ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

CAO ĐỨC HOÀNG ANH

NGHIÊN CỨU ĐA HÌNH GEN EMLO1 LIÊN QUAN TỚI

BIẾN CHỨNG THẬN CỦA BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

THÁI NGUYÊN, 2019

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

CAO ĐỨC HOÀNG ANH

NGHIÊN CỨU ĐA HÌNH GEN EMLO1 LIÊN QUAN TỚI BIẾN CHỨNG THẬN CỦA BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ

HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC Mã số: 8 42 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

1. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc 2. TS. Bùi Thị Thu Hương

THÁI NGUYÊN, 2019

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS.

Nguyễn Thị Kim Cúc và TS. Bùi Thị Thu Hương. Các kết quả trình bày trong

luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

khác. Mọi trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ của

cá nhân, tập thể đều được ghi nhận trong lời cảm ơn.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều đã cam đoan ở trên.

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2019

Tác giả

Cao Đức Hoàng Anh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên

ngành Công nghệ Sinh học tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái

Nguyên tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ ủng hộ của các thầy, cô giáo, bạn,

đồng nghiệp, cơ quan nơi tôi đang công tác và gia đình.

Trước tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Kim Cúc

– người đã tận tình hướng dẫn, luôn sát cánh bên tôi, động viên tôi, cổ vũ tôi

vượt qua những lần thất bại, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý

báu để tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn TS. BS. Bùi Thị Thu Hương, Trưởng

khoa Sinh học phân tử Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã hết

lòng ủng hộ, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.

Bên cạnh đó, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa

Công nghệ Sinh học đã truyền thụ những kiến thức, trang bị cho tôi những

hành trang để có thể thực hiện luận văn thuận lợi.

Xin cảm ơn các thầy cô làm việc tại các phòng ban liên quan của

trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên luôn tận tình giúp đỡ tôi

trong việc hoàn tất các thủ tục để học tập cũng như thủ tục để bảo vệ luận văn.

Xin tỏ lòng biết ơn tới thầy TS Nguyễn Phú Hùng – trưởng khoa Công

nghệ Sinh học – Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong

quá trình học tập và nghiên cứu.

Xin gửi lời biết ơn đến ban giám đốc Trung tâm y tế Đồng Hỷ, Thái

Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và tạo thời gian cho tôi thực

hiện đề tài luận văn này.

Xin cảm ơn sâu sắc tới Bs Lường Thị Phương Liên, Bs Phan Văn

Thắng phòng khám và điều trị tiểu đường - Trung tâm y tế Đồng Hỷ - Thái

Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập thông tin từ bệnh án cũng như từ

người bệnh góp phần thực hiện hiệu quả đề tài nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

iii

Xin gửi lời biết ơn tới 150 bệnh nhân đã tận tình ủng hộ tôi trong quá

trình lấy mẫu mẫu thực hiện đề tài, các bác bệnh nhân đã luôn ủng hộ để việc

lấy mẫu thực hiện đề tài của tôi được thuận lợi nhất.

Luận văn của tôi được hoàn thành nhờ một phần không nhỏ của TS Lê

Thị Thanh Hương – Giảng viên Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, qua

đây cho tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới cô.

Nghiên cứu này thuộc chuyên ngành Công nghệ Sinh học - Trường Đại

học Khoa học Thái Nguyên, có mã số đề tài: 8 42 02 01

Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn đến cha, mẹ, gia đình, đồng nghiệp đã

luôn ủng hộ, cổ vũ động viên tôi học tập. Trong quá trình thực hiện luận văn

do còn hạn chế về kinh phí thực hiện đề tài, kinh nghiệm cũng như trình độ

chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý

kiến quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học, các bạn học viên cùng các

bạn đồng nghiệp để luận văn của tôi thêm hoàn thiện.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2019

Tác giả

Cao Đức Hoàng Anh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii

MỤC LỤC ....................................................................................................... iv

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ........................................... vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ............................................................... viii

DANH MỤC CẤC HÌNH .............................................................................. ix

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1

2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2

3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 2

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 3

1.1. Bệnh tiểu đường (Tiểu đường) ................................................................ 3

1.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tiểu đường ......................................... 3

1.1.3. Một số yếu tố nguy cơ và nguyên nhân làm tăng tiểu đường ................ 5

1.1.4. Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán tiểu đường ............................. 6

1.2. Các biến chứng nguy hiểm của tiểu đường .............................................. 9

1.2.1. Biến chứng cấp tính ............................................................................ 10

1.2.2 Biến chứng mạn tính............................................................................ 10

1.3. Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới và Việt Nam ............................ 13

1.3.1. Trên thế giới ....................................................................................... 13

1.3.2. Tại Việt Nam ...................................................................................... 14

1.4. Sự nguy hiểm của biến chứng tiểu đường liên quan đến thận ................ 15

1.4.1. Dịch tễ học và chẩn đoán biến chứng tiểu đường thận ........................ 15

1.4.2. Chẩn đoán xác định ............................................................................ 16

1.4.3. Biến chứng tiểu đường thận liên quan đến sự đa hình của gen ELMO1 .. 19

1.5. Đa hình đơn nucleotide .......................................................................... 20

1.5.1. Đa hình đơn nucleotide và các phương pháp nghiên cứu .................... 20

1.5.2. Ứng dụng và tầm quan trọng của đa hình đơn nucleotide ................... 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

v

1.5.3 Phương pháp PCR trong nghiên cứu đa hình đơn nucneotit (polymerase

chain reactiotit). ........................................................................................... 21

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 24

2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 24

2.2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu ............................................................. 25

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu .......................................................... 25

2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 25

2.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập mẫu .................................................... 25

2.4.2. Phương pháp xét nghiệm máu............................................................. 26

2.4.3. Phương pháp xét nghiệm nước tiểu ..................................................... 27

2.4.4. Phương pháp tách chiết DNA tổng số và PCR .................................... 27

2.4.5. Phương pháp phân tích kết quả nghiên cứu ......................................... 29

2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu .......................................................... 29

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................... 30

3.1. Đặc điểm của quần thể nghiên cứu ........................................................ 30

3.1.1. Một số đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu .............................. 30

3.1.2. Các biến chứng do tiểu đường ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu ............ 31

3.1.3. Khả năng mắc các biến chứng khác nhau của bệnh nhân tiểu đường .. 32

3.1.4. Các biến chứng đi kèm với biến chứng thận ....................................... 32

3.1.5. Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường huyết lúc đói, hàm lượng

HbA1c và thời gian điều trị tiểu đường tới biến chứng thận ......................... 33

3.1.6. Mối liên quan giữa thời gian điều trị tiểu đường với tình trạng biến

chứng thận .................................................................................................... 35

3.1.7. Tình trạng suy thận ở bệnh nhân tiểu đường týp 2 .............................. 36

3.2. Đa hình gen EMLO1 ở quần thể nghiên cứu .......................................... 37

3.2.1. Tách DNA từ quần thể nghiên cứu ..................................................... 37

3.2.2. Đa hình gen ở quần thể nghiên cứu ..................................................... 37

..................................................................................................................... 37

3.2.3. Tạo vector tái tổ hợp mang gen EMLO1 ............................................ 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vi

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 40

1. Kết luận .................................................................................................... 40

2. Kiến nghị .................................................................................................. 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 41

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

......................................................................................................................... 50

PHỤ LỤC ....................................................................................................... 51

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CHỮ VIẾT TẮT Ý NGHĨA

(American diabetes Association) ADA

(Body Mass Index) BMI

Chỉ số bụng mông B/M

Tiểu đường TĐ

HDL- C (High Density Lipoprotein - Cholesterol)

(International Diabetes Federation) IDF

(United States Joint National Committee) JNC

UKPDS (United Kingdom Prospective Diabetes Study)

WHO (World Health Organization)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1. Một số triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường týp 2 ........ 4

Bảng 1.2. Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới [74] ................................ 13

Bảng 2.1. Mồi và vị trí phân tích đa hình trên ELMO1 gen [43] ................... 28

Bảng 3.1. Một số đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu ....................... 30

Bảng 3. 2. Các biến chứng do tiểu đường ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu ..... 31

Bảng 3.3. Khả năng mắc các biến chứng khác nhau của bệnh nhân tiểu đường ..................................................................................................................... 32

Bảng 3.4. Các biến chứng đi kèm với biến chứng thận ................................. 33

Bảng 3.5. Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường huyết lúc đói, hàm

lượng HbA1c và thời gian điều trị tiểu đường tới biến chứng thận ............... 34

Bảng 3.6. Mối liên quan giữa thời gian điều trị tiểu đường với tình trạng biến

chứng thận .................................................................................................... 35

Bảng 3.7. Tình trạng suy thận ở bệnh nhân tiểu đường týp 2 ........................ 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ix

DANH MỤC CẤC HÌNH

Hình 1.1. Cơ chế gây nên tiểu đường týp 2 và yếu tố nguy cơ. A. Thói quen

sinh hoạt, B. Yếu tố di truyền, C. Hệ vi sinh vật đường ruột, D. Ảnh hưởng

của một số vitamin, E. Cơ chế bệnh sinh của tiểu đường týp 2 [78]................ 5

Hình 1.2 Các biến chứng nguy hiểm của tiểu đường ...................................... 9

Hình 1.3. Nguyên lý phương pháp phân tích đa hình bằng Tetra-primer

ARMS-PCR ................................................................................................. 21

Hình 3.1. DNA tổng số của quần thể nghiên cứu .......................................... 37

Hình 2.1 Macker 1kb ladder plus................................................................. .30

Hình 3.2. Đa hình gen EMLO1 ................................................................... 38

Hình 3.3. Kiểm tra sự có mặt của gen EMLO1 trong vector tái tổ hợp bằng

phương pháp PCR sử dụng khuẩn lạc. ĐC: nhóm đối chứng (máu từ người

hiến không bị tiểu đường và những biến chứng liên quan tới thận); TĐ: nhóm

bệnh nhân đang điều trị tiểu đường; TĐT: nhóm bệnh nhân đang điều trị tiểu

đường có biến chứng thận. ........................................................................... 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Cảnh báo của các chuyên gia Y tế thế giới từ những năm 90 của thế kỷ

XX: “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hoá” giờ

đã và đang trở thành sự thực.

Tiểu đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia không chỉ

bởi tốc độ phát triển và mức độ nguy hại đến sức khoẻ con người mà còn là

lực cản của sự phát triển, là gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi năm thế

giới phải chi số tiền khổng lồ từ 232 tỷ đến 430 tỷ USD cho việc phòng chống

và điều trị bệnh này.

Theo thống kê và dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, năm 1985

có khoảng 30 triệu người mắc tiểu đường trên toàn cầu, tới nay khoảng 180

triệu người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào những

năm 2030. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất đồng

thời là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang

phát triển.

Hiện nay, Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc tiểu đường cao và là quốc gia

có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết

Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho thấy, tỷ lệ mắc tiểu đường ở Việt

Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới 65%

người bệnh không biết mình mắc bệnh.

Tiểu đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng đồng.

Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về tiểu đường đã được tiến hành

trên phạm vi cả nước nhưng ở khu vực miền núi, đặc biệt khu vực miền núi

phía Bắc còn ít được quan tâm.

Tại Thái Nguyên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về

kinh tế mặc dù đời sống nhân dân dần được cải thiện nhưng lượng bệnh nhân

tiểu đường tại các cơ sở khám chữa bệnh đang ngày một gia tăng. Biện pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2

hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh, chi phí cho chữa

bệnh ít tốn kém nhất là phải phát hiện sớm và điều trị người bệnh kịp thời.

Tuy nhiên, công tác phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị bệnh tiểu đường tại

Thái Nguyên còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc dự đoán các

biến chứng có liên quan tới tiểu đường. Trong số các biến chứng của tiểu

đường thường được nhắc đến, các biến chứng về thận là một biến chứng

thường gặp và đáng lưu ý trong thời gian qua.

Những năm gần đây số bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế

Đồng Hỷ - Thái Nguyên mắc biến chứng thận ngày càng nhiều và mức độ

ngày một nặng hơn nhưng nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định

một cách rõ ràng. Vì vậy, việc tìm kiếm các biện pháp xác định nguyên nhân,

giúp chuẩn đoán sớm, tiên lượng những nguy cơ biến chứng thận của bệnh

nhân tiểu đường là hết sức cần thiết. Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã tham

khảo được, chúng tôi lựa chọn phân tích mối liên hệ đa hình của gen EMLO1

tới biến chứng thận của bệnh nhân tiểu đường đang điều trị ở Trung tâm Y tế

huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên để thông qua đề tài: “Nghiên cứu đa hình

gen EMLO1 liên quan tới biến chứng thận của bệnh nhân tiểu đường đang

điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được sự đa hình trong gen EMLO1 có liên quan đến biến

chứng thận của bệnh nhân tiểu đường đang điều trị tại Trung tâm y tế Đồng

Hỷ- Thái Nguyên.

3. Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Thu thập thông tin về bệnh tiểu đường và tiểu đường thận

đang điều trị tại Trung tâm Y tế Đồng Hỷ - Thái Nguyên.

Nội dung 2: Tìm kiếm sự đa hình gen ở quần thể nghiên cứu .

Nội dung 3: Tạo vector tái tổ hợp mang gen EMLO1.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Bệnh tiểu đường (Tiểu đường)

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, “Tiểu đường là một hội

chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất

hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc

hoạt động của insulin" [27].

