
LUẬN VĂN:
Hoàn thiện quá trình lập kế hoạch kiểm
toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài
chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt
Nam thực hiện

LỜI MỞ ĐẦU
Kế hoạch kiểm toán đúng đắn là cơ sở để kiểm toán viên thu thập bằng chứng có giá
trị góp phần đưa ra các nhận xét xác đáng về thực trạng hoạt động được kiểm toán, giữ
vững và nâng cao uy tín cũng như hình ảnh của Công ty kiểm toán đối với khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt
động kiểm toán độc lập nói riêng là hoạt động mới mẻ. Trong khi đó hành lang pháp lý cho
hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận
dụng trong các cuộc kiểm toán ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về
số lượng và chất lượng. Do vậy, việc lập kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm
bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Với ý nghĩa đó, qua quá trình học tập tại trường và được sự hướng dẫn của Thạc sỹ
Phan Trung Kiên, em đã quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện quá trình lập kế hoạch kiểm
toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt
Nam thực hiện” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề thực tập bao gồm ba phần chính như sau:
Phần I: Cơ sở lý luận về quá trình lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán
Báo cáo tài chính.
Phần II: Thực trạng lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh
Kiểm toán Việt Nam – CPA VIETNAM thực hiện.
Phần III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán
Báo cáo tài chính do CPA VIETNAM thực hiện.

PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY
TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Khái niệm và vai trò của Lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính.
1.1. Khái niệm về kế hoạch và lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính.
Các cách tiếp cận với khái niệm “Kế hoạch”: Theo từ điển tiếng Việt, “Kế hoạch”
được giải nghĩa là: “ Sự sắp đặt hoặc hoạch định đường lối có hệ thống về những công việc
dự định làm”. Trên góc độ quản lý, với các cách tiếp cận khác nhau có thể đưa ra những
khái niệm cụ thể về kế hoạch; sau đây là ba cách tiếp cận chủ yếu:
Thứ nhất: Tiếp cận kế hoạch với tính cách là một quá trình thực hiện mục tiêu của
một hoạt động thì kế hoạch là trình tự tiến hành hoạch định, tổ chức thực hiện nhằm đạt
được mục tiêu đề ra. Với cách tiếp cận này sẽ có khái niệm về kế hoạch hoá.
Thứ hai: Tiếp cận kế hoạch với tính cách là quá trình cân đối nguồn lực cho một
hoạt động thì kế hoạch là quá trình cân đối tích cực giữa yêu cầu của hoạt động với các
nguồn lực thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Thứ ba: Tiếp cận kế hoạch với tính cách là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động thì
kế hoạch là các phương án tổ chức thực hiện hoạt động để đạt được mục tiêu đề ra.
Khái niệm “Kiểm toán” theo quan niệm hiện đại: Ở nước ta, thuật ngữ “Kiểm toán”
mới chỉ thực sự xuất hiện và đưa vào sử dụng trong những năm đầu của thập kỷ 90. Vì vậy
cách hiểu và cách dùng về khái niệm “Kiểm toán” chưa được thống nhất. Tuy nhiên, theo
quan điểm hiện đại: “Kiểm toán là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động
được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các
kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có
hiệu lực”.
Từ đó, có thể hiểu khái niệm “Kế hoạch kiểm toán” là sự sắp đặt hoặc hoạch định
đường lối có hệ thống về những công việc kiểm toán dự định sẽ làm để xác minh và bày tỏ
ý kiến về thực trạng được kiểm toán.
Yêu cầu của mỗi cuộc kiểm toán là phải đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính
hiệu lực thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết

luận kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các số liệu trên Báo cáo tài chính. Để đạt
được các yêu cầu trên, kế hoạch kiểm toán phải được xây dựng một cách khoa học.
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán
nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán.
Việc lập kế hoạch kiểm toán đã được quy định rõ trong các chuẩn mực kiểm toán hiện
hành, Chuẩn mực thứ tư trong mười Chuẩn mực Kiểm toán được chấp nhận rộng rãi
(GAAS) đòi hỏi công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý nếu có
phải được giám sát đúng đắn. Trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 300 - Điểm 2
cũng nêu rõ “Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo
cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả”.
Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán phải
được lập một cách thích hợp nhằm bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm
toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm tàng; đảm bảo cuộc kiểm toán được
hoàn thành đúng thời hạn. Việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu của
cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị cho hoạt động kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong
công tác kiểm toán đã được quy định thành Chuẩn mực.
Như vậy, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán cần
phải tiến hành để đảm bảo cho toàn bộ cuộc kiểm toán được thực hiện thành công. Tuy
nhiên, lập kế hoạch kiểm toán không phải là một hoạt động đơn lẻ mà bao gồm rất nhiều
các bước công việc nối tiếp nhau. Bởi vì lập kế hoạch kiểm toán là một công việc không
đơn giản, một mặt đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ chuyên môn cao, mặt khác nó
đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng khác nhau.
Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính:
Giai đoạn I: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán.
Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Giai đoạn III: Hoàn thành kiểm toán và công bố Báo cáo kiểm toán.
Để hiểu rõ hơn về quy trình lập kế hoạch kiểm toán, đồng thời có thể lập kế hoạch
kiểm toán một cách khoa học và thống nhất theo một chuẩn mực chung được thừa nhận
rộng rãi, người ta lại chia lập kế hoạch kiểm toán thành ba bộ phận:
Kế hoạch chiến lược.
Kế hoạch tổng thể.

Chương trình kiểm toán.
Các bộ phận của kế hoạch kiểm toán phụ thuộc vào đặc trưng của từng cuộc kiểm toán.
Kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp
cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo lập ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt
động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
Theo những hướng dẫn của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 300 - từ điểm 14
đến điểm 17:
Cuộc kiểm toán lớn về quy mô là cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính tổng hợp ( hoặc báo
cáo tài chính hợp nhất) của Tổng công ty, trong đó có nhiều công ty đơn vị trực thuộc cùng
loại hình hoặc khác loại hình kinh doanh.
Cuộc kiểm toán có tính chất phức tạp là cuộc kiểm toán có dấu hiệu tranh chấp, kiện
tụng hoặc nhiều hoạt động mới mà kiểm toán viên và Công ty kiểm toán chưa có nhiều
kinh nghiệm.
Cuộc kiểm toán địa bàn rộng là cuộc kiểm toán của đơn vị có nhiều đơn vị cấp dưới
nằm trên nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, kể cả các chi nhánh ở nước ngoài.
Kiểm toán Báo cáo tài chính nhiều năm là khi Công ty kiểm toán ký hợp đồng kiểm
toán cho một số năm tài chính liên tục, ví dụ từ năm 2005 đến 2007.
Kế hoạch chiến lược là cơ sở lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, là cơ sở chỉ đạo thực
hiện và soát xét kết quả của cuộc kiểm toán.
Việt Nam đã ra nhập WTO, xuất phát từ các quy định của nhà nước về các đối tượng
kiểm toán bắt buộc mà số lượng khách hàng của các Công ty kiểm toán ngày càng tăng
theo. Để đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán, bắt buộc phải có những hướng dẫn cụ
thể hơn trong việc lập kế hoạch kiểm toán cho những đối tượng phức tạp, quy mô lớn, địa
bàn rộng… Do đó, khái niệm và nội dung lập kế hoạch chiến lược ra đời nhằm thoả mãn
những yêu cầu đó.
Kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hoá kế hoạch chiến lược và phương pháp
tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán. Mục
tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực hiện công việc kiểm toán
một cách có hiệu quả và đúng thời hạn.
Dựa vào khái niệm trên, có thể thấy rằng kế hoạch kiểm toán tổng thể trước hết phải
đảm bảo được chức năng cơ bản của nó là cụ thể hoá, chi tiết hoá kế hoạch chiến lược đã
được lập ban đầu. Tuy nhiên, đối với những khách hàng mà công ty kiểm toán không lập

