intTypePromotion=1
ADSENSE

Nhân giống dòng bạch đàn lai UE35 và UE56 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

31
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu nhân giống dòng Bạch đàn lai UE35 và UE56 (Eucalyptus Urophylla và E. exserta) bao gồm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khử trùng HgCL2 và Ca(OCL)2 thấy rằng với HgCl2 nồng độ 0,1% trong 10 phút có kết quả tốt nhất ở cả hai dòng. Kết quả khử trùng đạt được là cao nhất có mẫu sống UE35:12,53- 15,76 và UE56:13,10-16,05.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhân giống dòng bạch đàn lai UE35 và UE56 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Đặng Ngọc Hùng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 108(08): 47 - 55<br /> <br /> NHÂN GIỐNG DÒNG BẠCH ĐÀN LAI UE35 VÀ UE56<br /> BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO<br /> Đặng Ngọc Hùng1*, Lê Đình Khả2<br /> 1<br /> <br /> Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên<br /> 2<br /> Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu nhân giống dòng Bạch đàn lai UE35 và UE56 (Eucalyptus Urophylla và E. exserta)<br /> bao gồm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khử trùng HgCL2 và Ca(OCL)2 thấy rằng với<br /> HgCl2 nồng độ 0,1% trong 10 phút có kết quả tốt nhất ở cả hai dòng. Kết quả khử trùng đạt được<br /> là cao nhất có mẫu sống UE35:12,53- 15,76 và UE56:13,10-16,05. Môi trường thí nghiệm nhân<br /> chồi nách cây Bạch đàn là: Litvay; WPM; MS*; MS; WV3 kết quả là môi trường MS* là môi<br /> trường có số chồi sống và hệ số nảy chồi tốt nhất so 4 loại môi trường còn lại với các chỉ tiêu lần<br /> lượt dòng UE35 là 213 chồi, HSNC 1,18 và UE56 là 211 chồi; HSNC 1,17 lần. Chất kích thích<br /> sinh trưởng được bổ sung là BAP; NAA; IAA; Kinetin. Kết quả thấy rằng BAP+ NAA+Kinetin có<br /> tác dụng nhân nhanh chồi tốt hơn sử dụng riêng BAP hay Kinetin là: BAP 2.0mg/l+ NAA 1.0 +<br /> Kinetine 0,5mg/l UE35; 1,0 mg/l UE56, bổ sung Kinetin nồng độ 0,5 và 1,0 mg/l chồi sinh trưởng<br /> tốt, lá có mầu xanh non. Ra rễ thích hợp cho UE35 và UE56 là sự kết hợp IBA 2,0 mg/l + ABT1<br /> 0,5 ng/l dòng UE35 (tỷ lệ chồi ra rễ đạt 82,2%; số rễ trung bình 2,58; chiều dài trung bình của rễ là<br /> 1,29; dòng UE56 tỷ lệ chồi ra rễ đạt 81,7%, số rễ trung bình là 2,59 rễ/cây, chiều dài trung bình<br /> của rễ là 1,16, đầu rễ trắng, mập và đều.<br /> Từ khóa: Bạch đàn, nhân giống, nuôi cấy mô tế bào, nảy chồi, B5, chất kích thích nhân nhanh,<br /> chất kích thích ra rễ, dòng UE35 và UE56<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Ứng dụng của công nghệ tế bào trong nhân<br /> giống cây rừng ngày càng rộng rãi. Nuôi cấy<br /> mô tế bào thực vật đang được coi là giải pháp<br /> khoa học có hiệu quả trong nhân giống cây<br /> rừng. Bằng kỹ thuật nhân giống vô tính, ngoài<br /> việc tạo ra số lượng lớn cây trồng có năng<br /> suất cao, chất lượng tốt mà vẫn giữ được<br /> những đặc tính di truyền quý hiếm, đáp ứng<br /> tốt nhu cầu phát triển và sử dụng hiệu quả<br /> nguồn tài nguyên đất rừng.<br /> Trong những năm gần đây Trung tâm nghiên<br /> cứu giống cây rừng thuộc Viện nghiên cứu<br /> lâm nghiệp Việt Nam đã tạo ra hàng loạt tổ<br /> hợp lai giữa các loài Bạch đàn urô<br /> (Eucalyptus urophylla), Bạch đàn caman (E.<br /> camaldulensis) và Bạch đàn liễu (E. exserta).<br /> Khảo nghiệm tại một số lập địa đã thấy nhiều<br /> tổ hợp lai có sinh trưởng nhanh gấp 1,5 – 2<br /> lần, thậm chí một số tổ hợp lai có thể gấp 3-4<br /> giống bố mẹ lần [3]. Năm 2001 Bộ<br /> NN&PTNT đã có quyết định số 4356 (ngày<br /> *<br /> <br /> Tel: 0973-555-249; Email: hungtuaf@gmail.com<br /> <br /> 19/9) công nhận 31 cây trội thuộc 8 tổ hợp<br /> lai U29E1, U29E2, U29C3, U29C4, U29U4,<br /> U29U26 , U15C4, U30E5 [3,4]. Qua khảo nghiệm<br /> một số năm đã thấy các tổ hợp trên đều có<br /> một số dòng có năng suất cao như tổ hợp lai<br /> U29E2 và U29E4. Dòng UE35 là giống được<br /> nhân từ cây trội số 101 và được công nhận<br /> giống của U29E2, là dòng có sinh trưởng<br /> trung bình khá tại Tam Thanh (Phú Thọ).<br /> Dòng UE56 là giống được nhân từ cây trội số<br /> 27 của dòng U29E4 song chưa được đưa vào<br /> khảo nghiệm [6].<br /> Nhân giống bằng nuôi cấy mô cho các dòng<br /> cây lai này là một trong những khâu quan<br /> trọng để tạo đủ giống có số lượng đủ lớn cho<br /> các khảo nghiệm trên hiện trường, tuy nhiên<br /> các giống mới này chưa hoặc mới đang trong<br /> quá trình đưa vào sản xuất. Để rút ngắn thời<br /> gian ứng dụng kết quả chọn giống, nhanh<br /> chóng đưa các giống mới có năng suất cao<br /> vào trồng rừng sản xuất, việc nghiên cứu công<br /> nghệ nhân nhanh một số giống Bạch đàn có<br /> năng suất cao đảm bảo tính khoa học, hiện đại<br /> và đáp ứng được mục tiêu trồng rừng sản xuất<br /> trên diện rộng lá hết sức cần thiết.<br /> 47<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Ngọc Hùng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG<br /> PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Vật liệu nghiên cứu<br /> Vật liệu nghiên cứu là mẫu xử lý từ chồi đỉnh<br /> và chồi bên của cây đầu dòng UE35 và UE56.<br /> Đây là những cây lai đã được chọn lọc trong<br /> các tổ hợp lai giữa Eucalyptus urophylla x E.<br /> exserta).<br /> Địa điểm nuôi cấy<br /> Các thí nghiệm thực hiện tại Bộ môn Công<br /> nghệ Tế bào Thực vật-Viện Khoa học Sự<br /> sống- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.<br /> Điều kiện nuôi cấy: Các thí nghiệm được<br /> tiến hành trong phòng vô trùng, nhiệt độ<br /> nuôi cấy trong phòng là 250 (± 2), độ ẩm<br /> không khí 60-70% và cường độ ánh sáng<br /> nuôi cấy là 2000-3000 lux, thời gian chiếu<br /> sáng 8-10 giờ/ngày [2].<br /> Nội dung và phương pháp nghiên cứu<br /> Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> chất khử trùng HgCl2 0,1% và Ca(OCL)2 đối<br /> với 2 dòng Bạch đàn lai UE35 và UE56, 180<br /> mẫu/công thức/3 lần nhắc lại. sau 20 ngày<br /> đo đếm.<br /> Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> chất khử trùng HgCl2 0,1% và Ca(OCL)2 đối<br /> với 2 dòng Bạch đàn lai UE35 180 mẫu/công<br /> thức/3 lần nhắc lại. Sau 20 ngày đo đếm.<br /> Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> chất khử trùng HgCl2 0,1% và Ca(OCL)2 đối<br /> với 2 dòng Bạch đàn lai UE56 180 mẫu/công<br /> thức/3 lần nhắc lại. Sau 20 ngày đo đếm<br /> Chỉ tiêu theo dõi: Chồi sống, chồi nẩy mầm<br /> Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của môi<br /> trường đến tỷ lệ sống của 2 dòng Bạch đàn<br /> lai UE. Tổng số 180 mẫu/CT/3 lần nhắc<br /> lại/môi trường, sau 25 ngày đo đếm.<br /> Thí nghiệm 1: Thời gian được thay đổi và<br /> kết hợp với môi trường tố t nhất (đã được tìm<br /> ra ở nộ i dung 1). Thí nghiệm bao gồm 6<br /> công thức: CT1: tháng 1-3, CT2:4-6; CT3:79; CT4:10-12. Sau 20 ngày nuôi cấy theo dõi<br /> và đo đếm số liệu: Chồ i sống, chồi nhiễm,<br /> chồi ch ết.<br /> <br /> 108(08): 47 - 55<br /> <br /> Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân<br /> nhanh chồi cây Bạch đàn dòng UE 35 và<br /> UE56. Các chất điều hòa sinh trưởng được sử<br /> dụng là: 6-benzyl aminopurine (BAP),<br /> Kinetin (KI), α- napthylacetic (NAA), idolebuteric acid (IAA) [2;3]; với pH= 5,6 trước<br /> khi hấp khử trùng môi trường. Sau 25 ngày<br /> theo dõi và đo đếm.<br /> Ở giai đoạn nhân nhanh chồi, môi trường nuôi<br /> cấy với là môi trường MS* +30g Sucrose /l+<br /> 5,5g agar/l có bổ sung các chất các vitamine<br /> B5. Các chỉ tiêu theo dõi trong giai đoạn này<br /> sau 25 ngày: Hệ số nhân chồi; số cặp lá/chồi;<br /> chiều cao chồi; tỷ lệ sống.<br /> Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> của BAP đến khả năng nhân chồi Bạch đàn<br /> Thí nghiệm bố trí với 5 công thức (CT) từ CT1<br /> đến CT6 với các nồng độ của BAP cho một lít<br /> môi trường là: CT1: 0mg; CT2: 1mg; CT3:<br /> 2mg; CT4: 3mg; CT5: 4mg trên 1 lít môi<br /> trường nuôi cấy. Các chỉ tiêu theo dõi trong<br /> giai đoạn này (sau 25 ngày): Hệ số nhân chồi;<br /> số cặp lá/chồi; chiều cao chồi; tỷ lệ sống.<br /> <br /> Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> của BAP+NAA đến nhân nhanh Bạch đàn<br /> UE. Thí nghiệm bố trí sau khi đã tìm được<br /> nồng độ BAP tốt nhất sau đó kết hợp với IAA<br /> nồng độ được thay đổi với 5 công thức (CT) từ<br /> CT1 đến CT5, các nồng độ của IAA là: CT1:<br /> 0mg; CT2: 0,5mg; CT3: 1mg; CT4: 1,5mg;<br /> CT5: 2mg trên 1 lít môi trường nuôi cấy.<br /> Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> BAP+NAA+Kinetin (KI) đến nhân nhanh<br /> Bạch đàn UE. Thí nghiệm gồm 5 công thức<br /> (CT) từ CT1 đến CT5 tổ hợp của Cytokinin<br /> (BAP+NAA+Kinetin) tốt nhất sẽ kết hợp với<br /> các nồng độ của KI thay đổi cho một lít môi<br /> trường là: CT1: 0mg; CT2: 0,5mg; CT3: 1<br /> mg; CT4: 1,5mg; CT5: 2.0mg trên 1 lít môi<br /> trường nuôi cấy.