Tháng 1/2003, các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại

bệnh tiểu đường Hoa Kỳ, đã đưa ra một một định nghĩa mới về tiểu đường:

“Tiểu đường là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose

máu, sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết trong hoạt động của insulin

hoặc cả hai. Tăng glucose máu mãn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự

rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và

mạch máu” [14].

1.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tiểu đường

Trong các bệnh chuyển hoá, tiểu đường là bệnh lý thường gặp nhất và

có lịch sử nghiên cứu rất lâu năm nhưng những thành tựu nghiên cứu về bệnh

chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây.

Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, một thầy thuốc thời La Mã cổ

Aretaeus (130 -200) đã bắt đầu mô tả về những người mắc bệnh đái nhiều.

[38]. Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào bài tiết

ra insulin và glucagon không nối với đường dẫn tụy. Năm 1889, Minkowski

và Von Mering gây tiểu đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ tụy, đặt cơ sở cho

học thuyết tiểu đường do tụy [31]. Năm 1921, Banting và Best cùng các cộng

sự đã thành công trong việc phân lập insulin từ tụy [11]. Vào các năm 1936,

1976 và 1977 các tác giả Himsworth, Gudworth và Jeytt phân loại tiểu đường

thành hai týp là tiểu đường týp 1 và týp 2 [31].

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và biến chứng

tiểu đường, được công bố năm 1993 và nghiên cứu UKPDS (được công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

4

bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh tiểu đường,

đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học dự phòng, dự

phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh. Đáng lưu ý

là trong nghiên cứu tiến cứu về tiểu đường của Vương quốc Anh (United

Kingdom Prospective Diabetes Study) UKPDS, có tới 50% bệnh nhân

khi phát hiện bệnh thì đã có các biến chứng [68]. Điều này nhấn mạnh

thêm tầm quan trọng của việc cần phải phát hiện và điều trị sớm bệnh

tiểu đường.

1.1.2. Các triệu chứng của bệnh tiểu đường

Bảng 1.1. Một số triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường týp 2

TT Triệu chứng

Giảm cân không có nguyên nhân 1

Thường xuyên mệt mỏi 2

Dễ bị kích thích 3

Dễ tái phát bệnh ở đường sinh dục, khoang miệng, vết thương lâu lành 4

5 Thường xuyên cảm thấy khát

Chân lở loét 6

Ngứa ngáy 7

Giảm đường huyết 8

Xuất hiện vùng da sẫm màu ở cổ, nách - dấu hiệu kháng insulin 9

10 Suy giảm thị giác

11 Rối loạn cương dương

Tiểu đường ở giai đoạn đầu rất khó phát hiện nhưng có thể có những

triệu chứng lâm sàng như ở bảng 1.1. Khi xuất hiện một trong các triệu chứng

lâm sàng đã liệt kê trong bảng 1.1, người bệnh sẽ được tiến hành làm các xét

nghiệm đường huyết để xác định mức độ tiểu đường theo quy định của hiệp

hội tiểu đường Mỹ [69].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

5

1.1.3. Một số yếu tố nguy cơ và nguyên nhân làm tăng tiểu đường

Hình 1.1. Cơ chế gây nên tiểu đường týp 2 và yếu tố nguy cơ. A. Thói quen

sinh hoạt, B. Yếu tố di truyền, C. Hệ vi sinh vật đường ruột, D. Ảnh hưởng

của một số vitamin, E. Cơ chế bệnh sinh của tiểu đường týp 2 [78]

1.1.3.1. Yếu tố di truyền

Mặc dù, hiện nay chưa có bằng chứng được đưa ra để giải thích rõ ràng

về sinh lý bệnh tiểu đường nhưng yếu tố di truyền được xem là một trong

những nguyên nhân chính của bệnh này. Nghiên cứu của Kobberling chỉ ra

rằng: trên 40% người thân của bệnh nhân mắc tiểu đường týp 2 có thể bị tiểu

đường trong khi tỷ lệ này chỉ đạt 6% ở những người bình thường [60].

1.1.3.2. Thói quen sinh hoạt

Các thói quen sinh hoạt cũng là những yếu tố quan trọng liên quan tới

tiểu đường ví dụ như ngồi làm việc trong thời gian dài [81], không luyện tập

thể thao [51], hút thuốc [55] và uống rượu [47]. Nghiên cứu dịch tễ học gợi ý

rằng béo phì là yếu tố gây nguy cơ cao nhất gây nên tình trạng kháng insulin

và dẫn tới tiểu đường [54]. Theo thống kê của WHO năm 2011 chỉ ra rằng

trên 90% bệnh nhân tiểu đường có liên quan tới tình trạng thừa cân, trong khi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

6

đó thừa cân là một bệnh lý liên quan chặt chẽ tới yếu tố di truyền [66]. Ngoài

ra, thành phần dinh dưỡng cũng được xem là một yếu tố làm tăng nguy có

phát triển tiểu đường, đã có một số nghiên cứu gợi ý rằng sử dụng thực phẩm

ít chất xơ, giàu chất béo có nguy cơ làm tăng đường huyết [60].

1.1.3.3. Hệ vi sinh vật đường ruột

Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, hệ vi sinh vật đường ruột có thể

là một nguyên nhân gây tiểu đường [47]. Các vi sinh vật đường ruột có vai trò

trong việc duy trì mối tương tác trong hệ đường ruột, nghiên cứu tương quan

toàn bộ hệ gen của vi sinh vật đường ruột gợi ý rằng bệnh nhân tiểu đường

týp 2 có sự mất cân bằng trong hệ vi sinh vật đường ruột đặc biệt suy giảm

của vi khuẩn sinh bytyrate [47], [67].

1.1.3.4. Ảnh hưởng của vitamin

Một số loại vitamin cũng có ảnh hưởng tới tiểu đường týp 2. Vitamin D

là loại vitamin được xem là có tiềm năng trong kiểm soát tiểu đường [63],

[67]. Đã có nghiên cứu gợi ý rằng khi những bệnh nhân tiểu đường sử dụng

vitamin D thường xuyên có nguy cơ làm tiến triển của tiểu đường nhanh hơn.

Bên cạnh vitamin D thì vitamin K bao gồm K1 (phylloquinone) và K2

(Menaquinone-4) là hai dạng hoạt động của vitamin K trong xương để duy trì

chất lượng của xương và kiểm soát biểu hiện một số gen trong xương [52],

[67]. Tuy nhiên, gần đây có bằng chứng gợi ý rằng vitamin K1 có vai trò điều

hòa glucose trong cơ thể, sử dụng vitamin K1 liều cao có thể hỗ trợ sự nhạy

cảm của tế bào với Insulin và nồng độ glucose máu [80].

1.1.4. Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán tiểu đường

1.1.4.1 Xét nghiệm đường niệu (Glucose nước tiểu)

Bình thường glucose sẽ được tái hấp thu gần như hoàn toàn tại ống

thận. Chỉ có khoảng 0,5 mmol/24h. Vì vậy, các xét nghiệm thông thường

không phát hiện được và coi như "Âm tính" [5], [14].

Ngưỡng của thận với glucose là 1,6-1,8 g/l (160-180 mg/dl) hay 8,9-10

mmol/l. Khi lượng đường trong máu vượt quá giá trị này, thận sẽ không hấp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

7

thu được hết và sẽ xuất hiện glucose trong nước tiểu [5], [14].

Ngày nay, phần lớn đều xét nghiệm glucose niệu bằng máy xét nghiệm

nước tiểu 10 hoặc 11 thông số. Nước tiểu sẽ được phản ứng với hoá chất trên

thanh test thử tạo màu. Đậm độ màu tỉ lệ thuận với nồng độ glucose trong

nước tiểu và được đo bằng máy hoặc mắt thường. Xét nghiệm tương đối đơn

giản và nhanh [5], [17].

1.1.4.2. Định lượng glucose máu ngẫu nhiên

Theo WHO, một trong các tiêu chuẩn để chẩn đoán tiểu đường là xét

nghiệm đường máu tại thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dl (≥ 11,1 mmol/l) với

huyết tương hoặc ≥ 180 mg/dl (≥ 10,0 mmol/l) với máu toàn phần. Như vậy,

ta có thể tiến hành xét nghiệm chẩn đoán tiểu đường tại thời điểm bất kỳ mà

không cần phải quan tâm đến bệnh nhân đã ăn hay chưa, đã ăn được bao lâu.

Nếu cứ thấy đường máu ≥ 11,1 mmol/l thì kết luận đái tháo đường. Tuy nhiên

nếu kết quả đường máu ở thời diểm bất kỳ mà < 7,8mmol/l thì cần làm thêm

nghiệm pháp tăng đường huyết để khẳng định [5].

- Cách 1: Lấy máu ly tâm tách huyết tương và xét nghiệm trên các hệ

thống máy hóa sinh bán tự động hoặc tự động.

- Cách 2: Sử dụng các máy đo đường huyết cá nhân để đo ngay máu

toàn phần từ mao mạch.

Để đảm bảo tính chính xác nên dùng cách 1. Ngoài ra còn có phương

pháp enzym dùng để xét nghiệm đường máu.

1.1.4.3. Định lượng glucose máu lúc đói

Đây là xét nghiệm phổ biến hay dùng nhất hiện nay để chẩn đoán tiểu

đường. Bình thường glucose huyết tương khi đói khoảng 4,4 -5,0 mmol/l. Nếu

như xét nghiệm thấy đường máu lúc đói (sau ăn 8h) ≥ 126 mg/dl, (≥ 7,0

mmol/l) ở 2 lần xét nghiệm gần nhau thì được coi là tiểu đường [5].

1.1.4.4. Xét nghiệm glucose máu sau ăn 2 giờ

Xét nghiệm định lượng glucose sau ăn 2h. Xét nghiệm được thực hiện

bằng cách lấy máu bệnh nhân sau khi bệnh nhân ăn được 2h. Bữa ăn của bệnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

8

nhân sẽ có khoảng 100g carbonhydrat và các chất dinh dưỡng khác. Nếu xét

nghiệm đường máu sau ăn của bệnh nhân 2h thấy kết quả nồng độ glucose

trong huyết tương ≥ 11,1 mmol/l thì sẽ được coi là có dấu hiệu của bệnh tiểu

đường, còn nếu nồng độ glucose < 6,7 mmol/l được coi là bình thường. Tuy

nhiên, xét nghiệm này hiện nay ít được sử dụng vì: Khó kiểm soát được thành

phần bữa ăn của bệnh nhân. Có người ăn nhiều glucid (cơm), có người ăn

nhiều chất sơ (rau), nhiều đạm (thịt)… thì nồng độ glucose cũng sẽ khác

nhau, khó kiểm soát chính xác thời gian của bữa ăn, khó kiểm soát sự hấp thu

thức ăn. Có những bệnh nhân khả năng hấp thu nhanh, có những bệnh nhân

khả năng hấp thu chậm vì vậy lượng đường trong máu sẽ khác nhau [5].

1.1.4.5. Nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống

Nghiệm pháp này rất có giá trị và được dùng để khẳng định ở những

bệnh nhân có nồng độ glucose huyết tương > 6,4 mmol/l nhưng < 7,0 mmol/l.

Nghiệm pháp được tiến hành như sau: Lấy máu để định lượng glucose trước

uống (lúc đói) [5], [14].

Cho bệnh nhân uống 75g glucose hòa trong nước trong vòng 5 phút.

Trẻ em uống 1,75g/kg cân nặng.

Lấy máu bệnh nhân định lượng lại nồng độ glucose tại các thời điểm

30, 60, 90 và 120 phút sau uống. Nếu kết quả định lượng glucose ở thời điểm

120 phút và một thời điểm nào đó trong các điểm 30’, 60’ và 90’ mà ≥ 11,1

mmol/l thì được chẩn đoán là tiểu đường. Vì ở người bình thường thì sau khi

uống glucose máu sẽ tăng lên đạt khoảng 8,3 mmol/l (150gm/dl) sau đó hạ

xuống dần và trở về bình thường sau 3h. Còn ở người tiểu đường thì nồng độ

glucose máu sẽ tăng cao ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) và hạ xuống một cách

chậm hơn [5],[14].

Trong xét nghiệm này để đảm bảo kết quả xét nghiệm được chính xác

cần lưu ý một số điểm:

- Bệnh nhân không hoặc đang sử dụng các loại thuốc nhóm

glucocorticoid, thuốc lợi tiểu…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

9

- Bệnh nhân ăn uống, hoạt động bình thường 3 ngày trước khi tiến hành

thử nghiệm.

- Nghiệm pháp được tiến hành sau khi bệnh nhân đã nhịn ăn được tối

thiểu 8-10h.

- Trong quá trình tiến hành thử nghiệm bệnh nhân nghỉ ngơi tại chỗ,

tránh vận động.

1.1.4.6. Nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường tiêm tĩnh mạch

Nghiệm pháp này không phổ biến và ít dùng vì gây cảm giác sợ cho

bệnh nhân, nghiệm pháp được chỉ định trong các trường hợp bệnh nhân kém

hấp thu hoặc không có khả năng dung nạp glucose bằng đường uống. Sẽ được

tiến hành bằng các tiêm glucose tĩnh mạch với liều lượng 0,5g/kg thể trọng.

Sau khi tiêm tiến hành lấy máu và định lượng lại glucose 10 phút - 1 lần trong

vòng 60 phút [17].

1.2. Các biến chứng nguy hiểm của tiểu đường

Nguy hiểm liên quan tới nhiều cơ quan trong cơ thể. Một số biến chứng

nguy hiểm của tiểu đường được minh họa ở hình 1.2 [16].

Hình 1.2 Các biến chứng nguy hiểm của tiểu đường

Tiểu đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

10

tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mãn tính.

1.2.1. Biến chứng cấp tính

Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm

khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn

mê nhiễm kiềm và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng

nguy hiểm [8], [19].

1.2.2 Biến chứng mạn tính

1.2.2.1 Biến chứng tim - mạch

Bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường là biến chứng thường gặp và

nguy hiểm. Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các

nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh

mạch vành và các biến chứng tim mạch khác. Người tiểu đường có bệnh tim

mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình

thường. Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử

vong ở người bệnh tiểu đường, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim

là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất. Một nghiên cứu được tiến hành trên 353

bệnh nhân tiểu đường týp 2 là người Mỹ gốc Mehico trong 8 năm thấy có 67

bệnh nhân tử vong và 60% là do bệnh mạch vành [46].

Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường, tỷ lệ mắc bệnh

chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân tiểu đường gấp đôi so với người bình

thường. Trong tiểu đường týp 2 có 50% tiểu đường mới được chẩn đoán có

tăng huyết áp. Tăng huyết áp ở người tiểu đường týp 2 thường kèm theo các

rối loạn chuyển hoá và tăng lipid máu [38], [46].

Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân tiểu đường gấp 1,5 - 2

lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường.

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% bệnh nhân

tiểu đường mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch [10].

1.2.2.2. Biến chứng thận

Biến chứng thận do tiểu đường là một trong những biến chứng thường

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

11

gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian. Bệnh thận do tiểu đường khởi phát

bằng protein niệu; sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ

tích tụ trong máu.

Bệnh thận do tiểu đường là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận

giai đoạn cuối. Với người tiểu đường týp 1, mười năm sau khi biểu hiện bệnh

thận rõ ràng, khoảng 50% tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối và sau 20

năm sẽ có khoảng 75% số bệnh nhân trên, cần chạy thận lọc máu chu kỳ. Khả

năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của bệnh nhân tiểu đường týp 2 ít

hơn so với bệnh nhân tiểu đường týp 1, song số lượng bệnh nhân tiểu đường

týp 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chủ

yếu là bệnh nhân tiểu đường týp 2.

Để theo dõi bệnh thận tiểu đường có thể định lượng micro albumin

niệu, đo mức lọc cầu thận, định lượng protein niệu/ 24 giờ. Ngày nay, nhiều

phòng xét nghiệm chọn phương pháp định lượng protein niệu trong mẫu nước

tiểu qua đêm.

Tại Việt Nam, theo một điều tra năm 1998, tỷ lệ có microalbumin niệu

dương tính khá cao chiếm 71% trong số người mắc bệnh tiểu đường týp 2 [10].

1.2.2.3. Bệnh lý mắt ở bệnh nhân tiểu đường

Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường, có

liên với thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường huyết kéo dài. Đục thuỷ

tinh thể ở người tiểu đường cao tuổi sẽ tiến triển nhanh hơn người không tiểu

đường [3], [12]. Bệnh lý võng mạc tiểu đường là nguyên nhân hàng đầu của

mù ở người 20 - 60 tuổi. Bệnh biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch,

ở giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu

với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù lòa. Sau 20 năm mắc bệnh, hầu hết

bệnh nhân tiểu đường týp 1 và khoảng 60% bệnh nhân tiểu đường týp 2 có

bệnh lý võng mạc do tiểu đường. Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa tại Bệnh

viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 52,94% bệnh nhân bị đục

thuỷ tinh thể, 22,94% bệnh nhân bị bệnh võng mạc tiểu đường [2].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

12

1.2.2.4. Bệnh thần kinh do tiểu đường

Bệnh thần kinh do tiểu đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30%

bệnh nhân tiểu đường có biểu hiện biến chứng này. Người bệnh tiểu đường

týp 2 thường có biểu hiện thần kinh ngay tại thời điểm chẩn đoán. Bệnh thần

kinh do tiểu đường được chia thành: viêm đa dây thần kinh ngoại biên, bệnh

đơn dây thần kinh tọa, thần kinh trụ. Rối loạn cảm giác sâu, mất phản xạ gân

xương, đặc biệt là gân gót. Bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động

gốc chi, liệt một số cơ: Cơ mô cái, cơ giữa và cơ duỗi chi dưới [8].

1.2.2.5. Ung thư liên quan tới tiểu đường

Nghiên cứu dịch tễ của tiểu đường gợi ý rằng bệnh nhân tiểu đường có

nguy cơ mắc một số ung thư như ung thư gan, ung thư thận, ung thư bàng

quang, ung thư vú, ung thư trực tràng [58].

1.2.2.6. Một số biến chứng khác

* Bệnh lý bàn chân do tiểu đường

Bệnh lý bàn chân tiểu đường ngày càng được quan tâm do tính phổ

biến của bệnh. Bệnh lý bàn chân tiểu đường do sự phối hợp của tổn thương

mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng

cao. Một thông báo của WHO tháng 3 - 2005 cho thấy có tới 15% số người

mắc bệnh tiểu đường có liên quan đến bệnh lý bàn chân, 20% số người phải

nhập viện do nguyên nhân bị loét chân. Bệnh nhân tiểu đường phải cắt cụt chi

dưới nhiều gấp 15 lần so với người không bị tiểu đường, chiếm 45 - 70% tổng

số các trường hợp cắt cụt chân [5].

Tỷ lệ cắt cụt của người bị biến chứng bàn chân tiểu đường của Việt

Nam cũng khá cao, khoảng 40% tổng số người có bệnh lý bàn chân tiểu

đường [19].

* Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân tiểu đường

Bệnh nhân bị tiểu đường thường nhạy cảm với tất cả các loại nhiễm

khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi. Có thể gặp nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan

như: viêm đường tiết niệu, viêm răng lợi, viêm tủy xương, viêm túi mật sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

13

hơi, nhiễm nấm [42].

* Rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân tiểu đường

Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành

phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch,

làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng

mạch máu khác. Ngày nay, người ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay từ khi

tỷ lệ các thành phần của lipid trong máu có sự thay đổi [27].

Ngoài ra, bệnh nhân tiểu đường dễ mắc các biến chứng như: Răng

(viêm lợi, rụng răng); Phổi (có thể nặng là áp xe phổi); Hôn mê (do tăng

đường huyết) [20].

1.3. Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới và Việt Nam

1.3.1. Trên thế giới

Trong những năm gần đây, tỷ lệ tiểu đường gia tăng mạnh mẽ trên toàn

cầu, WHO đã lên tiếng báo động vấn đề nghiêm trọng này trên toàn thế giới .

Bảng 1.2. Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới [74]

Tỷ lệ(%) Số lượng ( Triệu người) Khu vực 1980 2014 1980 2014

7,1 3,1 4 25 Châu Phi

8,3 5 18 62 Châu Mỹ

13,7 5,9 6 43 Đông Địa Trung Hải

7,3 5,3 33 64 Châu Âu

8,6 4,1 17 96 Đông Nam Á

8,4 4,4 29 131 Tây Thái Bình Dương

8,5 4,7 108 422 Tổng

Năm 1992, ở Pháp tác giả Marie Laure Auciaux và cộng sự ước tính có

khoảng 2 triệu người tiểu đường týp 2 [73].

Ở Mỹ, theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC, bệnh tiểu đường tăng

14% trong hai năm từ 18,2 triệu người (2003) lên 20,8 triệu người (2005) [73].

Tỷ lệ tiểu đường ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu vực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

14

Đông Nam Á (5,3%). Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh tiểu đường nhanh

chóng do mức độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành

thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống công nghiệp, giảm hoạt động

chân tay, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn không cân đối, nhiều

cholesterol [73].

1.3.2. Tại Việt Nam

Năm 2002, theo điều tra trên phạm vi toàn quốc ở lứa tuổi từ 30 - 64

của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ mắc tiểu đường chung cho cả nước

là 2,7%, ở các thành phố 4,4%, vùng đồng bằng ven biển 2,2% và miền núi

2,1% [32].

Nghiên cứu của các tác giả Lê Minh Sứ tại Thanh Hóa; Vũ Huy Chiến

tại Thái Bình, Hồ Văn Hiệu tại Nghệ An cho tỷ lệ mắc tiểu đường lần lượt là

4%; 4,3% và 3% [11].

Nghiên cứu của Lê Cảnh Chiến tại Tuyên Quang; Hoàng Thị Đợi,

Nguyễn Kim Lương tại Thái Nguyên cũng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao

hơn nam, ở nhóm ít hoạt động thể lực cao hơn nhóm hoạt động thể lực nhiều

[1],[10].

Tại Thái Nguyên, số bệnh nhân tiểu đường ngày một tăng nhưng nhiều

người khi được phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, có nhiều biến chứng. Từ

tháng 3 năm 2006 tại khoa Nội – Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ - Thái

Nguyên, đã tiếp nhận nhiều bệnh nhân điều trị nội trú với các biến chứng khác

nhau trong đó chủ yếu là biến chứng thận. Tỷ lệ bệnh tiểu đường chiếm khoảng

3,7% - 5,2% tổng số bệnh nhân điều trị tại khoa trong hai năm 2007 – 2008.

Tại Trung tâm Y tế Đồng Hỷ - Thái Nguyên những năm gần đây bệnh

nhân tiểu đường đến điều trị ngày một tăng, số lượng bệnh nhân biến chứng

cũng tăng theo cấp số cộng đặc biệt những bệnh nhân gặp biến chứng thận

chiếm số đông. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về đặc điểm

cận lâm sàng của bệnh cũng như nghiên cứu về các yếu tố liên quan tới sự

phát triển của bệnh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

15

1.4. Sự nguy hiểm của biến chứng tiểu đường liên quan đến thận

Bệnh cầu thận tiểu đường là từ dùng để chỉ những tổn thương cầu thận

thứ phát do tiểu đường. Những tổn thương cầu thận này có những đặc trưng

về mặt hình thái được mô tả bởi Kimmelstiel và Wilson từ năm 1936 [31].

Tuy nhiên, bệnh thận tiểu đường ngoài tổn thương cầu thận còn có những tổn

thương khác do bản thân tiểu đường gây nên ở thận như tổn thương ống thận

hoặc những biểu hiện của hoại tử đài thận hoặc bệnh lý thần kinh bàng quang

do tiểu đường [14].

Bệnh cầu thận tiểu đường là một biến chứng điển hình của tiểu đường

typ 1 phụ thuộc vào Insulin xuất hiện ở những người có bệnh lý tiểu đường từ

khi còn rất trẻ. Tuy nhiên nó cũng có thể xuất hiện ở những bệnh nhân tiểu

đường typ 2, không phụ thuộc Insulin [14], [54].

Hiện nay, ở các nước Âu Mỹ suy thận mạn giai đoạn cuối do tiểu

đường chiếm tỷ lệ cao và ngày càng gia tăng. Vì lí do tiến triển nhanh của

bệnh thận và những biến chứng trên mạch máu ngoại biên (canxi hoá động

mạch), việc tạo đường mạch máu để lọc máu (tạo lỗ dò động tĩnh mạch) phải

được làm sớm hơn (khi hệ số thanh lọc creatinin tính bằng cockcroft khoảng

20-25 ml/ phút) [8], [14], [54].

Nhìn chung, những bệnh nhân tiểu đường thận điều trị bằng lọc máu

ngoài thận hoặc ghép thận có tiên lượng xấu hơn so với những bệnh nhân mắc

bệnh thận không do biến chứng tiểu đường [8], [54].

Những bệnh nhân đã có suy thận mãn giai đoạn cuối do bệnh tiểu

đường thận thường có tiên lượng xấu vì những biến chứng khác kèm theo như

tim mạch, nhiễm trùng... Muốn dự phòng những biến chứng này cần phải can

thiệp ở giai đoạn còn sớm vào các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, ứ nước

muối, thiếu máu, canxi hoá mạch máu và tăng lipid máu...[14], [54].

1.4.1. Dịch tễ học và chẩn đoán biến chứng tiểu đường thận

Bệnh cầu thận tiểu đường thường xuất hiện bắt đầu từ năm thứ 10 ở

những bệnh nhân tiểu đường phụ thuộc Iusulin. Tỷ lệ mắc hàng năm đạt đỉnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

16

cao nhất giữa năm thứ 15 đến năm thứ 20 của tiểu đường [31]. Thời gian mắc

bệnh tiểu đường phụ thuộc Insulin là yếu tố nguy cơ chính của phát triển bệnh

lý thận do tiểu đường cũng như bệnh lý võng mạc tiểu đường, bên cạnh đó

tăng đường huyết, tăng huyết áp cũng là các yếu tố nguy cơ khác gây nên

những biến chứng ở thận trên bệnh nhân tiểu đường [31].

Thời gian sống ở bệnh nhân bệnh thận tiểu đường là giảm nhiều. Nếu

không được điều trị có hiệu quả, một nửa số bệnh nhân là tử vong sau 7 năm

xuất hiện protein niệu. Tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này là cao gấp 37 lần

so với quần thể chung [31]. Ngược lại, bệnh nhân tiểu đường không có

protein niệu thì có thời gian sống gần như bình thường. Cũng cần lưu ý rằng

phần lớn những nguyên nhân tử vong ở bệnh tiểu đường phụ thuộc Insulin là

ít gắn liền với suy thận mà thường liên quan đến bệnh lý tim mạch, đặc biệt

bệnh lý mạch vành [31].

Bệnh thận do bệnh tiểu đường biến chứng là nguyên nhân chiếm vị trí

thứ nhất của suy thận mạn ở các nước phương Tây 25 - 50% [54].

1.4.2. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định bệnh thận tiểu đường là dựa vào tế bào học. Tuy

nhiên, trong phần lớn trường hợp chẩn đoán dương tính thường dựa vào kết

hợp protein niệu (mà thành phần chủ yếu là albumin), tăng huyết áp, giảm

mức lọc cầu thận [9], [15].

Albumin niệu: Có thể được định lượng bằng những kỹ thuật miễn dịch

đặc biệt (miễn dịch phóng xạ, ELISA...). Cho phép xác định albumin niệu với

lượng còn rất ít trong nước tiểu. Ở người bình thường albumin được bài tiết

trong nước tiểu không vượt quá 20-30 mg/ngày hoặc 15-20 μg/phút. Khi

trong nước tiểu có albumin từ 30mg đến 300mg/ngày (từ 20 đến 200 μg/phút)

gọi là microalbumin niệu: đây là một dấu hiệu bất thường sớm ở thận, có giá

trị trong chẩn đoán ở giai đoạn còn sớm của tiểu đường trên thận. Khi

albumin niệu từ 300mg/24 giờ trở lên gọi là tiểu albumin niệu đại thể (tương

ứng với 0,5g protein /24 giờ). Cần lưu ý rằng việc bài tiết albumin trong nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

17

tiểu là rất khác biệt giữa các thời điểm ở trên cùng một cá thể, vì thế cần làm

xét nghiệm albumin niệu nhiều lần để đánh giá [20].

Huyết áp: Tăng huyết áp là triệu chứng của bệnh thận do tiểu đường.

Tuy nhiên, huyết áp động mạch phụ thuộc vào giai đoạn của biến chứng thận,

ở giai đoạn microalbumin niệu thì huyết áp tâm thu vào ban đêm giảm một ít

và hiện tượng này không còn nữa khi đã có albumin niệu đại thể [20], [48].

Mức lọc cầu thận: Mức lọc cầu thận giảm là một triệu chứng để chấn

đoán suy thận, biến chứng của tiểu đường giai đoạn cuối. Mức lọc cầu thận

được đánh giá qua hệ số thanh thải creatinin. Nhưng cần lưu ý khi định lượng

creatinin có thể sai số do tăng đường huyết. Một số chất khác cũng được sử

dụng đánh giá hệ số thanh thải trong bệnh thận do tiểu đường như Inulin, các

chất đồng vị phóng xạ 125 Iodothalamate, 51Cr – EDTA [20], [53].

Ngoài ba dấu hiệu kể trên, để đánh giá có tổn thương cầu thận trong

bệnh thận do biến chứng của bệnh tiểu đường khi chẩn đoán còn dựa vào thời

gian mắc bệnh tiểu đường những biểu hiện của bệnh mạch máu vi thể. Ở bệnh

nhân tiểu đường khi có triệu chứng của bệnh lý cầu thận kèm thời gian mắc

bệnh nhiều năm và có bệnh lý võng mạc, khả năng có bệnh thận tiểu đường là

lớn hơn 95% [2], [34].

Những nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng (đặc biệt ở những bệnh

nhân tiểu đường typ I phụ thuộc insulin, được theo dõi trong thời gian dài) đã

cho thấy bệnh thận do biến chứng từ bệnh nhân bị tiểu đường có những đặc

trưng bất thường về hình thái và chức năng rất sớm, Mogensen đã chia thành

5 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn tăng chức năng và phì đại, xảy ra ngay khi bị

tiểu đường. Kích thích thận gia tăng, cầu thận phì đại nhưng cấu trúc của

chúng thì bình thường [3], [15], [43], [48].

Mức lọc cầu thận tăng, lưu lượng máu qua thận tăng theo song song, có

thể tăng tiết albumin niệu. Tăng lọc cầu thận giảm sau vài tuần hoặc vài tháng

điều trị bằng insulin, nhưng kích thước thận vẫn không thay đổi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

18

- Giai đoạn 2: Có thể tồn tại dai dẳng trong nhiều năm và 60% tiểu

đường typ I kéo dài suốt đời. Mức lọc cầu thận có thể gia tăng. Sự gia tăng

này tương quan với kích thước thận và sự kiểm soát tiểu đường. Có lẽ sự tăng

lọc và kiểm soát tiểu đường kém là cần thiết để phát triển bệnh thận tiểu

đường. Sự tiết albumin qua nước tiểu là bình thường nhưng có thể gia tăng

trong những tình huống stress. Bề dày của màng đáy cầu thận tăng, chất nền

gian mạch tăng nhiều hơn và những tổn thương này là không hồi phục [3],

[15], [43], [48].

- Giai đoạn 3: Là giai đoạn bệnh thận tiểu đường khởi đầu. Chỉ xảy ra ở

40% bệnh nhân tiểu đường. Giai đoạn này kéo dài từ 11-20 năm, sự bài tiết

albumin niệu tăng thường xuyên trong vài năm từ 10-200 μg/phút. Sự tăng lọc

vẫn tồn tại nhưng nó bắt đầu giảm khi microalbumin niệu tăng. Chỉ số huyết

áp thường tăng cao hơn so với người bình thường. Người ta vẫn chưa biết

(theo đánh giá hiện nay) sự can thiệp điều trị ở giai đoạn này (kiểm soát tốt

tăng đường máu, điều trị tăng huyết áp) có cho phép làm chậm tiến triển hay

không; nhưng dù sao đi nữa thì microalbumin niệu cũng giảm một cách đáng

kể [3], [15], [43], [48].

- Giai đoạn 4: Là giai đoạn bệnh thận tiểu đường đã xác lập với protein

niệu thường xuyên trên 0,5g/24 giờ, tăng huyết áp động mạch là hằng định.

Hội chứng thận hư thường xuất hiện. Những biến chứng khác ngoài bệnh thận

tiểu đường cũng thường gặp, đặc biệt là bệnh võng mạc (thường gây mù)

bệnh thần kinh ngoại vi hoặc thần kinh thực vật. Mức lọc cầu thận giảm trung

bình 1ml/ tháng ; điều trị tăng huyết áp hiệu quả có thể làm chậm sự tiến triển

này [3], [15], [43], [48].

Ngược lại, người ta vẫn chưa chắc chắn rằng sự kiểm soát đường máu

nghiêm ngặt có tác động đến tiến triển của suy thận hay không [4], [19].

Tổn thương cầu thận là đặc trưng: tồn tại xơ hoá cầu thận lan toả, gồm

dày màng đáy tiến triển và tăng chất nền gian mạch, trong 10-20% trường hợp

tồn tại những nốt bắt màu bởi chất PAS (+) tích tụ ở gian mạch lân cận các

cầu thận gọi là xơ hoá cầu thận dạng nốt của Kimmelstiel và Wilson [4], [19].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

19

- Giai đoạn 5: Là giai đoạn suy thận giai đoạn cuối. Những bệnh nhân

này chiếm một phần quan trọng trong số bệnh nhân được điều trị ở những

trung tâm lọc máu ngoài thận và ghép thận[3], [15], [43], [48]. .

Khi mắc bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin (thường gặp cao hơn

10 lần so với nhóm khác), bệnh thận cũng là một biến chứng thường gặp, xuất

hiện trong 20 - 40% của những bệnh tiểu đường typ này; 3-8% tiến triển đến

suy thận mãn giai đoạn cuối. Trong bệnh thận tiểu đường này, không có sự

tăng lọc cầu thận [54].

1.4.3. Biến chứng tiểu đường thận liên quan đến sự đa hình của gen ELMO1

Nguyên nhân của tiểu đường thận được cho là do sự tương tác của rất

nhiều yếu tố bao gồm các yếu tố về xã hội, tuổi tác, giới tính, béo phì và chế

độ ăn uống [56].

Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây thông qua phân tích di truyền

chỉ ra rằng gen ELMO1 (Engulfment and cell motility protein 1) có liên

quan mật thiết với tiểu đường thận [62]. Gen ELMO1 nằm trên nhiễm sắc

thể số 7 ở người đã được nghiên cứu ở những bệnh nhân mắc tiểu đường

typ 2 do gen ELMO1 được xác định tăng cường biểu hiện khi hàm lượng

glucose tăng [59],[81]. Do đó, đã có nhiều nghiên cứu phân tích vai trò

của ELMO1 với tiểu đường thận, đặc biệt là đa hình đơn nucleotide của

gen ELMO1 trong mối liên hệ với tiểu đường thận và thấy được sự tương

quan có ý nghĩa của sự đa hình với tiểu đường thận ở một số quần thể

người như Nhận Bản, Trung Quốc, Mỹ, Iran [62]. Các nghiên cứu này đã

chỉ ta một số vùng đa dạng trên gen ELMO1 có sự thay đổi lớn trong đa

hình đơn nucleotide. Chính vì vậy, chúng tôi muốn kiểm tra ảnh hưởng

của đa hình đơn nucleotide trên gen ELMO1 tới các bệnh nhân đang điều

trị ở Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, để có đánh giá bước

đầu về vai trò của đa hình gen ELMO1với bệnh nhân tiểu đường thận ở

Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

20

1.5. Đa hình đơn nucleotide

1.5.1. Đa hình đơn nucleotide và các phương pháp nghiên cứu

Đa hình đơn nucleotide (SNP) là một chỉ thị chỉ sự sai khác một

nucleotide của trình tự DNA nhất định, có tần xuất xuất hiện cao ở hầu hết

các hệ gen đã được nghiên cứu, điển hình như ở người cứ khoảng 1.250

nucleotide sẽ tìm thấy một nucleotide sai khác [60]. Sự sai khác của đơn hình

nucleotide có thể xảy ra ở trong trình tự gen mã hóa (exon) hay trình tự gen

không mã hóa (intron).

Một trong những nghiên cứu đa hình đơn nucleotide thường được sử

dụng là kĩ thuật phân tích đa hình chiều dài đoạn cắt bằng enzyme giới hạn.

Tuy nhiên, kĩ thuật này chỉ xác nhận có sự đa hình đơn nucleotide trong trình

tự phân tích chứ không xác định được chính xác sự thay đổi này là nucleotide

loại nào. Vì thế, để xác định chính xác sự thay đổi của từng nucleotide trong

gen nghiên cứu thì việc sử dụng các phương pháp hiện đại như Realtime PCR,

giải trình tự, DNA chip là hết sức cần thiết [12], [13].

Ngoài các phương pháp trên, gần đây phương pháp phân tích đa hình

bằng 4 mồi khác nhau hay còn gọi là Tetra tetra-primer ARMS-PCR [755].

Thường được sử dụng trong phân tích đa hình do những ưu điểm trong kĩ

thuật và giá thành thực hiện. Nguyên lý của phương pháp này được trình bày

tại hình 1.3. Sự thay thế alen G→A. Được sử dụng làm ví dụ minh họa trong

hình dưới, ở đây cặp mồi xuôi ngoài (hồng) và ngược trong (đỏ) sẽ tạo ra sản

phẩm đại diện cho alen G và cặp còn lại gồm xuôi trong (xanh lá) và ngược

ngoài (xanh dương) sẽ đại diện cho alen A. Sự đặc hiệu của alen sinh ra do sự

không bắt cặp cở đầu 3’ của một mồi với khuôn mẫu. Để nâng cao tính đặc

hiệu một nucleotide không bắt cặp đặc hiệu được thiết kế ngay sát với alen

cần phân tích (với dấu sao). Do khoảng cách giữa hai mồi ngoài tới vị trí alen

đa hình có sự khác biệt nên có thể phân biệt bằng điện di nhằm xác định đa

hình là đồng hợp G/G, A/A hay G/A.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

21

Hình 1.3. Nguyên lý phương pháp phân tích đa hình bằng Tetra-primer

ARMS-PCR

1.5.2. Ứng dụng và tầm quan trọng của đa hình đơn nucleotide

Việc nghiên cứu đa hình đơn nucleotide có rất nhiều ứng dụng quan

trọng. Bên cạnh việc lập bản đồ di truyền cho từng cá thể thì còn có ý nghĩa

quan trọng trong việc phân tích đa dạng di truyền của một số bệnh nhất định

hay tìm kiếm những chỉ thị điển hình cho một bệnh nhất định hay một số gen

quan tâm [48], [55] .

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đa hình đơn nucleotide còn có ý nghĩa

quan trọng trong di truyền, chọn giống vật nuôi, cây trồng có năng suất, chất

lượng tốt [70] .

1.5.3 Phương pháp PCR trong nghiên cứu đa hình đơn nucneotit

(polymerase chain reactiotit).

Phương pháp PCR (polymerase chain reaction) chính là phương pháp

khuếch đại nhanh nhiều bản sao các đoạn DNA mà không qua tạo dòng. Được

tác giả Kary Mullis đưa ra năm 1985 và tác giả Saiki hoàn thiện năm 1988.

Kỹ thuật PCR được thực hiện hoàn toàn trong các ống eppendoff thực hiện

trong thời gian ngắn nhưng có thu được rất nhiều bản sao DNA. Kỹ thuật

PCR có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: chẩn đoán, xét nghiệm các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

22

tác nhân vi sinh vật gây bệnh, nghiên cứu sự tiến hoá của sinh vật ở mức độ

phân tử, xác định giới tính của phôi, giải mã di truyền, tạo ra giống mới với

các đột biến định hướng...

