8
doanh nghip tại Hà Ni 1/1998) hu hết các doanh nghip này được vốn ngân hàng
htrợ 80 -90 % trong sản xuất kinh doanh cải tiến và đổi mới công ngh.
*.Hạn chế.
Vic giảm l•i suất là điều kiện cần nhưng không đủ để tạo vn cho doanh nghiệp.
- L•i sut còn cao, khó khăn trong thủ tục vay NH. Cho dù l•i suất cho vay đ• giảm khá
mạnh song các DN vẫn không dám vay tiền vì t lệ l•i suất cho vay ngân hàng o
khoảng 10%-11% năm.
- Nhiều DN làm ăn không có hiệu quả do trang thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu nhưng
muốn cơ cấu vốn lớn, bắt buộc phải đi vay, với số vốn lớn DN phải trả l•i lớn trong khi
lợi nhun thu được lại chưa ổn định do vậy l•i suất giảm DN vẫn không dám vay.
- c NH cạnh tranh dn đến ng mức l•i suất tiền gi các DN ct gim tất cnhững
khoản đầu tư không đưa lại lợi nhuận cao bằng gửi tiếp vào NH.
- Việc vay vốn trung vài hn ca các DN không thuận lợi vì các NH cho vay dgặp
rủi ro t việc huy đng vốn NH cho vay trung và dài hạn trong khi mức chênh lệch
giữa l•i suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn b xoá bỏ.
Mức l•i suất cơ bản
Các loại l•i suất chủ đạo trên của NHNN trong đó có tác động trực tiếp đến l•i suất huy
động vn cho vay ca các NHTM, nhưng c động gián tiếp đến l•i suất trong
nền kinh tế. Việc tăng l•i suất cơ bản cho thấy NHNN phát tín hiệu tăng l•i suất trên th
trường tiền tệ. Còn việc tăng l•i suất tái cấp vốn và l•i sut tái chiết khấu chứng tỏ l•i
suất huy động vốn cho vay đều ng, phản ng này thddàng thy được bởi
các diễn biến kinh tế vĩ mô chủ yếu được coi là mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ.
9
Theo đó, NHNN sẽ hạn chế cung ứng tiền cho các NHTM để mở tín dụng thông qua
việc tăng l•i suất tái cấp vốn và l•i suất. Đồng thời đ đáp ứng nhu cầu vay vốn của
khách hàng buc các NHTM phải đẩy mạnh huy đng vốn trên thtrường, nếu không
phải vay vốn ca NHNN theo các nghiệp vụ NHTƯ với l•i suất cao hơn.Để huy động
được vốn trong xhội trong bi cảnh hiện nay, điều ddàng xy ra khi NHNN tăng
các loại l•i suất chủ đạo nói trên thì các NHTM phải tăng l•i suất huy động vn. Bởi vì
hiện nay đang có rất nhiều kênh cạnh tranh thu hút vốn.
L•i suất ng không biết tác dụng kiềm chế lạm pt hay không nhưng làm tăng
rủi ro cho cả NHTM và doanh nghiệp thì khá ràng, bởi vì với l•i suất vay vốn nội tệ
bình quân n tới 12%-13%/năm vào loại cao nhất trong khu vực, lợi nhuận của doanh
nghiệp, khnăng trả nợ của người vay sẽ bảnh hưởng nghiêm trọng. Mặc dù l•i suất
cao nhưng nhiều dự án triển khai dở dang vẫn phải tiếp tục vay vốn ngân hàng đđầu
tư, đương nhiên m ng độ rủi ro của d án l•i suất tăng, vốn khan hiếm, doanh
nghiệp và người kinh doanh sẽ khó vay được vốn ngân hàng hơn. L•i suất tăng làm chi
phí vốn vay trong cấu gbán của sản phẩm và dịch vụ tăng, tác động làmng mặt
bằng giá tăng chsố giá tiêu dùng trên thtrường xhội. L•i suất ng vnguyên
cũng như thực tiễn stác động lớn đến ng trưởng kinh tế của giai đon sau, nhất là
trong điều kiện vốn hoạt động của doanh nghiệp, của người kinh doanh trông chchủ
yếu vào vn tín dụng ngân hàng
* Việt Nam hiện nay
L•i suất tín dụng ngân hàng rt nhạy cảm đến mọi người, mọi doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế. L•i suất huy động vốn và l•i suất cho vay luôn mâu thuẫn với nhau,
10
hay nói cách khác đây mâu thuẫn về lợi ích giữa người gửi tiền người vay tiền
NHTM.
- L•i suất cho vay gồm có: l•i suất chiết khấu giấy tờ giá với khách hàng; l•i suất
cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hn; tỷ lệ l•i suất nquá hạn so với l•i suất nợ đang
lưu hành. L•i suất huy động vốn gm l•i suất huy động vốn ngắn hạn ( dưới 12 tháng
)và l•i suất huy động vốn trung dài hn. L•i suất huy động vốn ngắn hạn gồm l•i suất
tiền gi không kỳ hạn, l•i suất tiền gửi ngắn hạn k 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12
tháng, l•i suất huy động vốn trung hn ( trên 12 tháng dưới 36 tháng), l•i suất huy
động vốn dài hn ( từ 36 tháng trở lên) ca NHTM.
- Ngân hàng nhà ớc(NHNN) điều hành l•i suất tín dụng ngân hàng bằng khung l•i
suất tức NHNN chquy định l•i suất huy động vốn thp nhất và l•i suất cho vay cao
nhất, l•i suất nquá hạn. L•i suất cho vay ngắn hạn (12 tháng trở xuống) trong đó
chiết khấu thương phiếu, l•i suất cao nhất đối với cho vay trung hạn. L•i suất huy động
vốn thấp nhất gọi là sàn l•i sut, l•i suất cho vay cao nhất gọi là l•i sut trần.
Nền kinh tế một nước ổn định, ngân hàng trung ương điều hành công cl•i suất tín
dụng ngân hàng theo khung l•i suất có tác dụng mạnh mẽ đối với nền kinh tế và nâng
cao tính độc lập tự chủ tài chính ca NHTM, góp phần ng trưởng GDP/năm đồng
thời thể hiện vai trò quản nhà nước ca NHNN. Các NHTM cạnh tranh với nhau
bằng l•i suất n dụng rất quyết liệt. Nhưng một số dân có trình độ kinh tế cao chưa hẳn
gửi tiền vào tchức tín dụng l•i suất cao như Qu n dụng nhân dân cơ sở hoặc
NHTM c phần mà họ đu tư vào trái phiếu chính phủ, mặc dù l•i sut thấp hơn nhưng
tính an toàn rất cao ( chính phủ vay tiền của nhân dân) hoặc gửi tiền vào NHTM nhà
nước, an toàn hơn gi tiền vào NHTM cphần. nước ta, các NHTM nnước điển
11
hình là NH công thương Việt Nam đưa ra l•i suất huy động vốn ở tất cả các kỳ dài hn
luôn thấp hơn so với các NHTM nói chung nhưng nhiều người vẫn gửi vào. Dch v
tiết kiệm bưu điện tuy mới hot động hơn 5 năm, l•i suất huy động vốn cao hơn một
chút hoặc bằng l•i suất huy động của NHTM nhà nước. Nhưng nguồn vốn huy động
đến cuối quý I/ 2005 đạt 24 nghìn t đồng, gấp hơn 20 lần nguồn cổ phần Sài n
công thương. Tại sao lại như vậy? Bởi vì dịch vtiết kiệm bưu điện cá nhân được m
tài khoản tiền gửi không k hạn với l•i suât n các NHTM nhà nước (2,4%/năm)
nhưng mở tài khoản được gửi tiền và rút tiền ở tất cả các bưu cục trong cả nước. Dịch
vtiết kiệm bưu điện do doanh nghiệp nhà nước đảm nhận nhân dân tin tưởng hơn các
NHTM cphần. Dịch vụ tiết kiệm bưu điện lại n 2700 bưu cục trong cả c,
nhiu hơn mạng ới NHNNvà PTNN Việt Nam. Như vậy l•i suất huy động vốn cao
hay thấp phụ thuộc vào vthế, uy n, mạng lưới và tiện ích đem lại cho thể nhân và
pháp nhân gửi tiền.