<br /> <br /> 48<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Ngọc Hùng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng chất<br /> k ích thích ra rễ đối dòng Bạch đàn UE35<br /> và UE56<br /> <br /> a<br /> <br /> 108(08): 47 - 55<br /> <br /> ni<br /> <br /> V N − ∑ ∑ X ij2 − a ∑ n i X i− 2 − c<br /> i = l Þ =1<br /> <br /> i =1<br /> <br /> Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> nồng độ IBA+ABT1; Thí nghiệm bố trí với 5<br /> công thức (CT) từ CT1 đến CT5 nồng độ của<br /> IBA tốt nhất sẽ kết hợp với các nồng độ của<br /> ABT1 (là một loại Auxin khác để xem khả<br /> năng kết hợp giữa chung và tìm ra nồng độ tốt<br /> nhât là: CT1: 0mg; CT2: 0,5 mg; CT3: 1.0g;<br /> CT4: 1.5mg; CT5: 2.0mg trên 1 lít môi trường<br /> nuôi cấy. Sau 15 ngày theo dõi và đo đếm.<br /> <br /> Với những thí nghiệm có phương sai tổng thể<br /> không bằng nhau thì không dùng so sánh<br /> phương sai mà chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn<br /> Tamhane,s T2 để xác định sự sai khác. Với<br /> tiêu chuẩn này nếu 2 công thức có sự sai khác<br /> sẽ được được đánh dấu * ở kết quả phân tích<br /> số liệu.<br /> <br /> Xử lý số liệu: Số liệu thí nghiệm được xử lý<br /> bằng phần mềm Excel [7].<br /> <br /> Khử trùng mẫu cấy<br /> <br /> - Tính các giá trị trung bình được thực hiện<br /> trên phần mềm Excel.<br /> - Để kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố thí<br /> nghiệm bằng phương pháp phân tích phương<br /> sai một nhân tố theo phần mềm SPSS 11.5.<br /> Tiêu chuẩn Duncan được dùng để phân nhóm<br /> và tìm công thức thí nghiệm tốt nhất là:<br /> Giả thiết H0: nhân tố A có tác động một cách<br /> đồng đều (ngẫu nhiên) đến kết quả thí<br /> nghiệm khi đó: α1 = α2=...= αa = 0 hoặc µ1= µ2<br /> = …..= µa = µ<br /> Giả thiết H1: Tác động của nhân tố A là<br /> không đồng đều ở tất cả các cấp khi đó có ít<br /> nhất là có một αi ≠ 0.<br /> Nếu giá trị Sig của F< 0,05 thì chấp nhận H0.<br /> Sig của F > 0,05 thì chấp nhận H1 với:<br /> <br /> F=<br /> <br /> ( n − a )V A<br /> ( a −1)Vn<br /> <br /> Trong đó: - VA: là biến động giữa các trị số<br /> trung bình mẫu:<br /> a<br /> <br /> VA = VT − VN = ∑ ni xi2 − c<br /> i =1<br /> <br /> - VT là biến động toàn bộ của n trị số quan<br /> a<br /> <br /> sát:<br /> <br /> ni<br /> <br /> VT = ∑∑ X ij2 − c<br /> i − j Þ =1<br /> <br /> - VN là biến động giữa các trị số quan sát<br /> cùng một mẫu.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> Hiện nay, HgCl2 đang được sử dụng để khử<br /> trùng mẫu trong nhân giống in vitro cây Bạch<br /> đàn ở nhiều phòng thí nghiệm. Hầu hết, khi<br /> khử trùng bằng HgCl2 đều cho tỷ lệ mẫu sống<br /> cao, tuy nhiên đây là chất được xếp vào nhóm<br /> chất độc hại số 1 đối với cơ thể con người.<br /> Trong khi đó Ca(OCl)2 cũng được một số tác<br /> giả sử dụng để khử trùng mẫu và ít độc hại<br /> cho con người [8]. Nghiên cứu sử dụng 2 loại<br /> hoá chất là HgCl2 và Ca(OCl)2.