Nguyên tắc của kỹ thuật PCR Kỹ thuật PCR (polymerase chain

reaction) là một phương pháp tổng hợp DNA dựa trên mạch khuôn là một

trình tự đích DNA ban đầu, khuếch đại, nhân số lượng bản sao của khuôn này

thành hàng triệu bản sao nhờ hoạt động của enzyme polymerase và một cặp

mồi (primer) đặc hiệu cho đoạn DNA này. Primer là những đoạn DNA ngắn,

có khả năng bắt cặp bổ sung với một mạch của đoạn DNA khuôn và nhờ hoạt

động của DNA polymerase đoạn primer này được kéo dài để hình thành mạch

mới. Kỹ thuật PCR được hình thành dựa trên đặc tính này của DNA

polymerase, đoạn DNA nằm giữa hai primer sẽ được khuếch đại thành số

lượng lớn bản sao đến mức có thể thấy được sau khi nhuộm bằng ethidium

bromide và có thể thu nhận đoạn DNA này cho các mục đích khác nhau bằng

các thao tác trên gel. Như vậy, để khuếch đại một trình tự DNA xác định, cần

phải có những thông tin tối thiểu về trình tự của DNA, đặc biệt là trình tự

base ở hai đầu đoạn DNA đủ để tạo các primer bổ sung chuyên biệt [13].

Phản ứng PCR gồm nhiều chu kỳ lăp lại nối tiếp nhau. Mỗi chu kỳ gồm

3 bước như sau :

Bước 1: (Biến tính tách đôi sợi DNA, denaturation) Giai đoạn này

0C) trong vòng 30 giây đến 1 phút, làm cho phân tử DNA mạch kép tách

được thực hiện ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nóng chảy của phân tử (94 – 95

thành 2 mạch đơn. Chính 2 mạch đơn này đóng vai trò là mạch khuôn cho sự

tổng hợp 2 mạch bổ sung mới.

Bước 2: (bắt cặp, annealing) ở bước này ở nhiệt độ được hạ thấp

hơn nhiệt độ nóng chảy của các primer, cho phép các primer bắt cặp với

mạch khuôn. Nhiệt độ này thường dao động trong khoảng 55 – 65 0C.

Tùy thuộc vào nhiệt độ nóng chảy của các primer mà thời gian bắt cặp

kéo dài từ 30 – 60 giây.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

23

Bước 3: (kéo dài, elongation – extension) Nhiệt độ được tăng lên 72 0C

giúp cho DNA polymerase hoạt động tốt nhất. Dưới tác động của DNA

polymerase, các nucleotide lần lượt gắn vào primer theo nguyên tắc bổ sung

với mạch khuôn. Thời gian của giai đoạn này tùy thuộc vào độ dài của trình

tự DNA khuếch đại, thường kéo dài từ 30 giây đến vài phút. Sự khuếch đại

này được tính như sau:

Tổng lượng DNA khuếch đại = m x 2n. Trong đó

m: Là số bản sao của chuỗi mã hóa.

n : Là số chu kỳ.

Như vậy, qua một chu kỳ nhiệt, một DNA đích đã được nhân bản thành hai

bản sao; và nếu chu kỳ này được lặp đi lặp lại liên tục 30 đến 40 lần thì từ một

DNA đích đã nhân bản được thành 230 đến 240 bản sao, tức là đến hàng tỷ

bản sao [13].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

24

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tiểu

đường týp 2 tại Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, được lựa

chọn dựa trên tiêu chuẩn sau:

+ Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bệnh nhân tiểu đường týp 2 lứa tuổi từ 30 – 75 tuổi đang điều trị

ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên từ tháng

05/2018 đến 01/2019.

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và thu thập đủ các chỉ tiêu

nghiên cứu.

+ Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân mắc tiểu đường týp 1, tiểu đường trong giai đoạn thai kỳ,

và các bệnh nhân mắc tiểu đường chưa rõ nguyên nhân.

- Bệnh nhân có những vấn đề liên quan đến thận trước khi mắc tiểu đường.

- Bệnh nhân mắc một số các bệnh liên quan tới tan máu.

- Bệnh nhân không hợp tác.

Trong số 600 bệnh nhân, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu một số đặc

điểm về:

- Độ tuổi mắc bệnh

- Thời gian điều trị bệnh

- Một số biến chứng liên quan đến bệnh tiểu đường

- Biến chứng thận.

Do điều kiện kinh phí cũng như thời gian nghiên cứu của đề tài có hạn

nên chúng tôi thực hiện tách DNA của 150 bệnh nhân thuộc ba nhóm đối

tượng bao gồm:

- Nhóm bệnh nhân bị bệnh tiểu đường chưa có biến chứng thận (TĐ):

50 bệnh nhân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

25

- Nhóm bệnh nhân bị bệnh tiểu đường có kèm theo biến chứng thận

(TĐT): 50 bệnh nhân.

- Ngoài ra chúng tôi lựa chọn một nhóm bệnh nhân đáp ứng các tiêu

chuẩn sau vào nhóm đối chứng: Bệnh nhân không bị tiểu đường, không bị suy

thận, không bị tan máu (ĐC): 50 bệnh nhân.

2.2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu

Hóa chất sinh hóa làm xét nghiệm Glucose, Ure, Creatinin, HbA1c của

Công ty hóa chất D&D (Đức).

Hóa chất xét nghiệm nước tiểu của Công ty Mision của Mỹ.

Các hóa chất sử dụng cho tách chiết DNA và phản ứng PCR: Hóa chất

tách chiết AccuPrep® Genomic DNA Extraction Kit (Qiagen), Hóa chất PCR

của hãng Intron , Gel agarose 1,5%, Thang DNA chuẩn 1kb, Hóa chất nhuộm

ethidium bromide.

Máy xét nghiệm TC - Matric của Công ty thiết bị y tế Mindray của

Trung Quốc.

Máy điện di, máy PCR (Analytic gena ), Máy soi Gel, Pipet man (Mỹ),

máy li tâm lạnh, máy li tâm thường, Buồng thao tác an toàn sinh học cấp 2

(Thermo Fisher) và một số trang thiết bị cùng các dụng cụ nhỏ khác cần thiết

trong thí nghiệm của phòng Thí nghiệm Y sinh – Trường Đại học Khoa học.

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2018 đến tháng 11/2019.

Địa điểm nghiên cứu: Phòng xét nghiệm - Trung tâm Y tế huyện Đồng

Hỷ - Thái Nguyên và phòng Thí nghiệm khoa Công nghệ Sinh học - Trường

Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập mẫu

Tất cả bệnh nhân tiểu đường nghiên cứu được hỏi và thăm khám lâm

sàng theo mẫu phiếu Thông tin bệnh nhân (Phụ lục 1), bao gồm:

- Thông tin chung: Tuổi, giới; Nghề nghiệp; Dân tộc; Địa chỉ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

26

- Chỉ tiêu lâm sàng: Thời gian phát hiện bệnh, Huyết áp, Triệu chứng

lâm sàng chính (Triệu chứng kèm theo, Biến chứng đã xuất hiện).

- Chỉ tiêu cận lâm sàng: Xét nghiệm máu (Định lượng glucose máu lúc

đói; Định lượng ure máu, creatinin máu; HbA1c), Xét nghiệm nước tiểu

(Nước tiểu 10 thông số).

Tất cả các bệnh nhân đều được đánh giá mức độ chấp hành chế độ điều

trị của bệnh nhân:

+ Chấp hành tốt các biện pháp điều trị theo hướng dẫn.

+ Không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi phác đồ điều trị.

+ Có sổ theo dõi một số chỉ số như huyết áp, cân nặng, thời gian phát

hiện tiểu đường glucose máu mao mạch tại nhà.

+ Bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm máu và theo dõi sức khỏe

định kỳ hàng tháng.

+ Kịp thời phát hiện các triệu chứng bất thường và phản ánh cho bác sỹ

theo dõi.

2.4.2. Phương pháp xét nghiệm máu

Lấy 2ml máu của bệnh nhân vào ống nghiệm có chống đông Heparin để

làm xét nghiệm Glucose, Ure, Creatinin. Thực hiện li tâm tách huyết thanh và

phân tích các chỉ số trên máy sinh hóa tự động TC matric. Tiêu chí chẩn đoán

tiểu đường (Theo các tiêu chí của Hiệp hội tiểu đường Mỹ năm 2018, dựa vào

1 trong 4 tiêu chuẩn: HbA1c ≥ 6,5% hoặc Glucose huyết lúc đói (ít nhất 8 giờ

sau ăn) ≥ 7,0 mmol/l hoặc glucose huyết ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol/l hoặc

glucose huyết 2 giờ sau khi thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 11,1

mmol/l [11]. Suy thận: khi mức lọc cầu thận< 60 ml/phút ước tính theo

Cockcroft và Gault. Các giai đoạn suy thận dựa vào mức lọc cầu thận và

creatinin máu [2]).

Lấy 1ml máu tĩnh mạch vào ống nghiệm có chống đông Edta phân tích

chỉ số HbA1c. Thực hiện xét nghiệm trên máy sinh hóa tự động TC matric.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

27

Lấy 2ml máu tĩnh mạch của bệnh nhân vào ống nghiệm chống đông

Edta để thực hiện tách chiết DNA tổng số.

2.4.3. Phương pháp xét nghiệm nước tiểu

Nước tiểu được lấy 4ml vào ống xét nghiệm sạch sau đó phân tích kết

quả 10 thông số trên máy xét nghiệm nước tiểu Mision.

2.4.4. Phương pháp tách chiết DNA tổng số và PCR

* Phương pháp PCR.

Phản ứng PCR gồm nhiều chu kỳ lăp lại nối tiếp nhau. Mỗi chu kỳ gồm

3 bước như sau :

Bước 1: (Biến tính tách đôi sợi DNA, denaturation) : biến tính ở 940C

trong 4 phút. Sau đó biến tính ở 940C trong 1 phút ( với 35 chu kỳ)

Bước 2: (Bắt cặp, annealing – với 35 chu kỳ) gắn mồi 50 – 600C (tùy

từng mồi), trong 1 phút.

Bước 3: (Kéo dài, elongation – extension) Nhiệt độ được tăng lên 72 0C

giúp cho DNA polymerase hoạt động tốt nhất,

Kết thúc phản ứng ở 720C trong 10 phút. Giữ sản phẩm ở 40C.

* Phương pháp phân tích đa hình đơn nucleotit.

Tách chiết DNA tổng số và phân tích đa hình đơn nucleotide:

máu ngoại vi của các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được sử dụng

để tách DNA tổng số bằng AccuPrep® Genomic DNA Extraction Kit

theo hướng dẫn.

Mồi để nhân phân đoạn nghiên cứu được thiết kế dựa trên trình tự của

gen EMLO1 đã được công bố bằng phần mềm primer 3 để nhân vùng gen

rs741301.

Sau khi kết thúc phản ứng, sản phẩm PCR sẽ được kiểm tra trên gel

agarose 1,5% cùng với thang DNA chuẩn 1kb leader plus có thang chuẩn từ

100 bp đến 1 kb.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

28

Hình 2.1 Marker 1Kb ladder plus

Gel agarose được nhuộm ethidium bromide 15 phút và quan sát dưới tia

UV sau đó tinh sạch sản phẩm PCR để giải trình tự, do kết quả giả trình tự bị

nhiễu nên nhóm nghiên cứu đã chuyển sang phương pháp tách dòng. Để giải

trình tự sản phẩm PCR của gen ELMO1, chúng tôi tiến hành tạo dòng gen

bằng vector pJet1.2/blunt. Các vector tái tổ hợp được biến nạp vào vi khuẩn

E.coli DH5α. Kết quả sau biến nạp được điện di trên gel agarose 1% cùng với

thang DNA chuẩn 1kb leader.

Bảng 2.1. Mồi và vị trí phân tích đa hình trên ELMO1 gen [43]

Mồi Trình tự Vị trí

Xuôi trong 5′ATAGCAATAGATTTTATGAGGTGGTAGT 3’

Ngược trong 5′TCATTAGTGATAACATAACCTCTGGTAG 3′ rs741301

Xuôi ngoài 5′AGTCTTGAGGATGAATGAATTCTAGG 3′

Ngược ngoài 5′TGTCCTAACAATTCGTTCATGATTAATG 3′

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

29

2.4.5. Phương pháp phân tích kết quả nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thống kê thông thường.

Các kết quả sẽ được phân tích bằng các phần mềm chuyên dụng bao

gồm SPSS phiên bản 22.0, HWE và Mann-Whitney.

2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Tất cả các mẫu bệnh phẩm sử dụng trong nghiên cứu đều được sự cho

phép của bệnh nhân trước khi phân tích.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

30

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm của quần thể nghiên cứu

3.1.1. Một số đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trong số 600 bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu, chúng tôi tiến hành

phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, xem tiền sử bệnh án, bằng phương pháp thống

kê chúng tôi có kết quả ở bảng dưới đây.

Bảng 3.1. Một số đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Độ tuổi trung bình Giới Thời gian điều trị Đặc điểm 30-45 46-60 61-75 Nam Nữ <5 năm > 5 năm

Số lượng 167 229 204 336 264 266 334 (người)

27,8 38,2 34,0 56,0 44,0 44,3 55,7 Tỷ lệ (%)

Dựa vào thống kê về các đặc điểm của các nhóm bệnh nhân tham gia

nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng ở độ tuổi từ 30-45 (27,8%) có tỉ lệ mắc

tiểu đường thấp hơn so với hai độ tuổi còn lại. Đặc biệt, số lượng bệnh nhân

có độ tuổi từ 46-60, là nhóm có tỉ lệ mắc tiểu đường cao nhất lên tới 38,2%,

cao hơn so với nhóm có độ tuổi từ 61-75 (34%). Xét về khía cạnh giới tính,

nam giới có tỉ lệ mắc tiểu đường cao hơn nữ giới (chiếm 56%). Trong số

những bệnh nhân mắc tiểu đường đang điều trị tại Trung tâm Y tế huyện

Đồng Hỷ - Thái Nguyên, có 55,7% bệnh nhân có thời gian điều trị bệnh trên 5

năm và 44,3% còn lại có thời gian điều trị bệnh dưới 5 năm.

So sánh với kết quả của tác giả Trần Văn Nhật và cộng sự (2008) về

thực trạng đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở Đà Nẵng, người

Khmer từ 45 tuổi trở lên có tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường là 17,91%; bệnh đái

tháo đường týp 2 ở là 11,91%; Trong đó tỷ lệ bệnh nhân mới phát hiện lần

đầu chiếm 78,6%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

31

3.1.2. Các biến chứng do tiểu đường ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Theo phiếu theo dõi, thống kê của chúng tôi với 600 bệnh nhân nghiên

cứu có rất nhiều bệnh nhân mắc các biến chứng khác nhau nhưng chủ yếu là

bệnh nhân mắc biến chứng thận. Điều đó được thể hiện ở bảng 3.2 dưới đây:

Bảng 3. 2. Các biến chứng do tiểu đường ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Biến chứng Gan Thận Mắt Thần kinh Tim mạch Hoại tử chi

Số lượng 33 164 27 64 55 2 (người)

5,5 27,3 4,5 10,1 9,2 0,3 Tỷ lệ (%)

Trong số những bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tới 56,9% bệnh

nhân có ít nhất một biến chứng liên quan tới gan, thận, mắt, thần kinh, tim

mạch và hoại tử chi. Trong số những biến chứng gặp ở bệnh nhân tiểu đường

điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, bệnh nhân có biến

chứng liên quan tới thận chiếm tỉ lệ cao nhất (27,3%) tiếp đó là biến chứng

thần kinh (10,1%); biến chứng tim mạch (9,2%); biến chứng gan (5,5%); biến

chứng mắt (4,5%) và cuối cùng tỉ lệ của hoại tử chi chiếm ít nhất (0,3%).

So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Minh, Vũ Kim Hải,

Nguyễn Kim Lương năm 2003 về một số biến chứng thường thấy ở bệnh

nhân đái thái đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

bệnh đái tháo đường gây ra nhiều biến chứng mạn tính nguy hiểm. Các biến

chứng này không chỉ để lại nhiều di chứng nặng nề cho người bệnh mà còn là

một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho người bệnh đái tháo

đường, đặc biệt là do đái tháo đường týp 2 thường được phát hiện muộn. Một

số nghiên cứu cho thấy có tới hơn 50% bệnh nhân đái tháo đường týp 2 khi

được phát hiện đã có biến chứng [6], [23], [24]. Biến chứng thận là vấn đề hết

sức nghiêm trọng đối với bệnh nhân đái tháo đường. Theo báo cáo của tổ

chức y tế thế giới năm 2000 thì đái tháo đường chiếm gần một nửa trong số

các nguyên nhân gây suy thận mạn giai đoạn cuối tại Singapore. Sự gia tăng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

32

số lượng bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối do ĐTĐ là một vấn đề có

tính thời sự toàn cầu [64].

Tại Việt Nam, theo thống kê cuả một số tác giả tỉ lệ biến chứng thận

tiết niệu nói chung do ĐTĐ là 30%. Trong số bệnh nhân ĐTĐ týp 1 điều trị

tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên biến chứng thận là 57,14%, týp 2 là

42,85% trong đó 14,2% suy thận giai đoạn cuối [6], [23].

3.1.3. Khả năng mắc các biến chứng khác nhau của bệnh nhân tiểu đường

Những bệnh nhân đang điều trị tiểu đường týp 2 ở Trung tâm Y tế

huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên không chỉ bị 1 biến chứng mà có những bệnh

nhân có tới 2-3 biến chứng. Độ tuổi và tỷ lệ mắc biến chứng của các bệnh

nhân được thể hiện ở bảng 3.3 sau:

Bảng 3.3. Khả năng mắc các biến chứng khác nhau của bệnh nhân tiểu đường

Tiêu chí 1 biến chứng 2 biến chứng 3 biến chứng

30- 46- 61- 30- 46- 61- 30- 46-60 61-75 Tuổi 45 60 75 45 60 75 45

Số lượng 15 59 115 31 44 0 2 0 0 (người)

0 0 7,9 31,2 60,6 41 59 0 100 Tỉ lệ (%)

Các kết quả này gợi ý rằng, các biến chứng tăng dần theo tuổi, cụ thể ở

những bệnh nhân có một biến chứng tỉ lệ có biến chứng ở độ tuổi 30-45, 46-

60, 61-75 lần lượt là 7,9%; 31,2% và 60,6%. Tương tự như các bệnh nhân có

1 biến chứng, tỷ lệ có đồng thời 2 biến chứng ở bệnh nhân có độ tuổi 46-60,

61-75 lần lượt là 41% và 59%. Đặc biệt cả 2 bệnh nhân có đồng thời 3 biến

chứng đều gặp ở bệnh nhân có độ tuổi 61-75 với thời gian điều trị tiểu đường

trên 5 năm.

3.1.4. Các biến chứng đi kèm với biến chứng thận

Trong quần thể nghiên cứu, bên cạnh việc xuất hiện nhiều biến chứng

khác nhau trên cùng một bệnh nhân, nếu tính riêng tần suất gặp biến chứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

33

thận với những biến chứng khác cũng cho kết quả tương đối cao. Số liệu

thống kê về hiện tượng này được trình bày ở bảng 3.4 dưới đây.

Bảng 3.4. Các biến chứng đi kèm với biến chứng thận

Loại biến Thận/thần Thận/tim Thận/hoại Thận/gan Thận/mắt chứng kinh mạch tử chi

Số lượng 17 22 31 32 2 (người)

10,3 13,4 19 19,5 1,2 Tỷ lệ (%)

Kết quả ở bảng 3.4 gợi ý rằng bệnh nhân tiểu đường týp 2 có biến

chứng thận thường gặp và các biến chứng về thần kinh hoặc tim mạch, tiếp đó

là đi cùng với biến chứng mắt, biến chứng gan nhưng ít gặp đi kèm với biến

chứng hoại tử chi.

So sánh với kết quả của Nguyễn Thu Minh, Vũ Kim Hải, Nguyễn Kim

Lương về một số biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh nhân đái tháo

đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy kết quả

nghiên cứu của tác giả cho thấy biến chứng thận và tim mạch cao hơn trong

quần thể nghiên cứu của chúng tôi (cụ thể biến chứng thận là 51,2%, biến

chứng tim mạch là hơn 70%).

Tìm hiểu lý do chúng tôi được biết trong nhóm bệnh nhân nghiên

cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên phần lớn đều là

bệnh nhân nặng, khi chuyển đến bệnh viện đã trong tình trạng suy kiệt do

mắc các biến chứng.

3.1.5. Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường huyết lúc đói, hàm

lượng HbA1c và thời gian điều trị tiểu đường tới biến chứng thận

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy được mối liên quan giữa việc kiểm soát

đường huyết và hàm lượng HbA1c và thời gian điều trị tiểu đường tới biến

chứng thận thể hiện ở bảng 3.5 dưới đây.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

34

Bảng 3.5. Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường huyết lúc đói, hàm

lượng HbA1c và thời gian điều trị tiểu đường tới biến chứng thận

Tỷ lệ Biến chứng Thời Số biến thận Chỉ số Tình trạng gian lượng chứng P (người, mắc (người) thận (%)) (%)

Tốt <5N 82 7 (8,5)

18,8 (4,4-

>5N 197 45 (22,8) 6,1mmol/l)

<5N 107 27(25,2) Chấp Glucose

nhận (6,2- <0,001 máu 27,7 7,0 >5N 102 31 (30,4) (mmol/l)

mmol/l)

<5N 77 30 (39) Kém >7 48,2 mmol/l >5N 35 24 (68,6)

<5N 89 19 (21,3) Tốt 23,4 (<6,5%) >5N 202 49 (24,3)

<5N 141 32 (22,7) Chấp HbA1c <0,05 25% nhận (%) >5N 62 19 (31) (≤7,5%)

<5N 36 17 (47,2) Kém 42,5% (>7,5%) >5N 70 28 (40)

Trong số những bệnh nhân tham gia nghiên cứu, số bệnh nhân có thể

kiểm soát đường huyết và hàm lượng HbA1c ở mức tốt là 18,8% và 23,4%.

Mức chấp nhận được lần lượt là 27,7% và và 25%. Trong khi đó tỉ lệ bệnh

nhân tiểu đường có tình hình kiểm soát đường huyết và hàm lượng HbA1c

kém có tỉ lệ lần lượt là 48,2% và 42,5%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

35

Các sai khác này có ý nghĩa thống kê, nghĩa là nồng độ đường huyết và

HbA1c có ảnh hưởng tới tình trạng biến chứng thận. Thêm vào đó, những

bệnh nhân có thời gian điều trị tiểu đường trên 5 năm thường có xu hướng

tăng cao tỷ lệ bị biến chứng thận, trừ trường hợp có tỷ lệ HbA1c kém có tỷ lệ

biến chứng thận cao hơn ở nhóm điều trị tiểu đường dưới 5 năm.

3.1.6. Mối liên quan giữa thời gian điều trị tiểu đường với tình trạng biến

chứng thận

Những bệnh nhân tiểu đường đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế

huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, chủ yếu bệnh nhân đã phát hiện và điều trị

trên 5 năm chiếm hơn 50%, các bệnh nhân điều trị từ 2-5 năm chiếm một nửa

còn lại; tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường có biến chứng thận lại có tỷ lệ

cao ở nhóm bệnh nhân mới phát hiện và điều trị, kết quả cụ thể trình bày ở

bảng 3.6 thể hiện như sau.

Bảng 3.6. Mối liên quan giữa thời gian điều trị tiểu đường với tình trạng biến

chứng thận

Thời gian điều trị <2 năm 2-3 năm 3-4 năm 4-5 năm >5 năm

Tổng số bệnh 31 108 87 40 334 nhân (người)

Biến chứng thận 12 30 15 9 76 (người)

38,7 22,7 17,2 22,5 22,7 Tỷ lệ (%)

Kết quả trên cho thấy những người mới bắt đầu điều trị tiểu đường có

thời gian điều trị nhỏ hơn 2 năm, có tỷ lệ suy thận cao nhất (38,7%) so với các

giai đoạn từ 2 tới 5 năm, trong đó những bệnh nhân có thời gian điều trị

khoảng 3-4 năm có tỷ lệ biến chứng thận thấp nhất (17,2%), các giai đoạn còn

lại có biến chứng khoảng 22%.

Để tìm hiểu nguyên nhân hiện tượng này chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn

các bệnh nhân một số vấn đề liên quan tới mức độ hiểu biết về tiểu đường, cách

phòng các biến chứng tiểu đường và sự tuân thủ phác đồ điều trị thuốc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

36

Thực tế, chúng tôi tìm được là trong số những bệnh nhân mới được

phát hiện tiểu đường và những bệnh nhân có biến chứng thận hầu hết là người

dân tộc thiểu số của huyện, hầu hết chưa có nhận thức đúng đắn về sự nguy

hại của tiểu đường và sự cần thiết của việc sử dụng thuốc đúng thời gian và

liều lượng. Mặt khác, một số bệnh nhân đến bệnh viện trong tình trạng suy

kiệt kéo dài do tiểu đường không được điều trị, hoặc tự mua thuốc về điều trị

đã biến chứng sang thận.

So sánh với nghiên cứu của Trần Văn Nhật và cộng sự (2008), "Thực trạng

đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở Đà Nẵng", tác giả cũng có câu trả lời

cho rằng người người Khmer có kiến thức chưa đủ, đúng về bệnh đái tháo đường

như về triệu chứng, về các yếu tố nguy cơ gây bệnh về cách phát hiện bệnh, về

hậu quả của bệnh, về các biện pháp phòng bệnh, tỷ lệ thấp người Khmer tuân thủ

điều trị cũng như thực hành đúng biện pháp phòng chống tiểu đường.

3.1.7. Tình trạng suy thận ở bệnh nhân tiểu đường týp 2

Để xác định tỷ lệ suy thận ở những bệnh nhân có biến chứng thận ở

Trung tâm Y tế huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành thu thập

thông tin về chỉ số Creatinin máu, kết quả được thống kê ở bảng 3.7 dưới đây.

Bảng 3.7. Tình trạng suy thận ở bệnh nhân tiểu đường týp 2

Creatinin máu Tình trạng Số người Tỷ lệ (%) (μmol/l)

600 Bệnh nhân nghiên cứu (người)

164 27,3 Biến chứng thận (người)

134 22,33 Suy thận (người)

120-129 89 14,83 Suy thận độ I (người)

130-299 30 5 Suy thận độ II (người)

300-499 7 1,16 Suy thận IIIa (người)

500-899 3 0,5 Suy thận IIIb (người)

>900 5 0,83 Suy thận độ IV (người)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

37

Một điều đặc biệt đáng quan tâm khi tiến hành thống kê những bệnh nhân

tiểu đường có biến chứng thận và dấu hiệu suy thận đang điều trị ở Trung tâm Y

tế huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên đó là tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu suy thận rất

cao, số liệu cụ thể ở bảng 3.7. Dựa trên bảng số liệu này thấy rằng tỷ lệ bệnh

nhân tiểu đường týp 2 bị suy thận chiếm tới 22,33% tổng số bệnh nhân nghiên

cứu trong; đó nhiều nhất là bệnh nhân ở suy thận giai đoạn I là 14,83% và giai

đoạn II là 5%, giai đoạn III là 1,66%, giai đoạn IV chiếm 0,83%.

3.2. Đa hình gen EMLO1 ở quần thể nghiên cứu

3.2.1. Tách DNA từ quần thể nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện thu thập mẫu máu của bệnh nhân sau đó tách chiết

DNA tổng số. DNA tổng số của các bệnh nhân nghiên cứu đã được tách chiết

từ máu ngoại vi và kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 1%. Kết quả điện di

DNA tổng số được minh họa ở hình 3.1 dưới đây.

Hình 3.1. DNA tổng số của quần thể nghiên cứu

ĐC: Nhóm đối chứng, máu từ người hiến không bị tiểu đường và những

biến chứng liên quan tới thận; TĐ: Nhóm bệnh nhân đang điều trị tiểu

đường; TĐT: Nhóm bệnh nhân đang điều trị tiểu đường có biến chứng thận.

3.2.2. Đa hình gen ở quần thể nghiên cứu

DNA tổng số trên đã được sử dụng để nhân gen ELMO1 bằng hai cặp

mồi FI/RI và FO/RO, kết quả PCR bằng 4 cặp mồi được minh họa ở hình 3.2.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

38

Hình 3.2. Đa hình gen EMLO1

DNA tổng số từ quần thể nghiên cứu đã được sử dụng làm khuôn mẫu

để kiểm tra sự đa hình của gen ELMO1. ĐC: Nhóm đối chứng, máu từ người

hiến không bị tiểu đường và những biến chứng liên quan tới thận; TĐ: Nhóm

bệnh nhân đang điều trị tiểu đường; TĐT: Nhóm bệnh nhân đang điều trị tiểu

đường có biến chứng thận.

Dựa vào kết quả thu được ở hình 3.2, chúng tôi nhận thấy rằng ở tất cả

các mẫu nghiên cứu đều có 2 băng với kích thước khác nhau, trong nhóm

bệnh nhân có tiểu đường và nhóm bệnh nhân tiểu đường có biến chứng thận

xuất hiện thêm một băng DNA so với đối chứng. Dựa vào tài liệu tham khảo

[43] chúng tôi dự đoán rằng, nhóm bệnh nhân nghiên cứu không có sự khác

biệt trong alen G ở gen ELMO1 nhưng có sự khác biệt trong alen A. Để làm

rõ điều này chúng tôi đã tiến hành giải trình tự của cả 3 sản phẩm PCR thu

được từ 9 bệnh nhân đại diện cho 3 nhóm nghiên cứu, mỗi nhóm 3 cá thể

khác nhau.

3.2.3. Tạo vector tái tổ hợp mang gen EMLO1

Để giải trình tự sản phẩm PCR của gen ELMO1, chúng tôi tiến hành

tạo dòng gen bằng vector pJet1.2/blunt. Các vector tái tổ hợp được biến nạp

vào vi khuẩn E.coli DH5α. Kết quả kiểm tra plasmid mang gen ELMO1 bằng

PCR được chỉ ra trong hình 3.3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

39

Hình 3.3. Kiểm tra sự có mặt của gen EMLO1 trong vector tái tổ hợp bằng

phương pháp PCR sử dụng khuẩn lạc. ĐC: nhóm đối chứng (máu từ người

hiến không bị tiểu đường và những biến chứng liên quan tới thận); TĐ: nhóm

bệnh nhân đang điều trị tiểu đường; TĐT: nhóm bệnh nhân đang điều trị tiểu

đường có biến chứng thận.

Kết quả thu được ở hình 3.3 cho thấy, đoạn DNA được nhân lên bằng

phản ứng PCR trực tiếp từ khuẩn lạc có kích thước tương đương với kích

thước của đoạn gen EMLO1 trước khi được chèn vào vector nhân dòng. Các

đoạn DNA bên phải tương ứng với alen G với kích thước 187bp, và các đoạn

DNA được khuếch đại bên trái có kích thước khoảng 273bp tương ứng với

alen A.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

1. Trong số 600 mẫu bệnh nhân tiểu đường chúng tôi thu thập được có

kết quả như sau:

- Tỉ lệ mắc tiểu đường ở độ tuổi từ 30-45 tuổi là 27,8%, độ tuổi từ 46-

60 tuổi là 38,2%, độ tuổi từ 61-75 tuổi là 34%., nam giới có tỉ lệ mắc tiểu

đường cao hơn nữ giới (chiếm 56%). Biến chứng thận chiếm tỉ lệ cao nhât:

(27,3%). Nồng độ glucose và HbA1c có ảnh hưởng tới tình trạng biến chứng

thận. Bệnh nhân có thời gian điều trị dưới 2 năm thì tỷ lệ suy thận cao nhất

38,7%; từ 3-4 năm có tỷ lệ biến chứng thận thấp nhất 17,2%.

- Bệnh nhân suy thận chiếm 22,33%; việc kiểm soát glucose máu và

HbA1c càng kém thì tỷ lệ biến chứng thận càng cao.

2. Vùng gen được lựa chọn để phân tích đa hình đơn nucleotide trên

gen ELMO1 là rs741301.

3. Đã tách DNA từ máu ngoại vi của 150 mẫu bệnh nhân thuộc 3 nhóm

nghiên cứu.

4. Kết quả nhân gen ELMO1 thu được 2 băng với kích thước khoảng

187bp và 273bp. Đã tách dòng thành công 2 alen gen A và G của gen

ELMO1.

2. Kiến nghị

1. Hoàn thiện việc tạo dòng sản phẩm PCR thứ 3 ở bệnh nhân đại diện

vào vector để giải trình tự nhằm tìm kiếm sự khác biệt trong gen ELMO1 của

quần thể bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế huyện động

Đồng Hỷ - Thái Nguyên.

2. Tiếp tục tạo dòng và giải trình tự các bệnh nhân còn lại để có số liệu

thống kê về mối liên quan giữa ELMO1 với tiểu đường thận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

41

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Châu Minh Đức, Phạm Thị Mai (2006), “Rối loạn chuyển hoá Lipid và

Lipoprotein máu ở bệnh nhân tiểu đường”, Tạp chí Y học thực hành, (2),

tr.78-81.

2. Đặng Văn Hoà, Nguyễn Kim Lương (2007), "Đánh giá tổn thương mắt ở

bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái

Nguyên", Hội nghị Khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển

hoá lần thứ 3, tr. 888-895.

3. Đào Thị Dừa, Nguyễn Hải Thuỷ (2008), "Nghiên cứu chất lượng sống bệnh

nhân đái tháo đường", Tạp chí Y học thực hành, (616 + 617), tr. 349-357.

4. Hồ Văn Hiệu, Nguyễn Văn Hoàn và cộng sự (2007), "Điều tra tỷ lệ mắc

bệnh đái tháo đường týp 2 và các yếu tố nguy cơ tại Nghệ An", Hội nghị

khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr.

605-616.

5. Hoàng Kim Ước (2007), "Thực trạng bệnh đái tháo đường và rối loạn dung

nạp đường huyết ở các đối tượng có nguy cơ cao tại Thành phố Thái

Nguyên năm 2006", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết

và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 677-693.

6. Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương, (2007), "Nghiên cứu thực trạng bệnh

đái tháo đường týp 2 đang các iều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa

Trung ương Thái Nguyên", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành

nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 900-911.

7. Hoàng Trung Vinh (2008), "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân

đái tháo đường týp 2 trên 60 tuổi", Tạp chí Y học thực hành, (616 +617),

tr. 312-318.

8. Khăm Pheng Phun Ma Keo, Hoàng Trung Vinh (2006), "Đặc điểm lâm

sàng, hoá sinh máu và biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

42

một số bệnh viện Viêng Chăn - Lào", Tạp chí Y học thực hành, (548), tr.

179-184.

9. Khăm Pheng Phun Ma Keo, Hoàng Trung Vinh (2006), "Nghiên cứu tỷ lệ

yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại một số bệnh viện

Viêng Chăn - Lào", Tạp chí Y học thực hành, (548), tr. 173-178.

10. Lê Cảnh Chiến, Đỗ Công Tuyển và cộng sự (2007), “Kết quả điều tra dịch

tễ học bệnh tiểu đường tại thị xã Tuyên Quang”, Hội nghị khoa học toàn

quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 317-319.

11. Lê Minh Sứ (2007), "Thực trạng bệnh đái tháo đường ở Thanh Hoá", Hội

nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3,

tr. 856-864.

12. Lê Thị Tuyết (2015), Kĩ thuật RFLP - Bước đầu nghiên cứu đa hình

nucleotide đơn nucneotit bằng PCR RFLP.

13. Lê Thị Thúy Dung, Nguyễn Ngọc Hải ( 2003) Các kỹ thuật PCR và ứng

dụng.

14. Ngô Quý Châu và các cộng sự (2005), Bệnh đái đường, Bệnh học Nội

khoa, Nhà xuất bản y học, tr. 214-229.

15. Ngô Quý Châu, Nguyễn Lân Việt , Nguyễn Đạt Anh, Phạm Quang Vinh

(2005), Bệnh đái đường - Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản y học, tr. 214-229

16. Ngô Quý Châu, Nguyễn Lân Việt , và các cộng sự (2005), Tiểu đường

thai nghén - Bệnh học Nội khoa, Nhà xuất bản y học, tr. 347-359.

17. Nguyễn Đạt Anh (2003), Các xét nghiệm Hóa sinh trong lâm sàng, Nxb Y

học, tr 174-299.

18. Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Khánh (2006), “Một số chỉ số nhân trắc mới

trong chẩn đoán béo phì ở người lớn”, Tạp chí Y học thực hành, (548), tr.

515-523.

19. Nguyễn Hải Thuỷ, Đào Thị Dừa (2003), "Đặc điểm bệnh lý bàn chân đái

tháo đường nội trú tại Bệnh viện Trung ương Huế", Hội nghị khoa học

toàn quốc lần thứ II, tr. 102-105.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

43

20. Nguyễn Huy Cường (2018), Bệnh nội khoa tập1, Nxb Y học, tr. 338-394.

Nguyễn Quốc Anh , Ngô Quý Châu, Bệnh học nội khoa (2012), Nhà xuất bản

y học, 1, tr. (411-477), (571-604).

21. Nguyễn Quốc Anh, Ngô Quý Châu (2007), Hướng dẫn chẩn đoán và điều

trị bệnh nội khoa. Nhà xuất bản y học – tr. 411-427 ; tr. 583 -601.

22. Nguyễn Thị Nhạn (2006), "Đái tháo đường ở người già", Tạp chí Y học

thực hành, (548), tr. 75-83.

23. Nguyễn Thu Minh, Vũ Kim Hải, Nguyễn Kim Lương (2003), “Nghiên

cứu một số biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường

týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên”, Hội nghị khoa

học toàn quốc lần thứ II, tr. 73-79.

24. Nông Phương Mai (2007), “Tình trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân đái

tháo đường týp 2 điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái

Nguyên”, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết lần thứ 3, tr.

879-887.

25. Phạm Thị Hồng Hoa (2007), "Đái tháo đường một đại dịch cần được quản

lý và kiểm soát chặt chẽ", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội

tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 393-399.

26. Tạ Văn Bình (2006), Dịch tễ học bệnh tiểu đường ở Việt Nam - Các

phương pháp điều trị và biện pháp phòng chống, Nhà xuất bản Y học.

27. Tạ Văn Bình (2007), Những nguyên lý nền tảng tiểu đường - tăng glucose

máu, Nhà xuất bản Y học.

28. Tạ Văn Bình (2017), “Tình hình mắc bệnh tiểu đường trên thế giới và

Việt Nam”, Sức khỏe nội tiết. (1), tr.68-75.

29. Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước, Nguyễn Minh Hùng, Mai Tuấn Hưng và

cộng sự (2007), "Kết quả điều tra tiểu đường và rối loạn đường huyết ở

đối tượng có nguy cơ tại Cao Bằng", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên

ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 825-837.

30. Thái Hồng Quang (2003), Bệnh nội tiết, Nxb Y học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

44

31. Tierney, Mc. Phee, Papadakis (2002), Đái tháo đường - Chẩn đoán và

điều trị Y học hiện đại, Nxb Y học, tr. 733-800.

32. Tô Văn Hải, Ngô Mai Xuân và cộng sự (2006), "Một số yếu tố nguy cơ

gây bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn Hà

Nội", Tạp chí Y học Thực hành, (548), tr. 158-164.

33. Tô Văn Hải, Nguyễn Thị Phúc (2003), " Rối loạn lipid máu ở người bệnh

đái tháo đường", Hội nghị khoa học toàn quốc lần II, tr. 262-266.

34. Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh (2006), "Biến chứng về mắt ở người bệnh

đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà

Nội", Tạp chí Y học thực hành, (548), tr. 166-172.

35. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng (2006), "Nghiên cứu hội chứng

chuyển hoá ở người béo phì với BMI ≥ 23", Tạp chí Y học thực hành,

(548), tr. 412-413.

36. Trần Văn Hiên, Tạ Văn Bình và cộng sự (2007), "Nghiên cứu rối loạn

lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 lần đầu được phát hiện tại

Bệnh viện Nội tiết Trung ương", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên

ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 66-669.

37. Trần Văn Nhật và cộng sự (2008), "Thực trạng đái tháo đường và một số

yếu tố liên quan ở Đà Nẵng", Tạp chí Y học thực hành, (616 + 617), tr.

319-326.

38. Trần Vĩnh Thuỷ (2007), "Hiệu quả điều trị rối loạn chuyển hoá Lipid máu

bằng Mediator ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị tại khoa Nội -

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên", Hội nghị khoa học toàn

quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 871-877.

39. Võ Bảo Dũng (2008), "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và kết quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa

tỉnh Bình Định", Tạp chí Y học thực hành, (616 + 617), tr. 267-273

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

45

Tài liệu tiếng Anh

40. Arandjelovic S., Perry JSA., Lucas CD., Penberthy KK., Kim TH., et al.

(2019),“A noncanonical role forthe engulfment gene ELMO1 in neutrophi

ls that promotes inflammatoryarthritis”. Nationa Institutes of

helth. 20(2): pp.141-151.

41. Belkina AC., Denis GV., (2010) “Obesity genes and insulin

resistance. Curr Opin Endocrinol Diabetes” Obes. 17(5): pp. 472–477.

42. Blazejczyk M., Macias M., Korostynski M., Firkowska M., Piechota

M., Skalecka A., Tempes A., Koscielny A., Urbanska M., Przewlocki

R., Jaworski J., (2017), “Kainic Acid Induces mTORC1-Dependent

Expression of Elmo1 in Hippocampal Neurons”. Mol Neurobiol. 54(4):

pp.2562-2578

43. Cullmann M., Hilding A., Östenson CG. (2012), “Alcohol consumption

and risk of pre-diabetes and type 2 diabetes development in a Swedish

population Diabet”, Med. 29(4): pp. 441–452.

44. Das S., Sarkar A., Choudhury SS., Owen KA., Castillo V., Fox S.,

Eckmann L., Elliott MR., Casanova JE., Ernst PB., (2015), "ELMO1 has

an essential role in the internalization of Typhimurium into enteric

macrophages that impacts disease outcome.", Cellular and molecular

gastroenterology and hepatology.. 1(3): pp. 311-324.

45. Das S., Sarkar A., Choudhury SS., Owen KA., Castillo V., Fox

S., Eckmann L., Elliott MR., Casanova JE., Ernst PB., (2015),

“ELMO1 has an essential role in the internalization

of Salmonella Typhimurium into enteric macrophages that impacts disease

outcome”, Cell Mol Gastroenterol Hepatol. 1(3): pp.311-324.

46. Eforter Daniel W. (2016), "Diabetes mellitus", Harrison's principles of

internal medicin International edition, Vol. 2, pp. 1739-1759.

47. Elsayed S., Zhang K. (2004), “Bacteremia caused by Clostridium

symbiosum”, J Clin Microbiol., 42(9): pp.4390–4392.

48. Goli F., Karimi J., Khodadadi I. (2016), “Silymarin Attenuates ELMO-1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

46

and KIM-1 Expression and Oxidative Stress in the Kidney of Rats with

Type 2 Diabetes”, Indian Journal of Clinical Biochemistry. 113(8): pp.

2218–2282.

49. Gong P., Chen S., Zhang L., Hu Y., Zhang J., Wang Y., (2018 Dec),

“RhoG-ELMO1-RAC1 is involved in phagocytosis suppressed by mono-

butyl phthalate in TM cells”, Environ Sci Pollut Res Int. 25(35):

pp.35440-35450

50. Grimsley CM., Kinchen JM., Tosello-Trampont AC., Brugnera E., Haney

LB., Lu M., Chen Q., Klingele D., Hengartner MO., Ravichandran

KS., (2004 Feb), “Dock180 and ELMO1 proteins cooperate to promote

evolutionarily conserved Rac-dependent cell migration”, J Biol Chem .

279(7): pp.6087-6097

51. Hu FB., Manson JE., Stampfer MJ., (2001) “Lifestyle, and the risk of type

2 diabetes mellitus in women”. N Engl J Med. 345(11), pp.790–797.

52. Iwamoto J., Takeda T., Sato Y.. (2004) “Effects of vitamin K2 on

osteoporosis”. Curr Pharm Des. 10, pp. 2557–2576.

53. Jamal S., Alwakeel., a Arthur C., Isnani (2011)., “Factors affecting the

progression of diabetic nephropathy and its complications”. A single-

center experience in Saudi Arabi. 31(3): pp. 236–242.

54. Kobberling JTH., (2017), “Emperical risk figures of first degree relatives

of non-insulin dependent diabetes”. London Academic Press. 17(2): pp.

186–201.

55. Langergren, (1998) “Reading bit of genetic information method for single

nucleotide plolymorphism analysis”.

56. Li H., Wang Y., Lu Y., Li F., (2019) “Annexin interacting with ELMO1

regulates HCC chemotaxis and metastasis”. Nationa Institutes of helth.

1(222): pp. 168-174

57. Li H., Yang L., Fu H., Yan J., Wang Y., Guo H., Hao X., Xu X., Jin

T., Zhang N., (2013), “Association between Gαi2 and ELMO1/Dock180

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

47

connects chemokine signalling with Rac activation and metastasis”. Nat

Commun. 4: pp.1706

58. Li W., Tam KMV., Chan WWR., Koon AC., Ngo JCK., Chan HYE., Lau

KF., (2018), “euronal adaptor FE65 stimulates Rac1-mediated neurite

outgrowth by recruiting and activating ELMO1”. J Biol Chem. 293(20):

pp.7674-7688

59. Liang Y., Wang S., Zhang Y., (2018), “Downregulation of Dock1

and Elmo1 suppresses the migration and invasion of triple-negative breast

cancer epithelial cells through the RhoA/Rac1 pathway”. Oncol Lett.

16(3): pp.3481-3488

60. Liu S., Manson JE., Stampfer MJ., Hu FB., (2000), “A prospective study

of whole-grain intake and risk of type 2 diabetes mellitus in US

women”. Am J Public Healt. 90(9): pp.1409 –1415.

61. Manson JE., Ajani UA., Liu S., et al., (2000), “A prospective study of

cigarette smoking and the incidence of diabetes mellitus among US male

physicians”. Am J Med. 109: pp.538–542.

62. Mehrabzadeh., M., Pasalar P., (2016). “Association between ELMO1 gene

polymorphisms and diabetic nephropathy in an Iranian population. Journal of

diabetes and metabolic disorders”. Am J Med. 17: pp.311–342.

63. Mitri J., Dawson-Hughes B., Hu FB. et al., (2011), “Effects of vitamin D

and calcium supplementation on pancreatic β cell function, insulin

sensitivity, and glycemia in adults at high risk of diabetes: the calcium and

vitamin D for diabetes mellitus (CaDDM) randomized controlled

trial”. Am J Clin Nutr. 94(2): pp. 486–494.

64. Musambil M, Siddiqui K., (2019), “Genetics and genomics studies in type

2 diabetes: A brief revie of the current scenario in the Arab region”.

Actions for selected articles, 3, pp. 895-1684.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

48

65. Musso G., Gambino R., Cassader M., (2011), “Interactions between gut

microbiota and host metabolism predisposing to obesity and

diabetes”. Annu Rev Med. 62: pp. 361–380,

66. Nguyen Tu Dang Le, Luyen Dinh Pham, Trung Quang Vo. (2006), “Type

2 diabetes in Vietnam: a cross-sectional, prevalence-based cost-of-illness

study Genetics of obesity and the prediction of risk for health”. Hum Mol

Genet. 15(Spec No 2): pp. 24 - 130.

67. Nikooyeh B., Neyestani TR., Farvid M. (2011), “Daily consumption of

vitamin D- or vitamin D + calcium- fortified yogurt drink improved

glycemic control in patients with type 2 diabetes: a randomized clinical

trial”. Am J Clin Nutr. 93(4): pp. 764–771.

68. Pilvikki Absetz, Brian Oldenburg, (2009), "Type 2 Diabetes Prevention in

the Real World, Three - year results of the GOAL lifestyle Implemention

Trial", American Diabetes Association. 6: pp. 668–673.

69. Ramachandran A. et al., (2014), “Know the signs and symptoms of

diabetes”. Indian J Med Res. 140(5): pp. 579–581.

70. Shu Ye, Sahar Dhillon, Xiayi Ke, Andrew R., (2018), “An eficient

procedure for genotyping single nucneotitde polymorphisms”. Collins and

lan N.M.Day. 10(5): pp. 529–672.

71. Stevenson C., de la Rosa G., Anderson CS., Murphy PS., Capece T., Kim

M., Elliott MR., (2014 Jun 15), "Essential role of Elmo1 in Dock2-

dependent lymphocyte migration." , The Journal of immunology : official

journal of the American Association of Immunologists, 192(12): pp.6062-70.

72. Tabb MM., Sun A., Zhou C., (2003) “Vitamin K2 regulation of bone

homeostasis is mediated by the steroid and xenobiotic receptor” SXR. J

Biol Chem. 278(45): pp. 43919–43927.

73. Turki A., Mzoughi S., Mtitaoui N., Khairallah M., Marmouch

H., Hammami S., Mahjoub T., Almawi WY., (2018 Mar), “Gender

differences in the association of ELMO1 genetic variants with type 2

diabetes in Tunisian Arabs”. J Endocrinol Invest. 41(3): pp.285-291.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

49

74. Volume K., Issue I., (April 2019), “Silymarin Attenuates ELMO-1 and

KIM-1 Expression and Oxidative Stress in the Kidney of Rats with Type 2

Diabetes”, SXR. J Biol Chem : pp. 172–179.

75. Wang Y., Xu X., Pan M., Jin T., (2016 May), “ELMO1 Directly Interacts

with Gβγ Subunit to Transduce GPCR Signaling to Rac1 Activation in

Chemotaxis”. J Cancer. 7(8): pp.973

76. Woo PC., Lau SK., Woo GK., (2004), “Bacteremia due to Clostridium

hathewayi in a patient with acute appendicitis”. JClin Microbiol. 42(12):

pp. 5947–5949.

77. Wu HY., Wang Y., Chen M., Zhang X., Wang D., Pan Y., Li L., Liu

D., Dai XM., (2013 May), “Association of ELMO1 gene polymorphisms

with diabetic nephropathy in Chinese population”. J Endocrinol Invest.

36(5): pp.298-302.

78. Wu Y., Ding Y., Tanaka Y., Zhang W., (2014), “Risk factors contributing

to type 2 diabetes and recent advances in the treatment and

prevention”. Int J Med Sci. 11(11), pp. 1185–1200.

79. Yadav AK., Kumar V., Dutta P., Bhansali A., Jha V., (2014 Nov),

“Variations in CCR5, but not HFE, ELMO1, or SLC12A3, are associated

with susceptibility to kidney disease in north Indian individuals with type

2 diabetes ”. J Diabetes. 6(6): pp. 547-555.

80. Yoshida M., Booth SL., Meigs JB. (2008), “Phylloquinone intake, insulin

sensitivity, and glycemic status in men and women”. Am J Clin Nutr. 88:

pp. 210–215.

81. Zimmet P., Alberti KG., Shaw J., (2001), “Global and societal

implications of the diabetes epidemic”. Nature. 414(6865): pp.782–787.

82. Petersen BT., Majumder S., (2000), “Methylated DNA in Pancreatic Juice

Distinguishes Patients With Pancreatic Cancer From Controls”. Am J

Med. 109: pp. 538–542.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

50

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Cao Đức Hoàng Anh, Nguyễn Thị Kim Cúc, Bùi Thị Thu Hương (2019)

"Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tới tình trạng biến chứng thận của

bệnh nhân tiểu đường đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Đồng Hỷ,

Thái Nguyên", Đại học y dược Huế, số 5 tập 9.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

51

PHỤ LỤC

BIẾN CHỨNG

XÉT NGHIỆM

TUỔI

HỌ TÊN

ĐỊA CHỈ

ĐIỆN THOẠI

NGẦY MẮC BệNH

MẮT

THẬN

KHÁC

HbA1c

TIM MẠCH

THẦN KINH

GLUC OSE

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH THÔNG TIN BỆNH NHÂN

STT

HỌ TÊN

ĐỊA CHỈ

SỐ ĐIỆN THOẠI

CHỮ KÍ

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH BỆNH NHÂN ĐỒNG Ý LÀM THÍ NGHIỆM EMLO1

PHỤ LỤC 3: DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN VĂN

1. Cao Đức Hoàng Anh (2019) "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tới

tình trạng biến chứng thận của bệnh nhân tiểu đường đang điều trị ngoại trú

tại Trung tâm Y tế Đồng Hỷ, Thái Nguyên", Đại học y dược Huế, số 5 tập 9.

PHỤ LỤC 4: ĐƠN XIN LẤY MẪU VÀ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn