
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Tài chính doanh nghiệp 42C
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chúng ta chưa đánh giá hết
được vai trò thiết yếu của việc sử dụng vốn nên dẫn đến hiện tượng sử dụng
vốn còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong cơ chế
này được bao tiêu cung ứng, chính vì thế hiệu quả sử dụng vốn không được
chú ý đến, do đó không mang lại hiệu quả, lãng phí nguồn nhân lực. Hiện nay,
đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc chuyển dịch cơ chế quản
lý kinh doanh đó là việc mở rộng quyền tự chủ, giao vốn cho các doanh
nghiệp tự quản lý và sử dụng theo hướng lời ăn lỗ thì chịu. Bên cạnh đó, nước
ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp đang đối mặt với
cạnh tranh gay gắt và điều này đã tạo cơ hội, thách thức cho các doanh nghiệp
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp năng động,
sớm bắt nhịp cơ chế thị trường đã sử dụng vốn có hiệu quả còn những doanh
nghiệp khó khăn trong tình trạng sử dụng vốn. Và có thể nói, vốn là một yếu
tố quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Vốn là chìa khóa, là điều kiện tiền đề cho các doanh nghiệp thực hiện
các mục tiêu kinh tế là lợi nhuận, lợi thế và an toàn. Vì vậy, việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh không còn là khái niệm mới mẻ nhưng nó
luôn đặt ra trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty xây dựng công trình hàng không (ACC) thuộc Tổng công ty bay
dịch vụ Việt Nam- Bộ Quốc phòng, là một trong những doanh nghiệp thành
công trong ngành xây dựng. Vài năm trở lại đây trên công trường xây dựng
mở rộng thêm nhiều công trình mang tầm cỡ quốc gia như: đường hầm xuyên
đèo Hải Vân, Cảng hàng không Liên Khương ở Đà Lạt, Công trường 1B Nội
Bài... Đây chính là những cơ hội phát triển thuận lợi cho ngành công nghiệp
xây dựngViệt Nam. Tuy nhiên, thị trường xây dựng to lớn như trên nếu không
tận dụng được sẽ có thể trở thành khó khăn, thử thách đối với nhiều doanh
nghiệp xây dựng trong nước mà đặc biệt là các công ty, xí nghiệp xây dựng
quốc doanh vốn cần giải quyết những vấn đề còn vướng mắc: Trang thiết bị
lạc hậu, trình độ công nghiệp, trình độ quản lý... Ngoài ra với phương pháp và
cách thức điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt hiệu quả
sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựng nói riêng cũng như các doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế nói chung ngày càng trở nên cấp thiết.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Tài chính doanh nghiệp 42C
2
Nhận thấy vấn đề quan trọng đó, sau một thời gian thực tập ở công ty
ACC, được sự giúp đỡ trực tiếp của kế toán tổng hợp - thượng úy Cao Văn
Kế và các cán bộ khác trong công ty đã cung cấp một tài liệu cần thiết cùng
với sự hướng dẫn của Ths. Phan Thị Hạnh tôi đã tiến hành phân tích những
mặt mạnh cũng như mặt hạn chế cần được khắc phục trong công việc quản lý
và sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong những năm gần đây.
Bài chuyên đề đã được hoàn thành, song còn có gặp một số vấn đề mà
thời gian nghiên cứu lại có hạn, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong sự góp ý của giáo viên hướng dẫn và ban lãnh đạo Công ty ACC.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Tài chính doanh nghiệp 42C
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về vốn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp
nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh,
đây là một trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt
động của mình. Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn phải biết vận
động không ngừng phát triển đồng vốn đó.
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông nhằm mục
đích kiếm lời. Nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả
công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh
hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn
mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp.
Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột của Tư bản chủ nghĩa trong công thức T –
H – SX - - H’ – T’ của C.Mác thì có thể xem đây là một công thức kinh doanh,
chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua những
TLSX để tiến hành quá trình sản xuất ra sản phẩm, hàng hoá theo nhu cầu của
thị trường rồi đem những thành phẩm hàng hoá này bán cho khách hàng trên
thị trường để thu được một lượng tiền tệ lớn hơn số ban đầu bỏ ra.
Theo quan điểm của Mác, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư,
là một đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này mang một tầm khái
quát lớn, nhưng do bị hạn chế bởi điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Mác
đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho
nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nhà khoa học đại diện
cho các trường phái khác nhau đã có bổ sung thêm các yếu tố mới cũng được
coi là vốn.
Theo Paul.A.Samuelson- nhà kinh tế học của trường phái “Tân cổ điển”
đã thừa kế các quan niệm của trường phái “cổ điển” về yếu tố sản xuất để
phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba bộ phận là: đất

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Tài chính doanh nghiệp 42C
4
đai – lao động – vốn. Theo ông vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục
vụ cho quá trình sản xuất mới.
Sau này David Begg có bổ sung thêm về định nghĩa của vốn, theo ông:
vốn bao gồm có vốn hiện vật (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp).
Nhìn chung cả Samuelson và Begg đều có chung một thống nhất cơ bản về
vốn là các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuy vậy, quan điểm này cho thấy vốn vẫn bị đồng nhất với Tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ Tài sản của
doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất nhằm mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ
những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh
nghiệp. Khái niệm này không những chỉ ra vai trò là một yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp
trong một quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của
doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản
xuất cuối cùng.
Như vậy, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp
nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường
vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới
thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tăng việc làm và thu nhập cho người lao động.
Ta cũng cần phân biệt giữa tiền và vốn. Muốn có vốn thì thường phải có
tiền, nhưng có tiền thì chưa hẳn được gọi là vốn. Tiền muốn được coi là vốn
phải thoả mãn những điều kiện sau:
- Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định tức phải được
đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực.
- Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Sự tích tụ
và tập trung của tiền phải đạt một mức độ tối thiểu nào đó thì mới đủ sức để
đầu tư cho một dự án kinh doanh nào đó dù là nhỏ nhất. Nếu tiền nằm rải rác
khắp nơi, không được gom thành khoản thì cũng không làm được việc gì.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Tài chính doanh nghiệp 42C
5
- Khi đã đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lợi.
Cách vận động và phương thức vận động của tiền tuỳ thuộc vào phương thức
đầu tư kinh doanh.
1.1.2. Cơ cấu của vốn
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ… hay
hoạt động bất cứ ngành nghề gì khác các doanh nghiệp cần phải có một lượng
vốn nhất định. Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản. trong
hoạt động tài chính của doanh nghiệp, quản lý vốn kinh doanh và sử dụng vốn
kinh doanh có hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất có tính chất quyết định đến
mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy để nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh ta cần phải nắm rõ về vốn, đặc điểm của nó ra
sao.
1.1.2.1. Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định được
gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là Tài sản cố định. Vì vậy khi
nghiên cứu về vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố
định. Tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và
tư liệu lao động.
Điểm nổi bật của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó mặc dù tư
liệu lao động bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban
đầu. Chỉ khi nào chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc không còn lợi ích kinh tế
thì khi đó chúng mới bị thay thế. Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là
những tư liệu lao động có giá trị lớn tham gia một cách trực tiếp vào quá trình
sản xuất của doanh nghiệp qua nhiều chu kỳ sản xuất. Một tư liệu lao động để
thoả mãn là tài sản cố định phải có đồng thời hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu từ một năm trở lên
- Phải đạt một mức tối thiểu nhất định nào đó về giá trị (tiêu chuẩn này
thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ). Hiện nay ở
nước ta quy định là > 5 triệu đồng.
Nếu phân loại theo hình thái vật chất thì tài sản cố định có hai loại: tài
sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình

