LUẬN VĂN:
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
kinh tế thị trường và sự vận dụng nó ở
nước ta từ khi đổi mới tới nay
I/ lời mở đầu
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế ớc ta, vấn đề giữ vững định hướng hội chủ
nghĩa được đặt ra như một nguyên tắc, một vấn đề chiến lược. Bởi vì có quá độ lên chủ
nghĩa hội được hay không, điều đó trước hết phụ thuộc vào công cuộcy dựng nền
kinh tế giữ vững được định hướng chủ nghĩa hay không. Định ớng đó đòi
hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất y
dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bao gồm cả quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối
vấn đề quản lý nền kinh tế. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ đó sẽ đảm bảo cho nền
kinh tế không bị tụt hậu trong thời đại văn minh tin học, tạo ra được tiền đề kinh tế kỹ
thuật cho squá độ, đồng thời không đi chệch ớng hội chủ nghĩa. Muốn quá độ
được trước hết phải lực lượng sản xuất phát triển. Đt ớc ta thể quá độ lên ch
nghĩa hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng không thể bỏ qua những tiền đề
kinh tế xã hội cần thiết cho sự quá độ đó. Cái thiếu của đất nước tamt lực lượng sản
xuất phát triển. Quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa không thể thiết lập tràn lan trên một
lực lượng sản xuất quá thấp kém. Tớc đây, có lúc chúng ta nhận thức ấu trĩ rằng
dường như có quan hệ sản xuất tiên tiến là đãchủ nghĩa xã hội; có sở hữu hội chủ
nghĩa thì lực lượng sản xuất sẽ tự động phát triển, năng xuất lao động sẽ tăng nhanh; từ
đó đã dẫn đến những sai lm đáng tiếc.ở mt ớc tiểu nông như ớc ta, chủ nghĩa tư
bản chưa phát triển n chưa mâu thuẫn kinh tế cơ bản giữa trình độ hội hoá cao
của lc lượng sản xuất với sự chiếm hữu nhân bản chủ nghĩa; chế độ hữu vẫn
còn tác dụng, thậm chí còn tác dụng hết sức to lớn đối với sự tăng trưởng của nền kinh
tế quốc dân. Hơn nữa sự ra đời của chủ nghĩa hội không phải từ miếng đất trống
không mà từ nền sản xuất do hội cũ đli; vì vậy y dựng xã hội mới không phải là
phủ đnh toàn bội cũ, mà phải biết vừay dựngi mới, vừa sử dụng cái cũ để thúc
đẩy chế độ kinh tế mới ra đời. Do vậy con đường cần thiết cho sự quá độ lên chủ nghĩa
hội là phải duy trì nền kinh tế nhiều thành phần nhằm huy động mi năng lực sản
xuất, phát triển kinh tế hàng hoá để phát triển lực lượng sản xuất. Do ý nghĩa to lớn đó
đề i về kinh tế thtrường trở nên hết sức cần thiết. Đề tài thuyết của chủ
nghĩa Mác-Lênin về kinh tế thị trường sự vận dụng nước ta từ khi đổi mới
tới nay được nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng, dưới góc độ môn kinh
tế chính trị bao gồm những nội dung chính sau:
-sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá với các qui luật vận động
-sự phát triển của Lênin:kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã h
- sự vận dụng vào nước ta từ 1986 tới nay
Ii/ nội dung
A/CƠ sở lý luận của vấn đề
1/Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường
a/Kinh tế thị trừơng hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá
Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn
Mặc những đặc điểm riêng,nhưng tât cả những phương thức sản xuất tiền bản
chủ nghĩa đều nét chung nền kinh tế tự nhiên. trong nền kinh tế tự nhiên sản xuất
nhỏ chiếm ưu thế. Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp thành (
các gia đình nông dân gia trưởng,các công nông thôn,các lãnh địa phong kiến)
mỗi đơn vị kinh tế y m chủ mọi công việc để tạo ra những sản phẩm cuối cùng.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất tư liệu sản xuất chủ yếu; nông nghiệp nghành
sản xuất cơ bản; công cụ kỹ thuật canh tác lc hậu: dựa vào lao động chân tay chủ
yếu, chỉ có mt số trang trạI của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác lao động giản
đơn. trong nền kinh tế ới chế độ phong kiến, phân công lao đông kém phát triển,
cấu nghành đơn điệu, mới chỉ có một số nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất
chủ yếu ớng vào giá trị sử dụng, tính chất tự cung tự cấp. Trong chế độ phong
kiến, bên cạnh shữu phong kiến còn sở hữu cá thể nhỏ của nông dân thợ thủ
công về công cụ lao đông, nhà cửa , giống và những tàI sản phụ khác. những hình thức
sở hữu đó hinh thức tồn tạI của những tiểu nông thợ thủ công độc lp. Sản xuất
nhỏ gồm hai dạng: sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp sản xuất nhỏ dưới hình
tháI sản xuất hàng hoá giản đơn. hai hình tháI đó có thể hiện hai trình độ phát triển khác
nhau của trình độ sản xuất hội. Sản xuất nhỏ ch đạt tới hình tháI điển hình khi
người lao động người chủ tự do của những tư liệu sản xuất do chính hsdụng.
Những đặc điểm chủ yếu của sản suất nhỏ là:
Người sản xuất làm chủ tư liệu sản xuất mà họ sử dụng(tư liệu sản xuất này thuộc quyền
sở hữu riêng của họ hoặc do họ đI th) chiếm hữu những kết quả lao động của
mình. Quy s hữu thường không ợt quá khả năng đáp ứng nhu cầu đáp ứng của
bản thân người lao động gia đình họ. Người lao động trực tiếp kết hợp sức lao động
của mình với tư liệu lao động thô , nhỏ thích hợp với lao động thể, bởi vậy hiệp
tác phân công lao động kém phát triển. Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, dựa trên lao động
thủ công kinh nghiệm ctruyền, thậm chí cảI tiến nên năng suất lao động thấp, sản
phẩm thặng ít, I sản suất giản đơn chính. Quy sản xuất nhỏ, liệu sản xuất
phân tán,manh mún, quản lý sản xuất việc của riêng nhân gia đình. Sản xuất
chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng, tỷ suất hàng hoá thấp, lưu thông hàng hoá chưa phát
triển, th trường nhỏ hẹp, mang tính chất địa phương. Nông nghiệp nền sản xuất
chính, tuyệt đạI bộ phận lao động tập trung vào nông nghiệp, phần lớn dân sinh sống
nông thôn, cơ cấu kinh tế rời rạc. Bước đi tất yếu của sản xuất tự cung cấp tiến
lên sản xuất hàng hoá giản đơn. điều kiện cho quá trình chuyển hoáy sự phát triển
của phân công lao động hội. Phân công lao động hội là cơ sơ của kinh tế hàng
hoá. Xu hướng phát triển của phân công lao động xã hội biến việc sản xuất không
những từng sản phẩm riêng biệt, việc sản xuất từng bộ phận của sản phẩm thành
những ngành sản xuất riêng biệt. Công nghiệp chế biến tách khỏi công nghiệp khai thác
mỗi nghành công nghiệp đó li chia thành nhiều loại nhỏ phân loạI nhỏ. Chúng
sản xuất ra -dưới hình thức hàng hoá-những sản phẩm riêng bit rồi đem đi trao đổi với
những hàng hoá khác. chính sự phát triển ngày càng sâu rộng đó của phân công lao
động hội là nhân tố chyếu dẫn đến hình thành thị trường trong nước. Quá trình trên
cũng thể hiện cả trong ng nghiệp, làm nảy sinh những khu vực nông nghiệp chuyên
môn hoá và dẫn đến những sự trao đổi không những giữa sản phẩm nông nghiệp vi sản
phẩm công nghiệp cả giữa những sản phẩm nông nghiệp với nhau. Trong nền kinh
tế tự nhiên, nhân khẩu nông nghiệp chiếm đa số. điều đó không nghĩa dân cư ch
chuyên làm nghề nông, chcó nghĩa dân cư m nghề nông đã tự mình chế biến
lấy nông sản, hầu như chưa sphân công trao đổi. Đến khi hàng hoá ra đời, một b
phận ngày càng đông trong dân tách khỏi nông nghiệp để làm công nghiệp, làm cho
nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống. Sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, sự hình
thành những trung tâm ng nghiệp ,sức t của chúng với dân cư ảnh ởng sâu sắc
tới đời sống nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp ng hoá phát triển. Những người sản
xuất những vùng khác nhau những điều kiện tự nhiên khác nhau, có khả năng
ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác nhauhiệu quả hơn. ngay trong một vùng
một địa phương, những người sản xuất cũng có những khả năng , điều kiện kinh nghiệm
sản xuất khác nhau. Mỗi người sản xuất chtập trung sản xuất sản phẩm nào mình
ưu thế, đem sản phẩm của mình ra trao đổi ly những sản phẩm cần thiết cho sản
xuất đời sống của mình. Họ trở thành những nời sản xuất hàng hoá. Trao đổi mua