
1
Luận văn
Xuất khẩu giầy dép Việt Nam-thực trạng
và giải pháp

2
LỜI MỞ ĐẦU
Trước năm 1996, xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường đã hình thành
nhưng phải đến đại hội VI mới xuất hiện bước ngoặt trong đổi mới chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế nói chung, cơ chế quản lý thương mại và dịch vụ nói riêng.
Bước ngoặt này đã đem lại hiệu quả kinh tế kỳ diệu cho nền kinh tế, biến nền
kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng
hoá gắn sản xuất với thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần
kinh tế được tự do kinh doanh những mặt hàng mà nhà nước không cấm, nhà
nước bảo hộ những hoạt động kinh doanh hợp pháp và tạo điều kiện cho mọi
thành phần kinh tế bình đẳng. Việc chuyển hướng nền kinh tế đã ảnh hưởng lớn
đến hoạt động xuất nhập khẩu. Qua từng năm, kim ngạch xuất nhập khẩu đặc biệt
là kim ngạch xuất khẩu tăng lên nhanh chóng và xuất khẩu trở thành mặt trận
kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Chiến lược công nghiệp hoá hướng
về xuất khẩu đã được công nhận là một mô hình phát triển đưa các quốc gia thoát
khỏi tình trạng lạc hậu và đói nghèo, đưa quốc gia tiến gần đến mức chung của
thế giới.
Hiện nay, mười mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta là dầu thô, dệt may, giầy
dép, gạo, thuỷ sản, than đá, cà phê, cao su, hạt điều, lạc nhân. Năm 1996, kim
ngạch xuất khẩu giầy dép Việt Nam là 528,5 triệu USD, năm 1997, kim ngạch
xuất khẩu đạt 649,5 triệu USD và 1998, kim ngạch xuất khẩu là 1.168 triệu USD
và năm 1999 là 1.400 triệu USD. Từ đây ta có thể thấy rằng xuất khẩu giầy dép
đang chiếm vị trí quan trọng và tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
chúng ta.
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế thế giới, nhu cầu trên thị trường
xuất khẩu ngày càng cao, tất yếu kéo theo những đòi hỏi cần được đáp ứng. Nhu
cầu về giầy dép là một nhu cầu cơ bản vì vậy cơ hội phát triển trong tương lai của
ngành giầy dép là rất lớn. Việc nghiên cứu: “Xuất khẩu giầy dép Việt Nam-thực

3
trạng và giải pháp” là cần thiết để từ đó chúng ta xây dựng được định hướng phát
triển và phương hướng khắc phục khó khăn trong hoạt động xuất khẩu giầy dép
những năm tới.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã giúp em những ý kiến hướng dẫn quý giá
trong quá trình thực hiện bài viết này. Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài viết
gồm có ba phần chính:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu trong thương mại quốc tế.
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu giầy dép của Việt Nam hiện nay.
Chương III: Triển vọng và một số biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam.

4
CHƯƠNG I
Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu
trong thương mại quốc tế
I. Thương mại quốc tế.
1. Lý thuyết thương mại quốc tế.
Lý thuyết thương mại quốc tế nhằm giải thích tại sao có thương mại giữa các
nước và tại sao xuất hiện các dạng thức thương mại. Thương mại là sự trao đổi tự
nguyện giữa các quốc gia, dân tộc hay nói cho chính xác là các nước sẽ tự nguyện
tham gia vào thương mại một khi họ thu được lợi ích từ thương mại.
Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra lý thuyết khoa học về thương mại.
Theo ông, thương mại giữa hai quốc gia dựa trên lợi thế tuyệt đối. Khi một nước
tỏ ra hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng nào đó và tỏ ra
kém hiệu quả hơn (có nhược điểm tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng khác trong
so sánh với một nước thứ hai thì cả hai nước sẽ có lợi hơn khi chuyên môn hoá
vào sản xuất mặt hàng thuộc về lợi thế tuyệt đối của mình và dùng một phần sản
phẩm đó trao đổi với nước kia để nhận được sản phẩm mà sản xuất ra nó là nhược
điểm tuyệt đối của mình. Bằng cách này, nguồn lực của mỗi nước sẽ được sử
dụng có hiệu quả hơn và sản phẩm của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên.
David Ricardo đã đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn về thương mại. Theo ông,
thương mại cả đôi bên cùng có lợi có thể xảy ra ngay cả khi một trong hai nước
có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng so với nước kia, trừ phi lợi thế
tuyệt đối là đồng đều cho tất cả các mặt hàng. David Ricardo giải thích đó là do
lợi thế tương đối mang lại.
Lợi thế tuyệt đối là một khái niệm hết sức quan trọng của kinh tế học. Theo quy
luật lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia
khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia

5
vào thương mại quốc tế tạo ra lợi ích cho mình nghĩa là quốc gia có hiệu quả thấp
trong sản xuất tất cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi các
loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất (những hàng hoá có lợi thế
tương đối) để đổi về các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất (những
hàng hoá không có lợi thế tương đối). Tuy nhiên, lý thuyết của David Ricardo là
phiến diện vì nó dựa trên những giả thuyết thiếu thực tế như:
- Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai mặt hàng
- Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi nước nhưng
không di chuyển giữa các nước
- Công nghệ sản xuất cố định.
- Chi phí sản xuất cố định, không có chi phí vận tải.
- Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước.
Vì vậy, lý thuyết của Ricardo chỉ mang tính lý thuyết nhưng chính nó là cơ sở cho
Heckscher và Ohlin phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tiềm tàng đến
thương mại và chỉ ra rằng một nước sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất những mặt
hàng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối dư thừa và rẻ,
đổi lấy những mặt hàng mà việc sản xuất chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản
xuất mà nước đó tương đối khan hiếm và đắt. Nói một cách khác, một nước tương
đối giàu lao động sẽ sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều lao động đổi lại hàng hoá
sử dụng nhiều vốn. Kết quả của dạng thức thương mại này là lợi nhuận tương đối
cũng như tuyệt đối của cùng một loại yếu tố sản xuất trở nên đồng đều nhau giữa
các nước, giảm sự khác biệt về lương và lãi suất ở các nước. Như vậy, thương
mại quốc tế sẽ là sự thay thế cho sự năng động quốc tế của các yếu tố sản xuất.
Kinh tế theo qui mô là hiện tượng khi lợi nhuận của sản xuất tăng theo qui mô sản
xuất. Kinh tế theo qui mô rất phổ biến trong sản xuất nhiều loại mặt hàng. Thậm
chí trong trường hợp hai nước giống hệt nhau về mọi phương diện thì vẫn có cơ
sở cho sự trao đổi thương mại, bởi khi một nước chuyên môn hoá vào sản xuất

