LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO –BỘ CHỦ QUẢN CƠ SỞ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM

-----o0o-----

TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT TRÀNG

Chuyên ngành : Mỹ Thuật Công Nghiệp

Mã số : 302

Luận văn cử nhân Thời trang

Giảng viên hướng dẫn:

Thạc sĩ Mỹ thuật LÊ SĨ HOÀNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2011

BM03/QT04/ĐT

1

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Khoa: MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

PHIẾU ĐĂNG KÝ

ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Hệ: Đại Học – Chính Quy

1. Họ và tên sinh viên/ nhóm sinh viên đăng ký đề tài:

………………………………………….. MSSV: ………………… Lớp: ....................

Ngành : ..............................................................................................................

Chuyên ngành : .............................................................................................................. 2. Tên đề tài đăng ký : ......................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... 3. Giảng viên hướng dẫn: .....................................................................................................

Sinh viên đã hiểu rõ yêu cầu của đề tài và cam kết thực hiện đề tài theo tiến độ và hoàn thành đúng thời hạn.

Ý kiến giảng viên hướng dẫn TP. HCM, ngày … tháng … năm ……….

(Ký và ghi rõ họ tên) Sinh viên đăng ký

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trưởng khoa ký duyệt

2

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn nghiên cứu khoa học với đề tài “TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT

TRIỂN DỰA TRÊN HOA VĂN GỐM BÁT TRÀNG” được hướng dẫn bởi:

THẠC SĨ MỸ THUẬT- HỌA SĨ LÊ SĨ HOÀNG

Trong quá trình thực hiện đề tài ,tôi đã sưu tầm, tham khảo tài liệu từ các nguồn

thông tin trên internet, sách báo và thực tế…Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí

Minh, Bảo tàng lịch sử Hà Nội, làng nghề gốm sứ Bát Tràng…Nhận được ý kiến

đóng góp quý báo từ giảng viên chuyên nghành thời trang trường Đại học Kỹ Thuật

Công Nghệ Tp.HCM

Tôi cam đoan trước Hội đồng Bảo vệ tốt nghiệp cử nhân ngành Thiết kế thời trang –

Mọi thông tin về số liệu, tài liệu hoàn toàn mang tính chính xác cao tại thời điểm

thu thập và nghiên cứu.

Chân thành cảm ơn

HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

3

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể ban lãnh đạo nhà trường đã tạo

điều kiện học tập tốt nhất trên giảng đường đại học suốt bốn năm qua. Tôi cũng xin

cảm ơn đến chủ nhiệm khoa, cùng quý thầy cô đã dành tâm huyết xây dựng nên

khoa mỹ thuật công nghiệp.

Tiếp đến tôi xin cảm ơn đến thầy THẠC SĨ MỸ THUẬT- HỌA SĨ LÊ SĨ HOÀNG

là người đã chỉ dẫn cho tôi thực hiện và hoàn thành tốt bài luận án này. Tôi vô cùng

cảm ơn thầy đã có những góp ý và phê bình cho bài cuả tôi, nhờ những lời góp ý

cuả thầy mà tôi đã biết và hiểu thêm vấn đề.

Trong quá trình thực hiện nếu tôi có sự sai xót rất mong nhà trường cũng như

GVHD bỏ qua và đóng góp ý kiến chỉnh sữa.

Và bên cạnh đó thì tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị, cô chú làm

việc tại 5B VÕ VĂN TẦN trong thời gian tôi làm đồ án tốt nghiệp đã hết lòng giúp

đỡ và chỉ dẫn cho tôi.

Tôi xin chân thành cảm

HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mục lục

A. PHẦN MỞ ĐẦU :

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Kết quả đạt được của đề tài

7. Kết cấu của đề tài

B. PHẦN NỘI DUNG

Chöông 1 : Tổng quan về hiện trạng của gốm Bát Tràng

Chöông 2 : Lòch sử nguồn gốc ra đờiđ cuûa gốm Bát Tràng và công nghệ sản xuất

gốm Bát Tràng. Bát Tràng “cội nguồn” văn hóa dân tộc

2.1.Lịch sử nguồn gốc ra đời cuûa gốm Bát Tràng

2.2. Söï phaùt trieån cuûa gốm Bát Tràng qua các mốc thời gian

2.3. Ñaëc ñieåm nhận dạng gốm Bát Tràng

2.4. Các dòng men làm nên tên tuổi gốm Bát Tràng

2.5. Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng

2.6. Bát Tràng “cội nguồn” văn hóa dân tộc

Chöông 3 :” Trang phục dạ hội được phát triển dựa trên hình ảnh – hao văn gốm

Bát Tràng . Đối tượng nghiên cứu ý tưởng và xu hướng trang phục

3.1. Lý do chọn gốm Bát Tràng

3.2. Đối tượng nghiên cứu ý tưởng

3.3. Nghiên cứu xu hướng thời trang năm 2011 - 2012

3.4. BST các nhà thiết kế trong nước và nước ngoài khi khai thác gốm sứ vào

trang phục

Chương 4: Kết quả nghiên cứu danh mục công trình sáng tác của tác giả

5

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4.1 Ý tưởng

4.2 Giải pháp triển khai BST

4.3. Phom dáng

4.4. Chất liệu, bảng màu

4.5. Mẫu phẳng

4.6. Mẫu thiết kế

PHAÀN KEÁT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

6

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN MỸ THUẬT

“TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN DỰA TRÊN HOA VĂN GỐM

BÁT TRÀNG”

A. PHẦN MỞ ĐẦU :

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Đặt vấn đề:

Ngày nay, làng nghề Bát Tràng không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được

biết đến ở nhiều nước như: Trung Quốc, Pháp, Mĩ, Nhật Bản… Danh tiếng ấy có

được bởi gốm sứ Bát Tràng mang nét đẹp của chất men và dáng gốm, quan trọng

hơn, nó mang trong mình cái hồn quê của dân tộc. Chính nét đẹp dung dị của quê

hương, đất nước vương trên từng dáng, từng hình của những sản phẩm gốm đã làm

mê say biết bao tâm hồn người Việt và vươn ra quốc tế như một nét văn hóa đẹp

của dân tộc.

1.2. Tầm quan trọng của đề tài:

Nhu cầu ăn mặc của con người được hình thành từ rất lâu .Theo thời gian con

người hình thành nên trang phục hiện đại ngày nay. Như mọi đề tài khác về thời

trang tầm quan trọng đầu tiên là làm cho con người đẹp hơn, khắc phục những yếu

điểm và thiếu sót mà đối tượng hướng đến. Và tầm quan trong thứ hai của đề tài

chính là ý thức về những nét đẹp truyền thống cổ xưa của dân tộc, mang đến cái đẹp

gần gũi với đời sống như gốm Bát Tràng từ những chén, đĩa, chậu cho đến bình hoa,

1.3 Ý nghĩa của đề tài:

Đưa vào trang phục dạ hội một nét đẹp mới trong sáng mà mộc mạc như chất gốm

Bát Tràng, một nét đẹp quý phái mà vẫn gần gũi và sinh động.

1.4. Lý do chọn đề tài:

7

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Nền văn hóa Việt là một nền văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng. Nó có nhiều

ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động của con người, bên cạnh đó nhiều làng nghề

truyền thống nổi tiếng góp phần điểm tô cho sự đa dạng phong phú của nền văn hóa

Việt, trong đó có làng nghề gốm sứ Bát Tràng mà ai ai cũng biết đến nó.

Chữ “Bát Tràng” có ý nghĩa theo hán việt là cội nguồn. Nơi chứa đựng những

nét văn hóa truyền thống có từ lâu đời cho đến nay vẩn được duy trì và phát triển.

Nhưng hiện nay gốm Bát Tràng truyền thống đang dần dần mất đi cái vẻ đẹp mộc

mạc, nguyên sơ của nó bởi nền sản xuất công nghiệp hiện đại.

Được mệnh danh là một làng nghề truyền thống lâu năm, gốm Bát Tràng được sản

xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ qua tài năng sáng tạo của người thợ được lưu

truyền qua nhiều thế hệ.

Bát Tràng không chỉ đơn thuần là một làng nghề mà còn là một làng văn hóa. Gốm

Bát Tràng mang nét đẹp của chất men và dáng gốm quan trọng hơn nó mang trong

mình cái hồn quê của dân tộc, chính nét đẹp dung dị của quê hương, đất nước vươn

lên từng dáng, từng hình của những sản phẩm. Gốm làm mê say biết bao tâm hồn

người Việt và vươn ra quốc tế như một nét văn hóa đẹp của dân tộc.

Đóng góp của đề tài là khơi lên nét đẹp văn hóa truyền thống đang bị dần lãng quên

trong cuộc sống hiện đại.

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tập trung nghiên cứu những phom dáng hình ảnh hoa văn gốm sứ Bát Tràng để

đưa vào trang phục dạ hội dành cho lứa tuổi từ 20 đến 35 tuổi.

Hiện nay gốm sứ cũng được các nhà thiết kế nổi tiếng đưa vào thời trang một cách

rộng rãi ví dụ như trong lễ hội gốm sứ Bình Dương, bốn nhà thiết kế Việt Nam hàng

đầu với các ý tưởng được thổi hồn từ gốm sứ : “ Hỏa Biến”- Thăng hoa trong lửa

của Sỹ Hoàng , “ Huyền thoại rồng” –NTK Ngô Nhật Huy; “Yếm hoa” cách điệu

giữa truyền thống và hiện đại – NTK Thuận Việt và “ Nắng và lửa” của NTK Sơn

Collection.

Li Xaofieng nổi danh là họa sĩ chuyên khai thác những đề tài mới lạ tại Trung Quốc

đại lục. Gần đây nhất ông vừa giới thiệu những tác phẩm thời trang bằng gốm sứ

8

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

đẹp mắt và độc đáo. Đặc biệt hơn nữa, thời trang gốm sứ của ông không chỉ để

trưng bày, mà còn có thể diện được, tuy hơi khó cử động.

Hiện nay, tại làng nghệ Hoa ngữ, xuất hiện một dòng thời trang mới được gọi bằng

cái tên thời trang “gốm sứ”. Nguồn cảm hứng của những thiết kế này được lấy từ

họa tiết, hoa văn, màu sắc trong các loại gốm sứ nhà Minh. Với màu sắc đặc trưng

trắng và đen, cùng các họa tiết cổ như các loại hoa mẫu đơn, hoa trà, hoa phù dung,

các viền tròn hay các họa tiết của thời xưa…

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện nhầm mục đích mang đến cái nhìn gần gũi hơn về gốm Bát

Tràng thông qua ngôn ngữ thời trang. Các thiết kế đem lại một cảm giác đầy mới

mẽ nhưng vẫn hết sức quý phái, thanh thoát hơn cho người mặc.

Qua đó đưa ra thiết kế mới cho xu hướng thời trang với xu hướng gốm sứ ngày một

gần gũi hơn nữa trong cuộc sống hiện đại.

