
TCNCYH 98 (6) - 2015 17
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Địa chỉ liên hệ: Lê Hữu Doanh, Bộ môn Da liễu, Trường
Đại học Y Hà Nội.
Email: doanhlehuu@yahoo.com
Ngày nhận: 14/10/2015
Ngày được chấp thuận: 25/12/2015
MỐI LIÊN QUAN GIỮA KHÁNG THỂ KHÁNG Ro/SSA VÀ TIỀN SỬ
THAI NGHÉN CỦA BỆNH NHÂN LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG
Nguyễn Thị Hà Vinh, Lê Hữu Doanh
Trường Đại học Y Hà Nội
Bệnh nhân Lupus ban đỏhệthống (Systemic Lupus Erythematosus -SLE)có khảnăng mang thai như
phụnữ bình thường khác, nhưng thai nghénởnhững bà mẹ nàycó thểhay gặp những tai biến sản khoa
hơn.Kháng thể kháng Ro/SSA (anti - Ro/SSA, Sjogren’s syndrome A) là một trong những yếu tốnguy cơ
của những tai biếnsản khoa ởnhững phụnữSLE. Nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan giữa tiền sử
thai nghén và kháng thể anti -Ro/SSA ở bệnh nhân SLE. Kết quả cho thấy56,8% số bệnh nhân có kháng
thể anti -Ro/SSA dương tính, nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA trung bình ở nhóm bệnh nhân có tiền sử thai
nghén bất thường cao hơn nhóm bệnh nhân có tiền sử thai nghén bình thường. Sự có mặt của kháng thể
anti -Ro/SSA là yếu tố nguy cơ làm tăng sự xuất hiện biến chứng trẻ sinh ra nhẹ cân.
Từ khóa: Lupus ban đỏ hệ thống, thai nghén, kháng thể anti-Ro/SSA
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lupus ban đỏ hệthống là một trong những
bệnh tổ chức liên kết tự miễn thường gặp
nhất. Theo thống kê,tỷlệmắc bệnh trên thế
giớikhoảng 20 -150 trường hợp trên 100.000
dân [1]. Bệnh có thểgặpở cảhai giớivào bất
kỳlứa tuổinào, nhưng hay gặp nhất ởphụnữ
trẻtuổi, đặc biệtlà thờikỳ có thai và cho con
bú [2]. Cho đến nay,nguyên nhân cụthể của
bệnh chưa được biếtrõ.Tuy nhiên,các
nghiên cứuđềuchỉra vai trò của yếu tốgen,
hormon sinh dục, môi trường và các rốiloạn
đáp ứng miễndịch trong cơ chếbệnh sinh [3].
Mặcdù bệnh nhân Lupus ban đỏhệthống
có khảnăng mang thai giống như những phụ
nữ bình thường khác, nhưng thai nghénở
những bà mẹ nàycó thể có những biến chứng
nguy hiểm,đặc biệtlà những ngườicó kèm
theo tăng huyết áp, bệnh thận Lupus nặng nề,
chảymáu sau đẻ…[4]. Những bất thường sản
khoa thường gặpcó thểkể đếnlà tiềnsản
giật, sản giật, sảy thai,đẻ non,trẻsinh ra nhẹ
cân, Lupus sơ sinh… Mặtkhác, việc mang
thai cũng có thể làm bệnh Lupus ban đỏhệ
thống của ngườimẹnặng lên,trên lâm sàng
hay gặplà các đợtbùng phát bệnh,đặc biệtlà
tình trạng viêm cầu thận. Tình trạng nặng lên
của bệnh Lupus có thểgặpởba quý của thai
kỳ,thậmchỉ cảthờikỳhậusản [5]. Vì vậy,
bệnh nhân Lupus ban đỏhệthống khi mang
thai cần đượckhám bệnh và theo dõi cẩn thận
tình trạng của ngườimẹ và thai nhi,đặc biệtlà
những trường hợp thai nghén nguy cơ cao.
Kháng nguyên Ro/SSA là một trong những
kháng nguyên nhân hòa tan chính được biết
đếncủacác bệnh tổchức liên kết, thường liên
quan với Lupus ban đỏ hệ thống,Lupus da
thể bán cấp,hội chứng Sjogren và Lupus ban
đỏ ở trẻ sơ sinh.Tuy nhiên, một sốnghiên
cứu trên thếgiới đã chỉra rằng kháng thểanti-
Ro/SSA có thể là yếu tốgây ra những tai biến
sản khoa ởnhững phụnữ có bệnh tựmiễn
nói chung và Lupus ban đỏhệthống nói riêng
[6; 7; 8].

18 TCNCYH 98 (6) - 2015
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Cho đến nay,chưa có công bốnào nghiên
cứu vềtiền sửthai nghéncủa bệnh nhân Lu-
pus ban đỏhệthống cũng như mối liên quan
giữa tiền sửthai nghénvà kháng thểanti-Ro/
SSA ởnhững bệnh nhân này.
Vì vậy, chúng tôi tiếnhành đề tàinày với
mục tiêu xác định mối liên quan giữa tiền sử
thai nghén và kháng thể anti-Ro/SSA ở bệnh
nhân Lupus ban đỏ hệ thống.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
169 bệnh nhân nữ, được chẩn đoán SLE
theo tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa
Kỳ (ARA) 1997, đến khám và theo dõi tại
phòng khám chuyên đề các bệnh tổ chức liên
kết tự miễn của bệnh viện Da liễu Trung ương
từ tháng 01/2014 đến 10/2014.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân nữ,được chẩn đoán Lupus ban
đỏ hệthống, trong độ tuổi sinh sản (> 15 tuổi),
được làm xét nghiệm kháng thể anti - Ro/SSA
bằng kỹ thuật ELISA (enzyme -linked immu-
nosorbent assay), đồng ýtham gia nghiên
cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên
cứu hoặc không đồng ý lưu mẫu huyết thanh
và làm xét nghiệm định lượng kháng thể anti-
Ro/SSA.
Tiêu chuẩn về các biến chứng thai sản
+Thai lưu:thai chết trong buồng tử cung
từ thởi điểm 22 tuần tuổi trở đi
+Sảy thai tự nhiên:thai bịtống xuất ra
khỏi buồng tửcung trước22 tuần tuổi
+ Đẻ non: trẻ sinh ra trước tuần 37 của thai
kỳ
+ Tiền sản giật: phù, tăng huyết áp, protein
niệu.
+ Trẻ sinh ra nhẹ cân: trẻ sinh ra có cân
nặng ≤ 2500 gram.
+ Bệnh nhân có tiền sử thai sản bất
thường nếu trong tiền sử hoặc hiện tại có một
trong các biểu hiện: thai lưu, sảy thai tự nhiên,
tiền sản giật, sản giật, sinh non, trẻ sinh ra
nhẹ cân.
2. Phương pháp: tiến cứu, mô tả cắt
ngang.
- Các bước ti ến hành
+ Chọn bệnh nhân theo các tiêu chuẩn
như trên.
+Điền thông tin vào mẫu bệnh án nghiên
cứu.
+Lấy máu bệnh nhân để làm xét nghiệm
ELISA tìmkháng thểanti-Ro/SSA. Đánh giá:
Nồng độ anti - Ro/SSA ≥ 30 UI/ml → dương
tính, < 30 UI/ml → âm tính.
3. Thu thập và xử lý số liệu: phần mềm
SPSS 20.0.
4. Đạo đức nghiên cứu
Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên
cứu, thông tin của bệnh nhân được giữ kín.
Chi phí xét nghiệm ELISA tìm kháng thể anti -
Ro/SSA do chúng tôi chi trả. Bệnh nhân được
thông báo kết quả xét nghiệm và tư vấn nếu
cần thiết.
III. KẾT QUẢ
1. Tiền sửthai nghénvà kháng thểanti -
Ro/SSA ởbệnh nhân SLE
Trong 169 bệnh nhân SLE được làm xét
nghiệm tìm kháng thể anti - Ro/SSA, 96 bệnh
nhân có anti - Ro/SSA (+), chiếm 56,8%.
Trong những bệnh nhân SLE anti - Ro/SSA
(+) này, 69 bệnh nhân có tiền sử thai sản
(71,9%) và 27 bệnh nhân không có tiền sử
thai sản (39,1%) (bảng 1).

TCNCYH 98 (6) - 2015 19
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Bảng 1. Tiền sửthai nghénvà kháng thể anti - Ro/SSA ởbệnh nhân SLE
Tiền sử thai sảnAnti - Ro/SSA (+) n1(%) Anti-Ro/SSA (-) n2(%) Chung n (%)
Không có tiền sử thai sản27 (44,3) 34 (55,7) 61 (100)
Có tiền sử thai sản69 (63,9) 39 (36,1) 108 (100)
Tổng 96 73 169
Bảng 2. Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA trung bình ở bệnh nhân SLE có tiền sử thai
nghén bất thường và bình thường
Tiền sử thai sảnn Nồng độ anti-Ro/SSA trung bình (UI/ml) p
Bất thường 51 95,9 ± 70,7
0,03
Bình thường 57 55,8 ± 56,1
Chung 108 76,3 ± 70,0
Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA trung bình ở nhóm bệnh nhân có tiền sử thai nghén bất
thường cao hơn của nhóm bệnh nhân có tiền sử thai nghén bình thường, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 3. Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA trung bình ở nhóm bệnh nhân đang mang thai và
nhóm các bệnh nhân còn lại
Tình trạng thai nghén n Nồng độ anti - Ro/SSA trung bình (UI/ml) p
Đang mang thai 7 59,4 ± 69,8
0,529
Hiện tại không mang thai 102 76,7 ± 70,2
Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA ở những bệnh nhân hiện tại mang thai không có sự khác
biệt với những bệnh nhân còn lại.
2. Các biến chứng thai sản và kháng thể anti - Ro/SSA
Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA ở bệnh nhân có tiền sử sảy thai và đẻ con nhẹ cân cao hơn
lần lượt so với nhóm không có tiền sử sảy thai và đẻ con nhẹ cân tương ứng, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA ở
nhóm bệnh nhân có tiền sử thai lưu và sinh non với nhóm tương ứng (bảng 4).

20 TCNCYH 98 (6) - 2015
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Biến chứng thai sảnNồng độ anti - Ro/SSA trung bình (UI/ml) p
Thai lưu
(+) n = 8 75,6 ± 58,4
0,968
(-) n = 98 76,6 ± 71,4
Sảy thai
(+) n = 27 106,1 ± 90,8
0,007
(-) n = 80 64,1 ± 58,8
Sinh non
(+) n = 17 86,2 ± 77,4
0,465
(-) n = 90 72,5 ± 69,1
Đẻ con nhẹ cân
(+) n = 26 103,2 ± 56,2
0,03
(-) n = 82 66,4 ± 72,1
Bảng 4. Nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA ở các bệnh nhân SLE
có và không có các biến chứng thai sản
Bảng 5. Mối liên quan giữa sự có mặt của kháng thể anti - Ro/SSA
và các biến chứng thai sảnởbệnh nhân SLE
Tiền sử thai nghén n Tỷ suất chênh OR (odd ratio) Khoảng tin cậy 95%
Tiền sử thai bất thường 51 1,95 0,881 –4,314
Thai lưu80,941 0,212 –4,175
Sảy thai tự nhiên 27 2,006 0,761 –5,287
Sinh non 17 0,827 0,287 –2,379
Trẻ sinh ra nhẹ cân 26 3,128 1,074 –9,109
Sự có mặt của kháng thể anti - Ro/SSA là yếu tố nguy cơ làm tăng sự xuất hiện biến chứng
trẻ sinh ra nhẹ cân lên 3,128 lần. Kháng thể anti - Ro/SSA không phải là yếu tố nguy cơ của các
biến chứng thai sản còn lại.
IV. BÀN LUẬN
Thai nghén ở bệnh nhân SLE vẫn luôn là
một vấn đề được bệnh nhân cũng như các
bác sỹ quan tâm đặc biệt. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến thai nghén, trong đó có các rối
loạn miễn dịch. Kháng thể anti-Ro/SSA là một
trong những kháng thể được biết đến là
nguyên nhân gây Lupus sơ sinh. Hiện nay,
mối liên quan giữa kháng thể anti-Ro/SSA với
các biến chứng sản khoa khác vẫn còn là vấn
đề đang bàn cãi, nhiều nghiên cứu trên thế
giới cho các kết quả khác nhau.
Trong 169 bệnh nhân SLE được làm xét
nghiệm tìm kháng thể anti - Ro/SSA, có 96
bệnh nhân có kháng thể anti - Ro/SSA dương
tính, chiếm 56,8%. Xét riêng nhóm 108 bệnh
nhân SLE có tiền sử thai sản, số bệnh nhân
có kháng thể anti-Ro/SSA dương tính là 69,
chiếm 63,9%. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

TCNCYH 98 (6) - 2015 21
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
kháng thể anti - Ro/SSA dương tính ở bệnh
nhân SLE, tính chung ở cả hai giới nam và nữ
là khác nhau, theo Petri (2005) là 27,6% [9],
Aurora Menendez là 44,0% [8], Faria (2005) là
47,0% [10], Koskenmies (2008) là 61,8% [11].
Trong một số bài tổng quan gần đây về kháng
thể anti - Ro/SSA, các tác giả ghi nhận rằng tỷ
lệ gặp kháng thể này ở bệnh nhân SLE là từ
40 -90% [12].
Nghiên cứu cũng ghi nhận trong nhóm
bệnh nhân có tiền sử thai sản, nồng độ kháng
thể anti - Ro/SSA trung bình của những bệnh
nhân tiền sử thai bất thường cao hơn những
bệnh nhân tiền sử thai bình thường, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê. Tại thời điểm làm xét
nghiệm tìm kháng thể anti - Ro/SSA, có 7
bệnh nhân đang mang thai. Chúng tôi thấy
không có sự khác biệt về nồng độ kháng thể
anti - Ro/SSA trung bình ở những bệnh nhân
này và những bệnh nhân không mang thai.
Như vậy, yếu tố giới tính và mang thai
không quyết định sự có mặt và sự tăng lên
của kháng thể anti - Ro/SSA ở bệnh nhân
SLE. Điều này nên được khẳng định lại bằng
một nghiên cứu dọc trên cùng một nhóm bệnh
nhân, tại nhiều thời điểm khác nhau, bao gồm
các lần mang thai.
Nghiên cứu này cho thấy nồng độ kháng
thể anti -Ro/SSA ở bệnh nhân có tiền sử sảy
thai và bệnh nhân có tiền sử đẻ con nhẹ cân
cao hơn so với các nhóm tương ứng không có
tiền sử này. Sự có mặt của kháng thể anti-Ro/
SSA là yếu tố nguy cơ làm tăng sự xuất hiện
biến chứng trẻ sinh ra nhẹ cân lên 3,128 lần
với khoảng tin cậy 95% là 1,074 -9,109.
Mối liên quan giữa kháng thể anti -Ro/SSA
và các biến chứng thai sản ở bệnh nhân SLE
nói riêng và các bệnh tổ chức liên kết tự miễn
nói chung vẫn là vấn đề còn nhiều bàn cãi.
Hull và cộng sự đãquan sát thấy trên 3phụ
nữSLE có kháng thểanti - Ro/SSA dương
tính với tiền sử sảy thai tựnhiên [6]. Barclay
đã báocáo một trường hợp bệnh nhân có 2
lầnsảy thai tựnhiên và 1 lần thai lưu[13].
Watson và cộng sựtrong một nghiên cứu lớn
hơn đãcho thấy mối liên quan trực tiếp giữa
kháng thểanti - Ro/SSA vớisảy thai ởnhững
bệnh nhân SLE da màu [7]. Trong nghiên cứu
của Mavragani, tác giả thấy rằng ở cả bệnh
nhân SLE và bệnh nhân bệnh tổ chức liên kết
tự miễn khác ngoài SLE, mất thai và cân nặng
trẻ sơ sinh không bị ảnh hưởng bởi sự có mặt
của kháng thể anti - Ro/SSA [14]. Có lẽ, yếu
tố chủng tộc cũng góp phần vào sự khác biệt
này. Một số tác giả cũng đưa ra sự giải thích
thêm, do sự đáp ứng miễn dịch với kháng
nguyên Ro/SSA là không đồng nhất.
Kháng thể anti - Ro/SSA đãđược biết đến
từ rất lâu là nguyên nhân gây ra block tim bẩm
sinh trong Lupus sơ sinh. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, không ghi nhận được trường
hợp nào có tiền sử mẹ sinh con bị Lupus sơ
sinh. Một mặt, đây là một biến chứng hiếm
gặp, chỉ xuất hiện ở 1 -2% trẻ sinh ra của các
bà mẹ SLE có kháng thể anti - Ro/SSA dương
tính. Mặt khác, việc khai thác tiền sử thai
nghén bằng cách phỏng vấn nên những thông
tin thu được là chủ quan của bệnh nhân. Các
bà mẹ có thể có tiền sử con sinh ra bị mất
nhưng không rõ nguyên nhân, các bệnh lý đi
kèm… Hơn nữa, như đã nói ở trên, việc bỏ
thai chủ động cũng có thể làm sai lệch tỷ lệ
thực tế của các biến chứng thai sản.
V. KẾT LUẬN
Số bệnh nhân có kháng thể anti - Ro/SSA
dương tính chiếm 56,8%, trong đó bệnh nhân
có tiền sử thai sản chiếm 71,9%. Không có sự
khác biệt về nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA
trung bình ở nhóm bệnh nhân đang mang thai
và các bệnh nhân còn lại. Nồng độ kháng thể
anti - Ro/SSA trung bình ở nhóm bệnh nhân

