ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
LÊ THỊ HÒA
NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA VÕ DIỆU THANH
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƢƠNG – 2022
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
LÊ THỊ HÒA
NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA VÕ DIỆU THANH
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI THANH TRUYỀN
BÌNH DƢƠNG – 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Thị Hòa, cam đoan rằng:
Những nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Bùi Thanh Truyền.
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác khi sử dụng trong luận văn đều
đƣợc trích dẫn đầy đủ về nguồn gốc (tên tác giả, tên công trình, thời gian, hình thức
công bố).
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy chế
đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Lê Thị Hòa
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Bùi Thanh Truyền
đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Viện Sau đại học, Chƣơng trình Văn học Việt
Nam Trƣờng Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, tổ Ngữ văn Trƣờng Trung học phổ thông
Trần Văn Ơn đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, công việc trong quá trình tôi hoàn
thành chƣơng trình đào tạo và thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà văn Võ Diệu Thanh đã nhận lời mời
phỏng vấn và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình sƣu tầm tƣ liệu nghiên cứu.
Xin cảm ơn nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam cùng bé Đinh Thị Quỳnh Trang đã
cung cấp hình ảnh, tƣ liệu để tôi có thêm cơ sở trong việc đƣa ra những nhận định,
đánh giá về truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ tôi để
tôi có thêm động lực hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Trân trọng!
Tác giả luận văn
Lê Thị Hòa
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
vi DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
vii DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................................. 10
6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................................ 11
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................................ 11
NỘI DUNG ........................................................................................................................ 13
Chƣơng 1 ........................................................................................................................... 13
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................................................................. 13
1.1. Một số khái niệm liên quan ...................................................................................... 13
1.1.1. Văn học thiếu nhi ............................................................................................... 13
1.1.2. Nhân vật văn học ............................................................................................... 15
1.1.3. Trẻ em ................................................................................................................ 16
1.1.4. Nhân vật trẻ em .................................................. Error! Bookmark not defined.
1.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam ................................................. 17
1.2.1. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trước 1945 ........................................ 17
1.2.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi từ 1945 đến 1975 .............................. 20
1.2.3. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi sau 1975 ............................................ 24
1.3. Nhà văn Võ Diệu Thanh và truyện viết cho thiếu nhi ............................................. 28
1.3.1. Cuộc đời và văn nghiệp của Võ Diệu Thanh ..................................................... 28
1.3.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh ................................................... 34
1.3.3. Nhân vật trẻ em – một yếu tính của đường văn Võ Diệu Thanh ....................... 36
* Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................................ 38
iii
Chƣơng 2 ........................................................................................................................... 40
CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRẺ EM ................................................................................. 40
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH ..................... 40
2.1. Nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng .................................................................... 41
2.1.1. Ngây thơ, xinh xắn ............................................................................................. 41
2.1.2. Vô tư, thân thiện................................................................................................. 43
2.1.3. Tinh nghịch, dí dỏm ........................................................................................... 45
2.2. Nhân vật trẻ em bất hạnh ......................................................................................... 49
2.2.1. Mồ côi, nghèo, thất học ..................................................................................... 49
2.2.2. Yểu mệnh, tật nguyền ......................................................................................... 52
2.2.3. Nạn nhân của bạo lực gia đình .......................................................................... 55
2.3.4. Nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục .................................................. 59
2.3. Nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu ........................................................................ 62
2.3.1. Yêu thiên nhiên .................................................................................................. 62
2.3.2. Yêu thương con người ........................................................................................ 65
2.3.3. Yêu thương loài vật ............................................................................................ 72
2.4. Nhân vật trẻ em với khả năng đặc biệt ..................................................................... 74
2.4.1. Thông minh, ham học hỏi .................................................................................. 74
2.4.2. Tài năng thiên bẩm ............................................................................................ 77
2.4.3. Khả năng lạ thường ........................................................................................... 79
* Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................................ 81
Chƣơng 3 ........................................................................................................................... 82
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẺ EM ................................................... 82
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH .................... 82
3.1. Xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách .................................................. 82
3.1.1. Cách đặt tên nhân vật ........................................................................................ 82
3.1.2. Cách miêu tả ngoại hình nhân vật ..................................................................... 87
3.1.3. Cách miêu tả hành động nhân vật ..................................................................... 90
3.1.4. Cách miêu tả tâm lí nhân vật ............................................................................. 93
3.2. Xây dựng nhân vật trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật ............................................... 95
3.2.1. Ngôn ngữ tả ....................................................................................................... 95
3.2.2. Ngôn ngữ kể ....................................................................................................... 97
3.2.3. Ngôn ngữ đối thoại .......................................................................................... 101
3.2.4. Ngôn ngữ độc thoại.......................................................................................... 105
3.3. Xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu trần thuật ............................................. 108
3.3.1. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo .................................................................... 108
iv
3.3.2. Giọng điệu xót xa, thương cảm ........................................................................ 109
3.3.3. Giọng điệu chế giễu, mỉa mai .......................................................................... 110
3.3.4. Giọng điệu suy tư, triết lí ................................................................................. 112
3.4. Xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ thuật ...................... 115
3.4.1. Không gian nghệ thuật ..................................................................................... 115
3.4.1.1. Không gian trường học ............................................................................. 115
3.4.1.2. Không gian gia đình .................................................................................. 116
3.4.1.3. Không gian sông nước .............................................................................. 119
3.4.2. Thời gian nghệ thuật ........................................................................................ 121
3.4.2.1. Thời gian tuyến tính .................................................................................. 121
3.4.2.2. Thời gian đảo tuyến ................................................................................... 124
3.4.2.3. Thời gian tâm trạng .................................................................................. 126
* Tiểu kết chƣơng 3 ...................................................................................................... 128
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 130
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ............................................................. 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 134
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Nxb Nhà xuất bản
tr. Trang
Stt Số thứ tự
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt Tên bảng Trang
2.1 Thống kê số lƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi 39
của Võ Diệu Thanh
3.1 Thống kê các cách định danh nhân vật trong truyện viết cho thiếu 81
nhi của Võ Diệu Thanh
3.2. Thống kê câu hỏi trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh 102
3.3. Thống kê trạng từ chỉ thời gian trong truyện viết cho thiếu nhi của 120
Võ Diệu Thanh
vii
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong nền văn học Việt Nam.
Bắt rễ từ cội nguồn văn hóa, văn học dân gian, văn học thiếu nhi là bầu sữa tinh thần
nuôi dƣỡng, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ. Không chỉ vậy, văn học thiếu nhi còn góp phần
quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Trong
văn học thiếu nhi, các tác phẩm văn xuôi chiếm số lƣợng lớn. Sự góp mặt của nhiều
cây viết tài năng nhƣ Tô Hoài, Võ Quảng, Đoàn Giỏi, Nguyễn Thi, Vũ Tú Nam,
Nguyễn Quang Sáng, Phùng Quán, Trần Hoài Dƣơng, Quế Hƣơng, Nguyễn Nhật Ánh,
Nguyễn Ngọc Thuần, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tƣ, Mai Bửu Minh, Văn Thành
Lê… đã làm cho mảng văn xuôi thiếu nhi ngày càng khởi sắc.
1.2. Nhân vật là linh hồn của tác phẩm văn học. Trong truyện viết cho thiếu
nhi, hình tƣợng nhân vật trẻ em giữ vị trí trung tâm. Bản thân mỗi đứa trẻ là một thế
giới luôn vận động và khó nắm bắt. Mỗi nhà văn khi viết về đề tài nhân vật trẻ em, lại
có những cách thể hiện rất riêng. Điều đó làm cho hình tƣợng nhân vật trẻ em nhân vật
trẻ em hiện lên thật chân thực, gần gũi, sinh động. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng tâm
sự: “Viết cho trẻ con bao giờ cũng khó, ai chơi được với trẻ con thì tâm phải trong vắt
thì mới chơi với trẻ được. Và người viết cho trẻ con phải là người hiểu biết rất nhiều
về đời sống của trẻ và cả đời sống của người lớn nữa. Một tác phẩm đặc sắc viết cho
trẻ con phải là một tác phẩm mà trẻ con và người lớn đọc đều thấy thích. Bởi vì trong
bất cứ một đứa trẻ nào cũng có một người lớn đang hình thành, và trong bất cứ người
lớn nào cũng có một đứa trẻ không bao giờ già đi” (Bảo Thoa, 2020).
1.3. Võ Diệu Thanh bén duyên với văn chƣơng từ rất sớm. Độc giả biết nhiều
đến chị từ cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ IV do Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với Báo
Tuổi Trẻ, Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2010. Trong
cuộc thi này, chị đã giành đƣợc giải Nhì với tập truyện Cô con gái ngỗ ngược. Sau
thành công bƣớc đầu, Võ Diệu Thanh liên tiếp ra mắt bạn đọc nhiều tác phẩm với
nhiều thể loại, nhiều đề tài khác nhau. Sau gần ba mƣơi năm cầm bút, Võ Diệu Thanh
đã khẳng định bút lực của mình trên văn đàn. Đặc biệt, nhà văn dành nhiều tâm huyết
cho mảng văn học thiếu nhi. Theo chị, văn học thiếu nhi đóng vai trò rất quan trọng
đối với quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Chị tâm sự: “Văn học thiếu nhi không
chỉ là phương tiện tốt nhất giúp các em tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời
1
sống mà còn là món ăn tinh thần bổ ích nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển toàn diện về
nhân cách cho các em” (Lê Hoa, 2015).
Trẻ em là hình tƣợng nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh.
Những truyện tranh nhƣ: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu vườn
trong mơ đƣợc in khổ lớn và có mặt trong các tủ sách thƣ viện của các trƣờng tiểu học.
Điều đó cho thấy, các sáng tác cho thiếu nhi của chị đƣợc các bạn nhỏ đón nhận nồng
nhiệt. Bằng trái tim nồng ấm yêu thƣơng của một ngƣời mẹ hiền hậu, bằng nhiệt huyết
gieo con chữ của một cô giáo tài năng, nữ văn sĩ đã viết những trang văn rất đời, rất
tình. Những trang viết của chị, đặc biệt là những sáng tác viết cho thiếu nhi đã chạm
đến trái tim của cả độc giả khắp cả nƣớc. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
đa dạng, phong phú về thể loại. Những tác phẩm viết về thiếu nhi của tác giả chứa
đựng giá trị giáo dục sâu sắc. Không chỉ góp phần giáo dục nhân cách, truyện viết cho
thiếu nhi của nhà văn này còn hƣớng đến giáo dục những kỹ năng sống cần thiết cho
trẻ em. Bằng tấm lòng đồng cảm của một ngƣời mẹ, của một cô giáo tiểu học với cái
nhìn đầy trìu mến, chan chứa yêu thƣơng, ngƣời viết đã xây dựng nên thế giới nhân vật
trẻ em trong sáng, hồn nhiên nhƣng cũng chịu nhiều mất mát, thiệt thòi và bất hạnh.
Điều đặc biệt ở cách xây dựng nhân vật trẻ em trong những sáng tác của Võ Diệu
Thanh đó là nhân vật trẻ em với những tính cách, số phận rất riêng, nhân vật trẻ em
gắn liền với không gian sông nƣớc Nam Bộ, nhân vật trẻ em là những cô cậu học trò
cá biệt, nhân vật trẻ em có những khả năng đặc biệt (biết nói chuyện với cỏ cây, động
vật), nhân vật trẻ em có thật ngoài đời thƣờng, đó chính là thần đồng đàn sến Khánh
Hƣng đã từng xuất hiện trên chƣơng trình truyền hình “Biệt tài tí hon năm 2019”. Với
lối viết giản dị, cách miêu tả tinh tế, cách kể chuyện tự nhiên, qua giọng văn nhẹ
nhàng, sâu lắng, Võ Diệu Thanh đã dẫn dắt ngƣời đọc vào thế giới trẻ thơ với những
vui buồn xen lẫn. Lật dở từng trang sách, men theo lời kể của tác giả, dõi theo bƣớc
chân của từng nhân vật, ngƣời đọc sẽ có những giây phút vui cƣời sảng khoái cùng
những đứa trẻ hồn nhiên, tinh nghịch và cũng sẽ có lúc nghẹn ngào quặn thắt trƣớc
những mảnh đời bất hạnh. Truyện viết cho thiếu nhi của chị có ý nghĩa to lớn trong
việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Đọc các tác phẩm, những
độc giả nhỏ tuổi không những có thể mở rộng vốn từ mà còn học đƣợc cách ứng xử
với mọi ngƣời, học đƣợc những kỹ năng cần thiết khi bị đi lạc, khi chơi đùa trên sông
nƣớc. Còn những độc giả lớn tuổi sẽ tìm thấy tuổi thơ của chính mình, sẽ có dịp sống
2
lại những kỉ niệm tƣơi đẹp, thân thƣơng của một thời hồn nhiên, vô lo. Qua những trăn
trở của nhà văn về những nguyên nhân gây ra những khổ cực, bất hạnh của trẻ em, mỗi
thầy cô giáo, mỗi bậc phụ huynh sẽ tìm thấy những triết lí nhân sinh, sẽ nhận ra những
thông điệp nhân văn, sẽ học hỏi đƣợc những phƣơng pháp giáo dục học sinh, giáo dục
con em mình phù hợp nhất.
1.4. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hình tƣợng nhân vật trẻ em. Tuy
nhiên, tính đến nay, vẫn chƣa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hình
tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Xuất phát từ
thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh để nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu làm rõ
những kiểu nhân vật trẻ em, những phƣơng diện xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của tác giả này. Đây sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về hình
tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn một cách bao quát
và chi tiết nhất.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam
Tìm hiểu về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam, có
rất nhiều công trình nghiên cứu. Đó là những luận án, luận văn, khóa luận, các bài báo
đăng trên các tạp chí văn học. Trong luận văn này, chúng tôi xin giới thiệu một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài nhƣ sau:
Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm trong công trình nghiên cứu Nhân vật
trẻ em trong truyện ngắn cho thiếu nhi thời đổi mới đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn
học số 2 năm 2010 đã đề cập đến các kiểu loại nhân vật trẻ em nhƣ: nhân vật với
những mảnh vỡ tính cách, nhân vật với những xúc cảm mới mẻ, nhân vật trải nghiệm,
nhân vật bi kịch. Các tác giả bài báo đã đi sâu làm rõ những nét mới về hình tƣợng
nhân vật trẻ em trong những truyện ngắn viết cho thiếu nhi từ sau 1986. Bài viết này
giúp chúng tôi có cơ sở khi đánh giá những đóng góp của Võ Diệu Thanh trong việc
nỗ lực cách tân nghệ thuật, tiếp nối xu hƣớng đổi mới của văn học thiếu nhi khi xây
dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em.
Nguyễn Thị Thanh Hƣơng trong luận án Nhân vật trẻ em trong văn xuôi thiếu
nhi Việt Nam (2016) đã đề cập đến hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện thiếu nhi
Việt Nam qua hai giai đoạn: giai đoạn từ 1945 đến 1975 và từ 1975 đến nay. Nhân vật
3
trẻ em đƣợc đề cập đến trong luận án này rất đa dạng, bao gồm: nhân vật chiến sĩ nhỏ
tuổi trong chiến đấu, nhân vật công dân nhỏ tuổi trong sinh hoạt đời thƣờng, nhân vật
nêu gƣơng, nhân vật trẻ em bị ruồng bỏ, nhân vật trẻ em hồn nhiên, thơ mộng, nhân
vật nạn nhân, nhân vật trẻ em trải nghiệm, nhân vật trẻ em với những xúc cảm đầu đời,
nhân vật trẻ em anh hùng lãng mạn. Đây là một công trình nghiên cứu tầm cỡ, công
phu về nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Nhờ đó, chúng tôi trong quá
trình nghiên cứu đề tài của mình có thể học hỏi, tiếp thu đƣợc những kiến thức lý luận
về văn học thiếu nhi và nhân vật trẻ em. Đó là cơ sở vững chắc cho chúng tôi khi đƣa
ra những đánh giá, nhận định về quá trình hình thành và phát triển của văn học thiếu
nhi. Đồng thời, luận án cũng giúp chúng tôi thấy đƣợc vai trò, vị trí của nhân vật trẻ
em trong văn học thiếu nhi, gợi mở hƣớng nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Nguyễn Thị Mộng Thơ trong luận văn Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng
tác của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám 1945 (2011)
đã nghiên cứu hình tƣợng nhân vật trẻ em trên cả hai phƣơng diện nội dung và hình
thức nghệ thuật. Về phƣơng diện nội dung, tác giả luận văn đã làm rõ tính cách, số
phận của nhân vật trẻ em khi đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống và quan hệ với
chính mình. Về phƣơng diện nghệ thuật, luận văn đã đề cập đến nghệ thuật dựng
truyện; ngôn từ nghệ thuật và kết cấu tác phẩm. Công trình nghiên cứu này đã giúp
chúng tôi có cơ sở trong việc khái quát về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học
thiếu nhi từ 1945 đến 1975.
Nguyễn Thị Đài Trang trong luận văn Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn
Nhật Ánh (2013) đã phân loại các kiểu nhân vật trẻ em gồm: nhân vật phù thủy là trẻ
em, thế giới trẻ em bất hạnh đáng thƣơng, thế giới nhân vật trẻ em đƣợc sống đầy đủ
hạnh phúc. Luận văn này cũng đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trên
các phƣơng diện: cách đặt tên, miêu tả ngoại hình, miêu tả tính cách, hành động của
nhân vật, miêu tả trạng thái tâm lí nhân vật. Những phƣơng diện nghệ thuật khác của
tác phẩm nhƣ cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ
thuật không đƣợc đề cập đến trong luận văn này. Tuy vậy, những bài học cuộc sống từ
nhân vật trẻ em và vấn đề tiếp nhận truyện viết cho trẻ em của Nguyễn Nhật Ánh đƣợc
trình bày trong luận văn này đã giúp chúng tôi có thêm căn cứ để làm rõ nét riêng của
Võ Diệu Thanh khi viết về nhân vật trẻ em.
4
Đinh Thị Thu Huyền trong luận văn Nhân vật trẻ thơ trong sáng tác văn xuôi
của Trần Hoài Dương (2016) đã nghiên cứu nhân vật trẻ em trên những phƣơng diện
nhƣ sau: thế giới nhân vật trẻ thơ trong mối quan hệ với hoàn cảnh, thế giới nhân vật
trẻ thơ trong mối quan hệ với chính mình, bài học cuộc sống từ nhân vật trẻ thơ. Công
trình nghiên cứu này đã mở ra một hƣớng đi mới khi tìm hiểu về nhân vật trẻ em khác
với cách phân loại của Nguyễn Thị Thanh Hƣơng (phân loại nhân vật trẻ em theo tính
cách, số phận). Việc tác giả đề cập đến bài học cuộc sống từ nhân vật trẻ thơ là một
đóng góp mới gợi mở cho chúng tôi khi nghiên cứu về chức năng giáo dục trong văn
xuôi viết về thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Vi Thị Thỏa trong luận văn Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện
ngắn của Thạch Lam và Rabindranath Tagore (2018) đã so sánh hình tƣợng nhân vật
trẻ em trong truyện ngắn của hai tác giả nói trên từ đó chỉ ra nét tƣơng đồng về nhân
vật trẻ em đó là: nhân vật trẻ em – hiện thân của sự trong sáng, nhân vật trẻ em – hiện
thân của sự bất hạnh. Hƣớng nghiên cứu này giúp chúng tôi có thêm những cơ sở để
phân loại nhân vật trẻ em trong tác phẩm văn học. Từ đó, chúng tôi có thêm cơ sở
trong việc khái quát về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi và chỉ ra
nét riêng của hình tƣợng nhân vật trẻ em trong sáng tác của Võ Diệu Thanh.
2.2. Nghiên cứu về văn xuôi của Võ Diệu Thanh
Liên tiếp giành đƣợc nhiều giải thƣởng lớn về văn học, những sáng tác của Võ
Diệu Thanh đƣợc công chúng đón nhận đồng nhiệt. Nhiều tờ báo uy tín đã đăng tải
hàng loạt các bài giới thiệu về các tác phẩm của nhà văn tài năng này. Nhiều học viên
cao học, nhiều sinh viên đại học đã chọn các tác phẩm của chị để nghiên cứu. Chúng
tôi xin đƣợc điểm qua một số công trình nghiên cứu, những bài báo tiêu biểu nhƣ sau:
Luận văn Văn xuôi của Võ Diệu Thanh dưới góc nhìn phê bình sinh thái của tác
giả Nguyễn Thị Thu Giang (Trƣờng Đại học An Giang – Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2020). Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn nạn về sinh
thái Nam Bộ, những nỗi bất an sinh thái và chủ trƣơng tái thiết với môi trƣờng chuộc
lỗi với tự nhiên. Tác giả cũng chỉ ra những nét riêng trong văn phong của Võ Diệu
Thanh đó là giọng văn đậm chất triết lí với ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Những đánh
giá của Nguyễn Thị Thu Giang trong luận văn này giúp chúng tôi có thêm cơ sở để đi
sâu nghiên cứu giọng điệu trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
5
Nghiên cứu về văn xuôi của Võ Diệu Thanh phải kể đến luận văn Văn xuôi của
Võ Diệu Thanh từ góc nhìn văn hóa học của Đậu Văn Vinh (Đại học sƣ phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, 2020). Luận văn này đã khai thác các tác phẩm của Võ Diệu Thanh
dƣới góc nhìn văn hóa trên các phƣơng diện nhƣ: con ngƣời, biểu tƣợng và ngôn ngữ.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các sáng tác dành cho ngƣời lớn của Võ
Diệu Thanh không trùng với phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, những
đánh giá của Đậu Văn Vinh về con ngƣời, biểu tƣợng và ngôn ngữ trong văn xuôi của
Võ Diệu Thanh đã giúp chúng tôi có thêm cơ sở để chỉ ra những nét riêng giữa những
sáng tác viết cho thiếu nhi với những sáng tác viết cho ngƣời lớn của nhà văn tài năng
này.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, nhiều bài báo đã đăng tải những lời giới
thiệu về cuộc đời, hành trình sáng tác của Võ Diệu Thanh cũng nhƣ giới thiệu những
tác phẩm của chị đến với công chúng. Dƣới đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số bài báo
tiêu biểu.
Trên báo Tuổi trẻ Online đăng ngày 05/03/2013, nhà báo Nghiêm Quốc có bài
viết Nhà văn Võ Diệu Thanh. Tác giả khẳng định “Võ Diệu Thanh là nhà văn trẻ duy
nhất của đồng bằng Sông Cửu Long được Hội đồng chuyên môn và ban nhà văn trẻ
giới thiệu lên ban chấp hành hội và được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm
2012” (Nghiêm Quốc, 2013). Bài báo này giúp chúng tôi có thêm cơ sở để đánh giá về
vai trò của nữ nhà văn này trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.
Trên báo Văn học Sài Gòn Online đăng ngày 13/11/2019, Tiểu Quyên có bài
viết Võ Diệu Thanh: Viết từ cô đơn đỉnh trời. Nhà báo đã đem đến những thông tin
quý giá về cuộc đời của Võ Diệu Thanh. Bài báo nêu rõ nhà văn là một ngƣời trải qua
nhiều nỗi đau, nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Sau tất cả chị đã tìm đƣợc niềm vui
và sự bình yên nơi con chữ. Những thông tin trong bài báo này là tƣ liệu đáng tin cậy
về tiểu sử nhà văn để chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn ngƣời kể chuyện khi xây dựng
hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn xuôi của Võ Diệu Thanh.
Trên báo Tuổi trẻ Online đăng ngày 05/03/2016, Khả Linh có bài viết Nhà văn
Võ Diệu Thanh trò chuyện về "thói tật đám đông". Và Hồ Thúc An trên báo
Zingnews.com đăng ngày 12/03/2016 có bài viết Hành trình đi tìm cái nhìn tích cực
trong cộng đồng. Cả hai tác giả nói trên đều đánh giá cao bút lực mạnh mẽ của Võ
Diệu Thanh. Đồng thời các bài báo cũng gợi mở, giới thiệu về vấn đề đặt ra từ tác
6
phẩm Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm đó là “nhận diện chính mình giữa thói tật đám đông”.
Những thông tin trong hai bài báo này đã giúp chúng tôi có thêm cơ sở để hiểu rõ hơn
về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Ngoài ra, còn nhiều bài báo viết về Võ Diệu Thanh có thể kể đến nhƣ: Dƣơng
Tử Thành trên báo Vnexpress Online ngày 21/9/2011 có bài Võ Diệu Thanh: Quê, cũ
và … quyến rũ. Đỗ Dƣơng trên báo Công an nhân dân Online ngày 19/11/2013 có bài
Nhà văn Võ Diệu Thanh: “Lần đầu thấy trăng” lần đầu tiểu thuyết. Văn Việt trên báo
Tuổi trẻ Online ngày 11/7/2015 có bài Nhà văn Võ Diệu Thanh ra mắt sách cho thiếu
nhi. Trúc Nguyễn trên báo Văn nghệ Online ngày 02/8/2016 có bài Giao lưu với nhà
văn Võ Diệu Thanh và Trần Hùng John. Đoàn Xá trên báo Đại đoàn kết Online ngày
30/11/2016 có bài Nhà văn Võ Diệu Thanh tiếp tục viết truyện thiếu nhi. Công Sơn
trên báo Thanh Niên Online ngày 28/6/2020 có bài Nhà văn đa năng Võ Diệu Thanh.
Quỳnh Anh trên báo Hà Nội mới Online ngày 27/11/2020 có bài Võ Diệu Thanh và
một thế giới khác. Quỳnh Yên trên báo Sài Gòn giải phóng Online ngày 26/3/2021 có
bài Sách “khổng lồ” của nhà văn Võ Diệu Thanh. Trần Quốc Toàn trên báo Thể thao
văn hóa Online ngày 30/3/2022 có bài Gặp lại các tác giả sách giáo khoa: Võ Diệu
Thanh – Hiền hòa và dữ dội. Không quá lời khi nói rằng hầu hết những tờ báo uy tín ở
Việt Nam (Công an nhân dân, Đại đoàn kết, Hà Nội mới, Tuổi trẻ, Thanh niên, Thể
thao văn hóa, Sài Gòn giải phóng, Văn học Sài Gòn, Văn nghệ, Vnexpress,
Zingnews.com) đã có những bài viết về nhà văn đầy tài năng Võ Diệu Thanh. Những
bài báo kể trên đã giúp chúng tôi có thêm những thông tin đáng tin cậy về tác giả để
đƣa ra những nhận định, đánh giá về vai trò, vị trí của nữ văn sĩ trong dòng chảy văn
xuôi đƣơng đại Việt Nam.
2.3. Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh còn rất ít ỏi. Duy nhất có khóa luận Thế giới trẻ thơ trong hai tác phẩm Siêu
nhân cua và Những cậu bé mặt trời của nhà văn Võ Diệu Thanh (Bùi Thị Phƣợng,
2019). Khóa luận gồm các phần chính nhƣ sau:
Chƣơng 1. Đặc điểm thế giới trẻ thơ hai tập Siêu nhân cua và Những cậu bé
mặt trời. Trong chƣơng này, tác giả của khóa luận triển khai thành hai luận điểm: vài
nét về nhà văn Võ Diệu Thanh và hai tác phẩm, những khía cạnh cơ bản của thế giới
7
trẻ thơ trong hai tập Siêu nhân cua và Những cậu bé mặt trời (thế giới trẻ thơ nhìn từ
sự trong trẻo, hồn nhiên; thế giới trẻ thơ nhìn từ nỗi niềm, số phận).
Chƣơng 2. Nghệ thuật thể hiện thế giới trẻ thơ trong hai tập Siêu nhân cua và
Những cậu bé mặt trời. Trong chƣơng này, tác giả của khóa luận triển khai thành hai
luận điểm: nghệ thuật miêu tả (miêu tả thiên nhiên, miêu tả con ngƣời) và ngôn ngữ
nghệ thuật (ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật).
Đây là một bài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên. Do đó, những nghiên cứu
của tác giả mới dừng lại ở phạm vi hẹp (hai tập truyện), những nhận định, đánh giá về
thế giới nhân vật trẻ em và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em mà tác giả trình bày
trong khóa luận này còn sơ lƣợc. Vấn đề nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu
nhi của Võ Diệu Thanh chƣa đƣợc nghiên cứu. Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu này
cũng cung cấp những thông tin cần thiết về cuộc đời và sự nghiệp của Võ Diệu Thanh
cũng nhƣ gợi mở về nhân vật trẻ em để chúng tôi có cơ sở trong việc đi sâu nghiên cứu
đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về những tác phẩm của Võ Diệu
Thanh chƣa nhiều. Những bài báo kể trên mới chỉ dừng lại ở giới thiệu sơ lƣợc, nhận
xét, đánh giá khái quát về tác giả, tác phẩm nhằm quảng bá rộng rãi giúp các sáng tác
của nhà văn đến gần hơn với công chúng. Các khóa luận nghiên cứu về các tác phẩm
của Võ Diệu Thanh có phạm vi nghiên cứu hẹp vì vậy chƣa đánh giá hết đƣợc những
đóng góp của nhà văn trong nền văn học đƣơng đại Việt Nam. Đề tài Nhân vật trẻ em
trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Luận văn
của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về hình tƣợng nhân vật
trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Vì thế, những công trình
nghiên cứu của các tác giả kể trên trở thành tƣ liệu quý giá để chúng tôi thực hiện đề
tài này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,
chúng tôi hƣớng tới những mục tiêu sau:
- Khảo sát những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
- Phân loại các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh.
8
- Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh.
- Đánh giá vị trí của Võ Diệu Thanh trong văn học thiếu nhi Việt Nam đƣơng
đại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và làm rõ đối tƣợng nghiên cứu, trong phạm vi của đề
tài, chúng tôi không đi sâu vào việc nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Võ Diệu Thanh
mà chỉ tập trung nghiên cứu các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh:
- Tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, 2014, Hà Nội: Nxb Phụ nữ.
- Truyện dài Siêu nhân cua, 2015, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện dài Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, 2016, Thành phố Hồ Chí Minh:
Nxb Văn hóa – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
- Truyện dài Chúng mình bay đầy trời, 2016, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện dài Tiền của thần cây, 2016, Hà Nội: Nxb Phụ nữ.
- Tập truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, 2017, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện tranh Bí mật bên khóm hoa quỳnh, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện tranh Chú ong bé bỏng, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện tranh Khu vườn trong mơ, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
- Truyện dài Quà tặng của ngày mai, 2021, Quảng Nam: Nxb Đà Nẵng.
Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu các truyện viết cho thiếu nhi của các tác
giả trƣớc đó và cùng thời nhƣ: tập truyện ngắn Lá non, truyện dài Miền xanh thẳm của
Trần Hoài Dƣơng, tập truyện ngắn Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng; các truyện dài Kính
vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ của Nguyễn Nhật Ánh; truyện
dài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần; các truyện dài Trên đồi,
mở mắt và mơ, Bên suối, bịt tai, nghe gió của Văn Thành Lê, ... Việc mở rộng phạm vi
khảo sát nhƣ vậy giúp chúng tôi có thêm căn cứ trong việc đánh giá nét giống nhau và
khác nhau giữa hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
9
Thanh với hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của các tác giả
khác. Từ đó, chúng tôi đi đến những kết luận khẳng định nét riêng của Võ Diệu Thanh
khi viết truyện cho thiếu nhi.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phƣơng pháp tiểu sử
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để tìm hiểu những yếu tố về quê hƣơng,
xuất thân, hoàn cảnh sống, nghề nghiệp của nhà văn Võ Diệu Thanh. Xem xét, đánh
giá những yếu tố đó có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến cách nhìn, cách miêu tả về nhân vật
trẻ em.
5.2. Phƣơng pháp loại hình
Phƣơng pháp loại hình giúp chúng tôi xem xét sáng tác của Võ Diệu Thanh từ
góc độ loại hình văn xuôi nghệ thuật. Cụ thể khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi luôn
quan tâm đến nghệ thuật tự sự để tìm ra phong cách riêng của nhà văn.
5.3. Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét chung
và nét độc đáo riêng của Võ Diệu Thanh so với các nhà văn đồng đại và lịch đại khi
viết về trẻ em. Cụ thể, luận văn sẽ so sánh hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh với nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của các tác giả khác nhƣ: Trần Hoài Dƣơng, Quế Hƣơng, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn
Ngọc Thuần, Văn Thành Lê, …
5.4. Phƣơng pháp thống kê
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để khảo sát, phân loại, thống kê ngữ liệu
làm căn cứ khoa học để tìm hiểu về nhân vật trẻ em trong sáng tác viết về thiếu nhi của
Võ Diệu Thanh. Cụ thể, chúng tôi sẽ thống kê các nhân vật trẻ em trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, thống kê các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ nghệ
thuật (từ ngữ, kiểu câu), các chi tiết nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng không gian nghệ
thuật, thời gian nghệ thuật.
5.5. Vận dụng lí thuyết của thi pháp học
Chúng tôi vận dụng lí thuyết của thi pháp học để chỉ ra những phƣơng diện
nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong văn xuôi của Võ Diệu Thanh.
10
5.6. Vận dụng lý thuyết diễn ngôn
Chúng tôi vận dụng lý thuyết này để xem xét, đánh giá cái nhìn của Võ Diệu
Thanh - cái nhìn của một ngƣời mẹ, cái nhìn của một cô giáo về trẻ em.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng dụng phƣơng pháp tâm lí học trẻ em để tìm
hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ đƣợc nhà văn Võ Diệu Thanh thể hiện trong tác
phẩm. Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác khảo sát, thống kê ở một số
phƣơng diện để đƣa ra những cứ liệu xác đáng nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lí luận
Luận văn phác thảo đầy đủ và hệ thống các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Từ đó, khẳng định phong cách riêng và đóng góp
của nhà văn trên văn đàn.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến văn học
thiếu nhi nói chung, những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nói riêng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu (11 trang), Kết luận (3 trang), Danh mục các công trình của
tác giả (1 trang), Tài liệu tham khảo (6 trang), Phụ lục (69 trang), phần Nội dung của
luận văn gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung (25 trang)
Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung làm rõ lí thuyết chung về văn học thiếu
nhi, nhân vật trẻ em. Đồng thời, đƣa ra những nhận định khái quát về cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh, đặc biệt là các sáng tác viết cho thiếu nhi của nhà
văn này.
Chƣơng 2: Các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh (40 trang)
Chƣơng này tập trung tìm hiểu các kiểu nhân vật trẻ em trong các truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nhƣ: Nhân vật trẻ em hồn nhiên trong sáng, nhân vật
trẻ em bất hạnh, nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu và nhân vật trẻ em với khả năng
đặc biệt. Từ đó, chúng tôi đánh giá những bài học về việc giáo dục trẻ em đƣợc nhà
văn gửi gắm trong các tác phẩm.
11
Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh (46 trang)
Trong chƣơng này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu các phƣơng diện nghệ thuật xây
dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nhƣ: nghệ
thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách; nghệ thuật xây dựng nhân vật
trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật; nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu
trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ
thuật.
12
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Viết về trẻ em là niềm cảm hứng của nhiều nhà thơ, nhà văn. Mỗi tác giả khi
viết về đề tài quen thuộc này đều xuất phát từ tình yêu đối với trẻ em, từ những trăn trở
về tƣơng lai của những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Trong những sáng tác viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật, sinh
động với những tính cách, số phận riêng. Trƣớc khi làm rõ những biểu hiện của vấn đề
này, chúng tôi cần đƣa ra một cách nhìn tổng quan về văn học thiếu nhi nói chung, về
nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam nói riêng. Đồng thời, chúng tôi cũng
giới thuyết những vấn đề liên quan đến tác giả Võ Diệu Thanh và những sáng tác của
chị, đặc biệt là truyện viết cho thiếu nhi. Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn vững
chắc để chúng tôi tiến hành lựa chọn tác phẩm, khảo sát, phân tích, đánh giá hình
tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Văn học thiếu nhi
Thuật ngữ văn học thiếu nhi có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Một số nhà
nghiên cứu văn học trên thế giới đã định nghĩa văn học thiếu nhi dựa theo độ tuổi độc
giả. Cách làm này không thỏa đáng bởi có những độc giả nhỏ tuổi lại thích đọc những
truyện vốn dành cho ngƣời lớn và ngƣợc lại. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất
cách hiểu văn học thiếu nhi dựa trên những đặc điểm về nội dung và hình thức của tác
phẩm. Ở Việt Nam, thuật ngữ văn học thiếu nhi đƣợc khẳng định chính danh trong Từ
điển thuật ngữ văn học. Các tác giả của cuốn sách này cho rằng: “Theo nghĩa hẹp, văn
học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành cho thiếu nhi.
Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi
những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của văn
học thiếu nhi” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr. 412 – 413).
Theo Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi “là những
tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm
hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi và nhiều khi, cũng
là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay một con vật, một cái cây… Tác giả
13
của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi
lứa tuổi” (Vân Thanh & Nguyên An, 2002, tr.6).
Nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền trong Thi pháp trong văn học thiếu nhi cho
rằng: “Văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là thiếu
nhi hoặc được nhìn bằng “đôi mắt trẻ thơ” với tất cả những xúc cảm, tình cảm mãnh
liệt, tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em thích thú, say mê và có nội dung hướng
đến việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện nhân cách của
các em thuộc những lứa tuổi khác nhau từ thuở ấu thơ đến suốt cuộc đời” (Bùi Thanh
Truyền, 2009, tr.12).
Một tác phẩm văn học thiếu nhi cần phải đảm bảo những yêu cầu gì và căn cứ
nào để xếp một tác phẩm văn học thuộc bộ phận văn học thiếu nhi cũng còn nhiều vấn
đề đặt ra. Theo chúng tôi, văn học thiếu nhi là những sáng tác do ngƣời lớn hoặc trẻ
em viết cho thiếu nhi, viết về thiếu nhi, có nhân vật trung tâm là thiếu nhi nhằm
hƣớng đến mục đích bồi dƣỡng tâm hồn, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng
sống cho thiếu nhi. Thiếu nhi (bao gồm thiếu niên và nhi đồng) là vừa là chủ thể sáng
tác, đối tƣợng phản ánh vừa là đối tƣợng phục vụ của tác phẩm văn học thiếu nhi.
Hƣớng đến độc giả nhỏ tuổi, văn học thiếu nhi mang những đặc trƣng riêng
khác với văn học ngƣời lớn về ngôn từ, giọng điệu và mục đích phản ánh. Điều làm
nên sự hấp dẫn của văn học thiếu nhi đó chính là cốt truyện phiêu lƣu, nhân vật hành
động và bút pháp kì ảo. Những hình ảnh, ngôn từ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi
gần gũi, thân thuộc gắn bó với thiếu nhi. Đó là những loài vật, sự vật gần gũi, thân
thuộc với các em nhƣ: chó, mèo, gà, lợn, ve sầu, dế mèn, sấm, chớp, mƣa, mặt trời,
mặt trăng. Tác phẩm văn học thiếu nhi mang giá trị giáo dục cao. Đó là những bài học
về việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Không chỉ vậy, tác
phẩm văn học thiếu nhi còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thơ, giúp các em
phát huy đƣợc trí tƣởng tƣợng phong phú thông qua hệ thống ngôn từ đơn giản, chuẩn
mực, giàu hình ảnh, đậm chất nhạc, chất họa. Đọc tác phẩm văn học thiếu nhi, độc giả
nhỏ tuổi sẽ tìm thấy sự gần gũi giữa bản thân mình với các nhân vật về ngôn ngữ, về
cách nghĩ, cách hành động. Còn những độc giả lớn tuổi – những ngƣời từng là thiếu
nhi, không những sẽ tìm lại hình bóng tuổi thơ của chính mình mà còn rút ra những bài
học trong việc giáo dục con em của mình. Nhà văn Văn Thành Lê – tác giả của bốn
truyện viết cho thiếu nhi (Ông mặt trời và mùi hương của mẹ; Nam, Nhi, Đại, Trượng,
14
Phu; Trên đồi, mở mắt, và mơ; Bên suối, bịt tai, nghe gió”) tâm sự: “Viết cho thiếu nhi
là cách để tôi được tắm nhiều lần trên dòng – sông - tuổi - thơ” (Nguyên Thảo, 2022).
Vì vậy, có thể nói tác phẩm văn học thiếu nhi không chỉ dành riêng cho các bạn nhỏ
mà còn dành cho tất cả mọi ngƣời.
1.1.2. Nhân vật văn học
Phƣơng Lựu trong Lí luận văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là một hình
tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra”. “Nhân vật văn học là con
người thể hiện bằng phương tiện văn học” (Phƣơng Lựu, 2006, tr.279). Các tác giả Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho
rằng: “Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một
con người cụ thể nào, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Nhân vật
văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con
người có thật trong đời sống” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr.235).
Các nhà nghiên cứu văn học đã phân loại nhân vật theo nhiều loại khác nhau.
Trần Đình Sử trong Giáo trình Dẫn luận thi pháp học cho rằng: “Để xác lập loại hình
nhân vật người ta chia ra nhân vật chính, phụ, nhân vật chính diện, phản diện. Người
ta còn phân biệt nhân vật “dẹt” và nhân vật “tròn”, tức là phiến diện, nghèo nàn, hay
đầy đặn, đa diện (E. M. Forster). Có người phân biệt nhân vật trữ tình, nhân vật động
(T. Docherty). Về mặt cấu trúc có người chia ra nhân vật mặt nạ, nhân vật loại hình,
nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng (L. Ghindơbua)” (Trần Đình Sử, 2007, tr.42).
Trong Lý luận văn học, các tác giả Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam,
Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình đã đƣa ra cách phân loại nhân vật
dựa trên ba yếu tố: ý thức hệ, kết cấu, và cấu trúc. Theo đó, nhân vật văn học đƣợc
phân loại thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện; nhân vật loại hình, nhân
vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng, nhân vật chính, nhân vật phụ,
nhân vật trung tâm.
Nhƣ vậy có thể thấy, xoay quanh vấn đề phân loại nhân vật có nhiều quan điểm
khác nhau. Văn học thiếu nhi mang những đặc trƣng riêng khác với văn học ngƣời lớn.
Do đó, việc phân loại nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi rất khó có thể áp dụng
cách phân loại nhân vật theo những cách thông thƣờng kể trên. Trong luận văn này,
chúng tôi phân loại nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
căn cứ theo tiêu chí về ngoại hình, tính cách, số phận của nhân vật trẻ em. Việc phân
15
loại nhân vật cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối. Bởi vì trong mỗi nhân vật sẽ tồn tại
nhiều đặc điểm tính cách khác nhau.
1.1.3. Trẻ em
Điều 1, Luật trẻ em của nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số
102/2016/QH13 ban hành ngày 05/4/2016 quy định: “Trẻ em là người dưới mười sáu
tuổi”.
Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có những biến đổi tâm sinh lí khác nhau. Hoạt động chủ
yếu của trẻ em trong giai đoạn này là học tập. Các em học hỏi, khám phá về thế giới
xung quanh và bắt đầu nhận thức về giới tính của mình. Nhân cách của trẻ dần hình
thành. Trong độ tuổi này, trí tƣởng tƣợng của trẻ rất phong phú. Đó là tiền đề cho sự
sáng tạo sau này của trẻ. Do chƣa phát triển đầy đủ cả về vật chất và trí tuệ nên trẻ
trong giai đoạn này có những biến đổi tâm sinh lí bất thƣờng: trẻ dễ bị tổn thƣơng, dễ
thay đổi, dễ thích nghi, muốn đƣợc quan tâm, muốn đƣợc mọi ngƣời chú ý.
Những yếu tố gia đình, nhà trƣờng, thầy cô, bạn bè có ảnh hƣởng rất lớn đến
việc hình thành nhân cách của trẻ. Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt. Trong những
môi trƣờng văn hóa khác nhau, tính cách của trẻ sẽ có những thay đổi. Vì vậy, khi
nghiên cứu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ em và những nhân tố tác
động, ảnh hƣởng đến tâm lí, tính cách của các nhân vật trẻ em đƣợc nhà văn miêu tả
trong tác phẩm để hiểu đúng dụng ý nghệ thuật của tác giả. Từ đó thấy đƣợc chức
năng giáo dục trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
1.1.4. Nhân vật trẻ em
Nhân vật trẻ em đƣợc hiểu là những đứa trẻ đƣợc nhà văn khắc họa trong tác
phẩm văn học. Qua những chi tiết miêu tả ngoại hình, tâm lí, tính cách của nhân vật trẻ
em, ngƣời đọc thấy đƣợc số phận, phẩm chất, tính cách của trẻ em trong đời sống xã
hội. Với việc xây dựng nhân vật trẻ em trong các tác phẩm của mình, các nhà văn bộc
lộ cái nhìn của mình về trẻ thơ, đồng thời gửi gắm những thông điệp, những bài học về
cách ứng xử, phƣơng pháp giáo dục trẻ em. Truyện thiếu nhi có nhiều kiểu nhân vật
nhƣ: nhân vật trẻ em, nhân vật ngƣời lớn, nhân vật tƣởng tƣợng, nhân vật loài vật…
Trong đó, nhân vật trẻ em, nhân vật loài vật đại diện cho trẻ em đóng vai trò là nhân
vật chính trong tác phẩm.
16
Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh phần lớn là
những học sinh tiểu học. Những cô bé, cậu bé lớp Một, lớp Hai, lớp Ba hiện lên chân
thật, sinh động với những tính cách vừa riêng biệt vừa đại diện cho lứa tuổi thiếu niên
và nhi đồng.
1.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam
1.2.1. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trƣớc 1945
Văn học thiếu nhi là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học ở bất kì
dân tộc nào trên thế giới. Nhắc đến văn học thiếu nhi, không thể không nhắc đến một
bộ phận quan trọng đó là văn học dân gian. Bùi Thanh Truyền trong Thi pháp trong
văn học thiếu nhi cho rằng: “Văn học thiếu nhi của hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều có một bộ phận đáng kể là văn học dân gian” (Bùi Thanh Truyền, 2009, tr.11). Ở
mỗi quốc gia, văn học thiếu nhi lại có quá trình hình thành và phát triển khác nhau.
Trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu, văn học thiếu nhi xuất hiện rất sớm. Từ thế kỉ
XIV ở châu Âu đã có những cuốn sách mang nội dung giáo huấn dành cho thiếu nhi
nhƣ: những sách học vần, sách giáo khoa, sách dạy các quy tắc ứng xử trong xã hội.
Nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi đã trở thành những tác phẩm kinh điển của văn học
thế giới nhƣ: Không gia đình của Hector Malot, Lũ trẻ đường tàu của E. Nesbit, Túp
lều bác Tom của Harriet Beecher Stowe, …Ở mỗi dân tộc, văn học thiếu nhi có quá
trình hình thành và phát triển khác nhau với những nét đặc trƣng riêng. Nhìn chung,
các sáng tác viết cho thiếu nhi trên thế giới đều nhằm giáo dục trẻ em hƣớng đến cái
thiện, cái đẹp trong cuộc sống.
Ở Việt Nam, văn học thiếu nhi xuất hiện muộn hơn. Trƣớc thế kỉ XX, văn học
thiếu nhi chƣa phát triển. Ngoài văn học dân gian, chỉ có một số ít sách viết cho thiếu
nhi với mục đích giáo huấn nhƣ: Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn.
Phải đến đầu thế kỉ XX, các tác phẩm viết cho thiếu nhi mới bắt đầu xuất hiện. Trên
báo chí quốc ngữ, các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nổi tiếng trên thế giới đƣợc
dịch và đăng nhiều kì. Đây là tiền đề quan trọng góp phần hình thành nền văn học hiện
đại Việt Nam nói chung, văn học thiếu nhi Việt Nam nói riêng.
Tìm hiểu văn học thiếu nhi Việt Nam, chúng tôi nhận thấy nhân vật trẻ em có vị
trí vai trò khác nhau qua mỗi giai đoạn. Trƣớc cách mạng tháng tám, văn học thiếu nhi
chƣa phát triển vì thế hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi ở giai đoạn
này cũng chƣa có đƣợc vị trí quan trọng. Những tác phẩm viết cho thiếu nhi giai đoạn
17
này không nhiều và còn khá đơn giản về nội dung cũng nhƣ hình thức nghệ thuật. Tác
phẩm văn học viết cho thiếu nhi tiêu biểu những năm đầu thể kỉ XX là Lên sáu, Lên
tám của Tản Đà. Đây là thơ giáo khoa dành cho trẻ lên sáu tuổi và lên tám tuổi. Cả hai
bài thơ này đều đƣợc Tản Đà viết với ngôn từ ngắn gọn, đơn giản (Bài thơ Lên sáu
đƣợc viết theo kiểu Tam tự kinh, bài thơ Lên tám đƣợc viết theo thể ngũ ngôn) nhằm
mục đích giáo dục trẻ những bài học về đạo làm ngƣời. Tác giả đặc biệt đề cao đạo
làm con, coi trọng chữ Hiếu. Trong bài thơ Lên sáu, tác giả viết: “Nghĩa chữ hiếu –
Đạo làm con – Con còn non – Nên học trước” (Tản Đà, 1919). Điều này cũng đƣợc
tác giả nhắc đến trong bài thơ Lên tám: “Chữ hiếu đạo làm con – Cha mẹ ta biết ơn –
Ơn cha cùng ơn mẹ - Như bể và như non” (Tản Đà, 1920).
Đến những năm 30 của thế kỉ XX, những tác phẩm viết cho thiếu nhi trở nên
phong phú hơn với những sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn, Tô Hoài, Nam Cao,
Nguyên Hồng, … đặc biệt, sự xuất hiện của nhóm Tự lực văn đoàn với việc xuất bản
nhiều loại sách dành cho trẻ em nhƣ: Sách hồng, Hoa hồng, Hoa mai, Tuổi xanh…
Tuy nhiên, giai đoạn này chƣa có nhà văn nào chuyên viết thơ, truyện dành cho thiếu
nhi, nên số lƣợng các tác phẩm khá ít ỏi, nội dung còn nghèo nàn chủ yếu xoay quanh
cuộc sống thƣờng ngày của trẻ em ở thành thị. Hơn nữa, do chƣa có nhà xuất bản
chuyên làm sách về thiếu nhi nên việc chọn lọc tác thẩm phù hợp với thiếu nhi để in
trong Sách hồng còn gặp phải nhiều hạn chế. Những tác phẩm vốn dành cho ngƣời lớn
xuất hiện trên sách này đã gây nên nhiều ý kiến phản đối gay gắt của các nhà văn, nhà
báo đƣơng thời. Dẫu vậy, những truyện trinh thám, cổ tích, thần thoại, sinh hoạt đời
thƣờng đăng trên Sách hồng cũng đã tạo nên bƣớc chuyển biến đáng kể cho văn học
thiếu nhi giai đoạn này khi các nhà văn đã bắt đầu có ý thức về việc viết sách dành
riêng cho trẻ em.
Bên cạnh Sách hồng của nhóm Tự lực văn đoàn, những tác phẩm viết cho thiếu
nhi giai đoạn này có thể kể đến nhƣ: Tấm lòng vàng của Nguyễn Công Hoan, Con mèo
mắt ngọc, Bài học quét nhà của Nam Cao, truyện thơ Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn
của Tú Mỡ, Dế mèn phiêu lưu kí, Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa của Tô Hoài, Trẻ
chăn trâu, Kêu gọi thiếu nhi của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trẻ em chỉ đƣợc các nhà văn
nhắc đến chứ chƣa đƣợc xây dựng khắc họa đầy đủ về lai lịch, ngoại hình, tính cách,
diễn biến tâm lí. Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong giai đoạn này hiện lên là những đứa
trẻ có hoàn cảnh đáng thƣơng, chịu nhiều thiệt thòi. Đó là những đứa trẻ con nhà
18
nghèo phải làm việc vất vả, hoàn cảnh thiếu thốn thậm chí bị bỏ đói, những đứa trẻ mồ
côi, thiếu thốn tình cảm của bố mẹ. Đọc các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nam Cao,
Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam … ta thấy rõ điều đó.
Trong truyện của Nam Cao, nhân vật trẻ em là nạn nhân của cái nghèo, cái đói.
Lối sống vô trách nhiệm của ngƣời lớn khiến những đứa trẻ thật đáng thƣơng. Những
đứa trẻ trong Trẻ con không được ăn thịt chó bị bố bắt làm việc vất vả, bị bỏ đói trong
khi bố nhậu phè phỡn, no nê. Những đứa trẻ tội nghiệp lén lút nhìn bố ăn nhậu một
cách thèm thuồng chỉ mong bố trừ lại cho một miếng. Nhƣng điều mà chúng nhận
đƣợc sau khi phải chờ đợi quá nửa ngày là câu phán xanh rờn của bố “trẻ con không
đƣợc ăn thịt chó”. Cái đĩ trong truyện Một bữa no vì nghèo đói phải đi ở cho nhà giàu
bị chủ đối xử tệ bạc. Nó bất hạnh đến nỗi cái tên cũng không có. Hai anh em Ninh và
Đật trong Từ ngày mẹ chết bị bố bỏ mặc nhiều ngày không đƣợc ăn, chúng phải tự đi
kiếm củ dong về nƣớng rồi chia nhau ăn cho đỡ đói. Bố mẹ vì áp lực mƣu sinh liền trút
những căng thẳng, bực dọc lên con. Bé Hồng trong Bài học quét nhà mới năm tuổi mẹ
bắt làm mọi việc từ quét nhà, chăm em, bị mẹ la mắng, bị mẹ kéo đi xềnh xệch đau
nhƣng không dám khóc. Có thể thấy, nhân vật trẻ em trong các truyện ngắn của Nam
Cao hiện lên là nạn nhân của cái nghèo, cái đói. Với giọng văn lạnh lùng, tỉnh táo mà
đằm thắm yêu thƣơng, Nam Cao đã giúp ngƣời đọc hiểu và thông cảm với những thiệt
thòi, bất hạnh của trẻ em trƣớc cách mạng tháng Tám.
Trong các truyện Giọt máu, Hai nhà nghề, Những ngày thơ ấu của Nguyên
Hồng, nhân vật trẻ em hiện lên là những đứa trẻ nghèo, thiếu thốn tình cảm của cha
mẹ. Thạo em trong truyện Giọt máu phải làm những công việc nặng nhọc nhƣ làm
vƣờn, trồng ngô – những công việc quá sức với một đứa trẻ. Nó đáng thƣơng đến nỗi
cái tên cũng không có. Tên nhân vật đƣợc gọi theo tên của chị. Hai đứa trẻ trong
truyện Hai nhà nghề phải vất vả mƣu sinh bằng nghề xiếc đầy mạo hiểm. Còn chú bé
Hồng trong Những ngày thơ ấu hiện lên với tuổi thơ bất hạnh khi mồ côi cha, sống xa
mẹ lại tƣờng xuyên phải hứng chịu những lời cay nghiệt của bà cô và những ngƣời họ
hàng.
Hình tƣợng nhân vật trẻ em bất hạnh còn đƣợc thể hiện rõ trong các sáng tác
của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố. Đức trong truyện Tấm lòng vàng của Nguyễn
Công Hoan là một đứa trẻ mồ côi phải đi ở đợ. Cậu bé thƣờng xuyên bị bà chủ đánh
đập, chửi mắng. Cái Tí trong truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố bị mẹ bán cho nhà Nghị
19
Quế khi mới bảy tuổi. Điều này cho thấy nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trƣớc
1945 là những đứa trẻ có thân phận thấp hèn, có đời sống cơ cực, thiếu thốn cả về vật
chất lẫn tinh thần.
Đọc truyện viết cho thiếu nhi trƣớc 1945, chúng tôi nhận thấy, hình tƣợng nhân
vật trẻ em hiện lên với những nét vẽ khác nhau. Bên cạnh những đứa trẻ bất hạnh bị bỏ
đói, bị đánh đập, bị lạm dụng sức lao động, bị chửi mắng thậm tệ, là những đứa trẻ
giàu tình thƣơng ngƣời, có tâm hồn nhạy cảm, giàu ƣớc mơ. Điều này đƣợc thể hiện rõ
trong các sáng tác của Thạch Lam. Đó là hai chị em Liên và An trong Hai đứa trẻ, là
Sơn và Hiên trong Gió lạnh đầu mùa, là hai em nhỏ trong Tiếng chim kêu. Tất cả đều
hiện lên với vẻ trong sáng, thánh thiện, đáng yêu.
Nhìn chung, nhân vật trẻ em trong giai đoạn này chƣa đƣợc xem là nhân vật
trung tâm của tác phẩm. Trẻ em thƣờng là đối tƣợng của sự răn dạy giáo huấn. Sự
ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ ít đƣợc các nhà văn tập trung miêu tả. Trẻ em
thƣờng đƣợc đặt trong mối quan hệ gia đình với sự thua thiệt, bất hạnh. Nghệ thuật
xây dựng nhân vật trẻ em còn khá đơn giản, chủ yếu thông qua việc miêu tả các hành
động, ít đi sâu miêu tả tâm lí. Lã Thị Bắc Lý trong Giáo trình văn học trẻ em khẳng
định: “Nhìn chung, trước cách mạng tháng Tám 1945, ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện
những tác phẩm viết cho thiếu nhi một cách lẻ tẻ chứ chưa thực sự có phong trào sáng
tác cho các em, nhưng dù so đó cũng chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng
để xây dựng nên nền văn học thiếu nhi Việt Nam” (Lã Thị Bắc Lý, 2014, tr.9).
Mặc dù các tác phẩm văn học thiếu nhi giai đoạn này chƣa nhiều nhƣng những
nhân vật trẻ em nhƣ cậu bé Hồng trong Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, hai chị
em Liên và An trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam đã để lại ấn tƣợng sâu sắc, trở nên
gần gũi với độc giả.
1.2.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi từ 1945 đến 1975
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học thiếu nhi mới chính thức đƣợc
hình thành. Với sự ra đời của báo Thiếu sinh – tiền thân của báo Thiếu niên Tiền
phong, lần đầu tiên trong văn học thiếu nhi có sự tham gia của các tác giả nhỏ tuổi. Sự
ra đời của Thiếu sinh đã đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng tác động đến sự phát triển
của văn học thiếu nhi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Báo trẻ em ra đời –
Đó là báo của trẻ em, vậy các em nên viết cho báo, gửi tin tức tranh vẽ và viết bài cho
báo” (Vân Thanh, 2003, tr.43). Lời dặn của Bác có tác dụng rất lớn trong việc cổ vũ,
20
khích lệ trẻ em tham gia viết báo, đồng thời cũng định hƣớng mục đích sáng tác cho
văn học thiếu nhi đó là viết về thiếu nhi, viết cho thiếu nhi. Sau báo Thiếu sinh, các tờ
báo thiếu nhi khác cũng ra đời nhƣ: Xung phong, măng non, Tuổi trẻ. Sự góp mặt của
các nhà văn nhỏ tuổi đã tạo nên bƣớc ngoặt quan trong cho sự phát triển của văn học
thiếu nhi.
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 đến 1954), các tác phẩm viết cho
thiếu nhi không nhiều, nội dung và hình thức còn đơn giản. Tuy nhiên, văn học thiếu
nhi giai đoạn này lại đóng vai trò quan trọng trong việc mở đƣờng, đặt nền móng cho
sự phát triển của văn học thiếu nhi sau này, thúc đẩy nền văn học Việt Nam phát triển
thêm một bƣớc mới. Trẻ em trở thành nhân vật trung tâm trong các tác phẩm văn
học thiếu nhi. Không chỉ dừng lại việc ca ngợi những thiếu nhi dũng cảm trong chiến
đấu, các tác phẩm viết cho thiếu nhi giai đoạn này còn đi sâu miêu tả cuộc sống sinh
hoạt thƣờng ngày và những đóng góp của các em thiếu nhi vào công cuộc kháng chiến
của dân tộc.
Đề tài nổi bật của văn học Việt Nam nói chung, văn học thiếu nhi nói riêng
trong giai đoạn 1945 – 1954 là đề tài chiến tranh. Vì vậy, nhân vật trẻ em trong giai
đoạn này hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt
của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là sự dũng cảm, gan dạ trong chiến đấu, sự
chăm chỉ, yêu lao động trong cuộc sống thƣờng ngày, đặc biệt là khao khát cháy bỏng
về một đất nƣớc hòa bình. Tất cả những điều đó đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa
với giọng điệu ngợi ca, trân trọng.
Hình tƣợng thiếu nhi anh hùng trong kháng chiến đƣợc thể hiện rõ nét trong các
sáng tác của Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tƣởng, Tô Hoài, Tố Hữu, Vũ Cao, Đoàn
Giỏi,… Đọc Chú Giao làng Seo của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp hình ảnh chú bé Giao
nhanh nhẹn, gan dạ, hăng hái nhiệt tình khi làm nhiệm vụ liên lạc dẫn đƣờng cho bộ
đội. Tí trong Chiến sĩ ca nô của Nguyễn Huy Tƣởng mƣu trí, dũng cảm dám đƣa cả
làng chạy trốn khỏi sự truy lùng của giặc. Chú bé Giang trong Dưới chân cầu Mây của
Nguyên Hồng kiên cƣờng bị giặc bắt và tra tấn dã man vẫn cƣơng quyết không làm lộ
thông tin. Cậu bé Hoa Sơn trong Hoa Sơn của Tô Hoài lại say mê tuyên truyền cách
mạng. Các em dù tuổi còn rất nhỏ đã tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến
chống Pháp. Đọc bài thơ Lượm của Tố Hữu, ta bắt gặp hình ảnh chú bé Lƣợm với vẻ
hoạt bát, nhanh nhẹn, hồn nhiên yêu đời, thông minh, gan dạ, tinh thần trách nhiệm
21
cao. Hình tƣợng Lƣợm, Giao, Giang, Hoa Sơn, Tí … trở thành những tấm gƣơng anh
hùng rất đáng khâm phục. Trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 - 1954, hình tƣợng
nhân vật trẻ em hiện lên qua những nét phác họa đơn giản. Các nhà văn tập trung khắc
họa phẩm chất anh hùng của nhân vật trẻ em trong chiến đấu, nét ngây thơ, hồn nhiên
vốn có của trẻ em ít đƣợc thể hiện. Sau năm 1954, nhân vật trẻ em hiện lên chân thực,
sinh động, gần gũi hơn, vừa có sự hồn nhiên vô tƣ đúng tuổi vừa có cái gan góc, nhiệt
tình của một chiến sĩ nhỏ tuổi. Đó là những cậu bé nhƣ: bé Toàn trong Em bé bên bờ
sông Lai Vu của Vũ Cao; An, Cò trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Hành
trình tìm cha của cậu bé An trong những ngày lƣu lạc ở vùng đất phƣơng Nam trong
Đất rừng phương Nam khiến ngƣời đọc thực sự cảm động. Qua nhân vật An, ngƣời
đọc hiểu hơn về cảnh ngộ của những đứa trẻ mồ côi, lƣu lạc trong chiến tranh. Càng
thƣơng cảm trƣớc những khó khăn, nguy hiểm mà cậu bé phải đối mặt trong quá trình
tìm cha, ngƣời đọc lại càng thêm nể phục sự gan dạ, dũng cảm khi đối mặt với quân
giặc, sự hăng hái, nhiệt tình khi cùng góp sức đánh giặc của cậu bé An bấy nhiêu. Có
thể nói, chính hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đã tạo nên những con ngƣời anh hùng,
những trẻ em anh hùng. Hình tƣợng nhân vật trẻ em anh hùng trong văn học thiếu nhi
giai đoạn này phản ánh khát vọng cống hiến cho quê hƣơng đất nƣớc của thế hệ trẻ
đƣơng thời.
Trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975, bên cạnh hình tƣợng nhân vật
trẻ em anh hùng trong chiến đấu, hình tƣợng nhân vật trẻ em yêu lao động, tích cực
tham gia việc xây dựng nông thôn mới cũng đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa. Đó
là cu Tý trong Ngày công đầu tiên của cu Tý của Bùi Hiển. Ngày đầu tiên cu Tý đi
chăn nghé đƣợc tính công trong thời bao cấp đƣợc nhà văn kể bằng giọng văn vui tƣơi,
dí dỏm. Hình ảnh cu Tý - một công dân nhỏ tuổi hăng hái lao động với dáng vẻ thấp
còi, đội nón lá lon ton dắt nghé ra đồng hiện lên thật ngộ nghĩnh đáng yêu. Diễn biếm
tâm lí và hành động của cu Tý khi dắt nghé ra đồng đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ, chân
thật. Hình tƣợng nhân vật cu Lý vì thế trở nên gần gũi hơn với độc giả nhỏ tuổi.
Hình ảnh nhân vật trẻ em tích cực thực hiện các phong trào Kế hoạch nhỏ để
góp phần xây dựng các hợp tác xã măng non hiện lên sinh động qua hàng loạt các
truyện ngắn của Trần Thanh Địch, Tô Hoài, Văn Giang. Đó là các bạn nhỏ: Thiều, Tự,
Lía trong Tổ tâm giao của Trần Thanh Địch; Hợi, Mấu, Sung, Mận trong Xã viên mới
của Văn Giang; Thơm, Cam, Chấn trong Hợp tác xã của chúng em của Tô Hoài. Nhân
22
vật trẻ em đƣợc khắc họa thông qua những hoạt động nhƣ: bẫy chuột, mót lúa, bắt sâu,
cuốc đất vỡ ruộng hoang, đi cấy …Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong sinh hoạt đời
thƣờng hiện lên với lòng nhiệt tình, sự hăng hái tích cực, ý thức trách nhiệm. Tuy
nhiên, nét hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch của trẻ em ít đƣợc các nhà văn miêu tả. Vì
thế, những nhân vật này chƣa thực sự gây đƣợc ấn tƣợng với độc giả.
Nói về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 –
1975 phải kể đến những nhân vật trẻ em là học sinh với quá trình nhận thức và trƣởng
thành nhanh chóng. Đó là cô bé Hà trong Những tia nắng đầu tiên của Lê Phƣơng
Liên; chú bé Sinh trong Chú bé sợ toán của Hải Hồ; Việt trong Mái trường thân yêu
của Lê Khắc Hoan. Nét chung của những nhân vật này là biết nghe lời ngƣời lớn, tự
nhận thức đƣợc những khuyết điểm của bản thân và biết sửa đổi, hoàn thiện. Nhân vật
hiện lên nhƣ những hình mẫu lý tƣởng cho những công dân nhỏ tuổi, mang bóng dáng
của một ngƣời lớn thu nhỏ. Vì thế, các nhân vật này không có đƣợc nét hồn nhiên,
trong sáng, vô tƣ đúng tuổi của trẻ thơ.
Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975 còn
có sự xuất hiện của những nhân vật nêu gƣơng. Những nhân vật có thật trong lịch sử
nhƣ Trần Quốc Toản, Kim Đồng… đƣợc Nguyễn Huy Tƣởng, Tô Hoài khắc họa sinh
động, chân thật trong các truyện lịch sử nhƣ: Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kim Đồng. Bút
pháp lý tƣởng hóa đƣợc các nhà văn sử dụng trong việc khắc họa ngoại hình và miêu
tả những chiến công của các nhân vật lịch sử nhằm mục đích nêu gƣơng tốt.
Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975, chúng
tôi nhận thấy bên cạnh kiểu nhân vật anh hùng, nhân vật nêu gƣơng, kiểu nhân vật trẻ
em bất hạnh, nhân vật trẻ em hồn nhiên mơ mộng cũng đƣợc các nhà văn tập trung
khắc họa. Điều đó đƣợc thể hiện rõ nét trong các sáng tác của Duyên Anh – vị chủ bút
của tuần báo Tuổi Ngọc. Những đứa trẻ bị ruồng bỏ không biết cha mẹ mình là ai,
những đứa trẻ nghèo chịu nhiều thiệt thòi, những đứa trẻ sống bụi đời bằng nghề đánh
giày, ăn xin, cƣớp giật hiện lên chân thật trong những trang viết của Duyên Anh. Đó là
Quý đen, Danh, Lựa trong Giấc mơ một loài cỏ; Dậu, Hƣờng trong Ánh mắt trông
theo; Trần Đại, Jeams Dean Hùng trong Điệu ru nước mắt; Diễm Châu trong Châu
Kool; Tâm trong Dấu chân sỏi đá; Mai trong Con sáo của em tôi… Bên cạnh những
truyện viết về những đứa trẻ bất hạnh, Duyên Anh còn dành nhiều trang viết về những
đứa trẻ hồn nhiên, mơ mộng. Đó là Nhân, Thủy, Long trong Áo tiểu thư, Khoa trong
23
Tuổi mười ba, Anh Chi, Chƣơng trong Phượng vĩ … Với giọng văn biến hóa linh
hoạt, Duyên Anh đã góp phần tạo nên sự đa dạng cho hình tƣợng nhân vật trẻ em trong
văn học thiếu nhi giai đoạn này.
Nhìn chung, nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn từ 1945 đến 1975
đã trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trẻ em đƣợc đặt trong nhiều mối quan
hệ, nhiều môi trƣờng khác nhau: chiến trƣờng, gia đình, trƣờng học, nông thôn, thành
thị, miền núi … Đặc trƣng cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1975 là
nền văn học cách mạng mang tính đại chúng, văn học mang đậm khuynh hƣớng sử thi
và cảm hứng lãng mạn. Do đó, nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn này
thƣờng là những chiến sĩ nhỏ tuổi trong chiến đấu hay những công dân nhỏ tuổi trong
sinh hoạt đời thƣờng. Nhân vật thƣờng là ngƣời thật, việc thật với tính chất nêu gƣơng
tốt. Nhân vật trẻ em đƣợc xây dựng theo hình mẫu ngƣời lớn thu nhỏ. Ngôn ngữ của
nhân vật mang diễn ngôn của thời đại. Nhân vật trẻ em hiện lên chủ yếu thông qua
hành động. Những yếu tố nhƣ ngoại hình, diễn biến tâm lí ít đƣợc nhà văn tập trung
khai thác.
1.2.3. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi sau 1975
Từ sau 1975, lực lƣợng sáng tác cho thiếu nhi đã trở nên đông đảo với sự góp
mặt của hàng loạt các cây bút sung sức nhƣ: Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, Phùng
Quán, Ma Văn Kháng, Hồ Phƣơng, Trần Hoài Dƣơng, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần
Mạnh Hảo, Quế Hƣơng, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Diệu Thanh,
Nguyễn Ngọc Tƣ, Văn Thành Lê, … Các nhà văn tâm huyết với mảng văn học thiếu
nhi đã bắt đầu có những tìm tòi, đổi mới trong cách viết về trẻ em. Những thay đổi về
văn hóa xã hội dẫn đến những quan niệm mới của nhà văn về thiếu nhi. Đặc biệt, sự ra
đời và phát triển của ngành tâm lí học trẻ em đã tạo cơ sở, tiền đề cho các nhà văn hiểu
rõ hơn về đặc điểm tâm lí lứa tuổi trẻ em. Từ đó, cách nhà văn có thể đi sâu miêu tả
đời sống tâm lí trẻ thơ một cách tự nhiên hơn.
Trong văn học thiếu nhi sau 1975, bên cạnh kiểu nhân vật trẻ em hồn nhiên,
nhân vật trẻ em dũng cảm, kiểu nhân vật trẻ em là nạn nhân của chiến tranh, nhân vật
trẻ em trải nghiệm, nhân vật trẻ em với những xúc cảm đầu đời của tuổi mới lớn cũng
đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa. Đặc biệt, kiểu nhân vật trẻ em trải nghiệm, nhân
vật trẻ em là nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của bạo lực gia đình hiện lên đầy ám
ảnh. Qua đó, ta thấy đƣợc những trăn trở của nhà văn về thân phận bất hạnh của trẻ
24
em. Nhân vật trẻ em đƣợc đặt trong mối quan hệ gia đình với những mâu thuẫn, bi
kịch trong cuộc sống đời thƣờng do sự tác động của nền kinh tế thị trƣờng. Số phận
của những đứa trẻ ở nông thôn và thành thị hiện lên một cách chân thực với những
mảnh đời cụ thể. Đặc biệt, hình tƣợng nhân vật trẻ em – với những rung động đầu đời
của tình yêu học trò đƣợc nhiều nhà văn tập trung khắc họa đã tạo nên sự khởi sắc cho
văn học thiếu nhi.
Bùi Thanh Truyền trong bài viết Văn học thiếu nhi sau 1986 từ cái nhìn toàn
cảnh đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 cho rằng: “Lúc này văn học viết cho
tuổi thơ cũng đã có một cái nhìn thật hơn, sâu hơn, toàn diện hơn đối với cuộc sống”
(Bùi Thanh Truyền, 2016. tr.46). Hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của chiến
tranh hiện lên rõ nét trong các sáng tác của Bùi Minh Quốc, Phùng Quán, Thanh Quế,
Nguyễn Ngọc Tƣ. Tuân Và Lƣợng trong Hồi đó ở Sa Kỳ của Bùi Minh Quốc sinh ra
và lớn lên trong thời chiến, chúng phải chịu nhiều thiệt thòi khi đƣợc sinh ra trong tù,
lớn lên chƣa bao giờ đƣợc biết mặt cha. Bất hạnh của những đứa trẻ trong chiến tranh
đó là phải chết vì bom đạn của kẻ thù. Quỳnh sơn ca trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng
Quán chết khi ƣớc mơ vẫn còn dang dở. Thấn, Một trong Cát cháy của Thanh Quế
chết trong lúc làm giao liên. Cái chết của các em gắn liền với nỗi đau của dân tộc bị kẻ
thù giày xéo. Không chỉ dừng lại ở đó, sự bất hạnh của trẻ em còn đƣợc các nhà văn
miêu tả gắn liền với nỗi đau da cam. Đọc Tùy bút phải lòng của Nguyễn Ngọc Tƣ,
chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh những đứa trẻ tật nguyền do di chứng của chất độc màu
da cam. Những đứa trẻ không thể đi lại bình thƣờng, mọi sinh hoạt thƣờng ngày cũng
không thể tự làm đƣợc mà phải nhờ cha mẹ già yếu. Nỗi đau đó dai dẳng, ám ảnh
khiến ngƣời đọc quặn thắt tim gan. Nếu trong văn học trƣớc 1975, sự hy sinh của nhân
vật trẻ em gắn liền với chiến công mang âm hƣởng ngợi ca thì sau 1975, với cảm thức
nhìn nhận lại, sự hy sinh của nhân vật trẻ em lại gắn liền với những trăn trở, suy tƣ về
nỗi đau của chiến tranh. Các nhà văn không hề né tránh khi phản ánh hiện thực khốc
liệt đó. Có thể nói, hậu quả chiến tranh thật nặng nề và khủng khiếp. Những đứa trẻ vô
tội trở thành nạn nhân của chiến tranh thật đáng thƣơng.
Nhân vật trẻ em là nạn nhân của đời sống hiện lên qua hàng loạt các tác phẩm
của Ma Văn Kháng, Khánh Hoài, Quế Hƣơng, Phạm Thị Bích Thủy, … Trong Côi cút
giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng, hai anh em Duy, Khảm hiện lên thật đáng thƣơng.
Bố đi bộ đội, mẹ bỏ đi, hai anh em sống cùng với bà nội đã ngoài sáu mƣơi tuổi.
25
Lƣơng hƣu ít ỏi của bà nội là nguồn thu nhập nuôi sống ba bà cháu. Cảnh khốn cùng,
túng thiếu của ba bà cháu khiến ngƣời đọc không khỏi xót xa. Tâm hồn non nớt của
một đứa trẻ không thể nào hiểu đƣợc vì sao mẹ lại bỏ anh em nó để đi theo ông lái xe.
Khi đã mƣời lăm tuổi, nhớ về mƣời năm trƣớc, Duy vẫn luôn day dứt về việc bị mẹ bỏ
rơi. Thiếu thốn tình cảm của bố mẹ, cuộc sống khốn cùng khiến Duy luôn nặng âu lo.
Điều khiến ngƣời đọc không khỏi xót xa khi đọc tác phẩm này đó là việc ba bà cháu
đều cần đƣợc che chở, chăm sóc, cần có chỗ để nƣơng tựa nhƣng bất đắc dĩ lại phải
nƣơng tựa nhau mà sống. Nhƣng vƣợt lên tất cả, tình yêu thƣơng của bà, đã giúp hai
anh em khôn lớn nên ngƣời. Điều đáng quý là trải qua bao khó khăn, Duy và Khảm
vẫn giữ đƣợc sự lƣơng thiện, luôn lạc quan tin tƣởng vào tƣơng lai.
Viết về những đứa trẻ bất hạnh, bị bỏ rơi, thiếu thốn tình cảm của bố mẹ không
chỉ có Ma Văn Kháng. Trong Cuộc chia tay của những con búp bê, Khánh Hoài cũng
đã đề cập đến vấn đề này. Hai anh em Thành và Thủy trong phải sống thiếu thốn tình
cảm khi bố mẹ li hôn. Những đứa trẻ yêu thƣơng, gắn bó khăng khít với nhau lại buộc
phải lìa xa nhau vì sự ích kỷ của bố mẹ chúng.
Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975 không chỉ đề cập đến hình tƣợng trẻ em bất
hạnh mà còn khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em hồn nhiên, tinh nghịch. Đọc các
sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, ta thấy rõ điều đó. Trong các
truyện của Nguyễn Nhật Ánh, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên với tất cả sự trong
trẻo, nghịch ngợm, đáng yêu. Hình ảnh Tin trong Đảo mộng mơ của Nguyễn Nhật Ánh
hiện lên đáng yêu với ƣớc mơ đƣợc làm chúa đảo. Cu Mùi, Hải cò, Tí sún, Tũn trong
Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh ƣớc mơ định nghĩa lại thế giới,
đƣợc thỏa sức vui đùa, sáng tạo những trò chơi mới. Đọc Vừa nhắm mắt vừa mở cửa
sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, ta bắt gặp hình ảnh những nhân vật trẻ em hồn nhiên
đáng yêu qua lời kể của nhân vật tôi – Trí Dũng - cậu bé mƣời tuổi. Đó là con Hồng
mít ƣớt, thằng Toàn hiền khô. Vẻ đáng yêu của Trí Dũng hiện lên qua chiếc răng
khểnh, qua việc nó cƣời suốt ngày. Miêu tả sự hồn nhiên tinh nghịch của trẻ thơ bằng
giọng văn dí dỏm, các nhà văn bộc lộ cái nhìn nâng niu, trân trọng đối với trẻ em,
đồng thời gián tiếp gửi gắm thông điệp đối với ngƣời lớn – những bậc phụ huynh,
đừng đánh cắp tuổi thơ của con, hãy để trẻ em đƣợc sống đúng với lứa tuổi của mình.
Trong văn học thiếu nhi giai đoạn sau 1975, hình tƣợng nhân vật trẻ em với
những cảm xúc đầu đời trong sáng hiện lên chân thật trong những sáng tác của Nguyễn
26
Nhật Ánh, Trần Thiên Hƣơng, Nguyễn Thị Châu Giang, Phong Linh …Nổi bật hơn cả
là Nguyễn Nhật Ánh với hàng loạt các tác phẩm nhƣ: Còn chút gì để nhớ, Cô gái đến
từ hôm qua, Phòng trọ ba người, Mắt biếc, Hạ đỏ …
Tóm lại, có thể thấy hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt
Nam từ chỗ xuất hiện ít ỏi, mờ nhạt, là đối tƣợng để giáo huấn trong giai đoạn trƣớc
1945 đến nay đã trở thành hình tƣợng nhân vật trung tâm, đƣợc khắc họa với đầy đủ
diện mạo, tính cách và diễn biến tâm lí phức tạp. Sự chuyển biến này có thể dễ dàng
nhận thấy qua cách các nhà văn định danh nhân vật trẻ em. Trong văn học thiếu nhi từ
1945 đến 1975, tên nhân vật trẻ em đƣợc định danh cụ thể nhƣ: Giang (Dưới chân cầu
Mây - Nguyên Hồng); Toàn (Em bé bên bờ sông Lai Vu - Vũ Cao); Thiều, Tự, Lía (Tổ
tâm giao - Trần Thanh Địch); Hợi, Mấu, Sung, Mận (Xã viên mới - Văn Giang);
Thơm, Cam, Chấn (Hợp tác xã của chúng em - Tô Hoài); Hà (Những tia nắng đầu tiên
- Lê Phƣơng Liên); Sinh (Chú bé sợ toán - Hải Hồ); Việt (Mái trường thân yêu - Lê
Khắc Hoan). Sau 1975 nhân vật trẻ em đƣợc định danh bằng nhiều cách khác nhau: có
những nhân vật đƣợc định danh bằng những tên gọi cụ thể, có những nhân vật đƣợc
định danh bằng những tên phiếm định. Bên cạnh đó, việc các nhà văn ngày càng chú
trọng miêu tả ngoại hình, hành động và diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật trẻ em
đã giúp cho hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật, gần gũi, sinh động hơn. Sự
chuyển biến trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em gắn liền với quá trình
phát triển của văn học thiếu nhi. Trải qua quá trình dài đầy thăng trầm, đến nay, văn
học thiếu nhi Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, phong phú đa dạng về nội dung và
hình thức nghệ thuật, trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn học dân tộc.
Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ nhƣ hiện nay, văn học thiếu nhi càng
chứng tỏ đƣợc vai trò quan trọng của mình trong việc góp phần giáo dục trẻ em.
Không chỉ góp phần định hƣớng sự phát triển nhân cách, góp phần bồi dƣỡng tâm hồn,
trí tuệ cho trẻ, văn học thiếu nhi còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục những
kỹ năng sống cần thiết cho trẻ em. Tuy nhiên, truyện viết cho thiếu nhi hiện nay vẫn
còn ít ỏi so với nhu cầu đọc của độc giả. Theo nhà văn Văn Thành Lê, nhiều truyện
thiếu nhi hiện nay vẫn là truyện viết về thiếu nhi theo con mắt của ngƣời lớn. Đặt
trong bối cảnh đó, có thể thấy những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
thực sự có ý nghĩa trong việc góp phần thúc đẩy văn học thiếu nhi đƣơng đại phát triển
đáp ứng yêu cầu đọc ngày càng cao của độc giả.
27
1.3. Nhà văn Võ Diệu Thanh và truyện viết cho thiếu nhi
1.3.1. Cuộc đời và văn nghiệp của Võ Diệu Thanh
Võ Diệu Thanh sinh năm 1975 tại Châu Phong, Tân Châu, An Giang. Vùng đất
này đƣợc coi là cái nôi của văn hóa Óc Eo và vƣơng quốc Phù Nam. Nơi đây có những
con ngƣời mộc mạc giản dị, bộc trực, thẳng thắn, trọng nghĩa, trọng tình. Đây còn là
vùng đất văn hóa với những câu hò Nam Bộ, với đờn ca tài tử ngọt ngào mà sâu lắng.
Điều này đã hun đúc nên một Võ Diệu Thanh nhiệt tình, tƣơi tắn trong cuộc sống
thƣờng ngày và một Võ Diệu Thanh mộc mạc, suy tƣ trong những trang viết về An
Giang, về miền Tây Nam Bộ. Những nét đẹp văn hóa của con ngƣời, thiên nhiên cảnh
quan Nam Bộ chính là những tiền đề quan trọng tạo nên màu sắc văn hóa trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Sinh ra trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nƣớc, có ba
từng là phóng viên chiến trƣờng, vừa cầm súng chiến đấu vừa tham gia viết bài cho tờ
báo “Chiến thắng”, chị thừa hƣởng từ cha tƣ chất của một ngƣời nghệ sĩ và sự gan góc,
nhiệt thành của một chiến sĩ cách mạng khi dám nói thẳng, nói thật, dám vạch trần
những tiêu cực trong xã hội. Có lẽ vì thế mà Võ Diệu Thanh bén duyên với văn
chƣơng từ rất sớm. Dòng máu nghệ thuật chảy trong chị luôn thôi thúc chị cầm bút bên
cạnh sự nghiệp cầm phấn. Đọc những sáng tác của chị, ngƣời đọc dễ dàng nhận ra
“chất báo chí” trong những trang viết dồn nén nhiều thông tin với giọng văn tỉnh táo,
mạch lạc.
Lúc lên năm tuổi, Võ Diệu Thanh phải xa ba mẹ, xa các anh chị em của mình
để sống cùng bà nội. Bà nội lớn tuổi ở một mình, cô bé Diệu Thanh ở cùng để bầu bạn
và chăm sóc bà. Khó để nói hết những khó khăn mà hai bà cháu gặp phải. Cô bé Diệu
Thanh ngày ấy, ngoài việc đi học phải đi mót lúa, đan lƣới, bắt tép, trồng rau bán lấy
tiền phụ giúp bà trang trải cuộc sống. Hơn mƣời năm tuổi thơ sống cùng nội, hơn mƣời
năm tuổi thơ thiếu thốn tình cảm của ba mẹ khiến cô bé Diệu Thanh luôn cảm thấy cô
đơn. Quãng đƣờng từ Rạch Giá – Kiên Giang (nơi ba mẹ chị ở) lên Tân Châu – An
Giang (nơi chị sống cùng nội) xa xôi cách trở nên mỗi năm chị chỉ đƣợc về thăm nhà
mấy ngày vào dịp Tết hoặc hè. Vì thế, nỗi buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ quê luôn thƣờng
trực, da diết trong chị. Cô đơn luôn bủa vây những tháng năm tuổi thơ của cô bé Võ
Diệu Thanh. Điều này đƣợc nhà văn nhiều lần chia sẻ với các phóng viên của các báo.
Báo Văn học Sài Gòn từng có bài viết về nhà văn Võ Diệu Thanh. Bài báo có đoạn:
28
“Tuổi thơ vì hoàn cảnh riêng chị không có bạn bè mà cũng ít được gần gũi ba mẹ. Mỗi
ngày cứ tự chơi tự trò chuyện, có lúc nói với bông điên điển, lúc trò truyện với cái ghế
trong góc nhà … Khi giận ai, cũng một mình ngồi khóc đối thoại với hư không trong
tâm tư của một đứa trẻ. Lắm lúc chơi trò công chúa hoàng tử cũng cùng một lúc đóng
hai vai” (Tiểu Quyên, 2019). Nhớ lại những năm tháng tuổi thơ của mình, nhà văn
chia sẻ thêm: “Tôi đã lớn lên như thế, cái gì cũng tự nói với mình tự bên trong. Lớn
lên trong cô đơn triền miên” (Tiểu Quyên, 2019). Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong
những truyện ngắn viết cho thiếu nhi của chị. Đọc truyện Những cậu bé mặt trời,
ngƣời đọc thấy một cậu học sinh có thói quen rất lạ – nói chuyện với đồ vật. Đó chính
là Tì Ti. Những lúc nhớ mẹ, Tì Ti thƣờng nói chuyện với đôi dép, cây bàng trƣớc sân
trƣờng, cái bậc cầu thang lên lầu, những viên gạch lót nền lớp học.
Những thiệt thòi trong những năm tháng tuổi thơ khi phải sống xa ba mẹ,
những nhọc nhằn khi phải vất vả mƣu sinh cùng nội đã giúp Võ Diệu Thanh dễ dàng
thông cảm với những thiệt thòi, những bất hạnh mà trẻ em phải gánh chịu, đồng thời
giúp chị thấu hiểu những suy nghĩ, những ƣớc muốn của trẻ em. Những khao khát giản
dị mà chính đáng của một đứa trẻ nhƣ: đƣợc sống gần ba mẹ, đƣợc ngƣời lớn thấu
hiểu, đƣợc thừa nhận, đƣợc có bạn để trò chuyện đã đƣợc nhà văn gửi gắm trong
những sáng tác viết cho thiếu nhi của mình.
Tuổi thơ cô đơn, thiếu thốn tình cảm của ba mẹ; lúc kết hôn thì hôn nhân không
hạnh phúc “cuộc hôn nhân bắt đầu bằng lựa chọn của chị và kết thúc cũng do chị
quyết định từ bỏ” (Linh Thoại, 2010). Đổ vỡ sau hôn nhân khiến chị và cả con trai
của chị rơi vào khủng hoảng tinh thần suốt một thời gian dài. Nhƣng, lúc “số phận
trêu đùa” nhất là lúc nghị lực và lòng lạc quan trong chị lại trỗi dậy mãnh liệt nhất.
Và chị “Vẫn yêu cuộc sống dù nước mắt cứ chảy” (Linh Thoại, 2010). Trò chuyện
cùng chúng tôi, chị bộc bạch: “Hình tượng người mẹ trong những tác phẩm thiếu
nhi không mang dáng dấp riêng tôi mà nó là má tôi, chị tôi hay những phụ huynh
nào đó tôi từng yêu quý. Bởi bản thân tôi đã từng thất bại ở thời đầu hôn nhân và
thời đầu làm mẹ. Những thất bại là một vết thương lớn nhưng cũng là một bài học
lớn để tôi biết chắt lọc, biết công nhận những giá trị tích cực tôi nhận từ cuộc sống.
Tôi không có cái tôi của một người mẹ hoàn hảo nên tôi có thể thông cảm được
nhiều hình thức mẹ xung quanh mình. Qua những gì tôi học hỏi được từ những
người mẹ tiến bộ mà hình tượng người mẹ mang nét đẹp lam lũ nhẹ nhàng hơn”
29
(Xem phụ lục 7 - Phỏng vấn nhà văn Võ Diệu Thanh). Bằng trái tim nồng ấm yêu
thƣơng của một ngƣời mẹ hiền hậu, bằng nhiệt huyết gieo con chữ của một cô giáo
tài năng, Võ Diệu Thanh đã viết những trang văn rất đời, rất tình về những ngƣời
phụ nữ khổ cực, về những trẻ em bất hạnh. Những trang viết của chị, đặc biệt là
những sáng tác viết cho thiếu nhi đã chạm đến trái tim của độc giả khắp cả nƣớc.
Bởi, đó là tiếng lòng của ngƣời từng trải. Chị đã nói hộ nỗi lòng của bao ngƣời vợ,
ngƣời mẹ khổ cực, bao trẻ em bất hạnh không chỉ ở An Giang, không chỉ ở Nam Bộ
mà ở khắp thôn xóm, bản làng Việt Nam.
Võ Diệu Thanh hiện là giáo viên dạy bộ môn Mỹ thuật tại Trƣờng tiểu học “C”
Chợ Vàm (Huyện Tân Phú, tỉnh An Giang). Sống trong khu tập thể dành cho giáo viên
ngay trong trƣờng học nơi chị công tác, vì thế chị có nhiều thời gian để gần gũi, quan
sát, lắng nghe học sinh của mình. Đây là điều kiện thuận lợi để chị có thể nắm bắt
đƣợc tâm sinh lí của trẻ em, hiểu đƣợc các em muốn gì và cần gì từ ngƣời lớn. Gần ba
mƣơi năm gắn bó với nghề dạy học, cô giáo Võ Diệu Thanh luôn xem học trò của
mình là những ngƣời bạn nhỏ tuổi. Dạy môn Mỹ thuật – môn học không bị đặt nặng về
kiến thức, điểm số, không bị áp lực về thời gian, thành tích, Võ Diệu Thanh đã tận
dụng lợi thế đó để giúp học sinh phát huy trí tƣởng tƣợng phong phú, khả năng sáng
tạo trong những giờ dạy vẽ của mình. Những học sinh gặp khó khăn về khả năng diễn
đạt ngôn ngữ hay chậm về tính toán các con số, luôn có cơ hội để đƣợc tỏa sáng trong
những giờ học môn Mỹ thuật cùng cô giáo Diệu Thanh (Xem phụ lục 18 – Hình ảnh
Võ Diệu Thanh cùng học trò).
Tha thiết yêu trẻ, Võ Diệu Thanh từng đứng ra tổ chức nhiều hoạt động vui
chơi, trải nghiệm cuộc sống cho học sinh và cho thiếu nhi. Năm 2021, chị từng phối
hợp với Nhà xuất bản Đà Nẵng tổ chức chƣơng trình: Chương trình tọa đàm Sách và
kĩ năng tự học, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm – Nhận diện chính mình giữ thói tật đám
đông… Thông qua các hoạt động bổ ích thiết thực nhƣ vậy, mọi ngƣời sẽ nhận thấy
một Võ Diệu Thanh thật hồn nhiên, lạc quan yêu đời với nụ cƣời luôn rạng rỡ trên
môi. Khoảng cách giữa nhà văn và độc giả nhỏ tuổi vì thế đƣợc xích lại gần hơn.
Cầm bút với tâm thế của một ngƣời mang nợ với mảnh đất An Giang giàu
truyền thống văn hóa, mang nợ với cuộc đời bởi những điều bất công ngang trái trong
cuộc sống hiển hiện trƣớc mắt mà chƣa ai nói đến, đặc biệt là mang nợ với những
30
ngƣời phụ nữ, những nạn nhân của chiến tranh, những trẻ em vùng sông nƣớc, Võ
Diệu Thanh đã viết bền bỉ, đều đặn nhƣ con tằm nhả tơ không biết mệt mỏi.
Bắt đầu sáng tác từ năm 18 tuổi, Võ Diệu Thanh đã gặt hái đƣợc nhiều thành
công trong sự nghiệp. Tham gia nhiều cuộc thi về sáng tác, chị liên tiếp giành đƣợc
những giải thƣởng lớn từ cấp tỉnh, cấp miền đến cấp quốc gia nhƣ: giải Nhất văn
chƣơng Thủ Khoa Nghĩa do Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh
An Giang tổ chức năm 1994; giải Khuyến khích cuộc thi sáng tác văn học tỉnh An
Giang kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc tổ chức năm 2005
với tác phẩm Dòng sông quê; giải C do Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học
Nghệ thuật Việt Nam trao tặng năm 2009 với tập truyện ngắn Lời thề đá; giải Nhì
cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi hai mƣơi lần IV năm 2010 với tác phẩm Cô con
gái ngỗ ngược; giải Nhất cuộc thi viết truyện ngắn Yume 2011 với tác phẩm Người
đàn bà đa tình; giải Ba cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do Hội Nhà văn Đan
Mạch phối hợp Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức năm 2015 với tác phẩm Tiền của thần
cây. Đặc biệt tham dự cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV
năm 2011, chị vinh dự nhận đƣợc giải Nhì với tác phẩm Giống mùa nghịch và giải
khuyến khích với tác phẩm Mười bảy cây số đường ma. Ngoài ra, nhà văn còn đƣợc
nhiều tạp chí lớn tặng thƣởng. Năm 2011, nữ văn sĩ đƣợc Tạp chí Hội nhà văn Việt
Nam tặng thƣởng tác phẩm hay tạp chí nhà văn khi tham gia viết truyện ngắn Đường
về Cheo Reo. Năm 2017, chị vinh dự đƣợc Tổng cục chính trị Tạp chí Văn nghệ Quân
đội tặng thƣởng khi tham gia viết bút kí Sống như một dòng sông (Xem phụ lục 18 -
Hình ảnh các giải thƣởng nhà văn Võ Diệu Thanh đạt đƣợc).
Với những đóng góp nói trên, Võ Diệu Thanh đã khẳng định đƣợc tên tuổi của
mình trong văn đàn. Chị là nhà văn trẻ duy nhất của đồng bằng Sông Cửu Long đƣợc
Hội đồng chuyên môn và Ban nhà văn trẻ giới thiệu lên Ban chấp hành hội và đƣợc kết
nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 2012.
Sau gần ba mƣơi năm cầm bút (tính từ 1994 – 2022), Võ Diệu Thanh đã có hơn
hai mƣơi đầu sách đƣợc xuất bản. Các sáng tác của chị ở nhiều thể loại khác nhau nhƣ
tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, kí. Và dù viết ở thể loại nào, chị cũng tạo đƣợc dấu
ấn, trong đó truyện ngắn là thể loại nhà văn có thế mạnh hơn cả. Các giải thƣởng lớn
mà tác giả có đƣợc đa phần đều là những sáng tác đƣợc viết theo thể loại truyện ngắn.
Các tác phẩm chính của Võ Diệu Thanh theo các thể loại bao gồm: tiểu thuyết Lần đầu
31
thấy trăng, Viên đạn về trời; truyện ngắn Lời thề đá, Cô con gái ngỗ ngược, Đường về
Cheo Reo, Người đàn bà đa tình, Mười bảy cây số đường ma, Giống mùa nghịch,
Những cậu bé mặt trời; truyện dài Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Cửa sổ
hình tia chớp, Gạt nước mắt đi, Con nước say mèm, Tiền của thần cây, Quà tặng của
ngày mai; kí sự Về hành tinh ký ức; bút kí Sống như một dòng sông, tản văn Bờ vai
cho một bờ vai; biên khảo Muôn dặm sầu giăng, truyện tranh Bí mật bên khóm hoa
quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu vườn trong mơ, …
Các đề tài trong sáng tác của Võ Diệu Thanh thƣờng là trẻ em, phụ nữ, sinh
thái… Đọc các tác phẩm của Võ Diệu Thanh ngƣời đọc sẽ nhận thấy giọng văn đa
thanh sắc: quặn thắt, xé lòng khi viết về chiến tranh; trăn trở, quyết liệt khi viết về môi
trƣờng sinh thái; trầm tƣ, sâu lắng khi viết về phụ nữ và cũng thật tƣơi tắn, lạc quan
khi viết về thiếu nhi.
Võ Diệu Thanh đặc biệt tâm huyết với mảng văn học thiếu nhi. Với chị, viết
truyện cho thiếu nhi không phải là một cuộc “dạo chơi”, thử sức mà đó là niềm đam
mê, là sở trƣờng. Cơ duyên nhà văn đến và gắn bó với văn học thiếu nhi xuất phát từ
những ẩn ức thời thơ ấu, từ trách nhiệm của một nhà giáo, một nhà văn thiết tha yêu
trẻ thơ. Đó cũng là điều mà Nguyễn Nhật Ánh từng tự bạch: “Tôi chọn viết cho các
em, một phần vì tôi từng đi dạy học, từng làm chủ nhiệm câu lạc bộ thiếu nhi, nhưng
điều chính yếu là tôi luôn bị ám ảnh bởi những kí ức về tuổi thơ” (Vân Thanh, 2006,
tr.51). Trò chuyện với phóng viên báo Hà Nội mới, Võ Diệu Thanh đã trải lòng về cảm
hứng viết truyện cho thiếu nhi của mình rất chân thành. Điều này bắt nguồn từ những
điều rất bình dị, gần gũi “Những câu chuyện ngộ nghĩnh, lí lắc mà vô cùng thú vị của
đám học trò đang tuổi ăn tuổi lớn” (Quỳnh Anh, 2020). Viết cho thiếu nhi điều mà nhà
văn trăn trở nhất đó là làm sao để truyền tải những thông điệp về phƣơng pháp giáo
dục và tự giáo dục đến độc giả (các thầy cô, các bậc phụ huynh, các em thiếu nhi) một
cách hiệu quả nhất. Với gần ba mƣơi năm dạy học sinh tiểu học, gần ba mƣơi năm làm
mẹ, gần ba mƣơi năm cầm bút, hơn ai hết chị hiểu đƣợc rằng để dạy trẻ không thể chỉ
cần đến những cuốn sách giáo khoa mà còn cần đến những truyện dành riêng cho trẻ
em.
Đề tài nhân vật trẻ em là đề tài nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu
Thanh. Những truyện tranh nhƣ: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu
vườn trong mơ đƣợc in khổ lớn và có mặt trong các tủ sách thƣ viện của các trƣờng
32
tiểu học. Điều đó cho thấy, các sáng tác cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đƣợc các
bạn nhỏ đón nhận nồng nhiệt. Có thể nói, Võ Diệu Thanh là một trong những nhà văn
trẻ có sức viết mạnh mẽ hiện nay, đặc biệt là mảng văn học thiếu nhi. Với sự bền bỉ
cùng sự biến hóa đa dạng trong cách viết, Võ Diệu Thanh đang dần khẳng định đƣợc
tài năng của mình và có vị trí nhất định trong lòng độc giả.
Ngoài sáng tác văn chƣơng, Võ Diệu Thanh còn đƣợc biết đến với vai trò là
một nhạc sĩ, nhà báo. Chị là tác giả của nhiều ca khúc thuộc thể loại ca cổ nhƣ: Theo
cô chiều tan trường, Về cù lao nghe em, Biển mặn quê mình. Ca khúc Theo cô chiều
tan trường vinh dự nhận đƣợc giải Ba trong Cuộc thi sáng tác ca cổ, dân ca ca ngợi
hình tƣợng ngƣời phụ nữ An Giang qua các thời kỳ tổ chức tại An Giang năm 2010
(Xem phụ lục 18 – Hình ảnh giải thƣởng nhà văn Võ Diệu Thanh đạt đƣợc). Tình yêu
đối với cổ nhạc cùng với vốn hiểu biết sâu sắc về loại hình nghệ thuật độc đáo này đã
giúp nữ văn sĩ thăng hoa cùng con chữ trong những trang viết cho thiếu nhi. Điều này
đƣợc thể hiện rất rõ trong truyện dài Quà tặng của ngày mai. Bên cạnh đó, chị còn là
cộng tác viên đắc lực cho các báo: Khăn quàng đỏ, Nông nghiệp Việt Nam, Báo An
Giang, Người đô thị, … Với kinh nghiệm nhiều năm viết truyện cho thiếu nhi, cái tên
Võ Diệu Thanh đã trở nên quen thuộc với các nhà nghiên cứu văn học. Chị vinh dự
đƣợc các nhà biên soạn sách giáo khoa mới Tiếng Việt 3 (bộ Chân trời sáng tạo) mời
viết bài tập đọc Hoa cỏ sân trường (trang 36, 37 tập 1) với bút danh Võ Diệu Thanh và
bài Ý tưởng của chúng mình trang 76 với bút danh Võ Hồng Thắng (Xem phụ lục 11 -
Hình ảnh các bài viết của Võ Diệu Thanh đƣợc in trong sách Tiếng Việt lớp 3 tập 1, bộ
sách Chân trời sáng tạo).
Trả lời phỏng vấn các báo, Võ Diệu Thanh nhiều lần bày tỏ quan niệm của
mình về nghề viết văn. Mới đây nhất trong bài viết Biến tấu với đường nghề, Võ Diệu
Thanh đã trải lòng về nghề. Theo chị, viết văn là “bay trên mười đầu ngón tay” (Nhiều
tác giả, 2022, tr.245). Trong bài viết này, nhà văn cũng khẳng định làm bất cứ nghề gì
muốn gặt hái đƣợc thành công thì phải yêu nghề, phải “tắm trong nghề” vì “Tắm trong
nghề đường nghề sẽ thuận lợi và thú vị hơn nhiều” (Nhiều tác giả, 2022, tr.249).
Theo Võ Diệu Thanh, văn học thiếu nhi đóng vai trò rất quan trọng đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Chia sẻ với phóng viên báo Lao động
thủ đô, chị tâm sự: “Văn học thiếu nhi không chỉ là phương tiện tốt nhất giúp các em
tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời sống mà còn là món ăn tinh thần bổ ích
33
nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển toàn diện về nhân cách cho các em” (BảoThoa,
2020). Đề cao chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi, nhà văn đồng thời cũng
khẳng định giá trị đích thực của văn chƣơng. Mới đây, các tác giả Lam Điền, Tiếu
Tùng trong bài viết 10 năm văn chương Việt đăng trên báo Tuổi trẻ Online, đã dẫn ý
kiến của nhà văn Võ Diệu Thanh khi đánh giá về văn chƣơng nƣớc nhà trong mƣời
năm trở lại đây nhƣ sau: “Đồng tiền có được từ văn không còn định giá bằng lớn nhỏ
mà định giá bằng độ lấp lánh mà tác giả nhìn thấy được” (Lam Điền, Tiếu Tùng,
2022). Theo chị, giá trị đích thực của một tác phẩm văn học không thể đo đếm bằng
hình thức, độ dài của văn bản. Những điều mà nhà văn nhận đƣợc từ việc sáng tác văn
chƣơng không phải bằng số tiền nhuận bút nhiều hay ít mà là việc tác giả nhìn thấy
đƣợc những hạt ngọc tâm hồn mà mình đã gieo trên những trang viết trở nên lấp lánh.
Những con chữ ấy đẹp và quý giá hơn bất kì viên kim cƣơng nào.
1.3.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
Võ Diệu Thanh có 20 tác phẩm đã xuất bản. Trong đó, riêng truyện viết cho
thiếu nhi, chị có 10 tác phẩm. Sắp tới, trong năm 2022, nhà văn sẽ cho ra mắt ba
truyện tranh viết cho thiếu nhi là: Đến chơi nhà Ông Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá và
Vua bắt trộm (Xem phụ lục 8, 9, 10 - Hình ảnh trang bìa ba tác phẩm). Từ đó, có thể
thấy mảng văn học thiếu nhi đƣợc nhà văn dành nhiều tâm huyết hơn cả.
Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đa dạng phong phú về thể loại,
bao gồm: truyện tranh, truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết. Những tác phẩm tiêu
biểu viết về nhân vật trẻ em trong sáng tác của Võ Diệu Thanh đó là: tiểu thuyết Lần
đầu thấy trăng; các truyện dài Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Tiền của thần
cây, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Quà tặng của ngày mai; tập truyện ngắn Những cậu bé
mặt trời và các truyện tranh khổ lớn: Khu vườn trong mơ, Chú ong bé bỏng, Bí mật
bên khóm hoa quỳnh.
Tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng ra mắt bạn đọc năm 2014. Tác phẩm viết về
cuộc đời của Dẫu, Dị, Hậu – những nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục. Qua
việc khắc họa những bất hạnh của trẻ em, tác giả lật tẩy những tiêu cực trong giáo dục
nhằm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội.
Siêu nhân cua là truyện dài đƣợc Võ Diệu Thanh sáng tác năm 2015. Tác phẩm
viết về những cô cậu học sinh tiểu học hồn nhiên, tinh nghịch đó là Nam, Hƣng, Mai.
Chúng mình bay đầy trời đƣợc sáng tác năm 2016. Đây là truyện dài tiếp nối câu
34
chuyện về ba bạn nhỏ Nam, Hƣng, Mai đã đƣợc nhà văn miêu tả trong Siêu nhân cua.
Bên cạnh ba bạn nhỏ đó, sự xuất hiện của nhân vật Quý với tình thƣơng nội sâu sắc đã
làm cho mạch truyện đƣợc tiếp nối một cách lôi cuốn, hấp dẫn.
Cùng trong năm 2016, Võ Diệu Thanh còn cho ra mắt hai truyện dài đó là: Tiền
của thần cây và Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Tiền của thần cây viết về nhân vật Bòn Bon
cùng các bạn Vĩ, Xuân nô đùa với những trò nghịch ngợm nhƣ trốn tìm, tắm sông. Tác
phẩm gồm 118 trang, đƣợc chia làm bốn phần (Phần 1: Bòn Bon nhát hơn con gái?,
Phần 2: Cứu bạn, Phần 3: Khi con chó đực làm mẹ; Phần 4: Tiền của thần cây). Bảng
đỏ cho xứ Bìm Bìm viết về cậu bé Dƣa Leo với quá trình nhận thức về tác hại của
những thói tật của con ngƣời. Tác phẩm gồm 115 trang chia làm 20 mục. Trong đó, có
những mục đƣợc nhà văn đặt tên rất ấn tƣợng nhƣ: Thơm tho nhƣ một ơ cá kho, Học
không vô chứ không phải là vô học, Lòng tốt nhiều khi là quan liêu, Đoạn đƣờng dài
tám ngàn câu thơ.
Tập truyện Những cậu bé mặt trời ra mắt bạn đọc năm 2017 do Nhà xuất bản
Kim Đồng phát hành. Tác phẩm gồm sáu truyện ngắn: Những cậu bé mặt trời, Khi hai
vua về một nhà, Thả diều, Bí mật theo cô, Tiền của thần cây, Cáp treo cho những mặt
trời. Các nhân vật trong tập truyện có những cái tên rất đáng yêu nhƣ: Tì Ti, thằng
Nhóc, Bòn Bon, con bé Sừng Trâu, cu Lý, bé Châu, Ngàn, Hà, Nhân, ... Mỗi nhân vật
trong tập truyện này có đặc điểm tính cách, số phận khác nhau, đƣợc nhà văn miêu tả
theo một cách riêng. Tác giả gọi các cậu bé đó là “mặt trời” tỏa sáng theo một cách
riêng. Đó là ánh sáng phát ra từ vẻ đẹp tâm hồn – sự hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch.
Quà tặng của ngày mai sáng tác năm 2021 viết về “biệt tài tí hon” – Thần đồng
đàn sến Khánh Hƣng. Truyện gồm 133 trang với 30 mục khác nhau. Hình ảnh ngƣời
thật, việc thật đƣợc nhà văn “tiểu thuyết hóa” một cách chân thật, sinh động. Những
thông điệp về phƣơng pháp giáo dục trẻ em đƣợc nhà văn gửi gắm qua lời kể dí dỏm
của nhân vật tôi – Chùa (Khánh Hƣng). Điều này góp phần làm cho truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh trở nên gần gũi hơn với độc giả.
Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh thu hút ngƣời đọc ngay từ nhan
đề tác phẩm. Những cái tên nhƣ: Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Những cậu
bé mặt trời, Bí mật bên khóm hoa quỳnh… có tác dụng khơi gợi trí tò mò của độc giả.
Siêu nhân cua ra đời khi những bộ phim hoạt hình về siêu nhân Gao, siêu nhân Nhện
tràn ngập thị trƣờng giải trí khiến trẻ em thích thú. Đọc siêu nhân cua, các bạn nhỏ có
35
thể nhận ra rằng: bản thân mình cũng có thể trở thành anh hùng nhƣ nhân vật Hƣng
trong truyện. Để trở thành anh hùng không nhất thiết phải biết bay, không cần có khả
năng biến hóa. Với lòng tốt, sự dũng cảm cùng với sự nhiệt tình sẵn sàng giúp đỡ bạn
bè, bạn đã là một siêu nhân chính hiệu rồi. Có thể nói, với cách đặt nhan đề nhƣ vậy,
Võ Diệu Thanh đã thu hút đƣợc đông đảo độc giả tìm đọc các truyện thiếu nhi của
mình.
Làm nên sức sống lâu bền cho truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
không chỉ nhờ nhan đề ấn tƣợng mà còn nhờ vào nội dung đơn giản, dễ hiểu và cách
viết dí dỏm, duyên dáng. Đọc các truyện của chị, độc giả sẽ dễ dàng nhận ra những bài
học sâu sắc về việc hoàn thiện nhân cách và những kỹ năng sống cần thiết.
Hơn thế nữa, trong các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có nhiều
hình vẽ minh họa ngộ nghĩnh. Đặc biệt hơn nữa là những bức vẽ đó do chính tác giả
vẽ. Là một giáo viên dạy Mỹ thuật cho học sinh tiểu học, hơn ai hết, Võ Diệu Thanh
biết thổi hồn vào những bức vẽ của mình. Những hình vẽ nguệch ngoạc, ngộ nghĩnh
đã góp phần tạo nên sức hút cho các tác phẩm. Bằng cách này, Võ Diệu Thanh đã làm
cho truyện của mình rất gần với truyện tranh. Chính điều này đã tạo nên sự thích thú
cho độc giả, nhất là các độc giả nhỏ tuổi.
Nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đó là viết về
những tiêu cực, viết về những phận đời nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội nhƣng các
tác phẩm vẫn lấp lánh tinh thần lạc quan, tin tƣởng vào phẩm giá của con ngƣời. Chính
điều này đã tạo nên dƣ vị ngọt ngào, ấm áp trong lòng độc giả sau khi đọc truyện viết
cho thiếu nhi của nhà văn đa năng này.
1.3.3. Nhân vật trẻ em – một yếu tính của đƣờng văn Võ Diệu Thanh
Hình tƣợng nhân vật trẻ em xuất hiện nhiều trong các sáng tác dành cho trẻ em
và cả sáng tác dành cho ngƣời lớn. Trong các truyện viết cho thiếu nhi, nhân vật trẻ em
xuất hiện nhiều. Mỗi tác phẩm có một, thậm chí ba hình tƣợng nhân vật trẻ em giữ vị
trí nhân vật trung tâm. Trong tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, bên cạnh ba nhân vật
chính là Dẫu, Dị, Hậu, các nhân vật trẻ em khác cũng đƣợc nhà văn đề cập đến đó là
các học sinh của trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi nhƣ: thằng Đực, thằng Tụ, nhỏ Tƣờng,
nhỏ Hà Vi; các chị em của Dẫu (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, chị Năm, thằng Bảy, thằng út
Dởm, út Nữa, út Thiệt). Trong truyện dài Siêu nhân cua, bộ ba Hƣng – Nam - Mai là
những nhân vật chính. Bên cạnh đó, trong tác phẩm này, còn có những nhân vật trẻ em
36
khác nhƣ: thằng Hào, thằng cua. Tiếp nối cốt truyện của Siêu nhân cua là Chúng mình
bay đầy trời. Các nhân vật Hƣng, Nam, Mai vẫn là những nhân vật chính. Cùng với
các nhân vật quen thuộc đó, Quý xuất hiện và trở thành nhân vật trung tâm của tác
phẩm này. Trong truyện dài Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Dƣa Leo là nhân vật trung tâm
xuất hiện xuyên suốt tác phẩm cùng chú Mèo Ma văn vẻ của mình. Bòn Bon là nhân
vật trung tâm trong truyện Tiền của thần cây. Cùng với đó, truyện dài này còn có các
nhân vật trẻ em khác đó là Vĩ và Xuân. Đặc biệt, tập truyện Những cậu bé mặt trời,
với sáu truyện ngắn, thế giới nhân vật trẻ em hiện lên đông đảo hơn. Đó là Tì Ti, Nhóc
trong truyện Những cậu bé mặt trời; Ngàn, Hà trong truyện Khi hai vua về một nhà; cu
Lý, bé Châu, bé Mai trong Thả diều; Nhã, Thuận, Thi trong Bí mật theo cô; Bòn Bon
trong Tiền của thần cây, Nhân trong Cáp treo cho những mặt trời. Trong truyện dài
Quà tặng của ngày mai, nhân vật trung tâm là Chùa (còn gọi là Khánh Hƣng). Cùng
với đó, Út Tiền, chị Hai (còn gọi là Mỹ Duyên) cũng là những nhân vật chính đƣợc
nhà văn tập trung khắc họa. Ngoài ra, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn
có các nhân vật trẻ em nhƣ: Bin (Bí mật bên khóm hoa quỳnh và Chú ong bé bỏng).
Trong sáng tác dành cho ngƣời lớn, nhân vật trẻ em hiếm khi xuất hiện. Đáng kể chỉ
có tiểu thuyết Viên đạn về trời với sự xuất hiện của nhân vật Cà Ri. Trong hệ thống
các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi kể trên, có những nhân vật đƣợc tác
giả tập trung khắc họa đầy đủ diện mạo, tính cách (Hƣng, nhỏ Mai, Nam, Chùa), có
những nhân vật nhà văn đi sâu miêu tả hành động, diễn biến tâm lí (cu Lý, Nhã, Nhân,
Ngàn, Bòn Bon, Út Tiền, Dẫu, Hậu, Dƣa Leo, Quý), cũng có những nhân vật tác giả
chỉ miêu tả vài nét (bé Châu, bé Mai, Hà, Vĩ, Đực, Tụ, Tú, Dị, Thuận, Thi, thằng cua,
Hào, Củ Cải), có những nhân vật chỉ đƣợc nhắc tên, không trực tiếp xuất hiện trong tác
phẩm (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, anh Năm, thằng Bảy, thằng Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt,
Hà Vi, Tƣờng, Xuân, Hiền, Thảo) cùng nhiều nhân vật trẻ em không có tên khác.
Điều khác biệt giữa nhân vật trẻ em trong truyện viết cho ngƣời lớn với nhân
vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đó là vị trí của nhân vật
trong tác phẩm. Nếu trong truyện viết cho ngƣời lớn, nhân vật trẻ em chỉ xuất hiện
thoáng qua và hiện lên với số phận đầy bất hạnh (Cà Ri trong Viên đạn về trời) thì
những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi lại đóng vai trò là hình tƣợng
nhân vật trung tâm hiện lên với những tính cách, số phận khác nhau. Bên cạnh những
37
nhân vật trẻ em bất hạnh còn có những nhân vật trẻ em hồn nhiên, yêu đời, thông
minh, ham học hỏi, nhân hậu, tài năng.
Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,
chúng tôi nhận thấy nhiều điểm đặc biệt trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật của
tác giả. Có những nhân vật trẻ em mang hình bóng tuổi thơ của tác giả (Tì Ti trong
Những cậu bé mặt trời, Nhã trong Bí mật theo cô). Có những nhân vật trẻ em mang
hình bóng học trò của tác giả (các nhân vật trẻ em trong các truyện Siêu nhân cua,
Chúng mình bay đầy trời, Lần đầu thấy trăng). Đặc biệt là có những nhân vật trẻ em là
những đứa trẻ có thực ngoài đời (Chùa, Út Tiền, chị Hai trong truyện Quà tặng cho
ngày mai). Tất cả những điều đó sẽ đƣợc chúng tôi làm rõ trong chƣơng 2 của luận văn
- các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Nét độc đáo ở nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh là nhiều nhân vật đƣợc xây dựng dựa trên nguyên mẫu có thật ngoài đời. Với
việc tiểu thuyết hóa ngƣời thật, việc thật, Võ Diệu Thanh đã làm cho truyện viết cho
thiếu nhi của mình đến gần hơn với độc giả. Chùa – nhân vật chính trong truyện Quà
tặng của ngày mai là một thần đồng đàn sến đƣợc nhiều ngƣời biết đến sau khi tham
gia chƣơng trình Biệt tài tí hon năm 2019. Viết về quá trình “lột xác” của một cậu bé
trốn học, quậy phá thành một thần đồng âm nhạc chăm ngoan, học giỏi, biết tự lập, Võ
Diệu Thanh đã truyền cảm hứng cho rất nhiều ông bố, bà mẹ về cách nuôi dạy trẻ. Một
độc giả ở thành phố Hồ Chí Minh vì yêu thích truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, yêu thích nhân vật Chùa trong Quà tặng của ngày mai đã quyết định trao
thƣởng cho những học sinh chăm ngoan, học giỏi ở An Giang – quê hƣơng của nhà
văn Võ Diệu Thanh. Giải thƣởng mang tên Quà tặng của ngày mai – tên một cuốn
truyện viết về thần đồng đàn sến, biệt tài tí hon Khánh Hƣng là một minh chứng cho
sức sống của truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Những giá trị nhân văn mà
tác giả muốn nhắn nhủ, những món quà mà chị dành tặng cho cuộc đời thông qua
những tác phẩm của mình đã đƣợc lan tỏa.
* Tiểu kết chƣơng 1
Chƣơng một của luận văn đã tiến hành tổng quan về những cơ sở lí luận liên
quan đến đề tài. Đó là nền tảng vững chắc để chúng tôi đi sâu phân tích, làm rõ những
biểu hiện về nội dung và hình thức liên quan đến đề tài luận văn.
38
Văn học thiếu nhi có những đặc trƣng riêng khác với văn học ngƣời lớn về cách
xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu. Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học
thiếu nhi có quá trình phát triển từ chỗ là nhân vật phụ trong tác phẩm văn học (trƣớc
1945) đến việc trở thành nhân vật trung tâm trong truyện thiếu nhi (sau 1945). Luận
văn cũng đã giới thuyết về con ngƣời và sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh, đặc
biệt là giới thuyết về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của
nhà văn.
39
Chƣơng 2
CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Trong bài thơ Kêu gọi thiếu nhi viết năm 1941, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.
Trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc che chở, bảo vệ và yêu thƣơng. Quyền lợi của trẻ
là đƣợc vui chơi, đƣợc học hành. Những đứa trẻ cần đƣợc sống vô tƣ, hồn nhiên đúng
với lứa tuổi của mình. Là một nhà văn đồng thời là một nhà giáo, là một ngƣời mẹ đơn
thân với những tháng ngày nuôi con vất vả, hơn ai hết, Võ Diệu Thanh hiểu rõ điều đó.
Vì thế, trong những sáng tác của mình, đặc biệt là trong những truyện viết cho thiếu
nhi, tác giả thƣờng bộc lộ những trăn trở về trẻ em, đối thoại về quyền của trẻ em.
Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các hình tƣợng nhân vật trẻ em.
Khảo sát toàn bộ truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận
thấy nhân vật trẻ em chiếm số lƣợng rất lớn (53 nhân vật), trong đó, nhân vật trẻ em là
nam chiếm số lƣợng lớn hơn (37 nhân vật), nhân vật trẻ em là nữ chiếm số lƣợng ít
hơn (16 nhân vật) (Xem phụ lục 1).
Bảng 2.1. Bảng thống kê số lƣợng nhân vật trẻ em
trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
Stt Tên tác phẩm Số lƣợng nhân vật
Lần đầu thấy trăng 1 20
2 9 - Siêu nhân cua - Chúng mình bay đầy trời.
Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm 3 3
Tiền của thần cây 4 6
Những cậu bé mặt trời 5 2
Khi hai vua về một nhà 6 2
Thả diều 7 4
Bí mật theo cô 8 4
9 Cáp treo cho những mặt trời 2
10 Quà tặng của ngày mai 3
40
11 2
- Bí mật bên khóm hoa quỳnh - Chú ong bé bỏng - Khu vườn trong mơ Tổng: 53
Dựa vào đặc điểm ngoại hình, tính cách, số phận của các nhân vật trẻ em, chúng
tôi phân chia thành bốn kiểu loại nhƣ sau: nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng; nhân
vật trẻ em bất hạnh; nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu và nhân vật trẻ em có khả
năng đặc biệt.
2.1. Nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng
Hồn nhiên, trong sáng là đặc điểm tính cách nổi bật của trẻ em. Sự hồn nhiên,
trong sáng của nhân vật trẻ em là một trong những yếu tố góp phần làm nên sức hút
cho truyện viết cho thiếu nhi. Là một giáo viên với gần ba mƣơi năm dạy học sinh tiểu
học, Võ Diệu Thanh có điều kiện thuận lợi để nắm rõ đƣợc đặc điểm tâm lí của trẻ em.
Trong các truyện viết cho thiếu nhi của mình, nhà văn đã tập trung khắc họa hình
tƣợng nhân vật trẻ em với đặc điểm tính cách hồn nhiên, trong sáng. Khảo sát các
truyện viết cho thiếu nhi của nữ văn sĩ, chúng tôi nhận thấy những nhân vật trẻ em dù
có hoàn cảnh sống khác nhau, số phận khác nhau, tính cách khác nhau nhƣng các em
đều có nét hồn nhiên, trong sáng đáng yêu. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi
không phân tích sự hồn nhiên, trong sáng ở tất cả các nhân vật trẻ em trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mà chỉ phân tích những nhân vật tiêu biểu thể hiện
rõ nét tính cách này. Đó là sự ngây thơ của Hƣng, Mai; nét xinh xắn của bé Mai, bé
Châu, nhỏ Mai; sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti, Nhóc; sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng,
Củ Cải.
2.1.1. Ngây thơ, xinh xắn
Khắc họa sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em, tác giả chủ yếu miêu tả
ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, cách ứng xử của các bé gái. Đó là bé Châu, bé Mai
trong truyện ngắn Thả diều. Đó là nhỏ Mai trong truyện Siêu nhân cua. Trong Siêu
nhân cua, nhỏ Mai hiện lên là một cô bé ngây thơ, trong sáng, dễ tin vào những câu
nói đùa của mọi ngƣời. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua việc nó luôn tin vào lời nói
đùa của mẹ nó: “Má nó nói lượm được nó bên bụi chuối” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.17). Trong truyện Thả diều, bé Châu lúc năm tuổi trong cách nhìn của cu Lý – anh
trai là một bé gái rất xinh xắn, đáng yêu “Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái
41
tóc thì lơ thơ mấy cọng mỏng như tóc tiên. Cu Lý nghĩ bé Châu như cô tiên nhỏ. Chắc
cô Tiên nhỏ cũng dễ thương cỡ đó là cùng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25).
Sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của
Võ Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ nét nhất qua nhân vật bé Mai trong truyện ngắn Thả
Diều Trong tác phẩm, nhân vật hiện lên với dáng ngƣời nhỏ nhắn cùng kiểu tóc thắt
thành hai bím dễ thƣơng “Đó là con nhỏ xíu xiu có hai cái sừng trâu lúc lắc” (Võ
Diệu Thanh, 2017, tr.23). Nét dễ thƣơng của cô bé thu hút sự chú ý của cu Lý. Trong
cách cảm nhận của cu Lý, bé Mai trông dễ thƣơng giống hệt em gái của nó vậy. Không
chỉ với vẻ ngoài xinh xắn, bé Mai còn hiện lên với sự ngây thơ, trong sáng. Chính sự
ngây thơ, đáng yêu của cô bé đã sƣởi ấm trái tim đang rỉ máu của cu Lý. Dù bị cu Lý
vô cớ xé nát con diều đẹp của mình, bé gái này vẫn không giận, không trách “Bé Sừng
Trâu cũng cười. Hình như nó quên tuốt chuyện mình đang giận cái thằng đen thui
hung dữ này” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34). Giọng cƣời trong trẻo, tƣơi rói của bé Mai
đã giúp cu Lý cởi mở, thân thiện hơn. Nỗi đau trong quá khứ của cu Lý nhờ thế cũng
đƣợc nguôi ngoai phần nào. Nhân vật bé Mai trong truyện Thả diều xuất hiện thoáng
qua với vài nét phác họa nhƣng đã để lại ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả với vẻ
ngoài xinh xắn, với sự ngây thơ và đáng yêu.
Nét ngây thơ của các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ qua việc tin vào lời ngƣời lớn. Trẻ em thƣờng rất sợ ma
nhƣng lại thích nghe kể chuyện ma và luôn tò mò về việc liệu ma có thật hay không.
Nắm bắt đƣợc tâm lí đó, Võ Diệu Thanh trong các truyện viết cho thiếu nhi của mình
đã nhiều lần miêu tả tâm lí nơm nớp sợ ma của các nhân vật trẻ em. Chính điều này đã
làm cho truyện thêm phần lôi cuốn. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Siêu nhân cua,
Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Những cậu bé mặt trời, Tiền của thần cây, Chúng mình bay
đầy trời…Trong Siêu nhân cua, nhà văn dành hẳn một chƣơng để nói về việc đánh ma
(Chƣơng 12. Đánh ma). Ở những chƣơng khác, nhân vật Hƣng cũng nhiều lần nhắc
đến việc mình từng thấy ngƣời bị ma ám, mình từng cùng bạn bè đi chọc ma, bản thân
Hƣng cũng có lần mẹ dùng dâu làm phép để đánh đuổi ma. Nỗi sợ ma của Hƣng đƣợc
bộc qua qua lời thú nhận của chính nhân vật: “Tôi rùng mình với cái chuyện ma giấu
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59). Không chỉ “rùng mình” khi nghe kể chuyện ma, Hƣng
còn ám ảnh mỗi khi đi qua những lùm cây bụi rậm – những nơi mà ngƣời lớn hay nói
rằng ở đó có ma: “Tôi thì không sợ thằng cua nhưng sợ cái lùm tre nhà ông Bảy
42
thương binh. Tôi sợ lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.61). Nỗ sợ ma của Hƣng và đám
bạn thân đƣợc nhà văn miêu tả rõ hơn trong Chúng mình bay đầy trời. Trong tác phẩm
này, nhà văn dành hẳn một chƣơng để nói về chuyện ma (Chương 2. Con ma không có
tóc). Ma trở thành nỗi ám ảnh đối với Hƣng, Mai khiến chúng không dám leo lên núi
Cấm: “- Không ở đó có ma! -Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.12).
Với việc sử dụng từ cảm thán “úy”, kết hợp với câu cảm thán, câu nghi vấn, tác giả đã
giúp ngƣời đọc hình dung về nỗi sợ ma của các cô bé, cậu bé lớp Một – Hƣng, Mai.
Khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em ngây thơ, xinh xắn, Võ Diệu Thanh thể
hiện cái nhìn nâng niu, trân trọng đối với trẻ em. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua hành
động của những ngƣời thân đối với bé Châu và bé Mai. Bé Châu đƣợc gia đình coi nhƣ
báu vật “Suốt ngày cu Lý giữ em kè kè”, “Má lật đật rửa tay rồi vén mùng hôn lén bé
Châu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Còn bé Mai đƣợc cha cƣng chiều hết mực “chiều
nào nó cũng được cha nó đưa ra bãi thả diều” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.24). Qua việc
khắc họa sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em, nhà văn gián tiếp khẳng định trẻ
em cần đƣợc yêu thƣơng và hãy để trẻ đƣợc hồn nhiên, ngây thơ đúng với lứa tuổi của
mình.
2.1.2. Vô tƣ, thân thiện
Trẻ em thƣờng thích nô đùa với bạn bè. Những lúc chơi đùa, giữa trẻ em không
tránh khỏi những cãi vã, gây lộn. Nhƣng với bản tính hồn nhiên, vô tƣ, không lâu sau
những bất hòa giữa chúng nhanh chóng đƣợc giải quyết. Trẻ em có cả tỉ lí do để cãi
nhau cũng có cả tỉ cách để làm hòa. Đó chính là nét đáng yêu của trẻ - vô tƣ và thân
thiện, dễ giận và chóng quên. Có thể nói, vô tƣ, thân thiện là cơ sở tạo nên một tình
bạn đẹp. Nhờ vô tƣ, thân thiện, trẻ em dễ dàng kết bạn và không ngại kể cho nhau
nghe tất cả những chuyện mình biết, những điều mình nghĩ.
Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhiều nhân vật trẻ em hiện
lên với sự vô tƣ, thân thiện, dễ gần, dễ mến. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua cách ứng
xử của nhân vật đối với bạn bè và mọi ngƣời xung quanh. Tính cách này hiện lên rất rõ
qua các nhân vật Tì Ti và Nhóc trong truyện Những cậu bé mặt trời, Ngàn và Hà trong
truyện Khi hai vua về một nhà, Hƣng, Tú, Nam và Mai trong Siêu nhân cua.
Tì Ti và Nhóc (Những cậu bé mặt trời) là những đứa trẻ rất vô tƣ, thân thiện.
Hai đứa trẻ suốt ngày gây lộn nhƣng lại thân thiết, gắn bó với nhau nhƣ hình với bóng
cả lúc ở trƣờng và khi ở nhà, dù khi học chung lớp hay khi đã bị tách lớp “Cuộc chiến
43
của tụi nó làm giáo viên chủ nhiệm hai lớp nhức đầu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6).
Không chỉ cãi nhau, Tì Ti và Nhóc thậm chí còn đánh nhau. Lí do xuất phát từ việc
thằng Nhóc vì không thể chịu đƣợc việc Tì Ti suốt ngày nói chuyện với đôi dép đã lấy
dép của Tì Ti ném xuống sông Hậu. Không còn dép để nói chuyện, Tì Ti nói chuyện
với bức tƣờng, với nền gạch, với cây bàng, với bậc cầu thang. Mỗi lần nhƣ thế, hai đứa
lại gây chuyện cãi nhau, đánh nhau. Những tƣởng hai đứa là mặt trăng, mặt trời không
thể dung hòa. Vậy mà, vừa giận nhau không lâu sau hai đứa lại có thể chơi đùa vui vẻ
nhƣ chƣa có chuyện gì xảy ra “Hai đứa lại xáp lá cà, đứa này chọt éc đứa kia. Nhóc
nhanh nhẹn cứ chọt lia lịa làm Tì Ti nhột nhảy dựng cười sằng sặc. Tì Ti thỉnh thoảng
cũng tìm đúng chỗ nhọt của Nhóc chọt vài cái. Chúng giỡn nhau vô tư như là lúc gây
nhau” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8). Sau những cãi vã là tiếng cƣời hồn nhiên trong
trẻo: “Tiếng cười của hai mặt trời dội vào nhau nghe như tiếng một cơn mua ào ạt
nước” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) Tiếng cƣời giòn tan đã giúp hai đứa quên đi giận
hờn trƣớc đó và gắn bó thân thiết hơn. Sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti và Nhóc đã tạo
nên cái kết đẹp cho tác phẩm. Trong lúc chờ mẹ về, chúng cùng nhau chơi đùa vui
vẻ“Hai đứa còn vò đất thành sợi dài rồi vòng vèo thành hàng chữ “Bãi chờ mẹ” (Võ
Diệu Thanh, 2017, tr.9). Nhờ có Nhóc để trò chuyện, chơi đùa, Tì Ti đã không còn tự
kỉ - không còn nói chuyện với đồ vật nữa. Nhờ có Tì Ti, Nhóc đã biết cách bộc lộ cảm
xúc – biết nói ra tình cảm của mình đối với mẹ. Sau những lần gây lộn, đôi bạn hiểu
nhau hơn. Đồng cảm vì cùng yêu mẹ, nhớ mẹ, khao khát đƣợc gặp mẹ, hai bạn lại
càng trở nên thân thiết. Tình bạn đẹp của Tì Ti và Nhóc đƣợc xây đắp từ sự đồng cảm
và từ tính cách vô tƣ, thân thiệt rất đáng yêu của cả hai.
Ngàn và Hà trong truyện Khi hai vua về một nhà cũng là những cậu bé rất thân
thiện. Khi chƣa hiểu nhau hai đứa thƣờng xuyên gây lộn đánh nhau. Trong mắt Ngàn,
Hà là “vua quậy” thƣờng xuyên trốn học khiến mẹ nó – cô Mai phải buồn. Trong mắt
Hà, Ngàn là “vua mách lẻo”, bất kì vi phạm gì của nó Ngàn đều mách với cô chủ
nhiệm, mách với các thầy cô bộ môn và mách cả với thầy tổng phụ trách đội. Vì Ngàn
mà Hà bị thầy tổng phụ trách đội phạt quét sân trƣờng “Hôm nay con làm cho thằng
Hà tiếp tục bị phạt quét nguyên cái sân luôn. Nó dám bỏ hai giờ Địa đi chơi Võ Lâm
Truyền Kì” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10). Vì không ƣa nhau, chúng cãi lộn đánh nhau
bất cứ chỗ nào. Trong lớp học, trên sân trƣờng, trên đƣờng đi học về, thậm chí ở sân
chùa, hai đứa gặp là gây lộn. Những tƣởng hai đứa không thể làm bạn. Nhƣng chỉ một
44
lúc tâm sự chúng đã hiểu nhau và trở thành bạn bè thân thiết. Biết Hà trốn học không
phải vì lƣời mà vì khả năng tiếp thu hạn chế, Ngàn tìm mọi cách để giúp đỡ bạn“Khi
rảnh Ngàn dạy võ cho Hà, nó đánh đấm với Hà. Hà kêu Ngàn là sư phụ. Nó nghe lời
sư phụ và đương nhiên khi giỡn nó không còn nhớ tôn ti gì đâu” (Võ Diệu Thanh,
2017, tr.18). Cùng học, cùng chơi mỗi ngày, hai đứa trở nên gắn bó “Vua quậy từ đó
trông ngóng vua mách lẻo đi học về dạy nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18). Chính sự
vô tƣ, thân thiện đã làm cho tình bạn giữa Ngàn và Hà thêm đẹp.
Hƣng, Nam, Mai và Tú (Siêu nhân cua) cũng là những đứa trẻ rất vô tƣ, thân
thiện. Ngồi cùng bàn với nhau, giữa Hƣng và Tú, giữa Nam và Mai thƣờng xuyên xảy
ra cự cãi. Mỗi lần giận nhau, chúng đều dùng phấn để phân chia ranh giới. Nhƣng sự
giận hờn không kéo dài đƣợc lâu. Chỉ sau năm phút, các bạn nhỏ lại nhanh chóng làm
hòa. Chúng cƣời nói, vui đùa nhƣ chƣa từng cãi nhau “Nhưng cái ranh chỉ tồn tại
được năm phút vì không quá năm phút hai đứa lại làm lành nhau lại ngồi lên cái ranh
lúc nào không hay” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.13).
Miêu tả sự vô tƣ, thân thiện của các nhân vật trẻ em, nhà văn muốn khẳng định
trẻ em rất dễ hòa đồng, rất dễ kết bạn. Vì thế, ngƣời lớn chúng ta hãy để trẻ đƣợc gặp
gỡ, vui chơi với bạn bè, hãy trẻ đƣợc hồn nhiên, vô tƣ đúng lứa tuổi.
2.1.3. Tinh nghịch, dí dỏm
Sự hồn nhiên, trong sáng của những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu
nhi của Võ Diệu Thanh không chỉ đƣợc thể hiện qua sự ngây thơ, xinh xắn, vô tƣ, thân
thiện mà còn đƣợc bộc lộ qua nét tinh nghịch, dí dỏm. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua
các nhân vật nhƣ: Hƣng trong Siêu nhân cua và trong Chúng mình bay đầy trời, Củ
Cải, bé Hai trong Tiền của thần cây và Dẫu trong Lần đầu thấy trăng.
Hƣng (Siêu nhân cua) là một cậu bé tinh nghịch. Nó luôn nghĩ ra nhiều trò
nghịch ngợm nhƣ: trêu chọc bạn, chọc ma, chọc ong. Giống nhƣ bao đứa trẻ tinh
nghịch khác, Hƣng thích chơi trò rƣợt đuổi “Giá như Nam rượt tôi thì vui hơn” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.12). Vì vậy, Hƣng luôn tìm cách để trêu chọc bạn. Với một đứa
trẻ tinh nghịch, việc trêu chọc bạn một lần làm bạn nổi giận chƣa bao giờ là đủ. Biết
Nam không thích bị gọi là Trán Dồ, Hƣng vẫn luôn miệng gọi: “- Ê, Trán Dồ ơi Trán
Dồ, ông ngoại mày kiếm kìa. […] – Trán Dồ ơi, Trán Dồ à, Trán Dồ …” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.6). Bản thân Hƣng cũng ý thức đƣợc rằng trêu bạn nhƣ vậy là không
nên “Nam giận tôi là điều chắc chắn, cô giáo quýnh tôi nhừ mông cũng là chuyện phải
45
làm” nhƣng nó vẫn gọi Nam là Trán Dồ nhƣ một thói quen “nhai riết thành quen
miệng”. Sau lần trêu chọc bị Nam đánh, Hƣng thề rằng không bao giờ đụng tới cái tên
đó nữa nhƣng không thể ngồi yên “ngay hôm sau khi hết đau tôi lại ngứa miệng với
chữ trán dồ”(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.9). Sự tinh nghịch của Hƣng thể hiện rõ ở việc
nó không thể nào chịu đựng đƣợc sự im lặng. Khi không trêu chọc Nam, nó cảm thấy
buồn chán: “Nhưng mà thật bình yên như vầy nó lại rất chán bạn à. Giá như Nam
rượt tôi thì vui hơn. Tôi chán cái kiểu chơi một mình quá” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.12). Không chỉ trêu chọc Nam, Hƣng còn trêu chọc cả Mai. Biết Mai sợ cua, nó liền
bắt cua để trêu bạn. Trong tác phẩm, Hƣng tự kể lại trò nghịch ngợm của mình: “Bữa
đó đang đi học về, tôi bắt con cua đưa vô mình nó, tự nhiên nó tè trong quần luôn”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18). Trò nghịch ngợm của Nam không chỉ dừng lại ở chỗ
trêu chọc bạn mà còn thể hiện ở việc dám chọc ong và chọc ma. Trong tác phẩm,
Hƣng nhiều lần kể về việc chọc ong của mình: “Hễ đi học về, ngang qua vườn mãng
cầu của bà Tư thầy tu cứ gặp đám ong là vác đất chọi. Bà Tư nói để nó yên ổn con,
chọc nó hoài tội lắm. Mà tôi quên lời bà Tư mau lắm. Cứ gặp là vác đất chọi” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.29). Chọc ong nhiều lần chƣa đủ vui, Hƣng còn rủ cả bạn đi chọc
ma mặc dù bản thân rất sợ ma. Hƣng còn hiện lên trong tác phẩm là một cậu học trò
rất dí dỏm. Trong lớp, Hƣng là một “cây hài”. Những câu nói ngây ngô của Hƣng
nhiều lúc làm cô và các bạn trong lớp không nhịn đƣợc cƣời “bụng cô đang nôn cười.
Nghĩa là cô hết thuốc chữa với tôi luôn” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.78). Để làm nổi bật
sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng, Võ Diệu Thanh đã để nhân vật tự kể, tự nói về mình.
Trong lời kể của Hƣng, ta thấy đƣợc thái độ của cô giáo chủ nhiệm và các bạn đối với
những trò nghịch ngợm của nhân vật “Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong
chích sưng to bằng ngón giò cái. Con Mai với thằng Nam phải nể tôi. Mà tôi thấy cô
Thanh cũng nể tôi lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30). Bản thân Hƣng cũng tự nhận ra
sự nghịch ngợm, “khỉ khọt” của mình: “Nếu bạn nhìn thấy cô Thanh nhìn tôi thì bạn
hiểu. Cô cứ nhìn như là cô đang coi phim hành động của người dơi hay là siêu nhân
vậy. Và cô thường kêu lên đầy kinh ngạc. – Hưng, sao mà em …? Tôi sẽ nói ngay. –
Không ngồi yên được chút nào vậy? Hoặc là tôi sẽ nói: - Em lật đật giống con khỉ
quá” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31).
Trong Chúng mình bay đầy trời, sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng tiếp tục đƣợc
nhà văn khắc họa đậm nét. Trong giờ học, nó không khi nào chịu ngồi yên “Mình kêu
46
bạn chỗ bàn nhất nhảy lên bàn nhì. Ngồi một đống vậy học đâu có được” (Võ Diệu
Thanh, 2016, tr.66). Hƣng luôn gây đƣợc sự chú ý của mọi ngƣời với những ý tƣởng
độc đáo của mình. Biết Quý thƣơng nhớ Nội muốn tạo ra một đôi cánh giúp Nội có thể
bay đƣợc để nhìn ngắm mọi thứ, cậu bé bàn bạc với các bạn cách làm đôi cánh. Trong
khi Nam và Mai chuẩn bị giấy, mực để vẽ lên ý tƣởng thì Hƣng lại chuẩn bị một con
gà trống với dự định sẽ vặt hết lông gà để làm đôi cánh giúp ngƣời có thể bay đƣợc. Ý
tƣởng gắn lông gà thất bại, Hƣng lại nghĩ cách sẽ dùng lông chim để làm đôi cánh lớn.
Trƣớc ý tƣởng độc lạ của Hƣng, mọi ngƣời chỉ biết lắc đầu, phì cƣời “mọi người lắc
đầu trước sự ngớ ngẩn của tôi”, “Cô Thanh té cái đụi xuống ghế. Mấy đứa kia xỉu”
(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.35). Sau mỗi giờ học, cậu nhóc và đám bạn thân lại bày đủ
trò nghịch ngợm và vì thế tiếng cƣời luôn hiện hữu trên môi “cả đám lăn vào các trò
chơi. Chơi nhảy dây, chơi ném tù binh, chơi cá sấu lên bờ rồi chơi nhảy múa” (Võ
Diệu Thanh, 2016b, tr.22).
Củ Cải, bé Hai (Tiền của thần cây), Dẫu (Lần dầu thấy trăng) cũng là những
cậu bé, cô bé rất tinh nghịch. Củ Cải thƣờng cùng các bạn đi tắm sông, tắm mƣơng
mỗi ngày “Bòn Bon đi học. Củ Cải và các bạn rủ Bòn Bon đi tắm mương” (Võ Diệu
Thanh, 2016, tr.22). Sự tinh nghịch của Củ Cải đƣợc thể hiện rất rõ qua việc nó
“khiêng Bòn Bon ném xuống chỗ cái ao đầu con mương” (Võ Diệu Thanh, 2016,
tr.23). Hành động này của Củ Cải làm cho các bạn vui cƣời thích thú nhƣng cũng
khiến Bòn Bon vốn đã sợ nƣớc lại càng sợ hơn. Bé Hai trong cách nhìn của Bòn Bon
là một cô bé rất tinh nghịch “Bé Hai là con gái mà phá phấy khủng khiếp. Bất cứ món
gì của Bòn Bon nó cũng nói cho em mượn nghe. Vậy là hết món này tới món khác đều
qua tay nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27). Nghịch hết đống đồ chơi của Bòn Bon, bé
Hai lại chơi cùng với Ban Đêm – chú chó cƣng của Bòn Bon. Nó tinh nghịch, đáng
yêu tới mức Ban Đêm cũng thích chơi cùng với nó “Cái con chó mê chơi đó thì khoái
bé Hai vô cùng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27). Không chỉ vậy, bé Hai còn rất thích
nghịch nƣớc. Khi trong nhà không còn thứ gì để nghịch, nó liền rủ Bòn Bon đi tắm
sông “Mình đi tắm sông đi anh Bòn Bon. Em thấy có mấy người kia tắm dưới bến vui
lắm” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.29). Mặc dù không có Bòn Bon đi cùng, bé Hai vẫn vui
vẻ tự chơi “Bé Hai chạy te te trên cầu rồi nhảy từ trên cầu ùm xuống nước” (Võ Diệu
Thanh, 2016, tr.29). Sự tinh nghịch của những cô cậu học sinh tiểu học đƣợc thể hiện
rõ qua nhân vật Dẫu. Nó luôn nghĩ ra những trò khiến các bạn trong lớp nhiều phen hú
47
vía “Tôi thường trốn ra hè nhà trường ngồi đào trùng, bắt trùng vô lớp nhát mấy đứa
bạn” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.38). Những trò nghịch ngợm của Hậu và các bạn trong
lớp khiến mọi ngƣời cũng phải lắc đầu “Bên nhà thầy không có cây cỏ gì mọc được
với tụi tôi” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.43). Trƣớc sự nghịch ngợm của Dẫu, thầy Mãi,
cô Tài Ba, thầy Biên cũng phải lắc đầu “nhất Dẫu nhì quỷ” (Võ Diệu Thanh, 2014,
tr.86).
Sự hồn nhiên, trong sáng là nét tính cách nổi bật của trẻ em. Điều này không chỉ
đƣợc thể hiện qua các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh mà còn đƣợc thể hiện qua các nhân vật trẻ em trong truyện của Nguyễn Nhật
Ánh. Nhiều nhân vật trẻ em trong truyện của Nguyễn Nhật Ánh hiện lên với sự tinh
nghịch, hồn nhiên đáng yêu. Tiêu biểu là các nhân vật cu Mùi, Hải cò, Tí sún, con Tũn
trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Trong tác phẩm này, bốn đứa trẻ tinh nghịch luôn
bày đủ trò để chơi cùng nhau. Đó là các trò chơi gắn liền với tuổi thơ của nhiều ngƣời
nhƣ: đi tìm kho báu; đóng vai vợ chồng, bố mẹ, con cái; đóng vai làm thủ lĩnh, đóng
vai quan tòa ...Sự tinh nghịch, ngây thơ cùng nét thông minh, lém lỉnh của trẻ em cũng
đƣợc nhà văn khắc họa qua ƣớc mơ định nghĩa lại thế giới của các bạn nhỏ. Những
đứa trẻ tinh nghịch gọi tên các sự vật quen thuộc bằng những cái tên khác mà chỉ có
thể là trẻ con mới có thể nghĩ ra nhƣ: gọi cái miệng là cánh tay, gọi con chó là cái bàn
ủi, gọi đi ngủ là đi chợ, gọi cái cặp là cái giếng, gọi cái ti vi là cái quạt máy, gọi cái
nón là cuốn tập. Không chỉ thay đổi cách gọi tên đồ vậy, chúng còn thay đổi tên gọi
cho nhau “Trong thế giới vừa được đặt tên lại của bọn tôi, Hải cò là cảnh sát trưởng,
con Tủn là tiếp viên hàng không, con Tí sún là nàng bạch tuyết, còn tôi là thầy hiệu
trưởng. Những cái tên này do chúng tôi tự chọn, theo nguyện vọng thầm kín của mỗi
đứa” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.52). Các bạn nhỏ trong truyện thay đổi cách gọi với
mục đích làm mới thế giới. Với cách gọi mới này, thế giới nhƣ đƣợc sinh ra một lần
nữa. Việc các nhân vật trẻ em đặt lại tên cho nhau cũng gián tiếp gửi gắm ƣớc mơ
đƣợc trở thành thầy hiệu trƣởng quyền uy, trở thành cảnh sát trƣởng dũng cảm, nàng
Bạch Tuyết, nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp. Điều đặc biệt trong cách định nghĩa lại
thế giới của những đứa trẻ đó là chúng quan niệm hoàn toàn ngƣợc lại với ngƣời lớn.
Đứa trẻ ngoan theo cách nghĩ của chúng là không cần giữ tập vở cẩn thận, không cần
ngủ trƣa và 3 nhân 5 không phải là 15.
48
Mỗi đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch theo một cách riêng. Miêu tả nét
ngây thơ, xinh xắn của bé Mai, bé Châu; sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti, Nhóc; sự tinh
nghịch, dí dỏm của Hƣng, Củ Cải nhà văn muốn gửi đến độc giả thông điệp cần phải
biết quan tâm, yêu thƣơng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Đặc biệt trong việc giáo dục trẻ
em cần chú ý để không đánh cắp tuổi thơ của trẻ em.
2.2. Nhân vật trẻ em bất hạnh
Trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc quan tâm, chăm sóc, yêu thƣơng, bảo vệ, cần
đƣợc vui chơi, học hành, đƣợc tạo điều kiện phát triển cả về thể chất và tinh thần. Luật
trẻ em của nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 102/2016/QH13 ban
hành ngày 05/4/2016 quy định rất rõ về quyền của trẻ em. Trong chương II. Quyền và
bổn phận của trẻ em, Mục 1. Quyền của trẻ em, luận quy định rõ trẻ em có 23 quyền,
trong đó Điều 27 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc quy định:
“Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc
làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em”. Mặc dù luật pháp đã quy định rõ
về quyền của trẻ em nhƣ vậy. Nhƣng trong thực tế, hiện tƣợng trẻ em bị bạo hành, bị
bỏ rơi vẫn diễn ra. Là một ngƣời giàu lòng trắc ẩn, Võ Diệu Thanh không thể làm ngơ
trƣớc thực trạng đáng buồn đó. Trong những sáng tác viết cho thiếu nhi của mình, Võ
Diệu Thanh đã đi sâu miêu tả những mảnh đời bất hạnh. Đó là những đứa trẻ mồ côi,
nghèo, thất học; những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền; những đứa trẻ là nạn nhân của
bạo lực gia đình, nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục.
2.2.1. Mồ côi, nghèo, thất học
Đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh ngƣời đọc không khỏi cay
khóe mắt trƣớc những trẻ em có hoàn cảnh không may mắn. Đó là những đứa trẻ mồ
côi, nhà nghèo, những đứa trẻ không đƣợc đến trƣờng.
Mồ côi là nỗi bất hạnh lớn nhất của con ngƣời. Nhiều nhân vật trẻ em trong
truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mang trong mình nỗi bất hạnh thiệt thòi
đó. Đó là Ngàn trong Khi hai vua về một nhà, Nhân trong Cáp treo cho những mặt
trời, là Mai trong Siêu nhân cua. Ngàn là một cậu bé mồ côi cả ba lẫn mẹ. Niềm an ủi
lớn nhất của Ngàn là đƣợc đi học và thỉnh thoảng đƣợc cô Mai cho bánh, cho tập vở.
Nhìn thằng Hà đƣợc mẹ yêu thƣơng nó cảm thấy chạnh lòng. Hơn ai hết, Ngàn ao ƣớc
mình cũng có mẹ nhƣ bao đứa trẻ bình thƣờng khác. Niềm khát khao đó nhiều lần
đƣợc Ngàn thổ lộ với cô Mai: “- Con muốn cô làm má của con”, “Con không có ba
49
mẹ con phải đi kiếm người để làm mẹ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13). Điều đặc biệt
trong cách xây dựng nhân vật Ngàn của Võ Diệu Thanh đó là: nhà văn không xoáy sâu
vào nỗi bất hạnh mà nhắc đến nó nhƣ một cách để làm bật lên sự chững chạc, hiểu
chuyện của nhân vật. Tuy còn nhỏ, Ngàn đã sớm nhận thức đƣợc hoàn cảnh của mình.
Vì thế thay vì khóc lóc, than vãn, cậu bé lại nỗ lực học hành, chăm chỉ lao động. Hơn
thế nữa, em còn biết quan tâm, giúp đỡ mọi ngƣời xung quanh. Không phải đứa trẻ mồ
côi nào cũng biết suy nghĩ và hành động đúng đắn nhƣ vậy. Qua việc miêu tả nhân vật
này, nhà văn muốn gửi gắm những thông điệp nhân văn đến độc giả đó là: phải biết nỗ
lực vƣơn lên, phải biết đồng cảm, sẻ chia và lạc quan tin tƣởng vào tƣơng lai.
Nếu bất hạnh của Ngàn là mồ côi cả ba lẫn mẹ thì bất hạnh của Nhân (Cáp treo
cho những mặt trời) là chứng kiến mẹ mất vì tai nạn giao thông. Nỗi đau đó khiến trái
tim non nớt của một đứa trẻ lớp Hai bị tổn thƣơng nặng nề. Nó trở nên ít nói và trở
thành một đứa trẻ tự kỉ trong mắt mọi ngƣời. Khi trò chuyện với cô Thanh, Nhân kể
lại: “Hồi năm ngoái, mẹ em cũng bưng nước qua đường bị xe đụng chết ngay cửa nhà
em” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79).
Mai (Siêu nhân cua) là một cô bé chịu nhiều thiệt thòi. Qua lời kể của cô
Thanh, Mai hiện lên thật đáng thƣơng: “Ba bạn Mai mất hồi bạn còn trong bụng mẹ.
Hai mẹ con không bà con dòng họ nên phải ở một chỗ xa xôi như vầy” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.48). Không chỉ thiếu thốn tình cảm, Mai còn thiếu thốn cả vật chất.
Sống cùng với mẹ trong một căn chòi nhỏ ở một nơi hẻo lánh, cô bé không đƣợc chăm
sóc chu đáo, thậm chí không đƣợc ăn no, không có đủ quần áo để mặc. Khi còn rất
nhỏ, bé gái này phải ở nhà một mình, tự chơi, tự ăn, tự ngủ không có ngƣời lớn chăm
sóc, không có các bạn để chơi: “Hồi còn nhỏ tôi đi ngoài rẫy nó phải ở nhà một mình
[…] đói bụng thì giở nồi kiếm cơm nguội ăn, no thì ngủ” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.48). Trong khi Hƣng, Nam và tất cả các bạn trong lớp chán ăn cơm, muốn có một
“cái máy ăn cơm thay mình” thì Mai lại ao ƣớc có cơm để ăn. Khi cô giáo Thanh hỏi lí
do vì sao lại không muốn có máy ăn cơm giống nhƣ các bạn, Mai liền trả lời một cách
thật thà: “-Vì em thèm cơm” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19). Câu nói của Mai thể hiện
rõ sự túng thiếu, đói khổ của hai mẹ con Mai. Tình cảnh của Mai khiến ngƣời đọc
không khỏi nghẹn lòng. May mắn của Mai là dẫu nhà nghèo, dẫu túng thiếu, em vẫn
đƣợc mẹ cho đi học.
50
Những đứa trẻ trong Lần đầu thấy trăng còn đáng thƣơng hơn khi không đƣợc
đi học. Nhà Dẫu cách trƣờng học chừng cây số. Trong khi trẻ con trong xóm đều đƣợc
đi học thì chín chị em của Dẫu (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, chị Năm, Dẫu, thằng Bảy,
thằng út Dởm, út Nữa, út Thiệt) lại không có đƣợc quyền chính đáng đó. Nhà nghèo,
đông con, nhận thức hạn chế về việc học, ba của Dẫu không cho các con đi học. Dù
các thầy cô trong trƣờng Dƣơng Đôi nhiều lần tới nhà thuyết phục, ba Dẫu vẫn không
cho các con của mình đi học. Ông thấy đƣợc những khó khăn hiển hiện trƣớc mắt khi
những ngƣời học giỏi nhƣ thầy Minh mà cuộc sống cũng chật vật nghèo khổ. Mặt
khác, ông cũng nhìn ra cái lợi trƣớc mắt nếu các con của ông không đi học thì chúng
có thể phụ giúp ông đi làm kiếm tiền “Chị Tư đã đi làm cỏ, nhổ lúa cày mướn mua
gạo ăn được. Anh Ba biết chăn vịt, gánh trấu mướn. Học cũng để kiếm tiền thôi chớ
gì” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.15). Nhìn các bạn đƣợc đến trƣờng, chín chị em Dẫu chỉ
biết ao ƣớc. Chúng luôn khao khát đƣợc đến trƣờng. Với chúng trƣờng học là chốn
thiên đƣờng mà chúng không có cơ hội đƣợc bƣớc vào. Nhiều lần trong tác phẩm, nhà
văn đã để Dẫu nói lên suy nghĩ ấy: “Từ hồi còn nhỏ xíu, tôi thường nhìn ra hướng
trường học … Và tôi nghĩ ngôi trường học phía dưới chòm mây là thiên đường”. “Chữ
là một thiên đường mà chị hai thấy mình đang đứng dưới địa ngục ngóng lên” (Võ
Diệu Thanh, 2014, tr.16). Chúng ao ƣớc đƣợc vào chốn thiên đƣờng ấy dù chỉ một
ngày “được vào đó dù ngồi một ngày cũng mãn nguyện” (Võ Diệu Thanh, 2014,
tr.15). Mơ ƣớc ấy chỉ vừa lóe lên thì ngay lập tức bị ba mẹ gạt phắt đi“Má nạt ngang
khi tôi nhắc tới chữ học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.21). Để đƣợc đi học nhƣ các bạn,
Dẫu phải lén lút trốn ba mẹ đến trƣờng. Vì không đƣợc ba mẹ quan tâm, sau hơn hai
năm đi học, Dẫu vẫn chƣa biết đọc, biết viết. Chán nản vì học với những thầy cô bất
tài dạy học chạy theo thành tích, cô bé bỏ học. Không đƣợc đi học, chín chị em Dẫu bị
ba bắt đi ăn xin, bán vé số, phụ quán ăn để kiếm tiền. Hậu quả là cả chín chị em đều
mù chữ “Chị Hai tôi lúc có chồng, chẳng cầm được cây viết đặng gạch thập lúc vay
tiền phụ nữ nghèo” (Võ Diệu Thanh, 2013, tr.15). Vì cái lợi trƣớc mắt, họ đã khiến
những đứa con của mình trở thành những đứa trẻ mù chữ, không có tƣơng lai.
Viết về tình trạng trẻ em không đƣợc đi học, tình trạng trẻ em bỏ học đi bán vé
số, nhà văn đối thoại với ngƣời đọc về quyền đƣợc đi học của trẻ em. Ba mẹ, thầy cô
phải là những ngƣời giúp trẻ em đƣợc hƣởng quyền lợi chính đáng đó. Qua bi kịch của
nhân vật Dẫu trong Lần đầu thấy trăng, nhà văn cảnh báo về hậu quả của việc trẻ em
51
không đƣợc dạy dỗ đàng hoàng. Thất học là khởi đầu của nghèo đói và rất nhiều hệ
lụy khó lƣờng khác.
2.2.2. Yểu mệnh, tật nguyền
Nhân vật trẻ em bất hạnh trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
không chỉ thể hiện qua hình ảnh những đứa trẻ mồ côi, nghèo, thất học mà còn bộc lộ
qua hình ảnh những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền. Đó là bé Châu trong truyện Thả
diều. Đó là thằng cua trong truyện Siêu nhân cua.
Bé Châu (Thả diều) là một đứa trẻ đáng thƣơng. Cuộc đời của bé mãi mãi dừng
lại ở tuổi thứ năm. Em bé xinh xắn, ngoan ngoãn, dễ thƣơng này bị đuối nƣớc khi thả
diều cùng với anh trai. Phấn khích khi đƣợc anh Hai làm cho con diều đẹp, bé Châu
tung tăng chạy theo con diều. Chỉ một bƣớc hụt chân, bé Châu đã bị nƣớc nhấn
chìm“Bé Châu nằm đó ướt rượt tái xanh, không còn có thể chơi diều, không còn có
thể nói chuyện, và không còn có thể sống được nữa” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.31).
Chỉ trong tích tắc bé Châu - một cô bé xinh xắn dễ thƣơng nhƣ cô tiên nhỏ, một cô bé
nhanh nhẹn hay nói, hay cƣời, một cô bé ngoan ngoãn lúc nào cũng dạ thƣa đã biến
mất vào cõi hƣ vô. Con ngƣớc thƣờng ngày trong xanh, hiền hòa là thế giờ hung hăng
nhƣ tử thần. Nƣớc lũ tràn về đã cƣớp đi ngƣời em gái – báu vật của cu Lý. Điệp ngữ
“không còn có thể” đƣợc lặp lại ba lần càng nhấn mạnh nỗi bất hạnh của bé Châu,
xoáy sâu nỗi đau của bố mẹ và anh trai bé Châu. Nỗi đau đó cuộc trào theo con ngƣớc
lũ đục ngàu đang hung hăng tràn bờ đê. Bất hạnh mà bé Châu gặp phải có nguyên
nhân sâu xa là do sự bất cẩn của ngƣời lớn. Mải mê kiếm sống, chủ quan để hai anh
em tự chơi, phó mặc cho đứa con trai mới tám tuổi đầu phải trông chừng em, ba mẹ
của bé Châu đã vĩnh viễn mất đi đứa con bé nhỏ đáng yêu của mình. Sai lầm của bố
mẹ bé Châu là đã không lƣờng trƣớc đƣợc những nguy hiểm đang cận kề con mình.
Sống ở vùng sông nƣớc nhƣng lại không rèn cho con kỹ năng bơi lội. Chỉ một phút lơ
đễnh, họ đã khiếp bé Châu gặp bấp hạnh. Chỉ một phút lơ đễnh, họ đã phải trả giá
bằng sinh mệnh của con mình để rồi phải day dứt, đau khổ cả đời. Trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, tình trạng trẻ em gặp nguy hiểm khi chơi gần sông
nƣớc đƣợc nhà văn nhiều lần đề cập đến. Trong truyện Tiền của thần cây, việc Bòn
Bon suýt chút nữa bị đuối nƣớc đã cho thấy điều đó. Viết về nỗi bất hạnh của bé Châu,
Võ Diệu Thanh đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng trẻ em bị đuối nƣớc.
52
Từ đó, nhà văn gửi gắm thông điệp ngƣời lớn cần chú trọng giáo dục kỹ năng sống,
đặc biệt là kỹ năng bơi lội cho trẻ em để phòng ngừa những nguy hiểm có thể xảy ra.
Bên cạnh việc khắc họa những nhân vật trẻ em có ngoại hình xinh xắn, dễ
thƣơng, nhà văn cũng đề cập đến nhân vật trẻ em mang khuyết tật trên cơ thể. Thằng
cua (Siêu nhân cua) là một đứa trẻ tật nguyền. Mọi ngƣời không gọi nó bằng tên thật
(nhỏ Đệ) mà gọi là thằng cua vì nó là “một người có càng cua” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.55). Thằng cua có mƣời một ngón tay. Chỗ tay cái của nó có thêm một ngón nhỏ
“một cái càng to, một cái càng bị thương binh” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55). Bản
thân thằng cua cũng nhận thức đƣợc dị tật trên cơ thể mình. Nó tự nhận mình là cua
“con là con cua mà” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.65). Dị tật trên cơ thể khiến nó bị bạn
bè xa lánh. Lũ bạn nói nó bị cùi. Tủi thân, xấu hổ vì bị bạn bè trêu chọc, nó bỏ học.
Không đến trƣờng, không có ai chơi cùng, thằng cua thƣờng lang thang tự chơi một
mình. Nó sống lủi thủi cùng ba trong căn nhà nhỏ nằm khuất sau lùm tre. Niềm vui
mỗi ngày của nó là nấp sau lùm tre đón đƣờng nhỏ Mai đi học qua đó để hù dọa khiến
Mai sợ bỏ chạy. Mỗi lần gặp Mai, thằng cua đều dơ cái càng cua của mình lên để dọa
“Nó thường giơ cái càng cua của nó lên mỗi khi gặp nhỏ Mai. Nhỏ Mai rất kinh hãi
cái càng. […] Nó sợ thằng cua vì thật sự thằng đó có cái càng cua” (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.52). Không có mẹ, không đƣợc đi học, không có bạn bè, cơ thể bị dị tật, thằng
cua là đứa trẻ chịu nhiều thiệt thòi nhất trong số những nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Viết về những đứa trẻ tật nguyền không chỉ có Võ Diệu Thanh mà còn có Quế
Hƣơng. Đọc tập truyện Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng, ta bắt gặp nhiều đứa trẻ tật
nguyền đáng thƣơng. Đó là thằng đầu to trong Vua lũ đồ chơi. Đó là con Lỡ trong Bà
mụ búp bê. Thằng đầu to mang nhiều dị tật trên cơ thể: đầu to, lƣng còng, chân thọt.
Nó trông giống nhƣ ông kẹ. Những khuyếm khuyết trên cơ thể khiến việc di chuyển
của nó rất khó khăn. Thằng đầu to không đi đƣợc, chỉ lết là giỏi. Nó thậm chí không
thể khóc đƣợc. Mỗi khi buồn nó chỉ biết hét. Bất hạnh của nó là bị ngƣời thân bỏ mặc,
không quan tâm “Mỗi ngày mẹ nó ghé đúng năm phút vào buổi sáng và để lại mùi
nước hoa váng vất chóng mặt. Cha nó ghé buổi tối nồng nặc mùi bia. Còn vú Năm ghé
ban ngày, vú tỏa mùi xà phòng” (Quế Hƣơng, 2004, tr.3). Là vua của lũ đồ chơi –
những đồ chơi đắt tiền nhƣng nó không hề cảm thấy vui vì không có ai chơi cùng. Lỡ
(Bà mụ búp bê) cũng là một đứa trẻ bất hạnh vì tật nguyền. Nếu dị tật của thằng cua
53
(Siêu nhân cua), thằng đầu to (Vua lũ đồ chơi) là dị tật bẩm sinh thì dị tật của con Lỡ
là dị tật do di chứng sau khi sốt quá cao. Sự vô tâm của ba mẹ khiến nó “bị què sau
trận sốt tê liệt khi lên hai” (Quế Hƣơng, 2004, tr.112). Lỡ hiện lên trong tác phẩm là
một đứa trẻ “què quặt, ốm yếu”, “đôi chân cong vòng, nhỏ nhƣ cây sậy” (Quế Hƣơng,
2004, tr.111). Không chỉ bị dị tật ở chân, con Lỡ còn bị dị tật ở mắt “Con Lỡ lại bị một
cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả lúc nó cười” (Quế Hƣơng, 2004,
tr.112). Bất hạnh của Lỡ bắt nguồn từ sự vô tâm, vô trách nhiệm của đấng sinh thành.
Ba mẹ nó coi nó nhƣ một tai nạn, một chuyện ngoài ý muốn, lỡ nên mới sinh, rồi lỡ
quên tiêm phòng cho nó. Nếu thằng đầu to có cả một tủ đồ chơi đắt tiền thi con Lỡ
không có món đồ chơi nào của riêng mình. Con búp bế mà nó chơi hằng ngày là món
đồ chơi đã cũ, xấu xí, tật nguyền “trụi tóc, cụt tay” hẩm hiu nhƣ nó vậy. Đó là “con
búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó” (Quế Hƣơng, 2004, tr.112). Ƣớc mơ đƣợc
lành lặn, xinh đẹp của con Lỡ đƣợc thể hiện rõ qua giấc mơ “Nó mơ nó đau bụng, đẻ
con. Đẻ một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trông chiếc áo đầm
voan trắng” (Quế Hƣơng, 2004, tr.119). Với con Lỡ, những điều tốt đẹp chỉ xuất hiện
trong những giấc mơ.
Nét riêng trong cách viết về trẻ em tật nguyền bất hạnh của Võ Diệu Thanh đó
là luôn lấp lánh tinh thần lạc quan. Khác với những dị tật không thể chữa lành của
thằng đầu to, của con Lỡ trong truyện của Quế Hƣơng, dị tật của thằng cua trong
truyện của Võ Diệu Thanh đƣợc chữa lành. Càng cua trên tay của thằng cua cuối cùng
cũng đƣợc cắt bỏ nhờ vào sự giúp đỡ của cô Thanh và một nhà hảo tâm. Cuộc đời
thằng cua từ đó bƣớc sang một trang mới “Bàn tay nó chỉ còn cái sẹo nhỏ xíu” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.65). Rũ bỏ mặc cảm, tự ti, thằng cua – giờ là nhỏ Đệ vui vẻ đến
trƣờng. Trong cách nhìn của bạn bè cùng lớp, nó không còn dữ tợn, đáng sợ mà trở
nên hiền lành, dễ mến “không có cái càng cua, nhỏ Đệ trở nên hiền lành” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.65). Viết về những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền, Võ Diệu Thanh bộc
lộ cái nhìn cảm thông, thƣơng xót đối với những bất hạnh của trẻ em. Qua lời của ba
bé Mai (Thả diều) và lời của cô giáo Thanh (Siêu nhân cua), nhà văn khẳng định việc
kết tội, kì thị trẻ là hành động đáng lên án. Nỗi đau chỉ có thể xoa dịu bằng hơi ấm tình
ngƣời.
54
2.2.3. Nạn nhân của bạo lực gia đình
Gia đình là cái nôi, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của mỗi ngƣời. Ai cũng
mong muốn đƣợc lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng của cha mẹ. Nhƣng rất nhiều
ngƣời không có đƣợc điều đó. Họ thƣờng xuyên phải hứng chịu những lời mắng chửi,
đòn roi từ chính những ngƣời thân trong gia đình mình. Đó là biểu hiện của tình trạng
bạo lực gia đình. Vấn nạn đó ngày càng có xu hƣớng gia tăng trong xã hội ngày nay.
Điều này đƣợc Võ Diệu Thanh đề cập đến trong các sáng tác của mình, đặc biệt là
trong các truyện viết cho thiếu nhi. Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều trẻ em là nạn nhân của bạo
lực gia đình. Các em bị tổn thƣơng cả thể xác lẫn tâm hồn. Đó là Hào trong Siêu nhân
cua, cu Lý trong Thả diều và Nhã, bé Thi trong Bí mật theo cô.
Hào (Siêu nhân cua) thƣờng xuyên bị ba đánh đòn. Những lúc bị ba đánh, nó
chỉ biết đứng im chịu trận không bỏ chạy, không khóc, không kêu la: “Tôi đi học
ngang nhà nó nên ngày nào cũng thấy nó bị đòn. Mà ba nó khó y như nó. Đánh không
cho nó khóc cũng không cho chảy nước mắt. Nó cắn răng lại” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.70). Qua lời kể của Hƣng, ngƣời đọc hình dung rõ những đau đớn của Hào. Vì bị
đánh nhiều, thằng Hào trở nên lì đòn, ngổ ngáo. Đi học, nó luôn kiếm cớ bắt nạt bạn
bè trong lớp. Nó bắt nhỏ Mai vẽ cho nó, bắt thằng Nam viết bài cho nó, bắt thằng
Hƣng đi mua bánh cho nó. Bất cứ bạn nào trong lớp cũng là đối tƣợng để nó bát nạt.
Tinh nghịch, nhanh nhẹn nhƣ Hƣng cũng không thể chạy trốn đƣợc nó. Thông minh,
sáng dạ nhƣ Nam cũng không nghĩ ra cách để đối phó với nó. Ngây thơ, hiền lành nhƣ
nhỏ Mai cũng không làm nó mủi lòng tha cho. Tất cả các bạn trong lớp đều sợ nó, đều
phải phục tùng nó, miễn cƣỡng làm theo yêu cầu của nó “phải mua đúng cái loại nó
thích ở bên kia đường. Tôi sợ xe thì cũng phải đi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70).
Không đƣợc nhƣ ý, thằng Hào sẽ trút giận bằng cách đánh bạn “Thằng Hào đánh
thằng Nam vì cái tội thằng này dám kéo con Mai đi chơi khi nó đang bắt con Mai vẽ
tranh cho nó” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69). Trong cách nhìn của Hƣng, thằng Hào
hung dữ giống nhƣ ba nó vậy “Cái kiểu nó nói chuyện sao giống lúc ba nó đánh đòn
nó” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70). Vì sợ bị nó đánh, Hƣng phải nghỉ học bốn. Vì sợ nó
đánh, những bạn từng bị nó bắt nạt không ai dám tố cáo với thầy hiệu trƣởng. Khi thầy
đến tận lớp điều tra bạn nào thƣờng xuyên đánh các bạn khác, nó liền dơ nắm đấm lên
hù dọa. Sau khi thầy quay lƣng ra ngoài, nó liền đánh bạn “Nó vừa nói vừa ép tôi vô
55
tường rồi co tay thụi vô bụng tôi một cái” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72). Sở dĩ Hào tỏ
ra ngổ ngáo, luôn bắt nạt bạn, đánh bạn là vì nó đã chịu rất nhiều đòn roi từ bố. Những
uất ức khi bị bố đánh không thể khóc, không thể la, không thể nói ra lâu ngày dồn nén
khiến nó bị tổn thƣơng tâm lí. Vì thế, thằng Hào đáng thƣơng hơn đáng trách. Khi hiểu
đƣợc vì sao Hào hay đánh bạn nhƣ vậy, các bạn trong lớp đã có cái nhìn thông cảm
hơn với nó. Trong mắt của Hƣng, Hào thật ra cũng rất hiền “Thật ra nó không hung dữ
chút nào bạn ạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73).
Cu Lý (Thả diều) cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nếu Hào trong Siêu
nhân cua chỉ bị bạo lực thân thể thì cu Lý bị bạo lực cả thân thể và bạo lực tinh thần.
Là một ngƣời anh hết mực thƣơng yêu em, cu Lý cả thấy sợ hãi, đau đớn khi thấy em
bị đuối nƣớc. Nỗi đau vì mất đi đứa em gái mà mình yêu thƣơng nhất không đƣợc
chữa lành. Tâm hồn non nớt của một đứa trẻ càng bị tổn thƣơng sâu sắc khi ba mẹ vì
quá đau buồn khi đứa con gái bé bỏng, xinh xắn, đáng yêu bị đuối nƣớc đã trút giận
lên nó. Đòn roi và những lời mắng chửi thậm tệ của cha mẹ đã làm cu Lý tổn thƣơng.
Nó trở nên chai sạn với những lời rủa sả, mắng nhiếc thật nặng lời, những nhát roi thật
đau của ba và tiếng khóc thê thiết của má. “Những vết roi chồng lên những vết roi.
Những nhát roi bền bỉ làm cho nó chai đòn lì đòn” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 32).
Không tìm đƣợc sự đồng cảm từ bố mẹ và mọi ngƣời, cu Lý giấu kín nỗi đau trong
lòng. Nó trở nên cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Với một đứa trẻ lên tám, nỗi
đau đó thật quá sức chịu đựng. Một đứa trẻ thông minh, hoạt bát bỗng trở nên lầm lì.
Một đứa trẻ tình cảm, ngoan ngoãn bỗng trở nên vô cảm, phá phách. Một đứa trẻ rất
mực cƣng chiều em bỗng trở nên căm giận tất cả những đứa trẻ đƣợc ba mẹ cƣng
chiều. Một đứa trẻ rất mê thả diều bỗng trở nên căm ghét tất cả những ai thả diều “Con
ghét hết thảy diều. vì con mê thả diều mà em con té xuống nước rồi” (Võ Diệu Thanh,
2017, tr. 35). Những lời kết tội của ba mẹ khiến cu Lý luôn sống trong giày vò mặc
cảm. Nó đau đớn, ân hận tự trách mình, rồi giận lây sang cả con diều và những đứa trẻ
thả diều. Nỗi đau mất em âm ỉ trong tim nó suốt hai năm “Nó chiêm bao thấy con Điêu
Thuyền õng ẹo, màu mè bay vào mặt nó. Nó chụp con Điêu Thuyền định xé con diều
thì bất ngờ con diều biến thành Bé Châu cụt đuôi đau đớn nằm gọn trong tay nó. Nó
ôm Bé Châu vô mình khóc hức từng cơn” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.33). Nỗi đau đó
phần nào đƣợc xoa dịu khi cu Lý đƣợc hai cha con bé Mai động viên tâm sự.
56
Nhân vật trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh không chỉ có Hào, Lý mà còn có Nhã và bé Thi - em của Nhã.
Trong truyện Bí mật theo cô, Nhã thƣờng xuyên nghe ba mẹ chửi nhau, thƣờng xuyên
chứng kiến cảnh mẹ nó bị bạo hành. Mỗi lần đi nhậu về, ba của nó lại mắng chửi, đuổi
đánh ba mẹ con nó. Không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Nó sợ tiếng cằn nhằn
của má, tiếng chửi của ba, tiếng khóc ré lên của em Thi. Số lần ba má nó mắng chửi,
đánh đập nhau không tính bằng chục, trăm lần mà đến hàng ngàn, hàng tỉ lần “Khi ba
bắt đầu nhóng ga cho xe lao đi mặt má đã tối sầm. Khi ba về thì mọi thứ như đổ ầm
xuống. Nhã thường kéo má đi ra cái nhìn của ba. “Nhịn ổng đi má”. Nhã nói theo bà
ngoại, nói riết thành quen miệng. Đã thấy má nhịn hàng ngàn hàng tỉ lần” (Võ Diệu
Thanh, 2017, tr. 40). Việc ba má Nhã thƣờng xuyên gây lộn với nhau gây nên những
tổn thƣơng rất lớn trong lòng Nhã “Những lúc họ gây nhau Nhã muốn nhảy nhót như
điên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 40). Sinh ra trong một gia đình nghèo, không đƣợc ba
mẹ quan tâm lại thƣờng xuyên chứng kiến cảnh ba mẹ gây lộn, vì thế Nhã không thể
hồn nhiên, vô tƣ nhƣ những bạn cùng lứa tuổi. Nó lúc nào cũng buồn lo. Là một cô bé
học lớp Năm, nhƣng Nhã lo nghĩ nhƣ một ngƣời lớn. Nó hầu nhƣ không đêm nào có
đƣợc một giấc ngủ ngon. Bởi, “Nó còn phải lắng nghe coi ba nó đã về chưa, má nó có
cằn nhằn không để còn khuyên một câu: “Nhịn đi má ơi”. Nó còn phải lắng nghe coi
má có mở cửa nhà bỏ đi không. Nhất là mấy bữa má khóc nhiều, than thở nhiều” (Võ
Diệu Thanh, 2017, tr. 40). Cô bé đáng thƣơng luôn gồng mình, tìm mọi cách để ba mẹ
hòa hợp. Biết ba muốn ăn “món canh khổ qua dồn chả” nó mừng quýnh nhờ má chở đi
chợ mua đồ, học cách nấu. Nhã dồn hết tình yêu thƣơng ba của mình vào món ăn, kì
công chuẩn bị “bỏ cả nửa ngày bằm chả”. Nhƣng, đáp lại là sự vô tâm của ba. Đến giờ
ăn, khi có bạn nhậu gọi đi, ba nó liền đi ngay. Nhã cảm thấy tủi nghẹn “Tiếng xe máy
xa dần. Nhã nghe hơi nóng ở ngực nhéo một cái mạnh, một cơn nghẹn trào lên” (Võ
Diệu Thanh, 2017, tr. 46). Nồi canh mà nó dành bao công sức, tỉ mẩm để nấu cuối
cùng “chẳng ai rớ tới nó”. Buồn hơn là khi đi nhậu về ba nó nổi nóng liền hất luôn nồi
canh. Đề tập làm văn cô giáo giao “Viết về bữa cơm gia đình” với một đứa học giỏi
Văn nhƣ nó không khó. Nhƣng nó không thể viết đƣợc. Bởi nó chƣa từng có một bữa
cơm gia đình đầm ấm. Điều bình thƣờng, giản dị với mỗi ngƣời lại trở thành mơ ƣớc
của nó.
57
Không chỉ Nhã bị ám ảnh mỗi lần ba má nó gây lộn mà bé Thi – em của Nhã
cũng bị ám ảnh “Bé Thi khóc ré lên. Má đi riết vào nhà. Nhã đóng cửa nhà rồi cũng đi
theo. Má đã kế một bên mà bé thi còn tức tưởi. Có lẽ bé cũng đang ám ảnh cảnh ẩu đả
của ba má lúc chiều. Em Thi mới ba tuổi đầu …” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 41). Mới
ba tuổi đầu, bé Thi đã bị tổn thƣơng tâm lí nặng nề vì nhiều lần chứng kiến cảnh ba mẹ
đánh nhau. Nó đã quen với việc mỗi lần ba đi nhậu về là phải chạy trốn “Ba gần về
rồi, Mình chạy đi má, để hông thôi ổng xỉn rượt chạy không kịp” (Võ Diệu Thanh,
2017, tr. 46). Lời nói của một đứa trẻ non nớt khiến ngƣời đọc không khỏi nghẹn lòng.
Viết về những đứa trẻ là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, nhà văn bày
tỏ sự cảm thƣơng sâu sắc. Khác với nhỏ Hạnh, Quý ròm, Văn Châu, Tiểu Long trong
Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh may mắn khi đƣợc sinh ra trong gia đình có điều
kiện khá giả, đƣợc bố mẹ quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để học tập và vui chơi,
Dẫu, Hào, Nhã, Thi, cu Lý trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh lại chịu
nhiều thiệt thòi khi thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Bất hạnh lớn nhất của các em
đó là thƣờng xuyên bị mắng chửi, đánh đập. Tâm hồn non nớt của chúng bị tổn thƣơng
sâu sắc trƣớc những câu nói đay nghiến nặng lời từ chính ba mẹ của mình. Trẻ em sinh
ra là để đƣợc yêu thƣơng, che chở chứ không phải để nghe chửi mắng, để bị đánh đập.
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hƣởng đến tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học
đó là gia đình. Những đứa trẻ đƣợc sinh ra và lớn lên trong một gia đình hạnh phúc,
đƣợc ba mẹ yêu thƣơng, quan tâm đúng cách thƣờng có tâm lí ổn định. Trẻ em lớn lên
trong môi trƣờng nhƣ vậy thƣờng sẽ cảm thấy vui vẻ, trẻ sẽ vô tƣ, hồn nhiên đúng tuổi.
Ngƣợc lại những đứa trẻ không đƣợc cha mẹ quan tâm, yêu thƣơng đúng cách thƣờng
có tâm lí thay đổi thất thƣờng: hoặc là trở nên rụt rè, nhút nhát, hoặc trở nên lì lợm,
phá phách. Nhƣng nhìn chung những đứa trẻ lớn lên trong môi trƣờng nhƣ vậy thƣờng
sống nội tâm, ít nói, thu mình lại, giấu kín suy nghĩ của mình.
Võ Diệu Thanh có tuổi thơ chịu nhiều thiệt thòi khi phải sống xa ba mẹ từ nhỏ.
Vì thế, hơn ai hết, chị hiểu, thông cảm những khó khăn, những thiệt thòi của những
đứa trẻ kém may mắn trong cuộc sống. Với trái tim nồng nàn yêu thƣơng của một
ngƣời mẹ, của một cô giáo tiểu học, bằng tài năng của một nhà văn, Võ Diệu Thanh đã
chạm đến trái tim của độc giả. Viết về những tổn thƣơng tinh thần của những đứa trẻ là
nạn nhân của bạo lực gia đình nhƣ Hào, cu Lý, Nhã, bé Thi, Võ Diệu Thanh muốn
58
nhắn nhủ đến những bậc phụ huynh hãy dành nhiều thời gian để lắng nghe mong
muốn của con mình.
2.3.4. Nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục
“Mỗi ngày đến lớp là một ngày vui”. Câu khẩu hiệu quen thuộc ấy treo ở khắp
các trƣờng học, khắp các lớp học. Nhƣng, liệu học sinh có thực sự vui vẻ đến trƣờng
khi căn bệnh thành tích trong giáo dục đang phát triển và trở thành ung nhọt khó có thể
chữa lành. Nhiều học sinh trở thành nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục.
Nhiều học sinh sợ học, chán học và bỏ học. Thực trạng đó đƣợc Võ Diệu Thanh đề cập
đến trong nhiều truyện viết cho thiếu nhi. Tìm hiểu hình tƣợng nhân vật trẻ em trong
truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều trẻ em là nạn
nhân của bệnh thành tích trong giáo dục. Đó là Dẫu, Dị, Hậu, Đực, Hà Vi, Tƣờng
trong Lần đầu thấy trăng; Dƣa Leo trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.
Dẫu (Lần đầu thấy trăng) là một trong những nạn nhân của căn bệnh thành tích
trong giáo dục. trƣớc khi đi học từng nghĩ rằng trƣờng học là chốn thiên đƣờng.
Nhƣng khi đã đặt chân vào chốn thiên đƣờng ấy, nó hụt hẫng nhận ra nơi ấy chẳng
khác gì một nhà tù. Nó và những học sinh trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi là những nạn
nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục. Năm lớp Một, Dẫu học với thầy Mãi.
Trong mắt Dẫu, thầy Mãi là một giáo viên bất tài, dạy học rập khuôn, thƣờng hay
mắng chửi, thậm chí đánh đập học sinh. Học xong lớp Một, Dẫu vẫn chƣa biết đọc.
Lên lớp Hai, dẫu học với cô Đẹp. Nó quen gọi cô là cô Tài Ba vì cô có tài biến hóa,
phù phép chất lƣợng, có tài diễn xuất trong những lần có đoàn thanh tra dự giờ, có tài
dụ và dọa học sinh và đặc biệt là có tài lấy lòng phụ huynh học sinh. Vì căn bệnh
thành tích, thầy Mãi, cô Tài Ba tìm cách đẩy Dẫu lên lớp. Hậu quả là lên lớp Ba nó
vẫn chƣa biết đọc. Chán nản với việc học, Dẫu bỏ học đi bán vé số. Với nó, đi học là
một cực hình, nhà trƣờng giống nhƣ nhà tù, địa ngục “Nhờ có những ngày đi học
giống như địa ngục mà tôi thấy bán vé số sướng” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.106). Dẫu
cảm thấy việc mình bỏ học đi bán vé số là sáng suốt “Tôi phát hiện mình có năng
khiếu bán vé số. Một cái nghề không cần học vẫn có thể kiếm được tiền” (Võ Diệu
Thanh, 2014, tr.106). Sau những ngày tháng bỏ học đi bán vé số, cuộc đời của Dẫu
trƣợt dài. Dẫu sa ngã. Nó bán trinh khi mới mƣời bốn tuổi.
Dị (Lần đầu thấy trăng) trở thành nạn nhân của bệnh thành tích giáo dục theo
một cách khác. Vì ham mê thành tích, mẹ của Dị đã dùng tiền để hối lộ cô giáo chủ
59
nhiệm “Thằng Dị nói năm nay nó sẽ được ưu tiên. Tôi mà ăn hiếp nó cô sẽ tính sổ tôi.
Nó nói đầu năm má nó đã đem một phong bì lớn tới đưa cho cô Đẹp rồi” (Võ Diệu
Thanh, 2014, tr. 59). Nhờ đó, Dị vẫn đƣợc lên lớp Hai dù chƣa biết đọc, chƣa biết viết.
Thậm chí, nó còn đƣợc nhận giấy khen. Hậu quả của thành tích ảo đó là Dị lên lớp Ba
vẫn chƣa biết đọc.
Giống nhƣ Dẫu và Dị, Hậu cũng là nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo
dục. Hậu bị ép lên lớp để không ảnh hƣởng đến chỉ tiêu của trƣờng. Giữa năm lớp
Bốn, Hậu nhận đƣợc tin thầy hiệu trƣởng yêu cầu Hậu sang năm phải lên lớp Sáu. Để
theo kịp chƣơng trình, Hậu phải gồng mình học “Dạ tại con đủ tuổi lớp Sáu. Ngày mai
con phải đi học ngày hai buổi, sáng lớp Bốn chiều lớp Năm, đặng hết năm nay vô học
lớp Sáu. Con không học lớp Sáu đâu, con nghỉ học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.101).
Một nạn nhân khác của căn bệnh thành tích trong giáo dục đó là Đực. Nó sớm
bỏ học lêu lổng vì chán ngán việc học và mất niềm tin nơi thầy cô. Qua lời kể của Đực
với Dẫu, ngƣời đọc hiểu hơn những tiêu cực trong giáo dục. Đực vốn là học sinh lớp
cô Tài Ba. Nó học yếu nên bị cô Tài Ba tìm mọi cách đẩy sang lớp khác. Đực bị cô dụ
sang học lớp thầy Minh cô sẽ cho tiền. Nó còn bị cô dọa nếu học lớp cô sẽ bị cô đánh,
vi phạm gì ở lớp cô sẽ mách với ba nó. Trƣớc những lời dỗ ngọt và dọa nạt của cô
giáo, nó buộc phải chuyển lớp. Vì căn bệnh thành tích, Đực bị đẩy từ lớp này sáng lớp
khác. Sự vô tâm đùn đẩy trách nhiệm của cô Tài Ba đã khiến Đực mất niềm tin vào
thầy cô. Nó bỏ học chơi bời lêu lổng, trƣợt dài sa ngã rồi trở thành ma cô chuyên bảo
kê cho gái làng chơi.
Những học sinh học yếu nhƣ Dẫu, Dị, Hậu, Đực chán nản vì chuyện học tập đã
đành, ngay cả những học sinh học giỏi nhƣ Hà Vi và Tƣờng cũng thấy việc học không
có gì là vui. Chúng cũng là những nạn nhân của căn bệnh thành tích. Vì muốn con
đƣợc xếp hạng nhất, mẹ của Hà Vi ép nó học thêm trƣớc tuổi. Khi những kiến thức
trong sách giáo khoa không còn điều gì mới mẻ để khám phá, Hà Vi không còn cảm
thấy hứng thú khi học ở lớp Nhỏ này cái gì nó cũng biết trước. Nó đọc báo được luôn.
Nó đã được má nó mướn cô giáo dạy tư khi nó mới bốn năm tuổi. Đó là cách để vô lớp
thành học trò vượt trội (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.30). Điều mà mẹ của Hà Vi quan tâm
mong muốn không phải là con học đƣợc gì ở trƣờng mà là con có đƣợc xếp hạng nhất
hay không “Má nó nói, dù thầy Mãi không dạy gì hết nó cũng giỏi như thường. Bà
muốn nó lãnh thưởng hạng nhất nên đưa nó vô lớp thầy Mãi” (Võ Diệu Thanh, 2014,
60
tr.30). Để đạt đƣợc mục tiêu của mẹ đề ra, Hà Vi phải học thêm tối ngày. Nó học nhƣ
mọt sách không có thời gian để vui chơi nhƣ các bạn cùng trang lứa. Tƣờng là nạn
nhân của bệnh thành tích trong giáo dục khi phải làm bài thi thay bạn “Mỗi kỳ thi để
những đứa như tôi, Hậu, Dị có bài cô nhờ mấy đứa như Tường làm bài giùm” (Võ
Diệu Thanh, 2014, tr.60). Không phải là học sinh giỏi nhƣng vì là con giáo viên trong
trƣờng nên nó phải gồng mình để học. Áp lực học hành khiến nó không thể hồn nhiên,
vô tƣ đúng tuổi. Những căng thẳng đè nặng từ việc học quá sức khiến Tƣờng bị tâm
thần. Học đến phát khùng thì quả thật đáng sợ.
Nhân vật trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục còn có Dƣa
Leo (Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm). Qua lời kể của Mèo Ma Văn Vẻ thì “Dưa Leo là một
thằng sợ học. Nó nói lớp học nó có năm mươi đứa. Bốn mươi chín đứa đạt loại giỏi và
một mình Dưa Leo đạt loại trung bình” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14). Theo lời cô
giáo, học dốt nhƣ nó thì hoàn toàn không có tƣơng lai “Còn loại trung bình mém yếu
như Dưa Leo thì tới bê tông cũng không có mà cạp hoặc không biết đường cạp” (Võ
Diệu Thanh, 2016, tr.15). Áp lực thành tích khiến nó luôn tự ti không dám mở lòng với
bạn bè. Nó thƣờng rầu rĩ “ngồi nói một mình”. Mỗi ngày đến trƣờng với nó là một
ngày buồn chán “Vào lớp học Dưa Leo lại nằm ngủ” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.16).
Hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục
cũng đƣợc Quế Hƣơng khắc họa đậm nét qua nhân vật cu Gạo. Trong truyện ngắn
Trốn tìm, cu Gạo hiện lên là một đứa trẻ đáng thƣơng khi bị áp lực thành tích đè nặng.
Bố mẹ nó là những ngƣời có địa vị xã hội muốn con phải học trƣờng chuyên, lớp chọn.
Khi thấy cu Gạo không theo kịp các bạn ở trƣờng chuyên, họ tìm mọi cách để chuyển
trƣờng cho con. Để chuyển trƣờng, bố mẹ cu Gạo phải chạy chọt “Lại phải chạy cho
nó từ trung bình lên khá giỏi người ta mới nhận” (Quế Hƣơng, 2004, tr.142). Không
chỉ chịu áp lực từ phía gia đình, cu Gạo còn chịu áp lực rất lớn từ thầy cô. Thầy giáo
dạy Toán luôn “khủng bố” nó bằng những câu chửi: “ở lớp ông khủng bố dội bom nó
liên tục. Chữ như gà bới. Chậm như rùa. Nhát như thỏ. Ngu như chó” (Quế Hƣơng,
2004, tr.137). Áp lực học hành khiến cu Gạo trở thành đứa trẻ tự kỉ. Không bằng lòng
với cách dạy rập khuôn của thầy toán “khủng bố” và “cô văn mẫu”, thay vì nói tiếng
ngƣời, nó sủa tiếng chó “Gâu …gâu…gâu…” (Quế Hƣơng, 2004, tr.137). Thành tích
trở thành tảng đá vô hình luôn đè nặng tâm trí cu Gạo “thằng bé mười hai tuổi lử đử lừ
61
đừ cõng trong tâm hồn mình một tảng đá nặng hơn thân xác” (Quế Hƣơng, 2004,
tr.147).
Có thể thấy, căn bệnh thành tích trong giáo dục đã khiến nhiều trẻ em chịu bất
hạnh. Võ Diệu Thanh gọi những đứa trẻ bất hạnh đó là những đứa trẻ bị dị tật về tinh
thần. Điều đáng buồn là tình trạng trẻ em bị dị tật tinh thần nhƣ vậy ngày càng trở nên
phổ biến “Những đứa trẻ kiểu Dẫu Dị Hợm còn đầy đó” (Võ Diệu Thanh, 2014,
tr.270). Viết về những trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục nhà
văn bày tỏ những trăn trở, bức xúc về sự vô tâm của ngƣời lớn“Những người lớn gặp
con cháu không bao giờ hỏi cháu lúc này có gì vui không, có gì thú vị để san sẻ
không? Chỉ hỏi cháu học đạt loại gì, hạng mấy, lớp mấy” (Võ Diệu Thanh, 2014,
tr.268). Những kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô đã vô tình tạo ra áp lực cho trẻ em. Để
vừa lòng ngƣời lớn, những đứa trẻ học một cách đối phó “tao muốn chứng tỏ mình
siêng một chút, có học dở họ cũng không có rầy la” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.287).
Qua hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục, nhà
văn khẳng định bộ lộ những trăn trở suy tƣ và phƣơng pháp giáo dục, đồng thời cất
tiếng nói đối thoại về hình tƣợng ngƣời thầy và về quyền của trẻ em.
2.3. Nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu
Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có hoàn
cảnh sống khác nhau, tính cách khác nhau nhƣng phần lớn là những đứa trẻ rất giàu
tình cảm. Đó là những đứa trẻ rất yêu thiên nhiên, yêu thƣơng loài vật, yêu thƣơng con
ngƣời, đặc biệt là những ngƣời thân. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua các nhân vật
nhƣ: Bin trong Chú ong bé bỏng, Nhân trong Cáp treo cho những mặt trời; Ngàn, Hà
trong Khi hai vua về một nhà, Quý trong Chúng mình bay đầy trời và Bòn Bon, Vĩ
trong Tiền của thần cây.
2.3.1. Yêu thiên nhiên
Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin khiến những đứa trẻ tìm niềm
vui trong những bộ phim hoạt hình, những trò chơi điện tử bên chiếc điện thoại hay
máy tính bảng. Nhiều trẻ em cảm thấy xa lạ với những con vật, cây cỏ xung quanh
mình. Vì thế, việc khơi dậy tình yêu đối với thiên nhiên qua những tác phẩm văn học
là điều rất cần thiết. Là nhà văn dành nhiều tâm huyết với mảng văn học thiếu nhi, Võ
Diệu Thanh trong những sáng tác của mình luôn hƣớng ngòi bút đến việc giáo dục tình
62
yêu thiên nhiên cho trẻ em. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua việc khắc họa nhân vật trẻ
em với tình yêu thiên nhiên tha thiết.
