Luận văn
NGHIÊN CU TRIẾT HỌC: " TO
SỰ HÀI HÒA VLỢI ÍCH GIỮA
CÔNG NHÂN VÀ DOANH NHÂN
VIỆT NAM HIỆN NAY "
TẠO SỰ HÀI HÒA VỀ LỢI ÍCH GIỮA CÔNG NHÂN VÀ DOANH NHÂN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
VŨ TIẾN DŨNG (*)
Bài viết đề cập đến một vấn đề mang tính thời sự và đang là mối quan tâm
của người lao động vấn đề xử lý mối quan hệ lợi ích giữa công nhân và
doanh nhân Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, vấn đề này đang được giải
quyết theo hướng tích cực. Bài viết cũng luận chứng một số giải pháp cần
thiết nhằm góp phần cải thiện và tạo ra sự hài hoà trong quan hệ lợi ích giữa
công nhân và doanh nhân.
Hiện nay, ở nước ta, lực lượng sản xuất còn ở trình độ phát triển chưa cao và
không đồng đều giữa các ngành, vùng, thậm chí giữa các đơn vị trong cùng
một ngành hay một vùng; theo đó, quan hệ sản xuất của nước ta cũng được
cấu trúc phức tạp, tồn tại nhiều thành phần kinh tế cũng như hình thức sở hữu.
Mỗi thành phần kinh tế đều được xác định trên sở hình thức sở hữu chi
phối và do một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đại diện cho nó. Sự phát triển
của kinh tế nhiều thành phần tất yếu dẫn tới sự phân tầng xã hội hay phân hóa
giai cấp. Khi đã có sự phân hóa giai tầng thì tất yếu, sẽ tồn tại cả sự thống
nhất lẫn mâu thuẫn giai cấp. Tiêu biểu cho mối quan hệ vừa thống nhất, vừa
mâu thuẫn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
là quan hệ giữa giai cấp công nhân và tầng lớp doanh nhân ở nước ta hiện
nay. Đây cũng là vấn đề phức tạp, đang được tranh luận khá sôi nổi ở một số
diễn đàn khoa học trong nước. Có quan điểm đã cho rằng, việc chuyển sang
nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư bản
tư nhân cũng như kinh tế tư bản nhà nước, tất yếu sẽ dẫn tới việc khôi phục
tình trạng bóc lột người lao động trong xã hội ta. Cần hiểu thực chất vấn đề
này như thế nào?
Việt Nam đang phát triển "theo hướng chủ nghĩa xã hội" (li Chủ tịch Hồ C
Minh), vì lđó, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định, chúng ta không đi theo
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa; mặt kc, nước ta chưa phải là một
nước đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội - chế độ xã hội mà hiện tượng người
bóc lột người về cơ bản được xóa bỏ. Trong bối cảnh đó, tất yếu tồn tại hiện
tượng thuê lao động và lao động làm thuê (hiện tượng mua bán sức lao động).
Đây là một trong những cơ sở dẫn đến sự bóc lột sức lao động. Tuy nhiên,
nếu khẳng định rằng, tất cả những người làm kinh tế tư bản tư nhân là người
bóc lột sức lao động, hay doanh nhân là những người bóc lột sức lao động của
công nhân, thì chưa hoàn toàn chính xác.
C.Mác đã nhận xét, về nguyên tắc, "mỗi nời sản xuất phải nhận được đầy
đủ giá trị lao động của sản phẩm của mình"(1), nhưng "nơi nào mà một bộ
phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao
động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần
thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản
xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất"(2).
Ph.Ăngghen bổ sung thêm rằng, "dù dưới bất kỳ chế độ xã hội nào có th
hình dung được thì người công nhân cũng không thể nhận được giá trị đầy đủ
giá trị sản phẩm của mình để tiêu dùng". Bi vì, xã hội nào muốn tồn tại và
phát triển cũng cần phải "thiết lập quỹ vốn dự trữ xã hội và quỹ tích lũy, và vì
vậy lúc đó người công nhân này, nghĩa là mi thành viên của xã hội, sẽ - thật
vậy - chiếm hữu và sử dụng tất cả sản phẩm của mình, nhưng mỗi người riêng
lẻ sẽ không sử dụng "toàn bộ số thu nhập lao động" của mình"(3).
Chúng ta cũng cần phải thừa nhận rằng, một trong những mục đích cốt lõi của
hoạt động sản xuất kinh doanh là lãi suất (lợi nhuận) - đó cũng là cơ sở cho sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp cũng như doanh nhân trong mọi
nền kinh tế hoạt động theo chế thị trường. Mặt khác, doanh nhân còn là
những người đầu tư tiền của, công sức, trí tuệ của mình vào quá trình sản xuất
kinh doanh. Mặc dù hchỉ là lực lượng gián tiếp tạo ra sản phẩm, nhưng việc
khấu hao tài sản cố định cũng như sự sinh lời (lợi nhuận đương nhiên) của số
tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh ban đầu (nếu như doanh nhân không đầu
tư vào sản xuất kinh doanh mà mang tiền đi gửi tiết kiệm), là một trong
những căn nguyên dẫn đến việc họ phải khấu trừ một phần giá trị thặng dư
hay giá trị sản phẩm do công nhân sản xuất ra để đắp (tạo lợi nhuận đương
nhiên). Ở đây, chúng ta còn chưa tính đến công sức trí tuệ mà doanh nhân b
ra trong suốt quá trình tạo ra sản phẩm. Bên cnh đó, việc trích lại một phần
giá trị thặng dư còn nhằm mục đích tái sản xuất và điều này, xét cho cùng,
cũng là cơ sở để duy trì việc làm – nguồn tạo thu nhập cho người lao động.
Rõ ràng, công nhân không thtạo ra giá trị thặng dư nếu trong quá trình lao
động sản xuất thiếu sự tác động (quản lý, lãnh đạo) của doanh nhân.
Như vậy, đứng ở góc độ xem xét này, chúng tathể chấp nhận hiện tượng
doanh nhân khấu trừ một phần giá trị thặng dư do người công nhân sản xuất
ra mức độ hợp lý (nếu việc khấu trừ đó nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích
không chỉ của bản thân doanh nhân, mà còn phục vụ cho lợi ích của xã hội).
Điều đó có nghĩa là, tuy còn tồn tại hiện tượng bóc lột sức lao động trong cơ
sở sản xuất kinh doanh ở một mức độ nhất định khiến người lao động chưa tỏ
ra "bức xúc", song hiệu quả của việc "khấu trừ" đó lại được chuyển vào
những hoạt động vì cộng đồng xã hội. Ở đây, xét cho cùng, doanh nhân là đối
tượng trung gian đưa một phần hiệu quả lao động sản xuất kinh doanh của
người lao động vào việc phục vụ xã hội.
Trong thời gian gần đây, để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh", nhiều doanh nhân đã và đang phải "lao
tâm khổ tứ" góp tâm huyết, trí tuệ giải quyết những vấn đề bức thiết của quốc
gia: tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, xóa bỏ các hủ tục cũng
như tệ nạn xã hội, giới thiệu và quảnghình ảnh của Việt Nam ra cộng
đồng quốc tế... Những tấm gương doanh nhân "Tâm - Tài", "Nhà qun lý
giỏi", "Doanh nhân tiêu biểu"... cùng những tấm bằng khen của Đảng, Nhà
nước, các hiệp hội, tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước, đặc biệt là s
xuất hiện một bộ phận không nhỏ doanh nhân chủ động đứng ra đảm nhiệm
một số công việc đáng khích lệ trong xã hội, như phụng dưỡng các bà m
Việt Nam anh hùng, nuôi dạy những trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa, phát triển những biện pháp nhằm cải thiện môi trường, ủng hộ,
góp phần xây dựng các Hội người cao tuổi, tu bổ các trường học, lập các quỹ
khuyến học,… đã khẳng định vị trí, vai trò to ln của đội ngũ doanh nhân
trong xã hội ta nói chung, trong mối quan hệ với người lao động nói riêng.
Những danh hiệu cao quý trên sẽ không đến tay những nhà doanh nghiệp đã
và đang có những hành vi hay biểu hiện tiêu cực trong mối quan hệ với người
lao động (như bóc lột sức lao động, ngược đãi người lao động hoặc không
quan tâm và giải quyết những nhu cầu chính đáng của người lao động...).
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, sự hài hoà trong mối quan hệ
công nhân - doanh nhân đang được thiết lập và từng bước đi vào ổn định.
Mặc dù đâu đây còn tồn tại một số bất đồng trong quan hệ lợi ích kinh tế của
hai đối tượng này, nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là một trong những vấn đề tồn
tại tất yếu của bất kỳ nền kinh tế nào đang trong giai đoạn xây dựng và phát
triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phn với bộ máy quản lý hành chính
nhà nước chưa hoàn thiện.
Nhằm góp phần vào vic cải thiện, tạo sự hài hoà trong quan hệ lợi ích giữa hai
tầng lớp xã hội - doanh nhân công nhân, cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện môi trường sản xuất kinh doanh
cũng như tạo thêm nhiều chính sách thuận lợi và ưu đãi nhằm kích thích sự
đầu tư của các doanh nhân, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, giúp họ