
47
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
[6] Phạm Văn Lình, Phạm Văn Năng (2014).
Đại tràng, trực tràng và hậu môn. Nhà xuất
ả ọ . ố Hồ Chí Minh, 116
153.
[7] Nguyễn Hoàng Minh (2017). Đánh giá di
căn hạch trong ung thư trực tràng qua
phẫu thuật đố ếu với mô bệ ọc và
ộng hưởng từ Luận án Tiến sĩ Y họ ).
Trường Đạ ọc Y Hà Nội.
[8] Lương Văn Nhật (2021). Đánh giá kết quả
phẫu thuật cắt đoạn trực tràng điều trị
thư trực tràng cao tạ ệnh viện đa khoa
tỉnh Thái Bình.Trường đạ ọc Y Hà Nộ .
[9] Trương Vĩnh Quý (2018). Đánh giá kết
quả điều trị tiệt căn ung thư trực tràng
thấp bằng phẫu thuật nội soi có bảo tồn cơ
thắt Luận án tiến sĩ). Đạ ọc y dược Huế.
[10] Ngô Văn Tỵ (2021). Đánh giá kết quả
ẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn điều trị
ung thư trực tràng thấ .
[11] Đoàn Anh Vũ, Nguyễn Văn Qui (2015).
"Đánh giá kết quảsớ ẫu thuật nội soi
điều trị ung thư trực tràng tại bệnh việ
Trường Đạ ọc Y Dược Cần Thơ". ạp
chí y dượ ọc Cần Thơ, 1.
[12] Benson A.B. et al (2012)."Rectal cancer".
J Natl Compr Canc Netw, 10, (12), 1528
64.
[13] Cravo ., Rodrigues . et al (2014).
"Management of rectal cancer: Times they
are .Portuguese Journal of
Gastroenterology, 21, (5), 192 200.
[14] Keller Deborah, Sten Sharon (2013).
"Facilitating Return of Bowel Funtion afer
Colorectal Surgery: Alvimopan and Gum
Chewing". Clinics in colon and rectal
surgery, 26, (26), 186 190.
[15] Nagtegaal I.D., J. H. van Krieken (2007).
"The multidisciplinary treatment of rectal
cancer: pathology". Ann Oncol, 18 Suppl
9, ix122 6.
[16]. Rosin ., Lebedyev A. et al (2011).
"Laparoscopic resection of rectal cancer".
IMAJ, 13, 459 462.
[17] Sung H., J. Ferlay, R. L. Siegel, M.
Laversanne, I. Soerjomataram, A. Jemal,
F. Bray (2021). "Global Cancer
Statistics 2020: GLOBOCAN Estimates of
Incidence and Mortality Worldwide for 36
Cancers in 185 Countries". CA Cancer J
Clin, 71, (3), 209 249.
[18] Zh W.J, Chen J.P (2008). "Spread of
rectal cancer in the distal mesorectum".
Chinese Journal of Cancer, 27, (7), 74
76.
ẦU CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ TẠI
KHOA UNG BƯỚ Ệ VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH
Huỳ ố Như , Võ Thị Thùy Linh ễ ị ọc Luyế
Trường Đạ ọ
Ngườ ịu trách nhiệm bài viết: Huỳ ố Như (email: htnhu@tvu.edu.vn)
ậ :
Ngày duyệt bài:
Demand for
information of cancer
patients at Tra Vinh General
Hospital's Oncology
Department
cancer, demand,
eneral ospital
information, oncology
department, Tra Vinh
ừệnh viện đa
khoa, khoa ung bướ
ầ thông tin
ung thư
ABSTRACT
A descriptive cross sectional study was conducted on 110
cancer patients being treated at the Department of Oncology of
Tra Vinh General Hospital in the period from April 2021 to June
2021, in order to survey the demand for information about cancer
patients. The study was carried out using available questionnaires
to directly interview the subjects. The research results showed that
the need for information to be supported ranged from 35.5% to
78.2%. The needs accounted for a high proportion such as the
eed for nurses to provide regular information about health status
(78.2%), the need to be provided with diagnostic information
(77.3%).
Ắ
ứ ắt ngang mô tả được thự ện trên 110 ngườ ệ
ung thư đang điều trị tạ khoa Ung bướ ệnh viện Đa khoa Trà
Vinh trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 6 năm
ằm khảo sát nhu cầ ần đượ ỗ trợvề thông tin củ
ngườ ệnh ung thư. Nghiên cứu thự ệ ằng cách sử dụ ộ
ỏi có sẵn để phỏng vấn trự tiếp đối tượng. Kết quả
ứu cho thấ ác nhu cầu về thông tin cần đượ ỗ trợcó tỷlệ dao
động từ 35,5% 78,2%. Các nhu cầ ếm tỷlệ cao như ần điề
dưỡ ấp thông tin thường xuyên về tình trạng sức khỏe
(78,2%), cần đượ ấp thông tin chẩn đoán bệnh (77,3%).
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
[6] Phạm Văn Lình, Phạm Văn Năng (2014).
Đại tràng, trực tràng và hậu môn. Nhà xuất
ả ọ . ố Hồ Chí Minh, 116
153.
[7] Nguyễn Hoàng Minh (2017). Đánh giá di
căn hạch trong ung thư trực tràng qua
phẫu thuật đố ếu với mô bệ ọc và
ộng hưởng từ Luận án Tiến sĩ Y họ ).
Trường Đạ ọc Y Hà Nội.
[8] Lương Văn Nhật (2021). Đánh giá kết quả
phẫu thuật cắt đoạn trực tràng điều trị
thư trực tràng cao tạ ệnh viện đa khoa
tỉnh Thái Bình.Trường đạ ọc Y Hà Nộ .
[9] Trương Vĩnh Quý (2018). Đánh giá kết
quả điều trị tiệt căn ung thư trực tràng
thấp bằng phẫu thuật nội soi có bảo tồn cơ
thắt Luận án tiến sĩ). Đạ ọc y dược Huế.
[10] Ngô Văn Tỵ (2021). Đánh giá kết quả
ẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn điều trị
ung thư trực tràng thấ .
[11] Đoàn Anh Vũ, Nguyễn Văn Qui (2015).
"Đánh giá kết quảsớ ẫu thuật nội soi
điều trị ung thư trực tràng tại bệnh việ
Trường Đạ ọc Y Dược Cần Thơ". ạp
chí y dượ ọc Cần Thơ, 1.
[12] Benson A.B. et al (2012)."Rectal cancer".
J Natl Compr Canc Netw, 10, (12), 1528
64.
[13] Cravo ., Rodrigues . et al (2014).
"Management of rectal cancer: Times they
are .Portuguese Journal of
Gastroenterology, 21, (5), 192 200.
[14] Keller Deborah, Sten Sharon (2013).
"Facilitating Return of Bowel Funtion afer
Colorectal Surgery: Alvimopan and Gum
Chewing". Clinics in colon and rectal
surgery, 26, (26), 186 190.
[15] Nagtegaal I.D., J. H. van Krieken (2007).
"The multidisciplinary treatment of rectal
cancer: pathology". Ann Oncol, 18 Suppl
9, ix122 6.
[16]. Rosin ., Lebedyev A. et al (2011).
"Laparoscopic resection of rectal cancer".
IMAJ, 13, 459 462.
[17] Sung H., J. Ferlay, R. L. Siegel, M.
Laversanne, I. Soerjomataram, A. Jemal,
F. Bray (2021). "Global Cancer
Statistics 2020: GLOBOCAN Estimates of
Incidence and Mortality Worldwide for 36
Cancers in 185 Countries". CA Cancer J
Clin, 71, (3), 209 249.
[18] Zh W.J, Chen J.P (2008). "Spread of
rectal cancer in the distal mesorectum".
Chinese Journal of Cancer, 27, (7), 74
76.
NHU CẦU CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ TẠI
KHOA UNG BƯỚU BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH
Huỳnh Tố Như1, Võ Thị Thùy Linh1, Nguyễn Thị Ngọc Luyến1
1Trường Đại học Trà Vinh
*Người chịu trách nhiệm bài viết: Huỳnh Tố Như (email: htnhu@tvu.edu.vn)
Ngày nhận bài:7/7/2023
Ngày duyệt bài:17/7/2023
Title: Demand for
information of cancer
patients at Tra Vinh General
Hospital's Oncology
Department
Keywords: cancer, demand,
general hospital,
information, oncology
department, Tra Vinh
Từ khóa: bệnh viện đa
khoa, khoa ung bướu, nhu
cầu, thông tin, Trà Vinh,
ung thư
ABSTRACT
A descriptive cross-sectional study was conducted on 110
cancer patients being treated at the Department of Oncology of
Tra Vinh General Hospital in the period from April 2021 to June
2021, in order to survey the demand for information about cancer
patients. The study was carried out using available questionnaires
to directly interview the subjects. The research results showed that
the need for information to be supported ranged from 35.5% to
78.2%. The needs accounted for a high proportion, such as the
need for nurses to provide regular information about health status
(78.2%), the need to be provided with diagnostic information
(77.3%).
TÓM TẮT
Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 110 người bệnh
ung thư đang điều trị tại khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Trà
Vinh trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 6 năm
2021, nhằm khảo sát nhu cầu cần được hỗ trợ về thông tin của
người bệnh ung thư. Nghiên cứu thực hiện bằng cách sử dụng bộ
câu hỏi có sẵn để phỏng vấn trực tiếp đối tượng. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, các nhu cầu về thông tin cần được hỗ trợ có tỷ lệ dao
động từ 35,5%-78,2%. Các nhu cầu chiếm tỷ lệ cao như cần điều
dưỡng cung cấp thông tin thường xuyên về tình trạng sức khỏe
(78,2%), cần được cung cấp thông tin chẩn đoán bệnh (77,3%).
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển
Trường Đại học Nam Cần Thơ
Website: jsde.nctu.edu.vn

48
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
1. GIỚI THIỆU
Hiện nay, tỷ lệ hiện mắc ung thư ngày càng
gia tăng ở các nước nghèo, các nước đang phát
triển và các nước phát triển. Trong đó, Việt Nam
có tỷ lệ mới mắc ung thư là 159/100.000 người,
chiếm vị trí 91/185, và tỷ lệ tử vong là
106/100.000 người, chiếm vị trí 50/185 quốc
gia trên thế giới. So với năm 2018 vị trí tương
ứng là 99/185 và 56/185 [1]. Từ đó có thể thấy
rằng số lượng người mắc bệnh và tử vong vì ung
thư tăng rất nhanh là một hồi chuông báo động
cho toàn cầu. Những người mắc bệnh ung thư
thường có diễn biến tâm lý rất phức tạp, dễ suy
sụp về tinh thần. Thông thường người bệnh có
những lo lắng, sợ hãi về căn bệnh và các phương
pháp điều trị, giảm sự tự tin trong cuộc sống bởi
việc thay đổi ngoại hình. Đây cũng là một gánh
nặng cho gia đình và các chuyên gia y tế trong
quá trình chăm sóc người bệnh. Tuy nhiên, đa
số người bệnh ở các nước nghèo và đang phát
triển khó tiếp cận được với các dịch vụ hỗ trợ
chẩn đoán, điều trị và chăm sóc kịp thời, trong
đó có việc hỗ trợ cung cấp thông tin cần thiết.
Để góp phần giải quyết được những vấn đề trên,
một trong những việc làm cần thiết là cung cấp
thông tin theo nhu cầu của người bệnh. Khoa
Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh là nơi
tiếp nhận, chẩn đoán và điều trị các bệnh nhân
ung thư nói chung, tuy nhiên, thời điểm hiện tại
vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Vì
vậy, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu “Nhu
cầu cung cấp thông tin của người bệnh ung thư
tại Khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa Trà
Vinh” để xác định các nhu cầu thông tin cần
được cung cấp của người bệnh ung thư để tăng
hiệu quả điều trị và chăm sóc, nâng cao chất
lượng cuộc sống của người bệnh.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Người bệnh được
chẩn đoán ung thư đang được điều trị nội trú tại
Khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà
Vinh, có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, giao tiếp
được bằng lời nói.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những người bệnh ung
thư giai đoạn đang nguy kịch, người không đủ
minh mẫn hoặc đang mắc các bệnh tâm thần.
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 4/2021 đến tháng
6/2021.
Địa điểm: Tại khoa Ung Bướu, Bệnh viện
Đa khoa Trà Vinh.
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn
mẫu thuận tiện những bệnh nhân thỏa điều kiện
trong thời gian từ ngày tháng 4 năm 2021 đến
tháng 6 năm tại Khoa Ung bướu Bệnh viện Đa
khoa Trà Vinh. Trong thời gian trên chúng tôi
thu thập được 110 mẫu thỏa điều kiện.
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu: Được sự đồng ý
của tác giả chúng tôi tiến hành thu thập số liệu
bằng cách sử dụng bộ câu hỏi “Phiếu điều tra
nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh”
của tác giả Trần Thị Liên sử dụng trong nghiên
cứu “Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ
của người bệnh ung thư điều trị tại trung tâm
Ung bướu Bệnh viện Thái Bình năm 2019” để
phỏng vấn trực tiếp người bệnh. Đây là bảng
câu hỏi dành chung cho tất cả loại ung thư gồm
3 phần: Phần 1: Thông tin chung; Phần 2: Nhu
ầu chăm sóc giả ẹ ồm có các tiể ụ
như nh ầu về thông tin, nhu cầ ỗ trợchăm
sóc, nhu cầu giao tiếp quan hệ ầ ỗ trợ
về tinh thần và nhu cầu vật chất [1]. Trong nộ
dung khảo sát này, chúng tôi khảo sát ngườ
bệnh theo mục: nhu cầu thông tin, với 9 câu hỏ
có sẵn. Người bệ ọn “Có” tương đương vớ
có nhu cầu, người bệ ọn “Không” tương
đương với không có nhu cầu.
Phân tích sốliệ
Số ệu đượ ập và phân tích bằ ầ
ề SPSS 20.0.
Đạo đức trong nghiên cứ
Đề tài nghiên cứu tiến hành sau khi được sự
đồng ý củtrường Đạ ọc Trà Vinh và Bệ
việ . Đa khoa tỉnh Trà Vinh. Những người đượ
ọn vào nghiên cứ ững người đượ ẩ
đoán, điều trị và chăm sóc theo đúng quy đị
ủ ộ y tế. Những người thỏa điều kiện tham
gia đều đượ ải thích rõ ràng và đồng ý tham
gia nghiên cứ ới bắt đầ ỏng vấn. Đảm bảo
ằng các chỉsố thu được đều chính xác, trung
thực theo mục đích nghiên cứ ứ không nhằ
lí do cá nhân nào khác.
Ế Ả
Đặc điể ủa đối tượng nghiên cứ
Biểđồ Đặ điể giới ủ người ệ
ậxét: Người bệnh nam và nữ ếm tỷ ệ
ần bằ (50,9% và 49,1%).
ềnghiệ ủ người ệ
ận xét: ề ệ ế tỷ ệcao
ất nông dân/công nhân vớ 52,7%. ấ
ất cán bộ, viên ứ vớ tỷ ệ 0,9%.
ầ ần đượ ấp thông tin
ủa người bệnh ung thư
ữ
(49,1%) (50,9%)

49
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
GIỚI THIỆ
Hiện nay, tỷ ệ ệ ắc ung thư ngày càng
gia tăng ởcác nước nghèo, các nước đang phát
triển và các nước phát triển. Trong đó, Việt Nam
có tỷ ệ ớ ắc ung thư là 159/100.000 ngườ
ếm vị trí 91/185, và tỷ ệ tử vong là
106/100.000 ngườ ếm vịtrí 50/185 quố
gia trên thế ới. So với năm 2018 vị trí tương
ứng là 99/185 và 56/185 [1]. Từ đó có thể thấ
ằng sốlượng ngườ ắc bệnh và tử vong vì ung
thư tăng rất nhanh là một hồi chuông báo độ
cho toàn cầu. Những ngườ ắc bệnh ung thư
thường có d ễn biến tâm lý rất phức tạp, dễ suy
sụp về tinh thần. Thông thường người bệnh có
ững lo lắng, sợ hãi vềcăn bệnh và các phương
pháp điều trị ảm sựtự tin trong cuộc sống bở
việc thay đổi ngoại hình. Đây cũng là một gánh
ặng cho gia đình và các chuyên gia y tế trong
quá trình chăm sóc người bệnh. Tuy nhiên, đa
số người bệ ở các nước nghèo và đang phát
triển khó tiế ận được với các dịch vụ ỗ trợ
ẩn đoán, điều trịvà chăm sóc kịp thời, trong
đó có việ ỗ trợ ấp thông tin cần thiết.
Để góp ầ ải quyết đượ ững vấn đề trên,
ột trong những việ ần thiết là cung cấ
thông tin theo nhu cầ ủa người bệnh. Khoa
Ung Bướ ệnh viện Đa khoa Trà Vinh là nơi
tiế ậ ẩn đoán và điều trị các bệnh nhân
ung thư nói chung, tuy nhiên, thời điể ện tạ
vẫn chưa có đề tài nghiên cứu vềvấn đềnày. Vì
vậy, chúng tôi đã thự ện nghiên cứ
ầ ấp thông tin của ngườ ệnh ung thư
tại Khoa Ung bướ ệnh viện Đa khoa Trà
Vinh” để xác định các nhu cầu thông tin cầ
đượ ấ ủ người bệnh ung thư để tăng
ệu quả điều trịvà chăm sóc, nâng cao chất
lượ ộc số ủa người bệnh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ
Đối tượng nghiên cứ
Tiêu chuẩ ọ ẫu: Người bệnh đượ
ẩn đoán ung thư đang được điều trị ội trú tạ
Khoa Ung bướ ệnh viện Đa khoa tỉ
Vinh, có độtuổi từ 18 tuổi trở lên, giao tiế
được bằ ời nói.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những người bệ
thư giai đoạn đang nguy kịch, người không đủ
ẫn hoặc đang mắc các bệnh tâm thần.
Thiế ế nghiên cứ
Nghiên ứ ắt ngang mô tả.
ời gian và địa điểm nghiên cứ
ời gian: ừ tháng 4/2021 đến tháng
6/2021.
Địa điểm: ại khoa Ung Bướ ệnh việ
Đa khoa Trà Vinh.
ỡ ẫu và phương pháp chọ ẫ
Cỡ ẫu và phương pháp chọ ẫu: Chọ
ẫu thuận tiệ ữ bệnh nhân thỏa điều kiệ
trong thời gian từ ngày tháng 4 năm 2021 đế
tháng 6 năm tại Khoa Ung bướ ệnh viện Đa
khoa Trà Vinh. Trong thời gian trên chúng tôi
thu thập được 110 mẫu thỏa điều kiệ .
Phương pháp thu thập sốliệ
Công cụ thu thập số ệu: Được sự đồng ý
ủa tác giả chúng tôi tiến hành thu thập số ệ
bằng cách sử dụng bộcâu hỏi “Phiếu điều tra
ầu chăm sóc giả ẹ ủa người bệnh”
ủa tác giả ầ ị Liên sử dụng trong nghiên
ứu “Thực trạ ầu chăm sóc giả ẹ
ủa người bệng thư điều trị tại trung tâm
Ung bướ ệnh viện Thái Bình năm 2019” để
ỏng vấn trực tiếp người bệnh. Đây là bả
câu hỏi dành chung cho tất cảloại ung thư gồ
ần: Phần 1: Thông tin chung; Phần 2: Nhu
ầu chăm sóc giả ẹ ồm có các tiể ụ
như nh ầu về thông tin, nhu cầ ỗ trợchăm
sóc, nhu cầu giao tiếp quan hệ ầ ỗ trợ
về tinh thần và nhu cầu vật chất [1]. Trong nộ
dung khảo sát này, chúng tôi khảo sát ngườ
bệnh theo mục: nhu cầu thông tin, với 9 câu hỏ
có sẵn. Người bệ ọn “Có” tương đương vớ
có nhu cầu, người bệ ọn “Không” tương
đương với không có nhu cầu.
Phân tích sốliệ
Số ệu đượ ập và phân tích bằ ầ
ề SPSS 20.0.
Đạo đức trong nghiên cứ
Đề tài nghiên cứu tiến hành sau khi được sự
đồng ý củtrường Đạ ọc Trà Vinh và Bệ
việ . Đa khoa tỉnh Trà Vinh. Những người đượ
ọn vào nghiên cứ ững người đượ ẩ
đoán, điều trị và chăm sóc theo đúng quy đị
ủ ộ y tế. Những người thỏa điều kiện tham
gia đều đượ ải thích rõ ràng và đồng ý tham
gia nghiên cứ ới bắt đầ ỏng vấn. Đảm bảo
ằng các chỉsố thu được đều chính xác, trung
thực theo mục đích nghiên cứ ứ không nhằ
lí do cá nhân nào khác.
Ế Ả
Đặc điể ủa đối tượng nghiên cứ
Biểđồ Đặ điể giới ủ người ệ
ậxét: Người bệnh nam và nữ ếm tỷ ệ
ần bằ (50,9% và 49,1%).
ềnghiệ ủ người ệ
ận xét: ề ệ ế tỷ ệcao
ất nông dân/công nhân vớ 52,7%. ấ
ất cán bộ, viên ứ vớ tỷ ệ 0,9%.
ầ ần đượ ấp thông tin
ủa người bệnh ung thư
ữ
(49,1%) (50,9%)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
GIỚI THIỆ
Hiện nay, tỷ ệ ệ ắc ung thư ngày càng
gia tăng ởcác nước nghèo, các nước đang phát
triển và các nước phát triển. Trong đó, Việt Nam
có tỷ ệ ớ ắc ung thư là 159/100.000 ngườ
ếm vị trí 91/185, và tỷ ệ tử vong là
106/100.000 ngườ ếm vịtrí 50/185 quố
gia trên thế ới. So với năm 2018 vị trí tương
ứng là 99/185 và 56/185 [1]. Từ đó có thể thấ
ằng sốlượng ngườ ắc bệnh và tử vong vì ung
thư tăng rất nhanh là một hồi chuông báo độ
cho toàn cầu. Những ngườ ắc bệnh ung thư
thường có d ễn biến tâm lý rất phức tạp, dễ suy
sụp về tinh thần. Thông thường người bệnh có
ững lo lắng, sợ hãi vềcăn bệnh và các phương
pháp điều trị ảm sựtự tin trong cuộc sống bở
việc thay đổi ngoại hình. Đây cũng là một gánh
ặng cho gia đình và các chuyên gia y tế trong
quá trình chăm sóc người bệnh. Tuy nhiên, đa
số người bệ ở các nước nghèo và đang phát
triển khó tiế ận được với các dịch vụ ỗ trợ
ẩn đoán, điều trịvà chăm sóc kịp thời, trong
đó có việ ỗ trợ ấp thông tin cần thiết.
Để góp ầ ải quyết đượ ững vấn đề trên,
ột trong những việ ần thiết là cung cấ
thông tin theo nhu cầ ủa người bệnh. Khoa
Ung Bướ ệnh viện Đa khoa Trà Vinh là nơi
tiế ậ ẩn đoán và điều trị các bệnh nhân
ung thư nói chung, tuy nhiên, thời điể ện tạ
vẫn chưa có đề tài nghiên cứu vềvấn đềnày. Vì
vậy, chúng tôi đã thự ện nghiên cứ
ầ ấp thông tin của ngườ ệnh ung thư
tại Khoa Ung bướ ệnh viện Đa khoa Trà
Vinh” để xác định các nhu cầu thông tin cầ
đượ ấ ủ người bệnh ung thư để tăng
ệu quả điều trịvà chăm sóc, nâng cao chất
lượ ộc số ủa người bệnh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ
Đối tượng nghiên cứ
Tiêu chuẩ ọ ẫu: Người bệnh đượ
ẩn đoán ung thư đang được điều trị ội trú tạ
Khoa Ung bướ ệnh viện Đa khoa tỉ
Vinh, có độtuổi từ 18 tuổi trở lên, giao tiế
được bằ ời nói.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những người bệ
thư giai đoạn đang nguy kịch, người không đủ
ẫn hoặc đang mắc các bệnh tâm thần.
Thiế ế nghiên cứ
Nghiên ứ ắt ngang mô tả.
ời gian và địa điểm nghiên cứ
ời gian: ừ tháng 4/2021 đến tháng
6/2021.
Địa điểm: ại khoa Ung Bướ ệnh việ
Đa khoa Trà Vinh.
ỡ ẫu và phương pháp chọ ẫ
Cỡ ẫu và phương pháp chọ ẫu: Chọ
ẫu thuận tiệ ữ bệnh nhân thỏa điều kiệ
trong thời gian từ ngày tháng 4 năm 2021 đế
tháng 6 năm tại Khoa Ung bướ ệnh viện Đa
khoa Trà Vinh. Trong thời gian trên chúng tôi
thu thập được 110 mẫu thỏa điều kiệ .
Phương pháp thu thập sốliệ
Công cụ thu thập số ệu: Được sự đồng ý
ủa tác giả chúng tôi tiến hành thu thập số ệ
bằng cách sử dụng bộcâu hỏi “Phiếu điều tra
ầu chăm sóc giả ẹ ủa người bệnh”
ủa tác giả ầ ị Liên sử dụng trong nghiên
ứu “Thực trạ ầu chăm sóc giả ẹ
ủa người bệng thư điều trị tại trung tâm
Ung bướ ệnh viện Thái Bình năm 2019” để
ỏng vấn trực tiếp người bệnh. Đây là bả
câu hỏi dành chung cho tất cảloại ung thư gồ
ần: Phần 1: Thông tin chung; Phần 2: Nhu
cầu chăm sóc giảm nhẹ gồm có các tiểu mục
như nhu cầu về thông tin, nhu cầu hỗ trợ chăm
sóc, nhu cầu giao tiếp quan hệ, nhu cầu hỗ trợ
về tinh thần và nhu cầu vật chất [1]. Trong nội
dung khảo sát này, chúng tôi khảo sát người
bệnh theo mục: nhu cầu thông tin, với 9 câu hỏi
có sẵn. Người bệnh chọn “Có” tương đương với
có nhu cầu, người bệnh chọn “Không” tương
đương với không có nhu cầu.
2.6 Phân tích số liệu
Số liệu được nhập và phân tích bằng phần
mềm IBM SPSS 20.0.
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến hành sau khi được sự
đồng ý của trường Đại học Trà Vinh và Bệnh
viện. Đa khoa tỉnh Trà Vinh. Những người được
chọn vào nghiên cứu là những người được chẩn
đoán, điều trị và chăm sóc theo đúng quy định
của Bộ y tế. Những người thỏa điều kiện tham
gia đều được giải thích rõ ràng và đồng ý tham
gia nghiên cứu mới bắt đầu phỏng vấn. Đảm bảo
rằng các chỉ số thu được đều chính xác, trung
thực theo mục đích nghiên cứu chứ không nhằm
lí do cá nhân nào khác.
3. KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 1. Đặc điểm giới tính của người bệnh
Nhận xét: Người bệnh nam và nữ chiếm tỷ lệ
gần bằng nhau (50,9% và 49,1%).
Hình 2. Nghề nghiệp của người bệnh
Nhận xét: Nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao
nhất là nông dân/công nhân với 52,7%. Thấp
nhất là cán bộ, viên chức với tỷ lệ 0,9%.
3.2 Nhu cầu cần được cung cấp thông tin
của người bệnh ung thư
Nữ
(49,1%)
Nam
(50,9%)

50
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Bảng 1. Nhu cầu thông tin của người bệnh (n=110)
Có
Không
Nhu cầu thông tin
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Thông tin chẩn đoán
85
77,3
25
22,7
Thông tin tiên lượng bệnh
80
72,7
30
27,3
Thông tin về phương pháp điều trị
68
61,8
42
38,2
Thông tin về nguyên nhân
73
66,4
37
33,6
Thông tin về khả năng điều trị và tác
dụng
phụ
53
48,2
57
51,8
Thông tin về các triệu chứng thực
thể
có thể xảy ra
62
56,4
48
43,6
Thông tin về phương pháp chữa
bệnh
thay thế
39
35,5
71
64,5
Thông tin về chế độ dinh dưỡng phù
hợp
53
48,2
57
51,8
Cần được ĐD cung cấp thông tin
thường
xuyên về tình trạng sức khỏe
86
78,2
24
21,8
Tỷ lệ nhu cầu thông tin 60,5%
Nhận xét: Đa số người bệnh đều có nhu cầu
được cung cấp thông. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao
nhất là nhu cầu cần được điều dưỡng cung cấp
thông tin thường xuyên về tình trạng sức khỏe
với tỷ lệ 78,2%. Nhu cầu chiếm tỷ lệ thấp nhất
là cần được biết thêm thông tin về phương pháp
chữa bệnh thay thế với tỷ lệ 35,5%.
4. THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Về giới tính của người bệnh, trong nghiên
cứu cũng thống kê được người bệnh là nam
chiếm tỷ lệ 50,9% và người bệnh là nữ chiếm tỷ
lệ 49,1%. Kết quả này có sự tương đồng với
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Múi. Trong
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Múi cho kết
quả người bệnh là nam chiếm tỷ lệ 54,4% và
người bệnh là giới tính nữ chiếm tỷ lệ 45,6%
[2]. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Tabrizi về
“Đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của người
bệnh ung thư và các yếu tố ảnh hưởng ở Iran
năm 2016” cho thấy ở đối tượng người bệnh là
nữ có nhiều nhu cầu cần hỗ trợ về tâm lý [3].
Nữ giới thường dễ nhạy cảm, dễ bị căng thẳng
nhiều hơn sau khi được chẩn đoán mắc bệnh
ung thư và nhiều người trong số ọ có nguy cơ
ặp các vấn đề trong hôn nhân và hạ
đình [3]. Các nghiên cứu trước đây củ
cũng cho thấy người bệnh ung thư có nhiề
ầu thông tin đặc biệt nam giới [4]. Từ đó có thể
thấy, người bệnh ung thư cảnam và nữ đều có
ữ ầ ần đượ ỗ trợtrong chăm sóc.
ầ ầ ỗ ợ thông tin của người
ệnh ung thư
ầ ếm tỷ ệ cao nhất trong nhóm
ầu thông tin là cần được điều dưỡ
ấp thông tin thường xuyên về tình trạng sứ
khỏe với tỷ ệ 78,2%, các nhu cầu khác như nhu
ầ ần được biết thêm thông tin về ẩn đoán
bệ ầ ần được biết thêm thông tin tiên
lượng bệ ầ ần được biết thêm thông
tin về nguyên nhân gây bệnh, thông tin về
phương pháp điều trị ếm tỷ ệ tương đối cao
từ 61,8% đến 77,3%. Kết quả trên tương đồ
với nghiên cứ ủa tác giả Akon Ndiok (2018)
về “Đánh giá nhu ầu chăm sóc giả ẹ ủ
người bệnh/gia đình sống chung với bệ
thư ở ột nước đang phát triển”. Trong nghiên
ứ ủa Akon Ndiok cho thấ ầ ổ biế
ất của người bệnh là thông tin vềkhả năng
điều trị và tác dụ ụ (92,8%), nhu cầu về
ẩ đoán (91,6%), nhu cầu về xét nghiệ
(91,1%) và các triệ ứng thực thể (90,9%).
Ngoài ra, các đối tượng nghiên cứu còn có các
ầu khác như nhu cầ ỗ trợtâm lý, tinh
thần và tài chính, liên quan đến các yếu tố gây
đau khổ cho người bệnh và gia đình củ ọ sau
khi chẩn đoán ung thư [5]. Một nghiên cứu khác
về “Đáp ứầu chăm sóc giả ẹ ủ
người bệnh ung thư điều trị ội trú tại bệnh việ
Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020” cho thấ
ằng người bệnh có nhu cầ ần biết thông tin
về ẩn đoán bệnh (82,9%), nhu cầ ần biết
thông tin về các phương pháp điều trị (79,1%),
ầ ần biết thông tin về tiên lượng bệ
(77,1%) [6].
Khi người bệ ấ ậ ợp tác điều trị
thì rất quan tâm đến tình trạ ện tại và tiế
triể ủa bệnh, vì vậ ầ ần được điề
dưỡ ấp thông tin thường xuyên về tình
trạng sức khỏe chiếm tỷ ệ cao nhất trong nhóm
ầu thông tin cũng là điều có thể dễ dàng
ểu được. Việc xác định đúng chẩn đoán và
tiên lượng bệnh giúp quá trình điều trịsẽ có hiệ
quả ất cao nên đó là một trong nhữ ầ
được quan tâm nhiề ở người bệnh [7]. Nhữ
thông tin về phương pháp điều trị hay phương
pháp chữa trịthay thế, khả năng điều trị hoặ
triệ ứng thực thểcó thểxảy ra sẽtạo nền tả
giúp người bệnh và gia đình hiểbiết thêm về
ung thư từ đó có cách theo dõi tình trạng sứ
khỏe của bản thân.
ừkết quả trong các nghiên cứu đã chứ
ằng người bệ ất có nhu cầu đượ
ấp thông tin. Do đó cần đẩ ạnh vai trò củ
công tác giáo dục sức khỏe, cung cấp thông ti
để đáp ứng đủmong muố ủa người bệnh, góp
ần nâng cao hiệu quả trong quá trình chăm
sóc giả ẹ.
Ế Ậ
ầ ấp thông tin người bệ
thư tương đối cao:
Thông tin chẩn đoán bệnh: 77,3%.
Thông tin tiên lượng bệnh: 72,7%.
Thông tin về phương pháp điều trị: 61,8%.
Thông tin về nguyên nhân bệnh: 66,4%.
Thông tin về khả năng điều trịvà tác dụ
ụ: 48,2%.

51
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
ả ầ tin ủngười ệ(n=110)
Có
cầu tin Số lượng ỷ lệ (%) Số lượng ỷ lệ (%)
Thông tin chẩn đoán 85
Thông tin tiên lượng bệnh 80 30
Thông tin về phương pháp điều trị 68 61,8 38,2
Thông tin về nguyên nhân
Thông tin về khả năng điều trị và tác
dụng
phụ
48,2 51,8
Thông tin về các triệu chứng thực
thể
có thể xảy
48
Thông tin về phương pháp chữa
bệnh
thay thế
39
Thông tin về chế độ dinh dưỡng
hợp 48,2 51,8
Cần được ĐD cấp thông tin
thường
xuyên về tình trạng sức khỏe
86 78,2 21,8
ỷ ệ ầ thông tin 60,5%
Nhận xét: Đa số người bệnh đều có nhu cầu
được cung cấp thông. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao
nhất là nhu cầu cần được điều dưỡng cung cấp
thông tin thường xuyên về tình trạng sức khỏe
với tỷ lệ 78,2%. Nhu cầu chiếm tỷ lệ thấp nhất
cầnđược biết thêm thông tin về phương pháp
chữa bệnh thay thế với tỷ lệ 35,5%.
