UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
DƯƠNG BÍCH HẠNH
YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG
TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI CHĂN KIẾN”
CỦA BÙI NGỌC TẤN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG - 2023
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
DƯƠNG BÍCH HẠNH
YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG
TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI CHĂN KIẾN”
CỦA BÙI NGỌC TẤN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THANH VÂN
BÌNH DƯƠNG - 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn là công trình học tập và nghiên cứu của
riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của TS. Hà Thanh Vân.
Các thông tin sử dụng trong luận văn này đều được ghi nguồn gốc cụ thể và rõ
ràng. Kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố ở bất
kì công trình nào khác.
Bình Dương, ngày 4 tháng 5 năm 2023
Học viên
Dương Bích Hạnh
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo trường Đại
học Thủ Dầu Một và quý thầy cô Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tổ chức
và tạo điều kiện cho tôi cùng các bạn học viên tham gia môi trường học tập khoa
học. Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã học hỏi được những
kiến thức quý báu từ sự hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của quý thầy cô, giúp tôi hoàn
thiện về kiến thức và bản thân trong chuyên ngành Văn học Việt Nam, đồng thời
tạo nguồn động lực cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài
Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc
Tấn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời chân thành bày tỏ biết ơn sâu sắc đến TS. Hà Thanh
Vân đã luôn giúp đỡ, tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện
luận văn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Và
cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi.
Kết quả của đề tài luận văn được hoàn thành trong quá trình nghiên cứu và
học tập cũng như trong phạm vi khả năng và tâm huyết của tôi. Bên cạnh đó, tôi
không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện. Kính mong nhận
được sự góp ý quý báu từ quý thầy cô. Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và
chúc quý thầy cô sức khỏe.
Bình Dương, ngày 4 tháng 5 năm 2023
Học viên
Dương Bích Hạnh
ii
TÓM TẮT
Bùi Ngọc Tấn là nhà văn thể hiện những trải nghiệm cuộc đời trong các
sáng tác của mình. Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn Yếu tố hậu hiện đại
trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, chúng tôi đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp loại hình. Đây là đề tài
nghiên cứu về tính chất hậu hiện đại, nên phương pháp nghiên cứu chính là sử
dụng thi pháp hậu hiện đại, để soi chiếu từ góc nhìn của lý thuyết hậu hiện đại. Từ
đó, làm rõ những yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”
của Bùi Ngọc Tấn qua các thủ pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong quá trình
sáng tác tác phẩm này. Các yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn
kiến” của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nội dung và nghệ thuật như: Sự “giải thiêng”
những “đại tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”; Nghệ thuật ngôn ngữ
mang màu sắc hậu hiện đại; Sử dụng một số biện pháp tu từ làm nên đặc trưng cho
tác phẩm; Nhân vật phi trung tâm; Kết thúc mở qua điểm nhìn dịch chuyển…
Nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề này để làm rõ yếu tố hậu hiện đại trong tác
phẩm Bùi Ngọc Tấn, đồng thời cũng thấy được những trải nghiệm cuộc sống của
ông qua từng lời nói của nhân vật và lời văn của tác giả. Đề tài nghiên cứu Yếu tố
hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn hy
vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ trong các công trình nghiên cứu về nhà văn Bùi
Ngọc Tấn và khẳng định vai trò của ông trong văn học Việt Nam đương đại.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ ii
TÓM TẮT ..................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do thực hiện đề tài ............................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ........................................................................ 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4
6. Tài liệu tham khảo .................................................................................... 5
7. Kế hoạch nghiên cứu ................................................................................. 5
8. Cấu trúc của luận văn: ............................................................................. 6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN, VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI .................................................................... 8
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Bùi Ngọc Tấn ....................... 8
1.1.1. Tiểu sử của nhà văn Bùi Ngọc Tấn .................................................... 8
1.1.2. Tác phẩm của nhà văn Bùi Ngọc Tấn ............................................... 9
1.2. Đôi nét về lý thuyết hậu hiện đại ........................................................ 10
1.2.1. Sự ra đời và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hiện đại (Modernism) ....................................................................................................................... 10
1.2.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) ...................................... 14
Chương 2. YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI CHĂN KIẾN” CỦA BÙI NGỌC TẤN NHÌN TỪ NỘI DUNG21
2.1. Những mảnh đời thường trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”21
2.1.1. Những mảnh ghép cuộc đời vụn vỡ, xô lệch ................................... 21
2.1.2. Những khát vọng đời thường ........................................................... 25
2.2. Sự “giải thiêng” những “đại tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”.............................................................................................................. 28
2.2.1. Phá vỡ những quan niệm truyền thống về con người và xã hội ... 29
2.2.2. Những chân lý mới phổ quát ............................................................ 33
iv
2.3. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” ....................................................................................................................... 35
2.3.1. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong đề tài ......................................... 35
2.3.2. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong cốt truyện ................................. 38
Chương 3. YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI CHĂN KIẾN” CỦA BÙI NGỌC TẤN NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT ....................................................................................................................... 41
3.1. Nghệ thuật ngôn ngữ mang màu sắc hậu hiện đại ............................ 42
3.1.1. Sử dụng ngữ đoạn và một số biện pháp tu từ trong tác phẩm ..... 42
3.1.2. Nghệ thuật ngôn ngữ đa thanh, đa âm ............................................ 44
3.1.2.1. Ngôn ngữ bình dân qua giọng điệu bình thản đầy trải nghiệm . 44
3.1.2.2. Ngôn ngữ dân gian giàu nhân sinh qua giọng điệu giễu nhại .... 47
3.2. Nhân vật phi trung tâm, kết thúc mở qua điểm nhìn dịch chuyển . 54
3.2.1. Truyện không có nhân vật trung tâm ............................................. 54
3.2.2. Kết thúc theo hướng mở qua điểm nhìn dịch chuyển .................... 57
3.3. Những hình ảnh, biểu tượng mang ý nghĩa đặc trưng trong lối viết hậu hiện đại ......................................................................................................... 61
3.3.1. Hình ảnh, biểu tượng đặc trưng trong lối viết hậu hiện đại ......... 61
3.3.2. Ý nghĩa từ những hình ảnh, biểu tượng của tác phẩm trong lối viết hậu hiện đại .................................................................................................. 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 69
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 74
PHỤ LỤC 1 .................................................................................................. 79
PHỤ LỤC 2 .................................................................................................. 98
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Văn học Việt Nam phát triển song hành cùng với văn học thế giới, các tác
giả cùng hướng về sự phát triển văn học của nhân loại. Văn học Việt Nam đã trải
qua nhiều biến động và tĩnh lặng theo nhịp thở của thời gian, không gian. Từ sơ
khai đến văn học cổ đại, từ văn học trung đại đến văn học cận đại, từ văn học hiện
đại đến văn học hậu hiện đại, các nhà văn đã cống hiến những giá trị tinh thần cho
sự phát triển văn học Việt Nam qua các tác phẩm.
Ở cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, yếu tố hậu hiện đại trong các tác phẩm
văn học xuất hiện nhiều hơn và trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả sáng
tác trong văn học Việt Nam. Đặc biệt là ngôn ngữ đã trở thành trò chơi theo khuynh
hướng hậu hiện đại trong văn học. Trò chơi ngôn ngữ tạo sự mới lạ, giải giới hạn
của ngôn từ và trở thành viễn tưởng qua sự tưởng tượng của các tác giả. Sự tiếp
nhận lý thuyết trò chơi ngôn ngữ của L. Wittgenstein và lý thuyết hậu hiện đại của
J.F. Lyotard (Jean Francois Lyotard) đã đem đến cho văn học Việt Nam cái nhìn
khác về văn bản.
Cũng như nhiều nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam, Bùi Ngọc Tấn thể hiện yếu
tố hậu hiện đại trong các sáng tác của mình khi trào lưu này được đón nhận ở Việt
Nam. Các sáng tác của ông phần lớn là thể loại văn xuôi tự sự. Những mảnh đời
bé nhỏ và những biến cố trong cuộc sống con người đã trở thành những đề tài được
thể hiện trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”.
Nghiên cứu về yếu tố hậu hiện đại trong truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn là
một đề tài mới và chưa được tìm hiểu nhiều. Vì vậy chúng tôi ch ọn đề tài Yếu tố
hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn để
làm luận văn cao học. Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn đóng góp
một phần nghiên cứu nhỏ qua sáng tác của Bùi Ngọc Tấn để hiểu thêm về khuynh
hướng hậu hiện đại của văn học Việt Nam trong thế kỷ XXI. Góp thêm tiếng nói
1
trong việc nghiên cứu về Bùi Ngọc Tấn, một nhà văn rất đáng kính trọng và việc
nghiên cứu văn học hậu hiện đại ở Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề cập đến cơ sở lý luận về hậu hiện đại để tạo tiền đề cho việc
nghiên cứu Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của
Bùi Ngọc Tấn. Luận văn nghiên cứu và đưa ra những yếu tố hậu hiện đại trong
tập truyện ngắn này, qua những phân tích nội dung và nghệ thuật. Từ đó, khắc họa
được nét riêng của Bùi Ngọc Tấn trong trào lưu văn học hậu hiện đại ở Việt Nam.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bùi Ngọc Tấn đã sống hết mình vì sự nghiệp văn chương và đóng góp hết
mình cho văn học Việt Nam đương đại. Điểm qua những ý kiến về tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, các dẫn chứng đã cho chúng tôi thấy rõ
điều đó. Như:
Dương Tường cho rằng Bùi Ngọc Tấn là người không bị quỵ ngã trước số
phận mà luôn hy vọng vào tương lai sẽ tốt đẹp hơn, dù không thể tính trước được
điều gì cho bản thân và sự nghiệp của mình. Nhưng, với Bùi Ngọc Tấn văn chương
chính là cuộc đời. Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến’’ của Bùi Ngọc Tấn
xuất bản năm 2014, ngay lời nói đầu Dường Tường đã có lời nhận xét rằng: “Bùi
Ngọc Tấn, trong mắt tôi, là người biết chưng cất cái đau thành hi vọng, thành tiếng
cười, không chính xác hơn, thành nụ cười, vì anh không mấy khi cười thành tiếng.
Tôi gọi đó là hóa học của nhân bản. Hay có khi đó là bí quyết đạt đạo của những
bậc hiền?” (Báo Văn nghệ, số 49, ngày 01/12/1999)
Bài viết của Thụy Khuê về “Sóng từ trường II Bùi Ngọc Tấn”, đăng trên
son-trung.blogspot.com vào ngày 18/02/2017 (Báo Tin tức 17/3/2000) nói về cuộc
đời và sáng tác của Bùi Ngọc Tấn qua những thăng trầm lịch sử và những trải
nghiệm trong cuộc sống.
2
Đình Kính có bài viết “Viết về bạn bè: Thấy chân dung tác giả” về nhà văn
Bùi Ngọc Tấn vào ngày 09/03/2003 và đăng trên buingoctan. wordpress.com vào
ngày 19/06/2009, khắc họa rõ nét chân dung nhà văn Bùi Ngọc Tấn.
Trong bài viết “Một kiếp bên trời” đăng trên buingoctan. wordpress.com
vào ngày 11/05/2009, Phạm Xuân Nguyên nhận xét văn phong của Bùi Ngọc Tấn
rằng: “Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của
sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì xảy ra với ông,
nếu văn ông có giọng cay độc chua chát, cũng là điều dễ hiều. Nhưng không! Ngay
cả sự trầm tĩnh và đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ.
Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên, dung dị, khi những oan trái,
khổ đau lận vào sau câu chữ làm nên sức nặng và chiều sâu của những điều được
viết ra”.
Tác giả Phạm Xuân Nguyên còn có bài viết “Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, và
hắn” được in trong phần kết của tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc
Tấn. Trong bài, Phạm Xuân Nguyên phân tích lý giải chiều sâu về mối quan hệ
của nhân vật “hắn” trước Cách mạng tháng Tám cho đến nay. Vì “hắn” tồn tại
trong văn chương, nên tác giả đưa ra cách tiếp cận tập truyện ngắn “Người chăn
kiến” qua góc độ “hắn”. Tác giả cũng so sánh với “hắn” trong truyện ngắn Chí
Phèo của Nam Cao, trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh hay trong
tiểu thuyết Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải. Tác giả cho rằng văn học là
“người” và khi thấy “hắn” sẽ thấy “người” và khi thấy “người” sẽ thấy văn học và
ngược lại trong các sáng tác của Bùi Ngọc Tấn.
Vào ngày 10/10/2012, tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc
Tấn được kênh VTV1 giới thiệu là cuốn sách hay trong chuyên mục Mỗi ngày một
cuốn sách. Từ đó tập truyện được độc giả đón nhận nhiều hơn.
Bài viết “Sự giản dị mạnh mẽ” của tác giả Thu Hà đăng trên báo Tuổi trẻ
online vào ngày 31/12/2011 nhận xét về những đặc trưng trong sáng tác của Bùi
Ngọc Tấn như câu văn và ý tưởng giản dị, nhân vật đa dạng và đa tính cách, ca
ngợi những trải nghiệm của cuộc sống và những cảm xúc cô đọng của nhân vật.
3
Ngoài những bài báo, bài viết phê bình của các tác giả trên, còn có một số
luận văn nghiên cứu về tác phẩm văn chương của Bùi Ngọc Tấn như:
“Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn”. Luận văn
thạc sĩ của Bùi Thị Kim Nga, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Người hướng
dẫn khoa học là PGS. TS Nguyễn Thành Thi. Bảo vệ năm 2013.
“Đặc điểm văn xuôi Bùi Ngọc Tấn qua Biển và chim bói cá và Người chăn
kiến. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Vân, Đại học Đà Nẵng. Người hướng
dẫn: TS. Phan Ngọc Thu. Bảo vệ năm 2013.
“Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn”. Luận văn thạc sĩ của
Ngô Thị Dung, Đại học Quốc gia Hà Nội (Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn). Mã số: 60.22.01.21. Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Dục Tú.
Bảo vệ năm 2016.
Những bài báo, bài viết phê bình và các luận văn thạc sĩ là những tài liệu
quý, giúp cho chúng tôi có căn bản và cơ sở để tìm hiểu về các tác phẩm của Bùi
Ngọc Tấn, đặc biệt là tập truyện ngắn “Người chăn kiến”.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Những yếu tố hậu hiện đại cả về nội dung và nghệ
thuật được thể hiện trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn.
b. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2014,
gồm 289 trang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn
kiến” của Bùi Ngọc Tấn dự kiến sử dụng các phương pháp triển khai truyền thống
của nghiên cứu văn học như:
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Là cần thiết vì tác phẩm có nói nhiều về
những yếu tố lịch sử, hoàn cảnh thời đại. Như nói về tiểu sử của tác giả, hoàn cảnh
4
ra đời của tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của lý thuyết hậu hiện đại và hoàn cảnh xã
hội lúc bấy giờ.
- Phương pháp so sánh: Nhằm so sánh tác phẩm “Người chăn kiến” của
Bùi Ngọc Tấn với những tác phẩm khác của ông và so sánh với những tác giả khác
để thấy được sự khác biệt gữa nghệ thuật và nội dung tác phẩm mà tác giả muốn
thể hiện.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là để thực hiện những thao tác nghiên
cứu văn học về tác phẩm “Người chăn kiến”. Những thông tin, tài liệu và những
công trình có liên quan đến đề tài. Qua đó, chúng tôi phân tích. đánh giá các thông
tin có liên quan đến tác phẩm nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ cho các đặc
điểm nghệ thuật của tác giả trong tác phẩm.
- Phương pháp loại hình: “Người chăn kiến” là tập truyện ngắn nên phải
xem xét nghiên cứu từ góc độ loại hình để thấy sự tương đồng và khác biệt với các
nhà văn khác nhằm thấy rõ những sáng tạo và những thành công của tác giả.
Do đây đề tài nghiên cứu về tính chất hậu hiện đại, vì vậy, phương pháp
nghiên cứu chính là sử dụng thi pháp hậu hiện đại, soi chiếu từ góc nhìn của lý
thuyết hậu hiện đại.
6. Tài liệu tham khảo
Chúng tôi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về Bùi Ngọc Tấn, các tư liệu
có liên quan đến đề tài luận văn qua sách, báo, tư liệu tham khảo, nguồn từ Internet.
7. Kế hoạch nghiên cứu
Kế hoạch viết luận văn: “Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn”:
Tháng 11/2018 - 12/2019: Đăng kí đề tài nghiên cứu.
Tháng 01/2019 - 06/2020: Nộp đề cương luận văn nghiên cứu.
Tháng 06/2020 - 12/2022: Thực hiện viết luận văn: Tháng 06/2020, thu thập
tài liệu tham khảo và viết chương 1 áp dụng phương pháp lịch sử - xã hội. Tháng
07/2021, thu thập thêm tài liệu và viết chương 2 áp dụng phương pháp so sánh -
5
phân tích. Tháng 08/2022, tiếp tục thu thập tài liệu thêm và viết chương 3 áp dụng
phương pháp phân tích - tổng hợp kết hợp loại hình.
Tháng 12/2022, chỉnh sửa luận văn qua sự hướng dẫn của người hướng dẫn
viết luận văn.
Tháng 12/2022: Đăng kí bảo vệ luận văn và bảo vệ luận văn.
8. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về nhà văn Bùi Ngọc Tấn, về chủ nghĩa
hậu hiện đại. Trong chương một, chúng tôi trình bày khoảng 12 trang liên quan
tiểu sử cuộc đời, tác phẩm. Những ảnh hưởng đến cuộc sống cuộc và sự nghiệp
sáng tác, cũng như đến bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra
những quan điểm sáng tác và những đóng góp của Bùi Ngọc Tấn trong văn học
Việt Nam. Đồng thời, những nội dung trong chương một là cơ sở cơ bản định
hướng cho chúng tôi nghiên cứu, phân tích tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nội
dung và nghệ thuật ở các chương tiếp theo.
Chương 2. Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”
của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nội dung. Trong chương hai, chúng tôi trình bài khoảng
25 trang. Chúng tôi sẽ làm rõ đặc điểm nội dung trong tác phẩm và nguồn cảm ứng
sáng tác về thế sự và xã hội lúc bấy giờ. Từ đó, chúng tôi khẳng định dựa trên cơ
sở phân tích nhằm rõ phong cách sáng tác, cũng như sắc thái riêng của tác giả trong
văn học hạu hiện đại. Tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn góp phần làm phong phú cho
văn học Việt Nam.
Chương 3. Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”
của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nghệ thuật. Chúng tôi phân tích, đối chiếu so sánh tác
phẩm của Bùi Ngọc Tấn với một số nhà văn để sự khác biệt nhưng đồng thời cũng
có sự ảnh hưởng đến giọng điệu, ngôn ngữ, nhân vật và thể loại nhằm làm rõ phong
cách và tài năng của Bùi Ngọc Tấn. Qua đó, chúng tôi sẽ đưa ra cái nhìn khái quát
6
khách quan về những thành công và hạn chế của tác giả. Những đóng góp về văn
học của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
7
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN,
VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
Tác phẩm văn chương sản sinh, tồn tại và lưu truyền trong một môi trường
nhất định và chịu sự chi phối của môi trường. Trong hoạt động giao tiếp của tác
phẩm, môi trường là hoàn cảnh, là ngữ cảnh. Sự ra đời, sự sống của tác phẩm là
do môi trường chi phối. Trong đó, môi trường chân không không có chức năng
này. Để cảm thụ và phân tích tác phẩm văn chương cần phải đặt tác phẩm trong
mối quan hệ với hoàn cảnh và môi trường của nó.
Đầu tiên là mối quan hệ của tác phẩm với tác giả, là người sản sinh ra tác
phẩm. Khi tìm hiểu về tác giả, về cuộc đời, về tư tưởng nghệ thuật, phong cách
nghệ thuật của tác giả góp phần quan trọng trong vào việc phân tích để giải mã tác
phẩm. Tuy nhiên, giữa con người thật ở ngoài đời và tác giả của tác phẩm không
có sự đồng nhất tuyệt đối. Nhưng những nét riêng về tư tưởng nghệ thuật, phong
cách ngôn ngữ, phong cách sáng tác thì luôn để lại dấu ấn trong tác phẩm. Nó sẽ
là cơ sở để người tiếp nhận làm căn bản để lí giải thích hợp cho tác phẩm (Bùi
Minh Toán, 2017).
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Bùi Ngọc Tấn
1.1.1. Tiểu sử của nhà văn Bùi Ngọc Tấn
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 và mất vào năm 2014. Ông là nhà báo, nhà
văn Việt Nam. Quê của ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng. Năm 1954, khi ông hai mươi tuổi thì bắt đầu viết
văn và viết báo. Các sáng tác của ông được in ở các nhà xuất bản Văn học, Lao
động, Thanh niên… Gia đình ông có sáu thành viên, nên cuộc sống gặp nhiều khó
khăn, ông phải tập trung vào viết báo để kiếm thêm thu nhập.
Từ năm 1968 đến năm 1973 là những năm sóng gió trong cuộc đời của Bùi
Ngọc Tấn, ông bị đi tập trung cải tạo với nguyên nhân là chơi với người bạn hàng
xóm Hồng Sĩ có “vấn đề về tư tưởng” (theo nhà văn Vũ Thư Hiên). Trong thời
gian nhà văn đang ở trại cải tạo, vợ của ông bị cho thôi việc ở trường Đại học. Lúc
8
mới ra trại, ông gặp khó khăn trong việc kiếm sống, do những hoàn cảnh giới hạn
và những định kiến lúc bấy giờ. Từ năm 1974 đến năm 1993, ông được nhận vào
làm ở công ty Thủy sản.
Trong gần hai mươi năm, nhà văn ở ẩn không viết lách. Năm 1993, Bùi
Ngọc Tấn bắt đầu trở lại với nghề viết lách. Tác phẩm của ông được đăng trên tạp
chí Cửa biển ở Hải Phòng với bài viết “Nguyên Hồng, thời đã mất”. Sau đó ông
tiếp tục sáng tác. Đến năm 2014, ông bị bệnh nặng và mất tại nhà con trai Bùi
Ngọc Hiến ở Hải Phòng.
Bùi Ngọc Tấn đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống và sự nghiệp
văn chương, nhưng ông không từ bỏ nghề viết văn bởi niềm đam mê và mong
muốn được cống hiến những tác phẩm văn chương của mình cho văn học Việt
Nam.
1.1.2. Tác phẩm của nhà văn Bùi Ngọc Tấn
Bùi Ngọc Tấn đã để lại cho độc giả và văn học Việt Nam những tác phẩm
tâm đắc qua những trải nghiệm trong cuộc đời. Các tác phẩm: Mùa cưới, Ngày và
đêm trên Vịnh Bái Tử Long (phóng sự), Đêm tháng 10, Người gác đèn cửa Nam
Triệu (truyện ký), Nhật kí xi măng, Nhằm thẳng quân thù mà bắn; Thuyền trưởng
(truyện vừa); Nguyên Hồng, thời đã mất (1993), Một thời để mất (hồi kí, 1995),
Một ngày dài đằng đẵng (tập truyện ngắn), Những người rách việc (tập truyện
ngắn, 1996), Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết, 2000), Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn
(tập truyện ngắn, 2003), Rừng xưa xanh lá (kí chân dung, 2004), Kiếp chó (tập
truyện ngắn, 2007), Biển và chim bói cá (tiểu thuyết, 2008), Người chăn kiến (tập
truyện ngắn, 2010), Viết về bè bạn (kí, 2012)….
Riêng tác phẩm Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết, 2000), được đánh giá cao
ở nước ngoài và dịch ra nhiều thứ tiếng như tiếng Anh, Đức và Pháp. Cuốn sách
này do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành. Tuy nhiên, cuốn sách này vừa in vào
tháng 02/2000 thì tháng 03/2000 Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký quyết định số 395
đình chỉ và bị thu hồi để tiêu hủy.
9
Bùi Ngọc Tấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác,
ông đã đạt được những giải thưởng cao quý như:
- Giải thưởng văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Hải Phòng;
- Các giải thưởng của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Bộ Văn
hóa thông tin, Nhà xuất bản Hội Nhà văn;
- Giải thưởng Henri Queffenlec của Pháp vào năm 2012 với tác phẩm Biển
và chim bói cá (tiểu thuyết, 2008), tác phẩm dựa trên những trải nghiệm trong cuộc
sống của ông khi làm việc ở xí nghiệp Thủy sản từ năm 1974 đến 1993.
- Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 với tác phẩm Rừng
xanh lá (kí chân dung, năm 2004), giải B (không có giải A).
Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (tập truyện ngắn, 2010) cũng đã mang
đến nhiều ý kiến khác nhau, làm cho tập truyện ngắn càng gây được nhiều sự chú
ý của độc giả. Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2014) gồm Mười chín truyện
ngắn: Một tối vui; Cún; Nghệ thuật đích thực; Người mua nhà của bố mẹ tôi; Khói;
Lạc đội hình; Một cuộc thi hoa hậu; Thói quen; Những người đi ở; Làng có 99 cái
ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu; Người chăn kiến; Ngưu tất, hồng hoa,
nga truật; Dị bản một truyện đã in; Sức khỏe của bố; Truyện không tên; Một ngày
dài đằng đẵng; Trung sĩ; Người ở cực bên kia; Vũ trụ không cùng. Và hai bài viết:
“Bùi Ngọc Tấn và hóa học của nhân bản” của Dương Tường và “Bùi Ngọc Tấn,
nhà văn, và hắn” Phạm Xuân Nguyên.
Mười chín truyện ngắn là những mảnh đời của những con người trong cuộc
sống đời thường. Trong xã hội rộng lớn có muôn điều không sao nói hết, nhưng
các câu chuyện và nhiều mảnh đời vụn vỡ, xô lệch được Bùi Ngọc Tấn nói đến
như một thước phim ngắn.
1.2. Đôi nét về lý thuyết hậu hiện đại
1.2.1. Sự ra đời và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hiện đại (Modernism)
Chủ nghĩa hiện đại xuất hiện cuối thế kỉ XIX, theo nghĩa rộng của khái niệm
về chủ nghĩa hiện đại là nói đến những trào lưu văn học nghệ thuật ở các nước
phương Tây, nêu chủ trương đoạn giao với thơ văn lãng mạn trước đó và nêu rõ
10
những phương pháp sáng tác mới và quan điểm mới như chủ nghĩa Dada (dadaism),
chủ nghĩa lập thể (cubism), chủ nghĩa vị lai (futurism), chủ nghĩa ấn tượng
(impressionism), chủ nghĩa tượng trưng (symbolism), chủ nghĩa siêu thực
(surrealism), chủ nghĩa biểu hiện (expressionism), chủ nghĩa hiện sinh
(existentialism)…
Sau chiến tranh thế giới thứ II, chủ nghĩa hiện đại làm dấy lên các làn sóng
mới như tiểu thuyết mới, kịch phi lý. Ngoài ra, chủ nghĩa hiện đại còn phê phán
chủ nghĩa hiện thực chỉ là sự mô phỏng và lệ thuộc vào thực tại. Trong khi đó,
nghệ thuật hiện đại vừa phân tích sâu sắc cuộc sống và vượt thoát khỏi cuộc sống.
Nhưng sau một thời gian dài thì xu hướng hậu hiện đại xuất hiện kế tiếp.
Văn học là nguồn tài sản trí thức vô cùng quý giá của con người, sự tích lũy
của những con người bình thường đến những trí thức bậc tài thông tuệ qua những
kinh nghiệm và hiểu biết của tộc người và nhân loại từ sơ khai đến hình thành và
phát triển. Sáng tác và tiếp nhận văn học ở Việt Nam qua các tác giả nổi tiếng của
văn học nước ngoài. Một số tác giả và tác phẩm nổi tiếng nước ngoài tiêu biểu:
Các tác giả người Mỹ như Washington Irving 1783 (Rip Van Winkle,
Truyền thuyết về thung lũng ngủ yên), Edgar Allan Poe 1809 (Sự sụp đổ của ngôi
nhà Usher), Walt Whitman 1819 (lá cỏ), Mark Twain 1835 (Con ếch nhảy trứ danh
ở Calaveras), O. Henry 1862 (Chiếc lá cuối cùng), Jack London, Ernest
Hemingway 1899 (Ông già và biển cả), Arthur Miller, Paul Auster, F. Scott
Fitzgerald 1896 (Gatsby vĩ đại), J. D. Salinger 1919 (Bắt trẻ đồng xanh), jack
Kerouac 1922 (Trên đường), Harper Lee 1926 (Giết con chim nhại)…
Các tác giả người Nga như Aleksandr Sergeyevich Pushkin 1799 (Ông lão
đánh cá và con cá vàng), Mikhail Yuryevich Lermontov, Vladimir Vladimirovich
Mayakovsky, Lev Tolstoy 1828 (Chiến tranh và hòa bình), Dostoevsky 1821 (Tội
ác và trừng phạt), Anton Pavlovich Chekhov 1860 (Người trong bao), Sergei
Aleksandrovich Yesenin, Mikhail Aleksandrovich Sholokhov, Vladimir Nabokov
1899 (Lolita)…
11
Các tác giả người Pháp như Voltaire 1694 (La Henriade), Victoc Hugo 1802
(Những người khốn khổ), Alfred de Musset, Charles Baudelaire, Paul Verlaine,
Arthur Rimbaut, Paul Valéry, Paul Eluard, Alexandre Dumas 1802 (Bá tước Monte
Cristo), Marcel Proust 1871 (Đi tìm thời gian đã mất)…
Các tác giả người Anh như William Shakespeare 1564 (Hamlet, Romeo và
Juliet), Charles Dickens 1812 (Oliver Twist), George Orwell 1903 (Trại súc vật),
J. R. R. Tolkien 1892 (Chúa tể của những chiếc nhẫn), Agatha Christie 1890 (Thảm
kịch bí ẩn ở Styles), Jane Austen 1775 (Kiêu hanh và định kiến), Emily Bronte
1818 (Đồi gió hú),
Một số tác giả nước khác như Ireland: Oscar Wilde 1854 (Bức tranh của
Dorian Gray), Columbia: Gabriel Garcia Marquez 1928 (Trăm năm cô đơn), Cộng
Hòa Sec: Franz Kafka 1883 (Hóa thân), Scotland: Arthur Conan Doyle 1859
(Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes), Tây Ban Nha: Miguel de Cervantes
(Don Quixote), Đức: Goethe 1749 (Faust – kịch thơ), Anh em nhà Grimm 1785 và
1786 (Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Công chúa ngủ trong rừng)…
Tiếp nhận và so sánh qua thể loại lớn: thơ, kịch, tự sự. Trong đó, tự sự được
tiếp nhận một cách nồng nhiệt như tiểu thuyết và truyện ngắn ở đầu thế kỉ XX.
Đến thế kỉ XXI, các tác giả trên vẫn được ca ngợi và so sánh các tác phẩm của họ
với các tác phẩm trong nước qua văn học so sánh hay so sánh văn học. Để thấy
được sự tương đồng và khác biệt nhưng giá trị vẫn là phục vụ cho con người và
lưu giữ những giá trị đạo đức và triết lí của cuộc sống để con người hoàn thiện
mình hơn với tình cảm, bao dung và vị tha của tâm hồn.
Trong sáng tác tác phẩm văn học, tác giả sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu
ngôn ngữ để tạo nên tính hiệu thẩm mĩ (vĩ mô và vi mô). Cần có sự chuyển hóa
tổng thể của hai mặt, cái biểu đạt và cái được biểu đạt của ngôn ngữ chuyển hóa
thành cái biểu đạt của tính hiệu thẩm mĩ, cái được biểu đạt của tính hiệu thành mĩ
thành là ý nghĩa mới. Muốn xác định và lĩnh hội ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ
trong tác phẩm văn chương, cần đọc kĩ văn bản tác phẩm để nắm được đặc điểm
của nội dung và hình thức “câu chữ” (nội dụng sự việc, nội dung miêu tả “phản
12
ánh hiện thực”) cần đặt tác phẩm trong mối quan hệ với ngữ cảnh và người đọc
cần chú ý. Trong thực tế, các tác giả khi sáng tác đã trải qua một quá trình lựa chọn
ngôn ngữ để xây dựng tác phẩm. Trong quá trình lựa chọn có thể dẫn đến sự thay
thế ngôn ngữ này bằng ngôn ngữ khác. Sự lựa chọn và thay thế có thể diễn ra ở lần
đầu tiên khi sáng tác, hay một thời gian chiêm nghiệm, suy ngẫm, cảm xúc…
Người đọc tiếp nhận và lĩnh hội tác phẩm, muốn cảm thụ và phân tích cái hay, cái
đẹp trong nghệ thuật ngôn từ, cần phải giả định một sự lựa chọn và thay thế của
tác giả đối với các ngôn ngữ để cấu tạo ngôn ngữ. Từ đó xác định giá trị được lựa
chọn.
Khi đã lựa chọn ngôn ngữ sử dụng chuyển hóa thành hai phương thức ẩn
dụ và hoán dụ trong tác phẩm qua sự cảm thụ của người tiếp nhận như thế nào. Dù
theo phương thức nào thì cũng có mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thẩm mĩ với nhau
như cái được biểu đạt của thẩm mĩ (ý nghĩa thẩm mĩ) vừa duy trì và lưu giữ một
số nét nghĩa của được cái biểu đạt của ngôn ngữ. Ngôn ngữ chuyển đổi nét nghĩa
mới phù hợp với ý nghĩa thẩm mĩ. Có thể trong một tác phẩm văn chương, mội
ngôn ngữ đều có sự chuyển hóa thành thẩm mĩ, nhưng hiệu quả và giá trị thẩm mĩ
có khác nhau và có những tín hiệu tự thân (là một từ ngữ đứng ở góc độ này là
ngôn ngữ, góc độ kia là thẩm mĩ, không cần chuyển tín hiệu này sang tín hiệu kia).
Tác phẩm văn chương, đều có sự phối hợp của các yếu tố nghệ thuật, tương
tác nhau tạo nên một bản thể hòa hợp như bản nhạc hòa tấu để đạt đến tính chất và
hiệu quả của nghệ thuật, cần phối hợp giữa cảm thụ và phân tích trong tác phẩm.
Một tác phẩm đạt được sự thống nhất giữa tất cả các yếu tố chi tiết, các yếu tố nghệ
thuật và không có yếu tố thừa hay thiếu. Chú ý đến yếu tố không được nằm sai vị
trí của nó, mà phải có tính thống nhất, hòa hợp của chỉnh thể nghệ thuật. Quá trình
sáng tác là một quá trình tổng hợp, hòa phối các yếu tố nghệ thuật. Đối với tác
phẩm tự sự, mỗi hình tượng nhân vật là tín hiệu vĩ mô. Khi cảm thụ và phân tích
nhân vật cần có sự phối hợp tấc cả các yếu tố thuộc phương diện khác nhau của
nhân vật như diện mạo, trang phục, điệu bộ, lời nói, tâm trạng, hành động, ứng
xử… Tất cả ở phương diện này, tích hợp lại tạo nên là hình tượng nhân vật.
13
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nghệ thuật xây dựng xung đột trong văn học.
Trong văn học nghệ thuật xung đột thường tồn tại ở các thể loại như kịch, sân khấu,
điện ảnh, các thể loại tự sự, truyện, tiểu thuyết,... Ở mỗi thể loại có các dạng thức
xung đột khác nhau. Ở thể loại kịch thì xung đột xảy ra giữa cái thấp kém hay cái
cao cả với nhau làm nảy sinh tình cảnh bi kịch và hài kịch. Đặc biệt xung đột giữa
cái thấp kém với cái cao cả làm nảy sinh cảnh trào phúng. Trong tác phẩm truyện
nói chung, xung đột mang tính nhất định. Chẳng hạn như xung đột cá nhân, tình
yêu, gia đình, xã hội. Sự biến đổi, ngỗn ngang của cuộc đời mà chính con người
tự gây ra. Có những việc giải quyết được nhưng có những sự việc không giải quyết
được dẫn đến cái kết thúc cho chính bản thân mình. Xung đột là đề tài mà trong
văn học không thể thiếu trong mỗi tác phẩm của mình và điều đó cũng thể hiện
rằng cái mà con người vẫn luôn mang theo trong chính cuộc sống.
1.2.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)
Chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện vào khoảng năm 1960 – 1970 ở châu Âu
và Mỹ. Ngày nay, chủ nghĩa hậu hiện đại là một xu hướng trong nền văn học đương
đại. Điểm đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại được thể hiện qua sự chối bỏ sự
thật khách quan, siêu tự sự và nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những động cơ
thúc đẩy các vấn đề, những mối quan hệ quyền lực... Chủ nghĩa hậu hiện đại chú
trọng và nêu rõ về các khía cạnh văn hóa, khoa học và xã hội. Đặc biệt, chủ nghĩa
hậu hiện đại không ca ngợi duy lý và văn minh của thời đại.
Thuật ngữ “Postmodernism” đã được sử dụng trong các tác phẩm khác,
trước khi cuốn La condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại, 1979) của Jean
Francois Lyotard ra đời vào năm 1979. Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực, ngành… như tư tưởng, triết học, mĩ học, phê bình,
nghiên cứu nghệ thuật, nghiên cứu văn học, nghiên cứu thi học qua một số tác giả,
tác gia như Arnold J. Toynbee (1889 - 1975) là nhà sử học người Anh, Oswald
Spengler (1880 - 1936) là nhà sử học và triết gia lịch sử người Đức, Alexandre
Kojeve (1902 - 1968) là nhà triết học người Nga, Arnold Gehlen (1904 - 1976) là
nhà triết học và nhà xã hội học người Đức… Ngoài ra, nhà phê bình văn học Tây
14
Ban Nha Federico de Onis (1888 - 1966) với cuốn Antologia de la Poesia Espanola
e Hispanoamericana (1882 - 1933) và Renacimiento (2012) để chỉ sự vượt qua
hiện đại (modern) đã sử dụng từ hậu hiện đại (postmodern).
Đến những năm thập niên 60 – 80 của thế kỉ XX, các nhà phê bình, nghiên
cứu văn học ở Mỹ đã sử dụng thuật ngữ hậu hiện đại để chỉ các nhà văn với những
đặc điểm sáng tác như giọng văn mới lạ đến hoang tưởng, quái dị đến quái đản,
kinh hoàng đến khiếp đảm và kết hợp với kiểu truyện không có cốt truyện, không
tình tiết, phi lý, giễu nhại, châm biếm, huyền ảo… qua các truyện ngắn như các tác
giả Kurt Vonnegut (1922 - 2007) với tác phẩm Cat’s Cradle (Cái nôi của mèo,
1963); William Gass (1924 - 2017) với tiểu thuyết The Tunnel (Đường hầm, 1995);
Jonh Hawkes (1925 - 1998) với tiểu thuyết The Cannibal (Kẻ ăn thịt người, 1949);
Jonh Barth (1930) với truyện ngắn Lost in the funhouse (Lạc lối trong nhà kính,
1968); Donala Berthelme (1931 - 1989) với truyện ngắn Sixty stories (Sáu mươi
câu truyện, 1981); Robert Coover (1932) với tiểu thuyết ngắn In Bed One Night &
Other Brief Encounters (Trên gường một đêm và những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi
khác, 1983)…
Thuyết hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard bàn về Condition du savoir
(Thân phận tri thức) trong quá trình chuyển đổi sau hiện đại, khi mà khoa học và
công nghệ thông tin phổ dụng đang dần thay thế mọi thứ. Jean Francois Lyotard
cho rằng tri thức trước thời ông là tuyên truyền tư tưởng giải phóng con người
trước những áp bức bất công. Đến thời của ông thì công nghệ thông tin phát triển
và tri thức được ưa chuộng hầu hết trên mọi lĩnh vực. Trong cuốn La condition
postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại, 1979), Jean Francois Lyotard đưa ra hai định
nghĩa về Postmodern (hậu hiện đại):
Thứ nhất, hậu hiện đại là thân phận của tri thức trong những xã hội phát
triển nhất;
Thứ hai, hậu hiện đại là sự hoài nghi về các siêu văn bản;
15
Điều kiện hậu hiện đại là giả thuyết của tri thức đã thay đổi phận vị con
người. Từ khi xã hội đi vào thời điểm gọi là hậu kỹ nghệ và bên cạnh đó thì văn
hóa cũng đi vào thời điểm gọi là hậu hiện đại. Ở châu Âu, sự chuyển tiếp này cũng
bắt đầu từ cuối thập niên 50. Đó là thời kỳ hoàn tất kiến thiết châu Âu sau thế chiến
thứ hai.
Jean Francois Lyotard (1924 – 1998) sinh tại Versailles, nước Pháp, ông là
triết gia người Pháp. Năm 1950, ông lấy bằng thạc sĩ triết học. Từ năm 1950 đến
1952, ông dạy trung học ở Constantine. Năm 1959, ông làm trợ giáo tại Sorbonne.
Năm 1966, ông là giảng viên tại đại học Paris X (Nanterre). Năm 1971, ông lấy
bằng tiến sĩ. Năm 1973, ông trở thành giáo sư ở Paris VIII và nhiều trường đại học
ở Mỹ. Từ năm 1984 đến năm 1986, ông làm chủ tịch Viện Triết học quốc tế
(President du college international de philosophie). Những tác phẩm chính của
Jean Francois Lyotard như: La phenomenology (Hiện tượng luận, 1954); Discours,
figure (Diễn ngôn, hình tượng, 1971); Dérive à partir de Marx et Freud (Phiêu lưu
từ Marx và Freud, 1973); Economie libidinale (Điều tiết nhục dục, 1974); La
condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại, 1979); Le différend (Bất đồng,
1983).
Riêng Tác phẩm La condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại, 1979)
được biết đến ở nhiều nước. Con đường tư tưởng của Jean Francois Lyotard đã trải
qua hai giai đoạn làm thay đổi lớn trong cuộc đời văn học của ông:
Giai đoạn đầu, Jean Francois Lyotard hướng theo triết học của Husserl
(Edmund Gustav Albrecht Huserl, 1859 – 1938) người Đức và Merleau – Ponty
(Maurice Merleau – Ponny, 1908 – 1961) người Pháp, ông cho ra đời tác phẩm La
phénoménology (Hiện tượng luận, 1954). Sau đó, ông sáng tác Dérive à partir de
Marx et Freud (Phiêu lưu từ Marx và Freud, 1973) theo hướng chủ nghĩa Marx và
Phân tâm học. Với tác phẩm Discours, figure (Diễn ngôn, hình tượng, 1971) Jean
Francois Lyotard đã thể hiện sự vượt qua giới hạn của hiện tượng luận trên lý
thuyết của Freud (Sigmund Freud, 1856 – 1939) về sự ham muốn của con người
trong vô thức. Từ đó, hình thành tính chất hình tượng trong thẩm mỹ qua những
16
đặc tính rời rạc, gẫy khúc, không kết nối và man dại được ẩn nấp trong nghệ thuật
hiện đại. Lyotard đề xướng siêu hình học tinh lực qua phân tâm siêu hình của Freud,
ông muốn nhấn mạnh đến vấn đề tinh lực nhục dục với tác phẩm Economie
libidinale (Điều tiết nhục dục, 1974). Đến tác phẩm Beauté figurale (Mỹ học hình
tượng), ông đã đề xướng và áp dụng phân tích tác phẩm của một số họa sĩ lúc bấy
giờ như Barnett Newman (1905 - 1970) là họa sĩ thị giác người Mỹ theo trường
phái trừu tượng ấn tượng, Marcel Duchamp (1887 - 1968) họa sĩ Pháp theo trường
phái lập thể…
Giai đoạn sau, Jean Francois Lyotard thay đổi tư tưởng một cách bất ngờ
sau những gì ông đã tìm hiểu trong nhiều năm trước đó. Từ năm 1975, ông không
còn hướng về những siêu văn bản mang triết lý nhục dục, sự bất công, thân phận
tri thức mà ông chuyển hướng về triết ngữ học và nghiên cứu récits (vi văn bản)
và jeux de langage (trò chơi ngôn ngữ) như nhà triết học tinh thần và triết học
ngôn ngữ người Áo quốc tịch Anh Ludwig Wittgenstein (Ludwig Josef Johann
Wittgenstein, 1889 – 1951). Ông cho rằng, nếu chấp nhận siêu văn bản là chấp
nhận sự thuần lý của lý thuyết tư biện hay lập thuyết, như vậy là bất công. Lý
thuyết hậu hiện đại của ông sau này chống lại những bất công đó. Ông đã bênh
vực, bảo tồn và phát huy những thuật ngữ trong các vi văn bản nhằm phát huy tối
đa tính đa dạng của ngôn ngữ.
Những thuật ngữ dùng trong lý thuyết hậu hiện đại của Lyotard như: chữ
récit nghĩa là câu chuyện, chữ métarécit nghĩa là tường thuật siêu việt. Chữ petit
récit nghĩa là câu chuyện nhỏ và được tạm dịch là văn bản nhỏ hoặc vi văn bản,
đối nghịch là grand récit nghĩa là câu chuyện lớn và được tạm dịch là văn bản
lớn hoặc siêu văn bản. Petit rescit nghĩa là câu chuyện nhỏ và được tạm dịch là
văn bản nhỏ hoặc vi văn bản, thể hiện rõ hầu hết cách lập ngôn ngắn hay cực ngắn
của con người, như: chữ, câu, lời, đoạn… Lập thuyết của Jean Francois Lyotard
được thể hiện qua hai tác phẩm chính là La condition postmoderne (Điều kiện hậu
hiện đại, 1979) và Le différend (Bất đồng, 1983). Qua hai tác phẩm trên, ông nói
17
đến cách áp đặt của văn bản lớn lên trên các văn bản nhỏ, hay tư tưởng lớn lên trên
các tư tưởng nhỏ và ông muốn nhấn mạnh để thấy rõ những điều bất công đó.
Bên cạnh các lý thuyết hậu hiện đại của nhà văn nước ngoài thì các nhà văn
Việt Nam cũng có những nhận định về lý thuyết hậu đại và các khái niệm hoặc
định nghĩa của các từ ngữ trong nghệ thuật sáng tác được sử dụng trong văn học
hậu hiện đại để sử dụng sáng tác tác phẩm của mình. Như:
Trong cuốn Văn học hậu hiện đại (2019) của giáo sư Lê Huy Bắc thì “Mờ
hóa – bản chất tự sự của văn xuôi hậu hiện đại là toàn bộ các thủ pháp (dòng ý
thức, khoảng trống mảnh vỡ, huyền ảo, nhại…) được sử dụng trong nghệ thuật một
cách có chủ định nhằm tạo ra một hiệu quả có thẩm mĩ, qua đó đối tượng được
hiện ra không rõ ràng, cụ thể như ngoài đời như chúng ta từng gặp trong sáng tạo
nghệ thuật. người viết cố tình xóa mờ các đường viền (lịch sử, quan hệ…) các đặc
điểm cá biệt của đối tượng nhằm tạo cho độc giả cảm giác về sự mơ hồ, tối nghĩa.
Muốn hiểu người đọc phải dụng công, phải tích cực tham gia vào tiến trình nghệ
thuật để chiêm nghiệm, đề xuất cách hiểu của riêng mình. Mục đích cơ bản của
mờ hóa là nhằm khai thác khả năng đồng sáng tạo từ phía đọc giả, thể hiện tái độ
tôn trọng độc giả của nghệ sĩ.
Như vậy tự sự trong văn học hậu hiện đại khác với tự sự trong văn học
truyền thống theo như sách 150 Thuật ngữ văn học (2017) của Lại Nguyên Ân thì
Tự sự là một trong ba loại văn học (tự sự, kịch, thơ). Tự sự và kịch đều tái hiện
hành động diễn ra trong thời gian và không gian, tái hiện tiến trình các biến cố
trong cuộc đời các nhân vật. Nét đặc thù của tự sự là vai trò chức năng trần thuật,
nó thông báo về các biến cố, các tiểu tiết như thông báo về cái gì đó đã xảy ra và
được nhớ lại, đồng thời mô tả hoàn cảnh và dáng nét các nhân vật, nhiều khi còn
thêm cả những lời bàn luận. Thành phần ngôn từ trần thuật của tác phẩm tự sự
tương tác một cách tự nhiên với các đối thoại và độc thoại (kể cả độc thoại nội tâm
của các nhân vật).
Trong cuốn Văn học hậu hiện đại (2019) của giáo sư Lê Huy Bắc thì Điểm
nhìn là vị trí, điểm quan sát của người kể chọn để nhìn thực hiện và kể lại câu
18
chuyện của mình (chứng kiến hoặc chiêm nghiệm…) cho người đọc, khi tiếp xúc
với tác phẩm, người đọc sẽ được dẫn dắt từ một (hoặc nhiều) điểm nhìn nhất định.
Thông thường điểm nhìn được chia thành hai điểm chính: điểm nhìn bên ngoài và
điểm nhìn bên trong… Ví dụ như trong tác phẩm Cụ già và dôi cánh khổng lồ
(1970) của Gabriel García Márquez chỉ sử dụng điểm nhìn bên ngoài, đúng hơn là
điểm nhìn bên ngoài. Đa diểm nhìn tự sự xuất phát từ nguyên tắc phi trung tâm
hóa trần thuật. Nề tảng triết học của nó chính là sự đả phá các đại tự sự, tạo nên
tính dân chủ, đa trị trong nghệ thuật kể truyện. Mục đích của nó là khách quan hóa
trần thuật và có thể nắm bắt được bản chất hiện tồn của con người. Lối trần thuật
này mang lại hiệu quả lớn lao trong việc tiếp nhận. ứng với mỗi điểm nhìn, người
đọc có thể đối thoại để tìm ra nội dung và ý nghĩa của câu chuyện. Hơn nữa, khi
có nhiều người kể, các điểm nhìn đó tự chúng đối thoại, tương tác nhau để làm nổi
rõ hình tượng.
Trong cuốn Văn học hậu hiện đại (2019) của giáo sư Lê Huy Bắc thì trong
Chú giải thuật ngữ văn học, M.H. Abrams xác định, “Nghịch lý là tuyên bố mà
dường như trên bề mặt là ngược logic hoặc phi lý nhưng hóa ra là có thể giải thích
được, dựa theo cách tạo nghĩa”. Trong tác phẩm văn học, nghịc lý có thể xâm nhập
vào một diễn ngôn, một hình tượng, hoặc một hệ tư tưởng nào đó… Diễn ngôn đặc
chủng của nghịch lí thường được viện dẫn: “Bác sĩ là những tay giết người khủng
nhất”. Để tạo được hiệu quả nghịch lý trong tác phẩm, diễn ngôn thường hàm chứa
trong nó ba thành tố nghịc lý: ẩn dụ, mỉa mai và tiếng cười.
Có nhiều nhà lập thuyết về hậu hiện đại với những quan điểm có thể tương
đồng, có thể có chút khác biệt. Nhưng trong luận văn này, người viết áp dụng quan
điểm của Jean Francois Lyotard vào việc nghiên cứu tập truyện ngắn “Người chăn
kiến” của Bùi Ngọc Tấn. Việc áp dụng cụ thể được thực hiện qua hai chương hai
và ba của luận văn. Tuy đã manh nha từ trước, nhưng gần đây xu hướng văn học
hậu hiện đại mới lan rộng và được đón nhận ở Việt Nam. Sự đón nhận này đã làm
tô điểm thêm phong cách sáng tác của nhiều nhà văn Việt Nam.
19
Từ năm 1980 đến nay, văn học Việt Nam phát triển cùng với sự phát triển
của văn học thế giới. Sự đón nhận của văn học thế giới nói chung và văn học hậu
hiện đại nói riêng đã lan tỏa đến một số nhà văn ở Việt Nam. Họ tiếp nhận và sáng
tác theo xu hướng văn học hậu hiện đại. Những các tác phẩm tiểu biểu như: truyện
ngắn Tướng về hưu (1987) của Nguyễn Huy Thiệp; tiểu thuyết Thiên sứ (1988)
của Phạm Thị Hoài; truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời (1988) của Hòa
Vang; tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1991) của Bảo Ninh; truyện ngắn I am
đàn bà (2006) của Y Ban; tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (2002) của
Hồ Anh Thái; truyện ngắn Mười ba bến nước (2006) của Sương Nguyệt Minh; tiểu
thuyết Thoạt kỳ thủy (2014) của Nguyễn Bình Phương; truyện ngắn An Dương
Vương (2017) của Lê Minh Hà... Một số nhà văn, nhà thơ tự nhận viết hẳn theo
khuynh hướng hậu hiện đại như Đặng Thân, Đỗ Anh Vũ, nhóm thơ nữ “Ngựa
trời”…
* Tiểu kết:
Bùi Ngọc Tấn là một nhà văn có nhiều thăng trầm trong cuộc sống và sự
nghiệp văn chương. Ở độ tuổi không còn trẻ, ông đã trở lại mạnh mẽ trên văn đàn
với nhiều tác phẩm gây tiếng vang, theo kịp xu hướng của thời đại, trong đó có tập
truyện ngắn “Người chăn kiến” theo khuynh hướng hậu hiện đại.
Văn học hậu hiện đại trở thành xu hướng sáng tác phổ biến trên thế giới từ
cuối thế kỷ 20 và được đón nhận ở Việt Nam. Tác phẩm “La condition
postmoderne” (Điều kiện hậu hiện đại, 1979) của Jean Francois Lyotard trở thành
một cơ sở quan trọng để lập luận về yếu tố hậu hiện đại trong tác phẩm của các
nhà văn Việt Nam theo đuổi khuynh hướng này. Trong đó, có nhà văn Bùi Ngọc
Tấn qua tập truyện ngắn “Người chăn kiến”. Tác phẩm của ông thể hiện các yếu
tố hậu hiện đại xét trên những tiêu chí của lý thuyết này.
20
Chương 2. YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
“NGƯỜI CHĂN KIẾN” CỦA BÙI NGỌC TẤN NHÌN TỪ NỘI DUNG
Trong tác phẩm văn học, biểu hiện qua sự thống nhất giữa nội dung và hình
thức của tác phẩm và tính chỉnh thể của nghệ thuật. Thể hiện qua mỗi tác phẩm
trong mối quan hệ, tương tác giữa các chi tiết, các đoạn, các chương, các phần, các
tính hiệu thẩm mĩ, các tư tưởng, các cảm xúc… trong tác phẩm có dung lượng lớn
nhỏ khác nhau. Trong hệ thống của tác phẩm, không có yếu tố tồn tại riêng rẽ, biệt
lập ngoài hệ thống hay không phù hợp với các yếu tố của tác phẩm, nhằm đảm bảo
cho tính chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm văn chương. Điều đó cũng đòi hỏi
người tiếp nhận khi cảm thụ và phân tích tác phẩm cần tuân thủ nguyên tắc hệ
thống; phải quan tâm đến các mối quan hệ, các yếu tố, các chi tiết về nội dung và
hình thức trong mà nó tham dự, trong đoạn, trong văn cảnh, trong hệ thống tác
phẩm. Tính hệ thống trong phạm vi hẹp như câu thơ, câu tục ngữ, đoạn thơ, đoạn
văn được thể hiện ở sự hô ứng hài hòa giữa các từ ngữ, các yếu tố ngữ âm, ngữ
pháp…Trong văn bản tự sự, mỗi hình tượng nhân vật là một tín hiệu thẩm mĩ vĩ
mô. Mỗi tín hiệu đó luôn có tính hệ thống nhất quán, khi cảm thụ và phẩn tích mỗi
hình tượng nhân vật, cần tích hợp tất cả các yếu tố thể hiện ở ngoại hình, lời nói,
việc làm, suy nghĩ, đối nhân xử thế…, để nhận diện tính cách nhân vật và từ đó
phát hiện ra tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm (Bùi Minh Toán, 2017).
2.1. Những mảnh đời thường trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”
2.1.1. Những mảnh ghép cuộc đời vụn vỡ, xô lệch
Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn gồm mười chín
truyện ngắn: Một tối vui; Cún; Nghệ thuật đích thực; Người mua nhà của bố mẹ
tôi; Khói; Lạc đội hình; Một cuộc thi hoa hậu; Thói quen; Những người đi ở; Làng
có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu; Người chăn kiến; Ngưu tất,
hồng hoa, nga truật; Dị bản một truyện đã in; Sức khỏe của bố; Truyện không tên;
Một ngày dài đằng đẵng; Trung sĩ; Người ở cực bên kia; Vũ trụ không cùng. Từ
“vụn vỡ” là để chỉ những cái nhỏ nhặt không có giá trị đáng kể. Những mảnh ghép
cuộc đời vụn vỡ của con người được Bùi Ngọc Tấn thể hiện qua các truyện ngắn
21
để chúng ta thấy những mảnh đời đó thật nhỏ bé, bình thường, không có gì đáng
để ý đến. Nhưng, trong sâu xa nó lại là những đau khổ và niềm hạnh phúc của nhân
loại từ bao đời nay.
Như trong truyện Người mua nhà của bố mẹ tôi có nhân vật Tôi vì tuổi già
nên quyết định bán nhà và vườn của bố mẹ, dù đau lòng. Cô Thoan là bà con xa
của nhân vật Tôi và là người mua lại. Cô Thoan có hai người con gái sang Canada
sống và làm nghề bán giun. Cô Thoan có thói quen là luôn thủ sẵn gạo, vì sợ đói.
Đến khi sắp qua đời, cô Thoan vẫn tằn tiện chỉ dùng đồ rẻ tiền. Một cuộc thi hoa
hậu là truyện nói về một trò chơi của những đứa trẻ. Trò chơi thi hoa hậu được tổ
chức hoành tráng ở ngõ cụt, vui như ngày hội. Khi kết thúc cuộc thi, có đứa trẻ vui
thắng cuộc, có đứa trẻ buồn thua cuộc. Truyện Truyện không tên có những người
nghèo như chị Sợi bán hàng ở vỉa hè và làm gái điếm để có tiền nuôi mẹ già và
bản thân. Chị Sợi gặp anh què ăn mày và hai người yêu nhau. Bà Mít ăn xin quen
chị Sợi, vì chị thường cho bà đồ ăn và bà cũng vậy. Chị Sợi giữ tiền giùm bà Mít,
nhưng hơn một tháng mà không thấy bà quay lại. Chị cho rằng bà Mít đã chết. Chị
tranh thủ đưa tiền cho hai cháu của bà, dù nhà chị cũng đang xảy ra việc. Truyện
Vũ trụ không cùng nói về ông Thuyết không dám về quê, vì sợ nhớ lại kí ức buồn
của cha mẹ ông. Ông Thuyết thương con gái và thương vợ. Khi hôn nhân của con
gái đổ vỡ thì ông lo lắng nhiều hơn. Do bà Thu vợ ông bệnh nặng nên hai người
ngủ riêng. Lúc này, ông Thuyết mới cảm thấy thoải mái nghĩ ngợi về vũ trụ không
cùng. Truyện Cún, nói về con chó Cún do vợ chồng anh Trung nhận nuôi từ ông
“xuất khẩu” đèo tới. Còn nhân vật Tôi là nhà báo tỉnh lẻ, chứng kiến Cún, anh
Trung và chị Thanh trải qua những năm tháng khó khăn. Một ngày nọ, anh Trung
ra Hà Nội và không quay lại. Con chó Cún tìm anh trong tuyệt vọng. Còn chị
Thanh vừa mất chồng vừa mất Cún, chị chẳng còn gì ngoài ngôi nhà vắng lặng.
Trong truyện Nghệ thuật đích thực, vì cơm áo gạo tiền mà Đình Kính, Chu Lai,
Nguyễn Quang Thân là nhà văn đi viết văn thuê, bán thuốc lá trong quá trình đi
viết thuê. Sau bữa tiệc chia tay sơn hào hải vị do giám đốc thuê viết mời, Nguyễn
Quang Thân và Dạ Ngân về Cần Thơ. Còn Chu Lai và Đình Kính đạp xe về thành
phố Hồ Chí Minh. Đến Thảo Cầm Viên thì Đình Kính bị nghệ thuật của các cô gái
22
lấy mất chiếc nhẫn vàng. Bao nhiêu công sức viết văn thuê đều trôi ra sông ra biển.
Lạc đội hình là truyện nói về nhân vật Tôi, người đồng hương. Vì sự lương thiện
của mình mà anh đi tới đâu cũng không hòa nhập vào đội hình nơi đó như ở xí
nghiệp đánh cá, họ xem anh là người thừa. Anh chuyển qua làm Phòng Cảng vụ,
nơi người ta coi anh như “chuột sa chĩnh gạo”. Nhưng anh cũng lạc đội hình. Nên
anh luôn nghèo và cuộc sống gia đình càng thêm khó khăn. Truyện Thói quen nói
về ông Khánh, ông Thông, ông Quân là bạn và là cán bộ. Họ tán gẫu những chuyện
thời sự thường nhật xảy ra trong đời sống. Khi nhận được Hồ sơ cán bộ ông Khánh
và ông Thông mới biết nhân cách của ông Quân. Ông Quân có thói quen xem sách
là gạch chân và hay nói dối mà làm mất đi tình bạn. Ngưu tất, hồng hoa, nga truật
là truyện trong thời kì bao cấp về kế hoạch hóa gia đình. Nhân vật Tôi và Bình là
nhà văn tỉnh lẻ, còn có anh hộ tịch cán bộ kế hoạch gia đình“chống chỉ định nạo
thai”. Nhưng Bình và anh hộ tịch đều bị vỡ kế hoạch phải nhờ đến “Ngưu tất, hồng
hoa, Đào nhân, Nga truật”… là đơn thuốc phá thai. Truyện Những người đi ở nói
đến những người trở về sau chiến tranh như ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết. Cuộc
sống hiện tại của họ quá bận rộn với con với cháu. Họ không có thời gian cho bạn
bè. Họ vì cuộc sống của con cháu, họ vẫn tiếp tục tận sức. Làng có 99 cái ao, cây
đa 99 cành và ông đại tá về hưu nói về ngôi làng nghèo, làng đất văn của nhân
vật Tôi. Đây là đất phát văn, vì làng có nhiều văn nhân tài tử, như: Nhà báo, nhà
cách mạng, nhạc sĩ, anh chàng Quy Ước là tác giả chèo, chị Thùy Trang đài truyền
hình. Còn có ông Nguyễn Trung Chiến là đại tá bộ binh về hưu và các đại tá, trung
tá khác. Cho đến bây giờ ông Nguyễn Trung Chiến mới biết mình phải làm nhà
thơ. Truyện Dị bản một chuyện đã in nói về chị nghệ sĩ với hai người đàn ông.
Một người là chồng cũ và một người là tình yêu đầu của chị. Hạnh phúc và đau
khổ luôn giằng xé tình yêu của cả ba người ở thời chiến tranh. Sức khỏe của bố là
truyện về phó tiến sĩ Nguyễn Trịnh và vợ ông là bà Lan làm sự nghiệp tiêu tan,
mất chức, mất việc do làm việc phi pháp. Sau này, bỗng nhiên giàu có. Nắm trong
tay nhiều tiền, cụ Trịnh và ông Trịnh học cách ăn chơi kiểu nhà giàu và cả hai bắt
gặp trong nhà hàng Karaoke ôm. Cụ Trịnh muốn chết cho đỡ xấu hổ. Nhưng vì
con, vì cháu, vì tiền mà cụ Trịnh tiếp tục sống. Truyện Trung sĩ nói về Hiếu là một
23
tài xế cho xí nghiệp. Nhân vật Tôi là một nhà văn. Giờ Hiếu lái xe cho các sếp ở
chỗ nhân vật Tôi. Hiếu là người từng trải, gợi ý cho nhân vật Tôi viết về nhà hàng
Nu Ni, vì nơi đây có một người lính nữ từng là trung sĩ, tên là Lan Anh, bây giờ
làm tiếp viên nhưng lớn tuổi hơn so với các cô gái khác. Do tổ bốc cá giải tán, Lan
Anh bán nước ở vỉa hè nuôi gia đình bốn miệng ăn. Cuộc đời của Lan Anh có
những bước “ngoắt ngoéo”. Vì sợ cái nghèo, Lan Anh làm nghề tiếp viên với quan
điểm sống như cô nói với chồng: “Anh không muốn thì ly dị. Tôi không thể sống
chui rúc, nghèo khó. Tôi sợ nghèo lắm rồi. Còn con tôi nữa. Xã hội bây giờ phải
có tiền, anh hiểu không?”.
Từ “xô lệch” là đẩy ngã sang một bên không trên cùng con đường thẳng.
Bên cạnh những mảnh ghép cuộc đời vụn vỡ thì những mảnh ghép cuộc đời xô
lệch được Bùi Ngọc Tấn nói qua các truyện ngắn: Một tối vui là truyện những
người ở tù, mở trò phiên tòa xét xử con chuột với tội danh: tội tham ô và phá hoại.
Họ chia nhau làm chánh án, làm người bị hại, làm chứng và làm dân xem phiên
tòa xét xử. Họ đang say mê xử án thì có tiếng chuông báo giờ đi ngủ. Họ trở về
với hoàn cảnh ngày thường ngày là vẫn tiếp tục ở tù. Truyện Khói cũng là chuyện
kể về những tù nhân đang cải tạo. Do một người tù tên là Dương trốn trại, nên
Thản là công an vũ trang phải vào rừng rậm tìm bắt. Thản gặp tù Thắng chăn bò,
hai người trò chuyện và sưởi ấm bên đống lửa. Bỗng có tiếng kẻng vang báo hiệu
tù nhân về tập trung. Tù Thắng nói lời từ giã, còn Thản tiếp tục vào rừng truy tìm
tù Dương trong cảnh rừng hoang vắng. Người chăn kiến là truyện giám đốc M bị
bắt nhưng phạm tội gì ông cũng không biết. Ông M bị đánh một trận và bị nhập tù.
Sau đó, ông khỏa thân làm tượng nữ thần Tự Do cho B trưởng ngắm, chăn kiến
theo ca, khỏa thân làm chim cho B trưởng bắn. Sau bốn tháng tù, ông M được thả,
vì lý do không có tội. Nhưng ông vẫn tiếp tục khỏa thân và chăn kiến. Truyện Một
ngày dài đằng đẵng về những người tù, họ bị giam trong bốn bức tường song sắt,
họ luôn mong thời gian trôi đi nhanh. Nhưng họ vẫn có những ngày, làm thay đổi
không khí như bị bắt hỏi cung, bị điểm chỉ, nhận tiếp tế, gặp người thân… Nhân
vật anh tù Vũ Mạnh Cường ngày chuyển từ trại P đến trại N là ngày sáng chói của
anh. Trên đường đi xe cứ lại dừng, rồi chạy nhiều lần khiến Cường lo sợ đoán già
24
đoán non… Khi đến trại N, Cường mới biết hai ông công an thường dừng lại để
săn bắn. Cường bị một mẻ hoảng hồn thật sự vào ngày hôm đó. Người ở cực bên
kia là truyện về Hắn (Tuấn), Đàm, Hùng, Lê Bàn, Ngọc và các thầy cô gặp nhau
trong buổi kỉ niệm trường. Hắn và Lê bàn cùng nghiệp văn chương, nên cả hai gần
gũi hơn so với những người khác. Còn bạn khác không ai để ý đến Hắn. Vì bây
giờ, họ là Thứ trưởng, Viện trưởng, Giáo sư, Phó tiến sĩ, Giám đốc... Còn Hắn từng
đi tù.
Trong tập truyện “Người chăn kiến”, có nhiều mảnh đời bị vỡ vụn, bị xô
lệch không chỉ do con người rủi ro gặp phải, mà nguyên nhân chủ yếu và sâu xa là
do cuộc sống, do xã hội. Họ cố gắng vượt qua vì họ biết và hiểu bản thân đang gặp
phải những chuyện gì, vấn đề gì. Họ tự giải quyết theo cách nghĩ mà họ cho là thực
tế cần phải làm. Đây là một dấu hiệu của tư duy hậu hiện đại trong văn học, khi đề
cập đến những điều nghịch dị, những thân phận nhỏ bé, tiểu tự sự. Hầu hết những
nhân vật trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” đều là những con người dưới
đáy xã hội. Họ có thể ngẫu nhiên gặp tai ương, bất trắc, nhưng cũng có khi họ chủ
động “nhúng chàm” bản thân vì mưu sinh, vì tuyệt vọng, vì khát khao đổi đời. Tập
truyện “Người chăn kiến” vì vậy mang tính chất “giải thiêng” về con người, cho
thấy được những thân phận nhỏ bé, bất toàn trong xã hội, qua đó thể hiện được nỗi
đau và sự cảm thông sâu sắc của tác giả Bùi Ngọc Tấn đối với nhân vật của mình,
đặc biệt trong đó có những nhân vật lấy cảm hứng từ chính cuộc đời của nhà văn.
2.1.2. Những khát vọng đời thường
‘Khát vọng đời thường” là mong muốn làm được những việc bình thường
trong cuộc sống hằng ngày. Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc
Tấn đã nói đến những khát vọng đó như khát vọng tự do, có một mái ấm gia đình,
được no ấm, được biết sự thật, có cuộc sống yên bình, có một công việc phù hợp
với bản thân,… Trong truyện Một tối vui, những người trong tù có khát vọng được
sống cùng gia đình, cùng người thân. Trong truyện Cún, khát vọng của anh Trung
là mong cấp trên bố trí một công việc. Vợ anh Trung mong chồng bình yên và sống
vui vẻ bên mình. Còn con chó Cún mong chủ mình trở về, để được sống trong
25
vòng tay ấm áp của chủ. Trong truyện Nghệ thuật đích thực, khát vọng của các
nhân vật Chu Lai, Đình Kính và Nguyễn Quang Thân là mong kiếm được nhiều
tiền để lo cho gia đình qua nghề viết văn. Trong truyện Người mua nhà của bố
mẹ tôi, khát vọng của nhân vật Tôi là có người chăm nom ngôi nhà và mảnh vườn
của cha mẹ để lại. Còn cô Thoan (người mua nhà của nhân vật Tôi) mong lúc nào
cũng có gạo để ăn. Trong truyện Khói, nhân vật Thản có khát vọng sống cùng gia
đình và bạn bè ở quê hương. Tù Dương vì khao khát tự do nên đã vượt ngục. Còn
tù Thắng chăn bò thì mong hết hạn tù để về với gia đình dù chỉ mới thực hiện án
được tám năm. Trong truyện Lạc đội hình, nhân vật Tôi mong có cuộc sống ổn
định. Còn đồng hương của nhân vật Tôi thì mong có công việc phù hợp với trình
độ học vấn của mình, có thu nhập để chăm lo cuộc sống cho gia đình. Với truyện
Một cuộc thi hoa hậu, các bé như cái Khoai, cái Cún, cái Nhép, Cún con, cái Xíu
mong muốn sau này trở thành hoa hậu. Còn thằng Lanh với thằng Hàm mong trở
thành nhà tổ chức, ban giám khảo uy tín và công bằng. Trong truyện Thói quen,
khát vọng của ông Quân cán bộ, ông Khánh thầy giáo và ông Thông thầy giáo là
có tình bạn chân thành lâu dài. Trong truyện Những người đi ở có các nhân vật
ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết từng tham gia kháng chiến. Khi đất nước hòa bình,
dù đã về hưu nhưng họ vẫn mong có sức khỏe để tiếp tục lo cho con cháu và mong
giữ được tình bạn, tình đồng chí. Còn cô Hương Sen mong có chồng giàu để đổi
đời. Qua truyện Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu, khát
vọng của ông trung tá Vạn là cuộc sống thanh đạm, của ông Sơn Nam làm Cố vấn
Ủy ban huyện và Hội trưởng hội nuôi chim hót của tỉnh, của ông đại tá Trịnh Huy
Cần là chăn nuôi dê, của ông trung tá công binh Đức là mở một nhà máy xay xát,
của ông Đỗ Nam là sống an nhàn bên con cháu, của ông đại tá Nguyễn Trung
Chiến là mong góp ý tưởng xây dựng quê hương dù tuổi đã nghỉ hưu và sau này
mong ước trở thành nhà thơ. Trong truyện Người chăn kiến, nhân vật giám đốc
M khát vọng được biết mình đã phạm tội gì và mong sớm ra tù để trở về cuộc sống
bình thường. Trong truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật, khát vọng của các nhân
vật như Tôi và nhân vật Bình đều mong gia đình có cuộc sống no đủ. Còn anh hộ
tịch mong không bị mất chức, vì sợ gia đình lâm vào cảnh khó khăn do bị vỡ kế
26
hoạch. Trong truyện Dị bản một truyện đã in, khát vọng của chị nghệ sĩ được ở
bên người mình yêu thương, của anh họa sĩ là được ở bên cạnh chị và cố quên đi
những gì xảy ra với chị trước đó. Còn chồng cũ của chị thì mong chị sống hạnh
phúc với mối tình đầu và cũng là tình yêu của chị. Trong truyện Sức khỏe của bố,
khát vọng của phó tiến sĩ Nguyễn Trịnh là có chức, có quyền, có tiền như bạn bè.
Bà Lan vợ ông Trịnh cũng mong có nhiều tiền để sống sung sướng. Còn cụ Trịnh,
vì thương con cháu nên chấp nhận tiếp tục sống trong hổ thẹn để nhận tiền giúp đỡ
từ bên Mỹ gửi về. Trong truyện Truyện không tên, khát vọng của bà Mít là mong
xin được nhiều tiền để nuôi hai đứa cháu nhỏ ở quê nhà. Anh ăn mày thì mong có
một gia đình như bao người khác. Còn chị Sợi mong có cái nhà trú ngụ và có tiền
để nuôi mẹ già bệnh liệt gường. Trong truyện Một ngày dài đằng đẵng, khát vọng
của những tù nhân là mong thời gian qua nhanh và nhân vật Tôi cũng vậy. Còn
anh tù Vũ Mạnh Cường mong biết được mình đang ở đâu và đang xảy ra việc gì
khi trên đường chuyển trại tạm giam P đến trại tạm giam N. Trong truyện Trung
sĩ, nhân vật Hiếu mong có công việc ổn định. Còn nhân vật Tôi mong những điều
Hiếu nói về Lan Anh là không đúng. Anh Cát mong Lan Anh sống hạnh phúc với
sự lựa chọn của mình. Còn Lan Anh trải qua nhiều khó khăn trong cuộc sống của
trước và sau giải phóng, đến bây giờ chỉ mong kiếm được nhiều tiền dù làm nghề
tiếp viên cũng được, miễn không làm gì xấu. Trong truyện Người ở cực bên kia,
Hắn (Tuấn) là một người mang nghiệp văn chương có khát vọng là mong mình
chưa từng bị đi tù để bây giờ được như các bạn của Hắn có chức, có quyền, có tiền
và có danh tiếng. Lê Bàn cũng vướng nghiệp văn chương giống Hắn nhưng thỏa
mãn với những gì mình đang có. Còn Hùng thì mong có công việc và cuộc sống
ổn định… Và trong truyện Vũ trụ không cùng, nhân vật ông Thuyết có khát vọng
mong con gái Phương được hạnh phúc và ông được sống hạnh phúc bên vợ. Nhưng
cuối cùng, ông cũng mong có một không gian cho riêng mình. Còn bà Thu vợ ông
Thuyết mong sống cạnh chồng đến cuối cuộc đời.
Những khát vọng của các nhân vật là những điều rất bình thường trong cuộc
sống đời thường. Những điều đó tuy không lớn lao nhưng đối với họ là mơ ước
của cả một đời người. Ai cũng có khát vọng, chỉ khác nhau là khát vọng to lớn hay
27
nhỏ bé, cao cả hoặc bình thường và mục đích hướng đến. Với khát vọng mong
muốn sự nghiệp, giàu sang, danh lợi, chức quyền, khi trải qua rồi thì người ta lại
khao khát cuộc sống đời thường là tự do, bình yên và no ấm. Vì cuộc sống thực tế
và khát vọng luôn là hai sự việc khác nhau. Sống thực tế là phải lo cơm áo gạo tiền,
còn khát vọng hay mơ ước là chuyện của tương lai.
Nhưng cũng qua những khát vọng của các nhân vật trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho thấy dù hiện thực cuộc sống có
khó khăn, tàn nhẫn đến đâu chăng nữa, con người ta vẫn ước mơ về những điều tốt
đẹp với khát vọng đổi đời. Khác với cái nhìn tăm tối, bi thảm trong một số tác
phẩm văn học Việt Nam cũng viết theo khuynh hướng hậu hiện đại, tập truyện
ngắn “Người chăn kiến” vẫn lóe lên những tia sáng của niềm tin, của hy vọng.
2.2. Sự “giải thiêng” những “đại tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn
kiến”
Trong tác phẩm Văn học hậu hiện đại (2019), Lê Huy Bắc có nói “giải
thiêng” là giải thần tượng, giải trung tâm (phi trung tâm) đó là bản chất của tiểu
tự sự. Mà bản chất của giải trung tâm chính là “giải tôi” hoặc gọi là “phi tôi”. Khi
“giải tôi” được sử dụng trong tiểu tự sự và con người trở thành đối tượng bị trêu
đùa, giễu cợt do chính con người. Lúc này con người không còn là đối tượng của
những triết lý trong cuộc sống như: Nhân định thắng thiên; Không thầy đố mày
làm nên; Học thầy không tày học bạn…
Cách giải thích về “giải thiêng” của Hoàng Bình Xuyên trong bài viết Nhận
thức đúng về giải cấu trúc và giải thiêng (đăng trên báo điện tử Nhân dân cuối
tuần, số 48, 2014) là sự phá bỏ tính chất thiêng liêng của một hình tượng hay đối
tượng nào đó; Mang tính chất huyền thoại, trang nghiêm trong hình tượng hay đối
tượng nào đó bị mất đi hoặc không còn nữa; Về giá trị, tính cách thần tượng, tính
kiểu mẫu của đối tượng không còn làm ai ngưỡng mộ, sùng bái, tin tưởng và nể sợ
để nghe theo, làm theo và đi theo đối tượng đó. Giải thiêng còn là hạ bệ hay lật đổ
địa vị văn hóa, xã hội, lịch sử của hình tượng hay đối tượng nào đó, khiến nó rời
xa niềm tin, tâm thức của con người. (Hoàng Bình Xuyên, 2014).
28
2.2.1. Phá vỡ những quan niệm truyền thống về con người và xã hội
Trong văn học Việt Nam hiện đại, quan niệm truyền thống về con người và
xã hội luôn được đề cao như con người anh hùng, con người cộng đồng, con người
giai cấp, con người dân tộc… Trong văn học, con người là nhân vật trung tâm
trong tác phẩm. Đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1975, văn học Việt Nam chú trọng
vào mục đích tuyên truyền lòng yêu nước, chiến đấu chống ngoại xâm và quan
niệm đạo đức trong việc xây dựng lối sống và tư tưởng xã hội chủ nghĩa qua các
tác phẩm siêu tự sự. Nhưng những quan niệm truyền thống về con người và xã hội
trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn đã hoàn toàn bị phá
vỡ. Họ là những con người bình thường, sống trong hoàn cảnh bình thường. Nhưng
những gì trải qua là sự khó khăn, bất hạnh trong những hoàn cảnh không hề đơn
giản đối với họ.
Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” là những truyện đời thường của những
con người bình thường. Các nhân vật đã được “giải thiêng”, vì không có nhân vật
anh hùng, nhân vật trung tâm. Mỗi nhân vật đều có cuộc sống hạnh phúc và đau
khổ riêng. Không thế nói ai đau khổ hơn hay ai hạnh phúc hơn. Như trong Truyện
không tên, chị Sợi hành nghề gái điếm, bà Mít là người ăn xin, anh què là một
người ăn mày. Họ không phải là những người anh hùng hay những thần tượng
được kính trọng. Họ chỉ là những con người thấp cổ bé họng, những con người bên
lề của xã hội. Họ bị khinh bỉ, bị xem thường và không ai để mắt đến. Nhưng họ lại
được nói đến trong truyện như những nhân vật đặc biệt. Họ đang sống trong hoàn
cảnh mà bản thân họ cũng không mong muốn như thế. Tuy vậy, họ sống không
làm hại ai, không làm tổn thương ai. Thậm chí họ đồng cảm và giúp đỡ nhau khi
người khác gặp khó khăn trong cuộc sống. Đó là điều mà họ thấy cần phải làm.
“Giải thiêng” đã phá vỡ những quan niệm truyền thống trong đại tự sự thể
hiện qua nhân vật Cún trong truyện Cún, là một chú chó được nói đến như một
con người với những biểu cảm và cảm xúc được miêu tả rõ nét đến chân thực qua
lời văn: “Cặp mắt nó liếc ngang nhìn tôi. Đó là đôi mắt he hé, cam chịu… Nó rên
lên vì đau đớn.”. Hình ảnh của chú chó như hiện ra trước mắt với nỗi đau thể xác
29
và tâm hồn trong thân hình bé nhỏ của một con vật. Hay những đứa trẻ như cái
Khoai, cái Cún, cái Nhép, Cún con, cái Xíu, thằng Lanh với thằng Hàm là những
nhân vật cùng tham gia vào trò chơi trẻ con thi hoa hậu nhưng được nói đến với
ước mơ, nỗi buồn, chiến thắng, thua cuộc, công bằng, hạnh phúc… như chuyện
đời của bao người lớn khác đang diễn ra trong xã hội hiện tại. Còn bé Hải Hà mới
hăm hai tháng tuổi là người tham gia góp vui và cũng là người chứng kiến những
gì đang diễn ra. Có thể bé Hải Hà hiểu hoặc không hiểu sự việc đang xảy ra trong
truyện Một cuộc thi hoa hậu. Nhưng bé là một biểu trưng cho tương lai với sự
ngây thơ, hồn nhiên và qua đó người đọc có quyền mong về một tương lai tốt đẹp
cho các nhân vật.
Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn đã phá vỡ quan
niệm phải xây dựng những tự sự lớn, mà ngược lại, tác giả đã viết về những câu
chuyện thường ngày trong cuộc sống. Trong truyện Người mua nhà của bố mẹ
tôi, nhân vật Tôi sợ không đủ sức để chăm nom nên bán ngôi nhà và mảnh vườn
của cha mẹ để lại. Người mua nhà và mảnh vườn của cha mẹ Tôi là cô Thoan,
người từng làm công cho gia đình Tôi. Bây giờ, cô giàu có và muốn sống cùng với
các con của cô, nhưng họ đều ở phương trời Tây. Hay nhân vật ông Quân có tính
cách và thói quen lừa dối ông Thông và ông Khánh, còn dùng họ làm nền cho sự
tiến thân trong truyện Thói quen. Các nhân vật Tôi là nhà văn, Hiếu là một tài xế
và Lan Anh là tiếp viên (từng là trung sĩ, từng là đồng đội). Nhưng bây giờ, mỗi
người một cuộc sống với một quan niệm sống khác nhau. Dù rằng cuộc sống đó,
không như bản thân họ mong muốn. Nhân vật ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết trong
truyện Những người đi ở từng tham kháng chiến. Bây giờ trong thời hòa bình,
những người đã mất thì cũng dần bị lãng quên, những người ở lại tiếp tục cuộc
sống. Họ chăm lo cho gia đình, cho con, cho cháu dù tuổi đã về hưu. Cuộc sống
luôn trôi theo thời gian, làm nhạt mòn nhiều điều như các nhân vật trong truyện Dị
bản một chuyện đã in. Anh họa sĩ, chồng cũ của chị nghệ sĩ cũng từng đi lính, họ
đều bị thương và trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng họ không còn được hạnh
phúc như xưa. Vì cuộc sống và hoàn cảnh hiện tại, họ phải chịu nhiều nỗi đau trong
tình yêu và trong thể xác. Còn chị nghệ sĩ đau khổ trong sự lựa chọn của mình và
30
chị cảm thấy có lỗi với cả hai người đàn ông (chồng mới và chồng cũ). Nhân vật
Tôi, Bình và anh hộ tịch trong truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật đang sống
trong thời kì bao cấp. Nhưng Bình và anh hộ tịch đều bị vỡ kế hoạch hóa gia đình.
Bình sợ cái đói, còn anh hộ tịch thì sợ mất việc nên cả hai phải nhờ đến thuốc phá
thai. Các nhân vật trong truyện Sức khỏe của bố như phó tiến sĩ Nguyễn Trịnh và
bà Lan (vợ ông) làm ăn không chân chính nên bị thất bại và bị mất việc làm. Bà
Lan phải chật vật bán bún riêu để kiếm sống. Khi có tiền của bà Lê (tình đầu của
cụ Trịnh) ở Mỹ gửi về cho cụ Trịnh thì ông Trịnh và cụ Trịnh tiêu tiền vào nhà
hàng karaoke có gái đẹp phục vụ. Bị con trai bắt gặp, cụ Trịnh cảm thấy xấu hổ
với bản thân và người nhà. Nhưng vì cuộc sống sung sướng đã quen, cụ Trịnh phải
cam chịu sự mất mặt để cho con cháu nhờ. Cũng có những nhân vật dù đã hết tuổi
để cống hiến sức mình cho đất nước, nhưng họ vẫn khao khát làm gì đó để phục
vụ cho làng quê qua kinh nghiệm của bản thân. Khi việc làm được thực hiện và đạt
kết quả thì họ lại sống với thành quả của mình như ông Nguyễn Trung Chiến và
con trai ông là Nguyễn Quyết Thắng trong truyện Làng có 99 cái ao, cây đa 99
cành và ông đại tá về hưu.
Bên cạnh đó, tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn cũng
miêu tả những con người chỉ mong muốn hoàn thành công việc, nhiệm vụ và trách
nhiệm của bản thân, vì lợi ích của bản thân. Họ không còn vì cái chung của toàn
thể, mà chỉ nghĩ hiện tại họ làm được những gì như trong truyện Lạc đội hình,
đồng hương của nhân vật Tôi không cùng chí hướng cũng như cách quản lý giống
Đẩu, Tuất và cấp trên. Đồng hương của Tôi đã bị lạc lối, lạc đội hình nên đồng
lương ít ỏi. Đồng hương của Tôi xin chuyển công tác vì thấy không thể cùng đội
hình và cũng để tự kiểm điểm bản thân mình. Trong truyện Nghệ thuật đích thực,
các nhà văn như Đình Kính, Chu Lai và Nguyễn Quang Thân là những trí thức
nhưng bây giờ phải kiếm sống bằng nghề viết văn thuê (theo yêu cầu của khách
đặt hàng). Họ cảm thấy có lỗi với nghề viết lách của mình. Nhưng vì cuộc sống và
vì xã hội lúc bây giờ không còn như trước nữa, nên họ phải chuyển hướng theo để
cho phù hợp với hoàn cảnh. Như Jean Francois Lyotard bàn về “Thân phận tri
thức” đã nói đến tri thức, thời cận đại và hiện đại thì phổ biến tư tưởng giải phóng
31
con người trước những áp bức bất công. Đến thời của Lyotard thì công nghệ thông
tin phát triển và kinh tế tri thức được ưa chuộng ở hầu hết mọi lĩnh vực. Và hậu
hiện đại cho thấy tri thức đã thay đổi phận vị trong xã hội phát triển. Trí thức trở
thành một mặt hàng, ngành nghề kinh doanh như những mặt hàng hay ngành nghề
kinh doanh khác.
Ngoài ra, còn có một số nhân vật là những người đang bị lãng quên trong
xã hội, phần lớn là những người phạm tội, tù nhân. Nhưng trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn được nói đến như những nhân vật khác biệt,
có tính chất nghịch dị (ở đây không bàn việc hành vi của họ là đúng hay sai). Một
nhóm người ở trong một buồng giam chật chội với trò chơi mở phiên tòa xét xử
tội phạm trong truyện Một tối vui. Sau một buổi tối cười ra nước mắt, tất cả mọi
người trở về ngủ. Hay trong truyện Người chăn kiến, ông M chỉ đơn giản là muốn
biết mình đã phạm tội gì và mong ra tù sớm. Truyện Một ngày dài đằng đẵng cho
thấy những người tù, những người phạm tội cũng khao khát được mãn hạn tù để
về với gia đình. Còn anh tù Vũ Mạnh Cường, đơn giản là chỉ mong biết sự việc
đang diễn ra với mình trên đường chuyển chỗ tạm giam. Hay Hắn (Tuấn) là người
làm báo, là người viết văn, là kỹ sự, là bác sĩ, nhưng Hắn từng đi tù trong truyện
Người ở cực bên kia. Tù Dương là sinh viên năm thứ tư, đi tù vì tội đánh nhau với
thanh niên trường sơ tán, đã thực hiện được bảy năm. Nhưng còn một năm nữa thì
Dương lại bỏ trốn. Còn tù Thắng đang thực hiện hình phạt tù của mình trong truyện
Khói.
Nhân vật trong các truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn là những con người bình
thường, những con người thấp bé, bị xem thường, bị lãng quên, bị đi tù, đang ở tù,
từng đi tù… Đây là cách thể hiện sự giải thiêng trong tập truyện ngắn nhìn từ
phương diện nhân vật. Không có nhân vật trung tâm hay cái tôi mà có nhiều nhân
vật khác nhau hoặc giống nhau cùng xuất hiện trong truyện. Qua ngòi bút của nhà
văn Bùi Ngọc Tấn, nhân vật sống cuộc đời của mình trong xã hội với những điều
tưởng chừng đơn giản, bình thường nhưng nó ảnh hưởng đến cả đời người. Thậm
32
chí, những nghịch dị không lý giải được trong hành vi, tính cách của những nhân
vật cũng là một biểu hiện của lối viết hậu hiện đại.
2.2.2. Những chân lý mới phổ quát
Chủ nghĩa hậu hiện đại mở rộng trần thuật, đặc biệt là mở rộng cái nhìn về
cuộc sống. Vì giá trị cuộc sống của một con người là một cuộc đời. Theo chủ nghĩa
hậu hiện đại thì cuộc sống hay cuộc đời của con người giống như một trò chơi với
những quy tắc và quy luật không cố định. Để cho con người thể nghiệm, để trưởng
thành như cái Khoai, cái Cún, cái Nhép, Cún con, cái Xíu, thằng Lanh với thằng
Hàm và bé Hải Hà trong truyện Một cuộc thi hoa hậu, qua chơi trò chơi thi hoa
hậu ngõ. Cuộc sống có quá nhiều cảnh ngộ khiến chúng ta phải suy ngẫm như
truyện Truyện không tên, chị Sợi sống hiếu thảo với mẹ và tốt với những người
gặp khó khăn trong cuộc sống mưu sinh. Bà Mít đi ăn xin dù tuổi già sức yếu vì
nuôi hai cháu nhỏ. Anh què đi ăn mày, vì cái ăn mà giả què dẫn đến hậu quả bị què
thật. Nhưng họ gặp nhau và giúp đỡ nhau, cho dù không biết tương lai phía trước
như thế nào. Họ chỉ biết là hiện tại nên làm gì mới là thực tế nhất. Như truyện Vũ
trụ không cùng, lúc đầu ông Thuyết lo cho con gái và yêu thương vợ. Ông luôn
cố gắng gìn giữ hạnh phúc với ý nghĩ vợ chồng già là phải luôn ở cạnh nhau ngay
cả khi ngủ. Nhưng vợ ông bị bệnh nặng phải ngủ riêng. Khi đó, ông và vợ mới
hiểu cảm giác ngủ một mình thật thoải mái. Trước khi ngủ, ông tự do suy nghĩ về
vũ trụ bao la ngoài kia như thế nào. Vì trong không gian đó chỉ có một mình ông
tự tại. Như vậy một cách sống vượt ra những khuôn mẫu thông thường đôi khi lại
là điều hợp lý và hạnh phúc. Nhân vật Tôi trong truyện Người mua nhà của bố
mẹ tôi phải bán ngôi nhà và mảnh vườn, để có người chăm sóc. Cô Thoan sống
giàu có, nhưng cô Thoan vẫn cô đơn một mình. Vì các con cô không ở cùng mà
sống ở Canada. Khi cô Thoan mất, cũng đơn giản như lúc còn khó khăn, vì cô đã
quen với cuộc sống bình dị nơi quê cũ của mình. Trong cuộc sống, mọi thứ hiện
hữu rồi mất đi hoặc thay đổi, không có gì là tuyệt đối.
Trong xã hội cũng có những chuyện xảy ra quá phi lý, nhưng có thể đến với
bất kỳ ai như giám đốc M trong truyện Người chăn kiến, bị tù mà không biết mình
33
đã phạm tội gì. Truyện Khói có nhân vật tù Dương ở tù tám năm chỉ vì đánh nhau
với thanh niên địa phương trường sơ tán. Còn anh tù Vũ Mạnh Cường trong truyện
Một ngày dài đằng đẳng, bị chuyển từ trại tạm giam P đến trại tạm giam N, con
đường có ba mươi km mà trở thành một ngày dài đằng đẵng. Hắn (Tuấn) truyện
Người ở cực bên kia, các bạn học khác không ai để ý đến Hắn vì Hắn trước kia
từng ở tù.
Anh Trung trong truyện Cún từng tham gia cách mạng trước 1945, anh từng
bị giặc Tàu Tưởng bắt, bị tra tấn và được chuộc về sau khi đưa vàng. Từ đó, anh
không còn được trọng dụng. Anh Trung quyết đi ra Hà Nội. Nhưng anh đi mãi
không về. Con chó Cún chờ anh mãi không về. Cún đi tìm anh, rồi bị thương. Cuối
cùng, Cún cũng bị bán đi để làm thịt. Trong truyện Thói quen, những người bạn
của ông Quân khi biết được con người thật của ông thì họ cắt đứt mối thâm tình
bấy lâu nay. Đặc biệt là ông Thông, đến khi chết ông Thông cũng không bỏ qua
cho ông Quân. Còn ông Khánh thấy ông Quân bây giờ cũng già rồi, nên bỏ qua và
mời vào nhà chơi như lúc còn thân với nhau. Đối với những người làm việc trong
cơ quan nhà nước, theo cách nhìn truyền thống thì phải luôn làm gương cho người
dân noi theo. Nhưng họ cũng là con người, cũng không trách khỏi việc làm sai quy
định như truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật. Nhân vật Bình là nhà văn nhưng
không thực hiện được kế hoạch hóa gia đình. Còn anh hộ tịch là người làm ở cơ
quan nhà nước cũng vậy. Đối với các nhà văn, trong nghề viết lách thì nghệ thuật
là điểm làm nổi bật tác phẩm. Các nhân vật Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang
Thân trong truyện Nghệ thuật đích thực là các nhà văn được mời viết sách về một
đơn vị lâm trường ở Đồng Nai. Nhưng đây xét cho cùng là sự bán chữ nghĩa. Con
người lúc ấy vẫn chưa thể tiếp nhận bởi những giá trị, tư tưởng mới. Văn hóa và
đạo đức cũ theo họ đang bị phai nhạt và mất dần hoặc bị biến đổi ý nghĩa tốt đẹp
của ban đầu. Những giá trị mới của hiện đại đang làm mất dần đi những giá trị
truyền thống của con người như: ở hiền gặp lành; gieo quả nhân nào thì gặp quả
đó; sông có khúc người có lúc; không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời;… Trong
truyện Trung sĩ, vì cuộc sống khó khăn khiến cho Lan Anh phải thay đổi. Lan Anh
nghĩ rằng mình không làm gì xấu và không ngại làm nghề tiếp viên để kiếm tiền
34
nuôi con, nuôi gia đình. Nhân vật Tôi và Hiếu cảm thấy buồn khi nhìn đồng đội
mình như thế, nhưng trong mỗi chúng ta ít hay nhiều thì ai cũng có lúc nghĩ như
Lan Anh.
Khi con người mất dần niềm tin, niềm vui trong cuộc sống, con người chỉ
thấy khổ sở, tuyệt vọng, tủi nhục, đau buồn, bất công, dối trá,… khiến họ nhìn
cuộc đời như một trò chơi. Cũng qua đó, xuất hiện những chân lý mới mà hậu hiện
đại thường hay nói đến: Một là, không có gì là tuyệt đối đang phổ quát với mọi
thứ trở nên thực tế và đời thường. Hai là, cuộc đời như một trò chơi trong những
trò chơi khác. Có bắt đầu và có kết thúc hoặc không. Ba là, con người hoài nghi
mọi thứ trong thế giới thực tại.
2.3. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”
Tiểu tự sự đối nghịch với siêu tự sự. Siêu tự sự là câu chuyện lớn hay tác
phẩm lớn thì tiểu tự sự là những câu chuyện nhỏ (đời thường) hay tác phẩm nhỏ
như truyện ngắn, tản văn…
2.3.1. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong đề tài
Theo như sách 150 Thuật ngữ văn học (2017) của Lại Nguyên Ân thì Đề
tài là phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm (chủ yếu
là tác phẩm tự sự và kịch), đồng thời gắn với việc xác lập chủ đề của tác phẩm.
Đối với phần lớn sáng tác thơ trữ tình, khái niệm đề tài gần như đồng nhất với khái
niệm chủ đề (Ở các hệ thuật ngữ ở châu Âu, khái niệm “théma” bao gồm cả hai
nét nghĩa đề tài và chủ đề). Những thuộc tính chung về đề tài (và chủ đề) là căn cứ
để tập hợp tác phẩm theo nhóm thể tài (ví dụ tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết du
đãng, truyện trinh thám hoặc truyện khoa học viễn tưởng…).
Đề tài có nhiều loại đề tài như: chuyện về con người, con thú, cây cỏ, chim
muông, đồ vật lại có cả chuyện thần tiên, ma quái, chuyện quá khứ và chuyện viễn
tưởng của mai sau… Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời
sống được miêu tả. Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài
(theo Chương 8. Đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Văn học trong Lí luận văn
35
học (2006) của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La
Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình).
Tiểu tự sự trong đề tài về cuộc sống của những con người bình thường
trong xã hội được thể hiện qua các nhan đề truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn như:
Nhan đề Cún cho thấy một câu chuyện nói về Cún và các nhân vật khác như anh
Trung, chị Thanh, Tôi (Tuấn), ông “xuất khẩu” và ông Vinh… Cún là con chó
được con người nuôi dưỡng nhưng lại là con vật trung thành mà anh Trung yêu
thương vì nó là niềm hạnh phúc của anh lúc này. Nhan đề Nghệ thuật đích thực
là câu chuyện nói về nghệ thuật nhưng bị trêu đùa như viết thuê, nghệ thuật bị nghệ
thuật khác lừa và những chiêu trò cám dỗ trong truyện được nói đến mang tính
chất châm biếm, chế diễu nhưng hài hước. Nhan đề Người mua nhà của bố mẹ
tôi nói về nhân vật Tôi và người mua nhà của bố mẹ Tôi. Ngôi nhà của bố mẹ mình
nay thuộc về người khác. Nhan đề Một cuộc thi hoa hậu nói về một cuộc thi sắc
đẹp, là ước mơ của biết bao cô gái. Nhưng trong câu chuyện này lại là một trò chơi
của những đứa trẻ ở một ngõ, hẻm. Nhan đề Thói quen nói lên câu chuyện của
những con người với những hành động và lời nói xấu, không đúng chuẩn mực của
đạo đức xã hội lại trở thành thói quen mà không bỏ được. Nhan đề Làng có 99 cái
ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu nói về câu chuyện của ông đại tá về hưu
và ngôi làng có những điểm khác biệt so với những ngôi làng khác. Nhan đề Ngưu
tất, hồng hoa, nga truật là một bài thuốc để phá thai, nhưng được nói đến trong
câu chuyện này. Vì bài thuốc đem lại cái ăn, công việc cho nhiều người nhưng lại
vi phạm về mặt đạo đức. Nhan đề Dị bản một truyện đã in nói về chuyện tình cảm,
nỗi đau và vết thương của chiến tranh mang lại đã ảnh hưởng đến cuộc sống của
các nhân vật trong truyện. Nhan đề Sức khỏe của bố cho thấy sức khỏe của người
bố là quan trọng. Vì người bố còn khỏe mạnh thì mới có cuộc sống sung túc, nếu
không thì phải lâm vào cảnh nghèo khổ của các nhân vật trong câu chuyện. Nhan
đề Trung sĩ nói trung sĩ Lan Anh là một người năng nổ trong công việc nhưng sau
giải phóng chị trở thành tiếp viên tại một nhà hàng và các nhân vật khác như anh
Cát chồng Lan Anh, Tôi và Hiếu là đồng đội… Nhan đề Vũ trụ không cùng nói
về ông Thuyết, Phương con gái ông Thuyết, vợ ông Thuyết là bà Thu và các cháu,
36
các bạn ông Thuyết. Khi đến tuổi già, ai cũng cần có khoảng không riêng tư để
được tự do và thoải mái, giống như mỗi con người là một vũ trụ riêng.
Tiểu tự sự trong đề tài về cuộc sống của những con người thấp bé trong
xã hội được Bùi Ngọc Tấn thể hiện qua nhan đề không có tên. Nhan đề Truyện
không tên nói đến những câu chuyện đã xảy ra quá thường ngày trong xã hội và
những nhân vật trong câu chuyện là những người nghèo, ăn mày, ăn xin không có
nơi ở và không có tương lai phía trước.
Tiểu tự sự trong đề tài về cuộc sống của những con người bị lãng quên
trong xã hội được Bùi Ngọc Tấn thể hiện qua nhan đề của truyện ngắn Một tối vui
là câu chuyện nói về những tù nhân tổ chức một trò chơi “mở phiên tòa xét xử Chí
Văn Chuột (con chuột)” vào buổi tối hôm đó. Họ được vui vẻ, đồng thời cũng thể
hiện cho thấy đã lâu rồi chưa được vui như thế. Nhan đề truyện ngắn Khói thể hiện
hình ảnh thân quen của những con người sống ở đồng lúa. Khói bốc lên sau mùa
gặt, từ những rơm rạ đang cháy rực để sưởi ấm khi trời se lạnh, hoặc những ngôi
nhà đang nấu cơm lúc sáng sớm hay chiều về như bài thơ Tràng giang (1939) của
nhà thơ Huy Cận không cần có khói cũng nhớ nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con
nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nhan đề của truyện Lạc đội hình nói
đến sự khác biệt, là không giống trong cùng một loại hình của những con người
lương thiện với con những người không lương thiện. Câu chuyện trong nhan đề
Một ngày dài đằng đẳng là sự đối lập của hai thế giới khác nhau nhưng diễn ra
cùng một thời gian, cùng một địa điểm mà kẻ bị nhốt trong không gian hẹp không
biết thế giới bên ngoài đang xảy ra chuyện gì và một ngày phải trải qua thật đằng
đẵng. Nhan đề Người ở cực bên kia là câu chuyện của những người bạn. Người
thì làm Thứ trưởng, Viện trưởng, Phó tiến sĩ, Giáo sư, Giám đốc,… nhưng riêng
Hắn (Tuấn) làm báo và từng đi tù. Riêng nhan đề truyện ngắn Người chăn kiến và
tên nhan đề chung của cả truyện tập ngắn “Người chăn kiến” đã thể hiện sự nhỏ
bé, từ con người, con vật đến công việc mà nhan đề nói đến. Có công việc chăn bò,
chăn ngựa, chăn dê, chăn cừu, chăn lợn, chăn vịt…, nhưng ở đây là công việc chăn
kiến. Một con vật bé nhỏ nhưng có khả năng tự kiếm sống trong tự nhiên, không
37
cần phải ai chăn giữ. Đây là một công việc mới có trong truyện. Một công việc bị
con người đem ra trêu đùa, làm trò chơi để tiêu khiển.
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, các đề tài về
cuộc sống con người bình thường, bé nhỏ, bị lãng quên trong xã hội được thể hiện
rõ qua từng nhan đề. Những vấn đề xảy ra trong cuộc sống của các nhân vật có
nhiều đau khổ nhưng có ít hạnh phúc. Đây cũng là một đặc trưng cho kiểu bi kịch
hậu hiện đại.
2.3.2. Khuynh hướng “tiểu tự sự” trong cốt truyện
Cốt truyện (plot) là là sự kiện chủ yếu, cái sườn của sự kiện hay tình huống
trong một tác phẩm tự sự (theo Chương 8. Cấu trúc và tính nội bộ của truyện kể
trong tác phẩm Dẫn luận thi pháp học văn học (2017) của Trần Đình Sử).
Văn học cũng chuyển hướng từ siêu tự sự sang tiểu tự sự giống như thị
trường kinh tế lúc trước chú trọng nhà sản xuất, nhưng bây giờ chuyển sang chú
trọng người tiêu dùng. Đến một giai đoạn hay một thời điểm phù hợp thì các quan
niệm cũ sẽ thay đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Trước năm 1975,
những tác phẩm siêu tự sự ra đời vì nó phù hợp với giai đoạn của của xã hội. Nhưng
sau 1975, thì các tiểu tự sự ra đời để thấy rõ những điều bình thường, thấp bé, bị
lãng quên và tự lãng quên trong cuộc sống.
Còn truyện của Bùi Ngọc Tấn là những câu truyện nhỏ, có nhiều nhân vật,
mỗi nhân vật có hoàn cảnh khác, có cuộc sống khác và kết truyện theo hướng mở.
Như trong truyện Một tối vui, những người tù sống trong căn buồng giam chật hẹp
và nhà mét bên cạnh. Mỗi một người trong đây đều có một câu truyện của riêng
mình. Họ sống chung cùng một nơi, nhưng nguyên nhân của việc vào tù của mỗi
người là khác nhau. Truyện Cún nói về anh Trung, chị Thanh, Tôi, ông “xuất
khẩu”, ông Vinh, thầy giáo… Mỗi người một hoàn cảnh và gặp nhau qua việc nhận
nuôi Cún. Truyện Nghệ thuật đích thực là chuyện nhà văn Đình Kính, Chu Lai,
Nguyễn Quang Thân là những nhà văn trong thời kì bao cấp cuối thập niên 80, gặp
nhau qua việc viết văn thuê cho giám đốc lâm trường quốc doanh ở Đồng Nai.
38
Chuyện ba người họ đi bán thuốc lá, chuyện Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân và
chuyện Đình Kính bị mất nhẫn là những mẩu chuyện đời thường. Truyện Người
mua nhà của bố mẹ tôi là chuyện về cuộc đời Tôi, cuộc đời cô Thoan, cuộc sống
của cái Vân và cái Thoa ở bên Canada… Trong truyện Khói nói về những người
đang ở tù và những người canh giữ tù nhân, mà cả hai đối tượng đều phải rời xa
gia đình và người thân, bạn bè và làng quê. Truyện Lạc đội hình là câu chuyện về
nghề nghiệp của Tôi, của người đồng hương và các nhân vật khác như Đẩu, Tuất,
giám đốc Trần Đăng Quang… Truyện Một cuộc thi hoa hậu là chuyện về cuộc
sống ở ngõ, hẻm. Chuyện về trẻ con ở ngõ tổ chức thi hoa hậu, chuyện về ước mơ
của các bé… Truyện Thói quen là chuyện về cuộc sống, nghề nghiệp, thói quen,
tình bạn của ông Thông, ông Khánh, ông Quân… Truyện Những người đi ở là
chuyện về cuộc sống ở làng quê của ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết, là chuyện về
cuộc sống ở thành thị, về những người con của các ông bà ở thành phố, chuyện về
cô Hương Sen… Truyện Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu
là chuyện về các trung tá, các đại tá nghỉ hưu về quê: Chuyện về đất phát văn, làng
đất văn, chuyện ông Chiến phát hiện ra mình có tài làm thơ. Truyện Người chăn
kiến là chuyện về cuộc sống của ông M lúc ở tù và sau khi ra tù, chuyện về nhà tù
do B trưởng quản, chuyện về các tù nhân bị đem ra làm trò tiêu khiển. Truyện
Ngưu tất, hồng hoa, nga truật là chuyện của Tôi, Bình, vợ Bình, anh hộ tịch về
cuộc sống khó khăn, chuyện về kế hoạch hóa gia đình, chuyện về cán bộ, chuyện
về nhà văn. Truyện Dị bản một truyện đã in là chuyện của chị nghệ sĩ vĩ cầm, anh
họa sĩ, chồng cũ của chị nghệ sĩ về tình yêu và hôn nhân, là chuyện về nghề nghiệp,
chuyện về cuộc sống trước và sau chiến tranh. Truyện Sức khỏe của bố là những
câu chuyện của bạn bè ông Trịnh, ông Trịnh, bà Lan, cụ Trịnh, các con của ông
Trịnh và bà Lan, bà Lê về chức quyền, học vị, nghề nghiệp, buôn bán, sức khỏe,
tiền… Truyện Truyện không tên là những câu chuyện nói về cuộc sống của chị
Sợi bán hàng linh tinh và hành nghề gái điếm và người mẹ bị bại liệt, về bà Mít ăn
xin và hai đứa cháu, về anh què ăn mày và những người ăn mày, ăn xin… Truyện
Một ngày dài đằng đẵng là chuyện về những tù nhân, về anh tù Cường chuyển
trại, về hai ông công an áp giải, về những người các bộ ở trại giam… Truyện Trung
39
sĩ là chuyện về cuộc sống, nghề nghiệp, tiền tài của nhân vật Tôi nhà văn, Hiếu tài
xế, Lan Anh tiếp viên, anh Cát chồng Lan Anh, con và mẹ Lan Anh, các sếp...
Truyện Người ở cực bên kia là chuyện về cuộc đời, sự nghiệp, cuộc sống hiện tại
của nhân vật Hắn, bạn bè Hắn, thầy cô và buổi gặp mặt trong ngày kỉ niệm bốn
mươi năm thành lập trường. Truyện Vũ trụ không cùng là những câu chuyện về
cuộc đời, cuộc sống hiện tại của ông Thuyết, của bà Thu, chuyện gia đình vợ chồng
con cái của gái ông Thuyết…
Văn học luôn đồng hành với thời gian và không gian để phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của xã hội. Văn học phát triển phong phú và đa dạng, các tác
giả cũng tìm cho mình một điểm khác để gây chú ý cho người đọc và nghe. Nhà
văn Bùi Ngọc Tấn không ngoại lệ khi đi theo hướng hậu hiện đại. Mỗi truyện ngắn
trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn là một tiểu tự sự. Và
trong mỗi cốt truyện ngắn lại có nhiều tiểu tự sự khác.
*Tiểu kết
Bùi Ngọc Tấn là một trong những nhà văn thể hiện yếu tố hậu hiện đại trong
tác phẩm của mình qua tập truyện ngắn “Người chăn kiến” về những mảnh đời
thường từ mảnh ghép cuộc đời vụn vỡ, xô lệch, những khát vọng đời thường. Sự
“giải thiêng” những “đại tự sự” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” đã phá
vỡ những quan niệm truyền thống về con người và xã hội, những chân lý mới phổ
quát. Ngoài ra, có thể nói đến khuynh hướng “tiểu tự sự” trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến”, khuynh hướng “tiểu tự sự” trong đề tài, khuynh hướng “tiểu
tự sự” trong cốt truyện cho thấy rõ yếu tố hậu hiện đại trong nội dung của tác phẩm.
Nội dung trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” đã thể hiện những điều trăn
trở của nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua những câu chuyện đời thường với những trớ
trêu, khó khăn, bất lực, tổn thương, trầm lặng… trong cuộc sống, được viết bằng
lối văn giễu nhại và hài hước.
40
Chương 3. YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
“NGƯỜI CHĂN KIẾN” CỦA BÙI NGỌC TẤN NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT
Trong tác phẩm văn học, có hai phương diện chủ yếu: nội dung và hình thức.
Đối với nội dung có hai thành phần cơ bản: Một là, thành phần miêu tả những sự
vật, sự việc, hiện tượng của hiện thực. Hai là, thành phần tình thái thể hiện những
quan điểm, lập trường, điểm nhìn, thái độ tình cảm chủ thể với điều được nói đến.
Đối với hình thức của tác phẩm văn chương có ba yếu tố cơ bản: văn bản ngôn từ,
kết cấu và thể loại tác phẩm. Yếu tố văn bản ngôn từ của hình thức có chức nằng
cơ bản là vẽ ra bức tranh đời sống và biểu hiện thái độ, cái nhìn của chủ thể bằng
phương tiện ngôn ngữ. Yếu tố kết cấu, như ngữ pháp có vai trò tổ chức các đơn vị
có nghĩa trong văn bản thành những lời phát biểu. Yếu tố thể loại văn học là những
quy tắc tổ chức hình thức tác phẩm ứng với loại hình nội dung nghệ thuật của nó,
ví dụ muốn bộc lộ cảm xúc trữ tình nhiều thì sử dụng thể loại thơ. Trong tác phẩm
văn học nói chung, nội dung và hình thức có thể tách rời, ví dụ trong tác phẩm Vội
vàng của Xuân Diệu: Nội dung của tác phẩm là lời giục giã, lời hối hả hãy sống
mãnh liệt, sống hết mình qua từng phút, từng giây trong cuộc đời mình và đặc biệt
là những năm tháng của tuổi trẻ.
Hình thức mà tác phẩm sử dụng: thể loại thơ; kết cấu triết luận – trữ tình:
triết luận về lẽ sống đẹp, tích cực và quý trọng thời gian (thời gian trôi qua đi là
không thể níu hay giữ lại được), trữ tình thể hiện qua mạch cảm xúc từ rung động
của tâm hồn với niềm khao khát tận hưởng cuộc sống theo thời gian từng giây phút
của cái đẹp thiên nhiên và con người trên thê gian này; văn bản ngôn từ là sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và lí luận, giọng điệu say mê, sôi nổi, cuồng nhiệt
và những sáng tạo độc đáo hình ảnh thơ qua ngôn từ.
Thời đại ngày nay, nhu cầu tìm hiểu kiến thức của người tiếp nhận đang có
xu hướng phát triển mạnh. Một tác phẩm, muốn được đến với người tiếp nhận
nhanh cần làm nội bật tác phẩm đó qua sự kết hợp lí giải, phân tích và cách diễn
đạt kết hợp từ nội dung với hình thức hoặc từ hình thức với nội dung để làm rõ
những vấn đề muốn truyền tải đến với người tiếp nhận. Bởi giũa chúng có sự thâm
41
nhập, đan xen, kết hợp và hòa hợp với nhau để làm cho tác phẩm thêm thú vị (Bùi
Minh Toán, 2017).
3.1. Nghệ thuật ngôn ngữ mang màu sắc hậu hiện đại
3.1.1. Sử dụng ngữ đoạn và một số biện pháp tu từ trong tác phẩm
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng ngữ đoạn trong truyện để tạo sự ngắn gọn, súc tích cho lời nói, để lời nói vừa
mang hình tượng vừa tạo giá trị biểu cảm cao. Một vài ví dụ như: “Cười, cười thả
phanh”, “Cười, Cười phát đau cả bụng. Nấc. Đói. Giàn nước mắt.” trong truyện
Một tối vui; “- Cún. Mày trêu bố mày đấy hở. Được rồi”, “- Mừng bố về hử. Nhớ
bố hử. Ngoan lắm” trong truyện Cún… Qua những dẫn chứng trên, các truyện
ngắn của Bùi Ngọc Tấn đã thể hiện yếu tố hậu hiện đại trong cách lập ngôn ngắn,
cực ngắn của con người trong văn học hậu hiện đại. Cách viết ngắn như vậy vừa
tạo ra dấu ấn riêng trong giọng văn, vừa cho thấy phần nào tính cách nhân vật qua
những phát ngôn của họ.
Bên cạnh đó, trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn,
ông đã sử dụng phép láy để tạo cho câu văn thêm sinh động, hài hước, châm biếm
như: thẫn thờ, thăm thẳm “…, ngước nhìn lên mà chẳng nhìn ai, với cặp mắt thẫn
thờ thăm thẳm chiều sâu” trong truyện Nghệ thuật đích thực; thòm thèm “Phải
rời bàn ăn khi vẫn còn một chút thòm thèm”, nhem nhuốm “Chúng giống nhau ở
mái tóc đỏ hoe dựng đứng, khuôn mặt nhem nhuốc và vẻ sợ hãi tất cả mọi người”
trong truyện Người mua nhà của bố mẹ tôi… Tác giả sử dụng từ láy để nhấn
mạnh vẻ đẹp của tự nhiên, của con người hoặc của sự vật, của sự việc. Ngoài ra,
còn để thu hút sự chú ý và tạo sự thú vị cho tác phẩm. Tác giả Bùi Ngọc Tấn sử
dụng từ láy điệu nghệ, linh hoạt và khoa học càng làm cho sự việc, sự vật, hiện
tượng, con người được miêu tả trở nên sinh động và gây ấn tượng đến người đọc,
người nghe. Đây cũng là một thủ pháp quen thuộc của hậu hiện đại.
Và trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng phép điệp trong truyện ngắn như: “Kể chuyện về sự nghiệp. Sự nghiệp là
tất cả. Ngay cả vợ con chúng tôi, chúng tôi cũng tống họ đi chơi Tết…” trong
42
truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật; Nó chẳng là gì so với chiều dài một ngày
của bọn người đặc biệt: Bọn tù, Bọn phạm”, “… Rồi Cường reo lên khe khẽ.
Trong hoàn cảnh như vậy mà vẫn reo lên thì thật lạ, nhưng đúng là Cường đã reo
lên. Cường đã reo lên khi trông thấy một bức tường xây vuông vức trên một gò
đất cạnh đường quốc lộ” trong truyện Một ngày dài đằng đẳng… Với các dẫn
chứng trên, tác giả Bùi Ngọc Tấn sử dụng điệp ngữ trong truyện nhằm tăng yếu tố
diễn đạt như vần, nhịp, từ, cụm từ, câu, để nhấn mạnh ý biểu đạt hàm xúc biểu cảm
và ý nghĩa cho câu văn. Ngoài ra, còn để gợi hình tượng nghệ thuật trong lời nói
của truyện như điệp đầu câu, giữa câu, cách quãng, điệp liên tiếp. Tác giả sử dụng
điệp ngữ để làm cho câu văn thêm hài hòa, cân đối, nhịp nhàng và giàu sức gợi
hình gợi cảm trong tác phẩm của mình.
Ngoài ra, trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông
đã sử dụng so sánh trong truyện ngắn như: “Còn Nguyễn Quang Thân hút vào lại
thở ra, không có tí khói nào lọt tới họng, phì phò như cái bễ” trong truyện Nghệ
thuật đích thực; “Tai nó thính hơn tai chó” trong truyện Thói quen; “Ba năm ở
nước ngoài tần tảo buôn bán ngược xuôi, làm quần quật như một con trâu, suy
nghĩ tính toán như một Gia Cát Lượng, mơ mộng như một nhà thơ, tin tưởng như
một tính đồ, giờ đây sống với một thực tế trần trụi: tay trắng”, “Sức khỏe của bố
là của chúng con… Sức khỏe của bố chính là tài sản của chúng con đấy bố ơi”
trong truyện Sức khỏe của bố… Theo như sách 150 Thuật ngữ văn học (2017)
của Lại Nguyên Ân thì So sánh hay còn gọi là tỉ dụ là một phương thức chuyển
nghĩa (tu từ), một biện pháp nghệ thuật trong đó việc biểu đại bằng ngôn ngữ hình
tượng được thực hiện trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng và tìm những dấu hiệu
tương đồng nhằm làm nổi bật thuộc tính, đặc điểm, của sự vật hoặc hiện tượng này
qua thuộc tính, đặc điểm của hiện tượng kia, với chức năng mô tả tạo hình, biểu
cảm hoặc kết hợp mô tả tạo hình lẫn biểu cảm. Thường có hai vế, nối với nhau bởi
các liên từ: bằng, hơn, kém… Tác giả sử dụng phép so sánh để đối chiếu sự vật,
sự việc, hiện tượng và con người qua mức độ kém, bằng, hơn… làm nổi bật các
đối tượng được so sánh thêm cụ thể và trừu tượng. Qua đó, để người đọc, người
nghe liên tưởng hơn về đối tượng được nói đến trong tác phẩm, như được chứng
43
kiến sự việc diễn ra trước mắt. Đây cũng là nghệ thuật tạo ấn tượng của tác giả đối
với độc giả trong cách viết hậu hiện đại.
3.1.2. Nghệ thuật ngôn ngữ đa thanh, đa âm
3.1.2.1. Ngôn ngữ bình dân qua giọng điệu bình thản đầy trải nghiệm
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng giọng điệu bình thản đầy trải nghiệm kết hợp ngữ điệu đa thanh đa âm như
trong truyện ngắn Một tối vui: “Cuộc vui không biết còn kéo đến bao giờ nếu
không có một hồi kẻng vang lên. Kẻng cấm. Đã đến giờ đi ngủ. Đã đến giờ mặc
niệm tới gia đình”, qua lời văn cho thấy giọng điệu lên xuống nhịp nhàng bình
thản của tác giả nhưng mang nhiều nỗi buồn và nỗi nhớ gia đình. Truyện Cún có
câu: “Tôi se lòng vì sự cô đơn ấy của con người. Trời thì cứ gầm thét, cuồn cuộn
sôi sục, như muốn cuốn đi tất cả”, dường như tác giả đã từng chứng kiến cảnh
tượng này trong cuộc sống nên lời văn miêu tả như hiện ra trước mắt. Truyện Nghệ
thuật đích thực có lời tâm sự: “Cơm áo gạo tiền không đùa một ai. Lại càng không
đùa với các nhà văn, nhà thơ… Viết văn quả là ghê. Lao tâm khổ tứ, vắt óc, bại
người, tổn thọ. Bây giờ mình đã nhìn thấy người ta viết văn rồi. Mấy ai được như
vậy!”, Đây cũng là nghề của tác giả Bùi Ngọc Tấn, nên tác giả biết rõ hơn ai hết
về việc viết văn khó hay dễ và cảm hứng sáng tác của nhà văn. Trong truyện Người
mua nhà của bố mẹ tôi có lời kể: “Như bạn đọc thấy đó, nhờ có cô Thoan, tôi là
một người hạnh phúc. Tôi vẫn được trở lại thiên đường đã mất của tôi. Nhưng cái
gì tốt đẹp quá thì làm sao bền được. Chưa đầy ba năm sau tôi đã không thể bước
chân vào đấy được nữa”. Với tác giả cuộc sống không có gì hạnh phúc bằng mái
ấm gia đình. Gia đình là ngôi nhà, là cái nôi, là chỗ dựa tinh thần cho con người
qua những năm tháng mệt mỏi, hạnh phúc, đau khổ và những vấp ngã trong cuộc
đời. Truyện Lạc đội hình cũng có lời kể “Anh biến thành người sai vặt. Nhưng
không hề gì. Dù sao ở đây cũng hơn, cũng có công việc cụ thể. Cũng được quả
dừa khô, được đong rẻ tạ gạo mang về quê cứu đói”. Có lẽ vì cái nghèo đói,
khiến cho cách nhìn của con người trở nên đơn giản hơn dù bản thân chịu thiệt
thòi. Truyện Một cuộc thi hoa hậu kể: “Và cười. Cười một mình. Hải Hà tí hin
nhất hội. Mới hăm hai tháng. Đứa nào cũng muốn làm chị, làm anh, bế nó, hôn
44
nó, chí ít cũng chạm vào má nó một cái và nựng nịu, rên rỉ: “Em Hải Hà ơơơiii”
Qua lời văn của tác giả cho thấy sự yêu thương, âu yếm đối với trẻ em như búp
sen hồng vừa xinh vừa thơm, là món quà quý trên đời. Truyện Thói quen có lời
cảm thán: “Dính hai chưởng này sao sống nổi. Còn, còn. Tính tình kín đáo ít cởi
mở… Thôi rồi Lượm ơi!”, Đây là ngôn ngữ bình dân mang yếu tố hài hước được
kết hợp với câu cảm thán trong bài thơ Lượm (1949) của Tố Hữu, tạo yếu tố liên
văn bản. Truyện Những người đi ở cũng kể: “Họ chờ đợi náo nức như lũ trẻ chờ
mong ngày tết vậy, ba vị là ông, là bà đáng kính mà chúng ta đã biết. Cả ba liên
tục gọi điện thoại trao đổi về chương trình nghị sự”, qua lời văn cho thấy tác giả
thể hiện sự kính trọng những con người hi sinh cả đời cho đất nước và cho gia đình,
nhưng cũng mang sự hài hước và trêu đùa theo kiểu giải thiêng. Truyện Làng có
99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu có câu: “Người ta khen bài Mừng
cháu đích tôn tròn một tuổi của ông sử dụng điệp ngữ lấp lánh tài tình, từ đích tôn
bỗng biến thành đích đích tôn tôn, phản ánh được niềm vui dạt dào của tác giả, gợi
sự liên tưởng đến điệp ngữ của Bà Huyện Thanh Quan Nhớ nước đau lòng con
quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia vốn chỉ gợi nên một nỗi buồn”. Đây
cũng là sự giễu nhại của nhà văn đối với những người thích làm thơ chưa hiểu tứ
thơ và ý thơ, cũng tương tự như những người hát dở thì hay thích hát, nên người
ta thường trêu “hát hay không bằng hay hát, hát dở chi bằng đừng hát”.
Truyện Người chăn kiến kể: “Trần truồng trước hàng trăm con mắt,
thật nhục nhã, quá sức chịu đựng đối với một con người từng làm giám đốc lại
đã đứng tuổi như ông”, lời văn khách quan như của người chứng kiến sự việc và
nói thay cho người bị làm nhục. Trong truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật có
câu: “Mà Bình lại cứ bô bô như một kẻ bất mãn. Nếu vậy tôi cũng chẳng ở ngoài
vòng. Ai chẳng có lúc kêu ca. Chẳng có lúc chính trị xó bếp”, cho thấy tác giả sự
dụng ngôn ngữ bình dân, hài hước qua hai từ “bô bô” và cụm từ “chính trị xó bếp”
dành cho những người “ếch ngồi đáy giếng” nhưng thích bàn chuyện đại sự.
Truyện Dị bản một truyện đã in có câu: “Cái mô típ kể trên có nhiều trong văn
chương có lẽ vì nó xảy ra quá nhiều trên đời thực” hay câu “Tuổi trẻ chỉ còn là
những kỉ niệm xa lắc xa lơ”, cho thấy tác giả đã nghe qua, thấy qua, trải qua và
45
đã chiêm nghiệm một thời của tuổi trẻ và tình yêu. Truyện Sức khỏe của bố có
câu: “Chẳng còn tiền bên Mỹ gửi về. Vợ ông lại ôm lấy gánh bún rêu vỉa hè, lại
quá đát” cho thấy giọng điệu bình thản của tác giả khi nói về gia đình ông Trịnh
không một chút thương xót qua hai từ “quá đát” chứ không phải “bi đát”. Truyện
Truyện không tên có lời tâm sự: “… Với chị đó cũng là một cái nghề, một nghề
như những nghề khác dù nó bị mọi người khinh khi. Dào ôi! Ai khinh thì cứ việc.
Chị có cần người ta trọng đâu. Chị cần tiền. Để nuôi mẹ già nằm liệt gường sáu
bảy năm nay. Để có cái cho vào miệng”, giọng điệu bình thản của tác giả khi nói
về nhân vật chứa đựng sự cảm thông sâu sắc đối với nhân vật. Cuộc sống không
phải muốn điều gì là có được. Ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, giàu sang… không
ai muốn mình khổ và bị khinh bao giờ và họ phải mưu sinh bằng mọi cách. Truyện
Một ngày dài đằng đẵng thổ lộ: “Trong tù chúng tôi không tin ai, không tâm sự
với ai ngoài chính bản thân mình. Thật kinh khủng đấy nhưng như thế an toàn
hơn. “Bụng cứ liền rốn”, Đó là câu châm ngôn sống của chúng tôi”, qua lời văn
tác giả cho thấy sự an toàn không thể trông cậy vào ai và không có gì bằng chính
bản thân mình tự giữ lấy mình. Truyện Trung sĩ triết lý: “Con người ta sống chết
có số, chẳng thể nào tránh được… dù biết bao thời gian và sự kiện đã phủ lấp lên
nó”, là lời văn đầy sự trải nghiệm của cuộc sống, của người từng trải qua những
mất mát của chiến tranh, nhưng nỗi đau vẫn ở mãi trong lòng dù thời gian có qua
đi. Trong truyện Người ở cực bên kia là lời kể: “Không ai để ý đến hắn. Hắn là
một trong hai người bất hạnh nhất trong số bạn bè… Hai người đi tù, thì một
là hắn. Sự phát triển theo hai cực. Hắn ở cực bên kia”. Cuộc sống vốn không đơn
giản, người từng bị đi tù sẽ có hình ảnh không tốt trong mắt mọi người và họ e dè,
họ sợ… khiến cuộc sống của người từng đi tù trở nên khó khăn và bị xa lánh. Tuy
nhiên, cũng vẫn còn đâu đó những người bạn không xem trọng chuyện này như
Đàm, Lê Bàn, Hùng… Truyện Vũ trụ không cùng nhận định: “Thật đúng là vật
đổi sao dời. Thôi thì cứ có một ngôi nhà tuổi thơ trong tưởng tượng. Chỉ đến
khi ông chết ngôi nhà ấy mới không còn nữa”, là một câu văn mang tính triết lý về
cuộc đời con người.
46
Trong cuộc sống luôn thay đổi để cho con người trải nghiệm và thích nghi
với mọi hoàn cảnh. Cuộc sống đã dạy cho con người những bài học quý giá nhưng
phải niếm trải qua những đắng cay ngọt bùi của cuộc đời. Tác giả là người của
những trải nghiệm và hiểu rõ những giá trị của cuộc sống. Từ những dẫn chứng
trên cho thấy những cảm xúc, những nhìn nhận và những nỗi lòng của tác giả được
thể hiện qua giọng điệu bình thản kết hợp đa thanh đa âm và giễu nhại nhưng hài
hước.
3.1.2.2. Ngôn ngữ dân gian giàu nhân sinh qua giọng điệu giễu nhại
Theo bài viết Ngôn ngữ giễu nhại trong văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam
thì “giễu nhại” đã trở thành giọng điệu đặc thù trong văn xuôi Việt Nam theo xướng
hướng hậu hiện đại. Từ sau năm 1986 đến nay, ngôn ngữ giễu nhại với các thang
độ của nó đã trở thành chất liệu chính tạo nên văn bản nghệ thuật, Qua sự giễu
nhại, các nhà văn đã trình bày quan điểm của mình về một cuộc sống phức tạp và
có phần hỗn độn của xã hội Việt Nam những năm sau chiến tranh, giai đoạn chuyển
đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường. Các nội dung giá trị văn hóa và
đạo đức, các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, vấn đề nhân cách và thái độ
sống… đều được nhìn nhận và đánh giá qua sự giễu nhại của nhà văn với tư cách
là người trong cuộc, vừa giễu nhại cuộc đời vừa giễu nhại chính mình (Nguyễn
Hồng Dũng, Nguyễn Xuân Thành, 2018).
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”, tác giả đã sử dụng ngôn ngữ
dân gian giàu nhân sinh qua giọng điệu giễu nhại kết hợp ngữ điệu đa thanh đa âm
trong truyện ngắn để mỉa mai con người, cuộc đời và bản thân. Chẳng hạn như các
nhân vật đang ở tù mà mở một phiên tòa xét xử, với cách nói qua giọng điệu chế
giễu “- Gượm. Để lập phiên tòa xét xử cho nó đàng hoàng”. Họ đang tự chế giễu
bản thân mình về tội mà họ phải chịu mức án phạt: “- Đúng. - Chúng ta làm có
pháp luật. - Chúng ta không bắt mà không xét xử. - Chúng ta không bắt nhầm cũng
không bỏ sót. - Chúng ta xét xử công bằng. Đúng người, đúng việc, đúng tội”.
Khi bắt đầu mở phiên tòa đã không có sự công bằng qua lời văn: “- Bà con giữ trận
tự. Phiên tòa đại hình bắt đầu”. Tác giả chế giễu chánh án Vũ Quảng khi đọc lời
tuyên án bằng một giọng: “mi mi nơ trầm hùng vừa dõng dạc vừa đau xót… - Tử
47
hình!” hay Trịnh dịch: “Trịnh dịch cứ văng ra từng cụm từ hăm dọa”. Đối với các
nhân vật trong truyện, họ có hoàn cảnh và sự việc khác nhau, nhưng có một điều
mà ai giống nhau, đó là ai cũng có gia đình: “Đã đến giờ mặc niệm tới gia đình…
Đêm nay khi đi ngủ người ta không mặc niệm tới gia đình”. Tác giả nói đến nỗi
nhớ gia đình của những người đang ở tù, nhưng tác giả không dùng từ “nhớ” mà
dùng từ “mặc niệm” (nghĩa là đứng im lặng để tưởng nhớ người đã mất) đầy chất
mỉa mai của cuộc đời trong truyện Một tối vui. Nhân vật Thản (công an vũ trang,
19 tuổi) gọi là ông Thản. Còn tù Thắng đã năm mươi hai tuổi, nhưng Thản kêu là
anh: “- Anh năm nay bao nhiêu tuổi?’’. Tác giả thì gọi là thằng: “Thoáng nhìn ông
biết ngay không phải thằng Dương. Đó là thằng Thắng chăn bò”. Đối với tù
Thắng, nếu là ở ngoài xã hội thì Thản phải kêu bằng “chú” hoặc bằng “bác”. Còn
tác giả kêu bằng “thằng Thắng”, “thằng Thắng chăn bò”, để cho thấy con người bị
khinh khi, bị xem thường trong xã hội và gọi ngang hàng với tù Dương (sinh viên
năm thứ tư) khi vướng vào tù tội. Đây là sự giễu nhại đầy mỉa mai về thân phận.
Tuy nhiên, tác giả cho thấy hai đối tượng có thân phận khác nhau nhưng cũng có
điểm chung với nhau đó là nỗi nhớ nhà: “… nói với Thắng rằng bọn ông cũng rất
nhớ nhà…”. Đối với con người thì ai cũng có nhà, có quê hương. Khi đi xa hay ở
nơi xa sẽ làm nỗi nhớ ấy càng thêm da diết. Khi bắt gặp một hình ảnh, một cử chỉ,
một hành động hay một lời nói cũng gợi lên nỗi nhớ. Đây là tâm trạng không chỉ
của Thản, mà của rất nhiều người giống Thản và giống tù Dương, tù Thắng. Vì tất
cả họ đang dần bị tách khỏi xã hội, khỏi cuộc sống hiện tại và họ đang bị lãng quên
dần trong truyện Khói. Đối với giám đốc M bị bắt giam vào tù (không biết mình
bị tội gì) và làm tượng nữ thần Tự Do trần truồng đứng trên “sân xê rơm” (cái sân
thượng về đêm cho lính gác) trước bao nhiêu cặp mắt để: “Ông thoát khỏi trận đòn
nhập B”. Đây là thủ tục đầu tiên khi bước vào nhà tù do B trưởng cai quản. Ông
M cảm thấy: “Ở trên ấy ông thèm được như ông già chủ nhiệm hợp tác dưới kia,
chỉ phải bế bọc nội vụ đi quanh, hát ru em bài “Bé bé bằng bông”. Tác giả đang
chế giễu và mỉa mai về một nhà tù là nơi cho các tù nhân học tập và cải tạo lại bản
thân. Nhưng ở đây lại trở thành nơi cho B trưởng giải trí: “Trời nóng, hắn ngồi
phè phẹt giữa sân, hét: - Hi-ta-chi!... - Quạt… -Pa-na-xô-ních… - Tuốc năng!”.
48
Hình ảnh của những người tù đang bị là trò tiêu khiển: “Gần chục người lập tức
quay quanh hắn… vừa quạt vừa chạy quanh hắn giống đèn kéo quân bỗng đồng
loạt đổi chiều như cùng một bánh xe truyền lực”. Còn ông M thì mong được như
họ: “… ông M ao ước được ở trong đội quạt”. B trưởng bắt những người tù chăn
kiến, một công việc nhẹ nhàng, gồm mười hai ngưởi chia làm ba ca, mỗi ca bốn
người chăn bốn con kiến. Ông M thích công việc này: “Nó làm ông khao khát
đến bồn chồn”. Suy nghĩ của ông M là mình sẽ không bao giờ được ra tù: “Nó sẽ
giúp ông quên thời gian, quên những thiên thu tại ngoại. Hơn nữa ông đã quá chán
trò cởi truồng đứng trước mặt mọi người”. Ông M làm tượng thần Tự Do nhưng
ông M không Tự Do. Đây là hình ảnh đối nghịch hoàn toàn với thân phận tri thức
và địa vị xã hội của một vị giám đốc trong truyện Người chăn kiến. Thời gian
trong tù là thời gian ngưng đọng không lối thoát: “Hình như xà lim rất gần với điều
các nhà bác học đã nói đến: Hố đen. Ở hố đen không có thời gian mà cũng chẳng
có không gian”. Tác giả lý giải nhưng đồng thời cũng mỉa mai. Một ví dụ khác:
“Với anh tù Vũ Mạnh Cường, ngày sáng chói ấy là ngày anh được chuyển trại.”.
Tác giả dùng giọng điệu nhạo anh tù Cường chuyển trại mà cho là ngày sáng chói
truyện Một ngày dài đằng đẵng.
Trong cuộc sống có nhiều điều xảy ra, nhưng để diễn đạt lại chúng trong
tác phẩm văn học thì là một nghệ thuật. Nó làm cho lời nói, lời văn hấp dẫn hay
buồn chán. Truyện của Bùi Ngọc Tấn với giọng văn giễu nhại khiến cười vui trong
chốt lát, nhưng về sau lại cảm thấy xót xa. Như nhân vật Tôi từng nghĩ: “Ngôi nhà
ấy, mảnh vườn ấy, là những gì còn lại của bố mẹ tôi, là cái nôi để tôi neo đậu vào
một thế giới đã tan rã”. Điều trớ trêu và buồn cười là người mua nhà và vườn của
Tôi lại là người từng làm công cho gia đình nhân vật Tôi: “- Cô Thoan rõ khổ,
Ăn no quá, ra đằng sau nôn rồi lại vào ăn tiếp”. Chính vì thế mà sau này cô luôn:
“Cảnh ăn đong làm cô sợ lắm. Cả đời cô chỉ mong thóc đầy nhà, nay cô mới toại
nguyện. Cái hòm gian bằng gỗ xoan trong ruột nó chưa đầy thóc” trong truyện
Người mua nhà của bố mẹ tôi. Khi nói đến nghề ăn xin là nhục nhã thì có các
nhân vật như bà Mít, anh què đi ăn xin, ăn mày. Thậm chí chị Sợi làm gái điếm
mà đối tượng lại là những người ăn xin, ăn mày: “Cô điếm già, xấu, nhăn nheo,
49
gầy gò còn có thể có khách nào ngoài đám ăn mày… Thế giới của chị Sợi là thế
giới của ăn mày nên chị rất hiểu họ… xấu gì chuyện phải đi ăn xin” trong truyện
Truyện không tên. Tác giả cho thấy việc ăn xin không có gì xấu hổ. Đi ăn trộm,
ăn cướp của người khác mới là điều đáng xấu hổ và nhục nhã. Xã viên rời làng đi
làm nghề ăn xin thì nhục nhã, còn người nghèo đói đi xin ăn thì không có gì xấu
hổ. Tác giả không chế giễu, mỉa mai nghề ăn xin,. Ăn xin là một cái nghề thì cho
thấy người nghèo đói ngày càng nhiều. Đi ăn xin là việc mà chẳng ai thích làm và
chỉ những kẻ làm biếng, lười lao động mới làm nghề ăn xin, trừ những người nghèo
đói và người tàn tật. Cách viết của tác giả làm cho người đọc bùi ngùi suy ngẫm.
Tác giả Bùi Ngọc Tấn viết về những đứa trẻ con ở ngõ, hẻm với trò chơi thi
hoa hậu bằng một giọng văn cảm thương “Còn dự thi thì chao ôi, một lũ, một lĩ
như tiên nga, như thiên thần, đứa chút chít, đứa gầy gò…”. Tác giả cho thấy
một cuộc thi hoa hậu là như thế nào? Nó: “… rất đúng quy cách các cuộc tuyển
chọn người đẹp trên quy mô toàn thế giới”. Nó đem đến vinh dự, mơ ước, giàu
sang, nổi tiếng… Tuy nhiên, đó chỉ là một trong vô số người tham gia dự thi. Trong
đó, có kẻ thắng người thua, người thắng hạnh phúc, người thua thì không chấp
nhận được việc thua cuộc. Vì ai cũng cho mình đủ tiêu chuẩn để làm hoa hậu. Đây
là một trò chơi nhưng nó ảnh hưởng đến cả một đời người, vì danh dự và sự nghiệp
sẽ bị đem ra bàn tán. Trò chơi này không đem lại cho nhiều người hạnh phúc đặc
biệt là các thí sinh: “Bé ơi. Đừng khóc. Đời các con mới chỉ bắt đầu”. Đây không
phải là lời nói dành cho trẻ con mà ngay cả người lớn. Tác giả mỉa mai cuộc thi
hoa hậu trong cuộc sống cũng như trong xã hội đang thịnh hành về nhu cầu sắc
đẹp và kiến thức trong truyện Một cuộc thi hoa hậu. Trong xã hội cũng như trong
cuộc sống có nhiều điều đáng nói, đáng nghĩ như các nhân vật ông Thuyết và bà
Thu là vợ chồng già luôn quan niệm hạnh phúc phải có đôi. Đến khi con gái ông
Thuyết trải qua cuộc hôn nhân đổ vỡ, bà Thu trải qua một trận bệnh nặng thì cả hai
ông bà mới ngủ riêng. Ông Thuyết mới thấy: “Cuộc đời đúng là vó câu qua cửa
số”. “Vó câu qua cửa số” hay “Bóng câu qua của sổ” là thành ngữ cho biết thời
gian trôi nhanh. Tác giả cho thấy cuộc đời con người thật nhanh khi xã hội lãng
quên và khi chúng ta tự lãng quên mình: “Nằm co trên gường, ông nghĩ tới vũ trụ
50
không cùng” trong truyện Vũ trụ không cùng. Trong tập truyện ngắn, tác giả nói
về con người và loại vật, đặc biệt là loài chó trong mối quan hệ gắn bó với nhau.
Con chó được tác giả đặt tên cho nhan đề truyện Cún. Tác giả miêu tả con vật như
con người qua những biểu cảm, yêu thương và lòng trung thành của Cún đối với
anh Trung công an là chủ nhận nuôi Cún. Chị Thanh, vợ anh Trung cũng công
nhận điều đó: “Cún là người bạn chung thủy của chồng chị, là nguồn vui của
chồng chị. “Nó làm anh ấy dịu thần kinh’’. Đó là điều chị không làm được vì chị
ở nơi sơ tán”. Hay: “Ở Cún có hai bộ phận biết nói: Đôi mắt và cái đuôi. Chúng
thể hiện mọi tình cảm với chủ’’. Chó và chủ đôi lần sống chết có nhau: “Tình bạn
giữa anh và Cún là như vậy. Cả hai đã mấy lần ngồi dưới hầm ẩn trú. Tiếng
máy bay gầm rít và tiếng bom, tiếng rốc két nổ gần. Trời đất như vỡ. Anh Trung
ôm chặt lấy Cún. Nó run rẩy nép vào lòng anh tiếng súng phòng không rên rĩ và
bầu trời rung chuyển. Tình chó ngựa, Cún không rời anh”. Loài vật và con người
có tình bạn đẹp. Nhưng con người với con người lại nghi kị nhau. Tác giả cũng
cho thấy lòng người thật khó lường, bởi con người không có lòng tin vào đối
phương và bản thân. Nhưng loài vật thì lại có điều đó. Thật mỉa mai, thật chua chát.
Đó là sự giễu nhại trong văn học học hậu hiện đại để tác giả thể hiện điều muốn
nói.
Đối với nhà văn, văn chương là linh hồn, là nghệ thuật, là nghề nghiệp.
Nhưng các nhà văn đã dần thay đổi để phù hợp với xã hội tri thức. Nhu cầu tri thức
trở thành hàng hóa cũng là điều không thể tránh khỏi trong xã hội lúc bấy giờ và
hiện nay. Như Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân là những nhà văn trong
thời kì bao cấp cuối thập niên 80 đang chuyển sang kinh tế thị trường: “Biến động
từ suy nghĩa, quản lý, hàng hóa, giá cả tới bản thân giá trị đồng tiền”. Họ viết văn
theo yêu cầu của khách hàng vì tiền: “Phải có tiền. Tiền là tiên là phật, sức bật
tuổi trẻ, sức khỏe tuổi già…,”. Đối với các nhà văn, đồng tiền là quan trọng, vì
không có nó sẽ đói khổ. Tác giả dùng câu nói dân gian để mỉa mai giá trị nghề
nghiệp cầm bút nhưng lại công nhận đó là sự thật, là phải viết thuê để kiếm sống.
Đình Kính rủ Chu Lai cùng đi viết văn thuê vì Chu Lai dễ gây: “...cú sét mến phục
từ cái nhìn đầu tiên…chiêu văn hùng tráng…lăn vào lòng người” (Yêu nhau từ
51
cái nhìn đầu tiên hay Tiếng sét ái tình từ cái nhìn đầu tiên… đi vào lòng người).
Đây là ngôn ngữ dân dã được tác giả sử dụng tài tình để phù hợp với đối tượng bị
trêu đùa hay giễu nhại. Khi Đình Kính bị các cô gái trẻ vây quanh và bị lấy mất
chiếc nhẫn, hai nhà văn gặp phải nghệ thuật trộm cướp trên cả nghệ thuật: “- Thì
đúng là nghệ thuật! Nghệ thuật đích thực!”. Tác giả giễu nhại các nhà văn dùng
nghệ thuật viết thuê để kiếm tiền. Rồi sau đó, họ gặp phải nghệ thuật khác sử dụng
để lấy tiền của họ trong truyện Nghệ thuật đích thực. Bên cạnh đó, cũng có người
vì lương thiện, vì ý thức, vì trách nhiệm họ chấp nhận sống cuộc sống khó khăn để
không thẹn với lòng như người bạn đồng hương của Tôi: “Bà xã đi cày đến trưa
mới về. Bà ấy đứng ở cửa bếp, vận từ cạp quần ra được lưng một nồi cẫu. Tôi bật
cười. Cười chảy nước mắt. Anh cũng cười. Cười chảy nước mắt. Nhưng hình như
anh chảy nước mắt không chỉ vì cười” trong truyện Lạc đội hình. Trong truyện
Thói quen, tác giả giễu nhại thói quen làm hại người khác, một thói quen nên bỏ
mà vẫn giữ. Nhân vật Quân trong truyện có thói quen nói dối bạn bè, lợi dụng bạn
bè để được thăng chức. Khi ông Khánh và ông Thông biết thì họ bị sốc: “Cái thằng
khốn nạn đến thế! Mình không ngờ nó chó má đến vậy… - Giời ơi là giời! cũng
may là mình không biết nó ghi như vậy nên mình sống chứ không mình chết lâu
rồi”.
Sự giễu nhại không chừa một ai trong cuộc sống, như anh hộ tịch làm bên
kế hoạch hóa gia đình trong thời bao cấp. Nhưng vì vỡ kế hoạch, anh đến xin Bình
bạn nhân vật Tôi thuốc: “Ông ấy đến xin thuốc phá thai”. Anh hộ tịch sợ bị để ý
nên đi xin thuốc vào mùng hai Tết. Trong thời gian này, ai cũng sợ đói, sợ mất
việc trong truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật. Lại có những người từng đi
kháng chiến trở về và đến tuổi nghỉ hưu như ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết, nhưng
họ không được sống thoải mái. Họ phải rời làng quê để lên thành phố, họ chuyển
sang một cuộc sống khác. Đó là chăm sóc nhà cửa và chăm nom con cháu:
“Thương con thương cháu chẳng nỡ…”. Họ không sống thoải mái với cuộc sống
hiện tại, họ nhớ về quê nhà: “- Chào ông Qua cổng vào làng. Sao đến muộn thế?”
trong truyện Những người đi ở. Nhưng lại có những người đã về hưu có cuộc sống
thoải mái thì lại muốn tiếp tục làm việc để không hổ danh từng là trung tá, đại tá.
52
Có những người sống an nhàn khi tuổi về hưu, cũng có những người lại không
muốn thế, như Ông Sơn Nam làm Cố vấn Ủy ban huyện và Hội trưởng hội nuôi
chim hót tỉnh. Đại tá Nguyễn Trung Chiến muốn góp sức hưu của mình cho làng
quê mình: “Đất văn mà lại có một ông quan võ to đến thế. Không tự hào sao được.
Câu truyện tôi đang kể đây là kể về ông đại tá về hưu Nguyễn Trung Chiến. Nó
hoàn toàn không phải như kiểu chuyện Tướng về hưu của một nhà văn nổi tiếng
đã viết, cũng không như câu ca dao nào đó bôi bác kiểu: Đầu đường đại tá bơm
xe…”. Hay: “Dân làng tôi càng thêm tự hào vì làng đất văn mà lại có một ông
toàn tài đến thế: Quân sự, kinh tế, làm thơ… ở lĩnh vực nào ông cũng chinh phục
được đỉnh cao”. Tác giả mỉa mai về những con người có khát vọng quá cầu toàn,
họ đang sống trong sự tâng bốc, ngợi khen của người khác trong truyện Làng có
99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu. Nhưng cuộc sống lại có những
chuyện luôn trêu người, như chị nghệ sĩ tưởng anh họa sĩ tử trận. Chị kết hôn với
một người cũng từng bị thương ở chiến trường về. Sau đó, anh họa sĩ trở về với
vết thương trong đầu luôn âm ỉ. Chồng cũ chị ra đi vì cao thượng và đắng cay thổ
lộ: “Chúc em hạnh phúc. Vĩnh biệt… - Tôi đến để vĩnh biệt em. Người khách
thì thào. – Có lẽ lần này mới thật sự là vĩnh biệt…”. Tác giả mỉa mai cuộc đời và
mỉa mai con người đã tạo nên một câu chuyện khác khiến cho tất cả những người
trong cuộc đều đau khổ trong truyện Dị bản một truyện đã in. Ngôn ngữ bình dân
của tác giả sử dụng còn để diễn tả các nhân vật như phó tiến sĩ Trịnh: “… có tướng
tăng trọng nhanh, đầu óc ngu si tứ chi phát triển, học bết nhất lớp, mười môn thì
chín môn thi lại không làm sao tính được độ mở của vắn lưới, không làm sao tính
được sức chịu lực của dây giềng hông, người được cả lớp gọi là Trịnh lợn, ấy cũng
là chuyên viên 6”. Theo tử vi của ông Trịnh là “cung nô bộc”, còn bà Lan là “cung
thê”. Cả hai là những người vì đồng tiền bất chấp làm chuyện phi pháp. Còn cụ
Trịnh, tuổi cao sức yếu nhưng vẫn học theo kiểu tiêu tiền của đại gia. Trong khi,
tiền đó là do bà Lê (tình đầu của cụ Trịnh) gửi về để giúp đỡ ông lúc tuổi già. Ông
Trịnh cũng vậy: “Có thể chuyện với mọi người về những thú ăn chơi mà không ai
dám nghĩ rằng mình chỉ là kẻ nghe hơi nồi chó”. Đến khi cụ Trịnh bị ông Trịnh bắt
gặp tại nhà hàng karaoke ôm thì: “Thất vọng quá lớn không thể hình dung được.
53
Còn hơn bất ngờ vụ đắm tàu, chìm bốn công-te-nơ”. Nhưng vợ chồng ông Trịnh
lo sợ “Cụ mà mất thì thôi rồi Lượm ơi” trong truyện Sức khỏe của bố. Vì đồng
tiền, vì cuộc sống sung sướng giàu sang, người ta bất chấp đạo đức để có được cái
mình muốn. Tác giả giễu nhại và mỉa mai những con người sống giả tạo trong lớp
áo tri thức. Còn có những người vì miếng cơm manh áo, vì cuộc sống nghèo đói
luôn bị ám ảnh, dù làm việc gì miễn không làm gì xấu. Lan Anh là một trung sĩ
thời kháng chiến, Lan Anh trải qua cái nghèo đói, khổ sở vì thất nghiệp và phải
nuôi những người thân trong gia đình: “ Đó là cơn lốc cuộc sống. Sau khi đánh cá
“dẹp tiệm”, toàn bộ số quân của ông Phúc đen bị quăng ra vỉa hè”. Bây giờ Lan
Anh đi làm tiếp viên, vì cuộc sống của mình truyện Trung sĩ.
Tác giả mỉa mai cuộc đời, con người và xã hội qua lời văn kết hợp ngữ điệu
đa thanh đa âm trong truyện để chế giễu hài hước nhưng lại thâm thúy, khiến độc
giả phải tự ngẫm mà suy qua những trải nghiệm của cuộc đời các nhân vật với đa
góc nhìn theo kiểu hậu hiện đại.
3.2. Nhân vật phi trung tâm, kết thúc mở qua điểm nhìn dịch chuyển
3.2.1. Truyện không có nhân vật trung tâm
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, mỗi truyện
ngắn có nhiều nhân vật, nhiều tính cách và nhiều sự việc. Mỗi người có cuộc sống
và hoàn cảnh khác nhau và có vị trí khác nhau trong xã hội. Nhưng trong tập truyện
ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, họ đều là nhân vật trong truyện,
không ai làm nền cho ai.
Những người tù trong truyện Một tối vui là Phạm Văn Nhất “tức Nhất một
tai”. Đồng Văn Ruồm “làm ở đội chăn nuôi hợp tác. Đánh bạc thua. Ruỗm lấy thóc
chăn nuôi đi bán… Bị tòa xử ba năm. Đã sắp ở hết án”. Vũ Quảng “là cán bộ ngành
văn hóa “đẹp trai, nhiều tài vặt, dẻo mồm, đàn ngọt hát hay “rất có duyên” với vợ
bộ đội ở nơi cơ quan sơ tán bị hai năm tù vì tội “phá hoại chính sách hậu phương
quân đội””. Anh thợ điện “đi tù vì tội đánh quả công tơ của xí nghiệp”. Hùng “Còn
gọi là Hùng Tít, Hùng Chày trong băng “Cơn lốc đường 5”, án hai mươi gậy mới
ở chưa được một năm, vào tù lần này là lần thứ ba, hoàn toàn xăng pha mi, không
một người thân thích”. Chí Sinh Quay “một tên cướp người dân tộc, can tội giết
54
người, lĩnh án chung thân, đã tù chín năm và đã được giảm xuống mức án hai mươi
năm”. Thịnh “Thịnh cốc, lĩnh án tù mù”… và con chuột bằng cái đuôi dao “Chuột
đực, choai choai”… Mỗi người một hoàn cảnh bị ở tù. Họ giết thời gian bằng trò
chơi mở phiên tòa xét xử con chuột (Chí Văn Chuột) để quên đi thời gian trong tù
và gia đình. Trong truyện Cún, có các nhân vật như Cún được vợ chồng anh Trung
(công an) và chị Thanh Trung nhận nuôi. Chủ cũ của Cún là một đội trưởng sản
xuất trong hợp tác xã. Và ông “xuất khẩu” là người đem Cún cho anh Trung nuôi.
Tôi (Tuấn) là “một anh chàng viết báo tỉnh lẻ, có một số báo được mọi người để ý
đến”. Anh giáo viên và chú anh giáo viên là ông Vinh (Vinh ở phố C. B) từng là
kẻ chỉ điểm cho công an và các nhân vật khác. Trong truyện Nghệ thuật đích thực,
có các nhân vật như Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân là những nhà văn,
là những người bạn. Dạ Ngân cũng là bạn của họ. Họ viết văn thuê ở lâm trường
quốc doanh ở Đồng Nai về tập sách về đơn vị. Ngoài ra, còn có giám đốc lâm
trường quốc doanh và các cô gái lấy mất vàng của nhà văn Đình Kính. Truyện
Người mua nhà của bố mẹ tôi có Tôi (Hưng) là người bán nhà và mảnh vườn của
cha mẹ để lại. Cô Thoan là người mua nhà và cũng từng làm công cho gia đình tôi.
Cái Văn (Tí Con), cái Thoa (Tí Rẫu) là con của cô Thoan lớn lên qua Canada sống
và làm việc… Trong truyện Khói, nhân vật ông Thản công an vũ trang truy bắt tù
nhân đang bỏ trốn là tù Dương. Trong quá trình tìm kiếm tù Dương, Thản đã gặp
tù Thắng chăn bò trong rừng bên đóng lửa đang sưởi ấm. Truyện Lạc đội hình,
Tôi, người đồng hương làm ở xí nghiệp đánh cá. Nhân vật Đẩu và Tuất cũng làm
chung xí nghiệp. Do không đồng tình với cách làm của Đẩu, Tuất và cấp trên nên
anh đồng hương xin chuyển công tác. Trong truyện Một cuộc thi hoa hậu, các
nhân vật là những đứa bé ở ngõ 10, 12 và 14 như cái Khoai, cái Cún, cái Nhép,
Cún con, cái Xíu, bé Hải Hà… cùng tổ chức trò chơi cuộc thi hoa hậu. Truyện
Thói quen có các nhân vật như ông Quân, ông Thông và ông Khánh là những
người bạn, những người đồng nghiệp. Người làm thầy giáo, người làm cán bộ,
người vừa làm thầy giáo vừa làm cán bộ. Họ đều là công viên chức nhà nước.
Trong truyện Những người đi ở, các nhân vật ông Hào, ông Huyên, bà Tuyết là
người cùng quê, cùng tham gia kháng chiến, cùng tuổi đã nghỉ hưu, cùng lên thành
55
phố chăm lo cho con cháu. Ngoài ra, còn có con của các ông bà và cô Hương Sen…
Truyện Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu có các nhân vật
như ông trung tá Vạn, đại tá Trịnh Huy Cần, trung tá công binh Đức, ông Đỗ Nam.
Riêng ông đại tá Nguyễn Trung Chiến về hưu làm cố vấn cho làng quê và ông Sơn
Nam làm Cố vấn Ủy ban huyện và Hội trưởng hội nuôi chim hót tỉnh. Còn có con
trai út của ông là Nguyễn Quyết Thắng. Ngoài ra, có vợ ông Chiến, Quy Ước tác
giả vở chèo Nông thôn tươi sáng…
Trong truyện Người chăn kiến, nhân vật B trưởng quản nhà tù, ông M là
giám đốc bị bắt nhưng không biết về tội gì, ông già chủ nhiệm hợp tác xã và các
tù nhân khác. Tất cả bị đem ra làm trò tiêu khiển cho B trưởng. Truyện Ngưu tất,
hồng hoa, nga truật có nhân vật như Tôi và Bình là hai nhà văn tỉnh lẻ, vợ Bình,
còn anh hộ tịch làm việc bên kế hoạch hóa gia đình đến xin Bình đơn thuốc phá
thai vào mùng hai Tết, nhưng ngại… Trong truyện Dị bản một truyện đã in có
nhân vật Tôi là người nhớ về nhân vật chị nghệ sĩ vĩ cầm anh họa sĩ và chồng cũ
của chị nghệ sĩ về tình yêu của họ.
Truyện Sức khỏe của bố có các nhân vật như phó tiến sĩ Nguyễn Trịnh
(Trịnh lợn) là Cung nô bộc nên làm gì cũng hỏng, vợ ông là bà Lan Cung thê thì
cũng vậy, các con của họ cũng là người bị ảnh hưởng và cụ Trịnh là người đem lại
nguồn tiền cho gia đình do bà Lê bên Mỹ gửi về. Trong truyện Truyện không tên,
các nhân vật là chị Sợi làm gái điếm và bán hàng linh tinh nuôi mẹ già bệnh bại
liệt, bà Mít ăn xin nuôi hai cháu nhỏ, anh què ăn mày và những người xin ăn khác.
Truyện Một ngày dài đằng đẵng, các nhân vật như hai ông công an áp giải tù
Cường chuyển trại nhưng thường dừng lại để săn bắn nên đến chiều mới tới trại
mới, dù đoạn đường không quá xa và còn có cán bộ coi tù và những tù nhân khác.
Trong truyện Trung sĩ có các nhân vật như Hiếu là một tài xế lái xe của xí nghiệp
nhân vật Tôi, Tôi là một nhà văn, anh Cát chồng của Lan Anh làm thợ xây dựng.
Lan Anh (Trung sĩ ở tổ bốc là quân của ông Phúc đen) làm tiếp viên nuôi gia đình
con và mẹ già. Lan Anh ly dị chồng vì không chịu bỏ nghề tiếp viên. Trong truyện
Người ở cực bên kia có các nhân vật Hắn (Tuấn), Đàm, vợ hắn là “Cái Thịnh”,
56
Ngọc (hoa khôi của trường), thầy Thuyền, cô Hương, Hùng, Lê Bàn (và Hắn cùng
nghề văn chương) và những người bạn học cùng Hắn… trong buổi họp mặt lớp.
Truyện Vũ trụ không cùng có bà Thu vợ ông Thuyết, con gái Phương con ông
Thuyết … và ông Thuyết là con của một địa chủ, cha mẹ mất, ông cũng không
dám về thăm nơi chôn nhau cắt rốn sợ nhớ lại những kỉ niệm buồn của gia đình
ông và ông đang tự lãng quên mình.
Các truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn có đa nhân vật. Hầu như truyện nào
cũng có nhiều nhân vật, ít thấy sự ngược lại. Có lẽ tác giả chọn cách viết này để
cho thấy xã hội con người là sự tập hợp của nhiều số phận và không ai có thể là
nhân vật chính trong cuộc đời của chính mình.
3.2.2. Kết thúc theo hướng mở qua điểm nhìn dịch chuyển
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng nghệ thuật không liên kết, theo hướng mở để tự người đọc hình dung và suy
ngẫm. Như truyện Một tối vui, kết thúc truyện không cho biết những tù nhân này
sẽ ra sao. Chỉ đơn giản là họ đang thao thức bởi sự thích thú của mình với trò chơi
mở phiên tòa xét xử tội phạm. Đó là một trò chơi thú vị, vì nó đối nghịch với thân
phận mà họ đang mang là tù nhân: “Đêm nay người ta chìm vào giấc ngủ với những
điều buồn cười và thích thú đến thế”. Với truyện Cún, cái kết thúc thật đau lòng.
Anh Trung vẫn là người bị mất tích, Cún thì bị bán đi, còn chị Thanh vợ anh Trung
thì không còn gì: “- Thế là hết cả rồi anh ạ”. Tác giả để lại khoảng trống của căn
nhà với những đồi vật của anh Trung và của Cún. Nhìn cảnh, nhìn vật càng thêm
nhớ. Đó là nỗi nhớ không nguôi. Còn Chị Thanh sẽ ra sao, không ai biết vì đó là
cái kết mở. Truyện Nghệ thuật đích thực có kết thúc thật buồn cười: “Đang đau
như hoạn cũng phải cười. Đang cười bỗng im bặt. Giật mình. Sục vội tay vào túi
quần. Thở phào. Chỗ tiền bán thuốc lá Jet vẫn còn”. Các nhà văn Đình Kính, Chu
Lai, Nguyễn Quang Thân đi viết văn thuê. Mỗi người được một chỉ vàng và tiền
bán thuốc lá. Chỉ có Đình Kính là bị lột mấy chiếc nhẫn. Đình Kính sẽ như thế nào
khi về nhà? Tiền bán thuốc lá chia làm sao? Các nhà văn còn đi viết thuê nữa
không? Cũng không ai có thể trả lời mà chỉ có thể tự ngẫm. Kết thúc truyện Người
57
mua nhà của bố mẹ tôi là câu: “Tôi ra mộ cô thắp mấy nén nhang. Lại một lần đối
mặt với vô cùng. Bỗng nhiên nghĩ rằng mình có thể trở thành nhà triết học”. Đây
là sự băn khoăn và cũng là một mơ ước để ngỏ. Vì sợ tuổi già không còn sức để
chăm nom cho ngôi nhà và mảnh vườn nên nhân vật Tôi bán đi. Nhưng người mua
là cô Thoan lại qua đời trước Tôi. Nhân vật Tôi thấy mọi thứ trở nên hư vô, không
thể tính trước được. Nhân vật tự hỏi: Rồi tôi sẽ ra sao. Ngôi nhà và mảnh vường
sẽ như thế nào? Các con của cô Thoan có về Việt Nam không? Với truyện Khói,
thì kết thúc truyện là hình ảnh Thản truy bắt tù Dương: “Đến lúc ấy, ông sẽ khoác
súng đứng lên, đi sâu hơn nữa vào trong rừng”. Thản có bắt được tù Dương không?
Thản đi sâu vô rừng có gặp thú dữ hay bẫy thú không? Mọi thứ chỉ là câu hỏi.
Truyện Lạc đội hình với kết thúc: “Nhưng hình như anh chảy nước mắt không chỉ
vì cười”. Nhân vật đồng hương của Tôi thì cuộc sống sau này sẽ như thế nào khi
anh xin chuyển công tác do sự lương thiện của anh, vì anh không thể hòa nhập
được, vì anh bị lạc đội hình. Kết thúc truyện Một cuộc thi hoa hậu, mở ra một thế
giới rộng lớn với muôn vàn sự việc không như mình mong muốn. Nhưng trong
cuộc sống ai cũng phải học hỏi, trao dồi, rèn luyện, cố gắng, kiên trì, tự tin… và
vững lòng thì mới có thành công: “Bé ơi. Đừng khóc. Đời các các bé mới chỉ bắt
đầu”. Còn trong truyện Thói quen, cái kết là ông Khánh và ông Quân nối lại tình
bạn già với những câu chuyện đời thường trong cuộc sống: “Bên ấm trà, họ lại to
nhỏ. Chuyện tiêu cực. Chuyện xuống cấp. Như những người cấp trên, những người
tri kỉ”. Nếu ai cũng biết trân trọng tình bạn, tình tri kỉ thì sẽ không có giận hờn đến
chết cũng không bỏ qua như ông Thông vì sự lừa dối của ông Quân. Với truyện
Những người đi ở, kết thúc truyện đem đến cái nhìn về cuộc sống vội vã, gấp gáp
trong xã hội đang thay đổi: “Rồi ông ngoặc nhanh vào hẻm, về nhà lấy xe, đạp đi
đón con bé đang học lớp lá”. Kết thúc đó khiến người đọc tự hỏi: Ông Hào có đón
kịp cháu bé ? Nếu ông Hào đón không kịp thì sẽ xảy ra việc gì? Truyện Làng có
99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu: “- Vẫn còn đang xay thóc đấy
ông? Khuya rồi. Đi ngủ thôi. Vào đây tôi chiều”. Đến kết thúc truyện, tác giả vẫn
chế giễu ông Chiến đang sáng tác thơ như đang xay thóc. Thơ của ông Chiến có in
thành sách không? Sách thơ có bán chạy không? Câu hỏi đó không có trả lời.
58
Truyện Người chăn kiến kết thúc bằng câu: “Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên
bàn làm việc. Và khỏa thân trên ghế. Đứng thẳng. Mặt hướng về phía xa. Tay giơ
cao. Như nữ thần Tự Do”. Tác giả cho thấy kết mở truyện là hình ảnh của con
người bị tổn thương về tinh thần. Sự tổn thương ấy đeo bám lấy ông M đến khi
nào thì không ai biết.
Truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật: “- Ông ấy đến xin thuốc phá thai”.
Anh hộ tịch đến xin thuốc phá thai là cho anh, cho người thân, hay xin giùm người
quen. Tác giả bỏ ngỏ để tự mọi người suy đoán và bàn luận. Kết thúc truyện Dị
bản một truyện đã in thể hiện nhiều nỗi buồn thầm kín không nói ra. Cuộc sống
vợ chồng không thể tâm sự cùng nhau, không thể chia sẻ những nỗi buồn vui trong
cuộc sống và trong tình cảm. Họ sống thầm lặng và chốn giấu những nỗi lòng: “Và
bà đã hạ chiếc vĩ cầm xuống. Định lau bụi cho nó. Nhưng rồi lại treo lên. Và ngồi
xuống chiếc ghế cạnh ông. Bà thiu thiu ngủ”. Rồi cuộc sống của vợ chồng chị nghệ
sĩ sẽ như thế nào? Sau này chị nghệ sĩ có lau bụi cho cây vĩ cầm không? Truyện
Sức khỏe của bố có một cái kết đầy mỉa mai, khi cụ Trịnh phải tiếp tục sống trong
sự tủi nhục của bản thân, vì cụ Trịnh miệng luôn dạy con cháu: “…, đượm màu
sắc phong kiến gia truyền. Dòng dõi nhà ông là dòng dõi nho học. Phu vi thê cương,
phụ vi tử cương…”., nhưng cụ lại bị con trai bắt gặp trong nhà hàng karaoke phòng
lạnh Vĩnh Đức có nhiều cô gái phục vụ. Và bây giờ cụ Trịnh sống vì: “- Bố sẽ
khỏe. Bố sẽ luôn giữ gìn sức khỏe vì con, vì cháu…”. Cụ Trịnh có sống nổi với
nỗi tủi nhục của mình không? Vợ chồng ông Trịnh sẽ như thế nào nếu cụ Trịnh
mất? Trong truyện Truyện không tên, tác giả miêu tả lại hình ảnh đau lòng và xót
xa về cuộc sống của những con người thấp bé trong xã hội. Họ bị bỏ quên trong
xã hội, nhưng họ không từ bỏ bản thân mà luôn tiếp tục phấn đấu vì cuộc sống:
“Nhưng chị không có thời gian dừng lại. Phải đi ngay kẻo lỡ mất chuyến tàu…”.
Họ sống không hại ai, nếu có hại là tự hại bản thân mình như anh què (giả què lâu
quá bị què thật, đây là kết quả tất nhiên cho hành động lừa dối người khác), họ
giúp đỡ nhau dù bản thân họ cũng đang gặp khó khăn. Chị Sợi có tìm được hai
cháu của bà Mít không? Hai cháu của bà Mít sẽ sống như thế nào với số tiền ít ỏi
ấy khi chưa đủ lớn? Chị Sợi sẽ làm gì để có tiền nuôi mẹ già khi phía đối diện xây
59
nhà tầng ở trước cửa nhà chị? Truyện Một ngày dài đằng đẵng có cái kết đầy lo
sợ, hồn vía lên mây với hai ông công an áp tải tù Cường đến trại tạm giam khác:
“Chiều tà xe mới đưa Cường đến trại mới. Trại N. Nhìn nó Cường biết quãng
đường đi suốt ngày hôm nay chỉ trọn vẹn có ba mươi ki-lô-mét … - Công nhận hai
ông thiệt xạ! Công nhận hai ông máu mê săn bắn nhà nghề”. Cường có bị chuyển
trại nữa không? Cũng không có câu trả lời. Trong truyện ngắn Trung sĩ, kết thúc
truyện mang nhiều nỗi lòng của người đồng đội. Nhân vật Tôi và Hiếu đều cảm
thông cho Lan Anh. Nhưng vì cuộc sống mà Lan Anh tiếp tục làm tiếp viên dù
phải ly dị chồng. Lan Anh sợ nghèo đói và phải nuôi con nhỏ và mẹ già: “Nhưng
sao tôi vẫn thấy đau lòng khi nghĩ đến một cô Lan Anh đã từng bốc cá ở xí nghiệp
tôi, một cô trung sĩ năm xưa và ao ước điều Hiếu nói về cô là không đúng”. Lan
Anh sẽ sống ổn với nghề mà cô chọn không? Khi Lan Anh lớn tuổi hơn nữa thì cô
sẽ như thế nào? Trong truyện Người ở cực bên kia, tác giả cho thấy kết thúc truyện
mang nhiều hình ảnh của cuộc sống địa vị, chức quyền, học vấn. Hắn (Tuấn) cũng
là người tri thức. Nhưng Hắn từng ở tù, nên bị mọi người xa lánh và xem thường.
Nhưng cái việc Hắn bị ở tù là bất đắc dĩ, Hắn cũng muốn được như mọi người có
chức, có quyền, có tiền. Nhưng không chỉ có Hắn có cuộc sống khó khăn: “Hắn
nhìn mãi theo Hùng đạp xe, phóng về phía bờ sông Hồng, vội vã”. Sau này xã hội
thay đổi, Hắn có cuộc sống như thế nào? Bạn bè Hắn như thế nào? Cũng vẫn không
có trả lời. Kết thúc truyện Vũ trụ không cùng, tác giả cho thấy con người đang tự
lãng quên mình vì xã hội đã lãng quên họ: “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ
trụ không cùng”. Trải qua hơn nửa cuộc đời, ông Thuyết nhận ra rằng: người ta cô
đơn khi ngủ, khi chết. Vậy ông Thuyết có tìm được ra rìa vũ trụ không? Ông Thuyết
sẽ tìm hiểu thêm những gì ở vũ trụ?
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”, ở mỗi kết thúc truyện tác giả
luôn để lại trong lòng người đọc những khoảnh khắc đọng lại những nỗi buồn vui
trong cuộc sống như: cái đẹp, cái buồn cười, cái xấu, cái đau đớn… Kết thúc truyện
không liên kết, theo hướng mở để người đọc, người nghe có thể đồng sáng tác với
tác giả và mở ra nhiều hướng kết thúc khác nhau theo từng cách suy nghĩ của mỗi
60
người, vì những điều đó họ có thể đã từng trải qua, từng thấy, từng nghe trong cuộc
sống.
3.3. Những hình ảnh, biểu tượng mang ý nghĩa đặc trưng trong lối viết hậu
hiện đại
3.3.1. Hình ảnh, biểu tượng đặc trưng trong lối viết hậu hiện đại
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng hình ảnh chi tiết và kết hợp với tình tiết biểu hiện lối viết hậu hiện đại trong
truyện ngắn: Truyện Một tối vui có câu: “Ạnh ta dí đầu dây kia vào vật. Nó giãy
giụa. Nó kêu váng buồng giam. Mọi cặp mắt đều hướng về phía con chuột. – À!
Mày lại còn định chống đối”, đây là sự châm biếm về hành động tra khảo tù nhân
chuột không một sức kháng cự. Trong truyện Cún có hình ảnh “Ông khách của tôi
thè cái lưỡi đến tận cằm” đang được tác giả ví như ma quỷ. Vì trong dân gian, chỉ
có hình ảnh ma quỷ mới có cái lưỡi dài để nhác người khác. “Ôi thật cao cả thiêng
liêng! Lại còn những lúc nhà văn ngồi thử thượi nhìn và những dòng vừa viết. Nhìn
như muốn xuyến thủng giấy. Nhìn, mắt rỗng không. Nhìn đấy như chẳng thấy gì…
Đó là thứ văn không phải để xem bằng mắt mà để nghe bằng tai. Bởi vì sếp không
xem. Ông sếp chỉ nghe đọc lại”, đây là hình ảnh của các nhà văn được thuê viết
theo yêu cầu của khách hàng nên các nhà văn cảm thấy không cảm nhận được tác
phẩm mình sáng tác, vì nó không phải là nghệ thuật chân chính trong truyện Nghệ
thuật đích thực. Trong truyện Người mua nhà của bố mẹ tôi có những câu: “Cô
ăn rất ý tứ. Nhưng cứ nhìn cách cô buông bát, cách cô lấy đũa cả vun vun chỗ cơm
còn lại ở đáy nồi, cũng đủ biết cô đang thực hiện câu châm ngôn Pháp khi ăn uống:
Phải rời bàn ăn khi còn một chút thòm thèm…”, “Những đứa trẻ bẩn thỉu, còi cọc,
hôi hám, tanh tưởi. Tóc bù xù. Mắt nhoèn. Mũi thò lò. Ruồi bâu. Quần áo chằng
đụp. Vẻ mặt xanh xao sợ sệt, xấu hổ cúi mặt cười cười mỗi khi chúng tôi trêu
chòng chúng” miêu tả những chi tiết ấn tượng về sự nghèo đói.
Truyện Khói miêu tả: “Ông nhìn trời núi cao nhất, tìm ánh mặt trời còn sót
lại. Bỗng ông giật mình: Khói, phía rừng bên kia có khói. Làn khói mỏng manh
thẳng đứng lẫn trong sương tỏa trên tán cây rừng. Ông định thần nhìn lại. Đúng là
khói. Phấn chấn hẳn lên, ông bước sang phía rừng bên ấy, nhẹ nhàng như một con
61
báo. Tay lăm lăm khẩu súng AK, ông bước lom khom, căng thẳng…” Chi tiết miêu
tả khung cảnh rừng vắng vẻ, gợi lên nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân, nhớ
quê qua làn khói. Tác giả cho thấy cảnh vật cũng như người tù và những người
canh giữ tù đều có chung tâm trạng như nhau. Vì nỗi nhớ và nỗi cô đơn không
phân biệt ai, dù người đó đang ở vị trí nào trong xã hội. Truyện Lạc đội hình gay
gắt: “Có ai lại ngu, đi ăn cả một mình bao giờ. Bởi vậy dù thanh tra có dòm ngó,
xí vô, Tuất vẫn vững như bàn thạch”, để đưa ra hình ảnh của con người vì đồng
tiền mà cố gắng làm những việc che mắt thiên hạ, nhưng họ lại tự cho rằng mình
hay, không ai biết và nếu có biết thì cho lên cùng một thuyền thế là xong chuyện.
Đồng thời, tác giả cũng giễu cợt cái tự tin khi làm việc xấu mà lòng vẫn vững
không lo sợ. Trong Truyện Một cuộc thi hoa hậu miêu tả: “Đứng khuất trong bóng
tối, những ứng cử viên hoa hậu ăn mặc như ngày tết, vẫn trong thấy rõ nơ trên đầu,
môi son, má phấn, váy ngắn váy dài, váy viền đăng ren, áo thun bó, quần bò, quần
soóc, giày dép bít tất. Chúng đứng hàng như một đàn bướm nhiều màu, dáng vẻ
vừa háo hức vừa bồn chồn”. Với những hình ảnh này, cuộc thi hoa hậu như ngày
vui Tết. Mà ngày Tết là ngày mọi người sum vầy bên gia đình, nghỉ ngơi, vui chơi
sau một năm làm việc vất vả. Còn cuộc thi hoa hậu là mơ ước của những cô gái
được tôn vinh bằng vẻ đẹp. Nhưng đằng sau lại là những nỗi buồn của nhiều cô
gái khác. Một cuộc thi không đem lại hạnh phúc cho nhiều người mà chỉ mang nỗi
buồn, tự ti và mặc cảm. Hình ảnh trong truyện Thói quen khá độc đáo: “- Toàn là
gạch bi đỏ! Quen kiểu gạch công văn báo cáo…, ông biết không, gạch đỏ từ đầu
sách tới cuối sách…” cho thấy một người có thói quen gây ra nhiều sự việc tệ hại
cho người khác, thậm chí làm cuộc sống của họ trở nên khốn đốn và khó xử. …
Truyện Những người đi ở có câu: “Ông đã đưa nó đi học, đón nó về, tắm rửa cho
nó từ lớp Chồi đến lớp Lá. Nghĩa là mấy năm rồi”, là hình ảnh vất vả của những
người vì con cháu, dù tuổi đã về hưu nhưng vẫn không được giây phút nghỉ ngơi.
Truyện Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu có hình ảnh:
“Việc đổ thóc ra xay của ông Chiến bây giờ đeo huân chương đỏ ngực cho người
ta chụp ảnh, đi quanh làng cho người ta quay phim…” là sự giễu nhại hài hước
theo kiểu viết của văn học hậu hiện đại. Trong truyện Người chăn kiến có hình
62
ảnh: “Chẳng một ai biết sau khi cài cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy một lọ nhỏ,
trong đựng bốn con kiến. Ông thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn.
Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những cái vidít… chặn chúng lại”. Đó là khung
cảnh sau khi ông M ra tù vì không có tội, nhưng bị ám ảnh vì những gì đã xảy ra
trong tù. Truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật kể lại: “Tháng nào vợ Bình chậm
kinh, đi xin nạo thai lại được giám đốc bệnh viện ghi vào đơn “Chống chỉ định nạo
thai. Rồi một ông thầy lang Hòa nào đó rất giỏi về mặt này” thể hiện hình ảnh trong
thời kì bao cấp, việc thuốc ngừa thai chưa được tới nhân dân nhưng kế hoạch thì
cứ tuyên truyền, họ không biết làm thế nào để thực hiện cho đúng và để tránh
không bị đói khổ khi đông con. Truyện Dị bản một truyện đã in có kết thúc: “Chị
nghệ sĩ trở về với anh họa sĩ, với mối tình đầu của chị, chia tay chồng cũ, chị đau
đớn, van vỉ: “- Hãy tha thứ cho em. Anh thân yêu…”. Tình yêu đầu đời khó phai
nhạt cùng với hoàn cảnh chiến tranh đã đem lại nỗi đau cho cả ba người. Vậy con
người bị đau khổ do hoàn cảnh hay do chính bản thân mình? Đó là lối viết mang
tính hoài nghi của văn học hậu hiện đại mà tác giả sử dụng. Truyện Sức khỏe của
bố có tình huống: “Cả hai người sững lại nhìn nhau. Hẳn bố ông còn choáng hơn
ông. Cụ khuỵu xuống khiến cô gái bên cạnh cụ phải ôm đỡ lấy cụ: “Anh làm sao
thế?” Đây là cảnh tượng hai bố con ông Thịnh gặp nhau ở nhà hàng Karaoke ôm
cho thấy khi có tiền, con người ta dễ thay đổi.
Trong truyện Truyện không tên có hình ảnh: “Người ta đi tới, ngồi xuống,
uống chén nước chị rót và khẽ nháy mắt, hất hàm về phí trong hẻm, Chị khẽ gật…”.
Vì cuộc sống mưu sinh, Chị Sợi không ngại làm cả việc bán mình để nuôi mẹ,
Hình ảnh mời khách của chị đã nói lên sự nghèo khó của những con người khốn
khổ, tương tự như nàng Fantine cũng bán mình để nuôi con trong tác phẩm Những
người khốn khổ (1862) của nhà văn Victor Hugo. Trong truyện Một ngày dài đằng
đẵng có chi tiết: “Cường đã bước vào khu làm việc của cán bộ. Một thế giới hoàn
toàn khác. Những ông công an. Những bà công an. Những tiếng nói cười vui vẻ.
những cái vẫy tay… Thế giới của tự do!”. Nghịch lý của cuộc sống đôi lúc chỉ là
trong gang tấc hoặc chỉ bước qua cánh cửa là một thế giới khác. Sự đối lập của nhà
tù và bên ngoài là chỉ sau một bức tường vuông. Truyện Trung sĩ có chi tiết “Cầm
63
xếp tiền tôi đưa, Lan Anh đếm. Trời ơi. Tôi không thể nào hình dung được. Đếm
xong, Lan Anh ngẩng lên ngơ ngác…” là sự lựa chọn do bản thân. Khi vẫn chưa
đến bước đường cùng nhưng Lan Anh không muốn sống khổ nên chấp nhận làm
nghề tiếp viên vì cô sợ nghèo. Trong truyện Người ở cực bên kia là cảm giác:
“Hắn cảm thấy yên tâm, bạn bè không quên hắn. Hắn bước những bước tự tin”.
Điều con người sợ nhất trong cuộc đời là nỗi cô đơn và bị lãng quên. Hình ảnh của
“Hắn” cho thấy bạn bè vẫn còn người nhớ “Hắn”, chỉ có xã hội đang quên dần
“Hắn”. Trong truyện Vũ trụ không cùng có câu: “Dù có bao nhiêu người bên cạnh
cũng chỉ một mình. Thiếp đi. Thiếp đi một đêm cũng như thiếp đi không bao giờ
dậy. Chẳng ai có thể chen vào. Chẳng ai có thể giúp đỡ. Chẳng ai có thể cùng đi.
Dù là những người thân yêu nhất. Chỉ một mình cô đơn”, những suy nghĩ của ông
Thuyết là tích lũy từ cuộc sống mang nhiều chua xót, nhiều tâm sự khi xã hội đã
lãng quên mình. Nhưng không có gì đáng sợ bằng chính bản thân mình tự lãng
quên mình.
Những hình ảnh biểu hiện những chi tiết, tình tiết trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn cho thấy khuynh hướng giải thiêng, đưa
con người về với cuộc sống đời thường một cách rõ nét.
3.3.2. Ý nghĩa từ những hình ảnh, biểu tượng của tác phẩm trong lối viết
hậu hiện đại
Trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn, ông đã sử
dụng những hình ảnh, biểu tượng mang ý nghĩa trong truyện ngắn như: Truyện
Một tối vui có hình ảnh: “- Quảng bước ra giữ sân, oai vệ ngồi xuống sếp bằng
tròn, râu hùm mày én, má hóp, sát khí đằng dằng, giơ hai tay về phía “dân
chúng”… ” Đây là hình ảnh của một người tù đóng giả chánh án của Vũ Quảng bị
nhạo. Đây là sự liên văn bản rõ nét, vì Từ Hải trong Truyện Kiều là một người anh
hùng “Râu hùm, hàm én, mày ngài. Vai năm tắc rộng, thân mười thước cao”
(Truyện Kiều 217-2168). Đặc biệt là hai từ “dân chúng” chứ không phải là “Nhân
dân hay Người dân”. Trong truyện Cún, Cún được tác giả nhân cách hóa như con
người với những cử chỉ hành động và lòng trung thành của một con vật: “Tôi cảm
thấy con người ươn ướt của Cún nhìn tôi đờ đẫn. Đó là cái nhìn vĩnh biệt”. Hình
64
ảnh của Cún chờ chủ và tìm kiếm chủ đến kiệt sức bởi lòng trung thành giống như
chú chó Hachiko – biểu tượng trung thành của người Nhật. Trong truyện Nghệ
thuật đích thực có ý nghĩ: “Phải có tiền… Và cũng chỉ còn mỗi cách kiếm tiền:
Viết thuê” với hình ảnh viết thuê của các nhà văn trong thời kì kinh tế đang chuyển
mình. Vì cuộc sống cơm áo gạo tiền, phải kiếm sống đúng nghề nghiệp thì thật là
khó khăn trong giai đoạn này. Nhưng cái gì thì cũng có giá của nó, việc Đình Kính
được trả công rồi cũng bị cái “nghệ thuật đích thực” lấy đi mất cũng như của thiên
trả địa mà ông bà ngày xưa thường nói. Truyện Người mua nhà của bố mẹ tôi
miêu tả: “… giữa lúc đa số xã viên phải rời khỏi làng làm cái nghề nhục nhã: Đi
ăn xin”, với hình ảnh xã viên rời khỏi làng để đi ăn xin thì xã hội lúc bấy giờ vô
cùng khó khăn và nghèo đói. Xã viên còn lâm vào cảnh đi ăn xin huống chi người
dân. Ăn xin trở thành cái nghề nghe thật mỉa mai. Trong truyện Khói, khói mang
hình ảnh quê hương, vì ở quê mới có thể thổi lửa nấu cơm bằng củi, nhất vào buổi
sáng sớm và chiều tà, nhà nhà đều bốc khói, bốc mùi thơm với những đống lửa đốt
bằng rơm sau mùa gặt. Vì ai cũng có nhà, có quê nên họ thấy hình ảnh đó thật quen
thuộc và khao khát nhớ về (trừ những người sinh ra và lớn lên ở thành thị). Trong
truyện Lạc đội hình có hình ảnh: “Tàu cá về người xuống như dòi” cho thấy sự
tham lam của những con người. Hành động này giống như sự hôi của người khác
mà không muốn mất tiền mua. “Hình như anh là người duy nhất không mang được
túi cá nào về nhà lập công cho vợ như chúng tôi vẫn bỏ nhau”, “- Con cái Liễu hỏi:
- Lại lạc đội hình hở ba? Còn thằng Tiệp Cún thì: Ba lại làm người lương thiện à?
Anh cười nhăn nhó: - Bị buộc phải luôn thiện thôi”. Chỉ riêng nhân vật đồng hương
của Tôi còn lương thiện dù phải sống trong cảnh nghèo đói như câu thành ngữ ông
bà thường hay nói “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Vì vậy, anh đồng hương bị
lạc đội hình. Trong truyện Một cuộc thi hoa hậu, hình ảnh cuộc thi hoa hậu của
những đứa trẻ con ở ngõ, hẻm cũng giống như những cuộc thi hoa hậu của người
lớn ở các thành thị lớn. Có một người thắng cuộc và nhiều người thua cuộc. Người
thắng cuộc sẽ được nổi tiếng, còn người thua cuộc sẽ như đứa bé Phương Thảo:
“… lao ra hẻm chính, sâu mãi vào phía trong, vừa chạy vừa khóc”. Cuộc thi chỉ là
trò chơi nhưng lại là trò chơi của một cuộc đời. Truyện Thói quen gay gắt “Thói
65
quen quái đản. Nó định dạy người ta đọc à?, “Thằng này nói dối cả đời rồi. Bắt nó
nói thật làm sao được?”. Đọc sách gạch dưới và nói dối là những thói quen tiêu
cực làm ảnh hưởng đến người khác. Nhưng đã gọi là thói quen thì khó mà bỏ, vì
nó được hình thành từ hành vi được lặp đi lặp lại nhiều lần nên mới thành thói
quen. Truyện Những người đi ở ngậm ngùi: “Cả ba đều ngoài sáu mươi và đã nghỉ
hưu mấy năm rồi. Ba người có nhiều kỉ niệm chung và nay lại cùng hoàn cảnh: cả
ba đều đem sức mình gây dựng cho con và lại cùng vào thành phố Hồ Chí Minh
với con” Đây là hình ảnh của những người còn lại sau kháng chiến, họ tiếp tục lo
cho con, cho cháu. Cuộc sống của họ không thoải mái nhưng vì hạnh phúc của con
cháu, họ lại tiếp tục hi sinh dù tuổi đã về hưu. Trong truyện Làng có 99 cái ao, cây
đa 99 cành và ông đại tá về hưu là mơ ước: “ Đất này là đất phát văn… Làng đất
văn… Còn ông Chiến sau khi phát hiện mình có phẩm chất thơ (như những đại
biểu nói trong hội thảo) ngây ngất trong vầng hào quang mới, lao vào sáng tác tập
thơ thứ hai mà ông nói rằng “thừa thắng xông lên”. Đến bây giờ ông mới thực sự
hiểu thế nào là “niềm vui sáng tạo của một nhà thơ chuyên nghiệp”. Hình ảnh ông
đại tá Chiến là một sĩ quan nay lại muốn trở thành một nhà thơ chỉ vì lời tán dương
của người khác, cũng là hình ảnh của những người sống trong ảo vọng, khi họ thực
sự không có năng lực, tài hoa hay kĩ năng đó. Gọi là làng phát văn, nhưng không
phải ai cũng biết làm thơ văn đúng nghĩa. Chỉ là làng đó có nhiều người được thành
danh, có tiếng trong văn chương hơn so với chỗ khác.
Trong truyện Người chăn kiến có hình ảnh: “- Cho làm nữ thần Tự Do…
ông ngoan ngoãn đứng làm nữ thần Tự Do… Nhưng ông không được làm thần
Tự Do nữa… Và khỏa thân trên ghế. Đứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giờ
cao. Như nữ thần Tự Do”, tượng nữ thần Tự Do (Nữ thần Tự Do soi sáng thế giới)
là biểu tượng cho lý tưởng tự do của người dân Mỹ. Tượng nữ thần Tự Do có hình
dáng phụ nữ nhưng B trưởng lại bắt ông M làm mà lại khỏa thân. Đây là hình ảnh
tương phản của tự do và nhà tù. Một hình ảnh bị nhạo báng với những gì đang diễn
ra giữa nhà tù. Truyện Ngưu tất, hồng hoa, nga truật với hình ảnh “chống chỉ
định nạo thai… Ngưu tất, hồng hoa, Đào nhân, nga truật… Ông ấy đến xin thuốc
phá thai”, cũng là hai hình ảnh đối lập trong việc kế hoạch hóa gia đình trong thời
66
kì bao cấp vì không đủ phân phát theo nhân khẩu. Trong truyện Dị bản một truyện
đã in là hình ảnh: “Cây vĩ cầm của bà nghệ sĩ đã bao đêm cất tiếng ca ngợi tình
yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc trong nhà hát hay trong những buổi hòa nhạc giữa trời đã
im lặng từ lâu… Nó được treo trên tường, sát với một khung vải trắng lớn – một
bức tranh vẫn chờ ông vẽ…”, đây cũng là sự đối lập của bà nghệ sĩ với cây vĩ cầm,
cũng như tranh vẽ với anh họa sĩ. Nghề nghiệp của họ đem cái đẹp cho cuộc sống
nhưng cuộc sống của họ lại chất đầy những nỗi đau thầm kín trong tình yêu. Truyện
Sức khỏe của bố có câu phương châm: “đói cho sạch rách cho thơm” hay “nên
người” của gia đình ông Trịnh là một trò cười cho thiên hạ, vì họ từng làm những
việc phạm pháp. Khi họ có tiền do bà Lê gửi về giúp đỡ cho cụ Trịnh thì cho là
“quý nhân phù trợ”. Và bây giờ, “sức khỏe của bố” là tài sản của gia đình ông
Trịnh vì tiền khiến cho con người ta cái gì cũng có thể làm. Trong truyện Trung
sĩ, hình ảnh Lan Anh là “trung sĩ” ở tổ bốc cá không còn nữa. Bây giờ cô làm tiếp
viên “mắt xanh mỏ đỏ” ở nhà hàng Nu Ni. Lan Anh muốn có nhiều tiền, không
muốn sống nghèo khổ đã làm nghề này để có thêm tiền “boa” là tiền phục vụ. Lan
Anh ly dị chồng cũng vì điều này. Truyện Truyện không tên là hoàn cảnh: “Chị
cũng đã tích lũy được một ít tiền… bởi vì có khi cả tuần lễ không bán được hàng,
lại chẳng có một người khách nào đến nhà chị”, cho thấy một “cô điếm già… có
khách nào ngoài đám ăn mày”. Vì cần tiền nuôi mẹ già bệnh nằm liệt gường mà
chị Sợi phải chấp nhận làm nghề này, nhưng khác những người bán hoa khác đối
tượng là những tay ăn chơi nhà giàu, còn khách của chị là những người ăn mày.
Vậy chị còn nghèo hơn cả những người ăn mày đó. Nhưng chị lại là một người tốt
vì giúp đỡ người khác như bà Mít: “- Cô phúc đức quá. Cầu trời phù hộ độ trì cho
cô… chị chảy nước mắt. Vì cảnh ngộ của bà. Vì hai đứa trẻ mồ côi… niềm tin to
lớn… của ba con người còn khốn khổ hơn chị… chị không có quyền phụ lòng tin
cao cả ấy”. Hình ảnh cho thấy những con người thấp cổ bé họng trong xã hội, họ
vẫn giữ được niềm tin cho nhau và giúp đỡ nhau trong cuộc sống đói nghèo. Trong
truyện Một ngày dài đằng đẳng có hình ảnh: “Cường xuống xe. Hai tay bị còng
nên xuống hơi khó một chút. Phải chụp hai chân nhảy như con Kangaroo”,
Kangaroo là chuột túi, nhảy vọt, lực lưỡng là biểu tượng của nước Úc. Còn Cường
67
bị còng nhưng nhảy như Kangaroo. Tác giả cho thấy sự giễu nhại tương phản qua
hai hình ảnh. Trong truyện Người ở cực bên kia là sự chua xót: “Hắn biết hắn là
đối tượng, xóm láng đều hiểu gia đình hắn là đối tượng… Chỉ vì lấy hắn mà khổ
một đời. Được cơ quan cử đi học đại học. Đang học bị đuổi, chỉ vì hắn đi tù. Hắn
nghĩ: Tất cả tại hắn đi viết văn, viết báo mới đến nỗi này”. Hắn từng đi tù khiến
cho cuộc sống của hắn khó khăn hơn và ảnh hưởng đến những người thân xung
quanh. Ông bà thường nói câu thành ngữ “Sinh nghề tử nghiệp”. Trong truyện Vũ
trụ không cùng: “Gường bên bà thở đều đều. Nằm co trên gường, ông nghĩ tới vũ
trụ không cùng”, hình ảnh một mình cô đơn khi ngủ, khi chết là sự đúc kết của
cuộc đời ông Thuyết. Tác giả cho thấy con người cô đơn khi bản thân mình tự lãng
quên mình.
Bùi Ngọc Tấn hay chọn những hình ảnh tương phản độc đáo để miêu tả
trong các tác phẩm của mình, từ đó làm cho những tác phẩm của ông gây ấn tượng
cho người đọc, cũng là để mở rộng các tầng ý nghĩa của tác phẩm, dành lại cho
người đọc tự chiêm nghiệm, ngẫm nghĩ.
* Tiểu kết:
Bùi Ngọc Tấn là nhà văn của những trải nghiệm từ cuộc sống và là người
sử dụng ngôn ngữ viết văn bình dân mang sắc thái đa âm đa thanh. Điều này được
thể hiện qua tập truyện ngắn “Người chăn kiến”. Từ góc độ nghệ thuật có thể thấy
rõ những yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi
Ngọc Tấn như: Sử dụng một số biện pháp tu từ làm nên đặc trưng cho tác phẩm:
Ngữ đoạn, phép láy, phép điệp, phép so sánh. Nghệ thuật ngôn ngữ đa thanh, đa
âm qua giọng điệu bình thản đầy trải nghiệm, ngôn ngữ dân gian giàu nhân sinh
qua giọng điệu giễu nhại. Nhân vật phi trung tâm, kết thúc mở qua điểm nhìn dịch
chuyển, truyện có đa nhân vật, kết thúc truyện không liên kết, theo hướng mở trong
văn học hậu hiện đại.
68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong xã hội, quá trình lịch sử và những biến chuyển của xã hội đã tác động
đến sự tiến bộ ngày một văn minh hơn. Trong đó, có những mất mát và đau thương.
Nhưng con người không lùi bước mà càng tiến lên trong đổi mới về mặt tư duy, tư
tưởng và cách nhìn nhận về xã hội của con người, đặc biệt là qua văn học. Văn học
là kho tàng kiến thức của nhân loại, văn học mang những giá trị tư tưởng và minh
chứng cho lịch sử phát triển của một quốc gia, một cộng đồng dân tộc và một xã
hội rộng lớn. Văn học cho ta cái nhìn khái quát về sự biến đổi không ngừng của tri
thức con người và xã hội. Văn học luôn phát triển theo từng giai đoạn và thời kì
trong xã hội. Việc sáng tác và tiếp nhận văn học qua các giai đoạn, các thời kì bằng
tác phẩm văn học là một quá trình và lâu dài. Những yếu tố khách quan, yếu tố con
người, yếu tố xã hội càng tăng nhanh thì đưa quá trình phát triển văn học lên tầm
cao mới.
Văn học mang nhiều giá trị, trong đó có giá trị kiến thức của con người qua
tích lũy sự hiểu biết, từ đó độc giả nhận ra những cái hay và cái đẹp để áp dụng
vào cuộc sống. Ngoài ra, văn học mang giá trị giải trí tinh thần. Qua trình truyền
đạt và tiếp nhận văn học luôn hòa điệu nhịp nhàng trong cuộc sống, qua nhiều
phương diện giúp con người hiểu biết nhiều hơn về giá trị nhân đạo, giá trị thẩm
mỹ và giá trị cuộc sống. Xã hội phát triển, văn hóa, văn học và giáo dục cũng phát
triển về nội dung lẫn hình thức. Văn học kết hợp với các môn học khác như tâm lí
học, triết học, văn hóa học, logic học,… giúp cho con người dễ tiếp nhận và nâng
cao tư duy tiếp nhận, sáng tạo trong học tập, công việc và cuộc sống.
Văn học Việt Nam là sản phẩm của người Kinh và các dân tộc sinh sống,
cư trú trên đất nước Việt Nam. Tuy có những đặc trưng riêng ở mỗi vùng miền,
mỗi dân tộc, nhưng đã cộng hưởng lại, làm phong phú cho nền văn học Việt Nam
về thể loại và ngôn ngữ. Văn học hiện đại từ thế kỉ XX –XXI hình thành và phát
triển trong bối cảnh giao thời giữa văn hóa, văn học phương Đông và phương Tây.
Quá trình tiếp xúc và tiếp nhận nền văn hóa, văn học của quốc tế đã tác động văn
69
học trong nước, dẫn đến sự cách tân và đổi mới thể loại, thể hiện trong các tác
phẩm ở mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc.
Khoảng thập niên 60 - 70, ở châu Âu và Mỹ xuất hiện dòng văn học theo
khuynh hướng hậu hiện đại. Ngày nay, chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một xu
hướng trong nền văn học hiện đại và đương đại. Trong văn học, đặc điểm của hậu
hiện đại thể hiện qua sự chối bỏ đại tự sự mà nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ,
những động cơ thúc đẩy các vấn đề, những mối quan hệ cá nhân, quyền lực... Trong
đó, hậu hiện đại nêu rõ về các khía cạnh văn hóa, khoa học và xã hội và hậu hiện
đại không ca ngợi duy lý và văn minh của thời đại. Tác phẩm La condition
postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại, 1979) của Jean Francois Lyotard ra đời, làm
thay đổi nhiều quan điểm văn học trong cái nhìn về siêu văn bản và siêu ngôn ngữ.
Cũng từ đó, nhiều công trình nghiên cứu về văn học hậu hiện đại rẽ nhánh nhỏ để
tìm tòi và khám phá thêm về văn học. Bên cạnh đó, hậu hiện đại cũng gợi cho con
người sự khám phá bản thân về tư tưởng và sáng tạo. Việc nghiên cứu hậu hiện đại
trong văn học là điều thú vị trong một xã hội đã và đang tiếp nhận những thay đổi
theo hướng công nghệ cao. Cuộc sống của con người phát triển nhanh, cũng dần
mất đi sự hòa mình với thiên nhiên. Từ hiện đại bước dần qua hậu hiện đại đã làm
cho con người thay đổi những cảm xúc, tình cảm và tính cách. Tính cách, tình cảm
và cảm xúc trong tâm trạng trở nên phức tạp, gãy đứt, tổn thương, dị thường thể
hiện qua: ngôn ngữ, sự im lặng, những điều chưa nói, những điều không thể nói và
không bao giờ nói ra.
Văn học Việt Nam phát triển gắn liền với lịch sử và chính trị, văn hóa và xã
hội của đất nước. Văn học Việt Nam đã và đang tác động đến quá trình phát triển
của xã hội. Văn học là kho tàng vô giá được lưu giữ trong trí nhớ của con người
được thể hiện qua truyền miệng và chữ viết. Tác giả muốn sáng tác một tác phẩm
nào đó, thì ít nhất họ cũng lưu giữ và ghi nhớ những ký ức, khoảnh khắc, sự việc,
hiện tượng hoặc những trải nghiệm, kinh nghiệm trong cuộc sống để làm nền cho
tác phẩm của mình. Những điều kiện đó phù hợp với những điều kiện của hậu hiện
đại. Và một số nhà văn nổi lên trong giai đoạn văn học hậu hiện đại được đón nhận
70
ở Việt Nam như các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hòa
Vang, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Lê Minh Hà, Sương Nguyệt
Minh, Tạ Duy Anh, Bùi Ngọc Tấn…
Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, yếu tố hậu hiện đại trong các tác phẩm văn
học xuất hiện nhiều và trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn sáng tác trong
nền văn học Việt Nam. Đặc biệt là ngôn ngữ đã trở thành trò chơi theo khuynh
hướng hậu hiện đại trong văn học. Trò chơi ngôn ngữ tạo sự mới lạ, giải giới hạn
của ngôn từ và trở thành viễn tưởng qua sự tưởng tượng của các nhà văn. Sự tiếp
nhận Lý thuyết trò chơi ngôn ngữ của L. Wittgenstein và Điều kiện hậu hiện đại
của J.F. Lyotard đã đem đến cho văn học Việt Nam cái nhìn mới lạ về siêu văn bản
và vi văn bản.
Bùi Ngọc Tấn là một trong những nhà văn thể hiện yếu tố hậu hiện đại rõ
nét qua nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của mình với tập truyện ngắn
“Người chăn kiến”. Luận văn trình bày các yếu tố hậu hiện đại thể hiện qua nội
dung và nghệ thuật trong tác phẩm như ở chương một là tìm hiểu những vấn đề
chung về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Bùi Ngọc Tấn qua tiểu sử và tác
phẩm văn học của nhà văn. Bên cạnh đó, luận văn tìm hiểu đôi nét về lý thuyết hậu
hiện đại, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại. Ở chương hai, luận văn tìm
hiểu yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc
Tấn nhìn từ nội dung qua những mảnh đời thường từ những mảnh ghép cuộc đời
vụn vỡ, xô lệch và những khát vọng để thấy rõ sự “giải thiêng” những “đại tự sự”
trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” từ việc phá vỡ những quan niệm truyền
thống về con người và xã hội. Luận văn cũng chỉ ra những chân lý mới phổ quát
theo khuynh hướng “tiểu tự sự” trong đề tài, trong cốt truyện qua nghệ thuật ngôn
ngữ mang màu sắc hậu hiện đại. Ở chương ba luận văn tìm hiểu về yếu tố hậu hiện
đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nghệ thuật
qua việc sử dụng một số biện pháp tu từ làm nên đặc trưng cho tác phẩm như ngữ
đoạn, phép láy, phép điệp, phép so sánh. Từ nghệ thuật ngôn ngữ đa thanh, đa âm
qua ngôn ngữ bình dân qua giọng điệu bình thản đầy trải nghiệm, ngôn ngữ dân
71
gian giàu nhân sinh qua giọng điệu giễu nhại và nhân vật phi trung tâm. Cuối cùng
là kết thúc mở qua điểm nhìn dịch chuyển từ truyện có đa nhân vật và kết thúc
truyện không liên kết, theo hướng mở. Nhìn chung tập truyện ngắn “Người chăn
kiến” của Bùi Ngọc Tấn đã thể hiện yếu tố hậu hiện đại qua lối văn giễu nhại và
hài hước từ những trải nghiệm trong cuộc sống của tác giả.
Luận văn nghiên cứu đề tài Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn
“Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn với mong muốn đóng góp một phần nhỏ
tìm hiểu về khuynh hướng hậu hiện đại của văn học Việt Nam trong thế kỷ XXI,
từ đó khắc họa được nét riêng của Bùi Ngọc Tấn trong trào lưu văn học hậu hiện
đại ở Việt Nam. Luận văn còn có những thiếu sót nhất định do điều kiện, hoàn
cảnh. Nếu có cơ hội, người viết luận văn mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về
đề tài này.
72
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Dương Bích Hạnh (2021). Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XXI: Quá trình
sáng tác và tiếp nhận, Kỷ yếu Ngày hội khoa học giảng viên và học viên
sau đại học lần thứ V – năm 2021, Trường Đại học Thủ Dầu Một.
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo là sách:
Antoine Compangon (dịch: Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào năm 2006). Bản mệnh
của lý thuyết - Văn chương và cảm nghĩ thông thường, NXB Đại học Sư
Phạm.
Lại Nguyên Ân (chủ biên) (1997). Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết
thế kỷ XIX, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Lê Huy Bắc (2012). Văn học hậu hiện đại - Lý thuyết và tiếp nhận, NXB Đại học
Sư phạm.
Lê Huy Bắc (chủ biên) (2013). Phê bình văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, NXB
Tri thức, Hà Nội.
Lê Huy Bắc (2014). Văn học Mỹ, NXB ĐHSP.
Lê Huy Bắc (2001). Hợp tuyển Văn học Châu Mỹ, NXB. ĐHQGHN.
Lê Huy Bắc (2007). Các kiểu truyện ngắn hậu hiện đại,
Trần Đình Sử (Chủ biên) (). Tự sự học một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm.
Trần Đình Sử (Chủ biên) (2007). Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
Lưu Văn Bổng (2017). Văn học so sánh - một khoa học liên kết phức hợp, NXB
Khoa học xã hội.
Lê Nguyên Cẩn (2018). Diện mạo phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX, NXB
Đại học Sư phạm.
Minh Chính (2002). Văn học phương Tây giản yếu, NXB Đại học Quốc gia TP
HCM.
Nguyễn Văn Dân (1999). Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
74
Nguyễn Văn Dân (2011). Lý luận văn học so sánh (in lần thứ 5, có sửa chữa và bổ
sung), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
Trương Đăng Dung – Nguyễn Cương (1990). Các vấn đề của khoa học văn học,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
Trương Đăng Dung (1998). Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
Trương Đăng Dung (2004). Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội.
Nhiều tác giả (2019). Các lý thuyết và phương pháp văn học, NXB Hồng Đức.
Cao Thị Ngọc Hà (2016). Tiểu thuyết phong tục Việt Nam tiến trình và đặc điểm,
NXB Giáo dục Việt Nam.
Hồ Thế Hà (2014). Tiếp nhận cấu trúc văn chương, NXB Văn học, Hà Nội.
Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện văn học (2008). Lý luận và phê bình văn
học đổi mới và phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nguyễn Lai (1996). Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
Nguyễn Văn Long (chủ biên) và cs, (2012). Phê bình văn học Việt Nam 1975 –
2005, NXB Đại học Sư Phạm.
Nguyễn Văn Long (2007). Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt
Nam sau 1975, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
Phương Lựu (1997). Tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Phương Lựu (2012). Lý thuyết văn học hậu hiện đại, NXB Đại học Sư phạm.
Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh
(2012). Lí luận văn học (tập 1): Văn học, nhà văn, bạn đọc, NXB Đại học
Sư phạm.
75
Phương Lựu (Chủ biên), La Khắc Hòa và Trần Mạnh Tiến (2012). Lí luận văn học
(tập 3): Tiến trình văn học, NXB Đại học Sư phạm.
Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa và
Thành Thế Thái Bình (2006). Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục.
JF. Lyotard (2008). Hoàn cảnh hậu hiện đại (Ngân Xuyên dịch), NXB. Tri thức,
Hà Nội.
Hồ Á Mẫn (2011). Giáo trình văn học so sánh (Người dịch: Lê Huy Tiêu), NXB
Giáo dục Việt Nam.
Trần Thị Quỳnh Nga (2010). Tiếp nhận văn xuôi Nga thế kỷ XIX ở Việt Nam, NXB
Giáo dục Việt Nam.
Khoa Văn học và ngôn ngữ (2015). Những vấn dề Ngữ Văn (Tuyển tập 40 năm
nghiên cứu khoa học của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc
gia TP. HCM.
Lã Nguyên (tuyển dịch) (2012). Lí luận văn học những vấn đề hiện đại, NXB Đại
học Sư phạm.
Võ Văn Nhơn - Nguyễn Thị Phương Thủy (2012). Văn chương phương Nam một
vài bổ khuyết, NXB Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
Dương Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Xuân Đạt (2015), Tư duy biện luận ứng dụng,
NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
Lê Lưu Oanh (2011). Văn học và các loại hình nghệ thuật, NXB Đại học Sư phạm.
Nguyễn Bình Phương (2014). Thoạt kỳ thủy, NXB Văn học, Hà Nội.
I. P Ilin và E. A Tzurganova (chủ biên) (dịch: Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại
Nguyên Ân). Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu
văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ XX, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Huỳnh Như Phương (2017). Tác phẩm và thể loại văn học, NXB Đại học Quốc
gia, Thành phố Hồ Chí Minh.
76
Phạm Văn Quang (2015). Xã hội học thi pháp dòng chảy cuộc đời, NXB Đại học
Quốc gia, TP Hồ Chí Minh.
Hoàng Trọng Quyền (2012). Nguyễn Du và Đỗ Phủ những tương đồng và khác
biệt về tư tưởng nghệ thuật, NXB Chính trị Quốc gia.
Bùi Minh Toán (2017). Ngôn ngữ với văn chương. NXB Đại học Sư phạm.
Trần Đình Sử (2000). Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Trần Đình Sử (Chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm và Nguyễn Xuân Nam
(2012). Lí luận văn học (tập 2): Tác giả và thể loại văn học, NXB Đại học
Sư phạm.
Sách (2016). Những vấn đề Văn học và ngôn ngữ Nam Bộ kỉ yếu hội thảo khoa
học, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM.
Bùi Thanh Truyền (2016). Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam (lưu hanh
nội bộ, NXB TP. Hồ Chí Minh.
Trần Nho Thìn (2002). Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
Bích Thu (2015). Văn học Việt Nam hiện đại sáng tạo & tiếp nhận (Tiểu luận phê
bình), NXB Văn học.
Nguyễn Thị Thu Thủy (2016). Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể, NXB Đại
Học Quốc gia Hà Nội.
Tài liệu tham khảo là bài báo đắng trên tạp chí:
Nguyễn Văn Dân (1985). “Tiếp nhận “mỹ học tiếp nhận” như thế nào?”, Thông
tin khoa học xã hội, số 11 (89), tr 49 – 54.
Nguyễn Văn Dân (1986). “Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chương trên quan điểm
liên ngành”, Tạp chí Văn học, số 4, tr 23 – 29.
77
Nguyễn Văn Dân (chủ biên) – Trần Đình sử và cs (1991). “Văn học nghệ thuật và
sự tiếp nhận, Nghiên cứu sự tiếp nhận”. Viện Thông tin khoa học xã hội,
Hà Nội, số 4, tr 23 – 29.
Nguyễn Hồng Dũng, Nguyễn Xuân Thành (2018). Ngôn ngữ giễu nhại trong văn
xuôi hậu hiện đại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học
Xã hội và Nhân văn ISSN-2588-1213, 127 (6C): 158-166.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn ISSN 2588–1213
Tập 127, Số 6C, 2018, Tr. 158–166; DOI: 10.26459/hueuni-
jssh.v127i6C.4716
Tài liệu tham khảo là ấn phẩm điện tử:
Hoàng Bỉnh Xuyên (2014). Nhận thức đúng về giải cấu trúc và giải thiêng. Báo
điện tử Nhân Dân cuối tuần, số 48. Truy cập ngày 14/12/2022 từ
https://nhandan.vn/nhan-thuc-dung-ve-giai-cau-truc-va-giai-thieng-
post219538.html
WikipediA (2022). Bùi Ngọc Tấn, Truy cập ngày 25/12/2022 từ
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Ng%E1%BB%8Dc_T%E1%
BA%A5n
Nhà xuất bản trẻ (2022). Bìa sách Người chân kiến. Truy cập ngày 25/12/2022 từ
https://www.nxbtre.com.vn/sach/nguoi-chan-kien-tap-truyen-ngan-
12736.html
Vinabook.com (2022). Bìa sách người chăn kiến, Truy cập ngày 25/12/2022 từ
https://ebook.vinabook.com/nguoi-chan-kien-p57459.html
78
PHỤ LỤC 1
Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (tập truyện ngắn, 2010) cũng đã mang
đến nhiều ý kiến khác nhau, làm cho tập truyện ngắn càng gây được nhiều sự chú
ý của độc giả. Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2014) gồm Mười chín truyện
ngắn: Một tối vui; Cún; Nghệ thuật đích thực; Người mua nhà của bố mẹ tôi; Khói;
Lạc đội hình; Một cuộc thi hoa hậu; Thói quen; Những người đi ở; Làng có 99 cái
ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu; Người chăn kiến; Ngưu tất, hồng hoa,
nga truật; Dị bản một truyện đã in; Sức khỏe của bố; Truyện không tên; Một ngày
dài đằng đẵng; Trung sĩ; Người ở cực bên kia; Vũ trụ không cùng. Và hai bài viết:
“Bùi Ngọc Tấn và hóa học của nhân bản” của Dương Tường và “Bùi Ngọc Tấn,
nhà văn, và hắn” Phạm Xuân Nguyên.
Tóm tắt nội dung của tập truyện ngắn “Người chăn kiến”:
Một tối vui là truyện đem đến những tình huống dở khóc dở cười. Truyện
nói về một nhóm người ở tù, trong không gian hạn hẹp, tù túng, khó chịu. Họ đã
tự chơi đùa với nhau cho quên thời gian, qua trò chơi mở một phiên tòa xét xử con
chuột. Họ đặt tên cho con chuột là Chí Văn Chuột với tội danh: tội tham ô và phá
hoại. Con chuột là bị cáo và những người tù ở buồng giam phân nhau đóng vai:
Chánh án, người bị hại, người làm chứng và người dân tham dự phiên tòa:
- Bà con giữ trật tự…
… theo cách tính tuổi của chuột thì tương đương với hai mươi bốn tuổi của
người. Tức là đã đến tuổi trưởng thành, can tội…
- Tội tham ô!
- Tôi phá hoại!
…
- Tội chiếm đoạt tài sản công dân, gọi nôm là ăn cắp.
Nhiều tiếng thét đầy phẫn nộ:
- Hai mươi năm cấm cố.
79
- Tập trung cải tạo!
- Chung thân!
… Tòa tuyên bố dành cho bị can Chí Văn Chuột mức án cao nhất… đanh thép:
- Tử hình!
Cuối truyện, trở về cảnh như những ngày thường đang ở trong tù. Nhưng
đêm nay, trước khi đi ngủ mọi người trong phòng không nhớ về gia đình. Và đêm
nay, mọi người chìm vào giấc ngủ với những điều buồn cười, cười ra nước mắt.
Truyện Cún, nói về con chó tên Cún được vợ chồng anh Trung (công an)
và chị Thanh nhận nuôi từ một người đội trưởng trong hợp tác xã do anh ông đội
trưởng đèo tới, là ông “xuất khẩu” ở tầng dưới nhà của Tôi (là một chàng trai viết
báo tỉnh lẻ). Cún cùng anh Trung trải qua những năm tháng khó khăn trong cuộc
sống của thời gian chiến tranh. Những tưởng cuộc sống như thế là quá đủ đau khổ
cho một đời người. Từ khi anh Trung bị Tàu tưởng bắt và được thả ra, anh Trung
đã thuyên chuyển công tác ba lần. Hiện tại, anh Trung không có việc làm gần một
năm, anh đang ở nhà chờ tổ chức bố trí. Nhưng một hôm, anh Trung quyết định ra
Hà Nội và mãi mãi không về: “Anh Trung lại thu xếp một chuyến đi Hà Nội. Anh
đi. Rồi không về. Mãi mãi không về nữa… Chiến tranh. Bom đạn trên đường. Tai
nạn. Cạm bẫy. Cho đến nay anh vẫn chưa trở về. Anh vẫn là người mất tích”. Cún
không thấy chủ, Cún bỏ ăn rồi đi tìm chủ của mình đến kiệt sức, bị thương và quay
trở về ngôi nhà trong nỗi tuyệt vọng. Chị Thanh cho Cún ăn, nhưng Cún không
còn sức để ăn. Vì những vết thương không biết nguyên nhân nào gây ra, có lẽ bị
xe quệt hay bị người ta đánh. Cún đau đớn cả tâm hồn lẫn thể xác: “Nó rên lên vì
đau đớn”. Rồi người ta (ông “xuất khẩu”) định đoạt số phận cho Cún là bán cho
người lái chó. Chị Thanh đã mất anh Trung và bây giờ cũng mất luôn Cún.
Trong truyện Nghệ thuật đích thực, các nhân vật như Đình Kính, Chu Lai,
Nguyễn Quang Thân là những nhà văn trong thời kì bao cấp cuối thập niên 80. Họ
được giám đốc lâm trường quốc doanh ở Đồng Nai mời viết tập sách về đơn vị và
phải hoàn thành trong hai tháng theo hợp đồng đã ký. Mỗi nhà văn sẽ nhận một
80
chỉ vàng tiền bồi dưỡng (tiền viết thuê). Các nhà văn được giám đốc lo cho việc
ăn, nghỉ ngơi và đi lại. Các nhà văn được nghỉ lại khu nhà nghỉ sang trọng ở Long
Hải cách Vũng Tàu hơn mười km. Vì nơi đó, giúp các nhà văn yên tĩnh và tập
trung trong việc viết lách để hoàn thành tác phẩm của mình đúng thời hạn theo hợp
đồng. Trong quá trình viết lách, mỗi ngày mỗi nhà văn được một gói Jet. Các nhà
văn để dành, đợi khi hoàn thành tác phẩm thì đem bán lấy tiền. Nhưng bán được
thuốc lá Jet ở đây là một việc khó khăn đối với các nhà văn. Sau khi bán được
thuốc và nhận vàng bồi dưỡng tác phẩm thì Nguyễn Quang Thân cùng Dạ Ngân
về Cần Thơ. Còn hai nhà văn Chu Lai và Đình Kính về thành phố Hồ Chí Minh.
Trong tâm trí hai nhà văn Chu Lai và Đình Kính luôn nghĩ về thành quả của mình
được trả công một chỉ vàng. Mà khi đó, ít người có được tài sản ấy. Trên đường
về, họ bị một nhóm cô gái trẻ vây quanh nắm tay, ôm vai, bóp đùi, kéo áo. Hai nhà
văn cố gắng lắm mới thoát khỏi bầy tiên nữ đó. Lúc về nhà nghỉ, Đình Kính nhìn
lại bàn tay của mình thì không thấy chỉ vàng đâu nữa. Chu Lai thì may mắn hơn,
chỉ vàng vẫn còn trên ngón tay và hên là tiền bán thuốc Jet vẫn còn.
Truyện Người mua nhà của bố mẹ tôi nói về nhân vật Tôi bán ngôi nhà
gạch ba gian và hai sào vườn của bố mẹ để lại. Đây là một quyết định đau lòng của
nhân vật Tôi, vì sợ tuổi già không còn sức để chăm nom cho ngôi nhà và mảnh
vườn. Điều được nói ở đây là người mua nhà lại là cô Thoan, người từng làm công
cho gia đình của Tôi. Cô Thoan là một người nghèo với gương mặt và dáng người
khắc khổ, cái cổ hơi dị tật và dáng đi hơi nghiêng. Nhưng cô Thoan rất chăm chỉ,
siêng năng, tằn tiện không để mình phải lãng phí bất cứ thứ gì. Chính vì điều đó,
mà cô Thoan đã dành dụm được nhiều tiền của. Sau này, cô mua lại ngôi nhà và
mảnh vườn của gia đình Tôi. Cô Thoan có hai người con gái, đứa lớn là cái Vân
hay còn gọi Tí Con và đứa nhỏ là cái Thoa hay còn gọi Tí Rẫu. Hai cô con gái của
cô Thoan lớn lên, sang Canada sinh sống với nghề bắt giun bán cho những người
đi câu và luôn gửi lâu la (đô la) về cho cô Thoan. Bây giờ, cô Thoan không còn
nghèo nữa mà trở nên giàu có và sắm sửa đồ khang trang trong nhà. Nhưng cô
Thoan vẫn sống cần kiệm, không tiêu xài hoang phí cho bản thân. Vì, cô cảm thấy
thoải mái hơn khi mặc và xài những món đồ bình dân rẻ tiền của quê hương hơn
81
là khoác trên người những món đồ hàng hiệu đắt tiền của phương Tây. Cô Thoan
luôn thủ gạo trong hòm vì sợ cái đói của thời gian trước luôn ám ảnh. Cô nghĩ hết
tiền, hết của, chứ đừng để hết gạo. Đến phút cuối của cuộc đời, cô Thoan vẫn muốn
đắp chiếc chăn cũ của quê hương mình chứ không muốn sử dụng chăn len đắt tiền
của Mỹ.
Truyện Khói là câu chuyện kể về những con người sống trong không gian
bị pháp luật giám sát. Nói đúng hơn là cuộc sống của những tù nhân đang cải tạo
dưới sự quản lý của pháp luật. Nhân vật ông Thản là một thanh niên khoảng 19
tuổi, nhưng đây là gọi theo cách của tù. Thản là công an vũ trang, công việc của
ông Thản là giám sát những tù nhân đang cải tạo. Thản phải khoác cây súng AK
vào rừng rậm đi bắt người tù trốn trại tên là Dương. Tù Dương là sinh viên năm
tư, bị án tám năm tù vì tội đánh nhau với thanh niên địa phương trường sơ tán. Tù
Dương đã thực hiện bảy năm tù mà không hiểu sao lại trốn trại làm cho Thản và
đồng đội phải vất vả vào rừng lùng sục truy bắt. Trong rừng, Thản gặp được người
tù chăn bò tên là Thắng bị án hai mươi năm, đã thực hiện được tám năm tù. Tù
Thắng là người có ý thức tự giác. Nếu ai cũng tự giác cải tạo tốt như tù Thắng thì
tất cả mọi người đỡ vất vả. Thản rất vui khi trò chuyện với tù Thắng bên đống lửa,
được đốt bằng củi thông của rừng. Thản định hỏi nguyên nhân vì sao bị tù và muốn
nói với tù Thắng rằng bọn ông cũng rất nhớ nhà như mọi người. Nhưng tiếng kẻng
(kẻng cấm một là tiếng kẻng điểm danh) đã vang lên, báo hiệu cho các tù nhân
đang làm việc ngoài trại trở về trại tập trung. Thế là tù Thắng nói lời từ biệt để về
trại điểm danh. Thản và đồng đội tiếp tục công việc truy lùng của mình. Nhưng
nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ cánh đồng mùa đông đã gặt xong còn gốc rạ hiện ra
trước mắt Thản. Càng gợi nhớ thêm là hình ảnh tuổi thơ của Thản và các bạn cùng
xóm chơi đùa, nhổ rạ chất thành đống, đốt lửa lên để cùng nhau sưởi ấm và cùng
nhau ca hát bên làn khói bốc lên cao. Điều đó giúp Thản cảm thấy nỗi cô đơn trong
lòng ấm áp hơn và không cảm thấy bị tách rời khỏi gia đình khi Thản đang ở một
nơi xa.
82
Lạc đội hình là truyện nói về nhân vật Tôi, người anh cùng huyện (còn gọi
là đồng hương). Anh học hết trung cấp Hàng hải, đi bộ đội Hải quân đánh nhau
với Mỹ mươi trận. Cấp trên thấy anh văn hay chữ tốt, cho anh đi học trường Đảng
về làm trợ lý cho Chính trị viên Trung đoàn. Anh được chuyển đến làm ở một xí
nghiệp đang thoi thóp và đang chuyển hướng sản xuất kinh doanh, nơi mà Tôi
cũng đang làm việc tại đó. Anh làm việc ở văn phòng Đảng ủy, công việc thực sự
của anh là giám sát các thuyền tàu đánh bắt cá trở về, để phản ánh những điều mắt
thấy nghe trong quá trình giám sát của mình. Khi tàu cá về, người nào cũng mang
túi về nhà, còn anh thì không. Nhưng tất cả mọi người đều không thích anh, họ coi
anh như dôi dư. Vì cách làm việc của anh là nghe sao, thấy sao, thì báo cáo lên cấp
trên như vậy. Đến khi bầu lao động tiên tiến thì anh không có tên, nguyên nhân là
vì anh quá trung thực trong công việc của mình. Sau đó anh không phản ánh nữa,
anh đã học cách nhìn về thực tế. Sau thời gian làm việc ở xí nghiệp này, anh được
chuyển công tác làm Cảng phó công ty tàu. Các nhân vật Đẩu, Tuất là những người
khiến anh thấy sự quan liêu hiện hữu trong xí nghiệp. Anh không cùng chí hướng
cũng như sử dụng cách quản lý không giống Đẩu và Tuất. Anh đã bị lạc lối, lạc
đội hình nên lương cọc của anh chỉ đủ chi tiêu phần nào trong gia đình. Sau đó,
anh làm trợ lý cho giám đốc Trần Đăng Quang, thế chỗ trợ lý cũ chuyển đi làm
giám đốc cho một công ty khác. Làm được một thời gian, anh lại xin chuyển công
tác, đồng thời cũng để tự kiểm điểm bản thân do tính lương thiện của anh.
Một cuộc thi hoa hậu là truyện về một trò chơi thi hoa hậu của những đứa
trẻ đang học cấp một, cấp hai ở ngõ 10, 12 và 14. Trò chơi thi hoa hậu này, có đầy
đủ cơ cấu tổ chức như ban tổ chức, ban giám khảo, người điều khiển chương trình,
các thí sinh và người tham gia. Ban tổ chức, ban giám khảo, người điều khiển
chương trình do thằng Lanh và thằng Hàm chủ trì, còn các thí sinh tham gia gồm:
cái Khoai là Lê Thị Quỳnh Lan, cái Cún là Trần Hoàng Thu Giang, cái Nhép là
Mai Lê Thanh Thúy, Cún con là Nguyễn Thị Hồng Vân, cái Xíu là Hoàng Thị
Ngọc Bích,… và khán giả là bé Hải Hà mới hăm hai tháng tuổi. Nội dung cuộc thi
gồm có ba phần: thi trang phục tự do, thi vấn đáp và thi văn nghệ. Trải qua quá
83
trình của cuộc thi, cuối cùng ban giám khảo đã chọn ra ba người xứng đáng nhất.
Vì cả ba đã vượt qua phần thi vấn đáp với những câu hỏi hay của thằng Hàm như:
Bạn thích môn học nào nhất?
Bố mẹ bạn làm nghề gì?
Bạn có thích nghề của bố mẹ bạn không?
...
Ban giám khảo ngồi xổm trước vỉa hè nhà chú Hưng, công bố với giọng nói khiêm
tốn của thằng Lanh: “Thật rất buồn và khó khăn cho chúng tôi vì chỉ được lựa
chọn ra có ba bạn. Tất cả các bạn dự thi hôm nay đều xứng đáng…”. Á hậu hai
thuộc về Mai Lê Thanh Thúy (cái Nhép). Á hậu một thuộc về Lê Thị Quỳnh Lan
(cái Khoai). Cuối cùng, người đoạt giải hoa hậu là Hoàng Thị Ngọc Bích (cái Xíu)
với câu trả lời hay nhất:
“- Bạn có thích nghề của bố mẹ bạn không?...
- Em không thích. Em thương bố lắm.
- Em thích nhất gì?
- Em thích được bố cho lên xích lô chở một vòng quanh Ngã Sáu.”
Trong lúc đó, có một thí sinh khóc vì không có giải, Đó chính là bé Phương Thảo.
Nhưng đây chỉ là trò chơi của trẻ con, còn nhiều thứ không như ý muốn đang ở
tương lai phía trước, chờ đợi các bé bước vào và đón nhận trong cuộc đời.
Truyện Thói quen nói về ông Quân là người có thói quen quái đản và luôn
nói dối. Ông Quân từng là cán bộ trong đoàn tiếp quản, có bằng xec-ti-phi-ca và
được điều sang làm hiệu trưởng một trường cấp 3 với bằng cấp tiểu học. Ông Quân
phải đi học bổ túc để có bằng cấp đúng với vị trí làm việc của mình. Còn ông
Khánh là một thầy giáo tốt nghiệp Đại học Sư phạm khoa Văn, được phân công về
trường dạy học. Buổi tối, ông Khánh dạy thêm bổ túc văn học và ông Quân là học
trò. Hai người vừa có quan hệ cấp bậc, vừa có quan hệ thầy trò với nhau. Họ thường
gặp gỡ tán gẫu bên ấm trà. Đôi khi, thêm thầy giáo Thông cũng là thầy dạy môn
84
Sử cho ông Quân. Họ hay bàn chuyện thời sự trong và ngoài nước, nhưng nhiều
nhất vẫn là trong nước với nhũng chuyện được xem như thường nhật xảy ra trong
đời sống: “tham nhũng, đầu tư, giết người, cướp giật, lừa đảo, quỷ râu xanh, ma
túy, sự xuống cấp trong quan hệ thầy trò, phụ huynh xông vào đánh thầy cô…”.
Họ xem nhau như những người bạn thân, nhưng đến thời điểm nhận được Hồ sơ
cán bộ có phần đánh giá nhận xét của cấp trên thì ông Khánh và ông Thông mới
nhận ra con người thật của ông Quân. Trong khi ông Quân luôn miệng nói với hai
ông là “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” mà lại phê bình và nhận xét trong hồ sơ lý lịch
của hai ông rất tệ để năng giá trị bản thân của mình lên. Ông Quân còn có thói
quen quái đản, khi mượn sách, báo của ai để đọc thường gạch dưới vì quen kiểu
đọc công văn báo cáo và kiểu đọc của thủ trưởng. Vì vậy ông Khánh và ông Thông
tức giận không cho ông Quân vào nhà chơi. Khi đó cả ba người đều đã nghỉ hưu.
Một thời gian sau, ông Thông qua đời, ông Khánh thấy buồn vì không có người
trò chuyện. Khi tuổi đã già thì càng thấy cô đơn. Ông Khánh vẫn thấy ông Quân
hay đi ngang qua nhà và ông Quân cũng muốn được vào nhà chơi. Ông Khánh bỏ
qua chuyện cũ, mời ông Quân vào nhà chơi và tiếp tục chuyện thời sự như thời
còn trẻ. Ông Khánh nghĩ, ông Quân là kẻ nói dối đã thành thói quen, bây giờ bắt
nói thật thì thật khó có thể làm được.
Truyện Những người đi ở nói đến ông Hào (biệt danh: ông Nan Giải, ông
Nguy, ông Nghiệt), ông Huyên, bà Tuyết (Tuyết tài vụ), những người con của các
ông bà và cô Hương Sen. Ông Hào là bạn cùng thời với ông Huyền và bà Tuyết,
những con người có cuộc sống tất bật không nghỉ ngơi để tạo dựng sự ấm no giàu
sang và hạnh phúc. Nhưng cuộc sống không nhưng mong muốn, họ vẫn phải chạy
đua với thời gian, vì xã hội ngày một phát triển và luôn bận rộn. Ông Hào, ông
Huyên, bà Tuyết là người cùng làng, học cùng trường tiểu học và cùng tham gia
kháng chiến. Bây giờ, họ đã hơn sáu mươi tuổi và nghỉ hưu được mấy năm. Họ có
những kỉ niệm cùng nhau và khi về già thì họ lại có hoàn cảnh giống nhau. Bà
Tuyết có một người con trai, sống và làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Bà Tuyết
vào thành phố Hồ Chí Minh để giúp con trai chăm sóc các cháu gái, vì cô Hương
Sen giúp việc (là cháu họ anh rể bà Tuyết) đã về quê. Ông Hào cũng vào thành phố
85
để chăm sóc cháu gái và coi nhà cho con trai thứ hai. Ông Huyền cũng vậy, vì
thương con cháu cũng vào thành phố coi nhà và chăm sóc các cháu. Cả ba cùng
đem sức mình gây dựng và phục vụ cho con cái. Đến lúc tuổi già thì cùng vào
thành phố Hồ Chí Minh ở, để tiện việc chăm sóc con. Cả ba người tuy cùng ở thành
phố Hồ Chí Minh nhưng ít gặp nhau, vì bận rộn trong cuộc sống. Họ trò chuyện
với nhau qua điện thoại, kể nhau nghe những chuyện họ gặp phải trong thời gian
mới vào thành phố và chuyện hiện tại. Khi còn ở quê nhà, họ thường ghé thăm
nhau, trò chuyện với nhau qua những câu chuyện thời kháng chiến, thời làm việc
và chuyện hàng xóm. Dù lúc đó, cuộc sống còn nghèo khó nhưng việc đi lại thoải
mái. Bây giờ, cuộc sống khá giả, có của ăn của để, nhưng sự đi lại không còn thoải
mái như trước. Tuy nhiên, họ vẫn giữ tình bạn với nhau bằng cách giữ liên lạc qua
điện thoại.
Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu là truyện nói về
ngôi làng nghèo của nhân vật Tôi có địa thế rất đẹp. Đối diện là làng Tam Đa. Con
sông Kim thì được che mát bởi những cây si, cây sanh vươn mình lên tươi xanh và
được tạo dáng bởi những bậc thang đá xuống sông. Còn có những hàng cây muỗm
cổ thụ hai bên đường. Ngoài ra, có một dãy núi hình cái ngai uốn lượn trông đẹp
mắt. Theo những lời của người xưa, thì ngôi làng trước kia có 99 ao chuôm và cây
đa đầu làng có 99 cành vì thiếu 1 cái ao chuôm và 1 cành đa, không được xây dựng
kinh đô. Đây là đất phát văn, vì làng có nhiều văn nhân tài tử, như: Nhà báo, nhà
cách mạng lão thành Chiến Quốc, nhạc sĩ Đức Hạnh sáng tác bài Tình ca Đông
Bắc nổi tiếng, anh chàng Quy Ước là tác giả của vở chèo Nông thôn tươi sáng, chị
Thùy Trang ở đài truyền hình đạt giải huy chương hội diễn toàn huyện. Khi ông
Nguyễn Trung Chiến trở về làng là một sự kiện, vì ông là đại tá bộ binh về hưu
nhưng không giống tác phẩm “Tướng về hưu” của tác giả Nguyễn Huy Thiệp. Ông
đại tá muốn làm việc gì đó cho làng xã mình. Ông Chủ tịch Ủy ban đã đề nghị đại
tá làm Chủ tịch Ủy ban thay cho mình nhưng ông từ chối, ông chỉ làm ông Phó
Chủ tịch Ủy ban phụ trách kinh tế không lương. Đại tá đi quan sát địa hình huyện,
làng xóm và đi đến tận cái chuôm cuối cùng (không biết có phải là cái chuôm 99
không?) ở khu Ô Tép. Sau đó, ông sang Lại Xuân ở bên kia núi thăm đại tá về hưu
86
Lê Văn Muôn. Rồi ông đạp xe đi thăm bạn bè trong quân đội đã nghỉ hưu. Bạn bè
đón tiếp rượu chè no say, những người trước kia ông cho là khù khờ, rất đụt (kém
trí khôn) thì bây giờ giữ một trọng trách trên Bộ hoặc một ngành kinh tế, hay trở
thành tỉ phú và có nhà rải từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ông đại tá
Nguyễn Trung Chiến về quê thì có ông trung tá Vạn với cuộc sống thanh đạm bằng
cái vó bè, ngày nào cũng có cá tươi ăn và bán. Ông Sơn Nam làm Cố vấn Ủy ban
huyện và Hội trưởng hội nuôi chim hót tỉnh. Ông đại tá Trịnh Huy Cần nuôi chăn
dê nên gia đình lúc nào cũng có sữa dê uống. Ông trung tá công binh Đức mở một
máy xay xát ở đầu làng. Ông Đỗ Nam quý trọng cuộc sống vì chinh chiến cả đời
nên ông chỉ nghỉ ngơi, đọc sách, chơi với cháu và đánh tổ tôm. Ông Chiến lòng
luôn háo hức mong đóng góp xây dựng quê hương. Con trai út của ông tên là
Nguyễn Quyết Thắng đã thể hiện ý chí quyết tâm của ông. Ông Chiến đi đến đâu
đều được mọi người tiếp đón nồng nhiệt. Vì ông là người anh hùng Đường 9 Nam
Lào, người cán bộ gan lì trong chiến dịch giải phóng Huế, người cùng quân đoàn
cắt ngang đường rút của địch từ Đà Nẵng vào Sài Gòn… Ông Chiến tiếp thu những
kinh nghiệm, những thất bại và những phương hướng. Qua đó, ông đã đề ra và
trình bày nhiều dự án với Đảng ủy và Ủy ban. Ông Chiến đôn đốc các tổ chức cùng
bắt tay vào làm. Không lâu sau, làng quê của ông Chiến giàu lên, người dân có cái
ăn, cái uống mà không còn lo như lúc trước. Đường xá thông thoáng cả về đường
bộ và đường thủy. Các trại nuôi cá lồng trên sông xuất hiện. Cây vải trồng phủ đầy
chân núi và trên núi thì phủ đầy cây bạch đàn. Các lò gạch, lò vôi xuất hiện ở đầu
làng. Ông Chiến có công trong việc phổ biến, tổ chức cách nuôi trồng giúp bà con.
Ông Là người mở đầu phong trào nuôi chim cút và phát triển giá trị và dinh dưỡng
của ốc bươu vàng. Khó khăn nhất là vốn làm ăn, nhưng ông Chiến đã không phải
lo nghĩ. Vì con trai ông là Nguyễn Quyết Thắng trực tiếp phụ trách khoản viện trợ
xóa đói giảm nghèo của một chương trình từ nước ngoài. Đôi lúc ông cũng có thất
bại nhưng không đáng kể, vì không ai thành công toàn diện được mọi mặt. Ông
Chiến được chụp hình lên báo vì những đóng góp của ông đem đến sự phát triển
cho làng, xã, huyện. Báo chí còn ca ngợi thơ của ông hay như bài Mừng cháu đích
87
tôn tròn một tuổi. Đến bây giờ ông mới biết, ông chính là một nhà thơ và người ta
nói thơ của ông rất hiện đại như:
Hành quân dọc trường sơn
Trường Sơn! Trường Sơn!
Đường Trường Sơn mưa bom
Khói bụi ướp vào tóc
Khói bụi chui vào nách
Khói bụi vào lỗ tai
Khói bụi xộc vào mũi
Tóc đen thành tóc trắng
Mặt xanh thành mặt đen…
Người chăn kiến là truyện nói về cuộc đời của vị giám đốc M bị bắt giam,
nhưng không biết mình bị tội gì. Ông M bị người của B trưởng đánh một trận, nuốt
một họng máu và nửa cái răng gãy vào bụng. Sau đó, ông M phải khỏa thân leo
lên sân thượng làm tượng nữ thần Tự Do cho B trưởng nhìn. Ông M tiếp tục công
việc làm người chăn kiến theo ca. Trong đó, công việc chăn kiến có ba ca, thay
phiên nhau chăn bốn con kiến cho B trưởng. Ông M lại làm B trưởng không vui.
Lần này, ông M lại bị khỏa thân leo lên cây cao làm con chim nhỏ cho B trưởng
săn bắn. Ông M phải té và phải rơi như thật, không được chuẩn bị trước. Ông M
cầu xin thầm trong bụng, có bị gãy chân gãy tay chứ đừng gãy cổ, vỡ mật, mù mắt
để còn được ra tù. Cuối cùng, sau bốn tháng tù thì ông M được thả ra tù vì lý do là
không có tội. Những người gây ra án oan cho ông M đã bị kỉ luật. Giám đốc M
được phục hồi lại tất cả và được cấp trên chuyển vào Nam làm việc để quên đi
những gì đã xảy ra. Nhưng ngược lại, bây giờ giám đốc M ít tiếp xúc với cấp dưới
và thường thích ở một mình trong văn phòng trong giờ nghỉ trưa. Ở trong đó, ông
giám đốc M tiếp tục chăn bốn con kiến và làm tượng nữ thần Tự Do.
88
Ngưu tất, hồng hoa, nga truật là truyện nói về các nhân vật trong thời kì
bao cấp. Tôi và Bình là hai nhà văn tỉnh lẻ, còn anh hộ tịch là người làm bên bộ
phận kế hoạch gia đình. Gia đình của Bình chưa thực hiện kế hoạch nên con đông.
Mỗi lần đến bác sĩ xin bỏ thai thì trong đơn ghi “chống chỉ định nạo thai”. Bình
gặp được thầy lang Hòa kê thuốc giúp gia đình Bình giữ nguyên nhân khẩu gồm
hai vợ chồng và bốn đứa con. Bình gửi cho cô em họ ở quê trông cháu mà phải ăn
gạo chui. Anh hộ tịch thông cảm cho gia đình Bình đông con, đã giúp cô em họ
Bình kèm theo khẩu phần 13 kg gạo sổ và các loại tem phiếu nên kinh tế của gia
đình Bình đỡ hơn trước. Nhân vật Tôi tỏ ra khó chịu khi anh hộ tịch đến chơi không
đúng lúc vào mùng hai Tết. Anh hộ tịch cứ ngồi mãi mà không về, dường như có
chuyện gì muốn nói với Bình. Nhân vật tôi định về thì anh hộ tịch đứng lên trước.
Sau khi tiễn anh hộ tịch ra về, Bình mới nói với Tôi là anh hộ tịch đến xin đơn
thuốc phá thai.
Truyện Dị bản một chuyện đã in nói về cuộc đời của người phụ nữ là nghệ
sĩ vĩ cầm được tin anh họa sĩ đã tử trận nhưng giờ lại xuất hiện trước mặt chị một
cách bất ngờ, đến mức rá gạo trên tay chị đang cầm đổ xuống đất. Chị chạy tới ôm
lấy anh vừa khóc vừa nói những lời trách móc. Vì hiện giờ chị đã có chồng, bởi
chị không thể chờ mãi một người đã tử trận. Chồng chị là người mà trước kia chị
và anh họa sĩ có quen biết và chị cũng biết rõ tình cảm của người chồng hiện tại
dành cho chị khi còn là nữ sinh trường nhạc. Chồng chị cũng là một chiến binh
thời ấy, nhưng may mắn trở về với những mảnh đạn găm ở trong cơ thể. Chồng
chị ra đi để chị sống hạnh phúc với tình yêu của mình. Sau đó chị trở về bên anh
họa sĩ là mối tình đầu. Người chồng cũ đã giữ lời hứa là không gặp lại nhau nữa,
dù ở trong cùng một thành phố. Nếu có thấy nhau từ xa thì cũng tìm lối rẽ để không
chạm mặt nhau. Chị sống bên chồng mới nhưng nội tâm luôn đau khổ và dằn vặt.
Anh họa sĩ không thể quên được tình cảm và tấm thân trong trắng của chị tự nguyện
trao cho người chồng cũ. Cùng với vết thương trong đầu, anh gầm thét, rên rỉ, cáu
kỉnh và tự trách mình. Về sau, những bức tranh anh họa sĩ vẽ càng ảm đạm và bức
nào cũng dở dang. Vì trong anh luôn giữ nỗi đau không tan được. Còn chị thì luôn
tự trách mình là người có lỗi. Thời gian trôi qua nhiều năm, tóc đã bạc màu. Bà
89
nghệ sĩ vẫn đang chăm sóc ông họa sĩ với tình yêu của mình. Bà luôn ngắm nhìn
cây đàn vĩ cầm bên cạnh khung vải trắng lớn, vẫn chờ ông vẽ. Rồi đến một ngày,
người chồng cũ đến nhà bà nghệ sĩ để từ giã vào Nam sinh sống. Có lẻ đây là lần
vĩnh biệt thật sự.
Sức khỏe của bố là truyện về Phó tiến sĩ Nguyễn Trịnh có bạn bè toàn người
có chức, có quyền và ông Trịnh cũng là chuyên viên 6. Tử vi nói “Cung nô bộc”
của ông Trịnh bị hỏng, đi đến đâu cũng không ai nhận làm đệ tử, làm chiến hữu.
Ông Trịnh chuyển về xí nghiệp Đại Dương làm việc cho xứng đáng với tấm bằng
Phó tiến sĩ mà ông lấy ở Đức. Còn Cung thê thì cũng chẳng ra làm sao. Bà Lan vợ
ông là người vợ chung thủy, thương chồng, thương con và có hiếu với bố mẹ chồng.
Nhưng cũng chính tay bà làm tiêu tan sự nghiệp. Đó là thời gian bà bán hàng ở
công ty Công nghệ phẩm, Bà làm mậu dịch viên, thuộc đẳng cấp đặc biệt. Các loại
mặt hàng như vải, bít tất, thuốc lá, chè, bát đĩa, xà phòng, quạt máy, xích líp, săm
lốp xe đạp là những nhu yếu phẩm khan hiếm. Vừa gọn nhẹ, một vốn mười lời và
có giá trị kinh tế cao. Ông Trịnh sang Đức làm luận văn Phó tiến sĩ và mua xe kích
về Việt Nam cho bà Lan bán đổi lấy đô la gửi sang cho ông Trịnh. Mọi chuyện
suôn sẻ được vài chuyến thì bà Lan bị bắt ở sân bay Nội Bài với nhiều đô la và rất
nhiều vải. Bà chạy chọt khắp nơi mới không bị khởi tố. Ông Trịnh ở bên Đức nghe
tin vợ mình như thế quyết định thi trượt để ở lại thêm một năm. Ông Trịnh làm
thêm ở các nông trường, nhà hàng, vặt táo, rửa bát… Ông mua hàng hóa, toàn
những kích, xe đạp Mifa, vải vóc, áo lông chất đầy bốn container trước khi về nước.
Ông Trịnh rất cẩn thận trong việc làm thủ tục chuyển hàng xuống tàu. Nhưng khi
ông Trịnh về nước thì hàng hóa không bao giờ đến được Việt Nam, vì bị đắm ở
kênh Suez (kênh Xuy ê). Ông Trịnh làm ở xí nghiệp Đại Dương kiếm chác lặt vặt,
tăng giá giấy gấp mười lần và bị lộ. Sau đó, ông Trịnh quyết sống trong sạch. Bà
Lan thì bán bún riêu ở vỉa hè kiếm tiền sinh hoạt trong gia đình nhưng vẫn gieo
neo vì hai đứa con còn đi học. Ông Trịnh biết ơn bố mình, vì ông đang ở trong nhà
của cụ Trịnh. Ông Trịnh nghĩ: “Sông có khúc, người có lúc… con người ta có số”.
Bỗng gia đình ông Trịnh giàu lên bất ngờ. Ông Trịnh mua xe máy, bà Lan thì mở
cửa hàng bán đồ điện, còn cụ Trịnh thì tha hồ mua báo về đọc và uống trà hay vài
90
ly bia với những người bạn trước kia lâu lâu mới gặp. Ông Trịnh cho rằng có “quý
nhân phù trợ”, đó chính là bà Lê (là tình đầu của cụ Trịnh do môn đăng hộ đối nên
không thành) bên Mỹ là triệu phú ở California gửi tiền về cho cụ Trịnh tiêu dùng.
Định kỳ đều đặn, hàng nghìn đô được gửi về cho cụ Trịnh. Ông Trịnh cũng cảm
thấy có trách nhiệm viết thư hỏi thăm bà Lê và cám ơn tấm lòng của bà đối với bố
mình. Khi có nhiều tiền trong tay, cụ Trịnh và ông Trịnh gặp nhau khi đi nhà hàng
Karaoke Đức Vĩnh được đón tiếp bởi những cô gái mười tám, đôi mươi. Cụ Trịnh
thấy xấu hổ vì luôn làm gương mẫu để con cháu noi theo, bây giờ lại bị phát hiện
là mình không đàng hoàng. Ông Trịnh thấy bố mình như vậy cũng bị sụp đổ thần
tượng còn hơn khi bị đắm bốn container hàng. Cụ Trịnh sinh bệnh vì thấy thẹn với
bản thân, bỏ ăn bỏ uống muốn chết đi cho đỡ hổ thẹn. Cuối cùng, bà Lan và ông
Trịnh khuyên nhủ xin cụ Trịnh đừng chết mà hãy thương con cháu.
Truyện Truyện không tên nói về người phụ nữ tên Sợi, trú ngụ ở ngõ Ánh
Hồng. Chị Sợi không xấu hổ về cái nghề chị đang làm dù là cái nghề bị xem thường,
bị khinh bỉ ở ngõ Ánh Hồng và mọi người đều biết chị đang làm nghề đó. Sự tôn
trọng đối với chị không quan trọng bằng tiền. Chị phải nuôi mẹ già bị liệt nằm sáu
bảy năm nay. Chị cần tiền để trang trải cuộc sống cho cái ăn, cái mặc của hai mẹ
con và mua bộ áo quan khi nào mẹ chị mất. Chị Sợi cũng có cái mẹt bán hàng ở
vỉa hè trong hẻm với những thứ linh tinh bụi bậm, bạc phếch, cũ kỹ như: ấm trà,
gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích quy và ít bia khi mùa nóng đến.
Khách hàng chủ yếu của chị là người ăn xin. Vì họ cảm thấy mình phù hợp, thoải
mái hơn với cái mẹt của chị. Ngoài những người khách là ăn xin thì chẳng có ai
thích cô điếm vừa già vừa xấu, vừa nhăn nheo vừa gầy gò. Khách dừng chân nghỉ
ngơi để hút một hơi thước lào hoặc một điếu thuốc Vinataba. Nếu người sang một
chút thì uống một ngụm trà rồi mới đi. Chị Sợi sợ bị đưa đi cải tạo gái điếm ở trại
26 thì không ai chăm sóc mẹ già. Nhà chị Sợi trong hẻm nhỏ, đối diện là nhà xí
công cộng, nên mùi hôi thối lẫn mùi của mẹ chị bay khắp căn nhà nhỏ. Chị Sợi
gặp được một anh què ăn mày, do anh giả què lâu quá thành què thật. Hai người
yêu nhau. Chị đã kể cho anh nghe về bệnh tình của mẹ, chị muốn chia sẻ tâm sự
về mẹ cùng anh cho vơi đi nỗi lòng, vì có người đồng cảm. Còn một người phụ nữ
91
nữa mà chị Sợi cũng rất quý, đó là bà cụ ăn xin tên Mít. Bà Mít dáng người nhỏ,
lưng cong, gương mặt hằn sâu nhiều nét nhăn. Chị Sợi không biết bà Mít năm nay
bao nhiêu tuổi và bà cũng không nhớ mình đã bao nhiêu tuổi. Chị có cơm thì cho
bà Mít ăn và ngược lại, bà Mít có trái cây được người ta cho thì tặng lại cho chị
Sợi như trái chuối, quả cam, nắm xôi và những món ăn không mang về được thì
bà Mít kể lại cho chị Sợi nghe. Quê nhà của Bà Mít ở vùng Hà Nam, Phong Cốc.
Bà có một người con trai, nhưng chơi với bạn xấu cùng đi ăn trộm. Con trai bà Mít
bị bắt xử hai năm tù và bị bọn đầu gấu trong tù đánh chết. Con dâu bà Mít bỏ đi
lấy chồng, để lại cho bà Mít hai đứa cháu. Hiện giờ, đứa lớn được mười tuổi và
đứa nhỏ được tám tuổi. Bà Mít đi xin để có tiền nuôi cháu nhỏ. Bà Mít lo mình sẽ
không giữ cẩn thận làm mất tiền nên đã gửi cho chị Sợi giữ giùm. Bà Mít mong
lần này sẽ được về quê ở cùng các cháu một thời gian. Nhưng, lần gửi tiền cuối
cùng đã hơn một tháng mà chị Sợi vẫn không thấy bà Mít quay lại. Chị lo lắng,
trông ngóng và tuyệt vọng. Chị Sợi nghĩ bà Mít đã chết ở một nơi nào đó. Chị
không chờ bà Mít nữa, mà tranh thủ ra ngoài quê của bà để đưa tiền cho hai cháu
của bà. Chị Sợi nhờ anh què trông nom mẹ già vài ngày. Nếu không biết hai đứa
cháu bà Mít ở đâu thì chị sẽ hỏi người dân hoặc lại tòa án hỏi thăm sẽ biết, chị nghĩ
vậy.
Truyện Một ngày dài đằng đẵng nói về những người tù và người phạm tội
mong thời gian trôi qua nhanh. Thời gian trong tù ngưng đọng và không gian trong
tù chỉ có một khung cảnh là bốn bức tường song sắt. Nó giống như nhà bác học
nói là hố đen, nơi không có thời gian và không gian. Tuy nhiên, những người tù
vẫn có những ngày đặc biệt chói sáng như ngày bị bắt, ngày bị hỏi cung, ngày bị
điểm chỉ, ngày đầu tiên nhận tiếp tế, ngày gặp lại người thân… Đối với anh tù Vũ
Mạnh Cường, ngày sáng chói của anh là ngày chuyển từ trại P đến trại N. Mọi
hành động của Cường đều được làm lặng lẽ. Khi công an áo vàng nói đem Cường
đến Bộ Nội vụ thì Cường cũng lặng lẽ xếp đồ vào bị cói để mang đi. Cường đi
ngang qua các dãy xà lim thấy nhiều người đang trò chuyện với nhau trông hạnh
phúc, vì được giam chung buồng giam. Cường chỉ liếc mà không dám nhìn thẳng.
Vì trong đây, mọi cử động và ánh mắt đều được quản lý chặt chẽ. Một cái nhìn
92
cũng đẫn đến những hậu quả khó lường trước được. Cường bước đến khu cán bộ
thì thế giới khác hẳn. Những ông bà và những công an ăn mặc thẳng nếp, cười nói
vui vẻ. Còn Cường thì im lặng và làm theo những gì công an bảo như một cái máy
mà không biết mình bị áp giải đến trại tạm giam nào. Cường được đưa lên chiếc
xe com-măng-ca đít vuông chờ sẵn ở vỉa hè bên đường. Cho đến lúc này, Cường
cũng không biết mình bị giải đi đâu, đoán là cũng có thể ngược lên miền Bắc.
Cường tự hỏi bản thân, định hướng làm chi, vì đi đâu cũng vậy. Ngồi trông xe có
thấy được gì đâu mà đoán để biết ngoài kia xảy ra chuyện gì, ngoài cái lỗ thông
khí. Trên đường đang đi thì xe dừng lại khoảng gần một tiếng đồng hồ, đó chỉ là
sự phỏng đoán của Cường. Xe cứ thế lại dừng, rồi chạy. Rồi lặp đi lặp lại nhiều
lần như thế khiến Cường trong xe đoán này đoán nọ và lo lắng, bồn chồn, trông
ngóng… không biết mình sẽ đi về đâu, mà tới trại chưa? Cường chỉ nhìn thấy chút
không gian bên ngoài qua lỗ thông hơi. Ngồi trong thùng xe vừa nóng, vừa ngộp
ngạt, vừa tê chân, vừa khát và vừa đói. Nhưng Cường không buồn tiểu và cũng
không có bô. Sáng này, Cường đã đi vệ sinh rồi. Bây giờ, Cường chỉ mong đến nơi
giam mình là được. Rồi đến một quán ăn nghỉ chân. Cường được ăn một bữa cơm
ngon lành với thịt ba chỉ xào măng, rau muống luộc và nước mắn chanh ớt. Cường
được nghỉ ngơi và ngồi nghe hai ông công an áp giải nói về súng, về chim. Khi
đến trại N thì Cường mới biết là hai ông công an hay dừng xe lại để bắn chim. Hai
cây súng họ mang theo là súng hơi. Cường kể lại cho Tôi nghe khi hai người cùng
ở trại tù P.L. Cường bị một mẻ hoảng hồn thật sự vào ngày hôm đó.
Truyện Trung sĩ nói về Hiếu là một tài xế lái xe xuất sắc cho phòng cung
tiêu, chuyên chở cá, cân cá của xí nghiệp. Còn Tôi là một nhà văn, gặp nhau tại
quán bia vỉa hè. Giờ Hiếu chuyển về phòng cùng đơn vị Tôi, lái xe con phục vụ
cho các sếp. Vì cuộc sống có nhiều chuyện để nói, để bàn nên con người trở thành
thân thiết. Hiếu còn là một cây sáng kiến, gợi ý cho Tôi viết về nhà bếp, đặc biệt
là cái nhà hàng Nu Ni nổi tiếng xinh đẹp cùng với bầy tiên nữ xiêm y rực rỡ. Hiếu
đã vào đó và gặp lại đồng đội nữ là trung sĩ Lan Anh (ở tổ bốc cá là quân của ông
Phúc đen) nay làm tiếp viên. Tổ bốc cá giải tán, Lan Anh bán nước chè ở vỉa hè
nuôi mẹ già, con nhỏ đang đi học và người chồng đang thất nghiệp. Hiếu kể cho
93
tôi nghe về việc gặp Lan Anh ở nhà hàng khi đi ăn uống với các sếp, Lan Anh ra
tiếp rượu và hôn lên môi Hiếu khi bị các sếp yêu cầu. Hiếu bất ngờ về hành động
của Lan Anh mà chưa kịp hoàn hồn. Sau này, Hiếu và Lan Anh giả vờ thân mật để
qua mắt các sếp, họ được sếp cho ngồi ở một góc tâm sự với nhau. Tôi và Lan Anh
trước kia cùng đơn vị và học cùng trường. Khi đi bộ đội, Lan Anh và các bạn nữ
là những bông hoa dại làm đẹp cả khu rừng. Vì cuộc sống, Lan Anh kiếm sống
bằng cái nghề mà mọi người bàn tán. Lan Anh so với những cô gái khác trong nhà
hàng thì lớn tuổi hơn nhiều, nhìn trông giống mẹ của họ hơn. Lan Anh tiếp rượu ở
nhà hàng, cười nói vui vẻ với khách, không phải là một Lan Anh mạnh mẽ như
trước kia. Vì cần miếng cơm manh áo, vì không muốn sống trong cảnh nghèo khổ
và có nhiều nguyên nhân khiến Lan Anh thay đổi về cách suy nghĩ. Tôi đã gặp Cát,
chồng của Lan Anh là một người hiền lành. Hai người đã ly dị, vì Lan Anh không
bỏ nghề tiếp viên với quan niệm: “Tôi làm ăn lương thiện. Tôi không làm gì xấu…”.
Người ở cực bên kia là truyện nói về Hắn (Tuấn) và Đàm là bạn học cùng
trường với nhau. Nhưng, học sau ba lớp so với Hắn và học chung với vợ hắn là
“Cái Thịnh”. Đàm nay là giám đốc của một công ty lớn ở thành phố, còn Hắn làm
báo ở T.P. Đàm và Hắn cùng đến dự kỉ niệm bốn mươi năm thành lập trường. Hắn
gặp lại hoa khôi của trường là Ngọc, là người Hắn yêu thương. Vì sự kiêu hãnh
của cá nhân, nên cả hai không thể thành đôi. Có Lê Bàn và Hắn cùng cái nghiệp
văn chương, nên cả hai gần gũi hơn. Còn những bạn học khác không ai để ý đến
Hắn.
Vũ trụ không cùng là truyện nói về ông Thuyết là con của một địa chủ. Hồi
cải cách, tài sản của cha mẹ ông Thuyết như đất, sân vườn đem chia cho nông dân.
Sau này, dù có chủ trương sửa sai, nhưng cha mẹ ông cũng không nhận lại được
tài sản. Khi cha mẹ ông mất, ông cũng không dám về thăm nơi chôn nhau cắt rốn.
Vì nó làm nhớ lại những kỉ niệm buồn của gia đình ông. Ông Thuyết có vợ và một
cô con gái. Vợ ông tên là Thu và có đứa con gái tên là Phương. Con gái ông, năm
nay đã hơn bốn mươi. Ông rất thương con gái, vì cuộc sống của con gái ông cũng
vất vả với nghề bán trái cây ở chợ. Hôn nhân của con gái ông cũng đổ vỡ vì người
94
chồng mê gái, để lại ba đứa con cho con gái ông nuôi. Thời gian trôi qua, bây giờ
con gái ông Thuyết cũng sắp có dâu, có rể. Ông luôn hồi tưởng những kỉ niệm đẹp
về con gái, như chơi trò bán hàng, vẽ tranh và kể chuyện. Ông nhớ nhất ở con gái
là đôi mắt, vì nó leo lẻo, tinh anh và khi buồn ngủ thì đờ đẫn. Ông luôn nhớ về
những kỉ niệm đẹp với vợ lúc mới quen, đến khi thành vợ chồng. Khi ngủ riêng,
ông Thuyết và vợ đều cảm thấy thoải mái trở mình. Ông nằm một mình thoải mái
nghĩ ngợi như trong vũ trụ có gì? Ngoài vũ trụ có gì?...
Tác phẩm “Người chăn kiến” có hai bài viết: “Bùi Ngọc Tấn và hóa học
của nhân bản” của Dương Tường và “Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, và hắn” của
Phạm Xuân Nguyên nói về Bùi Ngọc Tấn:
Bài viết: “Bùi Ngọc Tấn và hóa học của nhân bản” của Dương Tường kể
về việc thăm Bùi Ngọc Tấn ở Hải Phòng. Tấn rầu rầu là biệt danh mà Dương
Tường gọi ông. Ông có khoảng thời gian bẻ bút khoảng hai mươi năm. Ông mang
nỗi đau quần quại như trên những hòn than nóng bỏng. Nhưng Dương Tường tin
rằng ông sẽ không từ bỏ bút mực vì còn nợ nần văn chương. Sau hơn mười lăm
năm chờ đợi, ông và Dương Tường góp mặt trên tạp chí Cửa biển vào mùa hè năm
1990. Ông viết bài về những kỉ niệm với Nguyên Hồng, còn Dương Tường viết
bài tưởng niệm Nguyễn Tuân. Dương Tường thấy được nỗi đau của ông vượt khỏi
sự từng bị cầm tù, Sau đó là các bài viết Một thời để mất, truyện ngắn Người rách
việc, truyện ngắn Một ngày dài đăng đẳng và bộ tiểu thuyết Mộng du. Tác phẩm
của ông thể hiện những trải nghiệm, hội nhập, đồng hóa với những cung bậc trầm
luân của nhân sinh. Chúng ta thấy rõ qua các nhân vật như chị Sợi bán hàng các
loại linh tinh và hành nghề “gái bán hoa” để nuôi mẹ già ốm liệt gường trong
Truyện không tên. Nữ chiến sĩ dũng cảm ở Trường Sơn giờ trở thành gái “tiếp
viên” trong truyện Trung sĩ. Hay những phạm nhân như ông M trong Người chăn
kiến không hiểu vì sao mình thành phạm nhân. Dương Tường thấy được sự mệt
mỏi về tâm hồn của ông trước những thách thức số mệnh. Nhưng ông không hề
hằn học hay chua chát mà lòng tràn đầy bao dung khi nói về những trải nghiệm
nhân sinh cuộc sống với chất hài hước và lạc quan. Ông chưng cất cái đau làm hy
95
vọng và làm nụ cười. Dương Tường cho đó là hóa học của nhân bản hay bí quyết
đạt đạo của những bậc hiền nhân.
Trong bài viết “Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, và hắn”, Phạm Xuân Nguyên
muốn bạn đọc có tập truyện ngắn chọn lọc của Bùi Ngọc Tấn, đọc nó với một đại
từ nhân xưng “Hắn”. “Hắn” là một đại từ nhân xưng thường xuất hiện trong các
tác phẩm văn học trước 1945. “Hắn” còn gọi là “y” hay “gã”. Còn nữ thì gọi là
“thị”. Đây là những đại từ chỉ số đông, tầng thấp và dưới đáy như “hắn” là Chí
Phèo, “thị” là Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao. Sau năm 1945, người
ta tưởng cách gọi “hắn” không còn tồn tại vì không còn đất sống. Nhưng không
phải vậy, “hắn” vẫn tồn tại với tư cách khác, một loại nhân vật khác. “Hắn” nằm
im, ẩn mình và tạm thời quên đi thân phận. Có dịp là “hắn” sẽ xuất hiện và lên
tiếng để biết “hắn” vẫn còn tồn tại trong văn chương cũng như giữa cuộc đời. Bùi
Ngọc Tấn là người đã làm “hắn” sống lại trong tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000
với ngôi kể thứ ba. “Hắn” là một tù nhân chính trị, tên là Nguyễn Văn Tuấn, làm
nghề viết báo, viết văn. “Hắn” bị tập trung cải tạo vì tội “tuyên truyền phản cách
mạng”, mang số hiệu tù CR 880. Tiếp đó, “hắn” xuất hiện trong tác phẩm Đi tìm
nhân vật của Tạ Duy Anh với ngôi kể thứ nhất “tôi”, “hắn” là kẻ đang bị anh nhà
báo Chu Quý truy tìm trong vụ giết đứa bé đánh giày ở phố G. “Hắn” cũng là
nguyên nhân của nhiều cái chết như anh thợ gác rừng bắn nhằm người, nhà văn
Trần Bân tự sát, ông tiến sĩ N giết vợ và tự giết mình. Và cuối cùng, Chu Quý trở
thành “hắn” trong cuộc truy đuổi này. “Hắn” là một nhân vật trong tác phẩm
Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải với ngôi kể thứ ba. “Hắn” là một nhà văn
quân đội với mong muốn điều hòa được mọi trách nhiệm hắn đang gánh vác.
Nhưng làm đảng viên tốt, quân nhân tốt thì là nhà văn tồi. “Hắn” thích làm viên
chức nhà nước để lên ngựa xuống xe với cái chức vụ hữu danh vô thực. Nhưng
trong thất bại “hắn” rút ra được bài học là hoạn lộ thì không nên viết vì nó nhơ bẩn
và buồn cười. Phạm Xuân Nguyên tin rằng bạn đọc thấy “Hắn” sẽ thấy “Người”
theo từng từ ngữ của Bùi Ngọc Tấn.
96
Mười chín truyện ngắn là những mảnh đời của những con người trong cuộc
sống đời thường. Trong xã hội rộng lớn có muôn điều không sao nói hết, nhưng
các câu chuyện và nhiều mảnh đời vụn vỡ, xô lệch được Bùi Ngọc Tấn nói đến
như một thước phim ngắn.
97
PHỤ LỤC 2
CHÂN DUNG BÙI NGỌC TẤN VÀ BÌA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN
Hình 1. Hình ảnh nhà văn Bùi Ngọc Tấn lúc về già.
Hình 2. Hình ảnh nhà văn Bùi Ngọc Tấn lúc còn trẻ
98
Hình 3: Bìa tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2010)
Hình 4: Bìa tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2014)
99
Hình 5: Giải thưởng được trao bởi ông François Bourgeon, chủ tịch danh dự
Festival và trưởng hội đồng tuyển chọn, cho dịch giả Tây Hà. Bùi Ngọc Tấn nhà
văn Việt Nam với Biển và Chim Bói Cá nxb Aube (6/4/2012).
Hình 6: Bìa tập tiểu thuyết Biển và chim bói cá (2014)
100
Học viên ki tên Người hướng dẫn khoa học kí tên
Dương Bích Hạnh TS. HÀ THANH VÂN

