Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong
đàm phán thương mi
Theo mô hình Harvard (v đàm phán), người bán hàng luôn có một
cái đó mạnh mẽ, đồng thời rất mềm do và sẵn sàng thay đổi.
“Không bao gilăng mđối c!- đó nguyên tắc bản trong
việc thương thảo.
Người tham gia đàm phán không được đưa ra ý kiến của mình một
cách ràng c thể để tránh tạo ra những tình huống khiêu
khích. Thay vào đó, người ta cùng làm việc nhằm hướng đến bước
phát triển tiếp theo, đặt nền tảng cho bước kế tiếp và từng bước
tiến tới mục tiêu bàn thảo.
Sự thay đổi ch dùng trng từ hoặc ngôi thứ trong giao tiếp, dụ
như lẽ, thc tế, thể, mong muốn, giá như, trong trường hp
th- nói chung, danh sách c tngữ hạn chế sự rõ ràng cth
là rất dài.
Việc lạm dụng những tngữ này thdẫn đến sự lý. Trong
đống ngôn ngữ vốn được như đống cỏ khô ngồn ngộn, mọi
người đều cgắng lục cho bằng được một sợi cỏ chung để giao
tiếp với nhau.
Ngược lại, hình bán hàng khiêu khích lại không dựa vào ngôn
t mềm dẻo linh hoạt kiểu Harvard mà tập trung vào ngôn ng
thực tế.
hình này bqua cách giải thích dài dòng văn tự vốn gây cho ta
cảm giác khó hiểu và mệt mỏi về tinh thần. Do n hàng khiêu
khích đòi hỏi người bán phải có khởi đầu ngắn gọn, súc tích nên ưu
tiên hàng đầu của là d liệu hay s kiện. Từ “thuyết trình”
(presentation) có nghĩa là “trình bày lập trường, quan đim”.
Người bán hàng khiêu khích thường thích bàn luận đánh giá quan
điểm của ai đó nhưng anh ta không đặt mình lên vị trí đó.
Trong khi hình Harvard sdụng cái gọi là quy tắc giới hạn và
tbviệc đánh giá giá trị ngôn ttrong thông điệp thì người bán
hàng khiêu khích lại sử dụng quy tắc cẩn trọng, theo đó, anh ta sử
dụng ngôn ngữ rất “chải chuốt’, xác định rõ vtrí của giới từ và
trạng từ, ng ncách sử dụng chúng nhằm nhấn mạnh ý kiến
của mình.