<br /> Kết quả trên bảng 1a cho thấy việc tạo vật<br /> liệu khởi đầu có khử trùng từ chồi nách của<br /> dòng UE35 là tương đối khó, mẫu có tỷ lệ<br /> nhiễm cao. Khử trùng bằng Ca(OCl)2 khi tăng<br /> thời gian khử trùng thì mẫu nhiễm giảm, số<br /> mẫu chết tăng do quá thời gian khử trùng. Tỷ<br /> lệ mẫu cao nhất là 40 phút (mẫu sống 32,2%),<br /> mẫu nhiễm cao nhất là thời gian 20 phút<br /> (67,8%), bên cạnh đó thì thời gian khử trùng<br /> ảnh hưởng yếu đến tỷ lệ mẫu sống. Từ kết<br /> quả đó thấy Ca(OCl)2 là chất khử trùng bề<br /> mặt yếu đối với dòng UE35 (tỷ lệ mẫu chết<br /> thấp, tỷ lệ mẫu nhiễm cao dẫn đến tỷ lệ mẫu<br /> sống rất thấp). Khử trùng bằng HgCl2: với<br /> thời gian khử trùng tăng (8, 10, 12 phút) tỷ lệ<br /> mẫu nhiễm đối với dòng UE35 giảm từ 61,7<br /> xuống 31,1% và bên cạnh đó thì mẫu chết lại<br /> tăng từ 10,0% đến 38,9%. Tỷ lệ mẫu sống và<br /> tái sinh tăng khi thời gian từ 10-12 phút.<br /> 49<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Ngọc Hùng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 108(08): 47 - 55<br /> <br /> Bảng 1a. Kết quả khử trùng mẫu của dòng UE35<br /> Hoá chất<br /> <br /> Nồng độ<br /> (%)<br /> <br /> HgCl2<br /> <br /> 0,1<br /> <br /> Ca(OCl)2<br /> <br /> 3.0<br /> <br /> Thời gian khử<br /> trùng (phút)<br /> 8<br /> <br /> 10,0<br /> <br /> % mẫu<br /> nhiễm<br /> 61,7<br /> <br /> 10<br /> 12<br /> 20<br /> 30<br /> <br /> 13,0<br /> 38,9<br /> 7,8<br /> 13,3<br /> <br /> 40,6<br /> 31,3<br /> 67,8<br /> 58,9<br /> <br /> 46,4<br /> 30,0<br /> 24,4<br /> 27,8<br /> <br /> 40<br /> <br /> 18,9<br /> <br /> 48,9<br /> <br /> 32,2<br /> <br /> % mẫu chết<br /> <br /> % mẫu sống<br /> 28,3<br /> <br /> Bảng 1b: Kết quả khử trùng mẫu của dòng UE56 (180 mẫu)<br /> Hoá chất<br /> <br /> Nồng độ<br /> (%)<br /> <br /> HgCl2<br /> <br /> 0,1<br /> <br /> Ca(OCl)2<br /> <br /> 3.0<br /> <br /> Thời gian khử<br /> trùng (phút)<br /> 8<br /> 10<br /> 12<br /> 20<br /> 30<br /> 40<br /> <br /> Từ bảng 1.b, ta thấy tỷ lệ mẫu nhiễm chiếm<br /> 35% của HgCl2 và 44,4% Ca(OCl)2, qua đó<br /> thấy việc khử trùng đối với dòng UE56 là<br /> tương đối khó. Với HgCl2 tỷ lệ mẫu nhiễm<br /> giảm từ 54,4% xuống 35,0% và 29,4% số<br /> mẫu chết tăng từ 13,3% đến 19,8% và 43,3%.<br /> Tỷ lệ tái sinh của mẫu và mẫu sống tăng trong<br /> khi thời gian khử trùng lên 10 phút và giảm<br /> ở thời gian khử trùng là 12 phút. Qua hai<br /> bảng của hai dòng UE35 và UE56 thấy<br /> HgCl2 có tính khử trùng mạnh hơn Ca(OCl)2<br /> do đó dung dịch khử trùng này cũng gây tổn<br /> thương mạnh đến mô nuôi cấy, đồng thời tỷ<br /> lệ chết cao hơn và tỷ lệ chồi sống sót cũng<br /> cao hơn rất nhiều. Với HgCl2 nồng độ 0,1%,<br /> ở th ời gian 10 phút có kết quả tố t nhất ở cả<br /> hai dòng. Vậy chọn khử trùng bằng HgCl2<br /> 0,1% với thời gian 10 phút thích hợp cho cả<br /> 2 dòng nói trên.<br /> Kết quả ảnh hưởng 5 loại môi trường đến<br /> HSNC và TLCHH của dòng UE35 và UE56<br /> Để có sự thành công đối với nhân giống bằng<br /> phương pháp nuôi cấy mô thì giai đoạn quan<br /> trọng đó là xác định môi trường nuôi cấy thích<br /> hợp cho đối tượng cần nhân giống. Với các<br /> công bố về môi trường nhân giống cây Bạch<br /> <br /> 13,3<br /> <br /> % mẫu<br /> nhiễm<br /> 54,4<br /> <br /> 18,9<br /> 43,3<br /> 11,1<br /> 16,1<br /> <br /> 35,0<br /> 29,4<br /> 61,7<br /> 55,6<br /> <br /> 46,1<br /> 27,3<br /> 27,2<br /> 28,3<br /> <br /> 21,1<br /> <br /> 44,4<br /> <br /> 34,5<br /> <br /> % mẫu chết<br /> <br /> % mẫu sống<br /> 32,3<br /> <br /> đàn còn hạn chế, thêm vào đó chưa có môi<br /> trường cụ thể nào và có độ tin cậy cao cho<br /> dòng Bạch đàn lai. Do vậy, thử nghiệm một số<br /> môi trường, sử dụng để nhân giống các loài<br /> cây thân gỗ. Từ đó chọn ra môi trường thích<br /> hợp cho nghiên cứu hai dòng Bạch đàn UE35<br /> và UE56.<br /> Số liệu ở bảng 2 cho thấy rằng: HSNC cao<br /> nhất ở môi trường MS*, với dòng UE35 là<br /> 1,18 lần và 1,17 lần ở dòng UE56, thấp nhất ở<br /> môi trường MS (dòng UE35=0,96 và dòng<br /> UE56= 0,92). Môi trường MS* là môi trường<br /> nuôi cấy cây thân gỗ nói chung, môi trường<br /> này đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước<br /> sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào thực vật.<br /> Nhóm tác giả Đoàn Th ị Mai và cs của Trung<br /> tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện<br /> Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên<br /> cứu môi trường này thành công cho cây Keo<br /> lai, một số dòng Bạch đàn lai [1,2], Viện<br /> Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam [2] đã sử<br /> dụng môi trường này để nhân giống cây<br /> Trầm qua nuôi cấy đỉnh sinh trưởng sau khi<br /> đã so sánh với môi trường MS. Một số tác<br /> giả cũng đã sử dụng để nuôi cấy chồi đối với<br /> một số loài Thông [8].<br /> <br /> 50<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Ngọc Hùng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 108(08): 47 - 55<br /> <br /> Bảng 2. Kết quả ảnh hưởng 5 loại môi trường đến HSNC và TLCHH<br /> của dòng UE35 và UE56<br /> Loại môi<br /> trường<br /> Litvay<br /> WPM<br /> MS*<br /> MS<br /> WV3<br /> <br /> Dòng UE35<br /> Số chồi thu được<br /> HSNC (lần)<br /> 200<br /> 1,11<br /> 184<br /> 1,02<br /> 213<br /> 1,18<br /> 173<br /> 0,96<br /> 195<br /> 1.08<br /> <br /> Dòng UE56<br /> Số chồi thu được<br /> HSNC (lần)<br /> 192<br /> 1,07<br /> 170<br /> 0,94<br /> 211<br /> 1,17<br /> 165<br /> 0,92<br /> 186<br /> 1,03<br /> <br /> (MS*: là môi trường MS cải tiến có bổ sung thêm một số vitamin và khoáng chất)<br /> Bảng 3. Kêt quả ảnh hưởng của BAP đến nhân nhanh chồi dòng UE35 và UE56<br /> Nồng<br /> độ<br /> BAP<br /> (mg/l)<br /> 0,0<br /> 1,0<br /> 2,0<br /> 3,0<br /> 4,0<br /> <br /> Số chồi<br /> thu<br /> được<br /> 258<br /> 327<br /> 388<br /> 353<br /> 344<br /> <br /> Dòng UE35<br /> Chồi<br /> HSNC<br /> hữu<br /> (lần)<br /> hiệu<br /> 49<br /> 1,43<br /> 72<br /> 1,82<br /> 94<br /> 2,16<br /> 66<br /> 1,96<br /> 43<br /> 1,91<br /> <br /> TLCHH<br /> (%)<br /> 19,0<br /> 22,0<br /> 24,2<br /> 18,7<br /> 12,5<br /> <br /> Số chồi<br /> thu<br /> được<br /> 246<br /> 332<br /> 363<br /> 320<br /> 294<br /> <br /> Dòng UE56<br /> Chồi<br /> HSNC<br /> hữu<br /> (lần)<br /> hiệu<br /> 43<br /> 1,37<br /> 64<br /> 1,84<br /> 81<br /> 2,02<br /> 51<br /> 1,78<br /> 38<br /> 1,63<br /> <br /> TLCHH<br /> (%)<br /> <br /> Chất<br /> lượng<br /> chồi<br /> <br /> 17,5<br /> 19,3<br /> 22,3<br /> 15,9<br /> 12,9<br /> <br /> +<br /> ++<br /> +++<br /> ++<br /> +<br /> <br /> Ghi chú: +. Sinh trưởng kém, ++. Sinh trưởng trung bình, +++. Sinh trưởng tốt<br /> <br /> Phương sai tổng thể của HSNC ở hai dòng<br /> đều > 0,05 (dòng UE35 có Sig = 0,139; dòng<br /> UE56 = 0,378) điều này cho thấy phương sai<br /> của các biến ngẫu nhiên ở dòng UE35 là bằng<br /> nhau và dòng UE56 cũng bằng nhau. Phân<br /> tích phương sai với cả hai dòng thu được giá<br /> trị Sig của F đều bằng 0,00 < 0,05. Như vậy,<br /> HSNC ở các công thức môi trường có sự khác<br /> nhau rõ rệt.<br /> - Bảng phân nhóm bằng tiêu chuẩn Duncan<br /> cho thấy môi trường MS* nằm trong nhóm tốt<br /> nhất, trong 5 công thức thí nghiệm với cả hai<br /> dòng UE35 và UE56 với α = 0,05 (độ tin cậy<br /> 95%). Như vậy môi trường MS* thích hợp<br /> nhất cho tạo chồi và nhân nhanh chồi cho 2<br /> dòng bạch đàn này. Môi trường này được đề<br /> tài sử sụng cho các nghiên cứu tiếp theo.<br /> Kết quả ảnh hưởng của một số chất kích<br /> thích sinh trưởng đến khả năng nhân chồi<br /> Quá trình nhân nhanh chồi là giai đoạn quyết<br /> định đến số lượng cây trong nuôi cấy mô tế<br /> bào. Số lượng chồi hay gọi là hệ số nhân chồi<br /> (HSNC) lớn thì việc đáp ứng nhu cầu cung<br /> <br /> cấp cây con giống sẽ lớn. Để nhân giống<br /> thành công cần có sự tác động bổ sung đồng<br /> thời các yếu tố như vật lý, hoá học, kỹ thuật<br /> cắt tạo mẫu…vv. Với quá trình bổ sung chất<br /> hóc môn sinh trưởng vào môi trường nuôi cấy<br /> thích hợp được coi là yếu tố rất quan trọng,<br /> trong đó BAP có tác dụng kích thích sự hình<br /> thành chồi mới. Đây cũng là chất được sử<br /> dụng cho rất nhiều loại cây, do đó việc nghiên<br /> cứu sử dụng BAP để bổ sung cho môi trường<br /> nuôi cấy ở giai đoạn nhân nhanh với nhiều<br /> nồng độ khác nhau là cần thiết và phù hợp với<br /> 1 số nghiên cứu trước đây [1,2,4,8].<br /> Từ bảng 3 ta thấy khi bổ sung IAA vào môi<br /> trường thấy rằng HSNC và TLCHH của dòng<br /> UE35 là 2,16 và 24,2%, dòng UE35 là 2,07<br /> lần và 22,0%, khi tăng nồng độ IAA lên 0,5<br /> mg/l thì hệ số nhân chồi hữu hiệu tăng không<br /> đáng kể dòng UE35 là 2,34 lần, 22,4%, dòng<br /> UE56 là 2,18 lần và 22,6%. Nhưng khi tăng<br /> nồng độ từ 1,5 - 2,0 thì HSNC và TLCHH<br /> đều giảm mạnh. Qua quan sát thấy khi bổ<br /> sung IAA nồng độ 0,5 mg/l chồi sinh trưởng<br /> 51<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=31

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2