4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu về gốm Bát Tràng

Tìm hiểu về xu hướng đưa gốm sứ vào thời trang trong nước cũng như ngoài nước.

Đưa ra những mẫu thiết kế mới cho phong cách thời trang được dựa trên ý tưởng

thiết kế lấy cảm hứng từ gốm Bát Tràng – một làng nghề truyền thống.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thu thập thông tin từ các Bảo tàng lịch sử trong nước,các nguồn

sách, tạp chí thời trang, thông tin trên mạng như các trang mạng về thời trang trong

và ngoài nước, các trang tin tức, Tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn tin khác nhau

để xác nhận độ chính xác của số lượng thông tin thu thập được.

6. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI

Có cách nhìn mới gần gũi hơn, hiểu hơn về một làng nghề truyền thống trong xã hội

ngày nay.

Qua đó đưa ra được những những phom dáng trang phục dạ hội dựa trên hình ảnh,

hoa văn gốm Bát Tràng – bằng cách khai thác nét đẹp mộc mạc, bình dị của gốm

thông qua ngôn ngữ thời trang.

9

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1: Tổng quan về hiện trạng gốm Bát Tràng

Chương 2: Lịch sử nguồn gốc của gốm Bát Tràng và công nghệ sản xuất gốm.

Chương 3: Trang phục dạ hội được phát triển dựa trên hình ảnh hoa văn gốm Bát

Tràng. Đối tượng nghiên cứu ý tưởng và xu hướng trang phục.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, danh mục công trình sáng tác của tác giả.

B. PHẦN NỘI DUNG

Chöông 1 : Tổng quan về hiện trạng của gốm Bát Tràng

• Tổng quan về hiện trạng gốm Bát Tràng

* Từ khi lập làng tới trước năm 1948 làng Bát Tràng là một đơn vị hành chính

độc lập: xã Bát Tràng, tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An (Thuận

Thành), tỉnh Bắc Ninh.

* Năm 1948, xã Bát Tràng, xã Giang Cao và xã Kim Quan (nay là xã Kim Lan)

sát nhập thành 1 xã với tên gọi xã Quang Minh.

* Tháng 02 năm 1949, huyện Gia Lâm được chia về tỉnh Hưng Yên: Thôn Bát

Tràng, xã Quang Minh, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên.

* Tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm lại được chia về tỉnh Bắc Ninh: Thôn Bát

Tràng, xã Quang Minh, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh.

*. Tháng 10 năm 1958, khơi ngòi con sông đào Bắc Hưng Hải lấy đi của thôn Bát

Tràng ngôi chùa Kim Trúc có kiến trúc cổ, nguy nga, bề thế (xây dựng năm 1734), 1

ngôi miếu, 1 ngôi đền và hơn 1/2 diện tích làng cổ Bát Tràng.

* Ngày 20.02.1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh có chuyến về thăm và nói chuyện vớ i

nhân dân thôn Bát Tràng.

* Năm 1964, Quốc hội khoá III quyết định cho một số xã trở về với tên gọi cũ . Xã

Quang Minh được tách thành 2 xã: Bát Tràng (gồm 2 thôn Bát Tràng & thôn Giang

Cao như ngày nay) và xã Kim Lan.

* Năm 1976, sau khi chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh và thiên tai địch hoạ,

toà đại bái đình Bát Tràng (xây dựng năm 1720) xiêu vẹo và bị rỡ lấy gỗ làm bàn

ghế trường học.

10

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

* Năm 1986 thực hiện đường lối Đổi Mới của Đảng, tại Bát Tràng đã có các hình

thức kinh tế tư nhân hình thành và phát triển. Sau đó 3 năm, sản phẩm sứ Bát Tràng

đầu tiên đã được xuất khẩu sang thị trường Angieria mở đầu cho thời kì xuất khẩu

gốm sứ Bát Tràng ra thị trường quốc tế.

* Năm 1996, với phương châm tự đóng góp, thôn Bát Tràng đã hoàn thành bê

tông hoá đường làng ngõ xóm.

* Năm 2001 – 2002, UBND thành phố Hà Nội phê duyệt và thi công dự án nâng

cấp đường liên thôn Bát Tràng – Giang Cao. Tới nay, 100% đường làng ngõ xóm đã

được phủ bê tông.

*. Tháng 11 năm 2003, làng cổ Bát Tràng khai trương Chợ Gốm làng cổ Bát

Tràng (Battrang ancient village ceramics market)

* Ngày 10.08.2004 gốm sứ Bát Tràng được công nhận “Thương hiệu nổi tiếng với

người tiêu dùng”

*. Tháng 10.2004 đình làng Bát Tràng đón nhận bằng Di tích Lịch sử Kiến trúc

Nghệ thuật cấp Tỉnh, Thành phố.

* Năm 2005, nhân dịp Hội làng Bát Tràng (15.02 âm lịch), ban văn hoá làng Bát

Tràng phát động đại trùng tu toà Đại bái Đình Bát Tràng.

* Tháng 11 năm 2005, công ty Vận tải khách Hà Nội mở tuyến xe bus số 47 Long

Biên – Bát Tràng, nối liền làng cổ Bát Tràng với khu vực nội thành thành phố Hà

Nội mở ra hướng đi mới, thúc đẩy phát triển tham quan, du lịch làng gốm cổ truyền

Bát Tràng.

*. Ngày 31.12.2006 làng Bát Tràng tổ chức lễ khánh thành toà Đại bái đình Bát

Tràng.

Làng gốm cổ Bát Tràng xưa và nay

Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tên xã Bát tức Bát Tràng xuất hiện lần đầu tiên vào

năm 1352. Nhưng theo dã sử thì vào thời nhà Lý (1010-1225) dân từ xã Bồ Bát

thuộc tỉnh Ninh Bình đến lập nghiệp tại vùng đất này và đặt tên là xã Bát Tràng. Sở

dĩ người dân Bồ Bát chọn vùng đất này để lập nghiệp vì ở đây có đất sét trắng-một

nguồn nguyên liệu tốt để cho ra những sản phẩm gốm có chất lượng cao. Hơn nữa,

11

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

vùng đất này nằm cạnh bờ sông Nhị tức sông Hồng sẽ thuận lợi cho việc giao

thông, chuyên chở và trao đổi hàng hóa.

Từ khi những sản phẩm của làng gốm Bát Tràng ra đời đã được các bậc vương giả

quyền quý ở kinh thành Thăng Long cho đến nông phu chân lấm tay bùn ở thôn quê

đều ưa chuộng. Không những thế, nhiều đồ gia dụng thường ngày ở Bát Tràng còn

vượt ra biên giới đất Việt. Từ thế kỷ XV, đồ gốm Bát Tràng có mặt trong lễ vật

triều cống cho các hoàng đế Trung Hoa-nơi có truyền thống làm gốm sứ từ hàng

ngàn năm trước và nổi tiếng khắp thế giới. Từ đó về sau, thời đại nào, dù suy hay

thịnh, thì làng gốm Bát Tràng vẫn khẳng định giá trị hàng hóa của mình, nghề gốm

vẫn trụ vững và vượt qua mọi thử thách.

Từ vài thập kỷ nay, sức sống của làng nghề truyền thống vẫn được thổi lên bởi ngàn

lò gốm cháy rực suốt ngày đêm. Hiện nay, ở Bát Tràng nhiều lò gốm đã không dùng

than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà đã dùng lò công nghiệp đốt bằng ga nên hạn chế

được sự ô nhiễm môi trường đồng thời cũng giảm được lượng phế phẩm.

Theo các nghệ nhân của làng, đề tài phổ biến của các sản phẩm gốm Bát Tràng là

hình rồng, phượng, câu thơ đối, hoa văn, cảnh người, cảnh hoa, cảnh thiên

nhiên...đều phản ánh đời sống tâm linh và triết lý của con người Việt Nam.

Từ các thế kỷ trước, gốm Bát Tràng chủ yếu là đồ thờ. Về sau gốm Bát Tràng đã có

nhiều đồ gia dụng, phổ biến nhất là bát, đĩa, bình, lọ, ấm chén. Và ngày nay, gốm

Bát Tràng đã có khá nhiều mặt hàng phong phú về chủng loại và kiểu dáng, bao

gồm cả những mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên

bản và phù điêu với kỹ thuật và công nghệ cao. Các bộ sưu tập gốm sứ Bát Tràng đã

đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật chế tạo đồ gốm sứ ở Việt Nam.

Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng trong cả nước mà còn được

xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới từ năm 1990 như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ

và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng đang được lưu trữ

tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux-Bỉ, Viện bảo

tàng Guimet-Pháp.

Ông John S. Guy làm việc tại viện bảo tàng Victoria and Albert-London đã đánh giá

12

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

cao về gốm Bát Tràng trong thời nhà Lý-Trần và cho rằng đồ gốm Việt Nam đã nói

lên được tính độc lập của dân tộc Việt Nam. Ông còn nói, gốm cổ Bát Tràng quả là

niềm tự hào của người Việt Nam và hình ảnh người dân Bát Tràng làm việc miệt

mài sẽ là những kỷ niệm trong ký ức của ông.

Từ năm 2002, các nghệ nhân Bát Tràng bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của hiệp hội không

chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ.

Thông qua hiệp hội, người Bát Tràng có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị

trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán

thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh.

Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát

Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu "Bát Tràng Việt Nam-1.000 năm truyền

thống".

Về Bát Tràng bây giờ, du khách sẽ thấy một Bát Tràng-làng cổ tồn tại song song

với một Bát Tràng -đô thị. Truyền thống và hiện đại đan xen cả trong tư duy sản

xuất, kinh doanh của người làm gốm cũng như trong diện mạo của làng gốm Bát

Tràng.

Hàng năm, lễ hội làng Bát Tràng được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 (âm lịch) và

thường kéo dài 7 ngày.

Ảnh hưởng của gốm Bát Tràng trong văn hóa con người Việt Nam

Hiện nay đang có hiện tượng gốm Bát Tràng được

sản xuất hàng loạt theo khuôn mẫu và in đề - can lên

gốm theo nhu cầu khách hàng; nhiều địa phương làng

xã cạnh làng cổ Bát Tràng cũng mới chuyển sang làm

gốm và lấy tên thương hiệu gốm Bát Tràng khiến cho

khó có thể đảm bảo được uy tín và chất lượng.

Gốm Bát Tràng là một dòng gốm Việt Nam có lịch

sử gắn liền với việc hình thành làng gốm cổ Bát

13

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Tràng từ thế kỷ XIV – XV. Thời gian trôi qua đã chứng kiến nhiều giai đoạn

phát triển của dòng gốm này. Trong quá trình giao lưu thông thương, gốm

Bát Tràng mặc dù có chịu ảnh hưởng của một số đặc điểm gốm sứ Trung

Quốc nhưng với chất đất và sự tài hoa của người Việt, gốm Bát Tràng vẫn

tạo ra phong cách riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.Ngày nay, gốm Bát

Tràng đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường. Gốm có các

đặc điểm đặc thù như: cốt gốm dày, chắc, nặng; kĩ thuật nung đạt nhiệt độ

1300 độC; có 5 loại men đặc trưng gồm men lam, men nâu, men trắng ngà,

men xanh rêu, men rạn và nghệ thuật vẽ hoạ tiết mang dấu ấn của sự thăng

hoa. Với các đặc điểm này, gốm Bát Tràng tiếp tục chinh phục thị trường

trong và ngoài nước bằng chất lượng cũng như giá trị nghệ thuật. Người tiêu

dùng có thể tìm thấy sản phẩm gốm thuộc các nhóm hàng: đồ thờ cúng, đồ

gia dụng và đồ trang trí. Tuy nhiên, khi nền kinh tế thị trường tạo ra xu

hướng mở cửa hội nhập, gốm Bát Tràng cũng là một trong những mặt hàng

tham gia vào cuộc cạnh tranh mạnh mẽ với gốm sứ đến từ các nước khác,

đặc biệt là gốm sứ Trung Quốc. Ngay trong nội địa, gốm Bát Tràng tuy đã có

mặt ở rất nhiều tỉnh thành trong Nam ngoài Bắc nhưng nó vẫn chưa thực sự

chiếm lĩnh thị trường.Trên nhiều sạp hàng tại các chợ, chúng ta dễ thấy có sự

bày bán phổ biến các sản phẩm gốm Trung Quốc với mẫu mã đẹp mà giá cả

lại phải chăng. Một bát ăn cơm nhãn hiệu Bát Tràng có giá từ 8.000-12.000đ

trong khi cũng là loại sản phẩm này của Trung Quốc ta chỉ mất từ 3.000-

5.000đ để có một chiếc bát tương đối bắt mắt và nhẹ tay. Sự cạnh tranh về

giá cả, mẫu mã cũng xảy ra tương tự với loạt sản phẩm gia dụng còn lại như

lọ hoa, bát đĩa, ấm chén…Ngoài ra, gốm sứ nghệ thuật của Trung Quốc cũng

đang có nhiều hơn các cửa hàng trưng bày giới thiệu và bán sản phẩm tại

Việt Nam. Tất nhiên, các loại hàng Trung Quốc phổ biến trên thị trường này

không thể có độ bền cao về men hay chất gốm bằng hàng chính gốc Bát

Tràng.

14

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Để tăng tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường, người làm gốm Bát

Tràng ngày càng cố gắng để tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng khác nhau có

mẫu mã phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh các sản phẩm truyền

thống, tại chợ gốm cổ Bát Tràng đã có bày bán rất nhiều đồ gốm gia dụng và

gốm trang trí nhiều màu sắc bắt mắt với các sản phẩm sơn mài trên gốm,

tranh gốm, chuông gió, các hình con vật, đồ chơi bằng gốm…Đặc điểm của

men gốm đã có những thay đổi, theo chú Ngãi - một nghệ nhân làng gốm cổ

Bát Tràng cho biết: Men gốm hiện nay có độ dày và trong tạo độ sâu, bóng

hơn men gốm của khoảng 20 năm trước rất nhiều.

Gía trị của gốm Bát Tràng trong thực tiển

Hình ảnh dân tộc qua họa tiết gốm Bát Tràng

Trong ca dao có câu:

“Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ Bán Nguyệt cho nàng rửa chân”.

Cùng với chiếu Nga Sơn, vải tơ Nam Định, lụa Hà Đông, gạch Bát Tràng đi vào thơ

ca xưa như một trong những sản vật quý của đất nước.

Ngày nay, làng nghề Bát Tràng không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được biết

đến ở nhiều nước như: Trung Quốc, Pháp, Mĩ, Nhật Bản… Danh tiếng ấy có được

bởi gốm sứ Bát Tràng mang nét đẹp của chất men và dáng gốm, quan trọng hơn, nó

mang trong mình cái hồn quê của dân tộc. Chính nét đẹp dung dị của quê hương,

đất nước vương trên từng dáng, từng hình của những sản phẩm gốm đã làm mê say

biết bao tâm hồn người Việt và vươn ra quốc tế như một nét văn hóa đẹp của dân

tộc.

Khi mới ra đời, Bát Tràng là một làng nghề chuyên sản xuất gạch xây nhà và một số

mặt hàng phục vụ đời sống, sinh hoạt như: bát, chén, tích uống nước, bình cắm

hoa,… Vì vậy, những sản phẩm gốm sứ không mang tính nghệ thuật. Tuy nhiên, khi

chất lượng cuộc sống được nâng cao, sản phẩm gốm sứ do người dân nơi đây làm ra

15

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

không chỉ ‘tự cung tự cấp” mà còn để “thông thương”, buôn bán với bên ngoài.

Chính vì thế, gốm sứ Bát Tràng ngày càng đa dạng về mẫu mã, đảm bảo về chất

lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.

Gốm sứ Bát Tràng rất phong phú về họa tiết trên mẫu mã của sản phẩm. Từ xa xưa,

văn hóa Việt Nam ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Vì vậy, họa

tiết trên gốm sứ Bát Tràng có không ít những tích bên Trung Quốc: cảnh Xuân

Thủy, Bát tiên quá hải (tám vị tiên vượt biển) hay Trúc lâm thất hiền (bảy vị tiên

đàm đạo, uống trà trong rừng trúc)… Tuy nhiên, nó được thể hiện rất riêng theo

phong cách của người Việt Nam và gửi gắm vào đó là việc đề cao sự tài tình, nhạy

bén của con người trong đời sống lao động.

Họa tiết trên gốm sứ Bát Tràng còn mang những nét hiện đại để đáp ứng thị hiếu

tiêu dùng ngày càng đa dạng của con người. Trong những sản phẩm gốm xuất hiện

những bức tranh tĩnh vật nhiều màu sắc, được cách điệu. Ngoài ra, trên những mặt

hàng như: cốc nước, ấm chén hay những chiếc vòng tay, vòng cổ, những chiếc thắt

lưng,…lại được trang trí theo phong cách hiện đại. Người nghệ nhân sử dụng các

loại hoa văn kiểu chấm tròn, vòng xoáy, hoa lá cách điệu hay những nhân vật hoạt

hình trong truyện tranh,… để làm cho chúng trở nên trẻ trung, sinh động và hợp thời

đại hơn. Và đó là những sản phẩm chiếm được nhiều

cảm tình của giới trẻ.

Mặc dù có rất nhiều sự phá cách trong họa tiết trang

trí, nhưng gốm sứ Bát Tràng vẫn thấm đẫm trong mình

cái đẹp của quê hương, đất nước: đó là một thời lịch sử

đầy gian khổ nhưng huy hoàng và oai hùng của dân

tộc, là cuộc sống lao động cũng như đời sống tinh thần

phong phú của cư dân lạc Việt. Nhìn vào những họa

tiết trên gốm sứ Bát Tràng ta như nhìn thấy lịch sử dân

tộc từ xa xưa vọng lại. Rồng là hình ảnh xuất hiện

nhiều trên những chiếc bình gốm cỡ lớn, thường đặt ở

16

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

phòng lớn hoặc trên ban thờ. Sở dĩ người nghệ nhân vẽ Rồng bởi Rồng là một trong

bốn tứ linh: Long, Lân, Quy, Phượng. Nó là loài động vật cao quý, mình có vảy

tượng trưng cho may mắn. Hơn nữa, Rồng cũng tượng trưng cho trí tuệ, tín ngưỡng,

niềm tin, lí tưởng, nguyện vọng của con người. Riêng với người dân Việt Nam,

Rồng là “cha” của họ và truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” với hình ảnh Rồng đã

trở nên linh thiêng, ăn sâu vào tiềm thức của con người Việt. Có lẽ cũng vì lí do này

mà Việt Nam có kinh thành Thăng Long (Rồng bay) - thủ đô đầu tiên của đất nước,

có thắng cảnh nổi tiếng Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc và có cả một mảnh

đất màu mỡ, quanh năm tốt tươi mang tên Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phía

Nam của tổ quốc. Hình ảnh Rồng bay lượn, uốn khúc đã làm “mê say” người nghệ

nhân và những người thưởng thức nghệ thuật phải chăng vì trong nó hàm chứa sức

mạnh và sức sống vĩnh hằng của cả dân tộc Việt.

Hạc cũng là một trong bốn tứ linh được con người tôn thờ, hình ảnh Hạc không chỉ

xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn mà còn được các nghệ nhân khéo léo trang trí

lên những chiếc bình gốm. Hạc vốn là một con vật của đạo giáo, nó gợi nhắc chúng

ta nhớ tới một cái gì đó thanh cao, tinh túy của đất trời. Dường như sự xuất hiện của

nó trên gốm sứ Bát Tràng còn tượng trưng cho nét đẹp trong tâm hồn người người

Việt Nam và mong ước của họ sao cho “thiên địa nhân hòa”, để cuộc sống luôn yên

bình, êm ấm, hạnh phúc.

Trên những mảnh gốm tưởng chừng như vô tri vô giác,

bằng bàn tay khéo léo cùng sự am hiểu sâu sắc về lịch

sử dân tộc, những người nghệ nhân đã tái hiện một

cách sinh động hình ảnh cha ông ta thuở xưa. Hình ảnh

người dân lạc Việt cổ, đầu đội mũ lông chim, thân

đóng khố, chèo thuyền, vượt thác mãi in sâu trong tâm

trí ta về một thời kì lịch sử đầy sơ khai, thiếu thốn của

cả dân tộc. Nhưng nhìn hình ảnh oai hùng của Hai Bà

Trưng cưỡi voi đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ đất

nước ta lại cảm thấy tự hào. Không chỉ có vậy, lịch sử tiếp tục hiện lên qua hình ảnh

17

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

vua Lê Lợi trả gươm cho Rùa vàng để tỏ lòng biết ơn khi đất nước được thái bình,

thịnh trị… Việc khắc họa lịch sử dân tộc trên gốm đã thể hiện tấm lòng của người

nghệ nhân luôn hướng về cội nguồn dân tộc, luôn sống, ghi nhớ công lao của ông

cha. Phải chăng đó cũng là lời nhắn gửi thân tình của họ đến mỗi người dân Việt

Nam?

Không chỉ phản ánh lịch sử của dân tộc, gốm sứ Bát Tràng còn thể hiện cuộc sống

lao động của con người. Hình ảnh người Việt cổ đập lúa, chèo thuyền, vượt biển,

rồi hình ảnh người nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó chăn trâu, cắt cỏ, tát

nước,…trên cánh đồng làng trải dài mênh mông, bất tận đã trở nên quen thuộc đối

với mỗi chúng ta. Cũng vậy, gốm Bát Tràng còn mượn những hình ảnh dân gian,

những sự tích của tranh Đông Hồ để vẽ lên cuộc sống lao động muôn màu, muôn

sắc của cư dân đất Việt. Đó là câu chuyện Tấm Cám, Sọ Dừa… những con người

hiền lành, đôn hậu, quanh năm cần cù lao động, chi chút làm ăn. Tuy vậy, họ gặp rất

nhiều khó khăn trong lao động, sản xuất như thiên tai, bão lũ (Sơn Tinh -Thủy

Tinh), khi phải đối mặt với những thế lực đen tối: ma, quỷ… Tranh “Thạch Sanh

chém chằn tinh” thường được dùng để treo trang trí trong các gia đình, nó giúp mỗi

chúng ta như hiểu thêm về quá trình đấu tranh gian khổ trong lao động của ông cha

ta, đồng thời thấy được sức mạnh của con người lao động và ước mơ của họ về một

cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Hơn thế nữa, đó là một đạo lí sống: “Ở hiền gặp

lành, ở ác gặp ác”. Trên những bức tranh gốm còn khắc họa các hình ảnh sinh hoạt

khác như: cảnh đánh ghen, hái dừa hay đám cưới chuột,…Người nghệ nhân thật

tinh tế và sâu sắc khi mượn tranh dân gian để phản ánh cuộc sống của con người

trên từng sản phẩm gốm, điều đó tạo ra sự gần gũi giữa con người xưa và nay, giữa

quá khứ xa xôi và cuộc sống thực tại.

Mặc dù đời sống lao động của người dân Việt Nam còn

gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng đời sống tinh thần

của họ thì vô cùng phong phú. Hàng năm, trên cả nước

xuất hiện nhiều lễ hội lớn: chọi trâu, chọi gà, đấu vật, đua

thuyền,…những hoạt động ấy thường diễn ra vào đầu năm

18

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

mới, khoảng thời gian mà nhân dân ta vẫn gọi là “tháng ăn chơi”. Những lễ hội diễn

ra để kết thúc một năm lao động vất vả, khó khăn, đồng thời thể hiện ước nguyện

muôn đời của người dân lao động có một cuộc sống no ấm, hạnh phúc trong năm

mới. Tất cả những hoạt động tinh thần ấy đều được những nghệ nhân của mảnh đất

Bát Tràng vẽ lên sinh động và đẹp mắt trên những bức tranh gốm. “đấu vật” là một

trong số những bức tranh đẹp thể hiện rõ điều đó. Nhìn vào đó ta không chỉ thấy

được hoạt động tinh thần của con người mà còn thấy được sức mạnh, sự dẻo dai của

người dân lao động.

Nếu dạo qua thị trường gốm sứ vào dịp tết Nguyên Đán, chúng ta dễ dàng nhận thấy

những bức tranh thờ làm bằng gốm được tiêu thụ khá nhanh. Một số bức tranh được

nhiều khách hàng ưa chuộng như: tranh “đàn lợn âm dương”, hay “đàn gà mẹ

con”,…đó là những bức tranh mang ý nghĩa về một cuộc sống sung túc, ấm no, gia

đình yêu thương, gắn bó, bảo vệ nhau. Ngoài ra, tranh chúc tụng như: “Vinh hoa,

Phú quý”, hay “Như ý, Cát tường” cũng là một trong số những loại tranh gốm dành

được nhiều tình cảm của khách hàng. Hình ảnh hai đứa trẻ nhỏ, bụ bẫm, mặc yếm,

một đứa bé ôm con gà tượng trưng cho người con trai sau này khỏe mạnh, có năm

đức tính đẹp của con gà trống: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Khi trưởng thành sẽ là người

con trai tung hoành ngang dọc. Còn hình ảnh bé gái ôm con vịt, tượng trưng cho

người con gái mai này ngoan ngoãn, hiền lành, xinh xắn, có một cuộc sống hạnh

phúc với “con đàn cháu đống”.

Ngoài phản ánh những hoạt động văn hóa, lễ hội, lịch

sử dân tộc, những họa tiết trên gốm Bát Tràng còn thể

hiện tinh thần hiếu học của con người Việt Nam. Hình

ảnh thầy đồ dạy chữ cho các trò nhỏ từ khi đầu còn trái

đào trên những bức tranh gốm gợi nhắc chúng ta nhớ

đến những vị học sĩ, những người tài của đất Việt như:

Trạng Hiền, Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần đây là Hồ Chí

Minh - vị cha già của dân tộc đã giải thoát cho đất nước

Việt Nam nhỏ bé thoát khỏi gông cùm của bọn thực

19

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

dân, phát xít,…Những bức tranh với nội dung giản dị đã nhắc nhở chúng ta phải cố

gắng học hành theo gương cha anh xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn.

Họa tiết trang trí được các nghệ nhân khắc, vẽ lên gốm sứ Bát Tràng thật phong

phú. Trên những bức tranh gốm, lọ gốm,…ta nhìn thấy lịch sử dựng nước, giữ nước

của cả dân tộc, thấy cuộc sống lao động và những nét văn hóa của đất nước, con

người Việt Nam. Nhưng không chỉ có vậy, gốm sứ Bát Tràng còn đem đến cho

chúng ta những cái nhìn đa chiều về thiên nhiên, cảnh đẹp của đất nước. Dạo qua

những gian hàng đồ gốm có đôi phút ta “chạnh lòng” nhớ tới quê hương mình. Trên

những bức tranh gốm xuất hiện các hình ảnh quen thuộc như: cây đa, giêng nước,

sân đình, mái nhà tranh được phủ rơm nếp vàng còn thơm mùi lúa mới thấp thoáng

sau những lũy tre,…Cảnh quê hương yên ả, thanh bình, đậm chất thôn quê như vậy

làm sao mà không thương, không nhớ cho được. Đâu chỉ có vậy thôi, nếu là người

Hà Nội khi bắt gặp hình ảnh về một khu phố cổ với “con đường vắng rì rào cơn

mưa nhỏ”, một gánh hàng hoa hay một tiếng gao trong đêm vắng sẽ không thể

không thấy xao xuyến trong lòng. Bức tranh ấy sẽ khiến trái tim họ quặn thắt, nhói

đau khi nhớ đến một Hà Nội cổ kính, trang nghiêm, gợi cho họ nhớ về quá khứ, cội

nguồn, nhớ về quê hương! Việt nam là một đất nước nhỏ bé nhưng nó không chỉ có

những vùng quê yên ả, thanh bình, không chỉ có một Hà Nội đáng nhớ mà còn có

rất nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp: Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Hồ Gươm,…tất

cả đều được thể hiện tài tình trên những bức tranh gốm. Họa tiết trên gốm sứ Bát

Tràng đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về đất nước Việt, con

người Việt. Nhìn vào đó, ta tự hào về mảnh đất giàu truyền thống, giàu văn hóa, từ

đó thêm yêu quý mảnh đất và con người nơi đây.

Người xưa thường nói: “nhất dáng, nhì men, thứ ba chạm khắc”, ý muốn đề cao tính

nghệ thuật của dáng và men. Tấm lòng, tâm hồn cùng bàn tay khéo léo để tạo nên

những hoa văn trên gốm đã là cả một nghệ thuật tạo hình của người nghệ nhân. Hi

vọng rằng, trong tương lai, gốm sứ Bát Tràng sẽ được biết đến nhiều hơn trên

trường quốc tế. Nó sẽ không chỉ phát triển theo xu hướng của xã hội hiện đại mà

vẫn giữ được cái hồn quê trên từng sản phẩm.

20

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Chöông 2 : Lòch sử nguồn gốc ra đờiđ cuûa gốm Bát Tràng và công nghệ sản

xuất gốm Bát Tràng.

2.1 Lịch sử nguồn gốc ra đời cuûa gốm Bát Tràng

Xã Bát Tràng (鉢場社) gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện Gia

Lâm, Hà Nội. Trước năm 1945, Bát Tràng và Giang Cao là hai xã riêng biệt. Xã Bát

Tràng (tức làng Bát Tràng ngày nay) thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ

Thuận An, tỉnh Bắc Ninh), xã Giang Cao (thôn Giang Cao, xã Bát Tràng ngày nay)

thuộc tổng Đa Tốn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh. Thời nhà Hậu

Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời

nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm

tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ

Thuận An. Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ

Sơn. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên.

Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã

Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Từ

năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao như

hiện nay.

Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng gốm Bát

Tràng.

* Đại Việt sử ký toàn thư chép "Nhâm Thìn, Thiệu Phong năm thú 12 (1352) mùa

thu, tháng 7, nước lớn tràn ngập, vỡ đê xã Bát, Khối, lúa má chìm ngập. Khoái

Châu, Hồng Châu và Thuận An bị hại nhất". Xã Bát là xã Bát Tràng, xã Khối là xã

Thổ Khối, hai xã ven đê bên tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay.

* Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm 1376, trong một cuộc Nam chinh, đoàn

chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị

(sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông Hồng thuộc xã Bát Tràng.

* Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn có

đoạn "Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng

ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm"...

21

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể

ra đời sớm hơn. Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền những huyền thoại về nguồn

gốc của nghề gốm như sau:

* Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí

Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi

hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay

tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò

gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho

dân chúng quê hương. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng.

Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc

màu vàng đỏ. Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh)

nước men màu đỏ màu vàng thẫm. Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà

và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết. Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã

có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127.

* Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, dòng họ

Nguyễn Ninh Tràng là cư dân bản địa và lâu đời nhất, nên được giữ vị trí tôn trọng

trong ngôi thứ cũng như trong lễ hội của làng. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh

Tràng là họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng chưa có

tư liệu xác nhận. Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm,

Nguyễn... ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và

Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát

thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại.

Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Tam Điệp,

tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Theo

truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân Bồ Bát

chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những

lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này.

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trở thành trung tâm

chính trị của nước Đại Việt. Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương

22

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra

đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các

làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét

trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một số thợ gốm Bồ Bát đã di

cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường

(phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm

bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung

cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Đến nay, chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên

cũng như khẳng định sự hình thành của làng. Những công trình khai quật khảo cổ

học trong tương lai có thể cho thấy rõ hơn bề dày lịch sử và những di tích của làng

gốm Bát Tràng. Chỉ có điều chắc chắn là gốm Bát Tràng xuất hiện từ rất sớm, vào

giai đoạn cuối của Văn hoá Hoà Bình đầu Văn hoá Bắc Sơn. Trong quá trình phát

triển nghề gốm, đương nhiện có nhiều quan hệ giao lưu với gốm sứ Trung Quốc và

có tiếp nhận một số ảnh hưởng của gốm sứ Trung Quốc.

2.2. Söï phaùt trieån cuûa gốm Bát Tràng qua các mốc thời gian

Thế kỷ 15–16:

Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi mở,

không chủ trương "ức thương" như trước nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát

triển thuận lợi hơn; nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm

Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người

đặt hàng và người sản xuất. Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàng bao

gồm cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng,

phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mỹ quốc công phu nhân...

Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng

đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.

Thế kỷ 16–17

Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ 15, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn

sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... thành lập công ty,

23

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu

vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi động, lôi cuốn các nước

trong khu vực vào hệ thống buôn bán châu Á và với thị trường thế giới đang hình

thành.

Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với

nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế đã

tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á. Khi

nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm

xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho

quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ

gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản.

Năm 1644 nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượt biển buôn bán

với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan. Trong thời gian đó,

một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng không bị

hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điều kiện phát triển mạnh.

Thế kỷ 15–17

là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu Việt Nam, trong

đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ

Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Lúc bấy giờ,

Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất

và cũng là hại trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài. Bát

Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở khoảng

giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ

thông thương với thế giới bên ngoài. Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các

nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang Nhật

Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á.

Các công ty phương Tây, nhất là Công ty Đông Ấn của Hà Lan, trong phương thức

buôn bán "từ Ấn Độ (phương Đông) sang Ấn Độ", đã mua nhiều đồ gốm Việt Nam

bán sang thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản.

24

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Cuối thế kỷ 17& đầu thế kỷ 18:

Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảm sút nhanh

chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều Thanh bãi bỏ chính sách

cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Từ đó, gốm sứ chất lượng cao của Trung

Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á và đồ gốm Việt Nam không đủ sức cạnh

tranh. Nhật Bản, sau một thời gian đóng cửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc,

đồng, đã đẩy mạnh được sự phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa,

đường, gốm sứ... mà trước đây phải mua sản phẩm của nước ngoài

Thế kỷ 18–19:

Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp với những hàng hoá

mới cần thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tình hình kinh tế đó cùng với chính sách hạn

chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỷ 18 và của nhà

Nguyễn trong thế kỷ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút

và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Đó là lý do khiến một số làng nghề

gốm bị gián đoạn sản xuất (như làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có

bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ

rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần

thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai đoạn này, gốm

Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản

xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.

Thế kỷ 19 đến nay:

* Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ

và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường.

* Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), tại Bát Tràng thành lập Xí nghiệp

gốm Bát Tràng (1958), Xí nghiệp X51, X54 (1988) cùng một số hợp tác xã như

Hợp Thành (1962), Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh

Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984)... Các cơ sở sản xuất trên cung cấp

hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những

nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê

25

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Văn Vấn... đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các

tỉnh.

* Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế

thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần,

những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ

biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Từ thôn Bát Tràng, nghề gốm

nhanh chóng lan sang thôn Giang Cao và đến nay, cả xã Bát Tràng (gồm hai thôn

Bát Tràng, Giang Cao) trở thành một trung tâm gốm lớn.

Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng trong cả nước mà còn được

xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới từ năm 1990 như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ

và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng đang được lưu trữ

tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux-Bỉ, Viện bảo

tàng Guimet-Pháp.

Từ năm 2002, các nghệ nhân Bát Tràng bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của hiệp hội không

chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ.

Thông qua hiệp hội, người Bát Tràng có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị

trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán

thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đến thăm làng gốm Bát Tràng, vào bất cứ thời điểm nào trong ngày cũng thấy làng

quê này luôn luôn sôi động. Không khí lao động hối hả, tấp nập, xe ô tô chuyên chở

vào làng và chở sản phẩm đi tiêu thụ.

Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài

các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới

đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa...

kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu

theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả

nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút

nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất.

26

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ

truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc...

2.3 Ñaëc ñieåm nhận dạng gốm Bát Tràng

Gốm Bát Tràng kết cấu chắc, trọng lượng nhẹ.Gốm Phù Lãng kết cấu xốp, trọng

lượng nặng.

Các dòng gốm sứ Việt Nam

Xét theo góc độ dân gian, truyền thống và công nghiệp hiện đại có thể tạm thời

phân chia như sau: Dân gian truyền thống (Bát Tràng, Phù Lãng, Chu Đậu, Đông

Triều), Công nghiệp hiện đại (Thanh Trì, Hải Dương, Đồng Nai)

Nếu xét theo chức năng của sản phẩm gốm sứ thì chia ra như sau: Gốm sứ dân dụng

(Bát Tràng, Phù Lãng, Chu Đậu, Hải Dương, Đông Triều, Đồng Nai), gốm sứ xây

dựng (Thanh Trì)

Đặc điểm của mỗi dòng gốm sứ

Trong phần gốm sứ dân dụng này, có thể dễ dàng nhận biết các đặc điểm sau:

Sứ Bát Tràng (Mặt hàng chủ đạo: bình lọ hoa, ấm chén, bát đĩa, tranh sứ, đồ chơi

con giống...) hoạ tiết, hoa văn được vẽ thủ công, nét vẽ mềm mại, mỏng mảnh,

trọng lượng nhẹ, tiếng kêu thanh. Mẫu mã đẹp, chủng loại đa dạng, phong phú. Sử

dụng công nghệ nung đốt bằng gas.

Những đặc điểm của gốm Bát Tràng

Căn cứ vào những đặc điểm chung về xương gốm, màu men, đề tài trang trí và đặc

biệt nhờ các dòng minh văn, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của gốm cổ Bát

Tràng.

Loại hình

Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng

sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn

nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với

việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát

Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà,

27

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

đục. Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng men riêng từ loại men xanh rêu cùng

với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có mầu xám nâu. Dựa vào ý

nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau:

Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà,

ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ.

Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương,

đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những

sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có

minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn

ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng. Đó là một nét đặc biệt trong đồ

gốm Bát tràng.

Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê,

tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba

đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng.

Trang trí

kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Thế

Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men

theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết nâu

với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian hợp

đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng này

thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo

gốm hoa lam. Đề tài trang trí còn giới hạn trong

đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần. các

Rồng vẽ trên gốm lam thế kỉ 16 (ảnh chụp tại

Bảo tàng lịch sử Việt Nam). Sư tử-long mã chạm nổi trên gốm thế kỉ 18 (ảnh chụp

tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam).

28

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Thế kỉ 16, cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn,

kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài

trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt

cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ... Trang trí vẽ men

lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần

gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu, (Hải Dương).

Thế kỉ 17, kĩ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kì, gần

gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỉ 16, đồng thời xuất hiện các đề

tài trang trí mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc... Những đề tài chạm nổi, để mộc điển

hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình

lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)... Việc sử dụng men lam kém

dần, tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi. Thế kỉ 17 xuất hiện dòng gốm

men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-

mai. Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là

màu xanh rêu với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người...

Thế kỉ 18, trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men

lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích

ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí

ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa.

Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá

lật... Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn,

hồi văn, sóng nước...

Thế kỉ 19, gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử

dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, Bát Tràng còn xuất

hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư

ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá Hải, Ngư ông kéo lưới...

29

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Thế kỉ 16, rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời

Nguyên (Trung Quốc) hay vẽ men lam, rồng có đôi cánh mọc ra từ

chân trước, cong như cánh bướm. Rồng cùng với phượng mở ra cấu

trúc trang trí rồng bay phượng múa.

Minh văn trên gốm: Bát Tràng xã, Đỗ Xuân Vi tạo 缽塲杜春闈造

Đầu thế kỉ 17, rồng vẫn giữ nhiều nét tương đồng rồng thế kỉ 16,

nhưng sau đó được cách điệu với 4 khúc không đều nhau, mở ra

một kiểu rồng mới, khác lạ. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng

rồng ngắn, thân uốn hình cánh cung, tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình

khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều có những dải mấy lửa kiểu đao mác. Nửa

sau thế kỉ 17 lại xuất hiện dáng rồng gần gũi với rồng điêu khắc trên gỗ. Đuôi rồng

từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt rồng tả chính diện, tay trước

nắm râu. Xung quanh rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu rồng nữa

được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình nhà là rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai

chân trước chống, đầu uốn lên, bố cục trong hình chữ nhật.

Thế kỉ 18, rồng thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu, đầu nghiêng, hai mắt lồi, sừng

và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh rồng có những dải

mây nổi hình 3 ngọn lửa. Sau đó, rồng ổ xuất hiện bao gồm một rồng mẹ và 6 rồng

con, xen kẽ các dải mây hình khánh. Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư

hương hoặc trên bao kiếm thờ...Với rồng đắp nổi, chỉ thể hiện đầu rồng chính diện,

hai chân trước dang rộng, lộ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ

kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh.

Thế kỉ 19, rồng lại được thể hiện theo phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình

tròn, đầu rồng có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vảy tròn và được trang trí theo kiểu

đắp nổi hoặc vẽ men lam trên đỉnh gốm hoặc trên bình men rạn vẽ nhiều màu.

Ngoài ra, còn có đầu rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xoè ngang năm hai dải

mây, miệng ngậm vòng..

2.4 Các dòng men làm nên tên tuổi gốm Bát Tràng

30

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể

hiện qua mỗi thời kỳ khác nhau để tạo nên những sản

phẩm đặc trưng khác nhau: men lam xuất hiện khởi đầu

ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen

sẫm; men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và

được vẽ theo kỹ thuật men lam; men trắng ngà sử dụng

trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19,

men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các

trang trí nổi tỉ mỉ; men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra

một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỷ 16–17 và men rạn là dòng men

chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỷ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỷ

17–19.

Men lam

Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỷ 14. Men lam là men

gốm được cộng thêm với gốc màu là ôxít côban. Thợ Bát Tràng sử dụng men lam

đồng thời với kỹ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không

để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men mầu trắng bóng, có độ

thuỷ tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm. Bên

cạnh điểm tương đồng với các loại bình gốm hoa lam sản xuất ở lò Chu Đậu (Hải

Dương), gốm hoa lam Bát Tràng ngay ở thời kỳ đầu đã có những nét riêng về dáng

và về hoạ tiết trang trí. Những bát, âu, lọ, chân đèn gốm hoa lam của Bát Tràng thế

kỷ 14–15 có nét chung dễ nhận là lối vẽ phóng bút, dù là vẽ phong cảnh, hoa dây lá

hay vẽ rồng.

Men nâu

Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của

men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có mầu

nâu xám). Trên các đồ gốm có niên đại thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15, men nâu được dùng

tô lên các đồ án trang trí kết hợp với men nền mầu trắng ngà bao gồm chân đèn,

thạp, chậu, âu, đĩa...Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate),

31

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần. Men nâu còn được dùng

phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc. Thế kỷ 14, thợ gốm

Bát Tràng đã biết hạn chế sự ảnh hưởng màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men

nâu trên lớp men trắng ngà để chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu.

Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mẫu thế kỷ 16–17, men nâu được

dùng xen lẫn với men xanh rêu, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ

vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương

chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế...

Các đồ gốm thế kỷ 18 tiếp tục sử dụng men nâu nhiều theo cách thức cổ truyền, một

số nghệ nhân tìm tòi phát huy thêm để làm phong phú màu men này, đặc biệt trên

cặp tượng hổ chế tạo khoảng năm 1740, men nâu dưới lớp men rạn tạo nên bộ da hổ

có màu sắc đa dạng hơn.

Thế kỷ 19, men nâu dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Những bình,

lọ men rạn ngà, thể hiện đề tài trang trí: Ngư ông đắc lợi, tùng hạc, Tô Vũ chăn dê,

Bát tiên quá hải... men nâu dùng để tô trên những thân cây tùng, cây liễu hoặc điểm

thêm vào các dải mây, tà áo của Bát tiên. Thế kỷ 19 là thời điểm đánh dấu men nâu

đã chuyển sắc thành một loại men bóng (thường gọi là men da lươn), sử dụng rộng

rãi ở Bát Tràng cho tới tận ngày nay.

Men trắng (ngà)

Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung

đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng

với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ

gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men

nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.

Gốm Bát Tràng thế kỷ 17 đạt đỉnh cao trong kỹ thuật trang trí nổi với hầu hết các

thủ pháp kỹ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư

hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ

lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kỹ và độ nung

cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dầy

32

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

vẫn có vết rạn men.

Thế kỷ 18, men trắng ngà còn thấy sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng

trang trí nổi để mộc. Những lư hương tròn được đắp nổi hình rồng và mặt nguyệt,

phần còn lại phủ men trắng ngà.

Vào thế kỷ 19, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc, men ngà còn

thấy sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương,

tượng tròn. Bình gốm có nắp có các hình

rồng mây và lục bảo trang trí nổi để mộc,

phần còn lại phủ men trắng ngà

Thợ làng gốm Thanh Hà đang tạo dáng cho

Gốm bằng bàn xoay

Men xanh rêu

Thế kỷ 14–19 men xanh rêu được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà

và nâu. Men xanh rêu, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm

Bát Tràng thế kỷ 16–17. Trên chân đèn men xanh rêu tô lên những bông sen

nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông

hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các

bông hoa nổi đường diềm quanh vai.

Men xanh rêu, dù ở các sắc độ khác nhau

nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất

lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỷ

16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện

đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ

gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác

nhau.

Men rạn

Bình gốm Bát Tràng, men rạn, thế kỷ 19, vẽ nhiều màu

Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương

33

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận

mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỷ

16 và kéo dài tới đầu thế kỷ 20.

Minh văn trên gốm: Thuận an phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã, sinh đồ

Vũ Xuân tạo

Minh văn

Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có

minh văn, thể hiện bằng khắc chìm

hay viết bằng men lam dưới men

trắng. Một số minh văn cho biết rõ

năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả

chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng.

Và còn rất nhiều sản phẩm có ghi minh văn, những sản phẩm này một số

đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số tại các bảo tàng

nước ngoài, một số hiện được sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, một số lưu

lạc trong dân gian và một số còn chìm sâu trong lòng đất.

2.5 Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất,

tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm

truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc

lò".Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một

vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc

(木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như

là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá

trình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác.

Quá trình tạo cốt gốm

Chọn đất

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm.

Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác

34

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu

vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã

phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây.

Xử lí, pha chế đất

Đất sét đã xử lý

Trong đất nguyên liệu thường có

lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu

cầu của từng loại gốm khác nhau

mà có thể có những cách pha chế

đất khác nhau để tạo ra sản phẩm

phù hợp. Ở Bát Tràng, phương

pháp xử lí đất truyền thống là xử lí

thông qua ngâm nước trong hệ

thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao

khác nhau.

Tạo dáng cho sản phẩm

Khuôn làm gốm

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của

người làng Bát Tràng là làm bằng tay

trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng,

người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ

biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn

xoay, trước đây công việc này thường

vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Người thợ

"đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuật cao. Có khi họ đắp nặn

một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ

của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. Hiện nay theo yêu cầu sản xuất

35

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu

để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt.

Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in

(khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành

như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại,

láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm

giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên

lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần

thiết đề tạo sản phẩm. Ngày nay người làng gốm

Bát Tràng sử dụng phổ biến kĩ thuật "đúc" hiện

vật. Muốn có hiện vật gốm theo kĩ thuật đúc

trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao.

Phơi sấy và sửa hàng mộc

Sản phẩm đem phơi

Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho

khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi

hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối

ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn

thường sử dụng là hong khô hiện vật trên

giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay phần

nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy

hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ

để cho nước bốc hơi dần dần.

Quá trình trang trí hoa văn và phủ men

Kỹ thuật vẽ

Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết.

Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn học tiết phải hài hoà với dáng gốm, các

trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác

36

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

phẩm. Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu

quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu...

Gần đây, Bát Tràng xuất hiện kĩ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần 1 hoặc

kĩ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal, nhập từ nước ngoài.

Hai kiểu này tuy đẹp nhưng không phải là truyền thống của Bát Tràng. Những loại

này không được coi là nghệ thuật và sáng tạo trong di sản gốm Bát Tràng, cũng như

gốm Việt Nam nói chung.

Chế tạo men

Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành

phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít

mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc). Từ thế kỉ 15 thợ gốm Bát Tràng đã từng chế tạo

ra loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban) đá

thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo.

Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt

bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong

nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy

mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ

vật. Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ

chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu

"nhỏ tro to đàn".

Tráng men

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở

nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn

chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bát Tràng

thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh.

Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông.

Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men

lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi

loại men định tráng nên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó

37

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

của xương gốm... Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men

nên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất

là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức

"quay men" và "đúc men". Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài

sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là

những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật,

được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở

đây.

Quá trình nung

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công

hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại

với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu

mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng

dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ

chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.

Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò

cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung

khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.

Nhiên liệu

Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng

dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi bửa" và sau nữa thì củi phác và

củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi

bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho

ải ra rồi mới đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi

bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.

Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ

để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng

thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi

38

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể

dùng được ngay.

Chồng lò

Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Việc xếp

sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của

bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm

được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên

việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch,

người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta

xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản

phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên)

nơi dành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản

phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn.

Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ

không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường

Đốt lò

Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự

nhau và với kinh nghiệm của mình, người "thợ cả" có thể làm chủ được ngọn lửa

trong toàn bộ quá trình đốt lò. Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa

người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó người ta

tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở

các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả

bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào

bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín

Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ

từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để

tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò.

2.6 Bát Tràng “nét đẹp” văn hóa dân tộc

39

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Nhiều người đã biết đến Bát Tràng với những sản phẩm gốm, sứ mang phong

cách hiện đại với đặc trưng gốm nhiều màu, đa chủng loại. Thế nhưng, bên cạnh

một Bát Tràng hiện đại, năng động còn có một Bát Tràng cổ kính, với hàng trăm

sản phẩm cổ, trong một không gian cổ kính và rất thanh nhã. Đó là khu bảo tàng đồ

cổ Vạn Vân, nơi đang lưu giữ hồn cốt của làng nghề cổ Bát Tràng.

Thống kê của Sở Công thương Hà Nội, sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà

Nội (HN) có 1.264 làng nghề, trong đó HN cũ có 84 làng và Hà Tây cũ có 1.180

làng. Và có lẽ, nếu nói về nghề truyền thống còn lưu giữ được và phát triển mạnh

mẽ nhất phải nhắc đến làng nghề gốm sứ Bát Tràng.

Hiện Bát Tràng có hai thôn Giang Cao và Bát Tràng với 1.700 hộ, gần 6.700 nhân

khẩu. Và điều đặc biệt mà ít có làng nghề truyền thống nào trong cả nước làm được:

đó là cả xã không còn hộ sản xuất nông nghiệp. Ở Bát Tràng, cả xã có tới 83,7% hộ

trực tiếp sản xuất gốm sứ và 10,6% hộ dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm. Không chỉ sản xuất theo hộ gia đình, Bát Tràng còn có nhiều mô hình như

công ty cổ phần, công ty TNHH, hợp tác xã hay liên doanh vừa sản xuất, vừa hoạt

động thương mại, dịch vụ. Đến nay, gốm Bát Tràng không chỉ dừng lại chiếm lĩnh ở

một số thị trường truyền thống như Nhật, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Đức mà đang

tìm đường đi Mỹ và lan rộng trong khu vực EU.

Ở Bát Tràng có hàng vạn sản phẩm gốm sứ. Một không gian cổ kính mở ra giữa

những sản phẩm gốm nhiều màu, hiện đại, đó là khu trưng bày những cổ vật của

làng Bát Tràng với cái tên Vạn Vân. Khu trưng bày rộng 400m2 gồm hai phần:

phần trưng bày gần 400 cổ vật có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX; phần khác

trưng bày khoảng trên 300 sản phẩm tiêu biểu nhất của gốm Bát Tràng hiện nay

kèm theo đó là một lò nung gốm cổ và một mô hình lò nung gốm hiện đại.

Nhà sưu tầm Trần Ngọc Lâm, chủ của khu trưng bày cổ vật Vạn Vân giải thích:

"Như thế để khách tham quan tiện so sánh sự khác biệt của gốm xưa và gốm nay".

Cũng theo ông Lâm, gốm Bát Tràng xưa vẫn được coi là 1 trong 4 nghề tinh hoa

bậc cao của Thăng Long xưa. Chả thế mà các bậc cao niên ở Bát Tràng có câu:

"Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã".

40

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Và cũng chính bởi trân trọng tinh hoa bậc cao của trăm nghề đất Thăng Long xưa,

cùng với những đam mê gốm cổ, ông Lâm đã quyết gìn giữ tất cả những gì thuộc về

hồn cốt làng nghề Bát Tràng. Hiện khu trưng bày Vạn Vân được coi là nơi đầu tiên

lưu giữ những cổ vật về nghề gốm vốn đã xuất hiện tại Việt Nam cả ngàn năm một

cách tương đối đầy đủ như lò nung gốm cổ, các bản dập nổi cổ cùng các sản phẩm

với đầy đủ các niên đại. Các bản dập hoa văn nổi với các mẫu mà ông hiện có, hiếm

có người thứ 2 lưu giữ được. Đặc biệt hơn, vừa rồi, các hiện vật của Vạn Vân đã

được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch dán tem chứng nhận cổ vật. Điều đó cũng

có nghĩa, mỗi sản phẩm đã mang trong đó một sự tích, một câu chuyện của làng

nghề cũng như của nhà sưu tầm Trần Ngọc Lâm.

Chöông 3 : Trang phục dạ hội được phát triển dựa trên hình ảnh hoa văn

gốm Bát Tràng. Đối tượng nghiên cứu ý tưởng và xu hướng trang phục

3.1 Lý do chọn gốm Bát Tràng

Xuất hiện ở Việt Nam đã hàng ngàn năm nay, gốm được người ta đã tìm thấy

trong nhiều di chỉ văn hóa như Hòa Bình, Bắc Sơn, Hạ Long cho đến hậu kỳ đồ đá

mới Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun... Nhiều năm qua, Việt Nam được thế giới

biết đến như một đất nước có một nền văn hóa độc đáo, đa dạng và không thể không

nhắc tới gốm với những đóng góp về phương diện loại hình nghệ thuật dân gian đặc

sắc. Trước kia trên thế giới nói đến gốm là người ta nghĩ ngay đến gốm Trung

Quốc. Nhưng bằng những phát hiện về gốm trên mảnh đất Việt Nam từ trước tới

nay, người Việt Nam có thể tự hào rằng gốm Việt Nam cũng không thua gì gốm

Trung Quốc về giá trị niên đại và giá trị nghệ thuật. Gốm men ngọc Việt Nam được

so sánh với gốm Long Tuyền thời Tống ở Trung Quốc. Gốm hoa nâu với dáng to,

dầy và thô, có lớp men trắng ngà hoặc vàng nhạt. Đặc biệt là gốm Bát Tràng được

ví như “cội nguồn, tinh hoa” văn hóa dân tộc…

Gốm rất gần gũi với con người, từ xa xưa người ta đã coi đó là thứ đồ dùng hàng

ngày lại đồng thời là thứ đồ có giá trị hay dùng để trang trí... Chúng ta có thể bắt

gặp gốm ở bất kỳ đâu từ chốn cung đình lộng lẫy đến mỗi ngôi nhà dân dã. Có lẽ rất

ít thứ vật dụng nào lại chiếm được vị trí quan trọng như gốm, người ta dùng gốm

41

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

làm vật dụng trong gia đình. Những chum, vại, chậu, bình... đối với người dân

thường thì họ dùng để chứa nước, trồng cây, muối dưa cà. Còn đối với vua chúa hay

hàng quan lại trong triều thì gốm làm công phu hơn rất nhiều và ngoài những tác

dụng vốn có, gốm ở đây dưới bàn tay tài hoa của người thợ biến thành những thứ đồ

trang trí quý giá. Với bàn tay khối óc, con mắt nghệ thuật tinh tế cộng với sự nỗ lực,

người thợ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bằng gốm thể hiện được những tinh

hoa văn hóa dân tộc từ bao đời truyền lại và hơn thể thổi vào gốm cái hồn riêng

sống động. Và đó chính là giá trị đích thực khi chúng ta thưởng lãm một tác phẩm

gốm.

54 dân tộc anh em quần tụ với nhau tạo thành một dân tộc Việt Nam vững chắc, đó

là nơi tập trung của nhiều vùng miền văn hóa khác nhau vô cùng sống động. Gốm

Việt Nam nói chung cũng vậy, tuy nhiên với mỗi trung tâm làm gốm thì những sản

phẩm gốm lại mang những giá trị khác nhau đặc trưng cho văn hóa của mỗi vùng

đất sản sinh ra gốm.

Gốm Bát Tràng (Hà Nội)

Bát Tràng là một làng cổ nằm bên sông Hồng nổi tiếng với những sản phẩm gốm

từ bao đời nay. Tương truyền, sở dĩ làng có nghề này là vì gần 6 thế kỷ trước có một

nghệ nhân từ làng Bồ Bát (Thanh Hóa) đã đến nơi đây hành nghề, dựng nghiệp rồi

truyền lại nghề gốm bàn xoay cho dân làng ( gọi là gốm bàn xoay vì các nghệ nhân

vùng này phải nặn, chuốt gốm trên một cái mâm luôn được đạp cho quay tròn). Câu

chuyện đó đã có từ 500 năm nay. Ghi chép trong những thư tịch cổ từ thế kỷ 15 đã

cho thấy gốm Bát Tràng vào thời này đã được xếp vào hàng những sản vật quý cùng

với lụa là, gấm vóc, châu ngọc.

Không chỉ có những sản phẩm gốm có giá trị, đa hình, đa sắc, ở Bát Tràng ta còn có

thể tìm thấy gốm mộc, gốm thô mang một vẻ đẹp tao nhã và vô cùng giản dị. Gốm

Bát Tràng đẹp cả cốt, dáng, nét và men. Tương truyền rằng, ban đầu các nghệ nhân

nơi đây làm đồ gốm trắng sau này mới chuyển sang làm đồ đàn. Gốm là loại gốm

xương đỏ, miệng loe, mỏng và thấp, người thợ phải làm xương gốm bằng đất đỏ rồi

mới lót một lượt đất trắng mỏng ra ngoài, quy trình này làm cho xương và da gốm

42

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

mỏng, do vậy mới gọi là đồ đàn. Ngoài bát đĩa, ấm chén và những đồ thông dụng

trong đời sống hàng ngày, nghệ nhân Bát Tràng còn làm ra những sản phẩm có giá

trị như: độc bình, lư, đỉnh, đèn thờ, con giống... với hai loại men truyền thống là

men ngọc, men rạn.

Gốm đất Việt thật không hổ với câu: "Nhất dáng nhì men". Giá trị của dáng, men

gốm Việt còn được tôn lên bởi những đường nét trang trí độc đáo tinh xảo. Nếu có

dịp nào đó đặt chân lên một làng gốm bất kỳ của đất nước, bạn sẽ không khỏi bị thu

hút bởi những sản phẩm gốm đẹp nhẹ nhàng, huyền bí và có sức cuốn hút. Hiện

nay, trong khi gốm Trung Quốc, Hàn Quốc và của một số nước khác đang xâm

nhập vào thị trường trong nước và cạnh tranh với gốm Việt Nam trên thị trường

nước ngoài, nhưng gốm Việt vẫn giữ được nét riêng đặc sắc của mình, vẫn có được

chỗ đứng riêng. Bên cạnh một số làng gốm đang dần bị thương mại hóa, vẫn còn rất

nhiều trung tâm làm gốm luôn vượt qua khó khăn, sản xuất và phát triển hàng ngày

hàng giờ, gửi tình cảm của người thợ, gửi hồn của đất vào từng sản phẩm gốm và

đem gốm đến với mọi miền đất nước và đến với bạn bè trên khắp thế giới.

3.2 Đối tượng nghiên cứu ý tưởng

• Dành cho phái đẹp tuổi từ 20 đến 35.

• Đi dự tiệc đêm.

3.3 Nghiên cứu xu hướng thời trang Xuân Hè 2011 - 2012

• 10 xu hướng thời trang xuân hè 2011

Sắc xanh denim jeans chưa "hạ nhiệt"

Trang phục jeans, denim mang sắc xanh dương vẫn chưa hề "hạ nhiệt" trong

các bst trên sàn cat walk. Không chỉ xuất hiện trên các bộ quần áo mà còn

xuất hiện trên những chiếc váy dài maxi skirts vô cùng khỏe khoắn và năng

động.

43

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Thakoon Stella McCartney

Khối sắc màu

Trang phục với các khối sắc màu rực rỡ, các tone màu neon nổi bật như vàng, cam,

hồng, xanh là một trong những điểm nhấn thu hút của thời trang xuân hè năm nay.

Các khối màu sắc được kết hợp với nhau 1 cách rất hài hòa, mang lại vẻ trẻ trung

tươi tắn trong không khí mùa xuân.

44

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Aquilano E Rimondi

Cảm hứng phương Đông

Đường nét mềm mại trong các bộ trang phục truyền thống của phương Đông

đã trở thành cảm hứng sáng tạo của nhiều nhà thiết kế. Một sự kết hợp thú vị

khi mang nét truyền thống vào các bộ trang phục hiện đại.

Dries Van Noten Haider Ackerman

45

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Vera Wang

Philisophy

Họa tiết hoang dã

Họa tiết động vật, da thú như da báo, da rắn, cây cỏ hay trang phục thiết kế

lấy cảm hứng từ động vật cũng là một trong những điểm nhấn thú vị trong xu

hướng thời trang năm nay.

Giambattista Valli Viktor & Rolf

46

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Altuzarra Alexander McQueen

Trang phục ren

Các mẫu trang phục ren nữ tính vẫn chưa hề hạ nhiết và xuất hiện đa dạng

hơn trong các bst. Không chỉ xuất hiện ở váy liền, áo mà còn cả những chiếc

mini skirt cá tính. Đặc biệt là các mẫu váy đầm dạ hội thanh lịch, quyến rũ.

Valentino Erdem

47

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Dolce & Gabbana Chanel

Style trong suốt

Sàn cat walk trở nên vô cùng nóng bỏng với các mẫu trang phục trong suốt,

mềm mại. Vì thế, đây là một trong những style được star diện nhiều trong

thời gian gần đây. Không chỉ xuất hiện với trang phục đen, trắng mà trang

phục style trong suốt còn có nhiều màu sắc khác nhau.

Alberta Ferretti Givenchy

48

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Trang phục đơn sắc

Các mẫu trang phục đơn sắc, mang đường nét nam tính, mạnh mẽ tạo được

sự chú ý vì tính ứng dụng cao. Không quá cầu kì, các trang phục này có thể

ứng dụng với rất nhiều người.

Bottega Veneta Maison Martin Margiela Gareth Pugh

70's retro

Trang phục mang nét cổ điển của các thập niên 70 lại một lần nữa lại "khuấy

động" sàn cat walk và các "tín đồ thời trang". Nếu là tín đồ của retro thì các

bạn hãy thoải mái sắm thêm trang phục theo tủ quần áo của mình nhé!

Salvatore Ferragamo Marc Jacobs Fendi

Xu hướng Punk

Sự trở lại của punk, mạnh mẽ cá tính trong các bst mang đến sự nổi loạn, đầy

chất trẻ trung. Xì-tai này đặc biệt thích hợp với teengirl cá tính, thích phá

cách.

49

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Jean Paul Gaultier Jeremy Scott

Balmain Balenciaga Burberry Prorsum

Họa tiết hoa cỏ độc đáo

Các họa tiết in hoa mềm mại, độc đáo cùng với tone màu tươi sáng mùa xuân

vẫn là một điểm nhấn ngọt ngào cho trang phục của bạn trong mùa xuân hè

năm nay.

50

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Loewe Miu Miu Rochas

Louis Vuitton Christian Dior

51

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

3.4 BST của caùc nhaø thieát kế trong nước và nước ngoài

• Việt Nam

Đều được tạo thành từ những đường nét, màu

sắc, những mảng ghép linh hoạt và đặc biệt

không thể thiếu xúc cảm thẩm mỹ từ đôi bàn

tay người nghệ nhân, nghệ sĩ…vậy giữa gốm sứ và thời trang có sự giao thoa, hòa

điệu không? Để trả lời cho câu hỏi đó hay để phác họa cho sợi dây gắn kết giữa hai

phạm trù, đêm ca nhạc thời trang “Vũ điệu gốm sứ” thử đem gốm sứ lên không gian

nghệ thuật để cùng tỏa sáng với thời trang và người đẹp. Các nhà thiếtkế nam hàng

đầu Việt Nam đã tụ hội để “tô màu, hòa sắc” cho vũ khúc “nghê thường” của gốm

sứ: Sỹ Hoàng, Thuận Việt, Ngô Nhật Huy và Sơn Collection.

Nằm trong khuôn khổ Festival Gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010, chương trình

ca múa nhạc “Vũ điệu gốm sứ” sẽ diễn ra vào lúc 20h00 ngày 5/9 tại sân vận động

tỉnh Bình Dương. Những họa tiết, hoa văn đặc trưng của gốm sứ sẽ khoe sắc trong

đêm ca nhạc thời trang .

Hơi thở của gốm sứ được thổi hồn vào các bộ sưu tập thời trang Áo Dài - NTK Sỹ

Hoàng, NTK Ngô Nhật Huy; Yếm - Thuận Việt, đầm dạ hội - Sơn Collection.

Xuyên suốt chương trình là câu chuyện về gốm sứ, về lịch sử nghề gốm cùng với sự

52

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

phát triển của xã hội và con người Việt Nam.

22 làng nghề gốm sứ nổi tiếng từ Bắc vào Nam, các sản phẩm làm từ gốm sứ, đại

diện cho các miền gốm sứ sẽ được thể hiện một cách sinh động, gần gũi tạo thành

khúc ngợi ca đất mẹ dày công tạo tác…

Người xem sẽ được trải nghiệm “Hỏa biến” – Thăng hoa trong lửa cùng Sỹ Hoàng;

Uy nghi và bí ẩn như “Huyền thoại rồng” - NTK Ngô Nhật Huy; táo bạo “Yếm

hoa” cách điệu giữa truyền thống và hiện đại – NTK Thuận Việt và sang trọng, đài

các với “Nắng và lửa” – NTK Sơn Collection.

Khoe nét duyên với trang sức gốm sứ cùng hòa vào điệu vũ sắc màu đêm hội.

“Thăng Long gốm Việt” sẽ như một lò gốm khổng lồ, tái hiện sinh động cảnh làng

gốm, thợ gốm…”.

NTK Sỹ Hoàng: “Lấy ý tưởng từ tinh chất của đất, bàn tay tài hoa của người thợ

gốm, qua lửa biến hóa

thành một sản phẩm sử

dụng hàng ngày cho

con người. Màu sắc

của bộ sưu tập dựa trên

các dòng gốm sứ tiêu

biểu của VN như gốm

thời Lý, gốm Chu Đậu,

gốm Bát Tràng, gốm

Bình Dương… Mong

sao Festival Gốm sứ

Việt Nam Bình Dương 2010 trở thành thương hiệu không chỉ thành công về sản

phẩm mỹ thuật ứng dụng, kinh doanh - mà còn là sự kiện du lịch mang đậm yếu tố

văn hóa nghệ thuật”.

53

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

NTK Ngô Nhật Huy: “BST lấy ý tưởng từ các họa tiết Rồng và Phụng qua các

vương triều đưa vào chiếc Áo Dài tạo cho BST một nét hoài cổ nhưng vẫn mang

dáng vóc của chiếc Áo Dài hiện đại qua các chất liệu đã được xử lý và chọn lọc khá

kĩ. Màu sắc chủ đạo gồm 5 gam màu vàng, đỏ, đen, xanh và trắng. Đây là những

tông màu tượng trưng cho ngũ hành trong vũ trụ; sự giao thoa giữa nắng và gió, đất

và trời, lửa và nước.

Những hoa văn họa tiết này tôi cũng lấy ra từ những bình gốm sứ cổ mà sử sách đã

lưu truyền lại, bên cạnh đó tôi kết hợp với kỹ thuật phối màu làm sao để cho phần

hoa văn và phần thiết kế cộng với chất liệu thật hài hòa tạo nên một nét mới cho

BST dành cho lễ hội Gốm sứ lần này.

Tôi chỉ mong sao sau này có thể kết hợp nhiều chương trình hơn nữa dành riêng cho

hai loại thể hình này có thể vừa biểu diễn thời trang AD vừa giới thiệu về xuất xứ

hay nguồn gốc của sản phẩm gốm sứ hay cảm hứng hoặc họa tiết AD trên gốm sứ

chẳng hạn. Cách này rất hữu hiệu để giới thiệu đến bạn bè quốc tế giúp họ hiểu hơn

về con người cũng như truyền thống của Việt Nam”.

NTK Thuận Việt: “Lấy ý tưởng từ chiếc áo yếm mộc mạc, giản dị của người phụ nữ

Việt Nam ngày xưa, bộ sưu tập sẽ là một điểm nhấn nhằm tôn vinh những sản phẩm

gốm sứ hiện đại. Sắc màu rực rỡ của Yếm Hoa sẽ là nền tảng nhằm tôn lên vẻ đẹp

tinh khôi của những sản phẩm gốm sứ. Bộ sưu tập là sự tôn vinh bàn tay khéo léo

của những người thợ thủ công Việt Nam qua những đường nét thêu tay tinh xảo.

Sự hòa quyện của những mẫu gốm sứ cùng những họa tiết từ bộ trang phục Yếm

Hoa là một bức tranh tổng thể hài hòa . Hoa từ gốm sứ sẽ là những ý tứ tạo nên họa

tiết trên trang phục cũng như ngược lại”.

54

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

• Thế giới

Người đẹp Trung Quốc trong sắc màu gốm sứ

Màu trắng và xanh của gốm xứ đã được các nhà thiết kế thời trang khai thác đưa

vào các bộ trang phục. Đây được coi là một nét độc đáo mang đậm giá trị truyền

thống dân tộc.

55

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Họa tiết "gốm sứ" trên một mẫu đầm dạ hội

56

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Dùng gốm sứ thiết kế thời trang

Nghệ nhân Trung Quốc Lý Hiểu Phong đã dùng những

mảnh gốm vỡ để tạo nên bộ sưu tập thời trang độc nhất

vô nhị.

Khởi nghiệp là họa sỹ trang trí tường, ngay sau đó Lý

Hiểu Phong thấy hứng thú với nghệ thuật điêu khắc để

quảng bá hình ảnh đất nước Trung Quốc với nhiều màu

sắc khác nhau.

Thay vì dùng những nguyên liệu bình thường như đá cẩm thạch, gỗ hoặc thủy

tinh, Hiểu Phong lại dùng nguyên liệu hoàn toàn mới lạ - gốm sứ để thiết kế

thời trang. Anh lau sạch, sau đó tạo hình cho từng mảnh gốm sứ, khâu chúng

lại với nhau trên một miếng da thuộc. Tác phẩm nghệ thuật này của anh có tên

là “ Vẻ đẹp tái tạo”.

Những sản phẩm của Hiểu Phong bao gồm váy cho nữ giới, cà vạt, vét-tông

dành cho nam giới và cả tấm bản đồ hình dáng giống như một nước ở châu Âu

và được đánh dấu những thành phố đặc trưng.

Những sản phẩm này có thể mặc tuy nhiên nó rất nặng nên để trưng bày là chủ

yếu.

Gần đây hãng thời trang nổi tiếng của Pháp Lacoste đã tỏ ý mời Lý Hiểu

Phong làm thiết kế chính cho những tác phẩm thời trang bằng gốm sứ sẽ được

trưng bày trong hoạt động hè 2010 của hãng.

57

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

58

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu danh mục công trình sáng tác của tác giả

4.1 Ý tưởng

BST được lấy cảm hứng từ hình ảnh, hoa

văn trên gốm sứ Bát Tràng cổ -

BST “

là sự hòa trộn tinh tế của nét đẹp xưa và

hiện đại được thể hiện qua phom dáng, họa

tiết trang trí và sắc màu chủ đạo của một

dòng gốm nổi tiếng sứ kinh kỳ.

4.2 Giải pháp triển khai BST

Màu sắc Bộ Sưu Tập dựa trên màu sắc men đặc trưng của gốm Bát Tràng.

Mẫu hoa văn họa tiết cũng được lấy ra từ bình gốm Bát Tràng.

Hình ảnh hoa văn họa tiết từ gốm sứ sẽ là những ý tạo nên họa tiết trên trang phục

cũng như ngược lại.

Họa tiết , hoa văn , màu sắc cho đến trang phục sẽ được dựa trên xuyên xuốt ý

tưởng.

59

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4.3. Phom dáng

60

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4.4. Chất liệu, bảng màu

61

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4.5. Mẫu phẳng

Mẫu 01

62

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu vẽ

63

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu thật

64

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu 02

65

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

66

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu thật

67

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu 03

68

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

69

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

Mẫu thật

70

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

4.6. Mẫu thiết kế

71

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

C. PHAÀN KEÁT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

Gốm Bát Tràng Việt Nam thật sự đã góp phần tạo nên bản sắc dân tộc đây cũng là

nền tảng cho sự tồn tại, động lực và mục tiêu phát triển bền vững lâu dài của nước

ta. Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát huy nó vươn xa hơn trên con đường hội

nhập, “ hội nhập mà không hòa tan”.

Trong công cuộc đổi mới đất nước với nền Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa các sản

phẩm thủ công truyền thống có tính độc đáo và tinh xảo vẫ rất cần cho con người,

trong xu thế chung của nhu cầu cân bằng đời sống.

Các làng nghề với những nghệ nhân đang được tập hợp để truyền lại kinh nghiệm,

bảo lưu, vận dụng và phát triển theo hướng dân tộc – Đậm đà bản sắc riêng.

Gốm sứ Việt với ưu thế và tính đặc thù của mình, đang hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi

về mặc văn hóa, nghệ thuật, hiệu quả kinh tế - Một khi được nhình nhận đúng mức.

Mức sống cao kéo theo nhu cầu ăn mặc của con người cũng ngày một nâng cao tính

thẩm mỹ cũng được đặt nặng hơn.

72

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH GỐM

Gốm là sản phẩm nghệ thuật, nghành gốm Việt Nam được thừa hưởng và có

đóng góp chung như một bộ phận của nền văn hóa. Việc bảo tồn, xây dựng và phất

triển cần có một số biện pháp:

• Đào tạo nguồn nhân lực có tâm huyết với nghề

• Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh phí để phát triển làng nghề, tập

hợp các nghệ nhân có bề dày kinh nghiệm.

• Đưa gốm sứ vào không gian trưng bày nội thất.

• Kết hợp với các phương tiện thông tin quảng bá tác phẩm

Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu với mong muốn góp một tiếng nói

chung vào sự phát triển nghành gốm Việt Nam.

73

LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỜI TRANG ĐỀ TÀI TRANG PHỤC DẠ HỘI ĐƯỢC PHÁT TRIỂN

DỰA TRÊN HÌNH ẢNH HOA VĂN GỐM BÁT

TRÀNG – HUỲNH THỊ TUYẾT MINH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Bảo tàng số 51 BÁT TRÀNG, Gia Lâm, Hà Nội

VỊ TRÍ LÀNG NGHỀ

• Bảo tàng Không Quân 171, Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội.

• Bảo tàng gốm sứ mậu dịch Hội An, số 80 Trần Phú, Hội An

• Bảo tàng lịch sử Việt Nam, số 2 Nguyễn Bĩnh Khiêm, Q1

74