Trẻ em luôn thích đƣợc gần gũi, chan hòa, gắn bó với thiên nhiên, thích đƣợc
nhìn ngắm, nô đùa cùng cỏ, cây, hoa, lá. Với trẻ em, thế giới tự nhiên luôn bí ẩn, diệu
kì cần đƣợc khám phá. Có thể nói, trẻ em luôn dành một tình cảm yêu thƣơng đặc biệt
đối với thiên nhiên xung quanh mình. Với trẻ thiên nhiên không chỉ là đối tƣợng để
tìm hiểu, khám phá mà còn là một ngƣời bạn thân thiết. Ngƣời bạn đó luôn mở rộng
vòng tay để ôm ấp vỗ về, luôn mở rộng trái tim để lắng nghe thấu hiểu những lúc trẻ
em cần.
Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều
nhân vật trẻ em hiện lên với tình yêu thiên nhiên tha thiết. Điều này đƣợc thể hiện rõ
nhất qua hai nhân vật Bin trong Chú ong bé bỏng và Quý trong Chúng mình bay đầy
trời.
Bin (Chú ong bé bỏng) rất yêu vƣờn bí ngô của ông nội. Mỗi ngày, nó thƣờng
cùng ông nội chăm sóc khu vƣờn. Bin chăm chỉ “tƣới nƣớc cho cây bí”. Cậu bé say
sƣa ngắm nhìn khu vƣờn và reo vui khi nhìn thấy những bông hoa bí vàng tƣơi “Bin
nhìn mấy bông hoa bí vàng tươi rất khoái chí” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.20). Nó hồ
hởi dẫn các bạn đến tham quan khu vƣờn và nhiệt tình giới thiệu từng quả bí, từng loại
hoa bí cho các bạn biết. Không chỉ vậy, Bin còn háo hức kể lại “chiến tích” thay ong
thụ phấn cho hoa bí. Khi lỡ tay “cắt hết bông bí đực”, sợ vƣờn bí không thể đậu quả,
Bin đã “lấy phấn hoa ở hoa bí đực để vào hoa bí cái” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.31).
Nhờ thế Bin là cứu nguy cho vƣờn bí. Nhìn những quả bí ngô to lớn, Bin không khỏi
không tự hào “Bin đưa các bạn về nhà để khoe quả bí” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.10).
Nếu Bin thích cùng nội chăm sóc vƣờn bí ngô thì Quý lại thích đƣợc cùng nội
chăm sóc vƣờn su su.Tình yêu đó đƣợc bộc lộ rõ qua nỗi nhớ da diết vƣờn su su. Khi
chuyển chỗ ở để thuận lợi cho việc học, không đƣợc cùng nội chăm sóc vƣờn su su,
Quý rất buồn, rất nhớ. Nó luôn tìm cách chạy trốn để về với nội, về để cùng nội trồng
su su “Nó nói nhớ núi Cấm, nhớ Nội, nhớ cái vườn su su của Nội” (Võ Diệu Thanh,
2016b, tr.10). Tình yêu dành cho thiên nhiên của Quý còn đƣợc bộc lộ qua lời kể của
Hƣng. Phải xa vƣờn su su Quý buồn bao nhiêu thì khi đƣợc về thăm vƣờn nó vui vẻ,
hạnh phúc bấy nhiêu. Hình ảnh Quý xuất hiện trên ti vi bên vƣờn su su hiện lên thật
đẹp qua cái nhìn của Hƣng: “Thằng Quý nó cắt mấy trái su su. Nó còn bưng rổ su su
63
để vào rổ lớn cho mẹ gánh đi bán” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.64). Trong khi chơi đùa
cùng các bạn, Quý thƣờng hào hứng kể cho các bạn nghe về vƣờn su su của nội, về
cách trồng, chăm sóc và thu hoạch su su ra sao. Phải có lòng yêu thiên nhiên tha thiết
Quý mới vui vẻ, hào hứng yêu thích việc trồng su su trên núi Cấm cùng nội đến vậy.
Viết về nhân vật trẻ em có tình yêu thiên nhiên tha thiết không chỉ có Võ Diệu
Thanh. Đọc các truyện viết cho thiếu nhi của Trần Hoài Dƣơng, Nguyễn Ngọc Thuần,
ngƣời đọc cũng sẽ bắt gặp những đứa trẻ thích đƣợc hòa mình với thiên nhiên. Trang
trong Lá non của Trần Hoài Dƣơng là một cô bé nhƣ thế. Cô bé rất yêu các loài cây cỏ
xung quanh mình, đặc biệt là cây long não. Tình yêu đó đƣợc bộc lộ rõ nhất trong lần
Trang bị ốm. Tâm trạng buồn vui của nhân vật gắn liền với cây long não. Những ngày
ở bệnh viện trong căn phòng kín mít, không đƣợc ngắm nhìn và ngửi mùi hƣơng của
loại cây mà mình yêu thích, Trang rất buồn. Nhƣng khi các bạn trong lớp mang cây
long não đến thăm, cô bé vui mừng hớn hở. Nó áp mặt vào cành long não, say sƣa
ngắm nhìn những bông hoa li ti và hít một hơi thật dài để cảm nhận mùi thơm ngào
ngạt đang tỏa ra khắp phòng. Những buồn chán, mỏi mệt của nó dƣờng nhƣ tan biến.
Vì yêu thiên nhiên, muốn đƣợc gần gũi, khám phá những điều kì thú của thiên nhiên,
Trang mơ ƣớc lớn lên sẽ thi vào Trƣờng Đại học Tổng hợp, khoa Sinh vật. Có thể nói,
chính tình yêu thiên nhiên sâu sắc, mãnh liệt đã chắp cánh ƣớc mơ và giúp Trang tìm
thấy niềm vui mỗi ngày.
Đến với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, ta cũng bắt
gặp hình tƣợng nhân vật trẻ em yêu thiên nhiên tha thiết. Điều này đƣợc thể hiện rõ
qua hình tƣợng nhân vật Trí Dũng. Mỗi ngày cậu bé thƣờng ra vƣờn chơi trò đố hoa gì
cùng bố “Những buổi chiều tôi hay nhắm mắt sờ những bông hoa rồi tập đoán. Tôi
đoán được hai loại hoa: hoa mồng gà và hoa hướng dương. […] không bao lâu, tôi đã
đoán được hết vườn hoa” (Nguyễn Ngọc Thuần, 2004, tr.41). Niềm vui hiện rõ trên
khuôn mặt cậu bé mỗi khi đoán đúng tên từng loại hoa trong vƣờn. Phải là ngƣời có
tình yêu thiên nhiên tha thiết, Trí Dũng mới vui vẻ, hào hứng thăm vƣờn mỗi ngày
cùng bố nhƣ vậy.
Nếu cô bé Trang trong Lá non của Trần Hoài Dƣơng yêu thích cây long não,
Trí Dũng trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần yêu thích các
loại hoa trong vƣờn thì Bin trong Chú ong bé bỏng của Võ Diệu Thanh lại đặc biệt yêu
thích vƣờn bí ngô. Qua việc miêu tả niềm vui của các nhân vật trẻ em khi đƣợc hòa
64
mình với cây cỏ, nhà văn muốn hƣớng đến việc giáo dục trẻ em tình yêu đối với thiên
nhiên. Bởi hơn ai hết, nữ văn sĩ hiểu rằng khi đƣợc hòa mình với thiên nhiên, các bạn
nhỏ sẽ khám phá ra rất nhiều điều thú vị và thỏa sức sáng tạo.
2.3.2. Yêu thƣơng con ngƣời
Hƣớng đến việc giáo dục nhân cách cho trẻ, những sáng tác của Võ Diệu Thanh
không chỉ giáo dục trẻ em tình yêu thiên nhiên mà còn giáo dục tình yêu thƣơng con
ngƣời. Trƣớc hết, đó là tình cảm yêu thƣơng đối với những ngƣời thân trong gia đình.
Nhân vật trẻ em trong các sáng tác của Võ Diệu Thanh hầu hết là những đứa trẻ sống
rất tình cảm, luôn dành tình cảm quan tâm, yêu thƣơng đặc biệt đối với ông bà, cha
mẹ, bạn bè và những ngƣời xung quanh mình. Đó là Tì Ti, Nhóc trong Những cậu bé
mặt trời; cu Lý trong Thả diều; Ngàn, Hà trong Khi hai vua về một nhà; Nhã trong Bí
mật theo cô; Bòn Bon, Vĩ trong Tiền của thần cây; Nhân trong Cáp treo cho những
mặt trời; Quý trong Chúng mình bay đầy trời; Út Tiền trong Quà tặng của ngày mai.
Những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho của Võ Diệu Thanh luôn dành tình
cảm yêu thƣơng đặc biệt đối với mẹ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua các nhân vật
nhƣ: Tì Ti, Nhóc, Hà, Nhã, Út Tiền.
Tì Ti và Nhóc (Những cậu bé mặt trời) rất yêu thƣơng mẹ. Cả hai phải sống xa
mẹ từ khi còn rất nhỏ. Mỗi năm chúng chỉ đƣợc gần mẹ mấy ngày Tết. Xa mẹ, chúng
nhớ mẹ da diết. Nỗi nhớ đó đƣợc Tì Ti và Nhóc nhiều lần thốt lên: “tao nhớ má”, “tao
nhớ má hoài”, “tao còn nhớ má nhiều hơn mày” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7). Để với
đi nỗi nhớ má, Tì Ti mỗi ngày đều tìm cách nói chuyện với đồ vật. Nó nâng niu đôi
dép mẹ tặng. Biết mẹ sắp về, cả Tì Ti và Nhóc đều háo hức chờ đón mẹ. Tình yêu
dành cho mẹ của hai bạn nhỏ càng đƣợc thể hiện rõ qua hành động “Hai đứa còn vò
đất thành sợi dài rồi vòng vèo thành hàng chữ “Bãi chờ mẹ”” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.7).
Tình thƣơng dành cho mẹ đƣợc thể hiện rõ nét qua nhân vật Hà trong truyện
Khi hai vua về một nhà. Tình cảm đó không chỉ đƣợc thể hiện qua lời nói mà còn đƣợc
bộc lộ qua hành động. Nó nói với Ngàn “Ai nói mày tao không thương mẹ? Tao chỉ có
một mình mẹ. Hồi nhỏ tới lớn chỉ có mẹ thương tao nhất … Tao cũng muốn học giỏi
cho mẹ tao vui nhưng tao học không được” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17). Biết mẹ
buồn vì mình hay trốn học, mê chơi, học yếu, Hà đã thay đổi. Thay vì đi chơi, Hà biết
ở nhà phụ giúp mẹ “Khi định bước đi nó nhìn thấy mẹ Mai đang bưng một rổ rau dền
65
lớn, mồ hôi chảy xuống mắt mẹ. Hà chạy lại đỡ rổ rau dền bưng vào gốc đa cho mẹ”
(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18). Không chỉ biết giúp đỡ mẹ, Hà còn cùng học, cùng chơi
với mẹ. Không để mẹ phải nhắc nhở, Hà biết tự giác học bài. Nó tự ý thức đƣợc rằng
mình cần phải học, nhất là môn tiếng Anh để dạy lại cho mẹ “Tao muốn mày dạy cho
tao nhiều hơn để tao dạy cho mẹ mấy lúc không có mày” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.20). Những lời nói và hành động đó dù nhỏ nhƣng chất chứa tình cảm yêu thƣơng,
sự quan tâm của Hà dành cho mẹ.
Sẽ là thiếu sót nếu nhƣ nói về những nhân vật trẻ em giàu tình cảm mà không
nhắc đến Nhã trong Bí mật theo cô và Út Tiền trong Quà tặng của ngày mai. Không
chỉ thƣơng mẹ, cả Nhã và Út tiền đều dành tình cảm quan tâm đến những ngƣời thân
khác trong gia đình của mình. Là một cô bé giàu tình cảm, Nhã không chỉ thƣơng mẹ
mà còn thƣơng ba và thƣơng em sâu sắc. Thƣơng mẹ, nó tìm cách bảo vệ mẹ tránh
những trận đòn và những lời mắng chửi nặng nề của ba. Nó ao ƣớc ba yêu thƣơng,
quan tâm mẹ nó nhiều hơn. Nó ao ƣớc đƣợc nhìn thấy nụ cƣời hạnh phúc của mẹ.
Niềm mong ƣớc đó đƣợc nó bày tỏ trong bài tập làm văn “Ba âu yếm nhìn má, gắp
cho má một khúc chả. Má vừa ăn vừa mỉm cười hạnh phúc” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.46). Thƣơng ba, nó mong muốn đƣợc gần gũi để hiểu ba mình hơn. Tình thƣơng ba
đƣợc thể hiện cụ thể qua hành động Nhã nấu cho ba món ăn mà ba thích. Biết ba muốn
ăn “món canh khổ qua dồn chả”, “Nhã mừng quýnh nhờ má chở đi chợ”. Muốn dành
tặng ba món canh thật ngon, nó chăm chú nghe, nhớ những lời dặn của má “Chả muốn
ngon phải mua cá tươi đem về tự mình bằm, tự mình nhồi. Phải để nước sôi mới thả
khổ qua vào” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.44). Nhã dồn hết tình cảm vào món ăn, kì công
chuẩn bị “bỏ cả nửa ngày bằm chả”. Tình thƣơng ba của Nhã xuất phát từ lòng vị tha,
sự thấu hiểu. Không thể trực tiếp nói lời yêu thƣơng đối với cha mình, Nhã thổ lộ qua
bài tập làm văn: “Con chỉ mong tới khi con đủ khôn lớn vẫn còn có ba. Con sẽ là
người bạn đáng tin tưởng nhất chia sẻ giúp ba những muộn phiền. Lúc đó con lại bằm
chả dồn khổ qua cho bữa cơm đầm ấm của nhà mình” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52).
Tình thƣơng của Nhã dành cho ba má không chỉ đƣợc bộc lộ qua suy nghĩ mà còn
đƣợc thể hiện qua những hành động cụ thể nhƣ: chăm chỉ học bài, cùng mẹ nấu cơm,
ngăn không để bố mẹ đánh nhau, ngồi canh cửa chờ ba, ngồi tâm sự cùng mẹ, nhắc mẹ
đi ngủ sớm … So với bạn bè cùng lứa, Nhã chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn cả vật chất
66
lẫn tinh thần. Nhƣng không vì thế má nó trách móc ba mẹ. Ngƣợc lại nó càng thƣơng
ba mẹ nhiều hơn. Điều đó quả thật đáng quý.
Giống với Nhã, Út Tiền cũng là một cô bé giàu tình cảm. Là em út, nhƣng cô bé
lại tỏ ra biết quan tâm, lo lắng hơn các anh chị của mình. Nó thƣơng mẹ, thƣơng cô
Sáu, thƣơng chị Hai, anh Ba của mình chân thành, tha thiết. Trƣớc hết là tình cảm yêu
thƣơng của Út Tiền dành cho mẹ. Đƣợc cô Sáu và ông Sáu chăm sóc chu đáo, dạy bảo
tận tình và hết mực yêu thƣơng nhƣng Út Tiền thì luôn muốn đƣợc về với mẹ. Trong
tác phẩm, nhà văn nhiều lần khẳng định tình cảm nhớ thƣơng của Út Tiền đối với mẹ
“Mỗi lần nhắc tới mẹ là nó dẫu đang làm gì cũng hai hàng nước mắt tuôn dòng. Đang
ăn cơm mà thấy xe dừng lại, cô Sáu nói mẹ về là nó bỏ cơm bỏ dép chạy ra chỗ chiếc
xe. Nó thương mẹ, thương anh em” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.60). Chính Chùa – anh
trai của nó cũng phải công nhận “Nó thương mẹ lắm, lại rất biết quan tâm mọi người”
(Võ Diệu Thanh, 2021, tr.54). Dù còn rất nhỏ (sáu tuổi), Út Tiền đã tỏ ra là một ngƣời
con hiếu thảo khi ý thức rõ về bỏn phận của con cái đối với mẹ “Út Tiền vui vẻ ở với
cô Sáu để chờ lớn về nuôi mẹ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.60). Không chỉ yêu thƣơng
mẹ, Út Tiền còn yêu thƣơng cô Sáu và các anh chị em của mình. Mặc dù còn nhỏ chƣa
hiểu chuyện, nhƣng mỗi lần thấy cô Sáu khóc là Út Tiền cũng khóc theo. Nó quan tâm
đến các anh chị của mình từ những việc nhỏ nhất nhƣ nhắc anh chị uống nƣớc vào
buổi sáng khi mới thức dậy “Nó thấy chúng tôi không uống, nó sợ anh chị bị ông Sáu
phạt. Vậy là nó rót nước bưng tới cho thằng anh một ly, con chị một ly. Lúc đi chơi
cũng vậy, hễ chị nàng khát nước đi lấy nước uống thì thế nào cũng lấy đủ cho cả ba
chị em” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.59). Sự quan tâm của Út Tiền khiến anh Hai nó phải
cảm động “Út Tiền không phải chỉ chia sẻ những chuyện lo lắng, nó còn dám chia cả
chuyện đòn roi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.59). Biết ông Sáu một mình nuôi ba chị em
nó rất vất vả, Út Tiền đã tự giác phụ giúp ông mọi việc. Từ việc quét nhà, nấu cơm đến
việc dọn bàn ghế, pha cà phê, bƣng nƣớc cho khách, Út Tiền không ngại bất cứ chuyện
gì. Những việc không chỉ thể hiện lòng biết ơn của Út Tiền đối với ông Sáu – ngƣời đã
cƣu mang, nuôi nó khôn lớn, mà còn thể hiện tình yêu thƣơng gắn bó của Út Tiền. Với
Út Tiền, ông Sáu vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là thầy và cũng vừa là bạn. Vì biết ơn, yêu
thƣơng, kính trọng ông Sáu nên Út Tiền đã thay đổi. Từ một cô bé mê game, hay nói
tục chửi thề, nhác học, quậy phá trở thành một cô bé ngoan ngoãn, lễ phép, ham học.
67
Từ đó có thể thấy, tình yêu thƣơng chân thành luôn đem đến cho chúng ta những điều
tuyệt vời.
Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,
chúng tôi nhận thấy nhiều nhân vật trẻ em có tuổi thơ gắn bó với nội. Đó là Bòn Bòn,
Bin, Nhân, Quý. Qua các nhân vật này, ta thấy rõ đƣợc tình cảm yêu thƣơng của trẻ
em dành cho ông bà của mình. Nhân (Cáp treo cho những mặt trời) rất yêu thƣơng bà
nội. Thấy bà nội mỗi lần bƣng nƣớc qua đƣờng cho khách vất vả, nguy hiểm, Nhân đã
nghĩ ra cách dùng dây kẽm đƣa nƣớc qua đƣờng để phụ giúp bà“Nó dùng dây kẽm
căng ngang đường.”, “Ở lớp, Nhân vẫn cứ làm món đồ chơi bằng li nước có quai treo
trên một sợi dây kẽm” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.74). Ai cũng nói nó bị điên, bị tự kỉ
mới có hành động kì quặc nhƣ vậy. Khi hiểu ra lí do Nhân thƣờng thức đêm căng dây
kẽm ngang đƣờng, mọi ngƣời ai nghe cũng cảm động: “Em muốn đưa nước qua cho
khách để nội khỏi bưng nước qua đường. Hồi năm ngoái, mẹ em cũng bưng nước qua
đường bị xe đụng chết ngay của nhà em” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79). Điều mà Nhân
ƣớc mơ là bà nội có thể bình an và hạnh phúc: “Khi vẽ người thân trong gia đình, nó
vẽ bà nội nó ngồi xe hơi đi chơi ở một bãi biển thật đẹp, đầy cát và những hàng cây
xanh ven biển. Nó nói hàng cây đó chắn được sóng thần, nghĩa là bà nội cứ yên tâm
ngồi ngắm biển (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.73).
Nếu Bòn Bon trong truyện Tiền của thần cây dành tình cảm yêu thƣơng đặc
biệt đối với ông nội thì Quý trong Chúng mình bay đầy trời lại dành tình cảm yêu
thƣơng đối với bà nội. Quý gắn bó với bà nội từ khi còn nhỏ. Khi phải chuyển đi nơi
khác sống để thuận lợi hơn cho việc học, nó nhớ nội, khóc đòi về với nội “Nó nói nhớ
núi Cấm, nhớ Nội, nhớ cái vườn su su của Nội” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.10). Nhớ
nội, Quý nâng niu từng chút kỉ niệm về nội “Gia tài của nó, ngoài cái cặp cũ, là cái
răng con cọp to hơn cái nanh con chó. Nó thương cái nanh. Mỗi lần khóc nhớ Nội nó
cầm cứng cái nanh. Chắc đó là món quà kỉ niệm mà Nội nó cho nó’’ (Võ Diệu Thanh,
2016 b, tr.6). Thƣơng nội, Quý luôn nhớ lời nội dặn: “Nội nói cơm là hột ngọc của
trời. Bạn không quí cơm, bạn mắc tội cho coi, đồ con nít” (Võ Diệu Thanh, 2016,
tr.25). Thấy Nội bị đau chân phải ngồi xe lăn không thể leo lên Núi trồng cây đƣợc, nó
ƣớc mơ có thể tạo ra một đôi cánh giúp Nội bay đƣợc. Nó vui mừng “nhảy cà tƣng”
khi nói với cô Thanh “À, như vậy thì con cũng có thể làm cho mình một đôi cánh đặng
cứu Nội mà không cần cô Thanh” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.45). Tình yêu thƣơng
68
của Quý dành cho Nội lớn tới mức tất cả các bạn trong lớp có thể thấy rõ và cảm nhận
sâu sắc. Qua lời kể của Hƣng thì “Một đứa thương Nội như Quý sẽ là người tốt và sẽ
học rất giỏi. Cô tin như vậy và nói với tụi tôi như vậy” (Võ Diệu Thanh, 2016 b,
tr.62). Với Quý, Nội là ngƣời gần gũi nhất. “Vì ba mẹ nó đi làm xa, nó chỉ có Nội. Nội
thương nó nhất. Nó cũng thương Nội nó nhất” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.62). Với
Quý, nội vừa cha mẹ, vừa là bạn, vừa là ngƣời thầy đáng kính. Ở với nội, nó học hỏi
đƣợc rất nhiều điều thú vị mà những bạn cùng tuổi với nó không biết “Nó đã học rất
nhiều thứ từ Nội. Ví dụ như bỏ ngọn cho su su leo lên giàn. Ví dụ như nhận biết trái su
su nào tới kì thu hoạch” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.63). Cũng chính vì yêu thƣơng
nội, Quý đã cố gắng học hành chăm chỉ để nội vui lòng. Tình cảm đó thật đẹp, thật
đáng quý biết bao.
Tình cảm yêu thƣơng đối với anh chị em trong gia đình cũng đƣợc Võ Diệu
Thanh đề cập đến qua nhiều nhân vật trẻ em nhƣ: Út Tiền, Nhã, cu Lý. Trong đó tình
cảm của cu Lý dành cho bé Châu đƣợc thể hiện một cách rõ nét hơn cả. Nếu Út Tiền
thƣơng anh chị bằng cách nhắc nhở anh chị ăn uống đúng giờ, Nhã thƣơng em bằng
cách bồng em chạy trốn mỗi lúc ba mẹ cãi nhau, đánh nhau thì cu Lý lại có nhiều cách
để thể hiện tình cảm thƣơng em của mình. Tuy chỉ lớn hơn em ba tuổi, cu Lý biết cách
nhƣờng nhịn, chiều chuộng em. Yêu thƣơng em, cu Lý nhìn em đầy trìu mến “Cu Lý
nghĩ bé Châu như cô tiên nhỏ. Chắc cô Tiên nhỏ cũng dễ thương cỡ đó là cùng” (Võ
Diệu Thanh, 2017, tr. 25). Dù ở nhà hay đi chơi ở ngoài, cu Lý cũng luôn trông chừng
em cẩn thận “ Suốt ngày cu Lý giữ em kè kè” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 25). Biết bé
Châu thích thả diều, cu Lý đã kỳ công làm cho em một con diều thật đẹp. Để làm đƣợc
chiếc diều, cu Lý đã phải kỳ công chuẩn bị từ khâu chuẩn bị dụng cụ, đến việc nối,
dán. Để có vật liệu làm đuôi diều, nó phải mất hai ngày đi nhặt bao ni lông từ chỗ
hàng rau cải của chị Lụa. Để chiếc diều đẹp và chắc chắn, nó chọn bao ni lông màu đỏ
và ngồi dán “cẩn thận, từng chút, từng chút một” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 26). Cu Lý
luôn ân cần, dịu dàng với em. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua cách xƣng hô đầy ngọt
ngào “Chừng nào anh Hai kêu buông, cưng buông liền nghe” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr. 25). Tình thƣơng em của cu Lý càng đƣợc bộc lộ rõ qua nỗi đau mất em. Khi không
thấy em, nó vứt diều, gào khóc, hoảng hốt, sợ hãi, đau đớn tìm kiếm em trong vô vọng
“Bước chân Lý quắn quíu chạy dọc theo đê gọi tên em thẳng thốt” (Võ Diệu Thanh,
2017, tr. 25). Cu Lý lao xuống nƣớc để mò tìm em. Chính nó cũng suýt bị nƣớc nhấn
69
chìm. Trải qua cơn sinh tử, nó đau đớn đối mặt với sự thật em gái mà nó yêu hơn cả
bản thân mình đã không còn nữa. Từ đó, nó suốt ngày “lủi thủi”, “lang thang” một
mình trên đê. Càng thƣơng em, cu Lý càng tự trách bản thân vì đã không trông chừng
em cẩn thận. Nó yêu em tới mức, hình ảnh em luôn thƣờng trực cả trong giấc mơ.
Những kỉ niệm về em luôn chất chứa trong tim nó. Cu Lý nhìn đâu cũng thấy bóng
dáng quen thuộc của em mình.
Không chỉ dành tình cảm yêu thƣơng đối với những ngƣời thân trong gia đình,
nhiều nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn biết yêu
thƣơng, quan tâm giúp đỡ những ngƣời xung quanh mình. Đó là tình cảm dành cho
bạn bè, thầy cô giáo và những ngƣời hàng xóm.
Trƣớc hết, đó là tình cảm yêu thƣơng bạn bè. Ngàn vì thƣơng Hà đã giúp đỡ Hà
trong học tập. Mỗi chiều sau khi đi học về, Ngàn liền chạy đến chỗ Hà dạy cho bạn
học. Nhờ đƣợc Ngàn ôn bài, Hà đã tiến bộ rất nhanh. Từ một học sinh lƣời học, Hà đã
ham học “Nó thấy học cũng vui vui”, “Nó muốn cùng đi học. Nó con muốn khi trở lại
học nó làm lớp trưởng để nó có thể giúp đỡ những bạn từng quậy như nó cách gì học
cho dễ nhớ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.20). Thƣơng cho hoàn cảnh khó khăn của
Nhân, các bạn trong lớp tìm cách giúp đỡ “Giờ thì thầy trò lớp 3C chúng tôi bàn cách
nào đưa li nước qua đường giúp Nhân” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79). Biết Mai sợ
thằng cua bắt nạt, Hƣng liền dậy sớm qua đi học cùng Mai để bảo vệ bạn. Biết Quý
hay khóc vì nhớ nội, Hƣng, Nam, Mai tìm cách giúp Quý chế tạo đôi cánh giúp cho
ngƣời có thể bay đƣợc. Ý tƣởng đó giúp Quý phần nào nguôi đi nỗi nhớ, nỗi lo về nội
để yên tâm học hành. Vĩ (Tiền của thần cây) còn bất chấp cả nguy hiểm để nhảy
xuống sông cứu bạn.
Thêm vào đó, nhiều nhân vật trẻ em dành tình cảm yêu thƣơng đối với mọi
ngƣời xung quanh. Thƣơng cô Mai vất vả, Ngàn thƣờng đến chùa phụ giúp cô trồng
rau. Biết cô Mai buồn vì con trai không ngoan, “Ngàn thương cô Mai quá” (Võ Diệu
Thanh, 2017, tr.16). Nó không chỉ tâm sự để cô đỡ buồn mà còn tìm cách giúp đỡ con
trai cô học bài. Bòn Bon và Vĩ vì thƣơng mẹ của Xuân ốm nặng không có tiền trị bệnh
đã mang số tiền mình nhặt đƣợc trong bọng bằng lăng trả lại “Tao đưa cho má thằng
Xuân rồi. Tiền đó là tiền má nó mới mượn đặng đi trị bệnh. Má nó bệnh nặng lắm. Ba
nó lại ăn cắp hết tiền rồi giấu trong bọng bằng lăng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.113).
Với số tiền nhặt đƣợc, Bòn Bon có thể thực hiện đƣợc dự định mua một chiếc điện
70
thoại có chức năng chụp hình, quay video tốt để ghi lại những khoảnh khắc đẹp bên
chú chó cƣng của mình. Bởi vì nó biết con chú chó cƣng của mình đã quá già không
còn sống đƣợc lâu nữa. Với số tiền nhặt đƣợc, Vĩ cũng có thể thực hiện đƣợc mơ ƣớc
ấp ủ bấy lâu của mình là mua tặng mẹ một chiếc xe đạp. Bởi vì nó hiểu mẹ nó lâu nay
buồn phiền vì đã làm mất chiếc xe đạp quý mà bà ngoại đã tặng cho mẹ. Số tiền mà
Bòn Bon và Vĩ nhặt đƣợc lớn tới mức có thể mua hai trăm cái điện thoại. Nhƣng
không một chút đắn đo, cả hai đứa không ai bảo ai đều quyết định mang số tiền đó trả
lại cho mẹ của Xuân. Hành động đó xuất phát từ tình thƣơng yêu chân thành của Bòn
Bon và Vĩ dành cho mẹ của Xuân. Không phải đứa trẻ nào cũng có thể biết yêu
thƣơng, biết suy nghĩ và hành động đúng đắn nhƣ vậy. Đọc Cáp treo cho những mặt
trời, ngƣời đọc không khỏi không xúc động trƣớc tình cảm của các cô cậu học trò lớp
3C dành cho bà Tƣ căn tin. Cảm động trƣớc việc bà Tƣ nhƣờng chỗ bán hàng trong
căn tin trƣờng cho bà nội của Nhân để ra lề đƣờng bán, các bạn học sinh thƣờng ghé
mua hàng giúp bà “Ai cũng muốn giúp bà một li nước để cuộc sống bà già tốt bụng
bình yên hơn, khá giả hơn. Bạn bè Nhân cũng không quên được món chè đậu đen của
bà nên thường ghé ủng hộ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.81). Cách thể hiện tình yêu
thƣơng của các bạn nhỏ đối với mọi ngƣời giản dị mà chân thành, sâu sắc. Tình cảm
đó quả thật đáng quý.
Đặc biệt là, nhiều nhân vật trẻ em dành tình cảm yêu thƣơng, kính trọng đối với
các thầy cô giáo. Hƣng, Nam, Mai (Siêu nhân cua) luôn tin tƣởng, nghe lời cô giáo
Thanh. Hơn thế nữa, các bạn nhỏ còn tỏ ra rất quan tâm cô giáo chủ nhiệm của mình.
Khi biết cô giáo buồn, các bạn nhỏ vốn dĩ nghịch ngợm, hay nói chuyện lại tỏ ta ngoan
ngoãn, hiểu chuyện: “Tôi không nghe tiếng cô khóc mà chỉ thấy cô lấy tay chậm nước
mắt. Nhỏ Mai xù xì. - Cô khóc kìa. - Im đi, đừng nói chuyện nữa, cô đang buồn” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.88).
Bảo trong Miền Xanh Thẳm của Trần Hoài Dƣơng cũng là một cậu bé sống giàu
tình cảm. Tuy chỉ hơn Thiện một tuổi nhƣng Bảo lại tỏ ra rất chín chắn. Qua lời kể của
nhân vật tôi (Thiện), Bảo nhƣ một vệ sĩ luôn theo sát để bảo vệ Thiện mọi lúc, mọi
nơi. Điều đáng quý ở nhân vật này đó là tình yêu dành cho quê hƣơng. Bảo kể cho
Thiện nghe về cảnh đẹp của quê mình với giọng tha thiết, đầy tự hào: “Đầu làng có hồ
sen rộng đến hàng mấy mẫu. Mùa sen nở, suốt đêm dân làng đắm mình trong hương
sen thơm” (Trần Hoài Dƣơng, 2000, tr.28). Vì yêu và nhớ quê da diết nên tranh thủ
71
ngày nghỉ học nó liền rủ Thiện về quê mình chơi. Trong khi Thiện tỏ ra thất vọng,
dửng dƣng khi tận mắt nhìn ngắm cảnh vật không giống nhƣ lời Bảo kể, khác xa sự
tƣởng tƣợng của mình thì cậu bé lại đắm chìm trong không gian yên bình của quê
mình. Bởi với nó, nơi đó ghi dấu những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ: “Cả tuổi thơ của nó
trôi qua ở đây. Những buổi lặn ngụp trong đầm sen. Những lần thả trâu trên bãi
hoang. Những cuộc đánh trận giả bươu đầu sứt trán. Những đêm trăng thanh nằm mơ
mộng đếm sao trời và nghe mẹ kể về đàn gà vàng kì ảo” (Trần Hoài Dƣơng, 2000,
tr.58). Chính tình yêu quê hƣơng chân thành, sâu sắc của Bảo đã giúp Thiện có những
chuyển biến tích cực trong nhận thức về quê hƣơng.
Viết về nhân vật trẻ em giàu tình cảm, Võ Diệu Thanh đã ghi đƣợc dấu ấn riêng
khác với các tác giả trƣớc đó và cùng thời. Nếu Trần Hoài Dƣơng chú trọng khắc họa
tình yêu thiên nhiên, yêu quê hƣơng của nhân vật trẻ em thì Võ Diệu Thanh lại hƣớng
đến tình cảm gia đình, thầy cô, bè bạn. Tình cảm yêu thƣơng mọi ngƣời của các nhân
vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh thật đáng quý. Dù mỗi
bạn nhỏ có cách thể hiện tình cảm yêu thƣơng theo cách của riêng mình nhƣng tất cả
đều toát lên sự chân thành, trong sáng. Việc Nhóc dỗ để bạn đừng khóc, Ngàn giúp cô
Mai trồng rau và dạy cho Hà học bài, Hƣng dắt Mai đi học, Vĩ lao xuống nƣớc cứu
bạn, Bòn Bòn trả tiền nhặt đƣợc cho mẹ của Xuân là những hành động đẹp khiến
ngƣời đọc không khỏi không xúc động. Qua đó, ta thấy đƣợc cái nhìn đầy nâng niu,
trân trọng của nhà văn dành cho nhân vật trẻ em. Xây dựng nhân vật trẻ em giàu tình
cảm yêu thƣơng con ngƣời, nhà văn muốn nhắn nhủ ngƣời lớn cần chú trọng giáo dục
nhân cách cho trẻ em. Đó là mục đích cao đẹp mà truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh hƣớng đến.
2.3.3. Yêu thƣơng loài vật
Tình yêu đối với loài vật đƣợc thể hiện rất rõ trong các truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh. Đó là tình yêu dành cho các vật nuôi trong nhà nhƣ chó, mèo; đó
còn là tình yêu dành cho các con vật trong thế giới tự nhiên nhƣ chim, cá. Điều này
đƣợc thể hiện rõ qua các nhân vật nhƣ: Bòn Bon, Mai, Vĩ.
Trƣớc hết là tình yêu đối với vật nuôi trong nhà. Bòn Bon (Tiền của thần cây)
rất yêu quý con chó cƣng của mình. Nó luôn tự hào khi nói về chú chú của mình.
“Khắp cái xóm này có con chó nào hiểu được tiếng người như ảnh” (Võ Diệu Thanh,
2016 c, tr.96). Nó gọi chú chó của mình là Ban Đêm – cái tên “đầy bí ẩn”: “Nội kêu
72
ảnh là con Mực. Bòn Bon khoái kêu ảnh là Ban Đêm hơn” (Võ Diệu Thanh, 2016 c,
tr.8). Với Bòn Bon, Ban Đêm không chỉ là một ngƣời bạn thân thiết cùng vui đùa mỗi
ngày mà nó còn là một ân nhân. Khi Bòn Bon xuống sông tắm bị ngạt nƣớc, chính Ban
Đêm đã cứu nó “May mà lúc đó ông nội về, kịp đi kiếm con rồi gặp con với Ban Đêm
dưới bến. Ban Đêm cắn cái áo, tha con lên bờ” (Võ Diệu Thanh, 2016 c, tr.19). Tình
yêu thƣơng sâu đậm của Bòn Bon đối với Ban Đêm đƣợc thể hiện rõ qua việc Bòn
Bon khóc mếu khi Ban Đêm bị lạc, vui mừng hạnh phúc khi mỗi chiều đi học về có
Ban Đêm hớn hở ra cổng đón và đau buồn khi nghe ông nội nói Ban Đêm đã già
không còn sống đƣợc bao lâu nữa. Khi biết loài chó không sống thọ “Cao lắm là nó
sống được hai mươi năm”, Bòn Bon ao ƣớc Ban Đêm có thể sống ba trăm tuổi. Nhƣng
điều đó là không thể. Vì thế, nghe lời khuyên của ông nội, Bòn Bon luôn tận dụng thời
gian để chăm sóc Ban Đêm, chơi đùa cùng với nó để có thể lƣu giữ những kỉ niệm thật
đẹp cùng con vật yêu quý của mình. Qua việc miêu tả tình cảm gắn bó thân thiết giữa
Bòn Bon và Ban Đêm, Võ Diệu Thanh đã khơi dậy tình yêu đối với động vật trong
mỗi đứa trẻ.
Trong tập truyện Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng, ta cũng bắt gặp nhiều nhân vật
trẻ em yêu thƣơng động vật. Đó là Tí bụi trong truyện ngắn cùng tên. Đó là hai chị em
Mơ và Ngổ trong Ả ìa âu. Tí bụi (Tí bụi) đặt tên cho con chó yêu quý của mình là Win
với mong muốn sẽ chiến thắng số phận. Nó rất vui khi Win đẻ một đàn chó nhỏ. Nó
nghĩ rằng đàn chó sẽ giúp nó trông chừng mẹ, trông chừng ruộng rau muống và hơn
thế còn giúp nó bớt cô đơn hơn. Nó đau đớn khi thấy Win bị mấy đứa trộm chó dùng
gậy sắt quật chết khi đang đuổi theo trông chừng ngƣời mẹ bị điên giúp nó. Thƣơng
đàn chó con chƣa kịp mở mắt đã mất mẹ, nó dùng thân mình để sƣởi ấm cho đàn chó
“Nó trùm bao tời, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!”(Quế Hương, 2004, tr.21). Mơ
và Ngổ (Ả Ìa âu) dành tình cảm yêu thƣơng đặc biệt cho Chả Chìa – con chó rất thông
minh và tình cảm. Vì sợ cha sẽ bắt chó làm mồi nhậu, hai chị em đã tìm cách thả nó ra
chợ mong nó sẽ tự tìm đƣợc cái ăn. Hai đứa trẻ tội nghiệp chỉ biết bất lực nhìn chú
chó yêu quý của mình bị bố giết thịt. Không nén nổi nỗi đau, bé Ngổ khóc nấc không
thành tiếng “ả ìa âu” Tiếng nấc nghệ của đứa trẻ nói chưa rõ tiếng còn ngọng líu
ngọng lô khi mất đi con chó mà nó yêu quý gắn bó thân thiết. Con chó nhỏ với những
đứa trẻ như một người bạn đồng hành của tuổi thơ (Quế Hƣơng, 2004, tr.42).
73
Trong các truyện của Văn Thành Lê, ngƣời đọc cũng bắt gặp nhiều nhân vật trẻ
em yêu thƣơng động vật. Đó là Lê và Thành trong Trên đồi, mở mắt và mơ. Đó là
Thành và Bống trong Bên suối, bịt tai, nghe gió. Mỗi bạn nhỏ lại yêu thích một loài
vật riêng. Lê rất yêu quý con trâu nhà mình “Hôm nào đi chăn trâu nó cũng tranh thủ
cắt thêm cỏ hoặc tối về còn phải rút rơm bỏ vào chuồng cho trâu ăn đêm” (Văn Thành
Lê, 2019, tr.91). Thành thì đặc biệt yêu thích cá cảnh. Mỗi lần cho cá ăn, nó lại say sƣa
nhìn ngắm “hay nhìn chúng bơi và cho chúng ăn”, “nhìn chúng hàng ngày không biết
chán” (Văn Thành Lê, 2019, tr.93). Còn Thành và em Bống lại yêu thƣơng lợn út.
Mỗi ngày, hai anh em thƣờng ra thăm và nói chuyện cùng chú lợn nhà mình khiến lợn
vẫy đuôi mừng tíu tít.
Không chỉ dành tình cảm yêu thƣơng đối với những vật nuôi trong nhà, nhiều
nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn thể hiện tình
cảm yêu thƣơng đối với những động vật sống trong thế giới tự nhiên nhƣ chim, cá.
Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua nhân vật Mai trong Chúng mình bay đầy trời. Khi
Hƣng và Nam tỏ ý muốn bắt tổ chim lấy trứng chim để chơi, Mai liền ngăn lại “Bắt
chim tội lắm. Nó bắt sâu giúp mình đó” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.52). Nghe lời
khuyên của cô Thanh, cả bốn bạn Hƣng, Nam, Mai, Quý đều hứa rằng “Con không lấy
trứng chim đâu, con bay đua với mấy con chim thôi” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.52).
Vĩ trong truyện Tiền của thần cây lại đặc biệt yêu thƣơng loài cá lìm kìm. Nó khuyên
Bòn Bon“Tốt nhất đừng nên bắt cá lìm kìm. Nó nhỏ lắm, không ăn được. Cá rất dễ
thương và yêu dòng sông của nó. Nên để nó ở yên dưới dòng sông của nó thôi” (Võ
Diệu Thanh, 2016 c, tr.18).
Bài học giáo dục về tình yêu thƣơng động vật đƣợc tác giả khéo léo lồng ghép
trong những câu nói hồn nhiên của trẻ em. Nhờ thế những thông điệp nhân văn sâu sắc
đƣợc truyền tải một cách tự nhiên không hề khiên cƣỡng, gƣợng ép. Điều này có hiệu
quả rất lớn trong việc giáo dục nhân cách trẻ em.
2.4. Nhân vật trẻ em với khả năng đặc biệt Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có
nhiều nhân vật trẻ em hiện lên với sự thông minh, ham học hỏi; nhân vật trẻ em có khả
năng lạ thƣờng và có tài năng thiên bẩm.
2.4.1. Thông minh, ham học hỏi
74
Trẻ em thƣờng thích tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình. Những sự
vật, sự việc diễn ra trong đời sống luôn đem đến cho trẻ sự tò mò. Vì vậy, trẻ em luôn
có hàng ngàn câu hỏi và cũng có chừng đó cách cắt nghĩa, lí giải. Những thắc mắc,
những tìm tòi, phát hiện của trẻ phản ánh sự thông minh, sáng tạo ham học hỏi của trẻ
em. Tất cả những điều đó đƣợc Võ Diệu Thanh thể hiện rất rõ qua những nhân vật trẻ
em nhƣ: Nam, Mai, Ngàn.
Nam (Siêu nhân cua) là một cậu bé thông minh. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ
qua việc học của Nam. Trong lớp Nam luôn là cậu học trò hoàn thành tốt các bài tập
của cô giáo giao. Sự thông minh của Nam đƣợc cô giáo và các bạn trong lớp công
nhận. Trong tác phẩm, Hƣng từng nhắc đến việc cô Thanh hay khen Nam trƣớc lớp
“Nhiều lần tôi cũng nghe cô Thanh khen Nam thông minh” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.10). Hƣng là đứa hay cà khịa, thích trêu chọc bạn, hiếm khi khen nhƣng nó cũng
phải công nhận sự thông minh của Nam: “Thằng Nam trán dồ, nó học giỏi ma chê mà
nó cũng nhát ma chê” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.32). Không chỉ cô Thanh, Hƣng công
nhận sự thông minh của Nam mà Mai cũng khẳng định chắc nịch rằng: “Bạn Nam thì
cái gì cũng giỏi hết” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.32). Trong Chúng mình bay đầy trời, sự
thông minh của Nam tiếp tục đƣợc thể hiện. Với sự thông minh, ham học hỏi, Nam đã
đƣa ra nhiều ý tƣởng sáng tạo nhƣ: thiết kế máy ăn cơm, xe tăng có thể bay đƣợc, bắn
đƣợc thiệt xa. Nhiều ý tƣởng của Nam đƣợc cô Thanh và các bạn khen ngợi. Điều
đáng quý ở Nam là nó biết dùng trí thông minh của mình để lên ý tƣởng thiết kế, chế
tạo ra các loại máy móc hiện đại để phục vụ cho lợi ích của con ngƣời. Đó là thiết kế
ra một loại máy để giúp loại bỏ bom đạn mang lại một thế giới hòa bình “ – Em chế
một loại máy có khả năng làm cho tất cả súng đạn không thể hoạt động được. Bất kể
một trái bom nào rớt xuống vùng đó cũng đều không thể nổ được. Súng bắn vào cũng
không nổ luôn” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.30). Không chỉ vậy, Nam còn lên ý tƣởng
thiết kế đôi cánh giúp con ngƣời có thể bay đƣợc để nội của Quý có thể di chuyển dễ
dàng hơn “-Phải chi cái xe lăn của Nội bay lên được. Nội ngồi trên xe bay lên vườn xu
xu” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.41). Sự thông minh giúp Nam luôn đƣa ra những ý kiến
hay khiến Hƣng, Mai và cô Thanh phải tấm tắc khen “Máy không chạy bằng xăng. Nó
chạy bằng pin mặt trời. Mình sẽ thiết kế một loại pin thật nhẹ chất đầy xung quanh
chiếc nệm. Nó đủ sức bay hoài. Dù trời tối nó vẫn bay được” (Võ Diệu Thanh, 2016b,
tr.44).
75
Mai (Siêu nhân cua) là một đứa trẻ thông minh, có tƣ duy sáng tạo và trí tƣởng
tƣợng phong phú. Sự thông minh, sáng tạo của Mai thể hiện rất rõ trong những giờ học
vẽ. Trong khi các bạn trong lớp viết chữ và vẽ tranh theo khuôn mẫu dựa theo những
hình vẽ có sẵn trong sách giáo khoa thì Mai lại viết và vẽ theo trí tƣởng tƣợng của
riêng mình. Cô bé không chỉ có nét vẽ lạ mà còn có những ý tƣởng độc đáo nhƣ: vẽ
ma, vẽ nhà cho cá, vẽ con chim bị thƣơng, … Mỗi bức tranh em vẽ đều mang dấu ấn
riêng. Đây là nhân vật có nhiều ý tƣởng độc đáo “Mai nó thích chế tạo ra một ngôi
nhà có chân nhỏ xíu. Chỉ cần cắm chân nó xuống một miếng đất nhỏ xíu cũng ở được”
(Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.27). Tranh của Mai vẽ luôn đƣợc cô giáo dạy Mỹ thuật
đánh giá cao về ý tƣởng “Cô khen nó dám vẽ lạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44). Không
chỉ có ý tƣởng độc đáo, cô bé này còn tỏ ra có năng khiếu Mỹ thuật khi biết sắp xếp bố
cục, tạo hình cho tranh “Cô Thanh trán dồ nhận xét tranh Mai là bố cục đẹp, hình ảnh
phong phú và ý tưởng rất lạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36). Mỗi lúc ngồi vẽ, Mai toát
lên thần thái nhƣ một nghệ sĩ “Nó vẽ như là múa, rồi nó tô màu cũng như là đang hát”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.35). Ngay cả Nam – đứa bạn thân ngồi cùng bàn hay gây lộn
với Mai cũng phải công nhận “Bạn thì vẽ giỏi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76). Khả
năng đó càng đƣợc khẳng định khi Mai đƣợc chọn đi thi vẽ ở tỉnh. Hơn thế nữa, nó
còn đạt đƣợc giải cao “con Mai đem về khoe một cá giấy khen được giải ba” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.83). Bản thân Mai cũng luôn tự tin vào khả năng của mình “Bạn phải
tin mình. Mình học giỏi hơn bạn Hưng” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76). Sự thông minh
của Nam và Mai càng đƣợc phát huy khi cả hai đều là những đứa trẻ ham học “Thằng
Nam không dám trốn học vì nó muốn làm bác sĩ, mà làm bác sĩ thì phải học. Con Mai
muốn làm cô giáo dạy vẽ nên cũng không dám trốn học” (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.71). Tuy mới chỉ là một học sinh tiểu học, Nam và Mai đã có những định hƣớng cho
tƣơng lai và biết cách nuôi dƣỡng ƣớc mơ của mình. Với sự thông minh, ham học hỏi
đó, chúng ta hoàn toàn có thể tin tƣởng, trong tƣơng lai Nam và Mai sẽ thực hiện đƣợc
ƣớc mơ của mình.
Ngàn (Khi hai vua về một nhà) là một lớp trƣởng học giỏi, thông minh và sáng
tạo. Biết Hà học yếu, thƣờng xuyên trốn học vì khả năng tiếp thu bài hạn chế, Ngàn đã
nghĩ ra cách dạy mới “Ngàn làm thầy giáo ngộ lắm. Ví dụ như Hà không tài nào nhớ
số dân trong tỉnh mình nó biểu Hà ví như đó là số tiền mình định mua đồ. Ví dụ là hai
triệu hai dân của An Giang thì nó bằng giá cái điện thoại Samsung” (Võ Diệu Thanh,
76
2017, tr.20). Với cách dạy gắn với thực tế nhƣ vậy, Ngàn đã giúp Hà hiểu và nhớ bài
một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhờ đó, Hà cảm thấy việc học trở nên nhẹ nhàng,
vui vẻ và thiết thực.
Qua việc khắc họa nhân vật trẻ em thông minh, ham học hỏi nhà văn cũng đặt
ra vấn đề phƣơng pháp giáo dục trẻ đó là cần phải biết cách khơi dậy niềm ham mê
học tập trong trẻ. Sở dĩ Nam, Mai, Ngàn có thể phát huy đƣợc khả năng của mình vì
các bạn đó không bị áp lực học hành. Hơn nữa những học sinh này may mắn đƣợc học
với những thầy cô biết khích lệ, động viên kịp thời, đúng lúc. Nhờ đó, các bạn trở nên
tự tin hơn trong việc trình bày ý tƣởng và thể hiện khả năng sáng tạo của mình.
2.4.2. Tài năng thiên bẩm
Mỗi đứa trẻ có những khả năng khác nhau. Có những đứa trẻ thật may mắn khi
sinh ra lành lặn, xinh xắn. Có những đứa trẻ bất hạnh khi mang những dị tật trên cơ
thể. Có những đứa trẻ thông minh học một hiểu mƣời. Nhƣng cũng có những đứa trẻ
khả năng hạn chế chậm hiểu, mau quên. Viết về nhân vật trẻ em, hầu hết các nhà văn
đều đề cập đến những điều đó. Nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh đó là bên cạnh việc khắc họa những nhân vật trẻ em xinh xắn, thông minh, hay
nhân vật tật nguyền, yểu mệnh, nhà văn còn tập trung khắc họa những đứa trẻ có tài
năng thiên bẩm. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua hình tƣợng nhân vật Chùa trong
Quà tặng của ngày mai.
Chùa (Quà tặng của ngày mai) là một cậu bé có tài năng thiên bẩm. Đó là khả
năng chơi đàn sến một cách điêu luyện. Tài năng này đƣợc khẳng định khi Chùa tham
gia chƣơng trình Biệt tài tí hon “Cậu bé sáu tuổi đàn những bản vắn bằng tiếng đàn
sến thật điệu nghệ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.62). Không chỉ đàn hay, Chùa còn tỏ ra
rất dạn dĩ, chuyên nghiệp “Lần đầu tiên lên sân khấu lớn. Đàn cho nghệ sĩ chuyên
nghiệp hát, tôi không có chút gì sợ hãi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.62). Sự tự tin này
của Chùa có đƣợc là nhờ vào cách dạy của ông Sáu không đặt nặng thành tích, không
gò ép nhồi nhét. Chùa luyện đàn nhƣ đang chơi không hề cảm thấy áp lực “Tôi đàn
hồn nhiên, hát hồn nhiên” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.64). Dù đàn ở đâu, đàn cùng ai,
đàn cho ai nghe, Chùa vẫn giữ đƣợc sự tự tin và thăng hoa theo tiếng đàn của mình:
“dẫu sân khấu đông cỡ nào, đèn và máy quay nhiều cỡ nào tôi cũng không ngán. Tôi
cứ đàn y như lúc ngồi dợt với ông Sáu. Đàn cho người nổi tiếng như ca sĩ Lê Hậu
cũng không làm tôi khớp” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.64). Phong thái chững chạc, tự tin
77
làm chủ sân khấu và ngón đàn điêu luyện của Chùa khiến nghệ sĩ Trấn Thành cũng
phải ngạc nhiên, trầm trồ thán phục.
Khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em với tài năng thiên bẩm thông qua nhân vật
Chùa, nhà văn gửi gắm nhiều triết lí nhân văn sâu sắc. Đàn ca tài tử là loại hình nghệ
thuật cổ truyền của dân tộc. Đây là loại hình nghệ thuật kén ngƣời thƣởng thức và
cũng rất khó để học. Trong khi các bạn cùng lứa tuổi thích nghe nhạc trẻ sôi động thì
Chùa lại say mê đàn ca tài tử. Chùa bén duyên với đàn sến cũng rất tình cờ. Khi ở
cùng ông Sáu, Chùa mới chỉ lên sáu. Thấy ông Sáu đàn hay, nó cũng muốn học. Trong
các loại nhạc cụ ông Sáu có, đàn sến là nhạc cụ vừa vặn với Chùa nhất “Ông Sáu lựa
cây đàn nhỏ nhất là cây đàn sến cho tôi ôm và đàn thử. Quá vừa vặn. Vậy là đủ cho tôi
khoái rồi. Tôi học đàn sến từ đó” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85). Chỉ sau một năm tập
luyện, Chùa đã có thể chơi đàn sến một cách tự tin. Thành công của Chùa trƣớc hết
đến từ niềm đam mê với đàn sến. Nó nghe đàn sến mọi lúc, mọi nơi. Bất kì lúc nào
rảnh rỗi, Chùa đều tắm mình trong âm thanh của đàn sến “Tôi có mấy năm để sống
trong tiếng đàn, chỉ nghe tiếng đàn sau những giờ học” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85).
Với Chùa, nghe đàn mỗi ngày trở thành thói quen. Thói quen tốt này giúp nó loại bỏ
những thói quen xấu trƣớc kia (chơi game, nói tục) “cho bản nhạc nó nhiễm vào thói
quen mình, giống như mình thay máu vậy” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85). Tài năng
thiên bẩm của Chùa đƣợc phát huy nhờ vào sự kiên trì khổ luyện. Mỗi ngày, Chùa đều
chăm chỉ luyện tập “tôi luyện đàn ngày 80 lần” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.66). Trƣớc
khi trở thành thần đồng đàn sến, Chùa cũng giống nhƣ tất cả những đứa trẻ khác cũng
mê chơi game, hay nói tục, chửi thề, lƣời học … Nhờ cách dạy bảo đúng cách của ông
Sáu, Chùa đã thay đổi. Nó không chỉ là một đứa trẻ ngoan ngoãn, học giỏi, biết quan
tâm, yêu thƣơng mọi ngƣời mà hơn thế nữa còn biết cách tự lập và đặc biệt là đã trở
thành thần đồng âm nhạc. Thành công của Chùa đến từ nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố
thiên bẩm đóng vai trò quan trọng. Chị gái và em gái của Chùa cũng đƣợc ông Sáu dạy
đàn nhƣng không thể trở thành thần đồng là vì không có khả năng thiên bẩm, không
đam mê và không khổ luyện. Nhờ tài năng thiên bẩm và sự khổ luyện, Chùa đã trở
thành một thần đồng. Sự khổ luyện đóng vai trò rất quan trọng quyết định thành công
của Chùa. Tài năng này chắp cánh cho ƣớc mơ của Chùa, giúp cậu bé trở nên tự tin,
dạn dĩ hơn. Ngƣỡng mộ, yêu mến cậu bé Chùa, nhiều khán thính giả ở những tỉnh
thành khác nhau đã ghé quán Nụ cƣời - nơi Chùa ở để đƣợc nghe tiếng đàn của cậu bé
78
này. Điều đáng quý là mặc dù nổi tiếng nhƣng Chùa vẫn không tỏ ra kiêu ngạo, “ru
ngủ bản thân”. Nghe theo những lời dạy bảo của ông Sáu, cậu bé Chùa đã biết vƣợt
qua sự cám dỗ của đồng tiền để thả hồn mình theo tiếng đàn, thăng hoa trong những
bản đàn. Trăn trở trƣớc sự mai một của đàn ca tài tử - loại hình nghệ thuật truyền
thống của dân tộc, nhà văn đặt ra vấn đề về tƣơng lai của những đứa trẻ theo đuổi đam
mê đàn ca tài tử khi nhiều ngƣời cho rằng “Không có một tương lai cho đứa trẻ đàn ca
tài tử” vì “Đàn ca tài tử làm gì? Nó có hái ra tiền không?” (Võ Diệu Thanh, 2021,
tr.62). Tình yêu đối với đàn ca tài tử của một cậu bé sáu tuổi đã khiến những ngƣời lớn
phải thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của mình về loại hình nghệ thuật truyền thống này.
Nhân vật Chùa đƣợc nhà văn xây dựng dựa trên hình mẫu có thật ngoài đời
(thần đồng đàn sến Khánh Hƣng từng xuất hiện trong chƣơng trình Biệt tài tí hon năm
2019). Để Chùa tự kể về quá trình “lột xác” của mình, nhà văn khẳng định tầm quan
trọng của giáo dục và tự giáo dục. Phƣơng pháp giáo dục nêu gƣơng của ông Sáu cùng
với sự tự ý thức hoàn thiện nhân cách của Chùa đã tạo ra một thần đồng đàn sến. Từ
đó, nhà văn khẳng định, mỗi đứa trẻ là một thần đồng với những khả năng riêng. Điều
quan trọng là cha mẹ, thầy cô phải biết gần gũi, quan sát, tìm hiểu để phát hiện và bồi
dƣỡng để trẻ có thể phát huy đƣợc những khả năng thiên bẩm đó. Qua việc khắc họa
hình tƣợng nhân vật Chùa, tác giả muốn thắp lên trong lòng độc giả tình yêu đối với
âm nhạc, đặc biệt là nhạc cụ truyền thống. Đồng thời nhắn nhủ mọi ngƣời phải biết giữ
gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
2.4.3. Khả năng lạ thƣờng
Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhiều nhân vật trẻ em đƣợc
xây dựng với khả năng lạ thƣờng. Đó là khả năng nghe, hiểu và nói chuyện đƣợc với
động vật. Điều đó đƣợc thể hiện qua các nhân vật nhƣ: Hƣng trong Siêu nhân cua, Bòn
Bon trong Tiền của thần cây, Dƣa Leo trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.
Khả năng nghe hiểu đƣợc tiếng nói của loài vật đƣợc thể hiện trƣớc hết qua
nhân vật Hƣng (Siêu nhân cua). Hƣng có thể hiểu đƣợc chú mèo của bà Sáu hàng xóm
đang nói gì với mình “Mỗi lần ăn cơm tôi nói chuyện với nó. Nó còn hỏi tôi “có xương
cá không?”. Nó còn nói nó khoái xương cá lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.68). Khả
năng này của Hƣng xuất phát từ tình cảm yêu thƣơng và sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế của
nhân vật.
79
Bòn Bon (Tiền của thần cây) cũng có thể nghe hiểu đƣợc tiếng nói của chó.
Trong tác phẩm, Bòn Bon thƣờng xuyên trò chuyện với Ban Đêm – chú chó cƣng :“-
Không có ma da phải không Ban Đêm? - Ma thì chỉ có ban đêm mới có” (Võ Diệu
Thanh, 2016 a, tr.7). Vì gắn bó với con chó yêu quý của mình mà Bòn Bon có thể hiểu
đƣợc con thú cƣng của mình. Có thể thấy rằng, khả năng đặc biệt này có đƣợc là nhờ
vào sự gần gũi, quan tâm, yêu thƣơng vật nuôi trong nhà của các bạn nhỏ.
Khả năng lạ thƣờng này thể hiện rõ nhất qua nhân vật Dƣa Leo. Trong truyện
Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Dƣa Leo hiện lên là một cậu bé có khả năng hiểu đƣợc
những điều chú mèo muốn nói với mình. Qua cách nói chuyện thân thiết giữa Dƣa Leo
và chú mèo, ta thấy đƣợc khả năng lạ thƣờng này của nhân vật:
“- Cậu có bạn gái chưa?
- Tớ là một con mèo …
- Cậu là thằng mèo chớ không phải con mèo. Thằng mèo thì cũng có bạn gái
chớ”
(Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26).
Khả năng lạ thƣờng này lại đem đến phiền phức cho Dƣa Leo vì không ai tin
cậu bé có khả năng đó. Mọi ngƣời cho rằng việc Dƣa leo nói có thể nghe đƣợc tiếng
mèo nói là chuyện bịa đặt. Trong mắt mọi ngƣời, Dƣa Leo là một cậu bé tự kỉ khi suốt
ngày nói chuyện cùng chú mèo. Không thể nói chuyện cùng ai, vui buồn gì Dƣa Leo
cũng tìm đến chú mèo để tâm sự. Với Dƣa Leo, chú mèo vằn vện là một ngƣời bạn
thân. Cậu gọi nó là Mèo Ma Văn Vẻ và đi đâu Dƣa Leo cũng cho nó đi cùng. Vì gắn
bó thân thiết nên Dƣa Leo có thể hiểu đƣợc tiếng nói của “ngƣời bạn thân” của mình
“Một thằng nhỏ lớp Tám nghe được con mèo nói chuyện” (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.9). Cách Dƣa Leo nói chuyện với chú mèo cũng rất đặc biệt “Nói chung là tôi và
Dưa Leo nói chuyện với nhau toàn bằng mật ngữ” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.9).
Qua hình tƣợng nhân vật trẻ em với khả năng lạ thƣờng, ta hiểu đƣợc những
triết lí nhân văn mà Võ Diệu Thanh nhắn nhủ mọi ngƣời. Đó là cần phải biết trân trọng
những khả năng đặc biệt của trẻ em. Mỗi đứa trẻ là một thiên tài với những sở trƣờng
riêng. Ngƣời lớn cần phải biết phát hiện kịp thời và tìm cách khơi dậy để trẻ em có thể
phát huy một cách tốt nhất thế mạnh của mình.
80
* Tiểu kết chƣơng 2
Miêu tả mỗi nhân vật với ngoại hình khác nhau, hành động khác nhau, diễn
biến tâm lí khác nhau, nhà văn đã tạo nên những cá tính rất khác nhau cho mỗi nhân
vật. Mỗi đứa trẻ bày tỏ tình cảm của mình với mọi ngƣời theo một cách rất riêng, đáng
yêu theo một cách rất riêng. Chính điều này đã góp phần làm cho thế giới nhân vật trẻ
em trong truyện viết cho thiếu nhi của tác giả thêm phong phú và sinh động.
Xây dựng hình tƣợng các nhân vật trẻ em với những đặc điểm tính cách, phẩm
chất khác nhau, Võ Diệu Thanh hƣớng đến giáo dục nhân cách cho trẻ. Đó là bài học
về lòng yêu thƣơng con ngƣời, yêu thƣơng động vật. Đó là bài học về tình bạn, giúp
đỡ, sẻ chia để cùng tiến bộ. Đó không chỉ là bài học dành cho các bạn nhỏ mà còn là
bài học cho cả ngƣời lớn trong việc giáo dục trẻ, bài học về cách yêu thƣơng một đứa
trẻ. Khắc họa nhân vật trẻ em với những khả năng khác nhau, tính cách, số phận khác
nhau, nhà văn khẳng định không thể áp dụng một phƣơng pháp lên tất cả mọi đứa trẻ
bởi vì mỗi đứa trẻ có khả năng, sở thích, suy nghĩ riêng. Nếu không biết lắng nghe
tiếng nói của trẻ thì ngƣời lớn chúng ta sẽ không thể hiểu đƣợc tâm tƣ nguyện vọng
của trẻ và sẽ rất dễ mắc sai lầm trong cách giáo dục trẻ.
81
Chƣơng 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Để hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật sinh động vừa mang tính cá
thể hóa vừa mang những nét tiêu biểu đại diện, nhà văn đã sử dụng kết hợp nhiều
phƣơng thức nghệ thuật. Đó là việc khắc họa tính cách nhân vật qua cách đặt tên, cách
miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lí. Đó là việc sử dụng ngôn ngữ tả, kể, đối thoại,
độc thoại linh hoạt. Đó còn là cách tạo bối cảnh cho nhân vật xuất hiện qua việc xây
dựng không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật phù hợp với nhân vật trẻ em. Tất cả
điều này sẽ đƣợc chúng tôi trình bày trong chƣơng 3 của luận văn.
3.1. Xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách
3.1.1. Cách đặt tên nhân vật
Tên của mỗi ngƣời thƣờng mang một ý nghĩa nhất định. Có những cái tên gắn
với niềm mơ ƣớc của gia đình. Có những cái tên gắn với kỉ niệm tình yêu của bố mẹ.
Có những cái tên thể hiện tình yêu đối với địa danh, thần tƣợng. Trong tác phẩm văn
học, nhà văn định danh nhân vật với những dụng ý nghệ thuật riêng. Có thể nói, định
danh nhân vật là một trong những cách tạo nên dấu ấn đậm nét cho các tác phẩm văn
học. Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, những nhân vật trẻ em hiện
lên với những cái tên rất riêng, rất lạ nhƣ: Tì Ti, Nhóc, Hƣng Mặt Bành, Mai Một Mí,
Nam Trán Dồ, Bòn Bòn, Dƣa Leo, Chùa.
Bảng 3.1. Thống kê thủ pháp định danh nhân vật
trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
STT Cách định danh Số lƣợng Tỉ lệ
82
1 Tên thật cụ thể 21/53 39,62%
2 Biệt danh 4/53 7,55%
3 Tên thật ghép với biệt danh 3/53 5,66%
4 Tên thƣờng gọi ở nhà 16/53 30,19%
5 Tên phiếm định 9/53 16,98%
Thống kê, phân loại tên nhân vật thiếu nhi trong truyện viết cho thiếu nhi của
Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có nhiều loại tên: tên thật, biệt danh, tên thật ghép
với biệt danh, tên thƣờng gọi ở nhà (Xem phụ lục 2 bảng thống kê thủ pháp định danh
nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh).
Từ bảng thống kê trên có thể thấy: Có 21 nhân vật đƣợc gọi theo tên thật cụ thể
chiếm tỉ lệ lớn nhất 39,62%. Có 4 nhân vật đƣợc gọi tên gắn liền với biệt danh đó là:
Dƣa Leo, thằng Cua, Chùa, Nhỏ Bự chiếm 7,55%. Có 3 nhân vật đƣợc đặt tên theo
cách ghép tên thật với biệt danh đó là: Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí
chiếm 5,66%. Có 16 nhân vật đƣợc gọi tên theo tên thƣờng gọi ở nhà nhƣ: bé Hai, Củ
Cải, Bòn Bon, Tì Ti, Nhóc, Út Tiền…. chiếm 30,19%. Và có 9 nhân vật đƣợc gọi tên
phiếm định chiếm 16,98%. Qua những tên gọi này, tính cách số phận đƣợc hé mở.
Những cái tên là biệt danh và tên thật ghép với biệt danh gợi lên sự hồn nhiên, vô tƣ,
nét tinh nghịch, đáng yêu của các nhân vật trẻ em. Có những cái tên rất đẹp gắn với
niềm mong ƣớc của ba mẹ, ngƣời thân nhƣ: Châu, Hà, Hà Vi, Hiền, Hậu, Nhân, Nhã,
Ngàn, Mai, Tƣờng, Thảo, Thi, Thuận, Quý. Có những cái tên xấu, cộc lốc nhƣ chính
tính cách, số phận của nhân vật: Dẫu, Dị, Đực, Tụ. Bên cạnh đó, nhiều nhân vật có tên
mang màu sắc văn hóa Nam Bộ nhƣ: bé Hai, chị Hai, anh Ba, Chị Tƣ, anh Năm, anh
Bảy, Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt, Út Tiền.
Trong số những tên gọi kể trên, tên nhân vật là biệt danh và tên nhân vật là biệt
danh ghép với tên thật đƣợc nhà văn lí giải cặn kẽ qua lời ngƣời kể chuyện hoặc qua
lời của các nhân vật trong tác phẩm. Biệt danh Dƣa Leo đƣợc ngƣời kể chuyện – chú
Mèo Ma Văn Vẻ đặt. Ý nghĩa của tên gọi đƣợc giải thích rất rõ “Tôi đặt tên cho nó là
Dưa Leo vì tôi nghĩ nó cứng đơ như trái Dưa Leo” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18). Biệt
danh Chùa gắn liền với ngoại hình của nhân vật. Sự tích tên gọi đƣợc chính nhân vật
kể lại:
83
“Khi về với ông Sáu tôi chửi thề nhoi miệng, tóc nhuộm vàng, hớt trụi xung
quanh chừa một luống ở giữa đầu như bờm ngựa, hai bát nhấn tia chớp. Cô Sáu thấy
mấy tia chớp kỳ quá nên mới nhuộm tóc tôi cho đen lại. Vẫn không thể lấp hết tia
chớp. Vậy là cô Sáu cạo trọc luôn. Mỗi lần ra tóc mới, tôi bị ngứa kêu cô Sáu cạo tiếp.
Vậy thành Chùa tới bây giờ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.24). Việc nhà văn để nhân vật
tự giải thích ý nghĩa tên gọi của mình giúp ngƣời đọc hình dung rõ về dáng đầu trọc
mà còn giúp ta hiểu đƣợc sự “lột xác” từ một đứa trẻ quậy phá, khó bảo thành một cậu
bé ngoan ngoãn và hiểu chuyện. Cách làm này của Võ Diệu Thanh rất giống với cách
Nguyễn Ngọc Thuần để cho nhân vật Dũng tự giải thích ý nghĩa tên gọi của mình
trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Trong tác phẩm này, Trí Dũng kể lại một cách chi
tiết việc bố mẹ đặt tên cho mình:
“Bố tôi nói với bà mụ:
- Tôi muốn nó một cái tên thật hùng dũng.
- Vậy tên Dũng nhé!
- Tôi muốn nó thật thông minh nữa.
- Vậy thì Trí Dũng.”
(Nguyễn Ngọc Thuần, 2004, tr.16)
Tên nhân vật đƣợc đặt ghép từ tên thật và biệt danh không chỉ gắn với đặc điểm
ngoại hình của nhân vật mà còn thể hiện tính cách của nhân vật. Nam trong tác phẩm
đƣợc cái bạn gọi với biệt danh Nam Trán Dồ. Cái tên đó bắt đầu từ khi ông ngoại của
Nam đến lớp tìm Nam. Ông nói với cô giáo của cháu ngoại mình: “- Tôi là ông ngoại
trò Nam, Nam có ở đây không cô giáo?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Cái tên Trán Dồ
trở thành đặc điểm nhận dạng của nhân vật Nam. Khi cô giáo đăng băn khoăn “- Nam
nào thưa bác, ở đây có hai Nam, Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Văn Bảo Nam” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.6). thì ngay lập tức ông chỉ ra đặc điểm của cháu ngoại mình đó
là có trán dồ: “À, cái thằng Nam trán dồ đó cô giáo” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Từ
đó, biệt danh Trán Dồ của Nam đƣợc các bạn thƣờng xuyên sử dụng thay cho tên
chính Nguyễn Văn Bảo Nam của nó: “Vừa gặp thằng Nam đang lăng xăng dượt con
Mai, tôi réo như giặc tới. - Ê, Trán Dồ ơi Trán Dồ, ông ngoại mày kiếm kìa” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.6). Trong lúc Nam không hề thích cái biệt danh đó chút nào thì Hƣng
thì tỏ ra rất khoái chí. Mỗi lần thấy Nam, nó liền réo gọi “Trán Dồ ơi, Trán Dồ à, Trán
Dồ …” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Biệt danh Trán Dồ phần nào gợi mở tính cách
84
của nhân vật Nam. Theo lời cô Thanh thì “trán dồ là trán rộng, trán của người thông
minh” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10). Dù hay ghen tị gây sự với bạn, nhƣng chính
Hƣng cũng phải công nhận trán dồ là một đặc điểm của ngƣời thông minh: “Ừ chắc
chắn là Nam thông minh hơn tôi nhờ cái trán dồ rồi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.11).
Hƣng nói với cô Thanh “Nó cói cái trán dồ mà, nên vẽ cái gì cũng đẹp hết” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.34). Mai Một Mí, Hƣng Mặt Bành cũng là những biệt danh gắn với
đặc điểm hình dáng trên khuôn mặt. Gọi là Mai Một Mí vì nó có đôi mắt rất nhỏ và
mỗi khi cƣời thì mắt nó híp lại. Gọi là Hƣng Mặt Bành vì cái mặt nó khi nào cũng
chành bành. Cái miệng rộng của Hƣng đã phần nào bộc lộ tính cách tinh nghịch, hay
nói, hay chọc ghẹo bạn bè của nó.
Cách định danh nhân vật theo cách ghép tên thật với biệt danh của Võ Diệu
Thanh rất giống với Nguyễn Nhật Ánh. Trong Kính vạn hoa, ta bắt gặp những nhân
vật có tên là biệt danh gắn với đặc điểm ngoại hình nhân vật nhƣ: Quý ròm, Hải quắn,
Tần ghẻ, Dế lửa. Trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ tên các nhân vật trẻ em đƣợc đặt
theo cách này nhƣ: Hải cò, Tí sún. Những biệt danh đó đƣợc mọi ngƣời quen gọi. Vì
thế, tên thật của nhân vật rất ít đƣợc nhắc đến. Mỗi nhân vật có cách phản ứng riêng
khi ngƣời khác gọi biệt danh của mình. Trong khi Hƣng và Nam không hề thích cái
biệt danh Mặt Bành, Trán Dồ của mình thì Mai, Chùa và Dƣa Leo lại tỏ ra vui vẻ, hài
lòng với biệt danh đó. Chùa và Dƣa Leo “không cự cãi” khi mọi ngƣời gọi biệt danh
của mình. Mai thậm chí còn cảm thấy hãnh diện và tự hào khi đƣợc cô giáo gọi bằng
biệt danh. Mỗi lần cô Thanh gọi “Một Mí lên cô biểu” thì nó liền cƣời vui vẻ.
Ngoài cách định danh nhân vật bằng những tên gọi cụ thể, nhà văn còn định
danh nhân vật bằng tên gọi phiếm định. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu
thấy trăng. Trong tác phẩm này, những học sinh cá biệt ở lớp cô Hoàng đƣợc nhà văn
gọi bằng những cái tên không cụ thể “Đó là cái thằng không đem theo một cuốn vở
nào, ba nó bị bệnh gan nằm liệt, mẹ đi vác lá mướn suốt ngày. Đó là cái thằng ba mẹ
nó đi ghe lá bên Lô, nó ở nhà với ông bà ngoại. Là cái thằng ba mẹ nó đi Bình Dương
mỗi năm nó chỉ gặp mẹ nó có một lần vào ngày Tết” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.51).
Nhiều nhân vật trẻ em trong những truyện viết cho thiếu nhi khác của Võ Diệu Thanh
cũng đƣợc nhà văn định danh bằng tên gọi phiếm định. Đó là đám bạn của thằng Tú
trong truyện Siêu nhân cua. Đó là tụi bạn của Củ Cải trong truyện Tiền của thần cây.
Đó là tụi con nít chơi thả diều ở bãi đất trống trong truyện Thả diều. Đó là mấy đứa
85
bạn của Thuận trong Bí mật theo cô. Đó là các bạn của Bin trong Khu vườn trong mơ
và Chú ong bé bỏng.
Cách định danh nhân vật bằng những tên gọi phiếm định và tên thƣờng gọi ở
nhà của Võ Diệu Thanh khiến ta liên tƣởng đến cách đặt tên cho nhân vật của Quế
Hƣơng. Trong các truyện viết cho thiếu nhi của Quế Hƣơng, ta bắt gặp nhiều tên nhân
vật đƣợc gọi phiếm định nhƣ: thằng đầu to, con câm. Những tên đó gắn liền với dị tật
của nhân vật. Nhiều nhân vật đƣợc Quế Hƣơng đặt tên một cách cụ thể gắn liền với số
phận bất hạnh của nhân vật đó. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong Chiếc vé vào cổng
thiên đường. Đó là con Lỡ, thằng Sót, thằng Quẳng. Nhà văn để các nhân vật tự giới
thiệu về tên mình: “Tau tên Quẳng vì người ta quẳng tau ra đường mấy bận” (Quế
Hƣơng, 2004, tr.28). Tên Lỡ vì bố mẹ lỡ quên, lỡ sinh. Tên Sót vì nó là “đứa duy nhất
còn sót lại trong một gia đình sau một bữa cháo nấm” (Quế Hƣơng, 2004, tr.28). Nếu
Võ Diệu Thanh đặt tên nhân vật là tên một loại trái cây ngon của vùng Nam Bộ (Bòn
Bon) thì Quế Hƣơng lại đặt tên nhân vật là tên những loại rau ăn kèm với món thịt chó
(Mơ, Ngổ). Những cái tên này phần nào đã cho thấy sự bất hạnh của những đứa trẻ có
bố ham mê nhậu nhẹt. Việc đặt tên nhân vật là thằng đầu to, con câm, Lỡ, Quẳng, Sót
của Quế Hƣơng đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về bất hạnh của nhân vật
trẻ em. Khác với Quế Hƣơng tô đậm, xoáy sâu bất hạnh của nhân vật trẻ em, Võ Diệu
Thanh viết về những bất hạnh, những thiệt thòi của trẻ em không nhằm khắc sâu nỗi
đau mà làm bật lên niềm tin, niềm hy vọng của những đứa trẻ thiếu may mắn.
Từ những phân tích trên có thể thấy, hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đƣợc tác giả đặt tên theo những cách rất riêng.
Cách đặt tên cho nhân vật của nhà văn vừa có nét giống cách đặt tên nhân vật của các
nhà văn trƣớc đó và cùng thời vừa có nét khác biệt thể hiện cá tính sáng tạo của tác
giả. Với việc định danh nhân vật bằng những tên vừa cụ thể vừa phiếm định, tác giả đã
làm cho hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái
quát. Hình tƣợng nhân vật trẻ em vì thế trở nên gần gũi, chân thực, đa dạng và sinh
động. Bằng cách này, nhà văn đã tạo cho mỗi nhân vật một đời sống riêng với tính
cách, số phận riêng. Có thể nói những cái tên nhân vật ấn tƣợng nhƣ Bòn Bon, Dƣa
leo, Chùa, Tì Ti, Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí … đã góp phần tạo nên
ấn tƣợng trong lòng độc giả khi đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
86
3.1.2. Cách miêu tả ngoại hình nhân vật
Ngoại hình nhân vật là dáng vẻ bên ngoài biểu hiện qua hình dáng, trang phục
của nhân vật. Những đặc điểm về ngoại hình của nhân vật góp phần thể hiện tính cách,
số phận của nhân vật đó. Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, những
nhân vật trẻ em hiện lên với vẻ ngoài rất khác nhau. Trong số 53 nhân vật trẻ em, có
15 nhân vật đƣợc nhà văn tập trung miêu tả ngoại hình đó là: bé Mai, bé Châu, thằng
cua, Dẫu, Dị, Hậu, Hƣng, Nam, Mai, Quý, Dƣa Leo, Tì Ti, Nhóc, Chùa. Tìm hiểu cách
miêu tả ngoại hình nhân vật của nhà văn chúng tôi nhận thấy có những nhân vật hiện
lên với ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng (bé Mai, bé Châu); có những nhân vật hiện lên
với dị tật trên cơ thể (thằng cua), có những nhân vật hiện lên với dáng vẻ gợi lên sự
lam lũ, nghèo khổ (Dẫu, Dƣa Leo, Hậu, Quý, nhỏ Mai); có những nhân vật hiện lên
với những nét đặc biệt riêng (Tì Ti, Nhóc, Hƣng, Nam) và có nhân vật ngoại hình nhân
vật thay đổi theo số phận (Chùa). Chính điều này đã tạo nên nét riêng cho từng nhân
vật trẻ em.
Ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng của nhân vật trẻ em đƣợc hiện lên qua hai nhân
vật bé Châu và Bé Mai. Bé Châu xinh xắn với mái tóc tơ mềm, mỏng cùng làn da mát
mịn “Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái tóc thì lơ thơ mấy cọng mỏng như cô
tiên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Còn bé Mai lại dễ thƣơng với kiểu tóc thắt thành
bím. Cùng miêu tả mái tóc, Võ Diệu Thanh đã tạo nên sự khác biệt cho hai nhân vật
với những nét khác nhau. Với cách tạo hình đơn giản cho nhân vật, Võ Diệu Thanh đã
tạo nên nét riêng cho mỗi nhân vật. Qua đó, nhà văn cũng gián tiếp bộc lộ quan niệm
của mình về nét đẹp của trẻ em. Không cần phải có “má lúm đồng tiền” giống nhƣ con
Tũn trong truyện Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh, cũng không cần
phải có “cái răng khểnh” nhƣ Dũng trong truyện Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của
Nguyễn Ngọc Thuần, bé Châu, bé Mai trong truyện Thả diều của Võ Diệu Thanh vẫn
xinh xắn, dễ thƣơng theo cách của riêng mình.
Để làm nổi bật nỗi bất hạnh của đứa trẻ bị tật nguyền, nhà văn miêu tả dị tật
trên tay của thằng cua “một cái càng to, một cái cái càng bị thương binh” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.54). Cùng với đó, đặc điểm mái tóc, màu da của nhân vật cũng đƣợc
nhà văn miêu tả “Thằng đó cỡ bằng tôi, đen hơn, mập hơn có mấy sợi tóc vàng hoe”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53). Tất cả những đặc điểm về ngoại hình nói trên đã giúp
ngƣời đọc hình dung rõ hơn về hoàn cảnh sống nhiều khó khăn, thiếu thốn của nhân
87
vật. Dị tật của thằng cua khiến ta liên tƣởng đến những dị tật của các nhân vật trong
truyện viết cho thiếu nhi của Quế Hƣơng. Trong truyện Vua lũ đồ chơi của Quế
Hƣơng, thằng đầu to hiện lên với cái đầu to, chân thọt khiến nó gặp nhiều khó khăn
khi di chuyển. Trong truyện Bà mụ búp bê của Quế Hƣơng, nhân vật con Lỡ hiện lên
với dị tật ở mắt và chân “nước mắt cứ ri rỉ ngay cả lúc nó cười” và “đôi chân cong
vòng nhỏ như cây sậy” (Quế Hƣơng, 2004, tr.12). Viết về những đứa trẻ tật nguyền Võ
Diệu Thanh đã tạo nên dấu ấn riêng khác với Quế Hƣơng. Nếu Quế Hƣơng miêu tả chi
tiết những dị tật lớn ở đầu, mắt, chân của nhân vật trẻ em thì Võ Diệu Thanh chỉ nhắc
đến dị tật nhỏ ở tay. Nhắc đến dị tật của thằng cua là cách để tác giả làm bật lên nỗi bất
hạnh của trẻ em, đồng thời ngợi ca tình cảm yêu thƣơng của thầy cô, bạn bè và những
nhà hảo tâm đối với những đứa trẻ không may bị tật nguyền nhƣ thằng cua.
Để làm nổi bật những thiếu thốn của những đứa trẻ nhà nghèo, Võ Diệu Thanh
đặc tả trang phục. Dẫu đến trƣờng trong bộ dạng nhếch nhác “Không dép, không cặp,
không áo trắng. Tóc loe hoe mấy cọng thả xuống vai. Mặt mày mốc chít. Trên người
chỉ mỗi bộ đồ thun đã xuống màu” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.18). Với việc sử dụng
biện pháp liệt kê (dép, cặp, áo trắng) kết hợp với điệp từ “không”, từ láy “loe hoe”,
Võ Diệu Thanh đã giúp ngƣời đọc hình dung rõ về hoàn cảnh thiếu thốn của gia đình
Dẫu. Dẫu đáng thƣơng không chỉ bởi nhà nghèo, phải chịu cảnh thiếu thốn về vật chất
(không có đồ dùng học tập, không có đồng phục đến trƣờng), mà còn đáng thƣơng vì
thiếu thốn tình cảm, không đƣợc cha mẹ quan tâm. Biết bố mẹ không cho đi học, nó
phải tìm cách trốn bố mẹ để đến trƣờng. Không đƣợc bố mẹ quan tâm nên Dẫu đến
trƣờng với bộ dạng nhếch nhác đến tội nghiệp (mặt không rửa, tóc không cột, quần áo
nhàu nhĩ, cũ kỹ). Hậu may mắn hơn Dẫu khi ngày đầu đến trƣờng có mẹ dắt đi. Nhƣng
vì cùng cảnh con nhà nghèo nên nó cũng chịu nhiều thiệt thòi. Trong cách nhìn của
Dẫu, Hậu hiện lên thật đáng thƣơng “Nhỏ này nhìn độ chừng bằng thằng em Út Nữa
của tôi. Nhìn gương mặt của con nhỏ coi chừng còn chưa bỏ sữa” (Võ Diệu Thanh,
2014, tr.19). Nhà nghèo không đƣợc ăn uống đầy đủ, Hậu còi cọc. Nó sáu tuổi rồi
nhƣng nhỏ xíu nhìn chỉ chừng bốn tuổi. Nếu Dẫu tám tuổi mới bắt đầu học lớp Một thì
Hậu sáu tuổi cũng chƣa đƣợc học mẫu giáo. Nhà hai đứa nghèo tới mức không có tiền
đóng học cho con. Cả hai đứa vào học lớp Một khi chƣa đi học mẫu giáo ngày nào.
Điều này cũng đƣợc nhà văn nhắc đến trong Siêu nhân cua qua hình tƣợng nhân vật bé
Mai. Vẻ lam lũ, thiếu thốn của Mai đƣợc thể hiện qua trang phục mỗi ngày đến trƣờng.
88
Đó là bộ dạng một cô bé áo quần lúc nào cũng lấm lem mà nồng nặc mùi phân gà. Chỉ
qua vài nét miêu tả ngoại hình của nhân vật, tác giả đã giúp ngƣời đọc hình dung rõ
hơn về cuộc sống túng thiếu của mẹ con bé Mai. Quý trong truyện dài Chúng mình bay
đầy trời đƣợc miêu tả với hình dáng mang dấu ấn của đứa trẻ nông thôn nghèo khó,
lam lũ: “Thằng nhỏ này ốm nhách, đen thui, tóc loe hoe” (Võ Diệu Thanh, 2016 b,
tr.5). Ngoại hình gầy còm, ốm yếu của Quý cũng phần nào hé mở cho ngƣời đọc thấy
đƣợc hoàn cảnh gia đình của nó. Sống cùng bà nội ở Núi Cấm, dáng hình của Quý in
đậm dấu ấn của những đứa trẻ ở miền núi. Ốm nhách vì nghèo, da đen thui, tóc leo hoe
vì cháy nắng. Dáng hình ấy cũng bộc lộ tính tình hiền lành, chân chất của đứa trẻ
nghèo vùng núi.
Bên cạnh việc khắc họa nhân vật với ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng, nhân vật
với dị tật trên cơ thể, Võ Diệu Thanh cũng xây dựng nhiều nhân vật với nét đặc điểm
ngoại hình riêng biệt. Để làm nổi bật sự vô tƣ, thân thiện, đáng yêu của Tì Ti và Nhóc,
nhà văn tập trung miêu tả đôi mắt “Đôi mắt của hai mặt trời rực lên phía cuối bãi. Ánh
sáng song đôi, ánh sáng trong lành” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.9). Đôi mắt của Tì Ti
và Nhóc cùng nhìn về một hƣớng – phía cuối bãi. Bởi chúng biết nơi đó là nơi mẹ sẽ
từ Sài Gòn trở về. Chỉ một chi tiết rất nhỏ, tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc
niềm vui, niềm hạnh phúc đang hiện lên trong đôi mắt của hai bạn nhỏ khi biết mẹ của
mình sắp về. Ánh mắt của những cậu bé hồn nhiên, vô tƣ thật tƣơi tắn, trong sáng, ấm
áp. Dƣa Leo (Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm) có ngoại hình đặc biệt: “Một thằng nhỏ ốm
như một loại dây leo. Nó ốm mà nó cứng đơ chớ không mềm mại như dây leo mới khó
chịu” (Võ Diệu Thanh, 2016 a, tr.18). Hƣng (Siêu nhân cua) hiện lên với cái miệng
rộng, đôi mắt nhỏ tí và hàm răng bị sún. Nó tự kể về cái mặt bành của mình “Hồi đẻ
thằng Hưng, tức là đẻ tôi, má ăn thấy sợ, tôi sổ sữa mặt bành như trái bưởi, bành tới
bây giờ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17). Mặt chành bành kèm với răng sún khiến Hƣng
hiện lên đầy ấn tƣợng trong mắt bạn bè. Mai vẽ mặt Hƣng với những chiếc răng sún
rộng nhƣ cái ao. Với những đặc điểm này, nét tinh nghịch, sự dí dỏm của nhân vật
phần nào đƣợc bộc lộ. Nam (Siêu nhân cua) hiện lên với vầng trán rộng. Trong cách
nhìn của Hƣng, trán rộng của Nam khi khóc trông giống ông già “thằng Nam mếu
nhìn cái trán nhăn lại giống ông già đang khóc” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78). Đặc
điểm này của nhân vật thể hiện rõ sự thông minh, ham học hỏi của Nam. Đối lập với
hoàn cảnh nghèo khó của Dẫu và Hậu, Dị lại có hoàn cảnh đủ đầy, sung túc. Điều này
89
đƣợc thể hiện rất rõ qua ngoại hình của nhân vật. Nếu Dẫu, Hậu còi cọc, nhếch nhác
thì Dị lại phổng phao, tƣơm tất. Dị đƣợc mẹ đƣa đến trƣờng với đồng phục mới. Hơn
thế nữa, nó còn có cả đồ chơi xa xỉ mà những đứa trẻ con nhà nghèo nhƣ Dẫu và Hậu
không bao giờ có đƣợc “Bộ đồ nó mặc mới chóc. Trên tay thằng này là một chiếc xe
điều khiển từ xa bự gần bằng nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.22). Nếu Dẫu bạo gan một
mình đến trƣờng, Hậu nhút nhát nép sau lƣng mẹ, thì Dị lại nhõng nhẽo để mẹ bồng
trên tay. Chỉ qua vài nét phác họa ngoại hình, tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận
đƣợc không chỉ hoàn cảnh gia đình mà cả tính cách của nhân vật.
Chùa (Quà tặng của ngày mai) gây ấn tƣợng với ngƣời đọc với ngoại hình đặc
biệt với cái đầu trọc, “sún răng”, “mắt hí hị”. Sự thay đổi đáng kể ở ngoại hình của
Chùa kể từ khi về ở với ông Sáu là kiểu tóc. Nếu lúc mới về sống cùng ông Sáu, Chùa
có kiểu tóc vàng hoe, “đầu nhƣ bờm ngựa” thì sau đó màu vàng hoe đã đƣợc cô Sáu
cho đi nhuộm đen, cái bờm ngựa hình tia chớp đƣợc cạo trọc. Điều đặc biệt là cậu bé
Chùa lại tỏ ra tự hào về vẻ “đẹp trai” của mình. Trong tác phẩm, nhân vật tự khẳng
định: “Có những loại nhan sắc được phối hợp bởi cái miệng móm vừa phải, răng sún
vừa đủ và mắt một mí vừa … hí thì thôi, không gì tàn phá nổi, dù bạn có tóc hay trọc
đầu” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Sự thay đổi về ngoại hình này của Chùa thể hiện
rõ sự thay đổi về nhận thức, tính cách. Từ một đứa trẻ nghịch ngợm, mê chơi, khó bảo
trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, học giỏi, đàn giỏi.
Nét độc đáo trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em của Võ Diệu
Thanh đó là không đi sâu miêu tả một cách tỉ mỉ ngoại hình của nhân vật. Chỉ qua vài
nét khắc họa, nhân vật đã hiện lên thật ấn tƣợng. Dáng hình của các nhân vật đã phần
nào bộc lộ đƣợc hoàn cảnh sống, tính cách của các nhân vật. Những chi tiết rất nhỏ về
đặc điểm ngoại hình của nhân vật góp phần làm cho nhân vật để lại dấu ấn đậm nét
trong lòng độc giả.
3.1.3. Cách miêu tả hành động nhân vật
Mỗi nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mang những
đặc điểm tính cách khác nhau. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của từng nhân vật, nhà
văn tập trung miêu tả những hành động của các nhân vật. Khảo sát các truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy những hành động của trẻ em đƣợc
nhà văn nhiều lần nhắc đến đó là: hỏi, khóc, cƣời, méc, chọc ghẹo. Đặc biệt tác giả đi
90
sâu miêu tả những hành động khác với thƣờng ngày của nhân vật để từ đó làm bật lên
những thay đổi về tâm lí, tính cách của nhân vật.
Để làm nổi bật lên hình tƣợng nhân vật Dẫu – một cô bé nghèo, là nạn nhân của
bệnh thành tích trong giáo dục, nhà văn đặc biệt miêu tả những hành động của Dẫu
trƣớc khi đi học, khi đi học và sau khi bỏ học. Sự háo hức vì sắp đến trƣờng của Dẫu
đƣợc bộc lộ qua hàng loạt hành động: “tắm táp thiệt lâu”, “lựa bộ đồ lành lặn nhất
mặc vào”, “nằm im nhìn lên trần nhà”, “rửa mặt”, hỏi mẹ đã sáng chƣa để đi học.
Đây là những hành động khác với thƣờng ngày của Dẫu “Đó không phải là thói quen
thường ngày của tôi”. Những thay đổi về hành động của Dẫu cho thấy tâm thế chuẩn
bị đi học với tâm trạng háo hức của một cô bé đã hơn tám tuổi luôn khao khát đƣợc đi
học nhƣng chƣa từng đƣợc đến trƣờng ngày nào. Miêu tả những hành động này nhà
văn đã giúp ngƣời đọc hình dung về sự thiệt thòi của Dẫu khi không đƣợc ba mẹ cho
đi học. Chỉ qua vài nét miêu tả hành động của Dẫu, Võ Diệu Thanh đã cho ngƣời đọc
thấy đƣợc niềm khao khát đƣợc đi học đến tội nghiệp của Dẫu.
Nhã (Bí mật theo cô) là một cô bé giàu tình cảm. Để làm nổi bật điều đó, nhà
văn đã miêu tả nhiều hành động thể hiện sự quan tâm của em dành cho mẹ nhƣ: hỏi,
tâm sự, khuyên, kéo má chạy trốn. Quan tâm đến sở thích của ba, Nhã hỏi má “- Ba
thích ăn món gì hả má”. Với mong muốn nấu món ăn mà ba thích nhất, Nhã hỏi ba: “-
Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43). Để bảo
vệ mẹ tránh cơn giận dữ của ba, Nhã thƣờng khuyên mẹ chạy trốn: “Nhịn đi má ơi”
(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.40). Khuyên không đƣợc, Nhã dồn hết sức lôi mẹ chạy khỏi
nhà: “Bằng tất cả sức lực Nhã xô ba một cái mạnh. Ba lảo đảo va người vào vách nhà.
Nhã lôi má chạy” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.40). Mỗi lần nhìn thấy má ngồi buồn, Nhã
thƣờng đến bên tâm sự cùng má: “Đêm đó ở nhà cô Chi, má nằm dỗ em Thi ngủ. Nhã
ngồi bên má” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.48). Những hành động kể trên cho thấy Nhã
rất yêu thƣơng mẹ của mình.
Để làm nổi bật những tổn thƣơng tâm lí của cu Lý nhà văn đã miêu tả hàng loạt
các hành động của nhân vật: ngồi thu mình trong nhà, hốt cát chọi tung lên trời, đá
tung cát lên lần nữa, cúi gầm mặt xuống, đấm ình ịch tay vào đất, lại hốt cát tung lên,
phạt ngang phạt dọc, vùi mặt xuống cát. Tất cả những hành động đó thể hiện rõ những
dằn vặt, đau đớn trong lòng cu Lý khi nhớ về bé Châu – đứa em gái bé bỏng, tội
nghiệp của mình. Điều này càng đƣợc bộc lộ rõ qua hành động khóc của nhân vật “Nó
91
vừa kể vừa khóc mà cũng không hay mình đang khóc. Khóc nhiều tới mức nó không kể
được nữa” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 35). Miêu tả cu Lý khóc, tác giả đã cho ngƣời
đọc thấy đƣợc bản tính dễ xúc động của trẻ em. Không riêng gì cu Lý, nhiều nhân vật
trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh cũng thƣờng có hành động
này mỗi khi bị bạn bè trêu chọc, bắt nạt, khi bị đánh đòn và cả khi phải xa những
ngƣời thân của mình. Nhã ngậm ngùi khóc bên mâm cơm nguội lạnh khi nồi canh nó
mất nửa ngày để nấu không ai ăn một miếng. Bố nó bỏ đi nhậu, mẹ buồn chán bỏ ăn.
Bé Thi khóc thé lên khi thấy ba đánh mẹ. Tì Ti khóc thút thít vì nhớ mẹ. Nhỏ Mai mếu
máo mỗi lần bị thằng cua dọa nạt. Thằng Quý vừa chạy vừa khóc vì nhớ nội. Út Tiền
gào khóc khi phải xa mẹ.
Hƣng (Siêu nhân cua) là một cậu bé tinh nghịch, dí dỏm. Để làm nổi bật tính
cách này, nhà văn nhiều lần miêu tả hành động méc của Hƣng. Cậu học trò lớp Một
này luôn tìm đến cô Thanh để méc đủ chuyện. Không chỉ méc chuyện ba mẹ, hàng
xóm ở nhà, chuyện bạn bè ở lớp nhƣ thế nào nó cũng méc. Chính nhân vật cũng tự
khẳng định “Nói chung là tôi méc hết” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73). Là một đứa trẻ
tinh nghịch, Hƣng không khi nào chịu ngồi yên một chỗ “Để cho đỡ nhàm, tôi bước
lên bàn Nam, kê mặt sát mặt nó vừa nói “trán dồ” vừa nhe răng ta cười rất là xạo sự”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12). Không chỉ chạy, nhảy, vọt, có lúc Hƣng còn “bay” từ
chỗ này đến chỗ khác để “tám chuyện”: “Tôi bay chéo một phát tới ngay trước mặt
nhỏ Mai. Lần này tôi bắt đúng cái chỗ sai quấy của nó rồi” (Võ Diệu Thanh, 2016,
tr.46). Hàng loạt các động từ (méc, nói, cười, chạy, nhảy, vọt, bay) đƣợc nhà văn sử
dụng để miêu tả sự tinh nghịch của Hƣng. Qua đó, ta thấy đƣợc tác giả đã rất dụng
công trong việc khắc họa tính cách nhân vật thông qua việc miêu tả hành động.
Mai (Chúng mình bay đầy trời) là một cô bé ham học hỏi. Để làm nổi bật tính
cách này của Mai, tác giả đã miêu tả hành động hỏi của nhân vật. Trong những cuộc
trò chuyện với cô giáo Thanh và bạn bè trong lớp, Mai thƣờng hay hỏi và hỏi dồn dập
“-Trồng su su trên núi là làm sao? Núi thế nào vậy? Có giống cái nóc nhà không? Nó
giống cái nón lá không?” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11). Với việc dùng bốn câu hỏi
liên tiếp, tác giả đã giúp cho ngƣời đọc thấy rõ đƣợc sự ngây thơ, ham học hỏi của
Mai.
Tì Ti và Nhóc trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời đều là những đứa trẻ vô
tƣ, thân thiện, hồn nhiên, tinh nghịch. Để làm nổi bật cá tính của mỗi nhân vật, nhà
92
văn đã miêu tả những hành động đối lập nhau của chúng. Hai đứa trẻ đều phải sống xa
mẹ. Mỗi năm chỉ đƣợc gần mẹ mấy ngày Tết. Những ngày tháng mẹ đi làm ở sài Gòn,
Tì Ti và Nhóc nhớ mẹ da diết. Để nguôi đi nỗi nhớ mẹ, Tì Ti chọn cách nói chuyện
với đôi dép, với cây cối còn thằng Nhóc lại chọn cách tránh nhắc đến mẹ vì càng nhắc
đến mẹ nó càng nhớ mẹ hơn. Khi biết má sắp về, cả hai đứa cùng chạy ra bãi cỏ gần
trƣờng để chờ mẹ. Trong lúc Tì Ti “ngồi chồm hổm nhìn về hướng những nhánh xoài
de ra đường” thì thằng Nhóc lại “nhóng cả người ra lề đường, nhìn về phía xa hơn
mấy nhánh xoài de ra đường” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6). Hành động “ngồi chồm
hổm”, “nhóng” ngƣời ra lề đƣờng đã thể hiện rõ sự nôn nóng, háo hức chờ mẹ về của
Tì Ti và Nhóc. Thông qua những hành động đối nghịch nhƣ vậy, ngƣời đọc nhận ra
đƣợc cá tính của mỗi nhân vật.
Khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn bên cạnh việc nhắc đến những hành
động thƣờng làm của trẻ em nhƣ: khóc, cƣời, méc, hỏi, chọc ghẹo, chạy nhảy…, tác
giả còn chú ý đặc tả những hành động rất riêng của từng nhân vật. Chính điều này đã
tạo cho nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh vừa mang
những nét chung của trẻ em, vừa có nét cá tính riêng. Qua cách nhà văn miêu tả hành
động nhân vật, ta thấy đƣợc khả năng quan sát tinh tế, tỉ mỉ của tác giả.
3.1.4. Cách miêu tả tâm lí nhân vật
Xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em trong những truyện viết cho thiếu nhi, Võ
Diệu Thanh đặc biệt đi sâu miêu tả diễn biến tâm lí của những đứa trẻ có số phận bất
hạnh, những đứa trẻ nhân hậu giàu lòng thƣơng ngƣời. Những diễn biến tâm lí của
nhân vật trẻ em nhƣ buồn, vui, lo, sợ, nhớ, mong, giận, ghét … đƣợc nhà văn miêu tả tỉ
mỉ. Với lối trần thuật nửa trực tiếp, nội tâm của nhân vật đƣợc thể hiện một cách rõ
nét.
Diễn biến tâm lí của Dẫu (Lần đầu thấy trăng) từ khi chuẩn bị đi học đến khi
nhập học đƣợc nhà văn miêu tả đậm nét. Dẫu nôn nao chờ đợi đến giờ đi học đến mức
nằm mơ cũng thấy mình đang đi học “Tới khi mệt mỏi ngủ thiếp tôi lại chiêm bao thấy
mình đã tới đó” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.17). Sợ bị ba phát hiện, cô bé len lén đến
trƣờng rồi “lủi thủi trở về”. Tâm trạng của Dẫu khi lần thứ hai đến trƣờng đƣợc nhà
văn miêu tả rất tinh tế “Lần này không nôn nao như bữa trước” (Võ Diệu Thanh,
2014, tr.17). Nếu hôm đầu tiên đến trƣờng Dẫu dậy rất sớm thì lần thứ hai nhân vật lại
“chần chừ nên ra trễ”. Nghe tiếng nói chuyện của mọi ngƣời từ trong lớp học vọng ra,
93
cô bé tự ti nghĩ rằng mình không thể đƣợc nhƣ mọi ngƣời “Tôi có cảm giác tôi đi mãi
cũng không tới được nơi đó” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.22). Diễn biến tâm lí phức tạp
đó của Dẫu giúp ngƣời đọc hiểu hơn về hoàn cảnh nghèo khó đáng thƣơng và tính
cách mạnh mẽ, bạo dạn của nhân vật này.
Nhã trong truyện ngắn Bí mật theo cô là một ngƣời sống nội tâm. Vì thế trong
số các nhân vật trẻ em, cô bé là nhân vật đƣợc nhà văn tập trung khắc họa diễn biến
tâm lí nhiều nhất. Những thay đổi về tâm trạng của nhân vật đƣợc nhà văn miêu tả tinh
tế, tỉ mỉ. Đó là nỗi lo lắng bí mật (tè dầm) của mình bị mọi ngƣời phát hiện. Đó là sự
lúng túng khi cô giáo hỏi về bữa cơm trong gia đình. Đó là nỗi mừng vui khi nghe ba
nói chuyện với nó với “giọng nhẹ xuống”. Đó là sự háo hức khi cùng mẹ đi chợ mua
nguyên liệu chuẩn bị nấu món canh khổ qua dồn chả mà ba thích. Đó là sự tủi thân khi
nhận ra sự vô tâm của ba. Đặc biệt là hụt hẫng, trống rỗng trong tâm hồn Nhã khi
chứng kiến cảnh ba má gây lộn, đánh đập, mắng chửi nhau “Trong miệng nó cái xác
của miếng khổ qua đã không còn đắng nữa, lưỡi mất hết cảm giác. Từng bước chân
cũng không định hướng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.46). Chỉ với hai câu văn ngắn gọn,
tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc sự tổn thƣơng tâm lí nặng nề của một đứa trẻ
là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình.
Ngàn (Khi hai vua về một nhà) cũng là một nhân vật có đời sống nội tâm phong
phú với diễn biến tâm lí phức tạp. So với tất cả những nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, Ngàn là đứa trẻ chững chạc hơn cả. Là một đứa
trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ nhƣng khi đọc tác phẩm ngƣời đọc không hề cảm thấy Ngàn
bất hạnh, không hề cảm thấy thƣơng xót cho Ngàn. Bởi Ngàn luôn biết cách đối mặt
với khó khăn, đối mặt với nghịch cảnh. Thay vì khóc lóc, thay vì phản ứng lại bằng
cách lì lợm, phá phách, Ngàn lại tỏ ra rất ngoan ngoãn, lễ phép, tốt bụng. Khi biết
thằng Hà – đứa bạn học cùng lớp học dốt, hay quậy phá, trốn học đi chơi là con của cô
Mai – ngƣời mà nó rất thƣơng, ngƣời mà nó ao ƣớc là mẹ của mình, Ngàn nặng trĩu
suy tƣ “Ngàn ngồi nhìn cô Mai. Nó không nói được gì. Nó nhớ là nó đã hả hê khi kể
cho cô nghe cảnh thằng Hà quậy, cảnh nó làm cho thằng Hà phải dở khóc dở cười.
Chắc cô Mai buồn lắm” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16). Qua việc miêu tả sự trầm tƣ của
Ngàn, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tình yêu thƣơng chân thành của nó đối với cô Mai.
Là một cô giáo dạy Mỹ thuật ở cấp tiểu học, luôn gần gũi với trẻ, vì vậy Võ
Diệu Thanh rất hiểu tâm lí trẻ em. Mỗi đứa trẻ có đời sống tâm lí riêng, đặc biệt tâm lí
94
lứa tuổi học sinh tiểu học lại liên tục thay đổi. Những buồn, vui, lo, sợ, nhớ thƣơng,
giận dỗi của trẻ thơ đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ. Không yêu trẻ, không quan sát tinh tế
thì nhà văn không thể viết về trẻ em chân thật và gần gũi đến vậy.
3.2. Xây dựng nhân vật trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật
Đặc trƣng của văn học thiếu nhi là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ, đậm
chất nhạc. Trong những truyện viết cho thiếu nhi, chất tự sự và chất trữ tình có sự kết
hợp hài hòa. Hƣớng đến đối tƣợng độc giả nhỏ tuổi, các nhà văn thƣờng sử dụng ngôn
ngữ mộc mạc, giản dị, trong sáng “Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học thiếu nhi thường
giản dị (chứ không đơn giản), trong sáng, gần gũi, dễ hiểu, chính xác, giàu sức gợi tả,
biểu cảm, vừa mang tính nghệ thuật mà cũng rất đỗi đời thường” (Bùi Thanh Truyền,
2019, tr.18).
Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi hƣớng đến việc chỉ ra những nét độc đáo về ngôn ngữ tả, ngôn ngữ
kể, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại.
3.2.1. Ngôn ngữ tả
Ngôn ngữ tả trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh rất giàu hình
ảnh, đậm chất họa. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua những đoạn miêu tả thiên nhiên và
con ngƣời. Các tính từ, từ láy, kết hợp với biện pháp so sánh đƣợc nhà văn sử dụng
hiệu quả để làm nổi bật ngoại hình, tâm trạng, tính cách, số phận của nhân vật.
Trƣớc hết, chất họa trong truyện của Võ Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ qua cách
miêu tả ngoại hình nhân vật trẻ em. Bé Châu (Thả diều) xinh xắn hiện lên rõ nét qua
câu văn miêu tả làn da, mái tóc:“Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái tóc thì lơ
thơ mấy cọng mỏng như cô tiên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Các tính từ “mịn
trơn”, “mát lạnh”, kết hợp với từ láy “lơ thơ” và hình ảnh so sánh gần gũi với các bạn
nhỏ “cô tiên” đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về nét xinh xắn, dễ thƣơng
của bé Châu. Hƣng tinh nghịch, miệng chành bành nói cƣời suốt ngày đƣợc thể hiện
qua hình ảnh so sánh gần gũi: “Tôi sổ sữa mặt bành như trái bưởi” (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.17). Thủ pháp so sánh này cũng đƣợc nhà văn sử dụng để miêu tả ngoại hình
của nhân vật Dƣa Leo “Một thằng nhỏ ốm như một loại dây leo” (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.18). Sử dụng hình ảnh so sánh gần gũi với trẻ em (cây dƣa leo), tác giả đã
giúp cho ngƣời đọc dễ dàng hình dung về vẻ ngoài ốm nhom của nhân vật. Sự yếu ớt
về thể trạng của Dƣa Leo cũng ảnh hƣởng đến sự phát triển của não bộ. Là một học
95
sinh lớp Tám, Dƣa Leo vẫn còn ngu ngơ nhƣ học sinh tiểu học. Vì vậy, nó dễ dàng bị
lạc đến xứ sở Bồ Câu mà không tìm đƣờng về nhà mình ở xứ sở Bìm Bìm đƣợc.
Kế đến, chất họa đƣợc thể hiện qua việc miêu tả cảm xúc, tâm trạng của nhân
vật trẻ em. Sự ủ rũ của thằng Hào khi bị thầy hiệu trƣởng xử phạt đƣợc thể hiện qua
câu văn giàu sức gợi “Thằng Hào lúc này ngồi buồn hiu như con cua rụng hết càng”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73). Sự tức giận của Nam khi bị Hƣng trêu là trán dồ đƣợc
thể hiện rõ qua hình ảnh so sánh “Hai mắt Nam nhìn tôi như hai cái đèn xe hơi” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.6). Sự vui vẻ, thăng hoa của Mai khi vẽ tranh đƣợc so sánh với
hành động múa, hát của ngƣời nghệ sĩ: “Nó vẽ như là múa, rồi nó tô màu cũng như là
đang hát” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.35). Mai bị cua kẹp trong lúc ngủ khi còn là một
bé gái nhỏ xíu khiến nó luôn ám ảnh. Nỗ đau đớn đó trong cảm nhận của Hƣng đƣợc
so sánh thật gần gũi nhƣ những gì Hƣng đã trải qua: “Đau như là bị ong chích”, “Đau
như là bị ba quất vào mông” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20).
Chất họa không chỉ đƣợc thể hiện qua việc miêu tả nhân vật mà còn đƣợc thể
hiện rất rõ qua việc miêu tả không gian. Để làm nổi bật sự nghèo khó của gia đình Dẫu
nhà văn miêu tả con đƣờng dẫn vào nhà. Khi con đƣờng trƣớc các nhà xung quanh đã
đổ đƣờng nhựa hoặc lót đá thì lối đi dẫn vào nhà Dẫu vẫn là con đƣờng đất “cây cối tự
do mọc”, tán cây phủ kín cả lối đi. Kênh Dƣơng Đôi trong cách nhìn của Dẫu thật gợi
hình “Nó cong như vành cung ở khúc nhà tôi” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.13). Biện
pháp so sánh giúp ngƣời đọc hình dung rõ về con đƣờng dẫn vào nhà Dẫu rất ngoằn
ngoèo khó đi và nguy hiểm khi nằm ngay cạnh con kênh uốn lƣợn. Nhà của Mai đƣợc
tác giả miêu tả qua hai câu văn ngắn gọn “Ngôi nhà nó nhỏ xíu nằm cạnh một con
mương. Đường đi nhỏ xíu” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.47). Câu văn ngắn, kết hợp với
điệp ngữ “nhỏ xíu” có tác dụng nhấn mạnh không gian sống chật hẹp của Mai. Miêu tả
ngôi nhà, con đƣờng bằng những hình ảnh so sánh giàu sức gợi, tác giả đã tạo ra
không gian bối cảnh để nhân vật xuất hiện. Nhờ đó, tính cách, số phận của nhân vật
đƣợc bộc lộ rõ nét hơn.
Bộ ba truyện tranh: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng và Khu
vườn trong mơ là những tác phẩm giàu chất họa. Đọc các truyện tranh này, ngƣời đọc
nhƣ lạc vào một thế giới tràn ngập sắc màu. Khu vƣờn của ông nội Bin đƣợc vẽ lên
với những hình ảnh tƣơi tắn. Đó là vƣờn bí với “hàng ngàn cây bí xanh mướt”, với
những bông “hoa bí vàng tươi”, hoa đực, hoa cái chen nhau tràn ngập khắp vƣờn. Đó
96
là khóm quỳnh rực sáng và ngào ngạt hƣơng thơm“Mỗi lần hoa quỳnh nở, cả khu
vườn của ông sáng rực giống như một bức tranh được vẽ bằng hoa” (Võ Diệu Thanh,
2021a, tr.35). Đó còn là khu vƣờn trong mơ của các bạn nhỏ với ngập tràn hoa lá, ngập
tràn âm thanh vui nhộn của Ve Phệ, Bƣớm Điệu, Kiến Bành. Quá trình sinh ra và lớn
lên của quả bí ngô cũng đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ “Những trái bí dần lớn lên xanh
mướt, căng tròn rồi ngả sang màu vàng” (Võ Diệu Thanh, 2021b, tr.33).
Có thể thấy, trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh những đoạn
miêu tả không nhiều. Tuy nhiên, những câu văn giàu sức gợi đƣợc nhà văn chắt lọc đã
tạo nên sự cô đọng, hàm súc cho các tác phẩm. Các tính từ, từ láy, các biện pháp tu từ
nhƣ điệp, so sánh đƣợc nhà văn sử dụng hiệu quả trong việc khắc họa ngoại hình, tâm
trạng, tính cách của nhân vật.
3.2.2. Ngôn ngữ kể
Ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự có khi là tác giả ẩn mình, có khi là nhân
vật. Do đó, khi tìm hiểu ngôn ngữ kể trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi xét cả hai khía cạnh: ngôn ngữ kể của nhân vật và ngôn ngữ kể của
tác giả. Khảo sát tất cả các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh (10 truyện),
chúng tôi thấy, ngƣời kể chuyện là nhân vật trẻ em chiếm tỉ lệ 5/10 và ngƣời kể
chuyện là tác giả chiếm tỉ lệ 5/10. Tỉ lệ này tƣơng đối đồng đều. Những truyện có
nhân vật trẻ em tham gia kể chuyện gồm: Lần đầu thấy trăng, Siêu nhân cua, Chúng
mình bay đầy trời, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm và Quà tặng của ngày mai. Những truyện
có ngƣời kể chuyện là tác giả gồm: truyện dài Tiền của thần cây, tập truyện Những cậu
bé mặt trời và ba truyện tranh: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu
vườn trong mơ.
Hƣớng đến độc giả nhỏ tuổi, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có sự
mộc mạc, giản dị trong ngôn ngữ kể chuyện. Trong hai truyện dài Siêu nhân cua và
Chúng mình bay đầy trời, nhân vật tôi – Hƣng Mặt Bành đóng vai trò là ngƣời kể
chuyện. Hƣng là một cậu bé tinh nghịch, dí dỏm. Vì vậy, lời kể của Hƣng cũng rất hồn
nhiên, dí dỏm, Điều này đƣợc thể hiện ngay trong phần mở đầu tác phẩm Siêu nhân
cua: “Chẳng qua là trong một buổi ra chơi nọ có một ông già mặc bộ đồ bà ba đen
bước vô lớp tôi. Lúc đó mấy bạn ra chơi hết rồi, cô Thanh đang ôm mớ vở xuống văn
phòng. Ông già đó bước vô nhìn dáo dác” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.5). Cách mở đầu
“trong một buổi ra chơi nọ có một” mang âm hƣởng dân gian giống với cách mở đầu
97
của truyện cổ tích. Từ ngữ mộc mạc, dung dị trong lời kể của cậu bé lớp Một đã giúp
cho câu chuyện trở nên lôi cuốn, hấp dẫn gọi trí tò mò của ngƣời đọc. Chất giản dị,
mộc mạc trong lời kể chuyện còn đƣợc thể hiện qua việc tác giả sử dụng các câu ca
dao, thành ngữ gần gũi với trẻ em. Trong Quà tặng của ngày mai, tác giả đã dành hẳn
một phần để nói về giá trị của những câu ca dao, thành ngữ - “Những câu ca dao hiện
đầy quanh tôi mỗi ngày”. Những thành ngữ quen thuộc đƣợc Khánh Hƣng nhắc đến
đó là: thùng rỗng kêu to, trứng khôn hơn vịt. Điều đặc biệt là tác giả không dùng
những câu thành ngữ này chỉ để dẫn dắt câu chuyện hay chêm xen vào lời nhân vật mà
dùng nó để lí giải cắt nghĩa những bài học sâu sắc mà một đứa trẻ tám tuổi nhƣ Khánh
Hƣng rút ra đƣợc từ phƣơng pháp giáo dục độc đáo của ông Sáu. Những thành ngữ, ca
dao mộc mạc, quen thuộc này giúp cho những triết lí nhân văn mà tác giả gửi gắm đến
với độc giả một cách tự nhiên, không gƣợng ép, khiên cƣỡng.
Ngôn ngữ kể chuyện đậm chất họa với việc sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, ẩn
dụ, nhiều tính từ, nhiều từ láy. Trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, ngƣời đọc
bắt gặp rất nhiều hình ảnh ẩn dụ nhƣ: “Hai mặt trời rực lửa giỡn nhau. Tưởng như vũ
trụ sẽ lụi tàn trong tiếng cháy nổ. Nhưng tiếng cười của hai mặt trời dội vào nhau
nghe như tiếng một cơn mưa ào ạt nước. Nước chảy từ mặt trời. Những dòng nước
trong lành mát lạnh” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 8). Chỉ với đoạn văn ngắn gọn (5
câu), với việc sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật (ẩn dụ “hai mặt trời” để chỉ Tì Ti và
Nhóc), so sánh (“tiếng cười” với “tiếng mưa ào ạt nước”), từ láy (“ào ạt”), tính từ
(“trong lành”, “mát lạnh”), tác giả đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về sự
vô tƣ, hồn nhiên, tinh nghịch đáng yêu của Tì Ti và Nhóc. Lời kể giàu hình ảnh này
cũng xuất hiện trong nhiều truyện viết cho thiếu nhi khác của Võ Diệu Thanh. Cách so
sánh ví von độc đáo đƣợc tác giả nhiều lần sử dụng trong Siêu nhân cua. Khảo sát 90
trang của tác phẩm, chúng tôi thấy trong lời dẫn chuyện của Hƣng, biện pháp so sánh
đƣợc sử dụng 33 lần (xem phụ lục 3 bảng hệ thống biện pháp tu từ so sánh trong
truyện Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh). Điều này đã góp phần tạo cho truyện giàu
giá trị gợi hình, biểu cảm. Đặc biệt là, những hình ảnh so sánh trong tác phẩm giản dị,
gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của trẻ em. Đọc truyện ngắn Cáp treo cho những mặt
trời, ngƣời đọc sẽ cảm thấy thích thú với ngôn ngữ kể chuyện lôi cuốn, giàu hình
tƣợng của tác giả. Kết thúc tác phẩm, nhân vật tôi kể: “Nhân không còn mặt trời thứ
hai nhưng nó còn mặt trời bà nội, mặt trời bà Tư Quán Võng và cả những mặt trời bạn
98
bè trong lớp 3c. Mặt trời trôi trên cao chỗ dòng sông lại sáng rực y như hồi má còn
sống” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.82). Việc tác giả sử dụng hình ảnh ẩn dụ (“mặt trời
thứ hai”), kết hợp với điệp từ (“mặt trời”), liệt kê (“bà nội”, “bà Tư Quán Võng”,
“bạn bè trong lớp 3c”), tính từ (“sáng rực”) đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc niềm
vui, niềm tin tƣởng, lạc quan của Nhân và mọi ngƣời. Mỗi ngƣời trong chúng ta đều có
những ngƣời đặc biệt quan trọng với mình, và ta cũng là ngƣời rất quan trọng đối với
những ngƣời khác. Mỗi ngƣời đều có những mặt trời và đồng thời cũng là mặt trời của
mọi ngƣời để đem đến ánh sáng của niềm tin, tình yêu thƣơng. Hãy thắp lên ngọn lửa
yêu thƣơng trong mỗi ngƣời để cuộc sống không còn bóng tối, không còn giá lạnh,
không còn khổ đau. Triết lí nhân văn sâu sắc đƣợc thể hiện qua cách diễn đạt giàu hình
ảnh đã tạo nên ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả.
Tìm hiểu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ kể chuyện không chỉ mộc mạc mà còn giàu chất
nhạc. Câu chuyện về hành trình khám phá núi Cấm, khám phá hang cọp đƣợc kể một
cách dí dỏm, lôi cuốn giúp ngƣời đọc nhƣ đƣợc phiêu lƣu cùng con chữ:
Và tôi đi tìm đường lên trời. Cáp treo kéo bọn tôi lên cao, lên cao. Tôi thấy
mình bay thật sự. Tôi không có đôi cánh tôi vẫn có thể bay thật sự. Không có đôi cánh
tôi vẫn có thể bay cao hơn những nóc nhà, những ngọn cây. Tôi thấy con đường phía
dưới nhỏ dần nhỏ dần. Tôi hình dung mình sẽ bay mãi như vầy cho tới khi đụng trời.
Cáp ngừng. Má biểu tôi xuống thì tôi vẫn thấy mình đang đứng dưới đất còn trời vẫn ở
tuốt trên cao. Rốt cuộc đường nào lên trời? (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.75).
Chất nhạc trong lời kể chuyện đƣợc tạo nên bởi âm điệu du dƣơng, trầm bổng.
Chỉ với một đoạn văn ngắn gọn (10 câu), tác giả sử dụng 10 biện pháp nghệ thuật nhƣ:
sử dụng quan hệ từ (“và”), kết hợp với điệp từ (“tôi” (10 lần)), điệp ngữ (“lên cao”,
“bay thật sự”, “tôi thấy”, “đôi cánh”, “nhỏ dần”), liệt kê (“những nóc nhà”, “những
ngọn cây”), câu hỏi tu từ (Rốt cuộc đường nào lên trời?), kết hợp các câu dài ngắn
khác nhau (câu dài 20 từ, câu ngắn chỉ 2 từ), sử dụng nhiều động từ (đi, thấy, hình
dung, bay, biểu ), nhiều tính từ (cao, nhỏ), câu văn toàn thanh bằng (Và tôi đi tìm
đường lên trời), cùng với việc sử dụng linh hoạt các thanh bằng – trắc. Những biện
pháp nghệ thuật này đã góp phần tạo nên nhịp điệu du dƣơng cho lời kể chuyện. Qua
đó, ta thấy đƣợc vốn từ phong phú, cách sử dụng từ ngữ linh hoạt của một cậu bé lớp
99
Một. Điều này có tác dụng làm nổi bật sự hoạt ngôn – vốn là một ƣu điểm nổi trội của
Hƣng so với các bạn cùng lứa tuổi.
Ngôn ngữ kể mang đậm dấu ấn cá nhân của ngƣời kể chuyện. Điều này đƣợc
thể hiện qua những từ ngữ mà ngƣời kể chuyện thƣờng xuyên sử dụng. Trong lời kể
chuyện của nhân vật Hƣng (Siêu nhân cua), chúng tôi nhận thấy nhân vật thƣờng
xuyên sử dụng các liên từ có tác dụng liên kết nhƣ: nhưng, nhưng rồi, nhưng mà, thì,
vì, mà, rõ ràng, vậy là, ngay cả, đôi khi, đương nhiên là, thật ra, … Trong đó, những
từ ngữ mà nhân vật này sử dụng nhiều hơn cả đó là: nhưng, nhưng mà. Khảo sát Siêu
nhân cua, chúng tôi thấy, trong lời kể chuyện của Hƣng, từ “nhưng” xuất hiện 31 lần,
từ “nhưng mà” xuất hiện 16 lần. Chỉ riêng trang 13 của tác phẩm, từ “nhưng” xuất
hiện 4 lần, từ “nhưng mà” xuất hiện 1 lần. Việc sử dụng các liên từ trong lời kể chuyện
đã tạo nên sự liên kết giữa các câu trong văn bản giúp cho câu chuyện có sự liền mạch.
Nhờ đó, truyện càng có sức lôi cuốn hơn với độc giả.
Nếu cu Mùi trong truyện Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh
thƣờng nói “buồn ơi là sầu” thì Hƣng trong Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh thƣờng
nói “bạn nghĩ coi”, “bạn biết không”. Trong lời kể chuyện của nhân vật này, ta thấy
nhiều từ ngữ thƣờng xuyên xuất hiện đó là: “bạn nghĩ coi” (6 lần), “ bạn có” (2 lần),
“bạn biết không” (3 lần), “bạn thấy” (3 lần), “bạn đừng” (2 lần), “bạn hình dung” (2
lần), “nếu bạn” (2 lần) (xem phụ lục 4 bảng thống kê phép liên kết trong lời ngƣời kể
chuyện trong truyện Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh). Nhƣ vậy có thể thấy ngƣời kể
chuyện đã có 20 lần giao tiếp với độc giả bằng cách vừa kể vừa bộc bạch cho độc giả
nghe; vừa hỏi, vừa nhắn nhủ tới độc giả. Cách làm này giúp ngƣời đọc có cảm giác
nhƣ nhân vật đang nói chuyện với chính mình. Những câu hỏi, những lời nhắn nhủ của
ngƣời kể chuyện giúp rút ngắn khoảng cách giữa ngƣời kể chuyện với độc giả. Nhờ
vậy, ngƣời đọc nhƣ đƣợc tham gia vào câu chuyện nhân vật đang kể.
Ngôn ngữ kể đậm chất trữ tình. Khảo sát lời ngƣời kể chuyện trong truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có những chƣơng truyện hoàn
toàn là lời ngƣời kể chuyện. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Siêu nhân cua và
Chúng mình bay đầy trời. Trong Siêu nhân cua, (Chƣơng 4. Cô Thanh khủng khiếp
như ma). Trong Chúng mình bay đầy trời, có chƣơng chỉ toàn là lời của ngƣời kể
chuyện (Chƣơng 3. Trên trời có gì). Điều này có tác dụng tạo nên chất trữ tình cho lời
100
kể. Lời kể của nhân vật bộc lộ cảm xúc, tâm trạng về những sự việc đã diễn ra, dự
cảm, trăn trở về những điều sẽ xảy ra.
Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh dù ngƣời kể chuyện là tác giả hay
nhân vật trẻ em thì điều dễ nhận thấy là ngôn ngữ đều rất mộc mạc, giàu hình ảnh,
giàu nhạc tính và đậm chất trữ tình. Nếu ngôn ngữ kể của nhân vật – nhân vật trẻ em
trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mộc mạc, trong sáng thì ngôn ngữ
kể của tác giả trau chuốt, gợi hình hơn. Việc đa dạng hóa ngƣời kể chuyện, đa dạng
hóa điểm nhìn trần thuật đã tạo nên tính chân thật, khách quan cho lời kể.
3.2.3. Ngôn ngữ đối thoại
Tính cách của nhân vật phần lớn đƣợc bộc lộ qua ngôn ngữ đối thoại. Những
đứa trẻ ngoan ngoãn thƣờng có cách xƣng hô lễ phép và ngƣợc lại. Trong từng hoàn
cảnh giao tiếp khác nhau, nhân vật thƣờng sẽ có cách xƣng hô, cách sử dụng từ ngữ
khác nhau. Vì thế, khi tìm hiểu ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trẻ em trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi luôn chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp
của nhân vật: giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa và giao tiếp với ngƣời lớn. Khi giao
tiếp với bạn bè cùng trang lứa, nhân vật trẻ em thƣờng xƣng hô thân mật, gần gũi, sử
dụng nhiều kiểu câu tỉnh lƣợc, câu đặc biệt. Còn khi giao tiếp với ngƣời lớn tuổi, các
em thƣờng xƣng hô lễ phép và thƣờng sử dụng các câu đơn chuẩn mực. Cùng trong
một hoàn cảnh giao tiếp giống nhau, mỗi nhân vật trẻ em lại có cách xƣng hô, cách sử
dụng từ ngữ khác nhau. Chính điều này đã tạo nên cá tính riêng cho từng nhân vật.
Trƣớc hết, ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh mang tính khẩu ngữ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong các đại từ xƣng hô mà
các nhân vật sử dụng khi giao tiếp với bạn bè, bố mẹ, thầy cô. Những đại từ xƣng hô
thƣờng đƣợc các nhân vật trẻ em sử dụng khi giao tiếp với bạn bè đó là: mày – tao
(Thuận và các bạn trong Bí mật theo cô, Tì Ti và Nhóc trong Những cậu bé mặt trời,
Ngàn và Hà trong Khi hai vua về một nhà, Dẫu và Đực trong trong Lần đầu thấy
trăng, Bòn Bon và Vĩ trong Tiền của thần cây,), mình – bạn (Hƣng, Nam, Mai và Quý
trong Chúng mình bay đầy trời), tui – bạn (Nam – Mai trong Siêu nhân cua). Khi giao
tiếp với những ngƣời lớn tuổi, những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh thƣờng xƣng hô lễ phép. Điều này đƣợc thể hiện qua các đại từ
xƣng hô: con – cô, con – chú, em – anh hai, …
101
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh không
chỉ mang tính khẩu ngữ mà còn mang dấu ấn cá nhân của nhân vật. Mỗi đứa trẻ có tính
cách khác nhau. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của nhân vật, tác giả đã dụng công
miêu tả ngôn ngữ rất khác biệt của từng nhân vật.
Dẫu (Lần đầu thấy trăng) là một học trò cá biệt, học yếu, luôn bày trò nghịch
ngợm, đánh bạn, giật đồ của bạn. Trong mắt của ba mẹ, trong mắt của thầy cô, Dẫu là
một đứa trẻ hƣ hỏng. Điều đó đƣợc thể hiện ngay trong cách xƣng hô của Dẫu với bạn
bè và thầy cô. Lớp từ ngữ Dẫu thƣờng xuyên sử dụng là từ ngữ thông tục. Trong lời
đối thoại của Dẫu, ta thấy kiểu câu nhân vật này thƣờng hay sử dụng là câu tỉnh lƣợc,
ngắn, cộc lốc. “-Mày dám hông. Mày rớ tao một tay, tao đập bà nội mày nhìn không
ra” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.79). Ngay cả khi nói chuyện với thầy cô, Dẫu cũng trả
lời cộc lốc “- Thằng Tụ nào? - Cái thằng nói ông thầy cũng ỉa nữa” (Võ Diệu Thanh,
2014, tr.56). Việc Dẫu dùng từ thông tục (mày, tao, ỉa), trả lời một cách cộc lốc, thiếu
chủ ngữ, không dạ, thƣa đã cho thấy sự vô lễ, ngổ ngáo của nhân vật. Sở dĩ Dẫu có
cách nói chuyện nhƣ vậy là do bị nhiễm thói cộc cằn, thô lỗ từ ngƣời cha thƣờng
xuyên nhậu nhẹt. Hơn nữa, có thể nhận thấy, cách xƣng hô thiếu chuẩn mực của thầy
Mãi cũng đã gián tiếp khiến Dẫu có cơ hội thể hiện sự thô tục, vô lễ. Bởi khi nói
chuyện với cô Hoàng, Dẫu lại xƣng hô rất lễ phép: “ – Thầy độ lúc này khỏe không
em? – Dạ khỏe lắm cô à” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.256). Qua ngôn ngữ đối thoại của
Dẫu, nhà văn gián tiếp gửi gắm thông điệp về cách ngƣời lớn giao tiếp với trẻ em.
Muốn trẻ em lễ phép, ngƣời lớn cần xƣng hô đúng mực, nhẹ nhàng và thân mật.
Mai (Siêu nhân cua và Chúng mình bay đầy trời) là một cô bé ngây thơ, ngoan
hiền, nhút nhát nhƣng cũng rất sáng tạo, ham học hỏi. Để làm nổi bật điều đó, tác giả
đã rất dụng công trong việc xây dựng ngôn ngữ rất riêng của Mai. Trong lời thoại dài
bốn câu thì có tới ba câu hỏi: “- Trồng su su trên núi là làm sao? Núi thế nào vậy? Có
giống cái nóc nhà không? Nó giống cái nón lá không? Tại tôi thường thấy mấy đứa
trong lớp tôi cũng vẽ núi giống cái nón” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.11). Trong toàn bộ
tác phẩm, những lần đối thoại của Mai với cô giáo Thanh và các bạn, lời thoại hầu hết
là câu hỏi. “Mai lại hỏi: - Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? - Tại chỗ đó lên trời
được” Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.12). Các câu thoại phần lớn là câu đơn với từ ngữ
trong sáng, mộc mạc, dễ hiểu.
102
Hƣng (Siêu nhân cua và Chúng mình bay đầy trời) là một cậu bé tinh nghịch, dí
dỏm, hoạt ngôn. Vì thế, trong tác phẩm nhà văn đã để cho nhân vật đóng vai trò là
ngƣời kể chuyện xƣng “tôi”. Thông qua lời kể của nhân vật, ngƣời đọc sẽ thấy đƣợc sự
nhạy bén trong cách xử lý tình huống của nhân vật. Trong các cuộc đối thoại với các
nhân vật khác, lời thoại của Hƣng cũng nhiều hơn với từ ngữ phong phú, sử dụng linh
hoạt các kiểu câu. Đặc biệt những câu nói của Hƣng thƣờng gây cƣời cho mọi ngƣời
“- Đường chạy lên trời à? Vậy mai mốt mình muốn lên trời chỉ việc vô núi Cấm, kêu
thằng Quý dắt mình lên trời hé. Mình còn có thể leo lên những đám mây để nó đưa
mình đi chơi. Như Tề Thiên vậy!” Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.11).
Khác với Hƣng, những nhân vật trẻ em khác trong truyện viết cho thiếu nhi của
Võ Diệu Thanh nhƣ Quý, Nhân lại rất ít nói. Thằng Quý (Chúng mình bay đầy trời)
trầm tính, nội tâm giấu kín, vì thế trong cách xƣng hô, nó thƣờng nói ít, nói nhỏ,
những kiểu câu ngắn. “Ăn cơm đâu có gì khó đâu cô! – Quý nói lí nhí” Võ Diệu
Thanh, 2016b, tr.19). Cách nói của Quý cho thấy sự rụt rè của một cậu học sinh từ nơi
khác mới chuyển tới còn lạ lẫm với thầy cô, bạn bè. Nhân (Cáp treo cho những mặt
trời) là một đứa trẻ giàu tình cảm nhƣng nội tâm lại giấu kín. Vì rất ít nói nên những
hành động khác thƣờng của Nhân bị mọi ngƣời hiểu nhầm. Ai cũng nghĩ Nhân bị tự kỉ.
Chỉ khi cô giáo Thanh tìm đến nhà để hỏi han tâm sự, Quý mới chịu mở lời “- Cái này
là gì vậy em?. – Dạ. Em không biết. – Hình như em muốn làm cáp treo? Mà cáp treo
làm như vầy đúng hả cô?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77). Qua lời đối thoại giữa Nhân
với cô giáo, ngƣời đọc nhận thấy sự lễ phép, thân thiện của Nhân khi sử dụng từ xƣng
hô “em – cô”, từ tình thái “dạ”.
Bòn Bon (Tiền của thần cây) là một cậu bé rất giàu tình cảm, ngoan ngoãn, lễ
phép. Yêu quý chú chó cƣng của mình, Bòn Bon đặt tên nó là Ban Đêm và xƣng hô
thân mật:“- Tao biểu mày đừng có hí hí. Mày đúng là nói không nghe. May mà ba
không nghi ngờ” (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.16). Cách xƣng hô “tao – mày”, thể hiện
rõ tình cảm gắn bó thân thiết giữa Bòn Bòn và con chó cƣng. Với Bòn Bon, Ban Đêm
giống nhƣ một ngƣời bạn thân thiết, giống nhƣ anh em ruột thịt trong nhà. Hai đứa tỏ
ra rất hiểu ý nhau, phối hợp nhịp nhàng trong những lần trốn ba đi chơi.
Điều đặc biệt ở ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh đó là tác giả sử dụng nhiều câu hỏi. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong các
103
truyện: Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng mình bay đầy trời, Tiền của
thần cây và Những cậu bé mặt trời.
3.2. Bảng thống kê câu hỏi trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh
Stt Tên tác phẩm Sổ lƣợng Số lƣợng câu Tỉ lệ câu hỏi trong
câu hỏi hỏi trong lời lời đối thoại của
trong tác đối thoại của nhân vật trẻ em
phẩm nhân vật trẻ với câu hỏi trong
em tác phẩm
1 120 57 47,5% Siêu nhân cua
2 127 95 74,8% Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm
3 154 121 78,57% Chúng mình bay đầy trời
4 105 83 69,52% Tiền của thần cây
5 125 67 53,6% Những cậu bé mặt trời
Đoạn đối thoại giữa các nhân vật Hƣng, Nam, Mai trong truyện dài Chúng mình bay
đầy trời thể hiện rõ điều đó:
“- Ở trong đó có gì?
- Chắc là ghê lắm?
- Phải nó có mấy con ma không?
- Không, trong đó không có gì, Hồi lần ba mình với mình chui xuống đó
rồi.
- Có thấy ông Bác Vật Lang không?”
(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77).
Trong đoạn đối thoại trên ta thấy, lời thoại của các nhân vật Hƣng, Nam, Mai phần
lớn là câu hỏi (4/5 câu). Việc nhà văn sử dụng hàng loạt các câu nghi vấn nhƣ vậy có
tác dụng nhấn mạnh sự tò mò, ham học hỏi, thích khám phá của trẻ em.
Trong Chúng mình bay đầy trời, có chƣơng chỉ toàn là lời thoại của các nhân
vật (Chƣơng 12. Người bay đầy trời). Điều này có tác dụng xóa nhòa ranh giới giữa
các nhân vật. Ngƣời đọc khó lòng phân biệt đƣợc lời thoại của từng nhân vật. Ở các
chƣơng khác, lời dẫn chuyện cũng rất ít, phần lớn là lời đối thoại của các nhân vật. Ở
chƣơng 2, lời dẫn chuyện chỉ xuất hiện 5 lần. Ở chƣơng 14, lời dẫn chuyện chỉ xuất
104
hiện 1 lần ở cuối chƣơng. Ở chƣơng 20, lời dẫn chuyện chỉ xuất hiện 2 lần (1 lần ở đầu
chƣơng và 1 lần ở giữa chƣơng). Với cách làm này, Võ Diệu Thanh đã làm cho truyện
viết cho thiếu nhi của mình rất gần với truyện tranh. Đây có thể xem là một trong
những nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.
Tùy theo ngữ cảnh, tùy vào đối tƣợng giao tiếp, những nhân vật trẻ em có cách
xƣng hô khác nhau. Khi giao tiếp với thầy cô giáo và ngƣời lớn, trong môi trƣờng lớp
học, các bạn nhỏ thƣờng xƣng hô lễ phép, với ngôn từ trong sáng, chuẩn mực. Khi
giao tiếp với bạn bè, ở trong và ngoài lớp học ngôn ngữ đối thoại của các bạn nhỏ lại
rất thân mật, suồng sã, ngắn gọn, đơn giản. Tìm hiểu ngôn ngữ đối thoại trong truyện
viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, ta hiểu rõ hơn về tính cách, số phận của từng
nhân vật trẻ em.
Các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh là
những đứa trẻ ở miền sông nƣớc Nam Bộ. Vì thế, trong lời đối thoại giữa các nhân vật,
chúng tôi thấy rất nhiều phƣơng ngữ Nam bộ đƣợc tác giả sử dụng nhƣ: má, chèn, à,
nghen, anh hai, chọt ét, hổng phải mờ, hé. Với việc sử dụng rất nhiều phƣơng ngữ
Nam Bộ, Võ Diệu Thanh đã tạo nên màu sắc Nam Bộ đậm nét cho các tác phẩm của
mình. Điều này đã góp phần làm cho các truyện viết cho thiếu nhi đến gần hơn với độc
giả, nhất là độc giả ở Nam Bộ. Qua những truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh độc giả hiểu rõ hơn về những nét văn hóa đặc sắc của vùng sông nƣớc Nam Bộ.
3.2.4. Ngôn ngữ độc thoại
Tính cách, số phận của nhân vật trẻ em không chỉ đƣợc bộc lộ qua ngôn ngữ mà
còn đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, độc thoại
nội tâm là “lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện trực tiếp quá trình
tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy
trực tiếp của nó” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr.122).
Độc thoại là nói với chính mình hoặc nói với ai đó trong tƣởng tƣợng. Trong tác
phẩm văn học, có những lời độc thoại đƣợc thể hiện ra thành lời có gạch đầu dòng
nhƣng phần lớn là độc thoại nội tâm nói trong suy nghĩ, tƣởng tƣợng không thành lời.
Lời độc thoại nội tâm có khi tách riêng, có khi xen lẫn vào lời kể, lời đối thoại của
nhân vật. Lời độc thoại trong tác phẩm có lúc là lời tự vấn, có khi là lời giãi bày, có
lúc là lời khẳng định, thừa nhận. Qua lời độc thoại của nhân vật, ta thấy đƣợc cái nhìn
hiện thực mang tính dân chủ của nhà văn.
105
Nhiều truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có lời kể chuyện là lời kể
của nhân vật tôi – nhân vật trẻ em, nhân vật chính của tác phẩm. Nhân vật xƣng tôi tự
kể về mình, qua đó nhân vật tự bộc bạch suy nghĩ, tâm trạng của mình qua lời độc
thoại nội tâm. Điểm nhìn trần thuật bên trong qua lời kể của nhân vật tôi đã góp phần
tạo nên tính chân thật cho lời kể. Tìm hiểu ngôn ngữ độc thoại trong truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ có sự mộc mạc, dí dỏm và
đậm chất Nam Bộ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua lời độc thoại của Bòn Bon, Chùa,
Hƣng, Nhã. Lời độc thoại của Chùa (Quà tặng của ngày mai) đầy dí dỏm với những từ
ngữ mộc mạc, đậm chất Nam Bộ: “Chớ chuyện mình lơ đễnh đàn trật nhịp là bình
thường mà. Ai chê kệ họ chớ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68). Hƣng (Siêu nhân cua)
“Thông minh là gi? Sao mà cô Thanh lại lôi từ cái khó này qua cái khó kia vậy cà?
Cái nào tôi cũng không biết. Nhưng Nam lại biết. Nói nó thông minh tức là học hạng
nhất. Ừ phải a” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10). Qua lời độc thoại đó của Hƣng ta thấy
đƣợc suy nghĩ non nớt, đơn giản của cậu học sinh lớp Một. Lời độc thoại nội tâm của
Bòn Bon (Tiền của thần cây) đầy suy tƣ với hàng loạt các câu hỏi: “Ai đã phát hiện ra
hộp vàng? Ai lại có khả năng tàng hình trước mắt ông nội và trước mắt bầy ong vò vẽ
để rinh hết vàng? Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 55). Lời
độc thoại với ba câu hỏi liên tiếp nhƣ vậy có tác dụng gợi sự băn khoăn của Bòn Bon
đồng thời thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ em.
Khác với lời đối thoại (thƣờng là những câu ngắn, câu đơn, câu đặc biệt, câu
tỉnh lƣợc với những kiểu câu cảm thán, câu nghi vấn); lời độc thoại nội tâm của nhân
vật thƣờng là câu dài, câu đầy đủ thành phần và phần lớn là câu trần thuật. Điều này
đƣợc thể hiện rất rõ qua những lời độc thoại của Nhã (Bí mật theo cô). Nỗi niềm của
nhân vật đƣợc thể hiện qua những câu văn nhân vật kể trong bài tập làm văn. Trong
tác phẩm, nhân vật 3 lần dùng hình thức viết bài Văn (Kể về bữa cơm gia đình) để bộ
lộ niềm suy nghĩ, mong ƣớc của mình. Cả 3 lời độc thoại nội tâm đều đƣợc diễn đạt
bằng ngôn từ trong sáng, giản dị với kiểu câu trần thuật “Con không tin ba lại không
thèm những bữa ăn đầm ấm. Con không biết cách gì để cai cho ba đừng uống rượu.
Con chỉ mong tới khi con đủ khôn lớn vẫn còn có ba. Con sẽ là người bạn đáng tin
tưởng nhất chia sẻ giúp ba những muộn phiền. Lúc đó con lại bằm chả dồn khổ qua
cho bữa cơm đầm ấm của nhà mình” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52). Qua lời độc thoại
này, ta thấy đƣợc Nhã là một cô bé chăm chỉ, chịu học hỏi và đặc biệt là rất giàu tình
106
cảm. Niềm mong ƣớc giản dị của một cô bé tiểu học đƣợc diễn đạt bằng ngôn từ trong
sáng, lời văn nhẹ nhàng khiến ngƣời đọc cảm động.
Lần đầu thấy trăng là truyện có nhiều lời độc thoại nội tâm. Trong tác phẩm
những lời độc thoại nội tâm của Dẫu và Hậu xuất hiện xuyên suốt 38 chƣơng. Trong
đó lời độc thoại nội tâm của Hậu chiếm phần lớn (Mở đầu chƣơng 1, cuối chƣơng 2,
cuối chƣơng 8, toàn bộ chƣơng 12, cuối chƣơng 13, cuối trang 20, cuối chƣơng 24,
cuối trang 25, cuối chƣơng 32, đầu chƣơng 36). Lời độc thoại của các nhân vật thƣờng
là những đoạn văn rất dài. Lời độc thoại nội tâm của Hậu là lời bộc bạch của một đứa
trẻ nhút nhát, thể trạng yếu ớt bị đẩy lên lớp để trƣờng hoàn thành chƣơng trình phổ
cập tiểu học “Mình đẻ non mà. Mình hỏi má sao con khờ vậy má không để con lớn
chút hãy cho đi học. Má nói thầy cô tới từng nhà. Đứa nào sinh năm vậy nếu không đi
học, năm sau vô trễ người ta không nhận” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.20). Nỗi tủi thân
của một đứa trẻ khi không đƣợc thầy cô quan tâm đƣợc bộc lộ qua lời độc thoại nội
tâm của Hậu “Cô cũng như thầy Mãi, mỗi người một kiểu đẩy mình ra rìa lớp học”
(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.63). Qua lời độc thoại nội tâm của Dẫu và Hậu, ngƣời đọc
hiểu đƣợc nỗi niềm của những đứa trẻ là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo
dục, những tiêu cực trong giáo dục nhờ đó cũng hiện lên chân thực, khách quan hơn.
Cùng viết về đề tài nhân vật trẻ em, mỗi tác giả lại có cách sử dụng ngôn ngữ
rất khác nhau. Chính điều này đã tạo nên dấu ấn riêng cho mỗi nhà văn. Trong những
truyện viết cho thiếu nhi ở độ tuổi mới lớn, Nguyễn Nhật Ánh sử dụng rất nhiều tiếng
lóng, ngôn ngữ tuổi teen vào trong tác phẩm. Văn Thành Lê sử dụng nhiều những
thuật ngữ trong từ điển tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ nhại. Nguyễn Ngọc Tƣ sử dụng
nhiều hình ảnh ẩn dụ, biểu tƣợng, từ ngữ đậm chất Nam Bộ.
Là một nhà văn, đồng thời là một cô giáo dạy Mỹ thuật cho học sinh tiểu
học,Võ Diệu Thanh có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc hằng ngày với trẻ em,
hiểu đƣợc ngôn ngữ trẻ thơ, nắm bắt tâm tƣ tình cảm của trẻ em để diễn đạt bằng ngôn
ngữ gần gũi với trẻ em. Nhà văn ghi dấu ấn với cách sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản
dị, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, đậm chất trữ tình, mang đậm tính khẩu ngữ, đặc biệt
là đậm chất Nam Bộ. Cách nói dung dị, ngôn ngữ đời thƣờng trong truyện viết cho
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đã làm cho khoảng cách giữa ngƣời kể chuyện và nhân
vật, giữa tác giả và ngƣời đọc đƣợc rút ngắn. Chân dung nhân vật trẻ em nhờ vậy hiện
107
lên chân thật, gần gũi hơn. Qua việc đọc tác phẩm, độc giả nhỏ tuổi có thể mở rộng
vốn từ của mình, từ đó biết lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
3.3. Xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu trần thuật
Giọng điệu trần thuật là “Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của
nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn” (Lê Bá Hán nnk.,
1992, tr. 134). Tìm hiểu truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chúng tôi nhận
thấy sự linh hoạt trong giọng điệu trần thuật của tác giả: giọng điệu hồn nhiên, trong
trẻo; giọng điệu xót xa, thƣơng cảm; giọng điệu châm biếm, mỉa mai; giọng điệu suy
tƣ, triết lí.
3.3.1. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo
Ngƣời kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh không chỉ
là tác giả mà còn nhân vật trẻ em. Những nhân vật trẻ em nhƣ Chùa, Hƣng đóng vai
trò là ngƣời kể chuyện trong các truyện Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời và
Quà tặng của ngày mai. Ngƣời kể chuyện xƣng tôi trong các tác phẩm này là những
học sinh tiểu học. Việc tác giả để nhân vật trẻ em tham gia kể chuyện đã góp phầm tạo
nên giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo cho các truyện viết cho thiếu nhi của mình. Qua
lời kể hồn nhiên, trong trẻo của Chùa và Hƣng, sự hồn nhiên, ngây thơ, nét tinh
nghịch, dí dỏm của trẻ em hiện lên chân thật, sinh động.
Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo đƣợc tác giả sử dụng trong cách miêu tả tính
cách hồn nhiên, ngây thơ của nhân vật trẻ em. Điều này đƣợc thể hiện trƣớc hết qua lời
tự kể về mình của nhân vật. Chùa (Quà tặng của ngày mai) tự nhận xét về “nhan sắc”
của mình một cách dí dỏm: “Có những loại nhan sắc được phối hợp bởi cái miệng
móm vừa phải, răng sún vừa đủ và mắt một mí vừa … hí thì thôi, không gì tàn phá nổi,
dù bạn có tóc hay trọc đầu” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Nhiều lần trong tác phẩm,
nhân vật thể hiện sự tự tin của mình về vẻ “đẹp trai” của mình: “cái tên không ảnh
hưởng gì tới sắc đẹp và chút ít tuổi của tôi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Cách Chùa
kể về cảm xúc của mình khi đƣợc mọt ngƣời khen ngợi cũng rất hồn nhiên: “Người ta
nói tôi cười đẹp trai. Nghe rất thích.”, “Họ nói cách tôi đàn nhìn rất dễ thương, rất có
duyên”, “Chắc có lẽ do tôi sún răng mà hay cười” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.65).
Giọng điệu hồn nhiên còn đƣợc thể hiện qua cách nhìn, cách nghĩ rất ngây ngơ
của trẻ em về mọi ngƣời xung quanh. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua lời của Hƣng
khi nghĩ về cô Thanh. Trong cách nhìn của Hƣng, cô Thanh có lúc rất thông minh
108
nhƣng cũng có lúc rất ngây thơ dễ tin: “Cô Thanh đúng là dễ tin. Chuyện dóc tới độ
một thằng dở ẹc như tôi còn thấy vậy mà cô cũng tin. Cô khóc sướt mướt luôn vậy đó
bạn. Cô Thanh đôi khi “trán dồ” hết ý nhưng đôi khi khờ khạo không chịu nổi” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.22).
Qua giọng điệu trần thuật hồn nhiên trong trẻo, hình tƣợng nhân vật trẻ em hồn
nhiên, trong sáng hiện lên thật đáng yêu. Giọng điệu trần thuật này, đƣợc thể hiện qua
lời văn mộc mạc, đậm chất họa, giàu chất nhạc. Sự hồn nhiên, trong trẻo này làm cho
ngƣời đọc cảm thấy lòng bình yên, vui tƣơi đến lạ khi đƣợc lạc vào thế giới của trẻ
thơ. Qua đó, nhà văn thể hiện cái nhìn yêu thƣơng, trìu mến trƣớc những vẻ đẹp rất
riêng của trẻ em.
3.3.2. Giọng điệu xót xa, thƣơng cảm
Khi viết về những đứa trẻ bất hạnh, mồ côi, nghèo, thất học; những đứa trẻ tật
nguyền, yểu mệnh; những đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực gia đình và nạn nhân của
bệnh thành tích giáo dục, nhà văn bày tỏ sự cảm thông, thƣơng xót với giọng điệu xót
xa, thƣơng cảm. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các truyện Siêu nhân cua, Thả diều, Bí
mật theo cô và Lần đầu thấy trăng.
Giọng điệu xót xa thƣơng cảm đƣợc thể hiện trƣớc hết qua lời kể của nhà văn
về những đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong truyện Thả diều, sau khi hiểu
đƣợc lý do cu Lý xé diều của con gái mình, lí do cu Lý không thích thả diều, ngƣời
đàn ông thay vì trách mắng đã động viên cậu bé. Ông bày tỏ sự thông cảm trƣớc nỗi
đau dai dẳng của cu Lý – nỗi đau của một ngƣời anh trai bất lực khi nhìn đứa em gái
mình yêu quý bị đuối nƣớc “- Tội nghiệp. Mới hơn mười tuổi đầu mà gánh nỗi mặc
cảm tày trời. Con không có lỗi, con còn chưa có khả năng coi chừng mình sao mà coi
chừng em được” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36). Trong Bí mật theo cô, cô giáo Chi khi
hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của Nhã, hiểu rõ mong muốn của Nhã: “Thiệt khổ, mới
chừng này tuổi” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50). Xót xa khi đứa em còn chƣa nói rõ
phải chứng kiến cảnh bố mẹ thƣờng xuyên cãi nhau, đánh nhau, Nhã không giấu đƣợc
nỗi ngậm ngùi: “Má đã kế một bên mà bé Thi còn tức tưởi. Có lẽ bé cũng đang ám ảnh
cảnh ẩu đả của ba má lúc chiều. Em Thi mới ba tuổi đầu …” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.41). Dấu ba chấm trong câu “Em Thi mới ba tuổi đầu …” thể hiện rõ sự ngậm ngùi
của Nhã. Nó thƣơng em bị ám ảnh bởi tiếng ba mẹ cãi nhau, đánh nhau. Một cô bé lớp
Năm, là lớp trƣởng, là học sinh giỏi vì thế Nhã tỏ ra hiểu chuyện, suy tƣ hơn so với
109
bạn bè cùng trăng lứa của mình. Thƣơng mẹ, thƣơng em và tủi thân thƣơng cho chính
mình. Bởi là học sinh giỏi môn Văn nhƣng Nhã lại không thể hoàn thành đƣợc bài tập
làm văn rất đơn giản mà cô giáo yêu cầu: Hãy kể về bữa cơm trong gia đình mình. Lí
do Nhã không thể viết đƣợc là gia đình nó chƣa bao giờ có một bữa cơm gia đình đầm
ấm đầy đủ tất cả thành viên. Ba luôn vắng mặt vào giờ cơm để đi nhậu.
Mai (Siêu nhân cua) mồ côi cha, sống cùng với má trong căn nhà ọp ẹp, chật
chội ở một nơi hẻo lánh. Hoàn cảnh nghèo khó của hai mẹ con Mai hiện ra qua lời kể
đầy xót xa, thƣơng cảm của cô giáo Thanh: “- Ba bạn Mai mất hồi bạn còn trong bụng
mẹ. Hai mẹ con không bà con dòng họ nên phải ở một chỗ xa xôi như vầy. Hồi nhỏ xíu
bạn đã phải ở một mình” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.48). Những thiệt thòi của Mai càng
hiện rõ hơn qua lời kể của Hƣng: “Con Mai ngủ dưới đất thật. Nó còn ăn cơm nguội,
còn bị trói và ngủ ở nhà một mình. Nó không có tivi coi nên nó chỉ vẽ con ma theo giấc
mơ của nó. Chắc là nó bị con cua dưới mương bò lên cắn là có thật” (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.48).
Nếu giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo tạo cho ngƣời đọc cảm giác thƣ thái, du
dƣơng, thì giọng điệu xót xa, thƣơng cảm lại khiến ngƣời đọc quặn thắt, rƣng rƣng.
Qua giọng điệu xót xa, thƣơng cảm của tác giả, ngƣời đọc thấy đƣợc tấm lòng thƣơng
yêu của nhà văn đối với trẻ em. Phải là một ngƣời yêu trẻ em tha thiết, Võ Diệu Thanh
mới có thể viết đƣợc những trang văn chan chứa tình yêu thƣơng khiến độc giả nao
lòng đến vậy.
3.3.3. Giọng điệu chế giễu, mỉa mai
Viết về những tiêu cực trong giáo dục và những thói tật của con ngƣời, nhà văn
thể hiện sự chế giễu, mỉa mai. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu thấy trăng
và Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.
Trƣớc hết, nhà văn chế giễu, mỉa mai những tiêu cực trong giáo dục nhƣ: tình
trạng dạy thêm, học thêm, tình trạng dạy học chạy theo thành tích, tình trạng bạo lực
học đƣờng, tình trạng tham ô của công. Những điều này đƣợc nhà văn bóc trần, lật tẩy
qua việc khắc họa những giáo viên bất tài, thiếu tâm và không có tầm. Đó là thầy Mãi,
cô Tài Ba, thầy hiệu trƣởng trong Lần đầu thấy trăng. Qua lời của Dẫu – một học sinh
tểu học, tác giả mỉa mai cách dạy bạo lực, rập khuôn, chạy theo thành tích của các thầy
cô trƣờng Dƣơng Đôi. Trong mắt Dẫu, thầy Mãi hiện lên nhƣ một con thú “Thầy rống
thật lớn, chửi rủa, gầm gừ, đập thước vào bảng, vào bàn học sinh” (Võ Diệu Thanh,
110
2014, tr.33). Đám học sinh trong tay thầy nhƣ một bầy vịt nháo nhác “Thầy Mãi lùa cả
đám chạy ào ào. Ai rớt lại thì rớt thầy cứ chạy miệng cứ hối cái đám bị rớt lại kêu nó
đuổi theo” (Võ Diệu Thanh, 2013, tr.73). Không chỉ mỉa mai, chế giễu cách dạy rập
khuôn, cứng nhắc của thầy Mãi, tác giả còn mỉa mai thói háo danh, chạy theo thành
tích của một số thầy cô giáo. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua cách kể của Dẫu về cô Tài
Ba. Cô là một “diễn viên cốt cán” với “ suất diễn khá dày”. Bằng giọng điệu giễu
nhại, tác giả đã phơi bày tất cả những mánh khóe trong nghề của cô Tài Ba. Chạy theo
thành tích, cô Tài Ba không chỉ đầu tƣ diễn xuất mà còn phải phù phép “Người ta đòi
bằng cấp thì cô mua bằng cấp, người ta đòi chất lượng thì cô phù phép chất lượng”
(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.63). Trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, qua lời Dƣa Leo – cậu
học sinh lớp Tám, tác giả cũng mỉa mai cách dạy nặng nề, thái quá của giáo viên:
“Thật ra là cô giáo dạy giỏi lắm, dạy ngày dạy đêm, dạy cả lúc ngủ lúc ăn” (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.68).
Chế giễu, mỉa mai những tiêu cực trong giáo dục, không chỉ có Võ Diệu Thanh
mà còn có Văn Thành Lê. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong các truyện dài Không biết
đâu mà lần, Thừa ra một người của nhà văn này. Đọc các truyện ngắn trong hai tập
truyện này, ngƣời đọc sẽ bắt gặp rất nhiều những ông thầy nghịch dị, háo danh, háo
sắc, sẽ cƣời ra nƣớc mắt trƣớc tình trạng cải cách giáo dục nửa vời qua giọng điệu giễu
nhại sâu cay của tác giả. Điều đó phản ánh một thực trạng đáng buồn của giáo dục
nƣớc nhà trong những năm gần đây đó là những ngƣời thầy nghịch dị đang có mặt ở
khắp các trƣờng học. Và điều đó đang làm ảnh hƣởng đến hình tƣợng ngƣời thầy trong
mắt phụ huynh và học sinh, ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục của nƣớc nhà.
Viết về những tiêu cực trong giáo dục, Võ Diệu Thanh mỉa mai cách dạy rập
khuôn của giáo viên và cách học vẹt của học sinh. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các
nhân vật Hà Vi, Tƣờng trong Lần đầu thấy trăng và Đầu Bự trong Bảng đỏ cho xứ Bìm
Bìm. Đầu Bự đƣợc đánh giá là học sinh giỏi là vì nó thuộc bài rất giỏi: “Đầu Bự thuộc
tám ngàn câu luôn ông ạ. Phải nói là nó thiên tài. Có lần con ngồi mở sách chỉ cần
nói số trang, dòng thứ mấy là nó đọc không sót một chữ nào” (Võ Diệu Thanh, 2016,
tr.73).
Những thói tật của con ngƣời cũng đƣợc nhà văn vạch trần với giọng điệu chế
giễu, mỉa mai. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Qua lời
của chú Mèo Ma Văn Vẻ, những thói tật của ngƣời dân ở xứ Bìm Bìm đƣợc bóc trần
111
nhƣ: đi lậu không chịu mua vé mỗi lần đi phà, ăn cắp vặt, tè bậy, tham lam, háo danh,
thích moi móc chuyện của ngƣời khác. Thái độ mỉa mai đƣợc thể hiện ngay trong cách
đặt tên cán bộ tỉnh là ông Bụng Cọp, “Chúa xứ Bìm Bìm”. Đặc biệt là chi tiết tấm biển
cấm “Cấm phân mèo và cư dân Bìm Bìm”. Tấm biển này đƣợc viết hoa và treo trong
vƣờn trái đỏ. Qua lời của Dƣa Leo, biển cấm này có ý nghĩa mỉa mai ngƣời xứ Bìm
Bìm thối tha nhƣ phân mèo và vì thế ngƣời xứ khác không thể sống chung. Giọng điệu
chế giễu, mỉa mai đƣợc thể hiện rất rõ qua lời tự “khen” của nhân vật: “Phải nói là hai
đứa khỉ tụi tôi tự nể cái tài cắp vặt của mình” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53). Tấm biển
cấm và câu nói của nhân vật là một hồi chuông cảnh báo. Trẻ em thƣờng hay bắt
chƣớc những hành động của ngƣời lớn. Và những thói xấu thƣờng sẽ rất dễ để trẻ học
theo. Ngƣời lớn nếu không sớm sửa mình thì trẻ em rất dễ nhiễm những thói tật ấy.
Hậu quả của việc trẻ nhiễm những thói tậ của ngƣời lớn sẽ không thể lƣờng trƣớc
đƣợc.
Qua giọng điệu chế giễu, mỉa mai, nhà văn muốn vạch trần những tiêu cực,
những xấu xa trong xã hội với mong muốn tạo ra một môi trƣờng lành mạnh để trẻ em
đƣợc thừa hƣởng nền giáo dục tốt nhất.
3.3.4. Giọng điệu suy tƣ, triết lí
Viết về trẻ em, nhà văn bộc lộ những trăn trở về tình trạng trẻ em là nạn nhân
của bạo lực gia đình, nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục với giọng điệu
suy tƣ, triết lí. Những triết lí về phƣơng pháp giáo dục trẻ em, về quyền trẻ em, về
cách thể hiện tình yêu thƣơng, về các giá trị văn hóa đƣợc thể hiện qua lời ngƣời kể
chuyện và lời của các nhân vật trong truyện.
Là một nhà văn đồng thời là một nhà giáo, Võ Diệu Thanh khi cầm bút luôn
hƣớng đến mục tiêu lồng ghép những bài học giáo dục trong các sáng tác của mình.
Những triết lí về phƣơng pháp giáo dục trẻ em đƣợc tác giả khéo léo lồng ghép vào
trong lời kể của nhân vật. Đối thoại về những tiêu cực trong giáo dục, về những giá trị
văn hóa truyền thống đang dần mai một, nhà văn sử dụng giọng điệu suy tƣ, triết lí. Đó
là những triết lí bình dị về cuộc đời về con ngƣời. Đó có thể là lời của cô bé cậu bé
tiểu học, có khi là lời của ngƣời lớn tuổi từng trải. Quà tặng của ngày mai là tác phẩm
thể hiện rõ tính đối thoại với giọng điệu suy tƣ triết lí. Triết lí “thay máu” mà Chùa đề
cập đến trong tác phẩm đó là “tắm âm nhạc” đắm mình trong âm nhạc. Những giai
điệu du dƣơng của âm nhạc sẽ len lỏi vào trái tim và cả khối óc. Tình yêu âm nhạc vì
112
thế lớn dần lên mỗi ngày. Nếu muốn trở thành nhạc sĩ, ca sĩ thì hãy “thay máu” cho
mình bằng cách mỗi ngày thả hồn mình vào âm nhạc. Nhà văn gián tiếp khẳng định
nếu bạn muốn giỏi về lĩnh vực nào đó thì hãy đắm mình trong môi trƣờng đó để tài
năng và niềm đam mê trong bạn có đất để nảy mầm và phát triển. Mỗi ngƣời khi đọc
đƣợc triết lí của cậu bé Chùa sẽ tự rút ra cho mình những kinh nghiệm, những bài học
để vận dụng phù hợp với bản thân mình một cách hiệu quả nhất. Lời tâm sự của ông
Sáu với Chùa nhẹ nhàng mà chứa đựng những triết lí sâu sắc: “Con thấy không, từ một
khúc gỗ đã bỏ đi để dành chụm bánh tét, nếu mình chịu cực đục đẽo mài giũa, nó lại
trở thành một nhạc cụ đẹp và tốt, ai cũng thích. Làm con người cũng vậy” (Võ Diệu
Thanh, 2021, tr.72).
Lời độc thoại nội tâm của nhân vật Chùa trong truyện Quà tặng của ngày mai
thể hiện rõ những triết lí sâu sắc về phƣơng pháp giáo dục mà nhà văn muốn nhắn nhủ:
“Con người ta không phải là cái cây. Nếu là cây, thì chỉ cần người làm vườn giỏi, tất
cả những cái cây đủ ánh sáng giống nhau, đủ phân phướng giống nhau, đủ nước
giống nhau sẽ cùng cho ra những mùa màng giống nhau” (Võ Diệu Thanh, 2021,
tr.72). Câu nói trên khẳng định: mỗi con ngƣời là một cá thể riêng biệt. Mỗi đứa trẻ có
những khả năng, sở trƣờng khác nhau, có cách tƣ duy khác nhau vì thế không thể áp
dụng một phƣơng pháp lên mọi đứa trẻ. Phƣơng pháp dẫu hay, dẫu tốt nhƣ thế nào
nhƣng nếu không phù hợp thì cũng sẽ không mang lại kết quả. “Cùng một cha mẹ,
cùng một bàn tay chăm sóc dạy dỗ thì rồi cuối cùng chị Hai tôi vẫn là chị Hai tôi, nhát
nhít và thích ăn bánh, tôi vẫn là tôi hay hỏi, dễ nhớ và dễ lơ đãng, và Út Tiền vẫn là
Út Tiền “miệng lưỡi” và rất tình cảm” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.87).
Trong truyện Khi hai vua về một nhà (in trong tập Những cậu bé mặt trời), nhà
văn đề cập đến hiện tƣợng trẻ em chán học, bỏ học chơi game và đặt ra những vấn đề
về phƣơng pháp giáo dục đối với trẻ em. Lời của cô Mai khiến ngƣời đọc nhận ra cách
yêu thƣơng một đứa trẻ đúng cách. Không phải bất cứ cái gì ngƣời lớn thấy tốt, thấy
quý mang cho trẻ cũng khiến trẻ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Những cuốn tập tặng cho
Ngàn – một đứa trẻ mồ côi, ham học sẽ trở thành món quà quý giá nhƣng tặng cho Hà
– một đứa trẻ coi việc học là cực hình thì chỉ là đồ bỏ đi “Không phải ai cũng thấy
sướng khi nhận chục vở đâu nhóc” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11).
Những câu hỏi nhà văn đặt ra trong Quà tặng của ngày mai đặt ra vấn đề đối
thoại về phƣơng pháp giáo dục: Con người ta trưởng thành là nhờ giáo dục hay nhờ
113
bộ gen? Sống được, sống tốt hay sống riêng biệt là đúng? Mỗi con người có quyền lựa
chọn hay không? (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.6). Tại sao “một ông Sáu không có bằng
cấp gì hết cũng không từng nghiên cứu sách vở gì hết” lại có thể nuôi dạy thật tốt
những đứa trẻ mồ côi. Đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, mỗi ngƣời sẽ
tìm ra cho mình một câu trả lời phù hợp.
Giọng điệu suy tƣ, triết lí không chỉ đƣợc thể hiện khi tác giả bộc lộ quan điểm
về phƣơng pháp giáo dục mà còn đƣợc thể hiện qua việc tác giả nói về cách thể hiện
tình yêu thƣơng đối với mọi ngƣời. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu thấy
trăng, Những cậu bé mặt trời, Quà tặng của ngày mai. Tình trạng những đứa trẻ bỏ
học đi bán vé số và tình trạng ngƣời lớn “không ngại bỏ tiền mua vé số mấy đứa nhỏ”
khiến Võ Diệu Thanh trăn trở: “Như vậy là từ bi ?” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.91). Câu
hỏi trong lời độc thoại nội tâm của Dẫu đã gián tiếp khẳng định quan điểm của tác giả
vê lòng tốt. Tác giả cho rằng tình thƣơng cần phải đƣợc đặt đúng chỗ nếu không sẽ
gián tiếp ủng hộ cho việc xấu. Những đứa trẻ cần đƣợc đến trƣờng và thƣơng trẻ cần
phải giúp trẻ nhận ra lợi ích của việc học. Quan điểm này cũng đƣợc tác giả khẳng
định trong Quà tặng của ngày mai. Triết lí đó đƣợc thể hiện rất rõ trong quan điểm của
ông Sáu khi giúp đỡ mọi ngƣời “Làm việc tốt chớ không làm từ thiện”.
Cùng viết truyện thiếu nhi, mỗi nhà văn lại ghi dấu ấn bằng giọng điệu trần
thuật riêng. Giọng điệu trần thuật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tƣ là giọng buồn
mênh mang, trầm tĩnh nghẹn đắng. Giọng điệu của Nguyễn Nhật Ánh là dí dỏm, hài
hƣớc pha chút triết lí suy tƣ. Đó là những triết lí giản đơn về buồn vui của tuổi học trò.
Triết lí của cu Mùi trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ: “Tám tuổi có cái buồn chán
của tuổi lên tám” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.8). Còn Võ Diệu Thanh ghi dấu ấn với
giọng điệu trần thuật hồn nhiên, trong trẻo, xót xa thƣơng cảm, chế giễu, mỉa mai, suy
tƣ, triết lí. Có thể nói giọng điệu trần thuật suy tƣ, triết lí là một trong những nét đặc
sắc trong truyện của Võ Diệu Thanh nói chung, truyện viết cho thiếu nhi nói riêng.
Những triết lí bình dị mà sâu sắc đƣợc nhà văn lồng ghép trong những lời đối thoại,
độc thoại nội tâm của nhân vật. Hình ảnh những “ông cụ non” nhƣ Hƣng, Chùa với
những câu nói dí dỏm mà đậm chất triết lí tạo tạo nên ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc
giả. Giọng điệu trần thuật suy tƣ, triết lí còn góp phần tạo độ lắng, tạo khoảng lặng để
ngƣời đọc đồng sáng tạo.
114
3.4. Xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ thuật
3.4.1. Không gian nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “không gian nghệ thuật là hình thức bên trong
của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” (Lê Bá Hán nnk., 1992,
tr.160). Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học chính là môi trƣờng sống, hay
nói cách khác đó là môi trƣờng hoạt động của nhân vật. Có không gian nhân vật mới
bộc lộ rõ mọi hành động của mình, hành động càng nhiều thì môi trƣờng không gian
càng lớn. Không gian nghệ thuật của một tác phẩm bao gồm: không gian bối cảnh,
không gian sự tình và không gian tâm lí.
Tìm hiểu không gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện của không gian trƣờng học, không gian gia
đình và không gian sông nƣớc. Đây là những khoảng không gian góp phần làm cho
hình tƣợng nhân vật trẻ em đƣợc khắc họa rõ nét hơn. Đặt nhân vật trẻ em trong mối
quan hệ với những không gian nghệ thuật nói trên, ngƣời đọc sẽ hiểu rõ hơn về đặc
điểm tính cách, số phận của các nhân vật.
3.4.1.1. Không gian trường học
Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhân vật trẻ em là những
cô cậu học sinh tiểu học. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của những cô cậu học trò hồn
nhiên, tinh nghịch, thông minh ham học hỏi, nhà văn đã dành nhiều trang viết miêu tả
không gian trƣờng học nhƣ: lớp học, sân trƣờng, căn tin, nhà vệ sinh. Những khoảng
không gian thân thuộc đó đƣợc nhà văn miêu tả đậm nét trong Lần đầu thấy trăng và
Những cậu bé mặt trời.
Trong Lần đầu thấy trăng, trƣờng Dƣơng Đôi hiện lên qua lời kể của Dẫu là
một ngôi trƣờng không đảm bảo cơ sở vật chất “tường nứt những đường dài, loằng
ngoằng. Nền tường lún hình lòng chảo, càng ngày càng sâu” (Võ Diệu Thanh, 2014,
tr.42). Tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất của trƣờng còn đƣợc thể hiện rõ qua
hình ảnh bàn ghế của học sinh “Đó là một cái bàn xệu xạo, một chân nó sắp văng ra”
(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.24). Tệ hại hơn nữa là trƣờng Dƣơng Đôi lại đƣợc xây dựng
liền kể với nhà trọ Tình (ổ mại dâm). Đặt trƣờng học liền kề ổ mại dâm, nhà văn cảnh
báo với cách dạy hình thức, chạy theo thành tích của các thầy cô trƣờng Dƣơng Đôi thì
con đƣờng từ trƣờng học đến nhà thổ của học sinh cũng ngắn và nhanh nhƣ việc chỉ
cần bƣớc qua hàng rào là tới nhà trọ Tình.
115
Nếu ở tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, không gian trƣờng học gắn liền với
những tiêu cực trong giáo dục thì trong tập truyện Những cậu bé mặt trời, ngƣời đọc
lại bắt gặp không gian thân thuộc, bình dị gắn bó với học sinh. Khảo sát sáu truyện
trong tập truyện Những cậu bé mặt trời, chúng tôi nhận thấy có 4/6 truyện có đề cập
đến không gian trƣờng học (Những cậu bé mặt trời, Khi hai vua về một nhà, Bí mật
theo cô, Cáp treo cho những mặt trời). Những góc nhỏ trong trƣờng học đƣợc nhà văn
khắc họa. Đó là lớp học, vách tƣờng, nền gạch, căn tin …Trong những khoảng không
gian đó, tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè đƣợc bộc lộ rõ.
Trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, tác giả nhắc đến những khoảng
không gian nhƣ: vách tƣờng, nền gạch ở lớp học, cầu thang, sân trƣờng … Đó là
những nơi mà Tì Ti mỗi lúc nhớ mẹ lại dừng lại nói chuyện. Những không gian quen
thuộc, bình bị này làm cho Tì Ti cảm thấy thoải mái. Khi ở trong những khoảng không
gian đó, nỗi nhớ mẹ của Tì Ti cũng phần nào vơi đi.
Trong truyện Cáp treo cho những mặt trời, nhà văn lại hƣớng ngƣời đọc đến
không gian căn tin của trƣờng. Đó là nơi có bà Tƣ tốt bụng, thân thiện. Góc nhỏ của
trƣờng học đó trở nên thân thuộc với những cô cậu học trò. Chính không gian nhỏ hẹp,
thân thuộc đó đã giúp các bạn trong lớp sát lại gần nhau hơn.
Điều đặc biệt trong cách miêu tả không gian trƣờng học trong tập truyện Những
cậu bé mặt trời đó là nhà văn không đi vào miêu tả quang cảnh trƣờng học, cơ sở hạ
tầng, thiết bị dạy học, … mà tác giả dành nhiều trang viết để miêu tả mối quan hệ giữa
các thầy cô với học sinh, giữa các học sinh với nhau. Lòng nhiệt huyết của các thầy cô,
sự đoàn kết của các học sinh khiến ngƣời đọc cảm thấy tin tƣởng vào tƣơng lai của
giáo dục nƣớc nhà.
Là một cô giáo tiểu học, vì thế hơn ai hết, tác giả hiểu rõ không gian trƣờng học
có ảnh hƣởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của trẻ. Qua đó, tác giả muốn
nhắn nhủ xã hội cần xây dựng một môi trƣờng giáo dục lành mạnh để học sinh đƣợc
học tập một cách tốt nhất. Để làm đƣợc điều đó, điều quan trọng là mỗi thầy cô phải
gần gũi, quan tâm đến học sinh của mình hơn nữa để có thể kịp thời “gỡ rối” những
khó khăn của học sinh.
3.4.1.2. Không gian gia đình
Cùng với không gian trƣờng học, không gian gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đối
với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Trong truyện viết cho
116
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy không gian gia đình đƣợc nhà văn
nhiều lần miêu tả. Có những không gian gia đình chật hẹp, hỗ tạp, ngột ngạt, căng
thẳng với những tiếng mắng chửi nặng nề. Cũng có những không gian thoáng đãng,
yên bình, thoải mái, tràn ngập tiếng cƣời. Những không gian này tạo nên bối cảnh để
nhân vật trẻ em trẻ em xuất hiện. Tính cách, số phận của nhân vật từ đó đƣợc bộc lộ rõ
nét hơn.
Không gian gia đình chật hẹp, hỗn tạp, ngột ngạt, căng thẳng hiện lên chân thực
trong Lần đầu thấy trăng, Bí mật theo cô và Thả diều. Trong Lần đầu thấy trăng,
không gian sống của gia đình Dẫu là một căn nhà tạm bợ, sơ sài: “Kèo cột bạch đàn,
mái và vách đều là tole. Mát tê người vào mùa đông và ấm đổ mồ hôi vào mùa hè”
(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.14). Trong không gian chật hẹp ấy, gia đình Dẫu gồm mƣời
một ngƣời (bao gồm bố mẹ Dẫu và chín chị em Dẫu) chen chúc. Không chỉ chật chội,
nóng bức, căn nhà nơi Dẫu sinh sống còn rách nát “nhìn lên trần nhà mà thấy chòm
mây” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.14). Nơi đó tràn ngập tiếng cằn nhằn của mẹ Dẫu,
tiếng chửi tục của ba Dẫu. Sống trong không gian đó, Dẫu và các anh chị em của Dẫu
không phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tâm hồn. Những đứa trẻ đó bị nhiễm nhiều
tật xấu nhƣ: chửi tục, ăn cắp vặt, giả bị què quặt để lợi dụng lòng thƣơng của mọi
ngƣời… Việc Dẫu trƣợt dài sa ngã là hậu quả của việc không đƣợc đi học, không đƣợc
thầy cô, bố mẹ giáo dục đàng hoàng. Miêu tả không gian gia đình Dẫu nhà văn khẳng
định môi trƣờng sống không lành mạnh sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến việc hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ em.
Không gian sống chật hẹp, tồi tàn, ngột ngạt còn đƣợc nhà văn khắc họa trong
nhiều truyện khác. Trong truyện Thả diều, ta bắt gặp hình ảnh “ngôi nhà nhỏ của cu
Lý trước đây là một ngôi nhà sàn nằm thoi loi dưới mé đê. Mùa nước lên, mỗi lần ba
đi giăng lưới về, mũi xuống ghé vào bị gió đánh bạt cứ va vào cọc nhà bung bung.
Ngôi nhà nhỏ lung lay như cái răng sắp rụng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.21). Chỉ vài
chi tiết khắc họa, ngƣời đọc đã cảm nhận đƣợc không gian sinh sống của gia đình Lý
thật nhỏ hẹp, không vững chắc. Không gian ấy gợi hoàn cảnh khó khăn của gia đình
Lý và cũng tiềm ẩn những mối nguy hiểm khi mƣa lũ tràn tới. Trong truyện ngắn Bí
mật theo cô, không gian gia đình bé Nhã thu nhỏ lại nơi căn bếp, bên mâm cơm. Mâm
cơm thƣờng gợi lên sự đầm ấm, vui vẻ nhƣng ở gia đình Nhã nó lại lạnh lẽo buồn tẻ.
Không gian nhỏ hẹp chật chội của nhà Nhã bỗng trở nên trống trải khi ba nó bỏ đi
117
nhậu. Ba mẹ con ngồi bên mâm cơm – mâm cơm mà Nhã đã dành cả buổi để nấu
nhƣng không ai muốn ăn “nồi canh khổ qua đã lạnh tanh” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.46). Không gian đó cũng gợi lên sự căng thẳng, nặng nề trong gia đình Nhã. Mỗi lần
ba say rƣợu đuổi đánh, ba mẹ con Nhã phải chạy sang nhà cô Chi để trốn. Đọc truyện
ngắn này, ta còn bắt gặp không gian căn buồng nhỏ hẹp với “cái mùng xập xệ của ba”
(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38). Chỉ một chi tiết nhỏ, ngƣời đọc đã có thể hình dung
không gian sống bừa bộn, nhếch nhác của gia đình Nhã. Trong căn buồng ẩm tối đó,
Nhã hầu nhƣ không đêm nào ngủ ngon. Nhà của Nhã có gian trƣớc và gian sau nhƣng
khoảng cách từ các gian không xa. Ngồi ở gian sau Nhã vẫn có thể “nghe được cả
tiếng ngáy của ba từ gian trước vọng lại” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38). Không gian
sinh sống chật hẹp cùng với không khí gia đình căng thẳng đã tác động tiêu cực đến
tâm lí của trẻ em. Sống trong không gian ấy, Nhã lúc nào nó cũng cảm thấy lo lắng,
bất an.
Bên cạnh việc miêu tả không gian gia đình chật hẹp, bấp bênh, tác giả còn khắc
họa không gian gia đình đầm ấm, vui vẻ. Đó là không gian gia đình của Bòn Bon trong
truyện Tiền của thần cây. Đó còn là không gian gia đình của Chùa trong Quà tặng của
ngày mai. Đƣợc sống trong không gian gia đình đầm ấm, Bòn Bon, Chùa, Út Tiền
luôn cảm thấy an toàn, cảm thấy tin tƣởng. Quán Nụ cƣời của ông Sáu trong truyện
Quà tặng của ngày mai đƣợc miêu tả là một không gian thoáng đãng nằm ngay giữa
chợ nhƣng không hỗn tạp xô bồ. Không gian đó luôn ngập tràn tiếng đàn, tiếng cƣời
nói vui vẻ. Ở đó, Chùa và các chị em của mình không chỉ có cơ hội đƣợc thể hiện tài
năng âm nhạc mà còn học hỏi, rèn luyện đƣợc tính tự lập từ rất sớm. Trong tác phẩm
nhà văn nhiều lần miêu tả chiếc giƣờng ngủ của Chùa và ông Sáu. Đó là một chiếc
giƣờng do chính tay ông Sáu làm “một cái giường sắt gắn bánh xe”. Qua lời kể của
Chùa, chiếc giƣờng đó thật đặc biệt “Nó không thể tự chạy được nhưng cô Thanh nói
cảm giác nó như một cái ghe có thể trôi chỗ này chỗ nọ” (Võ Diệu Thanh, 2021,
tr.18). Không gian nhỏ nhƣng thoáng đãng và cũng rất ấm áp. Ở đó, Chùa cảm thấy
vui vẻ và bình yên “Hình như nó là cái giường thần kỳ. Ngủ trên đó tôi vui vì tôi có
cảm giác bất cứ điều thần kì nào ông Sáu cũng có thể làm được và cũng có thể dạy
cho tôi được” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.18). Trong không gian bình dị ấy, Chùa và
ông Sáu thƣờng hay trò chuyện tâm tình. Nhờ thế tình cảm giữa Chùa và ông Sáu ngày
càng trở nên sâu đậm. Ông Sáu vốn không phải họ hàng thân thích của Chùa nhƣng
118
với Chùa ông vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là thầy. Chùa, Út Tiền, chị Hai từng là những
đứa trẻ quậy phá, mê game, lƣời học, hay nói tục, khi đƣợc ông Sáu nuôi dạy cả ba chị
em đều đã trở thành những đứa trẻ ngoan ngoãn, ham học, học giỏi, tài năng và đặc
biệt là rất hiểu thảo và biết tự lập từ rất sớm. Chính không gian gia đình vui vẻ, đầm
ấm đã giúp ba chị em có sự thay đổi tích cực đó.
Có thể nói, không gian gia đình có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ. Không gian sống bấp bênh nhƣ gia đình cu Lý, không
gian sống chật hẹp, bừa bộn nhƣ gia đình Nhã đều ảnh hƣởng tiêu cực đến tâm lí của
nhân vật. Còn những đứa trẻ đƣợc gia đình yêu thƣơng nhƣ Hà, Bòn Bon thì lại luôn
giữ đƣợc sự hồn nhiên đáng yêu của trẻ thơ. Qua việc miêu tả không khí gia đình căng
thẳng và không khí gia đình đầm ấm, Võ Diệu Thanh muốn nhắn nhủ đến mọi ngƣời
hãy để những đứa trẻ đƣợc lớn lên trong không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ. Hãy yêu
thƣơng và học cách yêu thƣơng những đứa trẻ để trẻ em luôn đƣợc hạnh phúc.
3.4.1.3. Không gian sông nước
Sông nƣớc là khoảng không gian quen thuộc, gần gũi, gắn bó với ngƣời dân,
đặc biệt là trẻ em vùng Nam Bộ. Có thể nói, không gian sống nƣớc gắn liền với tuổi
thơ của những đứa trẻ Nam Bộ. Trên dòng sông xanh mát, những đứa trẻ nô đùa, lặn
hụp. Trong sáu truyện ngắn của tập Những cậu bé mặt trời thì có tới bốn truyện nhà
văn nhắc đến không gian này (Những cậu bé mặt trời, Thả diều, Tiền của thần cây,
Cáp treo cho những mặt trời). Khoảng không gian sông nƣớc làm nền cho các nhân
vật trẻ em hiện lên. Con sông đƣợc nhà văn nhắc đến đó là sông Hậu. Đó là nơi mà Tì
Ti hay ngồi nói chuyện với đôi dép mỗi khi nhớ mẹ. Đó cũng là nơi mà thằng Nhóc
quăng đôi dép của Tì Ti xuống “Nhóc chịu hết nổi nó đem đôi dép của Tì Ti quăng ra
nơi xa nhất của sông Hậu. Tao quăng chỗ nào nước chảy mạnh nhất. Nó không có trôi
đâu, vì nó chìm mất tiêu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.3).
Miêu tả không không gian sông nƣớc, Võ Diệu Thanh đã làm nổi bật tính chất
đặc trƣng của vùng Nam Bộ. Ở vùng sông nƣớc Nam Bộ, mỗi khi vào mùa nƣớc nổi,
nƣớc sông dâng lên rất nhanh. Với ngƣời dân nơi đây, mùa nƣớc nổi là mùa của no
ấm. Nƣớc mang theo cá, tôm vào đồng ruộng. Ngƣời dân vui mừng khi thấy con nƣớc
tràn về. Trong khoảng không gian rộng lớn đó, những hình ảnh bình dị nhƣ xuồng,
lƣới, cá tôm xuất hiện. trong truyện ngắn Thả diều, nhà văn đã miêu tả một cách chân
thực cảnh ngƣời dân bắt cá vào lúc chiều, tối “Hừng đông, khi cu Lý và em chui ra
119
khỏi mùng thì ba mẹ đã chuẩn bị chống xuồng đi ra đồng giăng lưới” (Võ Diệu Thanh,
2017, tr.24).
Con nƣớc tràn về mang theo cá tôm, mang đến ấm no cho ngƣời dân nhƣng nó
cũng tiềm ẩn những mối nguy hiểm khó lƣờng. Con sông ngày thƣờng vốn trong xanh,
hiền hòa nhƣng vào mùa nƣớc lũ trông nó thật hung dữ nhƣ muốn nuốt chửng tất cả
“Nước hung hăng quạnh đỏ. Đê lúc này chẳng thể gọi là đê vì nó mỏng như cái ranh.
Phía ngoài là sông, phía trong là đồng, đâu đâu cũng trắng nước. Anh em cu Lý trên
đê như hai con kiến nhỏ bò trên cọng rạ nổi giữa đồng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.26).
Dòng nƣớc quạnh đỏ đó đã cuốn trôi, nhấn chìm bé Châu, dập tắt nụ cƣời trên môi cu
Lý, xoáy nát tim gan của ba mẹ bé Châu. Nỗi đau mất đi ngƣời thân cuộn xoáy theo
con nƣớc.
Miêu tả không gian sông nƣớc với những mối nguy hiểm tiềm tàng, tác giả đã
gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng đuối nƣớc thƣờng xuyên xảy ra ở Nam Bộ
nói riêng, ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở các vùng quê vào dịp nghỉ hè. Từ đó,
nhà văn nhắn nhủ mọi ngƣời, nhất là trẻ em cần trang bị kỹ năng bơi lội để biết cách
ứng phó với những nguy hiểm bất ngờ ập đến từ sông nƣớc.
Không gian sông nƣớc không chỉ gắn liền với cuộc sống mƣu sinh vất vả, bấp
bênh của ngƣời dân Nam Bộ mà còn gắn liền với sinh hoạt nghệ thuật độc đáo của
ngƣời dân nơi đây. Đó là đờn ca tài tử. Có thể nói, sông nƣớc là không gian lý tƣởng
để đờn ca tài tử đƣợc thăng hoa. Trong Quà tặng của ngày mai, qua lời kể của nhân
vật Khánh Hƣng – thần đồng đàn sến, không gian sông nƣớc chính là nơi những nghệ
nhân đàn sến có thể thỏa đam mê: “Thời cha, thời ông nội của mấy chú, những người
chơi tài tử còn tài tử hơn cả bây giờ. Họ ôm đàn xuống những chiếc ghe thường dùng
để giăng câu giăng lưới, bơi lên trên con nước một đối xa rồi bỏ chèo cầm đàn và
cùng nhau hát. Họ mặc kệ cho chiếc xuồng trôi về đâu. Những tiếng hát ngọt lành rải
trên mặt sông và trôi theo con nước. Cứ đàn cứ hát cho tới khi nào chán sẽ bơi xuồng
trở về. Tàn cuộc chơi có khi hai ba giờ sáng xuồng mới về tới nhà” (Võ Diệu Thanh,
2021, tr.78).
Điều làm nên sự khác biệt của Võ Diệu Thanh với các nhà văn khác khi viết về
không gian sông nƣớc Nam Bộ đó là: tác giả không đi sâu miêu tả tỉ mỉ kích thƣớc dài
rộng, nông sâu hay lƣu tốc cảnh quan hai bên bờ của dòng sông mà dựng nên một
không gian nghệ thuật bằng những nét vẽ khái quát để nhân vật xuất hiện. Qua đó thân
120
phận, phẩm chất, tính cách của nhân vật đƣợc bộc lộ. Nhờ đó, ngƣời đọc hiểu đƣợc
những nét văn hóa đặc sắc của vùng Nam Bộ với những hoạt động vật chất và tinh
thần gắn với khoảng không gian này.
3.4.2. Thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật trong văn học thiếu nhi vừa mang những đặc điểm của
thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung vừa có những nét đặc trƣng
riêng “Trong văn học thiếu nhi cũng có sự hiện diện của thời gian hiện tại, thời gian
quá khứ, thời gian tương lai và cả thời gian “ngoài thời gian” – bình diện vĩnh viễn
trường tồn. Các bình diện đó có thể xuất hiện độc lập, cũng có thể xuất hiện đồng
thời” (Bùi Thanh Truyền, 2009, tr. 76). Trong truyện thiếu nhi hiện đại, thời gian nghệ
thuật có sự đa dạng hóa hình thức trần thuật. Bên cạnh hình thức trần thuật tuyến tính,
hình thức trần thuật đảo ngƣợc cũng đƣợc nhiều nhà văn sử dụng. Điều này đã tạo nên
sức hấp dẫn cho lời kể đồng thời tạo nên tính đa chiều trong tiếp nhận tác phẩm. Cùng
với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật góp phần thể hiện đời sống tâm lí nội
tâm của nhân vật. Tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có thời gian trần thuật tuyến tính, thời gian trần thuật
đảo ngƣợc và thời gian tâm trạng theo dòng ý thức của nhân vật.
3.4.2.1. Thời gian tuyến tính
Thời gian trần thuật tuyến tính là thời gian vận động theo đƣờng thẳng, sự kiện
diễn ra trƣớc đƣợc kể trƣớc, sự kiện diễn ra sau đƣợc kể sau. Tìm hiểu thời gian nghệ
thuật trong truyện thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có nhiều truyện
đƣợc kể theo thời gian tuyến tính: Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng
mình bay đầy trời, Khi hai vua về một nhà. Thời gian trần thuật trong các truyện này
chủ yếu là thời gian sinh hoạt gắn với các hoạt động của các nhân vật trẻ em nhƣ: lao
động, học tập, vui chơi, nghỉ ngơi …trong đó, hoạt động vui chơi trong giờ ra chơi ở
trƣờng học đƣợc nhà văn đề cập đến nhiều hơn cả. Với học sinh, giờ ra chơi là khoảng
thời gian đƣợc chờ đợi nhất trong suốt ngày dài ở trƣờng. Những trò nghịch ngợm
quậy phá, những cãi vã, giận hờn cũng bắt đầu từ khoảng thời gian ít ỏi đó.
3.3. Bảng thống kê trạng từ chỉ thời gian
trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
Stt Tên tác phẩm Trạng từ chỉ Trạng từ chỉ Trạng từ chỉ
thời gian hiện thời gian quá thời gian
121
tại khứ tƣơng lai
1 Siêu nhân cua 5 22 0
2 Bảng đỏ cho xứ Bìm 6 7 0
Bìm
3 Chúng mình bay đầy 5 10 0
trời
4 Tiền của thần cây 19 30 7
5 Quà tặng của ngày mai 5 30 1
Thời gian nghệ thuật trong Siêu nhân cua đƣợc bắt đầu từ thời điểm giờ ra chơi
và kết thúc là lúc nhóm bạn thân Hƣng, Nam, Mai làm hòa, vui vẻ chơi đùa sau những
cãi vã hiểu lầm. Truyện về Hƣng – Nam – Mai bắt đầu từ một buổi ra chơi ông ngoại
của Nam đến tìm cháu. Cái biệt danh Nam Trán Dồ cũng bắt đầu từ đó: “Chẳng qua là
một buổi ra chơi nọ có một ông già mặc bộ đồ bà ba đen bước vô lớp tôi” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.5). Những chƣơng tiếp theo của truyện đƣợc kể theo các sự việc lần
lƣợt diễn ra từ sau buổi ra chơi hôm đó. Trong truyện dài này, thời gian trần thuật
tuyến tính đƣợc thể hiện rõ nét nhất trong chƣơng 9 và chƣơng 18. Ở chƣơng 9 (Siêu
nhân cua), các sự kiện trong lời kể của Hƣng diễn ra theo trình tự thời gian bắt đầu từ
lúc Mai nghỉ học, rồi Hƣng và Nam cùng với cô Thanh đến thăm nhà Mai, tiếp đó là
lúc mọi ngƣời từ nhà Mai trở về và khi Hƣng về nhà mình. Để tạo sự lên kết giữa các
sự kiện, nhà văn dùng các từ chỉ thời gian nhƣ: “Cho tới một bữa” (tr.46), “vậy là
chiều hôm đó” (tr. 47), “lúc về tôi lại” (tr.49), “trên đường về nhà” (tr.50). Ở chƣơng
18 (Cô Thanh có vấn đề Mĩ Thuật), thời gian trần thuật cũng đƣợc sắp xếp theo trình
tự tuyến tính với các từ chỉ thời gian nhƣ: “từ sau ngày dự thi không đậu” (tr. 91) ,
“rồi một ngày” (tr.92), “một ngày kế đó” (tr. 92), “ngày hôm sau” (tr. 92), “từ đó về
sau” (tr. 95).
Trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, thời gian trần thuật đƣợc bắt đầu từ một “buổi
trưa vắng tanh” Dƣa Leo và chú mèo nằm nói chuyện. Sau đó là cuộc hành trình đi lạc
tới xứ sở Bồ Câu, lạc vào vƣờn trái đỏ, đi gặp những những ngƣời có thể giúp gỡ biển
báo cấm cƣ dân xứ Bìm Bìm. Và kết thúc là một ngày Dƣa Leo cùng chú mèo đến gặp
ông già Râu Đỏ. Hành trình Dƣa Leo bị lạc ở xứ sở Bồ câu đƣợc kể theo thời gian
tuyến tính. Mạch truyện đƣợc tiếp nối nhờ những từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện trong
122
lời ngƣời kể chuyện nhƣ: “lúc qua cổng soát vé” (tr.36), “lúc tàu cặp bến” (tr.38), “lúc
hành khách xuống tàu” (tr.38), khi “rời tàu và đặt chân lên đất Bồ Câu” (tr.39), “đêm
nay” (tr.43), “tối thật rồi” (tr.60), “ngày rời khỏi ngôi nhà ông cụ Râu Đỏ” (tr.82).
Truyện Bí mật theo cô đƣợc bắt đầu từ một đêm Nhã nằm chiêm bao rồi tè dầm.
Sáng đi học nó lo lắng bị mọi ngƣời phát hiện mình đã tè dầm. Đến lớp học nó lúng
túng không tập trung học và không thể hoàn thành đƣợc bài tập làm văn cô giáo. Chiều
đi học về nó quyết tâm nấu món cánh khổ qua ba nó thích với mong muốn cả nhà sẽ có
một bữa cơm quây quần “Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba” (Võ Diệu
Thanh, 2017, tr.43). Cuối cùng ba bỏ đi uống rƣợu, mâm cơm gia đình nguội lạnh.
Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không chỉ thể hiện qua các từ ngữ chỉ thời gian
trong ngày (sáng, chiều, đêm) mà còn biểu hiện qua thời gian cụ thể (giờ): “Một giờ.
Nhã đã không thể kéo mí mắt lên được chút nào. [...] Hai giờ. Nước đã mất tác dụng
với đôi mắt đang cứ chờ nó sơ hở là cụp xuống” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.48). Với
việc dùng từ chỉ thời gian cụ thể “một giờ”, “hai giờ”, tác giả đã giúp cho ngƣời đọc
thấy đƣợc tâm trạng bồn chồn lo lắng của Nhã khi ngủ nhờ nhà cô Chi.
Trong truyện Cáp treo cho những mặt trời, lời kể của nhân vật tôi cũng theo
trình tự thời gian tuyến tính. Các sự kiện xảy ra trong ba ngày liên tiếp đƣợc tác giả kể
lại trong một đoạn văn ngắn gọn: “Ngày đầu tiên về trường, ngày đầu nhận lớp, tôi
thấy nó đánh bạn nó chảy máu mũi. […] Ngày thứ hai tôi nghe nội nó kể nó phạm một
tội tày trời hơn. […] Sáng hôm sau người ta thấy nội nó vừa làm nước mời khách vừa
ngồi quỳ lạy tứ phương, đốt vàng mã đỏ rực trước cổng nhà” (Võ Diệu Thanh, 2017,
tr.48). Trong truyện Khi hai vua về một nhà, các sự kiện đƣợc kể theo trật tự thời gian
tuyến tính. Truyện bắt đầu từ buổi sáng Ngàn vào chùa giúp cô Mai hái rau. Những
ngày sau đó, Ngàn giúp Hà học bài. Hai đứa nhờ vậy mà trở nên thân thiết. Thời gian
sự kiện trong tác phẩm chỉ vỏn vẹn ba ngày ngắn ngủi. Những từ chỉ thời gian đƣợc
tác giả sử dụng trong tác phẩm đó là: “Xế chiều” (tr.14), “sáng” (tr.17), “hôm sau”
(tr.19). Với cách kể chuyện theo thời gian tuyến tính nhƣ vậy, các sự kiện đƣợc kể có
sự liền mạch. Nhờ đó, độc giả dễ nắm bắt nội dung tác phẩm hơn.
Khảo sát thời gian trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh, chúng tôi nhận thấy thời gian sinh hoạt giờ ra chơi có số lần xuất hiện rất
nhiều. Trong Chúng mình bay đầy trời, “giờ ra chơi” đƣợc tác giả nhắc đến 9 lần (ở
các trang: 5, 68, 69, 73, 79, 84, 85, 91, 92). Trong Siêu nhân cua, thời điểm giờ ra chơi
123
cũng đƣợc tác giả nhiều lần nhắc tới (ở các trang 5, 68, 69, 73). Những trò nghịch
ngợm của các cô cậu học trò tiểu học hầu hết diễn ra trong giờ ra chơi. Hƣng trêu chọc
Nam vào giờ ra chơi, Hào bắt nạt các bạn trong lớp cũng trong giờ ra chơi: “Giờ ra
chơi nó cầm cây roi đứng giữa lớp” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69). Có thể nói, giờ ra
chơi là khoảng thời gian mà bất kì học sinh nào cũng chờ đợi. Điều này cũng đƣợc
Nguyễn Nhật Ánh nhắc đến trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Nhân vật Cu Mùi
trong tác phẩm này khẳng định: “Tôi chỉ thích mỗi giờ ra chơi. […] Ra chơi có nghĩa
là được tháo cũi sổ lồng” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.18). Thời gian nghệ thuật đó
tạo bối cảnh cho nhân vật xuất hiện. Qua đó, phẩm chất, tính cách của các nhân vật trẻ
em dần đƣợc bộc lộ.
Cùng với đó, thời gian buổi trƣa cũng là khoảng thời gian nghệ thuật xuất hiện
nhiều trong các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Trong Siêu nhân cua,
thời gian buổi trƣa gắn liền với nỗi ám ảnh bị cua kẹp của nhỏ Mai: “Nó còn kể cái
bữa trưa đó bên sân có con gà trống đứng mổ cái áo [...] Mai nói rõ ràng là bữa trưa
nhỏ Mai bị cua kẹp cón con gà trống đứng mổ cái áo và con mèo đứng bên cửa chòi
ngủ chỉ một mắt” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.52). Trong Chúng mình bay đầy trời, thời
gian buổi trƣa là lúc Hƣng, Nam, Mai, Quý mày mò, thử nghiệm những ý tƣởng của
mình “Trưa hôm sau, mọi thứ mới bắt đầu.” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21, 22). Trong
Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, thời gian buổi trƣa là lúc Dƣa Leo đi chơi cùng chú mèo và
bị lạc “Chợt một ngày nào đó trong một ngôi nhà vắng tanh giữa buổi trưa vắng
tanh” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.5). thời gian buổi trƣa vắng là thời điểm những đứa trẻ
thƣờng hay đi chơi rất dễ bị lạc.
3.4.2.2. Thời gian đảo tuyến
Bên cạnh kiểu thời gian trần thuật tuyến tính, trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh còn có thời gian trần thuật có sự đảo ngƣợc. Thời gian trần thuật
đảo ngƣợc là thời gian có sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ trong lời kể chuyện. Sự
đảo ngƣợc trật tự các sự kiện đƣợc kể trong tác phẩm gắn với sự hồi tƣởng của nhân
vật. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong Siêu nhân cua, Tiền của thần cây, Thả diều.
Thời gian trần thuật đảo ngƣợc thể hiện rõ ở việc tác giả sử dụng kết hợp các
trạng từ chỉ thời gian hiện tại, quá khứ và tƣơng lai. Trong Siêu nhân cua, sự đảo lộn
giữa thời gian hiện tại và quá khứ đƣợc thể hiện rõ. Thống kê các trạng từ chỉ thời gian
trong tác phẩm này, chúng tôi thấy có 5 lần tác giả nhắc đến thời gian hiện tạ (vừa lúc
124
đó (trang 6), lúc (trang 13), bây giờ (trang 75, 80 ), giờ (trang 85)) và có 22 lần nhắc
đến thời gian quá khứ (một buổi ra chơi nọ (trang 5), một bữa (trang 19, 79), cho tới
một bữa (trang 46), cho tới một ngày (trang 71), một bữa nọ (trang 25), bữa đó
(trang18, 71), tới hôm (trang 23), hồi nãy (trang 25), hồi nhỏ xíu (48), hồi còn nhỏ
(trang 48), có lần (trang 33), từ đó (trang 34), bữa (trang 35), sáng đó (trang 61), hồi
nãy (trang 69), hôm qua (trang 78), trước đó (trang 80), ngày hôm sau (trang 85), một
ngày kế đó (trang 93), từ đó về sau (trang 94). Bên cạnh đó, nhà văn cũng dùng nhiều
từ chỉ thời gian nhƣ: gần nửa tháng (trang 33), cả tháng nay (trang 75), ba mươi giây
(trang 89), mỗi giờ học vẽ (trang 38), ngày con Mai được lãnh phần thưởng bự (trang
84), từ sau ngày dự thi không đậu (trang 91).
Tiền của thần cây đƣợc mở đầu bằng việc Bòn Bon đang trò chuyện cùng con
chó cƣng của mình. Tiếp đó là lời kể của ông nội Bòn Bon về cây bằng lăng cổ thụ:
“Bốn mươi năm trước cái bọng bằng lăng đã lớn như vầy”. [...] Bốn mươi năm trước
vùng này vắng tanh” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53). Kết thúc tác phẩm là việc Bòn
Bon và chú chó cƣng cùng nhau chơi đùa vui vẻ. Trong truyện dài này, lời kể của tác
giả, lời kể của các nhân vật đan lồng vào nhau. Lời của ông nội về cây bằng lăng cổ
thụ, về chú chó cƣng, về Bòn Bon lồng trong lời kể của Bòn Bon về chú chó, về những
lần cùng Vĩ đi tắm mƣơng, về việc nhặt đƣợc tiền trong hốc cây bằng lăng. Trình tự
thời gian có sự đảo lộn, đan xen giữa hiện tại và quá khứ “Có lần hai đứa nó đã đi
vòng quanh bụi tre hơn một trăm bận để tìm cái máy Bòn Bon phóng vào đó. […] Lần
tắm sông này Bòn Bon cũng bàn bạc với Ban Đêm rất kỹ” (Võ Diệu Thanh, 2016c,
tr.14). Sự đảo ngƣợc thời gian trần thuật đƣợc thể hiện rõ qua các trạng từ chỉ thời gian
trong hiện tại, quá khứ và cả tƣơng lai. Khảo sát các trạng từ chỉ thời gian trong truyện
Tiền của thần cây, chúng tôi nhận thấy các trạng từ chỉ quá khứ xuất hiện nhiều nhất
(30 lần), sau đó là các trạng từ chỉ hiện tại (19 lần), các trạng từ chỉ tƣơng lai ít xuất
hiện (7 lần). Các trạng từ chỉ thời gian hiện tại trong tác phẩm gồm: tới bây giờ, bây
giờ (các trang 38, 106, 113, trang 38), ngay bây giờ (trang 83), ngay lúc đó (các trang
78, 112), đang (các trang 8, 32, 101), khi (trang 44), lần này (các trang 88, 93), trong
lúc (các trang 91, 113), lúc (trang 96), dạo này (trang 97), hôm nay (trang 97), giờ
(trang 106). Các trạng từ chỉ thời gian quá khứ trong tác phẩm gồm: khi đó, hôm đó
(trang 77), một ngày, từ đó, có lần (trang 14, 41, 96), một lần (49), lần này, trước đây,
hôm qua (trang 114), lúc đó (các trang 14, 23, 26, 77, 80), hôm sau (trang 23), hổm rày
125
(53), hồi (các trang 86, 101), hồi nãy (trang 80), hồi khuya (trang 88), mỗi lần (trang
83, 88), suốt ngày đó (trang 82), đêm đó (trang 87), sáng ra (trang 87), hồi tối (trang
88, 113), có một thời (trang 94). Các trạng từ chỉ thời gian tƣơng lai trong tác phẩm
gồm: lớn lên (trang 76), bốn mươi năm sau (trang 96), vài năm nữa (trang 97), khi lớn
(trang 98), sáng mai (trang 111), mười lăm năm sau (trang 115), khi làm người lớn
(trang 115), vài hôm sau đó (trang 35), hồi sáng (53). Bên cạnh đó, nhà văn cũng dùng
nhiều từ chỉ thời gian nhƣ: sáng (trang 51), sáng chủ nhật (trang 112). Cách đếm thời
gian cũng đƣợc tác giả sử dụng để làm nỗi bật nỗi buồn của các bạn trong lớp khi Nam
không đến lớp học “ba ngày trôi qua” (trang 63).
Thả diều cũng bắt đầu bằng thời điểm hiện tại. Đó là một buổi chiều . Những kỉ
niệm trong quá khứ ùa về. Kí ức đau buồn vì mất đi đứa em bé bỏng, xinh xắn, dễ
thƣơng chợt hiện ra khi cu Lý nhìn theo những con diều: “Buổi chiều ngồi nhìn những
đứa trẻ trong khi dân cư thả diều ở bãi đất trồng, Cu Lý nhớ về đứa em gái của mình
bị đuối nước khi thả diều. “Nó nhìn trân trân vào con diều đẹp ... Ừ hồi đó bé Châu
cũng mê diều đẹp” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.24). Sau đó quay trở về thực tại cu Lý
nhìn con diều đang bay không kìm đƣợc cảm xúc nó vung tay xé con diều: “Giờ thì
mắt cu Lý nhìn chằm chằm vào con Điêu Thuyền. Rồi nó vung tay bức xé con diều”
(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.32). Kết thức tác phẩm là hình ảnh cu Lý trong hiện tại đã
vui vẻ trở lại sau những ngày tháng tâm hồn chịu thƣơng tổn nặng nề: “Giờ cu Lý cũng
không biết phải làm gì. Ngoài mấy lúc đi học nó hay lân la lại gần mấy đứa trẻ để chơi
với mấy đứa nhỏ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36). Cái kết đó cũng hé mở tƣơng lai của
nhân vật bƣớc qua mặc cảm, mở lòng với mọi ngƣời.
Tìm hiểu thời gian trần thuật đảo ngƣợc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy thời gian quá khứ đƣợc kể nhiều hơn cả. Sự đan xen
giữa thời gian hiện tại, quá khứ và tƣơng lai trong lời kể giúp nhân vật có cái nhìn soi
chiếu nhiều chiều từ đó hƣớng đến việc hoàn thiện nhân cách.
3.4.2.3. Thời gian tâm trạng Kí ức của mỗi ngƣời luôn gắn liền với những năm tháng tuổi thơ. Hồi tƣởng lại
những năm tháng tƣơi đẹp đó, chúng ta nhƣ đƣợc trở về với chính mình, sống lại
những kỉ niệm ngọt ngào của những năm tháng hồn nhiên, vô tƣ. Đọc truyện viết cho
thiếu nhi, chúng ta sẽ tìm thấy điều đó. Trong các truyện viết cho thiếu nhi đƣơng đại,
nhiều nhà văn đã sử dụng thủ pháp dòng ý thức để khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ
126
em. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn
Nhật Ánh. Thủ pháp này cũng đƣợc Võ Diệu Thanh sử dụng trong nhiều truyện viết
cho thiếu nhi của mình. Tiêu biểu hơn cả là Lần đầu thấy trăng và Quà tặng của ngày
mai.
Để làm bật lên những thay đổi trong suy nghĩ, nhận thức của nhân vật, Võ Diệu
Thanh đã sử dụng thủ pháp dòng ý thức. Thời gian trần thuật trong truyện gắn với sự
hồi tƣởng của nhân vật về quá khứ. Trong Lần đầu thấy trăng, Dẫu từ sau đêm trăng
gặp chàng trai tên Nhiều đã tỉnh ngộ sau những năm tháng trƣợt dài sa ngã. Hồi tƣởng
về quá khứ, Dẫu không khỏi không xót xa, tiếc nuối. Theo dòng hồi tƣởng của nhân
vật, những kỉ niệm về những năm tháng là học sinh của Trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi
sống lại. Trong kí ức của Dẫu, ngày đầu đến trƣờng, đặc biệt là hơn hai năm học cùng
lớp với Dị và Hậu hằn in, sâu đậm nhất. Dòng hồi tƣởng với nhịp điệu chậm rãi đã tạo
nên sự sâu lắng trong lời kể của nhân vật “Giờ nhớ lại thấy tướng mình lúc đó giống đi
ăn xin hơn là đi học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.18). Qua đó, ta thấy đƣợc sự ngậm
ngùi, thƣơng xót của nhà văn trƣớc những thiệt thời, bất hạnh của trẻ em.
Trong truyện Quà tặng của ngày mai các sự kiện hiện lên theo dòng hồi tƣởng
của nhân vật tôi – Chùa – một cậu bé tám tuổi có biệt tài đánh đàn sến. Trƣớc hết,
Chùa nhớ lại những năm tháng sống cùng ba mẹ. Đó là những năm tháng Chùa còn là
một cậu bé quậy phá, nghịch ngợm. Theo dòng hồi tƣởng của nhân vật, những kỉ niệm
năm Chùa lên hai, lên bốn, lên năm dần hiện ra. Cậu bé nhớ về lần gặp cô Sáu năm hai
tuổi: “Hồi hai tuổi, tôi nhớ có lần cô Sáu lên nhà ba mẹ tôi chơi, không biết tôi phá
phấy gì đó mà cô Sáu bẻ nhánh trứng cá quất tôi một roi. Vậy là sau đó hai năm, khi
gặp cô Sáu, tôi chui xuống gầm giường trốn chớ nhất định không ra chào hỏi” (Võ
Diệu Thanh, 2021, tr.23). Tiếp đó ló là kỉ niệm năm Chùa lên năm tuổi. Lần quậy phá
bị bà ngoại dọa chúi đầu vào lửa vẫn hằn in trong tâm trí cậu bé: “Lúc đó tôi mới bốn
năm tuổi mà. Sự nhớ nó không được liền lạc. Tôi có nhớ bà ngoại chịu hết nổi những
cơn khóc dầm của tôi rồi, bà ngoại nhiều khi tức quá bồng tôi lại cái bếp lửa lớn
người ta đang nấu bánh gì đó chúi đầu tôi vào đó” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.23). Nhớ
về những năm tháng sống cùng ba má, Chùa không thể quên đƣợc những lần mê chơi
bị ba đánh đòn:“Có lần đang rửa, còn hai cái nồi nhưng tôi nghiền game quá chộp
ngay tiền đi chơi mà không rửa cho hết. Lần đó ba cầm cây roi là sợi dây cao su bằng
ngón tay đánh tôi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.29). Việc hồi tƣởng lại giúp Chùa nhận
127
ra những tật xấu lúc nhỏ: vô lễ, quậy phá, mê chơi. Từ đó, Chùa hiểu hơn về ý nghĩa
của những điều mà ông Sáu dạy bảo.
Theo dòng hồi tƣởng của Chùa, quá trình “lột xác” của ba chị em (chị Hai,
Chùa, Út Tiền) hiện lên chân thực. Những trạng từ chỉ thời gian quá khứ đƣợc tác giả
nhiều lần sử dụng nhƣ: hồi, khi đó, lúc đó. Đặc biệt trạng từ “những ngày” đƣợc tác
giả nhiều lần sử dụng: Những ngày mới làm quen đàn ca tài tử, ông Sáu dạy tôi hát bài
Ngũ điểm bài tạ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.40), “Những ngày tháng ngủ chung với
ông Sáu, tôi hay kể chuyện hồi còn ở với ba má” (Võ Diệu Thanh, 2021,
tr.70),“Những ngày ở với mẹ, chúng tôi được tự do nên rất khoái dẫu bị đòn, dẫu bị
hết thảy mọi người ghét bỏ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.114). Khảo sát thời gian tâm
trạng theo dòng hồi tƣởng của nhân vật Chùa, chúng tôi nhận thấy dòng hồi tƣởng của
nhân vật trải dài từ lúc hai tuổi đến lúc lên mƣời. Trong dòng hồi tƣởng ấy, những kỉ
niệm khi sống cùng với má, và những ngày tháng mới về sống cùng ông Sáu đƣợc ông
Sáu dạy đàn đƣợc nhân vật nhiều lần nhắc đến. Với việc sử dụng kết hợp kỹ thuật dồn
nén thời gian kết hợp kéo căng thời gian, tác giả đã tạo nên nhịp điệu kể chuyện linh
hoạt cho tác phẩm.
Tìm hiểu thời gian trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh
chúng tôi nhận thấy thời gian sự kiện trong các truyện rất khác nhau. Có truyện kể về
sự kiện diễn ra trong thời gian ngắn (một tháng – Siêu nhân cua), có truyện kể về sự
kiện diễn ra trong thời gian rất dài (gần hai mƣơi năm – Lần đầu thấy trăng). Thời
gian sự kiện trong Lần đầu thấy trăng là gần hai mƣơi năm (từ lúc Dẫu, Hậu còn là
những cô bé tiểu học (Dẫu 8 tuổi, Hậu 6 tuổi) đến khi đã khôn lớn trƣởng thành (Hậu
tốt nghiệp đại học và đã đi dạy nhiều năm). Thời gian sự kiện trong Siêu nhân cua có
độ dài là “một tháng nay” thì thời gian sự kiện trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm có độ
dài gần một năm (từ lúc Dƣa Leo đi lạc (năm lớp Tám) đến lúc trở lại thăm cụ Râu Đỏ
(năm lớp Chín)). Thời gian sự kiện trong Quà tặng của ngày mai có độ dài khoảng tám
năm (từ lúc Chùa 2 tuổi đến lúc Chùa 10 tuổi). Có thể nói, cùng với không gian nghệ
thuật, thời gian nghệ thuật đã góp phần tạo bối cảnh phù hợp để nhân vật trẻ em xuất
hiện.
* Tiểu kết chƣơng 3
Để xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em, Võ Diệu Thanh đã tập trung khắc họa
tính cách nhân vật thông qua ngoại hình, hành động, diễn biến tâm lí. Thế giới nhân
128
vật trẻ em hiện lên qua ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật, không gian và thời
gian nghệ thuật thật độc đáo. Đặc biệt, với việc linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ
nghệ thuật: ngôn ngữ tả, ngôn ngữ kể, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại, tác giả
đã làm bật lên đƣợc tính cách, số phận của từng nhân vật. Với ngôn ngữ trần thuật mộc
mạc, giản dị, đậm chất họa, chất nhạc, ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ, với vốn từ
ngữ phong phú, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh góp phần giúp trẻ em
phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ, biết cách diễn đạt, biết cách sử dụng ngôn ngữ
phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đối tƣợng giao tiếp. Qua giọng điệu trần thuật linh
hoạt khi hồn nhiên, trong trẻo, lúc cảm thông, thƣơng xót, khi chế giễu, mỉa mai, lúc
suy tƣ, triết lí, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thực, sinh động. Đồng thời
qua giọng điệu trần thuật này, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tình cảm yêu thƣơng của nhà
văn đối với trẻ em. Phải là ngƣời yêu trẻ, hiểu trẻ mới có thể viết về trẻ em chân thật
và cảm động đến vậy.
Xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em qua không gian nghệ thuật (trƣờng học,
gia đình, sông nƣớc) nhà văn khẳng định môi trƣờng sống đóng vai trò rất quan trọng
đối với sự hình thành và phát triểm nhân cách của trẻ. Vì thế, thầy cô và các bậc phụ
huynh hãy tạo dựng cho học trò và con em của mình một môi trƣờng lành mạnh, an
toàn để trẻ đƣợc phát triển cả về thể chất và tinh thần một cách tốt nhất.
129
KẾT LUẬN
Từ việc tiếp cận và triển khai đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh trên cả bình diện nội dung và hình thức, chúng tôi đi đến những
kết luận sau:
1. Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh hiện lên với
hoàn cảnh, tính cách, số phận riêng. Đó là những đứa trẻ hồn nhiên, trong sáng; những
đứa trẻ bất hạnh là nạn nhân của bạo lực gia đình và bệnh thành tích trong giáo dục;
những đứa trẻ nhân hậu, giàu tình yêu thƣơng; những đứa trẻ với khả năng đặc biệt,
thông minh, ham học hỏi, có tài năng thiên bẩm và có khả năng lạ thƣờng.
Qua việc tìm hiểu hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của
Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về
con ngƣời của tác giả. Đặt hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi
của Võ Diệu Thanh trong mối liên hệ với cuộc đời tác giả, đối sánh với những truyện
viết cho thiếu nhi của các nhà văn trƣớc đó và cùng thời, chúng tôi nhận thấy những
nét độc đáo của hình tƣợng này và những đặc sắc của nhà văn trong cách xây dựng
hình tƣợng nhân vật. Việc nhà văn tiểu thuyết hóa nhân vật có thật ngoài đời (cậu bé
Khánh Hƣng – thần đồng đàn sến) đã đem đến làn gió mới cho văn học thiếu nhi. Hình
tƣợng nhân vật trẻ em vì thế trở nên gần gũi hơn với độc giả. Những tác phẩm viết về
thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chứa đựng giá trị giáo dục sâu sắc. Những bài học về
việc giáo dục nhân cách và giáo dục kỹ năng sống đƣợc rút ra từ nhân vật trẻ em –
ngƣời thật, việc thật, có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp mọi ngƣời nhận ra vai trò quan
trọng của giáo dục và tự giáo dục.
Giữa rất nhiều các tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng trƣớc đó và cùng thời nhƣ:
Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Quê Nội của Võ Quảng, Đất rừng phương Nam của
Đoàn Giỏi, Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán,
Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc
Thuần, những truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh vẫn có đƣợc một vị trí
riêng trong lòng độc giả. Có thể nói, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đã
góp phần làm phong phú diện mạo văn học thiếu nhi ở Nam Bộ nói riêng và văn học
thiếu nhi Việt Nam nói chung. Điều làm nên sự khác biệt của Võ Diệu Thanh với các
tác giả khác đó là cái nhìn lạc quan, vị tha của một trái tim giàu lòng trắc ẩn. Viết về
tiêu cực của giáo dục, viết về những con ngƣời bất hạnh, viết về cái ác, cái xấu nhƣng
130
đọng lại là sự bao dung, nhân hậu. Vì thế văn của chị có cái dƣ âm của tình ngƣời, tình
đời lấp lánh niềm tin, niềm lạc quan vào tƣơng lai.
2. Nhà thơ Hữu Thỉnh từng khẳng định: “Đoàn Giỏi là một ví dụ đẹp đẽ cho câu
nói: Ai yêu tuổi thơ, người đó có được cả một thế giới” (Đức Triết, 2015). Lời nhận
định đó cũng thật đúng với nhà văn Võ Diệu Thanh. Có thể nói, nữ văn sĩ đã “có đƣợc
cả một thế giới” khi viết về trẻ em bằng sự từng trải, thấu hiểu của một ngƣời mẹ, của
một cô giáo yêu trẻ tha thiết. Với ngôn ngữ trần thuật giản dị, đậm chất họa, chất nhạc,
qua giọng điệu trần thuật linh hoạt, xây dựng không gian nghệ thuật, thời gian nghệ
thật phù hợp cho sự xuất hiện của nhân vật, truyện viết cho thiếu nhi của chị đã chạm
đến trái tim của hàng triệu độc giả. Truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn này đƣợc
độc giả yêu thích viết bài cảm nhận tham gia cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc (Tiền của
thần cây). Đặc biệt các truyện tranh in khổ lớn của chị có nội dung gần gũi với trẻ em,
ngôn từ giản gị, hình ảnh minh họa đẹp mắt có sức hút lớn đối với độc giả, nhất là
những độc giả nhỏ tuổi. Các truyện Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng,
Khu vườn trong mơ đƣợc nhiều độc giả yêu thích dịch sang tiếng Anh, làm thơ, sáng
tác nhạc, diễn kịch (xem phụ lục 12, 13, 14, 15, 16).
Trong thời đại 4.0 khi công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nhƣ ngày nay, trẻ
em có nhiều thuận lợi để học tập, vui chơi, giải trí, kết nối với mọi ngƣời trên toàn thế
giới. Tuy nhiên, trẻ em cũng đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn do mạng xã hội, game
online, những mối nguy hiểm do giao thông, thiên tai và những tình huống bất ngờ
trong cuộc sống. Do đó, trong việc giáo dục trẻ em hôm nay, bên cạnh việc giáo dục
nhân cách, việc giáo dục những kỹ năng sống cho trẻ là rất cần thiết. Đọc truyện viết
cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, độc giả - nhất là độc giả nhỏ tuổi nhƣ tìm thấy chính
mình, tự nhận thức lại bản thân, rèn luyện và bồi đắp tâm hồn để hoàn thiện nhân cách
và có những kỹ năng sống cần thiết trong thời đại công nghệ 4.0. Qua những trang viết
dành cho thiếu nhi của mình, Võ Diệu Thanh đã đặt ra vấn đề về phƣơng pháp giáo
dục trẻ em. Chị đặc biệt nhấn mạnh trong việc giáo dục trẻ em, cần hƣớng đến việc
phát huy khả năng sáng tạo, khơi dậy tài năng tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ. Để làm đƣợc
điều đó, thầy cô, cha mẹ phải là những tấm gƣơng sáng, phải là ngƣời bạn đồng hành
cùng với trẻ.
Sắp tới trong năm 2022, Võ Diệu Thanh sẽ cho ra mắt độc giả ba truyện tranh: Đến
chơi nhà Ông Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá và Vua bắt trộm. Do đó, trong tƣơng lai,
131
việc tiếp cập hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu
Thanh có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu. Mặt khác, nhân vật trẻ em không chỉ có
trong truyện viết cho thiếu nhi mà còn xuất hiện trong các sáng tác cho ngƣời lớn. Vì
vậy, để việc nghiên cứu mang lại hiệu quả cao hơn, ngƣời nghiên cứu cần mở rộng
liên hệ so sánh, đối chiếu. Hơn thế nữa, ngƣời nghiên cứu cũng cần có khả năng phân
tích, thống kê và vốn hiểu biết phong phú về nhân vật trẻ em trong văn học mới có thế
đƣa ra những nhận định khái quát, khách quan và có căn cứ.
3. Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi xin đƣa ra một số kiến nghị nhƣ
sau:
Thứ nhất, cần thừa nhận tính khả thi của việc nghiên cứu hình tƣợng nhân vật trẻ
em dƣới góc nhìn thi pháp học qua việc phân tích nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu,
không gian và thời gian nghệ thuật của các tác phẩm.
Thứ hai, trong xã hội có nhiều biến động nhƣ ngày nay, việc giáo dục nhân cách và
giáo dục những kỹ năng sống cho trẻ em là rất cần thiết. Vì vậy, khi nghiên cứu nhân
vật trẻ em cần chú ý đến những vấn đề liên quan nhƣ: quyền và nghĩa vụ của trẻ em,
phƣơng pháp giáo dục trẻ em, những bài học về việc giáo dục trẻ em… Để vấn đề
nghiên cứu sâu sắc hơn cần sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu
nhân vật trẻ em dƣới góc nhìn tâm lí học, xã hội học, văn hóa học.
Thứ ba, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có nội dung dễ hiểu, ngôn từ
giản dị, trong sáng chứa đựng nhiều bài học nhân văn sâu sắc. Do đó, các truyện viết
cho thiếu nhi của chị cần đƣợc lựa chọn để giảng dạy trong nhà trƣờng. Các truyện
tranh in khổ lớn của chị cần đƣợc dùng trong việc giáo dục trẻ mầm non để giúp trẻ
phát huy khả năng sáng tạo, mở rộng vốn từ và bồi dƣỡng tâm hồn cho trẻ em. Việc
đƣa các tác phẩm Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng mình bay đầy trời,
Tiền của thần cây, Quà tặng của ngày mai vào giảng dạy trong các giờ ngoại khóa ở
các trƣờng tiểu học để tích hợp giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em
là rất cần thiết. Hƣớng nghiên cứu khả năng ứng dụng truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh vào trong chƣơng trình giảng dạy Ngữ văn theo định hƣớng phát triển
năng lực cũng là một hƣớng đi giàu tiềm năng.
132
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
1. Tăng Thị Hƣơng – Lê Thị Hòa – Lê Thị Nga. (2021). “Văn học thiếu nhi với việc
giáo dục trẻ em hôm nay (trường hợp sáng tác của Võ Diệu Thanh và Văn Thành
Lê)”. Tạp chí Khoa học Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 18, số
10 (2021), tr.1867 – 1878.
2. Lê Thị Hòa. (2021). “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng của
Võ Diệu Thanh”. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế Văn hóa và Giáo dục lần thứ II
(ICCE - 2021). Đại học Sƣ phạm Huế, tr.697 – 710.
3. Lê Thị Hòa. (2021). “Nhân vật trẻ em trong Đám cưới cỏ của Quế Hương với
Những cậu bé mặt trời của Võ Diệu Thanh – một cái nhìn so sánh”. Kỷ yếu Ngày hội
Khoa học giảng viên và học viên sau đại học lần thứ V – 2021. Đại học Thủ Dầu Một.
tr.2212 - 2223.
4. Lê Thị Hòa. (2022). “Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong một số truyện viết cho thiếu
nhi của Võ Diệu Thanh”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học viên sau đại
học lần thứ VI – 2022. Đại học Thủ Dầu Một, tr.495 – 507.
5. Lê Thị Hòa. (2022). “Tính đối thoại trong một số truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Diệu Thanh”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học viên sau đại học lần thứ
VI – 2022. Đại học Thủ Dầu Một, tr.508 – 520.
133
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tác phẩm đƣợc khảo sát trong luận văn
1. Võ Diệu Thanh. (2014). Lần đầu thấy trăng. Hà Nội: Nxb Phụ nữ.
2.Võ Diệu Thanh. (2015). Siêu nhân cua. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
3. Võ Diệu Thanh. (2016 a). Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb
Văn hóa – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
4. Võ Diệu Thanh. (2016 b). Chúng mình bay đầy trời. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
5. Võ Diệu Thanh. (2016 c). Tiền của thần cây. Hà Nội: Nxb Phụ nữ.
6. Võ Diệu Thanh. (2017). Những cậu bé mặt trời. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
7. Võ Diệu Thanh. (2020 a). Bí mật bên khóm hoa quỳnh. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
8. Võ Diệu Thanh. (2020 b). Chú ong bé bỏng. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
9. Võ Diệu Thanh. (2020 c). Khu vườn trong mơ. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
10. Võ Diệu Thanh. (2021). Quà tặng của ngày mai. Quảng Nam: Nxb Đà Nẵng.
II. Tài liệu in
11. Bùi Thanh Truyền. (chủ biên). (2009). Thi pháp trong văn học thiếu nhi. Hà Nội:
Nxb Giáo dục Việt Nam.
12. Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm. (2010). Nhân vật trẻ em trong truyện
ngắn cho thiếu nhi thời Đổi mới. Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 2.
13. Bùi Thanh Truyền. (2012). Giáo trình Văn học 1 (Lí luận văn học và Văn học thiếu
nhi. Thừa Thiên Huế: Nxb Đại học Huế.
14. Bùi Thanh Truyền. (2016).Văn học thiếu nhi sau 1986 từ cái nhìn toàn cảnh. Tạp
chí Nghiên cứu văn học, Số 9.
15. Bùi Thanh Truyền. (2019). Văn học thiếu nhi. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Đại
học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh.
16. Đậu Văn Vinh. (2020). Văn xuôi Võ Diệu Thanh từ góc nhìn văn hóa. Luận văn
thạc sĩ, Trƣờng Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Đinh Thị Thu Huyền. (2016). Nhân vật trẻ thơ trong sáng tác văn xuôi của Trần
Hoài Dương. Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại
học Quốc gia Hà Nội.
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (1992). Từ điển thuật ngữ văn học.
Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Giáo dục.
134
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (1997). Từ điển văn học. Hà Nội:
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
20. Nhiều tác giả. (1996). Văn học cho thiếu nhi (sau Cách mạng tháng Tám). Hà Nội:
Nxb Văn học.
21. Nhiều tác giả. (2001). Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng
Tám. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Giáo dục.
22. Nhiều tác giả. (2022). Nhà văn nói về nghề. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Văn
học.
23. Nguyễn Nhật Ánh. (1995). Kính vạn hoa. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
24. Nguyễn Nhật Ánh. (2008). Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Thành phố Hồ Chí Minh:
Nxb Trẻ.
25. Nguyễn Nhật Ánh. (2010). Đảo mộng mơ. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
26. Nguyễn Văn Dân. (2004). Các phương pháp nghiên cứu văn học. Hà Nội: Nxb
Khoa học xã hội.
27. Nguyễn Thái Hòa. (2000). Những vấn đề thi pháp của truyện. Thành phố Hồ Chí
Minh: Nxb Giáo dục.
28. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng. (2016). Nhân vật trẻ em trong văn xuôi thiếu nhi Việt
Nam. Hà Nội: Luận án tiến sĩ.
29. Nguyễn Thị Mộng Thơ. (2011). Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng tác của
Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám 1945. Luận văn thạc
sĩ Trƣờng đại học Đà Nẵng.
30. Nguyễn Ngọc Thuần. (2004). Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Thành phố Hồ Chí
Minh: Nxb Trẻ.
31. Nguyễn Thị Đài Trang. (2013). Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn Nhật Ánh.
Luận văn thạc sĩ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
32. Lã Thị Bắc Lý. (2000). Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975. Hà Nội: Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
33. Lã Thị Bắc Lý. (2003). Văn học trẻ em. Hà Nội: Nxb Đại học Sƣ phạm.
34. Lã Thị Bắc Lý. (2017). Giáo trình văn học trẻ em. Hà Nội: Nxb Đại học Sƣ phạm.
35. Trần Hoài Dƣơng. (1981). Lá non. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
36. Trần Hoài Dƣơng. (2000). Miền xanh thẳm. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
135
37. Trần Đức Ngôn (chủ biên) – Dƣơng Thu Hƣơng. (1994). Văn học thiếu nhi Việt
Nam. Hà Nội: Đại học Sƣ phạm Hà Nội I.
38. Trần Đình Sử. (1998). Dẫn luận thi pháp học. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất
bản Giáo dục.
39. Trần Đình Sử. (2007). Giáo trình dẫn luận thi pháp học (Sách dùng cho hệ đào tạo
từ xa). Huế.
40. Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử. (2006). Lí luận văn học. Thành phố Hồ Chí Minh:
Nxb Giáo dục.
41. Quế Hƣơng. (2004). Đám cưới cỏ. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
42. Vân Thanh. (1999). Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà Nội: Nxb Khoa học
Xã hội.
43. Vân Thanh, Nguyên An. (2002). Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà
Nội:
Nxb Từ điển bách khoa.
44. Vân Thanh (2003). Văn học thiếu nhi Việt Nam tập 1. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
45. Vân Thanh (sƣu tầm, biên soạn). (2003). Văn học thiếu nhi Việt Nam (Nghiên cứu,
lí luận, phê bình, tiểu luận – tƣ liệu) (2 tập). Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
46. Vân Thanh (biên soạn). (2006). Tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà Nội: Nxb
Từ điển bách khoa.
47.Vân Thanh. (2019). Văn học thiếu nhi Việt Nam một số vấn đề về tác phẩm và thể
loại, Hà Nội: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
48. Văn Thành Lê. (2019). “Trên đồi, mở mắt, và mơ”. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
49. Văn Thành Lê. (2020). “Bên suối, bịt tai, nghe gió”. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.
50. Vi Thị Thỏa. (2018). Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của
Thạc Lam và Rabindranath Tagore. Luận văn thạc sĩ. Trƣờng Đại học Thái Nguyên.
III. Tài liệu trên internet
51. Hồ Thúc An. (12/03/2016). Hành trình đi tìm cái nhìn tích cực trong cộng đồng.
Báo Zingnews.com. Khai thác từ: https://zingnews.vn/hanh-trinh-di-tim-cai-nhin-tich-
cuc-cho-cong-dong-post633261.html./. Ngày truy cập 18/7/2021.
52. Quỳnh Anh. (10.01/2020). Giấc mơ của những đứa bé thiếu tình thương trong
Đám cưới cỏ. Báo Sài Gòn giải phóng. Khai thác từ: https://www.sggp.org.vn/giac-
136
mo-cua-nhung-dua-be-thieu-tinh-thuong-trong-dam-cuoi-co-639599.html. Ngày truy
cập 20/7/2021.
53. Quỳnh Anh. (27/11/2020). Võ Diệu Thanh và một thế giới khác. Báo Hà Nội mới.
Khai thác từ: http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/sach/984576/vo-dieu-thanh-va-mot-
the-gioi-khac. Ngày truy cập 08/7/2021.
54. Đỗ Dƣơng. (19/11/2013). Nhà văn trẻ Võ Diệu Thanh: “Lần đầu thấy trăng” lần
đầu tiểu thuyết. Báo Công an nhân dân. Khai thác từ: https://cand.com.vn/dien-dan-
van-nghe-cong-an/Nha-van-tre-Vo-Dieu-Thanh-Lan-dau-thay-trang-lan-dau-tieu-
thuyet-i332131/. Ngày truy cập 08/7/2021.
55. Lam Điền. (07/9/2020). Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh ra
mắt bản tiếng Nhật. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/cho-toi-xin-mot-ve-
di-tuoi-tho-cua-nguyen-nhat-anh-ra-mat-ban-tieng-nhat-20200907104640752.htm.
Ngày truy cập 15/10/2021.
56. Lam Điền. (07/5/2021). Trần Hoài Dương: viết cho thiếu nhi như một thứ đạo ở
đời. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/tran-hoai-duong-viet-cho-thieu-nhi-
nhu-mot-thu-dao-o-doi-20210507100040743.htm. Ngày truy cập 28/7/2021.
57. Nguyệt Hà. (01/7/2022). Văn học thiếu nhi: Những tín hiệu lạc quan. Báo Công an
nhân dân. Khai thác từ: https://cand.com.vn/doi-song-van-hoa/van-hoc-thieu-nhi-
nhung-tin-hieu-lac-quan-i658861/. Ngày truy cập 8/7/2022.
58. Lê Hoa. (30/4/2015). Văn học thiếu nhi góp phần định hướng nhân cách và phát
triển tâm hồn, trí tuệ cho trẻ. Báo Đại biểu nhân dân. Khai thác từ:
https://daibieunhandan.vn/van-hoc-thieu-nhi-gop-phan-dinh-huong-nhan-cach-va-
phat-trien-tam-hon--tri-tue-cho-tre-347909/. Ngày truy cập 10/7/2021.
59. Khả Linh. (05/03/2016). Nhà văn Võ Diệu Thanh trò chuyện về "thói tật đám
đông". Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/cai-nhuc-de-chiu-nhat-la-nhieu-
nguoi-cung-nhuc-1061956.htm/. Ngày truy cập 10/8/2021.
60. Lê Phƣơng Liên. (25/5/2022). Nguyễn Ngọc Thuần người “mở cửa sổ”. Báo Đại
đoàn kết. Khai thác từ: http://daidoanket.vn/nguyen-ngoc-thuan-nguoi-mo-cua-so-
5686502.html. Ngày truy cập 2/7/2022.
61. Lã Thị Bắc Lý. (2013). Cảm nhận về văn học thiếu nhi Việt Nam đầu thế kỉ XXI.
Báo Tổ quốc. Khai thác từ: https://toquoc.vn/cam-nhan-ve-van-hoc-thieu-nhi-viet-
nam-dau-the-ky-xxi-99118318.htm. Ngày truy cập 28/7/2021.
137
62. Nghiêm Quốc. (05/03/2013). Nhà văn Võ Diệu Thanh. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ:
https://tuoitre.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-535920.htm/. Ngày truy cập 08/7/2021.
63. Tiểu Quyên. (13/11/2019). Võ Diệu Thanh: Viết từ cô đơn đỉnh trời, Báo Văn học
Sài Gòn. Khai thác từ: https://vanhocsaigon.com/vo-dieu-thanh-viet-tu-co-don-dinh-
troi./ Ngày truy cập 08/7/2021.
64. Lý Ngọc. (14/4/2021). Gặp lại các tác giả được đưa vào sách giáo khoa: Nguyễn
Ngọc Thuần – Sức mạnh cảm hóa từ các trang văn. Báo Thể thao Văn hóa. Khai thác
từ: https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/gap-lai-cac-tac-gia-duoc-dua-vao-sach-giao-
khoa-nguyen-ngoc-thuan-suc-manh-cam-hoa-tu-cac-trang-van-
n20210414074015583.htm. Ngày truy cập 20/7/2021.
65. Nguyễn Thị Kim Ngân. (2016). Luật trẻ em. Khai thác từ:
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Luat-tre-em-2016-303313.aspx. Ngày
truy cập 08/7/2021.
66. Thảo Nguyên. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – Người đi tìm tuổi thơ trong những ký
ức bị lãng quên. Sách hay24h. Khai thác từ: (https://sachhay24h.com/nha-van-
nguyen-nhat-anh-nguoi-di-tim-tuoi-tho-trong-nhung-ky-uc-bi-lang-quen-a1238.html.
Ngày truy cập 08/10/2021.
67. Trúc Nguyễn. (2/8/2016). Giao lưu với nhà văn Võ Diệu Thanh và Trần Hùng
John, Báo Văn nghệ. Khai thác từ: http://tuanbaovannghetphcm.vn/giao-luu-voi-nha-
van-vo-dieu-thanh-va-tran-hung-john/. Ngày truy cập 25/10/2021.
68. Công Sơn. (28/6/2020). Nhà văn đa năng Võ Diệu Thanh. Báo Thanh niên. Khai
thác từ: https://thanhnien.vn/nha-van-da-nang-vo-dieu-thanh-post969390.html. Ngày
truy cập 15/8/2021.
69. Trần Quốc Toàn. (30/3/2022). Gặp lại các tác giả được đưa vào sách giáo khoa:
Võ Diệu Thanh – Hiền hòa và dữ dội. Báo Thể thao Văn hóa. Khai thác từ:
https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/gap-lai-cac-tac-gia-duoc-dua-vao-sach-giao-khoa-
vo-dieu-thanh-hien-hoa-va-du-doi-n20220330085527509.htm. Ngày truy cập
2/4/2022.
70. Phạm Tuấn (13/5/2022). Nhà văn Trần Hoài Dương và những tác phẩm tươi đẹp
cho thiếu nhi. Báo Nông nghiệp. Khai thác từ: https://nongnghiep.vn/nha-van-tran-
hoai-duong-va-nhung-tac-pham-tuoi-dep-cho-thieu-nhi-d322907.html. Ngày truy cập
08/7/2022.
138
71. Hoàng Tuyết (06/5/2021). Trần Hoài Dương, cố nhà văn có nhiều tác phẩm dành
cho thiếu nhi. Báo Tin tức. Khai thác từ: https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/tran-
hoai-duong-co-nha-van-co-nhieu-tac-pham-gia-tri-danh-cho-thieu-nhi-
20210506132453775.htm. Ngày truy cập 18/7/2021.
72. Dƣơng Tử Thành. (21/9/2011). Võ Diệu Thanh: Quê, cũ và … quyến rũ. Báo
Vnexpress. Khai thác từ: https://vnexpress.net/vo-dieu-thanh-que-cu-va-quyen-ru-
2135514.html. Ngày truy cập 08/6/2022.
73. Bảo Thoa. (01/10/2020). Các nhà văn nói gì khi viết về đề tài thiếu nhi. Báo Lao
động. Khai thác từ: https://laodongthudo.vn/cac-nha-van-noi-gi-khi-viet-ve-de-tai-
thieu-nhi-113776.html./. Ngày truy cập 08/7/2021.
74. Nguyên Thảo. (2022). Nhà văn Văn Thành Lê: Viết cho thiếu nhi là cách để tôi
được tắm nhiều lần trên dòng sông tuổi thơ. Khai thác từ :
http://baolamdong.vn/vhnt/202205/nha-van-van-thanh-le-viet-cho-thieu-nhi-la-cach-
de-toi-duoc-tam-nhieu-lan-tren-dong-song-tuoi-tho. Ngày truy cập 08/7/2021.
75. Linh Thoại. (07/11/2013). Nhà giáo bị tước quyền làm thầy. Báo Tuổi trẻ. Khai
thác từ: https://tuoitre.vn/nha-giao-bi-tuoc-quyen-lam-thay-578681.htm/. Ngày truy
cập 05/8/2021.
76. Đức Triết. (27/05/2015). Đoàn Giỏi – người có cả “một thế giới”. Báo Tuổi trẻ.
Khai thác từ: https://tuoitre.vn/doan-gioi-nguoi-co-ca-mot-the-gioi-
752652.htm#:~:text=TT%20%2D%20%E2%80%9C%C4%90o%C3%A0n%20Gi%E1
%BB%8Fi%20l%C3%A0%20m%E1%BB%99t,17%2D5%2D2015. Ngày truy cập
15/8/2021.
77. Lam Vy. (2017). Sách thiếu nhi ở Việt Nam - Từ trang sách hồng đến khu rừng
đầy màu sắc. Báo Book connest. Khai thác từ:
https://bookconnectblog.wordpress.com/2017/12/30/sach-thieu-nhi-o-viet-nam-tu-
trang-sach-hong-den-khu-rung-day-mau-sac. Ngày truy cập 08/7/2021.
78. Thành Vinh. (27/5/2021). Nhà văn Văn Thành Lê: Mảnh đất văn học thiếu nhi còn
nhiều chỗ trống. Báo Phụ nữ. Khai thác từ: https://www.phunuonline.com.vn/nha-van-
van-thanh-le-manh-dat-van-hoc-thieu-nhi-con-nhieu-cho-trong-a1435289.html. Ngày
truy cập 09/8/2021.
139
79. Văn Việt. (17/7/2015). Nhà văn Võ Diệu Thanh ra mắt sách cho thiếu nhi. Báo
Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-ra-mat-sach-cho-thieu-
nhi-778887.htm/. Ngày truy cập 08/9/2021.
80. Đoàn Xá. (30/11/2016). Nhà văn Võ Diệu Thanh tiếp tục viết truyện thiếu nhi. Báo
Đại đoàn kết. Khai thác từ: http://daidoanket.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-tiep-tuc-viet-
truyen-thieu-nhi-137851.html./. Ngày truy cập 08/7/2021.
81. Quỳnh Yên. (26/3/2021). Sách “khổng lồ” của nhà văn Võ Diệu Thanh. Báo Sài
Gòn giải phóng. Khai thác từ: https://www.sggp.org.vn/sach-khong-lo-cua-nha-van-
vo-dieu-thanh-721087.html. Ngày truy cập 28/7/2021.
140
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
BẢNG HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Nh n vật trẻ em Stt T n tác phẩm
Số lƣợng
20 1 Lần đầu thấy trăng
9 2 - Siêu nhân cua - Chúng mình bay đầy trời.
T n nh n vật Dẫu, Dị, Hậu, Tụ, Đực, Hà Vi, Tƣờng, Thảo, Hiền, thằng Bảy, Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt, anh Năm, anh Ba, chị Hai, chị Tƣ, Những đứa trẻ không có tên: cái thằng ba bị bệnh gan nằm liệt, mẹ đi vác lá mƣớn suốt ngày; cái thằng ba mẹ nó đi ghe lá bên Lô, nó ở nhà với ông bà ngoại; cái thằng ba mẹ nó đi Bình Dƣơng mỗi năm nó chỉ gặp mẹ nó có một lần vào ngày Tết. Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí, Quý, Tú, Hào, thằng Cua, đám bạn của thằng Tú, đám bạn của thằng Hào Dƣa leo, Nhỏ Bự, thằng Đầu Bự 3 3 Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm
6 4 Tiền của thần cây
Bòn Bon, Vĩ, thằng Xuân, Của Cải, bé Hai, tụi bạn của Củ Cải. Tì Ti, Nhóc 2
5 Ngàn, Hà 2 Những cậu bé mặt trời Khi hai vua về một nhà
4 Thả diều
4
Cu Lý, bé Châu, bé Mai, tụi con nít chơi thả diều ở bãi đất trống. Nhã, bé Thi, Thuận, mấy đứa bạn của Thuận Nhân, các bạn trong lớp 3C 2
Chùa, Út Tiền, chị Hai 3 6
Bin, các bạn của Bin
2 7
Bí mật theo cô Cáp treo cho những mặt trời Quà tặng của ngày mai - Bí mật bên khóm hoa quỳnh - Chú ong bé bỏng - Khu vườn trong mơ Tổng 53
p1
PHỤ LỤC 2
BẢNG THỐNG KÊ THỦ PHÁP ĐỊNH DANH NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Cách định STT Tên nhân vật Số lƣợng Tỉ lệ danh
Quý, Châu, Mai, Ngàn, Hà,
Nhân, Thuận, Hiền, Thảo, Tên thật cụ Tƣờng, Hà Vi, Dẫu, Dị, Hậu, 21/53 39,62% 1 thể Tụ, Đực, Thuận, Hào, Tú,
Xuân, Vĩ
Chùa, thằng Cua, Dƣa Leo, Biệt danh 4/53 7,54% 2 Nhỏ Bự
Tên thật Hƣng Mặt Bành, Mai
ghép với Một Mí, Nam Trán Dồ 3/54 5,66% 3
biệt danh
Bin, Củ Cải, Bòn Bon, Tì Ti,
Nhóc, bé Hai, chị Hai, anh Tên thƣờng Ba, chị Tƣ, anh Năm, thằng 16/53 30,18% 4 gọi ở nhà Bảy, Út dởm, Út nữa, Út
thiệt, Út Tiền, Hai
- cái thằng ba bị bệnh gan
nằm liệt, mẹ đi vác lá mƣớn
suốt ngày;
- cái thằng ba mẹ nó đi ghe lá
bên Lô, nó ở nhà với ông bà
Tên phiếm ngoại; 9/53 16,98% 5 định - cái thằng ba mẹ nó đi Bình
Dƣơng mỗi năm nó chỉ gặp
mẹ nó có một lần vào ngày
Tết.
- các bạn của Bin
- các bạn trong lớp 3C
p2
- mấy đứa bạn của Thuận
- tụi con nít chơi thả diều ở
bãi đất trống.
- tụi bạn của Củ Cải.
- đám bạn của thằng Tú.
p2
PHỤ LỤC 3
BẢNG THỐNG KÊ BIỆN PHÁP SO SÁNH
TRONG TRUYỆN SIÊU NHÂN CUA CỦA VÕ DIỆU THANH
Stt Dẫn chứng Trang
5 1 Tôi ngưng ngang đó vì hai mắt Nam nhìn tôi như hai cái đèn
xe hơi.
8 2 Đấy, cô tỉnh queo bước vào và tỉnh queo ngoắt tôi như đại ca
ngoắt đàn em.
9 3 Đôi khi tôi có thề trong bụng cho tới già, tới rụng sạch răng
như ông nội (tôi mới rụng có một cái răng thôi) nhất định
không rớ tới cái trán dồ của Nam.
4 Vì má tôi hay ngồi nhắc hồi đẻ thằng Hưng, tức là tôi, má ăn 17
thấy sợ, tôi sổ sữa mặt bành như tái bưởi, bành tới bầy giờ.
5 Về nhà đêm đó nó sốt, ngủ thấy cái gương mặt có mái tóc rắn 18
và cái miệng của tôi chần dần trước mặt rồi nó bự dần bự
dần như cái nhà.
6 Mai kể tới đó giống như là nó thấy cái càng cua đang quấu 20
vào nó, nghiến chặt vào thịt da nó và máu chảy và nó khóc
thét.
7 Có đau như bị ong chích không, hay có đau như là bị ba quất 20
vào mông?
8 Con ma của thằng Nam thì mặc một bộ đò đen với cái đầu 21
lâu, mấy móng tay là mấy cái vuốt như vuốt con đại bàng.
9 Nhỏ Mai thì nó vẽ cô Thanh ốm như con lươn đang cong 24
cong ẹo ẹo.
10 Hai con mắt như hai trái thanh long, gò má như trái mận và 24
cái miệng có mấy cái răng giống như là cô đang ngậm một
đống sỏi.
11 Cô Thanh cũng xấu nhưng đâu có tệ lậu như cái chậu. 25
12 Trong lúc đau ê ẩm, tôi nămg ngủ rồi chiêm bao thấy cô 25
Thanh trong tranh ra khỏi bức tranh và bay về phía tôi, cái
p3
mặt cô lớn như cái bàn.
13 Và nó vẽ cái răng sún của tôi y như một cái ao. 25
14 Dẫu rằng tôi có sún nhưng ai lại sún răng như một cái ao. 25
15 Với Nam trán dồ thì lúc đầu không biết vẽ nó vẽ cái trán 26
thằng Nam y như cái sân banh.
16 Vậy là nó quay mặt thằng Nam lại vẽ cái trán nhô ra như một 26
cái trứng.
17 Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong chích sưng to 30
bằng ngón giò cái.
18 Cô cứ nhìn như là cô đang coi phim hành động của người dơi 31
hay là siêu nhân vậy.
19 Cô cũng trẻ con giống như thằng Nam, khoái được người ta 33
khen thông minh.
20 Nhỏ Mai thì khác, nó vẽ như múa, rồi nó tô màu cũng như 35
đang hát.
Xấu như ma. 21 37
22 Tôi là một anh hùng như siêu nhân Gao. 50
23 Lời hứa là lời danh dự, mất lời hứa bụng bự như trâu. 57
24 Thầy nói tay chân thầy mạnh như cục sắt. 72
25 Mấy đứa tôi thì đứa nào cũng như cong bún (lẽ nào tụi tôi lại 72
yếu dữ vậy?)
26 Thằng Hào lúc này ngồi buồn hiu như con cua rụng hết càng. 73
27 Con mèo thì nó nặn không rớt đầu cũng sứt đuôi và méo mó 76
như là vừa bị đốt cháy.
28 Nó cười không phải cái vụ lớn lên cưới nhau mà nó cười vụ 78
mặt thằng Nam mếu nhìn cái trán nhăn lại giống ông già
đang khóc.
29 Trong đầu tôi thì đó là một hình ảnh rất quen thuộc, một con 80
khỉ có gương mặt cô Thanh khắp người con khỉ đầy những
sợi lông như lá khô.
30 Nó nổi quạu xô một cái cái tôi quơ bốn cẳng như con rùa lật 84
ngửa.
p3
31 Tôi đứng im như trời trồng. 89
32 Nó vẽ đầy bảng mấy cái bông héo queo, mấy cái cây gãy 91
cành, cả cái trường nó cũng vẽ ngả nghiêng như cái trường
đang say rượu.
33 Một ngày kế đó, Nam lại đem cái tranh vẽ đàn gà như một 92
đống giấy bị vò nát ra nhìn.
p3
PHỤ LỤC 4
BẢNG THỐNG KÊ PHÉP LIÊN KẾT TRONG LỜI NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TRUYỆN SIÊU NHÂN CUA CỦA VÕ DIỆU THANH
Số STT Từ Dẫn chứng trong văn bản lần
1 Bạn nghĩ 1 “Thì bạn nghĩ coi cái mặt (bành) cỡ tôi trốn đường nào 6
coi với cổ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7).
2.“Nhưng bạn nghĩ coi, một người dính đầy bùn đất sao
mà không hôi được” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7).
3.“Bạn nghĩ coi, cái áo trắng của nó ngày nào cũng lấm
lem đất” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15).
4. “Bạn nghĩ coi, con ong nó nhỏ xíu làm gì có con mắt”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31).
5.“Bạn nghĩ coi, siêu nhân phải làm gì trước một người
đã chết rồi mà vẫn còn ngồi bên cửa khóc hu hu” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.57).
6.“Bạn nghĩ coi, một người chết rồi mà còn ngồi khóc”
Võ Diệu Thanh, 2015, tr.57).
2 Bạn có 1.“Bạn có tin không? Không ai lại bị dơ quần áo chỉ vì 4
gặp con cua. Mà có con cua nào lại hôi mùi phân gà”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15).
2.“Bạn có từng coi khúc phim “dòng sông thương nhớ
không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.67).
3.“Bạn có nghĩ là chúng tôi lại gặp nó không?” Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.51).
4.“Bạn có bao giờ nghĩ trên đời này có con ma nào có
đôi mắt hình hai con cua không?” (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.22).
p4
3 Bạn biết 1.“Bạn biết ai trả lời không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, 3
không tr.58).
2.“Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong chích
sưng to bằng ngón giò cá” Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30).
3.“Nhưng bạn biết không, nó không phải là một con cua
mà là một thằng có càng” Võ Diệu Thanh, 2015, tr.51).
4 Bạn thấy 1.“Bạn cũng thấy đúng như vậy phải không?” (Võ Diệu 3
Thanh, 2015, tr.95).
2.“Bạn thấy cô Thanh rất là khờ khủng khiếp không” (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.66).
3.“Mà bạn thấy tôi với thằng Nam vẽ giống ma hơn đúng
không?
5 Bạn đừng 1.“Bạn đừng để ý tới cái nhà con cá hay cái tô canh của 2
tôi. Bạn phải để ý con Mai với thằng Nam” (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.77)
2.“Bạn đừng bận tâm tôi nghe câu này ở đâu” Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.57).
6 Nếu bạn 1.“Nếu bạn nhìn thấy nó cười mỗi khi cô Thanh kêu “Một 2
Mí lên cô biểu” thì bạn sẽ lập tức ao ước có được cái
biệt danh Một Mí như nó cho mà coi” (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.17).
2.“Nếu bạn nhìn thấy cô Thanh nhìn tôi thì bạn hiểu” Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.31).
7 Bạn hình 1.“Bạn hình dung đất trời mênh mông mà nó cứ bay 2
dung thẳng ngay mặt tôi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30).
2.“Bạn hình dung nó sợ ma nhưng lại dám vẽ con ma”
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18).
p4
PHỤ LỤC 5
BẢNG THỐNG KÊ
CÂU HỎI TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Tên
Dẫn chứng Số lần Stt tác
phẩm
120 1 Siêu
nhân
cua
1. Tôi là ông ngoại trò Nam, Nam có ở đây không cô giáo? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.5) 2. Cô Thanh có cặp mắt xuyên thấu qua tƣờng đấy, bạn tin không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7) 3. Nhƣng mà sao cô lại ra đây? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.8) 4. Thông minh là gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 5. Sao mà cô Thanh lại lôi từ cái khó này qua cái khó kia vậy cà? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 6. Trán dồ phải hay ho hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 7. Cái gì cƣời, cái gì cƣời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 8. Cái mặt thằng Hƣng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 9. Nó sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 10. Nhƣng bạn nghĩ coi, một ngƣời dính đầy bùn đất sao mà không hôi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.13) 11. Con đi học có thay đồ không Mai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 12. Con cua nó làm áo con dơ à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 13. Bạn có tin không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 14. Nó nói sao mẹ để con nhỏ bị kiến bu tum lum tội nghiệp con nhỏ quá vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.17) 15. Cô Thanh hỏi các em có thấy con ma ra làm sao không mà sợ? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 16. Ủa mà sao con nhền nhện có càng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 17. Con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 18. Mà sao bạn lại sợ con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 19. Sao con cua nó bò lên giƣờng đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.19) 20. Ủa, mà sao bạn ngủ dƣới đất? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 21. Ai cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 22. Má làm gì cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 23. Cua kẹp nó sẽ đau cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 24. Có đau nhƣ bị ong chích không, hay có đau nhƣ là bị ba quất vào mông? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 25. Mà bạn thấy tôi với thằng Nam vẽ giống ma hơn đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.22)
p5
26. Bạn có bao giờ nghĩ trên đời này có ma nào có đôi mắt hình hai con cua không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.22) 27. Hồi nãy tôi có kể với bạn về vụ Mai vẽ mặt bành tôi đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.25) 28. Tôi gan hơn nhỏ Mai đúng không bạn? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 29. Hƣng, sao mà e …? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 30. Không ngồi yên đƣợc chút nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 31. Sao con không vẽ? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.33) 32. Cô có thấy ghê gì đâu à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.33) 33. Hƣng có thấy nhƣ vậy không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.34) 34. Cái này là cái nhà hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 35. Chớ bạn không thấy nó giống cái nhà à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 36. Cái nhà này xấu ùi. Phải không Mặt Bành? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 37. Nhƣng bạn nghĩ sao mà cá lại có nhà? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 38. Chớ cá không có nhà thì nó ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 39. Bạn nghĩ coi, nếu bạn không có nhà thì bạn phải ở đâu, ở ngoài sân à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 40. Nếu bạn không có nhà bạn sống đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.37) 41. Sao sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.39) 42. Sao cậu vẽ nó không có chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 43. Đang bay mà vẽ có chân sao đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 44. Bạn méc cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 45. Ba bà tám, làm sui xong chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.42) 46. Mà em vẽ hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.43) 47. Sao lại khen? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 48. Cô em nhẹ dạ vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 49. Lẽ nào cô không biết cây xoài? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 50. Còn em vẽ giống không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 51. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.45) 52. Giống trong sách không đƣợc sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.45) 53. Trời đất, tôi ăn cơm má còn đút mà nhỏ Mai biết nấu cháo sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.47) 54. Sao mà em khoái cái mƣơng đó quá vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.50) 55. Bạn có nghĩ là chúng tôi gặp lại nó không? (Võ Diệu
p5
Thanh, 2015, tr.51) 55. Em đã bắt hết cua chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53) 56. Gọi là thằng cua à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 57. Rồi em định làm gì với thằng cua đó? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 58. Em bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 59. Con cua nó sợ ma à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 60. Em bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 61. Con ma tóc dài mà nó sợ đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 62. Con cua đi học à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 63. Khoan khoan, cho cô hay, mấy đứa đang nói về một thằng nhóc phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 64. Nó tên Cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 65. Là sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 66. Kiếm ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 67. Bạn biết ai trả lời không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 68. Dạ, anh làm ơn cho hỏi ở đây có một cậu nhóc cỡ vầy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 69. Vào cái chỗ tối om đó kiếm à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 70. Mày đi đâu mà tới giờ này mới về? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 71. Trời ơi là trời, con nít con nôi đi tới chỗ đó làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 72. Rủi ma giấu mày rồi ai biết đƣờng mà kiếm? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 73. Nhƣng lúc đó sao tôi dám đi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 74. Cô Thanh ngƣời ta là cô giáo, đi vô kẹt vô hốc làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.60) 75. Thằng cua nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.60) 76. Vác dao đi đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.62) 77. Con chặt nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 78. Chặt chi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 79. Ma có gì mà đánh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 80. Lẽ nào họ sợ nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 81. Lẽ nào họ là ma? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 82. Nó làm gì học trò cô à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 83. Mấy đứa bạn nó hay chọc ghẹo con hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 84. Cô hiểu rồi, rốt cuộc chuyện con gà đứng mổ cái áo ngoài sân là con nghe ai kể mà biết vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 85. Bạn có từng coi khúc phim “dòng sông thƣơng nhớ không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.67) 86. Nó có hỏi tôi “có xƣơng cá không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.68) 87. Đánh bạn là xấu phải không thầy, là thầy không thƣơng
p5
nữa phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69) 88. Hồi nãy thằng nào dám kêu thầy đánh tao sƣng cái mông? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69) 89. Xấu rồi có chết đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70) 90. Mấy đứa tôi thì đứa nào cũng nhƣ cong bún (lẽ nào tụi tôi lại yếu dữ vậy?) (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 91. Nhƣng mà thầy Tầng không đánh thì ai đánh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 92. Mày nhìn cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 93. Nhìn hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 94. Tao thấy rõ ràn còn chối hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)
95. Cô giáo mà cũng đi học sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73) 96. Nói gì thì nói mọi chuyện cũng qua rồi đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73) 97. Mà thài lai là gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.74) 98. Bạn cũng thấy vậy đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76)
99. Hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.77) 100. Hƣng, sao em nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.78) 101. Sao mà Nam nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 102. Vì nó không thích cô? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 103. Chớ con nói ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 104. Ba đứa làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 105. Rồi ăn xong làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 106. Tại sao cô thanh hỏi mà bạn Nam không trả lời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.82) 107. Vì sao bạn Nam lại giận cô Thanh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.85) 108. Sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.86) 109. Giận cô Thanh hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 110. Cô Thanh thù vặt hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 111. Nhƣng sao bạn không đƣợc thi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 112. Nhƣng mà không giận cô Thanh sao bữa đó con lại khóc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 113. Ơ, giận tôi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 114. Vấn đề gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92) 115. Bạn cũng công nhận đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92) 116. Sao bạn dám nói nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 117. Chú bạn dám nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 118. Bạn cũng dám nói vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 119. Vậy theo con, cô Thanh có vấn đề về mĩ thuật không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.94) 120. Điều đó nó lớn lao hơn mọi thứ trên đời này, bạn cũng
p5
2 Bảng 127
đỏ cho
xứ
Bìm
Bìm
thấy đúng nhƣ vậy không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.95) 1. Đấy! Nghe mà dựng tóc gáy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.5) 2. Ma mèo nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.6) 3. Sao mẹ lại lấy nón bảo hiểm đi xúc gạo? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.11) 4. Đại khái nhƣ là “Dƣa Leo, em có lỗ tai không?” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.16) 5. Vì cô cứ hay hỏi “Dƣa Leo cho cô biết cô vừa nói cái gì?” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.16) 6. Dƣa Leo có lỗ tai không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.17) 7. Cái loa cứng ngắc sao cậu bảo tớ nhai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.17) 8. Bạn nghĩ coi, Nhỏ Bự có phải khóc tức tƣơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.23) 9. Ăn xong không dọn à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.23) 10. Chƣng diện thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24) 11. Vậy gọi là yêu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24) 12. Chiêm bao à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.25) 13. Cậu có bạn gái chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26) 14. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.29) 15. Nhƣng sự thông minh đó có học đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.31) 16. Nơi đó là thiên đƣờng thật đúng không Mèo ma? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.32) 17. Xứ đó liệu ngƣời ta có ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.33) 18. Cậu có đến Bồ Câu bao giơ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34) 19. Sao cậu rành vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34) 20. Chẳng lẽ lúc qua cổng chú soát vé thấy chúng tôi cãi nhau dữ dội quá đã chui vào thùng rác nhắm mắt trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 21. Hay hai thằng tàng hình đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 22. Vậy chúng tôi lên tàu bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 23. Thế cái ổ khóa phải làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.38) 24. Chợ ngƣời chết hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39) 25. Đấy là xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39) 26. Cậu đã biết thƣơng Mẹ Ốm chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.44) 27. Mẹ Ốm có chết không mèo? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.44) 28. Mèo nghĩ Dƣa Leo làm gì vơi con ve? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.45) 29. Chẳng lẽ chúng tôi may mắn vào đƣợc một con đƣờng
p5
tắt? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 30. Cậu phản đối vụ gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 31. Cậu làm thật à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 32. Cụ không có con mắt à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 33. Cậu là ngƣời xứ Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 34. Sao cụ biết? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 35. Gặp tôi à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 36. Sao cụ nói gặp rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 37. Cậu thấy vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 38. Chớ cụ không thấy mình quá vô duyên à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 39. Ba lần cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 40. Cậu bao nhiêu tuổi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 41. Mƣời … Mà cụ biết tuổi tôi làm quái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 42. Cậu biết con mắt để làm gì không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 43. Tôi sai chỗ nào à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 44. Tôi mà giống họ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 45. Sao cậu lại nói năng nhƣ thế với cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 46. Tớ nói gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 47. Đấy, nếu tớ là một chiếc xe có phải cụ tiêu tùng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 48. Vậy là tớ có lỗi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 49. Đi xin mà cũng cần phải có uy tín? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.60) 50. Nhƣng tích phƣớc để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.62) 51. Phƣớc đó ai ban cho? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63) 52. Quan liêu là gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63) 53. Họ đã làm gì con? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.66) 54. Họ nắm con lôi vào đây? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67) 55. Ông có biết con hồi nhỏ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67) 56. Ông sống ở Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 57. Ông là ngƣời Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 58. Nhƣng sao ông biết bọn trẻ Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 59. Sao ông lại không về Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 60. Vậy hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 61. Con nghĩ những điều xấu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 62. Sao mà tiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 63. Mấy đứa kia có nhƣ con không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)
p5
64. Ngủ nhƣ con à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70) 65. Không phải, nó có nghĩ học cho dữ thì chỉ có bốn, năm đứa có chỗ đứng, mấy đứa còn lại cũng rớt xuống cái chỗ không có gì để làm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70) 66. Thế công việc nó đi đâu hết rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 67. Ơ. Công việc nó chạy đƣợc hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 68. Đố bạn Dƣa Leo đang ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 69. Hai câu thơ mà gai góc vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72) 70. Mà con nghĩ có nên hiếu thảo với cha mẹ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72) 71. Bự Đầu thuộc dễ dàng hai câu thơ đó à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.73) 72. Mà ông nghĩ, sao lại bất công thế? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 73. Con nghĩ ông trời bất công ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 74. Thế nào là công bằng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 75. Chấm bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 76. Sao ông siêng vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.76) 77. Con định làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 78. Con có biết nó bao xa không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 79. Dài cỡ nào hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 80. Con có thấy sợ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.78) 81. Sao họ quan tâm đến xứ Bìm Bìm vậy ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.79) 82. Sao ông khóc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.80) 83. Mày nói ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.84) 84. Nhƣ vậy rồi chẳng lẽ không ai bảo vệ ngƣời tốt? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 85. Chẳng lẽ không ai ủng hộ cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 86. Một con mèo và một thằng khờ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 87. Chị có tiền công chúng Bìm Bìm mà khi họ bị sỉ nhục chị không thấy mình có trách nhiệm bảo vệ họ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.87) 88. Chẳng lẽ không có cách gì hạ đƣợc chị hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.88) 89. Chẳng lẽ mọi động tịnh đều là cơ hội để chị nổi tiếng thêm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.88) 90. Chị Bạch Kim nói chuyện mọi ngƣời sẽ nghe đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94) 91. Nhanh vậy sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94) 92. Mèo Ma là nhạc sĩ hay là nhà bình luận âm nhạc? (Võ
p5
Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 93. Em kêu bằng nó tức là nó nhỏ hơn em? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 94. Trời, hai ký rƣỡi mà làm nhà văn? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 95. Một con mèo bốn mƣơi hai ký? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.96) 99. Chị sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 100. Là sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 101. Bảng đỏ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 102. Có cái bảng đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 103. Ai làm nên cái bảng đó? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 104. Tai sao lại kỳ thị hết con ngƣời trên xứ Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 105. Còn những ngƣời tàn phá xứ Bìm Bìm họ đâu cả rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.98) 106. Chẵng lẽ ngoài tất cả những ngƣời đó không còn ai đủ sức sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.100) 107. Ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 108. Ông chúa xứ hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 109. Đo cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 110. Cậu nghĩ là cậu năng ký lắm rồi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 111. Nhƣng năng hay nhẹ dính gì tới chuyện tớ đi gặp ông Bụng Cọp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 112. Ông Bụng Cọp có quyền lực đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 113. Bao nhiêu ngƣời muốn gặp ổng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 114. Ổng chịu gặp ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 115. Mà ví dụ bữa đó ôgn bị ấm đầu, bị tửng từng tƣng nhƣ cậu, ổng cho vào, ổng có nghe lời cậu không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 116. Lẽ nào ông Bụng Cọp chƣa qua xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 117. Ông ấy vào đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 118. Chui qua bảng đỏ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 119. Lẽ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 120. Cụ Râu Đỏ cứ khóc nhƣ vậy mãi mãi hay sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.103) 121. Rốt cuộc chú có cho cháu xuông tàu không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.107) 122. Tôi có nên trở về? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.108) 123. Cậu biết viết chữ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.110) 124. Con nói chuyện với ai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.113) 125. Ông ơi, nƣớc mắt ông không có máu, ông đã cạn máu rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114) 126. Sao lại không phải ngõ cụt hả ông? (Võ Diệu Thanh,
p5
3 Chúng 154
mình
bay
đầy
trời
2016a, tr.114) 127. Con làm đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114) 1. Một tỉ là bao nhiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.5) 2. Con làm gì với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 3. Lịch sự sao xô bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 4. Bạn làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 5. Vậy tôi sai đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 6. Làm thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 7. Hôm đó ba mặc áo ủi thẳng băng, bỏ áo vô quần, xịt dầu thơm, má con hỏi ba con “ông bữa nay tí tửng với con nào mà ăn mặc lịch sự vậy?” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 8. Bạn nào biết cô Thanh làm sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 9. Vậy chắc cô Thanh cƣời mà ráng nén rồi hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 10. Nội đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.10) 11. Trồng su su trên núi là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 12. Núi thế nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 13. Có giống cái nóc nhà không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 14. Nó giống cái nón lá không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 15. Vậy sao mà trồng cái gì trên đó đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 16. Cất nhà đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 17. Bạn chƣa đi núi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 18. Xe chạy trên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 19. Đƣờng chạy lên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 20. Kì vậy ta, chớ ở đó cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 21. Vậy cũng y nhƣ ở đây thôi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 22. Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 23. Rồi con ma đó phải tóc dài không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 24. Ma đầu trọc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 25. Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 26. Tui từng hỏi cô Thanh, phải chăng ngƣời tu sẽ bay về trời? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.13) 27. Phải chăng mình có thể nắm vạt áo ngƣời tu là bay theo họ? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.13) 28. Mà trên trời có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14) 29. Phải chăng có cây cỏ, con ngƣời, rồi có mấy con ma y nhƣ trên núi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14) 30. Khi nào chúng tôi thấy bứt rứt nhất? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 31. Vì máy nó giúp ngƣời này nó sẽ giúp ngƣời khác và lúc
p5
đó ai cũng hạng nhất hết thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 32. Vậy nếu chế đƣợc cái máy cho nó ăn cơm mà mình mập lên thì tốt quá, đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 33. Trong lúc máy ăn em ngồi dòm miệng à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 34. Bao nhiêu đứa muốn có cái máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 35. Vì sao em không muốn có máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 36. Còn Quý? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 37. Cơm mà thèm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 38. Thiệt hả chèn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 39. Loại này bình thƣờng đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21) 40. Chèn ơi, cái máy gì mà khôn thấy ớn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.22) 41. Bạn có nhìn thấy cảnh cả chục đứa đang đói bụng nhìn hai đứa ăn cơm bao giờ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 42. Cô Thanh ơi, phải cái máy của cô không hoạt động không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 43. Mà cô có nhớ cho nó ăn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 44. Mấy em thấy cái máy ăn cơm giùm của cô dữ dội không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.25) 45. Vậy bạn phải cất nhà trên cây à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.27) 46. Sao phải chế ra những loại vũ khí giết nhau? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 47. Nếu giận nhau mà mang súng đạn ra bắn giết, rồi khi hết giận, làm sao cứu cho ngƣời chết sống lại đƣợc đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 48. Bạn vẽ siêu nhân chim à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 49. Thiệt hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 50. Vậy làm sao có lông gà đây cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 51. Lấy lông gà làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 52. Cô quên rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 53. Gắn lông chim bay sao đƣợc ông thần? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 54. Sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 55. Mà thử nghĩ coi một đôi cánh lớn nhƣ vầy, ngƣời ta liệu có trồng su su bên sƣờn núi đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 56. Chẳng lẽ “dự án” đôi cánh cho thăng Quý đi đứt? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 57. Theo các em ngƣời có bay đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 58. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38)
p5
59. Gắn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 60. Gắn trên đầu rồi chong chóng bay lên “nắm đầu” mình lồi lên à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 61. Mà đầu bị lôi lên nhƣ vậy sao mà cúi xuống bẻ su su đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.39) 62. Nhƣng nếu khép tay lại thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.40) 63. Nội bây giờ đi bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.41) 64. Núi có vồ đá hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 65. Giống trán dồ thằng Nam không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 66. Nhƣng thằng Quý lại nói cắc cớ, rằng rủi Nội bệnh bất ngờ, Nội không điều khiển đƣợc những cái nút trên máy, hoặc Nội quên mất công tắc thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.44) 67. Bạn nói nƣớc mà biết ăn chân à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 68. Có khi nào mà nhỏ Mai thọc chân xuống nƣớc, bị con cá nóc cắn ngay chân rồi đổ thừa nƣớc ăn chân không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 69. Nếu nƣớc ăn đƣợc có phải nó đã ăn sạch ruột gan phèo phổi mấy ngƣời đi bơi rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 70. Nhƣng sao mình uống nƣớc vô bụng, nó không ăn bụng mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 71. Vậy nƣớc ngoài ruộng có độc hả cô? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 72. Rồi liệu đôi cánh đó có thể bay đi xa đƣợc không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 73. Liệu đôi cánh có nhanh hơn cú nhảy một con cọp không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.49) 74. Mà vồ Cấm có ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 75. Bạn có dám bay qua Vồ Thiến Tuế không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 76. Nhƣng mà rủi con ma nó bay kịp với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 77. Bạn không sợ nó à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 78. Rủi nó ăn thịt bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 79. Ma ăn thịt ngƣời ta nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 80. Nhìn chi vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 81. Mà con ma thật hình dáng nó thế nào, đầu trọc hay tóc dài, hay nó không có đầu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 82. Mà liệu mình có bắt đƣợc tổ chim lấy trứng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 83. Tổ chim tự có mà, đâu có ai đâu, sao gọi là ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 84. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, vậy mình lấy
p5
nƣớc có phải là ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 85. Lại có vụ án mới phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 86. Dạ, vụ án đánh cắp đó cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 87. Ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 88. Có cô Thanh không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 89. Cô Thanh lấy nƣớc dƣới sông lên nhà nấu cơm giặt đồ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 90. Lấy nƣớc dƣới sông về tắm là … là … ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 91. Ai nói vậy em? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 92. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 93. Vậy mình lấy nƣớc trong nhà mẹ mình uống, mình có phải ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 94. Dạ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 95. Bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 96. Nhƣng ai cũng có cánh ngƣời ta không chạy xe nữa đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 97. Vậy thì con đƣờng không cần làm luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 98. Cánh có thể bay đi Suối Tiên không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 99. Bay xa quá lỡ mình buồn ngủ thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 100. Làm ống hút chi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.58) 101. Dạy vẽ à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 102. Trên đời này có học trò lớp Hai nào làm giám đốc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 103. Nhƣng làm đôi cánh có dễ nhƣ suy nghĩ của tôi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 104. Có bằng cấp gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.60) 105. Sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.61) 106. Chế nhƣ thế nào đây Nam? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 107. Vậy rồi chế cái nhà máy đó thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 108. Nhƣng mà con có thế làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 109. Ba mẹ con làm nghề gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 110. Làm ruộng là làm những gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 111. Mẹ mình làm gì à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 112. Cấy giậm là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 113. Là giậm giậm xuống lúa hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 114. Nhỏ lúa trên đất ngƣời ta trồng lên đất mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 115. Nói sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65)
p5
116. Vậy sao không để nó y nhƣ cũ, nhổ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 117. Em thấy ổn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 118. Hƣng Mặt Bành có vác mấy bao lúa nổi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.66) 119. Ủa ai nói với em núi Cấm có miệng rồi còn có tay nữa? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.68) 120. Có phải em sinh ra ở Chợ Vàm không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.69) 121. Có phải em ăn cơm và uống nƣớc trên đất Chợ Vàm không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 122. Vậy Chợ Vàm có phải rất giống mẹ em không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 123. Còn ba mẹ cô Thanh là ai, cái bà mẹ bự chảng không có tay mà có thể đẻ rồi ai nuôi cô Thanh hồi đó đó? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 124. Mai thằng Quý nó có bỏ lớp chạy đi kiếm Nội nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 125. Chuyện này cô Thanh phải làm sao dỗ thằng Quý đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.72) 126. Chuyện này cô Thanh phải làm sao dỗ thằng Quý đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.73) 127. Rốt cuộc đƣờng nào lên trời? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 128. Quý, đƣờng lên trời chỗ nào, dắt mọi ngƣời tới đo đi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 129. Mây là vầy sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 130. Vậy rồi sao mà mình cỡi lên đó bay đi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 131. Ai cỡi lên mây bay đƣợc hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 132. Ở trong đó có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 133. Chắc là ghê lắm? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 134. Phải nó có mấy con ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 135. Có thấy ông Bác Vật Lang không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 136. Những con rắn làm đá mòn hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 137. Da ông cọp mềm nhƣ lông mèo sao bào mòn đá đƣợc ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 138. Ổng cọp là đàn ông hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 139. Cái mà cũng gọi là ổng hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 140. Bạn có hình dung nó sẽ nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.80) 141. Thiệt không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.81) 142. Nơi nào có ngƣời quen nơi đó có gì đáng sợ đâu, phải
p5
4 Tiền 105
của
thần
cây
không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 143. Chui vào hang thấy thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82)\ 144. Hai đứa đi đâu vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 145. Mình làm một cái camera hình con rắn hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 146. Nhƣng rủi cái máy chui vô bụng con cọp rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 147. Cái câu chuyện ông quan thời xƣa có gì xấu đâu, đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 148. Mép là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 149. Lấy lòng là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 150. Phải không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.87) 151. Đôi cánh gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.88) 152. Nó đâu rồi Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 153. Bay về trời đƣợc thiệt hả Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 154. Tầm hồn là gì Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 1. Cũng không có cá mập? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 2. Con cá sấu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 3. Mày tính sao Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 4. Không tin à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 5. Ông nội hôm nay cũng chƣa về đâu đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 6. Vì sao ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 7. Con chết rồi hà ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 8. Còn nhớ không ông? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 9. Con không đi tàu bè, không qua sông sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.21) 10. Con không đi tắm biển luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 11. Mày cũng không thích tao xuống sông phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 12. Mày còn dám đi tắm xong nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 13. Có cách khác sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 14. Anh Bòn Bon có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 15. Bé Hai có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 16. Nhƣng có biết lội không mà đòi đi xuồng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 17. Lội à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 18. Em đi tắm một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 19. Bé Hai …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.30) 20. Nhƣng sao bé Hai nhỏ xíu lại biết lội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.31) 21. Liệu Bòn Bon có tập đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34)
p5
22. Bòn Bon sẽ chìm xuống nƣớc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 23. Nội ơi, liệu con có thể nổi trên nƣớc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 24. Lẽ nào con không bị chìm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 25. Đấy đấy, thấy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 26. Mày đừng có dạy đời tao nữa đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 27. Mày đi nổ với mấy thằng Củ Cải về vụ tàng hình đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.43) 28. Lỡ tụi nó bắt nhốt làm chết Ban Đêm rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.47) 29. Nội ơi Ban Đêm đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.52) 30. Trụng nƣớc sôi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 31. Tại sao mày lại trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 32. Mày có biết tao lo lắng cho mày lắm không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 33. Đấy, chửi nó có phải oan không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.55) 34. Nhƣng nó trốn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 35. Nhƣng sao lần này con giận dai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 36. Ban Đêm xuống quán thịt cầy làm gì ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 37. Sao lại làm thịt Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 38. Sao lại ăn thịt một ngƣời bạn tốt? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.60) 39. Lên ti vi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 40. Nhƣng rủi ban đêm chạy ra ruộng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 41. Sao lại tại con? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 42. Làm sao để Ban Đêm về nhà mình y nhƣ hồi trƣớc hả ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 43. Nó phải làm sao để ông nội đừng buồn hiu nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.65) 44. Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.66) 45. Bòn Bon làm cách nào để mọi ngƣời nói Ban Đêm là một con ngƣời? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.69) 46. Mày nhìn đi, nhìn kỹ đi, có chỗ nào nó không phải là con chó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 47. Rủi ngƣời đó phe của chú rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 48. Ngoài họ ra còn ai chịu coi Ban Đêm là ngƣời…? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 49. Anh cũng điên nhƣ hai thằng khùng này sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 50. Anh hỏi tôi có chỗ nào nó không phải là con chó đúng
p5
không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 51. Nếu đó là lợi ích của anh, anh có thể bỏ qua không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 52. Ngƣời ta đã đƣa anh một con gà trống mà sao bữa nay còn lật lọng?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 53. Một là tiền, hai là bị đập cho vài len, anh chọn cái nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 54. Con không hiểu gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 55. Ngƣời tốt sao lại muốn giết Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 56. Có khi nào mọi sự trùng hợp y rang vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.80) 57. Con khổ lắm má biết không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.83) 58. Mày nghĩ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.84) 59. Mà sao cô lại khóc nhỉ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.86) 60. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.92) 61. Ử, ong vò vẽ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.92) 62. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 63. Ử, hai vít ngay chân mày? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 64. Ai đã phát hiện ra hộp vàng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 65. Ai lại có khả năng tàng hình trƣớc mắt ông nội và trƣớc mắt bầy ong vò vẽ để rinh hết vàng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 66. Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 67. Bốn mƣơi năm sau khi con bằng nội, nó vẫn còn sống đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.96) 68. Con thấy dạo này nó đã yếu đuối hay kiếm chỗ nằm nghỉ rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 69. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 70. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 71. Có cách nào không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 72. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 73. Ví dụ cái máy điện thoại là ba triệu thì nó có mấy cái máy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.99) 74. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.101) 75. Cái hốc có ổ ong chỗ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.102) 76. Mày giấu cái gì?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.104) 77. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.105) 78. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 79. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 80. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107)
p5
5 Những 125
cậu bé
mặt
trời
81. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 82. Cây nó lấy vàng của ông nội rồi nó trả tiền? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 83. Hai trăm cái máy điện thoại chẳng lẽ có bao nhiêu thôi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 84. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 85. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 86. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 87. Nhƣng tiền không tự lên đó đúng không? Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 88. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 89. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 90. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 91. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 92. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 93. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 94. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.112) 95. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.112) 96. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 97. Còn cái máy này? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 98. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 99. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 100 - Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 101. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 102. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 103. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 104. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 105. Hai đứa nó có đủ tiền chuộc chiếc xe hay không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.118) 1. Lý do vì sao nó lại dị ứng với chuyện rất riêng tƣ của Tì Ti? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.3) 2. Mày nghĩ má sẽ phát hiện ra không, sẽ buồn không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 3. Ngày Tết làm sao để má không buồn?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 4. Đôi dép của má mày cho à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 5. Mày quăng rồi, mày hỏi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7)
p5
6. Hổng lẽ biểu tao nói nhớ mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 7. Mắc mớ gì mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 8. Mày câm rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 9. Vậy mình nên làm gì để đỡ nhớ má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) 10. Thằng Hà chịu quét không?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10) 11. Con sao vậy?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11) 12. Có chuyện gì buồn hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11) 13. Mà nhìn thấy cô lo cho mấy đứa mồ côi, lo làm công quả trong chùa, má cô chắc vui lắm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13) 14. Má có nhìn thấy đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13) 15. Mày đi đâu đây? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 16. Mày định làm lớp trƣởng cái chùa này à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 17. Con ghét thằng Hà nhiều lắm đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.15) 18. Bộ … con cô cũng hƣ hỏng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 19. Cô Mai nhìn thằng Hà bị phạt hết ngày này tới ngày khác, cô đau tới mấy trăm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 20. Sao mày lại không thƣơng mẹ của mày?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 21. Sao kì vậy?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 22. Con, hôm nay sao con ghé chùa sớm vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 23. Cô Mai có làm xấu xã hội không con? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 24. Con thấy tám nay nay nó có học đƣợc gì không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18 25. Con có thể làm gì giúp cô không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 26. Lúc không có hai đứa con biết mẹ làm sao không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 27. Mẹ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 28. Chèn, mẹ đóng kịch một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 29. Mẹ đang vậy thật à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 30. Giờ mẹ có cần con làm quân sĩ không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 31. Xong chƣa anh Hai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25) 32. Bé Châu? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27) 33. Bệnh mới hết hả nhóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.33) 34. Con làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 35. Con ghét nó à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 36. Nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 37. Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34)
p5
38. Con đặt tên nó vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 39. Mà sao chú không đánh? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 40. Đánh ai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 41. Chú không tiếc con diều đẹp của con chú à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 42. Vì sao con ghét Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 43. Không tại con thì tại ai bây giờ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36) 44. “Mây giám sao?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 45. Má có thấy chuyện này không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 46. Con thức chi sớm vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38) 47. Chƣa có chuyện gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38) 48. Bé Thi đâu có tè dầm mà chiếu ƣớt nhẹp vậy Nhã? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 49. Ngƣời ta là học sinh giỏi đó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 50. Có phải tình cờ thằng Thuận cũng chiêm bao rồi tới nhà gặp lúc Nhã đang …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 51. Cô biểu nó chú ý chuyện gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.42) 52. Em không nhớ bữa cơm nhà em có gì à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 53. Ba thích ăn món gì hả má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 54. Con hỏi chi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 55. Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 56. Nóng lắm không con? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.45) 57. Mầy có cầm đi không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.46) 58. Con thấy gì hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.49) 59. Cô cũng có lúc sai lầm hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 60. Cô mắc công chuyện hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 61. Ba cô đánh má cô hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 62. Sao mà đƣợc nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 63. Lớn lên mình sẽ nghĩ khác hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 64. Thế, một ngƣời phụ nữ đã có chồng vẫn còn tê dâm thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 65. ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 66. Thật sao cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52) 67. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53) 68. Ban Đêm, để nội kể? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 69. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 70. Hai vít ngay chân mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 71. Ai đã phát hiện hộp vàng? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 72. Ai lại có khả năng tàng hình trƣớc mắt ông nội và trƣớc mắt bầy ong vò vẽ để rinh hết vàng? (Võ Diệu Thanh, 2017,
p5
tr.55) 73. Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.55) 74. Bốn mƣơi năm sau khi con bằng nội, nó vẫn còn sống đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.56). 75. Con thấy dạo này nó đã yếu đuối hay kiếm chỗ nằm nghỉ rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 76. Nó phải chết sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 77. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 78. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 79. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 80. Ví dụ cái máy điện thoại là ba triệu thì nó có mấy cái máy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 81. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 82. Cái hốc có tổ ong chỗ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 83. Mày giấu cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 84. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 85. Của mày sao mày không biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 86. Nhƣng … rủi nó là trái lựu đạn? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 87. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 88. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 89. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 90. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 91. Hai trăm cái máy điện thoại chẳng lẽ có bao nhiêu thôi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 92. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 93. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 94. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 95. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 96. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 97. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 98. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 99. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 100. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 101. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 102. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68)
p5
103. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 104. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.69) 105. Mệt mỏi giống Ban Đêm không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 106. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 107. Nhƣng yêu thƣơng bằng cách gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 108. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 109. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 110. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 111. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 112. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 113. Sao em cứ căng dây kẽm qua đƣờng hoài vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 114. Em biết vậy là vi phạm luật giao thông không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 115. Em còn căng nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 116. Cái này là gì vậy em? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 117. Hình nhƣ em muốn làm cáp treo?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 118. Sao cô biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 119. Mà cáp treo làm nhƣ vầy đúng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 120. Nó căng dây kẽm để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 121. Em muốn đi qua đƣờng bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 122. Bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 123. Mẹ em đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 124. Ý em là em làm cáp treo để đƣa ly cà phê cho khách? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79) 125. Nhƣ vậy chỉ cần đứng một chỗ có thể bán quán đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79)
p5
PHỤ LỤC 6
BẢNG THỐNG KÊ
CÂU HỎI TRONG LỜI ĐỐI THOẠI CỦA NHÂN VẬT TRẺ EM
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
Dẫn chứng Số lần Stt Tên
tác
phẩm
1 Siêu 1. Nhƣng mà sao cô lại ra đây? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.8) 57
nhân 2. Cái gì cƣời, cái gì cƣời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)
cua 3. Cái mặt thằng Hƣng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)
4. Nó sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)
5. Con đi học có thay đồ không Mai? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.15)
6. Con cua nó làm áo con dơ à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15)
7.Ủa mà sao con nhền nhện có càng? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.18)
8.Con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18)
9. Mà sao bạn lại sợ con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18)
10. Sao con cua nó bò lên giƣờng đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.19)
11. Ủa, mà sao bạn ngủ dƣới đất? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)
12. Ai cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)
13. Má làm gì cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)
14. Cái này là cái nhà hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36)
16. Chớ bạn không thấy nó giống cái nhà à? (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.36)
17. Cái nhà này xấu ùi. Phải không Mặt Bành? (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.36)
18. Nhƣng bạn nghĩ sao mà cá lại có nhà? (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.36)
19. Chớ cá không có nhà thì nó ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015,
p6
tr.36)
20. Bạn nghĩ coi, nếu bạn không có nhà thì bạn phải ở đâu, ở
ngoài sân à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36)
21. Nếu bạn không có nhà bạn sống đƣợc không? (Võ Diệu
Thanh, 2015, tr.37)
22. Sao sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.39)
23. Sao cậu vẽ nó không có chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40)
24. Đang bay mà vẽ có chân sao đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.40)
25. Bạn méc cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40)
26. Bạn có nghĩ là chúng tôi gặp lại nó không? (Võ Diệu Thanh,
2015, tr.51)
27. Em đã bắt hết cua chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53)
28. Gọi là thằng cua à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54)
29. Con ma tóc dài mà nó sợ đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.54)
30. Con cua đi học à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54)
31. Khoan khoan, cho cô hay, mấy đứa đang nói về một thằng
nhóc phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)
32. Nó tên Cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)
33.Là sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)
34. Kiếm ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58)
35. Con chặt nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63)
36. Đánh bạn là xấu phải không thầy, là thầy không thƣơng nữa
phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69)
37. Hồi nãy thằng nào dám kêu thầy đánh tao sƣng cái mông?
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69)
38. Xấu rồi có chết đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70)
39. Mày nhìn cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)
40. Nhìn hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)
41. Tao thấy rõ ràn còn chối hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)
42. Bạn cũng thấy vậy đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015,
p6
tr.76)
43. Hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.77)
44. Vì nó không thích cô? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80)
45. Rồi ăn xong làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80)
46. Sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.86)
47. Giận cô Thanh hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)
48. Cô Thanh thù vặt hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)
49. Nhƣng sao bạn không đƣợc thi? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.89)
50. Nhƣng mà không giận cô Thanh sao bữa đó con lại khóc?
(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)
51. Ơ, giận tôi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)
52. Vấn đề gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92)
53. Bạn cũng công nhận đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015,
tr.92)
54. Sao bạn dám nói nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)
55. Chú bạn dám nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)
56. Bạn cũng dám nói vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)
57. Vậy theo con, cô Thanh có vấn đề về mĩ thuật không? (Võ
Diệu Thanh, 2015, tr.94)
2 Bảng 1. Sao mẹ lại lấy nón bảo hiểm đi xúc gạo? (Võ Diệu Thanh, 95
đỏ cho 2016a, tr.11)
xứ 2. Chƣng diện thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24)
Bìm 3. Vậy gọi là yêu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24)
Bìm 4. Chiêm bao à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.25)
5. Cậu có bạn gái chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26)
6. Nơi đó là thiên đƣờng thật đúng không Mèo ma? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.32)
7. Xứ đó liệu ngƣời ta có ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.33)
8. Cậu có đến Bồ Câu bao giơ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
p6
tr.34)
9. Sao cậu rành vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34)
10. Thế cái ổ khóa phải làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.38)
11. Chợ ngƣời chết hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39)
12. Đấy là xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39)
13. Mèo nghĩ Dƣa Leo làm gì vơi con ve? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.45)
14. Cậu phản đối vụ gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47)
15. Cậu làm thật à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47)
16. Cụ không có con mắt à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
17. Cậu là ngƣời xứ Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
18. Sao cụ biết? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
19. Gặp tôi à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
20. Sao cụ nói gặp rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
21. Cậu thấy vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
22. Chớ cụ không thấy mình quá vô duyên à? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.56)
23. Ba lần cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)
24. Cậu bao nhiêu tuổi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)
25. Mƣời … Mà cụ biết tuổi tôi làm quái gì? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.57)
26. Cậu biết con mắt để làm gì không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.57)
27. Tôi sai chỗ nào à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)
28. Tôi mà giống họ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)
29. Sao cậu lại nói năng nhƣ thế với cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.58)
30. Tớ nói gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58)
32. Đấy, nếu tớ là một chiếc xe có phải cụ tiêu tùng không? (Võ
Diệu Thanh, 2016a, tr.58)
33. Vậy là tớ có lỗi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58)
34. Đi xin mà cũng cần phải có uy tín? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
p6
tr.60)
35. Nhƣng tích phƣớc để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.62)
36. Phƣớc đó ai ban cho? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63)
37. Quan liêu là gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63)
38. Họ đã làm gì con? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.66)
39. Họ nắm con lôi vào đây? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67)
40. Ông có biết con hồi nhỏ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67)
42. Ông sống ở Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68)
43. Ông là ngƣời Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68)
44. Sao ông lại không về Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.68)
45. Vậy hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)
46. Con nghĩ những điều xấu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)
47. Sao mà tiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)
48. Mấy đứa kia có nhƣ con không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.70)
49. Ngủ nhƣ con à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)
50. Không phải, nó có nghĩ học cho dữ thì chỉ có bốn, năm đứa
có chỗ đứng, mấy đứa còn lại cũng rớt xuống cái chỗ không có
gì để làm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)
51. Thế công việc nó đi đâu hết rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.71)
52. Ơ. Công việc nó chạy đƣợc hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.71)
53. Hai câu thơ mà gai góc vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72)
54. Mà con nghĩ có nên hiếu thảo với cha mẹ không? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.72)
55. Bự Đầu thuộc dễ dàng hai câu thơ đó à? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.73)
56. Mà ông nghĩ, sao lại bất công thế? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.74)
57. Con nghĩ ông trời bất công ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)
p6
58. Thế nào là công bằng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)
59. Chấm bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)
60. Con định làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)
61. Con có biết nó bao xa không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)
62. Dài cỡ nào hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)
80 – Con có thấy sợ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.78)
63. Sao họ quan tâm đến xứ Bìm Bìm vậy ông? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.79)
64. Sao ông khóc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.80)
65. Mày nói ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.84)
66. Nhƣ vậy rồi chẳng lẽ không ai bảo vệ ngƣời tốt? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.85)
67. Một con mèo và một thằng khờ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.85)
68. Chẳng lẽ không có cách gì hạ đƣợc chị hả? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.88)
69. Chị Bạch Kim nói chuyện mọi ngƣời sẽ nghe đúng không?
(Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94)
70. Nhanh vậy sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94)
71. Mèo Ma là nhạc sĩ hay là nhà bình luận âm nhạc? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.95)
72. Em kêu bằng nó tức là nó nhỏ hơn em? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.95)
73. Trời, hai ký rƣỡi mà làm nhà văn? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.95)
74. Một con mèo bốn mƣơi hai ký? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.96)
75. Chị sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)
76. Là sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)
77. Bảng đỏ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)
78. Có cái bảng đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)
79. Chẵng lẽ ngoài tất cả những ngƣời đó không còn ai đủ sức
p6
sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.100)
80. Ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)
81. Ông chúa xứ hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)
82. Đo cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)
83. Cậu nghĩ là cậu năng ký lắm rồi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.101)
84. Nhƣng năng hay nhẹ dính gì tới chuyện tớ đi gặp ông Bụng
Cọp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)
85. Ông Bụng Cọp có quyền lực đúng không? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.101)
86. Bao nhiêu ngƣời muốn gặp ổng? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.101)
87. Ổng chịu gặp ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)
88. Mà ví dụ bữa đó ôgn bị ấm đầu, bị tửng từng tƣng nhƣ cậu,
ổng cho vào, ổng có nghe lời cậu không? (Võ Diệu Thanh,
2016a, tr.102)
89. Lẽ nào ông Bụng Cọp chƣa qua xứ Bồ Câu? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.102)
90. Ông ấy vào đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102)
91. Rốt cuộc chú có cho cháu xuông tàu không? (Võ Diệu
Thanh, 2016a, tr.107)
92. Cậu biết viết chữ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.110)
93. Con nói chuyện với ai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.113)
94. Ông ơi, nƣớc mắt ông không có máu, ông đã cạn máu rồi
phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114)
95. Sao lại không phải ngõ cụt hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a,
tr.114)
3 Chúng 121
mình
bay
đầy
trời 1. Vậy tôi sai đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 2. Làm thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 3. Trồng su su trên núi là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 4. Núi thế nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 5. Có giống cái nóc nhà không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 6. Nó giống cái nón lá không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 7. Vậy sao mà trồng cái gì trên đó đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11)
p6
8. Cất nhà đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 9. Bạn chƣa đi núi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 10. Xe chạy trên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 11. Đƣờng chạy lên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 12. Kì vậy ta, chớ ở đó cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 13. Vậy cũng y nhƣ ở đây thôi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 14. Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 15. Rồi con ma đó phải tóc dài không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 16. Ma đầu trọc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 17. Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? (Võ Diệu Thanh, 18. Vậy nếu chế đƣợc cái máy cho nó ăn cơm mà mình mập lên thì tốt quá, đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 19. Trong lúc máy ăn em ngồi dòm miệng à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 20. Bao nhiêu đứa muốn có cái máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 21. Còn Quý? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 22. Cơm mà thèm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 23. Thiệt hả chèn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 24. Loại này bình thƣờng đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21) 25. Chèn ơi, cái máy gì mà khôn thấy ớn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.22) 26. Cô Thanh ơi, phải cái máy của cô không hoạt động không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 27. Mà cô có nhớ cho nó ăn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 28. Vậy bạn phải cất nhà trên cây à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.27) 29. Bạn vẽ siêu nhân chim à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 30. Thiệt hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 31. Vậy làm sao có lông gà đây cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 32. Lấy lông gà làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 33. Cô quên rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 34. Gắn lông chim bay sao đƣợc ông thần? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 35. Sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 36. Mà thử nghĩ coi một đôi cánh lớn nhƣ vầy, ngƣời ta liệu có trồng su su bên sƣờn núi đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 37. Chẳng lẽ “dự án” đôi cánh cho thăng Quý đi đứt? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 38. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 39. Gắn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 40. Gắn trên đầu rồi chong chóng bay lên “nắm đầu” mình lồi lên à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 41. Mà đầu bị lôi lên nhƣ vậy sao mà cúi xuống bẻ su su đƣợc?
p6
(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.39) 42. Nhƣng nếu khép tay lại thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.40) 43. Nội bây giờ đi bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.41) 44. Núi có vồ đá hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 45. Giống trán dồ thằng Nam không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 46. Bạn nói nƣớc mà biết ăn chân à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 47. Nhƣng sao mình uống nƣớc vô bụng, nó không ăn bụng mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 48. Vậy nƣớc ngoài ruộng có độc hả cô? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 49. Rồi liệu đôi cánh đó có thể bay đi xa đƣợc không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 50.. Liệu đôi cánh có nhanh hơn cú nhảy một con cọp không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.49) 51. Mà vồ Cấm có ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 52. Bạn có dám bay qua Vồ Thiến Tuế không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 53. Nhƣng mà rủi con ma nó bay kịp với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 54. Bạn không sợ nó à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 55. Rủi nó ăn thịt bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 56. Ma ăn thịt ngƣời ta nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 57. Nhìn chi vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 58. Mà con ma thật hình dáng nó thế nào, đầu trọc hay tóc dài, hay nó không có đầu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 59. Mà liệu mình có bắt đƣợc tổ chim lấy trứng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 60. Tổ chim tự có mà, đâu có ai đâu, sao gọi là ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 61. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, vậy mình lấy nƣớc có phải là ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 62. Lại có vụ án mới phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 63. Dạ, vụ án đánh cắp đó cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 64. Ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 65. Có cô Thanh không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 66. Cô Thanh lấy nƣớc dƣới sông lên nhà nấu cơm giặt đồ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 67. Lấy nƣớc dƣới sông về tắm là … là … ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 68. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 69. Vậy mình lấy nƣớc trong nhà mẹ mình uống, mình có phải ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 70. Dạ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 71. Bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 72. Nhƣng ai cũng có cánh ngƣời ta không chạy xe nữa đúng
p6
không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 73. Vậy thì con đƣờng không cần làm luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 74. Cánh có thể bay đi Suối Tiên không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 75. Bay xa quá lỡ mình buồn ngủ thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 76. Làm ống hút chi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.58) 77. Dạy vẽ à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 78. Trên đời này có học trò lớp Hai nào làm giám đốc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 79. Nhƣng làm đôi cánh có dễ nhƣ suy nghĩ của tôi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 80. Có bằng cấp gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.60) 81. Sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.61) 82. Chế nhƣ thế nào đây Nam? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 83. Vậy rồi chế cái nhà máy đó thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 84. Nhƣng mà con có thế làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 85. Ba mẹ con làm nghề gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 86. Làm ruộng là làm những gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 87. Mẹ mình làm gì à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 88. Cấy giậm là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 89. Là giậm giậm xuống lúa hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 90. Nhỏ lúa trên đất ngƣời ta trồng lên đất mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 91. Nói sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 93. Vậy sao không để nó y nhƣ cũ, nhổ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 94. Em thấy ổn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 95. Hƣng Mặt Bành có vác mấy bao lúa nổi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.66) 96. Mai thằng Quý nó có bỏ lớp chạy đi kiếm Nội nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 97. Quý, đƣờng lên trời chỗ nào, dắt mọi ngƣời tới đo đi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 98. Mây là vầy sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 99. Vậy rồi sao mà mình cỡi lên đó bay đi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 100. Ai cỡi lên mây bay đƣợc hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 101. Ở trong đó có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 102. Chắc là ghê lắm? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 103. Phải nó có mấy con ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 104. Có thấy ông Bác Vật Lang không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 105. Những con rắn làm đá mòn hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78)
p6
4 Tiền 73
của
thần
cây
106. Da ông cọp mềm nhƣ lông mèo sao bào mòn đá đƣợc ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 107. Ổng cọp là đàn ông hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 108. Cái mà cũng gọi là ổng hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 109. Bạn có hình dung nó sẽ nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.80) 110. Thiệt không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.81) 111. Nơi nào có ngƣời quen nơi đó có gì đáng sợ đâu, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 112. Hai đứa đi đâu vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 113. Mình làm một cái camera hình con rắn hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 114. Nhƣng rủi cái máy chui vô bụng con cọp rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 115. Mép là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 116. Lấy lòng là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 117. Phải không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.87) 118. Đôi cánh gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.88) 119. Nó đâu rồi Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 120. Bay về trời đƣợc thiệt hả Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 121. Tầm hồn là gì Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 1. Cũng không có cá mập? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 2. Con cá sấu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 3. Mày tính sao Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 4. Không tin à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 5. Ông nội hôm nay cũng chƣa về đâu đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 6. Vì sao ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 7. Con chết rồi hà ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 8. Còn nhớ không ông? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 9. Con không đi tàu bè, không qua sông sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.21) 10. Con không đi tắm biển luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 11. Mày cũng không thích tao xuống sông phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 12. Mày còn dám đi tắm xong nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 13. Có cách khác sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 14. Anh Bòn Bon có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 15. Bé Hai có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 16. Nhƣng có biết lội không mà đòi đi xuồng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 17. Lội à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 18. Em đi tắm một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 19. Bé Hai …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.30) 20. Nhƣng sao bé Hai nhỏ xíu lại biết lội? (Võ Diệu Thanh,
p6
2016c, tr.31) 21. Liệu Bòn Bon có tập đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 22. Bòn Bon sẽ chìm xuống nƣớc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 23. Nội ơi, liệu con có thể nổi trên nƣớc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 24. Lẽ nào con không bị chìm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 25. Đấy đấy, thấy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 26. Mày đừng có dạy đời tao nữa đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 27. Mày đi nổ với mấy thằng Củ Cải về vụ tàng hình đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.43) 28. Lỡ tụi nó bắt nhốt làm chết Ban Đêm rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.47) 29. Nội ơi Ban Đêm đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.52) 30. Trụng nƣớc sôi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 31. Tại sao mày lại trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 32. Mày có biết tao lo lắng cho mày lắm không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 33. Đấy, chửi nó có phải oan không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.55) 34. Nhƣng sao lần này con giận dai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 35. Ban Đêm xuống quán thịt cầy làm gì ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 36. Sao lại làm thịt Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 37. Lên ti vi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 38. Nhƣng rủi ban đêm chạy ra ruộng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 39. Sao lại tại con? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 40. Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.66) 41. Rủi ngƣời đó phe của chú rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 42. Anh cũng điên nhƣ hai thằng khùng này sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 43. Anh hỏi tôi có chỗ nào nó không phải là con chó đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 44. Con không hiểu gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 45. Mà sao cô lại khóc nhỉ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.86) 46. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 47. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 48. Có cách nào không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 49. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 50. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.101) 51. Mày giấu cái gì?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.104)
p6
5 Những 67
cậu bé
mặt
trời
52. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.105) 53. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 54. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 55. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 56. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 57. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 58. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 59. Nhƣng tiền không tự lên đó đúng không? Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 60. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 61. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 62. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 63. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 64. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 65. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 66. Còn cái máy này? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 67. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 68. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 69. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 70. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 71. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 72. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 73. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 1. Đôi dép của má mày cho à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 2. Mày quăng rồi, mày hỏi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 3. Hổng lẽ biểu tao nói nhớ mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 4. Mắc mớ gì mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 5. Mày câm rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 6. Vậy mình nên làm gì để đỡ nhớ má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) 7. Mày đi đâu đây? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 8. Mày định làm lớp trƣởng cái chùa này à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 9. Bộ … con cô cũng hƣ hỏng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 10. Cô Mai nhìn thằng Hà bị phạt hết ngày này 11. Con có thể làm gì giúp cô không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 12. Mẹ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 13. Chèn, mẹ đóng kịch một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2017,
p6
tr.19) 14. Mẹ đang vậy thật à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 15. Xong chƣa anh Hai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25) 16. Bé Châu? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27) 17. Nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 18. Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 19. Mà sao chú không đánh? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 20. Chú không tiếc con diều đẹp của con chú à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 21. Không tại con thì tại ai bây giờ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36) 22. “Mày giám sao?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 23. Má có thấy chuyện này không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 24. Ba thích ăn món gì hả má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 25. Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 26. Cô cũng có lúc sai lầm hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 27. Cô mắc công chuyện hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 28. Ba cô đánh má cô hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 29. Sao mà đƣợc nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 30. Lớn lên mình sẽ nghĩ khác hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 31. Thật sao cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52) 32. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53) 33. Ban Đêm, để nội kể? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 34. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 35. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 36. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 37. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 38. Mày giấu cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 39. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 40. Của mày sao mày không biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 41. Nhƣng … rủi nó là trái lựu đạn? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 42. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 43. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 44. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 45. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 46. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 47. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 48. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 49. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 50. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65)
p6
51. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 52. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 53. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 54. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 55. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 56. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 57. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.69) 58. Mệt mỏi giống Ban Đêm không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 59. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 60. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 61. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 62 - Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 63. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 64. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 65. Sao cô biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 66. Mà cáp treo làm nhƣ vầy đúng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 67. Bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78)
p6
PHỤ LỤC 7
PHỎNG VẤN NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
1. Tác giả luận văn:
Dạ chào chị!
Em đã đọc nhiều bài viết về chị và đƣợc biết về tuổi thơ nhọc nhằn của chị. Chị
có thể chia sẻ thêm về tuổi thơ của mình đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến những sáng tác
viết cho thiếu nhi của chị không ạ?
Nhà văn Võ Diệu Thanh (VDT)
Tuổi thơ trẻ con ở nông thôn thời bao cấp thì ai cũng nhọc nhằn. Riêng tôi sự
nhọc nhằn khác hơn nó thiên về tinh thần, thiên về sự khắc nghiệt bởi nội tôi là nạn
nhân của chiến tranh tang tóc. Khổ và đói đè lên ký ức khiến nội tôi gần như chẳng
còn quan tâm tới nghỉ ngơi và giải trí. Nội dùng mình làm tấm gương và tôi trở thành
bản sao của sự cần kiệm gần như khắc khổ. Nhưng điều đó chỉ ảnh hưởng tới trang
văn dành cho người lớn. Với trẻ con tôi dành nhiều sự đồng cảm ở góc nội tâm cô độc
của một đứa trẻ tự kỷ đã may mắn vượt thoát được bức tường mặc cảm nặng nề.
Những nhân vật của tôi được tôi cho bước ra ánh sáng sớm hơn, nhí nhố không giới
hạn và hòa nhập nhẹ nhàng với mọi thứ được mất như một dòng nước mềm dịu mát.
2. Tác giả luận văn:
Hình tƣợng những ngƣời phụ nữ trong các tác phẩm của chị phần lớn là những
ngƣời mẹ nghèo, vất vả mƣu sinh, có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Điều
đáng trân trọng là tấm lòng thƣơng con và cách giáo dục con rất hiệu quả của họ.
Cuộc sống hôn nhân của chị đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến việc xây dựng hình tƣợng
các nhân vật nữ nhƣ: mẹ của Ngàn, mẹ của Tì Ti, mẹ của Mai ?
VDT:
Hình tượng người mẹ trong những tác phẩm thiếu nhi không mang dáng dấp
riêng tôi mà nó là má tôi, chị tôi hay những phụ huynh nào đó tôi từng yêu quý. Bởi
bản thân tôi đã từng thất bại ở thời đầu hôn nhân và thời đầu làm mẹ. Những thất
bại là một vết thương lớn nhưng cũng là một bài học lớn để tôi biết chắc lọc, biết
công nhận những giá trị tích cực tôi nhận từ cuộc sống. Tôi không có cái tôi của
một người mẹ hoàn hảo nên tôi có thể thông cảm được nhiều hình thức mẹ xung
quanh mình. Qua những gì tôi học hỏi được từ những người mẹ tiến bộ mà hình
tượng người mẹ mang nét đẹp lam lũ nhẹ nhàng hơn.
p7
3. Tác giả luận văn:
Một điều rất dễ nhận ra là những bạn nhỏ trong truyện viết cho thiếu nhi của chị
đều đƣợc lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng của ông bà nội. Phải chăng tuổi thơ
đƣợc sống gần gũi với nội đã giúp chị có những trang viết rất ngọt về hình tƣợng
ông nội của Bòn Bon, nội của Quý …?
VDT:
Ông nội là mơ ước của tôi vì ông nội tôi mất khi ba tôi mới tám tuổi. Tôi khát
khao một ông nội điềm đạm, trải đời và minh triết để có thể đồng hành cùng với
những ngỗ ngược nhưng rất đỗi đáng yêu của tuổi thơ. Tôi muốn mọi đứa trẻ đều
được nuôi dạy trong vòng tay rắn rỏi vững vàng nhưng cũng rất đỗi vị tha của
những người đàn ông đã thấu suốt lẽ đời. Tình yêu của người ông đủ lớn để bao
dung nhưng đủ cứng để không ủy mị và hoảng loạn trước những vấp váp mà trẻ con
nào cũng trải. Tôi không muốn gán ghép hình ảnh đó với bà nội vì tôi muốn bà tôi
được sống đúng tự nhiên, nữ tính, hẹp hòi nhưng nhân hậu.
4. Tác giả luận văn:
Trong truyện Siêu nhân cua, cô giáo Thanh hiện lên là một giáo viên luôn hết
lòng vì học sinh. Đƣợc gặp nhà văn Võ Diệu Thanh – cô giáo Thanh ngoài đời, em
cảm nhận rất rõ về sự nhiệt tình và sự tận tụy với nghề của chị. Chị có thể chia sẻ
thêm về những kinh nghiệm trong quá trình làm giảng dạy Mỹ thuật cho học sinh
tiểu học của mình không ạ? Và phải chăng hình tƣợng cô giáo Thanh trong tác
phẩm chính là hình bóng của tác giả?
VDT:
Tôi xây dựng cô Thanh dựa trên chính mong muốn mình về hình tượng cô giáo.
Hầu hết giáo viên đều thương học trò như vậy. Nhưng vì nhiều áp lực cô giáo đôi
khi quên và giận dỗi học trò. Tôi cũng giận hờn này nọ nhưng có lẽ ít hơn đồng
nghiệp vì trong nghề dạy tôi đứng trên bục giảng với tâm thế không gì để mất cũng
không gì để sợ. Tôi thích bản thân mình hồn nhiên nên tôi yêu những nét hồn nhiên.
Tôi cực kỳ thích sáng tạo nên tôi tôn trọng những non nớt rất độc bản của học trò.
Tôi xây dựng chính mình trong Siêu Nhân Cua. Ý đồ là muốn khoe một cô Thanh
rất hiếu động, rất con người chớ không phải đơn thuần là tận tụy.
5. Tác giả luận văn:
p7
Đọc các truyện viết cho thiếu nhi của chị, em rất ấn tƣợng về những bạn nhỏ
với những cái tên rất ngộ nghĩnh nhƣ Tì Ti, Nhóc, Bòn Bon, Củ Cải, Chùa, Nhã,
Quí… Chị muốn gửi gắm điều gì qua việc đặt tên cho các nhân vật nhƣ vậy ạ?
VDT:
Tôi thích những cái tên thuần quê và xưa cũ. Những cái tên gợi về thời thơ ấu
của của một miền đất chân chất. Gọi những cái tên đó tôi dễ hình dung ra những cá
tính trên một bối cảnh phù sa ngọt phủ dầy cây cỏ lá hoa. Đặt đúng tên tôi dễ hình
dung nhân vật mình đang sống trước mặt để mô tả chân thật nhất.
6. Tác giả luận văn:
Viết về trẻ em, điều khiến chị trăn trở là gì ạ?
VDT:
Những bi kịch trẻ em gặp phải hiện nay không phải do đói nghèo, do thiếu cơm
thiếu áo mà là áp lực từ phía cha mẹ. Hầu hết cha mẹ đều có một đến 2 con nên dành
rất nhiều quan tâm cho con. Sự quan tâm không đúng cách dẫn đến cha mẹ khủng
hoảng tinh thần và lan truyền căn bệnh tinh thần cho con. Môi trường tinh thần bị ô
nhiễm. Những đứa trẻ bị nhiễm độc tinh thần từ cha mẹ đã đem tâm trạng cộc cằn đó
đến lớp. Nếu giáo viên không hiểu, không ý thức lành mạnh hóa lớp học mình, với
lượng học sinh bị nhiễm độc tinh thần quá đông bản thân giáo viên cũng bị lây truyền.
Bạo lực học đường có thể diễn ra bất cứ hình thức nào.
7. Tác giả luận văn:
Em đƣợc biết sắp tới chị sẽ cho ra mắt ba truyện tranh gồm: Đến chơi nhà Ông
Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá, Vua bắt trộm. Chị có thể bật mí một chút về nội dung
của ba truyện tranh này đƣợc không ạ?
VDT:
Những mẫu truyện xoay quanh cậu bé Bin ngố và tăng động. Bin ngây thơ có
nhiều suy nghĩ rất riêng đã dẫn đến những hiểu lầm. May mắn Bin có ông nội đồng
hành nên những khó khăn đều được giải quyết mà không làm cậu bé tổn thương.
Những câu chuyện giúp người lớn hiểu hơn về những góc khuất trong tư duy con trẻ
cũng như giúp các bạn nhỏ trân trọng những điều khác biệt của nhau cũng như trân
trọng sự khác biệt của chính mình.
Tác giả luận văn:
p7
Cảm ơn chị về những chia sẻ rất thú vị này. Là một độc giả thích đọc truyện
thiếu nhi, em rất nóng lòng đón chờ những sáng tác mới của chị. Chúc chị thật nhiều
sức khỏe và gặt hái đƣợc nhiều thành công hơn nữa!
An Giang, ngày 12, tháng 3 năm 2022
p7
PHỤ LỤC 8
HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH NHÀ TỚ CÓ NÀNG TIÊN
CÁ CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p8
PHỤ LỤC 9
HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH ĐẾN CHƠI NHÀ ÔNG TIÊN
CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p9
PHỤ LỤC 10
HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH VUA BẮT TRỘM
CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p10
PHỤ LỤC 11
HÌNH ẢNH CÁC BÀI VIẾT CỦA VÕ DIỆU THANH ĐƢỢC IN TRONG SÁCH
TIẾNG VIỆT LỚP 3 TẬP 1, BỘ CHÂN TRỜI SÁNG TẠO
(Bài tập đọc Hoa cỏ sân trường (trang 36, 37 tập 1) với bút danh Võ Diệu Thanh
và Bài tập đọc Ý tưởng của chúng mình trang 76 với bút danh Võ Hồng Thắng)
p11
p11
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p11
PHỤ LỤC 12
VĂN BẢN BÀI THƠ CHÚ ONG BÉ BỎNG
CỦA CÁC ĐỘC GIẢ ĐINH THỊ QUỲNH TRANG VÀ ĐINH HUY HOÀNG
(Bài thơ đƣợc lấy cảm hứng từ truyện tranh
Chú ong bé bỏng của nhà văn Võ Diệu Thanh)
Quả gì màu vàng to thế?
Xin thƣa rằng là quả bí ngô.
Hoa đực của nó ở đâu?
Hoa đực thì có phấn này.
Quả gì mà ngon ngon thế ?
Xin thƣa rằng là quả bí ngô.
Hoa cái của nó ở đâu?
Xem này bầu nhụy của nó to ghê!
Ong vàng bạn đi đâu thế?
Mình đi tìm mật của loài hoa.
Hoa đực hay cái hả ong?
Hoa tƣơi, hoa nào cũng quý bạn ơi!
Vậy thì cùng theo Bin nhé.
Đây nè một vƣờn hoa bí vàng tƣơi
Hoa đực hoa cái liền nhau
Ong bay hút mật thụ phấn cho cây.
What be can you do there?
I can pollinate plants
Wow! I have a pumpkin.
Oh wow! It’s a big pumpkin.
- Tina và Bin 12/7/2021
(Nguồn: bé Đinh Thị Quỳnh Trang (Tina), 10 tuổi, Bình Dƣơng cung cấp)
p12
PHỤ LỤC 13
BẢN DỊCH TIẾNG ANH
TRUYỆN CHÚ ONG BÉ BỎNG CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
Bản dịch tiếng Anh truyện “Chú ong bé bỏng”
Tác giả: Võ Diệu Thanh Ngƣời dịch: Đinh Thị Quỳnh Trang (10 tuổi, Bình Dƣơng)
Bin invites his friend go out to the pumpkin garden. Grandpa planted thousands of pumpkins. With Bin, grandpa is the best person in the world. Bin’s friends are surprised:
- Thousands is a lot, isn’t Bin? - It’s many sizes… my ten fingers.
Bin started the story:
- Back then, I turned into a bee. I flew to the top of the tree, there was a beehive on it.
Bin’s friend told each other: - It’s more correct that Bin flies and then falls in to the ground with a thud.
They don’t believe:
It’s a very funny story, only bees can understand.
- No! I’m a real bee. I’m also pollinate the pumpkin flowers. - What is pollinate? - - Would you believe a boy in grade 1 can fly and even pollinate a pumpkin flower. - Bin probably make it up. - Bin’s friends don’t believe what Bin says.
p13
So Bin brought his friends home to show of his pumpkin. The pumpkin is very big. Grandpa is the pumpkin pollinate by Bin.
- Yes, it was Bin himself who did it by himself. - But how can Bin fly?
Bin’s friends were surprise. The gentle grandpa told the story of Bin. One day, Bin and his grandpa went to the pumpkin garden to water the pumpkin plantes. Bin saw many different pumpkins (male,female) and asked all sort of question. - This pumpkin flower has fruit, the other pumpkin flower is still small, it will take a
few days to bear fruit, right grandpa?
- That’s not it baby. - This flower is called a female flower. The female flower was born with “a small
fruit” just below called the ovary.
- Do you guys know? “the ovary” will later bear fruit.
This flower is a male flower. Male flowers bloom and the wither. It can’t bear fruit. At that time, grandpa ran to the garden to chase the chicken that was pecking a pumpkin in the distance. “Hui! Hui! Whoops! Whoops! Bin looked at the fresh yellow pumpkin flowers very pleased. - Ah! This pumpkin flower can also be cooked. I cut all the play and then brought it back to my mother to cook soup. Monents later, grandpa returned. Bin cut all the male flowers, arranged in a circle full of pumpkin flowers around him.
- Look grandpa, I make the stamen of a giant pumpkin flower!
Grandpa panics: - Oh! Bin don’t cut the male flower. Male flowers contain pollen. The bee will take
the pollen and put it on the female flowers.
- Thanks to the pollen “the ovary” of the young squash grows into a pumpkin. Without pollen, “the ovary” of the young squash will wither and fall. We won’t have any more pumpkins.
Ah, Bin got it. The bee will sit on the male flower to suck nectar. It’s covered in pollen. Then it carries the pollen grains to the pumpkin flower. The pollen grains stick to the tip of the female pistil. From then, the now pumpkin began to grow up. But Bin has already cut all the male flower. So grandpa is in great danger. Bin is very sorry. Fortunately, grandpa thought of a way to save Bin.
(Nguồn: bé Đinh Thị Quỳnh Trang, 10 tuổi, Bình Dƣơng cung cấp)
p13
PHỤ LỤC 14
HÌNH ẢNH PHẦN LỜI BÀI HÁT KHU VƢỜN TRONG MƠ
DO ĐỘC GIẢ NHÍ ĐINH THỊ QUỲNH TRANG
VÀ NHẠC SĨ PHAN VÕ HOÀNG NAM SÁNG TÁC
(Bài hát đƣợc lấy cảm hứng từ truyện tranh Khu vƣờn trong mơ của Võ Diệu
Thanh)
(Nguồn: nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam cung cấp)
p14
PHỤ LỤC 15
HÌNH ẢNH ĐỘC GIẢ HỒ THÚY AN
THAM GIA CUỘC THI ĐẠI SỨ VĂN HÓA ĐỌC
GIỚI THIỆU VỀ TRUYỆN TIỀN CỦA THẦN CÂY CỦA VÕ DIỆU THANH
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p15
PHỤ LỤC 16
HÌNH ẢNH BÀI CẢM NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ
SAU KHI ĐỌC TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
p16
(Nguồn: tác giả luận văn chụp)
p16
PHỤ LỤC 17
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH
Hình ảnh nhà văn, cô giáo Võ Diệu Thanh cùng học sinh trƣờng Tiểu học C,
Chợ Vàm, Tân Phú, An Giang
p17
Hình ảnh nhà văn, cô giáo Võ Diệu Thanh cùng học sinh trƣờng Tiểu học C,
Chợ Vàm, Tân Phú, An Giang xuất hiện trong phim tƣ liệu Từ nơi tận cùng trên
VTV1
(Nguồn: Nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p17
(Hình ảnh tác giả luận văn chụp cùng nhà văn Võ Diệu Thanh và nhân vật Chùa
(Khánh Hƣng ngoài đời) trong truyện Quà tặng của ngày mai
(Từ trái qua: nhà văn Võ Diệu Thanh – Khánh Hƣng – Tác giả luận văn)
p17
(Hình ảnh tác giả luận văn cùng con trai, Út Tiền và Khánh Hƣng )
(Hình ảnh nhà văn Võ Diệu Thanh cùng độc giả và nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam)
Từ trái qua: Đinh Thị Quỳnh Trang – nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam
– nhà văn Võ Diệu Thanh – Đinh Huy Hoàng (Nguồn: tác giả luận văn chụp)
p17
PHỤ LỤC 18
HÌNH ẢNH CÁC GIẢI THƢỞNG NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH ĐẠT ĐƢỢC
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhất Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa (năm 1994)
của nhà văn Võ Diệu Thanh
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Khuyến khích Cuộc thi sáng tác văn học tỉnh An
Giang kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ Quốc (năm 1994)
của nhà văn Võ Diệu Thanh
p18
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải C Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 2009
của nhà văn Võ Diệu Thanh
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Ba Cuộc thi sáng tác ca cổ, dân ca
ca ngợi hình tượng người phụ nữ An Giang qua các thời kỳ (năm 2010)
của nhà văn Võ Diệu Thanh
p18
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhì Cuộc thi truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long
lần thứ IV - 2011 của nhà văn Võ Diệu Thanh
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhất Cuộc thi truyện ngắn Yume 2011
của nhà văn Võ Diệu Thanh
p18
Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Ba – Dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam
2013 – 2015 của nhà văn Võ Diệu Thanh
Hình ảnh giải thƣởng Tạp chí Hội Nhà văn Việt Nam
và Tạp chí Văn nghệ Quân đội khen tặng nhà văn Võ Diệu Thanh
(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)
p18
PHỤ LỤC 19
TRANG BÌA CÁC TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH
ĐƢỢC KHẢO SÁT TRONG LUẬN VĂN
(Nguồn: tác giả luận văn chụp)
p19