Khi nền kinh tế ổn định, GDP ng trưỏng tốc độ cao l•i suất tiền gửi NHTM đảm bảo
nguyên tc: L•i suất dương (+) tức t lệ l•i suất tiền gửi k hạn 12 tháng cao hơn t lệ
lạm phát/ năm. m 2004, l•i suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng không vượt tỉ lệ lạm phát
9,5%/ năm. Đâyhiện tượng khác thường, k từ năm 1996 trở lại đây ( trừ năm 1998
lạm phát 9,2%/ năm).
Năm 1987, nước ta lạm pt 774%/ năm, NHNN Việt Nam và các NHTM không th
đưa ra tlệ l•i suất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng, cao hơn tỉ lệ lạm pt ấy. Bởi vậy
các nhà kinh tế lạm phát cao hoặc lạm phát phi m• như “sắc thuế hình”, mọi th
nhân pháp nhân có tiền phải chịu thiệt hại, cả tiền gửi NHTM hoặc đầu vào giấy
tờ có giá…
12
Các NHTM đua nhau tăng l•i suất huy động vốn với nhiều hình thc: L•i suất tiền gửi
lu tiến theo thời gian và theo csố tiền gửi vào nhiều hay ít, nhiều NHTM còn t
chức quay chọn thưởng với những giá trị hấp dẫn như giải độc đắc trị giá 100y vàng
bốn số 9 hoặc ô tô du lịch sang trọng hay một căn nhà chung trị giá nhiều trăm triệu
đồng. Đặc biệt một s NHTM cphn còn đưa l•i sut huy động vốn cùng k hạn,
ở miền Nam cao hơn miền Bắc như NHTM cổ phần Quốc Tế.
Trong lúc này lm phát đang gia tăng, nỗi lo của nhiều người, NHNN Việt Nam nên
điều hành l•i suất theo khung l•i suất- khống chế l•i suất trần, nhằm đảm bo quyền lợi
ca bên vay vn. NHNN quy định sàn l•i suất để người gửi tiềnkỳ hạn vào NHTM,
với một tỉ lệ l•i suất thích hợp h “tư bn thực lợi”. Được biết, trong nhiều năm
qua, mt số doanh nghiệp nớc t lệ sinh lời trên vốn còn thấp hơn tỉ lệ l•i suất
tiền gi Ngân hàng k hạn 12 tháng. Đứng vgiác đkinh tế l•i suất n dụng ngân
hàng, NHTM đóng vai trò phân phối l•i thu nhập bng tiền của bên vay với bên gửi
tiền vào NHTM. Nói khác đi, các NHTM huy động vốn ở thành ph, chuyển một phần
nguồn vốn huy động về nông thôn cho sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp và doanh
nghiệp vay. Các NHTM dùng ít nht 70% số l•i thu đưc t làm kinh tế h và doanh
nghiệp vay vốn đtrả l•i cho người gửi tiền, trong đó thu l•i cho vay nông thôn, trả
lãi cho người gửi tiền ở thành thị.(Mt s tư liệu trên trích từ báo Kinh tế và D báo số
T6/9-2005)
C- Kết luận
Hiện ợng l•i suất vẫn đang biến động theo từng ngày tng giờ khp trong và ngoài
nước. L•i suất là mt trong những biến số được theo dõi chặt chnhất trong nền kinh