ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

LÊ THỊ HÒA

NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI

CỦA VÕ DIỆU THANH

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƢƠNG – 2022

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

LÊ THỊ HÒA

NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI

CỦA VÕ DIỆU THANH

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI THANH TRUYỀN

BÌNH DƢƠNG – 2022

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Lê Thị Hòa, cam đoan rằng:

Những nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu của

riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Bùi Thanh Truyền.

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác khi sử dụng trong luận văn đều

đƣợc trích dẫn đầy đủ về nguồn gốc (tên tác giả, tên công trình, thời gian, hình thức

công bố).

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy chế

đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Tác giả luận văn

Lê Thị Hòa

i

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Bùi Thanh Truyền

đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Viện Sau đại học, Chƣơng trình Văn học Việt

Nam Trƣờng Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình

học tập và thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, tổ Ngữ văn Trƣờng Trung học phổ thông

Trần Văn Ơn đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, công việc trong quá trình tôi hoàn

thành chƣơng trình đào tạo và thực hiện luận văn.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà văn Võ Diệu Thanh đã nhận lời mời

phỏng vấn và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình sƣu tầm tƣ liệu nghiên cứu.

Xin cảm ơn nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam cùng bé Đinh Thị Quỳnh Trang đã

cung cấp hình ảnh, tƣ liệu để tôi có thêm cơ sở trong việc đƣa ra những nhận định,

đánh giá về truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ tôi để

tôi có thêm động lực hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.

Trân trọng!

Tác giả luận văn

Lê Thị Hòa

ii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

vi DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

vii DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1

1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................ 1

2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................................... 3

3. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 8

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9

5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................................. 10

6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................................ 11

7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................................ 11

NỘI DUNG ........................................................................................................................ 13

Chƣơng 1 ........................................................................................................................... 13

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................................................................. 13

1.1. Một số khái niệm liên quan ...................................................................................... 13

1.1.1. Văn học thiếu nhi ............................................................................................... 13

1.1.2. Nhân vật văn học ............................................................................................... 15

1.1.3. Trẻ em ................................................................................................................ 16

1.1.4. Nhân vật trẻ em .................................................. Error! Bookmark not defined.

1.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam ................................................. 17

1.2.1. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trước 1945 ........................................ 17

1.2.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi từ 1945 đến 1975 .............................. 20

1.2.3. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi sau 1975 ............................................ 24

1.3. Nhà văn Võ Diệu Thanh và truyện viết cho thiếu nhi ............................................. 28

1.3.1. Cuộc đời và văn nghiệp của Võ Diệu Thanh ..................................................... 28

1.3.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh ................................................... 34

1.3.3. Nhân vật trẻ em – một yếu tính của đường văn Võ Diệu Thanh ....................... 36

* Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................................ 38

iii

Chƣơng 2 ........................................................................................................................... 40

CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRẺ EM ................................................................................. 40

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH ..................... 40

2.1. Nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng .................................................................... 41

2.1.1. Ngây thơ, xinh xắn ............................................................................................. 41

2.1.2. Vô tư, thân thiện................................................................................................. 43

2.1.3. Tinh nghịch, dí dỏm ........................................................................................... 45

2.2. Nhân vật trẻ em bất hạnh ......................................................................................... 49

2.2.1. Mồ côi, nghèo, thất học ..................................................................................... 49

2.2.2. Yểu mệnh, tật nguyền ......................................................................................... 52

2.2.3. Nạn nhân của bạo lực gia đình .......................................................................... 55

2.3.4. Nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục .................................................. 59

2.3. Nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu ........................................................................ 62

2.3.1. Yêu thiên nhiên .................................................................................................. 62

2.3.2. Yêu thương con người ........................................................................................ 65

2.3.3. Yêu thương loài vật ............................................................................................ 72

2.4. Nhân vật trẻ em với khả năng đặc biệt ..................................................................... 74

2.4.1. Thông minh, ham học hỏi .................................................................................. 74

2.4.2. Tài năng thiên bẩm ............................................................................................ 77

2.4.3. Khả năng lạ thường ........................................................................................... 79

* Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................................ 81

Chƣơng 3 ........................................................................................................................... 82

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẺ EM ................................................... 82

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH .................... 82

3.1. Xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách .................................................. 82

3.1.1. Cách đặt tên nhân vật ........................................................................................ 82

3.1.2. Cách miêu tả ngoại hình nhân vật ..................................................................... 87

3.1.3. Cách miêu tả hành động nhân vật ..................................................................... 90

3.1.4. Cách miêu tả tâm lí nhân vật ............................................................................. 93

3.2. Xây dựng nhân vật trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật ............................................... 95

3.2.1. Ngôn ngữ tả ....................................................................................................... 95

3.2.2. Ngôn ngữ kể ....................................................................................................... 97

3.2.3. Ngôn ngữ đối thoại .......................................................................................... 101

3.2.4. Ngôn ngữ độc thoại.......................................................................................... 105

3.3. Xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu trần thuật ............................................. 108

3.3.1. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo .................................................................... 108

iv

3.3.2. Giọng điệu xót xa, thương cảm ........................................................................ 109

3.3.3. Giọng điệu chế giễu, mỉa mai .......................................................................... 110

3.3.4. Giọng điệu suy tư, triết lí ................................................................................. 112

3.4. Xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ thuật ...................... 115

3.4.1. Không gian nghệ thuật ..................................................................................... 115

3.4.1.1. Không gian trường học ............................................................................. 115

3.4.1.2. Không gian gia đình .................................................................................. 116

3.4.1.3. Không gian sông nước .............................................................................. 119

3.4.2. Thời gian nghệ thuật ........................................................................................ 121

3.4.2.1. Thời gian tuyến tính .................................................................................. 121

3.4.2.2. Thời gian đảo tuyến ................................................................................... 124

3.4.2.3. Thời gian tâm trạng .................................................................................. 126

* Tiểu kết chƣơng 3 ...................................................................................................... 128

KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 130

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ............................................................. 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 134

PHỤ LỤC

v

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

Nxb Nhà xuất bản

tr. Trang

Stt Số thứ tự

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Stt Tên bảng Trang

2.1 Thống kê số lƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi 39

của Võ Diệu Thanh

3.1 Thống kê các cách định danh nhân vật trong truyện viết cho thiếu 81

nhi của Võ Diệu Thanh

3.2. Thống kê câu hỏi trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh 102

3.3. Thống kê trạng từ chỉ thời gian trong truyện viết cho thiếu nhi của 120

Võ Diệu Thanh

vii

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong nền văn học Việt Nam.

Bắt rễ từ cội nguồn văn hóa, văn học dân gian, văn học thiếu nhi là bầu sữa tinh thần

nuôi dƣỡng, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ. Không chỉ vậy, văn học thiếu nhi còn góp phần

quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Trong

văn học thiếu nhi, các tác phẩm văn xuôi chiếm số lƣợng lớn. Sự góp mặt của nhiều

cây viết tài năng nhƣ Tô Hoài, Võ Quảng, Đoàn Giỏi, Nguyễn Thi, Vũ Tú Nam,

Nguyễn Quang Sáng, Phùng Quán, Trần Hoài Dƣơng, Quế Hƣơng, Nguyễn Nhật Ánh,

Nguyễn Ngọc Thuần, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tƣ, Mai Bửu Minh, Văn Thành

Lê… đã làm cho mảng văn xuôi thiếu nhi ngày càng khởi sắc.

1.2. Nhân vật là linh hồn của tác phẩm văn học. Trong truyện viết cho thiếu

nhi, hình tƣợng nhân vật trẻ em giữ vị trí trung tâm. Bản thân mỗi đứa trẻ là một thế

giới luôn vận động và khó nắm bắt. Mỗi nhà văn khi viết về đề tài nhân vật trẻ em, lại

có những cách thể hiện rất riêng. Điều đó làm cho hình tƣợng nhân vật trẻ em nhân vật

trẻ em hiện lên thật chân thực, gần gũi, sinh động. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng tâm

sự: “Viết cho trẻ con bao giờ cũng khó, ai chơi được với trẻ con thì tâm phải trong vắt

thì mới chơi với trẻ được. Và người viết cho trẻ con phải là người hiểu biết rất nhiều

về đời sống của trẻ và cả đời sống của người lớn nữa. Một tác phẩm đặc sắc viết cho

trẻ con phải là một tác phẩm mà trẻ con và người lớn đọc đều thấy thích. Bởi vì trong

bất cứ một đứa trẻ nào cũng có một người lớn đang hình thành, và trong bất cứ người

lớn nào cũng có một đứa trẻ không bao giờ già đi” (Bảo Thoa, 2020).

1.3. Võ Diệu Thanh bén duyên với văn chƣơng từ rất sớm. Độc giả biết nhiều

đến chị từ cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ IV do Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với Báo

Tuổi Trẻ, Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2010. Trong

cuộc thi này, chị đã giành đƣợc giải Nhì với tập truyện Cô con gái ngỗ ngược. Sau

thành công bƣớc đầu, Võ Diệu Thanh liên tiếp ra mắt bạn đọc nhiều tác phẩm với

nhiều thể loại, nhiều đề tài khác nhau. Sau gần ba mƣơi năm cầm bút, Võ Diệu Thanh

đã khẳng định bút lực của mình trên văn đàn. Đặc biệt, nhà văn dành nhiều tâm huyết

cho mảng văn học thiếu nhi. Theo chị, văn học thiếu nhi đóng vai trò rất quan trọng

đối với quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Chị tâm sự: “Văn học thiếu nhi không

chỉ là phương tiện tốt nhất giúp các em tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời

1

sống mà còn là món ăn tinh thần bổ ích nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển toàn diện về

nhân cách cho các em” (Lê Hoa, 2015).

Trẻ em là hình tƣợng nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh.

Những truyện tranh nhƣ: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu vườn

trong mơ đƣợc in khổ lớn và có mặt trong các tủ sách thƣ viện của các trƣờng tiểu học.

Điều đó cho thấy, các sáng tác cho thiếu nhi của chị đƣợc các bạn nhỏ đón nhận nồng

nhiệt. Bằng trái tim nồng ấm yêu thƣơng của một ngƣời mẹ hiền hậu, bằng nhiệt huyết

gieo con chữ của một cô giáo tài năng, nữ văn sĩ đã viết những trang văn rất đời, rất

tình. Những trang viết của chị, đặc biệt là những sáng tác viết cho thiếu nhi đã chạm

đến trái tim của cả độc giả khắp cả nƣớc. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

đa dạng, phong phú về thể loại. Những tác phẩm viết về thiếu nhi của tác giả chứa

đựng giá trị giáo dục sâu sắc. Không chỉ góp phần giáo dục nhân cách, truyện viết cho

thiếu nhi của nhà văn này còn hƣớng đến giáo dục những kỹ năng sống cần thiết cho

trẻ em. Bằng tấm lòng đồng cảm của một ngƣời mẹ, của một cô giáo tiểu học với cái

nhìn đầy trìu mến, chan chứa yêu thƣơng, ngƣời viết đã xây dựng nên thế giới nhân vật

trẻ em trong sáng, hồn nhiên nhƣng cũng chịu nhiều mất mát, thiệt thòi và bất hạnh.

Điều đặc biệt ở cách xây dựng nhân vật trẻ em trong những sáng tác của Võ Diệu

Thanh đó là nhân vật trẻ em với những tính cách, số phận rất riêng, nhân vật trẻ em

gắn liền với không gian sông nƣớc Nam Bộ, nhân vật trẻ em là những cô cậu học trò

cá biệt, nhân vật trẻ em có những khả năng đặc biệt (biết nói chuyện với cỏ cây, động

vật), nhân vật trẻ em có thật ngoài đời thƣờng, đó chính là thần đồng đàn sến Khánh

Hƣng đã từng xuất hiện trên chƣơng trình truyền hình “Biệt tài tí hon năm 2019”. Với

lối viết giản dị, cách miêu tả tinh tế, cách kể chuyện tự nhiên, qua giọng văn nhẹ

nhàng, sâu lắng, Võ Diệu Thanh đã dẫn dắt ngƣời đọc vào thế giới trẻ thơ với những

vui buồn xen lẫn. Lật dở từng trang sách, men theo lời kể của tác giả, dõi theo bƣớc

chân của từng nhân vật, ngƣời đọc sẽ có những giây phút vui cƣời sảng khoái cùng

những đứa trẻ hồn nhiên, tinh nghịch và cũng sẽ có lúc nghẹn ngào quặn thắt trƣớc

những mảnh đời bất hạnh. Truyện viết cho thiếu nhi của chị có ý nghĩa to lớn trong

việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Đọc các tác phẩm, những

độc giả nhỏ tuổi không những có thể mở rộng vốn từ mà còn học đƣợc cách ứng xử

với mọi ngƣời, học đƣợc những kỹ năng cần thiết khi bị đi lạc, khi chơi đùa trên sông

nƣớc. Còn những độc giả lớn tuổi sẽ tìm thấy tuổi thơ của chính mình, sẽ có dịp sống

2

lại những kỉ niệm tƣơi đẹp, thân thƣơng của một thời hồn nhiên, vô lo. Qua những trăn

trở của nhà văn về những nguyên nhân gây ra những khổ cực, bất hạnh của trẻ em, mỗi

thầy cô giáo, mỗi bậc phụ huynh sẽ tìm thấy những triết lí nhân sinh, sẽ nhận ra những

thông điệp nhân văn, sẽ học hỏi đƣợc những phƣơng pháp giáo dục học sinh, giáo dục

con em mình phù hợp nhất.

1.4. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hình tƣợng nhân vật trẻ em. Tuy

nhiên, tính đến nay, vẫn chƣa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hình

tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Xuất phát từ

thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh để nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu làm rõ

những kiểu nhân vật trẻ em, những phƣơng diện xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của tác giả này. Đây sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về hình

tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn một cách bao quát

và chi tiết nhất.

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam

Tìm hiểu về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam, có

rất nhiều công trình nghiên cứu. Đó là những luận án, luận văn, khóa luận, các bài báo

đăng trên các tạp chí văn học. Trong luận văn này, chúng tôi xin giới thiệu một số

công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài nhƣ sau:

Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm trong công trình nghiên cứu Nhân vật

trẻ em trong truyện ngắn cho thiếu nhi thời đổi mới đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn

học số 2 năm 2010 đã đề cập đến các kiểu loại nhân vật trẻ em nhƣ: nhân vật với

những mảnh vỡ tính cách, nhân vật với những xúc cảm mới mẻ, nhân vật trải nghiệm,

nhân vật bi kịch. Các tác giả bài báo đã đi sâu làm rõ những nét mới về hình tƣợng

nhân vật trẻ em trong những truyện ngắn viết cho thiếu nhi từ sau 1986. Bài viết này

giúp chúng tôi có cơ sở khi đánh giá những đóng góp của Võ Diệu Thanh trong việc

nỗ lực cách tân nghệ thuật, tiếp nối xu hƣớng đổi mới của văn học thiếu nhi khi xây

dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em.

Nguyễn Thị Thanh Hƣơng trong luận án Nhân vật trẻ em trong văn xuôi thiếu

nhi Việt Nam (2016) đã đề cập đến hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện thiếu nhi

Việt Nam qua hai giai đoạn: giai đoạn từ 1945 đến 1975 và từ 1975 đến nay. Nhân vật

3

trẻ em đƣợc đề cập đến trong luận án này rất đa dạng, bao gồm: nhân vật chiến sĩ nhỏ

tuổi trong chiến đấu, nhân vật công dân nhỏ tuổi trong sinh hoạt đời thƣờng, nhân vật

nêu gƣơng, nhân vật trẻ em bị ruồng bỏ, nhân vật trẻ em hồn nhiên, thơ mộng, nhân

vật nạn nhân, nhân vật trẻ em trải nghiệm, nhân vật trẻ em với những xúc cảm đầu đời,

nhân vật trẻ em anh hùng lãng mạn. Đây là một công trình nghiên cứu tầm cỡ, công

phu về nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Nhờ đó, chúng tôi trong quá

trình nghiên cứu đề tài của mình có thể học hỏi, tiếp thu đƣợc những kiến thức lý luận

về văn học thiếu nhi và nhân vật trẻ em. Đó là cơ sở vững chắc cho chúng tôi khi đƣa

ra những đánh giá, nhận định về quá trình hình thành và phát triển của văn học thiếu

nhi. Đồng thời, luận án cũng giúp chúng tôi thấy đƣợc vai trò, vị trí của nhân vật trẻ

em trong văn học thiếu nhi, gợi mở hƣớng nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Nguyễn Thị Mộng Thơ trong luận văn Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng

tác của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám 1945 (2011)

đã nghiên cứu hình tƣợng nhân vật trẻ em trên cả hai phƣơng diện nội dung và hình

thức nghệ thuật. Về phƣơng diện nội dung, tác giả luận văn đã làm rõ tính cách, số

phận của nhân vật trẻ em khi đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống và quan hệ với

chính mình. Về phƣơng diện nghệ thuật, luận văn đã đề cập đến nghệ thuật dựng

truyện; ngôn từ nghệ thuật và kết cấu tác phẩm. Công trình nghiên cứu này đã giúp

chúng tôi có cơ sở trong việc khái quát về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học

thiếu nhi từ 1945 đến 1975.

Nguyễn Thị Đài Trang trong luận văn Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn

Nhật Ánh (2013) đã phân loại các kiểu nhân vật trẻ em gồm: nhân vật phù thủy là trẻ

em, thế giới trẻ em bất hạnh đáng thƣơng, thế giới nhân vật trẻ em đƣợc sống đầy đủ

hạnh phúc. Luận văn này cũng đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trên

các phƣơng diện: cách đặt tên, miêu tả ngoại hình, miêu tả tính cách, hành động của

nhân vật, miêu tả trạng thái tâm lí nhân vật. Những phƣơng diện nghệ thuật khác của

tác phẩm nhƣ cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ

thuật không đƣợc đề cập đến trong luận văn này. Tuy vậy, những bài học cuộc sống từ

nhân vật trẻ em và vấn đề tiếp nhận truyện viết cho trẻ em của Nguyễn Nhật Ánh đƣợc

trình bày trong luận văn này đã giúp chúng tôi có thêm căn cứ để làm rõ nét riêng của

Võ Diệu Thanh khi viết về nhân vật trẻ em.

4

Đinh Thị Thu Huyền trong luận văn Nhân vật trẻ thơ trong sáng tác văn xuôi

của Trần Hoài Dương (2016) đã nghiên cứu nhân vật trẻ em trên những phƣơng diện

nhƣ sau: thế giới nhân vật trẻ thơ trong mối quan hệ với hoàn cảnh, thế giới nhân vật

trẻ thơ trong mối quan hệ với chính mình, bài học cuộc sống từ nhân vật trẻ thơ. Công

trình nghiên cứu này đã mở ra một hƣớng đi mới khi tìm hiểu về nhân vật trẻ em khác

với cách phân loại của Nguyễn Thị Thanh Hƣơng (phân loại nhân vật trẻ em theo tính

cách, số phận). Việc tác giả đề cập đến bài học cuộc sống từ nhân vật trẻ thơ là một

đóng góp mới gợi mở cho chúng tôi khi nghiên cứu về chức năng giáo dục trong văn

xuôi viết về thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Vi Thị Thỏa trong luận văn Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện

ngắn của Thạch Lam và Rabindranath Tagore (2018) đã so sánh hình tƣợng nhân vật

trẻ em trong truyện ngắn của hai tác giả nói trên từ đó chỉ ra nét tƣơng đồng về nhân

vật trẻ em đó là: nhân vật trẻ em – hiện thân của sự trong sáng, nhân vật trẻ em – hiện

thân của sự bất hạnh. Hƣớng nghiên cứu này giúp chúng tôi có thêm những cơ sở để

phân loại nhân vật trẻ em trong tác phẩm văn học. Từ đó, chúng tôi có thêm cơ sở

trong việc khái quát về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi và chỉ ra

nét riêng của hình tƣợng nhân vật trẻ em trong sáng tác của Võ Diệu Thanh.

2.2. Nghiên cứu về văn xuôi của Võ Diệu Thanh

Liên tiếp giành đƣợc nhiều giải thƣởng lớn về văn học, những sáng tác của Võ

Diệu Thanh đƣợc công chúng đón nhận đồng nhiệt. Nhiều tờ báo uy tín đã đăng tải

hàng loạt các bài giới thiệu về các tác phẩm của nhà văn tài năng này. Nhiều học viên

cao học, nhiều sinh viên đại học đã chọn các tác phẩm của chị để nghiên cứu. Chúng

tôi xin đƣợc điểm qua một số công trình nghiên cứu, những bài báo tiêu biểu nhƣ sau:

Luận văn Văn xuôi của Võ Diệu Thanh dưới góc nhìn phê bình sinh thái của tác

giả Nguyễn Thị Thu Giang (Trƣờng Đại học An Giang – Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh, 2020). Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn nạn về sinh

thái Nam Bộ, những nỗi bất an sinh thái và chủ trƣơng tái thiết với môi trƣờng chuộc

lỗi với tự nhiên. Tác giả cũng chỉ ra những nét riêng trong văn phong của Võ Diệu

Thanh đó là giọng văn đậm chất triết lí với ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Những đánh

giá của Nguyễn Thị Thu Giang trong luận văn này giúp chúng tôi có thêm cơ sở để đi

sâu nghiên cứu giọng điệu trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

5

Nghiên cứu về văn xuôi của Võ Diệu Thanh phải kể đến luận văn Văn xuôi của

Võ Diệu Thanh từ góc nhìn văn hóa học của Đậu Văn Vinh (Đại học sƣ phạm Thành

phố Hồ Chí Minh, 2020). Luận văn này đã khai thác các tác phẩm của Võ Diệu Thanh

dƣới góc nhìn văn hóa trên các phƣơng diện nhƣ: con ngƣời, biểu tƣợng và ngôn ngữ.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các sáng tác dành cho ngƣời lớn của Võ

Diệu Thanh không trùng với phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, những

đánh giá của Đậu Văn Vinh về con ngƣời, biểu tƣợng và ngôn ngữ trong văn xuôi của

Võ Diệu Thanh đã giúp chúng tôi có thêm cơ sở để chỉ ra những nét riêng giữa những

sáng tác viết cho thiếu nhi với những sáng tác viết cho ngƣời lớn của nhà văn tài năng

này.

Ngoài các công trình nghiên cứu trên, nhiều bài báo đã đăng tải những lời giới

thiệu về cuộc đời, hành trình sáng tác của Võ Diệu Thanh cũng nhƣ giới thiệu những

tác phẩm của chị đến với công chúng. Dƣới đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số bài báo

tiêu biểu.

Trên báo Tuổi trẻ Online đăng ngày 05/03/2013, nhà báo Nghiêm Quốc có bài

viết Nhà văn Võ Diệu Thanh. Tác giả khẳng định “Võ Diệu Thanh là nhà văn trẻ duy

nhất của đồng bằng Sông Cửu Long được Hội đồng chuyên môn và ban nhà văn trẻ

giới thiệu lên ban chấp hành hội và được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm

2012” (Nghiêm Quốc, 2013). Bài báo này giúp chúng tôi có thêm cơ sở để đánh giá về

vai trò của nữ nhà văn này trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.

Trên báo Văn học Sài Gòn Online đăng ngày 13/11/2019, Tiểu Quyên có bài

viết Võ Diệu Thanh: Viết từ cô đơn đỉnh trời. Nhà báo đã đem đến những thông tin

quý giá về cuộc đời của Võ Diệu Thanh. Bài báo nêu rõ nhà văn là một ngƣời trải qua

nhiều nỗi đau, nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Sau tất cả chị đã tìm đƣợc niềm vui

và sự bình yên nơi con chữ. Những thông tin trong bài báo này là tƣ liệu đáng tin cậy

về tiểu sử nhà văn để chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn ngƣời kể chuyện khi xây dựng

hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn xuôi của Võ Diệu Thanh.

Trên báo Tuổi trẻ Online đăng ngày 05/03/2016, Khả Linh có bài viết Nhà văn

Võ Diệu Thanh trò chuyện về "thói tật đám đông". Và Hồ Thúc An trên báo

Zingnews.com đăng ngày 12/03/2016 có bài viết Hành trình đi tìm cái nhìn tích cực

trong cộng đồng. Cả hai tác giả nói trên đều đánh giá cao bút lực mạnh mẽ của Võ

Diệu Thanh. Đồng thời các bài báo cũng gợi mở, giới thiệu về vấn đề đặt ra từ tác

6

phẩm Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm đó là “nhận diện chính mình giữa thói tật đám đông”.

Những thông tin trong hai bài báo này đã giúp chúng tôi có thêm cơ sở để hiểu rõ hơn

về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Ngoài ra, còn nhiều bài báo viết về Võ Diệu Thanh có thể kể đến nhƣ: Dƣơng

Tử Thành trên báo Vnexpress Online ngày 21/9/2011 có bài Võ Diệu Thanh: Quê, cũ

và … quyến rũ. Đỗ Dƣơng trên báo Công an nhân dân Online ngày 19/11/2013 có bài

Nhà văn Võ Diệu Thanh: “Lần đầu thấy trăng” lần đầu tiểu thuyết. Văn Việt trên báo

Tuổi trẻ Online ngày 11/7/2015 có bài Nhà văn Võ Diệu Thanh ra mắt sách cho thiếu

nhi. Trúc Nguyễn trên báo Văn nghệ Online ngày 02/8/2016 có bài Giao lưu với nhà

văn Võ Diệu Thanh và Trần Hùng John. Đoàn Xá trên báo Đại đoàn kết Online ngày

30/11/2016 có bài Nhà văn Võ Diệu Thanh tiếp tục viết truyện thiếu nhi. Công Sơn

trên báo Thanh Niên Online ngày 28/6/2020 có bài Nhà văn đa năng Võ Diệu Thanh.

Quỳnh Anh trên báo Hà Nội mới Online ngày 27/11/2020 có bài Võ Diệu Thanh và

một thế giới khác. Quỳnh Yên trên báo Sài Gòn giải phóng Online ngày 26/3/2021 có

bài Sách “khổng lồ” của nhà văn Võ Diệu Thanh. Trần Quốc Toàn trên báo Thể thao

văn hóa Online ngày 30/3/2022 có bài Gặp lại các tác giả sách giáo khoa: Võ Diệu

Thanh – Hiền hòa và dữ dội. Không quá lời khi nói rằng hầu hết những tờ báo uy tín ở

Việt Nam (Công an nhân dân, Đại đoàn kết, Hà Nội mới, Tuổi trẻ, Thanh niên, Thể

thao văn hóa, Sài Gòn giải phóng, Văn học Sài Gòn, Văn nghệ, Vnexpress,

Zingnews.com) đã có những bài viết về nhà văn đầy tài năng Võ Diệu Thanh. Những

bài báo kể trên đã giúp chúng tôi có thêm những thông tin đáng tin cậy về tác giả để

đƣa ra những nhận định, đánh giá về vai trò, vị trí của nữ văn sĩ trong dòng chảy văn

xuôi đƣơng đại Việt Nam.

2.3. Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

Nghiên cứu về nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh còn rất ít ỏi. Duy nhất có khóa luận Thế giới trẻ thơ trong hai tác phẩm Siêu

nhân cua và Những cậu bé mặt trời của nhà văn Võ Diệu Thanh (Bùi Thị Phƣợng,

2019). Khóa luận gồm các phần chính nhƣ sau:

Chƣơng 1. Đặc điểm thế giới trẻ thơ hai tập Siêu nhân cua và Những cậu bé

mặt trời. Trong chƣơng này, tác giả của khóa luận triển khai thành hai luận điểm: vài

nét về nhà văn Võ Diệu Thanh và hai tác phẩm, những khía cạnh cơ bản của thế giới

7

trẻ thơ trong hai tập Siêu nhân cua và Những cậu bé mặt trời (thế giới trẻ thơ nhìn từ

sự trong trẻo, hồn nhiên; thế giới trẻ thơ nhìn từ nỗi niềm, số phận).

Chƣơng 2. Nghệ thuật thể hiện thế giới trẻ thơ trong hai tập Siêu nhân cua và

Những cậu bé mặt trời. Trong chƣơng này, tác giả của khóa luận triển khai thành hai

luận điểm: nghệ thuật miêu tả (miêu tả thiên nhiên, miêu tả con ngƣời) và ngôn ngữ

nghệ thuật (ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật).

Đây là một bài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên. Do đó, những nghiên cứu

của tác giả mới dừng lại ở phạm vi hẹp (hai tập truyện), những nhận định, đánh giá về

thế giới nhân vật trẻ em và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em mà tác giả trình bày

trong khóa luận này còn sơ lƣợc. Vấn đề nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu

nhi của Võ Diệu Thanh chƣa đƣợc nghiên cứu. Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu này

cũng cung cấp những thông tin cần thiết về cuộc đời và sự nghiệp của Võ Diệu Thanh

cũng nhƣ gợi mở về nhân vật trẻ em để chúng tôi có cơ sở trong việc đi sâu nghiên cứu

đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về những tác phẩm của Võ Diệu

Thanh chƣa nhiều. Những bài báo kể trên mới chỉ dừng lại ở giới thiệu sơ lƣợc, nhận

xét, đánh giá khái quát về tác giả, tác phẩm nhằm quảng bá rộng rãi giúp các sáng tác

của nhà văn đến gần hơn với công chúng. Các khóa luận nghiên cứu về các tác phẩm

của Võ Diệu Thanh có phạm vi nghiên cứu hẹp vì vậy chƣa đánh giá hết đƣợc những

đóng góp của nhà văn trong nền văn học đƣơng đại Việt Nam. Đề tài Nhân vật trẻ em

trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Luận văn

của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về hình tƣợng nhân vật

trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Vì thế, những công trình

nghiên cứu của các tác giả kể trên trở thành tƣ liệu quý giá để chúng tôi thực hiện đề

tài này.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,

chúng tôi hƣớng tới những mục tiêu sau:

- Khảo sát những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

- Phân loại các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh.

8

- Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh.

- Đánh giá vị trí của Võ Diệu Thanh trong văn học thiếu nhi Việt Nam đƣơng

đại.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và làm rõ đối tƣợng nghiên cứu, trong phạm vi của đề

tài, chúng tôi không đi sâu vào việc nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Võ Diệu Thanh

mà chỉ tập trung nghiên cứu các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh:

- Tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, 2014, Hà Nội: Nxb Phụ nữ.

- Truyện dài Siêu nhân cua, 2015, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện dài Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, 2016, Thành phố Hồ Chí Minh:

Nxb Văn hóa – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

- Truyện dài Chúng mình bay đầy trời, 2016, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện dài Tiền của thần cây, 2016, Hà Nội: Nxb Phụ nữ.

- Tập truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, 2017, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện tranh Bí mật bên khóm hoa quỳnh, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện tranh Chú ong bé bỏng, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện tranh Khu vườn trong mơ, 2020, Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

- Truyện dài Quà tặng của ngày mai, 2021, Quảng Nam: Nxb Đà Nẵng.

Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu các truyện viết cho thiếu nhi của các tác

giả trƣớc đó và cùng thời nhƣ: tập truyện ngắn Lá non, truyện dài Miền xanh thẳm của

Trần Hoài Dƣơng, tập truyện ngắn Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng; các truyện dài Kính

vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ của Nguyễn Nhật Ánh; truyện

dài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần; các truyện dài Trên đồi,

mở mắt và mơ, Bên suối, bịt tai, nghe gió của Văn Thành Lê, ... Việc mở rộng phạm vi

khảo sát nhƣ vậy giúp chúng tôi có thêm căn cứ trong việc đánh giá nét giống nhau và

khác nhau giữa hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

9

Thanh với hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của các tác giả

khác. Từ đó, chúng tôi đi đến những kết luận khẳng định nét riêng của Võ Diệu Thanh

khi viết truyện cho thiếu nhi.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu sau:

5.1. Phƣơng pháp tiểu sử

Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để tìm hiểu những yếu tố về quê hƣơng,

xuất thân, hoàn cảnh sống, nghề nghiệp của nhà văn Võ Diệu Thanh. Xem xét, đánh

giá những yếu tố đó có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến cách nhìn, cách miêu tả về nhân vật

trẻ em.

5.2. Phƣơng pháp loại hình

Phƣơng pháp loại hình giúp chúng tôi xem xét sáng tác của Võ Diệu Thanh từ

góc độ loại hình văn xuôi nghệ thuật. Cụ thể khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi luôn

quan tâm đến nghệ thuật tự sự để tìm ra phong cách riêng của nhà văn.

5.3. Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét chung

và nét độc đáo riêng của Võ Diệu Thanh so với các nhà văn đồng đại và lịch đại khi

viết về trẻ em. Cụ thể, luận văn sẽ so sánh hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh với nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của các tác giả khác nhƣ: Trần Hoài Dƣơng, Quế Hƣơng, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn

Ngọc Thuần, Văn Thành Lê, …

5.4. Phƣơng pháp thống kê

Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để khảo sát, phân loại, thống kê ngữ liệu

làm căn cứ khoa học để tìm hiểu về nhân vật trẻ em trong sáng tác viết về thiếu nhi của

Võ Diệu Thanh. Cụ thể, chúng tôi sẽ thống kê các nhân vật trẻ em trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, thống kê các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ nghệ

thuật (từ ngữ, kiểu câu), các chi tiết nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng không gian nghệ

thuật, thời gian nghệ thuật.

5.5. Vận dụng lí thuyết của thi pháp học

Chúng tôi vận dụng lí thuyết của thi pháp học để chỉ ra những phƣơng diện

nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong văn xuôi của Võ Diệu Thanh.

10

5.6. Vận dụng lý thuyết diễn ngôn

Chúng tôi vận dụng lý thuyết này để xem xét, đánh giá cái nhìn của Võ Diệu

Thanh - cái nhìn của một ngƣời mẹ, cái nhìn của một cô giáo về trẻ em.

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng dụng phƣơng pháp tâm lí học trẻ em để tìm

hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ đƣợc nhà văn Võ Diệu Thanh thể hiện trong tác

phẩm. Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác khảo sát, thống kê ở một số

phƣơng diện để đƣa ra những cứ liệu xác đáng nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.

6. Đóng góp mới của luận văn

6.1. Về mặt lí luận

Luận văn phác thảo đầy đủ và hệ thống các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Từ đó, khẳng định phong cách riêng và đóng góp

của nhà văn trên văn đàn.

6.2. Về mặt thực tiễn

Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến văn học

thiếu nhi nói chung, những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nói riêng.

7. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu (11 trang), Kết luận (3 trang), Danh mục các công trình của

tác giả (1 trang), Tài liệu tham khảo (6 trang), Phụ lục (69 trang), phần Nội dung của

luận văn gồm ba chƣơng:

Chƣơng 1: Những vấn đề chung (25 trang)

Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung làm rõ lí thuyết chung về văn học thiếu

nhi, nhân vật trẻ em. Đồng thời, đƣa ra những nhận định khái quát về cuộc đời và sự

nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh, đặc biệt là các sáng tác viết cho thiếu nhi của nhà

văn này.

Chƣơng 2: Các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh (40 trang)

Chƣơng này tập trung tìm hiểu các kiểu nhân vật trẻ em trong các truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nhƣ: Nhân vật trẻ em hồn nhiên trong sáng, nhân vật

trẻ em bất hạnh, nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu và nhân vật trẻ em với khả năng

đặc biệt. Từ đó, chúng tôi đánh giá những bài học về việc giáo dục trẻ em đƣợc nhà

văn gửi gắm trong các tác phẩm.

11

Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh (46 trang)

Trong chƣơng này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu các phƣơng diện nghệ thuật xây

dựng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh nhƣ: nghệ

thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách; nghệ thuật xây dựng nhân vật

trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật; nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu

trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ

thuật.

12

NỘI DUNG

Chƣơng 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Viết về trẻ em là niềm cảm hứng của nhiều nhà thơ, nhà văn. Mỗi tác giả khi

viết về đề tài quen thuộc này đều xuất phát từ tình yêu đối với trẻ em, từ những trăn trở

về tƣơng lai của những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Trong những sáng tác viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật, sinh

động với những tính cách, số phận riêng. Trƣớc khi làm rõ những biểu hiện của vấn đề

này, chúng tôi cần đƣa ra một cách nhìn tổng quan về văn học thiếu nhi nói chung, về

nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam nói riêng. Đồng thời, chúng tôi cũng

giới thuyết những vấn đề liên quan đến tác giả Võ Diệu Thanh và những sáng tác của

chị, đặc biệt là truyện viết cho thiếu nhi. Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn vững

chắc để chúng tôi tiến hành lựa chọn tác phẩm, khảo sát, phân tích, đánh giá hình

tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.1.1. Văn học thiếu nhi

Thuật ngữ văn học thiếu nhi có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Một số nhà

nghiên cứu văn học trên thế giới đã định nghĩa văn học thiếu nhi dựa theo độ tuổi độc

giả. Cách làm này không thỏa đáng bởi có những độc giả nhỏ tuổi lại thích đọc những

truyện vốn dành cho ngƣời lớn và ngƣợc lại. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất

cách hiểu văn học thiếu nhi dựa trên những đặc điểm về nội dung và hình thức của tác

phẩm. Ở Việt Nam, thuật ngữ văn học thiếu nhi đƣợc khẳng định chính danh trong Từ

điển thuật ngữ văn học. Các tác giả của cuốn sách này cho rằng: “Theo nghĩa hẹp, văn

học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành cho thiếu nhi.

Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi

những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của văn

học thiếu nhi” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr. 412 – 413).

Theo Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi “là những

tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm

hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi và nhiều khi, cũng

là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay một con vật, một cái cây… Tác giả

13

của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi

lứa tuổi” (Vân Thanh & Nguyên An, 2002, tr.6).

Nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền trong Thi pháp trong văn học thiếu nhi cho

rằng: “Văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là thiếu

nhi hoặc được nhìn bằng “đôi mắt trẻ thơ” với tất cả những xúc cảm, tình cảm mãnh

liệt, tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em thích thú, say mê và có nội dung hướng

đến việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện nhân cách của

các em thuộc những lứa tuổi khác nhau từ thuở ấu thơ đến suốt cuộc đời” (Bùi Thanh

Truyền, 2009, tr.12).

Một tác phẩm văn học thiếu nhi cần phải đảm bảo những yêu cầu gì và căn cứ

nào để xếp một tác phẩm văn học thuộc bộ phận văn học thiếu nhi cũng còn nhiều vấn

đề đặt ra. Theo chúng tôi, văn học thiếu nhi là những sáng tác do ngƣời lớn hoặc trẻ

em viết cho thiếu nhi, viết về thiếu nhi, có nhân vật trung tâm là thiếu nhi nhằm

hƣớng đến mục đích bồi dƣỡng tâm hồn, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng

sống cho thiếu nhi. Thiếu nhi (bao gồm thiếu niên và nhi đồng) là vừa là chủ thể sáng

tác, đối tƣợng phản ánh vừa là đối tƣợng phục vụ của tác phẩm văn học thiếu nhi.

Hƣớng đến độc giả nhỏ tuổi, văn học thiếu nhi mang những đặc trƣng riêng

khác với văn học ngƣời lớn về ngôn từ, giọng điệu và mục đích phản ánh. Điều làm

nên sự hấp dẫn của văn học thiếu nhi đó chính là cốt truyện phiêu lƣu, nhân vật hành

động và bút pháp kì ảo. Những hình ảnh, ngôn từ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi

gần gũi, thân thuộc gắn bó với thiếu nhi. Đó là những loài vật, sự vật gần gũi, thân

thuộc với các em nhƣ: chó, mèo, gà, lợn, ve sầu, dế mèn, sấm, chớp, mƣa, mặt trời,

mặt trăng. Tác phẩm văn học thiếu nhi mang giá trị giáo dục cao. Đó là những bài học

về việc giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Không chỉ vậy, tác

phẩm văn học thiếu nhi còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thơ, giúp các em

phát huy đƣợc trí tƣởng tƣợng phong phú thông qua hệ thống ngôn từ đơn giản, chuẩn

mực, giàu hình ảnh, đậm chất nhạc, chất họa. Đọc tác phẩm văn học thiếu nhi, độc giả

nhỏ tuổi sẽ tìm thấy sự gần gũi giữa bản thân mình với các nhân vật về ngôn ngữ, về

cách nghĩ, cách hành động. Còn những độc giả lớn tuổi – những ngƣời từng là thiếu

nhi, không những sẽ tìm lại hình bóng tuổi thơ của chính mình mà còn rút ra những bài

học trong việc giáo dục con em của mình. Nhà văn Văn Thành Lê – tác giả của bốn

truyện viết cho thiếu nhi (Ông mặt trời và mùi hương của mẹ; Nam, Nhi, Đại, Trượng,

14

Phu; Trên đồi, mở mắt, và mơ; Bên suối, bịt tai, nghe gió”) tâm sự: “Viết cho thiếu nhi

là cách để tôi được tắm nhiều lần trên dòng – sông - tuổi - thơ” (Nguyên Thảo, 2022).

Vì vậy, có thể nói tác phẩm văn học thiếu nhi không chỉ dành riêng cho các bạn nhỏ

mà còn dành cho tất cả mọi ngƣời.

1.1.2. Nhân vật văn học

Phƣơng Lựu trong Lí luận văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là một hình

tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra”. “Nhân vật văn học là con

người thể hiện bằng phương tiện văn học” (Phƣơng Lựu, 2006, tr.279). Các tác giả Lê

Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho

rằng: “Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một

con người cụ thể nào, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Nhân vật

văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con

người có thật trong đời sống” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr.235).

Các nhà nghiên cứu văn học đã phân loại nhân vật theo nhiều loại khác nhau.

Trần Đình Sử trong Giáo trình Dẫn luận thi pháp học cho rằng: “Để xác lập loại hình

nhân vật người ta chia ra nhân vật chính, phụ, nhân vật chính diện, phản diện. Người

ta còn phân biệt nhân vật “dẹt” và nhân vật “tròn”, tức là phiến diện, nghèo nàn, hay

đầy đặn, đa diện (E. M. Forster). Có người phân biệt nhân vật trữ tình, nhân vật động

(T. Docherty). Về mặt cấu trúc có người chia ra nhân vật mặt nạ, nhân vật loại hình,

nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng (L. Ghindơbua)” (Trần Đình Sử, 2007, tr.42).

Trong Lý luận văn học, các tác giả Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam,

Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình đã đƣa ra cách phân loại nhân vật

dựa trên ba yếu tố: ý thức hệ, kết cấu, và cấu trúc. Theo đó, nhân vật văn học đƣợc

phân loại thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện; nhân vật loại hình, nhân

vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng, nhân vật chính, nhân vật phụ,

nhân vật trung tâm.

Nhƣ vậy có thể thấy, xoay quanh vấn đề phân loại nhân vật có nhiều quan điểm

khác nhau. Văn học thiếu nhi mang những đặc trƣng riêng khác với văn học ngƣời lớn.

Do đó, việc phân loại nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi rất khó có thể áp dụng

cách phân loại nhân vật theo những cách thông thƣờng kể trên. Trong luận văn này,

chúng tôi phân loại nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

căn cứ theo tiêu chí về ngoại hình, tính cách, số phận của nhân vật trẻ em. Việc phân

15

loại nhân vật cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối. Bởi vì trong mỗi nhân vật sẽ tồn tại

nhiều đặc điểm tính cách khác nhau.

1.1.3. Trẻ em

Điều 1, Luật trẻ em của nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số

102/2016/QH13 ban hành ngày 05/4/2016 quy định: “Trẻ em là người dưới mười sáu

tuổi”.

Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có những biến đổi tâm sinh lí khác nhau. Hoạt động chủ

yếu của trẻ em trong giai đoạn này là học tập. Các em học hỏi, khám phá về thế giới

xung quanh và bắt đầu nhận thức về giới tính của mình. Nhân cách của trẻ dần hình

thành. Trong độ tuổi này, trí tƣởng tƣợng của trẻ rất phong phú. Đó là tiền đề cho sự

sáng tạo sau này của trẻ. Do chƣa phát triển đầy đủ cả về vật chất và trí tuệ nên trẻ

trong giai đoạn này có những biến đổi tâm sinh lí bất thƣờng: trẻ dễ bị tổn thƣơng, dễ

thay đổi, dễ thích nghi, muốn đƣợc quan tâm, muốn đƣợc mọi ngƣời chú ý.

Những yếu tố gia đình, nhà trƣờng, thầy cô, bạn bè có ảnh hƣởng rất lớn đến

việc hình thành nhân cách của trẻ. Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt. Trong những

môi trƣờng văn hóa khác nhau, tính cách của trẻ sẽ có những thay đổi. Vì vậy, khi

nghiên cứu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng

tôi đặc biệt chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ em và những nhân tố tác

động, ảnh hƣởng đến tâm lí, tính cách của các nhân vật trẻ em đƣợc nhà văn miêu tả

trong tác phẩm để hiểu đúng dụng ý nghệ thuật của tác giả. Từ đó thấy đƣợc chức

năng giáo dục trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

1.1.4. Nhân vật trẻ em

Nhân vật trẻ em đƣợc hiểu là những đứa trẻ đƣợc nhà văn khắc họa trong tác

phẩm văn học. Qua những chi tiết miêu tả ngoại hình, tâm lí, tính cách của nhân vật trẻ

em, ngƣời đọc thấy đƣợc số phận, phẩm chất, tính cách của trẻ em trong đời sống xã

hội. Với việc xây dựng nhân vật trẻ em trong các tác phẩm của mình, các nhà văn bộc

lộ cái nhìn của mình về trẻ thơ, đồng thời gửi gắm những thông điệp, những bài học về

cách ứng xử, phƣơng pháp giáo dục trẻ em. Truyện thiếu nhi có nhiều kiểu nhân vật

nhƣ: nhân vật trẻ em, nhân vật ngƣời lớn, nhân vật tƣởng tƣợng, nhân vật loài vật…

Trong đó, nhân vật trẻ em, nhân vật loài vật đại diện cho trẻ em đóng vai trò là nhân

vật chính trong tác phẩm.

16

Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh phần lớn là

những học sinh tiểu học. Những cô bé, cậu bé lớp Một, lớp Hai, lớp Ba hiện lên chân

thật, sinh động với những tính cách vừa riêng biệt vừa đại diện cho lứa tuổi thiếu niên

và nhi đồng.

1.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt Nam

1.2.1. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trƣớc 1945

Văn học thiếu nhi là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học ở bất kì

dân tộc nào trên thế giới. Nhắc đến văn học thiếu nhi, không thể không nhắc đến một

bộ phận quan trọng đó là văn học dân gian. Bùi Thanh Truyền trong Thi pháp trong

văn học thiếu nhi cho rằng: “Văn học thiếu nhi của hầu hết các quốc gia trên thế giới

đều có một bộ phận đáng kể là văn học dân gian” (Bùi Thanh Truyền, 2009, tr.11). Ở

mỗi quốc gia, văn học thiếu nhi lại có quá trình hình thành và phát triển khác nhau.

Trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu, văn học thiếu nhi xuất hiện rất sớm. Từ thế kỉ

XIV ở châu Âu đã có những cuốn sách mang nội dung giáo huấn dành cho thiếu nhi

nhƣ: những sách học vần, sách giáo khoa, sách dạy các quy tắc ứng xử trong xã hội.

Nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi đã trở thành những tác phẩm kinh điển của văn học

thế giới nhƣ: Không gia đình của Hector Malot, Lũ trẻ đường tàu của E. Nesbit, Túp

lều bác Tom của Harriet Beecher Stowe, …Ở mỗi dân tộc, văn học thiếu nhi có quá

trình hình thành và phát triển khác nhau với những nét đặc trƣng riêng. Nhìn chung,

các sáng tác viết cho thiếu nhi trên thế giới đều nhằm giáo dục trẻ em hƣớng đến cái

thiện, cái đẹp trong cuộc sống.

Ở Việt Nam, văn học thiếu nhi xuất hiện muộn hơn. Trƣớc thế kỉ XX, văn học

thiếu nhi chƣa phát triển. Ngoài văn học dân gian, chỉ có một số ít sách viết cho thiếu

nhi với mục đích giáo huấn nhƣ: Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn.

Phải đến đầu thế kỉ XX, các tác phẩm viết cho thiếu nhi mới bắt đầu xuất hiện. Trên

báo chí quốc ngữ, các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nổi tiếng trên thế giới đƣợc

dịch và đăng nhiều kì. Đây là tiền đề quan trọng góp phần hình thành nền văn học hiện

đại Việt Nam nói chung, văn học thiếu nhi Việt Nam nói riêng.

Tìm hiểu văn học thiếu nhi Việt Nam, chúng tôi nhận thấy nhân vật trẻ em có vị

trí vai trò khác nhau qua mỗi giai đoạn. Trƣớc cách mạng tháng tám, văn học thiếu nhi

chƣa phát triển vì thế hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi ở giai đoạn

này cũng chƣa có đƣợc vị trí quan trọng. Những tác phẩm viết cho thiếu nhi giai đoạn

17

này không nhiều và còn khá đơn giản về nội dung cũng nhƣ hình thức nghệ thuật. Tác

phẩm văn học viết cho thiếu nhi tiêu biểu những năm đầu thể kỉ XX là Lên sáu, Lên

tám của Tản Đà. Đây là thơ giáo khoa dành cho trẻ lên sáu tuổi và lên tám tuổi. Cả hai

bài thơ này đều đƣợc Tản Đà viết với ngôn từ ngắn gọn, đơn giản (Bài thơ Lên sáu

đƣợc viết theo kiểu Tam tự kinh, bài thơ Lên tám đƣợc viết theo thể ngũ ngôn) nhằm

mục đích giáo dục trẻ những bài học về đạo làm ngƣời. Tác giả đặc biệt đề cao đạo

làm con, coi trọng chữ Hiếu. Trong bài thơ Lên sáu, tác giả viết: “Nghĩa chữ hiếu –

Đạo làm con – Con còn non – Nên học trước” (Tản Đà, 1919). Điều này cũng đƣợc

tác giả nhắc đến trong bài thơ Lên tám: “Chữ hiếu đạo làm con – Cha mẹ ta biết ơn –

Ơn cha cùng ơn mẹ - Như bể và như non” (Tản Đà, 1920).

Đến những năm 30 của thế kỉ XX, những tác phẩm viết cho thiếu nhi trở nên

phong phú hơn với những sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn, Tô Hoài, Nam Cao,

Nguyên Hồng, … đặc biệt, sự xuất hiện của nhóm Tự lực văn đoàn với việc xuất bản

nhiều loại sách dành cho trẻ em nhƣ: Sách hồng, Hoa hồng, Hoa mai, Tuổi xanh…

Tuy nhiên, giai đoạn này chƣa có nhà văn nào chuyên viết thơ, truyện dành cho thiếu

nhi, nên số lƣợng các tác phẩm khá ít ỏi, nội dung còn nghèo nàn chủ yếu xoay quanh

cuộc sống thƣờng ngày của trẻ em ở thành thị. Hơn nữa, do chƣa có nhà xuất bản

chuyên làm sách về thiếu nhi nên việc chọn lọc tác thẩm phù hợp với thiếu nhi để in

trong Sách hồng còn gặp phải nhiều hạn chế. Những tác phẩm vốn dành cho ngƣời lớn

xuất hiện trên sách này đã gây nên nhiều ý kiến phản đối gay gắt của các nhà văn, nhà

báo đƣơng thời. Dẫu vậy, những truyện trinh thám, cổ tích, thần thoại, sinh hoạt đời

thƣờng đăng trên Sách hồng cũng đã tạo nên bƣớc chuyển biến đáng kể cho văn học

thiếu nhi giai đoạn này khi các nhà văn đã bắt đầu có ý thức về việc viết sách dành

riêng cho trẻ em.

Bên cạnh Sách hồng của nhóm Tự lực văn đoàn, những tác phẩm viết cho thiếu

nhi giai đoạn này có thể kể đến nhƣ: Tấm lòng vàng của Nguyễn Công Hoan, Con mèo

mắt ngọc, Bài học quét nhà của Nam Cao, truyện thơ Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn

của Tú Mỡ, Dế mèn phiêu lưu kí, Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa của Tô Hoài, Trẻ

chăn trâu, Kêu gọi thiếu nhi của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trẻ em chỉ đƣợc các nhà văn

nhắc đến chứ chƣa đƣợc xây dựng khắc họa đầy đủ về lai lịch, ngoại hình, tính cách,

diễn biến tâm lí. Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong giai đoạn này hiện lên là những đứa

trẻ có hoàn cảnh đáng thƣơng, chịu nhiều thiệt thòi. Đó là những đứa trẻ con nhà

18

nghèo phải làm việc vất vả, hoàn cảnh thiếu thốn thậm chí bị bỏ đói, những đứa trẻ mồ

côi, thiếu thốn tình cảm của bố mẹ. Đọc các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nam Cao,

Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam … ta thấy rõ điều đó.

Trong truyện của Nam Cao, nhân vật trẻ em là nạn nhân của cái nghèo, cái đói.

Lối sống vô trách nhiệm của ngƣời lớn khiến những đứa trẻ thật đáng thƣơng. Những

đứa trẻ trong Trẻ con không được ăn thịt chó bị bố bắt làm việc vất vả, bị bỏ đói trong

khi bố nhậu phè phỡn, no nê. Những đứa trẻ tội nghiệp lén lút nhìn bố ăn nhậu một

cách thèm thuồng chỉ mong bố trừ lại cho một miếng. Nhƣng điều mà chúng nhận

đƣợc sau khi phải chờ đợi quá nửa ngày là câu phán xanh rờn của bố “trẻ con không

đƣợc ăn thịt chó”. Cái đĩ trong truyện Một bữa no vì nghèo đói phải đi ở cho nhà giàu

bị chủ đối xử tệ bạc. Nó bất hạnh đến nỗi cái tên cũng không có. Hai anh em Ninh và

Đật trong Từ ngày mẹ chết bị bố bỏ mặc nhiều ngày không đƣợc ăn, chúng phải tự đi

kiếm củ dong về nƣớng rồi chia nhau ăn cho đỡ đói. Bố mẹ vì áp lực mƣu sinh liền trút

những căng thẳng, bực dọc lên con. Bé Hồng trong Bài học quét nhà mới năm tuổi mẹ

bắt làm mọi việc từ quét nhà, chăm em, bị mẹ la mắng, bị mẹ kéo đi xềnh xệch đau

nhƣng không dám khóc. Có thể thấy, nhân vật trẻ em trong các truyện ngắn của Nam

Cao hiện lên là nạn nhân của cái nghèo, cái đói. Với giọng văn lạnh lùng, tỉnh táo mà

đằm thắm yêu thƣơng, Nam Cao đã giúp ngƣời đọc hiểu và thông cảm với những thiệt

thòi, bất hạnh của trẻ em trƣớc cách mạng tháng Tám.

Trong các truyện Giọt máu, Hai nhà nghề, Những ngày thơ ấu của Nguyên

Hồng, nhân vật trẻ em hiện lên là những đứa trẻ nghèo, thiếu thốn tình cảm của cha

mẹ. Thạo em trong truyện Giọt máu phải làm những công việc nặng nhọc nhƣ làm

vƣờn, trồng ngô – những công việc quá sức với một đứa trẻ. Nó đáng thƣơng đến nỗi

cái tên cũng không có. Tên nhân vật đƣợc gọi theo tên của chị. Hai đứa trẻ trong

truyện Hai nhà nghề phải vất vả mƣu sinh bằng nghề xiếc đầy mạo hiểm. Còn chú bé

Hồng trong Những ngày thơ ấu hiện lên với tuổi thơ bất hạnh khi mồ côi cha, sống xa

mẹ lại tƣờng xuyên phải hứng chịu những lời cay nghiệt của bà cô và những ngƣời họ

hàng.

Hình tƣợng nhân vật trẻ em bất hạnh còn đƣợc thể hiện rõ trong các sáng tác

của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố. Đức trong truyện Tấm lòng vàng của Nguyễn

Công Hoan là một đứa trẻ mồ côi phải đi ở đợ. Cậu bé thƣờng xuyên bị bà chủ đánh

đập, chửi mắng. Cái Tí trong truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố bị mẹ bán cho nhà Nghị

19

Quế khi mới bảy tuổi. Điều này cho thấy nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi trƣớc

1945 là những đứa trẻ có thân phận thấp hèn, có đời sống cơ cực, thiếu thốn cả về vật

chất lẫn tinh thần.

Đọc truyện viết cho thiếu nhi trƣớc 1945, chúng tôi nhận thấy, hình tƣợng nhân

vật trẻ em hiện lên với những nét vẽ khác nhau. Bên cạnh những đứa trẻ bất hạnh bị bỏ

đói, bị đánh đập, bị lạm dụng sức lao động, bị chửi mắng thậm tệ, là những đứa trẻ

giàu tình thƣơng ngƣời, có tâm hồn nhạy cảm, giàu ƣớc mơ. Điều này đƣợc thể hiện rõ

trong các sáng tác của Thạch Lam. Đó là hai chị em Liên và An trong Hai đứa trẻ, là

Sơn và Hiên trong Gió lạnh đầu mùa, là hai em nhỏ trong Tiếng chim kêu. Tất cả đều

hiện lên với vẻ trong sáng, thánh thiện, đáng yêu.

Nhìn chung, nhân vật trẻ em trong giai đoạn này chƣa đƣợc xem là nhân vật

trung tâm của tác phẩm. Trẻ em thƣờng là đối tƣợng của sự răn dạy giáo huấn. Sự

ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ ít đƣợc các nhà văn tập trung miêu tả. Trẻ em

thƣờng đƣợc đặt trong mối quan hệ gia đình với sự thua thiệt, bất hạnh. Nghệ thuật

xây dựng nhân vật trẻ em còn khá đơn giản, chủ yếu thông qua việc miêu tả các hành

động, ít đi sâu miêu tả tâm lí. Lã Thị Bắc Lý trong Giáo trình văn học trẻ em khẳng

định: “Nhìn chung, trước cách mạng tháng Tám 1945, ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện

những tác phẩm viết cho thiếu nhi một cách lẻ tẻ chứ chưa thực sự có phong trào sáng

tác cho các em, nhưng dù so đó cũng chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng

để xây dựng nên nền văn học thiếu nhi Việt Nam” (Lã Thị Bắc Lý, 2014, tr.9).

Mặc dù các tác phẩm văn học thiếu nhi giai đoạn này chƣa nhiều nhƣng những

nhân vật trẻ em nhƣ cậu bé Hồng trong Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, hai chị

em Liên và An trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam đã để lại ấn tƣợng sâu sắc, trở nên

gần gũi với độc giả.

1.2.2. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi từ 1945 đến 1975

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học thiếu nhi mới chính thức đƣợc

hình thành. Với sự ra đời của báo Thiếu sinh – tiền thân của báo Thiếu niên Tiền

phong, lần đầu tiên trong văn học thiếu nhi có sự tham gia của các tác giả nhỏ tuổi. Sự

ra đời của Thiếu sinh đã đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng tác động đến sự phát triển

của văn học thiếu nhi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Báo trẻ em ra đời –

Đó là báo của trẻ em, vậy các em nên viết cho báo, gửi tin tức tranh vẽ và viết bài cho

báo” (Vân Thanh, 2003, tr.43). Lời dặn của Bác có tác dụng rất lớn trong việc cổ vũ,

20

khích lệ trẻ em tham gia viết báo, đồng thời cũng định hƣớng mục đích sáng tác cho

văn học thiếu nhi đó là viết về thiếu nhi, viết cho thiếu nhi. Sau báo Thiếu sinh, các tờ

báo thiếu nhi khác cũng ra đời nhƣ: Xung phong, măng non, Tuổi trẻ. Sự góp mặt của

các nhà văn nhỏ tuổi đã tạo nên bƣớc ngoặt quan trong cho sự phát triển của văn học

thiếu nhi.

Trong thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 đến 1954), các tác phẩm viết cho

thiếu nhi không nhiều, nội dung và hình thức còn đơn giản. Tuy nhiên, văn học thiếu

nhi giai đoạn này lại đóng vai trò quan trọng trong việc mở đƣờng, đặt nền móng cho

sự phát triển của văn học thiếu nhi sau này, thúc đẩy nền văn học Việt Nam phát triển

thêm một bƣớc mới. Trẻ em trở thành nhân vật trung tâm trong các tác phẩm văn

học thiếu nhi. Không chỉ dừng lại việc ca ngợi những thiếu nhi dũng cảm trong chiến

đấu, các tác phẩm viết cho thiếu nhi giai đoạn này còn đi sâu miêu tả cuộc sống sinh

hoạt thƣờng ngày và những đóng góp của các em thiếu nhi vào công cuộc kháng chiến

của dân tộc.

Đề tài nổi bật của văn học Việt Nam nói chung, văn học thiếu nhi nói riêng

trong giai đoạn 1945 – 1954 là đề tài chiến tranh. Vì vậy, nhân vật trẻ em trong giai

đoạn này hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt

của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là sự dũng cảm, gan dạ trong chiến đấu, sự

chăm chỉ, yêu lao động trong cuộc sống thƣờng ngày, đặc biệt là khao khát cháy bỏng

về một đất nƣớc hòa bình. Tất cả những điều đó đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa

với giọng điệu ngợi ca, trân trọng.

Hình tƣợng thiếu nhi anh hùng trong kháng chiến đƣợc thể hiện rõ nét trong các

sáng tác của Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tƣởng, Tô Hoài, Tố Hữu, Vũ Cao, Đoàn

Giỏi,… Đọc Chú Giao làng Seo của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp hình ảnh chú bé Giao

nhanh nhẹn, gan dạ, hăng hái nhiệt tình khi làm nhiệm vụ liên lạc dẫn đƣờng cho bộ

đội. Tí trong Chiến sĩ ca nô của Nguyễn Huy Tƣởng mƣu trí, dũng cảm dám đƣa cả

làng chạy trốn khỏi sự truy lùng của giặc. Chú bé Giang trong Dưới chân cầu Mây của

Nguyên Hồng kiên cƣờng bị giặc bắt và tra tấn dã man vẫn cƣơng quyết không làm lộ

thông tin. Cậu bé Hoa Sơn trong Hoa Sơn của Tô Hoài lại say mê tuyên truyền cách

mạng. Các em dù tuổi còn rất nhỏ đã tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến

chống Pháp. Đọc bài thơ Lượm của Tố Hữu, ta bắt gặp hình ảnh chú bé Lƣợm với vẻ

hoạt bát, nhanh nhẹn, hồn nhiên yêu đời, thông minh, gan dạ, tinh thần trách nhiệm

21

cao. Hình tƣợng Lƣợm, Giao, Giang, Hoa Sơn, Tí … trở thành những tấm gƣơng anh

hùng rất đáng khâm phục. Trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 - 1954, hình tƣợng

nhân vật trẻ em hiện lên qua những nét phác họa đơn giản. Các nhà văn tập trung khắc

họa phẩm chất anh hùng của nhân vật trẻ em trong chiến đấu, nét ngây thơ, hồn nhiên

vốn có của trẻ em ít đƣợc thể hiện. Sau năm 1954, nhân vật trẻ em hiện lên chân thực,

sinh động, gần gũi hơn, vừa có sự hồn nhiên vô tƣ đúng tuổi vừa có cái gan góc, nhiệt

tình của một chiến sĩ nhỏ tuổi. Đó là những cậu bé nhƣ: bé Toàn trong Em bé bên bờ

sông Lai Vu của Vũ Cao; An, Cò trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Hành

trình tìm cha của cậu bé An trong những ngày lƣu lạc ở vùng đất phƣơng Nam trong

Đất rừng phương Nam khiến ngƣời đọc thực sự cảm động. Qua nhân vật An, ngƣời

đọc hiểu hơn về cảnh ngộ của những đứa trẻ mồ côi, lƣu lạc trong chiến tranh. Càng

thƣơng cảm trƣớc những khó khăn, nguy hiểm mà cậu bé phải đối mặt trong quá trình

tìm cha, ngƣời đọc lại càng thêm nể phục sự gan dạ, dũng cảm khi đối mặt với quân

giặc, sự hăng hái, nhiệt tình khi cùng góp sức đánh giặc của cậu bé An bấy nhiêu. Có

thể nói, chính hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đã tạo nên những con ngƣời anh hùng,

những trẻ em anh hùng. Hình tƣợng nhân vật trẻ em anh hùng trong văn học thiếu nhi

giai đoạn này phản ánh khát vọng cống hiến cho quê hƣơng đất nƣớc của thế hệ trẻ

đƣơng thời.

Trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975, bên cạnh hình tƣợng nhân vật

trẻ em anh hùng trong chiến đấu, hình tƣợng nhân vật trẻ em yêu lao động, tích cực

tham gia việc xây dựng nông thôn mới cũng đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa. Đó

là cu Tý trong Ngày công đầu tiên của cu Tý của Bùi Hiển. Ngày đầu tiên cu Tý đi

chăn nghé đƣợc tính công trong thời bao cấp đƣợc nhà văn kể bằng giọng văn vui tƣơi,

dí dỏm. Hình ảnh cu Tý - một công dân nhỏ tuổi hăng hái lao động với dáng vẻ thấp

còi, đội nón lá lon ton dắt nghé ra đồng hiện lên thật ngộ nghĩnh đáng yêu. Diễn biếm

tâm lí và hành động của cu Tý khi dắt nghé ra đồng đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ, chân

thật. Hình tƣợng nhân vật cu Lý vì thế trở nên gần gũi hơn với độc giả nhỏ tuổi.

Hình ảnh nhân vật trẻ em tích cực thực hiện các phong trào Kế hoạch nhỏ để

góp phần xây dựng các hợp tác xã măng non hiện lên sinh động qua hàng loạt các

truyện ngắn của Trần Thanh Địch, Tô Hoài, Văn Giang. Đó là các bạn nhỏ: Thiều, Tự,

Lía trong Tổ tâm giao của Trần Thanh Địch; Hợi, Mấu, Sung, Mận trong Xã viên mới

của Văn Giang; Thơm, Cam, Chấn trong Hợp tác xã của chúng em của Tô Hoài. Nhân

22

vật trẻ em đƣợc khắc họa thông qua những hoạt động nhƣ: bẫy chuột, mót lúa, bắt sâu,

cuốc đất vỡ ruộng hoang, đi cấy …Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong sinh hoạt đời

thƣờng hiện lên với lòng nhiệt tình, sự hăng hái tích cực, ý thức trách nhiệm. Tuy

nhiên, nét hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch của trẻ em ít đƣợc các nhà văn miêu tả. Vì

thế, những nhân vật này chƣa thực sự gây đƣợc ấn tƣợng với độc giả.

Nói về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 –

1975 phải kể đến những nhân vật trẻ em là học sinh với quá trình nhận thức và trƣởng

thành nhanh chóng. Đó là cô bé Hà trong Những tia nắng đầu tiên của Lê Phƣơng

Liên; chú bé Sinh trong Chú bé sợ toán của Hải Hồ; Việt trong Mái trường thân yêu

của Lê Khắc Hoan. Nét chung của những nhân vật này là biết nghe lời ngƣời lớn, tự

nhận thức đƣợc những khuyết điểm của bản thân và biết sửa đổi, hoàn thiện. Nhân vật

hiện lên nhƣ những hình mẫu lý tƣởng cho những công dân nhỏ tuổi, mang bóng dáng

của một ngƣời lớn thu nhỏ. Vì thế, các nhân vật này không có đƣợc nét hồn nhiên,

trong sáng, vô tƣ đúng tuổi của trẻ thơ.

Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975 còn

có sự xuất hiện của những nhân vật nêu gƣơng. Những nhân vật có thật trong lịch sử

nhƣ Trần Quốc Toản, Kim Đồng… đƣợc Nguyễn Huy Tƣởng, Tô Hoài khắc họa sinh

động, chân thật trong các truyện lịch sử nhƣ: Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kim Đồng. Bút

pháp lý tƣởng hóa đƣợc các nhà văn sử dụng trong việc khắc họa ngoại hình và miêu

tả những chiến công của các nhân vật lịch sử nhằm mục đích nêu gƣơng tốt.

Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn 1945 – 1975, chúng

tôi nhận thấy bên cạnh kiểu nhân vật anh hùng, nhân vật nêu gƣơng, kiểu nhân vật trẻ

em bất hạnh, nhân vật trẻ em hồn nhiên mơ mộng cũng đƣợc các nhà văn tập trung

khắc họa. Điều đó đƣợc thể hiện rõ nét trong các sáng tác của Duyên Anh – vị chủ bút

của tuần báo Tuổi Ngọc. Những đứa trẻ bị ruồng bỏ không biết cha mẹ mình là ai,

những đứa trẻ nghèo chịu nhiều thiệt thòi, những đứa trẻ sống bụi đời bằng nghề đánh

giày, ăn xin, cƣớp giật hiện lên chân thật trong những trang viết của Duyên Anh. Đó là

Quý đen, Danh, Lựa trong Giấc mơ một loài cỏ; Dậu, Hƣờng trong Ánh mắt trông

theo; Trần Đại, Jeams Dean Hùng trong Điệu ru nước mắt; Diễm Châu trong Châu

Kool; Tâm trong Dấu chân sỏi đá; Mai trong Con sáo của em tôi… Bên cạnh những

truyện viết về những đứa trẻ bất hạnh, Duyên Anh còn dành nhiều trang viết về những

đứa trẻ hồn nhiên, mơ mộng. Đó là Nhân, Thủy, Long trong Áo tiểu thư, Khoa trong

23

Tuổi mười ba, Anh Chi, Chƣơng trong Phượng vĩ … Với giọng văn biến hóa linh

hoạt, Duyên Anh đã góp phần tạo nên sự đa dạng cho hình tƣợng nhân vật trẻ em trong

văn học thiếu nhi giai đoạn này.

Nhìn chung, nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn từ 1945 đến 1975

đã trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trẻ em đƣợc đặt trong nhiều mối quan

hệ, nhiều môi trƣờng khác nhau: chiến trƣờng, gia đình, trƣờng học, nông thôn, thành

thị, miền núi … Đặc trƣng cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1975 là

nền văn học cách mạng mang tính đại chúng, văn học mang đậm khuynh hƣớng sử thi

và cảm hứng lãng mạn. Do đó, nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi giai đoạn này

thƣờng là những chiến sĩ nhỏ tuổi trong chiến đấu hay những công dân nhỏ tuổi trong

sinh hoạt đời thƣờng. Nhân vật thƣờng là ngƣời thật, việc thật với tính chất nêu gƣơng

tốt. Nhân vật trẻ em đƣợc xây dựng theo hình mẫu ngƣời lớn thu nhỏ. Ngôn ngữ của

nhân vật mang diễn ngôn của thời đại. Nhân vật trẻ em hiện lên chủ yếu thông qua

hành động. Những yếu tố nhƣ ngoại hình, diễn biến tâm lí ít đƣợc nhà văn tập trung

khai thác.

1.2.3. Nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi sau 1975

Từ sau 1975, lực lƣợng sáng tác cho thiếu nhi đã trở nên đông đảo với sự góp

mặt của hàng loạt các cây bút sung sức nhƣ: Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, Phùng

Quán, Ma Văn Kháng, Hồ Phƣơng, Trần Hoài Dƣơng, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần

Mạnh Hảo, Quế Hƣơng, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Diệu Thanh,

Nguyễn Ngọc Tƣ, Văn Thành Lê, … Các nhà văn tâm huyết với mảng văn học thiếu

nhi đã bắt đầu có những tìm tòi, đổi mới trong cách viết về trẻ em. Những thay đổi về

văn hóa xã hội dẫn đến những quan niệm mới của nhà văn về thiếu nhi. Đặc biệt, sự ra

đời và phát triển của ngành tâm lí học trẻ em đã tạo cơ sở, tiền đề cho các nhà văn hiểu

rõ hơn về đặc điểm tâm lí lứa tuổi trẻ em. Từ đó, cách nhà văn có thể đi sâu miêu tả

đời sống tâm lí trẻ thơ một cách tự nhiên hơn.

Trong văn học thiếu nhi sau 1975, bên cạnh kiểu nhân vật trẻ em hồn nhiên,

nhân vật trẻ em dũng cảm, kiểu nhân vật trẻ em là nạn nhân của chiến tranh, nhân vật

trẻ em trải nghiệm, nhân vật trẻ em với những xúc cảm đầu đời của tuổi mới lớn cũng

đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa. Đặc biệt, kiểu nhân vật trẻ em trải nghiệm, nhân

vật trẻ em là nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của bạo lực gia đình hiện lên đầy ám

ảnh. Qua đó, ta thấy đƣợc những trăn trở của nhà văn về thân phận bất hạnh của trẻ

24

em. Nhân vật trẻ em đƣợc đặt trong mối quan hệ gia đình với những mâu thuẫn, bi

kịch trong cuộc sống đời thƣờng do sự tác động của nền kinh tế thị trƣờng. Số phận

của những đứa trẻ ở nông thôn và thành thị hiện lên một cách chân thực với những

mảnh đời cụ thể. Đặc biệt, hình tƣợng nhân vật trẻ em – với những rung động đầu đời

của tình yêu học trò đƣợc nhiều nhà văn tập trung khắc họa đã tạo nên sự khởi sắc cho

văn học thiếu nhi.

Bùi Thanh Truyền trong bài viết Văn học thiếu nhi sau 1986 từ cái nhìn toàn

cảnh đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 cho rằng: “Lúc này văn học viết cho

tuổi thơ cũng đã có một cái nhìn thật hơn, sâu hơn, toàn diện hơn đối với cuộc sống”

(Bùi Thanh Truyền, 2016. tr.46). Hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của chiến

tranh hiện lên rõ nét trong các sáng tác của Bùi Minh Quốc, Phùng Quán, Thanh Quế,

Nguyễn Ngọc Tƣ. Tuân Và Lƣợng trong Hồi đó ở Sa Kỳ của Bùi Minh Quốc sinh ra

và lớn lên trong thời chiến, chúng phải chịu nhiều thiệt thòi khi đƣợc sinh ra trong tù,

lớn lên chƣa bao giờ đƣợc biết mặt cha. Bất hạnh của những đứa trẻ trong chiến tranh

đó là phải chết vì bom đạn của kẻ thù. Quỳnh sơn ca trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng

Quán chết khi ƣớc mơ vẫn còn dang dở. Thấn, Một trong Cát cháy của Thanh Quế

chết trong lúc làm giao liên. Cái chết của các em gắn liền với nỗi đau của dân tộc bị kẻ

thù giày xéo. Không chỉ dừng lại ở đó, sự bất hạnh của trẻ em còn đƣợc các nhà văn

miêu tả gắn liền với nỗi đau da cam. Đọc Tùy bút phải lòng của Nguyễn Ngọc Tƣ,

chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh những đứa trẻ tật nguyền do di chứng của chất độc màu

da cam. Những đứa trẻ không thể đi lại bình thƣờng, mọi sinh hoạt thƣờng ngày cũng

không thể tự làm đƣợc mà phải nhờ cha mẹ già yếu. Nỗi đau đó dai dẳng, ám ảnh

khiến ngƣời đọc quặn thắt tim gan. Nếu trong văn học trƣớc 1975, sự hy sinh của nhân

vật trẻ em gắn liền với chiến công mang âm hƣởng ngợi ca thì sau 1975, với cảm thức

nhìn nhận lại, sự hy sinh của nhân vật trẻ em lại gắn liền với những trăn trở, suy tƣ về

nỗi đau của chiến tranh. Các nhà văn không hề né tránh khi phản ánh hiện thực khốc

liệt đó. Có thể nói, hậu quả chiến tranh thật nặng nề và khủng khiếp. Những đứa trẻ vô

tội trở thành nạn nhân của chiến tranh thật đáng thƣơng.

Nhân vật trẻ em là nạn nhân của đời sống hiện lên qua hàng loạt các tác phẩm

của Ma Văn Kháng, Khánh Hoài, Quế Hƣơng, Phạm Thị Bích Thủy, … Trong Côi cút

giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng, hai anh em Duy, Khảm hiện lên thật đáng thƣơng.

Bố đi bộ đội, mẹ bỏ đi, hai anh em sống cùng với bà nội đã ngoài sáu mƣơi tuổi.

25

Lƣơng hƣu ít ỏi của bà nội là nguồn thu nhập nuôi sống ba bà cháu. Cảnh khốn cùng,

túng thiếu của ba bà cháu khiến ngƣời đọc không khỏi xót xa. Tâm hồn non nớt của

một đứa trẻ không thể nào hiểu đƣợc vì sao mẹ lại bỏ anh em nó để đi theo ông lái xe.

Khi đã mƣời lăm tuổi, nhớ về mƣời năm trƣớc, Duy vẫn luôn day dứt về việc bị mẹ bỏ

rơi. Thiếu thốn tình cảm của bố mẹ, cuộc sống khốn cùng khiến Duy luôn nặng âu lo.

Điều khiến ngƣời đọc không khỏi xót xa khi đọc tác phẩm này đó là việc ba bà cháu

đều cần đƣợc che chở, chăm sóc, cần có chỗ để nƣơng tựa nhƣng bất đắc dĩ lại phải

nƣơng tựa nhau mà sống. Nhƣng vƣợt lên tất cả, tình yêu thƣơng của bà, đã giúp hai

anh em khôn lớn nên ngƣời. Điều đáng quý là trải qua bao khó khăn, Duy và Khảm

vẫn giữ đƣợc sự lƣơng thiện, luôn lạc quan tin tƣởng vào tƣơng lai.

Viết về những đứa trẻ bất hạnh, bị bỏ rơi, thiếu thốn tình cảm của bố mẹ không

chỉ có Ma Văn Kháng. Trong Cuộc chia tay của những con búp bê, Khánh Hoài cũng

đã đề cập đến vấn đề này. Hai anh em Thành và Thủy trong phải sống thiếu thốn tình

cảm khi bố mẹ li hôn. Những đứa trẻ yêu thƣơng, gắn bó khăng khít với nhau lại buộc

phải lìa xa nhau vì sự ích kỷ của bố mẹ chúng.

Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975 không chỉ đề cập đến hình tƣợng trẻ em bất

hạnh mà còn khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em hồn nhiên, tinh nghịch. Đọc các

sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, ta thấy rõ điều đó. Trong các

truyện của Nguyễn Nhật Ánh, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên với tất cả sự trong

trẻo, nghịch ngợm, đáng yêu. Hình ảnh Tin trong Đảo mộng mơ của Nguyễn Nhật Ánh

hiện lên đáng yêu với ƣớc mơ đƣợc làm chúa đảo. Cu Mùi, Hải cò, Tí sún, Tũn trong

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh ƣớc mơ định nghĩa lại thế giới,

đƣợc thỏa sức vui đùa, sáng tạo những trò chơi mới. Đọc Vừa nhắm mắt vừa mở cửa

sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, ta bắt gặp hình ảnh những nhân vật trẻ em hồn nhiên

đáng yêu qua lời kể của nhân vật tôi – Trí Dũng - cậu bé mƣời tuổi. Đó là con Hồng

mít ƣớt, thằng Toàn hiền khô. Vẻ đáng yêu của Trí Dũng hiện lên qua chiếc răng

khểnh, qua việc nó cƣời suốt ngày. Miêu tả sự hồn nhiên tinh nghịch của trẻ thơ bằng

giọng văn dí dỏm, các nhà văn bộc lộ cái nhìn nâng niu, trân trọng đối với trẻ em,

đồng thời gián tiếp gửi gắm thông điệp đối với ngƣời lớn – những bậc phụ huynh,

đừng đánh cắp tuổi thơ của con, hãy để trẻ em đƣợc sống đúng với lứa tuổi của mình.

Trong văn học thiếu nhi giai đoạn sau 1975, hình tƣợng nhân vật trẻ em với

những cảm xúc đầu đời trong sáng hiện lên chân thật trong những sáng tác của Nguyễn

26

Nhật Ánh, Trần Thiên Hƣơng, Nguyễn Thị Châu Giang, Phong Linh …Nổi bật hơn cả

là Nguyễn Nhật Ánh với hàng loạt các tác phẩm nhƣ: Còn chút gì để nhớ, Cô gái đến

từ hôm qua, Phòng trọ ba người, Mắt biếc, Hạ đỏ …

Tóm lại, có thể thấy hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi Việt

Nam từ chỗ xuất hiện ít ỏi, mờ nhạt, là đối tƣợng để giáo huấn trong giai đoạn trƣớc

1945 đến nay đã trở thành hình tƣợng nhân vật trung tâm, đƣợc khắc họa với đầy đủ

diện mạo, tính cách và diễn biến tâm lí phức tạp. Sự chuyển biến này có thể dễ dàng

nhận thấy qua cách các nhà văn định danh nhân vật trẻ em. Trong văn học thiếu nhi từ

1945 đến 1975, tên nhân vật trẻ em đƣợc định danh cụ thể nhƣ: Giang (Dưới chân cầu

Mây - Nguyên Hồng); Toàn (Em bé bên bờ sông Lai Vu - Vũ Cao); Thiều, Tự, Lía (Tổ

tâm giao - Trần Thanh Địch); Hợi, Mấu, Sung, Mận (Xã viên mới - Văn Giang);

Thơm, Cam, Chấn (Hợp tác xã của chúng em - Tô Hoài); Hà (Những tia nắng đầu tiên

- Lê Phƣơng Liên); Sinh (Chú bé sợ toán - Hải Hồ); Việt (Mái trường thân yêu - Lê

Khắc Hoan). Sau 1975 nhân vật trẻ em đƣợc định danh bằng nhiều cách khác nhau: có

những nhân vật đƣợc định danh bằng những tên gọi cụ thể, có những nhân vật đƣợc

định danh bằng những tên phiếm định. Bên cạnh đó, việc các nhà văn ngày càng chú

trọng miêu tả ngoại hình, hành động và diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật trẻ em

đã giúp cho hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật, gần gũi, sinh động hơn. Sự

chuyển biến trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em gắn liền với quá trình

phát triển của văn học thiếu nhi. Trải qua quá trình dài đầy thăng trầm, đến nay, văn

học thiếu nhi Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, phong phú đa dạng về nội dung và

hình thức nghệ thuật, trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn học dân tộc.

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ nhƣ hiện nay, văn học thiếu nhi càng

chứng tỏ đƣợc vai trò quan trọng của mình trong việc góp phần giáo dục trẻ em.

Không chỉ góp phần định hƣớng sự phát triển nhân cách, góp phần bồi dƣỡng tâm hồn,

trí tuệ cho trẻ, văn học thiếu nhi còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục những

kỹ năng sống cần thiết cho trẻ em. Tuy nhiên, truyện viết cho thiếu nhi hiện nay vẫn

còn ít ỏi so với nhu cầu đọc của độc giả. Theo nhà văn Văn Thành Lê, nhiều truyện

thiếu nhi hiện nay vẫn là truyện viết về thiếu nhi theo con mắt của ngƣời lớn. Đặt

trong bối cảnh đó, có thể thấy những sáng tác viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

thực sự có ý nghĩa trong việc góp phần thúc đẩy văn học thiếu nhi đƣơng đại phát triển

đáp ứng yêu cầu đọc ngày càng cao của độc giả.

27

1.3. Nhà văn Võ Diệu Thanh và truyện viết cho thiếu nhi

1.3.1. Cuộc đời và văn nghiệp của Võ Diệu Thanh

Võ Diệu Thanh sinh năm 1975 tại Châu Phong, Tân Châu, An Giang. Vùng đất

này đƣợc coi là cái nôi của văn hóa Óc Eo và vƣơng quốc Phù Nam. Nơi đây có những

con ngƣời mộc mạc giản dị, bộc trực, thẳng thắn, trọng nghĩa, trọng tình. Đây còn là

vùng đất văn hóa với những câu hò Nam Bộ, với đờn ca tài tử ngọt ngào mà sâu lắng.

Điều này đã hun đúc nên một Võ Diệu Thanh nhiệt tình, tƣơi tắn trong cuộc sống

thƣờng ngày và một Võ Diệu Thanh mộc mạc, suy tƣ trong những trang viết về An

Giang, về miền Tây Nam Bộ. Những nét đẹp văn hóa của con ngƣời, thiên nhiên cảnh

quan Nam Bộ chính là những tiền đề quan trọng tạo nên màu sắc văn hóa trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Sinh ra trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nƣớc, có ba

từng là phóng viên chiến trƣờng, vừa cầm súng chiến đấu vừa tham gia viết bài cho tờ

báo “Chiến thắng”, chị thừa hƣởng từ cha tƣ chất của một ngƣời nghệ sĩ và sự gan góc,

nhiệt thành của một chiến sĩ cách mạng khi dám nói thẳng, nói thật, dám vạch trần

những tiêu cực trong xã hội. Có lẽ vì thế mà Võ Diệu Thanh bén duyên với văn

chƣơng từ rất sớm. Dòng máu nghệ thuật chảy trong chị luôn thôi thúc chị cầm bút bên

cạnh sự nghiệp cầm phấn. Đọc những sáng tác của chị, ngƣời đọc dễ dàng nhận ra

“chất báo chí” trong những trang viết dồn nén nhiều thông tin với giọng văn tỉnh táo,

mạch lạc.

Lúc lên năm tuổi, Võ Diệu Thanh phải xa ba mẹ, xa các anh chị em của mình

để sống cùng bà nội. Bà nội lớn tuổi ở một mình, cô bé Diệu Thanh ở cùng để bầu bạn

và chăm sóc bà. Khó để nói hết những khó khăn mà hai bà cháu gặp phải. Cô bé Diệu

Thanh ngày ấy, ngoài việc đi học phải đi mót lúa, đan lƣới, bắt tép, trồng rau bán lấy

tiền phụ giúp bà trang trải cuộc sống. Hơn mƣời năm tuổi thơ sống cùng nội, hơn mƣời

năm tuổi thơ thiếu thốn tình cảm của ba mẹ khiến cô bé Diệu Thanh luôn cảm thấy cô

đơn. Quãng đƣờng từ Rạch Giá – Kiên Giang (nơi ba mẹ chị ở) lên Tân Châu – An

Giang (nơi chị sống cùng nội) xa xôi cách trở nên mỗi năm chị chỉ đƣợc về thăm nhà

mấy ngày vào dịp Tết hoặc hè. Vì thế, nỗi buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ quê luôn thƣờng

trực, da diết trong chị. Cô đơn luôn bủa vây những tháng năm tuổi thơ của cô bé Võ

Diệu Thanh. Điều này đƣợc nhà văn nhiều lần chia sẻ với các phóng viên của các báo.

Báo Văn học Sài Gòn từng có bài viết về nhà văn Võ Diệu Thanh. Bài báo có đoạn:

28

“Tuổi thơ vì hoàn cảnh riêng chị không có bạn bè mà cũng ít được gần gũi ba mẹ. Mỗi

ngày cứ tự chơi tự trò chuyện, có lúc nói với bông điên điển, lúc trò truyện với cái ghế

trong góc nhà … Khi giận ai, cũng một mình ngồi khóc đối thoại với hư không trong

tâm tư của một đứa trẻ. Lắm lúc chơi trò công chúa hoàng tử cũng cùng một lúc đóng

hai vai” (Tiểu Quyên, 2019). Nhớ lại những năm tháng tuổi thơ của mình, nhà văn

chia sẻ thêm: “Tôi đã lớn lên như thế, cái gì cũng tự nói với mình tự bên trong. Lớn

lên trong cô đơn triền miên” (Tiểu Quyên, 2019). Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong

những truyện ngắn viết cho thiếu nhi của chị. Đọc truyện Những cậu bé mặt trời,

ngƣời đọc thấy một cậu học sinh có thói quen rất lạ – nói chuyện với đồ vật. Đó chính

là Tì Ti. Những lúc nhớ mẹ, Tì Ti thƣờng nói chuyện với đôi dép, cây bàng trƣớc sân

trƣờng, cái bậc cầu thang lên lầu, những viên gạch lót nền lớp học.

Những thiệt thòi trong những năm tháng tuổi thơ khi phải sống xa ba mẹ,

những nhọc nhằn khi phải vất vả mƣu sinh cùng nội đã giúp Võ Diệu Thanh dễ dàng

thông cảm với những thiệt thòi, những bất hạnh mà trẻ em phải gánh chịu, đồng thời

giúp chị thấu hiểu những suy nghĩ, những ƣớc muốn của trẻ em. Những khao khát giản

dị mà chính đáng của một đứa trẻ nhƣ: đƣợc sống gần ba mẹ, đƣợc ngƣời lớn thấu

hiểu, đƣợc thừa nhận, đƣợc có bạn để trò chuyện đã đƣợc nhà văn gửi gắm trong

những sáng tác viết cho thiếu nhi của mình.

Tuổi thơ cô đơn, thiếu thốn tình cảm của ba mẹ; lúc kết hôn thì hôn nhân không

hạnh phúc “cuộc hôn nhân bắt đầu bằng lựa chọn của chị và kết thúc cũng do chị

quyết định từ bỏ” (Linh Thoại, 2010). Đổ vỡ sau hôn nhân khiến chị và cả con trai

của chị rơi vào khủng hoảng tinh thần suốt một thời gian dài. Nhƣng, lúc “số phận

trêu đùa” nhất là lúc nghị lực và lòng lạc quan trong chị lại trỗi dậy mãnh liệt nhất.

Và chị “Vẫn yêu cuộc sống dù nước mắt cứ chảy” (Linh Thoại, 2010). Trò chuyện

cùng chúng tôi, chị bộc bạch: “Hình tượng người mẹ trong những tác phẩm thiếu

nhi không mang dáng dấp riêng tôi mà nó là má tôi, chị tôi hay những phụ huynh

nào đó tôi từng yêu quý. Bởi bản thân tôi đã từng thất bại ở thời đầu hôn nhân và

thời đầu làm mẹ. Những thất bại là một vết thương lớn nhưng cũng là một bài học

lớn để tôi biết chắt lọc, biết công nhận những giá trị tích cực tôi nhận từ cuộc sống.

Tôi không có cái tôi của một người mẹ hoàn hảo nên tôi có thể thông cảm được

nhiều hình thức mẹ xung quanh mình. Qua những gì tôi học hỏi được từ những

người mẹ tiến bộ mà hình tượng người mẹ mang nét đẹp lam lũ nhẹ nhàng hơn”

29

(Xem phụ lục 7 - Phỏng vấn nhà văn Võ Diệu Thanh). Bằng trái tim nồng ấm yêu

thƣơng của một ngƣời mẹ hiền hậu, bằng nhiệt huyết gieo con chữ của một cô giáo

tài năng, Võ Diệu Thanh đã viết những trang văn rất đời, rất tình về những ngƣời

phụ nữ khổ cực, về những trẻ em bất hạnh. Những trang viết của chị, đặc biệt là

những sáng tác viết cho thiếu nhi đã chạm đến trái tim của độc giả khắp cả nƣớc.

Bởi, đó là tiếng lòng của ngƣời từng trải. Chị đã nói hộ nỗi lòng của bao ngƣời vợ,

ngƣời mẹ khổ cực, bao trẻ em bất hạnh không chỉ ở An Giang, không chỉ ở Nam Bộ

mà ở khắp thôn xóm, bản làng Việt Nam.

Võ Diệu Thanh hiện là giáo viên dạy bộ môn Mỹ thuật tại Trƣờng tiểu học “C”

Chợ Vàm (Huyện Tân Phú, tỉnh An Giang). Sống trong khu tập thể dành cho giáo viên

ngay trong trƣờng học nơi chị công tác, vì thế chị có nhiều thời gian để gần gũi, quan

sát, lắng nghe học sinh của mình. Đây là điều kiện thuận lợi để chị có thể nắm bắt

đƣợc tâm sinh lí của trẻ em, hiểu đƣợc các em muốn gì và cần gì từ ngƣời lớn. Gần ba

mƣơi năm gắn bó với nghề dạy học, cô giáo Võ Diệu Thanh luôn xem học trò của

mình là những ngƣời bạn nhỏ tuổi. Dạy môn Mỹ thuật – môn học không bị đặt nặng về

kiến thức, điểm số, không bị áp lực về thời gian, thành tích, Võ Diệu Thanh đã tận

dụng lợi thế đó để giúp học sinh phát huy trí tƣởng tƣợng phong phú, khả năng sáng

tạo trong những giờ dạy vẽ của mình. Những học sinh gặp khó khăn về khả năng diễn

đạt ngôn ngữ hay chậm về tính toán các con số, luôn có cơ hội để đƣợc tỏa sáng trong

những giờ học môn Mỹ thuật cùng cô giáo Diệu Thanh (Xem phụ lục 18 – Hình ảnh

Võ Diệu Thanh cùng học trò).

Tha thiết yêu trẻ, Võ Diệu Thanh từng đứng ra tổ chức nhiều hoạt động vui

chơi, trải nghiệm cuộc sống cho học sinh và cho thiếu nhi. Năm 2021, chị từng phối

hợp với Nhà xuất bản Đà Nẵng tổ chức chƣơng trình: Chương trình tọa đàm Sách và

kĩ năng tự học, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm – Nhận diện chính mình giữ thói tật đám

đông… Thông qua các hoạt động bổ ích thiết thực nhƣ vậy, mọi ngƣời sẽ nhận thấy

một Võ Diệu Thanh thật hồn nhiên, lạc quan yêu đời với nụ cƣời luôn rạng rỡ trên

môi. Khoảng cách giữa nhà văn và độc giả nhỏ tuổi vì thế đƣợc xích lại gần hơn.

Cầm bút với tâm thế của một ngƣời mang nợ với mảnh đất An Giang giàu

truyền thống văn hóa, mang nợ với cuộc đời bởi những điều bất công ngang trái trong

cuộc sống hiển hiện trƣớc mắt mà chƣa ai nói đến, đặc biệt là mang nợ với những

30

ngƣời phụ nữ, những nạn nhân của chiến tranh, những trẻ em vùng sông nƣớc, Võ

Diệu Thanh đã viết bền bỉ, đều đặn nhƣ con tằm nhả tơ không biết mệt mỏi.

Bắt đầu sáng tác từ năm 18 tuổi, Võ Diệu Thanh đã gặt hái đƣợc nhiều thành

công trong sự nghiệp. Tham gia nhiều cuộc thi về sáng tác, chị liên tiếp giành đƣợc

những giải thƣởng lớn từ cấp tỉnh, cấp miền đến cấp quốc gia nhƣ: giải Nhất văn

chƣơng Thủ Khoa Nghĩa do Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh

An Giang tổ chức năm 1994; giải Khuyến khích cuộc thi sáng tác văn học tỉnh An

Giang kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc tổ chức năm 2005

với tác phẩm Dòng sông quê; giải C do Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học

Nghệ thuật Việt Nam trao tặng năm 2009 với tập truyện ngắn Lời thề đá; giải Nhì

cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi hai mƣơi lần IV năm 2010 với tác phẩm Cô con

gái ngỗ ngược; giải Nhất cuộc thi viết truyện ngắn Yume 2011 với tác phẩm Người

đàn bà đa tình; giải Ba cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do Hội Nhà văn Đan

Mạch phối hợp Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức năm 2015 với tác phẩm Tiền của thần

cây. Đặc biệt tham dự cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV

năm 2011, chị vinh dự nhận đƣợc giải Nhì với tác phẩm Giống mùa nghịch và giải

khuyến khích với tác phẩm Mười bảy cây số đường ma. Ngoài ra, nhà văn còn đƣợc

nhiều tạp chí lớn tặng thƣởng. Năm 2011, nữ văn sĩ đƣợc Tạp chí Hội nhà văn Việt

Nam tặng thƣởng tác phẩm hay tạp chí nhà văn khi tham gia viết truyện ngắn Đường

về Cheo Reo. Năm 2017, chị vinh dự đƣợc Tổng cục chính trị Tạp chí Văn nghệ Quân

đội tặng thƣởng khi tham gia viết bút kí Sống như một dòng sông (Xem phụ lục 18 -

Hình ảnh các giải thƣởng nhà văn Võ Diệu Thanh đạt đƣợc).

Với những đóng góp nói trên, Võ Diệu Thanh đã khẳng định đƣợc tên tuổi của

mình trong văn đàn. Chị là nhà văn trẻ duy nhất của đồng bằng Sông Cửu Long đƣợc

Hội đồng chuyên môn và Ban nhà văn trẻ giới thiệu lên Ban chấp hành hội và đƣợc kết

nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 2012.

Sau gần ba mƣơi năm cầm bút (tính từ 1994 – 2022), Võ Diệu Thanh đã có hơn

hai mƣơi đầu sách đƣợc xuất bản. Các sáng tác của chị ở nhiều thể loại khác nhau nhƣ

tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, kí. Và dù viết ở thể loại nào, chị cũng tạo đƣợc dấu

ấn, trong đó truyện ngắn là thể loại nhà văn có thế mạnh hơn cả. Các giải thƣởng lớn

mà tác giả có đƣợc đa phần đều là những sáng tác đƣợc viết theo thể loại truyện ngắn.

Các tác phẩm chính của Võ Diệu Thanh theo các thể loại bao gồm: tiểu thuyết Lần đầu

31

thấy trăng, Viên đạn về trời; truyện ngắn Lời thề đá, Cô con gái ngỗ ngược, Đường về

Cheo Reo, Người đàn bà đa tình, Mười bảy cây số đường ma, Giống mùa nghịch,

Những cậu bé mặt trời; truyện dài Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Cửa sổ

hình tia chớp, Gạt nước mắt đi, Con nước say mèm, Tiền của thần cây, Quà tặng của

ngày mai; kí sự Về hành tinh ký ức; bút kí Sống như một dòng sông, tản văn Bờ vai

cho một bờ vai; biên khảo Muôn dặm sầu giăng, truyện tranh Bí mật bên khóm hoa

quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu vườn trong mơ, …

Các đề tài trong sáng tác của Võ Diệu Thanh thƣờng là trẻ em, phụ nữ, sinh

thái… Đọc các tác phẩm của Võ Diệu Thanh ngƣời đọc sẽ nhận thấy giọng văn đa

thanh sắc: quặn thắt, xé lòng khi viết về chiến tranh; trăn trở, quyết liệt khi viết về môi

trƣờng sinh thái; trầm tƣ, sâu lắng khi viết về phụ nữ và cũng thật tƣơi tắn, lạc quan

khi viết về thiếu nhi.

Võ Diệu Thanh đặc biệt tâm huyết với mảng văn học thiếu nhi. Với chị, viết

truyện cho thiếu nhi không phải là một cuộc “dạo chơi”, thử sức mà đó là niềm đam

mê, là sở trƣờng. Cơ duyên nhà văn đến và gắn bó với văn học thiếu nhi xuất phát từ

những ẩn ức thời thơ ấu, từ trách nhiệm của một nhà giáo, một nhà văn thiết tha yêu

trẻ thơ. Đó cũng là điều mà Nguyễn Nhật Ánh từng tự bạch: “Tôi chọn viết cho các

em, một phần vì tôi từng đi dạy học, từng làm chủ nhiệm câu lạc bộ thiếu nhi, nhưng

điều chính yếu là tôi luôn bị ám ảnh bởi những kí ức về tuổi thơ” (Vân Thanh, 2006,

tr.51). Trò chuyện với phóng viên báo Hà Nội mới, Võ Diệu Thanh đã trải lòng về cảm

hứng viết truyện cho thiếu nhi của mình rất chân thành. Điều này bắt nguồn từ những

điều rất bình dị, gần gũi “Những câu chuyện ngộ nghĩnh, lí lắc mà vô cùng thú vị của

đám học trò đang tuổi ăn tuổi lớn” (Quỳnh Anh, 2020). Viết cho thiếu nhi điều mà nhà

văn trăn trở nhất đó là làm sao để truyền tải những thông điệp về phƣơng pháp giáo

dục và tự giáo dục đến độc giả (các thầy cô, các bậc phụ huynh, các em thiếu nhi) một

cách hiệu quả nhất. Với gần ba mƣơi năm dạy học sinh tiểu học, gần ba mƣơi năm làm

mẹ, gần ba mƣơi năm cầm bút, hơn ai hết chị hiểu đƣợc rằng để dạy trẻ không thể chỉ

cần đến những cuốn sách giáo khoa mà còn cần đến những truyện dành riêng cho trẻ

em.

Đề tài nhân vật trẻ em là đề tài nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu

Thanh. Những truyện tranh nhƣ: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu

vườn trong mơ đƣợc in khổ lớn và có mặt trong các tủ sách thƣ viện của các trƣờng

32

tiểu học. Điều đó cho thấy, các sáng tác cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đƣợc các

bạn nhỏ đón nhận nồng nhiệt. Có thể nói, Võ Diệu Thanh là một trong những nhà văn

trẻ có sức viết mạnh mẽ hiện nay, đặc biệt là mảng văn học thiếu nhi. Với sự bền bỉ

cùng sự biến hóa đa dạng trong cách viết, Võ Diệu Thanh đang dần khẳng định đƣợc

tài năng của mình và có vị trí nhất định trong lòng độc giả.

Ngoài sáng tác văn chƣơng, Võ Diệu Thanh còn đƣợc biết đến với vai trò là

một nhạc sĩ, nhà báo. Chị là tác giả của nhiều ca khúc thuộc thể loại ca cổ nhƣ: Theo

cô chiều tan trường, Về cù lao nghe em, Biển mặn quê mình. Ca khúc Theo cô chiều

tan trường vinh dự nhận đƣợc giải Ba trong Cuộc thi sáng tác ca cổ, dân ca ca ngợi

hình tƣợng ngƣời phụ nữ An Giang qua các thời kỳ tổ chức tại An Giang năm 2010

(Xem phụ lục 18 – Hình ảnh giải thƣởng nhà văn Võ Diệu Thanh đạt đƣợc). Tình yêu

đối với cổ nhạc cùng với vốn hiểu biết sâu sắc về loại hình nghệ thuật độc đáo này đã

giúp nữ văn sĩ thăng hoa cùng con chữ trong những trang viết cho thiếu nhi. Điều này

đƣợc thể hiện rất rõ trong truyện dài Quà tặng của ngày mai. Bên cạnh đó, chị còn là

cộng tác viên đắc lực cho các báo: Khăn quàng đỏ, Nông nghiệp Việt Nam, Báo An

Giang, Người đô thị, … Với kinh nghiệm nhiều năm viết truyện cho thiếu nhi, cái tên

Võ Diệu Thanh đã trở nên quen thuộc với các nhà nghiên cứu văn học. Chị vinh dự

đƣợc các nhà biên soạn sách giáo khoa mới Tiếng Việt 3 (bộ Chân trời sáng tạo) mời

viết bài tập đọc Hoa cỏ sân trường (trang 36, 37 tập 1) với bút danh Võ Diệu Thanh và

bài Ý tưởng của chúng mình trang 76 với bút danh Võ Hồng Thắng (Xem phụ lục 11 -

Hình ảnh các bài viết của Võ Diệu Thanh đƣợc in trong sách Tiếng Việt lớp 3 tập 1, bộ

sách Chân trời sáng tạo).

Trả lời phỏng vấn các báo, Võ Diệu Thanh nhiều lần bày tỏ quan niệm của

mình về nghề viết văn. Mới đây nhất trong bài viết Biến tấu với đường nghề, Võ Diệu

Thanh đã trải lòng về nghề. Theo chị, viết văn là “bay trên mười đầu ngón tay” (Nhiều

tác giả, 2022, tr.245). Trong bài viết này, nhà văn cũng khẳng định làm bất cứ nghề gì

muốn gặt hái đƣợc thành công thì phải yêu nghề, phải “tắm trong nghề” vì “Tắm trong

nghề đường nghề sẽ thuận lợi và thú vị hơn nhiều” (Nhiều tác giả, 2022, tr.249).

Theo Võ Diệu Thanh, văn học thiếu nhi đóng vai trò rất quan trọng đối với quá

trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Chia sẻ với phóng viên báo Lao động

thủ đô, chị tâm sự: “Văn học thiếu nhi không chỉ là phương tiện tốt nhất giúp các em

tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời sống mà còn là món ăn tinh thần bổ ích

33

nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển toàn diện về nhân cách cho các em” (BảoThoa,

2020). Đề cao chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi, nhà văn đồng thời cũng

khẳng định giá trị đích thực của văn chƣơng. Mới đây, các tác giả Lam Điền, Tiếu

Tùng trong bài viết 10 năm văn chương Việt đăng trên báo Tuổi trẻ Online, đã dẫn ý

kiến của nhà văn Võ Diệu Thanh khi đánh giá về văn chƣơng nƣớc nhà trong mƣời

năm trở lại đây nhƣ sau: “Đồng tiền có được từ văn không còn định giá bằng lớn nhỏ

mà định giá bằng độ lấp lánh mà tác giả nhìn thấy được” (Lam Điền, Tiếu Tùng,

2022). Theo chị, giá trị đích thực của một tác phẩm văn học không thể đo đếm bằng

hình thức, độ dài của văn bản. Những điều mà nhà văn nhận đƣợc từ việc sáng tác văn

chƣơng không phải bằng số tiền nhuận bút nhiều hay ít mà là việc tác giả nhìn thấy

đƣợc những hạt ngọc tâm hồn mà mình đã gieo trên những trang viết trở nên lấp lánh.

Những con chữ ấy đẹp và quý giá hơn bất kì viên kim cƣơng nào.

1.3.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

Võ Diệu Thanh có 20 tác phẩm đã xuất bản. Trong đó, riêng truyện viết cho

thiếu nhi, chị có 10 tác phẩm. Sắp tới, trong năm 2022, nhà văn sẽ cho ra mắt ba

truyện tranh viết cho thiếu nhi là: Đến chơi nhà Ông Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá và

Vua bắt trộm (Xem phụ lục 8, 9, 10 - Hình ảnh trang bìa ba tác phẩm). Từ đó, có thể

thấy mảng văn học thiếu nhi đƣợc nhà văn dành nhiều tâm huyết hơn cả.

Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đa dạng phong phú về thể loại,

bao gồm: truyện tranh, truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết. Những tác phẩm tiêu

biểu viết về nhân vật trẻ em trong sáng tác của Võ Diệu Thanh đó là: tiểu thuyết Lần

đầu thấy trăng; các truyện dài Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Tiền của thần

cây, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Quà tặng của ngày mai; tập truyện ngắn Những cậu bé

mặt trời và các truyện tranh khổ lớn: Khu vườn trong mơ, Chú ong bé bỏng, Bí mật

bên khóm hoa quỳnh.

Tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng ra mắt bạn đọc năm 2014. Tác phẩm viết về

cuộc đời của Dẫu, Dị, Hậu – những nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục. Qua

việc khắc họa những bất hạnh của trẻ em, tác giả lật tẩy những tiêu cực trong giáo dục

nhằm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội.

Siêu nhân cua là truyện dài đƣợc Võ Diệu Thanh sáng tác năm 2015. Tác phẩm

viết về những cô cậu học sinh tiểu học hồn nhiên, tinh nghịch đó là Nam, Hƣng, Mai.

Chúng mình bay đầy trời đƣợc sáng tác năm 2016. Đây là truyện dài tiếp nối câu

34

chuyện về ba bạn nhỏ Nam, Hƣng, Mai đã đƣợc nhà văn miêu tả trong Siêu nhân cua.

Bên cạnh ba bạn nhỏ đó, sự xuất hiện của nhân vật Quý với tình thƣơng nội sâu sắc đã

làm cho mạch truyện đƣợc tiếp nối một cách lôi cuốn, hấp dẫn.

Cùng trong năm 2016, Võ Diệu Thanh còn cho ra mắt hai truyện dài đó là: Tiền

của thần cây và Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Tiền của thần cây viết về nhân vật Bòn Bon

cùng các bạn Vĩ, Xuân nô đùa với những trò nghịch ngợm nhƣ trốn tìm, tắm sông. Tác

phẩm gồm 118 trang, đƣợc chia làm bốn phần (Phần 1: Bòn Bon nhát hơn con gái?,

Phần 2: Cứu bạn, Phần 3: Khi con chó đực làm mẹ; Phần 4: Tiền của thần cây). Bảng

đỏ cho xứ Bìm Bìm viết về cậu bé Dƣa Leo với quá trình nhận thức về tác hại của

những thói tật của con ngƣời. Tác phẩm gồm 115 trang chia làm 20 mục. Trong đó, có

những mục đƣợc nhà văn đặt tên rất ấn tƣợng nhƣ: Thơm tho nhƣ một ơ cá kho, Học

không vô chứ không phải là vô học, Lòng tốt nhiều khi là quan liêu, Đoạn đƣờng dài

tám ngàn câu thơ.

Tập truyện Những cậu bé mặt trời ra mắt bạn đọc năm 2017 do Nhà xuất bản

Kim Đồng phát hành. Tác phẩm gồm sáu truyện ngắn: Những cậu bé mặt trời, Khi hai

vua về một nhà, Thả diều, Bí mật theo cô, Tiền của thần cây, Cáp treo cho những mặt

trời. Các nhân vật trong tập truyện có những cái tên rất đáng yêu nhƣ: Tì Ti, thằng

Nhóc, Bòn Bon, con bé Sừng Trâu, cu Lý, bé Châu, Ngàn, Hà, Nhân, ... Mỗi nhân vật

trong tập truyện này có đặc điểm tính cách, số phận khác nhau, đƣợc nhà văn miêu tả

theo một cách riêng. Tác giả gọi các cậu bé đó là “mặt trời” tỏa sáng theo một cách

riêng. Đó là ánh sáng phát ra từ vẻ đẹp tâm hồn – sự hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch.

Quà tặng của ngày mai sáng tác năm 2021 viết về “biệt tài tí hon” – Thần đồng

đàn sến Khánh Hƣng. Truyện gồm 133 trang với 30 mục khác nhau. Hình ảnh ngƣời

thật, việc thật đƣợc nhà văn “tiểu thuyết hóa” một cách chân thật, sinh động. Những

thông điệp về phƣơng pháp giáo dục trẻ em đƣợc nhà văn gửi gắm qua lời kể dí dỏm

của nhân vật tôi – Chùa (Khánh Hƣng). Điều này góp phần làm cho truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh trở nên gần gũi hơn với độc giả.

Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh thu hút ngƣời đọc ngay từ nhan

đề tác phẩm. Những cái tên nhƣ: Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời, Những cậu

bé mặt trời, Bí mật bên khóm hoa quỳnh… có tác dụng khơi gợi trí tò mò của độc giả.

Siêu nhân cua ra đời khi những bộ phim hoạt hình về siêu nhân Gao, siêu nhân Nhện

tràn ngập thị trƣờng giải trí khiến trẻ em thích thú. Đọc siêu nhân cua, các bạn nhỏ có

35

thể nhận ra rằng: bản thân mình cũng có thể trở thành anh hùng nhƣ nhân vật Hƣng

trong truyện. Để trở thành anh hùng không nhất thiết phải biết bay, không cần có khả

năng biến hóa. Với lòng tốt, sự dũng cảm cùng với sự nhiệt tình sẵn sàng giúp đỡ bạn

bè, bạn đã là một siêu nhân chính hiệu rồi. Có thể nói, với cách đặt nhan đề nhƣ vậy,

Võ Diệu Thanh đã thu hút đƣợc đông đảo độc giả tìm đọc các truyện thiếu nhi của

mình.

Làm nên sức sống lâu bền cho truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

không chỉ nhờ nhan đề ấn tƣợng mà còn nhờ vào nội dung đơn giản, dễ hiểu và cách

viết dí dỏm, duyên dáng. Đọc các truyện của chị, độc giả sẽ dễ dàng nhận ra những bài

học sâu sắc về việc hoàn thiện nhân cách và những kỹ năng sống cần thiết.

Hơn thế nữa, trong các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có nhiều

hình vẽ minh họa ngộ nghĩnh. Đặc biệt hơn nữa là những bức vẽ đó do chính tác giả

vẽ. Là một giáo viên dạy Mỹ thuật cho học sinh tiểu học, hơn ai hết, Võ Diệu Thanh

biết thổi hồn vào những bức vẽ của mình. Những hình vẽ nguệch ngoạc, ngộ nghĩnh

đã góp phần tạo nên sức hút cho các tác phẩm. Bằng cách này, Võ Diệu Thanh đã làm

cho truyện của mình rất gần với truyện tranh. Chính điều này đã tạo nên sự thích thú

cho độc giả, nhất là các độc giả nhỏ tuổi.

Nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đó là viết về

những tiêu cực, viết về những phận đời nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội nhƣng các

tác phẩm vẫn lấp lánh tinh thần lạc quan, tin tƣởng vào phẩm giá của con ngƣời. Chính

điều này đã tạo nên dƣ vị ngọt ngào, ấm áp trong lòng độc giả sau khi đọc truyện viết

cho thiếu nhi của nhà văn đa năng này.

1.3.3. Nhân vật trẻ em – một yếu tính của đƣờng văn Võ Diệu Thanh

Hình tƣợng nhân vật trẻ em xuất hiện nhiều trong các sáng tác dành cho trẻ em

và cả sáng tác dành cho ngƣời lớn. Trong các truyện viết cho thiếu nhi, nhân vật trẻ em

xuất hiện nhiều. Mỗi tác phẩm có một, thậm chí ba hình tƣợng nhân vật trẻ em giữ vị

trí nhân vật trung tâm. Trong tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, bên cạnh ba nhân vật

chính là Dẫu, Dị, Hậu, các nhân vật trẻ em khác cũng đƣợc nhà văn đề cập đến đó là

các học sinh của trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi nhƣ: thằng Đực, thằng Tụ, nhỏ Tƣờng,

nhỏ Hà Vi; các chị em của Dẫu (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, chị Năm, thằng Bảy, thằng út

Dởm, út Nữa, út Thiệt). Trong truyện dài Siêu nhân cua, bộ ba Hƣng – Nam - Mai là

những nhân vật chính. Bên cạnh đó, trong tác phẩm này, còn có những nhân vật trẻ em

36

khác nhƣ: thằng Hào, thằng cua. Tiếp nối cốt truyện của Siêu nhân cua là Chúng mình

bay đầy trời. Các nhân vật Hƣng, Nam, Mai vẫn là những nhân vật chính. Cùng với

các nhân vật quen thuộc đó, Quý xuất hiện và trở thành nhân vật trung tâm của tác

phẩm này. Trong truyện dài Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Dƣa Leo là nhân vật trung tâm

xuất hiện xuyên suốt tác phẩm cùng chú Mèo Ma văn vẻ của mình. Bòn Bon là nhân

vật trung tâm trong truyện Tiền của thần cây. Cùng với đó, truyện dài này còn có các

nhân vật trẻ em khác đó là Vĩ và Xuân. Đặc biệt, tập truyện Những cậu bé mặt trời,

với sáu truyện ngắn, thế giới nhân vật trẻ em hiện lên đông đảo hơn. Đó là Tì Ti, Nhóc

trong truyện Những cậu bé mặt trời; Ngàn, Hà trong truyện Khi hai vua về một nhà; cu

Lý, bé Châu, bé Mai trong Thả diều; Nhã, Thuận, Thi trong Bí mật theo cô; Bòn Bon

trong Tiền của thần cây, Nhân trong Cáp treo cho những mặt trời. Trong truyện dài

Quà tặng của ngày mai, nhân vật trung tâm là Chùa (còn gọi là Khánh Hƣng). Cùng

với đó, Út Tiền, chị Hai (còn gọi là Mỹ Duyên) cũng là những nhân vật chính đƣợc

nhà văn tập trung khắc họa. Ngoài ra, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn

có các nhân vật trẻ em nhƣ: Bin (Bí mật bên khóm hoa quỳnh và Chú ong bé bỏng).

Trong sáng tác dành cho ngƣời lớn, nhân vật trẻ em hiếm khi xuất hiện. Đáng kể chỉ

có tiểu thuyết Viên đạn về trời với sự xuất hiện của nhân vật Cà Ri. Trong hệ thống

các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi kể trên, có những nhân vật đƣợc tác

giả tập trung khắc họa đầy đủ diện mạo, tính cách (Hƣng, nhỏ Mai, Nam, Chùa), có

những nhân vật nhà văn đi sâu miêu tả hành động, diễn biến tâm lí (cu Lý, Nhã, Nhân,

Ngàn, Bòn Bon, Út Tiền, Dẫu, Hậu, Dƣa Leo, Quý), cũng có những nhân vật tác giả

chỉ miêu tả vài nét (bé Châu, bé Mai, Hà, Vĩ, Đực, Tụ, Tú, Dị, Thuận, Thi, thằng cua,

Hào, Củ Cải), có những nhân vật chỉ đƣợc nhắc tên, không trực tiếp xuất hiện trong tác

phẩm (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, anh Năm, thằng Bảy, thằng Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt,

Hà Vi, Tƣờng, Xuân, Hiền, Thảo) cùng nhiều nhân vật trẻ em không có tên khác.

Điều khác biệt giữa nhân vật trẻ em trong truyện viết cho ngƣời lớn với nhân

vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đó là vị trí của nhân vật

trong tác phẩm. Nếu trong truyện viết cho ngƣời lớn, nhân vật trẻ em chỉ xuất hiện

thoáng qua và hiện lên với số phận đầy bất hạnh (Cà Ri trong Viên đạn về trời) thì

những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi lại đóng vai trò là hình tƣợng

nhân vật trung tâm hiện lên với những tính cách, số phận khác nhau. Bên cạnh những

37

nhân vật trẻ em bất hạnh còn có những nhân vật trẻ em hồn nhiên, yêu đời, thông

minh, ham học hỏi, nhân hậu, tài năng.

Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,

chúng tôi nhận thấy nhiều điểm đặc biệt trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật của

tác giả. Có những nhân vật trẻ em mang hình bóng tuổi thơ của tác giả (Tì Ti trong

Những cậu bé mặt trời, Nhã trong Bí mật theo cô). Có những nhân vật trẻ em mang

hình bóng học trò của tác giả (các nhân vật trẻ em trong các truyện Siêu nhân cua,

Chúng mình bay đầy trời, Lần đầu thấy trăng). Đặc biệt là có những nhân vật trẻ em là

những đứa trẻ có thực ngoài đời (Chùa, Út Tiền, chị Hai trong truyện Quà tặng cho

ngày mai). Tất cả những điều đó sẽ đƣợc chúng tôi làm rõ trong chƣơng 2 của luận văn

- các kiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Nét độc đáo ở nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh là nhiều nhân vật đƣợc xây dựng dựa trên nguyên mẫu có thật ngoài đời. Với

việc tiểu thuyết hóa ngƣời thật, việc thật, Võ Diệu Thanh đã làm cho truyện viết cho

thiếu nhi của mình đến gần hơn với độc giả. Chùa – nhân vật chính trong truyện Quà

tặng của ngày mai là một thần đồng đàn sến đƣợc nhiều ngƣời biết đến sau khi tham

gia chƣơng trình Biệt tài tí hon năm 2019. Viết về quá trình “lột xác” của một cậu bé

trốn học, quậy phá thành một thần đồng âm nhạc chăm ngoan, học giỏi, biết tự lập, Võ

Diệu Thanh đã truyền cảm hứng cho rất nhiều ông bố, bà mẹ về cách nuôi dạy trẻ. Một

độc giả ở thành phố Hồ Chí Minh vì yêu thích truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, yêu thích nhân vật Chùa trong Quà tặng của ngày mai đã quyết định trao

thƣởng cho những học sinh chăm ngoan, học giỏi ở An Giang – quê hƣơng của nhà

văn Võ Diệu Thanh. Giải thƣởng mang tên Quà tặng của ngày mai – tên một cuốn

truyện viết về thần đồng đàn sến, biệt tài tí hon Khánh Hƣng là một minh chứng cho

sức sống của truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Những giá trị nhân văn mà

tác giả muốn nhắn nhủ, những món quà mà chị dành tặng cho cuộc đời thông qua

những tác phẩm của mình đã đƣợc lan tỏa.

* Tiểu kết chƣơng 1

Chƣơng một của luận văn đã tiến hành tổng quan về những cơ sở lí luận liên

quan đến đề tài. Đó là nền tảng vững chắc để chúng tôi đi sâu phân tích, làm rõ những

biểu hiện về nội dung và hình thức liên quan đến đề tài luận văn.

38

Văn học thiếu nhi có những đặc trƣng riêng khác với văn học ngƣời lớn về cách

xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu. Hình tƣợng nhân vật trẻ em trong văn học

thiếu nhi có quá trình phát triển từ chỗ là nhân vật phụ trong tác phẩm văn học (trƣớc

1945) đến việc trở thành nhân vật trung tâm trong truyện thiếu nhi (sau 1945). Luận

văn cũng đã giới thuyết về con ngƣời và sự nghiệp sáng tác của Võ Diệu Thanh, đặc

biệt là giới thuyết về hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của

nhà văn.

39

Chƣơng 2

CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Trong bài thơ Kêu gọi thiếu nhi viết năm 1941, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.

Trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc che chở, bảo vệ và yêu thƣơng. Quyền lợi của trẻ

là đƣợc vui chơi, đƣợc học hành. Những đứa trẻ cần đƣợc sống vô tƣ, hồn nhiên đúng

với lứa tuổi của mình. Là một nhà văn đồng thời là một nhà giáo, là một ngƣời mẹ đơn

thân với những tháng ngày nuôi con vất vả, hơn ai hết, Võ Diệu Thanh hiểu rõ điều đó.

Vì thế, trong những sáng tác của mình, đặc biệt là trong những truyện viết cho thiếu

nhi, tác giả thƣờng bộc lộ những trăn trở về trẻ em, đối thoại về quyền của trẻ em.

Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các hình tƣợng nhân vật trẻ em.

Khảo sát toàn bộ truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận

thấy nhân vật trẻ em chiếm số lƣợng rất lớn (53 nhân vật), trong đó, nhân vật trẻ em là

nam chiếm số lƣợng lớn hơn (37 nhân vật), nhân vật trẻ em là nữ chiếm số lƣợng ít

hơn (16 nhân vật) (Xem phụ lục 1).

Bảng 2.1. Bảng thống kê số lƣợng nhân vật trẻ em

trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

Stt Tên tác phẩm Số lƣợng nhân vật

Lần đầu thấy trăng 1 20

2 9 - Siêu nhân cua - Chúng mình bay đầy trời.

Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm 3 3

Tiền của thần cây 4 6

Những cậu bé mặt trời 5 2

Khi hai vua về một nhà 6 2

Thả diều 7 4

Bí mật theo cô 8 4

9 Cáp treo cho những mặt trời 2

10 Quà tặng của ngày mai 3

40

11 2

- Bí mật bên khóm hoa quỳnh - Chú ong bé bỏng - Khu vườn trong mơ Tổng: 53

Dựa vào đặc điểm ngoại hình, tính cách, số phận của các nhân vật trẻ em, chúng

tôi phân chia thành bốn kiểu loại nhƣ sau: nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng; nhân

vật trẻ em bất hạnh; nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu và nhân vật trẻ em có khả

năng đặc biệt.

2.1. Nhân vật trẻ em hồn nhiên, trong sáng

Hồn nhiên, trong sáng là đặc điểm tính cách nổi bật của trẻ em. Sự hồn nhiên,

trong sáng của nhân vật trẻ em là một trong những yếu tố góp phần làm nên sức hút

cho truyện viết cho thiếu nhi. Là một giáo viên với gần ba mƣơi năm dạy học sinh tiểu

học, Võ Diệu Thanh có điều kiện thuận lợi để nắm rõ đƣợc đặc điểm tâm lí của trẻ em.

Trong các truyện viết cho thiếu nhi của mình, nhà văn đã tập trung khắc họa hình

tƣợng nhân vật trẻ em với đặc điểm tính cách hồn nhiên, trong sáng. Khảo sát các

truyện viết cho thiếu nhi của nữ văn sĩ, chúng tôi nhận thấy những nhân vật trẻ em dù

có hoàn cảnh sống khác nhau, số phận khác nhau, tính cách khác nhau nhƣng các em

đều có nét hồn nhiên, trong sáng đáng yêu. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi

không phân tích sự hồn nhiên, trong sáng ở tất cả các nhân vật trẻ em trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mà chỉ phân tích những nhân vật tiêu biểu thể hiện

rõ nét tính cách này. Đó là sự ngây thơ của Hƣng, Mai; nét xinh xắn của bé Mai, bé

Châu, nhỏ Mai; sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti, Nhóc; sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng,

Củ Cải.

2.1.1. Ngây thơ, xinh xắn

Khắc họa sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em, tác giả chủ yếu miêu tả

ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, cách ứng xử của các bé gái. Đó là bé Châu, bé Mai

trong truyện ngắn Thả diều. Đó là nhỏ Mai trong truyện Siêu nhân cua. Trong Siêu

nhân cua, nhỏ Mai hiện lên là một cô bé ngây thơ, trong sáng, dễ tin vào những câu

nói đùa của mọi ngƣời. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua việc nó luôn tin vào lời nói

đùa của mẹ nó: “Má nó nói lượm được nó bên bụi chuối” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.17). Trong truyện Thả diều, bé Châu lúc năm tuổi trong cách nhìn của cu Lý – anh

trai là một bé gái rất xinh xắn, đáng yêu “Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái

41

tóc thì lơ thơ mấy cọng mỏng như tóc tiên. Cu Lý nghĩ bé Châu như cô tiên nhỏ. Chắc

cô Tiên nhỏ cũng dễ thương cỡ đó là cùng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25).

Sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của

Võ Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ nét nhất qua nhân vật bé Mai trong truyện ngắn Thả

Diều Trong tác phẩm, nhân vật hiện lên với dáng ngƣời nhỏ nhắn cùng kiểu tóc thắt

thành hai bím dễ thƣơng “Đó là con nhỏ xíu xiu có hai cái sừng trâu lúc lắc” (Võ

Diệu Thanh, 2017, tr.23). Nét dễ thƣơng của cô bé thu hút sự chú ý của cu Lý. Trong

cách cảm nhận của cu Lý, bé Mai trông dễ thƣơng giống hệt em gái của nó vậy. Không

chỉ với vẻ ngoài xinh xắn, bé Mai còn hiện lên với sự ngây thơ, trong sáng. Chính sự

ngây thơ, đáng yêu của cô bé đã sƣởi ấm trái tim đang rỉ máu của cu Lý. Dù bị cu Lý

vô cớ xé nát con diều đẹp của mình, bé gái này vẫn không giận, không trách “Bé Sừng

Trâu cũng cười. Hình như nó quên tuốt chuyện mình đang giận cái thằng đen thui

hung dữ này” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34). Giọng cƣời trong trẻo, tƣơi rói của bé Mai

đã giúp cu Lý cởi mở, thân thiện hơn. Nỗi đau trong quá khứ của cu Lý nhờ thế cũng

đƣợc nguôi ngoai phần nào. Nhân vật bé Mai trong truyện Thả diều xuất hiện thoáng

qua với vài nét phác họa nhƣng đã để lại ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả với vẻ

ngoài xinh xắn, với sự ngây thơ và đáng yêu.

Nét ngây thơ của các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ qua việc tin vào lời ngƣời lớn. Trẻ em thƣờng rất sợ ma

nhƣng lại thích nghe kể chuyện ma và luôn tò mò về việc liệu ma có thật hay không.

Nắm bắt đƣợc tâm lí đó, Võ Diệu Thanh trong các truyện viết cho thiếu nhi của mình

đã nhiều lần miêu tả tâm lí nơm nớp sợ ma của các nhân vật trẻ em. Chính điều này đã

làm cho truyện thêm phần lôi cuốn. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Siêu nhân cua,

Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Những cậu bé mặt trời, Tiền của thần cây, Chúng mình bay

đầy trời…Trong Siêu nhân cua, nhà văn dành hẳn một chƣơng để nói về việc đánh ma

(Chƣơng 12. Đánh ma). Ở những chƣơng khác, nhân vật Hƣng cũng nhiều lần nhắc

đến việc mình từng thấy ngƣời bị ma ám, mình từng cùng bạn bè đi chọc ma, bản thân

Hƣng cũng có lần mẹ dùng dâu làm phép để đánh đuổi ma. Nỗi sợ ma của Hƣng đƣợc

bộc qua qua lời thú nhận của chính nhân vật: “Tôi rùng mình với cái chuyện ma giấu

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59). Không chỉ “rùng mình” khi nghe kể chuyện ma, Hƣng

còn ám ảnh mỗi khi đi qua những lùm cây bụi rậm – những nơi mà ngƣời lớn hay nói

rằng ở đó có ma: “Tôi thì không sợ thằng cua nhưng sợ cái lùm tre nhà ông Bảy

42

thương binh. Tôi sợ lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.61). Nỗ sợ ma của Hƣng và đám

bạn thân đƣợc nhà văn miêu tả rõ hơn trong Chúng mình bay đầy trời. Trong tác phẩm

này, nhà văn dành hẳn một chƣơng để nói về chuyện ma (Chương 2. Con ma không có

tóc). Ma trở thành nỗi ám ảnh đối với Hƣng, Mai khiến chúng không dám leo lên núi

Cấm: “- Không ở đó có ma! -Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.12).

Với việc sử dụng từ cảm thán “úy”, kết hợp với câu cảm thán, câu nghi vấn, tác giả đã

giúp ngƣời đọc hình dung về nỗi sợ ma của các cô bé, cậu bé lớp Một – Hƣng, Mai.

Khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em ngây thơ, xinh xắn, Võ Diệu Thanh thể

hiện cái nhìn nâng niu, trân trọng đối với trẻ em. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua hành

động của những ngƣời thân đối với bé Châu và bé Mai. Bé Châu đƣợc gia đình coi nhƣ

báu vật “Suốt ngày cu Lý giữ em kè kè”, “Má lật đật rửa tay rồi vén mùng hôn lén bé

Châu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Còn bé Mai đƣợc cha cƣng chiều hết mực “chiều

nào nó cũng được cha nó đưa ra bãi thả diều” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.24). Qua việc

khắc họa sự ngây thơ, xinh xắn của nhân vật trẻ em, nhà văn gián tiếp khẳng định trẻ

em cần đƣợc yêu thƣơng và hãy để trẻ đƣợc hồn nhiên, ngây thơ đúng với lứa tuổi của

mình.

2.1.2. Vô tƣ, thân thiện

Trẻ em thƣờng thích nô đùa với bạn bè. Những lúc chơi đùa, giữa trẻ em không

tránh khỏi những cãi vã, gây lộn. Nhƣng với bản tính hồn nhiên, vô tƣ, không lâu sau

những bất hòa giữa chúng nhanh chóng đƣợc giải quyết. Trẻ em có cả tỉ lí do để cãi

nhau cũng có cả tỉ cách để làm hòa. Đó chính là nét đáng yêu của trẻ - vô tƣ và thân

thiện, dễ giận và chóng quên. Có thể nói, vô tƣ, thân thiện là cơ sở tạo nên một tình

bạn đẹp. Nhờ vô tƣ, thân thiện, trẻ em dễ dàng kết bạn và không ngại kể cho nhau

nghe tất cả những chuyện mình biết, những điều mình nghĩ.

Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhiều nhân vật trẻ em hiện

lên với sự vô tƣ, thân thiện, dễ gần, dễ mến. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua cách ứng

xử của nhân vật đối với bạn bè và mọi ngƣời xung quanh. Tính cách này hiện lên rất rõ

qua các nhân vật Tì Ti và Nhóc trong truyện Những cậu bé mặt trời, Ngàn và Hà trong

truyện Khi hai vua về một nhà, Hƣng, Tú, Nam và Mai trong Siêu nhân cua.

Tì Ti và Nhóc (Những cậu bé mặt trời) là những đứa trẻ rất vô tƣ, thân thiện.

Hai đứa trẻ suốt ngày gây lộn nhƣng lại thân thiết, gắn bó với nhau nhƣ hình với bóng

cả lúc ở trƣờng và khi ở nhà, dù khi học chung lớp hay khi đã bị tách lớp “Cuộc chiến

43

của tụi nó làm giáo viên chủ nhiệm hai lớp nhức đầu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6).

Không chỉ cãi nhau, Tì Ti và Nhóc thậm chí còn đánh nhau. Lí do xuất phát từ việc

thằng Nhóc vì không thể chịu đƣợc việc Tì Ti suốt ngày nói chuyện với đôi dép đã lấy

dép của Tì Ti ném xuống sông Hậu. Không còn dép để nói chuyện, Tì Ti nói chuyện

với bức tƣờng, với nền gạch, với cây bàng, với bậc cầu thang. Mỗi lần nhƣ thế, hai đứa

lại gây chuyện cãi nhau, đánh nhau. Những tƣởng hai đứa là mặt trăng, mặt trời không

thể dung hòa. Vậy mà, vừa giận nhau không lâu sau hai đứa lại có thể chơi đùa vui vẻ

nhƣ chƣa có chuyện gì xảy ra “Hai đứa lại xáp lá cà, đứa này chọt éc đứa kia. Nhóc

nhanh nhẹn cứ chọt lia lịa làm Tì Ti nhột nhảy dựng cười sằng sặc. Tì Ti thỉnh thoảng

cũng tìm đúng chỗ nhọt của Nhóc chọt vài cái. Chúng giỡn nhau vô tư như là lúc gây

nhau” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8). Sau những cãi vã là tiếng cƣời hồn nhiên trong

trẻo: “Tiếng cười của hai mặt trời dội vào nhau nghe như tiếng một cơn mua ào ạt

nước” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) Tiếng cƣời giòn tan đã giúp hai đứa quên đi giận

hờn trƣớc đó và gắn bó thân thiết hơn. Sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti và Nhóc đã tạo

nên cái kết đẹp cho tác phẩm. Trong lúc chờ mẹ về, chúng cùng nhau chơi đùa vui

vẻ“Hai đứa còn vò đất thành sợi dài rồi vòng vèo thành hàng chữ “Bãi chờ mẹ” (Võ

Diệu Thanh, 2017, tr.9). Nhờ có Nhóc để trò chuyện, chơi đùa, Tì Ti đã không còn tự

kỉ - không còn nói chuyện với đồ vật nữa. Nhờ có Tì Ti, Nhóc đã biết cách bộc lộ cảm

xúc – biết nói ra tình cảm của mình đối với mẹ. Sau những lần gây lộn, đôi bạn hiểu

nhau hơn. Đồng cảm vì cùng yêu mẹ, nhớ mẹ, khao khát đƣợc gặp mẹ, hai bạn lại

càng trở nên thân thiết. Tình bạn đẹp của Tì Ti và Nhóc đƣợc xây đắp từ sự đồng cảm

và từ tính cách vô tƣ, thân thiệt rất đáng yêu của cả hai.

Ngàn và Hà trong truyện Khi hai vua về một nhà cũng là những cậu bé rất thân

thiện. Khi chƣa hiểu nhau hai đứa thƣờng xuyên gây lộn đánh nhau. Trong mắt Ngàn,

Hà là “vua quậy” thƣờng xuyên trốn học khiến mẹ nó – cô Mai phải buồn. Trong mắt

Hà, Ngàn là “vua mách lẻo”, bất kì vi phạm gì của nó Ngàn đều mách với cô chủ

nhiệm, mách với các thầy cô bộ môn và mách cả với thầy tổng phụ trách đội. Vì Ngàn

mà Hà bị thầy tổng phụ trách đội phạt quét sân trƣờng “Hôm nay con làm cho thằng

Hà tiếp tục bị phạt quét nguyên cái sân luôn. Nó dám bỏ hai giờ Địa đi chơi Võ Lâm

Truyền Kì” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10). Vì không ƣa nhau, chúng cãi lộn đánh nhau

bất cứ chỗ nào. Trong lớp học, trên sân trƣờng, trên đƣờng đi học về, thậm chí ở sân

chùa, hai đứa gặp là gây lộn. Những tƣởng hai đứa không thể làm bạn. Nhƣng chỉ một

44

lúc tâm sự chúng đã hiểu nhau và trở thành bạn bè thân thiết. Biết Hà trốn học không

phải vì lƣời mà vì khả năng tiếp thu hạn chế, Ngàn tìm mọi cách để giúp đỡ bạn“Khi

rảnh Ngàn dạy võ cho Hà, nó đánh đấm với Hà. Hà kêu Ngàn là sư phụ. Nó nghe lời

sư phụ và đương nhiên khi giỡn nó không còn nhớ tôn ti gì đâu” (Võ Diệu Thanh,

2017, tr.18). Cùng học, cùng chơi mỗi ngày, hai đứa trở nên gắn bó “Vua quậy từ đó

trông ngóng vua mách lẻo đi học về dạy nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18). Chính sự

vô tƣ, thân thiện đã làm cho tình bạn giữa Ngàn và Hà thêm đẹp.

Hƣng, Nam, Mai và Tú (Siêu nhân cua) cũng là những đứa trẻ rất vô tƣ, thân

thiện. Ngồi cùng bàn với nhau, giữa Hƣng và Tú, giữa Nam và Mai thƣờng xuyên xảy

ra cự cãi. Mỗi lần giận nhau, chúng đều dùng phấn để phân chia ranh giới. Nhƣng sự

giận hờn không kéo dài đƣợc lâu. Chỉ sau năm phút, các bạn nhỏ lại nhanh chóng làm

hòa. Chúng cƣời nói, vui đùa nhƣ chƣa từng cãi nhau “Nhưng cái ranh chỉ tồn tại

được năm phút vì không quá năm phút hai đứa lại làm lành nhau lại ngồi lên cái ranh

lúc nào không hay” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.13).

Miêu tả sự vô tƣ, thân thiện của các nhân vật trẻ em, nhà văn muốn khẳng định

trẻ em rất dễ hòa đồng, rất dễ kết bạn. Vì thế, ngƣời lớn chúng ta hãy để trẻ đƣợc gặp

gỡ, vui chơi với bạn bè, hãy trẻ đƣợc hồn nhiên, vô tƣ đúng lứa tuổi.

2.1.3. Tinh nghịch, dí dỏm

Sự hồn nhiên, trong sáng của những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu

nhi của Võ Diệu Thanh không chỉ đƣợc thể hiện qua sự ngây thơ, xinh xắn, vô tƣ, thân

thiện mà còn đƣợc bộc lộ qua nét tinh nghịch, dí dỏm. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua

các nhân vật nhƣ: Hƣng trong Siêu nhân cua và trong Chúng mình bay đầy trời, Củ

Cải, bé Hai trong Tiền của thần cây và Dẫu trong Lần đầu thấy trăng.

Hƣng (Siêu nhân cua) là một cậu bé tinh nghịch. Nó luôn nghĩ ra nhiều trò

nghịch ngợm nhƣ: trêu chọc bạn, chọc ma, chọc ong. Giống nhƣ bao đứa trẻ tinh

nghịch khác, Hƣng thích chơi trò rƣợt đuổi “Giá như Nam rượt tôi thì vui hơn” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.12). Vì vậy, Hƣng luôn tìm cách để trêu chọc bạn. Với một đứa

trẻ tinh nghịch, việc trêu chọc bạn một lần làm bạn nổi giận chƣa bao giờ là đủ. Biết

Nam không thích bị gọi là Trán Dồ, Hƣng vẫn luôn miệng gọi: “- Ê, Trán Dồ ơi Trán

Dồ, ông ngoại mày kiếm kìa. […] – Trán Dồ ơi, Trán Dồ à, Trán Dồ …” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.6). Bản thân Hƣng cũng ý thức đƣợc rằng trêu bạn nhƣ vậy là không

nên “Nam giận tôi là điều chắc chắn, cô giáo quýnh tôi nhừ mông cũng là chuyện phải

45

làm” nhƣng nó vẫn gọi Nam là Trán Dồ nhƣ một thói quen “nhai riết thành quen

miệng”. Sau lần trêu chọc bị Nam đánh, Hƣng thề rằng không bao giờ đụng tới cái tên

đó nữa nhƣng không thể ngồi yên “ngay hôm sau khi hết đau tôi lại ngứa miệng với

chữ trán dồ”(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.9). Sự tinh nghịch của Hƣng thể hiện rõ ở việc

nó không thể nào chịu đựng đƣợc sự im lặng. Khi không trêu chọc Nam, nó cảm thấy

buồn chán: “Nhưng mà thật bình yên như vầy nó lại rất chán bạn à. Giá như Nam

rượt tôi thì vui hơn. Tôi chán cái kiểu chơi một mình quá” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.12). Không chỉ trêu chọc Nam, Hƣng còn trêu chọc cả Mai. Biết Mai sợ cua, nó liền

bắt cua để trêu bạn. Trong tác phẩm, Hƣng tự kể lại trò nghịch ngợm của mình: “Bữa

đó đang đi học về, tôi bắt con cua đưa vô mình nó, tự nhiên nó tè trong quần luôn”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18). Trò nghịch ngợm của Nam không chỉ dừng lại ở chỗ

trêu chọc bạn mà còn thể hiện ở việc dám chọc ong và chọc ma. Trong tác phẩm,

Hƣng nhiều lần kể về việc chọc ong của mình: “Hễ đi học về, ngang qua vườn mãng

cầu của bà Tư thầy tu cứ gặp đám ong là vác đất chọi. Bà Tư nói để nó yên ổn con,

chọc nó hoài tội lắm. Mà tôi quên lời bà Tư mau lắm. Cứ gặp là vác đất chọi” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.29). Chọc ong nhiều lần chƣa đủ vui, Hƣng còn rủ cả bạn đi chọc

ma mặc dù bản thân rất sợ ma. Hƣng còn hiện lên trong tác phẩm là một cậu học trò

rất dí dỏm. Trong lớp, Hƣng là một “cây hài”. Những câu nói ngây ngô của Hƣng

nhiều lúc làm cô và các bạn trong lớp không nhịn đƣợc cƣời “bụng cô đang nôn cười.

Nghĩa là cô hết thuốc chữa với tôi luôn” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.78). Để làm nổi bật

sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng, Võ Diệu Thanh đã để nhân vật tự kể, tự nói về mình.

Trong lời kể của Hƣng, ta thấy đƣợc thái độ của cô giáo chủ nhiệm và các bạn đối với

những trò nghịch ngợm của nhân vật “Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong

chích sưng to bằng ngón giò cái. Con Mai với thằng Nam phải nể tôi. Mà tôi thấy cô

Thanh cũng nể tôi lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30). Bản thân Hƣng cũng tự nhận ra

sự nghịch ngợm, “khỉ khọt” của mình: “Nếu bạn nhìn thấy cô Thanh nhìn tôi thì bạn

hiểu. Cô cứ nhìn như là cô đang coi phim hành động của người dơi hay là siêu nhân

vậy. Và cô thường kêu lên đầy kinh ngạc. – Hưng, sao mà em …? Tôi sẽ nói ngay. –

Không ngồi yên được chút nào vậy? Hoặc là tôi sẽ nói: - Em lật đật giống con khỉ

quá” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31).

Trong Chúng mình bay đầy trời, sự tinh nghịch, dí dỏm của Hƣng tiếp tục đƣợc

nhà văn khắc họa đậm nét. Trong giờ học, nó không khi nào chịu ngồi yên “Mình kêu

46

bạn chỗ bàn nhất nhảy lên bàn nhì. Ngồi một đống vậy học đâu có được” (Võ Diệu

Thanh, 2016, tr.66). Hƣng luôn gây đƣợc sự chú ý của mọi ngƣời với những ý tƣởng

độc đáo của mình. Biết Quý thƣơng nhớ Nội muốn tạo ra một đôi cánh giúp Nội có thể

bay đƣợc để nhìn ngắm mọi thứ, cậu bé bàn bạc với các bạn cách làm đôi cánh. Trong

khi Nam và Mai chuẩn bị giấy, mực để vẽ lên ý tƣởng thì Hƣng lại chuẩn bị một con

gà trống với dự định sẽ vặt hết lông gà để làm đôi cánh giúp ngƣời có thể bay đƣợc. Ý

tƣởng gắn lông gà thất bại, Hƣng lại nghĩ cách sẽ dùng lông chim để làm đôi cánh lớn.

Trƣớc ý tƣởng độc lạ của Hƣng, mọi ngƣời chỉ biết lắc đầu, phì cƣời “mọi người lắc

đầu trước sự ngớ ngẩn của tôi”, “Cô Thanh té cái đụi xuống ghế. Mấy đứa kia xỉu”

(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.35). Sau mỗi giờ học, cậu nhóc và đám bạn thân lại bày đủ

trò nghịch ngợm và vì thế tiếng cƣời luôn hiện hữu trên môi “cả đám lăn vào các trò

chơi. Chơi nhảy dây, chơi ném tù binh, chơi cá sấu lên bờ rồi chơi nhảy múa” (Võ

Diệu Thanh, 2016b, tr.22).

Củ Cải, bé Hai (Tiền của thần cây), Dẫu (Lần dầu thấy trăng) cũng là những

cậu bé, cô bé rất tinh nghịch. Củ Cải thƣờng cùng các bạn đi tắm sông, tắm mƣơng

mỗi ngày “Bòn Bon đi học. Củ Cải và các bạn rủ Bòn Bon đi tắm mương” (Võ Diệu

Thanh, 2016, tr.22). Sự tinh nghịch của Củ Cải đƣợc thể hiện rất rõ qua việc nó

“khiêng Bòn Bon ném xuống chỗ cái ao đầu con mương” (Võ Diệu Thanh, 2016,

tr.23). Hành động này của Củ Cải làm cho các bạn vui cƣời thích thú nhƣng cũng

khiến Bòn Bon vốn đã sợ nƣớc lại càng sợ hơn. Bé Hai trong cách nhìn của Bòn Bon

là một cô bé rất tinh nghịch “Bé Hai là con gái mà phá phấy khủng khiếp. Bất cứ món

gì của Bòn Bon nó cũng nói cho em mượn nghe. Vậy là hết món này tới món khác đều

qua tay nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27). Nghịch hết đống đồ chơi của Bòn Bon, bé

Hai lại chơi cùng với Ban Đêm – chú chó cƣng của Bòn Bon. Nó tinh nghịch, đáng

yêu tới mức Ban Đêm cũng thích chơi cùng với nó “Cái con chó mê chơi đó thì khoái

bé Hai vô cùng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27). Không chỉ vậy, bé Hai còn rất thích

nghịch nƣớc. Khi trong nhà không còn thứ gì để nghịch, nó liền rủ Bòn Bon đi tắm

sông “Mình đi tắm sông đi anh Bòn Bon. Em thấy có mấy người kia tắm dưới bến vui

lắm” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.29). Mặc dù không có Bòn Bon đi cùng, bé Hai vẫn vui

vẻ tự chơi “Bé Hai chạy te te trên cầu rồi nhảy từ trên cầu ùm xuống nước” (Võ Diệu

Thanh, 2016, tr.29). Sự tinh nghịch của những cô cậu học sinh tiểu học đƣợc thể hiện

rõ qua nhân vật Dẫu. Nó luôn nghĩ ra những trò khiến các bạn trong lớp nhiều phen hú

47

vía “Tôi thường trốn ra hè nhà trường ngồi đào trùng, bắt trùng vô lớp nhát mấy đứa

bạn” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.38). Những trò nghịch ngợm của Hậu và các bạn trong

lớp khiến mọi ngƣời cũng phải lắc đầu “Bên nhà thầy không có cây cỏ gì mọc được

với tụi tôi” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.43). Trƣớc sự nghịch ngợm của Dẫu, thầy Mãi,

cô Tài Ba, thầy Biên cũng phải lắc đầu “nhất Dẫu nhì quỷ” (Võ Diệu Thanh, 2014,

tr.86).

Sự hồn nhiên, trong sáng là nét tính cách nổi bật của trẻ em. Điều này không chỉ

đƣợc thể hiện qua các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh mà còn đƣợc thể hiện qua các nhân vật trẻ em trong truyện của Nguyễn Nhật

Ánh. Nhiều nhân vật trẻ em trong truyện của Nguyễn Nhật Ánh hiện lên với sự tinh

nghịch, hồn nhiên đáng yêu. Tiêu biểu là các nhân vật cu Mùi, Hải cò, Tí sún, con Tũn

trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Trong tác phẩm này, bốn đứa trẻ tinh nghịch luôn

bày đủ trò để chơi cùng nhau. Đó là các trò chơi gắn liền với tuổi thơ của nhiều ngƣời

nhƣ: đi tìm kho báu; đóng vai vợ chồng, bố mẹ, con cái; đóng vai làm thủ lĩnh, đóng

vai quan tòa ...Sự tinh nghịch, ngây thơ cùng nét thông minh, lém lỉnh của trẻ em cũng

đƣợc nhà văn khắc họa qua ƣớc mơ định nghĩa lại thế giới của các bạn nhỏ. Những

đứa trẻ tinh nghịch gọi tên các sự vật quen thuộc bằng những cái tên khác mà chỉ có

thể là trẻ con mới có thể nghĩ ra nhƣ: gọi cái miệng là cánh tay, gọi con chó là cái bàn

ủi, gọi đi ngủ là đi chợ, gọi cái cặp là cái giếng, gọi cái ti vi là cái quạt máy, gọi cái

nón là cuốn tập. Không chỉ thay đổi cách gọi tên đồ vậy, chúng còn thay đổi tên gọi

cho nhau “Trong thế giới vừa được đặt tên lại của bọn tôi, Hải cò là cảnh sát trưởng,

con Tủn là tiếp viên hàng không, con Tí sún là nàng bạch tuyết, còn tôi là thầy hiệu

trưởng. Những cái tên này do chúng tôi tự chọn, theo nguyện vọng thầm kín của mỗi

đứa” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.52). Các bạn nhỏ trong truyện thay đổi cách gọi với

mục đích làm mới thế giới. Với cách gọi mới này, thế giới nhƣ đƣợc sinh ra một lần

nữa. Việc các nhân vật trẻ em đặt lại tên cho nhau cũng gián tiếp gửi gắm ƣớc mơ

đƣợc trở thành thầy hiệu trƣởng quyền uy, trở thành cảnh sát trƣởng dũng cảm, nàng

Bạch Tuyết, nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp. Điều đặc biệt trong cách định nghĩa lại

thế giới của những đứa trẻ đó là chúng quan niệm hoàn toàn ngƣợc lại với ngƣời lớn.

Đứa trẻ ngoan theo cách nghĩ của chúng là không cần giữ tập vở cẩn thận, không cần

ngủ trƣa và 3 nhân 5 không phải là 15.

48

Mỗi đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch theo một cách riêng. Miêu tả nét

ngây thơ, xinh xắn của bé Mai, bé Châu; sự vô tƣ, thân thiện của Tì Ti, Nhóc; sự tinh

nghịch, dí dỏm của Hƣng, Củ Cải nhà văn muốn gửi đến độc giả thông điệp cần phải

biết quan tâm, yêu thƣơng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Đặc biệt trong việc giáo dục trẻ

em cần chú ý để không đánh cắp tuổi thơ của trẻ em.

2.2. Nhân vật trẻ em bất hạnh

Trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc quan tâm, chăm sóc, yêu thƣơng, bảo vệ, cần

đƣợc vui chơi, học hành, đƣợc tạo điều kiện phát triển cả về thể chất và tinh thần. Luật

trẻ em của nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 102/2016/QH13 ban

hành ngày 05/4/2016 quy định rất rõ về quyền của trẻ em. Trong chương II. Quyền và

bổn phận của trẻ em, Mục 1. Quyền của trẻ em, luận quy định rõ trẻ em có 23 quyền,

trong đó Điều 27 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc quy định:

“Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em”. Mặc dù luật pháp đã quy định rõ

về quyền của trẻ em nhƣ vậy. Nhƣng trong thực tế, hiện tƣợng trẻ em bị bạo hành, bị

bỏ rơi vẫn diễn ra. Là một ngƣời giàu lòng trắc ẩn, Võ Diệu Thanh không thể làm ngơ

trƣớc thực trạng đáng buồn đó. Trong những sáng tác viết cho thiếu nhi của mình, Võ

Diệu Thanh đã đi sâu miêu tả những mảnh đời bất hạnh. Đó là những đứa trẻ mồ côi,

nghèo, thất học; những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền; những đứa trẻ là nạn nhân của

bạo lực gia đình, nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục.

2.2.1. Mồ côi, nghèo, thất học

Đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh ngƣời đọc không khỏi cay

khóe mắt trƣớc những trẻ em có hoàn cảnh không may mắn. Đó là những đứa trẻ mồ

côi, nhà nghèo, những đứa trẻ không đƣợc đến trƣờng.

Mồ côi là nỗi bất hạnh lớn nhất của con ngƣời. Nhiều nhân vật trẻ em trong

truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mang trong mình nỗi bất hạnh thiệt thòi

đó. Đó là Ngàn trong Khi hai vua về một nhà, Nhân trong Cáp treo cho những mặt

trời, là Mai trong Siêu nhân cua. Ngàn là một cậu bé mồ côi cả ba lẫn mẹ. Niềm an ủi

lớn nhất của Ngàn là đƣợc đi học và thỉnh thoảng đƣợc cô Mai cho bánh, cho tập vở.

Nhìn thằng Hà đƣợc mẹ yêu thƣơng nó cảm thấy chạnh lòng. Hơn ai hết, Ngàn ao ƣớc

mình cũng có mẹ nhƣ bao đứa trẻ bình thƣờng khác. Niềm khát khao đó nhiều lần

đƣợc Ngàn thổ lộ với cô Mai: “- Con muốn cô làm má của con”, “Con không có ba

49

mẹ con phải đi kiếm người để làm mẹ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13). Điều đặc biệt

trong cách xây dựng nhân vật Ngàn của Võ Diệu Thanh đó là: nhà văn không xoáy sâu

vào nỗi bất hạnh mà nhắc đến nó nhƣ một cách để làm bật lên sự chững chạc, hiểu

chuyện của nhân vật. Tuy còn nhỏ, Ngàn đã sớm nhận thức đƣợc hoàn cảnh của mình.

Vì thế thay vì khóc lóc, than vãn, cậu bé lại nỗ lực học hành, chăm chỉ lao động. Hơn

thế nữa, em còn biết quan tâm, giúp đỡ mọi ngƣời xung quanh. Không phải đứa trẻ mồ

côi nào cũng biết suy nghĩ và hành động đúng đắn nhƣ vậy. Qua việc miêu tả nhân vật

này, nhà văn muốn gửi gắm những thông điệp nhân văn đến độc giả đó là: phải biết nỗ

lực vƣơn lên, phải biết đồng cảm, sẻ chia và lạc quan tin tƣởng vào tƣơng lai.

Nếu bất hạnh của Ngàn là mồ côi cả ba lẫn mẹ thì bất hạnh của Nhân (Cáp treo

cho những mặt trời) là chứng kiến mẹ mất vì tai nạn giao thông. Nỗi đau đó khiến trái

tim non nớt của một đứa trẻ lớp Hai bị tổn thƣơng nặng nề. Nó trở nên ít nói và trở

thành một đứa trẻ tự kỉ trong mắt mọi ngƣời. Khi trò chuyện với cô Thanh, Nhân kể

lại: “Hồi năm ngoái, mẹ em cũng bưng nước qua đường bị xe đụng chết ngay cửa nhà

em” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79).

Mai (Siêu nhân cua) là một cô bé chịu nhiều thiệt thòi. Qua lời kể của cô

Thanh, Mai hiện lên thật đáng thƣơng: “Ba bạn Mai mất hồi bạn còn trong bụng mẹ.

Hai mẹ con không bà con dòng họ nên phải ở một chỗ xa xôi như vầy” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.48). Không chỉ thiếu thốn tình cảm, Mai còn thiếu thốn cả vật chất.

Sống cùng với mẹ trong một căn chòi nhỏ ở một nơi hẻo lánh, cô bé không đƣợc chăm

sóc chu đáo, thậm chí không đƣợc ăn no, không có đủ quần áo để mặc. Khi còn rất

nhỏ, bé gái này phải ở nhà một mình, tự chơi, tự ăn, tự ngủ không có ngƣời lớn chăm

sóc, không có các bạn để chơi: “Hồi còn nhỏ tôi đi ngoài rẫy nó phải ở nhà một mình

[…] đói bụng thì giở nồi kiếm cơm nguội ăn, no thì ngủ” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.48). Trong khi Hƣng, Nam và tất cả các bạn trong lớp chán ăn cơm, muốn có một

“cái máy ăn cơm thay mình” thì Mai lại ao ƣớc có cơm để ăn. Khi cô giáo Thanh hỏi lí

do vì sao lại không muốn có máy ăn cơm giống nhƣ các bạn, Mai liền trả lời một cách

thật thà: “-Vì em thèm cơm” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19). Câu nói của Mai thể hiện

rõ sự túng thiếu, đói khổ của hai mẹ con Mai. Tình cảnh của Mai khiến ngƣời đọc

không khỏi nghẹn lòng. May mắn của Mai là dẫu nhà nghèo, dẫu túng thiếu, em vẫn

đƣợc mẹ cho đi học.

50

Những đứa trẻ trong Lần đầu thấy trăng còn đáng thƣơng hơn khi không đƣợc

đi học. Nhà Dẫu cách trƣờng học chừng cây số. Trong khi trẻ con trong xóm đều đƣợc

đi học thì chín chị em của Dẫu (chị Hai, anh Ba, chị Tƣ, chị Năm, Dẫu, thằng Bảy,

thằng út Dởm, út Nữa, út Thiệt) lại không có đƣợc quyền chính đáng đó. Nhà nghèo,

đông con, nhận thức hạn chế về việc học, ba của Dẫu không cho các con đi học. Dù

các thầy cô trong trƣờng Dƣơng Đôi nhiều lần tới nhà thuyết phục, ba Dẫu vẫn không

cho các con của mình đi học. Ông thấy đƣợc những khó khăn hiển hiện trƣớc mắt khi

những ngƣời học giỏi nhƣ thầy Minh mà cuộc sống cũng chật vật nghèo khổ. Mặt

khác, ông cũng nhìn ra cái lợi trƣớc mắt nếu các con của ông không đi học thì chúng

có thể phụ giúp ông đi làm kiếm tiền “Chị Tư đã đi làm cỏ, nhổ lúa cày mướn mua

gạo ăn được. Anh Ba biết chăn vịt, gánh trấu mướn. Học cũng để kiếm tiền thôi chớ

gì” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.15). Nhìn các bạn đƣợc đến trƣờng, chín chị em Dẫu chỉ

biết ao ƣớc. Chúng luôn khao khát đƣợc đến trƣờng. Với chúng trƣờng học là chốn

thiên đƣờng mà chúng không có cơ hội đƣợc bƣớc vào. Nhiều lần trong tác phẩm, nhà

văn đã để Dẫu nói lên suy nghĩ ấy: “Từ hồi còn nhỏ xíu, tôi thường nhìn ra hướng

trường học … Và tôi nghĩ ngôi trường học phía dưới chòm mây là thiên đường”. “Chữ

là một thiên đường mà chị hai thấy mình đang đứng dưới địa ngục ngóng lên” (Võ

Diệu Thanh, 2014, tr.16). Chúng ao ƣớc đƣợc vào chốn thiên đƣờng ấy dù chỉ một

ngày “được vào đó dù ngồi một ngày cũng mãn nguyện” (Võ Diệu Thanh, 2014,

tr.15). Mơ ƣớc ấy chỉ vừa lóe lên thì ngay lập tức bị ba mẹ gạt phắt đi“Má nạt ngang

khi tôi nhắc tới chữ học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.21). Để đƣợc đi học nhƣ các bạn,

Dẫu phải lén lút trốn ba mẹ đến trƣờng. Vì không đƣợc ba mẹ quan tâm, sau hơn hai

năm đi học, Dẫu vẫn chƣa biết đọc, biết viết. Chán nản vì học với những thầy cô bất

tài dạy học chạy theo thành tích, cô bé bỏ học. Không đƣợc đi học, chín chị em Dẫu bị

ba bắt đi ăn xin, bán vé số, phụ quán ăn để kiếm tiền. Hậu quả là cả chín chị em đều

mù chữ “Chị Hai tôi lúc có chồng, chẳng cầm được cây viết đặng gạch thập lúc vay

tiền phụ nữ nghèo” (Võ Diệu Thanh, 2013, tr.15). Vì cái lợi trƣớc mắt, họ đã khiến

những đứa con của mình trở thành những đứa trẻ mù chữ, không có tƣơng lai.

Viết về tình trạng trẻ em không đƣợc đi học, tình trạng trẻ em bỏ học đi bán vé

số, nhà văn đối thoại với ngƣời đọc về quyền đƣợc đi học của trẻ em. Ba mẹ, thầy cô

phải là những ngƣời giúp trẻ em đƣợc hƣởng quyền lợi chính đáng đó. Qua bi kịch của

nhân vật Dẫu trong Lần đầu thấy trăng, nhà văn cảnh báo về hậu quả của việc trẻ em

51

không đƣợc dạy dỗ đàng hoàng. Thất học là khởi đầu của nghèo đói và rất nhiều hệ

lụy khó lƣờng khác.

2.2.2. Yểu mệnh, tật nguyền

Nhân vật trẻ em bất hạnh trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

không chỉ thể hiện qua hình ảnh những đứa trẻ mồ côi, nghèo, thất học mà còn bộc lộ

qua hình ảnh những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền. Đó là bé Châu trong truyện Thả

diều. Đó là thằng cua trong truyện Siêu nhân cua.

Bé Châu (Thả diều) là một đứa trẻ đáng thƣơng. Cuộc đời của bé mãi mãi dừng

lại ở tuổi thứ năm. Em bé xinh xắn, ngoan ngoãn, dễ thƣơng này bị đuối nƣớc khi thả

diều cùng với anh trai. Phấn khích khi đƣợc anh Hai làm cho con diều đẹp, bé Châu

tung tăng chạy theo con diều. Chỉ một bƣớc hụt chân, bé Châu đã bị nƣớc nhấn

chìm“Bé Châu nằm đó ướt rượt tái xanh, không còn có thể chơi diều, không còn có

thể nói chuyện, và không còn có thể sống được nữa” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.31).

Chỉ trong tích tắc bé Châu - một cô bé xinh xắn dễ thƣơng nhƣ cô tiên nhỏ, một cô bé

nhanh nhẹn hay nói, hay cƣời, một cô bé ngoan ngoãn lúc nào cũng dạ thƣa đã biến

mất vào cõi hƣ vô. Con ngƣớc thƣờng ngày trong xanh, hiền hòa là thế giờ hung hăng

nhƣ tử thần. Nƣớc lũ tràn về đã cƣớp đi ngƣời em gái – báu vật của cu Lý. Điệp ngữ

“không còn có thể” đƣợc lặp lại ba lần càng nhấn mạnh nỗi bất hạnh của bé Châu,

xoáy sâu nỗi đau của bố mẹ và anh trai bé Châu. Nỗi đau đó cuộc trào theo con ngƣớc

lũ đục ngàu đang hung hăng tràn bờ đê. Bất hạnh mà bé Châu gặp phải có nguyên

nhân sâu xa là do sự bất cẩn của ngƣời lớn. Mải mê kiếm sống, chủ quan để hai anh

em tự chơi, phó mặc cho đứa con trai mới tám tuổi đầu phải trông chừng em, ba mẹ

của bé Châu đã vĩnh viễn mất đi đứa con bé nhỏ đáng yêu của mình. Sai lầm của bố

mẹ bé Châu là đã không lƣờng trƣớc đƣợc những nguy hiểm đang cận kề con mình.

Sống ở vùng sông nƣớc nhƣng lại không rèn cho con kỹ năng bơi lội. Chỉ một phút lơ

đễnh, họ đã khiếp bé Châu gặp bấp hạnh. Chỉ một phút lơ đễnh, họ đã phải trả giá

bằng sinh mệnh của con mình để rồi phải day dứt, đau khổ cả đời. Trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, tình trạng trẻ em gặp nguy hiểm khi chơi gần sông

nƣớc đƣợc nhà văn nhiều lần đề cập đến. Trong truyện Tiền của thần cây, việc Bòn

Bon suýt chút nữa bị đuối nƣớc đã cho thấy điều đó. Viết về nỗi bất hạnh của bé Châu,

Võ Diệu Thanh đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng trẻ em bị đuối nƣớc.

52

Từ đó, nhà văn gửi gắm thông điệp ngƣời lớn cần chú trọng giáo dục kỹ năng sống,

đặc biệt là kỹ năng bơi lội cho trẻ em để phòng ngừa những nguy hiểm có thể xảy ra.

Bên cạnh việc khắc họa những nhân vật trẻ em có ngoại hình xinh xắn, dễ

thƣơng, nhà văn cũng đề cập đến nhân vật trẻ em mang khuyết tật trên cơ thể. Thằng

cua (Siêu nhân cua) là một đứa trẻ tật nguyền. Mọi ngƣời không gọi nó bằng tên thật

(nhỏ Đệ) mà gọi là thằng cua vì nó là “một người có càng cua” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.55). Thằng cua có mƣời một ngón tay. Chỗ tay cái của nó có thêm một ngón nhỏ

“một cái càng to, một cái càng bị thương binh” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55). Bản

thân thằng cua cũng nhận thức đƣợc dị tật trên cơ thể mình. Nó tự nhận mình là cua

“con là con cua mà” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.65). Dị tật trên cơ thể khiến nó bị bạn

bè xa lánh. Lũ bạn nói nó bị cùi. Tủi thân, xấu hổ vì bị bạn bè trêu chọc, nó bỏ học.

Không đến trƣờng, không có ai chơi cùng, thằng cua thƣờng lang thang tự chơi một

mình. Nó sống lủi thủi cùng ba trong căn nhà nhỏ nằm khuất sau lùm tre. Niềm vui

mỗi ngày của nó là nấp sau lùm tre đón đƣờng nhỏ Mai đi học qua đó để hù dọa khiến

Mai sợ bỏ chạy. Mỗi lần gặp Mai, thằng cua đều dơ cái càng cua của mình lên để dọa

“Nó thường giơ cái càng cua của nó lên mỗi khi gặp nhỏ Mai. Nhỏ Mai rất kinh hãi

cái càng. […] Nó sợ thằng cua vì thật sự thằng đó có cái càng cua” (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.52). Không có mẹ, không đƣợc đi học, không có bạn bè, cơ thể bị dị tật, thằng

cua là đứa trẻ chịu nhiều thiệt thòi nhất trong số những nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Viết về những đứa trẻ tật nguyền không chỉ có Võ Diệu Thanh mà còn có Quế

Hƣơng. Đọc tập truyện Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng, ta bắt gặp nhiều đứa trẻ tật

nguyền đáng thƣơng. Đó là thằng đầu to trong Vua lũ đồ chơi. Đó là con Lỡ trong Bà

mụ búp bê. Thằng đầu to mang nhiều dị tật trên cơ thể: đầu to, lƣng còng, chân thọt.

Nó trông giống nhƣ ông kẹ. Những khuyếm khuyết trên cơ thể khiến việc di chuyển

của nó rất khó khăn. Thằng đầu to không đi đƣợc, chỉ lết là giỏi. Nó thậm chí không

thể khóc đƣợc. Mỗi khi buồn nó chỉ biết hét. Bất hạnh của nó là bị ngƣời thân bỏ mặc,

không quan tâm “Mỗi ngày mẹ nó ghé đúng năm phút vào buổi sáng và để lại mùi

nước hoa váng vất chóng mặt. Cha nó ghé buổi tối nồng nặc mùi bia. Còn vú Năm ghé

ban ngày, vú tỏa mùi xà phòng” (Quế Hƣơng, 2004, tr.3). Là vua của lũ đồ chơi –

những đồ chơi đắt tiền nhƣng nó không hề cảm thấy vui vì không có ai chơi cùng. Lỡ

(Bà mụ búp bê) cũng là một đứa trẻ bất hạnh vì tật nguyền. Nếu dị tật của thằng cua

53

(Siêu nhân cua), thằng đầu to (Vua lũ đồ chơi) là dị tật bẩm sinh thì dị tật của con Lỡ

là dị tật do di chứng sau khi sốt quá cao. Sự vô tâm của ba mẹ khiến nó “bị què sau

trận sốt tê liệt khi lên hai” (Quế Hƣơng, 2004, tr.112). Lỡ hiện lên trong tác phẩm là

một đứa trẻ “què quặt, ốm yếu”, “đôi chân cong vòng, nhỏ nhƣ cây sậy” (Quế Hƣơng,

2004, tr.111). Không chỉ bị dị tật ở chân, con Lỡ còn bị dị tật ở mắt “Con Lỡ lại bị một

cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả lúc nó cười” (Quế Hƣơng, 2004,

tr.112). Bất hạnh của Lỡ bắt nguồn từ sự vô tâm, vô trách nhiệm của đấng sinh thành.

Ba mẹ nó coi nó nhƣ một tai nạn, một chuyện ngoài ý muốn, lỡ nên mới sinh, rồi lỡ

quên tiêm phòng cho nó. Nếu thằng đầu to có cả một tủ đồ chơi đắt tiền thi con Lỡ

không có món đồ chơi nào của riêng mình. Con búp bế mà nó chơi hằng ngày là món

đồ chơi đã cũ, xấu xí, tật nguyền “trụi tóc, cụt tay” hẩm hiu nhƣ nó vậy. Đó là “con

búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó” (Quế Hƣơng, 2004, tr.112). Ƣớc mơ đƣợc

lành lặn, xinh đẹp của con Lỡ đƣợc thể hiện rõ qua giấc mơ “Nó mơ nó đau bụng, đẻ

con. Đẻ một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trông chiếc áo đầm

voan trắng” (Quế Hƣơng, 2004, tr.119). Với con Lỡ, những điều tốt đẹp chỉ xuất hiện

trong những giấc mơ.

Nét riêng trong cách viết về trẻ em tật nguyền bất hạnh của Võ Diệu Thanh đó

là luôn lấp lánh tinh thần lạc quan. Khác với những dị tật không thể chữa lành của

thằng đầu to, của con Lỡ trong truyện của Quế Hƣơng, dị tật của thằng cua trong

truyện của Võ Diệu Thanh đƣợc chữa lành. Càng cua trên tay của thằng cua cuối cùng

cũng đƣợc cắt bỏ nhờ vào sự giúp đỡ của cô Thanh và một nhà hảo tâm. Cuộc đời

thằng cua từ đó bƣớc sang một trang mới “Bàn tay nó chỉ còn cái sẹo nhỏ xíu” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.65). Rũ bỏ mặc cảm, tự ti, thằng cua – giờ là nhỏ Đệ vui vẻ đến

trƣờng. Trong cách nhìn của bạn bè cùng lớp, nó không còn dữ tợn, đáng sợ mà trở

nên hiền lành, dễ mến “không có cái càng cua, nhỏ Đệ trở nên hiền lành” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.65). Viết về những đứa trẻ yểu mệnh, tật nguyền, Võ Diệu Thanh bộc

lộ cái nhìn cảm thông, thƣơng xót đối với những bất hạnh của trẻ em. Qua lời của ba

bé Mai (Thả diều) và lời của cô giáo Thanh (Siêu nhân cua), nhà văn khẳng định việc

kết tội, kì thị trẻ là hành động đáng lên án. Nỗi đau chỉ có thể xoa dịu bằng hơi ấm tình

ngƣời.

54

2.2.3. Nạn nhân của bạo lực gia đình

Gia đình là cái nôi, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của mỗi ngƣời. Ai cũng

mong muốn đƣợc lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng của cha mẹ. Nhƣng rất nhiều

ngƣời không có đƣợc điều đó. Họ thƣờng xuyên phải hứng chịu những lời mắng chửi,

đòn roi từ chính những ngƣời thân trong gia đình mình. Đó là biểu hiện của tình trạng

bạo lực gia đình. Vấn nạn đó ngày càng có xu hƣớng gia tăng trong xã hội ngày nay.

Điều này đƣợc Võ Diệu Thanh đề cập đến trong các sáng tác của mình, đặc biệt là

trong các truyện viết cho thiếu nhi. Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều trẻ em là nạn nhân của bạo

lực gia đình. Các em bị tổn thƣơng cả thể xác lẫn tâm hồn. Đó là Hào trong Siêu nhân

cua, cu Lý trong Thả diều và Nhã, bé Thi trong Bí mật theo cô.

Hào (Siêu nhân cua) thƣờng xuyên bị ba đánh đòn. Những lúc bị ba đánh, nó

chỉ biết đứng im chịu trận không bỏ chạy, không khóc, không kêu la: “Tôi đi học

ngang nhà nó nên ngày nào cũng thấy nó bị đòn. Mà ba nó khó y như nó. Đánh không

cho nó khóc cũng không cho chảy nước mắt. Nó cắn răng lại” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.70). Qua lời kể của Hƣng, ngƣời đọc hình dung rõ những đau đớn của Hào. Vì bị

đánh nhiều, thằng Hào trở nên lì đòn, ngổ ngáo. Đi học, nó luôn kiếm cớ bắt nạt bạn

bè trong lớp. Nó bắt nhỏ Mai vẽ cho nó, bắt thằng Nam viết bài cho nó, bắt thằng

Hƣng đi mua bánh cho nó. Bất cứ bạn nào trong lớp cũng là đối tƣợng để nó bát nạt.

Tinh nghịch, nhanh nhẹn nhƣ Hƣng cũng không thể chạy trốn đƣợc nó. Thông minh,

sáng dạ nhƣ Nam cũng không nghĩ ra cách để đối phó với nó. Ngây thơ, hiền lành nhƣ

nhỏ Mai cũng không làm nó mủi lòng tha cho. Tất cả các bạn trong lớp đều sợ nó, đều

phải phục tùng nó, miễn cƣỡng làm theo yêu cầu của nó “phải mua đúng cái loại nó

thích ở bên kia đường. Tôi sợ xe thì cũng phải đi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70).

Không đƣợc nhƣ ý, thằng Hào sẽ trút giận bằng cách đánh bạn “Thằng Hào đánh

thằng Nam vì cái tội thằng này dám kéo con Mai đi chơi khi nó đang bắt con Mai vẽ

tranh cho nó” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69). Trong cách nhìn của Hƣng, thằng Hào

hung dữ giống nhƣ ba nó vậy “Cái kiểu nó nói chuyện sao giống lúc ba nó đánh đòn

nó” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70). Vì sợ bị nó đánh, Hƣng phải nghỉ học bốn. Vì sợ nó

đánh, những bạn từng bị nó bắt nạt không ai dám tố cáo với thầy hiệu trƣởng. Khi thầy

đến tận lớp điều tra bạn nào thƣờng xuyên đánh các bạn khác, nó liền dơ nắm đấm lên

hù dọa. Sau khi thầy quay lƣng ra ngoài, nó liền đánh bạn “Nó vừa nói vừa ép tôi vô

55

tường rồi co tay thụi vô bụng tôi một cái” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72). Sở dĩ Hào tỏ

ra ngổ ngáo, luôn bắt nạt bạn, đánh bạn là vì nó đã chịu rất nhiều đòn roi từ bố. Những

uất ức khi bị bố đánh không thể khóc, không thể la, không thể nói ra lâu ngày dồn nén

khiến nó bị tổn thƣơng tâm lí. Vì thế, thằng Hào đáng thƣơng hơn đáng trách. Khi hiểu

đƣợc vì sao Hào hay đánh bạn nhƣ vậy, các bạn trong lớp đã có cái nhìn thông cảm

hơn với nó. Trong mắt của Hƣng, Hào thật ra cũng rất hiền “Thật ra nó không hung dữ

chút nào bạn ạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73).

Cu Lý (Thả diều) cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nếu Hào trong Siêu

nhân cua chỉ bị bạo lực thân thể thì cu Lý bị bạo lực cả thân thể và bạo lực tinh thần.

Là một ngƣời anh hết mực thƣơng yêu em, cu Lý cả thấy sợ hãi, đau đớn khi thấy em

bị đuối nƣớc. Nỗi đau vì mất đi đứa em gái mà mình yêu thƣơng nhất không đƣợc

chữa lành. Tâm hồn non nớt của một đứa trẻ càng bị tổn thƣơng sâu sắc khi ba mẹ vì

quá đau buồn khi đứa con gái bé bỏng, xinh xắn, đáng yêu bị đuối nƣớc đã trút giận

lên nó. Đòn roi và những lời mắng chửi thậm tệ của cha mẹ đã làm cu Lý tổn thƣơng.

Nó trở nên chai sạn với những lời rủa sả, mắng nhiếc thật nặng lời, những nhát roi thật

đau của ba và tiếng khóc thê thiết của má. “Những vết roi chồng lên những vết roi.

Những nhát roi bền bỉ làm cho nó chai đòn lì đòn” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 32).

Không tìm đƣợc sự đồng cảm từ bố mẹ và mọi ngƣời, cu Lý giấu kín nỗi đau trong

lòng. Nó trở nên cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Với một đứa trẻ lên tám, nỗi

đau đó thật quá sức chịu đựng. Một đứa trẻ thông minh, hoạt bát bỗng trở nên lầm lì.

Một đứa trẻ tình cảm, ngoan ngoãn bỗng trở nên vô cảm, phá phách. Một đứa trẻ rất

mực cƣng chiều em bỗng trở nên căm giận tất cả những đứa trẻ đƣợc ba mẹ cƣng

chiều. Một đứa trẻ rất mê thả diều bỗng trở nên căm ghét tất cả những ai thả diều “Con

ghét hết thảy diều. vì con mê thả diều mà em con té xuống nước rồi” (Võ Diệu Thanh,

2017, tr. 35). Những lời kết tội của ba mẹ khiến cu Lý luôn sống trong giày vò mặc

cảm. Nó đau đớn, ân hận tự trách mình, rồi giận lây sang cả con diều và những đứa trẻ

thả diều. Nỗi đau mất em âm ỉ trong tim nó suốt hai năm “Nó chiêm bao thấy con Điêu

Thuyền õng ẹo, màu mè bay vào mặt nó. Nó chụp con Điêu Thuyền định xé con diều

thì bất ngờ con diều biến thành Bé Châu cụt đuôi đau đớn nằm gọn trong tay nó. Nó

ôm Bé Châu vô mình khóc hức từng cơn” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.33). Nỗi đau đó

phần nào đƣợc xoa dịu khi cu Lý đƣợc hai cha con bé Mai động viên tâm sự.

56

Nhân vật trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh không chỉ có Hào, Lý mà còn có Nhã và bé Thi - em của Nhã.

Trong truyện Bí mật theo cô, Nhã thƣờng xuyên nghe ba mẹ chửi nhau, thƣờng xuyên

chứng kiến cảnh mẹ nó bị bạo hành. Mỗi lần đi nhậu về, ba của nó lại mắng chửi, đuổi

đánh ba mẹ con nó. Không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Nó sợ tiếng cằn nhằn

của má, tiếng chửi của ba, tiếng khóc ré lên của em Thi. Số lần ba má nó mắng chửi,

đánh đập nhau không tính bằng chục, trăm lần mà đến hàng ngàn, hàng tỉ lần “Khi ba

bắt đầu nhóng ga cho xe lao đi mặt má đã tối sầm. Khi ba về thì mọi thứ như đổ ầm

xuống. Nhã thường kéo má đi ra cái nhìn của ba. “Nhịn ổng đi má”. Nhã nói theo bà

ngoại, nói riết thành quen miệng. Đã thấy má nhịn hàng ngàn hàng tỉ lần” (Võ Diệu

Thanh, 2017, tr. 40). Việc ba má Nhã thƣờng xuyên gây lộn với nhau gây nên những

tổn thƣơng rất lớn trong lòng Nhã “Những lúc họ gây nhau Nhã muốn nhảy nhót như

điên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 40). Sinh ra trong một gia đình nghèo, không đƣợc ba

mẹ quan tâm lại thƣờng xuyên chứng kiến cảnh ba mẹ gây lộn, vì thế Nhã không thể

hồn nhiên, vô tƣ nhƣ những bạn cùng lứa tuổi. Nó lúc nào cũng buồn lo. Là một cô bé

học lớp Năm, nhƣng Nhã lo nghĩ nhƣ một ngƣời lớn. Nó hầu nhƣ không đêm nào có

đƣợc một giấc ngủ ngon. Bởi, “Nó còn phải lắng nghe coi ba nó đã về chưa, má nó có

cằn nhằn không để còn khuyên một câu: “Nhịn đi má ơi”. Nó còn phải lắng nghe coi

má có mở cửa nhà bỏ đi không. Nhất là mấy bữa má khóc nhiều, than thở nhiều” (Võ

Diệu Thanh, 2017, tr. 40). Cô bé đáng thƣơng luôn gồng mình, tìm mọi cách để ba mẹ

hòa hợp. Biết ba muốn ăn “món canh khổ qua dồn chả” nó mừng quýnh nhờ má chở đi

chợ mua đồ, học cách nấu. Nhã dồn hết tình yêu thƣơng ba của mình vào món ăn, kì

công chuẩn bị “bỏ cả nửa ngày bằm chả”. Nhƣng, đáp lại là sự vô tâm của ba. Đến giờ

ăn, khi có bạn nhậu gọi đi, ba nó liền đi ngay. Nhã cảm thấy tủi nghẹn “Tiếng xe máy

xa dần. Nhã nghe hơi nóng ở ngực nhéo một cái mạnh, một cơn nghẹn trào lên” (Võ

Diệu Thanh, 2017, tr. 46). Nồi canh mà nó dành bao công sức, tỉ mẩm để nấu cuối

cùng “chẳng ai rớ tới nó”. Buồn hơn là khi đi nhậu về ba nó nổi nóng liền hất luôn nồi

canh. Đề tập làm văn cô giáo giao “Viết về bữa cơm gia đình” với một đứa học giỏi

Văn nhƣ nó không khó. Nhƣng nó không thể viết đƣợc. Bởi nó chƣa từng có một bữa

cơm gia đình đầm ấm. Điều bình thƣờng, giản dị với mỗi ngƣời lại trở thành mơ ƣớc

của nó.

57

Không chỉ Nhã bị ám ảnh mỗi lần ba má nó gây lộn mà bé Thi – em của Nhã

cũng bị ám ảnh “Bé Thi khóc ré lên. Má đi riết vào nhà. Nhã đóng cửa nhà rồi cũng đi

theo. Má đã kế một bên mà bé thi còn tức tưởi. Có lẽ bé cũng đang ám ảnh cảnh ẩu đả

của ba má lúc chiều. Em Thi mới ba tuổi đầu …” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 41). Mới

ba tuổi đầu, bé Thi đã bị tổn thƣơng tâm lí nặng nề vì nhiều lần chứng kiến cảnh ba mẹ

đánh nhau. Nó đã quen với việc mỗi lần ba đi nhậu về là phải chạy trốn “Ba gần về

rồi, Mình chạy đi má, để hông thôi ổng xỉn rượt chạy không kịp” (Võ Diệu Thanh,

2017, tr. 46). Lời nói của một đứa trẻ non nớt khiến ngƣời đọc không khỏi nghẹn lòng.

Viết về những đứa trẻ là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, nhà văn bày

tỏ sự cảm thƣơng sâu sắc. Khác với nhỏ Hạnh, Quý ròm, Văn Châu, Tiểu Long trong

Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh may mắn khi đƣợc sinh ra trong gia đình có điều

kiện khá giả, đƣợc bố mẹ quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để học tập và vui chơi,

Dẫu, Hào, Nhã, Thi, cu Lý trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh lại chịu

nhiều thiệt thòi khi thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Bất hạnh lớn nhất của các em

đó là thƣờng xuyên bị mắng chửi, đánh đập. Tâm hồn non nớt của chúng bị tổn thƣơng

sâu sắc trƣớc những câu nói đay nghiến nặng lời từ chính ba mẹ của mình. Trẻ em sinh

ra là để đƣợc yêu thƣơng, che chở chứ không phải để nghe chửi mắng, để bị đánh đập.

Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hƣởng đến tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học

đó là gia đình. Những đứa trẻ đƣợc sinh ra và lớn lên trong một gia đình hạnh phúc,

đƣợc ba mẹ yêu thƣơng, quan tâm đúng cách thƣờng có tâm lí ổn định. Trẻ em lớn lên

trong môi trƣờng nhƣ vậy thƣờng sẽ cảm thấy vui vẻ, trẻ sẽ vô tƣ, hồn nhiên đúng tuổi.

Ngƣợc lại những đứa trẻ không đƣợc cha mẹ quan tâm, yêu thƣơng đúng cách thƣờng

có tâm lí thay đổi thất thƣờng: hoặc là trở nên rụt rè, nhút nhát, hoặc trở nên lì lợm,

phá phách. Nhƣng nhìn chung những đứa trẻ lớn lên trong môi trƣờng nhƣ vậy thƣờng

sống nội tâm, ít nói, thu mình lại, giấu kín suy nghĩ của mình.

Võ Diệu Thanh có tuổi thơ chịu nhiều thiệt thòi khi phải sống xa ba mẹ từ nhỏ.

Vì thế, hơn ai hết, chị hiểu, thông cảm những khó khăn, những thiệt thòi của những

đứa trẻ kém may mắn trong cuộc sống. Với trái tim nồng nàn yêu thƣơng của một

ngƣời mẹ, của một cô giáo tiểu học, bằng tài năng của một nhà văn, Võ Diệu Thanh đã

chạm đến trái tim của độc giả. Viết về những tổn thƣơng tinh thần của những đứa trẻ là

nạn nhân của bạo lực gia đình nhƣ Hào, cu Lý, Nhã, bé Thi, Võ Diệu Thanh muốn

58

nhắn nhủ đến những bậc phụ huynh hãy dành nhiều thời gian để lắng nghe mong

muốn của con mình.

2.3.4. Nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục

“Mỗi ngày đến lớp là một ngày vui”. Câu khẩu hiệu quen thuộc ấy treo ở khắp

các trƣờng học, khắp các lớp học. Nhƣng, liệu học sinh có thực sự vui vẻ đến trƣờng

khi căn bệnh thành tích trong giáo dục đang phát triển và trở thành ung nhọt khó có thể

chữa lành. Nhiều học sinh trở thành nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục.

Nhiều học sinh sợ học, chán học và bỏ học. Thực trạng đó đƣợc Võ Diệu Thanh đề cập

đến trong nhiều truyện viết cho thiếu nhi. Tìm hiểu hình tƣợng nhân vật trẻ em trong

truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều trẻ em là nạn

nhân của bệnh thành tích trong giáo dục. Đó là Dẫu, Dị, Hậu, Đực, Hà Vi, Tƣờng

trong Lần đầu thấy trăng; Dƣa Leo trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.

Dẫu (Lần đầu thấy trăng) là một trong những nạn nhân của căn bệnh thành tích

trong giáo dục. trƣớc khi đi học từng nghĩ rằng trƣờng học là chốn thiên đƣờng.

Nhƣng khi đã đặt chân vào chốn thiên đƣờng ấy, nó hụt hẫng nhận ra nơi ấy chẳng

khác gì một nhà tù. Nó và những học sinh trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi là những nạn

nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục. Năm lớp Một, Dẫu học với thầy Mãi.

Trong mắt Dẫu, thầy Mãi là một giáo viên bất tài, dạy học rập khuôn, thƣờng hay

mắng chửi, thậm chí đánh đập học sinh. Học xong lớp Một, Dẫu vẫn chƣa biết đọc.

Lên lớp Hai, dẫu học với cô Đẹp. Nó quen gọi cô là cô Tài Ba vì cô có tài biến hóa,

phù phép chất lƣợng, có tài diễn xuất trong những lần có đoàn thanh tra dự giờ, có tài

dụ và dọa học sinh và đặc biệt là có tài lấy lòng phụ huynh học sinh. Vì căn bệnh

thành tích, thầy Mãi, cô Tài Ba tìm cách đẩy Dẫu lên lớp. Hậu quả là lên lớp Ba nó

vẫn chƣa biết đọc. Chán nản với việc học, Dẫu bỏ học đi bán vé số. Với nó, đi học là

một cực hình, nhà trƣờng giống nhƣ nhà tù, địa ngục “Nhờ có những ngày đi học

giống như địa ngục mà tôi thấy bán vé số sướng” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.106). Dẫu

cảm thấy việc mình bỏ học đi bán vé số là sáng suốt “Tôi phát hiện mình có năng

khiếu bán vé số. Một cái nghề không cần học vẫn có thể kiếm được tiền” (Võ Diệu

Thanh, 2014, tr.106). Sau những ngày tháng bỏ học đi bán vé số, cuộc đời của Dẫu

trƣợt dài. Dẫu sa ngã. Nó bán trinh khi mới mƣời bốn tuổi.

Dị (Lần đầu thấy trăng) trở thành nạn nhân của bệnh thành tích giáo dục theo

một cách khác. Vì ham mê thành tích, mẹ của Dị đã dùng tiền để hối lộ cô giáo chủ

59

nhiệm “Thằng Dị nói năm nay nó sẽ được ưu tiên. Tôi mà ăn hiếp nó cô sẽ tính sổ tôi.

Nó nói đầu năm má nó đã đem một phong bì lớn tới đưa cho cô Đẹp rồi” (Võ Diệu

Thanh, 2014, tr. 59). Nhờ đó, Dị vẫn đƣợc lên lớp Hai dù chƣa biết đọc, chƣa biết viết.

Thậm chí, nó còn đƣợc nhận giấy khen. Hậu quả của thành tích ảo đó là Dị lên lớp Ba

vẫn chƣa biết đọc.

Giống nhƣ Dẫu và Dị, Hậu cũng là nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo

dục. Hậu bị ép lên lớp để không ảnh hƣởng đến chỉ tiêu của trƣờng. Giữa năm lớp

Bốn, Hậu nhận đƣợc tin thầy hiệu trƣởng yêu cầu Hậu sang năm phải lên lớp Sáu. Để

theo kịp chƣơng trình, Hậu phải gồng mình học “Dạ tại con đủ tuổi lớp Sáu. Ngày mai

con phải đi học ngày hai buổi, sáng lớp Bốn chiều lớp Năm, đặng hết năm nay vô học

lớp Sáu. Con không học lớp Sáu đâu, con nghỉ học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.101).

Một nạn nhân khác của căn bệnh thành tích trong giáo dục đó là Đực. Nó sớm

bỏ học lêu lổng vì chán ngán việc học và mất niềm tin nơi thầy cô. Qua lời kể của Đực

với Dẫu, ngƣời đọc hiểu hơn những tiêu cực trong giáo dục. Đực vốn là học sinh lớp

cô Tài Ba. Nó học yếu nên bị cô Tài Ba tìm mọi cách đẩy sang lớp khác. Đực bị cô dụ

sang học lớp thầy Minh cô sẽ cho tiền. Nó còn bị cô dọa nếu học lớp cô sẽ bị cô đánh,

vi phạm gì ở lớp cô sẽ mách với ba nó. Trƣớc những lời dỗ ngọt và dọa nạt của cô

giáo, nó buộc phải chuyển lớp. Vì căn bệnh thành tích, Đực bị đẩy từ lớp này sáng lớp

khác. Sự vô tâm đùn đẩy trách nhiệm của cô Tài Ba đã khiến Đực mất niềm tin vào

thầy cô. Nó bỏ học chơi bời lêu lổng, trƣợt dài sa ngã rồi trở thành ma cô chuyên bảo

kê cho gái làng chơi.

Những học sinh học yếu nhƣ Dẫu, Dị, Hậu, Đực chán nản vì chuyện học tập đã

đành, ngay cả những học sinh học giỏi nhƣ Hà Vi và Tƣờng cũng thấy việc học không

có gì là vui. Chúng cũng là những nạn nhân của căn bệnh thành tích. Vì muốn con

đƣợc xếp hạng nhất, mẹ của Hà Vi ép nó học thêm trƣớc tuổi. Khi những kiến thức

trong sách giáo khoa không còn điều gì mới mẻ để khám phá, Hà Vi không còn cảm

thấy hứng thú khi học ở lớp Nhỏ này cái gì nó cũng biết trước. Nó đọc báo được luôn.

Nó đã được má nó mướn cô giáo dạy tư khi nó mới bốn năm tuổi. Đó là cách để vô lớp

thành học trò vượt trội (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.30). Điều mà mẹ của Hà Vi quan tâm

mong muốn không phải là con học đƣợc gì ở trƣờng mà là con có đƣợc xếp hạng nhất

hay không “Má nó nói, dù thầy Mãi không dạy gì hết nó cũng giỏi như thường. Bà

muốn nó lãnh thưởng hạng nhất nên đưa nó vô lớp thầy Mãi” (Võ Diệu Thanh, 2014,

60

tr.30). Để đạt đƣợc mục tiêu của mẹ đề ra, Hà Vi phải học thêm tối ngày. Nó học nhƣ

mọt sách không có thời gian để vui chơi nhƣ các bạn cùng trang lứa. Tƣờng là nạn

nhân của bệnh thành tích trong giáo dục khi phải làm bài thi thay bạn “Mỗi kỳ thi để

những đứa như tôi, Hậu, Dị có bài cô nhờ mấy đứa như Tường làm bài giùm” (Võ

Diệu Thanh, 2014, tr.60). Không phải là học sinh giỏi nhƣng vì là con giáo viên trong

trƣờng nên nó phải gồng mình để học. Áp lực học hành khiến nó không thể hồn nhiên,

vô tƣ đúng tuổi. Những căng thẳng đè nặng từ việc học quá sức khiến Tƣờng bị tâm

thần. Học đến phát khùng thì quả thật đáng sợ.

Nhân vật trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục còn có Dƣa

Leo (Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm). Qua lời kể của Mèo Ma Văn Vẻ thì “Dưa Leo là một

thằng sợ học. Nó nói lớp học nó có năm mươi đứa. Bốn mươi chín đứa đạt loại giỏi và

một mình Dưa Leo đạt loại trung bình” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14). Theo lời cô

giáo, học dốt nhƣ nó thì hoàn toàn không có tƣơng lai “Còn loại trung bình mém yếu

như Dưa Leo thì tới bê tông cũng không có mà cạp hoặc không biết đường cạp” (Võ

Diệu Thanh, 2016, tr.15). Áp lực thành tích khiến nó luôn tự ti không dám mở lòng với

bạn bè. Nó thƣờng rầu rĩ “ngồi nói một mình”. Mỗi ngày đến trƣờng với nó là một

ngày buồn chán “Vào lớp học Dưa Leo lại nằm ngủ” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.16).

Hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục

cũng đƣợc Quế Hƣơng khắc họa đậm nét qua nhân vật cu Gạo. Trong truyện ngắn

Trốn tìm, cu Gạo hiện lên là một đứa trẻ đáng thƣơng khi bị áp lực thành tích đè nặng.

Bố mẹ nó là những ngƣời có địa vị xã hội muốn con phải học trƣờng chuyên, lớp chọn.

Khi thấy cu Gạo không theo kịp các bạn ở trƣờng chuyên, họ tìm mọi cách để chuyển

trƣờng cho con. Để chuyển trƣờng, bố mẹ cu Gạo phải chạy chọt “Lại phải chạy cho

nó từ trung bình lên khá giỏi người ta mới nhận” (Quế Hƣơng, 2004, tr.142). Không

chỉ chịu áp lực từ phía gia đình, cu Gạo còn chịu áp lực rất lớn từ thầy cô. Thầy giáo

dạy Toán luôn “khủng bố” nó bằng những câu chửi: “ở lớp ông khủng bố dội bom nó

liên tục. Chữ như gà bới. Chậm như rùa. Nhát như thỏ. Ngu như chó” (Quế Hƣơng,

2004, tr.137). Áp lực học hành khiến cu Gạo trở thành đứa trẻ tự kỉ. Không bằng lòng

với cách dạy rập khuôn của thầy toán “khủng bố” và “cô văn mẫu”, thay vì nói tiếng

ngƣời, nó sủa tiếng chó “Gâu …gâu…gâu…” (Quế Hƣơng, 2004, tr.137). Thành tích

trở thành tảng đá vô hình luôn đè nặng tâm trí cu Gạo “thằng bé mười hai tuổi lử đử lừ

61

đừ cõng trong tâm hồn mình một tảng đá nặng hơn thân xác” (Quế Hƣơng, 2004,

tr.147).

Có thể thấy, căn bệnh thành tích trong giáo dục đã khiến nhiều trẻ em chịu bất

hạnh. Võ Diệu Thanh gọi những đứa trẻ bất hạnh đó là những đứa trẻ bị dị tật về tinh

thần. Điều đáng buồn là tình trạng trẻ em bị dị tật tinh thần nhƣ vậy ngày càng trở nên

phổ biến “Những đứa trẻ kiểu Dẫu Dị Hợm còn đầy đó” (Võ Diệu Thanh, 2014,

tr.270). Viết về những trẻ em là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục nhà

văn bày tỏ những trăn trở, bức xúc về sự vô tâm của ngƣời lớn“Những người lớn gặp

con cháu không bao giờ hỏi cháu lúc này có gì vui không, có gì thú vị để san sẻ

không? Chỉ hỏi cháu học đạt loại gì, hạng mấy, lớp mấy” (Võ Diệu Thanh, 2014,

tr.268). Những kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô đã vô tình tạo ra áp lực cho trẻ em. Để

vừa lòng ngƣời lớn, những đứa trẻ học một cách đối phó “tao muốn chứng tỏ mình

siêng một chút, có học dở họ cũng không có rầy la” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.287).

Qua hình tƣợng nhân vật trẻ em là nạn nhân của bệnh thành tích trong giáo dục, nhà

văn khẳng định bộ lộ những trăn trở suy tƣ và phƣơng pháp giáo dục, đồng thời cất

tiếng nói đối thoại về hình tƣợng ngƣời thầy và về quyền của trẻ em.

2.3. Nhân vật trẻ em giàu lòng nhân hậu

Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có hoàn

cảnh sống khác nhau, tính cách khác nhau nhƣng phần lớn là những đứa trẻ rất giàu

tình cảm. Đó là những đứa trẻ rất yêu thiên nhiên, yêu thƣơng loài vật, yêu thƣơng con

ngƣời, đặc biệt là những ngƣời thân. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua các nhân vật

nhƣ: Bin trong Chú ong bé bỏng, Nhân trong Cáp treo cho những mặt trời; Ngàn, Hà

trong Khi hai vua về một nhà, Quý trong Chúng mình bay đầy trời và Bòn Bon, Vĩ

trong Tiền của thần cây.

2.3.1. Yêu thiên nhiên

Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin khiến những đứa trẻ tìm niềm

vui trong những bộ phim hoạt hình, những trò chơi điện tử bên chiếc điện thoại hay

máy tính bảng. Nhiều trẻ em cảm thấy xa lạ với những con vật, cây cỏ xung quanh

mình. Vì thế, việc khơi dậy tình yêu đối với thiên nhiên qua những tác phẩm văn học

là điều rất cần thiết. Là nhà văn dành nhiều tâm huyết với mảng văn học thiếu nhi, Võ

Diệu Thanh trong những sáng tác của mình luôn hƣớng ngòi bút đến việc giáo dục tình

62

yêu thiên nhiên cho trẻ em. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua việc khắc họa nhân vật trẻ

em với tình yêu thiên nhiên tha thiết.

Trẻ em luôn thích đƣợc gần gũi, chan hòa, gắn bó với thiên nhiên, thích đƣợc

nhìn ngắm, nô đùa cùng cỏ, cây, hoa, lá. Với trẻ em, thế giới tự nhiên luôn bí ẩn, diệu

kì cần đƣợc khám phá. Có thể nói, trẻ em luôn dành một tình cảm yêu thƣơng đặc biệt

đối với thiên nhiên xung quanh mình. Với trẻ thiên nhiên không chỉ là đối tƣợng để

tìm hiểu, khám phá mà còn là một ngƣời bạn thân thiết. Ngƣời bạn đó luôn mở rộng

vòng tay để ôm ấp vỗ về, luôn mở rộng trái tim để lắng nghe thấu hiểu những lúc trẻ

em cần.

Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy nhiều

nhân vật trẻ em hiện lên với tình yêu thiên nhiên tha thiết. Điều này đƣợc thể hiện rõ

nhất qua hai nhân vật Bin trong Chú ong bé bỏng và Quý trong Chúng mình bay đầy

trời.

Bin (Chú ong bé bỏng) rất yêu vƣờn bí ngô của ông nội. Mỗi ngày, nó thƣờng

cùng ông nội chăm sóc khu vƣờn. Bin chăm chỉ “tƣới nƣớc cho cây bí”. Cậu bé say

sƣa ngắm nhìn khu vƣờn và reo vui khi nhìn thấy những bông hoa bí vàng tƣơi “Bin

nhìn mấy bông hoa bí vàng tươi rất khoái chí” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.20). Nó hồ

hởi dẫn các bạn đến tham quan khu vƣờn và nhiệt tình giới thiệu từng quả bí, từng loại

hoa bí cho các bạn biết. Không chỉ vậy, Bin còn háo hức kể lại “chiến tích” thay ong

thụ phấn cho hoa bí. Khi lỡ tay “cắt hết bông bí đực”, sợ vƣờn bí không thể đậu quả,

Bin đã “lấy phấn hoa ở hoa bí đực để vào hoa bí cái” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.31).

Nhờ thế Bin là cứu nguy cho vƣờn bí. Nhìn những quả bí ngô to lớn, Bin không khỏi

không tự hào “Bin đưa các bạn về nhà để khoe quả bí” (Võ Diệu Thanh, 2020, tr.10).

Nếu Bin thích cùng nội chăm sóc vƣờn bí ngô thì Quý lại thích đƣợc cùng nội

chăm sóc vƣờn su su.Tình yêu đó đƣợc bộc lộ rõ qua nỗi nhớ da diết vƣờn su su. Khi

chuyển chỗ ở để thuận lợi cho việc học, không đƣợc cùng nội chăm sóc vƣờn su su,

Quý rất buồn, rất nhớ. Nó luôn tìm cách chạy trốn để về với nội, về để cùng nội trồng

su su “Nó nói nhớ núi Cấm, nhớ Nội, nhớ cái vườn su su của Nội” (Võ Diệu Thanh,

2016b, tr.10). Tình yêu dành cho thiên nhiên của Quý còn đƣợc bộc lộ qua lời kể của

Hƣng. Phải xa vƣờn su su Quý buồn bao nhiêu thì khi đƣợc về thăm vƣờn nó vui vẻ,

hạnh phúc bấy nhiêu. Hình ảnh Quý xuất hiện trên ti vi bên vƣờn su su hiện lên thật

đẹp qua cái nhìn của Hƣng: “Thằng Quý nó cắt mấy trái su su. Nó còn bưng rổ su su

63

để vào rổ lớn cho mẹ gánh đi bán” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.64). Trong khi chơi đùa

cùng các bạn, Quý thƣờng hào hứng kể cho các bạn nghe về vƣờn su su của nội, về

cách trồng, chăm sóc và thu hoạch su su ra sao. Phải có lòng yêu thiên nhiên tha thiết

Quý mới vui vẻ, hào hứng yêu thích việc trồng su su trên núi Cấm cùng nội đến vậy.

Viết về nhân vật trẻ em có tình yêu thiên nhiên tha thiết không chỉ có Võ Diệu

Thanh. Đọc các truyện viết cho thiếu nhi của Trần Hoài Dƣơng, Nguyễn Ngọc Thuần,

ngƣời đọc cũng sẽ bắt gặp những đứa trẻ thích đƣợc hòa mình với thiên nhiên. Trang

trong Lá non của Trần Hoài Dƣơng là một cô bé nhƣ thế. Cô bé rất yêu các loài cây cỏ

xung quanh mình, đặc biệt là cây long não. Tình yêu đó đƣợc bộc lộ rõ nhất trong lần

Trang bị ốm. Tâm trạng buồn vui của nhân vật gắn liền với cây long não. Những ngày

ở bệnh viện trong căn phòng kín mít, không đƣợc ngắm nhìn và ngửi mùi hƣơng của

loại cây mà mình yêu thích, Trang rất buồn. Nhƣng khi các bạn trong lớp mang cây

long não đến thăm, cô bé vui mừng hớn hở. Nó áp mặt vào cành long não, say sƣa

ngắm nhìn những bông hoa li ti và hít một hơi thật dài để cảm nhận mùi thơm ngào

ngạt đang tỏa ra khắp phòng. Những buồn chán, mỏi mệt của nó dƣờng nhƣ tan biến.

Vì yêu thiên nhiên, muốn đƣợc gần gũi, khám phá những điều kì thú của thiên nhiên,

Trang mơ ƣớc lớn lên sẽ thi vào Trƣờng Đại học Tổng hợp, khoa Sinh vật. Có thể nói,

chính tình yêu thiên nhiên sâu sắc, mãnh liệt đã chắp cánh ƣớc mơ và giúp Trang tìm

thấy niềm vui mỗi ngày.

Đến với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, ta cũng bắt

gặp hình tƣợng nhân vật trẻ em yêu thiên nhiên tha thiết. Điều này đƣợc thể hiện rõ

qua hình tƣợng nhân vật Trí Dũng. Mỗi ngày cậu bé thƣờng ra vƣờn chơi trò đố hoa gì

cùng bố “Những buổi chiều tôi hay nhắm mắt sờ những bông hoa rồi tập đoán. Tôi

đoán được hai loại hoa: hoa mồng gà và hoa hướng dương. […] không bao lâu, tôi đã

đoán được hết vườn hoa” (Nguyễn Ngọc Thuần, 2004, tr.41). Niềm vui hiện rõ trên

khuôn mặt cậu bé mỗi khi đoán đúng tên từng loại hoa trong vƣờn. Phải là ngƣời có

tình yêu thiên nhiên tha thiết, Trí Dũng mới vui vẻ, hào hứng thăm vƣờn mỗi ngày

cùng bố nhƣ vậy.

Nếu cô bé Trang trong Lá non của Trần Hoài Dƣơng yêu thích cây long não,

Trí Dũng trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần yêu thích các

loại hoa trong vƣờn thì Bin trong Chú ong bé bỏng của Võ Diệu Thanh lại đặc biệt yêu

thích vƣờn bí ngô. Qua việc miêu tả niềm vui của các nhân vật trẻ em khi đƣợc hòa

64

mình với cây cỏ, nhà văn muốn hƣớng đến việc giáo dục trẻ em tình yêu đối với thiên

nhiên. Bởi hơn ai hết, nữ văn sĩ hiểu rằng khi đƣợc hòa mình với thiên nhiên, các bạn

nhỏ sẽ khám phá ra rất nhiều điều thú vị và thỏa sức sáng tạo.

2.3.2. Yêu thƣơng con ngƣời

Hƣớng đến việc giáo dục nhân cách cho trẻ, những sáng tác của Võ Diệu Thanh

không chỉ giáo dục trẻ em tình yêu thiên nhiên mà còn giáo dục tình yêu thƣơng con

ngƣời. Trƣớc hết, đó là tình cảm yêu thƣơng đối với những ngƣời thân trong gia đình.

Nhân vật trẻ em trong các sáng tác của Võ Diệu Thanh hầu hết là những đứa trẻ sống

rất tình cảm, luôn dành tình cảm quan tâm, yêu thƣơng đặc biệt đối với ông bà, cha

mẹ, bạn bè và những ngƣời xung quanh mình. Đó là Tì Ti, Nhóc trong Những cậu bé

mặt trời; cu Lý trong Thả diều; Ngàn, Hà trong Khi hai vua về một nhà; Nhã trong Bí

mật theo cô; Bòn Bon, Vĩ trong Tiền của thần cây; Nhân trong Cáp treo cho những

mặt trời; Quý trong Chúng mình bay đầy trời; Út Tiền trong Quà tặng của ngày mai.

Những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho của Võ Diệu Thanh luôn dành tình

cảm yêu thƣơng đặc biệt đối với mẹ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua các nhân vật

nhƣ: Tì Ti, Nhóc, Hà, Nhã, Út Tiền.

Tì Ti và Nhóc (Những cậu bé mặt trời) rất yêu thƣơng mẹ. Cả hai phải sống xa

mẹ từ khi còn rất nhỏ. Mỗi năm chúng chỉ đƣợc gần mẹ mấy ngày Tết. Xa mẹ, chúng

nhớ mẹ da diết. Nỗi nhớ đó đƣợc Tì Ti và Nhóc nhiều lần thốt lên: “tao nhớ má”, “tao

nhớ má hoài”, “tao còn nhớ má nhiều hơn mày” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7). Để với

đi nỗi nhớ má, Tì Ti mỗi ngày đều tìm cách nói chuyện với đồ vật. Nó nâng niu đôi

dép mẹ tặng. Biết mẹ sắp về, cả Tì Ti và Nhóc đều háo hức chờ đón mẹ. Tình yêu

dành cho mẹ của hai bạn nhỏ càng đƣợc thể hiện rõ qua hành động “Hai đứa còn vò

đất thành sợi dài rồi vòng vèo thành hàng chữ “Bãi chờ mẹ”” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.7).

Tình thƣơng dành cho mẹ đƣợc thể hiện rõ nét qua nhân vật Hà trong truyện

Khi hai vua về một nhà. Tình cảm đó không chỉ đƣợc thể hiện qua lời nói mà còn đƣợc

bộc lộ qua hành động. Nó nói với Ngàn “Ai nói mày tao không thương mẹ? Tao chỉ có

một mình mẹ. Hồi nhỏ tới lớn chỉ có mẹ thương tao nhất … Tao cũng muốn học giỏi

cho mẹ tao vui nhưng tao học không được” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17). Biết mẹ

buồn vì mình hay trốn học, mê chơi, học yếu, Hà đã thay đổi. Thay vì đi chơi, Hà biết

ở nhà phụ giúp mẹ “Khi định bước đi nó nhìn thấy mẹ Mai đang bưng một rổ rau dền

65

lớn, mồ hôi chảy xuống mắt mẹ. Hà chạy lại đỡ rổ rau dền bưng vào gốc đa cho mẹ”

(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18). Không chỉ biết giúp đỡ mẹ, Hà còn cùng học, cùng chơi

với mẹ. Không để mẹ phải nhắc nhở, Hà biết tự giác học bài. Nó tự ý thức đƣợc rằng

mình cần phải học, nhất là môn tiếng Anh để dạy lại cho mẹ “Tao muốn mày dạy cho

tao nhiều hơn để tao dạy cho mẹ mấy lúc không có mày” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.20). Những lời nói và hành động đó dù nhỏ nhƣng chất chứa tình cảm yêu thƣơng,

sự quan tâm của Hà dành cho mẹ.

Sẽ là thiếu sót nếu nhƣ nói về những nhân vật trẻ em giàu tình cảm mà không

nhắc đến Nhã trong Bí mật theo cô và Út Tiền trong Quà tặng của ngày mai. Không

chỉ thƣơng mẹ, cả Nhã và Út tiền đều dành tình cảm quan tâm đến những ngƣời thân

khác trong gia đình của mình. Là một cô bé giàu tình cảm, Nhã không chỉ thƣơng mẹ

mà còn thƣơng ba và thƣơng em sâu sắc. Thƣơng mẹ, nó tìm cách bảo vệ mẹ tránh

những trận đòn và những lời mắng chửi nặng nề của ba. Nó ao ƣớc ba yêu thƣơng,

quan tâm mẹ nó nhiều hơn. Nó ao ƣớc đƣợc nhìn thấy nụ cƣời hạnh phúc của mẹ.

Niềm mong ƣớc đó đƣợc nó bày tỏ trong bài tập làm văn “Ba âu yếm nhìn má, gắp

cho má một khúc chả. Má vừa ăn vừa mỉm cười hạnh phúc” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.46). Thƣơng ba, nó mong muốn đƣợc gần gũi để hiểu ba mình hơn. Tình thƣơng ba

đƣợc thể hiện cụ thể qua hành động Nhã nấu cho ba món ăn mà ba thích. Biết ba muốn

ăn “món canh khổ qua dồn chả”, “Nhã mừng quýnh nhờ má chở đi chợ”. Muốn dành

tặng ba món canh thật ngon, nó chăm chú nghe, nhớ những lời dặn của má “Chả muốn

ngon phải mua cá tươi đem về tự mình bằm, tự mình nhồi. Phải để nước sôi mới thả

khổ qua vào” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.44). Nhã dồn hết tình cảm vào món ăn, kì công

chuẩn bị “bỏ cả nửa ngày bằm chả”. Tình thƣơng ba của Nhã xuất phát từ lòng vị tha,

sự thấu hiểu. Không thể trực tiếp nói lời yêu thƣơng đối với cha mình, Nhã thổ lộ qua

bài tập làm văn: “Con chỉ mong tới khi con đủ khôn lớn vẫn còn có ba. Con sẽ là

người bạn đáng tin tưởng nhất chia sẻ giúp ba những muộn phiền. Lúc đó con lại bằm

chả dồn khổ qua cho bữa cơm đầm ấm của nhà mình” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52).

Tình thƣơng của Nhã dành cho ba má không chỉ đƣợc bộc lộ qua suy nghĩ mà còn

đƣợc thể hiện qua những hành động cụ thể nhƣ: chăm chỉ học bài, cùng mẹ nấu cơm,

ngăn không để bố mẹ đánh nhau, ngồi canh cửa chờ ba, ngồi tâm sự cùng mẹ, nhắc mẹ

đi ngủ sớm … So với bạn bè cùng lứa, Nhã chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn cả vật chất

66

lẫn tinh thần. Nhƣng không vì thế má nó trách móc ba mẹ. Ngƣợc lại nó càng thƣơng

ba mẹ nhiều hơn. Điều đó quả thật đáng quý.

Giống với Nhã, Út Tiền cũng là một cô bé giàu tình cảm. Là em út, nhƣng cô bé

lại tỏ ra biết quan tâm, lo lắng hơn các anh chị của mình. Nó thƣơng mẹ, thƣơng cô

Sáu, thƣơng chị Hai, anh Ba của mình chân thành, tha thiết. Trƣớc hết là tình cảm yêu

thƣơng của Út Tiền dành cho mẹ. Đƣợc cô Sáu và ông Sáu chăm sóc chu đáo, dạy bảo

tận tình và hết mực yêu thƣơng nhƣng Út Tiền thì luôn muốn đƣợc về với mẹ. Trong

tác phẩm, nhà văn nhiều lần khẳng định tình cảm nhớ thƣơng của Út Tiền đối với mẹ

“Mỗi lần nhắc tới mẹ là nó dẫu đang làm gì cũng hai hàng nước mắt tuôn dòng. Đang

ăn cơm mà thấy xe dừng lại, cô Sáu nói mẹ về là nó bỏ cơm bỏ dép chạy ra chỗ chiếc

xe. Nó thương mẹ, thương anh em” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.60). Chính Chùa – anh

trai của nó cũng phải công nhận “Nó thương mẹ lắm, lại rất biết quan tâm mọi người”

(Võ Diệu Thanh, 2021, tr.54). Dù còn rất nhỏ (sáu tuổi), Út Tiền đã tỏ ra là một ngƣời

con hiếu thảo khi ý thức rõ về bỏn phận của con cái đối với mẹ “Út Tiền vui vẻ ở với

cô Sáu để chờ lớn về nuôi mẹ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.60). Không chỉ yêu thƣơng

mẹ, Út Tiền còn yêu thƣơng cô Sáu và các anh chị em của mình. Mặc dù còn nhỏ chƣa

hiểu chuyện, nhƣng mỗi lần thấy cô Sáu khóc là Út Tiền cũng khóc theo. Nó quan tâm

đến các anh chị của mình từ những việc nhỏ nhất nhƣ nhắc anh chị uống nƣớc vào

buổi sáng khi mới thức dậy “Nó thấy chúng tôi không uống, nó sợ anh chị bị ông Sáu

phạt. Vậy là nó rót nước bưng tới cho thằng anh một ly, con chị một ly. Lúc đi chơi

cũng vậy, hễ chị nàng khát nước đi lấy nước uống thì thế nào cũng lấy đủ cho cả ba

chị em” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.59). Sự quan tâm của Út Tiền khiến anh Hai nó phải

cảm động “Út Tiền không phải chỉ chia sẻ những chuyện lo lắng, nó còn dám chia cả

chuyện đòn roi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.59). Biết ông Sáu một mình nuôi ba chị em

nó rất vất vả, Út Tiền đã tự giác phụ giúp ông mọi việc. Từ việc quét nhà, nấu cơm đến

việc dọn bàn ghế, pha cà phê, bƣng nƣớc cho khách, Út Tiền không ngại bất cứ chuyện

gì. Những việc không chỉ thể hiện lòng biết ơn của Út Tiền đối với ông Sáu – ngƣời đã

cƣu mang, nuôi nó khôn lớn, mà còn thể hiện tình yêu thƣơng gắn bó của Út Tiền. Với

Út Tiền, ông Sáu vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là thầy và cũng vừa là bạn. Vì biết ơn, yêu

thƣơng, kính trọng ông Sáu nên Út Tiền đã thay đổi. Từ một cô bé mê game, hay nói

tục chửi thề, nhác học, quậy phá trở thành một cô bé ngoan ngoãn, lễ phép, ham học.

67

Từ đó có thể thấy, tình yêu thƣơng chân thành luôn đem đến cho chúng ta những điều

tuyệt vời.

Tìm hiểu nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh,

chúng tôi nhận thấy nhiều nhân vật trẻ em có tuổi thơ gắn bó với nội. Đó là Bòn Bòn,

Bin, Nhân, Quý. Qua các nhân vật này, ta thấy rõ đƣợc tình cảm yêu thƣơng của trẻ

em dành cho ông bà của mình. Nhân (Cáp treo cho những mặt trời) rất yêu thƣơng bà

nội. Thấy bà nội mỗi lần bƣng nƣớc qua đƣờng cho khách vất vả, nguy hiểm, Nhân đã

nghĩ ra cách dùng dây kẽm đƣa nƣớc qua đƣờng để phụ giúp bà“Nó dùng dây kẽm

căng ngang đường.”, “Ở lớp, Nhân vẫn cứ làm món đồ chơi bằng li nước có quai treo

trên một sợi dây kẽm” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.74). Ai cũng nói nó bị điên, bị tự kỉ

mới có hành động kì quặc nhƣ vậy. Khi hiểu ra lí do Nhân thƣờng thức đêm căng dây

kẽm ngang đƣờng, mọi ngƣời ai nghe cũng cảm động: “Em muốn đưa nước qua cho

khách để nội khỏi bưng nước qua đường. Hồi năm ngoái, mẹ em cũng bưng nước qua

đường bị xe đụng chết ngay của nhà em” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79). Điều mà Nhân

ƣớc mơ là bà nội có thể bình an và hạnh phúc: “Khi vẽ người thân trong gia đình, nó

vẽ bà nội nó ngồi xe hơi đi chơi ở một bãi biển thật đẹp, đầy cát và những hàng cây

xanh ven biển. Nó nói hàng cây đó chắn được sóng thần, nghĩa là bà nội cứ yên tâm

ngồi ngắm biển (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.73).

Nếu Bòn Bon trong truyện Tiền của thần cây dành tình cảm yêu thƣơng đặc

biệt đối với ông nội thì Quý trong Chúng mình bay đầy trời lại dành tình cảm yêu

thƣơng đối với bà nội. Quý gắn bó với bà nội từ khi còn nhỏ. Khi phải chuyển đi nơi

khác sống để thuận lợi hơn cho việc học, nó nhớ nội, khóc đòi về với nội “Nó nói nhớ

núi Cấm, nhớ Nội, nhớ cái vườn su su của Nội” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.10). Nhớ

nội, Quý nâng niu từng chút kỉ niệm về nội “Gia tài của nó, ngoài cái cặp cũ, là cái

răng con cọp to hơn cái nanh con chó. Nó thương cái nanh. Mỗi lần khóc nhớ Nội nó

cầm cứng cái nanh. Chắc đó là món quà kỉ niệm mà Nội nó cho nó’’ (Võ Diệu Thanh,

2016 b, tr.6). Thƣơng nội, Quý luôn nhớ lời nội dặn: “Nội nói cơm là hột ngọc của

trời. Bạn không quí cơm, bạn mắc tội cho coi, đồ con nít” (Võ Diệu Thanh, 2016,

tr.25). Thấy Nội bị đau chân phải ngồi xe lăn không thể leo lên Núi trồng cây đƣợc, nó

ƣớc mơ có thể tạo ra một đôi cánh giúp Nội bay đƣợc. Nó vui mừng “nhảy cà tƣng”

khi nói với cô Thanh “À, như vậy thì con cũng có thể làm cho mình một đôi cánh đặng

cứu Nội mà không cần cô Thanh” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.45). Tình yêu thƣơng

68

của Quý dành cho Nội lớn tới mức tất cả các bạn trong lớp có thể thấy rõ và cảm nhận

sâu sắc. Qua lời kể của Hƣng thì “Một đứa thương Nội như Quý sẽ là người tốt và sẽ

học rất giỏi. Cô tin như vậy và nói với tụi tôi như vậy” (Võ Diệu Thanh, 2016 b,

tr.62). Với Quý, Nội là ngƣời gần gũi nhất. “Vì ba mẹ nó đi làm xa, nó chỉ có Nội. Nội

thương nó nhất. Nó cũng thương Nội nó nhất” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.62). Với

Quý, nội vừa cha mẹ, vừa là bạn, vừa là ngƣời thầy đáng kính. Ở với nội, nó học hỏi

đƣợc rất nhiều điều thú vị mà những bạn cùng tuổi với nó không biết “Nó đã học rất

nhiều thứ từ Nội. Ví dụ như bỏ ngọn cho su su leo lên giàn. Ví dụ như nhận biết trái su

su nào tới kì thu hoạch” (Võ Diệu Thanh, 2016 b, tr.63). Cũng chính vì yêu thƣơng

nội, Quý đã cố gắng học hành chăm chỉ để nội vui lòng. Tình cảm đó thật đẹp, thật

đáng quý biết bao.

Tình cảm yêu thƣơng đối với anh chị em trong gia đình cũng đƣợc Võ Diệu

Thanh đề cập đến qua nhiều nhân vật trẻ em nhƣ: Út Tiền, Nhã, cu Lý. Trong đó tình

cảm của cu Lý dành cho bé Châu đƣợc thể hiện một cách rõ nét hơn cả. Nếu Út Tiền

thƣơng anh chị bằng cách nhắc nhở anh chị ăn uống đúng giờ, Nhã thƣơng em bằng

cách bồng em chạy trốn mỗi lúc ba mẹ cãi nhau, đánh nhau thì cu Lý lại có nhiều cách

để thể hiện tình cảm thƣơng em của mình. Tuy chỉ lớn hơn em ba tuổi, cu Lý biết cách

nhƣờng nhịn, chiều chuộng em. Yêu thƣơng em, cu Lý nhìn em đầy trìu mến “Cu Lý

nghĩ bé Châu như cô tiên nhỏ. Chắc cô Tiên nhỏ cũng dễ thương cỡ đó là cùng” (Võ

Diệu Thanh, 2017, tr. 25). Dù ở nhà hay đi chơi ở ngoài, cu Lý cũng luôn trông chừng

em cẩn thận “ Suốt ngày cu Lý giữ em kè kè” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 25). Biết bé

Châu thích thả diều, cu Lý đã kỳ công làm cho em một con diều thật đẹp. Để làm đƣợc

chiếc diều, cu Lý đã phải kỳ công chuẩn bị từ khâu chuẩn bị dụng cụ, đến việc nối,

dán. Để có vật liệu làm đuôi diều, nó phải mất hai ngày đi nhặt bao ni lông từ chỗ

hàng rau cải của chị Lụa. Để chiếc diều đẹp và chắc chắn, nó chọn bao ni lông màu đỏ

và ngồi dán “cẩn thận, từng chút, từng chút một” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 26). Cu Lý

luôn ân cần, dịu dàng với em. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ qua cách xƣng hô đầy ngọt

ngào “Chừng nào anh Hai kêu buông, cưng buông liền nghe” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr. 25). Tình thƣơng em của cu Lý càng đƣợc bộc lộ rõ qua nỗi đau mất em. Khi không

thấy em, nó vứt diều, gào khóc, hoảng hốt, sợ hãi, đau đớn tìm kiếm em trong vô vọng

“Bước chân Lý quắn quíu chạy dọc theo đê gọi tên em thẳng thốt” (Võ Diệu Thanh,

2017, tr. 25). Cu Lý lao xuống nƣớc để mò tìm em. Chính nó cũng suýt bị nƣớc nhấn

69

chìm. Trải qua cơn sinh tử, nó đau đớn đối mặt với sự thật em gái mà nó yêu hơn cả

bản thân mình đã không còn nữa. Từ đó, nó suốt ngày “lủi thủi”, “lang thang” một

mình trên đê. Càng thƣơng em, cu Lý càng tự trách bản thân vì đã không trông chừng

em cẩn thận. Nó yêu em tới mức, hình ảnh em luôn thƣờng trực cả trong giấc mơ.

Những kỉ niệm về em luôn chất chứa trong tim nó. Cu Lý nhìn đâu cũng thấy bóng

dáng quen thuộc của em mình.

Không chỉ dành tình cảm yêu thƣơng đối với những ngƣời thân trong gia đình,

nhiều nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn biết yêu

thƣơng, quan tâm giúp đỡ những ngƣời xung quanh mình. Đó là tình cảm dành cho

bạn bè, thầy cô giáo và những ngƣời hàng xóm.

Trƣớc hết, đó là tình cảm yêu thƣơng bạn bè. Ngàn vì thƣơng Hà đã giúp đỡ Hà

trong học tập. Mỗi chiều sau khi đi học về, Ngàn liền chạy đến chỗ Hà dạy cho bạn

học. Nhờ đƣợc Ngàn ôn bài, Hà đã tiến bộ rất nhanh. Từ một học sinh lƣời học, Hà đã

ham học “Nó thấy học cũng vui vui”, “Nó muốn cùng đi học. Nó con muốn khi trở lại

học nó làm lớp trưởng để nó có thể giúp đỡ những bạn từng quậy như nó cách gì học

cho dễ nhớ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.20). Thƣơng cho hoàn cảnh khó khăn của

Nhân, các bạn trong lớp tìm cách giúp đỡ “Giờ thì thầy trò lớp 3C chúng tôi bàn cách

nào đưa li nước qua đường giúp Nhân” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79). Biết Mai sợ

thằng cua bắt nạt, Hƣng liền dậy sớm qua đi học cùng Mai để bảo vệ bạn. Biết Quý

hay khóc vì nhớ nội, Hƣng, Nam, Mai tìm cách giúp Quý chế tạo đôi cánh giúp cho

ngƣời có thể bay đƣợc. Ý tƣởng đó giúp Quý phần nào nguôi đi nỗi nhớ, nỗi lo về nội

để yên tâm học hành. Vĩ (Tiền của thần cây) còn bất chấp cả nguy hiểm để nhảy

xuống sông cứu bạn.

Thêm vào đó, nhiều nhân vật trẻ em dành tình cảm yêu thƣơng đối với mọi

ngƣời xung quanh. Thƣơng cô Mai vất vả, Ngàn thƣờng đến chùa phụ giúp cô trồng

rau. Biết cô Mai buồn vì con trai không ngoan, “Ngàn thương cô Mai quá” (Võ Diệu

Thanh, 2017, tr.16). Nó không chỉ tâm sự để cô đỡ buồn mà còn tìm cách giúp đỡ con

trai cô học bài. Bòn Bon và Vĩ vì thƣơng mẹ của Xuân ốm nặng không có tiền trị bệnh

đã mang số tiền mình nhặt đƣợc trong bọng bằng lăng trả lại “Tao đưa cho má thằng

Xuân rồi. Tiền đó là tiền má nó mới mượn đặng đi trị bệnh. Má nó bệnh nặng lắm. Ba

nó lại ăn cắp hết tiền rồi giấu trong bọng bằng lăng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.113).

Với số tiền nhặt đƣợc, Bòn Bon có thể thực hiện đƣợc dự định mua một chiếc điện

70

thoại có chức năng chụp hình, quay video tốt để ghi lại những khoảnh khắc đẹp bên

chú chó cƣng của mình. Bởi vì nó biết con chú chó cƣng của mình đã quá già không

còn sống đƣợc lâu nữa. Với số tiền nhặt đƣợc, Vĩ cũng có thể thực hiện đƣợc mơ ƣớc

ấp ủ bấy lâu của mình là mua tặng mẹ một chiếc xe đạp. Bởi vì nó hiểu mẹ nó lâu nay

buồn phiền vì đã làm mất chiếc xe đạp quý mà bà ngoại đã tặng cho mẹ. Số tiền mà

Bòn Bon và Vĩ nhặt đƣợc lớn tới mức có thể mua hai trăm cái điện thoại. Nhƣng

không một chút đắn đo, cả hai đứa không ai bảo ai đều quyết định mang số tiền đó trả

lại cho mẹ của Xuân. Hành động đó xuất phát từ tình thƣơng yêu chân thành của Bòn

Bon và Vĩ dành cho mẹ của Xuân. Không phải đứa trẻ nào cũng có thể biết yêu

thƣơng, biết suy nghĩ và hành động đúng đắn nhƣ vậy. Đọc Cáp treo cho những mặt

trời, ngƣời đọc không khỏi không xúc động trƣớc tình cảm của các cô cậu học trò lớp

3C dành cho bà Tƣ căn tin. Cảm động trƣớc việc bà Tƣ nhƣờng chỗ bán hàng trong

căn tin trƣờng cho bà nội của Nhân để ra lề đƣờng bán, các bạn học sinh thƣờng ghé

mua hàng giúp bà “Ai cũng muốn giúp bà một li nước để cuộc sống bà già tốt bụng

bình yên hơn, khá giả hơn. Bạn bè Nhân cũng không quên được món chè đậu đen của

bà nên thường ghé ủng hộ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.81). Cách thể hiện tình yêu

thƣơng của các bạn nhỏ đối với mọi ngƣời giản dị mà chân thành, sâu sắc. Tình cảm

đó quả thật đáng quý.

Đặc biệt là, nhiều nhân vật trẻ em dành tình cảm yêu thƣơng, kính trọng đối với

các thầy cô giáo. Hƣng, Nam, Mai (Siêu nhân cua) luôn tin tƣởng, nghe lời cô giáo

Thanh. Hơn thế nữa, các bạn nhỏ còn tỏ ra rất quan tâm cô giáo chủ nhiệm của mình.

Khi biết cô giáo buồn, các bạn nhỏ vốn dĩ nghịch ngợm, hay nói chuyện lại tỏ ta ngoan

ngoãn, hiểu chuyện: “Tôi không nghe tiếng cô khóc mà chỉ thấy cô lấy tay chậm nước

mắt. Nhỏ Mai xù xì. - Cô khóc kìa. - Im đi, đừng nói chuyện nữa, cô đang buồn” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.88).

Bảo trong Miền Xanh Thẳm của Trần Hoài Dƣơng cũng là một cậu bé sống giàu

tình cảm. Tuy chỉ hơn Thiện một tuổi nhƣng Bảo lại tỏ ra rất chín chắn. Qua lời kể của

nhân vật tôi (Thiện), Bảo nhƣ một vệ sĩ luôn theo sát để bảo vệ Thiện mọi lúc, mọi

nơi. Điều đáng quý ở nhân vật này đó là tình yêu dành cho quê hƣơng. Bảo kể cho

Thiện nghe về cảnh đẹp của quê mình với giọng tha thiết, đầy tự hào: “Đầu làng có hồ

sen rộng đến hàng mấy mẫu. Mùa sen nở, suốt đêm dân làng đắm mình trong hương

sen thơm” (Trần Hoài Dƣơng, 2000, tr.28). Vì yêu và nhớ quê da diết nên tranh thủ

71

ngày nghỉ học nó liền rủ Thiện về quê mình chơi. Trong khi Thiện tỏ ra thất vọng,

dửng dƣng khi tận mắt nhìn ngắm cảnh vật không giống nhƣ lời Bảo kể, khác xa sự

tƣởng tƣợng của mình thì cậu bé lại đắm chìm trong không gian yên bình của quê

mình. Bởi với nó, nơi đó ghi dấu những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ: “Cả tuổi thơ của nó

trôi qua ở đây. Những buổi lặn ngụp trong đầm sen. Những lần thả trâu trên bãi

hoang. Những cuộc đánh trận giả bươu đầu sứt trán. Những đêm trăng thanh nằm mơ

mộng đếm sao trời và nghe mẹ kể về đàn gà vàng kì ảo” (Trần Hoài Dƣơng, 2000,

tr.58). Chính tình yêu quê hƣơng chân thành, sâu sắc của Bảo đã giúp Thiện có những

chuyển biến tích cực trong nhận thức về quê hƣơng.

Viết về nhân vật trẻ em giàu tình cảm, Võ Diệu Thanh đã ghi đƣợc dấu ấn riêng

khác với các tác giả trƣớc đó và cùng thời. Nếu Trần Hoài Dƣơng chú trọng khắc họa

tình yêu thiên nhiên, yêu quê hƣơng của nhân vật trẻ em thì Võ Diệu Thanh lại hƣớng

đến tình cảm gia đình, thầy cô, bè bạn. Tình cảm yêu thƣơng mọi ngƣời của các nhân

vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh thật đáng quý. Dù mỗi

bạn nhỏ có cách thể hiện tình cảm yêu thƣơng theo cách của riêng mình nhƣng tất cả

đều toát lên sự chân thành, trong sáng. Việc Nhóc dỗ để bạn đừng khóc, Ngàn giúp cô

Mai trồng rau và dạy cho Hà học bài, Hƣng dắt Mai đi học, Vĩ lao xuống nƣớc cứu

bạn, Bòn Bòn trả tiền nhặt đƣợc cho mẹ của Xuân là những hành động đẹp khiến

ngƣời đọc không khỏi không xúc động. Qua đó, ta thấy đƣợc cái nhìn đầy nâng niu,

trân trọng của nhà văn dành cho nhân vật trẻ em. Xây dựng nhân vật trẻ em giàu tình

cảm yêu thƣơng con ngƣời, nhà văn muốn nhắn nhủ ngƣời lớn cần chú trọng giáo dục

nhân cách cho trẻ em. Đó là mục đích cao đẹp mà truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh hƣớng đến.

2.3.3. Yêu thƣơng loài vật

Tình yêu đối với loài vật đƣợc thể hiện rất rõ trong các truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh. Đó là tình yêu dành cho các vật nuôi trong nhà nhƣ chó, mèo; đó

còn là tình yêu dành cho các con vật trong thế giới tự nhiên nhƣ chim, cá. Điều này

đƣợc thể hiện rõ qua các nhân vật nhƣ: Bòn Bon, Mai, Vĩ.

Trƣớc hết là tình yêu đối với vật nuôi trong nhà. Bòn Bon (Tiền của thần cây)

rất yêu quý con chó cƣng của mình. Nó luôn tự hào khi nói về chú chú của mình.

“Khắp cái xóm này có con chó nào hiểu được tiếng người như ảnh” (Võ Diệu Thanh,

2016 c, tr.96). Nó gọi chú chó của mình là Ban Đêm – cái tên “đầy bí ẩn”: “Nội kêu

72

ảnh là con Mực. Bòn Bon khoái kêu ảnh là Ban Đêm hơn” (Võ Diệu Thanh, 2016 c,

tr.8). Với Bòn Bon, Ban Đêm không chỉ là một ngƣời bạn thân thiết cùng vui đùa mỗi

ngày mà nó còn là một ân nhân. Khi Bòn Bon xuống sông tắm bị ngạt nƣớc, chính Ban

Đêm đã cứu nó “May mà lúc đó ông nội về, kịp đi kiếm con rồi gặp con với Ban Đêm

dưới bến. Ban Đêm cắn cái áo, tha con lên bờ” (Võ Diệu Thanh, 2016 c, tr.19). Tình

yêu thƣơng sâu đậm của Bòn Bon đối với Ban Đêm đƣợc thể hiện rõ qua việc Bòn

Bon khóc mếu khi Ban Đêm bị lạc, vui mừng hạnh phúc khi mỗi chiều đi học về có

Ban Đêm hớn hở ra cổng đón và đau buồn khi nghe ông nội nói Ban Đêm đã già

không còn sống đƣợc bao lâu nữa. Khi biết loài chó không sống thọ “Cao lắm là nó

sống được hai mươi năm”, Bòn Bon ao ƣớc Ban Đêm có thể sống ba trăm tuổi. Nhƣng

điều đó là không thể. Vì thế, nghe lời khuyên của ông nội, Bòn Bon luôn tận dụng thời

gian để chăm sóc Ban Đêm, chơi đùa cùng với nó để có thể lƣu giữ những kỉ niệm thật

đẹp cùng con vật yêu quý của mình. Qua việc miêu tả tình cảm gắn bó thân thiết giữa

Bòn Bon và Ban Đêm, Võ Diệu Thanh đã khơi dậy tình yêu đối với động vật trong

mỗi đứa trẻ.

Trong tập truyện Đám cưới cỏ của Quế Hƣơng, ta cũng bắt gặp nhiều nhân vật

trẻ em yêu thƣơng động vật. Đó là Tí bụi trong truyện ngắn cùng tên. Đó là hai chị em

Mơ và Ngổ trong Ả ìa âu. Tí bụi (Tí bụi) đặt tên cho con chó yêu quý của mình là Win

với mong muốn sẽ chiến thắng số phận. Nó rất vui khi Win đẻ một đàn chó nhỏ. Nó

nghĩ rằng đàn chó sẽ giúp nó trông chừng mẹ, trông chừng ruộng rau muống và hơn

thế còn giúp nó bớt cô đơn hơn. Nó đau đớn khi thấy Win bị mấy đứa trộm chó dùng

gậy sắt quật chết khi đang đuổi theo trông chừng ngƣời mẹ bị điên giúp nó. Thƣơng

đàn chó con chƣa kịp mở mắt đã mất mẹ, nó dùng thân mình để sƣởi ấm cho đàn chó

“Nó trùm bao tời, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!”(Quế Hương, 2004, tr.21). Mơ

và Ngổ (Ả Ìa âu) dành tình cảm yêu thƣơng đặc biệt cho Chả Chìa – con chó rất thông

minh và tình cảm. Vì sợ cha sẽ bắt chó làm mồi nhậu, hai chị em đã tìm cách thả nó ra

chợ mong nó sẽ tự tìm đƣợc cái ăn. Hai đứa trẻ tội nghiệp chỉ biết bất lực nhìn chú

chó yêu quý của mình bị bố giết thịt. Không nén nổi nỗi đau, bé Ngổ khóc nấc không

thành tiếng “ả ìa âu” Tiếng nấc nghệ của đứa trẻ nói chưa rõ tiếng còn ngọng líu

ngọng lô khi mất đi con chó mà nó yêu quý gắn bó thân thiết. Con chó nhỏ với những

đứa trẻ như một người bạn đồng hành của tuổi thơ (Quế Hƣơng, 2004, tr.42).

73

Trong các truyện của Văn Thành Lê, ngƣời đọc cũng bắt gặp nhiều nhân vật trẻ

em yêu thƣơng động vật. Đó là Lê và Thành trong Trên đồi, mở mắt và mơ. Đó là

Thành và Bống trong Bên suối, bịt tai, nghe gió. Mỗi bạn nhỏ lại yêu thích một loài

vật riêng. Lê rất yêu quý con trâu nhà mình “Hôm nào đi chăn trâu nó cũng tranh thủ

cắt thêm cỏ hoặc tối về còn phải rút rơm bỏ vào chuồng cho trâu ăn đêm” (Văn Thành

Lê, 2019, tr.91). Thành thì đặc biệt yêu thích cá cảnh. Mỗi lần cho cá ăn, nó lại say sƣa

nhìn ngắm “hay nhìn chúng bơi và cho chúng ăn”, “nhìn chúng hàng ngày không biết

chán” (Văn Thành Lê, 2019, tr.93). Còn Thành và em Bống lại yêu thƣơng lợn út.

Mỗi ngày, hai anh em thƣờng ra thăm và nói chuyện cùng chú lợn nhà mình khiến lợn

vẫy đuôi mừng tíu tít.

Không chỉ dành tình cảm yêu thƣơng đối với những vật nuôi trong nhà, nhiều

nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh còn thể hiện tình

cảm yêu thƣơng đối với những động vật sống trong thế giới tự nhiên nhƣ chim, cá.

Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua nhân vật Mai trong Chúng mình bay đầy trời. Khi

Hƣng và Nam tỏ ý muốn bắt tổ chim lấy trứng chim để chơi, Mai liền ngăn lại “Bắt

chim tội lắm. Nó bắt sâu giúp mình đó” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.52). Nghe lời

khuyên của cô Thanh, cả bốn bạn Hƣng, Nam, Mai, Quý đều hứa rằng “Con không lấy

trứng chim đâu, con bay đua với mấy con chim thôi” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.52).

Vĩ trong truyện Tiền của thần cây lại đặc biệt yêu thƣơng loài cá lìm kìm. Nó khuyên

Bòn Bon“Tốt nhất đừng nên bắt cá lìm kìm. Nó nhỏ lắm, không ăn được. Cá rất dễ

thương và yêu dòng sông của nó. Nên để nó ở yên dưới dòng sông của nó thôi” (Võ

Diệu Thanh, 2016 c, tr.18).

Bài học giáo dục về tình yêu thƣơng động vật đƣợc tác giả khéo léo lồng ghép

trong những câu nói hồn nhiên của trẻ em. Nhờ thế những thông điệp nhân văn sâu sắc

đƣợc truyền tải một cách tự nhiên không hề khiên cƣỡng, gƣợng ép. Điều này có hiệu

quả rất lớn trong việc giáo dục nhân cách trẻ em.

2.4. Nhân vật trẻ em với khả năng đặc biệt Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có

nhiều nhân vật trẻ em hiện lên với sự thông minh, ham học hỏi; nhân vật trẻ em có khả

năng lạ thƣờng và có tài năng thiên bẩm.

2.4.1. Thông minh, ham học hỏi

74

Trẻ em thƣờng thích tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình. Những sự

vật, sự việc diễn ra trong đời sống luôn đem đến cho trẻ sự tò mò. Vì vậy, trẻ em luôn

có hàng ngàn câu hỏi và cũng có chừng đó cách cắt nghĩa, lí giải. Những thắc mắc,

những tìm tòi, phát hiện của trẻ phản ánh sự thông minh, sáng tạo ham học hỏi của trẻ

em. Tất cả những điều đó đƣợc Võ Diệu Thanh thể hiện rất rõ qua những nhân vật trẻ

em nhƣ: Nam, Mai, Ngàn.

Nam (Siêu nhân cua) là một cậu bé thông minh. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ

qua việc học của Nam. Trong lớp Nam luôn là cậu học trò hoàn thành tốt các bài tập

của cô giáo giao. Sự thông minh của Nam đƣợc cô giáo và các bạn trong lớp công

nhận. Trong tác phẩm, Hƣng từng nhắc đến việc cô Thanh hay khen Nam trƣớc lớp

“Nhiều lần tôi cũng nghe cô Thanh khen Nam thông minh” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.10). Hƣng là đứa hay cà khịa, thích trêu chọc bạn, hiếm khi khen nhƣng nó cũng

phải công nhận sự thông minh của Nam: “Thằng Nam trán dồ, nó học giỏi ma chê mà

nó cũng nhát ma chê” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.32). Không chỉ cô Thanh, Hƣng công

nhận sự thông minh của Nam mà Mai cũng khẳng định chắc nịch rằng: “Bạn Nam thì

cái gì cũng giỏi hết” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.32). Trong Chúng mình bay đầy trời, sự

thông minh của Nam tiếp tục đƣợc thể hiện. Với sự thông minh, ham học hỏi, Nam đã

đƣa ra nhiều ý tƣởng sáng tạo nhƣ: thiết kế máy ăn cơm, xe tăng có thể bay đƣợc, bắn

đƣợc thiệt xa. Nhiều ý tƣởng của Nam đƣợc cô Thanh và các bạn khen ngợi. Điều

đáng quý ở Nam là nó biết dùng trí thông minh của mình để lên ý tƣởng thiết kế, chế

tạo ra các loại máy móc hiện đại để phục vụ cho lợi ích của con ngƣời. Đó là thiết kế

ra một loại máy để giúp loại bỏ bom đạn mang lại một thế giới hòa bình “ – Em chế

một loại máy có khả năng làm cho tất cả súng đạn không thể hoạt động được. Bất kể

một trái bom nào rớt xuống vùng đó cũng đều không thể nổ được. Súng bắn vào cũng

không nổ luôn” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.30). Không chỉ vậy, Nam còn lên ý tƣởng

thiết kế đôi cánh giúp con ngƣời có thể bay đƣợc để nội của Quý có thể di chuyển dễ

dàng hơn “-Phải chi cái xe lăn của Nội bay lên được. Nội ngồi trên xe bay lên vườn xu

xu” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.41). Sự thông minh giúp Nam luôn đƣa ra những ý kiến

hay khiến Hƣng, Mai và cô Thanh phải tấm tắc khen “Máy không chạy bằng xăng. Nó

chạy bằng pin mặt trời. Mình sẽ thiết kế một loại pin thật nhẹ chất đầy xung quanh

chiếc nệm. Nó đủ sức bay hoài. Dù trời tối nó vẫn bay được” (Võ Diệu Thanh, 2016b,

tr.44).

75

Mai (Siêu nhân cua) là một đứa trẻ thông minh, có tƣ duy sáng tạo và trí tƣởng

tƣợng phong phú. Sự thông minh, sáng tạo của Mai thể hiện rất rõ trong những giờ học

vẽ. Trong khi các bạn trong lớp viết chữ và vẽ tranh theo khuôn mẫu dựa theo những

hình vẽ có sẵn trong sách giáo khoa thì Mai lại viết và vẽ theo trí tƣởng tƣợng của

riêng mình. Cô bé không chỉ có nét vẽ lạ mà còn có những ý tƣởng độc đáo nhƣ: vẽ

ma, vẽ nhà cho cá, vẽ con chim bị thƣơng, … Mỗi bức tranh em vẽ đều mang dấu ấn

riêng. Đây là nhân vật có nhiều ý tƣởng độc đáo “Mai nó thích chế tạo ra một ngôi

nhà có chân nhỏ xíu. Chỉ cần cắm chân nó xuống một miếng đất nhỏ xíu cũng ở được”

(Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.27). Tranh của Mai vẽ luôn đƣợc cô giáo dạy Mỹ thuật

đánh giá cao về ý tƣởng “Cô khen nó dám vẽ lạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44). Không

chỉ có ý tƣởng độc đáo, cô bé này còn tỏ ra có năng khiếu Mỹ thuật khi biết sắp xếp bố

cục, tạo hình cho tranh “Cô Thanh trán dồ nhận xét tranh Mai là bố cục đẹp, hình ảnh

phong phú và ý tưởng rất lạ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36). Mỗi lúc ngồi vẽ, Mai toát

lên thần thái nhƣ một nghệ sĩ “Nó vẽ như là múa, rồi nó tô màu cũng như là đang hát”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.35). Ngay cả Nam – đứa bạn thân ngồi cùng bàn hay gây lộn

với Mai cũng phải công nhận “Bạn thì vẽ giỏi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76). Khả

năng đó càng đƣợc khẳng định khi Mai đƣợc chọn đi thi vẽ ở tỉnh. Hơn thế nữa, nó

còn đạt đƣợc giải cao “con Mai đem về khoe một cá giấy khen được giải ba” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.83). Bản thân Mai cũng luôn tự tin vào khả năng của mình “Bạn phải

tin mình. Mình học giỏi hơn bạn Hưng” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76). Sự thông minh

của Nam và Mai càng đƣợc phát huy khi cả hai đều là những đứa trẻ ham học “Thằng

Nam không dám trốn học vì nó muốn làm bác sĩ, mà làm bác sĩ thì phải học. Con Mai

muốn làm cô giáo dạy vẽ nên cũng không dám trốn học” (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.71). Tuy mới chỉ là một học sinh tiểu học, Nam và Mai đã có những định hƣớng cho

tƣơng lai và biết cách nuôi dƣỡng ƣớc mơ của mình. Với sự thông minh, ham học hỏi

đó, chúng ta hoàn toàn có thể tin tƣởng, trong tƣơng lai Nam và Mai sẽ thực hiện đƣợc

ƣớc mơ của mình.

Ngàn (Khi hai vua về một nhà) là một lớp trƣởng học giỏi, thông minh và sáng

tạo. Biết Hà học yếu, thƣờng xuyên trốn học vì khả năng tiếp thu bài hạn chế, Ngàn đã

nghĩ ra cách dạy mới “Ngàn làm thầy giáo ngộ lắm. Ví dụ như Hà không tài nào nhớ

số dân trong tỉnh mình nó biểu Hà ví như đó là số tiền mình định mua đồ. Ví dụ là hai

triệu hai dân của An Giang thì nó bằng giá cái điện thoại Samsung” (Võ Diệu Thanh,

76

2017, tr.20). Với cách dạy gắn với thực tế nhƣ vậy, Ngàn đã giúp Hà hiểu và nhớ bài

một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhờ đó, Hà cảm thấy việc học trở nên nhẹ nhàng,

vui vẻ và thiết thực.

Qua việc khắc họa nhân vật trẻ em thông minh, ham học hỏi nhà văn cũng đặt

ra vấn đề phƣơng pháp giáo dục trẻ đó là cần phải biết cách khơi dậy niềm ham mê

học tập trong trẻ. Sở dĩ Nam, Mai, Ngàn có thể phát huy đƣợc khả năng của mình vì

các bạn đó không bị áp lực học hành. Hơn nữa những học sinh này may mắn đƣợc học

với những thầy cô biết khích lệ, động viên kịp thời, đúng lúc. Nhờ đó, các bạn trở nên

tự tin hơn trong việc trình bày ý tƣởng và thể hiện khả năng sáng tạo của mình.

2.4.2. Tài năng thiên bẩm

Mỗi đứa trẻ có những khả năng khác nhau. Có những đứa trẻ thật may mắn khi

sinh ra lành lặn, xinh xắn. Có những đứa trẻ bất hạnh khi mang những dị tật trên cơ

thể. Có những đứa trẻ thông minh học một hiểu mƣời. Nhƣng cũng có những đứa trẻ

khả năng hạn chế chậm hiểu, mau quên. Viết về nhân vật trẻ em, hầu hết các nhà văn

đều đề cập đến những điều đó. Nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh đó là bên cạnh việc khắc họa những nhân vật trẻ em xinh xắn, thông minh, hay

nhân vật tật nguyền, yểu mệnh, nhà văn còn tập trung khắc họa những đứa trẻ có tài

năng thiên bẩm. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua hình tƣợng nhân vật Chùa trong

Quà tặng của ngày mai.

Chùa (Quà tặng của ngày mai) là một cậu bé có tài năng thiên bẩm. Đó là khả

năng chơi đàn sến một cách điêu luyện. Tài năng này đƣợc khẳng định khi Chùa tham

gia chƣơng trình Biệt tài tí hon “Cậu bé sáu tuổi đàn những bản vắn bằng tiếng đàn

sến thật điệu nghệ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.62). Không chỉ đàn hay, Chùa còn tỏ ra

rất dạn dĩ, chuyên nghiệp “Lần đầu tiên lên sân khấu lớn. Đàn cho nghệ sĩ chuyên

nghiệp hát, tôi không có chút gì sợ hãi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.62). Sự tự tin này

của Chùa có đƣợc là nhờ vào cách dạy của ông Sáu không đặt nặng thành tích, không

gò ép nhồi nhét. Chùa luyện đàn nhƣ đang chơi không hề cảm thấy áp lực “Tôi đàn

hồn nhiên, hát hồn nhiên” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.64). Dù đàn ở đâu, đàn cùng ai,

đàn cho ai nghe, Chùa vẫn giữ đƣợc sự tự tin và thăng hoa theo tiếng đàn của mình:

“dẫu sân khấu đông cỡ nào, đèn và máy quay nhiều cỡ nào tôi cũng không ngán. Tôi

cứ đàn y như lúc ngồi dợt với ông Sáu. Đàn cho người nổi tiếng như ca sĩ Lê Hậu

cũng không làm tôi khớp” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.64). Phong thái chững chạc, tự tin

77

làm chủ sân khấu và ngón đàn điêu luyện của Chùa khiến nghệ sĩ Trấn Thành cũng

phải ngạc nhiên, trầm trồ thán phục.

Khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ em với tài năng thiên bẩm thông qua nhân vật

Chùa, nhà văn gửi gắm nhiều triết lí nhân văn sâu sắc. Đàn ca tài tử là loại hình nghệ

thuật cổ truyền của dân tộc. Đây là loại hình nghệ thuật kén ngƣời thƣởng thức và

cũng rất khó để học. Trong khi các bạn cùng lứa tuổi thích nghe nhạc trẻ sôi động thì

Chùa lại say mê đàn ca tài tử. Chùa bén duyên với đàn sến cũng rất tình cờ. Khi ở

cùng ông Sáu, Chùa mới chỉ lên sáu. Thấy ông Sáu đàn hay, nó cũng muốn học. Trong

các loại nhạc cụ ông Sáu có, đàn sến là nhạc cụ vừa vặn với Chùa nhất “Ông Sáu lựa

cây đàn nhỏ nhất là cây đàn sến cho tôi ôm và đàn thử. Quá vừa vặn. Vậy là đủ cho tôi

khoái rồi. Tôi học đàn sến từ đó” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85). Chỉ sau một năm tập

luyện, Chùa đã có thể chơi đàn sến một cách tự tin. Thành công của Chùa trƣớc hết

đến từ niềm đam mê với đàn sến. Nó nghe đàn sến mọi lúc, mọi nơi. Bất kì lúc nào

rảnh rỗi, Chùa đều tắm mình trong âm thanh của đàn sến “Tôi có mấy năm để sống

trong tiếng đàn, chỉ nghe tiếng đàn sau những giờ học” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85).

Với Chùa, nghe đàn mỗi ngày trở thành thói quen. Thói quen tốt này giúp nó loại bỏ

những thói quen xấu trƣớc kia (chơi game, nói tục) “cho bản nhạc nó nhiễm vào thói

quen mình, giống như mình thay máu vậy” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.85). Tài năng

thiên bẩm của Chùa đƣợc phát huy nhờ vào sự kiên trì khổ luyện. Mỗi ngày, Chùa đều

chăm chỉ luyện tập “tôi luyện đàn ngày 80 lần” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.66). Trƣớc

khi trở thành thần đồng đàn sến, Chùa cũng giống nhƣ tất cả những đứa trẻ khác cũng

mê chơi game, hay nói tục, chửi thề, lƣời học … Nhờ cách dạy bảo đúng cách của ông

Sáu, Chùa đã thay đổi. Nó không chỉ là một đứa trẻ ngoan ngoãn, học giỏi, biết quan

tâm, yêu thƣơng mọi ngƣời mà hơn thế nữa còn biết cách tự lập và đặc biệt là đã trở

thành thần đồng âm nhạc. Thành công của Chùa đến từ nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố

thiên bẩm đóng vai trò quan trọng. Chị gái và em gái của Chùa cũng đƣợc ông Sáu dạy

đàn nhƣng không thể trở thành thần đồng là vì không có khả năng thiên bẩm, không

đam mê và không khổ luyện. Nhờ tài năng thiên bẩm và sự khổ luyện, Chùa đã trở

thành một thần đồng. Sự khổ luyện đóng vai trò rất quan trọng quyết định thành công

của Chùa. Tài năng này chắp cánh cho ƣớc mơ của Chùa, giúp cậu bé trở nên tự tin,

dạn dĩ hơn. Ngƣỡng mộ, yêu mến cậu bé Chùa, nhiều khán thính giả ở những tỉnh

thành khác nhau đã ghé quán Nụ cƣời - nơi Chùa ở để đƣợc nghe tiếng đàn của cậu bé

78

này. Điều đáng quý là mặc dù nổi tiếng nhƣng Chùa vẫn không tỏ ra kiêu ngạo, “ru

ngủ bản thân”. Nghe theo những lời dạy bảo của ông Sáu, cậu bé Chùa đã biết vƣợt

qua sự cám dỗ của đồng tiền để thả hồn mình theo tiếng đàn, thăng hoa trong những

bản đàn. Trăn trở trƣớc sự mai một của đàn ca tài tử - loại hình nghệ thuật truyền

thống của dân tộc, nhà văn đặt ra vấn đề về tƣơng lai của những đứa trẻ theo đuổi đam

mê đàn ca tài tử khi nhiều ngƣời cho rằng “Không có một tương lai cho đứa trẻ đàn ca

tài tử” vì “Đàn ca tài tử làm gì? Nó có hái ra tiền không?” (Võ Diệu Thanh, 2021,

tr.62). Tình yêu đối với đàn ca tài tử của một cậu bé sáu tuổi đã khiến những ngƣời lớn

phải thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của mình về loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Nhân vật Chùa đƣợc nhà văn xây dựng dựa trên hình mẫu có thật ngoài đời

(thần đồng đàn sến Khánh Hƣng từng xuất hiện trong chƣơng trình Biệt tài tí hon năm

2019). Để Chùa tự kể về quá trình “lột xác” của mình, nhà văn khẳng định tầm quan

trọng của giáo dục và tự giáo dục. Phƣơng pháp giáo dục nêu gƣơng của ông Sáu cùng

với sự tự ý thức hoàn thiện nhân cách của Chùa đã tạo ra một thần đồng đàn sến. Từ

đó, nhà văn khẳng định, mỗi đứa trẻ là một thần đồng với những khả năng riêng. Điều

quan trọng là cha mẹ, thầy cô phải biết gần gũi, quan sát, tìm hiểu để phát hiện và bồi

dƣỡng để trẻ có thể phát huy đƣợc những khả năng thiên bẩm đó. Qua việc khắc họa

hình tƣợng nhân vật Chùa, tác giả muốn thắp lên trong lòng độc giả tình yêu đối với

âm nhạc, đặc biệt là nhạc cụ truyền thống. Đồng thời nhắn nhủ mọi ngƣời phải biết giữ

gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

2.4.3. Khả năng lạ thƣờng

Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhiều nhân vật trẻ em đƣợc

xây dựng với khả năng lạ thƣờng. Đó là khả năng nghe, hiểu và nói chuyện đƣợc với

động vật. Điều đó đƣợc thể hiện qua các nhân vật nhƣ: Hƣng trong Siêu nhân cua, Bòn

Bon trong Tiền của thần cây, Dƣa Leo trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.

Khả năng nghe hiểu đƣợc tiếng nói của loài vật đƣợc thể hiện trƣớc hết qua

nhân vật Hƣng (Siêu nhân cua). Hƣng có thể hiểu đƣợc chú mèo của bà Sáu hàng xóm

đang nói gì với mình “Mỗi lần ăn cơm tôi nói chuyện với nó. Nó còn hỏi tôi “có xương

cá không?”. Nó còn nói nó khoái xương cá lắm” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.68). Khả

năng này của Hƣng xuất phát từ tình cảm yêu thƣơng và sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế của

nhân vật.

79

Bòn Bon (Tiền của thần cây) cũng có thể nghe hiểu đƣợc tiếng nói của chó.

Trong tác phẩm, Bòn Bon thƣờng xuyên trò chuyện với Ban Đêm – chú chó cƣng :“-

Không có ma da phải không Ban Đêm? - Ma thì chỉ có ban đêm mới có” (Võ Diệu

Thanh, 2016 a, tr.7). Vì gắn bó với con chó yêu quý của mình mà Bòn Bon có thể hiểu

đƣợc con thú cƣng của mình. Có thể thấy rằng, khả năng đặc biệt này có đƣợc là nhờ

vào sự gần gũi, quan tâm, yêu thƣơng vật nuôi trong nhà của các bạn nhỏ.

Khả năng lạ thƣờng này thể hiện rõ nhất qua nhân vật Dƣa Leo. Trong truyện

Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Dƣa Leo hiện lên là một cậu bé có khả năng hiểu đƣợc

những điều chú mèo muốn nói với mình. Qua cách nói chuyện thân thiết giữa Dƣa Leo

và chú mèo, ta thấy đƣợc khả năng lạ thƣờng này của nhân vật:

“- Cậu có bạn gái chưa?

- Tớ là một con mèo …

- Cậu là thằng mèo chớ không phải con mèo. Thằng mèo thì cũng có bạn gái

chớ”

(Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26).

Khả năng lạ thƣờng này lại đem đến phiền phức cho Dƣa Leo vì không ai tin

cậu bé có khả năng đó. Mọi ngƣời cho rằng việc Dƣa leo nói có thể nghe đƣợc tiếng

mèo nói là chuyện bịa đặt. Trong mắt mọi ngƣời, Dƣa Leo là một cậu bé tự kỉ khi suốt

ngày nói chuyện cùng chú mèo. Không thể nói chuyện cùng ai, vui buồn gì Dƣa Leo

cũng tìm đến chú mèo để tâm sự. Với Dƣa Leo, chú mèo vằn vện là một ngƣời bạn

thân. Cậu gọi nó là Mèo Ma Văn Vẻ và đi đâu Dƣa Leo cũng cho nó đi cùng. Vì gắn

bó thân thiết nên Dƣa Leo có thể hiểu đƣợc tiếng nói của “ngƣời bạn thân” của mình

“Một thằng nhỏ lớp Tám nghe được con mèo nói chuyện” (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.9). Cách Dƣa Leo nói chuyện với chú mèo cũng rất đặc biệt “Nói chung là tôi và

Dưa Leo nói chuyện với nhau toàn bằng mật ngữ” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.9).

Qua hình tƣợng nhân vật trẻ em với khả năng lạ thƣờng, ta hiểu đƣợc những

triết lí nhân văn mà Võ Diệu Thanh nhắn nhủ mọi ngƣời. Đó là cần phải biết trân trọng

những khả năng đặc biệt của trẻ em. Mỗi đứa trẻ là một thiên tài với những sở trƣờng

riêng. Ngƣời lớn cần phải biết phát hiện kịp thời và tìm cách khơi dậy để trẻ em có thể

phát huy một cách tốt nhất thế mạnh của mình.

80

* Tiểu kết chƣơng 2

Miêu tả mỗi nhân vật với ngoại hình khác nhau, hành động khác nhau, diễn

biến tâm lí khác nhau, nhà văn đã tạo nên những cá tính rất khác nhau cho mỗi nhân

vật. Mỗi đứa trẻ bày tỏ tình cảm của mình với mọi ngƣời theo một cách rất riêng, đáng

yêu theo một cách rất riêng. Chính điều này đã góp phần làm cho thế giới nhân vật trẻ

em trong truyện viết cho thiếu nhi của tác giả thêm phong phú và sinh động.

Xây dựng hình tƣợng các nhân vật trẻ em với những đặc điểm tính cách, phẩm

chất khác nhau, Võ Diệu Thanh hƣớng đến giáo dục nhân cách cho trẻ. Đó là bài học

về lòng yêu thƣơng con ngƣời, yêu thƣơng động vật. Đó là bài học về tình bạn, giúp

đỡ, sẻ chia để cùng tiến bộ. Đó không chỉ là bài học dành cho các bạn nhỏ mà còn là

bài học cho cả ngƣời lớn trong việc giáo dục trẻ, bài học về cách yêu thƣơng một đứa

trẻ. Khắc họa nhân vật trẻ em với những khả năng khác nhau, tính cách, số phận khác

nhau, nhà văn khẳng định không thể áp dụng một phƣơng pháp lên tất cả mọi đứa trẻ

bởi vì mỗi đứa trẻ có khả năng, sở thích, suy nghĩ riêng. Nếu không biết lắng nghe

tiếng nói của trẻ thì ngƣời lớn chúng ta sẽ không thể hiểu đƣợc tâm tƣ nguyện vọng

của trẻ và sẽ rất dễ mắc sai lầm trong cách giáo dục trẻ.

81

Chƣơng 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Để hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thật sinh động vừa mang tính cá

thể hóa vừa mang những nét tiêu biểu đại diện, nhà văn đã sử dụng kết hợp nhiều

phƣơng thức nghệ thuật. Đó là việc khắc họa tính cách nhân vật qua cách đặt tên, cách

miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lí. Đó là việc sử dụng ngôn ngữ tả, kể, đối thoại,

độc thoại linh hoạt. Đó còn là cách tạo bối cảnh cho nhân vật xuất hiện qua việc xây

dựng không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật phù hợp với nhân vật trẻ em. Tất cả

điều này sẽ đƣợc chúng tôi trình bày trong chƣơng 3 của luận văn.

3.1. Xây dựng nhân vật trẻ em qua khắc họa tính cách

3.1.1. Cách đặt tên nhân vật

Tên của mỗi ngƣời thƣờng mang một ý nghĩa nhất định. Có những cái tên gắn

với niềm mơ ƣớc của gia đình. Có những cái tên gắn với kỉ niệm tình yêu của bố mẹ.

Có những cái tên thể hiện tình yêu đối với địa danh, thần tƣợng. Trong tác phẩm văn

học, nhà văn định danh nhân vật với những dụng ý nghệ thuật riêng. Có thể nói, định

danh nhân vật là một trong những cách tạo nên dấu ấn đậm nét cho các tác phẩm văn

học. Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, những nhân vật trẻ em hiện

lên với những cái tên rất riêng, rất lạ nhƣ: Tì Ti, Nhóc, Hƣng Mặt Bành, Mai Một Mí,

Nam Trán Dồ, Bòn Bòn, Dƣa Leo, Chùa.

Bảng 3.1. Thống kê thủ pháp định danh nhân vật

trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

STT Cách định danh Số lƣợng Tỉ lệ

82

1 Tên thật cụ thể 21/53 39,62%

2 Biệt danh 4/53 7,55%

3 Tên thật ghép với biệt danh 3/53 5,66%

4 Tên thƣờng gọi ở nhà 16/53 30,19%

5 Tên phiếm định 9/53 16,98%

Thống kê, phân loại tên nhân vật thiếu nhi trong truyện viết cho thiếu nhi của

Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có nhiều loại tên: tên thật, biệt danh, tên thật ghép

với biệt danh, tên thƣờng gọi ở nhà (Xem phụ lục 2 bảng thống kê thủ pháp định danh

nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh).

Từ bảng thống kê trên có thể thấy: Có 21 nhân vật đƣợc gọi theo tên thật cụ thể

chiếm tỉ lệ lớn nhất 39,62%. Có 4 nhân vật đƣợc gọi tên gắn liền với biệt danh đó là:

Dƣa Leo, thằng Cua, Chùa, Nhỏ Bự chiếm 7,55%. Có 3 nhân vật đƣợc đặt tên theo

cách ghép tên thật với biệt danh đó là: Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí

chiếm 5,66%. Có 16 nhân vật đƣợc gọi tên theo tên thƣờng gọi ở nhà nhƣ: bé Hai, Củ

Cải, Bòn Bon, Tì Ti, Nhóc, Út Tiền…. chiếm 30,19%. Và có 9 nhân vật đƣợc gọi tên

phiếm định chiếm 16,98%. Qua những tên gọi này, tính cách số phận đƣợc hé mở.

Những cái tên là biệt danh và tên thật ghép với biệt danh gợi lên sự hồn nhiên, vô tƣ,

nét tinh nghịch, đáng yêu của các nhân vật trẻ em. Có những cái tên rất đẹp gắn với

niềm mong ƣớc của ba mẹ, ngƣời thân nhƣ: Châu, Hà, Hà Vi, Hiền, Hậu, Nhân, Nhã,

Ngàn, Mai, Tƣờng, Thảo, Thi, Thuận, Quý. Có những cái tên xấu, cộc lốc nhƣ chính

tính cách, số phận của nhân vật: Dẫu, Dị, Đực, Tụ. Bên cạnh đó, nhiều nhân vật có tên

mang màu sắc văn hóa Nam Bộ nhƣ: bé Hai, chị Hai, anh Ba, Chị Tƣ, anh Năm, anh

Bảy, Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt, Út Tiền.

Trong số những tên gọi kể trên, tên nhân vật là biệt danh và tên nhân vật là biệt

danh ghép với tên thật đƣợc nhà văn lí giải cặn kẽ qua lời ngƣời kể chuyện hoặc qua

lời của các nhân vật trong tác phẩm. Biệt danh Dƣa Leo đƣợc ngƣời kể chuyện – chú

Mèo Ma Văn Vẻ đặt. Ý nghĩa của tên gọi đƣợc giải thích rất rõ “Tôi đặt tên cho nó là

Dưa Leo vì tôi nghĩ nó cứng đơ như trái Dưa Leo” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18). Biệt

danh Chùa gắn liền với ngoại hình của nhân vật. Sự tích tên gọi đƣợc chính nhân vật

kể lại:

83

“Khi về với ông Sáu tôi chửi thề nhoi miệng, tóc nhuộm vàng, hớt trụi xung

quanh chừa một luống ở giữa đầu như bờm ngựa, hai bát nhấn tia chớp. Cô Sáu thấy

mấy tia chớp kỳ quá nên mới nhuộm tóc tôi cho đen lại. Vẫn không thể lấp hết tia

chớp. Vậy là cô Sáu cạo trọc luôn. Mỗi lần ra tóc mới, tôi bị ngứa kêu cô Sáu cạo tiếp.

Vậy thành Chùa tới bây giờ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.24). Việc nhà văn để nhân vật

tự giải thích ý nghĩa tên gọi của mình giúp ngƣời đọc hình dung rõ về dáng đầu trọc

mà còn giúp ta hiểu đƣợc sự “lột xác” từ một đứa trẻ quậy phá, khó bảo thành một cậu

bé ngoan ngoãn và hiểu chuyện. Cách làm này của Võ Diệu Thanh rất giống với cách

Nguyễn Ngọc Thuần để cho nhân vật Dũng tự giải thích ý nghĩa tên gọi của mình

trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Trong tác phẩm này, Trí Dũng kể lại một cách chi

tiết việc bố mẹ đặt tên cho mình:

“Bố tôi nói với bà mụ:

- Tôi muốn nó một cái tên thật hùng dũng.

- Vậy tên Dũng nhé!

- Tôi muốn nó thật thông minh nữa.

- Vậy thì Trí Dũng.”

(Nguyễn Ngọc Thuần, 2004, tr.16)

Tên nhân vật đƣợc đặt ghép từ tên thật và biệt danh không chỉ gắn với đặc điểm

ngoại hình của nhân vật mà còn thể hiện tính cách của nhân vật. Nam trong tác phẩm

đƣợc cái bạn gọi với biệt danh Nam Trán Dồ. Cái tên đó bắt đầu từ khi ông ngoại của

Nam đến lớp tìm Nam. Ông nói với cô giáo của cháu ngoại mình: “- Tôi là ông ngoại

trò Nam, Nam có ở đây không cô giáo?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Cái tên Trán Dồ

trở thành đặc điểm nhận dạng của nhân vật Nam. Khi cô giáo đăng băn khoăn “- Nam

nào thưa bác, ở đây có hai Nam, Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Văn Bảo Nam” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.6). thì ngay lập tức ông chỉ ra đặc điểm của cháu ngoại mình đó

là có trán dồ: “À, cái thằng Nam trán dồ đó cô giáo” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Từ

đó, biệt danh Trán Dồ của Nam đƣợc các bạn thƣờng xuyên sử dụng thay cho tên

chính Nguyễn Văn Bảo Nam của nó: “Vừa gặp thằng Nam đang lăng xăng dượt con

Mai, tôi réo như giặc tới. - Ê, Trán Dồ ơi Trán Dồ, ông ngoại mày kiếm kìa” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.6). Trong lúc Nam không hề thích cái biệt danh đó chút nào thì Hƣng

thì tỏ ra rất khoái chí. Mỗi lần thấy Nam, nó liền réo gọi “Trán Dồ ơi, Trán Dồ à, Trán

Dồ …” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.6). Biệt danh Trán Dồ phần nào gợi mở tính cách

84

của nhân vật Nam. Theo lời cô Thanh thì “trán dồ là trán rộng, trán của người thông

minh” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10). Dù hay ghen tị gây sự với bạn, nhƣng chính

Hƣng cũng phải công nhận trán dồ là một đặc điểm của ngƣời thông minh: “Ừ chắc

chắn là Nam thông minh hơn tôi nhờ cái trán dồ rồi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.11).

Hƣng nói với cô Thanh “Nó cói cái trán dồ mà, nên vẽ cái gì cũng đẹp hết” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.34). Mai Một Mí, Hƣng Mặt Bành cũng là những biệt danh gắn với

đặc điểm hình dáng trên khuôn mặt. Gọi là Mai Một Mí vì nó có đôi mắt rất nhỏ và

mỗi khi cƣời thì mắt nó híp lại. Gọi là Hƣng Mặt Bành vì cái mặt nó khi nào cũng

chành bành. Cái miệng rộng của Hƣng đã phần nào bộc lộ tính cách tinh nghịch, hay

nói, hay chọc ghẹo bạn bè của nó.

Cách định danh nhân vật theo cách ghép tên thật với biệt danh của Võ Diệu

Thanh rất giống với Nguyễn Nhật Ánh. Trong Kính vạn hoa, ta bắt gặp những nhân

vật có tên là biệt danh gắn với đặc điểm ngoại hình nhân vật nhƣ: Quý ròm, Hải quắn,

Tần ghẻ, Dế lửa. Trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ tên các nhân vật trẻ em đƣợc đặt

theo cách này nhƣ: Hải cò, Tí sún. Những biệt danh đó đƣợc mọi ngƣời quen gọi. Vì

thế, tên thật của nhân vật rất ít đƣợc nhắc đến. Mỗi nhân vật có cách phản ứng riêng

khi ngƣời khác gọi biệt danh của mình. Trong khi Hƣng và Nam không hề thích cái

biệt danh Mặt Bành, Trán Dồ của mình thì Mai, Chùa và Dƣa Leo lại tỏ ra vui vẻ, hài

lòng với biệt danh đó. Chùa và Dƣa Leo “không cự cãi” khi mọi ngƣời gọi biệt danh

của mình. Mai thậm chí còn cảm thấy hãnh diện và tự hào khi đƣợc cô giáo gọi bằng

biệt danh. Mỗi lần cô Thanh gọi “Một Mí lên cô biểu” thì nó liền cƣời vui vẻ.

Ngoài cách định danh nhân vật bằng những tên gọi cụ thể, nhà văn còn định

danh nhân vật bằng tên gọi phiếm định. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu

thấy trăng. Trong tác phẩm này, những học sinh cá biệt ở lớp cô Hoàng đƣợc nhà văn

gọi bằng những cái tên không cụ thể “Đó là cái thằng không đem theo một cuốn vở

nào, ba nó bị bệnh gan nằm liệt, mẹ đi vác lá mướn suốt ngày. Đó là cái thằng ba mẹ

nó đi ghe lá bên Lô, nó ở nhà với ông bà ngoại. Là cái thằng ba mẹ nó đi Bình Dương

mỗi năm nó chỉ gặp mẹ nó có một lần vào ngày Tết” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.51).

Nhiều nhân vật trẻ em trong những truyện viết cho thiếu nhi khác của Võ Diệu Thanh

cũng đƣợc nhà văn định danh bằng tên gọi phiếm định. Đó là đám bạn của thằng Tú

trong truyện Siêu nhân cua. Đó là tụi bạn của Củ Cải trong truyện Tiền của thần cây.

Đó là tụi con nít chơi thả diều ở bãi đất trống trong truyện Thả diều. Đó là mấy đứa

85

bạn của Thuận trong Bí mật theo cô. Đó là các bạn của Bin trong Khu vườn trong mơ

và Chú ong bé bỏng.

Cách định danh nhân vật bằng những tên gọi phiếm định và tên thƣờng gọi ở

nhà của Võ Diệu Thanh khiến ta liên tƣởng đến cách đặt tên cho nhân vật của Quế

Hƣơng. Trong các truyện viết cho thiếu nhi của Quế Hƣơng, ta bắt gặp nhiều tên nhân

vật đƣợc gọi phiếm định nhƣ: thằng đầu to, con câm. Những tên đó gắn liền với dị tật

của nhân vật. Nhiều nhân vật đƣợc Quế Hƣơng đặt tên một cách cụ thể gắn liền với số

phận bất hạnh của nhân vật đó. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong Chiếc vé vào cổng

thiên đường. Đó là con Lỡ, thằng Sót, thằng Quẳng. Nhà văn để các nhân vật tự giới

thiệu về tên mình: “Tau tên Quẳng vì người ta quẳng tau ra đường mấy bận” (Quế

Hƣơng, 2004, tr.28). Tên Lỡ vì bố mẹ lỡ quên, lỡ sinh. Tên Sót vì nó là “đứa duy nhất

còn sót lại trong một gia đình sau một bữa cháo nấm” (Quế Hƣơng, 2004, tr.28). Nếu

Võ Diệu Thanh đặt tên nhân vật là tên một loại trái cây ngon của vùng Nam Bộ (Bòn

Bon) thì Quế Hƣơng lại đặt tên nhân vật là tên những loại rau ăn kèm với món thịt chó

(Mơ, Ngổ). Những cái tên này phần nào đã cho thấy sự bất hạnh của những đứa trẻ có

bố ham mê nhậu nhẹt. Việc đặt tên nhân vật là thằng đầu to, con câm, Lỡ, Quẳng, Sót

của Quế Hƣơng đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về bất hạnh của nhân vật

trẻ em. Khác với Quế Hƣơng tô đậm, xoáy sâu bất hạnh của nhân vật trẻ em, Võ Diệu

Thanh viết về những bất hạnh, những thiệt thòi của trẻ em không nhằm khắc sâu nỗi

đau mà làm bật lên niềm tin, niềm hy vọng của những đứa trẻ thiếu may mắn.

Từ những phân tích trên có thể thấy, hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đƣợc tác giả đặt tên theo những cách rất riêng.

Cách đặt tên cho nhân vật của nhà văn vừa có nét giống cách đặt tên nhân vật của các

nhà văn trƣớc đó và cùng thời vừa có nét khác biệt thể hiện cá tính sáng tạo của tác

giả. Với việc định danh nhân vật bằng những tên vừa cụ thể vừa phiếm định, tác giả đã

làm cho hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái

quát. Hình tƣợng nhân vật trẻ em vì thế trở nên gần gũi, chân thực, đa dạng và sinh

động. Bằng cách này, nhà văn đã tạo cho mỗi nhân vật một đời sống riêng với tính

cách, số phận riêng. Có thể nói những cái tên nhân vật ấn tƣợng nhƣ Bòn Bon, Dƣa

leo, Chùa, Tì Ti, Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí … đã góp phần tạo nên

ấn tƣợng trong lòng độc giả khi đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

86

3.1.2. Cách miêu tả ngoại hình nhân vật

Ngoại hình nhân vật là dáng vẻ bên ngoài biểu hiện qua hình dáng, trang phục

của nhân vật. Những đặc điểm về ngoại hình của nhân vật góp phần thể hiện tính cách,

số phận của nhân vật đó. Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, những

nhân vật trẻ em hiện lên với vẻ ngoài rất khác nhau. Trong số 53 nhân vật trẻ em, có

15 nhân vật đƣợc nhà văn tập trung miêu tả ngoại hình đó là: bé Mai, bé Châu, thằng

cua, Dẫu, Dị, Hậu, Hƣng, Nam, Mai, Quý, Dƣa Leo, Tì Ti, Nhóc, Chùa. Tìm hiểu cách

miêu tả ngoại hình nhân vật của nhà văn chúng tôi nhận thấy có những nhân vật hiện

lên với ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng (bé Mai, bé Châu); có những nhân vật hiện lên

với dị tật trên cơ thể (thằng cua), có những nhân vật hiện lên với dáng vẻ gợi lên sự

lam lũ, nghèo khổ (Dẫu, Dƣa Leo, Hậu, Quý, nhỏ Mai); có những nhân vật hiện lên

với những nét đặc biệt riêng (Tì Ti, Nhóc, Hƣng, Nam) và có nhân vật ngoại hình nhân

vật thay đổi theo số phận (Chùa). Chính điều này đã tạo nên nét riêng cho từng nhân

vật trẻ em.

Ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng của nhân vật trẻ em đƣợc hiện lên qua hai nhân

vật bé Châu và Bé Mai. Bé Châu xinh xắn với mái tóc tơ mềm, mỏng cùng làn da mát

mịn “Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái tóc thì lơ thơ mấy cọng mỏng như cô

tiên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Còn bé Mai lại dễ thƣơng với kiểu tóc thắt thành

bím. Cùng miêu tả mái tóc, Võ Diệu Thanh đã tạo nên sự khác biệt cho hai nhân vật

với những nét khác nhau. Với cách tạo hình đơn giản cho nhân vật, Võ Diệu Thanh đã

tạo nên nét riêng cho mỗi nhân vật. Qua đó, nhà văn cũng gián tiếp bộc lộ quan niệm

của mình về nét đẹp của trẻ em. Không cần phải có “má lúm đồng tiền” giống nhƣ con

Tũn trong truyện Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh, cũng không cần

phải có “cái răng khểnh” nhƣ Dũng trong truyện Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của

Nguyễn Ngọc Thuần, bé Châu, bé Mai trong truyện Thả diều của Võ Diệu Thanh vẫn

xinh xắn, dễ thƣơng theo cách của riêng mình.

Để làm nổi bật nỗi bất hạnh của đứa trẻ bị tật nguyền, nhà văn miêu tả dị tật

trên tay của thằng cua “một cái càng to, một cái cái càng bị thương binh” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.54). Cùng với đó, đặc điểm mái tóc, màu da của nhân vật cũng đƣợc

nhà văn miêu tả “Thằng đó cỡ bằng tôi, đen hơn, mập hơn có mấy sợi tóc vàng hoe”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53). Tất cả những đặc điểm về ngoại hình nói trên đã giúp

ngƣời đọc hình dung rõ hơn về hoàn cảnh sống nhiều khó khăn, thiếu thốn của nhân

87

vật. Dị tật của thằng cua khiến ta liên tƣởng đến những dị tật của các nhân vật trong

truyện viết cho thiếu nhi của Quế Hƣơng. Trong truyện Vua lũ đồ chơi của Quế

Hƣơng, thằng đầu to hiện lên với cái đầu to, chân thọt khiến nó gặp nhiều khó khăn

khi di chuyển. Trong truyện Bà mụ búp bê của Quế Hƣơng, nhân vật con Lỡ hiện lên

với dị tật ở mắt và chân “nước mắt cứ ri rỉ ngay cả lúc nó cười” và “đôi chân cong

vòng nhỏ như cây sậy” (Quế Hƣơng, 2004, tr.12). Viết về những đứa trẻ tật nguyền Võ

Diệu Thanh đã tạo nên dấu ấn riêng khác với Quế Hƣơng. Nếu Quế Hƣơng miêu tả chi

tiết những dị tật lớn ở đầu, mắt, chân của nhân vật trẻ em thì Võ Diệu Thanh chỉ nhắc

đến dị tật nhỏ ở tay. Nhắc đến dị tật của thằng cua là cách để tác giả làm bật lên nỗi bất

hạnh của trẻ em, đồng thời ngợi ca tình cảm yêu thƣơng của thầy cô, bạn bè và những

nhà hảo tâm đối với những đứa trẻ không may bị tật nguyền nhƣ thằng cua.

Để làm nổi bật những thiếu thốn của những đứa trẻ nhà nghèo, Võ Diệu Thanh

đặc tả trang phục. Dẫu đến trƣờng trong bộ dạng nhếch nhác “Không dép, không cặp,

không áo trắng. Tóc loe hoe mấy cọng thả xuống vai. Mặt mày mốc chít. Trên người

chỉ mỗi bộ đồ thun đã xuống màu” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.18). Với việc sử dụng

biện pháp liệt kê (dép, cặp, áo trắng) kết hợp với điệp từ “không”, từ láy “loe hoe”,

Võ Diệu Thanh đã giúp ngƣời đọc hình dung rõ về hoàn cảnh thiếu thốn của gia đình

Dẫu. Dẫu đáng thƣơng không chỉ bởi nhà nghèo, phải chịu cảnh thiếu thốn về vật chất

(không có đồ dùng học tập, không có đồng phục đến trƣờng), mà còn đáng thƣơng vì

thiếu thốn tình cảm, không đƣợc cha mẹ quan tâm. Biết bố mẹ không cho đi học, nó

phải tìm cách trốn bố mẹ để đến trƣờng. Không đƣợc bố mẹ quan tâm nên Dẫu đến

trƣờng với bộ dạng nhếch nhác đến tội nghiệp (mặt không rửa, tóc không cột, quần áo

nhàu nhĩ, cũ kỹ). Hậu may mắn hơn Dẫu khi ngày đầu đến trƣờng có mẹ dắt đi. Nhƣng

vì cùng cảnh con nhà nghèo nên nó cũng chịu nhiều thiệt thòi. Trong cách nhìn của

Dẫu, Hậu hiện lên thật đáng thƣơng “Nhỏ này nhìn độ chừng bằng thằng em Út Nữa

của tôi. Nhìn gương mặt của con nhỏ coi chừng còn chưa bỏ sữa” (Võ Diệu Thanh,

2014, tr.19). Nhà nghèo không đƣợc ăn uống đầy đủ, Hậu còi cọc. Nó sáu tuổi rồi

nhƣng nhỏ xíu nhìn chỉ chừng bốn tuổi. Nếu Dẫu tám tuổi mới bắt đầu học lớp Một thì

Hậu sáu tuổi cũng chƣa đƣợc học mẫu giáo. Nhà hai đứa nghèo tới mức không có tiền

đóng học cho con. Cả hai đứa vào học lớp Một khi chƣa đi học mẫu giáo ngày nào.

Điều này cũng đƣợc nhà văn nhắc đến trong Siêu nhân cua qua hình tƣợng nhân vật bé

Mai. Vẻ lam lũ, thiếu thốn của Mai đƣợc thể hiện qua trang phục mỗi ngày đến trƣờng.

88

Đó là bộ dạng một cô bé áo quần lúc nào cũng lấm lem mà nồng nặc mùi phân gà. Chỉ

qua vài nét miêu tả ngoại hình của nhân vật, tác giả đã giúp ngƣời đọc hình dung rõ

hơn về cuộc sống túng thiếu của mẹ con bé Mai. Quý trong truyện dài Chúng mình bay

đầy trời đƣợc miêu tả với hình dáng mang dấu ấn của đứa trẻ nông thôn nghèo khó,

lam lũ: “Thằng nhỏ này ốm nhách, đen thui, tóc loe hoe” (Võ Diệu Thanh, 2016 b,

tr.5). Ngoại hình gầy còm, ốm yếu của Quý cũng phần nào hé mở cho ngƣời đọc thấy

đƣợc hoàn cảnh gia đình của nó. Sống cùng bà nội ở Núi Cấm, dáng hình của Quý in

đậm dấu ấn của những đứa trẻ ở miền núi. Ốm nhách vì nghèo, da đen thui, tóc leo hoe

vì cháy nắng. Dáng hình ấy cũng bộc lộ tính tình hiền lành, chân chất của đứa trẻ

nghèo vùng núi.

Bên cạnh việc khắc họa nhân vật với ngoại hình xinh xắn, dễ thƣơng, nhân vật

với dị tật trên cơ thể, Võ Diệu Thanh cũng xây dựng nhiều nhân vật với nét đặc điểm

ngoại hình riêng biệt. Để làm nổi bật sự vô tƣ, thân thiện, đáng yêu của Tì Ti và Nhóc,

nhà văn tập trung miêu tả đôi mắt “Đôi mắt của hai mặt trời rực lên phía cuối bãi. Ánh

sáng song đôi, ánh sáng trong lành” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.9). Đôi mắt của Tì Ti

và Nhóc cùng nhìn về một hƣớng – phía cuối bãi. Bởi chúng biết nơi đó là nơi mẹ sẽ

từ Sài Gòn trở về. Chỉ một chi tiết rất nhỏ, tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc

niềm vui, niềm hạnh phúc đang hiện lên trong đôi mắt của hai bạn nhỏ khi biết mẹ của

mình sắp về. Ánh mắt của những cậu bé hồn nhiên, vô tƣ thật tƣơi tắn, trong sáng, ấm

áp. Dƣa Leo (Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm) có ngoại hình đặc biệt: “Một thằng nhỏ ốm

như một loại dây leo. Nó ốm mà nó cứng đơ chớ không mềm mại như dây leo mới khó

chịu” (Võ Diệu Thanh, 2016 a, tr.18). Hƣng (Siêu nhân cua) hiện lên với cái miệng

rộng, đôi mắt nhỏ tí và hàm răng bị sún. Nó tự kể về cái mặt bành của mình “Hồi đẻ

thằng Hưng, tức là đẻ tôi, má ăn thấy sợ, tôi sổ sữa mặt bành như trái bưởi, bành tới

bây giờ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17). Mặt chành bành kèm với răng sún khiến Hƣng

hiện lên đầy ấn tƣợng trong mắt bạn bè. Mai vẽ mặt Hƣng với những chiếc răng sún

rộng nhƣ cái ao. Với những đặc điểm này, nét tinh nghịch, sự dí dỏm của nhân vật

phần nào đƣợc bộc lộ. Nam (Siêu nhân cua) hiện lên với vầng trán rộng. Trong cách

nhìn của Hƣng, trán rộng của Nam khi khóc trông giống ông già “thằng Nam mếu

nhìn cái trán nhăn lại giống ông già đang khóc” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78). Đặc

điểm này của nhân vật thể hiện rõ sự thông minh, ham học hỏi của Nam. Đối lập với

hoàn cảnh nghèo khó của Dẫu và Hậu, Dị lại có hoàn cảnh đủ đầy, sung túc. Điều này

89

đƣợc thể hiện rất rõ qua ngoại hình của nhân vật. Nếu Dẫu, Hậu còi cọc, nhếch nhác

thì Dị lại phổng phao, tƣơm tất. Dị đƣợc mẹ đƣa đến trƣờng với đồng phục mới. Hơn

thế nữa, nó còn có cả đồ chơi xa xỉ mà những đứa trẻ con nhà nghèo nhƣ Dẫu và Hậu

không bao giờ có đƣợc “Bộ đồ nó mặc mới chóc. Trên tay thằng này là một chiếc xe

điều khiển từ xa bự gần bằng nó” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.22). Nếu Dẫu bạo gan một

mình đến trƣờng, Hậu nhút nhát nép sau lƣng mẹ, thì Dị lại nhõng nhẽo để mẹ bồng

trên tay. Chỉ qua vài nét phác họa ngoại hình, tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận

đƣợc không chỉ hoàn cảnh gia đình mà cả tính cách của nhân vật.

Chùa (Quà tặng của ngày mai) gây ấn tƣợng với ngƣời đọc với ngoại hình đặc

biệt với cái đầu trọc, “sún răng”, “mắt hí hị”. Sự thay đổi đáng kể ở ngoại hình của

Chùa kể từ khi về ở với ông Sáu là kiểu tóc. Nếu lúc mới về sống cùng ông Sáu, Chùa

có kiểu tóc vàng hoe, “đầu nhƣ bờm ngựa” thì sau đó màu vàng hoe đã đƣợc cô Sáu

cho đi nhuộm đen, cái bờm ngựa hình tia chớp đƣợc cạo trọc. Điều đặc biệt là cậu bé

Chùa lại tỏ ra tự hào về vẻ “đẹp trai” của mình. Trong tác phẩm, nhân vật tự khẳng

định: “Có những loại nhan sắc được phối hợp bởi cái miệng móm vừa phải, răng sún

vừa đủ và mắt một mí vừa … hí thì thôi, không gì tàn phá nổi, dù bạn có tóc hay trọc

đầu” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Sự thay đổi về ngoại hình này của Chùa thể hiện

rõ sự thay đổi về nhận thức, tính cách. Từ một đứa trẻ nghịch ngợm, mê chơi, khó bảo

trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, học giỏi, đàn giỏi.

Nét độc đáo trong cách xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em của Võ Diệu

Thanh đó là không đi sâu miêu tả một cách tỉ mỉ ngoại hình của nhân vật. Chỉ qua vài

nét khắc họa, nhân vật đã hiện lên thật ấn tƣợng. Dáng hình của các nhân vật đã phần

nào bộc lộ đƣợc hoàn cảnh sống, tính cách của các nhân vật. Những chi tiết rất nhỏ về

đặc điểm ngoại hình của nhân vật góp phần làm cho nhân vật để lại dấu ấn đậm nét

trong lòng độc giả.

3.1.3. Cách miêu tả hành động nhân vật

Mỗi nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mang những

đặc điểm tính cách khác nhau. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của từng nhân vật, nhà

văn tập trung miêu tả những hành động của các nhân vật. Khảo sát các truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy những hành động của trẻ em đƣợc

nhà văn nhiều lần nhắc đến đó là: hỏi, khóc, cƣời, méc, chọc ghẹo. Đặc biệt tác giả đi

90

sâu miêu tả những hành động khác với thƣờng ngày của nhân vật để từ đó làm bật lên

những thay đổi về tâm lí, tính cách của nhân vật.

Để làm nổi bật lên hình tƣợng nhân vật Dẫu – một cô bé nghèo, là nạn nhân của

bệnh thành tích trong giáo dục, nhà văn đặc biệt miêu tả những hành động của Dẫu

trƣớc khi đi học, khi đi học và sau khi bỏ học. Sự háo hức vì sắp đến trƣờng của Dẫu

đƣợc bộc lộ qua hàng loạt hành động: “tắm táp thiệt lâu”, “lựa bộ đồ lành lặn nhất

mặc vào”, “nằm im nhìn lên trần nhà”, “rửa mặt”, hỏi mẹ đã sáng chƣa để đi học.

Đây là những hành động khác với thƣờng ngày của Dẫu “Đó không phải là thói quen

thường ngày của tôi”. Những thay đổi về hành động của Dẫu cho thấy tâm thế chuẩn

bị đi học với tâm trạng háo hức của một cô bé đã hơn tám tuổi luôn khao khát đƣợc đi

học nhƣng chƣa từng đƣợc đến trƣờng ngày nào. Miêu tả những hành động này nhà

văn đã giúp ngƣời đọc hình dung về sự thiệt thòi của Dẫu khi không đƣợc ba mẹ cho

đi học. Chỉ qua vài nét miêu tả hành động của Dẫu, Võ Diệu Thanh đã cho ngƣời đọc

thấy đƣợc niềm khao khát đƣợc đi học đến tội nghiệp của Dẫu.

Nhã (Bí mật theo cô) là một cô bé giàu tình cảm. Để làm nổi bật điều đó, nhà

văn đã miêu tả nhiều hành động thể hiện sự quan tâm của em dành cho mẹ nhƣ: hỏi,

tâm sự, khuyên, kéo má chạy trốn. Quan tâm đến sở thích của ba, Nhã hỏi má “- Ba

thích ăn món gì hả má”. Với mong muốn nấu món ăn mà ba thích nhất, Nhã hỏi ba: “-

Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43). Để bảo

vệ mẹ tránh cơn giận dữ của ba, Nhã thƣờng khuyên mẹ chạy trốn: “Nhịn đi má ơi”

(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.40). Khuyên không đƣợc, Nhã dồn hết sức lôi mẹ chạy khỏi

nhà: “Bằng tất cả sức lực Nhã xô ba một cái mạnh. Ba lảo đảo va người vào vách nhà.

Nhã lôi má chạy” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.40). Mỗi lần nhìn thấy má ngồi buồn, Nhã

thƣờng đến bên tâm sự cùng má: “Đêm đó ở nhà cô Chi, má nằm dỗ em Thi ngủ. Nhã

ngồi bên má” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.48). Những hành động kể trên cho thấy Nhã

rất yêu thƣơng mẹ của mình.

Để làm nổi bật những tổn thƣơng tâm lí của cu Lý nhà văn đã miêu tả hàng loạt

các hành động của nhân vật: ngồi thu mình trong nhà, hốt cát chọi tung lên trời, đá

tung cát lên lần nữa, cúi gầm mặt xuống, đấm ình ịch tay vào đất, lại hốt cát tung lên,

phạt ngang phạt dọc, vùi mặt xuống cát. Tất cả những hành động đó thể hiện rõ những

dằn vặt, đau đớn trong lòng cu Lý khi nhớ về bé Châu – đứa em gái bé bỏng, tội

nghiệp của mình. Điều này càng đƣợc bộc lộ rõ qua hành động khóc của nhân vật “Nó

91

vừa kể vừa khóc mà cũng không hay mình đang khóc. Khóc nhiều tới mức nó không kể

được nữa” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 35). Miêu tả cu Lý khóc, tác giả đã cho ngƣời

đọc thấy đƣợc bản tính dễ xúc động của trẻ em. Không riêng gì cu Lý, nhiều nhân vật

trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh cũng thƣờng có hành động

này mỗi khi bị bạn bè trêu chọc, bắt nạt, khi bị đánh đòn và cả khi phải xa những

ngƣời thân của mình. Nhã ngậm ngùi khóc bên mâm cơm nguội lạnh khi nồi canh nó

mất nửa ngày để nấu không ai ăn một miếng. Bố nó bỏ đi nhậu, mẹ buồn chán bỏ ăn.

Bé Thi khóc thé lên khi thấy ba đánh mẹ. Tì Ti khóc thút thít vì nhớ mẹ. Nhỏ Mai mếu

máo mỗi lần bị thằng cua dọa nạt. Thằng Quý vừa chạy vừa khóc vì nhớ nội. Út Tiền

gào khóc khi phải xa mẹ.

Hƣng (Siêu nhân cua) là một cậu bé tinh nghịch, dí dỏm. Để làm nổi bật tính

cách này, nhà văn nhiều lần miêu tả hành động méc của Hƣng. Cậu học trò lớp Một

này luôn tìm đến cô Thanh để méc đủ chuyện. Không chỉ méc chuyện ba mẹ, hàng

xóm ở nhà, chuyện bạn bè ở lớp nhƣ thế nào nó cũng méc. Chính nhân vật cũng tự

khẳng định “Nói chung là tôi méc hết” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73). Là một đứa trẻ

tinh nghịch, Hƣng không khi nào chịu ngồi yên một chỗ “Để cho đỡ nhàm, tôi bước

lên bàn Nam, kê mặt sát mặt nó vừa nói “trán dồ” vừa nhe răng ta cười rất là xạo sự”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12). Không chỉ chạy, nhảy, vọt, có lúc Hƣng còn “bay” từ

chỗ này đến chỗ khác để “tám chuyện”: “Tôi bay chéo một phát tới ngay trước mặt

nhỏ Mai. Lần này tôi bắt đúng cái chỗ sai quấy của nó rồi” (Võ Diệu Thanh, 2016,

tr.46). Hàng loạt các động từ (méc, nói, cười, chạy, nhảy, vọt, bay) đƣợc nhà văn sử

dụng để miêu tả sự tinh nghịch của Hƣng. Qua đó, ta thấy đƣợc tác giả đã rất dụng

công trong việc khắc họa tính cách nhân vật thông qua việc miêu tả hành động.

Mai (Chúng mình bay đầy trời) là một cô bé ham học hỏi. Để làm nổi bật tính

cách này của Mai, tác giả đã miêu tả hành động hỏi của nhân vật. Trong những cuộc

trò chuyện với cô giáo Thanh và bạn bè trong lớp, Mai thƣờng hay hỏi và hỏi dồn dập

“-Trồng su su trên núi là làm sao? Núi thế nào vậy? Có giống cái nóc nhà không? Nó

giống cái nón lá không?” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11). Với việc dùng bốn câu hỏi

liên tiếp, tác giả đã giúp cho ngƣời đọc thấy rõ đƣợc sự ngây thơ, ham học hỏi của

Mai.

Tì Ti và Nhóc trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời đều là những đứa trẻ vô

tƣ, thân thiện, hồn nhiên, tinh nghịch. Để làm nổi bật cá tính của mỗi nhân vật, nhà

92

văn đã miêu tả những hành động đối lập nhau của chúng. Hai đứa trẻ đều phải sống xa

mẹ. Mỗi năm chỉ đƣợc gần mẹ mấy ngày Tết. Những ngày tháng mẹ đi làm ở sài Gòn,

Tì Ti và Nhóc nhớ mẹ da diết. Để nguôi đi nỗi nhớ mẹ, Tì Ti chọn cách nói chuyện

với đôi dép, với cây cối còn thằng Nhóc lại chọn cách tránh nhắc đến mẹ vì càng nhắc

đến mẹ nó càng nhớ mẹ hơn. Khi biết má sắp về, cả hai đứa cùng chạy ra bãi cỏ gần

trƣờng để chờ mẹ. Trong lúc Tì Ti “ngồi chồm hổm nhìn về hướng những nhánh xoài

de ra đường” thì thằng Nhóc lại “nhóng cả người ra lề đường, nhìn về phía xa hơn

mấy nhánh xoài de ra đường” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6). Hành động “ngồi chồm

hổm”, “nhóng” ngƣời ra lề đƣờng đã thể hiện rõ sự nôn nóng, háo hức chờ mẹ về của

Tì Ti và Nhóc. Thông qua những hành động đối nghịch nhƣ vậy, ngƣời đọc nhận ra

đƣợc cá tính của mỗi nhân vật.

Khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn bên cạnh việc nhắc đến những hành

động thƣờng làm của trẻ em nhƣ: khóc, cƣời, méc, hỏi, chọc ghẹo, chạy nhảy…, tác

giả còn chú ý đặc tả những hành động rất riêng của từng nhân vật. Chính điều này đã

tạo cho nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh vừa mang

những nét chung của trẻ em, vừa có nét cá tính riêng. Qua cách nhà văn miêu tả hành

động nhân vật, ta thấy đƣợc khả năng quan sát tinh tế, tỉ mỉ của tác giả.

3.1.4. Cách miêu tả tâm lí nhân vật

Xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em trong những truyện viết cho thiếu nhi, Võ

Diệu Thanh đặc biệt đi sâu miêu tả diễn biến tâm lí của những đứa trẻ có số phận bất

hạnh, những đứa trẻ nhân hậu giàu lòng thƣơng ngƣời. Những diễn biến tâm lí của

nhân vật trẻ em nhƣ buồn, vui, lo, sợ, nhớ, mong, giận, ghét … đƣợc nhà văn miêu tả tỉ

mỉ. Với lối trần thuật nửa trực tiếp, nội tâm của nhân vật đƣợc thể hiện một cách rõ

nét.

Diễn biến tâm lí của Dẫu (Lần đầu thấy trăng) từ khi chuẩn bị đi học đến khi

nhập học đƣợc nhà văn miêu tả đậm nét. Dẫu nôn nao chờ đợi đến giờ đi học đến mức

nằm mơ cũng thấy mình đang đi học “Tới khi mệt mỏi ngủ thiếp tôi lại chiêm bao thấy

mình đã tới đó” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.17). Sợ bị ba phát hiện, cô bé len lén đến

trƣờng rồi “lủi thủi trở về”. Tâm trạng của Dẫu khi lần thứ hai đến trƣờng đƣợc nhà

văn miêu tả rất tinh tế “Lần này không nôn nao như bữa trước” (Võ Diệu Thanh,

2014, tr.17). Nếu hôm đầu tiên đến trƣờng Dẫu dậy rất sớm thì lần thứ hai nhân vật lại

“chần chừ nên ra trễ”. Nghe tiếng nói chuyện của mọi ngƣời từ trong lớp học vọng ra,

93

cô bé tự ti nghĩ rằng mình không thể đƣợc nhƣ mọi ngƣời “Tôi có cảm giác tôi đi mãi

cũng không tới được nơi đó” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.22). Diễn biến tâm lí phức tạp

đó của Dẫu giúp ngƣời đọc hiểu hơn về hoàn cảnh nghèo khó đáng thƣơng và tính

cách mạnh mẽ, bạo dạn của nhân vật này.

Nhã trong truyện ngắn Bí mật theo cô là một ngƣời sống nội tâm. Vì thế trong

số các nhân vật trẻ em, cô bé là nhân vật đƣợc nhà văn tập trung khắc họa diễn biến

tâm lí nhiều nhất. Những thay đổi về tâm trạng của nhân vật đƣợc nhà văn miêu tả tinh

tế, tỉ mỉ. Đó là nỗi lo lắng bí mật (tè dầm) của mình bị mọi ngƣời phát hiện. Đó là sự

lúng túng khi cô giáo hỏi về bữa cơm trong gia đình. Đó là nỗi mừng vui khi nghe ba

nói chuyện với nó với “giọng nhẹ xuống”. Đó là sự háo hức khi cùng mẹ đi chợ mua

nguyên liệu chuẩn bị nấu món canh khổ qua dồn chả mà ba thích. Đó là sự tủi thân khi

nhận ra sự vô tâm của ba. Đặc biệt là hụt hẫng, trống rỗng trong tâm hồn Nhã khi

chứng kiến cảnh ba má gây lộn, đánh đập, mắng chửi nhau “Trong miệng nó cái xác

của miếng khổ qua đã không còn đắng nữa, lưỡi mất hết cảm giác. Từng bước chân

cũng không định hướng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.46). Chỉ với hai câu văn ngắn gọn,

tác giả đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc sự tổn thƣơng tâm lí nặng nề của một đứa trẻ

là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình.

Ngàn (Khi hai vua về một nhà) cũng là một nhân vật có đời sống nội tâm phong

phú với diễn biến tâm lí phức tạp. So với tất cả những nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, Ngàn là đứa trẻ chững chạc hơn cả. Là một đứa

trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ nhƣng khi đọc tác phẩm ngƣời đọc không hề cảm thấy Ngàn

bất hạnh, không hề cảm thấy thƣơng xót cho Ngàn. Bởi Ngàn luôn biết cách đối mặt

với khó khăn, đối mặt với nghịch cảnh. Thay vì khóc lóc, thay vì phản ứng lại bằng

cách lì lợm, phá phách, Ngàn lại tỏ ra rất ngoan ngoãn, lễ phép, tốt bụng. Khi biết

thằng Hà – đứa bạn học cùng lớp học dốt, hay quậy phá, trốn học đi chơi là con của cô

Mai – ngƣời mà nó rất thƣơng, ngƣời mà nó ao ƣớc là mẹ của mình, Ngàn nặng trĩu

suy tƣ “Ngàn ngồi nhìn cô Mai. Nó không nói được gì. Nó nhớ là nó đã hả hê khi kể

cho cô nghe cảnh thằng Hà quậy, cảnh nó làm cho thằng Hà phải dở khóc dở cười.

Chắc cô Mai buồn lắm” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16). Qua việc miêu tả sự trầm tƣ của

Ngàn, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tình yêu thƣơng chân thành của nó đối với cô Mai.

Là một cô giáo dạy Mỹ thuật ở cấp tiểu học, luôn gần gũi với trẻ, vì vậy Võ

Diệu Thanh rất hiểu tâm lí trẻ em. Mỗi đứa trẻ có đời sống tâm lí riêng, đặc biệt tâm lí

94

lứa tuổi học sinh tiểu học lại liên tục thay đổi. Những buồn, vui, lo, sợ, nhớ thƣơng,

giận dỗi của trẻ thơ đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ. Không yêu trẻ, không quan sát tinh tế

thì nhà văn không thể viết về trẻ em chân thật và gần gũi đến vậy.

3.2. Xây dựng nhân vật trẻ em qua ngôn ngữ nghệ thuật

Đặc trƣng của văn học thiếu nhi là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ, đậm

chất nhạc. Trong những truyện viết cho thiếu nhi, chất tự sự và chất trữ tình có sự kết

hợp hài hòa. Hƣớng đến đối tƣợng độc giả nhỏ tuổi, các nhà văn thƣờng sử dụng ngôn

ngữ mộc mạc, giản dị, trong sáng “Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học thiếu nhi thường

giản dị (chứ không đơn giản), trong sáng, gần gũi, dễ hiểu, chính xác, giàu sức gợi tả,

biểu cảm, vừa mang tính nghệ thuật mà cũng rất đỗi đời thường” (Bùi Thanh Truyền,

2019, tr.18).

Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi hƣớng đến việc chỉ ra những nét độc đáo về ngôn ngữ tả, ngôn ngữ

kể, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại.

3.2.1. Ngôn ngữ tả

Ngôn ngữ tả trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh rất giàu hình

ảnh, đậm chất họa. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua những đoạn miêu tả thiên nhiên và

con ngƣời. Các tính từ, từ láy, kết hợp với biện pháp so sánh đƣợc nhà văn sử dụng

hiệu quả để làm nổi bật ngoại hình, tâm trạng, tính cách, số phận của nhân vật.

Trƣớc hết, chất họa trong truyện của Võ Diệu Thanh đƣợc thể hiện rõ qua cách

miêu tả ngoại hình nhân vật trẻ em. Bé Châu (Thả diều) xinh xắn hiện lên rõ nét qua

câu văn miêu tả làn da, mái tóc:“Nó có hai gò má mịn trơn rờ mát lạnh, mái tóc thì lơ

thơ mấy cọng mỏng như cô tiên” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25). Các tính từ “mịn

trơn”, “mát lạnh”, kết hợp với từ láy “lơ thơ” và hình ảnh so sánh gần gũi với các bạn

nhỏ “cô tiên” đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về nét xinh xắn, dễ thƣơng

của bé Châu. Hƣng tinh nghịch, miệng chành bành nói cƣời suốt ngày đƣợc thể hiện

qua hình ảnh so sánh gần gũi: “Tôi sổ sữa mặt bành như trái bưởi” (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.17). Thủ pháp so sánh này cũng đƣợc nhà văn sử dụng để miêu tả ngoại hình

của nhân vật Dƣa Leo “Một thằng nhỏ ốm như một loại dây leo” (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.18). Sử dụng hình ảnh so sánh gần gũi với trẻ em (cây dƣa leo), tác giả đã

giúp cho ngƣời đọc dễ dàng hình dung về vẻ ngoài ốm nhom của nhân vật. Sự yếu ớt

về thể trạng của Dƣa Leo cũng ảnh hƣởng đến sự phát triển của não bộ. Là một học

95

sinh lớp Tám, Dƣa Leo vẫn còn ngu ngơ nhƣ học sinh tiểu học. Vì vậy, nó dễ dàng bị

lạc đến xứ sở Bồ Câu mà không tìm đƣờng về nhà mình ở xứ sở Bìm Bìm đƣợc.

Kế đến, chất họa đƣợc thể hiện qua việc miêu tả cảm xúc, tâm trạng của nhân

vật trẻ em. Sự ủ rũ của thằng Hào khi bị thầy hiệu trƣởng xử phạt đƣợc thể hiện qua

câu văn giàu sức gợi “Thằng Hào lúc này ngồi buồn hiu như con cua rụng hết càng”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73). Sự tức giận của Nam khi bị Hƣng trêu là trán dồ đƣợc

thể hiện rõ qua hình ảnh so sánh “Hai mắt Nam nhìn tôi như hai cái đèn xe hơi” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.6). Sự vui vẻ, thăng hoa của Mai khi vẽ tranh đƣợc so sánh với

hành động múa, hát của ngƣời nghệ sĩ: “Nó vẽ như là múa, rồi nó tô màu cũng như là

đang hát” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.35). Mai bị cua kẹp trong lúc ngủ khi còn là một

bé gái nhỏ xíu khiến nó luôn ám ảnh. Nỗ đau đớn đó trong cảm nhận của Hƣng đƣợc

so sánh thật gần gũi nhƣ những gì Hƣng đã trải qua: “Đau như là bị ong chích”, “Đau

như là bị ba quất vào mông” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20).

Chất họa không chỉ đƣợc thể hiện qua việc miêu tả nhân vật mà còn đƣợc thể

hiện rất rõ qua việc miêu tả không gian. Để làm nổi bật sự nghèo khó của gia đình Dẫu

nhà văn miêu tả con đƣờng dẫn vào nhà. Khi con đƣờng trƣớc các nhà xung quanh đã

đổ đƣờng nhựa hoặc lót đá thì lối đi dẫn vào nhà Dẫu vẫn là con đƣờng đất “cây cối tự

do mọc”, tán cây phủ kín cả lối đi. Kênh Dƣơng Đôi trong cách nhìn của Dẫu thật gợi

hình “Nó cong như vành cung ở khúc nhà tôi” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.13). Biện

pháp so sánh giúp ngƣời đọc hình dung rõ về con đƣờng dẫn vào nhà Dẫu rất ngoằn

ngoèo khó đi và nguy hiểm khi nằm ngay cạnh con kênh uốn lƣợn. Nhà của Mai đƣợc

tác giả miêu tả qua hai câu văn ngắn gọn “Ngôi nhà nó nhỏ xíu nằm cạnh một con

mương. Đường đi nhỏ xíu” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.47). Câu văn ngắn, kết hợp với

điệp ngữ “nhỏ xíu” có tác dụng nhấn mạnh không gian sống chật hẹp của Mai. Miêu tả

ngôi nhà, con đƣờng bằng những hình ảnh so sánh giàu sức gợi, tác giả đã tạo ra

không gian bối cảnh để nhân vật xuất hiện. Nhờ đó, tính cách, số phận của nhân vật

đƣợc bộc lộ rõ nét hơn.

Bộ ba truyện tranh: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng và Khu

vườn trong mơ là những tác phẩm giàu chất họa. Đọc các truyện tranh này, ngƣời đọc

nhƣ lạc vào một thế giới tràn ngập sắc màu. Khu vƣờn của ông nội Bin đƣợc vẽ lên

với những hình ảnh tƣơi tắn. Đó là vƣờn bí với “hàng ngàn cây bí xanh mướt”, với

những bông “hoa bí vàng tươi”, hoa đực, hoa cái chen nhau tràn ngập khắp vƣờn. Đó

96

là khóm quỳnh rực sáng và ngào ngạt hƣơng thơm“Mỗi lần hoa quỳnh nở, cả khu

vườn của ông sáng rực giống như một bức tranh được vẽ bằng hoa” (Võ Diệu Thanh,

2021a, tr.35). Đó còn là khu vƣờn trong mơ của các bạn nhỏ với ngập tràn hoa lá, ngập

tràn âm thanh vui nhộn của Ve Phệ, Bƣớm Điệu, Kiến Bành. Quá trình sinh ra và lớn

lên của quả bí ngô cũng đƣợc nhà văn miêu tả tỉ mỉ “Những trái bí dần lớn lên xanh

mướt, căng tròn rồi ngả sang màu vàng” (Võ Diệu Thanh, 2021b, tr.33).

Có thể thấy, trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh những đoạn

miêu tả không nhiều. Tuy nhiên, những câu văn giàu sức gợi đƣợc nhà văn chắt lọc đã

tạo nên sự cô đọng, hàm súc cho các tác phẩm. Các tính từ, từ láy, các biện pháp tu từ

nhƣ điệp, so sánh đƣợc nhà văn sử dụng hiệu quả trong việc khắc họa ngoại hình, tâm

trạng, tính cách của nhân vật.

3.2.2. Ngôn ngữ kể

Ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự có khi là tác giả ẩn mình, có khi là nhân

vật. Do đó, khi tìm hiểu ngôn ngữ kể trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi xét cả hai khía cạnh: ngôn ngữ kể của nhân vật và ngôn ngữ kể của

tác giả. Khảo sát tất cả các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh (10 truyện),

chúng tôi thấy, ngƣời kể chuyện là nhân vật trẻ em chiếm tỉ lệ 5/10 và ngƣời kể

chuyện là tác giả chiếm tỉ lệ 5/10. Tỉ lệ này tƣơng đối đồng đều. Những truyện có

nhân vật trẻ em tham gia kể chuyện gồm: Lần đầu thấy trăng, Siêu nhân cua, Chúng

mình bay đầy trời, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm và Quà tặng của ngày mai. Những truyện

có ngƣời kể chuyện là tác giả gồm: truyện dài Tiền của thần cây, tập truyện Những cậu

bé mặt trời và ba truyện tranh: Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng, Khu

vườn trong mơ.

Hƣớng đến độc giả nhỏ tuổi, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có sự

mộc mạc, giản dị trong ngôn ngữ kể chuyện. Trong hai truyện dài Siêu nhân cua và

Chúng mình bay đầy trời, nhân vật tôi – Hƣng Mặt Bành đóng vai trò là ngƣời kể

chuyện. Hƣng là một cậu bé tinh nghịch, dí dỏm. Vì vậy, lời kể của Hƣng cũng rất hồn

nhiên, dí dỏm, Điều này đƣợc thể hiện ngay trong phần mở đầu tác phẩm Siêu nhân

cua: “Chẳng qua là trong một buổi ra chơi nọ có một ông già mặc bộ đồ bà ba đen

bước vô lớp tôi. Lúc đó mấy bạn ra chơi hết rồi, cô Thanh đang ôm mớ vở xuống văn

phòng. Ông già đó bước vô nhìn dáo dác” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.5). Cách mở đầu

“trong một buổi ra chơi nọ có một” mang âm hƣởng dân gian giống với cách mở đầu

97

của truyện cổ tích. Từ ngữ mộc mạc, dung dị trong lời kể của cậu bé lớp Một đã giúp

cho câu chuyện trở nên lôi cuốn, hấp dẫn gọi trí tò mò của ngƣời đọc. Chất giản dị,

mộc mạc trong lời kể chuyện còn đƣợc thể hiện qua việc tác giả sử dụng các câu ca

dao, thành ngữ gần gũi với trẻ em. Trong Quà tặng của ngày mai, tác giả đã dành hẳn

một phần để nói về giá trị của những câu ca dao, thành ngữ - “Những câu ca dao hiện

đầy quanh tôi mỗi ngày”. Những thành ngữ quen thuộc đƣợc Khánh Hƣng nhắc đến

đó là: thùng rỗng kêu to, trứng khôn hơn vịt. Điều đặc biệt là tác giả không dùng

những câu thành ngữ này chỉ để dẫn dắt câu chuyện hay chêm xen vào lời nhân vật mà

dùng nó để lí giải cắt nghĩa những bài học sâu sắc mà một đứa trẻ tám tuổi nhƣ Khánh

Hƣng rút ra đƣợc từ phƣơng pháp giáo dục độc đáo của ông Sáu. Những thành ngữ, ca

dao mộc mạc, quen thuộc này giúp cho những triết lí nhân văn mà tác giả gửi gắm đến

với độc giả một cách tự nhiên, không gƣợng ép, khiên cƣỡng.

Ngôn ngữ kể chuyện đậm chất họa với việc sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, ẩn

dụ, nhiều tính từ, nhiều từ láy. Trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, ngƣời đọc

bắt gặp rất nhiều hình ảnh ẩn dụ nhƣ: “Hai mặt trời rực lửa giỡn nhau. Tưởng như vũ

trụ sẽ lụi tàn trong tiếng cháy nổ. Nhưng tiếng cười của hai mặt trời dội vào nhau

nghe như tiếng một cơn mưa ào ạt nước. Nước chảy từ mặt trời. Những dòng nước

trong lành mát lạnh” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 8). Chỉ với đoạn văn ngắn gọn (5

câu), với việc sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật (ẩn dụ “hai mặt trời” để chỉ Tì Ti và

Nhóc), so sánh (“tiếng cười” với “tiếng mưa ào ạt nước”), từ láy (“ào ạt”), tính từ

(“trong lành”, “mát lạnh”), tác giả đã giúp ngƣời đọc hình dung một cách rõ nét về sự

vô tƣ, hồn nhiên, tinh nghịch đáng yêu của Tì Ti và Nhóc. Lời kể giàu hình ảnh này

cũng xuất hiện trong nhiều truyện viết cho thiếu nhi khác của Võ Diệu Thanh. Cách so

sánh ví von độc đáo đƣợc tác giả nhiều lần sử dụng trong Siêu nhân cua. Khảo sát 90

trang của tác phẩm, chúng tôi thấy trong lời dẫn chuyện của Hƣng, biện pháp so sánh

đƣợc sử dụng 33 lần (xem phụ lục 3 bảng hệ thống biện pháp tu từ so sánh trong

truyện Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh). Điều này đã góp phần tạo cho truyện giàu

giá trị gợi hình, biểu cảm. Đặc biệt là, những hình ảnh so sánh trong tác phẩm giản dị,

gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của trẻ em. Đọc truyện ngắn Cáp treo cho những mặt

trời, ngƣời đọc sẽ cảm thấy thích thú với ngôn ngữ kể chuyện lôi cuốn, giàu hình

tƣợng của tác giả. Kết thúc tác phẩm, nhân vật tôi kể: “Nhân không còn mặt trời thứ

hai nhưng nó còn mặt trời bà nội, mặt trời bà Tư Quán Võng và cả những mặt trời bạn

98

bè trong lớp 3c. Mặt trời trôi trên cao chỗ dòng sông lại sáng rực y như hồi má còn

sống” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.82). Việc tác giả sử dụng hình ảnh ẩn dụ (“mặt trời

thứ hai”), kết hợp với điệp từ (“mặt trời”), liệt kê (“bà nội”, “bà Tư Quán Võng”,

“bạn bè trong lớp 3c”), tính từ (“sáng rực”) đã giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc niềm

vui, niềm tin tƣởng, lạc quan của Nhân và mọi ngƣời. Mỗi ngƣời trong chúng ta đều có

những ngƣời đặc biệt quan trọng với mình, và ta cũng là ngƣời rất quan trọng đối với

những ngƣời khác. Mỗi ngƣời đều có những mặt trời và đồng thời cũng là mặt trời của

mọi ngƣời để đem đến ánh sáng của niềm tin, tình yêu thƣơng. Hãy thắp lên ngọn lửa

yêu thƣơng trong mỗi ngƣời để cuộc sống không còn bóng tối, không còn giá lạnh,

không còn khổ đau. Triết lí nhân văn sâu sắc đƣợc thể hiện qua cách diễn đạt giàu hình

ảnh đã tạo nên ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả.

Tìm hiểu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ kể chuyện không chỉ mộc mạc mà còn giàu chất

nhạc. Câu chuyện về hành trình khám phá núi Cấm, khám phá hang cọp đƣợc kể một

cách dí dỏm, lôi cuốn giúp ngƣời đọc nhƣ đƣợc phiêu lƣu cùng con chữ:

Và tôi đi tìm đường lên trời. Cáp treo kéo bọn tôi lên cao, lên cao. Tôi thấy

mình bay thật sự. Tôi không có đôi cánh tôi vẫn có thể bay thật sự. Không có đôi cánh

tôi vẫn có thể bay cao hơn những nóc nhà, những ngọn cây. Tôi thấy con đường phía

dưới nhỏ dần nhỏ dần. Tôi hình dung mình sẽ bay mãi như vầy cho tới khi đụng trời.

Cáp ngừng. Má biểu tôi xuống thì tôi vẫn thấy mình đang đứng dưới đất còn trời vẫn ở

tuốt trên cao. Rốt cuộc đường nào lên trời? (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.75).

Chất nhạc trong lời kể chuyện đƣợc tạo nên bởi âm điệu du dƣơng, trầm bổng.

Chỉ với một đoạn văn ngắn gọn (10 câu), tác giả sử dụng 10 biện pháp nghệ thuật nhƣ:

sử dụng quan hệ từ (“và”), kết hợp với điệp từ (“tôi” (10 lần)), điệp ngữ (“lên cao”,

“bay thật sự”, “tôi thấy”, “đôi cánh”, “nhỏ dần”), liệt kê (“những nóc nhà”, “những

ngọn cây”), câu hỏi tu từ (Rốt cuộc đường nào lên trời?), kết hợp các câu dài ngắn

khác nhau (câu dài 20 từ, câu ngắn chỉ 2 từ), sử dụng nhiều động từ (đi, thấy, hình

dung, bay, biểu ), nhiều tính từ (cao, nhỏ), câu văn toàn thanh bằng (Và tôi đi tìm

đường lên trời), cùng với việc sử dụng linh hoạt các thanh bằng – trắc. Những biện

pháp nghệ thuật này đã góp phần tạo nên nhịp điệu du dƣơng cho lời kể chuyện. Qua

đó, ta thấy đƣợc vốn từ phong phú, cách sử dụng từ ngữ linh hoạt của một cậu bé lớp

99

Một. Điều này có tác dụng làm nổi bật sự hoạt ngôn – vốn là một ƣu điểm nổi trội của

Hƣng so với các bạn cùng lứa tuổi.

Ngôn ngữ kể mang đậm dấu ấn cá nhân của ngƣời kể chuyện. Điều này đƣợc

thể hiện qua những từ ngữ mà ngƣời kể chuyện thƣờng xuyên sử dụng. Trong lời kể

chuyện của nhân vật Hƣng (Siêu nhân cua), chúng tôi nhận thấy nhân vật thƣờng

xuyên sử dụng các liên từ có tác dụng liên kết nhƣ: nhưng, nhưng rồi, nhưng mà, thì,

vì, mà, rõ ràng, vậy là, ngay cả, đôi khi, đương nhiên là, thật ra, … Trong đó, những

từ ngữ mà nhân vật này sử dụng nhiều hơn cả đó là: nhưng, nhưng mà. Khảo sát Siêu

nhân cua, chúng tôi thấy, trong lời kể chuyện của Hƣng, từ “nhưng” xuất hiện 31 lần,

từ “nhưng mà” xuất hiện 16 lần. Chỉ riêng trang 13 của tác phẩm, từ “nhưng” xuất

hiện 4 lần, từ “nhưng mà” xuất hiện 1 lần. Việc sử dụng các liên từ trong lời kể chuyện

đã tạo nên sự liên kết giữa các câu trong văn bản giúp cho câu chuyện có sự liền mạch.

Nhờ đó, truyện càng có sức lôi cuốn hơn với độc giả.

Nếu cu Mùi trong truyện Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh

thƣờng nói “buồn ơi là sầu” thì Hƣng trong Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh thƣờng

nói “bạn nghĩ coi”, “bạn biết không”. Trong lời kể chuyện của nhân vật này, ta thấy

nhiều từ ngữ thƣờng xuyên xuất hiện đó là: “bạn nghĩ coi” (6 lần), “ bạn có” (2 lần),

“bạn biết không” (3 lần), “bạn thấy” (3 lần), “bạn đừng” (2 lần), “bạn hình dung” (2

lần), “nếu bạn” (2 lần) (xem phụ lục 4 bảng thống kê phép liên kết trong lời ngƣời kể

chuyện trong truyện Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh). Nhƣ vậy có thể thấy ngƣời kể

chuyện đã có 20 lần giao tiếp với độc giả bằng cách vừa kể vừa bộc bạch cho độc giả

nghe; vừa hỏi, vừa nhắn nhủ tới độc giả. Cách làm này giúp ngƣời đọc có cảm giác

nhƣ nhân vật đang nói chuyện với chính mình. Những câu hỏi, những lời nhắn nhủ của

ngƣời kể chuyện giúp rút ngắn khoảng cách giữa ngƣời kể chuyện với độc giả. Nhờ

vậy, ngƣời đọc nhƣ đƣợc tham gia vào câu chuyện nhân vật đang kể.

Ngôn ngữ kể đậm chất trữ tình. Khảo sát lời ngƣời kể chuyện trong truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có những chƣơng truyện hoàn

toàn là lời ngƣời kể chuyện. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Siêu nhân cua và

Chúng mình bay đầy trời. Trong Siêu nhân cua, (Chƣơng 4. Cô Thanh khủng khiếp

như ma). Trong Chúng mình bay đầy trời, có chƣơng chỉ toàn là lời của ngƣời kể

chuyện (Chƣơng 3. Trên trời có gì). Điều này có tác dụng tạo nên chất trữ tình cho lời

100

kể. Lời kể của nhân vật bộc lộ cảm xúc, tâm trạng về những sự việc đã diễn ra, dự

cảm, trăn trở về những điều sẽ xảy ra.

Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh dù ngƣời kể chuyện là tác giả hay

nhân vật trẻ em thì điều dễ nhận thấy là ngôn ngữ đều rất mộc mạc, giàu hình ảnh,

giàu nhạc tính và đậm chất trữ tình. Nếu ngôn ngữ kể của nhân vật – nhân vật trẻ em

trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh mộc mạc, trong sáng thì ngôn ngữ

kể của tác giả trau chuốt, gợi hình hơn. Việc đa dạng hóa ngƣời kể chuyện, đa dạng

hóa điểm nhìn trần thuật đã tạo nên tính chân thật, khách quan cho lời kể.

3.2.3. Ngôn ngữ đối thoại

Tính cách của nhân vật phần lớn đƣợc bộc lộ qua ngôn ngữ đối thoại. Những

đứa trẻ ngoan ngoãn thƣờng có cách xƣng hô lễ phép và ngƣợc lại. Trong từng hoàn

cảnh giao tiếp khác nhau, nhân vật thƣờng sẽ có cách xƣng hô, cách sử dụng từ ngữ

khác nhau. Vì thế, khi tìm hiểu ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trẻ em trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi luôn chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp

của nhân vật: giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa và giao tiếp với ngƣời lớn. Khi giao

tiếp với bạn bè cùng trang lứa, nhân vật trẻ em thƣờng xƣng hô thân mật, gần gũi, sử

dụng nhiều kiểu câu tỉnh lƣợc, câu đặc biệt. Còn khi giao tiếp với ngƣời lớn tuổi, các

em thƣờng xƣng hô lễ phép và thƣờng sử dụng các câu đơn chuẩn mực. Cùng trong

một hoàn cảnh giao tiếp giống nhau, mỗi nhân vật trẻ em lại có cách xƣng hô, cách sử

dụng từ ngữ khác nhau. Chính điều này đã tạo nên cá tính riêng cho từng nhân vật.

Trƣớc hết, ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh mang tính khẩu ngữ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong các đại từ xƣng hô mà

các nhân vật sử dụng khi giao tiếp với bạn bè, bố mẹ, thầy cô. Những đại từ xƣng hô

thƣờng đƣợc các nhân vật trẻ em sử dụng khi giao tiếp với bạn bè đó là: mày – tao

(Thuận và các bạn trong Bí mật theo cô, Tì Ti và Nhóc trong Những cậu bé mặt trời,

Ngàn và Hà trong Khi hai vua về một nhà, Dẫu và Đực trong trong Lần đầu thấy

trăng, Bòn Bon và Vĩ trong Tiền của thần cây,), mình – bạn (Hƣng, Nam, Mai và Quý

trong Chúng mình bay đầy trời), tui – bạn (Nam – Mai trong Siêu nhân cua). Khi giao

tiếp với những ngƣời lớn tuổi, những nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh thƣờng xƣng hô lễ phép. Điều này đƣợc thể hiện qua các đại từ

xƣng hô: con – cô, con – chú, em – anh hai, …

101

Ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh không

chỉ mang tính khẩu ngữ mà còn mang dấu ấn cá nhân của nhân vật. Mỗi đứa trẻ có tính

cách khác nhau. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của nhân vật, tác giả đã dụng công

miêu tả ngôn ngữ rất khác biệt của từng nhân vật.

Dẫu (Lần đầu thấy trăng) là một học trò cá biệt, học yếu, luôn bày trò nghịch

ngợm, đánh bạn, giật đồ của bạn. Trong mắt của ba mẹ, trong mắt của thầy cô, Dẫu là

một đứa trẻ hƣ hỏng. Điều đó đƣợc thể hiện ngay trong cách xƣng hô của Dẫu với bạn

bè và thầy cô. Lớp từ ngữ Dẫu thƣờng xuyên sử dụng là từ ngữ thông tục. Trong lời

đối thoại của Dẫu, ta thấy kiểu câu nhân vật này thƣờng hay sử dụng là câu tỉnh lƣợc,

ngắn, cộc lốc. “-Mày dám hông. Mày rớ tao một tay, tao đập bà nội mày nhìn không

ra” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.79). Ngay cả khi nói chuyện với thầy cô, Dẫu cũng trả

lời cộc lốc “- Thằng Tụ nào? - Cái thằng nói ông thầy cũng ỉa nữa” (Võ Diệu Thanh,

2014, tr.56). Việc Dẫu dùng từ thông tục (mày, tao, ỉa), trả lời một cách cộc lốc, thiếu

chủ ngữ, không dạ, thƣa đã cho thấy sự vô lễ, ngổ ngáo của nhân vật. Sở dĩ Dẫu có

cách nói chuyện nhƣ vậy là do bị nhiễm thói cộc cằn, thô lỗ từ ngƣời cha thƣờng

xuyên nhậu nhẹt. Hơn nữa, có thể nhận thấy, cách xƣng hô thiếu chuẩn mực của thầy

Mãi cũng đã gián tiếp khiến Dẫu có cơ hội thể hiện sự thô tục, vô lễ. Bởi khi nói

chuyện với cô Hoàng, Dẫu lại xƣng hô rất lễ phép: “ – Thầy độ lúc này khỏe không

em? – Dạ khỏe lắm cô à” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.256). Qua ngôn ngữ đối thoại của

Dẫu, nhà văn gián tiếp gửi gắm thông điệp về cách ngƣời lớn giao tiếp với trẻ em.

Muốn trẻ em lễ phép, ngƣời lớn cần xƣng hô đúng mực, nhẹ nhàng và thân mật.

Mai (Siêu nhân cua và Chúng mình bay đầy trời) là một cô bé ngây thơ, ngoan

hiền, nhút nhát nhƣng cũng rất sáng tạo, ham học hỏi. Để làm nổi bật điều đó, tác giả

đã rất dụng công trong việc xây dựng ngôn ngữ rất riêng của Mai. Trong lời thoại dài

bốn câu thì có tới ba câu hỏi: “- Trồng su su trên núi là làm sao? Núi thế nào vậy? Có

giống cái nóc nhà không? Nó giống cái nón lá không? Tại tôi thường thấy mấy đứa

trong lớp tôi cũng vẽ núi giống cái nón” (Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.11). Trong toàn bộ

tác phẩm, những lần đối thoại của Mai với cô giáo Thanh và các bạn, lời thoại hầu hết

là câu hỏi. “Mai lại hỏi: - Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? - Tại chỗ đó lên trời

được” Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.12). Các câu thoại phần lớn là câu đơn với từ ngữ

trong sáng, mộc mạc, dễ hiểu.

102

Hƣng (Siêu nhân cua và Chúng mình bay đầy trời) là một cậu bé tinh nghịch, dí

dỏm, hoạt ngôn. Vì thế, trong tác phẩm nhà văn đã để cho nhân vật đóng vai trò là

ngƣời kể chuyện xƣng “tôi”. Thông qua lời kể của nhân vật, ngƣời đọc sẽ thấy đƣợc sự

nhạy bén trong cách xử lý tình huống của nhân vật. Trong các cuộc đối thoại với các

nhân vật khác, lời thoại của Hƣng cũng nhiều hơn với từ ngữ phong phú, sử dụng linh

hoạt các kiểu câu. Đặc biệt những câu nói của Hƣng thƣờng gây cƣời cho mọi ngƣời

“- Đường chạy lên trời à? Vậy mai mốt mình muốn lên trời chỉ việc vô núi Cấm, kêu

thằng Quý dắt mình lên trời hé. Mình còn có thể leo lên những đám mây để nó đưa

mình đi chơi. Như Tề Thiên vậy!” Võ Diệu Thanh, 2016b, tr.11).

Khác với Hƣng, những nhân vật trẻ em khác trong truyện viết cho thiếu nhi của

Võ Diệu Thanh nhƣ Quý, Nhân lại rất ít nói. Thằng Quý (Chúng mình bay đầy trời)

trầm tính, nội tâm giấu kín, vì thế trong cách xƣng hô, nó thƣờng nói ít, nói nhỏ,

những kiểu câu ngắn. “Ăn cơm đâu có gì khó đâu cô! – Quý nói lí nhí” Võ Diệu

Thanh, 2016b, tr.19). Cách nói của Quý cho thấy sự rụt rè của một cậu học sinh từ nơi

khác mới chuyển tới còn lạ lẫm với thầy cô, bạn bè. Nhân (Cáp treo cho những mặt

trời) là một đứa trẻ giàu tình cảm nhƣng nội tâm lại giấu kín. Vì rất ít nói nên những

hành động khác thƣờng của Nhân bị mọi ngƣời hiểu nhầm. Ai cũng nghĩ Nhân bị tự kỉ.

Chỉ khi cô giáo Thanh tìm đến nhà để hỏi han tâm sự, Quý mới chịu mở lời “- Cái này

là gì vậy em?. – Dạ. Em không biết. – Hình như em muốn làm cáp treo? Mà cáp treo

làm như vầy đúng hả cô?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77). Qua lời đối thoại giữa Nhân

với cô giáo, ngƣời đọc nhận thấy sự lễ phép, thân thiện của Nhân khi sử dụng từ xƣng

hô “em – cô”, từ tình thái “dạ”.

Bòn Bon (Tiền của thần cây) là một cậu bé rất giàu tình cảm, ngoan ngoãn, lễ

phép. Yêu quý chú chó cƣng của mình, Bòn Bon đặt tên nó là Ban Đêm và xƣng hô

thân mật:“- Tao biểu mày đừng có hí hí. Mày đúng là nói không nghe. May mà ba

không nghi ngờ” (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.16). Cách xƣng hô “tao – mày”, thể hiện

rõ tình cảm gắn bó thân thiết giữa Bòn Bòn và con chó cƣng. Với Bòn Bon, Ban Đêm

giống nhƣ một ngƣời bạn thân thiết, giống nhƣ anh em ruột thịt trong nhà. Hai đứa tỏ

ra rất hiểu ý nhau, phối hợp nhịp nhàng trong những lần trốn ba đi chơi.

Điều đặc biệt ở ngôn ngữ đối thoại trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh đó là tác giả sử dụng nhiều câu hỏi. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong các

103

truyện: Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng mình bay đầy trời, Tiền của

thần cây và Những cậu bé mặt trời.

3.2. Bảng thống kê câu hỏi trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh

Stt Tên tác phẩm Sổ lƣợng Số lƣợng câu Tỉ lệ câu hỏi trong

câu hỏi hỏi trong lời lời đối thoại của

trong tác đối thoại của nhân vật trẻ em

phẩm nhân vật trẻ với câu hỏi trong

em tác phẩm

1 120 57 47,5% Siêu nhân cua

2 127 95 74,8% Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm

3 154 121 78,57% Chúng mình bay đầy trời

4 105 83 69,52% Tiền của thần cây

5 125 67 53,6% Những cậu bé mặt trời

Đoạn đối thoại giữa các nhân vật Hƣng, Nam, Mai trong truyện dài Chúng mình bay

đầy trời thể hiện rõ điều đó:

“- Ở trong đó có gì?

- Chắc là ghê lắm?

- Phải nó có mấy con ma không?

- Không, trong đó không có gì, Hồi lần ba mình với mình chui xuống đó

rồi.

- Có thấy ông Bác Vật Lang không?”

(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77).

Trong đoạn đối thoại trên ta thấy, lời thoại của các nhân vật Hƣng, Nam, Mai phần

lớn là câu hỏi (4/5 câu). Việc nhà văn sử dụng hàng loạt các câu nghi vấn nhƣ vậy có

tác dụng nhấn mạnh sự tò mò, ham học hỏi, thích khám phá của trẻ em.

Trong Chúng mình bay đầy trời, có chƣơng chỉ toàn là lời thoại của các nhân

vật (Chƣơng 12. Người bay đầy trời). Điều này có tác dụng xóa nhòa ranh giới giữa

các nhân vật. Ngƣời đọc khó lòng phân biệt đƣợc lời thoại của từng nhân vật. Ở các

chƣơng khác, lời dẫn chuyện cũng rất ít, phần lớn là lời đối thoại của các nhân vật. Ở

chƣơng 2, lời dẫn chuyện chỉ xuất hiện 5 lần. Ở chƣơng 14, lời dẫn chuyện chỉ xuất

104

hiện 1 lần ở cuối chƣơng. Ở chƣơng 20, lời dẫn chuyện chỉ xuất hiện 2 lần (1 lần ở đầu

chƣơng và 1 lần ở giữa chƣơng). Với cách làm này, Võ Diệu Thanh đã làm cho truyện

viết cho thiếu nhi của mình rất gần với truyện tranh. Đây có thể xem là một trong

những nét đặc sắc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh.

Tùy theo ngữ cảnh, tùy vào đối tƣợng giao tiếp, những nhân vật trẻ em có cách

xƣng hô khác nhau. Khi giao tiếp với thầy cô giáo và ngƣời lớn, trong môi trƣờng lớp

học, các bạn nhỏ thƣờng xƣng hô lễ phép, với ngôn từ trong sáng, chuẩn mực. Khi

giao tiếp với bạn bè, ở trong và ngoài lớp học ngôn ngữ đối thoại của các bạn nhỏ lại

rất thân mật, suồng sã, ngắn gọn, đơn giản. Tìm hiểu ngôn ngữ đối thoại trong truyện

viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, ta hiểu rõ hơn về tính cách, số phận của từng

nhân vật trẻ em.

Các nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh là

những đứa trẻ ở miền sông nƣớc Nam Bộ. Vì thế, trong lời đối thoại giữa các nhân vật,

chúng tôi thấy rất nhiều phƣơng ngữ Nam bộ đƣợc tác giả sử dụng nhƣ: má, chèn, à,

nghen, anh hai, chọt ét, hổng phải mờ, hé. Với việc sử dụng rất nhiều phƣơng ngữ

Nam Bộ, Võ Diệu Thanh đã tạo nên màu sắc Nam Bộ đậm nét cho các tác phẩm của

mình. Điều này đã góp phần làm cho các truyện viết cho thiếu nhi đến gần hơn với độc

giả, nhất là độc giả ở Nam Bộ. Qua những truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh độc giả hiểu rõ hơn về những nét văn hóa đặc sắc của vùng sông nƣớc Nam Bộ.

3.2.4. Ngôn ngữ độc thoại

Tính cách, số phận của nhân vật trẻ em không chỉ đƣợc bộc lộ qua ngôn ngữ mà

còn đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, độc thoại

nội tâm là “lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện trực tiếp quá trình

tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy

trực tiếp của nó” (Lê Bá Hán nnk., 1992, tr.122).

Độc thoại là nói với chính mình hoặc nói với ai đó trong tƣởng tƣợng. Trong tác

phẩm văn học, có những lời độc thoại đƣợc thể hiện ra thành lời có gạch đầu dòng

nhƣng phần lớn là độc thoại nội tâm nói trong suy nghĩ, tƣởng tƣợng không thành lời.

Lời độc thoại nội tâm có khi tách riêng, có khi xen lẫn vào lời kể, lời đối thoại của

nhân vật. Lời độc thoại trong tác phẩm có lúc là lời tự vấn, có khi là lời giãi bày, có

lúc là lời khẳng định, thừa nhận. Qua lời độc thoại của nhân vật, ta thấy đƣợc cái nhìn

hiện thực mang tính dân chủ của nhà văn.

105

Nhiều truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có lời kể chuyện là lời kể

của nhân vật tôi – nhân vật trẻ em, nhân vật chính của tác phẩm. Nhân vật xƣng tôi tự

kể về mình, qua đó nhân vật tự bộc bạch suy nghĩ, tâm trạng của mình qua lời độc

thoại nội tâm. Điểm nhìn trần thuật bên trong qua lời kể của nhân vật tôi đã góp phần

tạo nên tính chân thật cho lời kể. Tìm hiểu ngôn ngữ độc thoại trong truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ có sự mộc mạc, dí dỏm và

đậm chất Nam Bộ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua lời độc thoại của Bòn Bon, Chùa,

Hƣng, Nhã. Lời độc thoại của Chùa (Quà tặng của ngày mai) đầy dí dỏm với những từ

ngữ mộc mạc, đậm chất Nam Bộ: “Chớ chuyện mình lơ đễnh đàn trật nhịp là bình

thường mà. Ai chê kệ họ chớ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68). Hƣng (Siêu nhân cua)

“Thông minh là gi? Sao mà cô Thanh lại lôi từ cái khó này qua cái khó kia vậy cà?

Cái nào tôi cũng không biết. Nhưng Nam lại biết. Nói nó thông minh tức là học hạng

nhất. Ừ phải a” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10). Qua lời độc thoại đó của Hƣng ta thấy

đƣợc suy nghĩ non nớt, đơn giản của cậu học sinh lớp Một. Lời độc thoại nội tâm của

Bòn Bon (Tiền của thần cây) đầy suy tƣ với hàng loạt các câu hỏi: “Ai đã phát hiện ra

hộp vàng? Ai lại có khả năng tàng hình trước mắt ông nội và trước mắt bầy ong vò vẽ

để rinh hết vàng? Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr. 55). Lời

độc thoại với ba câu hỏi liên tiếp nhƣ vậy có tác dụng gợi sự băn khoăn của Bòn Bon

đồng thời thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ em.

Khác với lời đối thoại (thƣờng là những câu ngắn, câu đơn, câu đặc biệt, câu

tỉnh lƣợc với những kiểu câu cảm thán, câu nghi vấn); lời độc thoại nội tâm của nhân

vật thƣờng là câu dài, câu đầy đủ thành phần và phần lớn là câu trần thuật. Điều này

đƣợc thể hiện rất rõ qua những lời độc thoại của Nhã (Bí mật theo cô). Nỗi niềm của

nhân vật đƣợc thể hiện qua những câu văn nhân vật kể trong bài tập làm văn. Trong

tác phẩm, nhân vật 3 lần dùng hình thức viết bài Văn (Kể về bữa cơm gia đình) để bộ

lộ niềm suy nghĩ, mong ƣớc của mình. Cả 3 lời độc thoại nội tâm đều đƣợc diễn đạt

bằng ngôn từ trong sáng, giản dị với kiểu câu trần thuật “Con không tin ba lại không

thèm những bữa ăn đầm ấm. Con không biết cách gì để cai cho ba đừng uống rượu.

Con chỉ mong tới khi con đủ khôn lớn vẫn còn có ba. Con sẽ là người bạn đáng tin

tưởng nhất chia sẻ giúp ba những muộn phiền. Lúc đó con lại bằm chả dồn khổ qua

cho bữa cơm đầm ấm của nhà mình” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52). Qua lời độc thoại

này, ta thấy đƣợc Nhã là một cô bé chăm chỉ, chịu học hỏi và đặc biệt là rất giàu tình

106

cảm. Niềm mong ƣớc giản dị của một cô bé tiểu học đƣợc diễn đạt bằng ngôn từ trong

sáng, lời văn nhẹ nhàng khiến ngƣời đọc cảm động.

Lần đầu thấy trăng là truyện có nhiều lời độc thoại nội tâm. Trong tác phẩm

những lời độc thoại nội tâm của Dẫu và Hậu xuất hiện xuyên suốt 38 chƣơng. Trong

đó lời độc thoại nội tâm của Hậu chiếm phần lớn (Mở đầu chƣơng 1, cuối chƣơng 2,

cuối chƣơng 8, toàn bộ chƣơng 12, cuối chƣơng 13, cuối trang 20, cuối chƣơng 24,

cuối trang 25, cuối chƣơng 32, đầu chƣơng 36). Lời độc thoại của các nhân vật thƣờng

là những đoạn văn rất dài. Lời độc thoại nội tâm của Hậu là lời bộc bạch của một đứa

trẻ nhút nhát, thể trạng yếu ớt bị đẩy lên lớp để trƣờng hoàn thành chƣơng trình phổ

cập tiểu học “Mình đẻ non mà. Mình hỏi má sao con khờ vậy má không để con lớn

chút hãy cho đi học. Má nói thầy cô tới từng nhà. Đứa nào sinh năm vậy nếu không đi

học, năm sau vô trễ người ta không nhận” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.20). Nỗi tủi thân

của một đứa trẻ khi không đƣợc thầy cô quan tâm đƣợc bộc lộ qua lời độc thoại nội

tâm của Hậu “Cô cũng như thầy Mãi, mỗi người một kiểu đẩy mình ra rìa lớp học”

(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.63). Qua lời độc thoại nội tâm của Dẫu và Hậu, ngƣời đọc

hiểu đƣợc nỗi niềm của những đứa trẻ là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo

dục, những tiêu cực trong giáo dục nhờ đó cũng hiện lên chân thực, khách quan hơn.

Cùng viết về đề tài nhân vật trẻ em, mỗi tác giả lại có cách sử dụng ngôn ngữ

rất khác nhau. Chính điều này đã tạo nên dấu ấn riêng cho mỗi nhà văn. Trong những

truyện viết cho thiếu nhi ở độ tuổi mới lớn, Nguyễn Nhật Ánh sử dụng rất nhiều tiếng

lóng, ngôn ngữ tuổi teen vào trong tác phẩm. Văn Thành Lê sử dụng nhiều những

thuật ngữ trong từ điển tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ nhại. Nguyễn Ngọc Tƣ sử dụng

nhiều hình ảnh ẩn dụ, biểu tƣợng, từ ngữ đậm chất Nam Bộ.

Là một nhà văn, đồng thời là một cô giáo dạy Mỹ thuật cho học sinh tiểu

học,Võ Diệu Thanh có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc hằng ngày với trẻ em,

hiểu đƣợc ngôn ngữ trẻ thơ, nắm bắt tâm tƣ tình cảm của trẻ em để diễn đạt bằng ngôn

ngữ gần gũi với trẻ em. Nhà văn ghi dấu ấn với cách sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản

dị, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, đậm chất trữ tình, mang đậm tính khẩu ngữ, đặc biệt

là đậm chất Nam Bộ. Cách nói dung dị, ngôn ngữ đời thƣờng trong truyện viết cho

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đã làm cho khoảng cách giữa ngƣời kể chuyện và nhân

vật, giữa tác giả và ngƣời đọc đƣợc rút ngắn. Chân dung nhân vật trẻ em nhờ vậy hiện

107

lên chân thật, gần gũi hơn. Qua việc đọc tác phẩm, độc giả nhỏ tuổi có thể mở rộng

vốn từ của mình, từ đó biết lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.

3.3. Xây dựng nhân vật trẻ em qua giọng điệu trần thuật

Giọng điệu trần thuật là “Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của

nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn” (Lê Bá Hán nnk.,

1992, tr. 134). Tìm hiểu truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chúng tôi nhận

thấy sự linh hoạt trong giọng điệu trần thuật của tác giả: giọng điệu hồn nhiên, trong

trẻo; giọng điệu xót xa, thƣơng cảm; giọng điệu châm biếm, mỉa mai; giọng điệu suy

tƣ, triết lí.

3.3.1. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo

Ngƣời kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh không chỉ

là tác giả mà còn nhân vật trẻ em. Những nhân vật trẻ em nhƣ Chùa, Hƣng đóng vai

trò là ngƣời kể chuyện trong các truyện Siêu nhân cua, Chúng mình bay đầy trời và

Quà tặng của ngày mai. Ngƣời kể chuyện xƣng tôi trong các tác phẩm này là những

học sinh tiểu học. Việc tác giả để nhân vật trẻ em tham gia kể chuyện đã góp phầm tạo

nên giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo cho các truyện viết cho thiếu nhi của mình. Qua

lời kể hồn nhiên, trong trẻo của Chùa và Hƣng, sự hồn nhiên, ngây thơ, nét tinh

nghịch, dí dỏm của trẻ em hiện lên chân thật, sinh động.

Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo đƣợc tác giả sử dụng trong cách miêu tả tính

cách hồn nhiên, ngây thơ của nhân vật trẻ em. Điều này đƣợc thể hiện trƣớc hết qua lời

tự kể về mình của nhân vật. Chùa (Quà tặng của ngày mai) tự nhận xét về “nhan sắc”

của mình một cách dí dỏm: “Có những loại nhan sắc được phối hợp bởi cái miệng

móm vừa phải, răng sún vừa đủ và mắt một mí vừa … hí thì thôi, không gì tàn phá nổi,

dù bạn có tóc hay trọc đầu” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Nhiều lần trong tác phẩm,

nhân vật thể hiện sự tự tin của mình về vẻ “đẹp trai” của mình: “cái tên không ảnh

hưởng gì tới sắc đẹp và chút ít tuổi của tôi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.10). Cách Chùa

kể về cảm xúc của mình khi đƣợc mọt ngƣời khen ngợi cũng rất hồn nhiên: “Người ta

nói tôi cười đẹp trai. Nghe rất thích.”, “Họ nói cách tôi đàn nhìn rất dễ thương, rất có

duyên”, “Chắc có lẽ do tôi sún răng mà hay cười” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.65).

Giọng điệu hồn nhiên còn đƣợc thể hiện qua cách nhìn, cách nghĩ rất ngây ngơ

của trẻ em về mọi ngƣời xung quanh. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua lời của Hƣng

khi nghĩ về cô Thanh. Trong cách nhìn của Hƣng, cô Thanh có lúc rất thông minh

108

nhƣng cũng có lúc rất ngây thơ dễ tin: “Cô Thanh đúng là dễ tin. Chuyện dóc tới độ

một thằng dở ẹc như tôi còn thấy vậy mà cô cũng tin. Cô khóc sướt mướt luôn vậy đó

bạn. Cô Thanh đôi khi “trán dồ” hết ý nhưng đôi khi khờ khạo không chịu nổi” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.22).

Qua giọng điệu trần thuật hồn nhiên trong trẻo, hình tƣợng nhân vật trẻ em hồn

nhiên, trong sáng hiện lên thật đáng yêu. Giọng điệu trần thuật này, đƣợc thể hiện qua

lời văn mộc mạc, đậm chất họa, giàu chất nhạc. Sự hồn nhiên, trong trẻo này làm cho

ngƣời đọc cảm thấy lòng bình yên, vui tƣơi đến lạ khi đƣợc lạc vào thế giới của trẻ

thơ. Qua đó, nhà văn thể hiện cái nhìn yêu thƣơng, trìu mến trƣớc những vẻ đẹp rất

riêng của trẻ em.

3.3.2. Giọng điệu xót xa, thƣơng cảm

Khi viết về những đứa trẻ bất hạnh, mồ côi, nghèo, thất học; những đứa trẻ tật

nguyền, yểu mệnh; những đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực gia đình và nạn nhân của

bệnh thành tích giáo dục, nhà văn bày tỏ sự cảm thông, thƣơng xót với giọng điệu xót

xa, thƣơng cảm. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các truyện Siêu nhân cua, Thả diều, Bí

mật theo cô và Lần đầu thấy trăng.

Giọng điệu xót xa thƣơng cảm đƣợc thể hiện trƣớc hết qua lời kể của nhà văn

về những đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong truyện Thả diều, sau khi hiểu

đƣợc lý do cu Lý xé diều của con gái mình, lí do cu Lý không thích thả diều, ngƣời

đàn ông thay vì trách mắng đã động viên cậu bé. Ông bày tỏ sự thông cảm trƣớc nỗi

đau dai dẳng của cu Lý – nỗi đau của một ngƣời anh trai bất lực khi nhìn đứa em gái

mình yêu quý bị đuối nƣớc “- Tội nghiệp. Mới hơn mười tuổi đầu mà gánh nỗi mặc

cảm tày trời. Con không có lỗi, con còn chưa có khả năng coi chừng mình sao mà coi

chừng em được” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36). Trong Bí mật theo cô, cô giáo Chi khi

hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của Nhã, hiểu rõ mong muốn của Nhã: “Thiệt khổ, mới

chừng này tuổi” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50). Xót xa khi đứa em còn chƣa nói rõ

phải chứng kiến cảnh bố mẹ thƣờng xuyên cãi nhau, đánh nhau, Nhã không giấu đƣợc

nỗi ngậm ngùi: “Má đã kế một bên mà bé Thi còn tức tưởi. Có lẽ bé cũng đang ám ảnh

cảnh ẩu đả của ba má lúc chiều. Em Thi mới ba tuổi đầu …” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.41). Dấu ba chấm trong câu “Em Thi mới ba tuổi đầu …” thể hiện rõ sự ngậm ngùi

của Nhã. Nó thƣơng em bị ám ảnh bởi tiếng ba mẹ cãi nhau, đánh nhau. Một cô bé lớp

Năm, là lớp trƣởng, là học sinh giỏi vì thế Nhã tỏ ra hiểu chuyện, suy tƣ hơn so với

109

bạn bè cùng trăng lứa của mình. Thƣơng mẹ, thƣơng em và tủi thân thƣơng cho chính

mình. Bởi là học sinh giỏi môn Văn nhƣng Nhã lại không thể hoàn thành đƣợc bài tập

làm văn rất đơn giản mà cô giáo yêu cầu: Hãy kể về bữa cơm trong gia đình mình. Lí

do Nhã không thể viết đƣợc là gia đình nó chƣa bao giờ có một bữa cơm gia đình đầm

ấm đầy đủ tất cả thành viên. Ba luôn vắng mặt vào giờ cơm để đi nhậu.

Mai (Siêu nhân cua) mồ côi cha, sống cùng với má trong căn nhà ọp ẹp, chật

chội ở một nơi hẻo lánh. Hoàn cảnh nghèo khó của hai mẹ con Mai hiện ra qua lời kể

đầy xót xa, thƣơng cảm của cô giáo Thanh: “- Ba bạn Mai mất hồi bạn còn trong bụng

mẹ. Hai mẹ con không bà con dòng họ nên phải ở một chỗ xa xôi như vầy. Hồi nhỏ xíu

bạn đã phải ở một mình” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.48). Những thiệt thòi của Mai càng

hiện rõ hơn qua lời kể của Hƣng: “Con Mai ngủ dưới đất thật. Nó còn ăn cơm nguội,

còn bị trói và ngủ ở nhà một mình. Nó không có tivi coi nên nó chỉ vẽ con ma theo giấc

mơ của nó. Chắc là nó bị con cua dưới mương bò lên cắn là có thật” (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.48).

Nếu giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo tạo cho ngƣời đọc cảm giác thƣ thái, du

dƣơng, thì giọng điệu xót xa, thƣơng cảm lại khiến ngƣời đọc quặn thắt, rƣng rƣng.

Qua giọng điệu xót xa, thƣơng cảm của tác giả, ngƣời đọc thấy đƣợc tấm lòng thƣơng

yêu của nhà văn đối với trẻ em. Phải là một ngƣời yêu trẻ em tha thiết, Võ Diệu Thanh

mới có thể viết đƣợc những trang văn chan chứa tình yêu thƣơng khiến độc giả nao

lòng đến vậy.

3.3.3. Giọng điệu chế giễu, mỉa mai

Viết về những tiêu cực trong giáo dục và những thói tật của con ngƣời, nhà văn

thể hiện sự chế giễu, mỉa mai. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu thấy trăng

và Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm.

Trƣớc hết, nhà văn chế giễu, mỉa mai những tiêu cực trong giáo dục nhƣ: tình

trạng dạy thêm, học thêm, tình trạng dạy học chạy theo thành tích, tình trạng bạo lực

học đƣờng, tình trạng tham ô của công. Những điều này đƣợc nhà văn bóc trần, lật tẩy

qua việc khắc họa những giáo viên bất tài, thiếu tâm và không có tầm. Đó là thầy Mãi,

cô Tài Ba, thầy hiệu trƣởng trong Lần đầu thấy trăng. Qua lời của Dẫu – một học sinh

tểu học, tác giả mỉa mai cách dạy bạo lực, rập khuôn, chạy theo thành tích của các thầy

cô trƣờng Dƣơng Đôi. Trong mắt Dẫu, thầy Mãi hiện lên nhƣ một con thú “Thầy rống

thật lớn, chửi rủa, gầm gừ, đập thước vào bảng, vào bàn học sinh” (Võ Diệu Thanh,

110

2014, tr.33). Đám học sinh trong tay thầy nhƣ một bầy vịt nháo nhác “Thầy Mãi lùa cả

đám chạy ào ào. Ai rớt lại thì rớt thầy cứ chạy miệng cứ hối cái đám bị rớt lại kêu nó

đuổi theo” (Võ Diệu Thanh, 2013, tr.73). Không chỉ mỉa mai, chế giễu cách dạy rập

khuôn, cứng nhắc của thầy Mãi, tác giả còn mỉa mai thói háo danh, chạy theo thành

tích của một số thầy cô giáo. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua cách kể của Dẫu về cô Tài

Ba. Cô là một “diễn viên cốt cán” với “ suất diễn khá dày”. Bằng giọng điệu giễu

nhại, tác giả đã phơi bày tất cả những mánh khóe trong nghề của cô Tài Ba. Chạy theo

thành tích, cô Tài Ba không chỉ đầu tƣ diễn xuất mà còn phải phù phép “Người ta đòi

bằng cấp thì cô mua bằng cấp, người ta đòi chất lượng thì cô phù phép chất lượng”

(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.63). Trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, qua lời Dƣa Leo – cậu

học sinh lớp Tám, tác giả cũng mỉa mai cách dạy nặng nề, thái quá của giáo viên:

“Thật ra là cô giáo dạy giỏi lắm, dạy ngày dạy đêm, dạy cả lúc ngủ lúc ăn” (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.68).

Chế giễu, mỉa mai những tiêu cực trong giáo dục, không chỉ có Võ Diệu Thanh

mà còn có Văn Thành Lê. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong các truyện dài Không biết

đâu mà lần, Thừa ra một người của nhà văn này. Đọc các truyện ngắn trong hai tập

truyện này, ngƣời đọc sẽ bắt gặp rất nhiều những ông thầy nghịch dị, háo danh, háo

sắc, sẽ cƣời ra nƣớc mắt trƣớc tình trạng cải cách giáo dục nửa vời qua giọng điệu giễu

nhại sâu cay của tác giả. Điều đó phản ánh một thực trạng đáng buồn của giáo dục

nƣớc nhà trong những năm gần đây đó là những ngƣời thầy nghịch dị đang có mặt ở

khắp các trƣờng học. Và điều đó đang làm ảnh hƣởng đến hình tƣợng ngƣời thầy trong

mắt phụ huynh và học sinh, ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục của nƣớc nhà.

Viết về những tiêu cực trong giáo dục, Võ Diệu Thanh mỉa mai cách dạy rập

khuôn của giáo viên và cách học vẹt của học sinh. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua các

nhân vật Hà Vi, Tƣờng trong Lần đầu thấy trăng và Đầu Bự trong Bảng đỏ cho xứ Bìm

Bìm. Đầu Bự đƣợc đánh giá là học sinh giỏi là vì nó thuộc bài rất giỏi: “Đầu Bự thuộc

tám ngàn câu luôn ông ạ. Phải nói là nó thiên tài. Có lần con ngồi mở sách chỉ cần

nói số trang, dòng thứ mấy là nó đọc không sót một chữ nào” (Võ Diệu Thanh, 2016,

tr.73).

Những thói tật của con ngƣời cũng đƣợc nhà văn vạch trần với giọng điệu chế

giễu, mỉa mai. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Qua lời

của chú Mèo Ma Văn Vẻ, những thói tật của ngƣời dân ở xứ Bìm Bìm đƣợc bóc trần

111

nhƣ: đi lậu không chịu mua vé mỗi lần đi phà, ăn cắp vặt, tè bậy, tham lam, háo danh,

thích moi móc chuyện của ngƣời khác. Thái độ mỉa mai đƣợc thể hiện ngay trong cách

đặt tên cán bộ tỉnh là ông Bụng Cọp, “Chúa xứ Bìm Bìm”. Đặc biệt là chi tiết tấm biển

cấm “Cấm phân mèo và cư dân Bìm Bìm”. Tấm biển này đƣợc viết hoa và treo trong

vƣờn trái đỏ. Qua lời của Dƣa Leo, biển cấm này có ý nghĩa mỉa mai ngƣời xứ Bìm

Bìm thối tha nhƣ phân mèo và vì thế ngƣời xứ khác không thể sống chung. Giọng điệu

chế giễu, mỉa mai đƣợc thể hiện rất rõ qua lời tự “khen” của nhân vật: “Phải nói là hai

đứa khỉ tụi tôi tự nể cái tài cắp vặt của mình” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53). Tấm biển

cấm và câu nói của nhân vật là một hồi chuông cảnh báo. Trẻ em thƣờng hay bắt

chƣớc những hành động của ngƣời lớn. Và những thói xấu thƣờng sẽ rất dễ để trẻ học

theo. Ngƣời lớn nếu không sớm sửa mình thì trẻ em rất dễ nhiễm những thói tật ấy.

Hậu quả của việc trẻ nhiễm những thói tậ của ngƣời lớn sẽ không thể lƣờng trƣớc

đƣợc.

Qua giọng điệu chế giễu, mỉa mai, nhà văn muốn vạch trần những tiêu cực,

những xấu xa trong xã hội với mong muốn tạo ra một môi trƣờng lành mạnh để trẻ em

đƣợc thừa hƣởng nền giáo dục tốt nhất.

3.3.4. Giọng điệu suy tƣ, triết lí

Viết về trẻ em, nhà văn bộc lộ những trăn trở về tình trạng trẻ em là nạn nhân

của bạo lực gia đình, nạn nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục với giọng điệu

suy tƣ, triết lí. Những triết lí về phƣơng pháp giáo dục trẻ em, về quyền trẻ em, về

cách thể hiện tình yêu thƣơng, về các giá trị văn hóa đƣợc thể hiện qua lời ngƣời kể

chuyện và lời của các nhân vật trong truyện.

Là một nhà văn đồng thời là một nhà giáo, Võ Diệu Thanh khi cầm bút luôn

hƣớng đến mục tiêu lồng ghép những bài học giáo dục trong các sáng tác của mình.

Những triết lí về phƣơng pháp giáo dục trẻ em đƣợc tác giả khéo léo lồng ghép vào

trong lời kể của nhân vật. Đối thoại về những tiêu cực trong giáo dục, về những giá trị

văn hóa truyền thống đang dần mai một, nhà văn sử dụng giọng điệu suy tƣ, triết lí. Đó

là những triết lí bình dị về cuộc đời về con ngƣời. Đó có thể là lời của cô bé cậu bé

tiểu học, có khi là lời của ngƣời lớn tuổi từng trải. Quà tặng của ngày mai là tác phẩm

thể hiện rõ tính đối thoại với giọng điệu suy tƣ triết lí. Triết lí “thay máu” mà Chùa đề

cập đến trong tác phẩm đó là “tắm âm nhạc” đắm mình trong âm nhạc. Những giai

điệu du dƣơng của âm nhạc sẽ len lỏi vào trái tim và cả khối óc. Tình yêu âm nhạc vì

112

thế lớn dần lên mỗi ngày. Nếu muốn trở thành nhạc sĩ, ca sĩ thì hãy “thay máu” cho

mình bằng cách mỗi ngày thả hồn mình vào âm nhạc. Nhà văn gián tiếp khẳng định

nếu bạn muốn giỏi về lĩnh vực nào đó thì hãy đắm mình trong môi trƣờng đó để tài

năng và niềm đam mê trong bạn có đất để nảy mầm và phát triển. Mỗi ngƣời khi đọc

đƣợc triết lí của cậu bé Chùa sẽ tự rút ra cho mình những kinh nghiệm, những bài học

để vận dụng phù hợp với bản thân mình một cách hiệu quả nhất. Lời tâm sự của ông

Sáu với Chùa nhẹ nhàng mà chứa đựng những triết lí sâu sắc: “Con thấy không, từ một

khúc gỗ đã bỏ đi để dành chụm bánh tét, nếu mình chịu cực đục đẽo mài giũa, nó lại

trở thành một nhạc cụ đẹp và tốt, ai cũng thích. Làm con người cũng vậy” (Võ Diệu

Thanh, 2021, tr.72).

Lời độc thoại nội tâm của nhân vật Chùa trong truyện Quà tặng của ngày mai

thể hiện rõ những triết lí sâu sắc về phƣơng pháp giáo dục mà nhà văn muốn nhắn nhủ:

“Con người ta không phải là cái cây. Nếu là cây, thì chỉ cần người làm vườn giỏi, tất

cả những cái cây đủ ánh sáng giống nhau, đủ phân phướng giống nhau, đủ nước

giống nhau sẽ cùng cho ra những mùa màng giống nhau” (Võ Diệu Thanh, 2021,

tr.72). Câu nói trên khẳng định: mỗi con ngƣời là một cá thể riêng biệt. Mỗi đứa trẻ có

những khả năng, sở trƣờng khác nhau, có cách tƣ duy khác nhau vì thế không thể áp

dụng một phƣơng pháp lên mọi đứa trẻ. Phƣơng pháp dẫu hay, dẫu tốt nhƣ thế nào

nhƣng nếu không phù hợp thì cũng sẽ không mang lại kết quả. “Cùng một cha mẹ,

cùng một bàn tay chăm sóc dạy dỗ thì rồi cuối cùng chị Hai tôi vẫn là chị Hai tôi, nhát

nhít và thích ăn bánh, tôi vẫn là tôi hay hỏi, dễ nhớ và dễ lơ đãng, và Út Tiền vẫn là

Út Tiền “miệng lưỡi” và rất tình cảm” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.87).

Trong truyện Khi hai vua về một nhà (in trong tập Những cậu bé mặt trời), nhà

văn đề cập đến hiện tƣợng trẻ em chán học, bỏ học chơi game và đặt ra những vấn đề

về phƣơng pháp giáo dục đối với trẻ em. Lời của cô Mai khiến ngƣời đọc nhận ra cách

yêu thƣơng một đứa trẻ đúng cách. Không phải bất cứ cái gì ngƣời lớn thấy tốt, thấy

quý mang cho trẻ cũng khiến trẻ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Những cuốn tập tặng cho

Ngàn – một đứa trẻ mồ côi, ham học sẽ trở thành món quà quý giá nhƣng tặng cho Hà

– một đứa trẻ coi việc học là cực hình thì chỉ là đồ bỏ đi “Không phải ai cũng thấy

sướng khi nhận chục vở đâu nhóc” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11).

Những câu hỏi nhà văn đặt ra trong Quà tặng của ngày mai đặt ra vấn đề đối

thoại về phƣơng pháp giáo dục: Con người ta trưởng thành là nhờ giáo dục hay nhờ

113

bộ gen? Sống được, sống tốt hay sống riêng biệt là đúng? Mỗi con người có quyền lựa

chọn hay không? (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.6). Tại sao “một ông Sáu không có bằng

cấp gì hết cũng không từng nghiên cứu sách vở gì hết” lại có thể nuôi dạy thật tốt

những đứa trẻ mồ côi. Đọc truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, mỗi ngƣời sẽ

tìm ra cho mình một câu trả lời phù hợp.

Giọng điệu suy tƣ, triết lí không chỉ đƣợc thể hiện khi tác giả bộc lộ quan điểm

về phƣơng pháp giáo dục mà còn đƣợc thể hiện qua việc tác giả nói về cách thể hiện

tình yêu thƣơng đối với mọi ngƣời. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Lần đầu thấy

trăng, Những cậu bé mặt trời, Quà tặng của ngày mai. Tình trạng những đứa trẻ bỏ

học đi bán vé số và tình trạng ngƣời lớn “không ngại bỏ tiền mua vé số mấy đứa nhỏ”

khiến Võ Diệu Thanh trăn trở: “Như vậy là từ bi ?” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.91). Câu

hỏi trong lời độc thoại nội tâm của Dẫu đã gián tiếp khẳng định quan điểm của tác giả

vê lòng tốt. Tác giả cho rằng tình thƣơng cần phải đƣợc đặt đúng chỗ nếu không sẽ

gián tiếp ủng hộ cho việc xấu. Những đứa trẻ cần đƣợc đến trƣờng và thƣơng trẻ cần

phải giúp trẻ nhận ra lợi ích của việc học. Quan điểm này cũng đƣợc tác giả khẳng

định trong Quà tặng của ngày mai. Triết lí đó đƣợc thể hiện rất rõ trong quan điểm của

ông Sáu khi giúp đỡ mọi ngƣời “Làm việc tốt chớ không làm từ thiện”.

Cùng viết truyện thiếu nhi, mỗi nhà văn lại ghi dấu ấn bằng giọng điệu trần

thuật riêng. Giọng điệu trần thuật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tƣ là giọng buồn

mênh mang, trầm tĩnh nghẹn đắng. Giọng điệu của Nguyễn Nhật Ánh là dí dỏm, hài

hƣớc pha chút triết lí suy tƣ. Đó là những triết lí giản đơn về buồn vui của tuổi học trò.

Triết lí của cu Mùi trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ: “Tám tuổi có cái buồn chán

của tuổi lên tám” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.8). Còn Võ Diệu Thanh ghi dấu ấn với

giọng điệu trần thuật hồn nhiên, trong trẻo, xót xa thƣơng cảm, chế giễu, mỉa mai, suy

tƣ, triết lí. Có thể nói giọng điệu trần thuật suy tƣ, triết lí là một trong những nét đặc

sắc trong truyện của Võ Diệu Thanh nói chung, truyện viết cho thiếu nhi nói riêng.

Những triết lí bình dị mà sâu sắc đƣợc nhà văn lồng ghép trong những lời đối thoại,

độc thoại nội tâm của nhân vật. Hình ảnh những “ông cụ non” nhƣ Hƣng, Chùa với

những câu nói dí dỏm mà đậm chất triết lí tạo tạo nên ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc

giả. Giọng điệu trần thuật suy tƣ, triết lí còn góp phần tạo độ lắng, tạo khoảng lặng để

ngƣời đọc đồng sáng tạo.

114

3.4. Xây dựng nhân vật trẻ em qua không gian và thời gian nghệ thuật

3.4.1. Không gian nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “không gian nghệ thuật là hình thức bên trong

của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” (Lê Bá Hán nnk., 1992,

tr.160). Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học chính là môi trƣờng sống, hay

nói cách khác đó là môi trƣờng hoạt động của nhân vật. Có không gian nhân vật mới

bộc lộ rõ mọi hành động của mình, hành động càng nhiều thì môi trƣờng không gian

càng lớn. Không gian nghệ thuật của một tác phẩm bao gồm: không gian bối cảnh,

không gian sự tình và không gian tâm lí.

Tìm hiểu không gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện của không gian trƣờng học, không gian gia

đình và không gian sông nƣớc. Đây là những khoảng không gian góp phần làm cho

hình tƣợng nhân vật trẻ em đƣợc khắc họa rõ nét hơn. Đặt nhân vật trẻ em trong mối

quan hệ với những không gian nghệ thuật nói trên, ngƣời đọc sẽ hiểu rõ hơn về đặc

điểm tính cách, số phận của các nhân vật.

3.4.1.1. Không gian trường học

Trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, nhân vật trẻ em là những

cô cậu học sinh tiểu học. Vì thế, để làm nổi bật tính cách của những cô cậu học trò hồn

nhiên, tinh nghịch, thông minh ham học hỏi, nhà văn đã dành nhiều trang viết miêu tả

không gian trƣờng học nhƣ: lớp học, sân trƣờng, căn tin, nhà vệ sinh. Những khoảng

không gian thân thuộc đó đƣợc nhà văn miêu tả đậm nét trong Lần đầu thấy trăng và

Những cậu bé mặt trời.

Trong Lần đầu thấy trăng, trƣờng Dƣơng Đôi hiện lên qua lời kể của Dẫu là

một ngôi trƣờng không đảm bảo cơ sở vật chất “tường nứt những đường dài, loằng

ngoằng. Nền tường lún hình lòng chảo, càng ngày càng sâu” (Võ Diệu Thanh, 2014,

tr.42). Tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất của trƣờng còn đƣợc thể hiện rõ qua

hình ảnh bàn ghế của học sinh “Đó là một cái bàn xệu xạo, một chân nó sắp văng ra”

(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.24). Tệ hại hơn nữa là trƣờng Dƣơng Đôi lại đƣợc xây dựng

liền kể với nhà trọ Tình (ổ mại dâm). Đặt trƣờng học liền kề ổ mại dâm, nhà văn cảnh

báo với cách dạy hình thức, chạy theo thành tích của các thầy cô trƣờng Dƣơng Đôi thì

con đƣờng từ trƣờng học đến nhà thổ của học sinh cũng ngắn và nhanh nhƣ việc chỉ

cần bƣớc qua hàng rào là tới nhà trọ Tình.

115

Nếu ở tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng, không gian trƣờng học gắn liền với

những tiêu cực trong giáo dục thì trong tập truyện Những cậu bé mặt trời, ngƣời đọc

lại bắt gặp không gian thân thuộc, bình dị gắn bó với học sinh. Khảo sát sáu truyện

trong tập truyện Những cậu bé mặt trời, chúng tôi nhận thấy có 4/6 truyện có đề cập

đến không gian trƣờng học (Những cậu bé mặt trời, Khi hai vua về một nhà, Bí mật

theo cô, Cáp treo cho những mặt trời). Những góc nhỏ trong trƣờng học đƣợc nhà văn

khắc họa. Đó là lớp học, vách tƣờng, nền gạch, căn tin …Trong những khoảng không

gian đó, tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè đƣợc bộc lộ rõ.

Trong truyện ngắn Những cậu bé mặt trời, tác giả nhắc đến những khoảng

không gian nhƣ: vách tƣờng, nền gạch ở lớp học, cầu thang, sân trƣờng … Đó là

những nơi mà Tì Ti mỗi lúc nhớ mẹ lại dừng lại nói chuyện. Những không gian quen

thuộc, bình bị này làm cho Tì Ti cảm thấy thoải mái. Khi ở trong những khoảng không

gian đó, nỗi nhớ mẹ của Tì Ti cũng phần nào vơi đi.

Trong truyện Cáp treo cho những mặt trời, nhà văn lại hƣớng ngƣời đọc đến

không gian căn tin của trƣờng. Đó là nơi có bà Tƣ tốt bụng, thân thiện. Góc nhỏ của

trƣờng học đó trở nên thân thuộc với những cô cậu học trò. Chính không gian nhỏ hẹp,

thân thuộc đó đã giúp các bạn trong lớp sát lại gần nhau hơn.

Điều đặc biệt trong cách miêu tả không gian trƣờng học trong tập truyện Những

cậu bé mặt trời đó là nhà văn không đi vào miêu tả quang cảnh trƣờng học, cơ sở hạ

tầng, thiết bị dạy học, … mà tác giả dành nhiều trang viết để miêu tả mối quan hệ giữa

các thầy cô với học sinh, giữa các học sinh với nhau. Lòng nhiệt huyết của các thầy cô,

sự đoàn kết của các học sinh khiến ngƣời đọc cảm thấy tin tƣởng vào tƣơng lai của

giáo dục nƣớc nhà.

Là một cô giáo tiểu học, vì thế hơn ai hết, tác giả hiểu rõ không gian trƣờng học

có ảnh hƣởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của trẻ. Qua đó, tác giả muốn

nhắn nhủ xã hội cần xây dựng một môi trƣờng giáo dục lành mạnh để học sinh đƣợc

học tập một cách tốt nhất. Để làm đƣợc điều đó, điều quan trọng là mỗi thầy cô phải

gần gũi, quan tâm đến học sinh của mình hơn nữa để có thể kịp thời “gỡ rối” những

khó khăn của học sinh.

3.4.1.2. Không gian gia đình

Cùng với không gian trƣờng học, không gian gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đối

với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Trong truyện viết cho

116

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy không gian gia đình đƣợc nhà văn

nhiều lần miêu tả. Có những không gian gia đình chật hẹp, hỗ tạp, ngột ngạt, căng

thẳng với những tiếng mắng chửi nặng nề. Cũng có những không gian thoáng đãng,

yên bình, thoải mái, tràn ngập tiếng cƣời. Những không gian này tạo nên bối cảnh để

nhân vật trẻ em trẻ em xuất hiện. Tính cách, số phận của nhân vật từ đó đƣợc bộc lộ rõ

nét hơn.

Không gian gia đình chật hẹp, hỗn tạp, ngột ngạt, căng thẳng hiện lên chân thực

trong Lần đầu thấy trăng, Bí mật theo cô và Thả diều. Trong Lần đầu thấy trăng,

không gian sống của gia đình Dẫu là một căn nhà tạm bợ, sơ sài: “Kèo cột bạch đàn,

mái và vách đều là tole. Mát tê người vào mùa đông và ấm đổ mồ hôi vào mùa hè”

(Võ Diệu Thanh, 2014, tr.14). Trong không gian chật hẹp ấy, gia đình Dẫu gồm mƣời

một ngƣời (bao gồm bố mẹ Dẫu và chín chị em Dẫu) chen chúc. Không chỉ chật chội,

nóng bức, căn nhà nơi Dẫu sinh sống còn rách nát “nhìn lên trần nhà mà thấy chòm

mây” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.14). Nơi đó tràn ngập tiếng cằn nhằn của mẹ Dẫu,

tiếng chửi tục của ba Dẫu. Sống trong không gian đó, Dẫu và các anh chị em của Dẫu

không phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tâm hồn. Những đứa trẻ đó bị nhiễm nhiều

tật xấu nhƣ: chửi tục, ăn cắp vặt, giả bị què quặt để lợi dụng lòng thƣơng của mọi

ngƣời… Việc Dẫu trƣợt dài sa ngã là hậu quả của việc không đƣợc đi học, không đƣợc

thầy cô, bố mẹ giáo dục đàng hoàng. Miêu tả không gian gia đình Dẫu nhà văn khẳng

định môi trƣờng sống không lành mạnh sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến việc hình thành và

phát triển nhân cách của trẻ em.

Không gian sống chật hẹp, tồi tàn, ngột ngạt còn đƣợc nhà văn khắc họa trong

nhiều truyện khác. Trong truyện Thả diều, ta bắt gặp hình ảnh “ngôi nhà nhỏ của cu

Lý trước đây là một ngôi nhà sàn nằm thoi loi dưới mé đê. Mùa nước lên, mỗi lần ba

đi giăng lưới về, mũi xuống ghé vào bị gió đánh bạt cứ va vào cọc nhà bung bung.

Ngôi nhà nhỏ lung lay như cái răng sắp rụng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.21). Chỉ vài

chi tiết khắc họa, ngƣời đọc đã cảm nhận đƣợc không gian sinh sống của gia đình Lý

thật nhỏ hẹp, không vững chắc. Không gian ấy gợi hoàn cảnh khó khăn của gia đình

Lý và cũng tiềm ẩn những mối nguy hiểm khi mƣa lũ tràn tới. Trong truyện ngắn Bí

mật theo cô, không gian gia đình bé Nhã thu nhỏ lại nơi căn bếp, bên mâm cơm. Mâm

cơm thƣờng gợi lên sự đầm ấm, vui vẻ nhƣng ở gia đình Nhã nó lại lạnh lẽo buồn tẻ.

Không gian nhỏ hẹp chật chội của nhà Nhã bỗng trở nên trống trải khi ba nó bỏ đi

117

nhậu. Ba mẹ con ngồi bên mâm cơm – mâm cơm mà Nhã đã dành cả buổi để nấu

nhƣng không ai muốn ăn “nồi canh khổ qua đã lạnh tanh” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.46). Không gian đó cũng gợi lên sự căng thẳng, nặng nề trong gia đình Nhã. Mỗi lần

ba say rƣợu đuổi đánh, ba mẹ con Nhã phải chạy sang nhà cô Chi để trốn. Đọc truyện

ngắn này, ta còn bắt gặp không gian căn buồng nhỏ hẹp với “cái mùng xập xệ của ba”

(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38). Chỉ một chi tiết nhỏ, ngƣời đọc đã có thể hình dung

không gian sống bừa bộn, nhếch nhác của gia đình Nhã. Trong căn buồng ẩm tối đó,

Nhã hầu nhƣ không đêm nào ngủ ngon. Nhà của Nhã có gian trƣớc và gian sau nhƣng

khoảng cách từ các gian không xa. Ngồi ở gian sau Nhã vẫn có thể “nghe được cả

tiếng ngáy của ba từ gian trước vọng lại” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38). Không gian

sinh sống chật hẹp cùng với không khí gia đình căng thẳng đã tác động tiêu cực đến

tâm lí của trẻ em. Sống trong không gian ấy, Nhã lúc nào nó cũng cảm thấy lo lắng,

bất an.

Bên cạnh việc miêu tả không gian gia đình chật hẹp, bấp bênh, tác giả còn khắc

họa không gian gia đình đầm ấm, vui vẻ. Đó là không gian gia đình của Bòn Bon trong

truyện Tiền của thần cây. Đó còn là không gian gia đình của Chùa trong Quà tặng của

ngày mai. Đƣợc sống trong không gian gia đình đầm ấm, Bòn Bon, Chùa, Út Tiền

luôn cảm thấy an toàn, cảm thấy tin tƣởng. Quán Nụ cƣời của ông Sáu trong truyện

Quà tặng của ngày mai đƣợc miêu tả là một không gian thoáng đãng nằm ngay giữa

chợ nhƣng không hỗn tạp xô bồ. Không gian đó luôn ngập tràn tiếng đàn, tiếng cƣời

nói vui vẻ. Ở đó, Chùa và các chị em của mình không chỉ có cơ hội đƣợc thể hiện tài

năng âm nhạc mà còn học hỏi, rèn luyện đƣợc tính tự lập từ rất sớm. Trong tác phẩm

nhà văn nhiều lần miêu tả chiếc giƣờng ngủ của Chùa và ông Sáu. Đó là một chiếc

giƣờng do chính tay ông Sáu làm “một cái giường sắt gắn bánh xe”. Qua lời kể của

Chùa, chiếc giƣờng đó thật đặc biệt “Nó không thể tự chạy được nhưng cô Thanh nói

cảm giác nó như một cái ghe có thể trôi chỗ này chỗ nọ” (Võ Diệu Thanh, 2021,

tr.18). Không gian nhỏ nhƣng thoáng đãng và cũng rất ấm áp. Ở đó, Chùa cảm thấy

vui vẻ và bình yên “Hình như nó là cái giường thần kỳ. Ngủ trên đó tôi vui vì tôi có

cảm giác bất cứ điều thần kì nào ông Sáu cũng có thể làm được và cũng có thể dạy

cho tôi được” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.18). Trong không gian bình dị ấy, Chùa và

ông Sáu thƣờng hay trò chuyện tâm tình. Nhờ thế tình cảm giữa Chùa và ông Sáu ngày

càng trở nên sâu đậm. Ông Sáu vốn không phải họ hàng thân thích của Chùa nhƣng

118

với Chùa ông vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là thầy. Chùa, Út Tiền, chị Hai từng là những

đứa trẻ quậy phá, mê game, lƣời học, hay nói tục, khi đƣợc ông Sáu nuôi dạy cả ba chị

em đều đã trở thành những đứa trẻ ngoan ngoãn, ham học, học giỏi, tài năng và đặc

biệt là rất hiểu thảo và biết tự lập từ rất sớm. Chính không gian gia đình vui vẻ, đầm

ấm đã giúp ba chị em có sự thay đổi tích cực đó.

Có thể nói, không gian gia đình có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình thành và

phát triển nhân cách của trẻ. Không gian sống bấp bênh nhƣ gia đình cu Lý, không

gian sống chật hẹp, bừa bộn nhƣ gia đình Nhã đều ảnh hƣởng tiêu cực đến tâm lí của

nhân vật. Còn những đứa trẻ đƣợc gia đình yêu thƣơng nhƣ Hà, Bòn Bon thì lại luôn

giữ đƣợc sự hồn nhiên đáng yêu của trẻ thơ. Qua việc miêu tả không khí gia đình căng

thẳng và không khí gia đình đầm ấm, Võ Diệu Thanh muốn nhắn nhủ đến mọi ngƣời

hãy để những đứa trẻ đƣợc lớn lên trong không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ. Hãy yêu

thƣơng và học cách yêu thƣơng những đứa trẻ để trẻ em luôn đƣợc hạnh phúc.

3.4.1.3. Không gian sông nước

Sông nƣớc là khoảng không gian quen thuộc, gần gũi, gắn bó với ngƣời dân,

đặc biệt là trẻ em vùng Nam Bộ. Có thể nói, không gian sống nƣớc gắn liền với tuổi

thơ của những đứa trẻ Nam Bộ. Trên dòng sông xanh mát, những đứa trẻ nô đùa, lặn

hụp. Trong sáu truyện ngắn của tập Những cậu bé mặt trời thì có tới bốn truyện nhà

văn nhắc đến không gian này (Những cậu bé mặt trời, Thả diều, Tiền của thần cây,

Cáp treo cho những mặt trời). Khoảng không gian sông nƣớc làm nền cho các nhân

vật trẻ em hiện lên. Con sông đƣợc nhà văn nhắc đến đó là sông Hậu. Đó là nơi mà Tì

Ti hay ngồi nói chuyện với đôi dép mỗi khi nhớ mẹ. Đó cũng là nơi mà thằng Nhóc

quăng đôi dép của Tì Ti xuống “Nhóc chịu hết nổi nó đem đôi dép của Tì Ti quăng ra

nơi xa nhất của sông Hậu. Tao quăng chỗ nào nước chảy mạnh nhất. Nó không có trôi

đâu, vì nó chìm mất tiêu” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.3).

Miêu tả không không gian sông nƣớc, Võ Diệu Thanh đã làm nổi bật tính chất

đặc trƣng của vùng Nam Bộ. Ở vùng sông nƣớc Nam Bộ, mỗi khi vào mùa nƣớc nổi,

nƣớc sông dâng lên rất nhanh. Với ngƣời dân nơi đây, mùa nƣớc nổi là mùa của no

ấm. Nƣớc mang theo cá, tôm vào đồng ruộng. Ngƣời dân vui mừng khi thấy con nƣớc

tràn về. Trong khoảng không gian rộng lớn đó, những hình ảnh bình dị nhƣ xuồng,

lƣới, cá tôm xuất hiện. trong truyện ngắn Thả diều, nhà văn đã miêu tả một cách chân

thực cảnh ngƣời dân bắt cá vào lúc chiều, tối “Hừng đông, khi cu Lý và em chui ra

119

khỏi mùng thì ba mẹ đã chuẩn bị chống xuồng đi ra đồng giăng lưới” (Võ Diệu Thanh,

2017, tr.24).

Con nƣớc tràn về mang theo cá tôm, mang đến ấm no cho ngƣời dân nhƣng nó

cũng tiềm ẩn những mối nguy hiểm khó lƣờng. Con sông ngày thƣờng vốn trong xanh,

hiền hòa nhƣng vào mùa nƣớc lũ trông nó thật hung dữ nhƣ muốn nuốt chửng tất cả

“Nước hung hăng quạnh đỏ. Đê lúc này chẳng thể gọi là đê vì nó mỏng như cái ranh.

Phía ngoài là sông, phía trong là đồng, đâu đâu cũng trắng nước. Anh em cu Lý trên

đê như hai con kiến nhỏ bò trên cọng rạ nổi giữa đồng” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.26).

Dòng nƣớc quạnh đỏ đó đã cuốn trôi, nhấn chìm bé Châu, dập tắt nụ cƣời trên môi cu

Lý, xoáy nát tim gan của ba mẹ bé Châu. Nỗi đau mất đi ngƣời thân cuộn xoáy theo

con nƣớc.

Miêu tả không gian sông nƣớc với những mối nguy hiểm tiềm tàng, tác giả đã

gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng đuối nƣớc thƣờng xuyên xảy ra ở Nam Bộ

nói riêng, ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở các vùng quê vào dịp nghỉ hè. Từ đó,

nhà văn nhắn nhủ mọi ngƣời, nhất là trẻ em cần trang bị kỹ năng bơi lội để biết cách

ứng phó với những nguy hiểm bất ngờ ập đến từ sông nƣớc.

Không gian sông nƣớc không chỉ gắn liền với cuộc sống mƣu sinh vất vả, bấp

bênh của ngƣời dân Nam Bộ mà còn gắn liền với sinh hoạt nghệ thuật độc đáo của

ngƣời dân nơi đây. Đó là đờn ca tài tử. Có thể nói, sông nƣớc là không gian lý tƣởng

để đờn ca tài tử đƣợc thăng hoa. Trong Quà tặng của ngày mai, qua lời kể của nhân

vật Khánh Hƣng – thần đồng đàn sến, không gian sông nƣớc chính là nơi những nghệ

nhân đàn sến có thể thỏa đam mê: “Thời cha, thời ông nội của mấy chú, những người

chơi tài tử còn tài tử hơn cả bây giờ. Họ ôm đàn xuống những chiếc ghe thường dùng

để giăng câu giăng lưới, bơi lên trên con nước một đối xa rồi bỏ chèo cầm đàn và

cùng nhau hát. Họ mặc kệ cho chiếc xuồng trôi về đâu. Những tiếng hát ngọt lành rải

trên mặt sông và trôi theo con nước. Cứ đàn cứ hát cho tới khi nào chán sẽ bơi xuồng

trở về. Tàn cuộc chơi có khi hai ba giờ sáng xuồng mới về tới nhà” (Võ Diệu Thanh,

2021, tr.78).

Điều làm nên sự khác biệt của Võ Diệu Thanh với các nhà văn khác khi viết về

không gian sông nƣớc Nam Bộ đó là: tác giả không đi sâu miêu tả tỉ mỉ kích thƣớc dài

rộng, nông sâu hay lƣu tốc cảnh quan hai bên bờ của dòng sông mà dựng nên một

không gian nghệ thuật bằng những nét vẽ khái quát để nhân vật xuất hiện. Qua đó thân

120

phận, phẩm chất, tính cách của nhân vật đƣợc bộc lộ. Nhờ đó, ngƣời đọc hiểu đƣợc

những nét văn hóa đặc sắc của vùng Nam Bộ với những hoạt động vật chất và tinh

thần gắn với khoảng không gian này.

3.4.2. Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật trong văn học thiếu nhi vừa mang những đặc điểm của

thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung vừa có những nét đặc trƣng

riêng “Trong văn học thiếu nhi cũng có sự hiện diện của thời gian hiện tại, thời gian

quá khứ, thời gian tương lai và cả thời gian “ngoài thời gian” – bình diện vĩnh viễn

trường tồn. Các bình diện đó có thể xuất hiện độc lập, cũng có thể xuất hiện đồng

thời” (Bùi Thanh Truyền, 2009, tr. 76). Trong truyện thiếu nhi hiện đại, thời gian nghệ

thuật có sự đa dạng hóa hình thức trần thuật. Bên cạnh hình thức trần thuật tuyến tính,

hình thức trần thuật đảo ngƣợc cũng đƣợc nhiều nhà văn sử dụng. Điều này đã tạo nên

sức hấp dẫn cho lời kể đồng thời tạo nên tính đa chiều trong tiếp nhận tác phẩm. Cùng

với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật góp phần thể hiện đời sống tâm lí nội

tâm của nhân vật. Tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có thời gian trần thuật tuyến tính, thời gian trần thuật

đảo ngƣợc và thời gian tâm trạng theo dòng ý thức của nhân vật.

3.4.2.1. Thời gian tuyến tính

Thời gian trần thuật tuyến tính là thời gian vận động theo đƣờng thẳng, sự kiện

diễn ra trƣớc đƣợc kể trƣớc, sự kiện diễn ra sau đƣợc kể sau. Tìm hiểu thời gian nghệ

thuật trong truyện thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy có nhiều truyện

đƣợc kể theo thời gian tuyến tính: Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng

mình bay đầy trời, Khi hai vua về một nhà. Thời gian trần thuật trong các truyện này

chủ yếu là thời gian sinh hoạt gắn với các hoạt động của các nhân vật trẻ em nhƣ: lao

động, học tập, vui chơi, nghỉ ngơi …trong đó, hoạt động vui chơi trong giờ ra chơi ở

trƣờng học đƣợc nhà văn đề cập đến nhiều hơn cả. Với học sinh, giờ ra chơi là khoảng

thời gian đƣợc chờ đợi nhất trong suốt ngày dài ở trƣờng. Những trò nghịch ngợm

quậy phá, những cãi vã, giận hờn cũng bắt đầu từ khoảng thời gian ít ỏi đó.

3.3. Bảng thống kê trạng từ chỉ thời gian

trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

Stt Tên tác phẩm Trạng từ chỉ Trạng từ chỉ Trạng từ chỉ

thời gian hiện thời gian quá thời gian

121

tại khứ tƣơng lai

1 Siêu nhân cua 5 22 0

2 Bảng đỏ cho xứ Bìm 6 7 0

Bìm

3 Chúng mình bay đầy 5 10 0

trời

4 Tiền của thần cây 19 30 7

5 Quà tặng của ngày mai 5 30 1

Thời gian nghệ thuật trong Siêu nhân cua đƣợc bắt đầu từ thời điểm giờ ra chơi

và kết thúc là lúc nhóm bạn thân Hƣng, Nam, Mai làm hòa, vui vẻ chơi đùa sau những

cãi vã hiểu lầm. Truyện về Hƣng – Nam – Mai bắt đầu từ một buổi ra chơi ông ngoại

của Nam đến tìm cháu. Cái biệt danh Nam Trán Dồ cũng bắt đầu từ đó: “Chẳng qua là

một buổi ra chơi nọ có một ông già mặc bộ đồ bà ba đen bước vô lớp tôi” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.5). Những chƣơng tiếp theo của truyện đƣợc kể theo các sự việc lần

lƣợt diễn ra từ sau buổi ra chơi hôm đó. Trong truyện dài này, thời gian trần thuật

tuyến tính đƣợc thể hiện rõ nét nhất trong chƣơng 9 và chƣơng 18. Ở chƣơng 9 (Siêu

nhân cua), các sự kiện trong lời kể của Hƣng diễn ra theo trình tự thời gian bắt đầu từ

lúc Mai nghỉ học, rồi Hƣng và Nam cùng với cô Thanh đến thăm nhà Mai, tiếp đó là

lúc mọi ngƣời từ nhà Mai trở về và khi Hƣng về nhà mình. Để tạo sự lên kết giữa các

sự kiện, nhà văn dùng các từ chỉ thời gian nhƣ: “Cho tới một bữa” (tr.46), “vậy là

chiều hôm đó” (tr. 47), “lúc về tôi lại” (tr.49), “trên đường về nhà” (tr.50). Ở chƣơng

18 (Cô Thanh có vấn đề Mĩ Thuật), thời gian trần thuật cũng đƣợc sắp xếp theo trình

tự tuyến tính với các từ chỉ thời gian nhƣ: “từ sau ngày dự thi không đậu” (tr. 91) ,

“rồi một ngày” (tr.92), “một ngày kế đó” (tr. 92), “ngày hôm sau” (tr. 92), “từ đó về

sau” (tr. 95).

Trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, thời gian trần thuật đƣợc bắt đầu từ một “buổi

trưa vắng tanh” Dƣa Leo và chú mèo nằm nói chuyện. Sau đó là cuộc hành trình đi lạc

tới xứ sở Bồ Câu, lạc vào vƣờn trái đỏ, đi gặp những những ngƣời có thể giúp gỡ biển

báo cấm cƣ dân xứ Bìm Bìm. Và kết thúc là một ngày Dƣa Leo cùng chú mèo đến gặp

ông già Râu Đỏ. Hành trình Dƣa Leo bị lạc ở xứ sở Bồ câu đƣợc kể theo thời gian

tuyến tính. Mạch truyện đƣợc tiếp nối nhờ những từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện trong

122

lời ngƣời kể chuyện nhƣ: “lúc qua cổng soát vé” (tr.36), “lúc tàu cặp bến” (tr.38), “lúc

hành khách xuống tàu” (tr.38), khi “rời tàu và đặt chân lên đất Bồ Câu” (tr.39), “đêm

nay” (tr.43), “tối thật rồi” (tr.60), “ngày rời khỏi ngôi nhà ông cụ Râu Đỏ” (tr.82).

Truyện Bí mật theo cô đƣợc bắt đầu từ một đêm Nhã nằm chiêm bao rồi tè dầm.

Sáng đi học nó lo lắng bị mọi ngƣời phát hiện mình đã tè dầm. Đến lớp học nó lúng

túng không tập trung học và không thể hoàn thành đƣợc bài tập làm văn cô giáo. Chiều

đi học về nó quyết tâm nấu món cánh khổ qua ba nó thích với mong muốn cả nhà sẽ có

một bữa cơm quây quần “Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba” (Võ Diệu

Thanh, 2017, tr.43). Cuối cùng ba bỏ đi uống rƣợu, mâm cơm gia đình nguội lạnh.

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không chỉ thể hiện qua các từ ngữ chỉ thời gian

trong ngày (sáng, chiều, đêm) mà còn biểu hiện qua thời gian cụ thể (giờ): “Một giờ.

Nhã đã không thể kéo mí mắt lên được chút nào. [...] Hai giờ. Nước đã mất tác dụng

với đôi mắt đang cứ chờ nó sơ hở là cụp xuống” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.48). Với

việc dùng từ chỉ thời gian cụ thể “một giờ”, “hai giờ”, tác giả đã giúp cho ngƣời đọc

thấy đƣợc tâm trạng bồn chồn lo lắng của Nhã khi ngủ nhờ nhà cô Chi.

Trong truyện Cáp treo cho những mặt trời, lời kể của nhân vật tôi cũng theo

trình tự thời gian tuyến tính. Các sự kiện xảy ra trong ba ngày liên tiếp đƣợc tác giả kể

lại trong một đoạn văn ngắn gọn: “Ngày đầu tiên về trường, ngày đầu nhận lớp, tôi

thấy nó đánh bạn nó chảy máu mũi. […] Ngày thứ hai tôi nghe nội nó kể nó phạm một

tội tày trời hơn. […] Sáng hôm sau người ta thấy nội nó vừa làm nước mời khách vừa

ngồi quỳ lạy tứ phương, đốt vàng mã đỏ rực trước cổng nhà” (Võ Diệu Thanh, 2017,

tr.48). Trong truyện Khi hai vua về một nhà, các sự kiện đƣợc kể theo trật tự thời gian

tuyến tính. Truyện bắt đầu từ buổi sáng Ngàn vào chùa giúp cô Mai hái rau. Những

ngày sau đó, Ngàn giúp Hà học bài. Hai đứa nhờ vậy mà trở nên thân thiết. Thời gian

sự kiện trong tác phẩm chỉ vỏn vẹn ba ngày ngắn ngủi. Những từ chỉ thời gian đƣợc

tác giả sử dụng trong tác phẩm đó là: “Xế chiều” (tr.14), “sáng” (tr.17), “hôm sau”

(tr.19). Với cách kể chuyện theo thời gian tuyến tính nhƣ vậy, các sự kiện đƣợc kể có

sự liền mạch. Nhờ đó, độc giả dễ nắm bắt nội dung tác phẩm hơn.

Khảo sát thời gian trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh, chúng tôi nhận thấy thời gian sinh hoạt giờ ra chơi có số lần xuất hiện rất

nhiều. Trong Chúng mình bay đầy trời, “giờ ra chơi” đƣợc tác giả nhắc đến 9 lần (ở

các trang: 5, 68, 69, 73, 79, 84, 85, 91, 92). Trong Siêu nhân cua, thời điểm giờ ra chơi

123

cũng đƣợc tác giả nhiều lần nhắc tới (ở các trang 5, 68, 69, 73). Những trò nghịch

ngợm của các cô cậu học trò tiểu học hầu hết diễn ra trong giờ ra chơi. Hƣng trêu chọc

Nam vào giờ ra chơi, Hào bắt nạt các bạn trong lớp cũng trong giờ ra chơi: “Giờ ra

chơi nó cầm cây roi đứng giữa lớp” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69). Có thể nói, giờ ra

chơi là khoảng thời gian mà bất kì học sinh nào cũng chờ đợi. Điều này cũng đƣợc

Nguyễn Nhật Ánh nhắc đến trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Nhân vật Cu Mùi

trong tác phẩm này khẳng định: “Tôi chỉ thích mỗi giờ ra chơi. […] Ra chơi có nghĩa

là được tháo cũi sổ lồng” (Nguyễn Nhật Ánh, 2008, tr.18). Thời gian nghệ thuật đó

tạo bối cảnh cho nhân vật xuất hiện. Qua đó, phẩm chất, tính cách của các nhân vật trẻ

em dần đƣợc bộc lộ.

Cùng với đó, thời gian buổi trƣa cũng là khoảng thời gian nghệ thuật xuất hiện

nhiều trong các truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh. Trong Siêu nhân cua,

thời gian buổi trƣa gắn liền với nỗi ám ảnh bị cua kẹp của nhỏ Mai: “Nó còn kể cái

bữa trưa đó bên sân có con gà trống đứng mổ cái áo [...] Mai nói rõ ràng là bữa trưa

nhỏ Mai bị cua kẹp cón con gà trống đứng mổ cái áo và con mèo đứng bên cửa chòi

ngủ chỉ một mắt” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.52). Trong Chúng mình bay đầy trời, thời

gian buổi trƣa là lúc Hƣng, Nam, Mai, Quý mày mò, thử nghiệm những ý tƣởng của

mình “Trưa hôm sau, mọi thứ mới bắt đầu.” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21, 22). Trong

Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, thời gian buổi trƣa là lúc Dƣa Leo đi chơi cùng chú mèo và

bị lạc “Chợt một ngày nào đó trong một ngôi nhà vắng tanh giữa buổi trưa vắng

tanh” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.5). thời gian buổi trƣa vắng là thời điểm những đứa trẻ

thƣờng hay đi chơi rất dễ bị lạc.

3.4.2.2. Thời gian đảo tuyến

Bên cạnh kiểu thời gian trần thuật tuyến tính, trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh còn có thời gian trần thuật có sự đảo ngƣợc. Thời gian trần thuật

đảo ngƣợc là thời gian có sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ trong lời kể chuyện. Sự

đảo ngƣợc trật tự các sự kiện đƣợc kể trong tác phẩm gắn với sự hồi tƣởng của nhân

vật. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong Siêu nhân cua, Tiền của thần cây, Thả diều.

Thời gian trần thuật đảo ngƣợc thể hiện rõ ở việc tác giả sử dụng kết hợp các

trạng từ chỉ thời gian hiện tại, quá khứ và tƣơng lai. Trong Siêu nhân cua, sự đảo lộn

giữa thời gian hiện tại và quá khứ đƣợc thể hiện rõ. Thống kê các trạng từ chỉ thời gian

trong tác phẩm này, chúng tôi thấy có 5 lần tác giả nhắc đến thời gian hiện tạ (vừa lúc

124

đó (trang 6), lúc (trang 13), bây giờ (trang 75, 80 ), giờ (trang 85)) và có 22 lần nhắc

đến thời gian quá khứ (một buổi ra chơi nọ (trang 5), một bữa (trang 19, 79), cho tới

một bữa (trang 46), cho tới một ngày (trang 71), một bữa nọ (trang 25), bữa đó

(trang18, 71), tới hôm (trang 23), hồi nãy (trang 25), hồi nhỏ xíu (48), hồi còn nhỏ

(trang 48), có lần (trang 33), từ đó (trang 34), bữa (trang 35), sáng đó (trang 61), hồi

nãy (trang 69), hôm qua (trang 78), trước đó (trang 80), ngày hôm sau (trang 85), một

ngày kế đó (trang 93), từ đó về sau (trang 94). Bên cạnh đó, nhà văn cũng dùng nhiều

từ chỉ thời gian nhƣ: gần nửa tháng (trang 33), cả tháng nay (trang 75), ba mươi giây

(trang 89), mỗi giờ học vẽ (trang 38), ngày con Mai được lãnh phần thưởng bự (trang

84), từ sau ngày dự thi không đậu (trang 91).

Tiền của thần cây đƣợc mở đầu bằng việc Bòn Bon đang trò chuyện cùng con

chó cƣng của mình. Tiếp đó là lời kể của ông nội Bòn Bon về cây bằng lăng cổ thụ:

“Bốn mươi năm trước cái bọng bằng lăng đã lớn như vầy”. [...] Bốn mươi năm trước

vùng này vắng tanh” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53). Kết thúc tác phẩm là việc Bòn

Bon và chú chó cƣng cùng nhau chơi đùa vui vẻ. Trong truyện dài này, lời kể của tác

giả, lời kể của các nhân vật đan lồng vào nhau. Lời của ông nội về cây bằng lăng cổ

thụ, về chú chó cƣng, về Bòn Bon lồng trong lời kể của Bòn Bon về chú chó, về những

lần cùng Vĩ đi tắm mƣơng, về việc nhặt đƣợc tiền trong hốc cây bằng lăng. Trình tự

thời gian có sự đảo lộn, đan xen giữa hiện tại và quá khứ “Có lần hai đứa nó đã đi

vòng quanh bụi tre hơn một trăm bận để tìm cái máy Bòn Bon phóng vào đó. […] Lần

tắm sông này Bòn Bon cũng bàn bạc với Ban Đêm rất kỹ” (Võ Diệu Thanh, 2016c,

tr.14). Sự đảo ngƣợc thời gian trần thuật đƣợc thể hiện rõ qua các trạng từ chỉ thời gian

trong hiện tại, quá khứ và cả tƣơng lai. Khảo sát các trạng từ chỉ thời gian trong truyện

Tiền của thần cây, chúng tôi nhận thấy các trạng từ chỉ quá khứ xuất hiện nhiều nhất

(30 lần), sau đó là các trạng từ chỉ hiện tại (19 lần), các trạng từ chỉ tƣơng lai ít xuất

hiện (7 lần). Các trạng từ chỉ thời gian hiện tại trong tác phẩm gồm: tới bây giờ, bây

giờ (các trang 38, 106, 113, trang 38), ngay bây giờ (trang 83), ngay lúc đó (các trang

78, 112), đang (các trang 8, 32, 101), khi (trang 44), lần này (các trang 88, 93), trong

lúc (các trang 91, 113), lúc (trang 96), dạo này (trang 97), hôm nay (trang 97), giờ

(trang 106). Các trạng từ chỉ thời gian quá khứ trong tác phẩm gồm: khi đó, hôm đó

(trang 77), một ngày, từ đó, có lần (trang 14, 41, 96), một lần (49), lần này, trước đây,

hôm qua (trang 114), lúc đó (các trang 14, 23, 26, 77, 80), hôm sau (trang 23), hổm rày

125

(53), hồi (các trang 86, 101), hồi nãy (trang 80), hồi khuya (trang 88), mỗi lần (trang

83, 88), suốt ngày đó (trang 82), đêm đó (trang 87), sáng ra (trang 87), hồi tối (trang

88, 113), có một thời (trang 94). Các trạng từ chỉ thời gian tƣơng lai trong tác phẩm

gồm: lớn lên (trang 76), bốn mươi năm sau (trang 96), vài năm nữa (trang 97), khi lớn

(trang 98), sáng mai (trang 111), mười lăm năm sau (trang 115), khi làm người lớn

(trang 115), vài hôm sau đó (trang 35), hồi sáng (53). Bên cạnh đó, nhà văn cũng dùng

nhiều từ chỉ thời gian nhƣ: sáng (trang 51), sáng chủ nhật (trang 112). Cách đếm thời

gian cũng đƣợc tác giả sử dụng để làm nỗi bật nỗi buồn của các bạn trong lớp khi Nam

không đến lớp học “ba ngày trôi qua” (trang 63).

Thả diều cũng bắt đầu bằng thời điểm hiện tại. Đó là một buổi chiều . Những kỉ

niệm trong quá khứ ùa về. Kí ức đau buồn vì mất đi đứa em bé bỏng, xinh xắn, dễ

thƣơng chợt hiện ra khi cu Lý nhìn theo những con diều: “Buổi chiều ngồi nhìn những

đứa trẻ trong khi dân cư thả diều ở bãi đất trồng, Cu Lý nhớ về đứa em gái của mình

bị đuối nước khi thả diều. “Nó nhìn trân trân vào con diều đẹp ... Ừ hồi đó bé Châu

cũng mê diều đẹp” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.24). Sau đó quay trở về thực tại cu Lý

nhìn con diều đang bay không kìm đƣợc cảm xúc nó vung tay xé con diều: “Giờ thì

mắt cu Lý nhìn chằm chằm vào con Điêu Thuyền. Rồi nó vung tay bức xé con diều”

(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.32). Kết thức tác phẩm là hình ảnh cu Lý trong hiện tại đã

vui vẻ trở lại sau những ngày tháng tâm hồn chịu thƣơng tổn nặng nề: “Giờ cu Lý cũng

không biết phải làm gì. Ngoài mấy lúc đi học nó hay lân la lại gần mấy đứa trẻ để chơi

với mấy đứa nhỏ” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36). Cái kết đó cũng hé mở tƣơng lai của

nhân vật bƣớc qua mặc cảm, mở lòng với mọi ngƣời.

Tìm hiểu thời gian trần thuật đảo ngƣợc trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy thời gian quá khứ đƣợc kể nhiều hơn cả. Sự đan xen

giữa thời gian hiện tại, quá khứ và tƣơng lai trong lời kể giúp nhân vật có cái nhìn soi

chiếu nhiều chiều từ đó hƣớng đến việc hoàn thiện nhân cách.

3.4.2.3. Thời gian tâm trạng Kí ức của mỗi ngƣời luôn gắn liền với những năm tháng tuổi thơ. Hồi tƣởng lại

những năm tháng tƣơi đẹp đó, chúng ta nhƣ đƣợc trở về với chính mình, sống lại

những kỉ niệm ngọt ngào của những năm tháng hồn nhiên, vô tƣ. Đọc truyện viết cho

thiếu nhi, chúng ta sẽ tìm thấy điều đó. Trong các truyện viết cho thiếu nhi đƣơng đại,

nhiều nhà văn đã sử dụng thủ pháp dòng ý thức để khắc họa hình tƣợng nhân vật trẻ

126

em. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn

Nhật Ánh. Thủ pháp này cũng đƣợc Võ Diệu Thanh sử dụng trong nhiều truyện viết

cho thiếu nhi của mình. Tiêu biểu hơn cả là Lần đầu thấy trăng và Quà tặng của ngày

mai.

Để làm bật lên những thay đổi trong suy nghĩ, nhận thức của nhân vật, Võ Diệu

Thanh đã sử dụng thủ pháp dòng ý thức. Thời gian trần thuật trong truyện gắn với sự

hồi tƣởng của nhân vật về quá khứ. Trong Lần đầu thấy trăng, Dẫu từ sau đêm trăng

gặp chàng trai tên Nhiều đã tỉnh ngộ sau những năm tháng trƣợt dài sa ngã. Hồi tƣởng

về quá khứ, Dẫu không khỏi không xót xa, tiếc nuối. Theo dòng hồi tƣởng của nhân

vật, những kỉ niệm về những năm tháng là học sinh của Trƣờng tiểu học Dƣơng Đôi

sống lại. Trong kí ức của Dẫu, ngày đầu đến trƣờng, đặc biệt là hơn hai năm học cùng

lớp với Dị và Hậu hằn in, sâu đậm nhất. Dòng hồi tƣởng với nhịp điệu chậm rãi đã tạo

nên sự sâu lắng trong lời kể của nhân vật “Giờ nhớ lại thấy tướng mình lúc đó giống đi

ăn xin hơn là đi học” (Võ Diệu Thanh, 2014, tr.18). Qua đó, ta thấy đƣợc sự ngậm

ngùi, thƣơng xót của nhà văn trƣớc những thiệt thời, bất hạnh của trẻ em.

Trong truyện Quà tặng của ngày mai các sự kiện hiện lên theo dòng hồi tƣởng

của nhân vật tôi – Chùa – một cậu bé tám tuổi có biệt tài đánh đàn sến. Trƣớc hết,

Chùa nhớ lại những năm tháng sống cùng ba mẹ. Đó là những năm tháng Chùa còn là

một cậu bé quậy phá, nghịch ngợm. Theo dòng hồi tƣởng của nhân vật, những kỉ niệm

năm Chùa lên hai, lên bốn, lên năm dần hiện ra. Cậu bé nhớ về lần gặp cô Sáu năm hai

tuổi: “Hồi hai tuổi, tôi nhớ có lần cô Sáu lên nhà ba mẹ tôi chơi, không biết tôi phá

phấy gì đó mà cô Sáu bẻ nhánh trứng cá quất tôi một roi. Vậy là sau đó hai năm, khi

gặp cô Sáu, tôi chui xuống gầm giường trốn chớ nhất định không ra chào hỏi” (Võ

Diệu Thanh, 2021, tr.23). Tiếp đó ló là kỉ niệm năm Chùa lên năm tuổi. Lần quậy phá

bị bà ngoại dọa chúi đầu vào lửa vẫn hằn in trong tâm trí cậu bé: “Lúc đó tôi mới bốn

năm tuổi mà. Sự nhớ nó không được liền lạc. Tôi có nhớ bà ngoại chịu hết nổi những

cơn khóc dầm của tôi rồi, bà ngoại nhiều khi tức quá bồng tôi lại cái bếp lửa lớn

người ta đang nấu bánh gì đó chúi đầu tôi vào đó” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.23). Nhớ

về những năm tháng sống cùng ba má, Chùa không thể quên đƣợc những lần mê chơi

bị ba đánh đòn:“Có lần đang rửa, còn hai cái nồi nhưng tôi nghiền game quá chộp

ngay tiền đi chơi mà không rửa cho hết. Lần đó ba cầm cây roi là sợi dây cao su bằng

ngón tay đánh tôi” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.29). Việc hồi tƣởng lại giúp Chùa nhận

127

ra những tật xấu lúc nhỏ: vô lễ, quậy phá, mê chơi. Từ đó, Chùa hiểu hơn về ý nghĩa

của những điều mà ông Sáu dạy bảo.

Theo dòng hồi tƣởng của Chùa, quá trình “lột xác” của ba chị em (chị Hai,

Chùa, Út Tiền) hiện lên chân thực. Những trạng từ chỉ thời gian quá khứ đƣợc tác giả

nhiều lần sử dụng nhƣ: hồi, khi đó, lúc đó. Đặc biệt trạng từ “những ngày” đƣợc tác

giả nhiều lần sử dụng: Những ngày mới làm quen đàn ca tài tử, ông Sáu dạy tôi hát bài

Ngũ điểm bài tạ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.40), “Những ngày tháng ngủ chung với

ông Sáu, tôi hay kể chuyện hồi còn ở với ba má” (Võ Diệu Thanh, 2021,

tr.70),“Những ngày ở với mẹ, chúng tôi được tự do nên rất khoái dẫu bị đòn, dẫu bị

hết thảy mọi người ghét bỏ” (Võ Diệu Thanh, 2021, tr.114). Khảo sát thời gian tâm

trạng theo dòng hồi tƣởng của nhân vật Chùa, chúng tôi nhận thấy dòng hồi tƣởng của

nhân vật trải dài từ lúc hai tuổi đến lúc lên mƣời. Trong dòng hồi tƣởng ấy, những kỉ

niệm khi sống cùng với má, và những ngày tháng mới về sống cùng ông Sáu đƣợc ông

Sáu dạy đàn đƣợc nhân vật nhiều lần nhắc đến. Với việc sử dụng kết hợp kỹ thuật dồn

nén thời gian kết hợp kéo căng thời gian, tác giả đã tạo nên nhịp điệu kể chuyện linh

hoạt cho tác phẩm.

Tìm hiểu thời gian trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh

chúng tôi nhận thấy thời gian sự kiện trong các truyện rất khác nhau. Có truyện kể về

sự kiện diễn ra trong thời gian ngắn (một tháng – Siêu nhân cua), có truyện kể về sự

kiện diễn ra trong thời gian rất dài (gần hai mƣơi năm – Lần đầu thấy trăng). Thời

gian sự kiện trong Lần đầu thấy trăng là gần hai mƣơi năm (từ lúc Dẫu, Hậu còn là

những cô bé tiểu học (Dẫu 8 tuổi, Hậu 6 tuổi) đến khi đã khôn lớn trƣởng thành (Hậu

tốt nghiệp đại học và đã đi dạy nhiều năm). Thời gian sự kiện trong Siêu nhân cua có

độ dài là “một tháng nay” thì thời gian sự kiện trong Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm có độ

dài gần một năm (từ lúc Dƣa Leo đi lạc (năm lớp Tám) đến lúc trở lại thăm cụ Râu Đỏ

(năm lớp Chín)). Thời gian sự kiện trong Quà tặng của ngày mai có độ dài khoảng tám

năm (từ lúc Chùa 2 tuổi đến lúc Chùa 10 tuổi). Có thể nói, cùng với không gian nghệ

thuật, thời gian nghệ thuật đã góp phần tạo bối cảnh phù hợp để nhân vật trẻ em xuất

hiện.

* Tiểu kết chƣơng 3

Để xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em, Võ Diệu Thanh đã tập trung khắc họa

tính cách nhân vật thông qua ngoại hình, hành động, diễn biến tâm lí. Thế giới nhân

128

vật trẻ em hiện lên qua ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật, không gian và thời

gian nghệ thuật thật độc đáo. Đặc biệt, với việc linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ

nghệ thuật: ngôn ngữ tả, ngôn ngữ kể, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại, tác giả

đã làm bật lên đƣợc tính cách, số phận của từng nhân vật. Với ngôn ngữ trần thuật mộc

mạc, giản dị, đậm chất họa, chất nhạc, ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ, với vốn từ

ngữ phong phú, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh góp phần giúp trẻ em

phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ, biết cách diễn đạt, biết cách sử dụng ngôn ngữ

phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đối tƣợng giao tiếp. Qua giọng điệu trần thuật linh

hoạt khi hồn nhiên, trong trẻo, lúc cảm thông, thƣơng xót, khi chế giễu, mỉa mai, lúc

suy tƣ, triết lí, hình tƣợng nhân vật trẻ em hiện lên chân thực, sinh động. Đồng thời

qua giọng điệu trần thuật này, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tình cảm yêu thƣơng của nhà

văn đối với trẻ em. Phải là ngƣời yêu trẻ, hiểu trẻ mới có thể viết về trẻ em chân thật

và cảm động đến vậy.

Xây dựng hình tƣợng nhân vật trẻ em qua không gian nghệ thuật (trƣờng học,

gia đình, sông nƣớc) nhà văn khẳng định môi trƣờng sống đóng vai trò rất quan trọng

đối với sự hình thành và phát triểm nhân cách của trẻ. Vì thế, thầy cô và các bậc phụ

huynh hãy tạo dựng cho học trò và con em của mình một môi trƣờng lành mạnh, an

toàn để trẻ đƣợc phát triển cả về thể chất và tinh thần một cách tốt nhất.

129

KẾT LUẬN

Từ việc tiếp cận và triển khai đề tài Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh trên cả bình diện nội dung và hình thức, chúng tôi đi đến những

kết luận sau:

1. Nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh hiện lên với

hoàn cảnh, tính cách, số phận riêng. Đó là những đứa trẻ hồn nhiên, trong sáng; những

đứa trẻ bất hạnh là nạn nhân của bạo lực gia đình và bệnh thành tích trong giáo dục;

những đứa trẻ nhân hậu, giàu tình yêu thƣơng; những đứa trẻ với khả năng đặc biệt,

thông minh, ham học hỏi, có tài năng thiên bẩm và có khả năng lạ thƣờng.

Qua việc tìm hiểu hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của

Võ Diệu Thanh, chúng tôi nhận thấy những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về

con ngƣời của tác giả. Đặt hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi

của Võ Diệu Thanh trong mối liên hệ với cuộc đời tác giả, đối sánh với những truyện

viết cho thiếu nhi của các nhà văn trƣớc đó và cùng thời, chúng tôi nhận thấy những

nét độc đáo của hình tƣợng này và những đặc sắc của nhà văn trong cách xây dựng

hình tƣợng nhân vật. Việc nhà văn tiểu thuyết hóa nhân vật có thật ngoài đời (cậu bé

Khánh Hƣng – thần đồng đàn sến) đã đem đến làn gió mới cho văn học thiếu nhi. Hình

tƣợng nhân vật trẻ em vì thế trở nên gần gũi hơn với độc giả. Những tác phẩm viết về

thiếu nhi của Võ Diệu Thanh chứa đựng giá trị giáo dục sâu sắc. Những bài học về

việc giáo dục nhân cách và giáo dục kỹ năng sống đƣợc rút ra từ nhân vật trẻ em –

ngƣời thật, việc thật, có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp mọi ngƣời nhận ra vai trò quan

trọng của giáo dục và tự giáo dục.

Giữa rất nhiều các tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng trƣớc đó và cùng thời nhƣ:

Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Quê Nội của Võ Quảng, Đất rừng phương Nam của

Đoàn Giỏi, Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán,

Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc

Thuần, những truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh vẫn có đƣợc một vị trí

riêng trong lòng độc giả. Có thể nói, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh đã

góp phần làm phong phú diện mạo văn học thiếu nhi ở Nam Bộ nói riêng và văn học

thiếu nhi Việt Nam nói chung. Điều làm nên sự khác biệt của Võ Diệu Thanh với các

tác giả khác đó là cái nhìn lạc quan, vị tha của một trái tim giàu lòng trắc ẩn. Viết về

tiêu cực của giáo dục, viết về những con ngƣời bất hạnh, viết về cái ác, cái xấu nhƣng

130

đọng lại là sự bao dung, nhân hậu. Vì thế văn của chị có cái dƣ âm của tình ngƣời, tình

đời lấp lánh niềm tin, niềm lạc quan vào tƣơng lai.

2. Nhà thơ Hữu Thỉnh từng khẳng định: “Đoàn Giỏi là một ví dụ đẹp đẽ cho câu

nói: Ai yêu tuổi thơ, người đó có được cả một thế giới” (Đức Triết, 2015). Lời nhận

định đó cũng thật đúng với nhà văn Võ Diệu Thanh. Có thể nói, nữ văn sĩ đã “có đƣợc

cả một thế giới” khi viết về trẻ em bằng sự từng trải, thấu hiểu của một ngƣời mẹ, của

một cô giáo yêu trẻ tha thiết. Với ngôn ngữ trần thuật giản dị, đậm chất họa, chất nhạc,

qua giọng điệu trần thuật linh hoạt, xây dựng không gian nghệ thuật, thời gian nghệ

thật phù hợp cho sự xuất hiện của nhân vật, truyện viết cho thiếu nhi của chị đã chạm

đến trái tim của hàng triệu độc giả. Truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn này đƣợc

độc giả yêu thích viết bài cảm nhận tham gia cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc (Tiền của

thần cây). Đặc biệt các truyện tranh in khổ lớn của chị có nội dung gần gũi với trẻ em,

ngôn từ giản gị, hình ảnh minh họa đẹp mắt có sức hút lớn đối với độc giả, nhất là

những độc giả nhỏ tuổi. Các truyện Bí mật bên khóm hoa quỳnh, Chú ong bé bỏng,

Khu vườn trong mơ đƣợc nhiều độc giả yêu thích dịch sang tiếng Anh, làm thơ, sáng

tác nhạc, diễn kịch (xem phụ lục 12, 13, 14, 15, 16).

Trong thời đại 4.0 khi công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nhƣ ngày nay, trẻ

em có nhiều thuận lợi để học tập, vui chơi, giải trí, kết nối với mọi ngƣời trên toàn thế

giới. Tuy nhiên, trẻ em cũng đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn do mạng xã hội, game

online, những mối nguy hiểm do giao thông, thiên tai và những tình huống bất ngờ

trong cuộc sống. Do đó, trong việc giáo dục trẻ em hôm nay, bên cạnh việc giáo dục

nhân cách, việc giáo dục những kỹ năng sống cho trẻ là rất cần thiết. Đọc truyện viết

cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh, độc giả - nhất là độc giả nhỏ tuổi nhƣ tìm thấy chính

mình, tự nhận thức lại bản thân, rèn luyện và bồi đắp tâm hồn để hoàn thiện nhân cách

và có những kỹ năng sống cần thiết trong thời đại công nghệ 4.0. Qua những trang viết

dành cho thiếu nhi của mình, Võ Diệu Thanh đã đặt ra vấn đề về phƣơng pháp giáo

dục trẻ em. Chị đặc biệt nhấn mạnh trong việc giáo dục trẻ em, cần hƣớng đến việc

phát huy khả năng sáng tạo, khơi dậy tài năng tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ. Để làm đƣợc

điều đó, thầy cô, cha mẹ phải là những tấm gƣơng sáng, phải là ngƣời bạn đồng hành

cùng với trẻ.

Sắp tới trong năm 2022, Võ Diệu Thanh sẽ cho ra mắt độc giả ba truyện tranh: Đến

chơi nhà Ông Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá và Vua bắt trộm. Do đó, trong tƣơng lai,

131

việc tiếp cập hình tƣợng nhân vật trẻ em trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu

Thanh có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu. Mặt khác, nhân vật trẻ em không chỉ có

trong truyện viết cho thiếu nhi mà còn xuất hiện trong các sáng tác cho ngƣời lớn. Vì

vậy, để việc nghiên cứu mang lại hiệu quả cao hơn, ngƣời nghiên cứu cần mở rộng

liên hệ so sánh, đối chiếu. Hơn thế nữa, ngƣời nghiên cứu cũng cần có khả năng phân

tích, thống kê và vốn hiểu biết phong phú về nhân vật trẻ em trong văn học mới có thế

đƣa ra những nhận định khái quát, khách quan và có căn cứ.

3. Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi xin đƣa ra một số kiến nghị nhƣ

sau:

Thứ nhất, cần thừa nhận tính khả thi của việc nghiên cứu hình tƣợng nhân vật trẻ

em dƣới góc nhìn thi pháp học qua việc phân tích nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu,

không gian và thời gian nghệ thuật của các tác phẩm.

Thứ hai, trong xã hội có nhiều biến động nhƣ ngày nay, việc giáo dục nhân cách và

giáo dục những kỹ năng sống cho trẻ em là rất cần thiết. Vì vậy, khi nghiên cứu nhân

vật trẻ em cần chú ý đến những vấn đề liên quan nhƣ: quyền và nghĩa vụ của trẻ em,

phƣơng pháp giáo dục trẻ em, những bài học về việc giáo dục trẻ em… Để vấn đề

nghiên cứu sâu sắc hơn cần sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu

nhân vật trẻ em dƣới góc nhìn tâm lí học, xã hội học, văn hóa học.

Thứ ba, truyện viết cho thiếu nhi của Võ Diệu Thanh có nội dung dễ hiểu, ngôn từ

giản dị, trong sáng chứa đựng nhiều bài học nhân văn sâu sắc. Do đó, các truyện viết

cho thiếu nhi của chị cần đƣợc lựa chọn để giảng dạy trong nhà trƣờng. Các truyện

tranh in khổ lớn của chị cần đƣợc dùng trong việc giáo dục trẻ mầm non để giúp trẻ

phát huy khả năng sáng tạo, mở rộng vốn từ và bồi dƣỡng tâm hồn cho trẻ em. Việc

đƣa các tác phẩm Siêu nhân cua, Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm, Chúng mình bay đầy trời,

Tiền của thần cây, Quà tặng của ngày mai vào giảng dạy trong các giờ ngoại khóa ở

các trƣờng tiểu học để tích hợp giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

là rất cần thiết. Hƣớng nghiên cứu khả năng ứng dụng truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh vào trong chƣơng trình giảng dạy Ngữ văn theo định hƣớng phát triển

năng lực cũng là một hƣớng đi giàu tiềm năng.

132

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1. Tăng Thị Hƣơng – Lê Thị Hòa – Lê Thị Nga. (2021). “Văn học thiếu nhi với việc

giáo dục trẻ em hôm nay (trường hợp sáng tác của Võ Diệu Thanh và Văn Thành

Lê)”. Tạp chí Khoa học Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 18, số

10 (2021), tr.1867 – 1878.

2. Lê Thị Hòa. (2021). “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Lần đầu thấy trăng của

Võ Diệu Thanh”. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế Văn hóa và Giáo dục lần thứ II

(ICCE - 2021). Đại học Sƣ phạm Huế, tr.697 – 710.

3. Lê Thị Hòa. (2021). “Nhân vật trẻ em trong Đám cưới cỏ của Quế Hương với

Những cậu bé mặt trời của Võ Diệu Thanh – một cái nhìn so sánh”. Kỷ yếu Ngày hội

Khoa học giảng viên và học viên sau đại học lần thứ V – 2021. Đại học Thủ Dầu Một.

tr.2212 - 2223.

4. Lê Thị Hòa. (2022). “Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong một số truyện viết cho thiếu

nhi của Võ Diệu Thanh”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học viên sau đại

học lần thứ VI – 2022. Đại học Thủ Dầu Một, tr.495 – 507.

5. Lê Thị Hòa. (2022). “Tính đối thoại trong một số truyện viết cho thiếu nhi của Võ

Diệu Thanh”. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học giảng viên và học viên sau đại học lần thứ

VI – 2022. Đại học Thủ Dầu Một, tr.508 – 520.

133

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tác phẩm đƣợc khảo sát trong luận văn

1. Võ Diệu Thanh. (2014). Lần đầu thấy trăng. Hà Nội: Nxb Phụ nữ.

2.Võ Diệu Thanh. (2015). Siêu nhân cua. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

3. Võ Diệu Thanh. (2016 a). Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb

Văn hóa – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

4. Võ Diệu Thanh. (2016 b). Chúng mình bay đầy trời. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

5. Võ Diệu Thanh. (2016 c). Tiền của thần cây. Hà Nội: Nxb Phụ nữ.

6. Võ Diệu Thanh. (2017). Những cậu bé mặt trời. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

7. Võ Diệu Thanh. (2020 a). Bí mật bên khóm hoa quỳnh. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

8. Võ Diệu Thanh. (2020 b). Chú ong bé bỏng. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

9. Võ Diệu Thanh. (2020 c). Khu vườn trong mơ. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

10. Võ Diệu Thanh. (2021). Quà tặng của ngày mai. Quảng Nam: Nxb Đà Nẵng.

II. Tài liệu in

11. Bùi Thanh Truyền. (chủ biên). (2009). Thi pháp trong văn học thiếu nhi. Hà Nội:

Nxb Giáo dục Việt Nam.

12. Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm. (2010). Nhân vật trẻ em trong truyện

ngắn cho thiếu nhi thời Đổi mới. Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 2.

13. Bùi Thanh Truyền. (2012). Giáo trình Văn học 1 (Lí luận văn học và Văn học thiếu

nhi. Thừa Thiên Huế: Nxb Đại học Huế.

14. Bùi Thanh Truyền. (2016).Văn học thiếu nhi sau 1986 từ cái nhìn toàn cảnh. Tạp

chí Nghiên cứu văn học, Số 9.

15. Bùi Thanh Truyền. (2019). Văn học thiếu nhi. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Đại

học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh.

16. Đậu Văn Vinh. (2020). Văn xuôi Võ Diệu Thanh từ góc nhìn văn hóa. Luận văn

thạc sĩ, Trƣờng Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

17. Đinh Thị Thu Huyền. (2016). Nhân vật trẻ thơ trong sáng tác văn xuôi của Trần

Hoài Dương. Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại

học Quốc gia Hà Nội.

18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (1992). Từ điển thuật ngữ văn học.

Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Giáo dục.

134

19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (1997). Từ điển văn học. Hà Nội:

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

20. Nhiều tác giả. (1996). Văn học cho thiếu nhi (sau Cách mạng tháng Tám). Hà Nội:

Nxb Văn học.

21. Nhiều tác giả. (2001). Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng

Tám. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Giáo dục.

22. Nhiều tác giả. (2022). Nhà văn nói về nghề. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Văn

học.

23. Nguyễn Nhật Ánh. (1995). Kính vạn hoa. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

24. Nguyễn Nhật Ánh. (2008). Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Thành phố Hồ Chí Minh:

Nxb Trẻ.

25. Nguyễn Nhật Ánh. (2010). Đảo mộng mơ. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.

26. Nguyễn Văn Dân. (2004). Các phương pháp nghiên cứu văn học. Hà Nội: Nxb

Khoa học xã hội.

27. Nguyễn Thái Hòa. (2000). Những vấn đề thi pháp của truyện. Thành phố Hồ Chí

Minh: Nxb Giáo dục.

28. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng. (2016). Nhân vật trẻ em trong văn xuôi thiếu nhi Việt

Nam. Hà Nội: Luận án tiến sĩ.

29. Nguyễn Thị Mộng Thơ. (2011). Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng tác của

Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám 1945. Luận văn thạc

sĩ Trƣờng đại học Đà Nẵng.

30. Nguyễn Ngọc Thuần. (2004). Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Thành phố Hồ Chí

Minh: Nxb Trẻ.

31. Nguyễn Thị Đài Trang. (2013). Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn Nhật Ánh.

Luận văn thạc sĩ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.

32. Lã Thị Bắc Lý. (2000). Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975. Hà Nội: Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội.

33. Lã Thị Bắc Lý. (2003). Văn học trẻ em. Hà Nội: Nxb Đại học Sƣ phạm.

34. Lã Thị Bắc Lý. (2017). Giáo trình văn học trẻ em. Hà Nội: Nxb Đại học Sƣ phạm.

35. Trần Hoài Dƣơng. (1981). Lá non. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

36. Trần Hoài Dƣơng. (2000). Miền xanh thẳm. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

135

37. Trần Đức Ngôn (chủ biên) – Dƣơng Thu Hƣơng. (1994). Văn học thiếu nhi Việt

Nam. Hà Nội: Đại học Sƣ phạm Hà Nội I.

38. Trần Đình Sử. (1998). Dẫn luận thi pháp học. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất

bản Giáo dục.

39. Trần Đình Sử. (2007). Giáo trình dẫn luận thi pháp học (Sách dùng cho hệ đào tạo

từ xa). Huế.

40. Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử. (2006). Lí luận văn học. Thành phố Hồ Chí Minh:

Nxb Giáo dục.

41. Quế Hƣơng. (2004). Đám cưới cỏ. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

42. Vân Thanh. (1999). Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà Nội: Nxb Khoa học

Xã hội.

43. Vân Thanh, Nguyên An. (2002). Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà

Nội:

Nxb Từ điển bách khoa.

44. Vân Thanh (2003). Văn học thiếu nhi Việt Nam tập 1. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

45. Vân Thanh (sƣu tầm, biên soạn). (2003). Văn học thiếu nhi Việt Nam (Nghiên cứu,

lí luận, phê bình, tiểu luận – tƣ liệu) (2 tập). Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

46. Vân Thanh (biên soạn). (2006). Tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam. Hà Nội: Nxb

Từ điển bách khoa.

47.Vân Thanh. (2019). Văn học thiếu nhi Việt Nam một số vấn đề về tác phẩm và thể

loại, Hà Nội: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

48. Văn Thành Lê. (2019). “Trên đồi, mở mắt, và mơ”. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

49. Văn Thành Lê. (2020). “Bên suối, bịt tai, nghe gió”. Hà Nội: Nxb Kim Đồng.

50. Vi Thị Thỏa. (2018). Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của

Thạc Lam và Rabindranath Tagore. Luận văn thạc sĩ. Trƣờng Đại học Thái Nguyên.

III. Tài liệu trên internet

51. Hồ Thúc An. (12/03/2016). Hành trình đi tìm cái nhìn tích cực trong cộng đồng.

Báo Zingnews.com. Khai thác từ: https://zingnews.vn/hanh-trinh-di-tim-cai-nhin-tich-

cuc-cho-cong-dong-post633261.html./. Ngày truy cập 18/7/2021.

52. Quỳnh Anh. (10.01/2020). Giấc mơ của những đứa bé thiếu tình thương trong

Đám cưới cỏ. Báo Sài Gòn giải phóng. Khai thác từ: https://www.sggp.org.vn/giac-

136

mo-cua-nhung-dua-be-thieu-tinh-thuong-trong-dam-cuoi-co-639599.html. Ngày truy

cập 20/7/2021.

53. Quỳnh Anh. (27/11/2020). Võ Diệu Thanh và một thế giới khác. Báo Hà Nội mới.

Khai thác từ: http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/sach/984576/vo-dieu-thanh-va-mot-

the-gioi-khac. Ngày truy cập 08/7/2021.

54. Đỗ Dƣơng. (19/11/2013). Nhà văn trẻ Võ Diệu Thanh: “Lần đầu thấy trăng” lần

đầu tiểu thuyết. Báo Công an nhân dân. Khai thác từ: https://cand.com.vn/dien-dan-

van-nghe-cong-an/Nha-van-tre-Vo-Dieu-Thanh-Lan-dau-thay-trang-lan-dau-tieu-

thuyet-i332131/. Ngày truy cập 08/7/2021.

55. Lam Điền. (07/9/2020). Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh ra

mắt bản tiếng Nhật. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/cho-toi-xin-mot-ve-

di-tuoi-tho-cua-nguyen-nhat-anh-ra-mat-ban-tieng-nhat-20200907104640752.htm.

Ngày truy cập 15/10/2021.

56. Lam Điền. (07/5/2021). Trần Hoài Dương: viết cho thiếu nhi như một thứ đạo ở

đời. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/tran-hoai-duong-viet-cho-thieu-nhi-

nhu-mot-thu-dao-o-doi-20210507100040743.htm. Ngày truy cập 28/7/2021.

57. Nguyệt Hà. (01/7/2022). Văn học thiếu nhi: Những tín hiệu lạc quan. Báo Công an

nhân dân. Khai thác từ: https://cand.com.vn/doi-song-van-hoa/van-hoc-thieu-nhi-

nhung-tin-hieu-lac-quan-i658861/. Ngày truy cập 8/7/2022.

58. Lê Hoa. (30/4/2015). Văn học thiếu nhi góp phần định hướng nhân cách và phát

triển tâm hồn, trí tuệ cho trẻ. Báo Đại biểu nhân dân. Khai thác từ:

https://daibieunhandan.vn/van-hoc-thieu-nhi-gop-phan-dinh-huong-nhan-cach-va-

phat-trien-tam-hon--tri-tue-cho-tre-347909/. Ngày truy cập 10/7/2021.

59. Khả Linh. (05/03/2016). Nhà văn Võ Diệu Thanh trò chuyện về "thói tật đám

đông". Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/cai-nhuc-de-chiu-nhat-la-nhieu-

nguoi-cung-nhuc-1061956.htm/. Ngày truy cập 10/8/2021.

60. Lê Phƣơng Liên. (25/5/2022). Nguyễn Ngọc Thuần người “mở cửa sổ”. Báo Đại

đoàn kết. Khai thác từ: http://daidoanket.vn/nguyen-ngoc-thuan-nguoi-mo-cua-so-

5686502.html. Ngày truy cập 2/7/2022.

61. Lã Thị Bắc Lý. (2013). Cảm nhận về văn học thiếu nhi Việt Nam đầu thế kỉ XXI.

Báo Tổ quốc. Khai thác từ: https://toquoc.vn/cam-nhan-ve-van-hoc-thieu-nhi-viet-

nam-dau-the-ky-xxi-99118318.htm. Ngày truy cập 28/7/2021.

137

62. Nghiêm Quốc. (05/03/2013). Nhà văn Võ Diệu Thanh. Báo Tuổi trẻ. Khai thác từ:

https://tuoitre.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-535920.htm/. Ngày truy cập 08/7/2021.

63. Tiểu Quyên. (13/11/2019). Võ Diệu Thanh: Viết từ cô đơn đỉnh trời, Báo Văn học

Sài Gòn. Khai thác từ: https://vanhocsaigon.com/vo-dieu-thanh-viet-tu-co-don-dinh-

troi./ Ngày truy cập 08/7/2021.

64. Lý Ngọc. (14/4/2021). Gặp lại các tác giả được đưa vào sách giáo khoa: Nguyễn

Ngọc Thuần – Sức mạnh cảm hóa từ các trang văn. Báo Thể thao Văn hóa. Khai thác

từ: https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/gap-lai-cac-tac-gia-duoc-dua-vao-sach-giao-

khoa-nguyen-ngoc-thuan-suc-manh-cam-hoa-tu-cac-trang-van-

n20210414074015583.htm. Ngày truy cập 20/7/2021.

65. Nguyễn Thị Kim Ngân. (2016). Luật trẻ em. Khai thác từ:

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Luat-tre-em-2016-303313.aspx. Ngày

truy cập 08/7/2021.

66. Thảo Nguyên. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – Người đi tìm tuổi thơ trong những ký

ức bị lãng quên. Sách hay24h. Khai thác từ: (https://sachhay24h.com/nha-van-

nguyen-nhat-anh-nguoi-di-tim-tuoi-tho-trong-nhung-ky-uc-bi-lang-quen-a1238.html.

Ngày truy cập 08/10/2021.

67. Trúc Nguyễn. (2/8/2016). Giao lưu với nhà văn Võ Diệu Thanh và Trần Hùng

John, Báo Văn nghệ. Khai thác từ: http://tuanbaovannghetphcm.vn/giao-luu-voi-nha-

van-vo-dieu-thanh-va-tran-hung-john/. Ngày truy cập 25/10/2021.

68. Công Sơn. (28/6/2020). Nhà văn đa năng Võ Diệu Thanh. Báo Thanh niên. Khai

thác từ: https://thanhnien.vn/nha-van-da-nang-vo-dieu-thanh-post969390.html. Ngày

truy cập 15/8/2021.

69. Trần Quốc Toàn. (30/3/2022). Gặp lại các tác giả được đưa vào sách giáo khoa:

Võ Diệu Thanh – Hiền hòa và dữ dội. Báo Thể thao Văn hóa. Khai thác từ:

https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/gap-lai-cac-tac-gia-duoc-dua-vao-sach-giao-khoa-

vo-dieu-thanh-hien-hoa-va-du-doi-n20220330085527509.htm. Ngày truy cập

2/4/2022.

70. Phạm Tuấn (13/5/2022). Nhà văn Trần Hoài Dương và những tác phẩm tươi đẹp

cho thiếu nhi. Báo Nông nghiệp. Khai thác từ: https://nongnghiep.vn/nha-van-tran-

hoai-duong-va-nhung-tac-pham-tuoi-dep-cho-thieu-nhi-d322907.html. Ngày truy cập

08/7/2022.

138

71. Hoàng Tuyết (06/5/2021). Trần Hoài Dương, cố nhà văn có nhiều tác phẩm dành

cho thiếu nhi. Báo Tin tức. Khai thác từ: https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/tran-

hoai-duong-co-nha-van-co-nhieu-tac-pham-gia-tri-danh-cho-thieu-nhi-

20210506132453775.htm. Ngày truy cập 18/7/2021.

72. Dƣơng Tử Thành. (21/9/2011). Võ Diệu Thanh: Quê, cũ và … quyến rũ. Báo

Vnexpress. Khai thác từ: https://vnexpress.net/vo-dieu-thanh-que-cu-va-quyen-ru-

2135514.html. Ngày truy cập 08/6/2022.

73. Bảo Thoa. (01/10/2020). Các nhà văn nói gì khi viết về đề tài thiếu nhi. Báo Lao

động. Khai thác từ: https://laodongthudo.vn/cac-nha-van-noi-gi-khi-viet-ve-de-tai-

thieu-nhi-113776.html./. Ngày truy cập 08/7/2021.

74. Nguyên Thảo. (2022). Nhà văn Văn Thành Lê: Viết cho thiếu nhi là cách để tôi

được tắm nhiều lần trên dòng sông tuổi thơ. Khai thác từ :

http://baolamdong.vn/vhnt/202205/nha-van-van-thanh-le-viet-cho-thieu-nhi-la-cach-

de-toi-duoc-tam-nhieu-lan-tren-dong-song-tuoi-tho. Ngày truy cập 08/7/2021.

75. Linh Thoại. (07/11/2013). Nhà giáo bị tước quyền làm thầy. Báo Tuổi trẻ. Khai

thác từ: https://tuoitre.vn/nha-giao-bi-tuoc-quyen-lam-thay-578681.htm/. Ngày truy

cập 05/8/2021.

76. Đức Triết. (27/05/2015). Đoàn Giỏi – người có cả “một thế giới”. Báo Tuổi trẻ.

Khai thác từ: https://tuoitre.vn/doan-gioi-nguoi-co-ca-mot-the-gioi-

752652.htm#:~:text=TT%20%2D%20%E2%80%9C%C4%90o%C3%A0n%20Gi%E1

%BB%8Fi%20l%C3%A0%20m%E1%BB%99t,17%2D5%2D2015. Ngày truy cập

15/8/2021.

77. Lam Vy. (2017). Sách thiếu nhi ở Việt Nam - Từ trang sách hồng đến khu rừng

đầy màu sắc. Báo Book connest. Khai thác từ:

https://bookconnectblog.wordpress.com/2017/12/30/sach-thieu-nhi-o-viet-nam-tu-

trang-sach-hong-den-khu-rung-day-mau-sac. Ngày truy cập 08/7/2021.

78. Thành Vinh. (27/5/2021). Nhà văn Văn Thành Lê: Mảnh đất văn học thiếu nhi còn

nhiều chỗ trống. Báo Phụ nữ. Khai thác từ: https://www.phunuonline.com.vn/nha-van-

van-thanh-le-manh-dat-van-hoc-thieu-nhi-con-nhieu-cho-trong-a1435289.html. Ngày

truy cập 09/8/2021.

139

79. Văn Việt. (17/7/2015). Nhà văn Võ Diệu Thanh ra mắt sách cho thiếu nhi. Báo

Tuổi trẻ. Khai thác từ: https://tuoitre.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-ra-mat-sach-cho-thieu-

nhi-778887.htm/. Ngày truy cập 08/9/2021.

80. Đoàn Xá. (30/11/2016). Nhà văn Võ Diệu Thanh tiếp tục viết truyện thiếu nhi. Báo

Đại đoàn kết. Khai thác từ: http://daidoanket.vn/nha-van-vo-dieu-thanh-tiep-tuc-viet-

truyen-thieu-nhi-137851.html./. Ngày truy cập 08/7/2021.

81. Quỳnh Yên. (26/3/2021). Sách “khổng lồ” của nhà văn Võ Diệu Thanh. Báo Sài

Gòn giải phóng. Khai thác từ: https://www.sggp.org.vn/sach-khong-lo-cua-nha-van-

vo-dieu-thanh-721087.html. Ngày truy cập 28/7/2021.

140

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

BẢNG HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Nh n vật trẻ em Stt T n tác phẩm

Số lƣợng

20 1 Lần đầu thấy trăng

9 2 - Siêu nhân cua - Chúng mình bay đầy trời.

T n nh n vật Dẫu, Dị, Hậu, Tụ, Đực, Hà Vi, Tƣờng, Thảo, Hiền, thằng Bảy, Út Dởm, Út Nữa, Út Thiệt, anh Năm, anh Ba, chị Hai, chị Tƣ, Những đứa trẻ không có tên: cái thằng ba bị bệnh gan nằm liệt, mẹ đi vác lá mƣớn suốt ngày; cái thằng ba mẹ nó đi ghe lá bên Lô, nó ở nhà với ông bà ngoại; cái thằng ba mẹ nó đi Bình Dƣơng mỗi năm nó chỉ gặp mẹ nó có một lần vào ngày Tết. Hƣng Mặt Bành, Nam Trán Dồ, Mai Một Mí, Quý, Tú, Hào, thằng Cua, đám bạn của thằng Tú, đám bạn của thằng Hào Dƣa leo, Nhỏ Bự, thằng Đầu Bự 3 3 Bảng đỏ cho xứ Bìm Bìm

6 4 Tiền của thần cây

Bòn Bon, Vĩ, thằng Xuân, Của Cải, bé Hai, tụi bạn của Củ Cải. Tì Ti, Nhóc 2

5 Ngàn, Hà 2 Những cậu bé mặt trời Khi hai vua về một nhà

4 Thả diều

4

Cu Lý, bé Châu, bé Mai, tụi con nít chơi thả diều ở bãi đất trống. Nhã, bé Thi, Thuận, mấy đứa bạn của Thuận Nhân, các bạn trong lớp 3C 2

Chùa, Út Tiền, chị Hai 3 6

Bin, các bạn của Bin

2 7

Bí mật theo cô Cáp treo cho những mặt trời Quà tặng của ngày mai - Bí mật bên khóm hoa quỳnh - Chú ong bé bỏng - Khu vườn trong mơ Tổng 53

p1

PHỤ LỤC 2

BẢNG THỐNG KÊ THỦ PHÁP ĐỊNH DANH NHÂN VẬT

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Cách định STT Tên nhân vật Số lƣợng Tỉ lệ danh

Quý, Châu, Mai, Ngàn, Hà,

Nhân, Thuận, Hiền, Thảo, Tên thật cụ Tƣờng, Hà Vi, Dẫu, Dị, Hậu, 21/53 39,62% 1 thể Tụ, Đực, Thuận, Hào, Tú,

Xuân, Vĩ

Chùa, thằng Cua, Dƣa Leo, Biệt danh 4/53 7,54% 2 Nhỏ Bự

Tên thật Hƣng Mặt Bành, Mai

ghép với Một Mí, Nam Trán Dồ 3/54 5,66% 3

biệt danh

Bin, Củ Cải, Bòn Bon, Tì Ti,

Nhóc, bé Hai, chị Hai, anh Tên thƣờng Ba, chị Tƣ, anh Năm, thằng 16/53 30,18% 4 gọi ở nhà Bảy, Út dởm, Út nữa, Út

thiệt, Út Tiền, Hai

- cái thằng ba bị bệnh gan

nằm liệt, mẹ đi vác lá mƣớn

suốt ngày;

- cái thằng ba mẹ nó đi ghe lá

bên Lô, nó ở nhà với ông bà

Tên phiếm ngoại; 9/53 16,98% 5 định - cái thằng ba mẹ nó đi Bình

Dƣơng mỗi năm nó chỉ gặp

mẹ nó có một lần vào ngày

Tết.

- các bạn của Bin

- các bạn trong lớp 3C

p2

- mấy đứa bạn của Thuận

- tụi con nít chơi thả diều ở

bãi đất trống.

- tụi bạn của Củ Cải.

- đám bạn của thằng Tú.

p2

PHỤ LỤC 3

BẢNG THỐNG KÊ BIỆN PHÁP SO SÁNH

TRONG TRUYỆN SIÊU NHÂN CUA CỦA VÕ DIỆU THANH

Stt Dẫn chứng Trang

5 1 Tôi ngưng ngang đó vì hai mắt Nam nhìn tôi như hai cái đèn

xe hơi.

8 2 Đấy, cô tỉnh queo bước vào và tỉnh queo ngoắt tôi như đại ca

ngoắt đàn em.

9 3 Đôi khi tôi có thề trong bụng cho tới già, tới rụng sạch răng

như ông nội (tôi mới rụng có một cái răng thôi) nhất định

không rớ tới cái trán dồ của Nam.

4 Vì má tôi hay ngồi nhắc hồi đẻ thằng Hưng, tức là tôi, má ăn 17

thấy sợ, tôi sổ sữa mặt bành như tái bưởi, bành tới bầy giờ.

5 Về nhà đêm đó nó sốt, ngủ thấy cái gương mặt có mái tóc rắn 18

và cái miệng của tôi chần dần trước mặt rồi nó bự dần bự

dần như cái nhà.

6 Mai kể tới đó giống như là nó thấy cái càng cua đang quấu 20

vào nó, nghiến chặt vào thịt da nó và máu chảy và nó khóc

thét.

7 Có đau như bị ong chích không, hay có đau như là bị ba quất 20

vào mông?

8 Con ma của thằng Nam thì mặc một bộ đò đen với cái đầu 21

lâu, mấy móng tay là mấy cái vuốt như vuốt con đại bàng.

9 Nhỏ Mai thì nó vẽ cô Thanh ốm như con lươn đang cong 24

cong ẹo ẹo.

10 Hai con mắt như hai trái thanh long, gò má như trái mận và 24

cái miệng có mấy cái răng giống như là cô đang ngậm một

đống sỏi.

11 Cô Thanh cũng xấu nhưng đâu có tệ lậu như cái chậu. 25

12 Trong lúc đau ê ẩm, tôi nămg ngủ rồi chiêm bao thấy cô 25

Thanh trong tranh ra khỏi bức tranh và bay về phía tôi, cái

p3

mặt cô lớn như cái bàn.

13 Và nó vẽ cái răng sún của tôi y như một cái ao. 25

14 Dẫu rằng tôi có sún nhưng ai lại sún răng như một cái ao. 25

15 Với Nam trán dồ thì lúc đầu không biết vẽ nó vẽ cái trán 26

thằng Nam y như cái sân banh.

16 Vậy là nó quay mặt thằng Nam lại vẽ cái trán nhô ra như một 26

cái trứng.

17 Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong chích sưng to 30

bằng ngón giò cái.

18 Cô cứ nhìn như là cô đang coi phim hành động của người dơi 31

hay là siêu nhân vậy.

19 Cô cũng trẻ con giống như thằng Nam, khoái được người ta 33

khen thông minh.

20 Nhỏ Mai thì khác, nó vẽ như múa, rồi nó tô màu cũng như 35

đang hát.

Xấu như ma. 21 37

22 Tôi là một anh hùng như siêu nhân Gao. 50

23 Lời hứa là lời danh dự, mất lời hứa bụng bự như trâu. 57

24 Thầy nói tay chân thầy mạnh như cục sắt. 72

25 Mấy đứa tôi thì đứa nào cũng như cong bún (lẽ nào tụi tôi lại 72

yếu dữ vậy?)

26 Thằng Hào lúc này ngồi buồn hiu như con cua rụng hết càng. 73

27 Con mèo thì nó nặn không rớt đầu cũng sứt đuôi và méo mó 76

như là vừa bị đốt cháy.

28 Nó cười không phải cái vụ lớn lên cưới nhau mà nó cười vụ 78

mặt thằng Nam mếu nhìn cái trán nhăn lại giống ông già

đang khóc.

29 Trong đầu tôi thì đó là một hình ảnh rất quen thuộc, một con 80

khỉ có gương mặt cô Thanh khắp người con khỉ đầy những

sợi lông như lá khô.

30 Nó nổi quạu xô một cái cái tôi quơ bốn cẳng như con rùa lật 84

ngửa.

p3

31 Tôi đứng im như trời trồng. 89

32 Nó vẽ đầy bảng mấy cái bông héo queo, mấy cái cây gãy 91

cành, cả cái trường nó cũng vẽ ngả nghiêng như cái trường

đang say rượu.

33 Một ngày kế đó, Nam lại đem cái tranh vẽ đàn gà như một 92

đống giấy bị vò nát ra nhìn.

p3

PHỤ LỤC 4

BẢNG THỐNG KÊ PHÉP LIÊN KẾT TRONG LỜI NGƢỜI KỂ CHUYỆN

TRONG TRUYỆN SIÊU NHÂN CUA CỦA VÕ DIỆU THANH

Số STT Từ Dẫn chứng trong văn bản lần

1 Bạn nghĩ 1 “Thì bạn nghĩ coi cái mặt (bành) cỡ tôi trốn đường nào 6

coi với cổ” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7).

2.“Nhưng bạn nghĩ coi, một người dính đầy bùn đất sao

mà không hôi được” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7).

3.“Bạn nghĩ coi, cái áo trắng của nó ngày nào cũng lấm

lem đất” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15).

4. “Bạn nghĩ coi, con ong nó nhỏ xíu làm gì có con mắt”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31).

5.“Bạn nghĩ coi, siêu nhân phải làm gì trước một người

đã chết rồi mà vẫn còn ngồi bên cửa khóc hu hu” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.57).

6.“Bạn nghĩ coi, một người chết rồi mà còn ngồi khóc”

Võ Diệu Thanh, 2015, tr.57).

2 Bạn có 1.“Bạn có tin không? Không ai lại bị dơ quần áo chỉ vì 4

gặp con cua. Mà có con cua nào lại hôi mùi phân gà”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15).

2.“Bạn có từng coi khúc phim “dòng sông thương nhớ

không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.67).

3.“Bạn có nghĩ là chúng tôi lại gặp nó không?” Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.51).

4.“Bạn có bao giờ nghĩ trên đời này có con ma nào có

đôi mắt hình hai con cua không?” (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.22).

p4

3 Bạn biết 1.“Bạn biết ai trả lời không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, 3

không tr.58).

2.“Bạn biết không, tôi khóc ri ri với cái vết ong chích

sưng to bằng ngón giò cá” Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30).

3.“Nhưng bạn biết không, nó không phải là một con cua

mà là một thằng có càng” Võ Diệu Thanh, 2015, tr.51).

4 Bạn thấy 1.“Bạn cũng thấy đúng như vậy phải không?” (Võ Diệu 3

Thanh, 2015, tr.95).

2.“Bạn thấy cô Thanh rất là khờ khủng khiếp không” (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.66).

3.“Mà bạn thấy tôi với thằng Nam vẽ giống ma hơn đúng

không?

5 Bạn đừng 1.“Bạn đừng để ý tới cái nhà con cá hay cái tô canh của 2

tôi. Bạn phải để ý con Mai với thằng Nam” (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.77)

2.“Bạn đừng bận tâm tôi nghe câu này ở đâu” Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.57).

6 Nếu bạn 1.“Nếu bạn nhìn thấy nó cười mỗi khi cô Thanh kêu “Một 2

Mí lên cô biểu” thì bạn sẽ lập tức ao ước có được cái

biệt danh Một Mí như nó cho mà coi” (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.17).

2.“Nếu bạn nhìn thấy cô Thanh nhìn tôi thì bạn hiểu” Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.31).

7 Bạn hình 1.“Bạn hình dung đất trời mênh mông mà nó cứ bay 2

dung thẳng ngay mặt tôi” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.30).

2.“Bạn hình dung nó sợ ma nhưng lại dám vẽ con ma”

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18).

p4

PHỤ LỤC 5

BẢNG THỐNG KÊ

CÂU HỎI TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Tên

Dẫn chứng Số lần Stt tác

phẩm

120 1 Siêu

nhân

cua

1. Tôi là ông ngoại trò Nam, Nam có ở đây không cô giáo? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.5) 2. Cô Thanh có cặp mắt xuyên thấu qua tƣờng đấy, bạn tin không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.7) 3. Nhƣng mà sao cô lại ra đây? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.8) 4. Thông minh là gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 5. Sao mà cô Thanh lại lôi từ cái khó này qua cái khó kia vậy cà? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 6. Trán dồ phải hay ho hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.10) 7. Cái gì cƣời, cái gì cƣời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 8. Cái mặt thằng Hƣng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 9. Nó sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12) 10. Nhƣng bạn nghĩ coi, một ngƣời dính đầy bùn đất sao mà không hôi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.13) 11. Con đi học có thay đồ không Mai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 12. Con cua nó làm áo con dơ à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 13. Bạn có tin không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15) 14. Nó nói sao mẹ để con nhỏ bị kiến bu tum lum tội nghiệp con nhỏ quá vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.17) 15. Cô Thanh hỏi các em có thấy con ma ra làm sao không mà sợ? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 16. Ủa mà sao con nhền nhện có càng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 17. Con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 18. Mà sao bạn lại sợ con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18) 19. Sao con cua nó bò lên giƣờng đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.19) 20. Ủa, mà sao bạn ngủ dƣới đất? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 21. Ai cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 22. Má làm gì cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 23. Cua kẹp nó sẽ đau cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 24. Có đau nhƣ bị ong chích không, hay có đau nhƣ là bị ba quất vào mông? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20) 25. Mà bạn thấy tôi với thằng Nam vẽ giống ma hơn đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.22)

p5

26. Bạn có bao giờ nghĩ trên đời này có ma nào có đôi mắt hình hai con cua không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.22) 27. Hồi nãy tôi có kể với bạn về vụ Mai vẽ mặt bành tôi đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.25) 28. Tôi gan hơn nhỏ Mai đúng không bạn? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 29. Hƣng, sao mà e …? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 30. Không ngồi yên đƣợc chút nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.31) 31. Sao con không vẽ? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.33) 32. Cô có thấy ghê gì đâu à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.33) 33. Hƣng có thấy nhƣ vậy không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.34) 34. Cái này là cái nhà hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 35. Chớ bạn không thấy nó giống cái nhà à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 36. Cái nhà này xấu ùi. Phải không Mặt Bành? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 37. Nhƣng bạn nghĩ sao mà cá lại có nhà? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 38. Chớ cá không có nhà thì nó ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 39. Bạn nghĩ coi, nếu bạn không có nhà thì bạn phải ở đâu, ở ngoài sân à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36) 40. Nếu bạn không có nhà bạn sống đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.37) 41. Sao sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.39) 42. Sao cậu vẽ nó không có chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 43. Đang bay mà vẽ có chân sao đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 44. Bạn méc cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40) 45. Ba bà tám, làm sui xong chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.42) 46. Mà em vẽ hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.43) 47. Sao lại khen? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 48. Cô em nhẹ dạ vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 49. Lẽ nào cô không biết cây xoài? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 50. Còn em vẽ giống không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.44) 51. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.45) 52. Giống trong sách không đƣợc sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.45) 53. Trời đất, tôi ăn cơm má còn đút mà nhỏ Mai biết nấu cháo sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.47) 54. Sao mà em khoái cái mƣơng đó quá vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.50) 55. Bạn có nghĩ là chúng tôi gặp lại nó không? (Võ Diệu

p5

Thanh, 2015, tr.51) 55. Em đã bắt hết cua chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53) 56. Gọi là thằng cua à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 57. Rồi em định làm gì với thằng cua đó? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 58. Em bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 59. Con cua nó sợ ma à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 60. Em bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 61. Con ma tóc dài mà nó sợ đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 62. Con cua đi học à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54) 63. Khoan khoan, cho cô hay, mấy đứa đang nói về một thằng nhóc phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 64. Nó tên Cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 65. Là sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55) 66. Kiếm ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 67. Bạn biết ai trả lời không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 68. Dạ, anh làm ơn cho hỏi ở đây có một cậu nhóc cỡ vầy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58) 69. Vào cái chỗ tối om đó kiếm à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 70. Mày đi đâu mà tới giờ này mới về? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 71. Trời ơi là trời, con nít con nôi đi tới chỗ đó làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 72. Rủi ma giấu mày rồi ai biết đƣờng mà kiếm? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 73. Nhƣng lúc đó sao tôi dám đi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.59) 74. Cô Thanh ngƣời ta là cô giáo, đi vô kẹt vô hốc làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.60) 75. Thằng cua nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.60) 76. Vác dao đi đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.62) 77. Con chặt nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 78. Chặt chi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 79. Ma có gì mà đánh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 80. Lẽ nào họ sợ nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 81. Lẽ nào họ là ma? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63) 82. Nó làm gì học trò cô à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 83. Mấy đứa bạn nó hay chọc ghẹo con hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 84. Cô hiểu rồi, rốt cuộc chuyện con gà đứng mổ cái áo ngoài sân là con nghe ai kể mà biết vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.64) 85. Bạn có từng coi khúc phim “dòng sông thƣơng nhớ không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.67) 86. Nó có hỏi tôi “có xƣơng cá không?” (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.68) 87. Đánh bạn là xấu phải không thầy, là thầy không thƣơng

p5

nữa phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69) 88. Hồi nãy thằng nào dám kêu thầy đánh tao sƣng cái mông? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69) 89. Xấu rồi có chết đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70) 90. Mấy đứa tôi thì đứa nào cũng nhƣ cong bún (lẽ nào tụi tôi lại yếu dữ vậy?) (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 91. Nhƣng mà thầy Tầng không đánh thì ai đánh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 92. Mày nhìn cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 93. Nhìn hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72) 94. Tao thấy rõ ràn còn chối hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)

95. Cô giáo mà cũng đi học sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73) 96. Nói gì thì nói mọi chuyện cũng qua rồi đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.73) 97. Mà thài lai là gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.74) 98. Bạn cũng thấy vậy đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.76)

99. Hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.77) 100. Hƣng, sao em nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.78) 101. Sao mà Nam nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 102. Vì nó không thích cô? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 103. Chớ con nói ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 104. Ba đứa làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 105. Rồi ăn xong làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80) 106. Tại sao cô thanh hỏi mà bạn Nam không trả lời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.82) 107. Vì sao bạn Nam lại giận cô Thanh? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.85) 108. Sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.86) 109. Giận cô Thanh hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 110. Cô Thanh thù vặt hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 111. Nhƣng sao bạn không đƣợc thi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 112. Nhƣng mà không giận cô Thanh sao bữa đó con lại khóc? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 113. Ơ, giận tôi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89) 114. Vấn đề gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92) 115. Bạn cũng công nhận đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92) 116. Sao bạn dám nói nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 117. Chú bạn dám nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 118. Bạn cũng dám nói vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93) 119. Vậy theo con, cô Thanh có vấn đề về mĩ thuật không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.94) 120. Điều đó nó lớn lao hơn mọi thứ trên đời này, bạn cũng

p5

2 Bảng 127

đỏ cho

xứ

Bìm

Bìm

thấy đúng nhƣ vậy không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.95) 1. Đấy! Nghe mà dựng tóc gáy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.5) 2. Ma mèo nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.6) 3. Sao mẹ lại lấy nón bảo hiểm đi xúc gạo? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.11) 4. Đại khái nhƣ là “Dƣa Leo, em có lỗ tai không?” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.16) 5. Vì cô cứ hay hỏi “Dƣa Leo cho cô biết cô vừa nói cái gì?” (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.16) 6. Dƣa Leo có lỗ tai không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.17) 7. Cái loa cứng ngắc sao cậu bảo tớ nhai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.17) 8. Bạn nghĩ coi, Nhỏ Bự có phải khóc tức tƣơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.23) 9. Ăn xong không dọn à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.23) 10. Chƣng diện thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24) 11. Vậy gọi là yêu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24) 12. Chiêm bao à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.25) 13. Cậu có bạn gái chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26) 14. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.29) 15. Nhƣng sự thông minh đó có học đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.31) 16. Nơi đó là thiên đƣờng thật đúng không Mèo ma? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.32) 17. Xứ đó liệu ngƣời ta có ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.33) 18. Cậu có đến Bồ Câu bao giơ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34) 19. Sao cậu rành vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34) 20. Chẳng lẽ lúc qua cổng chú soát vé thấy chúng tôi cãi nhau dữ dội quá đã chui vào thùng rác nhắm mắt trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 21. Hay hai thằng tàng hình đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 22. Vậy chúng tôi lên tàu bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.36) 23. Thế cái ổ khóa phải làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.38) 24. Chợ ngƣời chết hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39) 25. Đấy là xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39) 26. Cậu đã biết thƣơng Mẹ Ốm chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.44) 27. Mẹ Ốm có chết không mèo? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.44) 28. Mèo nghĩ Dƣa Leo làm gì vơi con ve? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.45) 29. Chẳng lẽ chúng tôi may mắn vào đƣợc một con đƣờng

p5

tắt? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 30. Cậu phản đối vụ gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 31. Cậu làm thật à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47) 32. Cụ không có con mắt à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 33. Cậu là ngƣời xứ Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 34. Sao cụ biết? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 35. Gặp tôi à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 36. Sao cụ nói gặp rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 37. Cậu thấy vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 38. Chớ cụ không thấy mình quá vô duyên à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 39. Ba lần cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56) 40. Cậu bao nhiêu tuổi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 41. Mƣời … Mà cụ biết tuổi tôi làm quái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 42. Cậu biết con mắt để làm gì không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 43. Tôi sai chỗ nào à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 44. Tôi mà giống họ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57) 45. Sao cậu lại nói năng nhƣ thế với cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 46. Tớ nói gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 47. Đấy, nếu tớ là một chiếc xe có phải cụ tiêu tùng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 48. Vậy là tớ có lỗi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58) 49. Đi xin mà cũng cần phải có uy tín? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.60) 50. Nhƣng tích phƣớc để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.62) 51. Phƣớc đó ai ban cho? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63) 52. Quan liêu là gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63) 53. Họ đã làm gì con? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.66) 54. Họ nắm con lôi vào đây? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67) 55. Ông có biết con hồi nhỏ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67) 56. Ông sống ở Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 57. Ông là ngƣời Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 58. Nhƣng sao ông biết bọn trẻ Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 59. Sao ông lại không về Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68) 60. Vậy hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 61. Con nghĩ những điều xấu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 62. Sao mà tiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69) 63. Mấy đứa kia có nhƣ con không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)

p5

64. Ngủ nhƣ con à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70) 65. Không phải, nó có nghĩ học cho dữ thì chỉ có bốn, năm đứa có chỗ đứng, mấy đứa còn lại cũng rớt xuống cái chỗ không có gì để làm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70) 66. Thế công việc nó đi đâu hết rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 67. Ơ. Công việc nó chạy đƣợc hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 68. Đố bạn Dƣa Leo đang ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.71) 69. Hai câu thơ mà gai góc vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72) 70. Mà con nghĩ có nên hiếu thảo với cha mẹ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72) 71. Bự Đầu thuộc dễ dàng hai câu thơ đó à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.73) 72. Mà ông nghĩ, sao lại bất công thế? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 73. Con nghĩ ông trời bất công ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 74. Thế nào là công bằng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 75. Chấm bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74) 76. Sao ông siêng vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.76) 77. Con định làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 78. Con có biết nó bao xa không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 79. Dài cỡ nào hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77) 80. Con có thấy sợ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.78) 81. Sao họ quan tâm đến xứ Bìm Bìm vậy ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.79) 82. Sao ông khóc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.80) 83. Mày nói ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.84) 84. Nhƣ vậy rồi chẳng lẽ không ai bảo vệ ngƣời tốt? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 85. Chẳng lẽ không ai ủng hộ cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 86. Một con mèo và một thằng khờ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.85) 87. Chị có tiền công chúng Bìm Bìm mà khi họ bị sỉ nhục chị không thấy mình có trách nhiệm bảo vệ họ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.87) 88. Chẳng lẽ không có cách gì hạ đƣợc chị hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.88) 89. Chẳng lẽ mọi động tịnh đều là cơ hội để chị nổi tiếng thêm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.88) 90. Chị Bạch Kim nói chuyện mọi ngƣời sẽ nghe đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94) 91. Nhanh vậy sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94) 92. Mèo Ma là nhạc sĩ hay là nhà bình luận âm nhạc? (Võ

p5

Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 93. Em kêu bằng nó tức là nó nhỏ hơn em? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 94. Trời, hai ký rƣỡi mà làm nhà văn? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.95) 95. Một con mèo bốn mƣơi hai ký? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.96) 99. Chị sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 100. Là sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 101. Bảng đỏ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 102. Có cái bảng đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 103. Ai làm nên cái bảng đó? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 104. Tai sao lại kỳ thị hết con ngƣời trên xứ Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97) 105. Còn những ngƣời tàn phá xứ Bìm Bìm họ đâu cả rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.98) 106. Chẵng lẽ ngoài tất cả những ngƣời đó không còn ai đủ sức sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.100) 107. Ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 108. Ông chúa xứ hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 109. Đo cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 110. Cậu nghĩ là cậu năng ký lắm rồi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 111. Nhƣng năng hay nhẹ dính gì tới chuyện tớ đi gặp ông Bụng Cọp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 112. Ông Bụng Cọp có quyền lực đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 113. Bao nhiêu ngƣời muốn gặp ổng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 114. Ổng chịu gặp ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101) 115. Mà ví dụ bữa đó ôgn bị ấm đầu, bị tửng từng tƣng nhƣ cậu, ổng cho vào, ổng có nghe lời cậu không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 116. Lẽ nào ông Bụng Cọp chƣa qua xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 117. Ông ấy vào đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 118. Chui qua bảng đỏ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 119. Lẽ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102) 120. Cụ Râu Đỏ cứ khóc nhƣ vậy mãi mãi hay sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.103) 121. Rốt cuộc chú có cho cháu xuông tàu không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.107) 122. Tôi có nên trở về? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.108) 123. Cậu biết viết chữ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.110) 124. Con nói chuyện với ai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.113) 125. Ông ơi, nƣớc mắt ông không có máu, ông đã cạn máu rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114) 126. Sao lại không phải ngõ cụt hả ông? (Võ Diệu Thanh,

p5

3 Chúng 154

mình

bay

đầy

trời

2016a, tr.114) 127. Con làm đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114) 1. Một tỉ là bao nhiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.5) 2. Con làm gì với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 3. Lịch sự sao xô bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 4. Bạn làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.7) 5. Vậy tôi sai đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 6. Làm thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 7. Hôm đó ba mặc áo ủi thẳng băng, bỏ áo vô quần, xịt dầu thơm, má con hỏi ba con “ông bữa nay tí tửng với con nào mà ăn mặc lịch sự vậy?” (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 8. Bạn nào biết cô Thanh làm sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 9. Vậy chắc cô Thanh cƣời mà ráng nén rồi hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 10. Nội đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.10) 11. Trồng su su trên núi là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 12. Núi thế nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 13. Có giống cái nóc nhà không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 14. Nó giống cái nón lá không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 15. Vậy sao mà trồng cái gì trên đó đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 16. Cất nhà đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 17. Bạn chƣa đi núi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 18. Xe chạy trên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 19. Đƣờng chạy lên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 20. Kì vậy ta, chớ ở đó cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 21. Vậy cũng y nhƣ ở đây thôi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 22. Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 23. Rồi con ma đó phải tóc dài không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 24. Ma đầu trọc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 25. Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 26. Tui từng hỏi cô Thanh, phải chăng ngƣời tu sẽ bay về trời? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.13) 27. Phải chăng mình có thể nắm vạt áo ngƣời tu là bay theo họ? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.13) 28. Mà trên trời có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14) 29. Phải chăng có cây cỏ, con ngƣời, rồi có mấy con ma y nhƣ trên núi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.14) 30. Khi nào chúng tôi thấy bứt rứt nhất? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 31. Vì máy nó giúp ngƣời này nó sẽ giúp ngƣời khác và lúc

p5

đó ai cũng hạng nhất hết thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 32. Vậy nếu chế đƣợc cái máy cho nó ăn cơm mà mình mập lên thì tốt quá, đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 33. Trong lúc máy ăn em ngồi dòm miệng à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 34. Bao nhiêu đứa muốn có cái máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 35. Vì sao em không muốn có máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 36. Còn Quý? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 37. Cơm mà thèm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 38. Thiệt hả chèn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 39. Loại này bình thƣờng đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21) 40. Chèn ơi, cái máy gì mà khôn thấy ớn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.22) 41. Bạn có nhìn thấy cảnh cả chục đứa đang đói bụng nhìn hai đứa ăn cơm bao giờ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 42. Cô Thanh ơi, phải cái máy của cô không hoạt động không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 43. Mà cô có nhớ cho nó ăn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 44. Mấy em thấy cái máy ăn cơm giùm của cô dữ dội không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.25) 45. Vậy bạn phải cất nhà trên cây à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.27) 46. Sao phải chế ra những loại vũ khí giết nhau? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 47. Nếu giận nhau mà mang súng đạn ra bắn giết, rồi khi hết giận, làm sao cứu cho ngƣời chết sống lại đƣợc đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 48. Bạn vẽ siêu nhân chim à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 49. Thiệt hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 50. Vậy làm sao có lông gà đây cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 51. Lấy lông gà làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 52. Cô quên rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 53. Gắn lông chim bay sao đƣợc ông thần? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 54. Sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 55. Mà thử nghĩ coi một đôi cánh lớn nhƣ vầy, ngƣời ta liệu có trồng su su bên sƣờn núi đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 56. Chẳng lẽ “dự án” đôi cánh cho thăng Quý đi đứt? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 57. Theo các em ngƣời có bay đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 58. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38)

p5

59. Gắn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 60. Gắn trên đầu rồi chong chóng bay lên “nắm đầu” mình lồi lên à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 61. Mà đầu bị lôi lên nhƣ vậy sao mà cúi xuống bẻ su su đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.39) 62. Nhƣng nếu khép tay lại thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.40) 63. Nội bây giờ đi bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.41) 64. Núi có vồ đá hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 65. Giống trán dồ thằng Nam không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 66. Nhƣng thằng Quý lại nói cắc cớ, rằng rủi Nội bệnh bất ngờ, Nội không điều khiển đƣợc những cái nút trên máy, hoặc Nội quên mất công tắc thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.44) 67. Bạn nói nƣớc mà biết ăn chân à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 68. Có khi nào mà nhỏ Mai thọc chân xuống nƣớc, bị con cá nóc cắn ngay chân rồi đổ thừa nƣớc ăn chân không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 69. Nếu nƣớc ăn đƣợc có phải nó đã ăn sạch ruột gan phèo phổi mấy ngƣời đi bơi rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 70. Nhƣng sao mình uống nƣớc vô bụng, nó không ăn bụng mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 71. Vậy nƣớc ngoài ruộng có độc hả cô? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 72. Rồi liệu đôi cánh đó có thể bay đi xa đƣợc không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 73. Liệu đôi cánh có nhanh hơn cú nhảy một con cọp không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.49) 74. Mà vồ Cấm có ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 75. Bạn có dám bay qua Vồ Thiến Tuế không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 76. Nhƣng mà rủi con ma nó bay kịp với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 77. Bạn không sợ nó à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 78. Rủi nó ăn thịt bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 79. Ma ăn thịt ngƣời ta nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 80. Nhìn chi vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 81. Mà con ma thật hình dáng nó thế nào, đầu trọc hay tóc dài, hay nó không có đầu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 82. Mà liệu mình có bắt đƣợc tổ chim lấy trứng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 83. Tổ chim tự có mà, đâu có ai đâu, sao gọi là ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 84. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, vậy mình lấy

p5

nƣớc có phải là ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 85. Lại có vụ án mới phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 86. Dạ, vụ án đánh cắp đó cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 87. Ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 88. Có cô Thanh không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 89. Cô Thanh lấy nƣớc dƣới sông lên nhà nấu cơm giặt đồ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 90. Lấy nƣớc dƣới sông về tắm là … là … ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 91. Ai nói vậy em? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 92. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 93. Vậy mình lấy nƣớc trong nhà mẹ mình uống, mình có phải ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 94. Dạ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 95. Bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 96. Nhƣng ai cũng có cánh ngƣời ta không chạy xe nữa đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 97. Vậy thì con đƣờng không cần làm luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 98. Cánh có thể bay đi Suối Tiên không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 99. Bay xa quá lỡ mình buồn ngủ thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 100. Làm ống hút chi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.58) 101. Dạy vẽ à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 102. Trên đời này có học trò lớp Hai nào làm giám đốc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 103. Nhƣng làm đôi cánh có dễ nhƣ suy nghĩ của tôi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 104. Có bằng cấp gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.60) 105. Sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.61) 106. Chế nhƣ thế nào đây Nam? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 107. Vậy rồi chế cái nhà máy đó thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 108. Nhƣng mà con có thế làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 109. Ba mẹ con làm nghề gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 110. Làm ruộng là làm những gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 111. Mẹ mình làm gì à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 112. Cấy giậm là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 113. Là giậm giậm xuống lúa hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 114. Nhỏ lúa trên đất ngƣời ta trồng lên đất mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 115. Nói sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65)

p5

116. Vậy sao không để nó y nhƣ cũ, nhổ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 117. Em thấy ổn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 118. Hƣng Mặt Bành có vác mấy bao lúa nổi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.66) 119. Ủa ai nói với em núi Cấm có miệng rồi còn có tay nữa? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.68) 120. Có phải em sinh ra ở Chợ Vàm không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.69) 121. Có phải em ăn cơm và uống nƣớc trên đất Chợ Vàm không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 122. Vậy Chợ Vàm có phải rất giống mẹ em không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 123. Còn ba mẹ cô Thanh là ai, cái bà mẹ bự chảng không có tay mà có thể đẻ rồi ai nuôi cô Thanh hồi đó đó? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 124. Mai thằng Quý nó có bỏ lớp chạy đi kiếm Nội nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 125. Chuyện này cô Thanh phải làm sao dỗ thằng Quý đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.72) 126. Chuyện này cô Thanh phải làm sao dỗ thằng Quý đây? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.73) 127. Rốt cuộc đƣờng nào lên trời? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 128. Quý, đƣờng lên trời chỗ nào, dắt mọi ngƣời tới đo đi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 129. Mây là vầy sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 130. Vậy rồi sao mà mình cỡi lên đó bay đi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 131. Ai cỡi lên mây bay đƣợc hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 132. Ở trong đó có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 133. Chắc là ghê lắm? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 134. Phải nó có mấy con ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 135. Có thấy ông Bác Vật Lang không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 136. Những con rắn làm đá mòn hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 137. Da ông cọp mềm nhƣ lông mèo sao bào mòn đá đƣợc ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 138. Ổng cọp là đàn ông hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 139. Cái mà cũng gọi là ổng hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 140. Bạn có hình dung nó sẽ nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.80) 141. Thiệt không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.81) 142. Nơi nào có ngƣời quen nơi đó có gì đáng sợ đâu, phải

p5

4 Tiền 105

của

thần

cây

không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 143. Chui vào hang thấy thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82)\ 144. Hai đứa đi đâu vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 145. Mình làm một cái camera hình con rắn hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 146. Nhƣng rủi cái máy chui vô bụng con cọp rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 147. Cái câu chuyện ông quan thời xƣa có gì xấu đâu, đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 148. Mép là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 149. Lấy lòng là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 150. Phải không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.87) 151. Đôi cánh gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.88) 152. Nó đâu rồi Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 153. Bay về trời đƣợc thiệt hả Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 154. Tầm hồn là gì Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 1. Cũng không có cá mập? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 2. Con cá sấu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 3. Mày tính sao Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 4. Không tin à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 5. Ông nội hôm nay cũng chƣa về đâu đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 6. Vì sao ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 7. Con chết rồi hà ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 8. Còn nhớ không ông? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 9. Con không đi tàu bè, không qua sông sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.21) 10. Con không đi tắm biển luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 11. Mày cũng không thích tao xuống sông phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 12. Mày còn dám đi tắm xong nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 13. Có cách khác sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 14. Anh Bòn Bon có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 15. Bé Hai có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 16. Nhƣng có biết lội không mà đòi đi xuồng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 17. Lội à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 18. Em đi tắm một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 19. Bé Hai …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.30) 20. Nhƣng sao bé Hai nhỏ xíu lại biết lội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.31) 21. Liệu Bòn Bon có tập đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34)

p5

22. Bòn Bon sẽ chìm xuống nƣớc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 23. Nội ơi, liệu con có thể nổi trên nƣớc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 24. Lẽ nào con không bị chìm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 25. Đấy đấy, thấy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 26. Mày đừng có dạy đời tao nữa đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 27. Mày đi nổ với mấy thằng Củ Cải về vụ tàng hình đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.43) 28. Lỡ tụi nó bắt nhốt làm chết Ban Đêm rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.47) 29. Nội ơi Ban Đêm đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.52) 30. Trụng nƣớc sôi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 31. Tại sao mày lại trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 32. Mày có biết tao lo lắng cho mày lắm không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 33. Đấy, chửi nó có phải oan không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.55) 34. Nhƣng nó trốn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 35. Nhƣng sao lần này con giận dai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 36. Ban Đêm xuống quán thịt cầy làm gì ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 37. Sao lại làm thịt Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 38. Sao lại ăn thịt một ngƣời bạn tốt? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.60) 39. Lên ti vi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 40. Nhƣng rủi ban đêm chạy ra ruộng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 41. Sao lại tại con? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 42. Làm sao để Ban Đêm về nhà mình y nhƣ hồi trƣớc hả ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 43. Nó phải làm sao để ông nội đừng buồn hiu nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.65) 44. Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.66) 45. Bòn Bon làm cách nào để mọi ngƣời nói Ban Đêm là một con ngƣời? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.69) 46. Mày nhìn đi, nhìn kỹ đi, có chỗ nào nó không phải là con chó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 47. Rủi ngƣời đó phe của chú rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 48. Ngoài họ ra còn ai chịu coi Ban Đêm là ngƣời…? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 49. Anh cũng điên nhƣ hai thằng khùng này sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 50. Anh hỏi tôi có chỗ nào nó không phải là con chó đúng

p5

không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 51. Nếu đó là lợi ích của anh, anh có thể bỏ qua không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 52. Ngƣời ta đã đƣa anh một con gà trống mà sao bữa nay còn lật lọng?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 53. Một là tiền, hai là bị đập cho vài len, anh chọn cái nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.71) 54. Con không hiểu gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 55. Ngƣời tốt sao lại muốn giết Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 56. Có khi nào mọi sự trùng hợp y rang vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.80) 57. Con khổ lắm má biết không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.83) 58. Mày nghĩ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.84) 59. Mà sao cô lại khóc nhỉ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.86) 60. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.92) 61. Ử, ong vò vẽ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.92) 62. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 63. Ử, hai vít ngay chân mày? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 64. Ai đã phát hiện ra hộp vàng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 65. Ai lại có khả năng tàng hình trƣớc mắt ông nội và trƣớc mắt bầy ong vò vẽ để rinh hết vàng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 66. Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.93) 67. Bốn mƣơi năm sau khi con bằng nội, nó vẫn còn sống đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.96) 68. Con thấy dạo này nó đã yếu đuối hay kiếm chỗ nằm nghỉ rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 69. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 70. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 71. Có cách nào không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 72. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 73. Ví dụ cái máy điện thoại là ba triệu thì nó có mấy cái máy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.99) 74. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.101) 75. Cái hốc có ổ ong chỗ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.102) 76. Mày giấu cái gì?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.104) 77. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.105) 78. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 79. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 80. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107)

p5

5 Những 125

cậu bé

mặt

trời

81. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 82. Cây nó lấy vàng của ông nội rồi nó trả tiền? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 83. Hai trăm cái máy điện thoại chẳng lẽ có bao nhiêu thôi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 84. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 85. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 86. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 87. Nhƣng tiền không tự lên đó đúng không? Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 88. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 89. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 90. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 91. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 92. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 93. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 94. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.112) 95. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.112) 96. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 97. Còn cái máy này? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 98. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 99. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 100 - Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 101. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 102. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 103. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 104. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 105. Hai đứa nó có đủ tiền chuộc chiếc xe hay không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.118) 1. Lý do vì sao nó lại dị ứng với chuyện rất riêng tƣ của Tì Ti? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.3) 2. Mày nghĩ má sẽ phát hiện ra không, sẽ buồn không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 3. Ngày Tết làm sao để má không buồn?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 4. Đôi dép của má mày cho à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 5. Mày quăng rồi, mày hỏi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7)

p5

6. Hổng lẽ biểu tao nói nhớ mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 7. Mắc mớ gì mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 8. Mày câm rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 9. Vậy mình nên làm gì để đỡ nhớ má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) 10. Thằng Hà chịu quét không?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.10) 11. Con sao vậy?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11) 12. Có chuyện gì buồn hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.11) 13. Mà nhìn thấy cô lo cho mấy đứa mồ côi, lo làm công quả trong chùa, má cô chắc vui lắm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13) 14. Má có nhìn thấy đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.13) 15. Mày đi đâu đây? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 16. Mày định làm lớp trƣởng cái chùa này à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 17. Con ghét thằng Hà nhiều lắm đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.15) 18. Bộ … con cô cũng hƣ hỏng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 19. Cô Mai nhìn thằng Hà bị phạt hết ngày này tới ngày khác, cô đau tới mấy trăm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 20. Sao mày lại không thƣơng mẹ của mày?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 21. Sao kì vậy?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 22. Con, hôm nay sao con ghé chùa sớm vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.17) 23. Cô Mai có làm xấu xã hội không con? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 24. Con thấy tám nay nay nó có học đƣợc gì không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18 25. Con có thể làm gì giúp cô không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 26. Lúc không có hai đứa con biết mẹ làm sao không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 27. Mẹ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 28. Chèn, mẹ đóng kịch một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 29. Mẹ đang vậy thật à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 30. Giờ mẹ có cần con làm quân sĩ không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 31. Xong chƣa anh Hai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25) 32. Bé Châu? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27) 33. Bệnh mới hết hả nhóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.33) 34. Con làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 35. Con ghét nó à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 36. Nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 37. Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34)

p5

38. Con đặt tên nó vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 39. Mà sao chú không đánh? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 40. Đánh ai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 41. Chú không tiếc con diều đẹp của con chú à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 42. Vì sao con ghét Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 43. Không tại con thì tại ai bây giờ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36) 44. “Mây giám sao?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 45. Má có thấy chuyện này không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 46. Con thức chi sớm vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38) 47. Chƣa có chuyện gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.38) 48. Bé Thi đâu có tè dầm mà chiếu ƣớt nhẹp vậy Nhã? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 49. Ngƣời ta là học sinh giỏi đó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 50. Có phải tình cờ thằng Thuận cũng chiêm bao rồi tới nhà gặp lúc Nhã đang …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.41) 51. Cô biểu nó chú ý chuyện gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.42) 52. Em không nhớ bữa cơm nhà em có gì à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 53. Ba thích ăn món gì hả má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 54. Con hỏi chi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 55. Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 56. Nóng lắm không con? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.45) 57. Mầy có cầm đi không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.46) 58. Con thấy gì hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.49) 59. Cô cũng có lúc sai lầm hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 60. Cô mắc công chuyện hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 61. Ba cô đánh má cô hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 62. Sao mà đƣợc nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 63. Lớn lên mình sẽ nghĩ khác hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 64. Thế, một ngƣời phụ nữ đã có chồng vẫn còn tê dâm thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 65. ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 66. Thật sao cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52) 67. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53) 68. Ban Đêm, để nội kể? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 69. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 70. Hai vít ngay chân mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 71. Ai đã phát hiện hộp vàng? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 72. Ai lại có khả năng tàng hình trƣớc mắt ông nội và trƣớc mắt bầy ong vò vẽ để rinh hết vàng? (Võ Diệu Thanh, 2017,

p5

tr.55) 73. Ai mà tài ba hơn cả Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.55) 74. Bốn mƣơi năm sau khi con bằng nội, nó vẫn còn sống đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.56). 75. Con thấy dạo này nó đã yếu đuối hay kiếm chỗ nằm nghỉ rồi không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 76. Nó phải chết sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 77. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.57) 78. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 79. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 80. Ví dụ cái máy điện thoại là ba triệu thì nó có mấy cái máy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 81. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 82. Cái hốc có tổ ong chỗ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 83. Mày giấu cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 84. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 85. Của mày sao mày không biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 86. Nhƣng … rủi nó là trái lựu đạn? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 87. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 88. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 89. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 90. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 91. Hai trăm cái máy điện thoại chẳng lẽ có bao nhiêu thôi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 92. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 93. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 94. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 95. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 96. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 97. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 98. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 99. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 100. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 101. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 102. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68)

p5

103. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 104. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.69) 105. Mệt mỏi giống Ban Đêm không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 106. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 107. Nhƣng yêu thƣơng bằng cách gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 108. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 109. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 110. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 111. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 112. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 113. Sao em cứ căng dây kẽm qua đƣờng hoài vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 114. Em biết vậy là vi phạm luật giao thông không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 115. Em còn căng nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.76) 116. Cái này là gì vậy em? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 117. Hình nhƣ em muốn làm cáp treo?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 118. Sao cô biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 119. Mà cáp treo làm nhƣ vầy đúng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 120. Nó căng dây kẽm để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 121. Em muốn đi qua đƣờng bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 122. Bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 123. Mẹ em đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78) 124. Ý em là em làm cáp treo để đƣa ly cà phê cho khách? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79) 125. Nhƣ vậy chỉ cần đứng một chỗ có thể bán quán đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.79)

p5

PHỤ LỤC 6

BẢNG THỐNG KÊ

CÂU HỎI TRONG LỜI ĐỐI THOẠI CỦA NHÂN VẬT TRẺ EM

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

Dẫn chứng Số lần Stt Tên

tác

phẩm

1 Siêu 1. Nhƣng mà sao cô lại ra đây? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.8) 57

nhân 2. Cái gì cƣời, cái gì cƣời? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)

cua 3. Cái mặt thằng Hƣng? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)

4. Nó sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.12)

5. Con đi học có thay đồ không Mai? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.15)

6. Con cua nó làm áo con dơ à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.15)

7.Ủa mà sao con nhền nhện có càng? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.18)

8.Con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18)

9. Mà sao bạn lại sợ con cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.18)

10. Sao con cua nó bò lên giƣờng đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.19)

11. Ủa, mà sao bạn ngủ dƣới đất? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)

12. Ai cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)

13. Má làm gì cột chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.20)

14. Cái này là cái nhà hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36)

16. Chớ bạn không thấy nó giống cái nhà à? (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.36)

17. Cái nhà này xấu ùi. Phải không Mặt Bành? (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.36)

18. Nhƣng bạn nghĩ sao mà cá lại có nhà? (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.36)

19. Chớ cá không có nhà thì nó ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015,

p6

tr.36)

20. Bạn nghĩ coi, nếu bạn không có nhà thì bạn phải ở đâu, ở

ngoài sân à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.36)

21. Nếu bạn không có nhà bạn sống đƣợc không? (Võ Diệu

Thanh, 2015, tr.37)

22. Sao sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.39)

23. Sao cậu vẽ nó không có chân? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40)

24. Đang bay mà vẽ có chân sao đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.40)

25. Bạn méc cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.40)

26. Bạn có nghĩ là chúng tôi gặp lại nó không? (Võ Diệu Thanh,

2015, tr.51)

27. Em đã bắt hết cua chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.53)

28. Gọi là thằng cua à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54)

29. Con ma tóc dài mà nó sợ đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.54)

30. Con cua đi học à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.54)

31. Khoan khoan, cho cô hay, mấy đứa đang nói về một thằng

nhóc phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)

32. Nó tên Cua? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)

33.Là sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.55)

34. Kiếm ai? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.58)

35. Con chặt nhánh dâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.63)

36. Đánh bạn là xấu phải không thầy, là thầy không thƣơng nữa

phải không? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69)

37. Hồi nãy thằng nào dám kêu thầy đánh tao sƣng cái mông?

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.69)

38. Xấu rồi có chết đâu? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.70)

39. Mày nhìn cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)

40. Nhìn hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)

41. Tao thấy rõ ràn còn chối hả? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.72)

42. Bạn cũng thấy vậy đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015,

p6

tr.76)

43. Hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.77)

44. Vì nó không thích cô? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80)

45. Rồi ăn xong làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.80)

46. Sao? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.86)

47. Giận cô Thanh hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)

48. Cô Thanh thù vặt hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)

49. Nhƣng sao bạn không đƣợc thi? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.89)

50. Nhƣng mà không giận cô Thanh sao bữa đó con lại khóc?

(Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)

51. Ơ, giận tôi? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.89)

52. Vấn đề gì? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.92)

53. Bạn cũng công nhận đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2015,

tr.92)

54. Sao bạn dám nói nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)

55. Chú bạn dám nói vậy? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)

56. Bạn cũng dám nói vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2015, tr.93)

57. Vậy theo con, cô Thanh có vấn đề về mĩ thuật không? (Võ

Diệu Thanh, 2015, tr.94)

2 Bảng 1. Sao mẹ lại lấy nón bảo hiểm đi xúc gạo? (Võ Diệu Thanh, 95

đỏ cho 2016a, tr.11)

xứ 2. Chƣng diện thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24)

Bìm 3. Vậy gọi là yêu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.24)

Bìm 4. Chiêm bao à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.25)

5. Cậu có bạn gái chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.26)

6. Nơi đó là thiên đƣờng thật đúng không Mèo ma? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.32)

7. Xứ đó liệu ngƣời ta có ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.33)

8. Cậu có đến Bồ Câu bao giơ chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

p6

tr.34)

9. Sao cậu rành vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.34)

10. Thế cái ổ khóa phải làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.38)

11. Chợ ngƣời chết hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39)

12. Đấy là xứ Bồ Câu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.39)

13. Mèo nghĩ Dƣa Leo làm gì vơi con ve? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.45)

14. Cậu phản đối vụ gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47)

15. Cậu làm thật à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.47)

16. Cụ không có con mắt à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

17. Cậu là ngƣời xứ Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

18. Sao cụ biết? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

19. Gặp tôi à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

20. Sao cụ nói gặp rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

21. Cậu thấy vậy à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

22. Chớ cụ không thấy mình quá vô duyên à? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.56)

23. Ba lần cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.56)

24. Cậu bao nhiêu tuổi? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)

25. Mƣời … Mà cụ biết tuổi tôi làm quái gì? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.57)

26. Cậu biết con mắt để làm gì không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.57)

27. Tôi sai chỗ nào à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)

28. Tôi mà giống họ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.57)

29. Sao cậu lại nói năng nhƣ thế với cụ Râu Đỏ? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.58)

30. Tớ nói gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58)

32. Đấy, nếu tớ là một chiếc xe có phải cụ tiêu tùng không? (Võ

Diệu Thanh, 2016a, tr.58)

33. Vậy là tớ có lỗi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.58)

34. Đi xin mà cũng cần phải có uy tín? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

p6

tr.60)

35. Nhƣng tích phƣớc để làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.62)

36. Phƣớc đó ai ban cho? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63)

37. Quan liêu là gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.63)

38. Họ đã làm gì con? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.66)

39. Họ nắm con lôi vào đây? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67)

40. Ông có biết con hồi nhỏ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.67)

42. Ông sống ở Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68)

43. Ông là ngƣời Bìm Bìm à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.68)

44. Sao ông lại không về Bìm Bìm? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.68)

45. Vậy hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)

46. Con nghĩ những điều xấu à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)

47. Sao mà tiêu? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.69)

48. Mấy đứa kia có nhƣ con không? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.70)

49. Ngủ nhƣ con à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)

50. Không phải, nó có nghĩ học cho dữ thì chỉ có bốn, năm đứa

có chỗ đứng, mấy đứa còn lại cũng rớt xuống cái chỗ không có

gì để làm? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.70)

51. Thế công việc nó đi đâu hết rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.71)

52. Ơ. Công việc nó chạy đƣợc hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.71)

53. Hai câu thơ mà gai góc vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.72)

54. Mà con nghĩ có nên hiếu thảo với cha mẹ không? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.72)

55. Bự Đầu thuộc dễ dàng hai câu thơ đó à? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.73)

56. Mà ông nghĩ, sao lại bất công thế? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.74)

57. Con nghĩ ông trời bất công ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)

p6

58. Thế nào là công bằng? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)

59. Chấm bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.74)

60. Con định làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)

61. Con có biết nó bao xa không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)

62. Dài cỡ nào hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.77)

80 – Con có thấy sợ không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.78)

63. Sao họ quan tâm đến xứ Bìm Bìm vậy ông? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.79)

64. Sao ông khóc? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.80)

65. Mày nói ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.84)

66. Nhƣ vậy rồi chẳng lẽ không ai bảo vệ ngƣời tốt? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.85)

67. Một con mèo và một thằng khờ sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.85)

68. Chẳng lẽ không có cách gì hạ đƣợc chị hả? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.88)

69. Chị Bạch Kim nói chuyện mọi ngƣời sẽ nghe đúng không?

(Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94)

70. Nhanh vậy sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.94)

71. Mèo Ma là nhạc sĩ hay là nhà bình luận âm nhạc? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.95)

72. Em kêu bằng nó tức là nó nhỏ hơn em? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.95)

73. Trời, hai ký rƣỡi mà làm nhà văn? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.95)

74. Một con mèo bốn mƣơi hai ký? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.96)

75. Chị sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)

76. Là sao chị? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)

77. Bảng đỏ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)

78. Có cái bảng đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.97)

79. Chẵng lẽ ngoài tất cả những ngƣời đó không còn ai đủ sức

p6

sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.100)

80. Ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)

81. Ông chúa xứ hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)

82. Đo cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)

83. Cậu nghĩ là cậu năng ký lắm rồi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.101)

84. Nhƣng năng hay nhẹ dính gì tới chuyện tớ đi gặp ông Bụng

Cọp? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)

85. Ông Bụng Cọp có quyền lực đúng không? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.101)

86. Bao nhiêu ngƣời muốn gặp ổng? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.101)

87. Ổng chịu gặp ai? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.101)

88. Mà ví dụ bữa đó ôgn bị ấm đầu, bị tửng từng tƣng nhƣ cậu,

ổng cho vào, ổng có nghe lời cậu không? (Võ Diệu Thanh,

2016a, tr.102)

89. Lẽ nào ông Bụng Cọp chƣa qua xứ Bồ Câu? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.102)

90. Ông ấy vào đó sao? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.102)

91. Rốt cuộc chú có cho cháu xuông tàu không? (Võ Diệu

Thanh, 2016a, tr.107)

92. Cậu biết viết chữ à? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.110)

93. Con nói chuyện với ai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.113)

94. Ông ơi, nƣớc mắt ông không có máu, ông đã cạn máu rồi

phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016a, tr.114)

95. Sao lại không phải ngõ cụt hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016a,

tr.114)

3 Chúng 121

mình

bay

đầy

trời 1. Vậy tôi sai đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 2. Làm thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.8) 3. Trồng su su trên núi là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 4. Núi thế nào vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 5. Có giống cái nóc nhà không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 6. Nó giống cái nón lá không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 7. Vậy sao mà trồng cái gì trên đó đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11)

p6

8. Cất nhà đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 9. Bạn chƣa đi núi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 10. Xe chạy trên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 11. Đƣờng chạy lên trời à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.11) 12. Kì vậy ta, chớ ở đó cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 13. Vậy cũng y nhƣ ở đây thôi hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 14. Úy, ma nhiều không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 15. Rồi con ma đó phải tóc dài không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 16. Ma đầu trọc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.12) 17. Mà sao trên núi lại nhiều chùa vậy? (Võ Diệu Thanh, 18. Vậy nếu chế đƣợc cái máy cho nó ăn cơm mà mình mập lên thì tốt quá, đúng không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 19. Trong lúc máy ăn em ngồi dòm miệng à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.18) 20. Bao nhiêu đứa muốn có cái máy ăn cơm thay mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 21. Còn Quý? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.19) 22. Cơm mà thèm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 23. Thiệt hả chèn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.20) 24. Loại này bình thƣờng đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.21) 25. Chèn ơi, cái máy gì mà khôn thấy ớn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.22) 26. Cô Thanh ơi, phải cái máy của cô không hoạt động không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 27. Mà cô có nhớ cho nó ăn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.24) 28. Vậy bạn phải cất nhà trên cây à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.27) 29. Bạn vẽ siêu nhân chim à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.30) 30. Thiệt hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 31. Vậy làm sao có lông gà đây cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 32. Lấy lông gà làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 33. Cô quên rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.34) 34. Gắn lông chim bay sao đƣợc ông thần? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 35. Sao không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.36) 36. Mà thử nghĩ coi một đôi cánh lớn nhƣ vầy, ngƣời ta liệu có trồng su su bên sƣờn núi đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 37. Chẳng lẽ “dự án” đôi cánh cho thăng Quý đi đứt? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.37) 38. Vì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 39. Gắn ở đâu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 40. Gắn trên đầu rồi chong chóng bay lên “nắm đầu” mình lồi lên à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.38) 41. Mà đầu bị lôi lên nhƣ vậy sao mà cúi xuống bẻ su su đƣợc?

p6

(Võ Diệu Thanh, 2016, tr.39) 42. Nhƣng nếu khép tay lại thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.40) 43. Nội bây giờ đi bằng cách nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.41) 44. Núi có vồ đá hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 45. Giống trán dồ thằng Nam không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.42) 46. Bạn nói nƣớc mà biết ăn chân à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.46) 47. Nhƣng sao mình uống nƣớc vô bụng, nó không ăn bụng mình? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 48. Vậy nƣớc ngoài ruộng có độc hả cô? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 49. Rồi liệu đôi cánh đó có thể bay đi xa đƣợc không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.48) 50.. Liệu đôi cánh có nhanh hơn cú nhảy một con cọp không? Võ Diệu Thanh, 2016, tr.49) 51. Mà vồ Cấm có ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 52. Bạn có dám bay qua Vồ Thiến Tuế không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 53. Nhƣng mà rủi con ma nó bay kịp với bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 54. Bạn không sợ nó à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 55. Rủi nó ăn thịt bạn? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 56. Ma ăn thịt ngƣời ta nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.50) 57. Nhìn chi vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 58. Mà con ma thật hình dáng nó thế nào, đầu trọc hay tóc dài, hay nó không có đầu? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 59. Mà liệu mình có bắt đƣợc tổ chim lấy trứng không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.51) 60. Tổ chim tự có mà, đâu có ai đâu, sao gọi là ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 61. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, vậy mình lấy nƣớc có phải là ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.52) 62. Lại có vụ án mới phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 63. Dạ, vụ án đánh cắp đó cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 64. Ai ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 65. Có cô Thanh không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 66. Cô Thanh lấy nƣớc dƣới sông lên nhà nấu cơm giặt đồ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.53) 67. Lấy nƣớc dƣới sông về tắm là … là … ăn cắp? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 68. Nƣớc dƣới sông không phải của mình, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 69. Vậy mình lấy nƣớc trong nhà mẹ mình uống, mình có phải ăn cắp không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 70. Dạ không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 71. Bay đƣợc à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.55) 72. Nhƣng ai cũng có cánh ngƣời ta không chạy xe nữa đúng

p6

không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 73. Vậy thì con đƣờng không cần làm luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.56) 74. Cánh có thể bay đi Suối Tiên không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 75. Bay xa quá lỡ mình buồn ngủ thì sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.57) 76. Làm ống hút chi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.58) 77. Dạy vẽ à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 78. Trên đời này có học trò lớp Hai nào làm giám đốc không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 79. Nhƣng làm đôi cánh có dễ nhƣ suy nghĩ của tôi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.59) 80. Có bằng cấp gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.60) 81. Sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.61) 82. Chế nhƣ thế nào đây Nam? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 83. Vậy rồi chế cái nhà máy đó thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.62) 84. Nhƣng mà con có thế làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 85. Ba mẹ con làm nghề gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 86. Làm ruộng là làm những gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 87. Mẹ mình làm gì à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 88. Cấy giậm là làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 89. Là giậm giậm xuống lúa hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 90. Nhỏ lúa trên đất ngƣời ta trồng lên đất mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 91. Nói sao ta? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 93. Vậy sao không để nó y nhƣ cũ, nhổ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 94. Em thấy ổn không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.65) 95. Hƣng Mặt Bành có vác mấy bao lúa nổi không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.66) 96. Mai thằng Quý nó có bỏ lớp chạy đi kiếm Nội nữa không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.70) 97. Quý, đƣờng lên trời chỗ nào, dắt mọi ngƣời tới đo đi? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.75) 98. Mây là vầy sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 99. Vậy rồi sao mà mình cỡi lên đó bay đi đƣợc? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 100. Ai cỡi lên mây bay đƣợc hồi nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.76) 101. Ở trong đó có gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 102. Chắc là ghê lắm? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 103. Phải nó có mấy con ma không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 104. Có thấy ông Bác Vật Lang không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.77) 105. Những con rắn làm đá mòn hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78)

p6

4 Tiền 73

của

thần

cây

106. Da ông cọp mềm nhƣ lông mèo sao bào mòn đá đƣợc ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.78) 107. Ổng cọp là đàn ông hả ông? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 108. Cái mà cũng gọi là ổng hả? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.79) 109. Bạn có hình dung nó sẽ nhƣ thế nào? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.80) 110. Thiệt không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.81) 111. Nơi nào có ngƣời quen nơi đó có gì đáng sợ đâu, phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 112. Hai đứa đi đâu vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.82) 113. Mình làm một cái camera hình con rắn hén? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 114. Nhƣng rủi cái máy chui vô bụng con cọp rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.84) 115. Mép là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 116. Lấy lòng là sao Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.86) 117. Phải không cô? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.87) 118. Đôi cánh gì? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.88) 119. Nó đâu rồi Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 120. Bay về trời đƣợc thiệt hả Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 121. Tầm hồn là gì Nội? (Võ Diệu Thanh, 2016, tr.89) 1. Cũng không có cá mập? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 2. Con cá sấu? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 3. Mày tính sao Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.7) 4. Không tin à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 5. Ông nội hôm nay cũng chƣa về đâu đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 6. Vì sao ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.8) 7. Con chết rồi hà ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 8. Còn nhớ không ông? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.19) 9. Con không đi tàu bè, không qua sông sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.21) 10. Con không đi tắm biển luôn à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 11. Mày cũng không thích tao xuống sông phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.22) 12. Mày còn dám đi tắm xong nữa sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 13. Có cách khác sao nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.26) 14. Anh Bòn Bon có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 15. Bé Hai có biết bơi không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 16. Nhƣng có biết lội không mà đòi đi xuồng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.28) 17. Lội à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 18. Em đi tắm một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.29) 19. Bé Hai …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.30) 20. Nhƣng sao bé Hai nhỏ xíu lại biết lội? (Võ Diệu Thanh,

p6

2016c, tr.31) 21. Liệu Bòn Bon có tập đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 22. Bòn Bon sẽ chìm xuống nƣớc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 23. Nội ơi, liệu con có thể nổi trên nƣớc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 24. Lẽ nào con không bị chìm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.34) 25. Đấy đấy, thấy chƣa? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 26. Mày đừng có dạy đời tao nữa đƣợc không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.35) 27. Mày đi nổ với mấy thằng Củ Cải về vụ tàng hình đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.43) 28. Lỡ tụi nó bắt nhốt làm chết Ban Đêm rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.47) 29. Nội ơi Ban Đêm đâu rồi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.52) 30. Trụng nƣớc sôi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 31. Tại sao mày lại trốn? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 32. Mày có biết tao lo lắng cho mày lắm không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.54) 33. Đấy, chửi nó có phải oan không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.55) 34. Nhƣng sao lần này con giận dai vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.56) 35. Ban Đêm xuống quán thịt cầy làm gì ông nội? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 36. Sao lại làm thịt Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.57) 37. Lên ti vi? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 38. Nhƣng rủi ban đêm chạy ra ruộng? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.62) 39. Sao lại tại con? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.64) 40. Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.66) 41. Rủi ngƣời đó phe của chú rồi sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 42. Anh cũng điên nhƣ hai thằng khùng này sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 43. Anh hỏi tôi có chỗ nào nó không phải là con chó đúng không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.70) 44. Con không hiểu gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.72) 45. Mà sao cô lại khóc nhỉ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.86) 46. Nội, mình có cách nào để Ban Đêm sống lâu hơn không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.97) 47. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 48. Có cách nào không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 49. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.98) 50. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.101) 51. Mày giấu cái gì?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.104)

p6

5 Những 67

cậu bé

mặt

trời

52. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.105) 53. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 54. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.106) 55. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 56. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.107) 57. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 58. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 59. Nhƣng tiền không tự lên đó đúng không? Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 60. Sao nó không lấy tiền này mua một cái điện thoại? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.108) 61. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 62. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 63. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.109) 64. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.110) 65. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 66. Còn cái máy này? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.113) 67. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 68. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.114) 69. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 70. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 71. Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 72. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 73. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2016c, tr.115) 1. Đôi dép của má mày cho à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.6) 2. Mày quăng rồi, mày hỏi làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 3. Hổng lẽ biểu tao nói nhớ mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 4. Mắc mớ gì mày? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 5. Mày câm rồi à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.7) 6. Vậy mình nên làm gì để đỡ nhớ má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.8) 7. Mày đi đâu đây? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 8. Mày định làm lớp trƣởng cái chùa này à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.14) 9. Bộ … con cô cũng hƣ hỏng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.16) 10. Cô Mai nhìn thằng Hà bị phạt hết ngày này 11. Con có thể làm gì giúp cô không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.18) 12. Mẹ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 13. Chèn, mẹ đóng kịch một mình à? (Võ Diệu Thanh, 2017,

p6

tr.19) 14. Mẹ đang vậy thật à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.19) 15. Xong chƣa anh Hai? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.25) 16. Bé Châu? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.27) 17. Nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 18. Điêu Thuyền? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.34) 19. Mà sao chú không đánh? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 20. Chú không tiếc con diều đẹp của con chú à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.35) 21. Không tại con thì tại ai bây giờ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.36) 22. “Mày giám sao?” (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 23. Má có thấy chuyện này không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.37) 24. Ba thích ăn món gì hả má? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 25. Ba muốn chiều nay ăn cơm với món gì vậy ba? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.43) 26. Cô cũng có lúc sai lầm hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 27. Cô mắc công chuyện hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.50) 28. Ba cô đánh má cô hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 29. Sao mà đƣợc nhƣ vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 30. Lớn lên mình sẽ nghĩ khác hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.51) 31. Thật sao cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.52) 32. Ôi trời, ba trăm năm à? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.53) 33. Ban Đêm, để nội kể? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 34. Biết đâu tụi nó trở lại? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.54) 35. Hình ƣ? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 36. Mƣời hai cây vàng là bao nhiêu tiền vậy nội? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.58) 37. Bòn Bon ơi, đi tắm xong không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.59) 38. Mày giấu cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 39. Mà cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 40. Của mày sao mày không biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 41. Nhƣng … rủi nó là trái lựu đạn? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.62) 42. Mày nghĩ mƣời hai cây vàng nó cỡ nào? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 43. Giờ làm sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.63) 44. Nhƣng nó có cái gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 45. Tiền ở đâu mà nhiều vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 46. Mình tính sao với nó? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.64) 47. Nói dóc? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 48. Giống nhƣ hồi xƣa ông nội tao cất vàng vậy hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 49. Nếu nhƣ mày có số tiền lớn vầy, mầy sẽ làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65) 50. Ừ, ai cũng cần tiền để lo một cái gì đó trong đời phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.65)

p6

51. Cũng không biết của ai để mà trả đúng không Bòn Bon? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 52. Về thật sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 53. Má tao sẽ lấy tiền không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.66) 54. Chà, nặng nặng, bộ ngoài chợ có bán cái này hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 55. Mà mày đá đƣa tiền cho má mày rồi phải không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 56. Ơ …? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.68) 57. Mà mày tiếc món tiền đó không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.69) 58. Mệt mỏi giống Ban Đêm không? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 59. Rồi cũng chết sao? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.70) 60. Mày sao vậy? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 61. Hết pin rồi à?(Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 62 - Mày bán làm gì? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 63. Con Ban Đêm? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 64. Ban Đêm hả? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.71) 65. Sao cô biết? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 66. Mà cáp treo làm nhƣ vầy đúng hả cô? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.77) 67. Bằng cáp treo? (Võ Diệu Thanh, 2017, tr.78)

p6

PHỤ LỤC 7

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

1. Tác giả luận văn:

Dạ chào chị!

Em đã đọc nhiều bài viết về chị và đƣợc biết về tuổi thơ nhọc nhằn của chị. Chị

có thể chia sẻ thêm về tuổi thơ của mình đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến những sáng tác

viết cho thiếu nhi của chị không ạ?

Nhà văn Võ Diệu Thanh (VDT)

Tuổi thơ trẻ con ở nông thôn thời bao cấp thì ai cũng nhọc nhằn. Riêng tôi sự

nhọc nhằn khác hơn nó thiên về tinh thần, thiên về sự khắc nghiệt bởi nội tôi là nạn

nhân của chiến tranh tang tóc. Khổ và đói đè lên ký ức khiến nội tôi gần như chẳng

còn quan tâm tới nghỉ ngơi và giải trí. Nội dùng mình làm tấm gương và tôi trở thành

bản sao của sự cần kiệm gần như khắc khổ. Nhưng điều đó chỉ ảnh hưởng tới trang

văn dành cho người lớn. Với trẻ con tôi dành nhiều sự đồng cảm ở góc nội tâm cô độc

của một đứa trẻ tự kỷ đã may mắn vượt thoát được bức tường mặc cảm nặng nề.

Những nhân vật của tôi được tôi cho bước ra ánh sáng sớm hơn, nhí nhố không giới

hạn và hòa nhập nhẹ nhàng với mọi thứ được mất như một dòng nước mềm dịu mát.

2. Tác giả luận văn:

Hình tƣợng những ngƣời phụ nữ trong các tác phẩm của chị phần lớn là những

ngƣời mẹ nghèo, vất vả mƣu sinh, có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Điều

đáng trân trọng là tấm lòng thƣơng con và cách giáo dục con rất hiệu quả của họ.

Cuộc sống hôn nhân của chị đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến việc xây dựng hình tƣợng

các nhân vật nữ nhƣ: mẹ của Ngàn, mẹ của Tì Ti, mẹ của Mai ?

VDT:

Hình tượng người mẹ trong những tác phẩm thiếu nhi không mang dáng dấp

riêng tôi mà nó là má tôi, chị tôi hay những phụ huynh nào đó tôi từng yêu quý. Bởi

bản thân tôi đã từng thất bại ở thời đầu hôn nhân và thời đầu làm mẹ. Những thất

bại là một vết thương lớn nhưng cũng là một bài học lớn để tôi biết chắc lọc, biết

công nhận những giá trị tích cực tôi nhận từ cuộc sống. Tôi không có cái tôi của

một người mẹ hoàn hảo nên tôi có thể thông cảm được nhiều hình thức mẹ xung

quanh mình. Qua những gì tôi học hỏi được từ những người mẹ tiến bộ mà hình

tượng người mẹ mang nét đẹp lam lũ nhẹ nhàng hơn.

p7

3. Tác giả luận văn:

Một điều rất dễ nhận ra là những bạn nhỏ trong truyện viết cho thiếu nhi của chị

đều đƣợc lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng của ông bà nội. Phải chăng tuổi thơ

đƣợc sống gần gũi với nội đã giúp chị có những trang viết rất ngọt về hình tƣợng

ông nội của Bòn Bon, nội của Quý …?

VDT:

Ông nội là mơ ước của tôi vì ông nội tôi mất khi ba tôi mới tám tuổi. Tôi khát

khao một ông nội điềm đạm, trải đời và minh triết để có thể đồng hành cùng với

những ngỗ ngược nhưng rất đỗi đáng yêu của tuổi thơ. Tôi muốn mọi đứa trẻ đều

được nuôi dạy trong vòng tay rắn rỏi vững vàng nhưng cũng rất đỗi vị tha của

những người đàn ông đã thấu suốt lẽ đời. Tình yêu của người ông đủ lớn để bao

dung nhưng đủ cứng để không ủy mị và hoảng loạn trước những vấp váp mà trẻ con

nào cũng trải. Tôi không muốn gán ghép hình ảnh đó với bà nội vì tôi muốn bà tôi

được sống đúng tự nhiên, nữ tính, hẹp hòi nhưng nhân hậu.

4. Tác giả luận văn:

Trong truyện Siêu nhân cua, cô giáo Thanh hiện lên là một giáo viên luôn hết

lòng vì học sinh. Đƣợc gặp nhà văn Võ Diệu Thanh – cô giáo Thanh ngoài đời, em

cảm nhận rất rõ về sự nhiệt tình và sự tận tụy với nghề của chị. Chị có thể chia sẻ

thêm về những kinh nghiệm trong quá trình làm giảng dạy Mỹ thuật cho học sinh

tiểu học của mình không ạ? Và phải chăng hình tƣợng cô giáo Thanh trong tác

phẩm chính là hình bóng của tác giả?

VDT:

Tôi xây dựng cô Thanh dựa trên chính mong muốn mình về hình tượng cô giáo.

Hầu hết giáo viên đều thương học trò như vậy. Nhưng vì nhiều áp lực cô giáo đôi

khi quên và giận dỗi học trò. Tôi cũng giận hờn này nọ nhưng có lẽ ít hơn đồng

nghiệp vì trong nghề dạy tôi đứng trên bục giảng với tâm thế không gì để mất cũng

không gì để sợ. Tôi thích bản thân mình hồn nhiên nên tôi yêu những nét hồn nhiên.

Tôi cực kỳ thích sáng tạo nên tôi tôn trọng những non nớt rất độc bản của học trò.

Tôi xây dựng chính mình trong Siêu Nhân Cua. Ý đồ là muốn khoe một cô Thanh

rất hiếu động, rất con người chớ không phải đơn thuần là tận tụy.

5. Tác giả luận văn:

p7

Đọc các truyện viết cho thiếu nhi của chị, em rất ấn tƣợng về những bạn nhỏ

với những cái tên rất ngộ nghĩnh nhƣ Tì Ti, Nhóc, Bòn Bon, Củ Cải, Chùa, Nhã,

Quí… Chị muốn gửi gắm điều gì qua việc đặt tên cho các nhân vật nhƣ vậy ạ?

VDT:

Tôi thích những cái tên thuần quê và xưa cũ. Những cái tên gợi về thời thơ ấu

của của một miền đất chân chất. Gọi những cái tên đó tôi dễ hình dung ra những cá

tính trên một bối cảnh phù sa ngọt phủ dầy cây cỏ lá hoa. Đặt đúng tên tôi dễ hình

dung nhân vật mình đang sống trước mặt để mô tả chân thật nhất.

6. Tác giả luận văn:

Viết về trẻ em, điều khiến chị trăn trở là gì ạ?

VDT:

Những bi kịch trẻ em gặp phải hiện nay không phải do đói nghèo, do thiếu cơm

thiếu áo mà là áp lực từ phía cha mẹ. Hầu hết cha mẹ đều có một đến 2 con nên dành

rất nhiều quan tâm cho con. Sự quan tâm không đúng cách dẫn đến cha mẹ khủng

hoảng tinh thần và lan truyền căn bệnh tinh thần cho con. Môi trường tinh thần bị ô

nhiễm. Những đứa trẻ bị nhiễm độc tinh thần từ cha mẹ đã đem tâm trạng cộc cằn đó

đến lớp. Nếu giáo viên không hiểu, không ý thức lành mạnh hóa lớp học mình, với

lượng học sinh bị nhiễm độc tinh thần quá đông bản thân giáo viên cũng bị lây truyền.

Bạo lực học đường có thể diễn ra bất cứ hình thức nào.

7. Tác giả luận văn:

Em đƣợc biết sắp tới chị sẽ cho ra mắt ba truyện tranh gồm: Đến chơi nhà Ông

Tiên, Nhà tớ có Nàng tiên cá, Vua bắt trộm. Chị có thể bật mí một chút về nội dung

của ba truyện tranh này đƣợc không ạ?

VDT:

Những mẫu truyện xoay quanh cậu bé Bin ngố và tăng động. Bin ngây thơ có

nhiều suy nghĩ rất riêng đã dẫn đến những hiểu lầm. May mắn Bin có ông nội đồng

hành nên những khó khăn đều được giải quyết mà không làm cậu bé tổn thương.

Những câu chuyện giúp người lớn hiểu hơn về những góc khuất trong tư duy con trẻ

cũng như giúp các bạn nhỏ trân trọng những điều khác biệt của nhau cũng như trân

trọng sự khác biệt của chính mình.

Tác giả luận văn:

p7

Cảm ơn chị về những chia sẻ rất thú vị này. Là một độc giả thích đọc truyện

thiếu nhi, em rất nóng lòng đón chờ những sáng tác mới của chị. Chúc chị thật nhiều

sức khỏe và gặt hái đƣợc nhiều thành công hơn nữa!

An Giang, ngày 12, tháng 3 năm 2022

p7

PHỤ LỤC 8

HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH NHÀ TỚ CÓ NÀNG TIÊN

CÁ CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p8

PHỤ LỤC 9

HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH ĐẾN CHƠI NHÀ ÔNG TIÊN

CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p9

PHỤ LỤC 10

HÌNH ẢNH TRANG BÌA TRUYỆN TRANH VUA BẮT TRỘM

CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

(Truyện dự kiến xuất bản trong năm 2022)

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p10

PHỤ LỤC 11

HÌNH ẢNH CÁC BÀI VIẾT CỦA VÕ DIỆU THANH ĐƢỢC IN TRONG SÁCH

TIẾNG VIỆT LỚP 3 TẬP 1, BỘ CHÂN TRỜI SÁNG TẠO

(Bài tập đọc Hoa cỏ sân trường (trang 36, 37 tập 1) với bút danh Võ Diệu Thanh

và Bài tập đọc Ý tưởng của chúng mình trang 76 với bút danh Võ Hồng Thắng)

p11

p11

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p11

PHỤ LỤC 12

VĂN BẢN BÀI THƠ CHÚ ONG BÉ BỎNG

CỦA CÁC ĐỘC GIẢ ĐINH THỊ QUỲNH TRANG VÀ ĐINH HUY HOÀNG

(Bài thơ đƣợc lấy cảm hứng từ truyện tranh

Chú ong bé bỏng của nhà văn Võ Diệu Thanh)

Quả gì màu vàng to thế?

Xin thƣa rằng là quả bí ngô.

Hoa đực của nó ở đâu?

Hoa đực thì có phấn này.

Quả gì mà ngon ngon thế ?

Xin thƣa rằng là quả bí ngô.

Hoa cái của nó ở đâu?

Xem này bầu nhụy của nó to ghê!

Ong vàng bạn đi đâu thế?

Mình đi tìm mật của loài hoa.

Hoa đực hay cái hả ong?

Hoa tƣơi, hoa nào cũng quý bạn ơi!

Vậy thì cùng theo Bin nhé.

Đây nè một vƣờn hoa bí vàng tƣơi

Hoa đực hoa cái liền nhau

Ong bay hút mật thụ phấn cho cây.

What be can you do there?

I can pollinate plants

Wow! I have a pumpkin.

Oh wow! It’s a big pumpkin.

- Tina và Bin 12/7/2021

(Nguồn: bé Đinh Thị Quỳnh Trang (Tina), 10 tuổi, Bình Dƣơng cung cấp)

p12

PHỤ LỤC 13

BẢN DỊCH TIẾNG ANH

TRUYỆN CHÚ ONG BÉ BỎNG CỦA NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

Bản dịch tiếng Anh truyện “Chú ong bé bỏng”

Tác giả: Võ Diệu Thanh Ngƣời dịch: Đinh Thị Quỳnh Trang (10 tuổi, Bình Dƣơng)

Bin invites his friend go out to the pumpkin garden. Grandpa planted thousands of pumpkins. With Bin, grandpa is the best person in the world. Bin’s friends are surprised:

- Thousands is a lot, isn’t Bin? - It’s many sizes… my ten fingers.

Bin started the story:

- Back then, I turned into a bee. I flew to the top of the tree, there was a beehive on it.

Bin’s friend told each other: - It’s more correct that Bin flies and then falls in to the ground with a thud.

They don’t believe:

It’s a very funny story, only bees can understand.

- No! I’m a real bee. I’m also pollinate the pumpkin flowers. - What is pollinate? - - Would you believe a boy in grade 1 can fly and even pollinate a pumpkin flower. - Bin probably make it up. - Bin’s friends don’t believe what Bin says.

p13

So Bin brought his friends home to show of his pumpkin. The pumpkin is very big. Grandpa is the pumpkin pollinate by Bin.

- Yes, it was Bin himself who did it by himself. - But how can Bin fly?

Bin’s friends were surprise. The gentle grandpa told the story of Bin. One day, Bin and his grandpa went to the pumpkin garden to water the pumpkin plantes. Bin saw many different pumpkins (male,female) and asked all sort of question. - This pumpkin flower has fruit, the other pumpkin flower is still small, it will take a

few days to bear fruit, right grandpa?

- That’s not it baby. - This flower is called a female flower. The female flower was born with “a small

fruit” just below called the ovary.

- Do you guys know? “the ovary” will later bear fruit.

This flower is a male flower. Male flowers bloom and the wither. It can’t bear fruit. At that time, grandpa ran to the garden to chase the chicken that was pecking a pumpkin in the distance. “Hui! Hui! Whoops! Whoops! Bin looked at the fresh yellow pumpkin flowers very pleased. - Ah! This pumpkin flower can also be cooked. I cut all the play and then brought it back to my mother to cook soup. Monents later, grandpa returned. Bin cut all the male flowers, arranged in a circle full of pumpkin flowers around him.

- Look grandpa, I make the stamen of a giant pumpkin flower!

Grandpa panics: - Oh! Bin don’t cut the male flower. Male flowers contain pollen. The bee will take

the pollen and put it on the female flowers.

- Thanks to the pollen “the ovary” of the young squash grows into a pumpkin. Without pollen, “the ovary” of the young squash will wither and fall. We won’t have any more pumpkins.

Ah, Bin got it. The bee will sit on the male flower to suck nectar. It’s covered in pollen. Then it carries the pollen grains to the pumpkin flower. The pollen grains stick to the tip of the female pistil. From then, the now pumpkin began to grow up. But Bin has already cut all the male flower. So grandpa is in great danger. Bin is very sorry. Fortunately, grandpa thought of a way to save Bin.

(Nguồn: bé Đinh Thị Quỳnh Trang, 10 tuổi, Bình Dƣơng cung cấp)

p13

PHỤ LỤC 14

HÌNH ẢNH PHẦN LỜI BÀI HÁT KHU VƢỜN TRONG MƠ

DO ĐỘC GIẢ NHÍ ĐINH THỊ QUỲNH TRANG

VÀ NHẠC SĨ PHAN VÕ HOÀNG NAM SÁNG TÁC

(Bài hát đƣợc lấy cảm hứng từ truyện tranh Khu vƣờn trong mơ của Võ Diệu

Thanh)

(Nguồn: nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam cung cấp)

p14

PHỤ LỤC 15

HÌNH ẢNH ĐỘC GIẢ HỒ THÚY AN

THAM GIA CUỘC THI ĐẠI SỨ VĂN HÓA ĐỌC

GIỚI THIỆU VỀ TRUYỆN TIỀN CỦA THẦN CÂY CỦA VÕ DIỆU THANH

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p15

PHỤ LỤC 16

HÌNH ẢNH BÀI CẢM NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ

SAU KHI ĐỌC TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

p16

(Nguồn: tác giả luận văn chụp)

p16

PHỤ LỤC 17

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH

Hình ảnh nhà văn, cô giáo Võ Diệu Thanh cùng học sinh trƣờng Tiểu học C,

Chợ Vàm, Tân Phú, An Giang

p17

Hình ảnh nhà văn, cô giáo Võ Diệu Thanh cùng học sinh trƣờng Tiểu học C,

Chợ Vàm, Tân Phú, An Giang xuất hiện trong phim tƣ liệu Từ nơi tận cùng trên

VTV1

(Nguồn: Nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p17

(Hình ảnh tác giả luận văn chụp cùng nhà văn Võ Diệu Thanh và nhân vật Chùa

(Khánh Hƣng ngoài đời) trong truyện Quà tặng của ngày mai

(Từ trái qua: nhà văn Võ Diệu Thanh – Khánh Hƣng – Tác giả luận văn)

p17

(Hình ảnh tác giả luận văn cùng con trai, Út Tiền và Khánh Hƣng )

(Hình ảnh nhà văn Võ Diệu Thanh cùng độc giả và nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam)

Từ trái qua: Đinh Thị Quỳnh Trang – nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam

– nhà văn Võ Diệu Thanh – Đinh Huy Hoàng (Nguồn: tác giả luận văn chụp)

p17

PHỤ LỤC 18

HÌNH ẢNH CÁC GIẢI THƢỞNG NHÀ VĂN VÕ DIỆU THANH ĐẠT ĐƢỢC

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhất Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa (năm 1994)

của nhà văn Võ Diệu Thanh

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Khuyến khích Cuộc thi sáng tác văn học tỉnh An

Giang kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ Quốc (năm 1994)

của nhà văn Võ Diệu Thanh

p18

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải C Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 2009

của nhà văn Võ Diệu Thanh

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Ba Cuộc thi sáng tác ca cổ, dân ca

ca ngợi hình tượng người phụ nữ An Giang qua các thời kỳ (năm 2010)

của nhà văn Võ Diệu Thanh

p18

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhì Cuộc thi truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long

lần thứ IV - 2011 của nhà văn Võ Diệu Thanh

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Nhất Cuộc thi truyện ngắn Yume 2011

của nhà văn Võ Diệu Thanh

p18

Hình ảnh giấy chứng nhận Giải Ba – Dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam

2013 – 2015 của nhà văn Võ Diệu Thanh

Hình ảnh giải thƣởng Tạp chí Hội Nhà văn Việt Nam

và Tạp chí Văn nghệ Quân đội khen tặng nhà văn Võ Diệu Thanh

(Nguồn: nhà văn Võ Diệu Thanh cung cấp)

p18

PHỤ LỤC 19

TRANG BÌA CÁC TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ DIỆU THANH

ĐƢỢC KHẢO SÁT TRONG LUẬN VĂN

(Nguồn: tác giả luận văn chụp)

p19