
§Ò ¸nkiÓm to¸n tµi chÝnh khæng minh dòng-K iÓm to¸ n42a
1
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất
lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng
làm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấp
thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về
mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng
có thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sự
tất yếu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự
ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa các
doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh
doanh, đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệp
cần phải huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư cần có những tài
liệu tin cậy để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin
trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy về
kết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cần
hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hàng
hoá, dịch vụ. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vai
trò, chức năng xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
mà còn ý nghĩa cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm. Nếu như Báo
cáo tài chính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tại
một thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin cho
người sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó.
Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ra
mối quan hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kĩ thuật kiểm toán dùng để xác
minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thực
hiện chức năng kiểm toántheo từng đối tượng loại hình cụ thể của kiểm toán .Những
phương pháp kĩ thuật áp dụng rất đa dạng,sử dụng những phưong pháp luận,những
phạm trù chiết học ,kinh tế trính trị vào nghiên cứu.các phương pháp toán học đối chiếu
lôgíc,đối chiếu trực tiếp,kiểm kê ,thực nghiệm và đIều tra…các yếu tố này cần được kết
hợp theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một khách thể xác
định.có nhiều cách kết hợp cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả khác nhau.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt
động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong khi đó
hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như
phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn

§Ò ¸nkiÓm to¸n tµi chÝnh khæng minh dòng-K iÓm to¸ n42a
2
đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do
vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của
cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho
thấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng
đầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của
các doanh nghiệp.
Đề án môn học”Trình tự tổ chức công tác kiểm toán”được viết trên cơ sở
những bài giảng về kiểm toán.
Đề án gồm 3 phần:
PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán.
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán.
Phần III: Vận dụng quy trình kiểm toán vào các loại hình kiểm toán

§Ò ¸nkiÓm to¸n tµi chÝnh khæng minh dòng-K iÓm to¸ n42a
3
PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán
1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán
1.1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ
không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên
hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ
một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt
động ở mức độ tối ưu .
1.1.2 Tổ chức kiểm toán
là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định
thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm
toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo
léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ
những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn
nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức
kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà
tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.1.3 Trình tự
Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự
tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.
1.1.4 Trình tự kiểm toán
Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản
- Chuẩn bị kiểm toán
-Thực hành kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài
chính.
2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy
trình kiểm toán Báo cáo tài chính.
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm
toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho
kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo

§Ò ¸nkiÓm to¸n tµi chÝnh khæng minh dòng-K iÓm to¸ n42a
4
tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn
như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch
kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên
cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng
như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán
đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực
kiểm toán thứ tư trong10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi ( GAAS
) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu
có, phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch
kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một
cách có hiệu quả.
Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của
cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán,
cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã
được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy
đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò
quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm
toán. Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo
tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu
Giai đoạn I
L
ậ
p k
ế
ho
ạ
ch và thi
ế
t k
ế
ph
ươ
ng pháp
Giai đoạn I I
Th
ự
c hi
ệ
n
k
ế
ho
ạ
ch ki
ể
m toán
Giai đoạn I II
Hoà n thà nh ki
ể
m toán và công b
ố
báo cáo

§Ò ¸nkiÓm to¸n tµi chÝnh khæng minh dòng-K iÓm to¸ n42a
5
trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín
nghề nghiệp đối với khách hàng.
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như
phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các
chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán
viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các
chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán
và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra
những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập,
kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên…
Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể
kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt
chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong
khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy
trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt
Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và
hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để
đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm
toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập
đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công
của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.
2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực
hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường
lập chiến lược kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế
hoạch kiểm toán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một
cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của Công ty kiểm toán về tình hình hoạt động
của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán( bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch
kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:

