
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG NGỌC THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ, CẠNH TRANH ĐẾN
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 8340201
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2026

2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG NGỌC THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ, CẠNH TRANH ĐẾN
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 8340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHAN DIÊN VỸ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2026

i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan nội dung luận văn “TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ,
CẠNH TRANH ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM” là một công trình nghiên cứu của tác giả. Được sự hướng dẫn của PGS.TS.
Phan Diên Vỹ, các số liệu, kết quả nghiên cứu và các hàm ý chính sách trong luận văn
là hoàn toàn trung thực, được trích dẫn đầy đủ và không sao chép bất kỳ bài của tác giả
nào. Khi trích dẫn các tài liệu, tác giả đều ghi nguồn rõ ràng và trình bày theo đúng quy
định.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 3 năm 2026
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Thảo

ii
TÓM TẮT
Tiêu đề: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ, CẠNH TRANH ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Luận văn này nghiên cứu tác động của chuyển đổi số, cạnh tranh đến sự ổn định của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2023, sử dụng dữ liệu bảng từ 30
ngân hàng với tổng số 522 quan sát. Nghiên cứu áp dụng phương pháp System GMM
để kiểm soát vấn đề nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan, đồng thời sử dụng
chỉ số Z-score để đo lường sự ổn định ngân hàng, chỉ số Lerner để đo lường mức độ
cạnh tranh và chỉ số ICT Index để đo lường mức độ chuyển đổi số.
Kết quả cho thấy cạnh tranh có tác động tiêu cực, có ý nghĩa thống kê cao đến sự ổn
định của ngân hàng với hệ số -1,5902 (p < 0,01), phù hợp với quan điểm "cạnh tranh -
bất ổn" của Keeley (1990). Nghiên cứu cũng phát hiện mối quan hệ phi tuyến dạng chữ
U giữa cạnh tranh và sự ổn định với điểm cực tiểu tại mức chỉ số Lerner khoảng 0,203,
phù hợp với quan điểm của Martinez-Miera và Repullo (2010).
Đặc biệt, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng về tác động tích cực của chuyển đổi số đến
sự ổn định ngân hàng với hệ số 0,3776 (p < 0,10), đồng thời phát hiện vai trò điều tiết
quan trọng của chuyển đổi số trong mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng
với hệ số tương tác 2,4758 (p < 0,10). Kết quả này cho thấy chuyển đổi số có thể làm
giảm bớt tác động tiêu cực của cạnh tranh đến sự ổn định, phù hợp với lý thuyết đổi mới
đỗ vỡ của Christensen (1997). Trong môi trường cạnh tranh cao, các ngân hàng có mức
độ chuyển đổi số cao sẽ có khả năng duy trì sự ổn định tốt hơn so với các ngân hàng có
mức độ chuyển đổi số thấp.
Đồng thời, các yếu tố như quy mô ngân hàng (β = 0,1409, p < 0,01), tỷ lệ vốn chủ sở
hữu (β = 3,2651, p < 0,01), hiệu quả hoạt động (β = -0,0638, p < 0,01), tăng trưởng GDP
(β = 3,4150, p < 0,05) và lạm phát (β = -2,2197, p < 0,01) cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc xác định sự ổn định ngân hàng. Kết quả này được xác nhận vững chắc thông
qua các kiểm định Arellano-Bond (AR(2) p-value = 0,143 > 0,05) và Hansen (p-value
= 0,186 > 0,05).
Dựa trên các phát hiện này, luận văn đề xuất các hàm ý quản trị cho Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, các ngân hàng thương mại và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm
bảo sự ổn định tài chính trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh ngày càng gia tăng.
Các hàm ý tập trung vào việc đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ

iii
vào quản trị rủi ro, nâng cao tỷ lệ an toàn vốn, cải thiện hiệu quả hoạt động và xây dựng
chiến lược cạnh tranh bền vững.
Từ khóa: chuyển đổi số, cạnh tranh, sự ổn định ngân hàng, ngân hàng thương mại, Z-
score, chỉ số Lerner, ICT Index, System GMM.