ẢO LUẬ
Đặc điể ủa đối tượng nghiên cứ
ề ới tính của người bệnh, trong nghiên
ứu cũng thống kê được người bệ
ếm tỷ ệ 50,9% và người bệ ữ ếm tỷ
ệ 49,1%. Kết quả này có sự tương đồng vớ
nghiên cứ ủa tác giả ễ ị Múi. Trong
nghiên cứ ủa tác giả ễ ị Múi cho kết
quả người bệ ếm tỷ ệ 54,4% và
người bệ ới tính nữ ếm tỷ ệ
[2]. Ngoài ra, nghiên cứ ủa tác ảTabrizi về
“Đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗtrợ ủa ngườ
bệnh ung thư và các yếu tố ảnh hưở ở
năm 2016” cho thấ ở đối tượng người bệ
ữ có nhiề ầ ầ ỗ trợvề tâm lý [3].
ữ ới thường dễ ạ ảm, dễ bị căng thẳ
ều hơn sau khi đượ ẩn đoán mắc bệ
ung thư và nhiều người trong số ọ có nguy cơ
ặp các vấn đề trong hôn nhân và hạ
đình [3]. Các nghiên cứu trước đây củ
cũng cho thấy người bệnh ung thư có nhiề
ầu thông tin đặc biệt nam giới [4]. Từ đó có thể
thấy, người bệnh ung thư cảnam và nữ đều có
ữ ầ ần đượ ỗ trợtrong chăm sóc.
ầ ầ ỗ ợ thông tin của người
ệnh ung thư
ầ ếm tỷ ệ cao nhất trong nhóm
ầu thông tin là cần được điều dưỡ
ấp thông tin thường xuyên về tình trạng sứ
khỏe với tỷ ệ 78,2%, các nhu cầu khác như nhu
ầ ần được biết thêm thông tin về ẩn đoán
bệ ầ ần được biết thêm thông tin tiên
lượng bệ ầ ần được biết thêm thông
tin về nguyên nhân gây bệnh, thông tin về
phương pháp điều trị ếm tỷ ệ tương đối cao
từ 61,8% đến 77,3%. Kết quả trên tương đồ
với nghiên cứ ủa tác giả Akon Ndiok (2018)
về “Đánh giá nhu ầu chăm sóc giả ẹ ủ
người bệnh/gia đình sống chung với bệ
thư ở ột nước đang phát triển”. Trong nghiên
ứ ủa Akon Ndiok cho thấ ầ ổ biế
ất của người bệnh là thông tin vềkhả năng
điều trị và tác dụ ụ (92,8%), nhu cầu về
ẩ đoán (91,6%), nhu cầu về xét nghiệ
(91,1%) và các triệ ứng thực thể (90,9%).
Ngoài ra, các đối tượng nghiên cứu còn có các
ầu khác như nhu cầ ỗ trợtâm lý, tinh
thần và tài chính, liên quan đến các yếu tố gây
đau khổ cho người bệnh và gia đình củ ọ sau
khi chẩn đoán ung thư [5]. Một nghiên cứu khác
về “Đáp ứầu chăm sóc giả ẹ ủ
người bệnh ung thư điều trị ội trú tại bệnh việ
Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020” cho thấ
ằng người bệnh có nhu cầ ần biết thông tin
về ẩn đoán bệnh (82,9%), nhu cầ ần biết
thông tin về các phương pháp điều trị (79,1%),
ầ ần biết thông tin về tiên lượng bệ
(77,1%) [6].
Khi người bệ ấ ậ ợp tác điều trị
thì rất quan tâm đến tình trạ ện tại và tiế
triể ủa bệnh, vì vậ ầ ần được điề
dưỡ ấp thông tin thường xuyên về tình
trạng sức khỏe chiếm tỷ ệ cao nhất trong nhóm
ầu thông tin cũng là điều có thể dễ dàng
ểu được. Việc xác định đúng chẩn đoán và
tiên lượng bệnh giúp quá trình điều trịsẽ có hiệ
quả ất cao nên đó là một trong nhữ ầ
được quan tâm nhiề ở người bệnh [7]. Nhữ
thông tin về phương pháp điều trị hay phương
pháp chữa trịthay thế, khả năng điều trị hoặ
triệ ứng thực thểcó thểxảy ra sẽtạo nền tả
giúp người bệnh và gia đình hiểbiết thêm về
ung thư từ đó có cách theo dõi tình trạng sứ
khỏe của bản thân.
ừkết quả trong các nghiên cứu đã chứ
ằng người bệ ất có nhu cầu đượ
ấp thông tin. Do đó cần đẩ ạnh vai trò củ
công tác giáo dục sức khỏe, cung cấp thông ti
để đáp ứng đủmong muố ủa người bệnh, góp
ần nâng cao hiệu quả trong quá trình chăm
sóc giả ẹ.
Ế Ậ
ầ ấp thông tin người bệ
thư tương đối cao:
Thông tin chẩn đoán bệnh: 77,3%.
Thông tin tiên lượng bệnh: 72,7%.
Thông tin về phương pháp điều trị: 61,8%.
Thông tin về nguyên nhân bệnh: 66,4%.
Thông tin về khả năng điều trịvà tác dụ
ụ: 48,2%.
Tạp chí Khoa học và Kinh tế Phát triển Trường Đại học Nam Cần Thơ ISSN: 2588 1272. Số 21 (2023)
ả ầ tin ủngười ệ(n=110)
Có
cầu tin Số lượng ỷ lệ (%) Số lượng ỷ lệ (%)
Thông tin chẩn đoán 85 77,3 25 22,7
Thông tin tiên lượng bệnh 80 72,7 30 27,3
Thông tin về phương pháp điều trị 68 61,8 42 38,2
Thông tin về nguyên nhân 73 66,4 37 33,6
Thông tin về khả năng điều trị và tác
dụng
phụ
48,2
51,8
Thông tin về các triệu chứng thực
thể
có thể xảy
48
Thông tin về phương pháp chữa
bệnh
thay thế
39
Thông tin về chế độ dinh dưỡng
hợp
48,2
51,8
Cần được ĐD cấp thông tin
thường
xuyên về tình trạng sức khỏe
86
78,2
21,8
ỷ ệ ầ thông tin 60,5%
Nhận xét: Đa số người bệnh đều có nhu cầu
được cung cấp thông. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao
nhất là nhu cầu cần được điều dưỡng cung cấp
thông tin thường xuyên về tình trạng sức khỏe
với tỷ lệ 78,2%. Nhu cầu chiếm tỷ lệ thấp nhất
cầnđược biết thêm thông tin về phương pháp
chữa bệnh thay thế với tỷ lệ 35,5%.
ẢO LUẬ
Đặc điể ủa đối tượng nghiên cứ
ề ới tính của người bệnh, trong nghiên
ứu cũng thống kê được người bệ
ếm tỷ ệ 50,9% và người bệ ữ ếm tỷ
ệ 49,1%. Kết quả này có sự tương đồng vớ
nghiên cứ ủa tác giả ễ ị Múi. Trong
nghiên cứ ủa tác giả ễ ị Múi cho kết
quả người bệ ếm tỷ ệ 54,4% và
người bệ ới tính nữ ếm tỷ ệ
[2]. Ngoài ra, nghiên cứ ủa tác ảTabrizi về
“Đánh giá nhu cầu chăm sóc hỗtrợ ủa ngườ
bệnh ung thư và các yếu tố ảnh hưở ở
năm 2016” cho thấ ở đối tượng người bệ
ữ có nhiề ầ ầ ỗ trợvề tâm lý [3].
ữ ới thường dễ ạ ảm, dễ bị căng thẳ
ều hơn sau khi đượ ẩn đoán mắc bệ
ung thư và nhiều người trong số họ có nguy cơ
gặp các vấn đề trong hôn nhân và hạnh phúc gia
đình [3]. Các nghiên cứu trước đây của Iran
cũng cho thấy người bệnh ung thư có nhiều nhu
cầu thông tin đặc biệt nam giới [4]. Từ đó có thể
thấy, người bệnh ung thư cả nam và nữ đều có
những nhu cầu cần được hỗ trợ trong chăm sóc.
4.2 Nhu cầu cần hỗ trợ thông tin của người
bệnh ung thư
Nhu cầu chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm
nhu cầu thông tin là cần được điều dưỡng cung
cấp thông tin thường xuyên về tình trạng sức
khỏe với tỷ lệ 78,2%, các nhu cầu khác như nhu
cầu cần được biết thêm thông tin về chẩn đoán
bệnh, nhu cầu cần được biết thêm thông tin tiên
lượng bệnh, nhu cầu cần được biết thêm thông
tin về nguyên nhân gây bệnh, thông tin về
phương pháp điều trị chiếm tỷ lệ tương đối cao
từ 61,8% đến 77,3%. Kết quả trên tương đồng
với nghiên cứu của tác giả Akon Ndiok (2018)
về “Đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
người bệnh/gia đình sống chung với bệnh ung
thư ở một nước đang phát triển”. Trong nghiên
cứu của Akon Ndiok cho thấy nhu cầu phổ biến
nhất của người bệnh là thông tin về khả năng
điều trị và tác dụng phụ (92,8%), nhu cầu về
chẩn đoán (91,6%), nhu cầu về xét nghiệm
(91,1%) và các triệu chứng thực thể (90,9%).
Ngoài ra, các đối tượng nghiên cứu còn có các
nhu cầu khác như nhu cầu hỗ trợ tâm lý, tinh
thần và tài chính, liên quan đến các yếu tố gây
đau khổ cho người bệnh và gia đình của họ sau
khi chẩn đoán ung thư [5]. Một nghiên cứu khác
về “Đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
người bệnh ung thư điều trị nội trú tại bệnh viện
Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020” cho thấy
rằng người bệnh có nhu cầu cần biết thông tin
về chẩn đoán bệnh (82,9%), nhu cầu cần biết
thông tin về các phương pháp điều trị (79,1%),
nhu cầu cần biết thông tin về tiên lượng bệnh
(77,1%) [6].
Khi người bệnh chấp nhận hợp tác điều trị
thì rất quan tâm đến tình trạng hiện tại và tiến
triển của bệnh, vì vậy mà nhu cầu cần được điều
dưỡng cung cấp thông tin thường xuyên về tình
trạng sức khỏe chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm
nhu cầu thông tin cũng là điều có thể dễ dàng
hiểu được. Việc xác định đúng chẩn đoán và
tiên lượng bệnh giúp quá trình điều trị sẽ có hiệu
quả rất cao nên đó là một trong những nhu cầu
được quan tâm nhiều ở người bệnh [7]. Những
thông tin về phương pháp điều trị hay phương
pháp chữa trị thay thế, khả năng điều trị hoặc
triệu chứng thực thể có thể xảy ra sẽ tạo nền tảng
giúp người bệnh và gia đình hiểu biết thêm về
ung thư từ đó có cách theo dõi tình trạng sức
khỏe của bản thân.
Từ kết quả trong các nghiên cứu đã chứng
minh rằng người bệnh rất có nhu cầu được cung
cấp thông tin. Do đó cần đẩy mạnh vai trò của
công tác giáo dục sức khỏe, cung cấp thông tin
để đáp ứng đủ mong muốn của người bệnh, góp
phần nâng cao hiệu quả trong quá trình chăm
sóc giảm nhẹ.
5. KẾT LUẬN
Nhu cầu cung cấp thông tin người bệnh ung
thư tương đối cao:
- Thông tin chẩn đoán bệnh: 77,3%.
- Thông tin tiên lượng bệnh: 72,7%.
- Thông tin về phương pháp điều trị: 61,8%.
- Thông tin về nguyên nhân bệnh: 66,4%.
- Thông tin về khả năng điều trị và tác dụng
phụ: 48,2%.

