intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghệ thuật đàm phán thành công

Chia sẻ: Nguyễn Đức Bắc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

1.277
lượt xem
525
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nắm vững nghệ thuật đàm phán là công việc không dễ dàng, nhưng đó là kỹ năng cần thiết để biến công việc kinh doanh hàng ngày thành một đế chế kinh doanh đẳng cấp thế giới. Cùng tham khảo Nghệ thuật đàm phán thành công sau đây sẽ giúp các bạn có thêm nhiều kinh nghiệm trong đàm phán thành công hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghệ thuật đàm phán thành công

  1. Nghệ thuật đàm phán trong kinh doanh Hiểu đối tác, mềm dẻo, tận dụng thời cơ Có nhiều cách, nhiều kinh nghiệm, kỹ năng để dành lợi thế về cho mình khi đàm phán trong kinh doanh. Ðó có thể là việc sử dụng củ cà rốt và cây gậy một cách khéo léo, diễn lại trò chơi thỏ và rùa... Tất cả các kinh nghiệm trên nếu được sử dụng đúng người, đúng chỗ, đúng lúc sẽ giúp cho nhà đàm phán đạt được mục tiêu của mình khi thương thuyết với đối tác kinh doanh. Dưới đây sẽ là những kinh nghiệm bổ ích của các chuyên gia về đàm phán kinh doanh. Giai đoạn chuẩn bị Chuẩn bị trước những yêu cầu...và những vấn đề đang bị tắc nghẽn. Những biện pháp này sẽ giúp bạn không bị bất ngờ. Ðể không bao giờ bị rơi vào tình trạng không chuẩn bị, nhân viên bán hàng, người đàm phán kinh doanh phải tỏ ra là người ham học hỏi, luôn biết tự đặt ra những câu hỏi: điều gì làm khách hàng quan tâm, tình hình trong lĩnh vực này như thế nào, sự phát triển của các dự án ra sao, những ưu tiên trong lúc này là gì... Xác định đúng người tham gia đàm phán là điều cơ bản đầu tiên. Việc buôn bán thường rất rắc rối, bởi vì, trong các doanh nghiệp lớn, quá trình quyết định phức tạp. Bạn không cần cố gắng tìm thoả ước với giám đốc thông tin nếu giám đốc tài chính mới là người ký. Bạn cũng sẽ không bao giờ gặp được những khách hàng mới khi không chuẩn bị một "chương trình xã hội" của doanh nghiệp. Sơ đồ này sẽ chỉ ra bạn cần phải làm gì và nhất là quyết định điều gì. Cuối cùng, điều cần thiết là biết chọn lựa dứt khoát, trước khi bắt đầu cuộc đàm phán, những mục tiêu có thể tính được và phù hợp cho
  2. các bên đàm phán. Giai đoạn nghe Hãy để cho người đối thoại bày tỏ hết những nhu cầu của họ. Ðó chưa phải là lúc để chạm trán nhau mà cần phải thu thập thông tin nhiều nhất có thể được. Tất cả diễn ra trong 5 phút đầu của cuộc tiếp xúc, các chuyên gia về đàm phán thương mại khẳng định như vậy. Vậy thì chúng ta phải có thái độ như thế nào cho phù hợp? Không nhất thiết phải diễn giải tỉ mỉ những lý lẽ về một người bán hàng hoàn hảo nhưng trái lại cần nghe một cách chủ động bằng cách đặt ra một số câu hỏi. Ðể xác định được nhu cầu của đối tác, tốt hơn hết là ưu tiên những vấn đề đã công khai rõ ràng... và điều đó sẽ dễ dàng hơn khi chúng ta quan tâm thực sự tới người đối thoại của mình. Ai sẽ là người đưa ra giá đầu tiên, người bán hay người mua? Người bán đề cập đến vấn đề giá sẽ thuận lợi hơn. Người bán sẽ kiểm soát được việc bán hàng, một người bán ô tô khẳng định. Cuộc tranh luận sẽ diễn ra kể từ khi giá được công bố. Giai đoạn tranh luận Tấn công nhưng cần phải biết nhượng bộ đúng lúc. Một khách hàng, đối tác sẽ không hài lòng khi chỉ được thông báo giá cả một lần mà không có đàm phán gì cả. Khi cuộc đàm phán bắt đầu, sau vòng giới thiệu, chúng ta phải phỏng đoán những vấn đề ưu tiên của đối tác. Bằng cách đặt câu hỏi, chúng ta sẽ vấn dần bức màn bí mật về những mục tiêu đó. Nhưng không nên lật hết quân bài trước đối tác. Ðiều quan trọng là giữ được thế tấn công. Một điều cũng rất quan trọng là biết nóng và lạnh đúng lúc. Chúng ta phải chiếm lĩnh được sức mạnh
  3. của "đối phương" bằng cách đe dọa và dụ dỗ từ từ... Bạn cũng không nên quên nguyên tắc cơ bản của Antoine Riboud, ông chủ cũ của Tập đoàn Danone: Hãy làm cho người ta cười dù là để cho người ta một cảm giác tin cậy hay ngược lại làm cho người ta bối rối. Một kinh nghiệm đàm phán quan trọng là phải có đi có lại Cần phải hiểu một cuộc đàm phán khó khăn như một cuộc chạy vượt chướng ngại vật. Khi bực mình với chiếc yên ngựa, người cưỡi ngựa phải đứng trước con ngựa và nhảy lên. Nhưng để đi được đến đích, điều quan trọng là phải khéo léo. Tùy theo từng trường hợp mà có những phương pháp khác nhau đem lại sự thành công. Chẳng hạn như chiến thuật "gặm dần" tức là chia đơn đặt hàng ra làm nhiều phần để vượt qua và cuối cùng là "mua hàng loạt". Hay sách lược tung hoả mù: bắt đầu tập trung vào những điểm thứ yếu. Ðó là mưu kế được một chủ doanh nghiệp sử dụng khi mua một nhà máy. Khi tôi biết chắc chắn về kích thước nhỏ bé của các văn phòng và thiếu nhà để xe, chúng tôi mới bàn đến vấn đề giá cả, người đàm phán với tôi đã mệt và tôi đạt được mức giá rẻ thấp hơn mức giá thị trường. Trong tất cả các trường hợp, cuộc tranh luận phải nhanh chóng đi đến khẳng định bằng cách nhấn mạnh vào những yếu tố so sánh. Ðó là con bài có đi có lại, Yannick tâm sự. Khách hàng đòi tôi bớt giá nữa ư? Tôi sẽ đồng ý nhưng lại yêu cầu họ mua khối lượng nhiều hơn. Họ đòi quảng cáo, tôi chấp nhận nhưng đổi lại sẽ giới thiệu tốt hơn cho sản phẩm của chúng tôi. Chúng ta không thể đạt một sự nhất trí nào mà không có nhượng bộ. Chúng tôi đã cầu
  4. xin trong 3 năm liền để được đặt nhãn hiệu mỹ phẩm vào gian hàng chính bán dược phẩm. Người ta đã từ chối dứt khoát, một giám đốc bán hàng nhớ lại. Ðể thuyết phục, chúng tôi đã chấp nhận điều kiện của họ: chia các loại hàng khác nhau ra bằng một bức tường và luôn có hai dược sĩ trong gian hàng để khuyên người tiêu dùng. Chúng tôi chưa bao giờ làm điều ngoại lệ như vậy. Giai đoạn ký kết Thận trọng cho đến khi thực hiện thỏa thuận. Khách hàng giữ trong tay sản phẩm của bạn mà vẫn còn tranh luận là vì họ đã sẵn sàng đồng ý. Ðó là lúc đưa hợp đồng cho họ. Ký kết khi nào? Ðây là thời điểm mấu chốt. Nếu bạn để trôi qua, tất cả có thể thất bại. Một vài dấu hiệu chỉ ra rằng đối tác của bạn sẵn sàng đồng ý. Nếu họ cầm sản phẩm mà bạn muốn bán cho họ hay quyển sách giới thiệu sản phẩm của bạn; tìm cách tóm tắt lại 2 tiếng đàm phán trước đó... Không phải chờ gì nữa trước khi đưa bản hợp đồng cho họ cần phải ký ngay phía dưới. Một hợp đồng được ký nhưng chưa có gì là bảo đảm. Những hợp đồng thương mại được ký ở các hãng phân phối lớn có khi dày hàng chục trang. Ngay cả sau khi ký kết, vấn đề thận trọng vẫn được đặt ra. Tháng 5/1999, Deutsche Telekom đã trì hoãn thỏa thuận về phát triển quốc tế diễn ra 6 tháng trước đó với France Telecom bằng việc hợp tác với Telecom Italia. Sự phản bội này đem lại bao nhiêu lợi nhuận, bao gồm cả khoản bồi thường thiệt hại được phía Ðức trả cho đối tác Pháp? Không ai thích những hợp đồng quá chặt chẽ. Họ luôn giữ một hệ số an toàn khi thực hiện hợp đồng. Sau các cuộc đàm phán, lại là các cuộc đàm phán tiếp theo... 7 phẩm chất của người đàm phán kinh doanh
  5. Tỉnh táo và sáng suốt: đây là điều căn bản để biết được tâm lý của người đối thoại, của đối tác đang đàm phán với mình Có khả năng tạo niềm tin: hay nói cách khác là phải có khả năng hấp dẫn, gây cuốn hút để rồi cuối cùng là thuyết phục được đối tác đàm phán. Ðây là mộ t năng khiếu nhưng cũng rất cần có sự chuẩn bị và tập luyện. Có tính quyết đoán: luôn luôn hiểu và bám sát mục tiêu mình đang theo đuổi, khi thấy đối tác chấp nhận yêu cầu của mình thì phải có khả năng ra quyết định nhanh chóng. Linh hoạt, sáng tạo: biết chấp nhận điều gì khi cuộc đàm phán nhượng bộ và có những ý kiến trái ngược nhau. Làm chủ được bản thân và cảm xúc: một người đàm phán tốt cười và nói ít như có thể. Thận trọng: khi người đối thoại đã đưa ra sự đồng ý... nhưng làm gì nếu họ lại xem xét lại? Lịch thiệp: luôn tự nhủ không nên khiêu khích người đối thoại. Trong cuộc sống chúng ta gặp rất nhiều những trường hợp như vậy. Tại sao những người ít thông minh hơn lại thành công hơn những người thông minh hơn mình. Có phải do họ may mắn, làm việc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt?
  6. Việt là một học sinh giỏi và rất thông minh. Cậu ta luôn có điểm số cao trong hầu hết mọi môn và là người đứng đầu trong các kỳ thi. Tuy vậy tính của Việt tự cao và khó gần. Bạn bè nể Việt nhưng hấu như ít ai chơi với Việt thân thiết. Khi ra trường Việt có nhiều mời chào từ các công ty. Tuy nhiên kết quả các cuộc phỏng vấn không được khả quan. Cuối cùng cậu nhận được một công việc nhưng không vừa ý lắm. 7 năm sau kể từ khi ra trường Việt vẫn chưa làm đựơc những gì cậu mong muốn . Thêm vào đó cậu không có mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp trong công ty. Trái với Việt, Hùng không phải là học sinh giỏi. Điểm số cậu chỉ thuộc dạng khá. Tuy nhiên với tính cách hòa đồng, hay quan tâm giúp đỡ người khác, và sự nổi trội trong những tình huống khó khăn, cậu rất được bàn bè quý mến và tin yêu. Khi ra trường cậu không có nhiều cơ hội phỏng vấn như Việt. Tuy vậy cậu đã vượt qua hầu hết các cuộc phỏng vần và chọn được công ty mình ưa thích. Hiện tại, với vị trí Trưởng Phòng Kinh Doanh - được ban lãnh đạo tin cậy, đồng nghiệp và khách hàng quý mến, Hùng đang có một tương lai sáng lạn trước mặt. Trí Thông Minh (Intelligence) và Thông Minh Xúc Cảm (Emotional Intelligence) Trí Thông Minh (Intelligence) được đo bởi IQ - Intelligence Quotient. IQ đo lường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống, năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ... Trí thông minh có thể được đo tổng quát cho mọi lãnh vực, nhưng thường được đo theo từng lãnh vực cụ thể. Thông minh xúc cảm (Emotional Intelleigene) được đo bởi Chỉ Số Xúc Cảm EQ - Emotional Quotient. EQ đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng của một người về việc cảm nhân, đánh giá, và quản lý xúc cảm của bản thân, của người khác hay của một nhóm người. Chỉ số IQ trong một thời gian dài được dùng để tìm kiếm người tài vì người ta tin rằng người có IQ cao sẽ có xác suất thành công cao hơn người khác. Tuy vậy một số nghiên cứu nghiêm túc của các nhà khoa học nghiên cứu về EQ cho thấy rằng chỉ có 25% số người thành công là có chỉ số IQ cao (tương đối) hơn trung bình. Nghĩa là chỉ số IQ không giải thích được sự thành công vượt trội của 75% số người còn lại. Kết quả nghiên cứu cũng lọai nhân tố về năng lực chuyên môn ra. Cuối cùng những
  7. người nghiên cứu khẳng định rằng Thông Minh Xúc Cảm mới là nhân tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta. Năng lực xúc cảm trong môi trường làm việc Trong khi chỉ số thông minh IQ ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh xúc cảm có thể được "học" và thay đổi vào bất cứ giai đọan hay môi trường nào. Để thành công trong môi trường làm việc, Ông Daniel Goleman - người đựơc xem là nhà nghiên cứu hàng đầu về EQ hiện tại, đề xuất chúng ta phải có những năng lực xúc cảm cá nhân gồm: năng lực tự nhân biết bản thân, năng lực tự điều chỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội. Năng lực tự nhận biết bản thân
  8. Năng lực nhận biết cảm xúc giúp chúng ta biết rõ cảm xúc hiện tại của mình và tại sao mình lại có cảm xúc đó. Nó còn giúp chúng ta nhận biết sự liên kết giữa cảm xúc và suy nghĩ, hành động của chúng ta. Quan trọng hơn, nó giúp chúng ta nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quả công việc của mình. Năng lực nhận biết cảm xúc giúp chúng ta biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình. Nó cũng giúp chúng luôn học hỏi và sẵn sàng mở lòng với những nhận xét thẳng thắn. Năng lực Tự Tin giúp chúng ta xuất hiện trước mọi người với một sự tư tin và tự khẳng định "Đây là tôi". Nó giúp chúng ta cam đảm thể hiện những suy nghĩ chưa được chấp nhận, và dám "cô đơn" để theo đuổi cái đúng. Người có năng lực này quyết đóan và có khả năng đưa ra những quyết định hợp lý mặc cho sự không ổn định và những áp lực. Năng lực tự điều chỉnh Năng lực tự kiềm chế giúp chúng ta kiềm giữ các cảm xúc có tính chất hấp hấp, bốc đồng của bản thân và giữ cho bình tĩnh, lạc quan ngay cả trong những khỏanh khắc khó chịu nhất. Người có Năng lực trung thực luôn giữ một tiêu chuẩn về sự chân thật và tính liêm chính. Họ xây dựng được lòng tin đối với người khác qua sự đáng tin cậy và tính xác thực của bản thân. Họ can đảm chấp nhận lỗi của mình và sẵn sang đối đầu với những hành động không trung thực của người khác. Người có Năng lực chịu trách nhiệm tự mình chịu trách nhiệm về kết quả làm việc của bản thân, và họ luôn giữ cam kết và lời hứa của mình. Năng Lực thích nghi giúp chúng ta đáp ứng được những yêu cầu khác nhau, và linh họat trong việc giải quyết vấn đề với những sự thay đổi. Năng lực cách tân là khả năng tìm kiếm những ý tưởng mới lạ có tính sáng tạo. Người có năng lực cách tân sẵn sàng đổi mới và chấp nhận rủi ro, nếu có, của sự đổi mới. Năng lực tạo động lực Những người có Năng lực phấn đấu là những người xem kết quả là thước đo cuối cùng, họ luôn cố gắng phát triển bản thân và mong muốn vượt qua hay ít nhất đạt được những tiêu chuẩn hòan hảo. Những ngừơi có Năng lực cam kết tìm thấy mục tiêu của bản thân trong mục tiêu của tập thể. Họ luôn chú ý đến giá trị, mục tiêu của tổ chức trước khi ra quyết định.
  9. Năng lực khởi xướng giúp chúng ta luôn khởi xướng cho những cơ hội mới. Người có năng lực này có khả năng thúc đẩy đám đông thông qua những cố gắng táo bạo, mạnh mẽ của mình. Người có Năng lực lạc quan này luôn luôn cố gắng đạt mục tiêu của mình trong những hòan cảnh khó khăn, cản trở. Họ có khả năng chấp nhận những thất bại tạm thời và cố găng vượt qua nó thay vì đầu hàng hay than thân trách phận. Năng lực thấu cảm Điều lý thú đó là, để thấu cảm với người khác, chúng ta phải có năng lực nhận biết bản thân mình trước. Hiểu mình, hiểu những cảm xúc bên trong của mình đó là điều kiện cần để có thể hiếu và thấu cảm với người khác. Người có Năng lực thấu hiểu người khác cảm nhận, dự đóan được cảm xúc và hòan cảnh của người khác và có khả năng bày tỏ sự quan tâm của mình một cách chủ động đối với người khác. Năng lực phát triển người khác là năng lực ghi nhận điểm mạnh và những thành quả đạt được của người khác. Người có năng lực này cảm nhân được nhu cầu phát triển bản thân của người khác và sẵn sàng kèm cặp, hỗ trợ cho họ. Năng lực hướng về phục vụ là năng lực dự đóan, nhân biết nhu cầu của khách hàng và đồng nghiệp - khách hàng nội bộ, và từ đó tìm cách đáp ứng và cao hơn nữa là nâng cao sự hõa mãn của khách hàng. Người có Năng lực hòa nhập với tập thể đa dạng tôn trong sự đa dạng của tập thể gồm nhiều người hòan tòan khác nhau. Họ có thể hòa nhập vào đó và từ đó tạo ra được sức mạnh từ sự đa dạng. Năng lực nhận biết "chính trị nội bộ" giúp chúng ta cảm nhận khá chính xác được những mối quan hệ của quyền lực và hiểu được những gì ảnh huởng đến quan điểm và hành động của đồng nghiệp, khách hàng. Năng lực giao tiếp xã hội
  10. Người có Năng lực ảnh hưởng có khả năng thuyết phục và tạo ảnh hưởng lên người khác. Họ có khả năng xây dựng đựoc sự ủng hộ, hỗ trợ của người khác. Năng lực truyền đạt thông tin giúp cho chúng ta khả năng lắng nghe và truyền đạt ý nghĩ của mình một cách hiệu quả, và khả năng tạo môi trường mở để mọi người thể hiện ý nghĩ, truyền đạt thông tin. Người có Năng lực quản lý sự xung đột có khả năng "xử lý" những tình huống căng thẳng hay những người quá khó khăn, một cách êm đẹp. Họ có khả năng thương thuyết và giải quyết những mối bất hòa, và đưa ra giải pháp hai bên cùng thắng. Người có Năng lực lãnh đạo có khả năng tạo cảm hứng cho mọi người tin và hướng theo một tầm nhìn, một mục tiêu chung. Bất chấp vị trí của mình, cao hay thấp, họ sẵn sàng tiến lên để nhận lãnh trách nhiệm. Cao hơn hết họ không nói suông. Họ lãnh đạo, tạo ảnh huởng lên người khác bắng chính những hành động của mình. Năng lực tạo sự thay đổi là năng lực nhận biết sự cần thiết của thay đổi và vì thế hỗ trỡ cho sự thay đổi xảy ra nhanh hơn. Không chỉ hưởng ứng thích nghi với sự thay đổi, người coi năng lực này còn là tác nhân chủ động tạo ra những sự thay đổi để đưa tổ chức tiến về phía trước. Người có Năng lực hợp tác với người khác cân bằng giữa sự tập trung vào công việc và tập trung vào mối quan hệ con người. Họ có khả năng tạo ra một môi trường làm việc hợp tác vì mục đích chung trong đó mọi người đều có cơ hội để phát triển. Thay cho lời kết: Đọc hết những điều trên, chắc hẳn bạn cũng như tôi sẽ có cảm nhận rằng Những Năng lực thông minh xúc cảm trong môi trường làm việc tuy nghe hết sức bình thường, hơi có vẻ lý thuyết nhưng diễn tả hầu hết mọi phẩm chấp lý tưởng của con người trong môi truờng làm việc. Đó là những phẩm chất mà mỗi chúng ta mong muốn có cho bản thân mình cũng như cho xếp, đồng nghiệp của mình. Và bây giờ thì bạn và tôi cũng sẽ tin rằng chính những năng lực, phẩm chất đó mới là tác giả tạo ra sự khác biệt giữa Việt và Hùng, và là chìa khóa mở cánh cửa thành công của tất cả chúng ta.
  11. Tin vui là mọi người, vào bất cứ độ tuổi nào, đều có tiềm năng để phát triển những năng lực trên. Việc quan trọng là chúng ta phải nhân biết vấn đề. Chúng ta sử dụng và tự hào nhưng nên giảm bớt sự "ỷ lại" vào trí thông minh IQ, trình độ chuyên môn hay những năng lực, tài năng khác. Chúng ta nên tập trung nhiều hơn đến việc phát triển EQ, phát triển năng lực xúc cảm của bản thân trong môi truờng làm việc. Từ từ chúng ta sẽ nhận biết biết và "quản lý" mình tốt hơn, hiểu biết và giao tiếp với người khác hiệu quả hơn, và chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong công việc và cuộc sống. Bạn có trí thông minh xúc cảm? WEDNESDAY, 25. OCTOBER 2006, 18:40:16 NGHỆ THUẬT SỐNG Bên cạnh những kiến thức - bạn cũng cần phải có sự thông minh xúc cảm để thành công hơ n Bạn đã từng nghe về khái niệm "Emotional intelligence Quotient" - EQ (chỉ số thông minh xúc cảm)... Một trạng thái đơn giản, sự thông minh xúc cảm là khả năng để nhận thức được những xúc cảm của bạn, nhận biết rõ ràng chúng, hiểu chúng, kiểm soát chúng và sử dụng chúng để "giúp đỡ" suy nghĩ. Nó hiểu quy luật những cảm xúc trong cuộc sống hiện tại của bạn mà bạn có thể cư xử với những người khác. Sự chấp nhận khái niệm EQ được dấy lên trong năm 1990, với quyển sách nhan đề "Sự thông minh xúc cảm" của Peter Salovey và John Mayer (cả 2 đều là những nhà nghiên cứu tâm lý). Nó được bùng nổ lại trong xu hướng báo chí năm 1995 với cuốn sách vào hàng bán chạy nhất cùng tên của Daniel Goleman. EQ và IQ: Sự thông minh xúc cảm không đối nghịch với sự thông minh dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm, nó cũng không là sự chiến thắng của trái
  12. tim đối với lý trí. Thực tế, nó là sự kết hợp của cả hai. Sau đây là những khác biệt cơ bản giữa 2 khái niệm này: Làm sao để tăng thêm EQ? Trên thực tế, sự thông minh xúc cảm sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều trong cuộc sống - bên cạnh những hiểu biết "lý tính" mà bạn có được. Do vậy, hãy tự giúp mình tăng thêm EQ để cư xử hoàn hảo hơn trong công việc cũng như cuộc sống. Bạn cần sẵn sàng "mắc lại dây điện" của bộ não bạn để bạn có thể nhận thức và đối phó lại những tình huống. Sau đây là những hướng dẫn để giúp bạn thêm những hiểu biết xúc cảm: 1. Nhận biết những cảm xúc của bạn: Bạn hãy viết ra giấy những từ về cảm xúc của mình "tôi cảm thấy...", cố gắng tách đơn chúng ra và xác định tỷ lệ cường độ xúc cảm của chúng (ví dụ, "tôi cảm thấy lo âu" hay là "tôi cảm thấy giận điên lên"). Đừng cường điệu hay giới hạn chúng quá mức. 2. Có trách nhiệm với những cảm xúc của bạn: Đừng tìm kiếm những lời giảng giải bên ngoài, nhận ra rằng chúng là những cảm xúc của bạn và cố hiểu tạ i sao bạn cảm thấy như vậy. 3. Thấy trước những xúc cảm của bạn: Học cách nhận ra bạn cảm thấy như thế nào sau sự việc hoặc là hành động hiện tại. Tránh làm những việc mà những việc đó bạn biết sẽ gây ra những xúc cảm không tốt. Không chỉ làm điều này cho chính bạn mà còn vì những người khác.
  13. 4. Hỏi mọi người họ cảm thấy như thế nào: Bạn muốn biết cảm xúc của người khác mà không cần phải hỏi họ. Tuy nhiên, trước hết, bạn phải hiểu họ trước khi bạn có thể đồng cảm với họ. Hãy nghe họ mà không cần phải phán xét họ. Đừng cố gắng gạt đi những xúc cảm của người khác. 5. Hãy "phòng thủ" ít nhất: Nếu ai đó nói những điều về bạn mà bạn không đồng ý, đừng cố chấp bảo vệ mình hoặc tấn công lý lẽ của họ - bạn có thể cảm ơn sự trung thực của họ và tập trung vào những căn cứ vững chắc trong những ý kiến của họ. 6. Đặt những vấn đề vào trong viễn cảnh: Khi những vấn đề mang tính trái ngược diễn ra, bạn cảm thấy rất giận, hãy nghĩ về sự nghiêm trọng thực sự của vấn đề này là gì? Nó sẽ gây ảnh hưởng trong 10 năm? Hay trong 10 tuần? Hay chỉ 10 phút? Chủ động nhưng lại tuân theo những xúc cảm - đó là cách giúp bạn vận hành xúc cảm vào lý trí để xử sự, và gặt hái nhiều thành công hơn trong nhịp sống mà người ta đang thu dần xúc cảm... Trí thông minh của bạn mạnh nhất thuộc loại nào Tiến sĩ Howard Gardner của đại học Harvard đã nghiên cứu về đề tài "sự thông minh" trong nhiều năm, và đưa ra lý thuyết được nhiều người chấp nhận: Có ít nhất là 7 kiểu thông minh. Đó là 1. Thông minh về lời nói, ngôn ngữ 2. Thông minh về logic, toán học
  14. 3. Thông minh về thị giác, không gian 4. Thông minh về âm nhạc 5. Thông minh về cơ thể, cử chỉ, động học 6. Thông minh về xã hội, giao tiếp giữa con người 7. Thông minh về nội tâm. Hãy xem những kiểu thông minh nào hoạt động mạnh nhất trong chính bạn. Thông minh về ngôn ngữ học là khả năng suy nghĩ bằng từ ngữ và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả những khái niệm phức tạp. Sự thông minh này cho phép bạn hiểu được trật tự, ý nghĩa của từ, học ngữ pháp rất nhanh và áp dụng các kỹ năng ngôn ngữ thành thạo. Nó là kiểu thông minh có ở nhiều người nhất, và thể hiện rõ ràng ở các nhà văn, nhà thơ, phóng viên, biên tập viên hay các diễn giả. Để phát triển sự thông minh này, bạn nên viết nhiều, đọc nhiều, kể chuyện hoặc chơi ô chữ. Sự thông minh về logic là khả năng tính toán, xác định số lượng, cân nhắc các giả thiết và thực hiện những hoạt động toán học hoàn hảo. Nó cho phép bạn hiểu những khái niệm trừu tượng, có kỹ năng tranh luận, suy nghĩ theo lối quy nạp và suy diễn. Nó thể hiện rõ ở các nhà toán học, khoa học và thám tử. Với trí thông minh toán học hoạt động mạnh, bạn phù hợp trở thành luật sư, lập trình viên... Những người trẻ có thể phát triển sự thông minh này bằng cách học số học, chơi những trò chơi chiến thuật và làm thí nghiệm. Sự thông minh không gian là khả năng nghĩ "ba chiều", bao gồm trí tưởng tượng, suy luận trong không gian, vận dụng hình ảnh, các kỹ năng đồ họa và nghệt thuật. Nó giúp bạn nhạy cảm với chất liệu, màu sắc, hình
  15. khối..., có thể trở thành nghệ sỹ, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, nhà điêu khắc, kiến trúc sư... Những người trẻ có thể phát triển trí thông minh này bằng cách chơi xếp hình, chơi mê cung, vẽ hoặc đơn giản là tưởng tượng. Trí thông minh âm nhạc là khả năng cảm nhận độ cao thấp, nhịp điệu, âm sắc, nói chung là các kiểu âm thanh. Nó cho phép bạn nhận biết, tạo ra, mô phỏng... âm nhạc. Nếu bạn có trí thông minh âm nhạc hoạt động mạnh thì không nhất thiết phải chơi hay đoạn nhạc, nhưng chắc chắn bạn là một người nghe nhạc nhạy cảm, có thể nhận biết những ý nghĩa sâu sắc dù chỉ nghe giai điệu. Để "bồi bổ" cho trí thông minh âm nhạc, bạn chỉ cần hay nghe nhạc, nhịp chân theo, hát theo, học chơi nhạc cụ nữa thì càng tốt. Trí thông minh cơ thể là khả năng vận động và dùng rất nhiều kỹ năng đa dạng của cơ thể. Nó cũng bao gồm cả cảm giác về tính toán thời gian và sự kết hợp giữa tâm trí và cơ thể. Nó giúp bạn điều khiển hoàn hảo những cử động của mình. Kiểu thông minh này tồn tại rất mạnh trong những người hoạt động thể thao, khiêu vũ hoặc làm diễn viên. Nó còn giúp bạn hợp với ngành y (nhất là bác sỹ phẫu thuật) hoặc làm nghề thủ công. Trí thông minh xã hội là khả năng hiểu và tương tác hiệu quả với người khác. Nó bao gồm việc giao tiếp hiệu quả bằng lời và không bằng lời, khả năng nhận biết sự độc đáo của mỗi người, nhạy cảm với tâm trạng của người khác... Nó giúp bạn thông cảm, an ủi, tạo cảm hứng và lãnh đạo mọi người, nên nó được coi là một điểm đặc trưng của những chính khách. Nó còn giúp bạn phù hợp với làm giáo viên, nhà trị liệu, nhân viên
  16. kinh doanh, diễn viên, nhà xã hội học... Để rèn luyện kiểu thông minh này, bạn nên xem phim, giao tiếp rộng, cố gắng tìm những điểm đặc biệt ở mỗ i người. Trí thông minh nội tâm là khả năng hiểu được bản thân một cách sâu sắc, và cũng như những suy nghĩ và cảm xúc của chính mình, và sử dụng những hiểu biết đó trong việc lập kế hoạch và định hướng cuộc sống. Nó giúp bạn phân tích và làm chủ được những phẩm chất, hành vi của mình, cũng như của con người nói chung. Nếu trí thông minh nội tâm của bạn hoạt động mạnh, bạn phù hợp làm nhà tâm lý học, triết gia hoặc nhà văn... Đó là 7 kiểu trí thông minh cơ bản, với những phẩm chất và khả năng cơ bản. Mỗi kiểu là một cách sử dụng não bộ khác nhau. Mỗi kiểu đều có thể được phát triển và bồi đắp chứ không phải là một điều bẩm sinh và không bao giờ chỉnh sửa được. Chính khái niệm rộng rãi về trí thông minh này đã giải thích tại sao có rất nhiều người hồi đi học thì tệ, nhưng sau đó lại rất thành công trong cuộc sống. Bạn hãy nghĩ thật kỹ xem mình có những điểm mạnh nào - tức là kiểu trí thông minh nào đang "trình diễn" mạnh nhất trong con người bạn, để có thể tự quyết định được mình phù hợp với nghành nghề nào cần học thêm gì để cải thiện những kiểu thông mình mà bạn đang còn yếu...? Bạn sẽ có một cơ hội tốt nhất để thành công khi ngành nghề mà bạn chọn phát huy được tối đa kiểu thông minh mà bạn đang sở hữu nhiều nhất. Vậy tại sao bạn không kết hợp: Sự nghiệp = đam mê + trí thông minh mình đang có? Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) Written by Tiến sĩ Robert Needlman
  17. Nov 16, 2006 at 04:04 AM Trí tuệ cảm xúc là gì và tại sao trí tuệ cảm xúc lại quan trọng? Nếu cụm từ "Trí tuệ cảm xúc" gây ấn tượng đối với bạn, thì có thể là bởi vì chúng ta quen nghĩ rằng trí thông minh phải là khả năng tư duy logic, trong khi đó tình cảm lại cũng được gọi là trí thông minh. Thế nhưng tình cảm và trí thông minh lại có liên hệ rất gắn bó với nhau. Những người mà không thể nhận biết và không thể hiểu các trạng thái tình cảm của họ thường đưa ra những quyết định tồi, họ không sử dụng được sức mạnh của não bộ mà họ có. Mặt khác, những người biết các cảm xúc của chính bản thân họ và của người khác là những người thành công trong cuộc sống. Các loại trí tuệ cảm xúc Theo nhà tâm lý học, Howard Gardner, có nhiều dạng trí tuệ cảm xúc khác nhau. Một dạng là khả năng hiểu, nhận biết và điều khiển các cảm xúc của chính bản thân - trí thông minh cá nhân của một người - intrapersonal intelligence). Một dạng là khả năng hiểu và ảnh hưởng đến tình cảm của người đó - trí thông minh giữa các cá nhân với nhau - (interpersonal intelligence). Mặc dù các loại trí tuệ cảm xúc thường đi kèm với nhau, nhưng có loại thông minh tình cảm này chưa chắc đã đảm bảo rằng bạn có loại trí tuệ cảm xúc kia. Bạn biết qua kinh nghiệm của chính bạn: một số người tài giỏi trong mối quan hệ với người khác (trí thông minh giữa cá nhân với nhau), nhưng họ lại không hiểu thấu được cuộc sống nội tâm của họ. Một số người khác biết các cảm xúc của bản thân nhưng hiếm khi nhận thấy các cảm xúc của người khác. Tại sao trí tuệ cảm xúc lại quan trọng?
  18. Khả năng tiên đoán và ảnh hưởng đến tình cảm của người khác phải là một trong những kỹ năng quan trọng mà bất cứ người nào có thể có. Con trẻ cần trí tuệ cảm xúc cá nhân (interpersonal intelligence) để được bạn bè chấp nhận và đàm phán với bạn bè. Trẻ ở lứa tuổi vị thành niên cần trí tuệ cảm xúc để tạo ra các cuộc hẹn hò và giữ bạn bè. Người lớn cần trí tuệ cảm xúc trong công việc và trong các mối quan hệ. Nếu bạn không thể hiểu và điều khiển chính tình cảm của bản thân, bạn sẽ không bao giờ thực sự hành động trong thế giới này, mà tất cả những gì bạn có thể làm là phản ứng. Trên thực tế, có nghiên cứu gợi ý rằng trí tuệ cảm xúc có giá trị hơn trí thông minh thông thường (IQ) trong công việc và sự toại nguyện trong cuộc sống. Quá trình xử lý thông tin tình cảm Trí thông minh thực ra là một quá trình xử lý thông tin, và các trạng thái tình cảm là một dạng thông tin về cơ thể và cách cơ thể chúng ta phản ứng với thế giới và với các ý tưởng. Các trạng thái tình cảm bao gồm hai phần: phần thứ nhất là những thay đổi vật lý của cơ thể (như nhịp tim, đổ mồ hôi tay, tình trạng căng cơ) và một phần là các cảm xúc (như cảm xúc lo âu hay kinh sợ). Những thay đổi vật lý ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, nhưng não bộ tỉnh táo vẫn có thể thừa nhận các thay đổi của cơ thể là dấu hiệu của sự thay đổi tình cảm và đưa ra các quyết định cần phản ứng như thế nào. Ngôn ngữ là chìa khoá của trí tuệ cảm xúc Có một cách mà não bộ điều khiển là sử dụng ngôn ngữ, chuyển các cảm xúc thành từ ngữ. Một em bé 4 tuổi khi giận có thể nói "Con ghét mẹ!". Mặt khác, một em bé 2 tuổi chỉ có thể gào thét và đấm đá. Nhưng trí tuệ cảm xúc không bắt đầu ở tuổi lên 4. Mặc dù trước khi trẻ biết nói, thì các bé sơ sinh cố gắng kiềm chế các trạng thái tình cảm của mình.
  19. Một em bé bị kích thích sẽ nhắm mắt lại và ngủ, để tránh sự kích thích. Một em bé 9 tháng tuổi sẽ lăn qua lăn lại trong vòng 5 phút trước khi ngủ, coi như đó là một cách giúp bé bình tĩnh lại. Một số em bé khác giật một lọn tóc hoặc mút ngón tay. Với người lớn, chúng ta vẫn sử dụng nhiều phương pháp kiềm chế cơ thể (khoanh tay trước ngực, đi tới đi lui, hút thuốc,...) Ngôn ngữ cho chúng ta một công cụ linh động và đầy sức mạnh để kiềm chế các trạng thái tình cảm, bao gồm một số trạng thái tình cảm phức tạp hơn nhiều như lòng ghen tị, thái độ thất vọng và niềm khát khao. Chúng ta tự nói một mình, viết nhật ký, làm thơ. Chúng ta hãy nói với con trẻ bằng cách dùng các từ chỉ cảm xúc như cáu giận, buồn, vui, bị kích thích, thất vọng, lo lắng,...Trẻ càng sớm hiểu ý nghĩa của các từ đó thì trẻ càng sớm rèn luyện trí tuệ cảm xúc. Trí tuệ cảm xúc bắt đầu như thế nào Nếu bạn hiểu trí tuệ cảm xúc nội tâm là quan trọng thì thừa nhận và điều chỉnh trí tuệ cảm xúc của những người xung quanh cũng quan trọng không kém. Mới thoáng qua, điều đó có vẻ như là một nhiệm vụ khó khăn, bởi vì bạn không để "đi guốc trong bụng" người khác. Nhưng trên thực tế, trí tuệ cảm xúc giữa các cá nhân phát triển sớm hơn trí thông mình tình cảm về chính bản thân mình. Các em bé mới sinh rất giỏi gây ảnh hưởng đến các trạng thái tình cảm
  20. của người khác (đó là khi bé khóc). Nhưng các em bé không nhận thức được những gì bé làm chính là trí tuệ cảm xúc. Khoảng 9 đến 10 tháng tuổi, các em bé trở nên phức tạp hơn. Bé biết cách "đọc" nét mặt của mẹ, nét mặt đó có thể khiến bé hiểu rằng mẹ đang thư giãn hay lo âu, mẹ đang vui hay buồn, mẹ đang vui thích hay buồn rầu, và tuỳ vào đó mà bé có các phản ứng khác nhau. Khả năng tiên đoán phản ứng tình cảm của người khác và phản ứng cụ thể trong mỗi trường hợp thực sự bắt đầu trong năm thứ hai. Khi em bé ở lứa tuổi tập đi của bạn (từ 12 đến 24 tháng) tự giác làm một việc gì đó như nhặt sách lên và bắt đầu "đọc" phản ứng của bạn. Trí tuệ cảm xúc cũng là động cơ thúc đẩy các hành động không đáng yêu, như khi con bạn nhìn chằm chằm vào bạn, sau đó bé hất tung các đồ trang sức của bạn ra khỏi bàn. Làm thế nào để nuôi dưỡng trí tuệ cảm xúc của con trẻ Điều gì có ý nghĩa với chúng ta trong vai trò làm cha mẹ? Chúng ta làm thế nào để nuôi dưỡng trí tuệ cảm xúc cá nhân (intrapersonal intelligence) và trí tuệ cảm xúc giữa các cá nhân với nhau (interpersonal intelligence) của con trẻ? Robert Needlman chỉ đưa ra hai lời khuyên: Lời khuyên thứ nhât Tạo ra môi trường tình cảm an toàn trong ngôi nhà của chúng ta. Con trẻ sống trong môi trường bạo lực về thể chất và tình cảm sẽ học cách kìm nén trí tuệ cảm xúc, coi đó như một phương pháp để tự bảo toàn tính
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2