NGỘ ĐỘC ALCOOLS : ETHYLENE GLYCOL,
METHANOL VÀ ISOPROPYL ALCOHOL
1/ TẠI SAO HIỂU BIẾT CHUYỂN HÓA CỦA METHANOL LÀ QUAN
TRNG ?
Các sn phẩm chuyển hóa là các độc chất và tùy thuộc vào ADH để biến đổi
chúng từ methanol. Ethanol làm bảo hòa ADH và làm gim rất nhiều lượng độc
chất. Folate là mt đồng yếu tố (cofactor) trong quá trình thoái hóa formic acid,
ở khỉ (và những primates khác), cho folates bổ sung làm tối đa hóa sự
chuyểna và làm gim thương tổn. Sự hiểu biết hướng dẫn điều trị.
Resized to 85% (was 534 x 58) - Click image to
enlarge
2/ HIỂU BIẾT CHUYỂN HÓA CỦA ETHYLENE GLYCOL TẠI SAO
QUAN TRỌNG ?
Cũng như đối với methanol, ethanol làm bảo hòa ADH, ức chế sự biến đổi
ethylene glycol thành những chất chuyển hóa có hại. Pyridoxine (vitamin B6)
và thiamine là những đồng yếu tố (cofactor) trong những giai đoạn cuối để tạo
thành những sản phẩm tận cùng (end products) không có hại và nên được cho
để đảm bảo sự chuyểna tối đa. Các tinh thể oxalate có thể không xuất hiện
cho đến giai đoạn muộn của tiến triển ngộ độc.
3/ TẠI SAO NHỮNG TRIỆU CHỨNG NGỘ ĐỘC ETHYLENE
GLYCOL VÀ METHANOL THƯỜNG BỊ TRÌ HOÃN ?
Bởi vì độc tính ca methanol và ethylene glycol là kết quả ca các sản phẩm
chuyểna gây đc (toxic metabolite), nên có thể cần 6 đến 12 giờ đ cho
nhữngợng đầy đủ các sản phm chuyểna độc này xut hiện và gây nên
các triệu chứng. Sự trì hoãn khởi phát các triệu chứng là lớn hơn nếu ngộ độc
ethanol xy ra đồng thời bởi vì ethanol ngăn cản sự chuyển hóa của methanol.
4/ NG ĐỘC METHANOL VÀ ETHYLENE GLYCOL TƯƠNG TỰ
NHAU NHƯ THẾ NÀO ?
Methanol và ethylene glycol khi đầu được chuyểna bởi ADH. Methanol
được tiếp tc chuyển hóa thành formic acid, và ethylene glycol đưc chuyển
hóa thành glycolic acid, glyoxylic acid, oxalate, và vài chất chuyển hóa không
gây đc. Do những sản phẩm cuối (end products) này, cả hai chất độc
(methanol và ethylene glycol) đưa đến nhiễm toan chuyểna với một anion
gap. Do trọng lượng phân tử thấp, cả hai làm gia tăng osmolar gap.
Resized to 97% (was 468 x 346) - Click image to
enlarge
5/ ANION GAP GÌ ?
Anion gap bình thường là hiệu số giữa các anion không được đo (ví dụ các loại
protéine khác nhau, các axit hữu cơ, phosphates) và những cation không được
đo (ví dụ potassium, calcium, và magnesium).
Anion gap có thể được tính theo công thức sau đây : Anion gap (AG) = (Na+)
– (HCO-3 + Cl-)
Một anion gap bình thường ba lần nồng độ albumin trong huyết thanh hay
khoảng 10-12 nơi một bệnh nhân với nồng độ albumin bình thường.
6/ NGUYÊN NHÂN LÀM GIA TĂNG ANION GAP ?
Khi toan chuyển hóa (metabolic acidosis) do s hấp thụ vào hay sgia tăng của
các axit không bay hơi, có sự gia tăng các ion H với các điện tích dương. Bởi vì
s gia tăng các anion điện tích âm không được đo và không có sgia tăng
clo, nên hiu số giữa các cation và anion không được đo gia ng, gây nên
anion gap gia tăng. Anion gap bình thường khoảng 6-10 mEq/L. Ngun nhân
của gia tăng anion gap có thđược nhớ bằng A MUD PILES.
A = Alcohol
M = Methano
U = Uremia
D = Diabetic acidosis
P = Paraldehyde
I = Iron, Isoniazid (INH)
L = Lactate
E = Ethylene glycol
S = Salicylate
7/ OSMOLAL GAP (TROU OSMOLAIRE) LÀ GÌ ?
Những nguyên tvà phân tử nhỏ trong dung dịch có hoạt nh vmặt thẩm
thấu, và hoạt tính này thể được đo bằng một hạ điểm đông lạnh hay một tầng
cao điểm sôi của dung dịch. Nếu có một sự gia tăng các phân tử trọng lượng
phân t thấp, như acetone, ethanol, mannitol, isopropyl alcohol, hay ethylene
glycol, thì osmolality gia tăng hơn trị số được tính từ những phân tử thông
thường trong huyết thanh. Dị biệt giữa osmolality đưc đo thật sự và
osmolality được tính là osmolal gap, và một gap lớn hơn 10mOsm được xem là
bất thường.
8/ OSMOLAR GAP BÌNH THƯỜNG LÀ BAO NHIÊU ?
10mOsm
Osmolar gap (trou osmolaire) tương ứng với hiệu số giữa osmolarité được đo
và osmolarité được tính. Bình thường nó không vượt qvài mOsm. Sự gia
tăng của osmolar gap thể hiện sự hiện diện của một chất khác, thường là mt
chất độc (trước hết hay nghĩ đến alcool) hay mannitol.
9/ OSMOLAL GAP ĐƯỢC TÍNH NHƯ THẾ NÀO ?
Osmolal gap là hiệu s giữa osmolality đưc đo và được tính.
2 x Na (mEq/L) + glucose (mg/dL)/18 + BUN (mg/dL) /2,8 +
ethanol(mg/dL)/4,3.
Việc đưa vào nồng độ ethanol loại bỏ những bệnh nhân có mt osmolal gap
tăng cao đo uống ethanol đơn độc.
Sử dụng các đơn vị Hệ thông quốc tế (SI : International System), calculated
osmolarity = 2 x (mEq/L) + glucose (mmol/L) + BUN (mmol/L) = ethanol
(mmol/L). Osmolatity được tính là 285 +/[*] 5 mOsm/L.
Một osmolal gap bình thường khoảng 10, với một gap bình thường cao hơn cho
biết có nhiều osmoles (được đo) hơn dự kiến (được tính).
Nếu c anion gap lẫn osmolal gap đều tăng cao, hãy xét đến ngộ độc alcohol,
methanol hay ethylene glycol. Nếu có osmolal gap nhưng không có bất thường
anion gap, hãy xét đến ngộ độc isopropyl alcohol.
10/ METHANOL VÀ ETHYLENE GLYCOL ĐỘC NHƯ THẾ NÀO ?
Tử vong đã được ghi nhận sau khi uống 15-30 mL (1-2 muỗng xúp) methanol.
Tuy nhiên, những ngưi khác đã sốngt sau khi uống những lượng lớn hơn.
Một liều tối thiểu gây chết người đi với ethylene glycol là khong 1 đến 2
mL/kg.
11/ LIỆT KÊ NHNG TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU CỦA NGỘ ĐỘC
METHANOL.
Độc tính dạ dày ruột.
o Nôn
o Mửa
o Đau bụng
Độc tính hệ thần kinh trung ương.
o Đau đu
o Mức độ tri giác bị giảm