, thân
thể ấy trong thơ, ngòi bút tả nhiều hơn gợi:
Đêm trườn qua dải eo thon
đổ cơn xoáy lốc niêm phong dấu nằm
(Nhất dạ tình - Vũ Thanh Hoa).
tóc mây phủ đầy hương say
thắt đáy lưng ong điệu đàng, điệu đàng
(Em tôi qua đọt mù u - La Mai Thi Gia)
Vẻ đẹp không ở dạng tiềm năng mà phát lộ trực tiếp. Trong tứ thơ “thắt đáy
lưng ong điệu đàng, điệu đàng”, phải chăng thi sĩ đã mƣợn tứ từ câu ca dao:
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con
Không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa nữ quyền kêu gọi các tác giả
sáng tác hãy viết về thân thể, bằng thân thể. Bởi vì, theo họ, thân thể là nơi thể
hiện rõ nhất căn tính phụ nữ, là nơi ngƣời phụ nữ thể hiện rõ nhất bản thân
mình. Thân thể trong thơ Vũ Thanh Hoa, La Mai Thi Gia phần lớn hiện lên
với dáng vẻ của chân trần, đùi trần, ngực trần, đôi môi nồng nàn,... Trong thơ
của Ngô Thị Hạnh, Tạ Anh Thƣ là các bộ phận của cơ thể nhƣ bàn tay, bờ
môi, đôi gò má,... Trong thơ của Nguyệt Phạm, đó còn có thể là kỳ kinh
nguyệt đầu tiên (Chọn; Có gì khác nhau - Nguyệt Phạm),... Tất cả đều là
những chi tiết mang đặc trƣng giới và thể hiện sắc màu phái tính.
Đôi chân của ngƣời con gái khi bƣớc vào thơ của La Mai Thi Gia, đâu
đó vẫn ánh lên vẻ đẹp gợi cảm, không hề thô kệch. Đôi chân ấy lội vào con
suối nhớ, gieo thêm nỗi tƣơng tƣ da diết:
Em vén chiếc váy mềm lấp lánh hoa
Mang em ra khỏi lụa là
Chân trần, đùi trần lội vào con suối nhớ
(Vén nỗi nhớ đầy tim - La Mai Thi Gia)
66
Trong cuộc sống thị thành, ngƣời phụ nữ vừa phải đảm việc nhà lẫn
việc cơ quan. Đôi khi những áp lực đó khiến bản thân họ kiệt cùng mệt mỏi.
Đối diện những trống trải, cô đơn không dễ gì thấu cảm, cũng không có một
bờ vai tựa nƣơng, họ nhƣ những chiến binh chinh chiến xa trƣờng, mặc áo
giáp che trái tim cô độc. Các nhà thơ nữ của chúng ta giấu nỗi buồn sau lớp
son môi, mƣợn lớp phấn che đi màu nƣớc mắt. Đó là cuộc sống hiện thực mà
ngƣời phụ nữ phải đối diện, nhƣng không tiện thỏ thẻ với ai, họ chỉ còn biết
mƣợn thơ, "yêu thơ trước khi biết tự yêu mình" (Những người đàn bà làm thơ
- La Mai Thi Gia). Thế nên, trong thơ nữ Đông Nam Bộ, ta thấy ngƣời phụ nữ
rất ý thức về sắc đẹp mà đằng sau đó là sự ý thức và chịu trách nhiệm với
chính cuộc đời mình:
Ăn ngủ đủ, và đường hoàng ra phố
Buồn kiểu gì, đời vẫn phải đẹp xinh
(Có lẽ rằng mình chưa ở đúng nơi - Liêu Hà Trinh)
Các nữ thi sĩ ngày nay ý thức về vẻ đẹp thân thể nhƣ một điều rất đáng
quan tâm và tự hào. Họ đã thoát khỏi mặc cảm thân xác, giải phóng ý nghĩ đó
là những thứ dơ bẩn hay thấp hèn. Họ sẵn sàng đề cập các yếu tố thuộc về
thân thể ấy mà chẳng ngại ngần bởi họ yêu cơ thể họ vô cùng. Vì yêu nên các
nữ thi sĩ của chúng ta cũng ý thức đƣợc vẻ đẹp đó sẽ phai tàn theo tháng năm:
Qua tuổi bốn mươi chẳng còn gì trong tay cả
Ngoài những đường phận duyên đứt đoạn khóc cười
Ngoài những nếp chân chim cuối mắt đầu môi
Ngoài phía chân trời đứa giả say nhìn thấy.
(Qua tuổi bốn mươi - Nồng Nàn Phố)
Họ muốn lƣu giữ, giữ gìn vẻ đẹp đó, nhƣng có cánh hoa nào không tàn,
nhan sắc thời son trẻ khiến ngƣời ta nuối tiếc:
Cũng rất nhiều người đinh ninh
mình sẽ trẻ và đẹp mãi
nên khi ngoảnh mặt lại
67
họ khóc
trước thời gian
(Thi sĩ - Tạ Anh Thƣ)
Đỗ Anh Vũ gọi thơ của Tạ Anh Thƣ là “vết thƣơng in bóng hình ngƣời
đẹp” (Đỗ Anh Vũ, 2020). Quả thật điều đó không sai. Vẻ đẹp của những cô gái
trong thơ Tạ Anh Thƣ hay các bóng hồng trong những bài thơ của nữ thi sĩ khác
đều khiến lòng ngƣời bâng khuâng, lƣu luyến. Sức mạnh vẻ đẹp mang tên bản
thể nữ ấy làm khuất phục mọi uy quyền, làm bao ngƣời đàn ông phải quỳ phục
dƣới chân, là nhan sắc khiến ngƣời đời tôn vinh, in hằn trong gƣơng, trong trái
tim ngƣời yêu họ không phải bởi điều gì to tát, mà bởi "nụ cƣời", "đôi mắt",
"làn da", "giọng nói", "tóc",... những điều ấy đã "đốt cháy anh nhƣ tờ giấy"
(Gương - Tạ Anh Thƣ).
Tóm lại, sự ý thức về thân thể nữ là một dấu hiện tiến bộ trong ý thức
sáng tạo của ngƣời cầm bút và là một biểu hiện của ý thức phái tính. Trong
thời đại công nghệ, thông tin nhƣ hiện nay thì thân thể nữ không còn là một
mảng đề quá xa lạ nhƣng nhắc đến thế nào, phản ảnh thế nào để vừa mang sắc
màu nữ tính vừa thể hiện đƣợc cái tôi bản thể không nhầm lẫn là điều chẳng
dễ dàng. Các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ đã góp một tiếng thơ vừa mới mẻ, vừa
truyền thống vào đấy. Vẻ đẹp của ngƣời phụ nữ ở đây đƣợc biểu hiện rất sinh
động, tinh tế, thoát ra sự dung tục để hƣớng đến khẳng định giá trị mang tính
nhân văn của nữ giới.
2.1.4. Ý thức về thiên chức làm mẹ
Có một sự gắn kết giữa bản năng tính dục và bản năng làm mẹ. Tính dục
không chỉ dừng lại ở khoái cảm thân xác mà nó còn khơi gợi/ đem lại bản năng
làm mẹ. Ta không thể phủ nhận thân xác gắn liền với thiên chức, nó góp phần
xây dựng hình hài ngƣời nữ trong sự toàn vẹn bản thể nữ. N.Worlf - nhà nữ
quyền luận ngƣời Hoa Kì nêu vấn đề sinh đẻ hay là nữ quyền làm mẹ và xem đó
nhƣ là thiên chức thiêng liêng. “Làm mẹ” là một điều hết sức quý giá mà thiên
tạo dành cho ngƣời đàn bà, cũng là sự khác biệt giữa nam và nữ. Các nền văn
minh trên Thế giới đều có những hình ảnh mẹ mang tính biểu tƣợng nhƣ thần
Đất mẹ Gaia (Hy Lạp), bà Nữ Oa (Trung Hoa), Mẹ Âu Cơ (Việt Nam)...
68
Trong đời sống và trong tôn giáo, hai hình tƣợng phổ biến mang vẻ đẹp thiên
tính nữ vĩnh hằng là Mẹ và Con mà ở đó, ngƣời mẹ đƣợc đƣa lên ngƣỡng tôn
vinh là thánh Mẫu và đạo Thiên chúa gọi là Đức Mẹ/ đức mẹ Đồng trinh, có
chức năng sáng thế và cứu thế toàn vẹn. Ở Việt Nam, thờ Mẫu là một nét văn
hóa. Vai trò và công lao của ngƣời mẹ còn đƣợc dân gian so sánh với câu
chuyện về mƣời hai bà mụ. Từ xa xƣa, ngƣời mẹ đƣợc cha ông ta đúc kết thành
những câu thành ngữ, tục ngữ: “Con dại cái mang”, “Cha sinh không tày mẹ
dưỡng”,... Và cao hơn, mẹ chính là bản mệnh của cuộc đời con cái: “Phúc đức
tại mẫu”. Vì vậy, yêu kính mẹ trở thành bản mệnh thiêng liêng, cao cả. Đó
chính là thiên tính nữ vĩnh hằng, mà thiên chức cao cả nhất là “mang nặng đẻ
đau, chăm sóc và nuôi dƣỡng, chở che và hy sinh vì con cái, vì những ngƣời
thân. Ở cấp độ khái quát triết học, ngƣời ta xem ngƣời mẹ là Mẹ Đất, Mẹ xứ sở
luôn hình thành trong tâm thức con ngƣời về khái niệm Nữ tính vĩnh hằng… ”
(Hồ Thế Hà, 2013, tr.73).
“Khởi thủy là đàn bà” (Đỗ Lai Thúy), bởi vì ngƣời đàn bà nào cũng có thiên
chức sinh hạ những “con ngƣời đích thực”. Ý thức về thiên chức làm mẹ là một
biểu hiện của nữ tính vĩnh hằng, là một phẩm chất đặc trƣng của giới, nằm trong
biểu hiện của ý thức phái tính và là thể hiện cho sự ý thức về cái tôi bản thể.
Quyền sinh đẻ là bình diện sinh học tối thƣợng. Hơn ai hết, họ tự thể hiện và
nhập vai vào giới mình để ngợi ca thiên chức này. Khi ngƣời phụ nữ cầm bút, ít
hay nhiều, họ đều đề cập đến vai trò làm mẹ của mình và có những tác phẩm
hƣớng tới những đứa con. Khát khao ấy tồn tại ngay trong những ngƣời phụ nữ
chƣa lập gia đình (Bởi con là đàn bà - Nồng Nàn Phố).
Khát vọng làm mẹ, có những đứa con in hằn trong thơ, trong những giấc
mơ của Nguyệt Phạm. Ai dám bảo rằng Nguyệt Phạm chỉ có những vần thơ nổi
loạn, ngông cuồng. Càng về sau, ta thấy thơ của thi sĩ càng mang sắc màu phái
tính rõ nét. Thi sĩ tƣởng tƣợng mình ở nơi có thiên tai động đất, sóng thần, với
những đứa con ấp ủ chƣa thành hình, những cơn địa chấn hay là cơn gò của bào
thai bé nhỏ. Ngƣời mẹ yêu con và cũng xin lỗi con vì không lựa chọn đƣợc nơi
tốt đẹp hơn (Địa chấn - Nguyệt Phạm).
Ngƣời ta ví ngƣời đàn bà mang thai nhƣ mang quả địa cầu phía trƣớc. Nếu
trƣớc đây, sự sinh đẻ là một điềm xấu, nhiều kiêng kị thì nay đã đƣợc xem là
69
một điều cần thiết, đáng trân quý. Vì không phải ngƣời phụ nữ nào cũng đều
may mắn thực hiện quyền năng này. Mẹ đã đếm từng ngày trong hạnh phúc để
gặp con. Cuộc vƣợt cạn của ngƣời đàn bà nhƣ một lần bƣớc vào cửa sinh tử:
Mẹ đã từng vượt cạn
cha không thể đau dùm
con càng làm mẹ khổ
xẻ thịt và phanh thây
(Mẹ đã từng… - Ngô Thị Hạnh)
Sự đau đớn ấy mới chân thực và vĩ đại làm sao. Ngƣời phụ nữ hơn chín
tháng hoài thai đứa con, chịu nhiều khó nhọc, từng ngày cảm nhận sự lớn dần
của thai nhi trong bụng. Cảm giác ấy chỉ có ngƣời mẹ mới hiểu đƣợc. Không
phải ngẫu nhiên, các tác giả nữ đƣơng đại xoáy vào việc mang nặng đẻ đau, sự
gắn bó máu thịt ấy. Những hòn máu sợi nhau giữa mẹ và con luôn là những
cung bậc cảm xúc thiêng liêng, những vần thơ lay động hồn ngƣời. Khi các nhà
thơ nam viết về tình mẹ, tình cảm đó xuất phát từ điểm nhìn bên ngoài, chủ yếu
nhằm bày tỏ tình yêu thƣơng, ngƣỡng vọng, biết ơn, trân trọng với mẹ. Còn với
các nhà thơ nữ, tình mẹ đƣợc trải bày từ cái nhìn bên trong, mang tính trực tiếp.
Chẳng trách vì thế mà La Mai Thi Gia đã có những vần thơ đáng quý dành
cho mẹ của mình. Khi con gái bé nhỏ của mẹ lớn lên, rồi làm mẹ, mới hiểu đƣợc
đấng sinh thành của mình từng vất vả, đau đớn thế nào:
Mẹ!
Con đau khi rời mẹ
Và đau khi làm mẹ của con mình
Ai đó bảo cửa sinh là tử huyệt
Chôn những người con gái chớm đôi mươi
(Từ những cơn đau mà hóa phận người - La Mai Thi Gia)
Bởi vì con là máu thịt của mẹ, là mẹ rứt ruột sinh ra, nên mẹ luôn mong
muốn che chở và bảo vệ con hết mực. Chức năng này hình thành từ khi mẹ
mang thai con, đến khi nuôi con lớn lên bằng dòng sữa mẹ. Ngƣời mẹ cảm thấy
70
xót đau vô cùng khi con ốm, mẹ chỉ có thể “ôm con trong tay, con chỉ có thể
nằm cao đầu để khỏi nghẹt mũi”. Mẹ ƣớc gì mình có thể chịu đau giúp hình hài
bé nhỏ ấy. Mẹ thấy mình thật bất lực trƣớc bệnh tật của con, “khi con khó thở”
(Nước mắt nhạt - Nguyệt Phạm).
Những ngƣời mẹ luôn cảm thấy băn khoăn, lo âu dõi theo từng bƣớc đi
của con, bởi lẽ “con dù lớn vẫn là con của mẹ”. Đó là bản chất thuộc về tính nữ,
cũng là nguồn cảm xúc sáng tạo trong thi ca. Thơ nữ đƣơng đại đang tiếp nối
nguồn mạch ấy với những khát khao mãnh liệt:
Và khi đời còn đầy rẫy đớn đau
Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ
Thật phi thường, mạnh mẽ
Sừng sững như non cao che chở đời con trẻ
Như mẹ đã từng che chắn đời tôi
(Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ - La Mai Thi Gia)
Những nhà thơ ấy cũng là những ngƣời mẹ, họ có những đứa con bé
nhỏ, vì vậy hơn ai hết, họ có những xúc cảm rất đỗi thành thực. Mặc dù biết
rằng khi con lớn lên, con sẽ tự do đi kiến tạo những điều con mơ ƣớc và
chẳng thể bên mẹ mãi. Nhƣng rõ ràng niềm yêu của mẹ với con là bất diệt
(Cảm ơn mẹ - Ngô Thị Hạnh).
Nếu con là con gái thì mẹ càng thƣơng con hơn thế nữa. Mẹ yêu con nhƣ
yêu cả quãng đƣờng sắp tới con sẽ phải trải qua. Nồng Nàn Phố trở trăn bởi
hạnh phúc sau này của con gái:
Con gái! Mẹ yêu con nhiều
Bởi con là con gái mẹ
Bởi con sẽ phải mạnh mẽ hơn gấp ngàn lần so với những đứa con trai
Những người đàn ông khổng lồ hình hài
Nhưng trái tim và vòng ôm rất bé
Bởi con sẽ rặn đẻ ra rất nhiều đàn ông…
71
(Bởi con là đàn bà - Nồng Nàn Phố)
Vậy mới thấy, sự sinh nở và bản tính che chở, đùm bọc, thƣơng yêu là
bản năng của ngƣời làm mẹ. Nếu so sánh sự sinh thành này của ngƣời nữ với
chiếc xƣơng thừa của Adam đƣợc Chúa hóa phép thì chúng ta thấy quyền năng
thành tạo sự sống, con ngƣời của giới nữ thực hơn rất nhiều, nó không phải là
huyền thoại. Chiếc xƣơng thừa của Adam chỉ là huyền tích, còn sợi nhau của
ngƣời đàn bà mới là biểu tƣợng của một quyền năng tối thƣợng. Và cũng có
ngƣời làm mẹ đơn thân. “Trên thực tế, sự sinh con và nuôi con một mình của nữ
giới là sự chối bỏ (phần nào, hoặc tuyệt đối) vai trò, sự hiện diện của ngƣời cha,
là nỗ lực sáng tạo sự sống với toàn quyền của ngƣời mẹ. Mặc cảm phái tính,
mặc cảm là kẻ phái sinh không hề có ở những tác giả nữ đƣơng đại. Đúng hơn
ƣớc vọng làm Mẹ của họ là nỗ lực xóa đi ý niệm phụ nữ là kẻ phái sinh trong hệ
tƣ tƣởng nam quyền” (Nguyễn Thị Hƣởng, 2016, tr.114).
Nhƣng ý thức phái tính của ngƣời nữ không dừng ở đó, ngƣời mẹ còn
xem con nhƣ là một niềm an ủi, động viên vô cùng lớn, là niềm tin để cuộc
đời của mẹ sáng ngời và có ý nghĩa hơn:
Những vui buồn của mẹ
gắn vào con như thịt ở trong da…
(Nghịch lý - Ngô Thị Hạnh)
Ƣớc vọng làm mẹ thể hiện trƣớc hết ở hình dung con, rồi mới đến chân
dung mẹ. Điều này hàm chứa sự biết ơn của ngƣời mẹ đối với con, bởi có con
mà mẹ đƣợc làm mẹ, con tạo tác nên mẹ. Đấy là mối liên hệ thật sự thiêng liêng
mà chỉ các nhà thơ nữ mới nói lên đƣợc.
Bé bỏng thương ơi, hạt mầm nào cùng em đến?
Gieo xuống đời cho vườn mẹ ngát hoa
Bé bỏng yêu ơi, từ nơi nào em đến?
Đến giữa đời này cho mẹ được sinh ra
(Cho mẹ được sinh ra - La Mai Thi Gia)
Đứa con là kết quả của tình yêu ngọt ngào, là ngọc ngà châu báu của bố mẹ.
Thơ của Nồng Nàn Phố là những giấc mơ đƣợc làm vợ, làm mẹ. Tình yêu của
72
Nồng Nàn Phố là thứ tình yêu phải gắn với hôn nhân, hạnh phúc gia đình mới
gọi là trọn vẹn. Dĩ nhiên không phải gia đình nào cũng là một bản nhạc hoan ca,
nhƣng trong thơ Nồng Nàn Phố, ta thấy hoan ca bắt lên từ khát khao đƣợc làm
vợ, làm mẹ. Đó là ƣớc mong có những đứa con xinh trong một gia đình bình
yên, tràn ngập tiếng cƣời (Chồng à! Em muốn … - Nồng Nàn Phố). Nếu Nồng
Nàn Phố viết về tình mẹ bằng ngòi bút tự sự, tạo dựng một tính mẫu lý tƣởng
bằng tƣởng tƣợng dự phóng thì nhiều tác giả khác, bằng trải nghiệm thực tế,
diễn tả sự gắn bó máu thịt với con trong những cảm xúc nhục thể rất trần tục, rất
thực. Tiếng thơ vang lên nhƣ tiếng cƣời giòn tan. Khi làm mẹ, những nhà thơ
nữ đƣơng đại thƣờng mô tả con với diện mạo khỏe mạnh, đáng yêu (Tôi ước tôi
phi thường mạnh mẽ - La Mai Thi Gia).
Dù cho cuộc sống ngoài kia nhiều sóng gió nhƣng với con, mẹ luôn cảm
thấy ấm áp, chan chứa yêu thƣơng. Đứa con là nguồn vui, hy vọng, hiện tại,
tƣơng lai để mẹ chiến đấu mỗi ngày với khó khăn, sóng gió. Ngƣời mẹ xem con
nhƣ món quà vô giá mà cuộc đời ban cho.
Nụ cười của chúng nhốt hồn vía tôi ở đấy
Tiếng khóc của chúng nhốt tình yêu tôi ở đấy
Tôi trở thành người tù vui vẻ an lành
(Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ - La Mai Thi Gia)
Ngƣời phụ nữ luôn chủ động kiến tạo và hòa mình vào thế giới của con.
Đọc thơ của La Mai Thi Gia, ta bắt gặp nhiều hình ảnh thiên nhiên trong sáng,
ấm áp. Đó là thế giới mẹ dành riêng cho con, trong đó không có bệnh tật, đau
khổ. Đứa trẻ trở thành mầm sống triệt tiêu những cái ác, cái xấu (Cho mẹ được
sinh ra - La Mai Thi Gia). Trong khi đó, đọc thơ của Nồng Nàn Phố, ta lại thấy
nhiều bài thơ thi nhân đặt đứa trẻ trong một gia đình không hạnh phúc. Ở vị trí
này, dù Nồng Nàn Phố hóa thân thành mẹ nhƣng rõ ràng thi nhân đang cảm
nhận dƣới góc độ của đứa con. Ngƣời mẹ xót đau khi không giữ đƣợc lửa gia
đình, khiến con phải đau khổ. Ngƣời mẹ hiền hi vọng con thông cảm vì mẹ và
cha không thể hàn gắn nữa rồi. Đó là ngƣời đàn bà dở dang, ngƣời đàn bà sắp
đơn thân trong hành trình làm vợ, chỉ còn đứa con là niềm an ủi cuối cùng (Dối
trá đủ rồi; Mai anh đi; Tạm biệt con - Nồng Nàn Phố). Không chỉ thế, quan hệ
73
với mẹ chồng cũng đƣợc đề cập. Đó không còn là điều quá đáng sợ. Nồng Nàn
Phố cảm ơn ngƣời đã sinh thành, nuôi dƣỡng ngƣời đàn ông của mình bằng thơ
(Viết cho mẹ của anh - Nồng Nàn Phố); cảm ơn cả đứa con dâu sau này sẽ là vợ
của con mình và gọi mình bằng mẹ (Gửi dâu ngoan- Nồng Nàn Phố).
Ƣớc mong làm mẹ, trở thành mẹ là khát khao, thiên chức của ngƣời phụ nữ,
có nguồn gốc từ bản năng và ý thức duy trì nòi giống của con ngƣời. Ngƣời phụ
nữ luôn mong giây phút đƣợc trở thành vợ hiền, dâu thảo, sinh con, cùng chồng
chăm sóc gia đình. Khát khao ấy thật sự ý nghĩa và tƣơi đẹp. “Nhà thơ Walt
Whitman nói: Và tôi bảo không có gì vĩ đại hơn làm mẹ những con người. Thơ
nữ trẻ đương đại bên cạnh cái dữ dội, là một nốt lặng trở về khao khát thế giới
thực tại bình yên, trở về với thiên tính nữ, sự yếu mềm cần chở che, bao bọc. Họ
là những tâm hồn quá yếu mềm, khát khao yêu, khát khao dâng hiến, khát khao
làm mẹ, khát khao yên ấm trong vòng tay gia đình. Họ là những tiếng nói
đương đại với nét trầm sâu lắng, cũng có một hành trình gian truân khổ ải để
đến được bến bờ hạnh phúc. Họ đã và đang góp phần làm cho hình ảnh người
phụ nữ Việt Nam trong văn chương kim cổ trở thành hình tượng đẹp đẽ về tình
yêu, sự thủy chung và lòng nhân ái” (Trần Hoàng Thiên Kim). Ý thức về thiên
chức làm mẹ là biểu hiện của ý thức phái tính. Nữ thi sĩ nào cũng có những cảm
xúc riêng nhƣng đều có mẫu số chung là khát khao thực hiện thiên chức này.
2.2 Ý thức về tình yêu
Tình yêu là địa hạt của văn chƣơng và của thơ ca nói riêng. Viết về tình yêu
lứa đôi, các nhà thơ từ cổ chí kim đã nói rất hay, rất sâu sắc. Những nhà thơ nữ
Đông Nam Bộ với trái tim nhạy cảm đã tìm đến tình yêu và thể hiện tình yêu
trong thơ với những khát khao yêu thƣơng mãnh liệt, cháy bỏng; bằng tâm thế
mạnh mẽ đối diện cô đơn, bất hạnh; và khát vọng giải phóng tính dục khỏi
những ràng buộc. Ý thức ấy đƣợc biểu đạt cụ thể, chân thực và đầy sống động
trong từng mạch thơ.
Có một giai đoạn trong phong trào nữ quyền, tình yêu bị gạt bỏ và tình dục
tiếm quyền ngự trị. Ngƣời ta cho rằng phụ nữ hết lòng vì tình yêu, sẵn sàng
dâng hiến cho tình yêu là một thứ tòng thuộc, nạn nhân của nữ tính truyền
thống. Nhƣng chủ nghĩa nữ quyền hiện đại với việc đề cao bản sắc giới đã giúp
74
cho nữ giới toàn tâm toàn ý, nói to nói thẳng những cảm xúc mãnh liệt, cháy
bỏng của mình trong thơ. Thơ nữ trẻ Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020
đã thoát khỏi những sự e dè, ngƣợng nghịu, ngần ngại khi phô bày bản thể của
mình thông qua tình yêu. Đây là thế hệ của những ngƣời hái quả và gieo hạt mới
lên trên mảnh đất tình yêu của thi đàn văn chƣơng đƣơng đại.
2.2.1 Khát khao yêu thương mãnh liệt, cháy bỏng
Đối với những nhà thơ nữ Đông Nam Bộ, tiếng thơ nói về tình yêu là dòng
suối nguồn không bao giờ vơi cạn. Tình yêu là khởi nguyên của trái tim, là sự
thể hiện giá trị tồn tại của cá thể cũng nhƣ là một nấc thang trong hành trình tìm
hiểu ý thức giới. Đó là bệ phóng giúp họ trở về bản thể nữ một cách tự nhiên và
tự do.
Sống thật với trái tim- đó là những gì ngƣời ta bắt gặp trong các sáng tác
của những nhà thơ nữ Đông Nam Bộ. Khi yêu, ngƣời phụ nữ chẳng hề e ngại
bày tỏ tình cảm của mình, cũng không cần bóng gió nhƣ trong ca dao dân ca.
Đối diện trƣớc cơn lốc của tình yêu, các nhà thơ nữ vƣợt qua phía sau mặc cảm
liễu yếu. Họ thổ lộ niềm say nhớ một cách thành thật:
Em yêu người yêu da diết người ơi
Sao những giấc chiêm bao cứ dậy lên hương tình sóng sánh
Sao ở phía hư vô cỏ hoa cứ nồng nàn quyến rũ
Sao ở phía người em cứ đắm chìm em
(Nếu có đi vào giấc mơ em - La Mai Thi Gia)
Nỗi nhớ chính là một biểu hiện của tình yêu. Nếu yêu là vị ngọt của mật ong
thì nỗi nhớ chính là hƣơng thơm của giọt mật ấy. Nỗi nhớ tỏa lan, thấm sâu vào
từng mạch máu của đôi lứa yêu nhau. Trong thơ Thi Gia, ta thấy niềm yêu nhớ
ăn sâu vào da thịt, hơi thở của nàng. Từ nỗi nhớ mà dấy lên niềm khao khát,
ngây ngất, mong muốn đƣợc chiếm hữu, ngự trị:
Tôi nhớ người, người ơi tôi nhớ
Giần giật cơn đau ở phía khôn cùng
Trong cơn khát tôi vùi tôi với gió
75
Nơi mải mê nào…
Người có nhớ tôi không?
(Tôi nhớ người yêu tôi khóc - La Mai Thi Gia)
Đôi khi, nỗi nhớ anh còn gắn liền với địa danh Sài Gòn- nơi ấp ôm nhiều
kỉ niệm. Vùng đất Đông Nam Bộ để thƣơng để nhớ “anh” hơn:
Có phải anh là người mang nỗi nhớ dệt thành mây?
Để trời Sài Gòn trưa ứ đầy thương nhớ
(Sài Gòn mưa - La Mai Thi
Gia)
La Mai Thi Gia hay nhắc đến tình yêu nhƣ một sự hòa hợp mà khát anh là
đỉnh điểm của ái tình. Khi yêu, ngƣời đàn bà nguyện trao tặng anh cả thể xác và
linh hồn- điều đáng quý của bản thể nữ. Trong dâng hiến có sự hy sinh, vị tha,
khẩn cầu và đôi lúc hàm chứa cả nỗi biết ơn. Rất nhiều lần trong tập Thơ trắng,
thi nhân khát yêu, chìm đắm trong men tình bằng rất nhiều say sƣa, túy lúy:
Tình ơi em khát khao tình
Tình ơi em đắm tim mình vào anh
(Tình ơi em đắm tim mình - La Mai Thi Gia)
Vẫn là chủ đề tình yêu nhƣng qua thời gian, ta thấy có sự khác biệt rõ nét.
Ở đây, ta không phủ nhận những dấu hiệu mới mẻ của văn học trung đại, khi
hình ảnh ngƣời phụ nữ chủ động tìm đến tình yêu đã từng xuất hiện trong thi ca.
Thế nhƣng, sự chủ động ấy hầu hết lại đƣợc đề cập dƣới cái nhìn răn đe kẻ sĩ,
không đáng đƣợc khích lệ và hoan nghênh. Thậm chí “bà chúa thơ Nôm” Hồ
Xuân Hƣơng nhiều khi cũng phải giấu mình trong quả mít, lá trầu, bánh trôi để
che chắn đi sự khát khao yêu thƣơng mãnh liệt. Giờ đây, những nhà thơ nữ
Đông Nam Bộ của thời đại mới đầy nhã nhặn, mẫn tiệp, họ đã sẵn sàng phơi tỏ
tình yêu mà không chút do dự. Thi nhân ao ƣớc khẳng định mình, tìm bản thể
mình trong tình yêu bằng tiếng lòng đầy rạo rực, cháy bỏng, si mê. Đã yêu là
phải thƣơng, phải nhớ đến kiệt cùng. Vì thời gian là có hạn, thời son trẻ cũng
hữu hạn, nên họ không thể nén tâm hồn mình quá lâu. Nữ thi sĩ chủ động khi
76
yêu cũng nhƣ khi ân ái; chủ động bày tỏ, chủ động hiến dâng, đam mê và tận
hƣởng. Lời thơ vì thế táo bạo, thấm đẫm khao khát:
Thì yêu đi
Cứ quanh quẩn chờ nhau, nhịn thèm, nhịn đói
Môi em khát thịt da em khát
Chờ cho hết tuổi xuân đi
(Chết vì yêu thì chết đi nào - La Mai Thi Gia)
Từ nhận thức đến hành động, từ quẫy đạp đến thông hiểu tìm đƣờng. Các
nữ thi sĩ xem tình yêu nhƣ một tôn giáo, định mệnh khó cƣỡng. Đứng trƣớc tình
yêu, họ là ngƣời chủ động. Không chỉ muốn tận hƣởng hạnh phúc một mình,
ngƣời phụ nữ còn muốn hét lên cho cả thế gian này biết. Sự táo bạo trong thơ
Nồng Nàn Phố đƣợc thêu dệt bằng cảm giác gần gũi, bằng nỗi nhớ cất trong
niềm âu yếm, bằng những cái hôn nồng nàn thật sâu (Tháng Sáu nhiệm màu -
Nồng Nàn Phố).
Những vần thơ cất lên từ tâm hồn một cô gái trẻ, tràn đầy cảm xúc và lại
rất đàn bà. Trong bài viết Nồng Nàn Phố: Những vần thơ đầy cảm xúc và rất
đàn bà, Vũ Diệp Sơn đã cảm thấy rất thú vị về giọng thơ của Nồng Nàn Phố:
“Tôi rất bất ngờ vì một bạn còn quá trẻ trung nhƣ vậy mà đã có những bài thơ
đầy nữ tính, Tôi đã tò mò tìm mua những tập thơ ấy, có lúc nhăn mặt với các
câu cú mà cô bé đặt, có lúc trầm ngâm để ngấm, suy nghĩ, có lúc phá ra cƣời
vì phảng phất một Hồ Xuân Hƣơng tinh nghịch” (Vũ Diệp Sơn, 2018). Có thể
thấy, không chỉ riêng Nồng Nàn Phố, mà hầu hết các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ
của chúng ta khi yêu đều rất nồng nàn, say đắm, mãnh liệt, quên đi mình.
Không phải chỉ có thời son trẻ, tình yêu của đàn bà mới rực lửa. Những ngƣời
đàn bà ba mƣơi, bốn mƣơi tuổi vẫn “thèm” yêu nhiều lắm. Tuổi tác chƣa bao
giờ là giới hạn của tình yêu. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói “thơ Phố có
nhiều chữ "đ" nhƣ đàn bà, điên, và đức. Chất đàn bà toát lên qua từng bài thơ
và cô gái Phố đã hóa thân vào những cảnh đời. Thơ cô thể hiện những cơn
điên tình, nhƣ câu: “Em co thắt nỗi... thành một cơn điên”. Đó là cái điên của
ngƣời phụ nữ khát tình, muốn đƣợc thỏa tình... Nhƣng dù sao, các cơn điên
không bao giờ đi quá giới hạn, bởi nó vẫn có một chữ "đức" níu lại". Chính
77
chữ "đức" giữ cho hồn thơ không đi quá xa, vƣợt những giới hạn của chuẩn
mực thơ ca” (Lam Thu, 2014). Phố làm thơ để “Nói với người yêu cũ của anh”,
“Nói với người yêu mới của anh”, nói bằng trái tim đàn bà.
Vì yêu, họ sẵn sàng bất chấp mất mát, bất chấp cả những ngụy tín:
Em được gì khi hôn anh? Chắc được quá trời nước mắt
Em được gì khi hôn anh? Chắc được những hẹn thể không thật
Em được mất mát và âu lo
Em cứ sợ thiệt thòi mà em cứ hy sinh, cứ dâng hiến, cứ ban cho
(Em sợ anh giết tuổi hai lăm của em - Nồng Nàn Phố)
Dẫu biết nhiều khi phải đánh đổi thanh xuân, tuổi trẻ, nƣớc mắt, nhƣng
khi bƣớc vào tình yêu, họ chẳng tính toan điều gì. Đó cũng là tính cách của
ngƣời Đông Nam Bộ, rất tự do, phóng khoáng:
Em sẽ thành tỉ phú bởi yêu anh
Rồi một sớm, bỗng chốc nghèo kiết xác
Sau một đêm khi mọi thứ tan tành
(Nếu - Liêu Hà Trinh)
Đôi lúc, tình yêu còn ẩn ngầm cả sự thách thức những “sợi dây cương ghì
chặt mình”:
Em và anh
Mắt trong mắt nồng nàn như lửa
Thách thức cả bóng đêm lẫn mặt trời
(Thụy Du - Khƣơng Hà)
Khi ngƣời đàn ông còn bận lo cho sự nghiệp, “em sẽ để dành mua ngày
làm việc của anh” (Anh bận lắm - Liêu Hà Trinh). Khi nữ nhân gặp lại ngƣời
yêu cũ, lòng họ bất chợt cũng nghiêng nghiêng xiêu vẹo (Gặp lại người yêu cũ
- Nồng Nàn Phố). Các nữ thi sĩ của chúng ta mang tinh thần mới phơi phới, khát
sống thèm yêu, mang trái tim bạo liệt, vƣợt qua mọi rào cản chông gai, cản trở
để cùng ngƣời yêu xây nên hạnh phúc. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hạnh
78
phúc là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”
(Hoàng Phê, 2003, tr.423). Dƣờng nhƣ niềm hạnh phúc mãnh liệt ấy thể hiện
qua ý nguyện đƣợc kết đôi, gắn bó, gần gũi; là cảm giác thèm đƣợc ở bên ngƣời
mình yêu, “Để quên hết nhân gian và lòng người đang bão nổi” (Em thèm
thương anh - Nồng Nàn Phố). Thi nhân dùng trái tim máu lửa ấy hƣớng về phía
trƣớc, hi vọng rằng khát vọng tình yêu này sẽ khởi nhụy đơm hoa, cho họ một
ngôi nhà tinh tƣơm, một tổ ấm sáng đèn, và chấm dứt những ngày phiêu bạt, cô
đơn (các bài thơ: Người thương; Có anh rồi; Đời cần gì em ơi; Mình cưới nhau
đi; Về đây với em - Nồng Nàn Phố). Họ tâm niệm rằng sức mạnh của tình yêu
chính là niềm hạnh phúc vô biên của cuộc sống “Có tình yêu, sa mạc cũng mọc
cây” (to-do-list - Liêu Hà Trinh). Tình yêu ấm áp là sự chở che, là tấm chắn ấp
ôm ngƣời con gái khỏi những lạnh giá. Vì thế, không gì có thể ngăn cản ngƣời
con gái chạy về phía tình yêu:
Em đã yêu anh nhiều đến mức đấy sao?
Muốn học giỏi nấu ăn, vá đồ, trồng hoa cỏ
Tâm tư dịu hiền, mượt mà như loài thỏ
Đón đợi anh về, hôn chẳng trượt phát nào
(Đến mức đấy sao - Liêu Hà Trinh)
Lời thơ hồn hậu, chân thực, đáng yêu, hóm hỉnh, phản ánh đúng tâm trạng
của những đôi lứa yêu nhau. Sự chờ đợi là trạng thái muôn thuở của ngƣời đàn
bà trong tình yêu. Có thể thấy, vƣờn hoa của niềm khát khao tình yêu hạnh phúc
còn ngập tràn sắc tím của sự hy sinh, thủy chung, trọn vẹn. Từ “Bến thì một dạ
khăng khăng đợi thuyền” (Ca dao), đến “Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh
một phương” (Sóng - Xuân Quỳnh), tâm thế, tƣ thế, vị thế của ngƣời phụ nữ
trong xã hội đã khác, nhƣng nỗi đợi chờ vẫn vậy. Chỉ khác ở chỗ, nếu thơ nữ thế
hệ trƣớc nhấn vào nỗi lo âu, hoài nghi trong chờ đợi, thì ngày nay, sự chờ đợi
quyết liệt hơn, bất chấp cả ngụy tín. Các nhà thơ nữ của chúng ta có thể dùng sự
tƣởng tƣợng, cuồng tín, xác tín, ngụy tín để duy trì tình yêu, cuộc sống (Em
đứng đợi anh, tựa cửa - Tạ Anh Thƣ; Em chính là hiện tại của anh - Liêu Hà
Trinh).
Các nữ thi sĩ biết yêu, biết nhớ, biết dâng hiến, biết chờ đợi và nhiều lúc
79
cũng biết ghen. Ghen ở đây nhƣ một gia vị của tỉnh yêu (Ghen - Liêu Hà Trinh;
Đừng ghen em - Nồng Nàn Phố; Làm sao để thôi ghen - Ngô Thị Hạnh). Sự
ghen tuông ấy làm tình yêu bền chặt hơn theo một cách khác. Làm “em” và
“anh” hiểu nhau hơn.
Khát vọng yêu thƣơng say đắm, mãnh liệt chỉ đáng trân trọng khi nó xuất
phát từ tình yêu chân chính. Trong thơ nữ đƣơng đại, ta bắt gặp những khát
khao chung chăn, những phút giây “ngoài chồng ngoài vợ”. Đó phải chăng là
mặt trái của con ngƣời? Thơ không chỉ nói xuôi mà còn diễn ngƣợc, là tìm
những góc khuất của vấn đề. Ngƣời đàn bà không đóng vai chính, mà còn có
thể là ngƣời thứ ba, là ngƣời chen ngang vào hạnh phúc ngƣời khác, vì tình yêu
của bản thân là sự ích kỉ, vì đó mà biến mình thành kẻ “tiểu nhân” (Người thứ
ba - Nồng Nàn Phố).
Nhìn chung, tình yêu làm hé lộ bản sắc nữ giới trong thơ. Phái nữ yêu say
đắm, thiết tha. Phái nữ nồng cháy một cái tôi tận hiến, chứa chan nhiều khát
khao hạnh phúc. Đôi khi, cách thổ lộ, phơi bày của họ vấp phải sự lên án, điều
tiếng từ dƣ luận, các nhà phê bình, nhƣng không vì vậy mà họ từ bỏ khát vọng
vƣơn đến những chân trời mới. Thế hệ thơ nữ trẻ hôm nay sẵn sàng “chịu trận”
trƣớc búa rìu dƣ luận để khẳng định mình. Họ yêu đắm say, khát khao cuồng
nhiệt. Họ đòi hạnh phúc, mơ ƣớc một kết thúc có hậu. Thơ nữ Đông Nam Bộ
mang gƣơng mặt nữ là tiếng lòng của những ngƣời phụ nữ làm thơ, mỗi một
tiếng nói, mỗi nhà thơ là một sóng điệu riêng nhƣng tất cả đều là trái tim đàn bà
đa cảm, đằm thắm, táo bạo, mãnh liệt.
2.2.2 Mạnh mẽ đối diện với cô đơn, đau khổ, bất hạnh
Phụ nữ làm văn chƣơng đều là một cuộc chấn thƣơng nghiệt ngã. “Người
thơ phong vận như thơ ấy” (Hàn Mặc Tử). Dù họ luôn khao khát yêu đƣơng và
sống hết mình trong tình yêu, nhƣng không phải ngƣời phụ nữ nào cũng gặp
đƣợc tình yêu hạnh phúc. Sự đổ vỡ, tan nát là điều khó tránh khỏi khi tình yêu
đến và đi trong đời. Bản chất trời phú cho ngƣời phụ nữ là nỗi xúc cảm mong
manh, nhạy cảm, ấp ôm nhiều hoài ƣớc hạnh phúc, nên khi tình yêu ly biệt, hơn
ai hết, họ là những ngƣời chịu tổn thƣơng nhiều nhất:
Những ngày mùa đông làm em rớt nước mắt
80
vì thương mình
Đã lâu rồi ta không ôm nhau cười hạnh phúc
(Khai trừ - Nguyệt Phạm)
Nỗi đau khổ, cô đơn, bất hạnh thì có muôn vạn nguyên do. Nhƣng xuất
phát từ tình yêu thì lại mang một âm sắc khác. Đó có thể là âm sắc tủi hờn, nhận
ra đã đánh mất chính mình sau ba mƣơi năm làm vợ, làm mẹ; là giọt nƣớc mắt
khi ngƣời tình quay mặt phụ bạc; là trót yêu nhầm mà lỡ làng thanh xuân; hay
sự kiên cƣờng, đi đến cùng mà chẳng nhận đƣợc gì cả.
Nếu đã biết không thể cùng nhau đi đến cuối yêu thương
Sao cứ phải chọn cho nhau con đường quanh co, gập ghềnh, đau khổ
(Có phải con đường quanh là con đường dài nhất - La Mai Thi Gia)
Những bất hạnh của tình yêu, của hôn nhân, hằn lên tấm thân ngƣời đàn
bà. Nó xuất phát từ sự gia trƣởng của đàn ông, từ bạo lực gia đình để lại nhiều
thƣơng tổn. Bài thơ có tựa đề là Bí mật của hạnh phúc nhƣng ngẫm lại, hóa chỉ
là chiếc áo choàng mang tên hạnh phúc bên ngoài, không có thật. Đằng sau bí
mật ấy là những vết thƣơng trả bằng máu và nƣớc mắt của ngƣời đàn bà:
Mẹ quét nhà, rác chảy ra sân
cha quét nhà, rác chảy vào ngực mẹ
rát buốt
khối u chiếm hữu ngàn đời ghen bóng ghen gió
khối u gia trưởng ngàn đời đánh đập chửi thề khi chẳng được nuông chiều
Bi kịch gia đình ai biết nguyên do?
(Bí mật của hạnh phúc - Ngô Thị Hạnh)
Những gƣơng mặt đàn ông mang lớp mặt nạ khác nhau nhƣng lại có mẫu số
chung là khiến ngƣời yêu mình đau khổ. Nồng Nàn Phố hay nói nhiều, viết
nhiều về đàn bà. Nào là đàn bà tuổi hai năm, đàn bà tuổi bốn mƣơi, có khi là đàn
bà ngoại tình, đàn bà đã cũ, đàn bà từng trải,… Những ngƣời đàn bà trong thơ
của Nồng Nàn Phố nói riêng, thơ nữ nói chung đều rất mong manh, yếu mềm,
nhiều giông bão và cô đơn. Khi trải qua những cuộc bể dâu, lòng ngƣời thay
81
đổi, ngƣời đàn bà phận hẩm duyên ôi chiêm nghiệm về đời mình có khác gì
dòng thác, mạnh mẽ lúc đầu, lắng dịu về sau, thấy hạnh phúc và chia ly nhạt
thếch,… Phải chăng, phận ngƣời đàn bà nào cũng nhiều bẽ bàng, truân chuyên?
Bắt đầu quên hết thảy
Tình cuối lẫn tình đầu
Nhớ duy nhất một thứ
Yêu lần nào cũng đau
(Yêu lần nào cũng đau - Nồng Nàn Phố)
Khi ngƣời ấy có thể tặng em bó hoa bằng chính cách hôm qua đã trao cho
ngƣời khác, ngƣời đàn bà thấy tình yêu thật ngao ngán, “Em buồn quá vì yêu
nên buồn quá” (Gói lòng mình, gói cả bão giông - La Mai Thi Gia). Và rõ ràng,
đứng trƣớc sự tan vỡ, đau khổ, cô đơn và bất hạnh ấy, thơ nữ đã có những vùng
dậy, những cuộc tự giải thoát, họ vƣơn lên nhƣ những đóa hoa sau trận bão táp
dập vùi.
Họ sẵn sàng ngồi đối diện, đối thoại với nam giới, tìm ra nguyên nhân đổ vỡ
tình cảm chứ không hề im lặng, thụ động (Tất cả và chúng ta - Liêu Hà Trinh).
Họ từ khƣớc những giấc mơ ảo vọng, không có thật, từ chối những dối lừa thơ
mộng, ngọt ngào:
Xin người đừng về trong những giấc mơ đêm
Mang theo những thương yêu mà em ảo vọng
Giữa trò chơi ái ân thơ mộng
Người đàn ông mang gương mặt chữ…
Đa tình
(Người đàn ông mang gương mặt chữ - La Mai Thi Gia)
Nếu anh không thể cho em mái ấm hạnh phúc thì em sẽ đi lấy chồng, kẻo lỡ
thì con gái:
Anh ngủ thêm đi anh
Em phải dậy lấy chồng
Mùa thu vừa rụng lá
82
Lòng em đã sang đông.
(Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nồng Nàn Phố)
Sự mạnh mẽ trong thơ nữ thể hiện ở tâm thế chấp nhận buông tay khi biết
mình chỉ là ngƣời thế thân (Để anh đi - Liêu Hà Trinh); khi họ biết ra, mình và
những ngƣời đàn bà khác yêu cùng một ngƣời đàn ông (Đàn bà - Nồng Nàn
Phố). Sau rất nhiều dằn vặt, đau khổ, tự thiêu đốt mình để dệt mộng uyên ƣơng,
cuối cùng, họ cũng đã tình nguyện “Cỗ vũ mình, và chào kết nợ duyên” (Chào
kết nợ duyên - Liêu Hà Trinh). Không có bi ai, không có níu kéo, ngƣời ta vừa
đọc thơ, vừa hình dung ra hình ảnh một ngƣời đàn bà điềm nhiên mỉm cƣời
bƣớc qua nỗi buồn chia ly.
Đứng trƣớc nỗi buồn và sự cô đơn ấy, ngƣời phụ nữ hiện đại không quỵ
lụy, không quá than khóc và nuối tiếc. Họ mạnh mẽ vƣợt qua thất vọng, đi qua
những trắc trở đa đoan phận đàn bà. Nếu Nguyệt Phạm quay trở tìm mình trong
những cơn mơ không hồi đáp, thì Tạ Anh Thƣ nhẹ nhàng, điềm tĩnh bƣớc qua
nỗi buồn nhƣ một dòng sông êm ả sau những sóng gió, cô đơn. Và nhanh chóng
hơn, Liêu Hà Trinh yêu lại bản thân mình nhƣ chƣa bao giờ có cuộc chia ly nào
cả.
Người đàn bà tôi yêu
nàng đã khóc thật nhiều
bên đóa hoa hồng
hôm qua mới vừa hàm tiếu
(Yêu hoa vì hoa sẽ tàn - Tạ Anh Thƣ)
Dẫu có buồn, nàng vẫn xinh đẹp nhƣ một đóa hoa hồng kiêu hãnh. Ở thơ
Tạ Anh Thƣ, ngƣời đọc tìm thấy hình ảnh một ngƣời phụ nữ đã qua nhiều
chông gai, đau khổ, giờ đây nàng đón nhận tổn thƣơng bằng sự bình thản và an
nhiên. Nƣớc mắt ấy không phải là hiện thân của sự nhu nhƣợc, mà đó là một
điều cần thiết để vực dậy tinh thần. Hãy để cô ấy khóc. Tiếng khóc cho thấy con
tim vẫn chƣa hoài khô cạn, còn hơn là ráo hoảnh nhìn đời. Hãy để cô ấy ngã, từ
nơi vết bầm, cô ấy sẽ thấy biết ơn. Hãy để cô ấy đƣợc đi, để biết con đƣờng nào
là đúng đắn. Hơn ai hết, các nhà thơ nữ biết rõ “Tay rát phỏng, tự ắt buông lửa
83
xuống”, “Không việc gì phải cuống/ Rồi cuối con đường, mọi thứ sẽ ổn thôi”
(Hãy khóc đi em - Liêu Hà Trinh). Chính lúc ngƣời phụ nữ yếu đuối nhƣ thế là
lúc họ chứng tỏ đƣợc bản lĩnh của mình, phô diễn vẻ đẹp nội tâm đầy nghị lực.
Thi nhân mƣợn chiếc son môi- vật trang không thể thiếu của ngƣời phụ nữ
- để tô thắm lại đôi “má hồng rời rạc”, “những nụ cười” trên những gƣơng mặt
phong sƣơng:
Cho anh mượn son môi của em đi
anh tô lại tất cả những đôi má hồng đã bạc
cơn mưa đêm qua tan tác
cô gái bán hoa vắng khách ngủ vùi
Anh muốn mượn son môi của em
cho tất cả những nụ cười
lâu rồi
đã vắng niềm vui.
(Cho anh mượn son môi của em - Tạ Anh Thƣ)
Nhà thơ kể chuyện ngƣời mà thấu cảm chuyện đời, kể chuyện ngƣời mà
nói hộ tiếng lòng bao ngƣời đàn bà khác. Bản thể nữ in dấu trong các sáng tác
của thi nhân dù nàng cho rằng “Tôi không phải là nhà thơ” nào cả (Trú ngụ -
Tạ Anh Thƣ). Cảm giác ấm áp khởi xuất từ sự che chở, bao dung, vị tha và nhân
ái khôn cùng.
Bên cạnh đó, cái mạnh mẽ, rắn rỏi còn đƣợc bộc lộ trong tâm thế bình
tĩnh, chấp nhận sự đổ vỡ “Thôi cũng qua rồi một tá chuyện không vui/ Một tá
những niềm riêng, cô đơn và nông nổi” (Thôi cũng qua rồi - Liêu Hà Trinh).
Trái tim đàn bà yêu điên dại, không để tâm, để bụng, phơi trải ra cả bên ngoài,
nên khi quyết định ra đi, tức là đã sức cùng lực kiệt, họ chẳng thiết tha phân trần
điều chi nữa:
Ai mới là người tổn thương hơn
Người bị bỏ rơi hay người vừa rời bỏ?
84
Ai là người mang trái tim rất nhỏ
Nhưng thủng sâu, nên chẳng thể lấp đầy
(...)
Không cần nữa rồi, chuyện ai tổn thương hơn…
(Tổn thương - Liêu Hà Trinh)
Trong thơ của những ngƣời phụ nữ ấy, ta bắt gặp một nỗi buồn kiêu hãnh,
chứa đựng sự nhạy cảm, đa đoan, chông chênh của kiếp đàn bà. Những lúc
ngã lòng, họ vịn thơ để đứng dậy:
Anh sẽ chẳng tìm thấy em đâu giữa đám chỉ màu sặc sỡ
Chẳng tìm thấy em đâu, em trốn vào hơi thở
Em tìm cách trú ngụ trong nỗi buồn của anh
Dằn vặt anh về những điều đổ vỡ
Và ám ảnh anh về những sự ra đi…
(Vô lý - Khƣơng Hà)
Nỗi buồn dù có lớn đến đâu cũng nằm ở phía sau lƣng, còn ngƣời phụ nữ
thì luôn sống hƣớng về những điều tốt đẹp phía trƣớc nhƣ đóa hƣớng dƣơng
nuốt ánh mặt trời, tự thắp lên hy vọng. Họ từ chối để nƣớc mắt rơi cho điều đã
cũ:
Trả lại anh bản romance ngày nào giấu trong mắt nhau
Người đã cũ, phím tơ chùng hoang phế
Và nước mắt là điều không thể…
(Cho năm tháng qua đi - Khƣơng Hà)
Không chỉ vậy, sau khi đi qua những tan vỡ, thi nhân còn nghiệm ra
những bài học cho riêng mình, nhận lại một bản thân từng trải hơn, cứng cỏi
hơn và chiêm nghiệm hơn. Nếu đã yêu cháy bỏng thì sau những đổ vỡ cũng cần
phải mạnh mẽ đứng lên, để mọi nắng gió làm nên một cuộc đời dạn dĩ. Vì em
muốn có những thứ tốt hơn, nên đôi khi phải mất điều mình đang có (Em, chấp
nhận mất mát - Liêu Hà Trinh).
85
Dƣờng nhƣ nỗi niềm trái ngang là điểm chung trong thơ các nhà thơ nữ thời
hiện đại. Tình yêu trong thơ Ngô Thị Hạnh rực cháy, bảng lảng niềm cô đơn và
ấp ôm nhiều tƣ lự. Hạnh Ngộ làm thơ về gia đình, về tình yêu, viết thơ tình cho
Sài Gòn. Ngƣời ta thích thơ Hạnh bởi giọng thơ đầy nữ tính nhƣng cũng rất
mới lạ:
Nỗ lực rời xa anh
khoái cảm bốc hơi
thoát anh như thoát chính mình
(Khoái cảm bốc hơi - Ngô Thị Hạnh)
Rời khỏi anh chính là sự giải thoát cho em và là một bƣớc đƣờng để em
tìm lại bản thân mình bị đánh mất, tìm lại cái tôi quyến rũ, tự trọng, kiêu hãnh.
Đó là cách giải phóng nỗi buồn và sự bức bối đầy táo bạo, có cả chút ngông
cuồng. Nàng chấp nhận “bốc hơi” không dấu vết “để một lần/ được tái sinh”.
Việc bày tỏ tình cảm hay kết thúc tình cảm xƣa nay vẫn đƣợc xã hội phƣơng
Đông mặc nhiên xem là đặc quyền của nam giới, vì thế mới có những hoàn
cảnh “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Thế nhƣng, thơ nữ Đông Nam Bộ đã
thoát khỏi sự giam hãm đó để chạm đến ngƣỡng yêu thƣơng tự do, chia ly tự
quyết. Họ không phó mặc vào số phận mà nắm đƣờng chỉ tay làm chủ cuộc
tình.
Dù khát khao nhiều nhƣng để đạt đƣợc viên mãn là điều thật khó. Họ thấy
rằng bản thân mình là cực kì bé nhỏ, không phải phƣợng hoàng lửa, mà chỉ là
loài chim sẻ, phúc lành rót trong tiếng hót vang trời (Phượng hoàng lửa - Liêu
Hà Trinh). Tuy nhỏ bé là thế, nhƣng phái đẹp vẫn là một đóa hoa thơm, là một
nữa hình thành nên thế giới, là viên ngọc quý trong cuộc sống, họ đáng đƣợc
trân trọng và nâng niu. Vì thế, họ không thể ngƣợc đãi bản thân trong bất cứ
một nỗi buồn, nỗi cô đơn, bất hạnh nào, họ biết mình không thể chôn vùi những
tháng ngày son trẻ đắt giá:
Hôm nay trời không nắng
Nhưng mắt vẫn phải trong
Người không thương mình nữa
86
Tim vẫn phải rực hồng
(Vững - Liêu Hà Trinh)
Nói thơ Liêu Hà Trinh có chức năng trị liệu cảm xúc cũng không sai. Lời
thơ thể hiện rõ cá tính của ngƣời phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ, quyết đoán, kiên
cƣờng khi phải đối diện với những nỗi buồn. Điều quan trọng nhất là… sau
những tổn thƣơng, đổ vỡ đó, thơ nữ không thể hiện sự chán ghét cuộc sống mà
vẫn đón nhận chúng nhƣ một lẽ phải có ở đời.
Ngoài ra, trong tình yêu, ta cũng không thể thiếu bóng dáng ngƣời vợ,
ngƣời mẹ. Trái tim ngƣời đàn bà chứa đựng rất nhiều dũng khí để đến bên tình
yêu thì cũng mạnh dạn chấp nhận sự tan vỡ của một gia đình nứt vỡ từ bên
trong, họ hiểu sự xuất hiện của đứa con không thể cứu vớt hôn nhân đƣợc nữa.
Thơ Nồng Nàn Phố là một âm sắc vỡ nát nhƣ thế. Thi nhân miêu tả khung cảnh
của những cuộc tình phải đem nhau ra tòa, những cuộc chia con cái nhƣ chia
tiền bạc (Dối trá đủ rồi - Nồng Nàn Phố). Những ngƣời mẹ đơn thân ấy, yêu
con nhƣ yêu mầm sống. Đó chính là bản lĩnh dám buông bỏ của ngƣời phụ nữ.
Họ tự chủ kinh tế, tự chủ hôn nhân và sẵn sàng bỏ đi nếu không đƣợc trân trọng.
Khi vết thƣơng sâu hoắm không thể nào chữa lành, thì rời đi cũng là một sự thứ
tha cho mình và cho ngƣời khỏi những tổn thƣơng không thể nhìn mặt lại.
Nhà thơ Ngô Thị Hạnh từng nói: “Tập thơ “Nắng từ những ngón chân”,
Hạnh dành những suy tƣ về mẹ. Mẹ đã vƣợt lên khổ đau, mẹ hoạt bát, bƣơn
chải, giỏi giang. Với mẹ tất cả đều là hạnh phúc, hạnh phúc của ngƣời phụ nữ
thời hiện đại, vừa xây nhà vừa xây tổ ấm, gắng sức đến nỗi thấy mẹ không
còn là chính mình” (97). Đọc bài thơ Người đàn bà gánh ta sẽ cảm nhận đƣợc
điều đó:
Mẹ gánh con về phố
gánh nỗi mưu sinh của một gia đình
thời của những người đàn bà bươn chải
cha là tầm gửi?
(Người đàn bà gánh- Ngô Thị Hạnh)
Tình yêu là một sự tƣơng ngộ, chung hợp giữa hai cá thể khác nhau. Các
87
nhà thơ nữ trẻ đã giãi bày những uẩn khúc sâu kín trong tâm hồn với những
cảm xúc phong phú, từ yêu thƣơng, hạnh phúc đến buồn đau, cô đơn, tuyệt
vọng. Tôi nghĩ sự mạnh mẽ đón nhận những bão giông đến từ nơi ngực trái ấy
là một biểu hiện của bản thể nữ. Cái tôi yêu si mê nhƣng không mù quáng, sẵn
sàng tỉnh thức trƣớc những biến cố đời mình. Thơ nữ Đông Nam Bộ nhờ có
những âm sắc này mà trở nên đầy sôi động. Các nhà thơ nữ đã thổi những luồng
gió mới vào thành trì cũ kĩ của chủ đề tình yêu, cạo đi lớp rêu phong lâu đời,
điểm tô lên đó nhiều ánh màu chứa chan niềm tin, hy vọng. Nếu không ai giúp
họ lau khô nƣớc mắt thì họ sẽ vịn thơ mà đứng dậy, tự thắp sáng tim mình.
2.2.3 Khát vọng giải phóng tính dục khỏi những ràng buộc
Theo Từ điển tiếng Việt: “Tính dục là đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao”
(Hoàng Phê, 2003, tr.999).
Trƣớc đây, trong Kinh Thánh, tôn giáo, tín ngƣỡng hay các hệ tƣ tƣởng,
thiết chế xã hội đều coi tính dục nữ là ô uế, vì thế những hoạt động liên quan
đến sự sinh đẻ, hành kinh, giao hợp, thụ thai đều bị xem là không trong sạch.
Các nền đạo đức phụ hệ không những o bế tính dục nữ mà còn tạo điều kiện để
đàn ông đƣợc thỏa mãn về tính dục, đặc biệt là ở giai cấp thống trị. Tình dục trở
thành sở hữu riêng của đàn ông. Thêm vào đó, những quy định mang tính nghĩa
vụ của ngƣời phụ nữ phƣơng Đông gắn liền với tam tòng tứ đức, kéo dài suốt
các triều đại phong kiến càng ràng buộc ngƣời phụ nữ trên nhiều khía cạnh.
Năm 1483, bộ luật Hồng Đức hợp pháp hóa hình thức đa thê “Trai năm thê bảy
thiếp, gái chính chuyên một chồng”. Mãi đến năm 1960, Luật hôn nhân và gia
đình mới chính thức đặt chế độ đa thê ra ngoài vòng pháp luật. Tuy nhiên, hệ
quả vẫn rất nặng nề.
Mặt khác, những mô tả tình dục chủ yếu là của đàn ông, vô hình chung,
đàn ông có quyền lực trong diễn ngôn tính dục. Điều này chúng ta thấy rất rõ
trong quan điểm của các nhà phân tâm học nhƣ Freud, Lacan. Đấy là khi tính
dục nữ đƣợc thừa nhận thì nó lại rơi vào một thái cực khác: bị coi là thụ động.
Do những áp chế đó mà không chỉ trong đời sống thực tế, đời sống văn
học ở Việt Nam nhiều thế kỉ không dám đề cập đến khía cạnh này. Đề tài về
tính dục là một vấn đề đƣợc coi là nhạy cảm, kiêng kị, đặc biệt, ngƣời phụ nữ
88
không đƣợc tự do với tính dục của mình, họ phải giấu đi những khát khao cháy
bỏng, thầm kín. Họ phải chọn cách nói ngụ ẩn, bóng gió, kín kẽ dò mặt bắt chữ
trong các sáng tác của mình, để không phải chịu điều tiếng xấu, hay vi phạm
chuẩn mực tiết hạnh khả phong. Đúng hơn, đó là những luật lệ rất hà khắc áp
lên cuộc đời những nữ văn tài và làm hạn hẹp sự sáng tạo, chân thật trong văn
chƣơng. Khi tình dục là quyền lực của đàn ông trên cả phƣơng diện thể xác lẫn
diễn ngôn thì cuộc giải phóng tính dục của nữ giới là một cuộc giải phóng kép.
Trong phần 2.1.3, tôi đã nêu một số khía cạnh về vấn đề ý thức thân thể
của nữ giới trong thơ. Tựu trung, khi các nữ thi sĩ phô bày, ca ngợi cái tôi thân
xác ấy, tức là họ đang đập vỡ bức bình phong che kín vẻ đẹp tự nhiên của thân
thể nữ. Đó là tiền đề, là cú hích khơi mở khát vọng giải phóng tính dục trong thơ
nữ Đông Nam Bộ. Inrasara trong Thử đặt nền tảng cho phê bình thơ Việt
đương đại (phần 3) đã khẳng định sự phát triển thơ nữ có gắn liền với dòng
thơ nữ quyền, một trong năm dòng thơ chính đƣợc “khai mào từ khá sớm (…)
Qua sáng tác, ngƣời đọc đã có ý thức sự có mặt, cùng với quyền đƣợc biểu lộ
tình yêu (nhất là) qua thân xác của phái nữ” (Inrasara, 2010).
Có thể thấy, thơ nữ giai đoạn trƣớc năm 2010 đã thực hiện một cuộc
cách mạng lớn, công cuộc “giải trung tâm” nam quyền. Tính dục không còn là
đặc quyền của đàn ông và không phải chỉ có phụ nữ mới là đối tƣợng của tính
dục. Đồng thời, các nữ thi sĩ cũng đã vƣợt qua giới hạn của văn bản, của một
chủ đề “câu khách”, “sinh dục hóa thơ ca” hay biến thơ ca thành “trò chơi
thân xác của ngôn ngữ” để vƣơn tới triết lí sâu xa về con ngƣời. Đến thời
điểm ngày nay, thơ nữ Đông Nam Bộ đã tiếp nối chặng đƣờng giải phóng ấy.
Khát vọng giải phóng tính dục khỏi những buộc ràng xuất phát tự thân từ ý
thức sáng tạo của nữ giới. Vì đâu đó, trong thế giới mà chúng ta đang sống,
vẫn còn rất nhiều định kiến và giới hạn đặt ra khi chủ thể sáng tạo là giới nữ.
Những o ép xoay quanh phái tính, địa vị, công việc, … những tiền định kiến
trƣớc đây còn tồn đọng, nếu ta dùng tất cả những điều đó để phê bình, thẩm
định một sáng tác thơ nữ trẻ thì vấn đề giải phóng tính dục trong thơ vẫn là
còn cần nhiều bút lực.
Ngẫm nghĩ kĩ, ta sẽ thấy khát vọng giải phóng tính dục trong thơ nữ
Đông Nam Bộ ngày nay không chỉ quan tâm viết về cái gì mà trọng yếu là
89
viết nhƣ thế nào. Nếu nhà thơ nữ thời đại trƣớc đảm nhiệm công việc “khai
sinh” yếu tố tính dục trong thơ thì các nhà thơ nữ ngày nay thực hiện công
cuộc “làm mới”, “tôn tạo”, “giải phóng” yếu tố ấy.
Bên cạnh bản năng làm mẹ thì bản năng tính dục là một đặc tính thiên
bẩm của bản thể nữ. Và nhu cầu giải phóng bản năng là sự phát triển cao nhất
của ý thức nữ quyền, thể hiện ý thức phái tính trong thơ nữ. Ngƣời đàn bà có
hơn đàn ông một bản năng. Vì thế, khi nhà thơ nữ nói đến những điều thầm
kín trong bản năng tính dục, bao giờ cũng chân thực, tinh tế hơn các nhà thơ
nam. Họ viết nhƣ hành trình khám phá chính mình, để khẳng định tƣ thế chủ
động và tự do trong xã hội. Thơ ca nói, đề cập, mƣợn yếu tố tính dục không
phải là điều gì quá ghê tởm, xấu xa đến mức phải bài xích, lên án. Bởi đó vừa
là sứ mệnh của phái nữ trong thời kì hội nhập văn hóa, vừa là trọng trách của
ngƣời cầm bút. Họ viết rất nhiệt tình, say sƣa. Họ nói rất hay, rất to, đa âm sắc
về thứ tính dục mang bản sắc giới. Lúc này, dục tính của phái nữ là biểu trƣng
tối thƣợng của tháp ngà đạo đức, cho sáng tạo nghệ thuật. Dục tính không phải
chân móng mà là đỉnh tháp của văn chƣơng. Sự cởi trói trên nhiều phƣơng tiện
đại chúng, tƣ tƣởng và đề tài là một cơ hội đẩy thơ ca vƣơn đến tầm cao mới, vị
con ngƣời, và thể hiện sự tiến bộ, văn minh của xã hội loài ngƣời.
Ngƣời ta thƣờng chia tình yêu thành hai loại: loại tình yêu lãng mạn,
thanh khiết, trong sáng, và loại tình yêu trần thế (nhục dục) với tất cả mê cuồng
thể xác. Các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ không lý tƣởng hóa kiểu tình yêu thứ
nhất, cũng không tuyệt đối hóa dạng tình yêu thứ hai. Họ tôn vinh yếu tố dục
tính trong tình yêu nhƣ một bản năng nữ. Bởi với họ, tình yêu chỉ trọn vẹn khi
có sự giao hòa giữa thể xác và tâm hồn. “Mọi loại tình yêu cho dù đượm vẻ
thanh khiết mấy cũng bắt rễ từ bản năng chủng tính” (Arthur Schopenhauer,
2006, tr.42).
Bằng lối viết nữ, diễn ngôn thân thể nữ,… thơ nữ Đông Nam Bộ đã và
đang thể hiện khát vọng giải phóng tính dục khỏi những ràng buộc. Bừng lên
trong thơ họ, ta nhận thấy rực cháy một cái tôi bản thể với nhu cầu bày tỏ khao
khát thầm kín.
Tình ơi lạnh quá trời xa ngái
90
Sao chẳng về đây trú ngực mềm
Hun hút đường khuya cô đơn lắm
Sao chẳng về đây say giấc em
(Đã biết rằng mai tan tác mộng - La Mai Thi Gia)
Khao khát đƣợc gặp gỡ, gần gũi với ngƣời mình yêu là khao khát muôn thuở
của đôi lứa yêu nhau. Thơ nữ hôm nay không mƣợn vật, mƣợn cảnh để ngụ
tình. Họ bộc bạch cách nhìn của bản thân, những góc khuất trong đời sống con
ngƣời, ngay trên chính thân thể của họ. Lối viết này giúp các nhà thơ nữ đẩy
khát khao đƣợc sống thực với cảm xúc của mình lên cao trào, cho thấy sự mạnh
dạn và táo bạo của nữ giới thời hiện đại. Họ không núp bóng trong những tình
cảm nửa vời hay tiếng nói của đàn ông.
Muôn đời, vấn đề tính dục vẫn là một bí mật cần đọc vị. Thế hệ các nhà thơ
trƣớc thƣờng nói đến điều thầm kín khi cảm xúc thăng hoa còn thế nhà thơ nữ
ngày nay tỏ ra chủ động, chiếm lĩnh và cảm nhận từng xúc cảm khi yêu. Không
chỉ khát khao qua nụ hôn cháy bỏng:
Môi chạm môi là thực
yêu anh sở hữu bản năng hờn ghen ích kỷ đàn bà
(Nóng chảy mặt nạ em - Ngô Thị Hạnh)
Nguyệt Phạm đọc vị cảm xúc qua “mùi vị của cách xa”, “mùi vị của dối
lừa”, “mùi vị của yêu đương”, cuối cùng, là “mùi của thân thể/ vương sau
những cuộc truy hoan” (Đọc vị cảm xúc - Nguyệt Phạm). Đọc thơ Ngô Thị
Hạnh, Khƣơng Hà, La Mai Thi Gia, Nguyệt Phạm, ta thấy thi sĩ hay nhắc đến
nỗi khát yêu, khát anh, khỏa thân tâm trạng,…
tôi là cái cân, có thể chứa nhiều tình cảm một lúc
vì tôi bị chi phối bởi chùm sao Vệ nữ nên tôi rất cuồng dại tromg tình yêu,
tôi là kẻ đa tình nhất trong 12 dấu hiệu tử vi
(Họ, bột hư ảo - Nguyễn Thúy Hằng)
Cuộc đời phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, buồn tủi, một trong số đó là
việc không đƣợc thỏa mãn ham muốn bản năng. Chỉ khi đƣợc khát, thèm, siết,
91
cháy; đƣợc sống với đúng bản thể mình mà không sợ bất kì “nhà tù thân phận”
nào; khi họ đƣợc tự do với ngọn lửa bỏng cháy nơi cơ thể mình, phụ nữ mới có
đƣợc hạnh phúc.
Cùng với đó, cái tôi bản thể còn chứa đựng nhu cầu khẳng định quyền tự
thân về giải phóng tính dục. Nếu ngƣời phụ nữ ý thức về vóc dáng thân thể nhƣ
là thế mạnh tạo hóa ban tặng thì việc công khai đời sống tình dục, giải phóng
những ẩn ức tính dục là một nhu cầu, quyền năng tối thƣợng trong đời sống tinh
thần ngƣời nữ. “Sex” trở thành một trào lƣu sáng tác, tuy nhiên ngƣời viết cần
có ý thức, dụng tâm và không dễ dãi khi sử dụng các yếu tố này. Những câu thơ
theo xu hƣớng “sinh dục hóa thơ ca” rất dễ trở thành một thứ ngôn ngữ tính dục
trắng trợn, không có giá trị. Và nó tiếp tục là một nỗi bi thảm khác mang tính tự
ti và cục bộ, nói nhƣ Nguyễn Viện, “không làm cho “bọn” nam quyền “sợ”, mà
ngƣợc lại làm cho bọn chúng “sƣớng” hơn” (Phỏng vấn: văn chương dục tính,
damau.org). Ngƣời phụ nữ trong thơ nữ Đông Nam Bộ không phải là một thực
thể chỉ biết im lặng, nhƣ “hòn vọng phu bất động”, không phải là tảng đá bị
động trƣớc cuộc đời, cũng không phải tự hỏa táng khát khao ái ân trong tâm
hồn. Chính thời đại mới đã là một cơ hội lớn để những ngƣời nữ tự khám phá,
mở rộng tâm hồn mình, phơi mở bản năng, sinh lí, cất lên những tiếng hoan ca,
hoan lạc trong tình yêu. Đến với điều ấy, La Mai Thi Gia đã thể hiện khát vọng
yêu và đƣợc yêu cháy bỏng. Không chỉ thể hiện khát khao đó qua nụ hôn, họ
còn có những cảm nhận gần gũi khác thông qua các hành động nhƣ ôm ấp, gối
đầu,… va chạm thể xác qua hòn núi ngọc, mười ngón tay sao, ngực thơm, đùi
thơm,... (Thiên đường mây - La Mai Thi Gia)
Thi nhân đang đốt cháy khát vọng nhục cảm trong tình yêu qua hình ảnh tự
nhiên “giun dế làm tình”. Trong thơ nữ đƣơng đại, thiên nhiên cũng có đời sống
tính dục của nó:
Giữa bạt ngàn kì hoa dị thảo
Hai đứa bên nhau mệt nhoài phờ phạc
Chong mắt suốt đêm xem giun dế làm tình
(...)
Ngực thơm cho anh gối đầu
92
Đùi thơm cho anh giấu mộng
Giấu tình vào thung sâu
(Em muốn! - La Mai Thi Gia)
Ở đây, vấn đề tình dục đƣợc các nhà thơ nữ nhìn từ nhãn quan triết học.
Tình dục là triết học về tồn tại con ngƣời. Nó chứng minh cho sự tồn tại của con
ngƣời trƣớc dòng chảy khắc nghiệt của thời gian. Hơn thế, vấn đề tình dục đƣợc
trình bày một cách lịch lãm, thơ mộng. Nói nhƣ Nguyễn Vy Khanh: “Ngƣời
viết nữ xây lại nội dung, cấu trúc lại những ngõ thoát, lối ra của ngôn ngữ.
Sƣớng khoái thể chất đi với sƣớng khoái lời nói, chữ dùng… Lạc thú thân xác
đi liền với lạc thú ngôn ngữ, đến sau lạc thú ngôn ngữ‟ (Tản mạn về dục tính và
nữ quyền).
Bộ ngực ngƣời nữ là một nét đặc trƣng, nó hiện thân nhƣ một khát khao,
nới ẩn chứa sức mạnh muốn bung phá:
Cho anh vuốt ve làn da em mát dịu ngày hè
Cho anh vùi mặt vào ngực em lắng nghe
Em thở
Tim em thở
(Người rót tình đi, ta uống nhau - La Mai Thi Gia)
Lê Thị Thấm Vân đã phát biểu rằng: “Trong quá khứ, văn chƣơng tình
dục đa phần viết bởi ngòi bút đàn ông. Văn thơ kể, nói, chỉ, “dạy”, diễn tả, ...
những cảm xúc, “cách thức” rung động, thèm muốn, bày tỏ (thay cho) ngƣời
đàn bà”. Nay, ngƣời nữ còn muốn ngắm nhìn cơ thể đàn ông ở nguyên bản sơ
sinh:
em muốn ngắm anh như thuở sơ sinh
trần trụi hình hài
bí mật như đêm
sót lại từ nghìn năm trước
xanh như rừng
nâu như đất
tràn đầy như nước
93
đợi em nghìn năm sau
(Sơ sinh nỗi nhớ - Vũ Thanh Hoa)
Trong văn thơ nam giới, vẻ đẹp thân xác phụ nữ thƣờng là nguyên tố gieo
thèm khát dƣới con mắt đàn ông, kiểu nhƣ Chí Phèo nhìn thị Nở, mô tả là để gợi
dục. Thân thể với ngƣời phụ nữ là để tôn vinh và để hoan lạc, thụ hƣởng. Ngay
ở các nhà thơ nữ ngày trƣớc làm thơ cũng hay nói đến môi, mắt, bàn tay, nhƣng
nếu để thể hiện khát vọng tính dục thì chúng sẽ là đôi môi, bàn tay của anh. Thơ
nữ đƣơng đại bày trực diện trong thơ môi, mắt, tay của mình, không những thế
còn thêm lƣỡi, thịt da, chân, đùi… Đấy là những điểm thân xác biểu hiện khát
khao hoan lạc của bản thể - nữ. Dõi theo hành trình thơ của các nhà thơ nữ
Đông Nam Bộ, nhiều vẻ đẹp của nữ giới đƣợc tôn tạo ở một cự li gần. Nhà thơ
tự vẽ mình trong thơ, tự vẽ những nét son quyến rũ chết ngƣời. Thi nhân xé
toạc bức bình phong giam hãm thân thể ngƣời nữ, tháo chiếc vòng kim cô ràng
buộc thân thể nữ bởi nhiều thứ đức hạnh, tiết hạnh,... Nói nhƣ Luce Irigaray:
“Phụ nữ có những bộ phận về giống ở cùng khắp”.
vẽ môi em chúm chím
cong vầng trăng sinh đôi
(Vẽ em - Vũ Thanh Hoa)
Hay:
Tắt đèn muôn phía tràn đêm
Mắt em óng ánh êm đềm suối trăng
trải trên tơ lụa mịn màng
nuột nà vóc ngọc mơ màng bờ vai
(Đêm vĩnh hằng- Vũ Thanh Hoa)
Các trạng thái “lướt môi”, “đan tay”, “ôm”, “cuộn chìm”, “cuốn
sóng”, “buộc”, “trói”, “thả”, “chia”, “rùng mình”,... đã làm sống động hình
ảnh cuộc tình đang ở độ mây mƣa. Tuy nhiên, nếu so với Vi Thùy Linh
“Khỏa thân trong chăn thèm chồng” thì xem ra ý thơ Vũ Thanh Hoa nồng nã,
dữ dội nhƣng đâu đó vẫn có nét ý nhị của ngƣời phụ nữ Á Đông.
94
Theo một cuộc khảo sát nhỏ Hội thảo bàn tròn, Ý thức nữ và nhà văn,
đăng trên Tia sáng, ngày 12/01/2009, đa số các tác giả đƣợc hỏi đều quan
niệm trong sáng tạo văn chƣơng, giới tính là điều rất quan trọng và chi phối
nhiều đến cách thể hiện. Ngô Thị Hạnh cho rằng: “Tôi là nữ, nên tôi có cảm
quan của ngƣời nữ làm thơ, đề tài về chính con ngƣời tôi luôn đƣợc khai thác
một cách mãnh liệt… cảm xúc về nữ giới trong tôi luôn vƣợt trội... Tôi quan
tâm đến làn da của mình khi nó tiếp xúc với không khí; tôi quan tâm đến ánh
mắt của mình khi nó nhìn một chàng trai đẹp hay một ngƣời đàn ông nhiều
kinh nghiệm; tôi quan tâm đến hơi thở gấp toàn thân mình khi nó tiếp xúc với
thiên nhiên hay tiếp xúc với đàn ông…”. Có lẽ vì vậy mà trong những vần thơ
của Hạnh Ngộ, ta thấy cách tác giả bày tỏ những khát khao tính dục rất đặc
biệt, mang màu sắc phái tính chứ không nhƣ gió thổi qua đồng, trống huơ
trống hoác.
Cuộc đụng độ với hệ chuẩn mực truyền thống là sự giác ngộ của ngƣời
phụ nữ trong tiến trình thức tỉnh và chủ động làm mới mình. Nhiều ngƣời cho
rằng sự giải phóng tính dục trong thơ nữ hiện nay đôi khi còn lệ thuộc vào đàn
ông, vẫn “nữ tính”, vẫn là nạn nhân của nam giới. Nếu nói thơ nữ Đông Nam
Bộ hiện tại gánh gồng tinh thần giải phóng tính dục triệt để trong thơ là điều
khiên cƣỡng. Hiểu nhƣ thế là chƣa chính xác, chƣa nhận thấy đƣợc một bƣớc
tiến trong thơ nữ Đông Nam Bộ. Chúng ta cần nhìn ra rằng điểm chung của các
nhà thơ nữ ngày nay là họ viết về sự hòa hợp của tình dục và tình yêu. Điều ấy
có nghĩa thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ 2010 đến 2020 đã thể hiện tiếng nói
nữ quyền, bƣớc vào giai đoạn khẳng định những đặc trƣng tính nữ và đòi hỏi,
xác quyết một thái độ văn hóa trong tình yêu, tình dục. Đấy là sự tôn trọng giới
tính, cả giới nam lẫn giới nữ, mà không phải nhà thơ nữ nào, thời đại cũng có
đƣợc, với một tính đồng nhất nhƣ thế.
Dục tính và những khát khao thân xác là sự nở rộ rực rỡ, đỉnh điểm của phái
tính trong thơ nữ. Thơ nữ đã và đang vƣơn tới sự bình đẳng giới và sự hòa hợp
khoáng đạt, tự do. Họ đã rũ bỏ trạng thái nô lệ giới tính, sẵn sàng thách thức lời
dị nghị bên ngoài, từ bỏ đức hạnh để đạt đến tự do tính dục. Khát khao tính dục
là khát khao chung không của giới nào, nó mang tính bản năng và là yếu tố quan
trọng để duy trì nòi giống. Mac từng nói, con ngƣời có hai hình thức sản xuất
95
chính, một là sản xuất của cải vật chất, hai là sản xuất ra con ngƣời. Nếu thiếu đi
khát khao này, chẳng phải là rất nguy hiểm hay sao? Những ngƣời phụ nữ có
ý thức giải phóng bản năng tính dục vì trong quá khứ, cuộc sống họ bị ràng
buộc nhiều điều dẫn đến họ bị lệ thuộc vào ngƣời đàn ông nên khát khao tính
dục thành một ẩn ức bức bối; họ chƣa đƣợc tự do trong chính bản năng của họ.
Việc phái nữ thể hiện những khao khát thầm kín ấy qua các sáng tác của mình là
một điều táo bạo và đáng hoan nghênh. Nó cho thấy tri thức, nhận thức ngƣời
nữ đƣợc nâng tầm và xã hội cô ấy sống đã có nhiều thay đổi tích cực.
Tiểu kết
Trên đây là một số những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữ Đông
Nam Bộ từ năm 2010 đến năm 2020. Sự ý thức về cái tôi bản thể, ý thức về tình
yêu là những biểu hiện khác nhau góp phần thể hiện ý thức phái tính trong thơ
nữ. Các nữ thi sĩ với đa phong cách khác nhau nhƣng đều thể hiện rõ một cái tôi
rất đa dạng, có chiều sâu, có tƣ duy và đầy xúc cảm.
Trong hành trình tìm kiếm chính mình, thơ nữ rất có ý thức gầy dựng thiên
tính nữ, vẻ đẹp nữ tính; thể hiện một cái tôi cá tính, bạo liệt; ý thức về thân thể
và thiên chức làm mẹ. Trong tình yêu, họ dám yêu, dám say mê, dâng hiến và
cháy hết mình vì tình yêu đó; họ ý thức về sự cô đơn, đau khổ, bất hạnh nhƣ một
xúc tác sáng tạo, mạnh mẽ chấp nhận trái ngang nhƣ một thứ phải có ở đời;
đồng thời khát khao giải phóng bản năng tính dục trong thơ. Tất cả những biểu
hiện đó có mối quan hệ qua lại khăng khít, bổ trợ, nâng đỡ, bù khuyết lẫn nhau,
góp phần khẳng định ý thức cao về phái tính của ngƣời giới nữ trong sáng tác.
Đồng thời thể hiện ƣớc vọng đƣợc là mình, đƣợc sống thật với chính mình,
96
nhận sự bình đẳng, công nhận từ xã hội.
Chƣơng 3
MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THU T THỂ HIỆN Ý THỨC PHÁI
TÍNH TRONG THƠ NỮ ĐÔNG NAM BỘ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM
2020
3.1 Hệ thống biểu tƣợng mang tính nữ
Biểu tƣợng là những tín hiệu nhỏ trong hệ thống tín hiệu thẩm mĩ của tác
phẩm văn học. Chúng không chỉ biểu hiện cái hiện hình cụ thể mà còn mang
tính kí hiệu trửu tƣợng. Giải nghĩa biểu tƣợng cần đặt chúng trong một hoàn
cảnh, thời đại, xã hội nhất định. Bởi ẩn sâu trong biểu tƣợng là những lớp nghĩa
khác nhau do tâm lí, văn hóa của mỗi thời đại, cộng đồng cấp cho. Nhìn từ ý
thức nữ quyền, biểu tƣợng trong thơ nữ không phải đƣợc sản sinh từ vô thức
sáng tạo của nhà thơ mà khởi phát từ sự lựa chọn nằm trong phái tính sáng tạo.
Các nhà thơ nữ thƣờng xây dựng nên thế giới nghệ thuật của mình bằng những
biểu tƣợng mang đặc trƣng riêng của phái nữ. Đó là những hình ảnh đặc trƣng
riêng cho tính Mẫu, đồng thời thể hiện quan điểm nhân sinh của phái nữ. Khảo
sát các sáng tác của thơ nữ, ta sẽ thấy có sự thay đổi trong xu hƣớng sử dụng hệ
thống biểu tƣợng. Khảo sát qua các biểu tƣợng “đất”, “nƣớc”, “đêm” cùng các
biến thể của chúng, ta thấy chúng xuất hiện với một tần suất cao.
3.1.1 Biểu tượng Đất và các biến thể của Đất
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Đất đối lập với Trời một cách
tƣợng trƣng nhƣ là bản nguyên thụ động đối lập với bản nguyên chủ động, tính
nữ đối với tính nam, bóng tối đối với ánh sáng, âm đối với dƣơng… Trong ý
niệm phƣơng Đông và phƣơng Tây, đất đƣợc hình thành nhƣ là mẫu tính, mọi
con ngƣời sinh ra từ đất vì đất đƣợc xem là bà mẹ, là biểu tƣợng của sản sinh và
tái sinh, sự cho đi và nuôi dƣỡng. Quả đất tròn nhƣ bầu sữa mẹ, nhƣ chiếc nôi
đƣa nhân loại lớn khôn từng ngày. Tính đặc trƣng của đất là sự dịu dàng, chịu
phục tùng, tính kiên định yên tĩnh và tính bền bỉ, khiêm nhƣờng. Mẫu gốc chứa
đựng trong đó các biểu tƣợng phổ quát là mẹ, núi đồi, hang động, khu rừng, côn
trùng, cây cối, muông thú, cánh đồng, con đường, đồng cỏ, hang đá, hốc rêu,
97
vườn, … hay sự liên hệ trực tiếp với bàn tay, bàn chân…
Biểu tƣợng đất và các biến thể của đất chiếm tần số xuất hiện nhiều trong
thơ nữ Đông Nam Bộ. Không gian mặt đất gợi đến sự phong nhiêu của thân thể
ngƣời phụ nữ. Trong tâm thức dân tộc, Địa Mẫu (Mẹ Đất), là mẹ vĩ đại, chở
che, bao bọc, nuôi nấng và sinh sản. Cánh đồng là linh hồn của đất đai, là nơi
lƣu giữ những kí ức. Chính vì vậy, hình ảnh cánh đồng thƣờng xuất hiện trong
thơ của Khƣơng Hà, La Mai Thi Gia: “Em muốn cùng anh thức dậy giữa đồng
hoang” (Em muốn - La Mai Thi Gia), “Ấp bàn tay anh/ em thấy những cánh
đồng” (Bàn tay anh - Khƣơng Hà). Ở một biến thể khác, vườn vốn đƣợc xem
nhƣ thiên đƣờng trên mặt đất. “Vƣờn thƣờng hiện lên trong các giấc mơ nhƣ là
biểu hiện tốt lành của một ham muốn không gợn chút lo âu. Nó là địa điểm của
sự sinh trƣởng, của sự vun trồng các hiện tƣợng cốt tử và nội tâm… Đối với
ngƣời đàn ông, vƣờn thƣờng là hình ảnh bộ phận sinh dục của cơ thể đàn bà.
Nhƣng qua phúng dụ về thiên đƣờng nhỏ, các bài hát tôn giáo của những ngƣời
thần hiệp… mang nhiều ý nghĩa hơn là một tình yêu bình thƣờng và hiện thân
của nó, các bài hát ấy kiếm tìm và say sƣa ngợi ca cái điểm trung tâm sâu kín
nhất của linh hồn” (Jean Chevalier and Alain Gheerbran, 2002, tr.1007). Thơ
La Mai thi Gia nhắc đến vƣờn nhƣ một biểu tƣợng cho sự sinh sôi nảy nở
“Mảnh vườn xanh um nhờ no nê cơn khát” (Bà mãi còn trong giấc ngủ của
đêm).
Thế giới thơ nữ còn dùng khá nhiều biến thể côn trùng, muông thú, cây
cối: ve, giun, dế, thiêu thân, chim, ong, bƣớm, ngựa, con mèo, sâm cầm, chò
nâu, cây cải, cỏ, sen, lá, hoa, hoa hồng, trầu, lúa vàng, ngọn cỏ lau,… Đặc biệt
hình ảnh “sen”, “trầu” trong thơ Ngô Thị Hạnh lặp lại khá nhiều: “em lạy tạ sen
hồng sen trắng” (Tắm trắng cùng tánh), “Ta thắm môi nhờ màu trầu của mẹ”
(Nỗi nhớ nào vừa trỗi dậy đã bốc hơi). Trầu ở đây nhƣ một biểu tƣợng cho sự
sắt son, điểm tô thêm vẻ đẹp ngƣời con gái. Và sen là biểu tƣợng cho sự thanh
sạch, cao khiết.
Biểu tƣợng hoa, hoa hồng xuất hiền nhiều trong thơ của Tạ Anh Thƣ. Nói
về biểu tƣợng hoa “hiện ra nhƣ một khuôn mặt - hình mẫu gốc của tâm hồn, của
trung tâm tinh thần” (Jean Chevalier and Alain Gheerbran, 2002, tr.428). Biểu
tƣợng hoa hồng “Nổi bật bởi vẻ đẹp, hình dáng và hƣơng thơm, hoa hồng là hoa
98
biểu trƣng hay đƣợc dụng nhất ở phƣơng Tây (…) Ý nghĩa chung nhất của biểu
tƣợng hoa này là ý nghĩa về sự hiển lộ: sinh ra từ trong nƣớc nguyên thủy, bông
hoa vƣơn lên và nở trên mặt nƣớc” (Jean Chevalier and Alain Gheerbran,
2002, tr.428). Hãy lắng nghe những dòng thơ sau:
Vậy thì có sao đâu
Nếu anh gọi hoa hồng
Bằng cái tên nào khác
Chúng vẫn nở hoa và thơm ngát
(Cái tên - Tạ Anh Thƣ)
Mặc dùng hoa hồng chỉ là một cái tên nhƣng bản thân nó đã là một biểu
tƣợng đẹp, thu hút bởi hình dáng đặc biệt và hƣơng thơm nồng nàn. Nó biểu
trƣng cho vẻ đẹp kiêu sa, thơm ngát, hấp dẫn của ngƣời con gái.
Biểu tƣợng đất gắn với biến thể con đường. Con đường nhƣ là biểu tƣợng
cho cuộc hành trình để tìm đích đến cuối cùng của đời ngƣời, để đến với niềm
vui, chân lý… Hay con đƣờng còn là thể hiện cho chặng đƣờng phía trƣớc, là
đƣờng đời mỗi ngƣời:
Ồ, đừng lo xa
Này anh bạn trẻ
Nếu mà phải lo nhiều đến thế
Làm sao tôi lên đường
(Mục đồng - Tạ Anh Thƣ)
Biểu tƣợng đất gắn với biểu tƣợng mẹ. Biểu tƣợng mẹ gợi liên tƣởng tới
bàn tay biểu trƣng cho sự che chở, nâng đỡ, của ngƣời mẹ, biểu tƣợng này còn
mang ý nghĩa mới là khát khao tính dục, khát khao tình yêu “Ấp vào bản tay
anh/em hiểu được trái tim mình” (Bàn tay anh- Khƣơng Hà). Biểu tƣợng bàn
chân cũng có mối liên hệ với mẫu gốc Đất “Là cơ quan thực hiện chức năng đi
lại, chân là một biểu tƣợng của quan hệ xã hội…Bàn chân là chủ và chìa khóa
của các mối quan hệ đó… Chân cũng nhƣ dƣơng vật, là một biểu tƣợng của sự
sống: để chân trần có nghĩa là chứng tỏ sức mạnh và tính đàn ông của mình”
99
(Jean Chevalier and Alain Gheerbran, 2002, tr.155). Nhƣng trong thơ nữ
đƣơng đại, hình ảnh này còn gợi khát khao tính dục và vẻ đẹp ngƣời phụ nữ,
một vẻ đẹp có phần phồn thực “Chân trần, đùi trần lội vào con suối nhớ” (Vén
nỗi nhớ đầy tim - La Mai Thi Gia).
3.1.2 Biểu tượng Nước và các biến thể của Nước
Những ý nghĩa tƣợng trƣng của nƣớc thƣờng đƣợc quy về ba chủ đề
chiếm ƣu thế: nguồn sống, phƣơng tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh. Nƣớc là
vật chất khởi thủy. Nƣớc thuộc âm, đối lập với lửa. Nƣớc tƣơng ứng với cái
lạnh, màu đen. Nhƣng nƣớc cũng có một mối liên hệ khác với sét, tức là với lửa,
Việc quy thủy nhƣ vậy có thể coi là sự quay về với trạng thái phôi thai. Tuy
nhiên, có thể xem ý nghĩa của nƣớc trên hai bình diện hoàn toàn đối lập: nƣớc là
nguồn sống và là nguồn chết, có chức năng tạo dựng và tiêu hủy. Mẫu gốc
Nƣớc chứa trong nó các biểu tƣợng: biển, sông, ngòi, kênh, đầm, hồ, ao, suối,
mưa, sương, giếng, thuyền, bến bờ, nguồn mạch, màu trắng… Nƣớc có liên hệ
với biểu tƣợng sữa, nước mắt, máu, mặt trăng,… Nước, cũng nhƣ Đất, là bản
nguyên vũ trụ, là một trong bốn yếu tố vật chất khởi thủy: Đất, Nƣớc, Lửa,
Khí tạo nên sự sống loài ngƣời. Nhƣng khác với đất ở tính thô rắn, ổn định,
bền vững, nước tỏ ra mềm mại, tùy biến và luân chuyển (chạy dọc, uốn lƣợn,
bao quanh đất hay tràn xuống, luồn sâu, phân tỏa).
Nƣớc gợi sự liên tƣởng trực tiếp với biển. Bởi lẽ, “trong văn hóa biểu
tƣợng, biển là một biến thể tiêu biểu của nƣớc - không gian chứa nƣớc, nhƣng
đó là một biến thể riêng biệt vì đó là không gian đặc thù chứa nƣớc mặn, là
nơi đổ về của mọi nguồn nƣớc ngọt (sông) và là thế lực lớn nhất nằm ngoài
khả năng khám phá, chinh phục của con ngƣời” (Jean Chevalier and Alain
Gheerbran, 2002, tr.710). Trong thơ Vũ Thanh Hoa - ngƣời con vùng biển Bà
Rịa- Vũng Tàu, ta thấy yếu tố này đƣợc nhắc đến khá nhiều. Biển trong thơ
Vũ Thanh Hoa vừa là đối tƣợng sáng tác, vừa là đối tƣợng tâm tình. Đứng
trƣớc biển, nhà thơ cảm thấy mình bé nhỏ, còn biển thì quá lớn lao (Lời thể
trước biển). Biển mang nỗi buồn “nỗi nhớ khứ hồi chật ngực/ con tàu trôi về
Bãi trước” (Viết ở Bãi trước). Biển thể hiện khát khao tính dục và để thi nhân
phô bày vẻ đẹp thân thể“ướt/ cát mịn/ phập phồng/ trần ngực biển” (Giao
100
hưởng biển). Biển trong thơ Nồng Nàn Phố còn chuyên chở những giấc mộng,
khao khát “Hãy nhổ neo và ra với biển mộng mơ” (Ngày tái hợp - Nồng Nàn
Phố).
Ngoài ra, một dạng thức khác của nƣớc là mưa. Huyền thoại Hy Lạp
xem mƣa là “biểu tƣợng tính dục, coi mƣa là tinh dịch, và biểu tƣợng nông
nghiệp về cây cỏ cần có mƣa để phát triển, để hòa hợp rất mật thiết” (4,
tr.608). Điều này khá tƣơng thích trong thơ La Mai Thi Gia, khi nhắc đến biểu
tƣợng mƣa, đa phần là gắn với cơn khát tình yêu “Người đàn bà nhớ tình
nhân/ Ngửa mặt hóng những giọt mưa dịu mát” (Hoa cỏ cũng đòi xanh).
Trong thơ Nồng Nàn Phố, mƣa còn là thể hiện cho những khó khăn, bất trắc,
chông chênh, hoang hoải trên đƣờng đời “Như hạt mầm úng nước quên tiệt
bão mưa/ Tưởng hừng đông nghĩa là mầm xanh mọc lên tươi tốt (Rồi sẽ quen
thôi - Nồng Nàn Phố). Trong thơ Ngô Thị Hạnh, mƣa là tƣợng trƣng cho
những giọt lệ, cho những tổn thƣơng, “Em và những đổ vỡ của anh/ sao cứ
hoài như mưa và nước mắt” (Hẻm gầy - Ngô Thị Hạnh).
Nƣớc gắn với nước mắt. Nước mắt là thứ ngôn ngữ nói lên sự nhạy cảm
của ngƣời đàn bà “cái giọt sẽ tan đi, biến thành hơi, sau khi đã làm chứng: một
biểu tƣợng của nỗi đau và sự can thiệp giúp đỡ” (Jean Chevalier and Alain
Gheerbran, 2002, tr.717). Biểu tƣợng này có vẻ thống nhất trong thi ca trong
việc biểu đạt ý nghĩa. “Nằm mộng gì mà khóc nhiều đến những giọt nước
quánh khô rát mắt” (Nước mắt phù phiếm - Nguyệt Phạm), “Và khóc, những
giọt nước mắt rơi không ngượng ngùng” (Trống - Nguyệt Phạm).
3.1.3 Biểu tượng bóng Đêm và các biến thể của Đêm
Nếu ban ngày gắn với mặt trời thuộc hệ dƣơng, ngƣời đàn ông thì đêm gắn
với ngƣời đàn bà. Đêm tƣợng trƣng cho thời gian của sự thai nghén, nảy mầm,
của những mƣu đồ bí mật sẽ lộ ra giữa ban ngày thành những biểu hiện của sự
sống.
Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới đã chỉ ra màn đêm chính là mẹ của
Trời và Đất. Đêm sinh ra giấc ngủ và sự chết, là hình ảnh của cái vô thức và
chứa đựng tất cả những khả năng tiềm tàng của cuộc đời. Con ngƣời đi vào đêm
là trở về với cái chƣa xác định, trong đó đầy rẫy những ý nghĩ và tiến đến sự
101
thanh tẩy trí tuệ. Với đặc trƣng bí ẩn đó, đêm thƣờng xuất hiện trong văn học
tƣợng trƣng cho bản tính của ngƣời nữ và là không gian, thời gian cho những
khát khao bản năng ở ngƣời nữ đƣợc bộc lộ.
Đêm chứa đầy tất cả các khả năng tiềm tàng của cuộc đời. “Đi vào đêm
tức là trở về với cái chƣa xác định trong đó đầy rẫy những ác mộng và quái vật,
những ý nghĩ đen tối. Đêm là hình ảnh của cái vô thức, trong giấc ngủ đêm, vô
thức đƣợc giải phóng. Đêm cũng biểu thị tính hai mặt, mặt tăm tối, nơi đang lên
men mọi chuyển biến và mặt trù bị cho ban ngày, ở đó sẽ lóe ra ánh sáng của sự
sống” (Jean Chevalier and Alain Gheerbran, 2002, tr.298). Mẫu gốc Đêm gắn
với các biểu tƣợng: bóng tối, màu đen, giấc ngủ, giấc mơ, sự chết, thần số
mệnh… Đêm gợi đến biểu tƣợng chiếc giường, chăn chiếu, cái chết,…
Đêm gắn với giấc mơ của Nguyệt Phạm. Thi nhân thƣờng xuyên chìm
trong giấc mơ. Giấc mơ là biểu tƣợng cho những ẩn ức, khát khao thầm kín
nung nấu trong tâm trí lâu ngày, mà do ý thức cản trở, không thể phơi lộ ra bên
ngoài “em bội thực với giấc mơ nghèo nàn”, “em bực bội với giấc mơ hạnh
phúc” (em tin giấc mơ - Nguyệt Phạm).
Đêm còn gắn với đời sống hoan lạc của ngƣời phụ nữ qua biểu tƣợng
giƣờng và chăn, hay một ám ảnh, trăn trở, chất chứa những bí mật. Đêm và
bóng tối là khoảng thời gian, không gian con ngƣời quay trở về đối diện với
chính mình, cũng là khi con ngƣời đối mặt với nhiều suy tƣ, tâm trạng nhất.
Những kỉ niệm, nhung nhớ và khắc khoải luôn hiện về trong đêm một cách vô
thức “Trong bóng tối mắt tìm nhau sẽ mỏi/ Đêm suy tư luôn chứa những bất
ngờ” (Thiếu nữ - Tạ Anh Thƣ).
3.2 Ý thức phái tính và giọng điệu
Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, có vai trò
lớn trong việc tạo dựng bản sắc riêng của một cá nhân, một trƣờng phái, một
trào lƣu, một giai đoạn văn học. Giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ
ứng xử của tác giả trƣớc các hiện tƣợng đời sống, cũng nhƣ các vấn đề mà tác
giả đặt ra trong tác phẩm. Có thể thấy, giọng điệu cá nhân chịu sự ảnh hƣởng
của thời đạ và giọng điệu trong thơ nữ Đông Nam Bộ từ năm 2010 đến năm
2020 mang đặc trƣng của giới nữ, của cá nhân ngƣời phụ nữ đặt trong thời đại
102
mới. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, "Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện
trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách
cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính, suồng sã, ngợi ca hay châm biếm. Ngoài
ra, giọng điệu còn phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu
thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn
và tác dụng truyền cảm cho người đọc. Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà
văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong
hệ thống nhân vật" (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và cs., 1992, tr.112). Trong các
sáng tác của các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ, tôi nhận thấy nổi lên một số âm điệu
chủ đạo mang đặc trƣng cho giới nữ: giọng tha thiết, tâm tình; giọng hoài nghi,
cô đơn; giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ; giọng giễu nhại và giọng vô âm sắc.
3.2.1 Giọng tha thiết, tâm tình
Tha thiết, tâm tình vốn là giọng đặc trƣng của nữ giới, mang tính truyền
thống của ngƣời phụ nữ phƣơng Đông nói chung và phụ nữ Đông Nam Bộ nói
riêng. Ngƣời phụ nữ chất chứa tâm hồn nhạy cảm, dịu dàng, nên chất giọng của
họ cũng thấm đẫm màu sắc nữ tính nhƣ thế:
Mỗi sáng vừa thức giấc lại nhớ về anh
Nhớ vội nhớ vàng nhớ như ngày mai là quên tất cả
Những hổ thẹn đêm qua em giấu cả vào những bông
hoa sặc sỡ nổi loạn dưới drap giường
Nhìn vào khoảng không nào em cũng muốn nở bung
những nụ cười
Mắt vui và những hoan ca em không biết cất vào đâu.
(Yêu - Nguyệt Phạm)
Lời thơ nhƣ đang tự sự, nhà thơ thì đang tâm tình, kể về niềm hân hoan,
hạnh phúc sau những phút giây gần gũi. Thi sĩ trở về một cô gái bẽn lẽn, e ấp
giữa muôn trùng yêu dấu không biết giấu vào đâu.
Giọng điệu thơ chính là sự vận động nội tâm của thế giới tâm hồn. Giọng tự
103
nhiên, hồn nhiên sẽ tạo cảm giác bâng khuâng, nhẹ nhàng:
Mở vai em trần dưới tuyết
Thêm một lần
Nỗi nhớ gì đâu mà nhẹ nhàng
Đổ xuống dốc mùa đông
(...)
Chúng ta sẽ nhìn nhau mỉm cười
Và ngồi trong nâu trầm quen thuộc
Ngụm trà êm như một bản nhạc jazz
Bếp lửa, con mèo tam thể
Ánh sáng, sự im lặng
Lấp lánh
(Chúng mình đừng dậy nữa - Khƣơng Hà)
Một câu chuyện bình dị, đẹp xinh, vừa vặn làm tâm hồn dịu đi dƣới cái
nắng Sài Gòn đổ lửa. Đây là một trong những bài thơ mang tính trong sáng, ôn
hòa, hình ảnh thơ đơn giản, dễ hiểu, gợi cảm giác ấm áp và gây cho lòng ngƣời
đọc nhiều xao xuyến trong tập thơ Những rời và rạc của Khƣơng Hà. Ngƣời
đọc không phải vặn não xoắn óc trƣớc những con chữ chằng chịt khâu vá nhau.
Nhớ lại, cuối những năm 2005, khi Nguyệt Phạm, Khƣơng Hà xuất hiện
trên văn đàn, in chung tập Dự báo phi thời tiết, cái thời điểm hậu hiện đại
đang nở rộ ở Việt Nam, tập thơ đã nhận vô vàn chỉ trích, chê bai, ngƣời ta
xem đó là “lệch chuẩn”, “quái đản”, “khó hiểu”, là “thơ rác”, đi ngƣợc với
thuần phong mĩ tục, một sự thể hiện xốc nổi, lập dị, và tập thơ bị cấm xuất
bản sau đó. Đến mãi sau này, vào năm 2019, khi tôi đọc lại thơ Nguyệt Phạm,
Khƣơng Hà thông qua tập thơ Phơi riêng tư (Nguyệt Phạm) và Những rời và
rạc (Khƣơng Hà), tôi nhận thấy cái tôi bản thể của thi nhân đã có rất nhiều sự
thay đổi. Vẫn là một cái tôi cá tính, nhiều ngông ngạo nhƣng đã có độ đằm
sâu, tha thiết, trữ tình, dịu nhẹ đúng với thiên tính nữ. Một bên là tuổi trẻ bồng
bột, xốc nổi. Một bên là ngƣời đàn bà chín chắn sau nhiều tổn thƣơng. Thơ
104
phải chăng là một quá trình thi sĩ tự học hỏi và thay đổi chính mình.
Cái cách mà nhà thơ nữ trăn trở, chờ đợi trong tình yêu cũng rất nhẹ
nhàng, bồi hồi. Đó dƣờng nhƣ là sự băn khoăn muôn đời của ngƣời con gái, vừa
trầm lắng, đằm sâu, vừa thiết tha, nhỏ nhẻ:
Ngày đang phai trên môi em
Chàng hỡi sao chưa chịu tới
Tóc em gió cuốn rối bời
Công viên ngày tàn em đợi
(...)
Công viên một mình em đợi
Chàng ơi sao chưa chịu tới
Hay chàng đã chẳng còn thương?
(Ngày đang phai trên môi em - Tạ Anh Thƣ)
Lời bộc bạch chân thành của cô gái khi yêu đƣợc đong đầy qua những
uyển chuyển khéo léo của chữ nghĩa. Các vần thơ nhịp xoắn, quyến luyến,
chậm rãi đi sâu vào lòng ngƣời đọc. Tạ Anh Thƣ thôi miên chúng ta bằng
giọng thơ thật dịu, mềm mại, trong trẻo, lắng trong, nhiều dƣ vị. Âm hƣởng
tình yêu ngân lên, lan tỏa nhẹ nhàng. Tuy giọng điệu thỏ thẻ, nhẹ nhàng nhƣng
ẩn sâu trong đó là khối lƣợng tình cảm to lớn vô cùng.
Ngoài ra, ta còn bắt gặp những lời thỉnh cầu tình yêu vừa chân thành vừa
nữ tính (Tôi và người sinh nhau ra lần nữa - La Mai Thi Gia); những thắc mắc
không biết vì lẽ gì mà yêu nhau (Thế là mình yêu nhau - Nồng Nàn Phố); những
nỗi buồn man mác, bé bỏng (Ru - Tạ Anh Thƣ); những khoảnh khắc bên nhau là
bất tận:
đêm ngắn hơn sợi tóc em
trăng đẫm mắt hồ sóng sánh
nẻo nào về bất tận
khi em đi bên anh
105
(Bất tận - Vũ Thanh Hoa)
3.2.2. Giọng hoài nghi, cô đơn
Cô đơn đẻ ra nỗi buồn, nỗi buồn làm cho cô đơn chín nẫu.Chúng ta có
những ngày thật bận bịu với cuộc sống và có những ngày lặng lẽ nhìn bóng
mình trên tƣờng. Đó là khi chúng ta cảm thấy nỗi cô đơn đang xâm thực tâm
hồn. Nhà thơ Vũ Thanh Hoa cũng nhƣ thế... Một ngày, thi sĩ một mình làm thơ.
chẳng có ai chờ em bên cổng
cốc café cuối chiều lạnh
nhật ký điện thoại rỗng
ráo hoảnh hộp e-mail
nhằng nhịt ngõ âm dương
em vấp phải bóng mình sóng sượt
nhặt lên hàng tên vụn vỡ
thôi miên nụ cười
(Một mình (II) - Vũ Thanh Hoa)
Đến nụ cƣời cũng cần phải thôi miên thì hóa ra đó chẳng phải là một "nụ
cƣời công nghiệp", "nụ cƣời vô tri hay sao"? Khi cuộc sống hiện tại quá nhiều
những câu chuyện buồn và mọi ngƣời dần lạnh nhạt với nhau hơn thì “không có
ngƣời chia sẻ”, "ngại ngần chia sẻ" là một điều thƣờng thấy. Lƣớt qua một vòng
trên các trang mạng xã hội, tin tức, thị phi, chuyện buồn, lừa lọc đầy rẫy khắp
nơi, những mảnh số phận treo cao khiến thi nhân vô tình "đọc nỗi buồn ngƣời
khác". Nỗi buồn thấm thía làm lún sâu hơn "nỗi lo chết đuối tâm hồn":
Hàng ngàn người tru tréo
Réo gọi sự cảm thông
Vứt vào tôi những nỗi buồn,
Tôi biết vứt vào đâu những ngày sầu khó lòng thay đổi?
Tôi chưa biết cách xả
Chỉ chuyên nghiệp trong cách hằn học với chính mình.
Rồi nói cười, hình ảnh tươi roi rói.
106
(Cây cải héo - Nguyệt Phạm)
Cảm hứng nhìn vào sự thật, không né tránh sự thật đã khiến cho thơ nữ
mang âm điệu này. Đây cũng là trạng thái tâm lí của con ngƣời khi sống trong
một xã hội nhộn nhịp, nhiều biến động, khi các bậc thang giá trị liên tục thay
đổi. Họ vỡ lẽ ra nhiều thứ sau những xót xa, cay đắng, đổ vỡ, lầm tƣởng. Cơn
lốc đô thị hóa đang sản sinh ra nhiều đảo lộn:
Sáng dậy
không ai tập thể dục
không ai đọc kinh
không ai nói lời yêu thương cha mẹ
(Chết khi đang còn thở - Ngô Thị Hạnh)
Sự thay đổi bắt đầu từ cách ăn mặc (Ủa, sao vậy ta - Ngô Thị Hạnh),
phong vị tết xƣa cũng dần mất đi (Tết xưa với lá trầu già - Ngô Thị Hạnh).
Những gì mà con ngƣời nhìn thấy là tòa nhà cao ốc, khách sạn chọc trời,... Còn
thiên tai, lũ lụt, hạn hán, đói nghèo, cƣớp giật,... vẫn đang là vấn nạn. Con
ngƣời nhƣ chảy ra, nhão nhoét, dửng dƣng, vô cảm trƣớc thời đại. Sự mất niềm
tin vào thế giới dẫn đến việc thi nhân cảm thấy nghi hoặc nhiều thứ, thậm chí
ngay cả chính mình:
em lưu đày mình ra khỏi giấc mơ
làm kẻ khổ sai hiện tại
vẽ vệt khói trắng vào sóng
di cư nỗi buồn vô niên
(Lưu đày một giấc mơ - Vũ Thanh Hoa)
Khi nhà thơ chìm vào giấc mơ, đó là lúc các nhà thơ đã thoát ly khỏi hiện
thực để bay bổng sang thế giới vô thức. Phân tâm học đã bƣớc đầu giải mã
những giấc mơ bắt nguồn từ sự ám ảnh bất an, những ẩn ức, khao khát mong
muốn điều đó trở thành sự thật. Giấc mơ chính là sự ngụy trang hay cũng là giải
tỏa cho điều ấy. Còn nhớ Hoàng Cầm ngày trƣớc choàng dậy, bừng tỉnh trong
cơn mơ để làm bài thơ Lá diêu bông gây nhiều xao xuyến. Đối với thi sĩ, giấc
mơ là xúc tác, thăng hoa trong sáng tạo.
107
Trong bài thơ Những rời và rạc, điệp khúc "anh ở đâu, làm gì, với ai?"
vang lên nhƣ một nỗi ám ảnh kéo dài. Đằng sau câu hỏi tu từ mang ý tứ nhƣ một
lời trách móc, là những đớn đau tự xé, là những giây phút tƣởng chừng nhƣ đã
nắm chặt nhau nhƣng chẳng ý nghĩa gì, là cơn giận dữ cuồng phong, những câu
chuyện tự trào ngớ ngẩn. Khi hàng chữ bắt đầu chảy ra trên trang sách tồi tàn,
nữ thi sĩ nghĩ về đời ngƣời, về những ấu trĩ đƣợc khoe khoang, về gƣơng mặt
ngƣời yêu sau một đêm chung chăn bỗng biến thành quỷ dữ:
khi em nhắm mắt để không phải thấy
khuôn mặt người tình sau một đêm
biến thành quỷ dữ
anh ở đâu, làm gì, với ai?
(...)
quên nỗi buồn đi
và bay vào trong em bằng cơn yêu đời
sau cuối
những lọn sóng sẽ vẽ lên con hải âu
lạc bầy
bức tranh của đến và đi
cô đơn và tận diệt
(Những rời và rạc - Khƣơng Hà)
Hoài nghi vẫn thƣờng đi với cô đơn. Vì khi những hoài nghi, ẩn ức, thắc
mắc không thể lí giải, họ chỉ còn cách chọn cô đơn để không phải thất vọng, đau
lòng. Nói thơ là tiếng lòng không sai. Nội tâm phức tạp của ngƣời phụ nữ xƣa
nay vẫn là dấu chấm hỏi bí ẩn không sao hiểu thấu. Nỗi buồn, nỗi khổ đau thấm
nhuần trong từng tế bào sinh học và trong ý thức nghệ thuật của các nhà thơ nữ.
Vẫn là ngƣời phụ nữ nồng nàn khi yêu, và cũng chính ngƣời phụ nữ ấy dằn vặt,
hoài nghi trong tình yêu. Nỗi thất vọng của đàn bà không phải từ điều gì lớn lao
mà ở những mong manh, thiếu tin tƣởng:
Người có chắc tim người đủ rộng
108
Để từ nay khoác hành lý lên đường
Người có chắc tim người đủ ấm
Để sẵn lòng mà mang vết thương?
(Người có sẵn lòng mang vết thương - Tạ Anh Thƣ)
Điệp khúc "Người có sẵn lòng mang vết thương" xuất hiện trong mỗi
khổ thơ thể hiện một cái tôi hoài nghi và nhiều cô đơn. Có lẽ cái tôi này đã
từng bị tổn thƣơng nên khi đứng trƣớc tình yêu, nàng không còn đủ dũng khí.
Trƣớc khi khoác hành lý bƣớc vào một tình yêu mới, nàng phải chắc chắn
rằng đối phƣơng yêu mình thật nhiều. Vì chỉ có lòng yêu, con ngƣời mới chấp
nhận chịu thiệt, chấp nhận bao dung, chấp nhận đồng hành, chở che và trân
quý. Dù có mạnh mẽ đến đâu thì họ vẫn mong có một tâm hồn đồng điệu của
ngƣời đàn ông để chia sẻ, hòa hợp. Sự hoài nghi trong tình yêu ở một khía cạnh
nào đó là niềm khao khát đƣợc hòa hợp bản thể nam- nữ.
Ngƣời con gái băn khoăn không biết vì sao nào là dành cho mình, tình
yêu nào mới là đúng đắn trong một xã hội nhiều giả dối và tình yêu đôi khi là
một trò hề:
Nhiều lo âu quá em không thấy anh đâu
Nhiều ngôi sao quá, chẳng tìm ra Bắc Đẩu
(...)
Vì nhiều ngôi sao quá, biết đâu là sao thật
(Không tìm thấy - Liêu Hà Trinh)
Vì hoài nghi nên thấy cô đơn, vì cô đơn nên càng bất an trong cuộc sống.
Cảm giác bất an khiến thi nhân muốn tìm một thứ "bảo hiểm" đề phòng may
rủi. Xuất phát từ những mâu thuẫn giữa hoài vọng và hoài nghi vào sự tồn tại
của tình yêu bền vững, những nỗi lo âu, băn khoăn, nghi hoặc trong tình yêu
thơ nữ hôm nay đã bao hàm trong nó sự đa cảm, đa đoan, của trực giác đàn
bà. Chán chơi trò đánh cƣợc niềm tin, cũng không chơi xổ số tình ái, thi sĩ chọn
bảo hiểm bản thân mình bằng những giả vờ:
Bảo hiểm niềm tin bằng bàn tay yếu ớt
Nương tựa, yêu thương, mắt giấu nỗi buồn
109
Bảo hiểm đời mình bằng những lung lay bất trắc
Giả vờ yêu.
Vờ tin tưởng.
Bảo hiểm tình yêu bằng những lời cay đắng
Đổ vào chiều ngược sóng yêu thương.
(Bảo hiểm - Nguyệt Phạm)
Rối tâm tƣ, rỗng tâm sự, rơi tự do, buồn kí tự. Có thể thấy, các nhà thơ
nữ Đông Nam Bộ của chúng ta đôi khi vì hoài nghi thế giới, hoài nghi bản thân
mà trong hành trình đi tìm bản thể, đi tìm bản sắc giới chƣa bao giờ có câu trả
lời trọn vẹn. Họ tiến hành cuộc giải phẫu ý thức để tìm lấy căn bệnh trong tiềm
thức của họ. Thái độ hoài nghi về chính mình của ngƣời phụ nữ cũng mang nét
khu biệt do đặc trƣng giới. Họ cảm thấy thiếu hụt tình cảm. Tƣ thế "một mình"
trong thơ nữ vì vậy thƣờng gắn với cảm thức cô đơn và nỗi buồn:
Tôi rơi xuống và đau đau đau
sự huyễn hoặc bản thân bắt đầu kết thúc
nỗi đau nát tan cát bỏng bàn chân
ý nghĩ vượt ngục vượt tường vượt thác
tôi không còn là tôi
chấp nhận giải phẫu ý thức
(Đối diện- Ngô Thị Hạnh)
Hoài nghi là một đặc điểm của con ngƣời hậu hiện đại. Cô đơn là biểu hiện
cảm thức về nỗi buồn, sự trống vắng tình cảm. Giọng hoài nghi đôi lúc pha lẫn
bi đát mang cảm thức của những cá thể cô đơn. Hết tin vào những đại tự sự,
cũng không còn tin vào những lớp mặt nạ của chính con ngƣời. Họ hoài nghi về
tất cả, hoài nghi để chủ động hơn, bản lĩnh hơn và mạnh mẽ hơn. Mặt khác hoài
nghi, cô đơn còn là bi kịch của sự nhận thức và ý thức phản tỉnh khi con ngƣời
trở nên mất niềm tin với thế giới và chính mình. Có thể thấy, nỗi hoài nghi, cô
đơn của các nhà thơ nữ đƣơng đại không hƣớng nhiều về cá thể mà nghiêng về
phía bản thể, không phải là thiếu sự sẻ chia mà là không thể sẻ chia. Nó là
110
những băn khoăn, thao thức in hằn vĩnh viễn xuất phát từ chiều sâu tâm lý nữ.
3.2.3 Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ
Sự nồng nhiệt, mạnh mẽ trong giọng điệu chính là biểu hiện cho cái tôi cá
nhân đang ở cung bậc cao của cảm xúc, một ý thức phái tính nồng nã, nhiệt tình,
mạnh mẽ nhƣ có lửa trong thơ. Thi sĩ nồng nhiệt khi yêu, khi nhớ, khi say. Đó là
nỗi nhớ khát cháy, thèm một cơn mƣa tình yêu tƣới mát, lồng ngực nhƣ muốn
nổ tung giữa hàng triệu tia nắng khô cằn:
Về đi, mưa
Ta bội thực nỗi nhớ
Mặt trời xoay nghìn điệu valse
Nắng đè nhau tức thở
(Mùa khô - Khƣơng Hà)
Viết về nhịp đập của con tim thì tiếng của La Mai Thi Gia chƣa bao giờ
hết khao khát. Nhà thơ không chỉ dùng tên của mình đặt tiêu đề cho tập thơ Gia
ơi, Đời xanh đấy! mà còn rất khảng khái, mãnh liệt trong việc diễn đạt tiếng
lòng mình. Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ đó chính là biểu hiện cho nhu cầu bình
đẳng về phát ngôn của ngƣời phụ nữ trong việc giãi bày tình cảm cá nhân riêng
tƣ, và thể hiện sắc màu phái tính rất nồng nã, táo bạo:
Ai đã chuốc vào em nỗi nhớ say mềm
Khao khát lên men nồng cay
Tình ơi tình mang cho em ngất ngây
Như nụ hôn anh ùa vào nơi thăm thẳm
Ngày đã cạn ngày
Em đã cạn anh
(Tình ơi em đắm tim mình - La Mai Thi Gia)
Cùng là một con ngƣời ấy, nhƣng khi yêu, giọng điệu vang lên đầy rạo
rực, khi "tình yêu hết đát" (La Mai Thi Gia), ta cũng cần sớm nhận ra để "về
thang thuốc trái tim ta":
111
Ai bảo đàn bà như đá núi
Giữa mênh mông chết lặng đợi chờ
Ai bảo đàn ông như tuấn mã
Sải vó tung hoành cho hết những rừng mơ?
(Tình yêu hết đát - La Mai Thi Gia)
Nếu những lời thơ nhỏ nhẹ, dịu dàng vang lên, thể hiện cái tôi nữ tính có
phần thùy mị, thì sự nồng nhiệt, mạnh mẽ này là thể hiện cho cái tôi cá tính của
phụ nữ thời hiện đại. Họ dám sống, dám yêu, dám đấu tranh, dám bày tỏ và
khẳng định bản ngã mình:
em khóc ai hay
em ngửa mặt cười
em trèo lên cây
em lao ra biển
em lặn ngụp đầm phá
em bay qua truông ngàn
em nhảy múa hiên ngang
em điên nhức nhối
phải không anh
em là bóng tối
phủ lên đêm một giấc phi thường!
(Em điên nhức nhối - Khƣơng Hà)
Đọc những câu thơ của Khƣơng Hà, tôi cảm giác nhƣ đang ngồi trên một
tấm ván ép cảm xúc, tinh thần tôi bị đè nén chỉ chực bung phá ra mà thôi. Tiếc
thay, những nỗi buồn kín đáo, sự cô đơn, bơ vơ, lạc lõng, ngang tàng, ngông
nghênh, bất cần đó không phải là lớp sóng đại dƣơng. Nó là những cơn bão
ngầm, đang xoáy xoắn, làm vòi rồng trong tâm trí. Sự cuồng nhiệt tột đỉnh rồi
lạnh lùng quay đi ấy chính là khẩu khí của Khƣơng Hà, là tinh thần của một
ngƣời đàn bà bọc quả tim bằng sắt. Ngƣời đàn bà đó muốn đƣợc yêu nhƣng
không thích cầu xin, muốn làm thân nhƣng không ƣa cầu cạnh, muốn vẫy vùng
112
để xáo trộn hiện tại đơn điệu. “Thơ của Khƣơng Hà nổi bật với chuỗi hình ảnh
đặc sắc, lồng trong tâm cảm đầy bất an với những khát vọng rực rỡ xen lẫn u
ám, đầy sức quyến dụ” (80).
Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ vang trên khi nữ thi sĩ đứng trƣớc vị thần tình
yêu, vang lên trong hành trình thấu tri chính mình, vang lên giữa ngang trái và
cô độc. Dù buồn hay vui thì những nhà thơ nữ cá tính vẫn chọn cách thể hiện rất
rộn ràng, náo nức, sự xuất hiện của họ phải là ánh mặt trời đốt cháy thinh
không, chứ không chịu buồn le lói suốt trăm năm:
Trong một đêm quặt què im lặng
Tôi muốn ném sự đơn độc của mình đi đâu đó
Gởi chúng đi theo từng chuyển động của cơn gió
(Âm thanh chợ đêm - Nguyệt Phạm)
Giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ, bạo liệt, đam mê, cuốn hút nhau đậm chất sex
qua các bài Đêm vĩnh hằng, Ru xa, Duyên nợ, Nhất dạ tình, Tắm, Du mục...
trong thơ Vũ Thanh Hoa. Hãy lắng nghe những câu thơ sau trong bài Tắm:
Nước dâng tới đỉnh khát thèm
cuốn vào đắm đuối một phen tận đời
và
chẳng cần biết sẽ về đâu
cứ vui như thể hôm sau tử hình
Nhà thơ để "tình bay trên sóng", để "nƣớc dâng tới đỉnh khát thèm". Một
sự dữ dội, nồng nhiệt, bạo liệt vô cùng. Chẳng trách cả tập thơ Lục bát phố
gồm 46 bài, bài nào cũng là một suối thơ tình dào dạt, khắc khoải, chảy luênh
loang, cuốn hút và mạnh dạn cách tân thể thơ truyền thống. Cả Vũ Thanh Hoa
và La Mai Thi Gia đều yêu thích thể thơ lục bát dân tộc. Nếu Vũ Thanh Hoa
đƣợc xem là ngƣời làm mới thơ lục bát thì La Mai Thi Gia là ngƣời thổi hồn
dân gian vào thơ hiện đại.
Trong cuộc sống ngày nay, sự mạnh mẽ, nồng nhiệt của ngƣời phụ nữ
giúp cho họ thành công, vƣợt qua thất bại và kiến tạo giá trị riêng. Còn trong
113
thơ, sự nồng nhiệt, mạnh mẽ lại khiến cho tiếng thơ họ khó nhầm lẫn, phái
tính nữ hiện lên nóng bỏng nhƣ cách họ cảm nhận về sự sống, sự vật, cuộc
đời.
3.2.4 Giọng giễu nhại
Giễu nhại là giọng điệu “thể hiện cách tiếp cận và quan điểm đánh giá
những vấn đề của đời sống ở một phía khác, một góc độ khác so với tiền lệ.
Kiểu giọng này đƣợc tạo nên bởi sự phóng đại, hài hƣớc, sự nhại lời, cách nói
ngƣợc, nói lái, xuyên tạc... trị đều có thể trở thành đối tƣợng của sự giễu nhại
trong thơ: tình yêu, gu thẩm mĩ, sự lãng mạn, thực dụng, sự đánh mất cá tính, sự
“nổi loạn” nửa vời, đạo đức truyền thống, nghệ thuật thơ truyền thống, sự triết lí
trong thơ...” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và cs.,1992, tr.145). Tinh thần giễu nhại
thể hiện qua cái nhìn về những tiêu cực, xấu xa, ung nhọt trong cuộc sống. Hãy
lắng nghe tiếng thơ của Nguyệt Phạm. Nhà thơ giễu nhại tình yêu, khi không có
em, anh yêu "những ngƣời đàn bà tóc xoăn, xinh đẹp, giàu mộng mơ và dễ
bảo", vắng em "Anh ôm những cơ thể đầy dặn, thiếu cảm xúc - giỏi giả vờ/ Và
tự thỏa mãn" (Cõi khác). Nhà thơ nữ kể về thời đại của những cuộc tình chóng
vánh, những gƣơng mặt tìm quen trên giƣờng lạ (Mốt). Đó chính là hiện thực
của những cuộc tình không có ái tình, chỉ đơn thuần là truy hoan hƣởng lạc,
thỏa mãn xác thịt.
Bản thể nữ xuất hiện với sự cảm nhận cuộc sống dƣới nhiều mặt trái. Nhà
thơ giễu nhại đời sống, thói thọc mạch của những ngƣời đàn bà buôn dƣa lê,
bán chợ trời. Họ nông cạn, thƣờng bàn ra tán vào chuyện ngƣời khác, nào là
"con ông nọ bà kia/ vừa đi nƣớc ngoài/ vừa ra đại học", nào là những câu
chuyện "lợi danh", "bán mua thân xác", những ngƣời đàn bà chuyên đá thúng
đụng nia, mặt xƣng mày xỉa hay vênh váo:
(...)
Những người đàn bà nông cạn
Nói về nỗi nhục của mình quá đỗi tự nhiên
Những người đàn bà mù quáng
Tự hào khoe mấy đồng bạc cắc lẻng kẻng trong quần.
114
(Nông cạn - Nguyệt Phạm)
Nhà thơ giễu nhại đám đông thƣờng hay xu nịnh, thƣờng hay để ý ngƣời
khác rồi khen chê, họ tỏ ra sành sõi, tinh ranh, nhƣng ngờ đâu, ngƣời bị lừa, lại
chính là mình:
Khi tôi bước ra
Có người khen tôi đẹp
Khi tôi bước ra
Có người xì xào rằng con nhỏ rất hiền
Khi tôi bước ra
Có cô gái cười khẩy và bảo "Mặt chó nhạt nhẽo"
Lúc tôi bƣớc ra, một cái tôi ngạo nghễ, nhiều bí mật. Đám đông bủa vây,
xôn xao, chỉ trỏ, bàn tán, để xem dƣới lớp áo kia. Bộ dạng "tôi" nhƣ thế nào:
- Là máu, là bài ca hoan hỉ lụy phiền, là thơ và cả những bí mật của tôi
- Nếu thánh thiện sao còn nhiều bí mật?
- Các người thích thánh thiện – không phải tôi!
- Các người thích bí mật – Và nó là của tôi.
(Đám đông tò mò - Nguyệt Phạm)
Và rồi thì, "bí mật chỉ là một trò tôi chiêu dụ". Cảm hứng đối thoại là âm
hƣởng chủ đạo của những bài thơ thuộc thể loại này. Cái giễu nhại không khƣớc
từ sự lật tẩy, xóa bỏ chính mình. "Khai trừ" không chỉ là tên bài thơ mà nó còn
là thái độ "cắt cổ những ngày nắng- khô- khản- giọng". Thơ Nguyệt Phạm
thƣờng xuyên là nhƣ thế, vẫn hay là nhƣ thế, sự ý thức bản ngã trong thơ tác giả
rất mạnh mẽ, nhiều khi tôi tƣởng mình là kẻ thị phạm cùng với tác giả trong đó.
Thơ nói về những xung khắc của bản thân với cuộc sống hỗn tạp, dơ bẩn, hôi
hám bằng trạng thái những cơn buồn nôn "Em chói gắt với lòng tham bất chợt/
Chậm rãi buồn nôn với mớ yêu đương tưởng nhớ vẫn lưu giữ ngày nào" (Nuôi
dưỡng - Nguyệt Phạm).
Dù nhìn từ góc cạnh nào thì giễu nhại cũng có hai đặc điểm chính : nhại và
115
giễu, tức bắt chƣớc và châm biếm. Trƣớc đây, tiếng vỗ tay thƣờng dùng để
khích lệ. Nhƣng bây giờ, thi sĩ bằng giọng giễu nhại đã đệm lại rất nhiều lần
tiếng vỗ tay trong bài thơ, lời thơ mang hơi hƣớng tự trào. Có ai vỗ tay cho
những “tên hề dở hơi”, “cho khóc khóc cƣời cƣời điên khùng” và “sân khấu
không ngƣời” bao giờ đâu ? Vở bi hài kịch do tác giả đặt ra. Một vở kịch diễn
giữa đời thƣờng, diễn trong tâm tƣ, cho muôn loài nhìn ngó để chê trách
những kiểu ngƣời giả tạo, sống theo số đông mà đôi khi chẳng biết mình đang
làm gì... hay đó còn có thể là một trò kệch cỡm của lũ ngƣời không ra gì, hay
vênh váo. (Bất tử - Khƣơng Hà).
Khƣơng Hà thì mƣợn "bánh mì Sài Gòn" - một thƣơng hiệu bánh mì khá
quen thuộc với mọi tầng lớp lao động nơi thành thị để giễu nhại chính cuộc
sống hằng ngày. Bánh mì Sài Gòn có mặt khắp những nẻo đƣờng, hôm nay,
bánh mì đi mua sắm và chứng kiến nhiều món hàng tai quái:
Siêu thị Hà Nội bán đầy những món hàng lạ mắt
Từ Lạnh Lẽo đến Giai
thậm chí của Tai
lẫn Tiếng
(Bánh mì Sài Gòn - Khƣơng Hà)
Không chỉ giễu nhại thế giới, giễu nhại những kệch cỡm, thối tha, những
sự thật tróc vảy, những tồi tệ, hèn hạ, ích kỉ, ti tiện, tham lam,... của một con
ngƣời. Nhà thơ còn tự giễu nhại mình. Nhà văn Nguyên Ngọc nói: "Một xã hội,
một nền văn học biết trào lộng, tự trào lộng, tự cƣời và chế giễu chính mình là
một nền văn học mạnh". Vậy nên, trong thơ Nguyệt Phạm, ta thấy đôi khi lời
thơ là một cuộc tự phê bình dƣới hình thức giễu nhại. Nguyệt Phạm cảm nhận
về mình không phải lúc nào cũng thánh thiện nhƣ thiên sứ. Bởi vì đôi khi phần
"con" vẫn tồn tại và khỏa lấp phần "ngƣời". Ngƣời đàn bà viết nhật ký với
những lời sám hối, và cũng viết cho ngƣời yêu với những câu chữ "giả tạo", "đủ
đầy và náo nhiệt" (Nốt ruồi nhận diện - Nguyệt Phạm). Ngƣời đàn bà thở hắt,
cƣời tƣơi, "giấu mình sau những cái cƣời hết cỡ/ yêu thƣơng và tha thiết giả vờ"
(Ẩn mình - Nguyệt Phạm).
Đây là thời điểm mà mọi mĩ học thơ cũ dƣờng nhƣ bị cắt đứt hoặc
116
không đƣợc ƣa chuộng nữa. Các nhà thơ có thể sử dụng một vài thủ pháp
truyền thống nhƣng thể nghiệm bằng một con mắt khác, cảm thức khác.
Trong khi các nhà thơ cổ truyền say mê lựa chữ, chọn những hình ảnh đẹp
đầy thi tính thì các nhà thơ mới sử dụng các từ ngữ thông thƣờng, đôi khi có
phần “chợ búa”, “đƣờng phố”. Đôi khi, chúng ta cần bỏ bớt những luyến láy
của ngôn từ để thấy đƣợc âm vang tự thân của một từ.
Giọng giễu nhại ta thấy nhiều trong thơ Khƣơng Hà, Nguyệt Phạm. Đây
là hai tiếng thơ nữ không ngại ngần thể hiện quan điểm, cách nhìn đối với xã
hội. Sự giễu nhại có khi đằm thắm, có lúc hài hƣớc, có lúc cƣời trƣớc thấm
Giễu nhại chính là một biểu hiện của hoài nghi và nhu cầu phẩn biện hiện
sau.
thực. Bằng tiếng nói phê phán, nhà thơ nữ đã chứng tỏ đƣợc bản lĩnh, tài năng,
sự quan sát nhanh nhạy của bản thân. Các nhà thơ nữ đã "giải trung tâm" nam
quyền, tự do phát ngôn, tự tin lời nói.
3.2.5 Giọng vô âm sắc
Giọng vô âm sắc hay còn có tên gọi khác là giọng khách quan/ tẩy giọng/
xóa giọng. Nhà thơ lúc này sẽ tiết chế cảm xúc, không nhận xét, diễn giải,
không can thiệp vào sự việc khách quan đƣợc miêu tả, không định hƣớng cảm
nhận. Các câu thơ, bài thơ “kể lại” sự việc theo đúng nghĩa với giọng điệu trung
tính. Nhà thơ giấu mình đi, để ngƣời đọc tự phán xét, mặc các sự kiện tự vang
lên ý nghĩa của chúng. Vì vậy trong tác phẩm khó có thể tìm thấy sắc thái tình
cảm, thái độ của cái tôi trữ tình, nói cách khác, đó là một thái độ trên cả sự lãnh
đạm.
Kiểu giọng này thƣờng đƣợc tạo nên bởi sự xóa mờ hóa các tính từ, thán
từ, chủ thể trữ tình bị mờ hóa; giản lƣợc các quan hệ từ, phép so sánh. Lời thơ
giàu chất tự sự, nhiều miêu tả, liệt kê:
Không hiểu tại sao thời khắc này, thời khắc của 4h30’ sáng và chuông, con
gà trống sinh ra cùng mặt trời vươn cổ gáy. Triệt tiêu logic. Triệt tiêu khái
niệm. Triệt tiêu cả triệt tiêu...
Không hiểu tại sao lại lao vào tuyệt lộ, đứng hoang mang giữa đất giữa
117
trời. Quân cờ domino thình lình sập xuống. Và con đường hiện ra, bốc lửa.
Ngửa bài!
(Tháng tư - Khƣơng Hà)
Trong đoạn thơ này, hàng loạt hiện tƣợng đƣợc miêu tả liên tiếp. Thi sĩ lƣợc
bỏ các “thông tin cá nhân” của bài thơ cùng với sự kéo dài câu văn xuôi đã cụ
thể hóa đời sống vô thức của con ngƣời. Trong khoảng tối nhập nhằng giữa có
lý và vô lý là khoảng mờ vô thức. Thơ Khƣơng Hà có độ nén và bung về cảm
xúc, nhiều khi đọc thơ, ta thấy sự chới với, mất kiểm soát của thi nhân. Thế
nhƣng, cũng có khi nhà thơ sáng tác bằng sự tỉnh táo, bình tĩnh. Thi nhân không
bình luận, chỉ đóng vai ngƣời quan sát và miêu tả, hoàn toàn dửng dƣng trƣớc
hiện thực.
Những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ Nguyễn Thúy Hằng không để lộ giọng
chủ âm của thơ mà chỉ đơn thuần là giọng văn trần thuật ở mức độ trung tính:
như hôm tuần rồi tớ đi dự lễ cho người thân trong gia đình, thấy điên hết
cả ruột. tớ thấy xong lễ thì cả bọn xúm vào ăn những món chay có tên thật
trần tục: bún bò huế, bì cuốn chay, thịt heo chay ... để làm gì?
lúc đó tớ thấy chán lắm, bèn ra ngồi dưới một gốc cây già, một mình, tớ
nhìn vỏ cây xù xì, nhìn rễ lan tràn trên mặt đất rồi tớ bỗng thấy tớ sẽ
không bao giờ giao phó linh hồn bố mẹ tớ sau này cho bất cứ thầy tu nào
ở khu này
((những từ)- một sự hình dung của hai đứa trẻ - Nguyễn Thúy Hằng)
Trong lời tựa tập thơ này, thi sĩ đã ghi rằng: “… là vì buồn phiền, tôi đã
biến đời mình thành một câu chuyện hư cấu”. Trong các bài thơ, Nguyễn Thúy
Hằng vẫn thƣờng xƣng Tôi, nhƣng phần lớn nó không phải là cái tôi trữ tình mà
là cái tôi kể chuyện. Nhà thơ để cái tôi chìm vào thế giới hình ảnh, vật thể.
Những cái đƣợc sắp đặt tƣởng chừng phi lí. Có lẽ, nhà thơ là ngƣời nghệ sĩ thích
lặn vào cảm xúc mình, tự vui với bản năng mình, mà không cần thiết lắm những
đƣờng dây nối với con ngƣời bên ngoài. Ở những câu thơ trên, nhà thơ nói về
118
vấn đề mê tín dị đoan, những nghi lễ tụng kinh niệm phật, ăn chay mà chẳng
hiểu ý nghĩa là là gì. Cũng cần nói thêm, có một số trƣờng hợp không phải khi
nào thi sĩ trƣng bày cái tôi trong thơ thì nó cũng trở thành cái tôi trữ tình bởi lẽ
một số trƣờng hợp cái tôi hiện diện một cách phi lý tính khiến ngƣời đọc không
thể hiểu đƣợc những ý nghĩa biểu đạt của cái tôi ở đó. Bằng những câu thơ trên
nhà thơ nhƣ kéo ngƣời đọc vào trò chơi ú tim tìm cái tôi trong thơ. Dƣơng
Tƣờng nói về Hằng: “Ai đó có thể gọi Nguyễn Thúy Hằng là nghệ sĩ hậu hiện
đại. Tôi chẳng có lý do để nói ngƣợc lại. Song, mặt khác, tôi ƣng nhìn tác
phẩm của cô nhƣ một giá trị khu biệt, thách thức mọi cố gắng định loại, bởi
ngệ thuật của Thúy Hằng, với những yếu tố thơ-nhạc-họa hòa quyện kết dính
đến mức không thể tìm ra mối hàn, là duy nhất trong loại của nó. Tôi nghiệm
thấy những tập sách của Thúy Hằng, đặc biệt là HỌ – BỘT HƢ ẢO, có thể
đọc rất tùy tiện bất kỳ đoạn nào – nhảy cóc, đảo ngƣơc từ phần cuối trở lên…,
– không theo trật tự do tác giả sắp xếp trong mục lục” (Dƣơng Tƣờng, 2012).
Những liên tƣởng của Hằng trong các tập thơ đọc lƣớt qua có vẻ rối rắm, cảnh
vật, sự vật loạn xạ, tuỳ tiện, nhƣng tất cả đều tuân thủ logic của một thực tại
nghệ thuật theo kiểu tranh Dali.
Giọng vô âm sắc sẽ có dáng dấp của thơ điệu nói hơn điệu ngâm. Nhà thơ
không bình luận điều gì, để ngƣời đọc tự cảm nhận. Tạ Anh Thƣ thu hút ngƣời
đọc bởi cách kể chuyện bằng thơ rất hay. Trong những bài thơ ấy, thi sĩ nhƣ một
ngƣời khách lặng lẽ quan sát sự việc:
Sân ga hoàng hôn
Người thiếu phụ lặng lẽ buồn
Chiếc khăn san che mặt
Tôi đã thấy dòng nước mắt
Lăn trên gò má kiêu kì
Nàng vừa tiễn ai đó ra đi
(Sân ga hoàng hôn - Tạ Anh Thƣ)
Có thể thấy, thơ nữ Đông Nam Bộ đang bƣớc những bƣớc đi rất khác. Đó
119
là nhu cầu của bản thể với việc tìm mới trong cách thể hiện. Nhà thơ muốn lột
xác câu chữ, thoát khỏi những đơn điệu thƣờng ngày. Họ tự do trong cảm xúc,
trong cách thể hiện. Họ tìm đến những hình thức nghệ thuật mới mẻ. Đôi khi là
những câu chuyện đời thƣờng, nhƣng khi đƣợc sàng lọc qua trƣờng nhìn nữ
giới, màu sắc phải tính sẽ dần hiển lộ, trở thành một khía cạnh để tạo dựng bản
sắc nữ trong lối viết. Đó là những hợp âm đa thanh trong thời đại 2010-2020,
tiếng thơ thể hiện sự ý thức sâu sắc về bản thân, về phái giới.
3.3 Ý thức phái tính và ngôn ngữ
Goorki khẳng định: “Ngôn từ văn học là ngôn từ của tác phẩm văn học,
của thế giới nghệ thuật, là kết quả sáng tạo của nhà văn. Đó là ngôn ngữ giàu
tính hình tƣợng và giàu sức biểu hiện nhất, đƣợc tổ chức một cách đặc biệt để
phản ánh đời sống, thể hiện tƣ tƣởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ đến ngƣời
đọc” (Nguyễn Thị Hƣởng, 2016, tr.160). Từ ngôn từ muốn trở thành ngôn từ
nghệ thuật phải cần đến sự tác động của tác giả qua cá tính sáng tạo của ngƣời
viết. Nghiên cứu về phái tính cũng cho thấy ngôn ngữ phản ánh định kiến giới,
bản sắc giới trong xã hội.
Thơ nhƣ một đám mây vừa trôi vừa đổi dạng, không bao giờ định hình dù
có khối hình riêng biệt. Các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ thì lại luôn muốn làm
mới chính mình, làm mới câu từ, cách thể hiện. Họ muốn khám phá sáng tạo,
tạo ra những ma trận thách đố ngƣời đọc. Thế nhƣng, dù diễn đạt nhƣ thế nào.
Thơ cũ hay mới, cổ điển hay hiện đại, truyền thống hay phá cách, mới triệt để
hay chừng mực cách tân, khi đối tƣợng sáng tác là các nhà thơ nữ thì tiếng thơ
vẫn có một âm sắc chung là mang sắc màu phái tính.
3.3.1 Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính
Thơ nữ thi sĩ Đông Nam Bộ đã sử dụng ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện
đắc lực nhằm thể hiện một cái tôi giàu nữ tính trong thơ. Bằng xu hƣớng “nữ
tính hóa” ngôn ngữ, “thiên tính nữ vĩnh hằng”, thơ nữ giai đoạn 2010-2020 vẫn
giữ đƣợc nét nữ tính cố hữu.
Đầu tiên phải kể đến lớp đại từ nhân xƣng mà thi nhân sử dụng, chủ yếu là
“em”, “ngƣời đàn bà”, “cô gái”, “nàng”,… Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính thể hiện
120
qua hệ thống ngôn từ mà nhà thơ nhắc đến, tất thảy đều chứa đựng tính nữ. Thơ
nữ nhắc đến phòng ngủ với chăn, giƣờng, chiếu, đệm, drap, bình hoa, nƣớc hoa,
hoa hồng, nến,… và những hoạt động của ngƣời phụ nữ nhƣ tô son, đánh phấn,
soi gƣơng, chải tóc… Những điều ấy gợi nên khát khao của đời sống bản năng
giới:
rồi sớm mai
tất cả sẽ biến thành kí ức
những điều hôm nay từng rất thực
hơi ấm của em, vết son đỏ trên drap trả giường
(Bão - Tạ Anh Thƣ)
Ngôn ngữ hình ảnh thơ còn đƣợc “nữ hóa” bằng cách so tƣợng trong thế
giới xung quanh với thân thể phụ nữ. Họ dùng thứ ngôn ngữ đậm tính nữ để san
sẻ những xúc cảm ẩn ức, cô đơn, thể hiện tâm hồn đa cảm trƣớc những thăng
trầm cuộc sống.
Anh có biết hoa cà phê trắng muốt
như em mỗi sớm mai
(Yêu như buổi sáng - Ngô Thị Hạnh)
Lũ ở đâu tràn về em suối sâu
Bão ở đâu tràn về đêm thiếu nhau
(Vén nỗi nhớ đầy tim- La Mai Thi Gia)
Những hình ảnh của thế giới khách quan bƣớc vào trong thơ nhiều liên
tƣởng. Thi nhân “tắm”, nhƣng hành động “tắm” lại gợi lên khao khát “Nước
dâng tới đỉnh khát thèm/cuốn vào đắm đuối một phen tận đời” (Tắm - Vũ
Thanh Hoa); hình ảnh mƣa, con cuốc kêu bạn tình là những hình ảnh của tự
nhiên, ấy vậy mà bƣớc vào thơ gợi liên tƣởng không kém, hãy đọc những
dòng thơ của Thi Gia: “làm mưa cho em tắm tình em/ Gội sạch phía đêm… cơn
khát” (Đừng đợi ngâu về);“À ơi con cuốc mồ côi/ Nó kêu bạn tình nơi nao da
diết” (Về ở với em đi),…
Những câu tả cảnh, tả sự vật giàu trí tƣởng tƣợng, cảnh vật lả lơi, quấn quít,
121
khơi dậy khao khát yêu thƣơng hoặc miêu tả vẻ đẹp thân thể ngƣời nữ: “đêm
trườn qua dải eo thon” (Nhất dạ tình - Vũ Thanh Hoa), “ơi con gió tình nhân”
(Thiên đường mây - La Mai Thi Gia),…
Những hình ảnh thơ mang tính nữ vọng từ tiềm thức và trở thành ám gợi
nghệ thuật. Có thể kể đến nhƣ khi miêu tả vẻ đẹp thân thể ngƣời phụ nữ thì “tóc
mây phủ đầy hương say”, “thắt đáy lưng ong điệu đàng” (Em tôi qua đọt mù u-
La Mai Thi Gia); “Vết nứt dưới bàn chân ngọc” (Vết nứt - Ngô Thị Hạnh),…
Ngoài ra, các nhà thơ nữ cũng sử dụng từ có màu sắc nhiều hơn nam giới:
Thơ trắng, cỏ xanh, viên cuội đỏ, con hạc đỏ, đỏ quạch, ngày xanh, lá xanh,
gió xanh, màu xanh, xanh biếc, biêng biếc, nắng vàng, đêm đen, bằng lăng
tím ngát,… Không gian giƣờng chiếu hay ngôi nhà, cái bếp cũng thƣờng thấy.
Chẳng những thế, họ đã biết “tƣơng giao” hơn với thế giới bên ngoài.
Phải chăng ngƣời phụ nữ đƣợc tạo hóa phú cho vẻ đẹp hình thể hết sức
quyến rũ nên ngƣời phụ nữ rất tự tin vào những đặc điểm cơ thể ấy. Họ nhắc về
nó trong thơ khá nhiều.
Các nhà thơ làm thơ nhƣ viết nhật ký, lời thơ dồn nén nhiều tâm tƣ, tình
cảm:
Chị đội nón qua cầu là đi biệt ngàn năm
Áo cưới tím màu hoàng hôn
Cô dâu không điểm trang mà diễm lệ
Đuôi chân mày cong cong vẽ thời thiếu nữ
Có giấu được nỗi đau?
(Có còn giấu được nỗi đau? - La Mai Thi Gia)
Đọc vần thơ trên mà ta nhớ đến câu ca dao:
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu
Lời thơ giản dị, nhẹ nhàng, mô phỏng hình ảnh dân gian, nói lên cái truân
chuyên đời con gái. La Mai Thi Gia luôn thể hiện khát vọng cầm bút về chính
122
mình trong thơ. Các nhà thơ nữ dù tuyên ngôn hay không tuyên ngôn, họ đều có
ý thức lập ngôn theo hằng số tâm lý thời của họ. Họ mạnh mẽ, nhƣng vẫn giữ
đƣợc nét mềm mại, nữ tính trong câu chữ.
Ngƣời mẹ luôn sẵn vòng tay đón đợi, sẵn bờ vai để con tựa vào, và có cả
tấm lòng bao dung, trái tim ấm áp chờ con trở về bất cứ lúc nào con cần:
Lỗ rốn mẹ vẫn tròn
Để đựng vừa vặn ngón tay con gái mẹ
… Về đây như chim sẻ
Nhập đàn!
(Bởi con là đàn bà - Nồng Nàn Phố)
Những câu thơ trên gợi nên mối quan hệ giữa mẹ và con, tái hiện sự sinh nở
và mối dây kết nối giữa con và mẹ. Con lớn lên trong mẹ và khi con yếu lòng,
mẹ sẽ bảo vệ, chở che.
Tình mẹ, tình yêu, dục vọng, nhục cảm, cái tôi cá nhân bí ẩn, mong manh
đều đƣợc họ thể hiện trong thơ nữ. “Nữ hóa” hình ảnh là kết quả của những
tƣởng tƣợng, vô thức, vừa là kết quả của ý thức, sự lựa chọn có định hƣớng về
giới. Khi các nhà thơ nữ dùng thứ ngôn ngữ nữ tính nhƣ thế để kể về chuyện
mình, nói lên tâm sự thầm kín đã cho thấy nhu cầu khẳng định cảm xúc riêng
của giới và tự ý thức về giới mình.
3.3.2 Ngôn ngữ mang tính "phồn thực"
Từ chối giọng điệu sến sẩm cải lƣơng, cũng không kêu gào với truyền
thông, không căng thẳng bật máu với cánh đàn ông, không đóng thùng lên lớp
tuyên ngôn, giáo huấn. Nhà thơ hôm nay đã vƣợt thoát những mặc cảm thân
phận, thừa hƣởng sự đấu tranh của lớp ngƣời đi trƣớc, nhƣng cũng không
quên sống và cống hiến cho bản thân, xã hội. Họ đã vƣơn đến sự vô ngại
trong cõi sáng tạo, vƣợt thoát những khuôn mẫu gò bó của ngôn ngữ Việt.
Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy thơ nữ Đông Nam Bộ ngày nay đã chủ
động đƣa các trƣờng từ vựng mang tính phồn thực vào trong thơ họ. Ngôn
ngữ mang tính “phồn thực” làm rõ hơn phái tính trong thơ, gợi những gì gần
gũi với thân thể nữ, củng cố vị thế của phụ nữ trong thơ. Hay nói cách khác,
123
đó là thứ “văn bản nữ tính”/ “văn tự phụ nữ” trong thơ nữ Đông Nam Bộ.
“Phồn thực" có thể hiểu là chỉ sự sinh trƣởng, sinh sôi nảy nở. Ở đây, các
nhà thơ nữ đã tiến hành thao tác tƣ duy chuyển hóa ngôn ngữ thân thể của
ngƣời phụ nữ thành đối tƣợng phản ánh nhƣ một sự định danh ngƣời phụ nữ
trong thơ. Nhƣ thế sẽ hữu thể hóa “cái đƣợc biểu đạt” gắn với nét đặc thù của
ngƣời nữ. Hay nói cách khác, việc dùng các tính chất, đặc điểm của ngƣời nữ
để định danh hiện tƣợng, sự vật đã làm thay đổi hệ hình tƣ duy của thơ nữ
đƣơng đại. Việc phát triển trƣờng từ vựng gợi lên vẻ đẹp thân thể, thiên chức
ngƣời phụ nữ, các nhà thơ của chúng ta muốn khẳng định rõ hơn ý thức phái
tính và thể hiện bản năng nữ giới.
Đó là lớp từ ngữ chỉ bộ phận thân thể, tâm trạng, tính chất có tính chất
trung tính, không gợi liên tƣởng mạnh mẽ: mùa tình, mùa em, màu của tim
em, nhịp cầu, kí ức cặn, vết chân trần, ngửa bàn tay, sấp bàn tay, xác nỗi
buồn…
Bên cạnh đó, còn là những từ ngữ đi liền với những liên hệ, ẩn dụ mang
dấu ấn của ngƣời phụ nữ, chẳng hạn nhƣ: Dùng những từ liên quan đến các bộ
phận thân thể ngƣời phụ nữ để gọi sự vật, hiện tƣợng nhƣ ngực, ngực tròn,
ngực đầy, ngực mềm, căng ngực, vú, núi vú, hai bầu vú, sữa,…; Dùng từ ngữ
liên quan sự sinh nở của ngƣời phụ nữ để gợi liên tƣởng nhƣ lỗ rốn, cuống
rốn, cuống chiều, mùa sinh sản,…
Ngoài ẩn dụ thân thể, các nhà thơ nữ sử dụng nhiều động từ phồn sinh. Đấy
là những động từ chỉ sự sinh sôi, sự tƣơng giao và những động từ mạnh bộc lộ
khát khao bùng phá, giải thoát, thậm chí “nổi loạn”. Chẳng hạn nhƣ động từ chỉ
sự sinh sôi: làm ổ, làm kén, làm tình, thụ tạo, nở bung, sinh sôi,…; động từ chỉ
sự tƣơng giao nam nữ: cởi, mở, vén, luồn, khỏa thân, hôn, cắn, đan, trườn,
cong, dâng, vuốt,…; động từ chỉ sức sống, khát khao mãnh liệt,, bung phá:
khát, xiết, say, mê, ham muốn, cuồng si, truy hoan, ướt đẫm, đập nát, phá nát,
…Việc sử dụng các động từ mạnh nhƣ thế có tác dụng thể hiện khát khao đƣợc
yêu, dâng hiến, đƣợc chìm đắm của phái nữ. Nó thể hiện bản chất dữ dội, táo
bạo, mãnh liệt, nội lực bất tận tiềm ẩn trong cá thể tƣởng chừng nhƣ bé nhỏ, yếu
đuối.
124
Việc sử dụng ngôn ngữ mang tính “phồn thực” là một bổ sung cho thể hiện
vẻ đẹp nữ tính trong ngôn ngữ thơ Đông Nam Bộ. Điều này có ý nghĩa xác lập
bản thể nữ, củng cố vị trí giới và thể hiện ý thức phái tính trong thơ nữ. Đó
thuộc về sự sáng tạo và tự kiến tạo giá trị riêng của thơ nữ trên cơ sở bổ khuyết.
Thơ nữ Đông Nam Bộ ngày nay đã có ý thức thoát khỏi vùng đất chết “sinh dục
hóa thơ ca” ở giai đoạn trƣớc mà làm cho thơ ca sống dậy với một ý nghĩa nhân
văn và kiến thiết giá trị riêng đậm đà sắc màu phái tính và cá tính sáng tạo.
Những liên tƣởng, so sánh triển khai theo hƣớng này sẽ có khả năng khơi mở
những ý thơ mới, giàu hình ảnh, đậm giá trị biểu cảm, làm tăng thêm sự nữ tính
trong ngôn ngữ thi ca. Ở đó vừa ánh lên vẻ đẹp chín đầy của ngƣời phụ nữ, vừa
lồng lộng khát vọng khẳng định mình.
Tiểu kết
Muốn vƣợt “Vũ môn”, thơ cần phải có: xúc cảm khác thường, suy nghĩ khác
thường, cách nói khác thường. Và tôi cảm nhận, các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ đã
tiến hành một cuộc vƣợt vũ môn rất mãnh liệt. Ở phần trên, tôi đã trình bày một
số phƣơng thức nghệ thuật thể hiện ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ
từ năm 2010 đến năm 2020, cụ thể hóa ở ba khía cạnh biểu tượng, giọng điệu,
ngôn ngữ. Có thể thấy, các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ ngày nay luôn có ý thức kế
thừa và cách tân đổi mới trong nghệ thuật sáng tạo. Chƣa bao giờ, ta thấy các nhà
thơ nữ dám sống, dám tranh đấu, dám là mình đến nhƣ thế. Họ thổ lộ tất cả những
tâm sự đàn bà và cất lên tiếng nói phái tính nồng cháy.
Ta tìm thấy nhiều đồng cảm trong đó. Thơ đã chạm đến trái tim ngƣời đọc
nhiều thế hệ lan tỏa nhiều cảm xúc sâu lắng da diết. Các chi tiết, hình ảnh, biểu
tƣợng, giọng điệu, ngôn ngữ đƣa vào thơ đều đƣợc sàng lọc qua ý thức “sáng
tạo”. Những sự đóng góp của các nhà thơ nữ đã đem lại sức sống và sự lan tỏa
125
cho thơ ca vùng Đông Nam Bộ. Đó là những sự thể nghiệm rất đáng trân quý.
KẾT U N
Ý thức phái tính trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010 đến năm
2020 có thể xem là đã đạt đƣợc nhiều bƣớc tiến mới mẻ. Cùng với sự phát triển
của xã hội, giao lƣu văn hóa nhiều nƣớc trên thế giới, họ ý thức đƣợc giá trị
bản thân và tự do thể hiện cá tính trong các trang viết của mình.
Ý thức phái tính đƣợc gắn ở hai phƣơng diện biểu hiện và một số phƣơng
thức nghệ thuật. Tóm lại, các nhà thơ nữ đang trên bƣớc đƣờng say sƣa kiến tạo
giá trị riêng cho họ. Không kêu gào khản cổ trong những cơn tranh đấu đòi nữ
quyền nhƣ buổi đầu, không gồng mình lên để phá vỡ vòng vây ngăn cách giới
nhƣ ngày trƣớc, không phải dồn sức chọn lựa phá bỏ truyền thống hay hiện đại,
các nhà thơ nữ Đông Nam Bộ ngày nay đã thoát khỏi chiếc kén kín của “tam
tòng tứ đức”, vẫn nổi loạn nhƣng có độ đằm sâu, trong nhu mì có cả sự mạnh
mẽ, họ thể nghiệm và thử thách chính mình trên nhiều trận địa. Tất cả điều đó
xuất phát từ một thế giới quan, nhân sinh quan mới. Vết thƣơng của quá khứ
nay đã lành, các nhà thơ nữ đang không ngừng học hỏi, sáng tạo để khoác lên
cho thi ca một tấm áo khác.
Ý thức phái tính của thơ nữ Đông Nam Bộ ở khía cạnh biểu hiện đã trình
bày đƣợc một số những vấn đề xoay quanh: ý thức về cái tôi bản thể, ý thức về
tình yêu. Qua đó, tôi nhận thấy ngƣời nữ trong thế hệ mới họ vừa có sự ý thức
khẳng định cái tôi cá nhân, lại vừa có khả năng tiếp nối nguồn mạch thơ ca giai
đoạn trƣớc, họ viết về bản thân, về tình yêu một cách rất mãnh liệt. Điều đó
giúp các nhà thơ nữ ngày càng có ý thức sáng tạo, hình thành “lối viết nữ” mang
đậm bản sắc trong nền thơ Việt Nam hiện nay.
Ý thức phái tính của thơ nữ Đông Nam Bộ ở khía cạnh phƣơng diện nghệ
thuật đƣợc trình bày qua ba khía cạnh: biểu tượng, giọng điệu, và ngôn ngữ. Ở
đây, tôi nhận thấy các nhà thơ nữ đang rất có ý thức trong việc khẳng định cá
tính sáng tạo cũng nhƣ làm mới mình trong thi ca. Tất cả đều mang bản chất
“giới”, vừa đậm đà thiên tính nữ, vừa có những cách tân, táo bạo mới mẻ, tạo
nên dấu ấn và cá tính sáng tạo riêng. Đây cũng là một yếu tố không nhỏ trong
việc góp thêm tiếng nói nữ quyền thành thật, mới mẻ trong thơ ca. Nó mở ra
126
khả năng sáng tạo mới về hình thức biểu hiện và kiểu tƣ duy.
Qua những nghiên cứu trên, có thể khẳng định ý thức phái tính nhƣ là một
đặc điểm của tƣ duy thơ nữ Đông Nam Bộ đƣơng đại, một nét nổi trội trong cá
tính sáng tạo của thi nhân. Trong thơ nữ, ý thức phái tính không phải là một
hiện tƣợng tự phát mà xuất phát từ sự tìm kiếm cái tôi bản thể không ngừng của
nữ giới. Mỗi tác giả nữ, bằng nhân sinh quan và cá tính sáng tạo riêng, họ đã đặt
vào thơ những cảm nhận rất chân thật, thú vị, mới mẻ. Sự xuất hiện và gia tăng
số lƣợng nhà thơ nữ, cùng các tác phẩm đã nói lên thi ca Đông Nam Bộ đang có
một bƣớc chuyển mình rất lớn. Các nhà thơ nữ tiếp tục sứ mệnh của mình, cất
lên tiếng nói thi ca mang đậm màu sắc phái tính, đồng thời họ cũng đã góp phần
làm phong phú thêm nền thơ ca Đông Nam Bộ, góp phần mang đến một diện
mạo mới cho nền văn học nƣớc nhà trong thời đại hội nhập và giao lƣu quốc tế.
Ở luận văn này, ngƣời viết mới chỉ bƣớc đầu tìm hiểu ý thức phái tính
trong thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020. Một số vấn
đề nhƣ: biểu hiện ý thức phái tính ở khía cạnh đời sống xã hội; một số phƣơng
thức thể hiện ý thức phái tính: thể thơ, cấu trúc,… chƣa đƣợc đề cập sâu sắc. Hy
vọng rằng điều đó sẽ đƣợc khơi mở ở những nghiên cứu trong tƣơng lai. Với
luận văn này, ngƣời viết mong muốn đem lại cho ngƣời đọc một hƣớng tiếp cận
mới về thơ nữ Đông Nam Bộ. Nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ
Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 là cánh cửa giúp con ngƣời
đƣa văn chƣơng đến gần hơn với cuộc sống và nhân loại. Đồng thời gợi mở
nhiều triển vọng trong việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngƣời và các
yếu tố nghệ thuật khác, nhằm chứng minh sự phát triển và hội nhập của thơ nữ
Đông Nam Bộ vào tiến trình chung của thơ nữ quốc tế, mở ra thời kỳ mới cho
127
nền thơ Việt trong hiện tại và tƣơng lai.
TÀI IỆU THAM KHẢO
Tài liệu sách:
1. Pierre Bourdieu (2011). Sự thống trị của nam giới (Lê Hồng Sâm dịch),
NXB Tri thức, Hà Nội.
2. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
3. Jean Chevalier and Alain Gheerbran (2002). Từ điển biểu tượng văn hóa
thế giới, Nhiều người dịch, NXB Đà Nẵng - Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà
Nội, tr.1007.
4. Hà Minh Đức (2002). Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và cs. (1992). Từ điển thuật ngữ văn học, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
6. Bùi Bích Hạnh (2015. Thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975, khuôn mặt cái tôi trữ
tình, NXB Văn học, Hà Nội.
7. Ngô Thị Hạnh (2014). Thơ tình với Sài Gòn, NXB Thanh niên, Thành phố
Hồ Chí Minh.
8. Trần Mạnh Hảo (1995), Thơ phản thơ, NXB Văn học, Hà Nội.
9. Nhƣ Hiên và Nguyễn Ngọc Hiền (2006). Nữ sĩ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà
Nội.
10. Hoàng Ngọc Hiến (2006). Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
11. Đỗ Đức Hiểu (1993). Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
12. Bùi Công Hùng (2000). Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa thông
tin, Hà Nội.
13. Inrasara (2014). Thơ Việt- Hành trình chuyển hướng say, NXB Thanh
128
niên.
14. Inrasara (2015). Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố “nữ”, NXB Hội
nhà văn.
15. John J Macionis (2003). Xã hội học, Trung tâm dịch thuật, NXB Thống kê,
Hà Nội.
16. Lê Lƣu Oanh (1998). Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
17. Hoàng Phê (2003). Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
18. Arthur Schopenhauer (2006). Siêu hình tình yêu - Siêu hình sự chết
(Hoàng Thiên Nguyễn dịch), NXB Văn học, Hà Nội.
19. Nguyễn Vũ Tiềm (2006). Đi tìm mật mã của thơ, NXB Hội nhà văn, Hà
Nội.
20. Đặng Tiến (2009). Thơ - thi pháp và chân dung, NXB Phụ nữ, Hà Nội,
tr.119.
21. Lê Thị Tuân (2017). “ Phái tính hóa hệ thống biểu tượng tự nhiên nước -
lửa - đất trong các phim Trăng nơi đáy giếng, Cánh đồng bất tận và Bi, đừng
sợ”, NXB Thế giới, Hà Nội.
22. Hoài Thanh và Hoài Chân (1997). Thi nhân Việt Nam, NXB. Văn học, Hà
Nội.
23. Nguyễn Thành và Hồ Thế Hà chủ biên (2017). Văn học Việt Nam ba mươi
năm đổi mới (1986-2016) - Sáng tạo và tiếp nhận, NXB Văn học, Hà Nội.
24. Phùng Gia Thế và Trần Thiện Khanh (biên soạn) (2016). Văn học và giới
nữ (Một số vấn đề lý luận và lịch sử), NXB Thế giới, Hà Nội.
25. Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên (1999). Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa
Thông tin.
Tài liệu tạp chí
26. Nguyễn Thị Bình (2011). Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đƣơng đại,
129
Tạp chí nghiên cứu văn học, số 9.
27. Hồ Thế Hà (2013). Thiên tính nữ trong thi giới Xuân Quỳnh, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 3.
28. Phan Khôi (1929). Về văn học của phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ tân văn, Sài
Gòn, số 1.
29. Phan Khôi (1929). Văn học với nữ tánh, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 2.
30. Nguyễn Thị Kiêm (1932). Nữ lƣu và văn học, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số
131.
31. Phƣơng Lựu (1998). Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ, Tạp chí Tác phẩm
mới, số 3.
32. John C.Schafer (2013). Những quan niệm đƣơng đại về giới nữ Việt Nam,
Tạp chí nghiên cứu văn học, số 8.
33. Hồ Khánh Vân (2012). Một vài lý giải về hiện tƣợng tự thuật trong sáng
tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay, Tạp chí Đại
học Sài Gòn, số chuyên đề.
Tài liệu mạng
34. Nguyễn Ngọc Thùy Anh (2007). Phái tính trong thơ nữ sau 1975, Truy cập
ngày 12/04/2019 từ
http://opac.hnue.edu.vn/EDetail.aspx?id=25920&f=tacgia&v=Nguy%u1ec5n
+Ng%u1ecdc+Thu%u1ef3+Anh+
35. Hoàng Thụy Anh (2019). Chuyển động thơ nữ Việt Nam, Truy cập ngày
12/09/2022 từ https://vanhocsaigon.com/chuyen-dong-tho-nu-viet-nam/
36. Tuấn Anh (2008). Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lƣu giải phóng tính nữ
trong văn học nghệ thuật, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c121/n1052/My-hoc-tinh-duc-va-cuoc
-phieu-luu-giai-phong-thien-tinh-nu-trong-van-hoc-nghe-thuat.html
37. Nhật Chiêu (2020). Đọc Thơ trắng của La Mai Thi Gia, Truy cập ngày
130
12/09/2022 từ https://vanhocsaigon.com/doc-tho-trang-cua-la-mai-thi-gia/
38. Văn học Sài Gòn (2019). Tạ Anh Thƣ & những ô cửa sổ khép mở từ từ,
Truy cập ngày 27/02/2020 từ
https://vanhocsaigon.com/ta-anh-thu-nhung-o-cua-so/
39. Nguyễn Thị Hồng Giang (2009). Về một đặc điểm tƣ duy thơ nữ gần đây: Ý
thức phái tính (Qua Phan Huyền Thƣ, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh), Truy cập
ngày 12/09/2022 từ
https://123docz.net/document/2613635-ve-mot-dac-diem-tu-duy-tho-nu-gan-d
ay-y-thuc-phai-tinh-qua-phan-huyen-thu-ly-hoang-ly-vi-thuy-linh.htm
40. Đoàn Lê Giang (2011). Văn học Nam Bộ 1932-1945 một cái nhìn toàn
cảnh, Truy cập ngày 12/08/2022 từ
http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=
6753%3Avn-hc-nam-b-1932-1945-mt-cai-nhin-toan-cnh&catid=119%3Avan-
hoc-viet-nam&Itemid=7201&lang=zh&site=30
41. Nguyễn Đức Hạnh và Dƣơng Hoài Thƣơng (2020). Yếu tố tính dục trong
thơ nữ cách tân Việt Nam đƣơng đại, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://vannghethainguyen.vn/2020/10/08/yeu-to-tinh-duc-trong-tho-nu-cach-t
an-viet-nam-duong-dai/
42. Nguyễn Ngọc Hạnh (2019). Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://baodanang.vn/channel/6062/201909/tho-nguyet-pham-3253476/
43. Nguyễn Thị Thu Hằng (2016). Ý thức phái tính trong thơ nữ đƣơng đại
(Khảo sát qua hai tác giả Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên), Truy cập ngày
12/04/2019 từ
https://text.123docz.net/document/4154788-y-thuc-phai-tinh-trong-tho-nu-du
ong-dai-khao-sat-qua-hai-tac-gia-tuyet-nga-va-pham-thi-ngoc-lien.htm
44. Phùng Hiệu (2019). La Mai Thi Gia- Nhặt nhạnh từng kí ức, Truy cập ngày
28/12/2021 từ
https://vanchuongphuongnam.vn/la-mai-thi-gia-nhat-nhanh-tung-ki-uc.html
45. Phan Hoàng (2012). Vũ Thanh Hoa “giấu buổi chiều cô độc vào đêm, Truy
cập ngày 09/09/2020 từ
131
https://tuoitre.vn/vu-thanh-hoa-giau-buoi-chieu-co-doc-vao-dem-505570.htm
46. Nguyễn Thị Hƣởng (2016). Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai
đoạn từ 1986 đến nay, Truy cập ngày 12/03/2019 từ
https://text.xemtailieu.net/tai-lieu/y-thuc-nu-quyen-trong-tho-nu-viet-nam-giai
-doan-tu-1986-den-nay-1127370.html
47. Inrasara (2010). Thử đặt nền tảng cho phê bình thơ Việt đƣơng đại (phần 3),
Truy cập ngày 15/6/2020 từ
https://hopluu.net/a432/thu-dat-nen-tang-cho-phe-binh-tho-viet-duong-dai
48. Sao Khuê (2020). Khƣơng Hà, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://baotreonline.com/van-hoc/gioi-thieu-tho/khuong-ha.baotre
49. Nguyễn Hiến Lê (2009). Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Truy cập ngày
12/03/2018 từ
https://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn2n4nmn2n31n
343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1
50. Hoàng Thùy Linh (2005). Tƣ duy thơ nữ sau 1975, Truy cập ngày
20/06/2020 từ
http://libol.hnue.edu.vn/EDetail.aspx?id=33380&f=tacgia&v=Ho%u00e0ng+
Thu%u1ef3+Linh+
51. Đoàn Văn Mật (2022). Thơ Đặng Nguyệt Anh, Truy cập ngày 12/12/2022
từ https://ct.qdnd.vn/van-hoc-nghe-thuat/tho-dang-nguyet-anh-528215
52. Nguyễn Thánh Ngã (2017). Nhịp thơ nhƣ nhịp thở, Truy cập ngày
07/09/2022 từ
https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id
=23779
53. Lê Thành Nghị (2021). Đinh Thị Thu Vân - Một cây bút trƣởng thành từ
sau ngày kết thúc chiến tranh, Truy cập ngày 21/2/2022 từ
https://vanvn.vn/dinh-thi-thu-van-mot-cay-but-truong-thanh-tu-sau-ngay-ket-t
huc-chien-tranh/
54. Hữu Ngọc (2018). Cảo thơm lần giở: Khổng Tử nghĩ gì, Truy cập ngày
132
12/09/2022 từ
https://suckhoedoisong.vn/cao-thom-lan-gio-khong-tu-nghi-gi-169146820.ht
m
55. Hồ Tiểu Ngọc (2019). Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới,
Truy cập ngày 12/09/2022 từ
http://hueuni.edu.vn/sdh/attachments/article/1352/NOIDUNGLA.pdf
56. Xuân Ngọc (2016). Bức tranh Sài Gòn thời bao cấp, Truy cập ngày
12/09/2020 từ
https://2saigon.vn/xa-hoi/net-xua-saigon/buc-tranh-sai-gon-thoi-bao-cap.html
57. Lê Thùy Nhung (2021). Thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách
tân, Truy cập ngày 12/10/2022 từ
https://luanvan123.info/threads/tho-nu-viet-nam-sau-1975-nhung-tim-toi-va-c
ach-tan.151739/
58. Quỳnh Nhƣ (2018). Tạ Anh Thƣ với tập thơ “Ngƣời lạ”, Truy cập ngày
23/09/2021 từ
https://baobinhduong.vn/ta-anh-thu-voi-tap-tho-nguoi-la-a180562.html
59. Võ Phiến (1986). Văn học miền Nam tổng quan, Truy cập ngày 09/08/2019
từ
https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/vo-phi
en/van-hoc-mien-nam-tong-quan
60. Việt Quỳnh (2019). Nhà thơ Nguyệt Phạm: Thơ đến từ những giấc mơ,
Truy cập ngày 08/07/2020 từ
http://daidoanket.vn/van-hoa/nha-tho-nguyet-pham-tho-den-tu-nhung-giac-mo
-tintuc446746
61. Nguyễn Vũ Quỳnh (2014). Tiếng thì thầm trong Nắng và em (*), Truy cập
ngày 19/12/2021 từ
https://baobariavungtau.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/201411/tieng-thi-tham-tr
ong-nang-va-em--556157/
62. Vũ Diệp Sơn (2017). Nồng Nàn Phố: Những vần thơ đầy cảm xúc và rất
133
đàn bà, Truy cập ngày 12/12/2022 từ
https://thegioikhoinghiep.net/giai-tri/tho-nhac/3073-nong-nan-pho-nhung-van
-tho-day-cam-xuc-va-rat-dan-ba.html
63. Hồ Sơn (2019). Nhà thơ Nguyệt Phạm: Những giấc mơ chỉ để dành cho
điều tốt đẹp, Truy cập ngày 19/09/2021 từ
https://www.sggp.org.vn/nha-tho-nguyet-pham-nhung-giac-mo-chi-de-danh-c
ho-dieu-tot-dep-post534664.html
64. Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng (2011). Kiều Thanh Quế - Nhà
nghiên cứu, phê bình văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX(2), Truy cập ngày
15/6/2022 từ
https://toquoc.vn/kieu-thanh-que-nha-nghien-cuu-phe-binh-van-hoc-nam-bo-n
ua-dau-the-ky-xx-2-99104921.htm
65. Phan Tùng Sơn (2015). Nồng Nàn Phố - yêu để mà đau!, Truy cập ngày
28/12/2021 từ
https://thanhnien.vn/nong-nan-pho-yeu-de-ma-dau-185445640.htm
66. Minh Tuệ (2018). Cô giáo làm thơ tình nhận tặng thƣởng vƣớng ồn ào trái
chiều, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://nld.com.vn/van-nghe/co-giao-lam-tho-tinh-nhan-tang-thuong-vuong-o
n-ao-trai-chieu-2018011113581274.htm
67. Phan Cao Tùng (2020). MC Liêu Hà Trinh viết sách để trị liệu cảm xúc, ra
tiếp cuốn “Em”, Truy cập ngày 12/12/2022 từ
https://thanhnien.vn/mc-lieu-ha-trinh-viet-sach-de-tri-lieu-cam-xuc-ra-tiep-cu
on-em-185984524.htm
68. Nguyễn Đức Thiện (2007). Đằm thắm thơ Nguyễn Thị Kim Liên, Truy cập
13/09/2022 từ ngày
https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id
=6078
69. Ban Thông tin truyền thông (2017). Chân dung một nhà văn họ Dƣơng:
Dƣơng Thiên Lý, Truy cập ngày 09/03/2020 từ
http://hoduongvietnam.com.vn/chan-dung-mot-nha-van-ho-duong-duong-thie
134
n-ly-p1978
70. Bùi Công Thuấn (2018). Thơ Minh Hạ- Một dòng suối trong, Truy cập
ngày 23/12/2020 từ
http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=1687&CatId=83
71. Nguyễn Thị Thuận (2018). Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đƣơng
đại, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://luanvan123.info/threads/y-thuc-phai-tinh-trong-tho-nu-viet-nam-duong
-dai.99751/
72. Đặng Thu Thủy (2009). Những đổi mới cơ bản của thơ trữ tình Việt Nam từ
giữa thập kỷ 80 đến nay, Truy cập ngày 12/09/2022 từ
http://libol.hnue.edu.vn/EDetail.aspx?id=1555&f=tacgia&v=%u0110%u1eb7
ng%2c+Thu+Th%u1ee7y+
73. Lệ Trinh (2020). Sex trong văn học đƣơng đại, Truy cập ngày 22/09/2022
từ
http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/sex-trong-van-hoc-duong-
dai_11197.html
74. Trần Hồ Ngọc Trƣờng (2019). Tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng,
Truy cập ngày 12/09/2022 từ
https://vannghedanang.org.vn/tinh-duc-trong-tho-nom-ho-xuan-huong-tran-ho
-ngoc-truong-7398.html
75. Vanvn (2022). Chùm thơ Cát Du: Ngƣời đàn bà đi trong mê lộ, Truy cập
ngày 12/09/2022 từ
https://vanvn.vn/chum-tho-cat-du-nguoi-dan-ba-di-trong-me-lo/
76. Anh Vân (2007). Lý Lan- ngƣời đàn bà hồn nhiên với chữ, Truy cập ngày
từ 04/11/2020
https://vnexpress.net/ly-lan-nguoi-dan-ba-hon-nhien-voi-chu-2140330.html
77. Hà Thanh Vân (2017). Diện mạo của văn học Đông Nam Bộ từ 1975 đến
nay, Truy cập ngày 09/09/2020 từ
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc
135
-vi%E1%BB%87t-nam/6286-di%E1%BB%87n-m%E1%BA%A1o-c%E1%B
B%A7a-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-%C4%91%C3%B4ng-nam-b%E1%B
B%99-t%E1%BB%AB-1975-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.html
78. Đỗ Anh Vũ (2020). Vết thƣơng in bóng hình ngƣời đẹp, Truy cập ngày
từ 19/07/2021
https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Vet-thuong-in-bong-hinh-nguoi-de
p-i565215/
79. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2013). Vấn đề phái tính và âm hƣởng nữ quyền
trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại (Qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu
biểu), Truy cập ngày 20/02/2022 từ
http://tailieudientu.lrc.tnu.edu.vn/Upload/Collection/brief/brief_39561_43096
136
_81020138844nguyenthithanhxuan.pdf
PHỤ ỤC
TẦN SUẤT XUẤT HIỆN HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG GẮN VỚI
NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG CÁC T P THƠ TIÊU BIỂU
(Thống kê trƣờng hợp/ 16 tập thơ)
Tên tập thơ Biểu tƣợng
TT
Đất và Nƣớc và Đêm và
các biến các biến các biến
thể thể thể
173 136 1 Thơ trắng 107
139 125 2 Gia ơi, đời xanh đấy! 176
50 30 3 Nắng từ những ngón 88
chân
97 24 4 Thơ tình với Sài Gòn 118
78 63 5 Ngƣời lạ 159
49 28 6 Ngƣời có sẵn lòng mang 109
vết thƣơng?
7 Phơi riêng tƣ 77 38 63
8 205 Những rời và rạc 123 104
137
9 171 Họ bột hƣ ảo 69 37
10 Anh ngủ thêm đi anh, 161 39 36
em phải dậy lấy chồng
11 Yêu lần nào cũng đau 235 141 55
12 Mang san hà đổi lấy duy 121 79 27
nhất một ngƣời thƣơng
13 Lời cầu hôn đêm qua 105 112 60
64 85 42 14 Lục Bát Phố
55 29 97 15 Cúc họa mi
48 25 75 16 Em
2001 1347 979 Tổng cộng
Nhận xét:
- Ở phần thống kê này, ngƣời viết căn cứ vào tần suất xuất hiện của các biểu
tƣợng “đất”, “nƣớc”, “đêm” và các biến thể của chúng trên đơn vị tính theo số
lần xuất hiện. Ta nhận thấy biểu tƣợng Đất và các biến thể chiếm số lƣợng lớn
nhất trong sáng tác các nhà thơ nữ. Thơ nữ Đông Nam Bộ giai đoạn mới đã có
138
sự thể nghiệm và sáng tạo riêng về phƣơng diện nghệ thuật, ý nghĩa biểu đạt.

